Search found 2046 matches

  •   Chủ đề: Yu come back!
    Amar, Trả lời/Số lần xem: 32/3559, , Bài viếtChuyên mục: Members Photo   Ngày gửi: khoảng 1 10 năm trước
    Subject: Yu come back!
  • :) chào Yuka, lâu rồi Amar mới vào đây, thì cái ảnh Yuka up từ tháng 10 đã bay mất rồi, Yuka up lại đi, Amar muốn xem sau 1 thời gian vào SG, Yuka thay đổi nhiều không :)

  •   Chủ đề: Thơ tình kiểm toán (sưu tầm)
    Amar, Trả lời/Số lần xem: 1/2819, , Bài viếtChuyên mục: Thơ vui vui   Ngày gửi: khoảng 1 10 năm trước
    Subject: Thơ tình kiểm toán (sưu tầm)
  • Thơ tình kiểm tóan Lần đầu tiên đi khách (client) Anh dạy em làm tiền (audit cash) Em ngại ngùng từ chối :blush: Anh bảo rồi sẽ quen Wink Lần thứ hai đi khách Em theo anh vào kho (stocktake) Trèo lên rồi trèo xuống... :blush: Mà tối về vẫn lo Sweatdrop Lần tiếp theo đi khách Máy* em có vấn đề Cryin Anh mân mê một lúc Thế là dùng OK Laugh of loud Những lần sau đi khách Em đã quen làm tiền Vào kho vui anh nhỉ? Anh em mình liên miên... :P
    (Sưu tầm)

  •   Chủ đề: Bức ảnh khỏa thân lúc bình minh - Khuê Việt Trường
    Amar, Trả lời/Số lần xem: 10/2988, , Bài viếtChuyên mục: Truyện ngắn   Ngày gửi: khoảng 1 10 năm trước
    Subject: Bức ảnh khỏa thân lúc bình minh - Khuê Việt Trư
  • Tấm ảnh khỏa thân lúc bình minh



    Cô gái ấy đến khách sạn rất khuya. Khi ấy cả con phố chỉ còn những ánh đèn vàng chiếu rọi, thỉnh thoảng có tiếng chó sủa râm ran, thỉnh thoảng có một chiếc xe phóng nhanh trong đêm về nhà.

    * * *


    Với Lê, những đêm thầm lặng như thế là lúc anh thả hồn vào những suy nghĩ của mình. Mảnh đất rộng này ngày xưa chỉ là một bãi đất hoang, ba anh đã mua nó để bắt đầu cuộc sống ở thành phố này, nay đã trở thành một khách sạn. Lê thiết kế một dãy nhà phía sau làm chỗ nghỉ, còn không gian phía trước là sân vườn, có một góc rộng làm quầy bán cà phê, còn lại là nơi để trưng bày những tấm ảnh nghệ thuật mà anh đã chụp được trong bao nhiêu năm đi cuối đất cùng trời. Anh thức rất khuya, vì thế anh vẫn thường ra góc quán cà phê mà ngồi, đôi khi mở máy vi tính để viết một điều gì đó, đôi khi lại đem những tấm ảnh của mình đã chụp được mà chiêm nghiệm.

    Anh rất thích chụp ảnh con người. Bởi dường như mỗi nét mặt người đều cho anh thấy rõ ràng số phận của họ. Anh chụp ảnh chẳng phải để tham gia cuộc thi này, cuộc thi nọ, mà giống như một nỗi đam mê cần được giải tỏa, một nhu cầu cần được ngắm nhìn. Anh chộp những phút giây mà họ đang thể hiện sự căm giận, nỗi buồn hay hân hoan tột cùng. Rất ít người biết được anh ghi khoảnh khắc riêng tư của họ vào ống kính. Những phận người anh đã ghi lại trong những phút giây bắt gặp đó giờ này ở đâu và làm gì, anh không thể nào biết được. Có khi anh cũng chẳng biết họ tên gì, ở đâu? Nhưng họ đã ở lại cùng anh với gương mặt rạng ngời hạnh phúc hay trong lúc đang bước chân xuống tận cùng tuyệt vọng. Anh vẫn nghĩ cho đến một lúc nào đó, anh lại lên đường đi tìm những nhân vật của mình. Những mặt người ấy là ám ảnh khôn nguôi đối với anh.

    Anh nhớ những kỷ niệm với mỗi bức ảnh khắc ghi. Một chiều mưa tầm tã khi đang phóng xe trên con lộ trơn trợt bùn lầy, những ổ gà lởm chởm thì anh gặp một người phụ nữ đang vừa chạy vừa khóc dưới mưa. Anh đã bất kể mưa, vội vàng đưa máy ảnh lên ghi lại khoảnh khoắc đớn đau của người đàn bà. Anh không biết rằng anh vừa ghi lại khoảnh khoắc cuối cùng của một đời người. Vì sau đó ít phút, người đàn bà với gương mặt tuyệt vọng đã lao mình vào một chiếc xe tải đang phóng nhanh tới để tự sát. Đó là một trong những bức ảnh truyền ma lực vào anh khi anh đụng tới. Đôi mắt người đàn bà ấy như ánh lên ngọn lửa của căm hờn, một chân vượt ra nền đất như đang tung cao lên, cao lên vượt phận người.

    Đó chỉ là một câu chuyện của những câu chuyện trong ảnh của anh. Khi cầm một bức ảnh, dường như anh rọi suốt trong đó dấu ấn của đời. Người tội phạm đang bước chân ra khỏi chiếc xe đến phiên tòa xử án, người nông dân đang uống từng ngụm nước giữa buổi trưa đầy nắng, là cô gái bé bỏng đang ngắm nhìn biển mênh mông trước mặt mình. Thượng đế thật kỳ diệu khi tạo ra con người - cả bao nhiêu năm trôi qua, chưa có ai giống ai, dẫu là anh chị em sinh đôi.

    Phòng tranh nhỏ của anh ở góc quán cà phê như có điều gì đó thu hút anh. Những ngọn đèn vàng vừa đủ cho không gian quán trở nên đằm thắm, những âm thanh của nhạc hòa tấu vang vừa đủ cho lòng mềm theo từng nốt nhạc. Nếu người khác uống cà phê sẽ bị thức trắng đêm, thì với Lê, cà phê giống như một thứ nước giải khát thông thường của anh.

    Lê thường tự pha cà phê một mình, anh pha cho mình một ly cà phê khá đậm, bỏ tí đường và vài hạt muối bé tí - cách uống cà phê của anh như một thói quen, khiến cho cô chủ quán bán cà phê sáng anh thường ghé qua để uống cũng phải mang theo một lọ muối để “pha cà phê cho anh Lê”.

    Khách đến khách sạn thường vào rạng sáng. Có thể khi đó họ vừa có một cuộc hành trình mệt mỏi trên một con tàu. Với họ là tìm một căn phòng có nệm êm, có máy lạnh, có phòng tắm với vòi tắm nước nóng. Nhận phòng xong là họ sẽ trốn biệt trong đó với giấc ngủ dài bù lại sự mệt mỏi sau một cuộc hành trình xa. Không có người khách nào đến khách sạn vào lúc nửa đêm. Nhưng cuộc sống luôn có ngọai lệ, chính ngọai lệ đó làm thay đổi số phận của một con người. Như anh nhớ có một bộ phim làm anh xúc động. Đó là phim Người tình. Phim kể về cuộc gặp tình cờ của một cô gái Pháp mới 15 tuổi rưỡi thích đội chiếc mũ đàn ông, tình cờ trên chuyến phà về quê ở Sa Đéc cô đã gặp một người đàn ông Trung Hoa. Họ đến với nhau như khao khát tình dục, nhưng tình yêu đã thấm đẫm trong lòng họ mà không hay. Cô gái bỏ Việt Nam về Pháp, còn người đàn ông đã lấy vợ. Khi hai người đầu đã bạc, cô gái đã trở thành nhà văn, người đàn ông đã già tìm qua Pháp chỉ để gọi điện thoại - anh rất yêu em. Và cô gái – em cũng rất yêu anh.

    Cô gái xuất hiện lúc nửa đêm, khi anh đang mở máy vi tính, đắm chìm trong những gương mặt mình đã ghi lại, cùng với nhạc đang trôi trong mênh mông, chẳng liên quan gì tới câu chuyện tình và cô gái Pháp kia. Nhưng sự xuất hiện của cô gái lúc nửa đêm đã khiến anh bật dậy, giống như định mệnh đã đưa đẩy cô gái tới đây.

    Đó là một nét đẹp hoàn chỉnh, một thân thể phụ nữ tuyệt vời, một dáng người cân đối. Cô gái khoác một chiếc áo jean, chiếc quần lửng:

    - Anh ơi, em lấy phòng.

    Lê chần chừ dễ chừng một phút. Anh nghĩ về một bức ảnh mà anh khát khao được ghi lại từ cô gái này. Anh đã từng mơ sẽ chụp một bức ảnh khỏa thân với một dáng vóc như thế, một gương mặt như thế, một mái tóc như thế - anh đã rong ruổi khắp đất trời mà vẫn không gặp được, thì lúc anh không ngờ tới, cô gái đã đứng trước mặt anh.

    Tiếng cô gái lại vang lên:

    - Anh ơi, em lấy phòng.

    Lúc đó Lê mới tỉnh cơn mộng của mình, anh hỏi như một thói quen:

    - Cô đi mấy người, ở mấy ngày?

    Cô gái cười rất khẽ, tiếng cười khẽ giữa đêm yên tĩnh như những nốt nhạc nhẹ trên cây dương cầm:

    - Chỉ có mình em thôi anh ạ. Em có thể ở cả tuần.

    Anh đi trước, cô gái đi sau. Anh không nhìn thấy cô, chỉ nghe bước chân đang bước theo anh, gõ nhẹ trên con đường lót đá, mà sao anh nghe cả mùi mồ hôi của cô gái, nghe cả tiếng những sợi tóc va nhau. Cho đến khi cô gái theo anh đi dọc tiền sảnh khách sạn, tiếng cô gái reo lên:

    - Trời ơi, ảnh ở đây đẹp quá, ảnh anh chụp à.

    Anh trả lời:

    - Nhưng vẫn còn thiếu một bức ảnh.

    Cô gái hồn nhiên:

    -Vậy sao?

    Thường thì anh thức khuya cho nên hay ngủ dậy muộn, nhưng từ khi có Kim đến ở thì anh lại thức dậy thật sớm, vác máy ảnh ra biển. Kim là cô gái thích ra biển khi mặt trời chưa mọc. Khi đó, đêm vẫn còn trở mình đợi bình minh lên. Từ ngày Kim xuất hiện, nỗi ham muốn chụp một bức ảnh khỏa thân trước biển khi bình minh lên càng làm cho Lê trở nên gầy đi, mất ngủ. Đó không phải là nỗi ham muốn được ngắm nhìn thân thể một người phụ nữ khỏa thân, mà ham muốn được có một tấm ảnh mang trong giấc mơ bấy lâu nay. Kim chẳng nghèo để anh gợi ý trả tiền làm người mẫu cho anh. Qua trò chuyện anh biết Kim hiện đang có một phòng thiết kế thời trang tại Sài Gòn, đã yêu và cũng đã chia tay với tình yêu. Sau khi chia tay với mối tình của mình, Kim đã leo lên một chuyến xe đến Nha Trang như một cách bỏ lại quá khứ sau lưng - còn Kim đến khách sạn của anh là do người tài xế taxi giới thiệu. Người đàn bà sau khi chia tay mối tình của mình ấy có cái thú tắm biển khi mặt trời chưa mọc, ở ghềnh đá nhấp nhô của bãi đá Hòn Chồng. Thú vị hơn nữa là Lê khám phá ra chính là khi tắm biển trong đêm như thế, Kim luôn luôn khỏa thân. Anh lại mang giấc mơ sẽ ghi lại hình ảnh người đàn bà tắm trong tư thế Eva.

    Năm ngày trời Lê không ngủ; anh trở mình lắng nghe tiếng chân của Kim, tiếng gọi mở cửa. Anh không biết rằng có thêm một người đang theo dõi anh vì anh đã có những trạng thái kỳ lạ - Nguyệt, vợ anh. Bởi bình thường, công việc mở cửa sáng sớm cho khách đi tắm biển là Nguyệt chứ không phải là Lê. Giờ đây, khi có Kim xuất hiện, anh trở thành người mở cửa.

    Ban ngày, Lê đã đến chỗ mà hàng đêm Kim thường tắm, chọn một vị trí khuất sau các mỏm đá để có thể đặt máy ảnh, anh đợi trăng lên. Anh sẽ chụp ảnh người đàn bà trong tư thế cha sinh mẹ đẻ mà anh biết rằng đó là người đàn bà có tư thế trần truồng đẹp nhất mà anh từng gặp.

    Rạng sáng, sau khi mở cửa cho Kim đi tắm biển, y như rằng anh cũng nhón chân bước theo, anh đi theo một con đường tắt hơn, tới chỗ đặt máy. Anh không biết rằng Nguyệt cũng theo anh sau đó.

    Cuộc rượt đuổi giữa ba người với ba mục đích khác nhau diễn ra lặng lẽ khi vầng trăng lưỡi liềm ném hào phóng xuống trần gian những tia sáng huyền ảo. Những tia sáng huyền ảo ấy đã là cơ hội cho Lê. Kim thỏa chí tắm biển, Lê tìm một bức ảnh thỏa nỗi đam mê, còn Nguyệt thì mang theo sự ghen tuông - bởi chỉ có hẹn hò mới có chuyện hai người cùng rời khách sạn cùng lúc.

    Trăng lung linh, mặt nước lung linh, Kim tháo bỏ những vướng bận trên người - đúng ra chỉ là một chiếc khăn lớn, Kim chỉ giở tấm khăn ra, lộ một thân hình hoàn mỹ như chưa có một thân hình nào hoàn mỹ hơn. Trăng dát lên thân thể người đàn bà ấy những ánh vàng. Đó là lúc lòng Lê chao đảo, đó là lúc anh run lên - những khoảnh khoắc trăng vàng ấy đã ở lại trong ống kính của anh.

    Nguyệt cũng sững sờ khi nhìn thấy chồng mình đang say mê chụp lén cảnh Kim khỏa thân. Suýt tí nữa thì Nguyệt nổi cơn ghen. Nhưng chợt Nguyệt chựng chân mình lại, vội quay trở về khách sạn trước.

    Bảy ngày sau Kim trả phòng. Mùa hè rực rỡ ném những tia nắng vàng trên cây cỏ. Kim cười rất tươi: "Gặp lại lần sau anh nhé”. Lê cười với Kim, đưa mắt dõi theo bước chân ấy đang ra khỏi cổng. Anh nghe như mình mất mát một điều gì. Chợt điện thọai của anh tít tít báo hiệu có tin nhắn khi Kim đã khuất xa. Tin nhắn: “Em là Kim đây. Khi nào rửa xong những tấm ảnh, anh nhớ gởi cho em tấm nào đẹp đẹp nghe anh”. Tin nhắn tiếp theo: "Anh nhớ treo tấm ảnh đó ngay tiền sảnh nghe anh. Em sẽ trở lại". Số điện thọai di động của anh in ngay trên danh thiếp anh đưa cho Kim.

    Và Nguyệt cũng ở sau lưng anh tự lúc nào."Mấy tấm ảnh chụp cô Kim tắm chắc đẹp lắm phải không anh?”, Nguyệt hỏi.


    Khuê Việt Trường

  •   Chủ đề: Tình địch - Kim Ba
    Amar, Trả lời/Số lần xem: 4/1669, , Bài viếtChuyên mục: Truyện ngắn   Ngày gửi: khoảng 1 10 năm trước
    Subject: Tình địch - Kim Ba
  • Shake head dùng tình địch để cho người kia rút lui, đôi lúc cũng là 1 con dao 2 lưỡi á, vì có người không chịu nổi, quay ra... "nện" tình địch đó thì mệt, nói nện thì nhẹ, còn nhiều hình thức khác, đây cũng là 1 nghề cực kỳ nguy hiểm á Laugh of loud

  •   Chủ đề: Ma học trò - Di Li
    Amar, Trả lời/Số lần xem: 1/3031, , Bài viếtChuyên mục: Truyện ngắn   Ngày gửi: khoảng 1 10 năm trước
    Subject: Ma học trò - Di Li
  • Ma học trò
    Truyện ngắn của Di Li


    Rõ một điều rằng, làm cái anh thầy giáo là sự lựa chọn hết sức ngờ ngệch. Bởi lẽ sau 16 năm đèn sách, anh vui mừng hớn hở vẫy tay chào bảng phấn và sách bút, nhưng rồi sau đó lại dại dột gắn bó với chúng suốt đời. Khổ một nỗi, đã trót chen chân với nghề bảng phấn rồi, anh sẽ không tài nào mà dứt ra được. Hồi đó tôi về một trường trung cấp làm giáo viên. Ngày ấy ai thích làm thầy giáo, nhưng cả hai họ nhà tôi đều nêu những khó khăn khi bươn ra làm thuê cho doanh nghiệp và so sánh với nghề cao quý, là người kỹ sư của tâm hồn. Bố tôi bảo rằng HDI của ta đang tăng và phần lớn là nhờ vào giáo dục. Hơn nữa chẳng cần làm sếp mà cũng đựơc khối người nghe theo, ấy chính là lũ học trò. Tôi xuôi dần và thi đỗ công chức, trở thành thầy giáo 3 tháng ngay sau khi tốt nghiệp. Dạy hết một học kỳ, tôi được cử đi công tác Thái Nguyên. Trước khi lên đường, các đồng nghiệp len lén nhìn tôi cười bí hiểm. Một chị đã lên đó trước tỏ vẻ thương tình "Tụi học sinh ở đó hơi nghịch, nhưng Quang nhà mình cũng kinh qua hết mấy lớp cá biệt ở đây rồi còn gì. Lên đó để ý thằng Tuân béo, đừng lơ là nó ngay từ phút đầu tiên." Tôi cười tủm trong bụng, bận rộn với các đồ đạc mang theo. Tôi vứt ba lô lên xe máy và thong thả phóng ra ngoại ô, bụng nghĩ đến mấy trò phá phách của lũ học trò: Hỏi khó thầy giáo? Cho học sinh nữ ăn mặc bắt mắt rồi ngồi lên bàn đầu để ngắm thầy? Ăn quà vặt, hút thuốc lá, nắm tay nhau trong lớp học? Ngày xưa đi học tôi còn nghịch hơn tụi học trò bây giờ ấy chứ. Trời bắt đầu mưa nặng hạt nên tôi không phóng nhanh được. Tôi cho rằng mình không thể vào Thái Nguyên như giờ đã định vì cơn mưa này. Cơn mưa tháng ba khiến tôi tê cóng cả hai tay. Những rặng cây ven đường bắt đầu tím thẫm lại. Khi tôi còn cách thành phố chừng 20 cây số nữa thì... xe tự động đỗ lại. Lúc đó là 9 giờ tối. Tôi kiểm tra xăng, bugi? đều ổn cả. Lúc này tôi mới định hình được tình thế tồi tệ của mình. Con đường hun hút tịnh không một bóng người. Những ngọn núi đen sì thấp thoáng sau màn mưa nhắc chừng rằng xung quanh nơi này hẳn không có nhà dân. Ðói, rét, mệt, chẳng ăn thua gì với một thằng trai 23 tuổi, nhưng tôi có một nỗi sợ còn khủng khiếp hơn nhiều. Tôi rất sợ ma. Ngay bên vệ đường là một nghĩa địa khổng lồ. Thỉnh thoảng ánh chớp loà lên soi rõ những lùm đất còn mới nguyên, những vòng hoa nằm rải rác đã nhão nhoẹt vì nước mưa tạo nên các hình thù quái lạ. Hai đầu đường hút dài như vô tận. Bấy giờ, bất kỳ một tiếng động nào ngoài tiếng mưa rả rích đều làm tôi hãi hùng. Ðến độ có lúc chiếc áo mưa của tôi sột soạt vì những cử động của chính mình cũng khiến tôi giật bắn lên. Tôi cố tập trung vào cơn cồn cào ở dạ dày để quên đi, nhưng những hình ảnh ma quỷ trong các câu chuyện tôi được nghe kể cứ rõ mồn một từng chi tiết. Ma mặt thớt thường hoá thành anh xích lô tốt bụng đèo khách lỡ độ đường về. Vừa đi vừa trò chuyện rôm rả đến nửa đường tình cờ quay lại thấy mặt anh ta phẳng lì như cái thớt. Khách ngất đi, lúc tỉnh dậy thấy mình đang nằm vắt vẻo trên một cái mả mới tinh. Ma cây cứ nửa đêm hoá thành cô gái đẹp đi bán bánh bao. Khách bửa ra ăn thử thấy trong toàn gián với nhện, nhìn lên định bắt đền đã thấy cô gái thè cái lưỡi đỏ lòm dài như đòn gánh cười khanh khách. Rồi ma nam nấp dưới hồ rút chân người, ma xó di chuyển mọi đồ đạc, ma trơi lập lờ ngoài cánh đồng trêu đùa kẻ yếu bóng vía, ma gà có viền mắt vàng khè sống chui lủi trong núi. Thậm chí cả ma sói, ma cà rồng chuyên hút máu người trong những cánh rừng Bắc Âu âm u, và thây ma sống bên châu Phi cũng như tập trung cả lại để giật tung mọi tế bào thần kinh của tôi. Tôi lấy chiếc xe làm điểm tựa đề phòng mọi sự tấn công từ phía sau và bắt đầu cầu nguyện thành tiếng, gọi tên từ ông Khổng Tử, Mạnh Tử cho đến Anselm, Rousseau và Décartes1. Ðúng vào lúc tuyệt vọng nhất thì một âm thanh ầm ì từ phía xa báo hiệu một chiếc xe sắp chạy tới. Những hình ảnh vẫn còn túm chặt trong đầu khiến tôi thay vì mừng rỡ lại đầy cảnh giác với cái vật đang chuyển động. ánh đèn pha quét vào chiếc xe cũng đang rúm ró như chủ nhân của nó. Cái bóng trùm áo mưa lừ lừ tiến lại phía tôi. Tôi quát to "Ðứng lại. Người hay ma?". Khuôn mặt bịt kín bằng một chiếc khăn tối màu càng khiến ảo giác của tôi tăng lên. Người kia cúi xuống chiếc xe của tôi "Ma mà chữa được cho anh chiếc xe này cũng tốt. Hay muốn đứng đây ngắm nghĩa địa. Ðây là nơi tập trung nhiều ma nhất vùng này đấy". Tôi ngần ngừ "Sao phải bịt mặt?" - "Ði mấy chục cây số muốn thủng mặt vì mưa hả ông nội". Dứt lời anh ta đứng dậy, đạp nổ máy. Chiếc xe lại ro ro như thể lúc nãy nó bị ma ám vào. Ân nhân của tôi trèo lên xe. "Xe của anh nên bảo dưỡng bộ chế hoà khí. Anh về Thái Nguyên hả. Tốt nhất nên đi cùng tôi đề phòng nó lại chết máy lần nữa". Tôi líu ríu đi theo anh ta. Chúng tôi không nói lời nào cho đến tận lúc về tới Thái Nguyên. Khi xe vào đến thành phố, đã 12 giờ đêm. Những mái nhà u ám im lặng trong mưa rét. Bất chợt tôi nghe vẳng xa xa tiếng thanh la, chuông mõ như gọi hồn ma quỷ cốc lên từ cõi âm. Âm thanh ngày càng tới gần, và lờ mờ trong làn mưa một đoàn người di chuyển chầm chậm đầy ma quái. Tôi hét lên thất thanh "Cái gì thế?". Người kia cười ha hả "Anh chưa nhìn thấy đám ma bao giờ hả. Thôi chào nhá". Tôi cuống lên "Cho tôi hỏi trường Nghiệp vụ du lịch Bình Minh". Anh ta ngần ngừ "Anh đến đấy làm gì giờ này?". Không muốn để lộ thân phận mình trong hoàn cảnh bất đắc dĩ này, tôi nói bừa "Bác bảo vệ ở đó là chú tôi". Hoá ra ngôi trường nằm ngay góc quẹo trước mặt. Tôi nhận phòng, một căn nhà cấp bốn chừng hơn chục mét vuông kế ngay phòng bảo vệ. Chặng đường dài mệt nhọc và nỗi sợ hãi vẫn còn ám ảnh làm tôi chìm luôn vào giấc ngủ đầy mộng mị.

    Sáng hôm sau, tôi có mặt tại lớp học đúng giờ. Cũng là một dãy nhà cấp bốn nằm đối diện căn phòng tôi ở. Trời vẫn mưa lất phất và bầu trời thì tối một cách quái gở. Lớp học lợp mái ngói, những chiếc bàn gỗ ẩm mốc và bức tường lở lói bổ sung vào khung cảnh thê lương của một ngày không lấy gì làm đẹp trời. Khiếp hơn, chiếc cửa sổ bên tay mặt duy nhất sát cạnh bàn giáo viên lại trông ra một khu vườn um tùm cây cối với hơn chục ngôi mộ nằm rải rác. Không đủ can đảm thò tay với cánh cửa sổ phía bên ngoài, tôi bảo một cô bé ngồi bàn đầu với hai bím tóc dài tận đầu gối "Ra đóng giúp thầy cánh cửa cho đỡ gió". Tức thì một giọng con trai lên tiếng phản đối "Thưa thầy, người ta muốn xem thầy giảng bài đấy ạ". - "Ai?" - "Những người ngoài kia". Một tên học trò béo ị ngồi cuối lớp, mấy chiếc răng cửa to tướng như răng thỏ đang trân trối nhìn tôi, đầu hất hất về phía cửa sổ. Tôi bắt đầu nghẹt thở, vờ tiến về giữa lớp "Tôi là Quang, phụ trách môn nghiệp vụ lễ tân, sẽ dạy các em trong vòng bốn tuần. Du lịch là một ngành dịch vụ quan trọng và trong thế kỷ 21, du lịch sẽ trở thành mũi nhọn trong nền kinh tế của nước ta". Những tiếng nhao nhao bắt đầu ồ lên "Thưa thầy Thái Nguyên sẽ trở thành mũi nhọn chứ ạ", "Thầy ơi, chỉ còn 275 ngày nữa là sang thế kỷ 21, chúng em sắp thành đầu tàu rồi.", "Sao tóc thầy nghệ sĩ thế, thầy cắt ở đâu đấy ạ?". Hơn 50 đứa học trò, đứa ngồi đăm chiêu, đứa mặt mũi hớn hở, đứa nheo mắt tinh quái, đứa thản nhiên câng cáo. Tôi bắt đầu cảm thấy sự đe dọa vô hình. Tôi khoanh tay trước ngực, đầu ngẩng cao "Comenxki2 nói rằng: Những kẻ giàu có mà không có học vấn thì chẳng khác gì những con lợn béo ị vì ăn nhiều cám. Những người nghèo khổ mà thiếu hiểu biết thì cũng không khác gì những con lừa đau khổ buộc phải tải nặng. Một người có hình thức đẹp mà không có văn hoá chỉ là một con vẹt có bộ lông hào nhoáng". - "Thầy ơi cần phải có một bộ luật mới để bảo vệ động vật nuôi", "Thế thì chúng em là loài bò sát đấy ạ". Tên học trò béo ị đứng bật dậy, hai tay chắp trước ngực, khuôn mặt nghiêm trang giả tạo một cách đáng ghét và ngân nga giọng như bắt đầu bài diễn văn "Thưa thầy, chúng em xin thầy hãy rủ lòng thương xót cứu rỗi chúng em thoát khỏi cảnh sống kiếp động vật." Hắn ta cười hô hố và bắt nhịp cho cả một tràng cười với đủ mọi thanh âm đa dạng. Tôi thay đổi chiến thuật "Thôi nhé. Tôi bắt đầu điểm danh. Các em biết nguyên tắc rồi, nếu em nào nghỉ quá 20 phần trăm số tiết sẽ bị học lại". Quả nhiên lũ học trò ngồi im thin thít để chờ nghe tên mình. Tôi dò đến tên Nguyễn Văn Tuân, sinh năm 1980 "Em có mặt". Tên học trò xấc xược nhất lớp nói dõng dạc một cách hài hước khiến tiếng rúc rích lại nổi lên. Ðúng là Tuân béo. Tôi ra vẻ không để ý đọc tiếp "Lê Thái Vân". Im lặng. "Lê Thái Vân. Bạn này nghỉ học?". Có vài tiếng nho nhỏ ở bàn đầu "Bạn ấy mất rồi ạ. Chắc trường quên chưa gạch tên". Tôi định hỏi tiếp xong lại thôi "Các em mở trang 4..." Tụi học trò không mất trật tự như tôi tưởng. Trái lại ngồi im lặng một cách đáng ngờ, như thể chúng đang chuẩn bị thực hiện một âm mưu hết sức mờ ám. Tôi dạy hết hai tiết và nhân giờ giải lao ra đầu hồi đứng hút thuốc. Tôi ngắm ngôi trường. Chỉ là một chiếc sân bé tẹo xen giữa hai dãy nhà cấp bốn mà một dãy là lớp học còn một dãy dành cho giáo viên và học sinh nội trú. Tuy nhiên không hiểu sao dãy kia không có người ở ngoài phòng tôi và phòng ông bảo vệ già cách đó hai gian. Riêng lớp học cũng chỉ có độ bốn lớp. Ðang giờ nghỉ nên chúng nô đùa ầm ĩ trong lớp học. Tuy nhiên những âm thanh vui nhộn đó cũng không thể xua đi không khí ảm đạm của ngôi trường, hay ít ra do tôi cảm nhận thế. Vứt điếu thuốc, tôi bước vào phòng nghỉ giáo viên. ở đó có ba chị, có vẻ là giáo viên ở đây, đang chuyện trò rôm rả. Thấy tôi bước vào, họ ngừng cả lại dò xét. Tôi cất tiếng "Chào các chị. Hôm nay trời ẩm ướt quá". Họ rót cho tôi một tách trà nóng và bắt chuyện "Hôm nay em mới lên à? Thấy học sinh ở đây thế nào?". Tôi cười gượng "Dạ, các em ngoan và rất hiếu học ạ." Tôi buộc phải nói ra câu xã giao ấy mà lòng buồn rầu rĩ. Một chị đứng tuổi, mặc áo hoa tay bồng, tóc tết đuôi sam phía sau cười thông cảm "ừ tụi học sinh ở đây hơi nghịch nhưng tâm tính tốt. Mà đa phần hoàn cảnh đều vất vả nên nhiều lúc cách cư xử cũng khác học sinh Hà Nội". Tôi hoà nhập nhanh chóng và bắt đầu đi vào những điều cần hỏi "Sao khu vườn phía sau lớp nhiều mộ thế chị, mà lại chưa dọn đi?". Chị trẻ nhất có nước da rất trắng, áng chừng hơn tôi vài ba tuổi hạ giọng "Trước đây trường này là nghĩa địa của những người vô gia cư. Hồi nạn đói năm 45, người chết nhiều lắm, chôn chung cả ở đây. Mãi vừa rồi chính quyền mới trưng dụng để làm trường học. Cũng là do anh Ðĩnh hiệu trường làm đơn mở trường dạy nghề cho các em." Tôi nổi da gà "Nghĩa là ngay chỗ mình ngồi á?" - "Tất nhiên. Khắp mọi nơi. Cả khu lớp học lẫn khu ở. Em đừng sợ, các tiểu sành được dọn đi hết rồi" - "Nhưng vẫn còn một số trong khu vườn sau lớp học". - "Mọi người kể rằng mấy cái đó không rời đi được, vì cứ hễ ai động vào là y như rằng bị trúng gío cấm khẩu. Có người về nhà còn hoá điên mất một tháng. Lúc tỉnh ra mới kể suốt mấy ngày vừa rồi hôm nào cũng được mời đến một khu nhà lá. Người ngợm ở đó ăn mặc rách rưới nhưng ăn uống linh đình lắm. Hỏi ăn món gì thì người kia bảo không biết, chỉ cười ngây ngô". Tôi uống nốt chén trà và quay vào lớp, cố gắng tránh chiếc cửa sổ. Trời vẫn mưa rả rích và có vẻ ngày càng tối hơn. "Các em bật điện lên". - "Thưa thầy mất điện rồi ạ'. Tôi cố ghìm lại để khỏi văng ra một từ khó chịu. Tôi tiếp tục bài giảng và bất chợt cảm thấy điều gì đó không ổn. Tôi nhẩm đếm lại số học sinh trong lớp, và đếm lại đến ba lượt. "Sao trong sĩ số chỉ có 53 mà ở đây có tận 54". - "Sĩ số 54 chứ thầy" - "Tôi biết rồi, nghĩa là trừ bạn Thái Vân ra." Cực chẳng đã tôi đành phải nhắc đến tên người học trò vắng mặt. Tôi vốn không bao giờ thích kêu tên những người đã chết. Trong ánh sáng lờ mờ của lớp học, tôi nhận ra một cô gái ngồi ngay cạnh Tuân béo. Rõ là lúc nãy Tuân béo ngồi cạnh học trò Quốc Hữu. Tin chắc vào trí nhớ của mình từ lúc điểm danh đầu giờ, tôi trỏ tay "Bạn nữ này là ai?". Cả lớp im lặng, ngơ ngác. Ngay cả Tuân béo lúc này cũng ngẩn người ra "Thầy bảo ai ạ?". Tôi đanh giọng lại "Tôi hỏi người ngồi cạnh em" - "Là bạn Quốc Hữu ạ". Tôi bắt đầu gầm lên "ý tôi hỏi bạn nữ ngồi cạnh em." - "Cả bàn em toàn nam ạ. Chắc thầy thấy Quốc Hữu giống gay quá đây mà." Cả lớp bắt đầu cười rinh rích. "Tôi không đùa". Từ một chuyện rất nhỏ, tôi thấy sự việc bắt đầu trở nên nghiêm trọng khi lũ học trò trở nên bất hợp tác. Tuân béo đứng hẳn lên. Nhìn mặt hắn và cả lớp, tôi biết không ai đùa hết "Thưa thầy, bàn em có 5 con trai ạ. Không có bạn nữ nào. Em không hiểu ý thầy định nói gì". Tôi luống cuống "Cả lớp, tôi hỏi bạn nữ ngồi cạnh Tuân là ai?". Toàn bộ những cái đầu còn lại quay xuống ngơ ngác, tỏ vẻ không hiểu. Tôi điên tiết "Thôi, tôi hỏi chính em. Em nữ áo trắng ngồi cạnh Tuân đứng lên và nói cho tôi biết em tên là gì?". Cô gái ngồi cạnh Tuân mặc chiếc áo trắng nhờ nhờ và vì ngồi cuối lớp, lại trong cảnh tranh tối tranh sáng nên tôi không rõ mặt cô ta. Chỉ biết cô bé rất trắng với đôi mắt to đen buồn rười rượi và mái tóc cũng đen dài lấp gần hết khuôn mặt. Kỳ cục, cô gái chỉ chăm chắm nhìn tôi vẻ ủ ê như không nghe thấy tôi nói gì. Tôi nhắc lại "Nếu em không đứng lên tôi sẽ lên mời ban giám hiệu". Cả lớp nhìn tôi khó hiểu. Tuân béo lại đứng dậy, vẻ nghiêm trọng "Em xin thề với thầy rằng bàn em không hề có bạn nữ nào và ngồi cạnh em là bạn Quốc Hữu. Chỗ cạnh em trước đây thì có một bạn nữ thật, là bạn Thái Vân. Nhưng giờ bạn ấy... Thế thầy nhìn thấy người như thế nào ạ?". Sống lưng tôi lạnh toát, trả lời thằng Tuân như một cái máy "Một bạn nữ da trắng, tóc dài, mắt đen...". Một học trò nữ da ngăm ngăm ngồi bàn đầu giở chiếc ảnh trong ví "Có đúng bạn này không thầy?". Tôi nhìn xuống cô gái cuối lớp, vẫn với khuôn mặt đượm buồn ngồi lặng lẽ như không mảy may để ý đến những điều người khác đang nói về mình "Ðúng rồi". Có vài tiếng nói rất nhỏ "Ðúng là bạn Thái Vân rồi. Thỉnh thoảng bạn ấy vẫn đến lớp". Thốt nhiên một làn khói mảnh bốc lên bao phủ lấy khuôn mặt trắng bệch của Thái Vân. Tuân béo bất ngờ rú lên một tiếng thất thanh, cả lớp nhốn nháo, còn tôi, theo phản xạ đủ thu hết sức lực còn lại nhấc đôi chân nặng hơn chì chạy như bay ra khỏi lớp.

    Trong lúc tinh thần hoảng loạn, tôi đâm sầm vào một người đàn ông đang đi giữa sân trường. Ông này chừng ngoài 40, khuôn mặt thông minh và thân thiện, mặc bộ comple màu xanh cổ vịt. Ông ta nhìn tôi mỉm cười, hàm răng sáng bóng kỳ lạ "Cậu là Quang hả. Tôi tên Ðĩnh. Mới lên hôm qua phải không? Ðang giờ dạy chạy đâu mà như ma đuổi thế?". Tôi ấp úng, vẫn còn đủ tỉnh táo để biến báo "Em định lên nhờ ban giám hiệu điểm danh cho hôm đầu. Em là giáo viên mới chưa thuộc hết mặt nên...". Ông Ðĩnh cười ha hả "Chắc tụi học sinh nó lại quậy chứ gì. Không sao, các em ở đây chăm học lắm. Hôm nào cũng đi đủ hết. Cậu đứng ngoài chờ, để tôi vào dặn dò". Tôi đứng nép dưới hàng hiên, hít một hơi căng lồng ngự để lấy lại bình tĩnh. 5 phút sau, ông hiệu trưởng ra ngoài miệng tươi cười "Ðủ rồi, 53 đứa, cậu vào dạy tiếp đi". Tôi cuống lên "54 em cơ ạ". - "Trước đây thì thế nhưng có một em nữ mới bị bệnh tim mất tháng trước, giờ chỉ còn 53". Tôi hoảng hốt "Nhưng ban nãy em đếm trong lớp có 54". Ông Ðĩnh nhìn tôi không hiểu "Cậu vào đây với tôi". Tôi đi sau ông bước vào lớp. Cô gái ban nãy biến mất. Ðúng là bàn của Tuân béo chỉ có 5 nam sinh. Ông Ðĩnh đếm lại thành tiếng và xoa tay "53 mà. Chắc ban nãy cậu đếm nhầm. Thôi thừa còn hơn thiếu". Ông ta bông đùa, vỗ vai tôi và bước ra khỏi lớp. Tôi chạy theo "Có khi nào bạn bè của các em ấy đến chơi không ạ?" - "Không bao giờ, vì các giáo viên của chúng tôi luôn điểm danh rất kỹ. Nội quy nhà trường không cho phép bất kỳ người lạ nào vào lớp học. Bảo vệ cũng rất nghiêm ngặt trong việc này". Tôi thẫn thờ quay vào lớp và... suýt ngất xỉu khi nhìn thấy ở vị trí ban nãy lại hiện lên gương mặt của Thái Vân. Tôi tựa lưng vào tường "Các em làm bài tập trang 6... Cuối giờ tôi thu bài" rồi vội vã bỏ ra ngoài.

    Hôm đó, tối mịt tôi mới quay lại trường, sau một buổi chiều ngồi lì trong một quán cà phê bình dân. Ngôi trường nằm trong ngõ nhỏ cách đường cái chừng 50 mét, xung quanh tịnh không bóng người ở, chỉ có đồng không mông quạnh và một khu vườn hoang um tùm lá. Lúc này ngôi trường chìm trong bóng tối. Những ô cửa sổ khoét thành mấy cái lỗ đen ngòm như ẩn chứa bên trong không chỉ là bàn là ghế. Các phòng học ban ngày chở tiếng cười nói của mấy trăm học sinh giờ im lìm đáng sợ. Duy nhất có ngọn đèn vàng lờ nhờ trong phòng bảo vệ đầu hồi là nhắc nhở tôi về sự tồn tại của con người. Tôi tiến về phía ánh sáng. Ông bảo vệ cỡ ngoài 60, thấp bé, quê kệch và nhạt nhẽo. Giá mà ở nơi đô thị đầy ánh sáng thì có thể tôi và ông ta chẳng có chuyện gì để nói với nhau. Nhưng giờ nhìn thấy ông ta tôi mừng húm như thể chiếc phao cứu nạn. Tôi bắt chuyện "Hôm nay trời ẩm ướt quá". Nhưng ông già có vẻ hờ hững như đã quen với sự cô độc hàng thế kỷ "Chào cậu". "Bác cho cháu sang ngủ cùng cho vui nhé. ở một mình thật buồn quá". Ông ta không buồn nhìn tôi "Tuỳ cậu. Tôi còn một chiếc giường xếp đấy". Tôi sung sướng mở chiếc giường ông bảo vệ lôi từ gầm giường ra và thậm chí không dám quay về căn phòng tối om để thay quần áo nữa. "Bác đã bao giờ nhìn thấy ma chưa?" - "Khối". Ðôi mắt người bảo vệ già bỗng ánh lên kỳ lạ khiến tôi run như cầy sấy "Hồi tôi còn đi bộ đội. Có lần lạc đường vào ngủ nhờ một ngôi nhà nằm trên sườn đồi. Chủ nhà là một bà goá có cô con gái chưa chồng. Hai mẹ con tiếp đón tôi niềm nở và mặc dù lúc đó là nửa đêm, vẫn ra ngoài vườn thịt cho tôi một con gà giò rồi nấu một nồi cháo nóng. Tôi ăn xong ngon lành leo lên giường ngủ tới sáng bảnh. Sáng dậy chả nom thấy ai, đoán là hai mẹ con đi ra đồng. Lúc đó có mấy người đốn củi đi qua nhìn thấy tôi mới ngạc nhiên hỏi tôi làm gì ở đấy. Tôi kể lại câu chuyện hôm qua thì họ hết hồn nói rằng ngôi nhà đó bỏ hoang. Trước ở đó có hai mẹ con bà goá thật. Họ hoạt động cách mạng nhưng đã bị địch bắt và xử bắn rồi. Chắc chắn người tôi gặp đêm qua là oan hồn của họ đấy thôi. Tôi chả sợ. Nghĩ rằng ma mà đón tiếp mình tử tế như vậy thì cũng phải biết ơn họ. ở đây tôi cũng gặp khối. Thỉnh thoảng cứ có người vào xin lửa rồi lại kêu đói, kêu rét, ăn mặc rách rưới chẳng giống ai, ra nhìn theo thấy mất hút vào mấy khu vườn hoang kia. Chả ma thì là gì. Nhưng mình có làm điều gì xấu đâu mà sợ. Ma cũng từng là người giống mình cả thôi." Tôi bỗng cảm thấy hối hận vì đã xin vào đây ngủ nhờ, hối hận vì không cáo ốm mà từ chối lên đây dạy học, hối hận vì đã ưng thuận đi làm thầy giáo và bỗng nhiên thấy oán trách bố mẹ tôi hơn bao giờ hết. Tôi buột miệng "Thế có bao giờ mình nhìn thấy ma giữa ban ngày không bác?" - "Có chứ. Ðấy là những con ma có căn số nặng, linh hồn không thoát đi được nên cứ lẩn khuất nơi chốn cũ." - "Nhưng không phải ai cũng nhìn thấy ma phải không bác.?" - "Ðúng thế. Chỉ những người hợp với cõi âm thôi. Ðấy là những người có khả năng đặc biệt. Như tôi chẳng hạn." Tôi chẳng thích cái khả năng đặc biệt này tí nào. Tôi đâm sợ ông bạn già mới quen này, và tự nhiên, sợ luôn cả chính tôi nữa. Không biết ngày mai tôi có phải đối diện với Thái Vân lần nữa không, trong khi không ai nhìn thấy cô bé cả. Ðêm thứ hai. Tôi có một giấc mơ hãi hùng.

    * * *


    Thái Vân vẫn lên lớp, ngồi ghi chép đầy đủ. Khuôn mặt đượm buồn nhìn tôi không chớp. Những đứa khác cũng thôi không giở trò trêu ghẹo tôi nữa. Quả như ông Ðĩnh nói, chúng khá chăm học. Tuy nhiên giờ thì tôi không còn hứng khởi nào để giảng bài nữa. Nỗi sợ hãi làm tôi tê liệt cả đầu óc. Tôi lên lớp trong tâm trạng u u mê mê, hư hư thực thực. Nỗi khổ lớn nhất của người thầy giờ tôi mới thấm thía, ấy là anh không được phép bỏ học sinh trong bất kỳ hoàn cảnh nào, vì bất kỳ lý do gì ngoài ốm phải nhập viện. Chị Hoa béo dạy cùng bộ môn tôi bị học sinh đặt tên là Hắc Phong, có lần sốt đùng đùng vẫn cố lên lớp. Hỏi sao không nghỉ kêu phiền phức lắm. Tôi bỏ về Hà Nội vì lý do gì, bịa ra một căn bệnh cấp tính hợp lý? Lũ học sinh sẽ không có người dạy trong mấy hôm cho đến khi trường cử được người khác lên thay. Ðể có được người lên thay ấy phòng đào tạo sẽ phải bố trí thay đổi toàn bộ giờ giảng. Mọi thứ sẽ rối tung lên. Hay tôi nói thật về con ma kia? Khéo người ta cho rằng tôi đã phát điên cũng nên. Cơn mưa phùn rả rích không có vẻ gì là ngớt. Tôi vẫn phải đối diện với cái không khí nhợt nhạt ấy hàng ngày, đối diện với những ngôi mộ vô chủ lũ lượt nằm xếp lớp ngoài cửa sổ, với đôi mắt u buồn của Thái Vân và tối tối co ro trên chiếc giường xếp hôi mùi cớm nắng. Tôi bắt đầu thích nghi với không khí kỳ quặc ở ngôi trường, cố gắng nhìn thẳng vào những thứ làm tôi sợ hãi. Tôi gầy xọp đi. Chiều chiều vẫn giở sách ra soạn bài, cảm thấy ngôi nhà quen thuộc đầy ánh sáng và tiện nghi nằm giữa khu phố sầm uất cạnh Hồ Gươm như một giấc mơ xa vời. Tôi quen dần với những con phố hẹp buồn tẻ, quen với những quán cà phê ghế nhựa thiếu internet và điện thoại không dây, quen với những đứa học sinh lôi thôi luộm thuộm, cách pha trò nhạt nhẽo của mấy chị giáo viên giờ giải lao, câu chuyện ma quái hàng tối của ông bảo vệ già, rồi đôi lúc còn ngỡ rằng có khi tôi sinh ra là để nhập vào cái không khí ảo ảo thực thực đầy màu xám này cũng nên. Lũ học trò lại ngày càng ham học một cách đáng ghét. Thậm chí Thái Vân cũng ham học không kém, như thể cô bé thấy tiếc những ngày còn sống vậy. Nhiều khi tôi quên mất thân phận của Thái Vân, còn định gọi cô lên đọc bài. Làm cái anh thầy giáo hay ở chỗ cho dù có tâm trạng thế nào nhưng cứ hễ học trò nó hau háu ngồi nghe lại hăng máu lên mà giảng say sưa. Thằng Tuân béo lạ thay, không quậy phá nữa và mấy lần nhìn tôi len lén như định nói gì song lại thôi. Thấm thoắt chỉ còn ba ngày nữa là tôi được về nhà. Cơn mưa phùn may thay đã tạnh từ hôm trước. Sáng ấy, ông bảo vệ báo cho tôi một tin rất sốc là bà vợ già của ông sẽ ở quê lên thăm. Vì vậy tôi liệu mà thu xếp chỗ ngủ, ông ta sẽ không cho mượn chiếc giường xếp hôi mùi cớm nắng ấy nữa. Dù đã quen với cái không khí kỳ dị của ngôi trường nhưng việc phải ngủ một mình trong căn phòng đen ngòm mà biết đâu dưới nền vẫn còn vài cái tiểu sành còn sót lại là một chuyện khác hẳn. Tối đó, sau khi quán cà phê quen thuộc của tôi đóng cửa sau lời đuổi khéo của bà chủ quán ?Gớm, nom thế mà đã 11 giờ, cậu về ngủ sớm đi rồi mai còn lên lớp?, tôi còn lang thang chừng non một tiếng nữa. Con đường vắng lặng đến nỗi tôi có thể nghe rõ tiếng bánh xe chà sát lên mặt đường lổn nhổn đá dăm. Ðèn đường đã tắt hết và lúc này chỉ còn ánh sáng duy nhất rọi từ chiếc đèn pha của tôi. ánh đèn màu vàng nhạt bất chợt lướt qua một người mặc sơ mi trắng đang đạp xe đằng trước, là một cô gái. Chẳng mấy chốc khoảng cách giữa tôi và cô ta thu hẹp dần. Cô gái quay đầu lại, đối diện với ánh đèn pha sáng loá. Là Thái Vân. Nụ cười lần đầu tiên tôi nhìn thấy với hàng răng trắng đều tăm tắp "Em chào thầy ạ". Tôi không nhớ mình nằm dưới mặt đường bằng cách nào, vì cú phanh đột ngột hay do mặt đá dăm trượt vào bánh xe nhưng não của tôi đã tê liệt. Khuôn mặt trắng toát của Thái Vân cúi xuống càng làm tôi khiếp đảm "Thầy có sao không ạ?". Tôi thều thào "Tránh xa tôi ra. Ðã là ma sao không siêu thoát đi. Còn ám tôi làm gì". Thái Vân bật khóc "Thầy ơi. Em không phải là Thái Vân đâu. Em là Bích Hoa. Trò này là do tụi Tuân béo bày ra. Cả cái vụ đốt hương làm khói nữa. Em xin lỗi thầy". Lúc này tôi như bị ném từ một hồ nước đóng băng tê cóng vào đống lửa đang bén cao từ những cành cây khô nỏ. Cánh tay tôi đau điếng song tôi thấy có chỗ khác còn đau hơn "Tôi không tưởng tượng nổi...". Bích Hoa cuống quýt "Thầy ơi, chỉ vì em không có điều kiện đi học nên Tuân béo mới bày ra đủ trò. Em đã định nói với thầy nhưng em sợ...". Mơ ước của tôi mấy hôm trước đã trở thành sự thật. Cánh tay của tôi bị rạn sau cú ngã xe và tôi từ chối sự thăm hỏi của lũ học trò trong bệnh viện. Hôm cuối cùng, tôi vẫn cố lên lớp với cái tay bó bột trắng toát. Tôi chỉ nói vỏn vẹn một câu "Tôi đã lặn lội gần trăm cây số đến đây để mong gặp các em. Vậy mà tôi thất vọng". Hơn 50 khuôn mặt xanh lét. Cả Tuân béo cũng cúi gằm mặt xuống. Chúng tôi chia tay nhau chẳng vui vẻ gì.

    Sáng hôm sau, trời rất đẹp nhưng tôi đã chán ngán cái thành phố này đến tận cổ. Cái cảm giác mình là một thằng ngốc trên bục giảng suốt một tháng qua làm tôi phiền muộn. Ðúng vào lúc tôi loay hoay tìm cách dắt chiếc xe bằng một tay ra cửa, thì có tiếng lao xao rộn lên trong sân trường vắng lặng. Tất cả lũ học trò quý hoá của tôi đã tề tựu đông đủ, dẫn đầu là Tuân béo và Bích Hoa. Tuân béo tay xách chiếc ba lô cho tôi, mắt nhìn đi hướng khác "Em xin lỗi thầy. Chỉ vì hôm thầy bị hỏng xe giữa đường, thấy thầy... sợ ma nên em tính đùa chút xíu. Chúng em vẫn luôn tôn trọng thầy". Tôi trố mắt lên nhìn Tuân béo và chợt nhớ ra cái dáng mập tròn trong chiếc áo mưa màu tím than. Tuân béo lúc này mới dám nhìn tôi "Thầy không phải đi ô tô đâu. Ðể em đưa thầy về tận Hà Nội."

    ***


    Có một vài lý do khiến tôi không thể nào ghét lũ học trò được, cho dù đôi lúc chúng còn khó chịu hơn tụi yêu ma quỷ quái. Bích Hoa năm nào cũng gửi cho tôi một gói trà vào ngày 20 tháng 11. Mùa thu năm ngoái, tôi tình cờ gặp cô bé trong một hội chợ du lịch, đang đứng giới thiệu sản phẩm trà của gian hàng. Mới tuần trước, Bích Hoa cũng gửi thư từ trong Nam ra khoe rằng đã chuyển hẳn sang một công ty du lịch lớn và cô bé được tiến cử phụ trách bộ phận nội địa. Tuân béo cũng hay gọi điện hỏi thăm. Cậu này hồi đi học còn làm thuê cho cửa hàng sửa xe máy giờ đã mở một nhà hàng ăn uống ở Thái Nguyên. Nghe đâu còn có tham vọng đầu tư vào dịch vụ du lịch Hồ Núi Cốc.

    Chú thích:
    1. Tên các nhà sư phạm nổi tiếng
    2. Jan Amot Comenski, nhà lý luận dạy học được tôn vinh là Ông tổ của nền sư phạm cận đại



    H Ế T

  •   Chủ đề: Cocktail - Di Li
    Amar, Trả lời/Số lần xem: 0/1989, , Bài viếtChuyên mục: Truyện ngắn   Ngày gửi: khoảng 1 10 năm trước
    Subject: Cocktail - Di Li
  • Di Li tên thật là Nguyễn Diệu Linh, sinh năm 1978 tại Hà Nôi. Truyện ngắn Cocktail của chị đã đoạt giải ba trong cuộc thi Truyện ngắn Quân Đội 2005-2006


    Cocktail
    Truyện ngắn của Di Li


    Tôi kể lại câu chuyện này mà các tình tiết của nó chẳng liên quan gì đến “Chuyện tình nơi quán rượu”1 với nam tài tử Tom Cruise trong vai anh chàng pha rượu bảnh trai có cái lắc hông khiến cả nửa dân số thế giới dán mắt vào vô tuyến. Cũng không hề dính dáng tới những bữa tiệc cocktail của giới thượng lưu, nơi các quý ông ngày ngồi đếm phong bì tối đến đứng tụm lại thành vòng tròn bàn chuyện nên mua hòn đảo nào giữa đại dương, và các quý bà vai trắng nõn nà bận rộn với việc bắt tay hơn là uống champagne. Câu chuyện của tôi xảy ra cách đây 8 năm và nó gây cho tôi một phản xạ có điều kiện khi cứ mỗi lần uống một ly cocktail vào lúc 11 giờ đêm (thói quen tôi không thể bỏ) là phải soi tận đáy cốc qua cái ánh đèn kềnh kệch trong quầy bar. Và đôi mắt nàng, vẫn hiện hữu như thể 2920 ngày mới chỉ là hôm qua.

    … Năm ấy tôi 26 tuổi, chưa từng có việc làm. Hai chữ “thất nghiệp” đeo bám trong đầu tôi đến nỗi tôi đâm thù ghét tất cả mọi cuộc gặp gỡ xã giao với những câu hỏi được đúc khuôn như phát ra từ một chiếc đĩa hát thu sẵn “Thế bao giờ mới cho bọn tớ ăn bánh kẹo đây? Đang làm ở đâu rồi? Lương lậu thế nào?”. Dần dần tôi hình thành thói quen hễ cứ thấy bóng người quen là vờ tuột giây giày hoặc quên gì đó phải quay hướng ngược lại. Một lần gã anh họ của tôi đến chơi sau hơn 10 năm sống lưu vong ở nước ngoài. Gã trịnh trọng chia card visit cho cả sáu thành viên trong gia đình tôi, trên đề chức danh chủ tịch hội đồng quản trị tập đoàn Tư vấn thương mại. Gã vỗ vai tôi bồm bộp “Cậu phải đi theo học hỏi tớ. Hai bằng đại học như cậu mà vẫn ăn cơm mẹ nấu là không ổn đâu”. Tôi ngượng chín người. Cái điều vẫn lẩn khuất trong tiềm thức được gã nói trắng ra trước thanh thiên bạch nhật khiến cả nhà tôi gật gù. Gã ngoáy mũi rồi chùi luôn vào vạt áo complê “Bằng cấp mà làm đếch gì. Giáo sư tiến sĩ còn đang thất nghiệp đầy ra nữa là các cậu”. Mẹ tôi bê nước trà đến trước mặt gã mà quên mất 10 năm trước bà cấm tiệt không cho anh em tôi giao du với ông anh họ quý hoá. “Thì bây giờ anh em bảo ban nhau mà làm ăn. Gia đình ta neo người nên thím giao nó cho anh. Anh có việc vặt gì sai bảo nó cũng được”. Nghiễm nhiên tôi có việc làm. Dù không ưa lắm tay anh họ ruột thịt nhưng giữa chúng tôi cũng có điểm chung. Tôi thù ghét từ “thất nghiệp” còn gã thù ghét từ “bằng cấp”. Nỗi khổ tâm làm chúng tôi dính lấy nhau như hình với bóng. Gã luôn giới thiệu tôi với đám khách hàng “Chú em tôi giỏi lắm. Hai bằng đại học, tiếng Anh nói như gió, việc gì cũng thạo. Có gì cần các anh cứ bảo chú ấy.” Thật tình thì tôi làm sang cho gã cũng như những bức tranh treo ở phòng khách công ty mà khách khứa đều phải khâm phục trí sáng tạo phong phú của chủ nhân, bức tranh Phật bà treo cạnh poster in mẫu Cadillac ba khoang đời mới nhất, kế tiếp là tấm ảnh khổ lớn gã chụp cùng một quan chức trong chính phủ tại một buổi lễ cắt băng khánh thành và kề ngay đó là chân dung cô gái tóc vàng có vòng một vừa được mua bảo hiểm 2 triệu đô la. Cái việc cần mà gã anh họ nói với các ông khách nước ngoài mắt một mí được trịnh trọng giao phó cho tôi. Những ngày đầu tôi tháp tùng gã và mấy ông khách kia đi ngoại giao tại các quán karaoke ruột của gã trong thành phố. Trên đời có hai thứ tôi chưa từng được đụng đến dù có mục sở thị, đó là rượu và phụ nữ. Trước nay tôi vẫn được khen sáng dạ, song lần này gã anh họ khẳng định “Chú tối lắm. Tao thấy lạ khi thím tao khai giới tính cho chú mày trong giấy khai sinh”. Gã cười khìn khịt “Đấy, bằng cấp mà làm đếch gì. Hôm nào cắp sách đến tao chỉ cho vài đường cơ bản”. Kết quả những ngày đi làm đầu tiên của tôi là những cơn buồn nôn thường trực. Đến độ chẳng cần mùi whisky hay mùi nước hoa sộc ra từ những bộ ngực không che đậy tôi cũng đã đủ gợn cổ họng vào mỗi sáng như đàn bà ăn dở. Hết tháng đầu gã anh họ tuyên bố “Từ nay công tác ngoại giao tôi giao cậu quản lý.” Tôi phản ứng yếu ớt “Hay anh chỉ định người khác. Em chưa quen việc”. Gã cười nhạt “Vậy thì ai làm? Tao làm? Mấy con thư ký õng ẹo kia hay thằng tài xế?”. Nói đoạn gã dỗ dành “Thôi, tao giao cho chú công việc nhẹ nhàng nhất, chỉ việc ăn với chơi. Đấy là tao nể thím lắm. Đối tác họ thích chú vì mặt mũi hiền lành lại nói được tiếng Anh. Chú làm tốt thì tháng sau tôi bổ chú làm trưởng phòng đối ngoại”. Dĩ nhiên là tôi vẫn tối như thường. Đối tác của gã phàn nàn liên tục và lần cuối cùng trước khi đoàn khách thứ bảy về nước, gã gọi tôi lên phòng “Mày ăn gì vào mồm mà ngu thế?”. Tôi cứ ngắm mãi mũi giày. Gã càng tức “Sao mày dám đánh khách hàng của tao. Mày có biết hợp đồng tiền tỉ nằm ở đấy không.” Tôi cắt ngang “Em chỉ lỡ tay xô lão thôi. Tại lão tát con bé trong quán”. Gã nhìn tôi như thể nhìn con bệnh ung thư giai đoạn cuối “Mày để tình thương của mày cho thím tao ấy, người đã nuôi báo cô mày mấy chục năm. Còn loại đàn bà kia không thằng này tát có thằng khác tát. Thôi từ mai chú mày lại về nhà ăn cơm mẹ nấu, nhá”. Câu sau cùng này khiến tôi suýt khuỵu xuống. Có ông Maslow nào đó đã cho rằng trong Năm Nhu cầu2, nhu cầu sinh tồn là nhu cầu đầu tiên và mạnh mẽ nhất. Lần này tôi thấm nhuần mớ lý thuyết của Maslow hơn lúc nào hết. Sáng sớm hôm sau, tôi bê một tách cà phê thơm phức và xẹt lửa vào điếu thuốc cho vị cứu tinh. Tôi nhìn thẳng vào đôi mắt ti hí sát sống mũi của gã “Anh cho em tiếp tục đi làm. Việc hôm qua em sai rồi”.

    … Một năm sau, tôi là cục cưng của cả công ty. Hợp đồng tôi kéo về đủ để tôi muốn gì được nấy. Giờ không những chai lì với mùi whisky và nước hoa, tôi còn có thể thẩm định được tất cả các dòng rượu mạnh cũng như thuộc lòng ý thích của từng khách hàng. Gã buôn phế liệu tàu biển người Nhật Bản thích rượu gin và con gái da ngăm đen phốp pháp. Thằng cha Mễ Tây Cơ lai Tàu kinh doanh bất động sản lại chỉ thích rum trắng và phụ nữ dong dỏng cao. Còn tay giám đốc Đài Loan vừa gặp chân ướt chân ráo đã uống Brandy3 tì tì như nước lã và vỗ mông bất kỳ cô gái nào đi qua bàn của hắn. Mỗi lần như vậy tôi cũng cười hềnh hệch hưởng ứng, rồi gọi cô gái kia lại để hắn nhét tiền vào khe áo. Các đối tác của gã anh họ mê tôi như điếu đổ. Đến nỗi mỗi lần xuống sân bay, từ đầu tiên họ nhắc đến là tên tôi rồi mới đến câu chào và chuyện làm ăn. Thế rồi tôi quen nàng trong một quán bar, hay đúng hơn trong một chuyến công tác vào phương Nam. Năm ấy khủng hoảng kinh tế châu Á. Lượng khách hàng của gã anh họ ít dần. Họ rút hết vốn đầu tư lại để dồn sức cho công ty mẹ trong nước. Gã anh họ thức thời không biết cũng sắm sanh được ở đâu hai bằng đại học giống như tôi, rồi lần hồi có cả bằng tiến sỹ. Gã được bổ nhiệm vào một Vụ quan trọng. Khởi đầu là chuyên viên, nhưng một ngày nọ gã trịnh trọng gọi tôi lên “Tôi được thăng chức rồi. Chức giám đốc công ty tôi trân trọng giao lại cho chú”. Tôi thành giám đốc, đương nhiên, chỉ trên giấy tờ.

    Lần đó tôi dẫn một khách hàng đi khảo sát thị trường phía Nam. Sau giờ làm việc, tôi với hắn lại rúc vào một quán bar. Hắn chỉ cô gái đang quấn lấy chiếc cột inox bằng động tác của một con mèo hoang “Đẹp lắm”. Tôi hét lên át tiếng nhạc “Tao có thứ này còn hay hơn”. Đôi mắt một mí của hắn sáng lên “Thật à”. Tôi ra ngoài và dẫn vào một cô gái có đôi môi trễ nải ướt át. Tôi trao đổi vài câu với cô gái bằng tiếng Việt và với hắn bằng tiếng Anh. Hắn cảm ơn tôi rồi vui vẻ khoác vai cô ta đi ra ngoài. Tôi thở phào, gọi cho mình một ly Margaritta và ngay khi vừa chạm môi vào viền muối trên cốc, có vật gì đó chạm nhẹ vào tôi “Anh mới vào nghề à?”. Tôi trố mắt nhìn cô gái trước mặt qua ánh sáng mờ ảo quyện khói thuốc, cảm thấy vừa ngượng vừa tức. Hẳn cô ta tưởng tôi là một tên ma cô chuyên nghiệp. Tôi cuống cuồng rút chiếc card visit từ trong ví ra, chẳng màng nhìn lại quần áo xem có ra dáng một giám đốc không. Cô gái mỉm cười vẻ hối lỗi “Em chỉ… tưởng nhầm nên báo anh cảnh giác với tụi chuyên nghiệp ở đây. Tụi nó dữ đòn với những ma mới lắm.” Cô gái nói giọng Bắc. Đôi mắt đen đến ngạc nhiên. Nhìn chung khuôn mặt cô không có vẻ gì ấn tượng ngoài đôi mắt với hàng mi dày rợp dễ khiến những gã đàn ông như tôi quên mất ly cocktail hấp dẫn trước mặt “Tối nay em rảnh chứ?”. Tôi đặt tay lên vai cô gái. Bất ngờ cô đứng phắt dậy, hàng mi nhướng lên “Em không phải là… Em là một bartender4”. Tôi ngồi lại đến một giờ sáng. Trước khi định gọi một chiếc taxi về khách sạn, tôi đi tới đi lui trước quầy bar rồi cuối cùng cũng cất lời “Em mắt đẹp ơi. Cho anh xin lỗi chuyện hiểu lầm ban nãy nhé. Mới đầu em cũng hiểu lầm anh còn gì. Một đều được chưa. Mà em pha Margaritta ngon lắm”. Cô gái đang thoăn thoắt đôi tay với bình shaker, đôi mắt tươi rói trong khi khuôn miệng hơi trĩu xuống giận dỗi “Margaritta chào đón anh lần sau”.

    Sau lần ấy, những chuyến bay về phương Nam của tôi dày hơn. Thậm chí chẳng cần dẫn khách đi ngoại giao tôi cũng tự mình mò đến quán bar của Margaritta. Tôi đặt tên cho nàng bằng tên loại cocktail tôi yêu thích, cũng là tên cô đào hồng nhan bạc mệnh được một tay bartender vô danh nào đó gắn lên thứ nước pha cồn diệu kỳ này. Tôi chỉ được gặp nàng vào ban đêm. Đó cũng là lý do cho đến những năm về sau, mỗi lần tôi nhìn thấy nàng trong những giấc mơ không màu, chỉ đôi mắt nàng là có thật và đen hơn cả màn đêm. Tôi không biết nhiều về nàng. Cho dù sau vài lần bị từ chối khi có nhã ý đưa nàng về, tôi đã cất công đứng ngoài cửa đến tận 3 giờ sáng để bám theo nàng về nhà. Nhưng lần nào cũng hướng ấy, con đường ấy, nàng mất hút vào một xóm nhỏ ven nội, như thể nàng mãi là bóng đêm, trên đường phố, trong quầy bar, trong những giấc mơ đen trắng và cả ký ức rặt một màu bóng đêm của tôi nữa. Có lần tôi gọi ly Margaritta thứ chín trong một buổi tối và hỏi nàng “Trước em học trường nấu ăn à?”. Nàng mỉm cười dịu dàng, lấy cho tôi vài tờ giấy ăn để thấm vết ướt trên cà vạt “Không, trước em học dược. Sau này vì kiếm sống mà phải học pha cocktail thôi”. Trước nay tôi vẫn coi cocktail là một thứ làm mát cổ họng sau khi dạ dày được tưới đẫm whisky. Nhưng những lúc nhìn ánh loang loáng của bình shaker trên đôi tay nhỏ nhắn, nhìn cách nàng đổ rượu vào ly đầy điệu nghệ, nhìn nụ cười khi nàng đặt ly Margaritta lên quầy bar, lần đầu tiên tôi cảm nhận vị mặn của muối hoà quyện với hơi cay từ vỏ chanh và hương thơm lan tỏa của rượu tequila trên đầu l¬ưỡi. Nó cũng ám ảnh chẳng khác nào đôi mắt đen hơn bóng đêm của Margaritta. “Học dược khó nhất điều gì em”. Nàng thái vỏ chanh vào một chiếc ly mà không nhìn tôi “Khó nhất là phân biệt những nguyên tố để riêng thì vô hại mà kết hợp với nhau thì thành độc tố”. Tôi giơ chiếc ly đã uống cạn “Như Margaritta phải không. Để riêng muối, chanh và tequila thì chẳng ai muốn uống nhưng hòa vào nhau thì thành độc dược chết người. Uống rồi không sao quên được”. Tôi nhìn nàng đầy ý nghĩa. Chút tequila chẳng đủ làm tôi say nhưng tôi thấy mặt nóng bừng. Margaritta cũng nhìn tôi luống cuống. Nàng suýt đổ nhầm nước sốt Tabasco vào ly Tom Collins.
    Lần khác tôi hỏi nàng “Sao em không làm nghề dược” – “Em bỏ học giữa chừng” – “Tại sao?” – “Em sang Nga” – “Còn sau đó?”. Nàng vờ bận pha cocktail không trả lời. Tất cả những gì tôi biết về nàng chỉ có thế. Nàng mãi là một bí ẩn như những dải đêm phía sau Thiên Hà. Nhiều lần sau, tôi vẫn gắng gợi chuyện “Anh họ anh cũng ở bên Nga hơn 10 năm”. Nàng nhướng mi “Vậy à, anh họ anh làm gì ở bên ấy” – “Anh không biết. Anh ấy không nói. Cũng như em vậy”, tôi giận dỗi. Quả thật, tôi cũng không biết sau 10 năm lưu lạc xứ người, gã anh họ tôi đã làm gì để kiếm được ngần ấy tiền. Thời gian này, tôi chỉ gặp gã những lúc trao đổi công việc cần thiết. Dù mối làm ăn với đối tác nước ngoài ít dần, gã vẫn tuồn công việc ra ngoài nhờ vào chiếc ghế mới. Một lần gã gọi tôi lên phòng, chốt cửa cẩn thận, đôi mắt sít vào sống mũi “Không xong rồi. Lão cốp này đưa gì cũng không nhận”. Tôi xoè lửa cho gã “Cả thứ kia cũng không à?”. Gã rít thuốc khổ sở “Nó không thích hàng chợ” – “Hàng tinh vậy” – “Cũng không được”. Tôi văng tục “Thế vụ giấy phép này hỏng mất à. Sếp ơi, dạo này làm ăn khó lắm. Em vất vả lắm mới kéo được hợp đồng này về đấy”. Gã vò điếu thuốc, tay dò số điện thoại “Biết rồi. Mày đừng làm tao cuống. Thằng trợ lý của lão nói lão này chỉ thích hàng độc”. Tối hôm đó, gã hẹn tôi ở một khách sạn ngoại ô. Gã đi cùng một cô bé trạc 20 tuổi mà tôi đã gặp vài lần. Gã từng tâm sự với tôi rằng cô bé sinh viên quê mùa ấy chính là điểm dừng tuyệt vời của cuộc đời gã, rằng gã sẽ giữ cho cô nguyên vẹn đến tận ngày cưới. Lúc đó tôi cho rằng chính khuôn mặt như Đức Mẹ đồng trinh của cô bé đã khiến gã ngụy tạo một điều mê tín hoang tưởng. Gã thì thào với tôi “Tao phải đi đây. Lão kia sắp đến. Tao giao phó cho mày.” – Tôi kinh hoàng “Em không làm được”. Gã rít lên “Vậy thì ai làm? Tao làm? Mấy con thư ký õng ẹo kia hay thằng tài xế?”. Mặt gã đỏ tía “Mà việc này không chỉ mỗi giấy phép thôi đâu. Lão này đã nắm hết mấy phi vụ trước của mày rồi. Mày làm. Mày ký. Mày là giám đốc. Mày thích tự tử thì cứ về trước đi”. Tôi thề rằng gã anh họ ruột thịt kia chưa hề tham vấn ông Maslow nhưng đã đánh gục tôi khi đụng đến cái nhu cầu thứ hai. Tôi cúi mặt “Vâng ạ. Em sai rồi”. Những ly Margaritta nhẹ như nước khoáng chẳng thể làm tôi quên đôi mắt ngơ ngác trên khuôn mặt Đức mẹ. Tôi còn bị gã gửi gắm “hàng độc” thêm vài lần nữa và sau mỗi bận, tôi đều bay hai nghìn cây số chỉ để xin nàng vài ly Brandy. “Anh có chuyện căng thẳng à? Thứ này không tốt như Margaritta đâu”. Nàng đẩy ly Brandy của tôi ra xa. Tôi ngước nhìn nàng như con chiên thú tội trước Đức Cha. Nàng đâu biết rằng tôi đã trở thành một tên đồ tể chính hiệu.

    Có một lần tôi dẫn gã anh họ đến quán bar của Margaritta. Vừa thoáng thấy bóng nàng tôi vẫy tay, định sẽ giới thiệu nàng với người thân duy nhất mà tôi có thể đưa vào thành phố này. Nhưng nhìn thấy tôi, khuôn mặt nàng tái lại và phút chốc biến mất trong bóng tối phía quầy bar. Đận ấy tôi không gặp được nàng cho dù tối nào cũng hứa với gã anh họ nhất định sẽ giới thiệu nàng, người đầu tiên khiến tôi cảm nhận vị ngọt ngào của những ly cocktail. Chuyến công tác kề sau đó, nàng chủ động gặp tôi với một vẻ bồn chồn hiếm có ngay khi tôi vừa bước chân vào quán. “Người đi cùng anh hôm nọ là ai vậy” – “Anh họ anh. Anh đã kể với em rồi. Sao mấy hôm đó em mất tích lâu thế?”. Nàng không trả lời, vội vã đi pha cho tôi một ly Margaritta, không quên hỏi gã nước ngoài cao lớn đi bên cạnh tôi uống gì. “Tequikalu”, gã dụi bàn tay đầy lông lên cằm, nheo mắt thích thú. Margaritta đặt hai ly cocktail lên quầy bar, đôi mắt nàng lộ rõ vẻ căng thẳng. Gã đối tác lông lá của tôi chồm qua quầy bar túm chặt cổ tay nàng, khèn khẹt cái giọng Mỹ miền Tây “Tao muốn uống Tequikalu theo kiểu Mexico”. Tôi uống cạn ly cocktail để đẩy cơn điên dại tụt xuống dạ dày, cố gắng giải thích cho gã khốn kiếp kia hiểu trong lúc ra hiệu cho nàng lẩn ra phía sau. Gã càng hăng tiết “Gọi người quản lý ra đây. Tequikalu phải uống thế nào hả, lũ lừa cái.” Gã trỏ tay vào mặt nàng, rút xấp tiền xanh lè in hình ngài Franklin huơ huơ như lên đồng. Tên quản lý xanh mắt, rít lên với nàng “Làm đi”. trước khi tôi kịp định hình được chuyện gì xảy ra, trước khi tôi kịp phang nắm đấm vào giữa mặt thằng cha lông lá và trước khi tôi kịp ngỏ lời yêu nàng, câu nói mà hàng trăm ả đàn bà cố moi từ miệng tôi, Margaritta lạnh lùng dằn mạnh ly tequikalu xuống mặt bàn. Màu nâu sẫm của rượu Kahlua từ từ hoà lẫn ánh vàng rượi của tequila như những xấp hợp đồng mà gã anh họ ruột thịt đã nhuộm đen cuộc đời tôi. Margaritta thản nhiên kéo vạt áo lên. Nếu là lúc khác, trong một hoàn cảnh khác tôi đã có thể ngắm nhìn và tôn thờ món quà tặng tuyệt vời mà tạo hoá đã ban cho nàng. nhưng khi ấy, tôi kinh hoàng nhìn Margaritta thản nhiên áp bộ ngực màu ngà voi lên cái mặt lông lá đang ngửa sẵn chờ đợi và từ từ đổ thứ cocktail đen ngòm kia vào mồm gã. Cả quán bar đã dừng mọi hoạt động, nhạc tắt, các cô vũ nữ ngừng quấn lấy cây cột inox, những ly rượu mạnh nằm yên lặng trên mặt bàn. Tôi có thể nghe rõ tiếng nuốt ực khi những giọt cocktail cuối cùng trườn vào cái cổ họng khả ố. Tiếng vỗ tay dậy lên hưởng ứng. Gã kia cười thỏa mãn, nhét xấp tiền vào ngực nàng “Cô khá lắm.” Tôi gặp nàng ở cửa sau quán bar “Em làm cái trò gì vậy?”. Nàng không nhìn tôi “Em cần việc”. Tôi khổ sở “Anh sẽ cho em công việc khác, tốt gấp trăm lần ở đây”. Nàng bỏ vào trong, kiên quyết “Em cần làm việc ở đây”. Tôi mãi mãi không hiểu nàng. Cả cho đến bây giờ nữa. Hôm sau Margaritta gọi điện cho tôi “Em sẽ bỏ việc ở đây. nhưng anh mời anh họ anh đến một lần để em pha cocktail đãi anh ấy”. Khỏi phải nói tôi mừng rỡ đến mức nào và lấy tình cảm keo sơn ruột thịt mấy năm trời nay để thuyết phục gã anh họ rời chiếc ghế sa lông một ngày vào gặp nàng. Tôi nháy mắt với nàng và ngay lập tức, hai ly Margaritta được đặt trước mặt chúng tôi. Gã anh họ như thường lệ, cho dù là rượu mạnh, cocktail hay trà đá đều uống cạn một hơi ngay khi vừa mang ra. Nàng mỉm cười “Chào anh. Em là bạn gái của em họ anh. Dạo này anh khoẻ chứ?”. Vừa nhìn thấy đôi mắt màu bóng đêm của nàng, cái miệng rộng ngoác của gã bỗng cứng lại, rồi khó khăn lắm mới thốt lên được “Tại sao cô… lại ở đây…?”. Chưa nói được hết câu, gã ôm chặt lấy cổ họng rồi nện cả thân hình kềnh càng xuống mặt sàn đầy vết rượu. Đôi mắt bé tí dãn ra ngoài sống mũi và kinh hoàng nhìn thẳng lên trần nhà.

    Cả quán bar nhốn nháo. Sau đó giám định pháp y tìm thấy trong mớ hỗn độn ở dạ dày gã một hợp chất cực độc nhưng không rõ chất tạo thành. Nhiều ngày liên tiếp tôi phải ở phòng thẩm vấn. người ta khoanh vùng những thức ăn gã tống vào tối hôm đó và mọi mối quan hệ của gã từ trước đến nay, nhưng cả hai thứ đều lộn xộn và bí hiểm như nhau. Margaritta của tôi cũng bị hỏi đến, song từ lúc nhìn thấy ly cocktail cuối cùng do nàng pha, tôi không còn được gặp nàng nữa. Giữa ánh sáng chói chang nơi thành phố đầy nắng và gió, nàng biến mất như bóng đêm không để lại dấu vết. Tay chủ quán bar đắt khách tìm mọi cách lo lót để đầu mối của cuộc điều tra lái về một hướng khác. Một tháng sau, tôi tìm thấy một mẩu giấy trong túi chiếc áo vét mặc hôm cuối cùng gặp nàng và gã anh họ. Một dòng chữ nắn nót, nhưng hơi run rẩy, chứng tỏ người viết ra nó không vội vàng gì “Hãy tin em, ly Margaritta của anh ngày hôm nay chỉ có muối, tequila và nước chanh. Vĩnh biệt anh”. Mãi mãi, tôi không thể đoán được gã anh họ tôi đã làm hại gì nàng, đến nỗi, để sắp xếp kế hoạch cho một ly Margaritta chết người, nàng sẵn sàng từ bỏ lòng tự trọng khi đổ rượu vào mồm tên khách bỉ ổi, sẵn sàng từ bỏ cuộc sống tuyệt đẹp dưới ánh sáng mặt trời và, sẵn sàng từ bỏ tôi, người mà nàng biết sẽ uống bất kỳ ly cocktail nào nàng pha, cho dù trong đó có thứ gì đi nữa. Vụ ngộ độc của gã anh họ tôi vẫn là điều bí ẩn. nhưng những cái tít giật gân trên mặt báo rồi phai đi, những cuộc thẩm vấn th¬a dần và gia đình tôi cũng thôi không nhắc đến gã. Có người nói rằng những vụ án giết người thế nào rồi cũng được tìm ra, cho dù không còn chút manh mối nào. Đấy là linh hồn của những người bị chết oan đưa đường chỉ lối cho người điều tra. Nhưng tôi tin rằng, ở dưới kia có những linh hồn tốt, nhưng cũng có những linh hồn xấu, hay có cả linh hồn nửa tốt nửa xấu, như dưới ánh mặt trời kia, có những người nửa tốt nửa xấu, giống như tôi và nàng vậy.


    Chú thích:

    1. Một bộ phim nổi tiếng của Mỹ mà tên nguyên bản là “Cocktail”
    2. Abraham Maslow đưa ra thuyết 5 nhu cầu: Nhu cầu tồn tại (ăn, mặc, ở), nhu cầu an toàn (tính mạng, tài sản), nhu cầu giao tiếp, nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu tự khẳng định
    3. Một loại rượu mạnh được lên men từ trái cây
    4. Người pha cocktail


    H Ế T

  •   Chủ đề: Mỵ Châu & Trọng Thủy - version 200x
    Amar, Trả lời/Số lần xem: 3/1177, , Bài viếtChuyên mục: Truyện cười   Ngày gửi: khoảng 1 10 năm trước
    Subject: Mỵ Châu & Trọng Thủy - version 200x
  • Mỵ Châu & Trọng Thủy - version 200x


    Mùa thu năm xyz trước Công Nguyên, trong lúc dân chúng nước Âu Lạc đang vui hưởng thái bình, ăn mừng một vụ hè thu được mùa thì chiến tranh xảy ra. Triệu Đà vua nước Nam Việt, một nước nhỏ nằm trong hệ thống chư hầu của Tần quốc lúc bấy giờ, đã xua quân về phía Nam tiến đánh Âu Lạc.


    Quân Triệu Đà tuy ít nhưng thiện chiến và được tài trợ chính thức của nhà Tần nên đánh đâu thắng đó, thế mạnh như chẻ tre những tưởng chỉ trong một sớm một chiều sẽ thôn tính toàn bộ Đông Dương.


    An Dương Vương, vua nước Âu Lạc rất lo lắng trước sức mạnh của địch quân nên đã âm thầm tìm kiếm nhân tài, gia tăng ngân sách cho quốc phòng nhằm trang bị thêm vũ khí hiện đại phục vụ cho chiến tranh. Thông qua một đường dây mua bán vũ khí có sức tàn phá lớn đa quốc gia, An Dương Vương tìm được một người môi giới tên là Kim Quy cung cấp một loại vũ khí lạ tên là Kình Thiên Nỏ.


    Là một loại nỏ có sức mạnh thần diệu, cùng lúc nó có thể bắn ra hàng vạn mũi tên cực mạnh có tầm sát thương hàng kilomet và xuyên thủng mọi loại áo giáp. Nỏ thì được tặng không nhưng tên thì phải mua bằng ngoại tệ mạnh. Cứ mỗi phát bắn được 1 vạn mũi tên, mỗi mũi tên có giá 4,98 USD, vị chi mỗi lần bắn tiêu tốn ngân sách hết 49.800 USD. Tính ra thời giá bây giờ tương dương khoảng 500 triệu USD.


    Có vũ khí mạnh trong tay, An Dương Vưong coi Triệu Đà như cỏ rác. Quân Triệu Đà đi đến đâu, An Dương Vương vác nỏ ra bắn đến đó. Tên bay ngợp trời, không trúng người thì cũng trúng ngựa, trúng chó, trúng mèo... Thậm chí ruồi muỗi còn chết. Quân Triệu Đà mất hết nhuệ khí nên đành cố thủ ở Tiên Du (nay thuộc Bắc Ninh). Triệu Đà dùng kế hoãn binh, sai sứ đến gặp An Dương Vương xin giảng hòa, lập lại hòa bình mỗi bên hùng cứ một phương.


    Song song đó, Triệu Đà cho con trai là Triệu Trọng Thủy mang sính lễ đến cầu hôn cùng con gái An Dương Vương là công chúa nhạc Pob Britney An Mỵ Châu(gọi tắt là Mỵ Châu). Trong lễ diện kiến, Mỵ Châu vừa nhìn thấy Trọng Thủy thì love from the first sight, tình trong như đã mặt ngoài còn e vì Trọng Thủy vốn là con nhà võ tướng lại minh tuệ hơn người, thần sắc phi phàm(có khuôn mặt giống Tom Hank và 2 chiếc răng thỏ giống Tom Cuise). Mỵ Châu đâu biết Trọng Thủy từng đỗ thủ khoa trường mật vụ cao cấp của CIA và hiện đang làm việc cho MI5( và cũng từng được mời đóng vai chính trong phim Golden eye). Là một điệp viên chuyên nghiệp, Trọng Thủy có sẵn những yếu tố cần thiết nhất để thu hút (nói toẹt ra là lừa) các cô gái phải ngã vào vòng tay của mình... An Dương Vương cũng hoàn toàn mù tịt những thông tin đó và lại muốn giữ Trọng Thủy làm con tin cho mối quan hệ hai nước để thuận tiện cho việc gia nhập WTO nên đồng ý gả con cho Trọng Thủy với điều kiện Trọng Thủy phải ở lại làm rể nước Âu Lạc. Điều này hoàn toàn phù hợp với ý đồ của mình nên Triệu Đà đồng ý ngay.


    Lễ cưới của Mỵ Châu & Trọng Thủy được tổ chức linh đình tại Horison Hotel ba ngày bảy đêm. Bia rượu tràn trề, nhân dân hai nước sáng say chiều xỉn phải nói là hoan hỉ vô cùng. Riêng hãng rượu Johnny Walker đã cung cấp cho tiệc cưới này đến 1.350.000 chai loại Gold Label.Thực ra Henesy cũng giành quyền tài trợ mà đến muộn một bước. Dĩ nhiên khách mời cao cấp nhất là Kim Quy, tay môi giới giờ đã thành tỷ phú đô la.(đuợc ngồi tại hàng ghế VIP = Very Impolite Person),
    Nghe đâu sau vụ mua bán vừa rồi thì Kim Quy đã nhảy lên vị trí thứ nhì trên top phú hộ thế giới, chỉ sau Bill Gates.


    Mỵ Châu thì bội phần sung sướng. Hai vợ chồng kính nhau như bạn, yêu nhau hoa cỏ với mùa xuân lúc nào cũng quấn quít vui đùa. Có lúc Mỵ Châu cảm khái mà thốt lên rằng:


    - Chàng ơi, thân phận của thần thiếp tuy ở chốn lầu son là cành vàng lá ngọc nhưng cũng chỉ như cóc ổi mía ghim nếu như không gặp được chàng. Chàng như ánh nắng ban mai soi rọi vào khu vườn xuân thì của thần thiếp. Nếu không có ánh sáng đó, thần thiếp chỉ còn là bóng tối vĩnh hằng chết khô chết héo cùng nhạc khúc bi ai cũng lũ côn trùng dấm dớ mà thôi...


    Trọng Thủy cũng khiêm nhường đáp lại với lời hoa mỹ:


    - Nàng đừng nói thế làm lòng ta thêm tự kiêu tự phụ. Nếu không có nàng, dù ta có là cây tùng, cây bách, cây đa, cây bồ đà thì cũng hoang phí mà mọc trên bờ hoang đất bụi. Nếu ta thực sự là ánh nắng ban mai thì nàng còn hơn là mùa thu kiêu sa & quyến rũ nhất để mọi thứ ánh sáng dù rực rỡ mấy cũng phải lịm tắt với làn da mịn màng hơn cả sữa tắm Dove, suối tóc mượt mà đến Sunsilk còn phải ghen tỵ và ánh mắt mà V-Rohto luôn thèm muốn...


    ....

    Thời gian dần trôi, hết xuân rồi hạ - thu tàn rồi đông đến, thắm thoắt mà đã một năm. Trọng Thủy âm thầm điều tra được mối quan hệ mua bán của An Dương Vương & Kim Quy. Bằng một số tiền lớn mua chuộc Kim Quy, Trọng Thủy mua được bản vẽ kỹ thuật của Kình Thiên Nỏ. Có bản vẽ kỹ thuật, Trọng Thủy phát hiện ra rằng mình chỉ cần đánh tráo sợi dây căng tên khác là có thể vô hiệu hóa vũ khí trấn quốc lợi hại này của An Dương Vương. Vấn đề còn lại là tìm cách tiếp cận nó thôi vì An Dương Vương vốn rất cẩn thận đã cất giữ chiếc nỏ quý với lớp lớp hàng rào bảo mật.


    Một đêm nọ, Trọng Thủy mới thử dò hỏi Mỵ Châu:


    - Nàng ơi, ta rất hâm mộ vũ khí trấn quốc của phụ vương nhưng chưa lần nào được thấy, nàng có thể cho ta xem được không vì ta không dám nói chuyện này với phụ vương?

    - Ah, chuyện nhỏ mà chàng ơi - Mỵ Châu trả lời trong ngái ngủ - Em còn nhớ password để qua được cổng vào nhưng không biết phụ vương có đổi chưa nữa, chàng cứ thử xem sao. Password là ***************************. Em ngủ đây, khi nào chàng đi xem thì nhớ rủ em với nhé!


    Mỵ Châu nói xong thì chìm trong cơn buồn ngủ ngọt ngào đang dần đến. Lúc này đã canh tư, trời gần sáng. Trọng Thủy vội vã mặc quần áo, lận vũ khí vào người rồi âm thầm rời phòng ngủ.


    Bóng đêm lặng lẽ che chở cho Trọng Thủy đến gần toà tháp cất chiếc nỏ quý. Gió lạnh từng cơn. Qua mặt được một đám lính canh, Trọng Thủy đến một cánh cửa bằng thép kiên cố có khóa điện tử. Bấm password mà công chúa đưa ra, thật may mắn cánh cửa bật mở. Theo hành lang nhỏ hẹp và trơn bóng sau cánh cửa, Trọng Thủy đến một gian phòng rộng & sơn nước trắng toát. Trong phòng chẳng có gì ngoài một cái laptop IBM đã mở sẵn đặt trên bàn ngay giữa phòng.


    - Vậy là còn lớp bảo mật thứ 2 - Trọng Thủy thầm nghĩ.


    Ngồi vào chiếc ghế trước máy tính, Trọng Thủy bấm nút Enter. Tức thì màn hình vụt sáng:


    "Xin bạn vui lòng trả lời 3 câu hỏi để qua cửa!"



    "Câu hỏi thứ nhất:”


    "- Con gì tối đi bốn chân, ngày không đi chân nào, nhưng cũng có lúc đi ba chân dù ngày hay đêm?"


    Không cần suy nghĩ, mấy câu hỏi bảo mật cỡ này quá dễ đối với một điệp viên đang làm việc cho MI5 như Trọng Thủy. Chàng gõ vào:


    "Con chó"


    Cái này đến con nít còn đoán ra, con chó thì tối nó không ngủ nên đi bốn chân, ngày ngủ nên không xài chân nào nhưng lúc cần đi tè thì chỉ xài 3 chân.


    "Rất tốt, bây giờ là câu hỏi thứ hai:"


    "- Cái gì khi không xài thì lúc khô lúc ướt, nhưng khi xài đến thì chắc chắn phải ướt?"


    Mất 5 giây, Trọng Thủy gõ vào:


    "Cái ... à không ! Cái ca"


    "Chính xác, câu hỏi cuối cùng là:"


    "- Cái gì mà người con gái có nhưng người đàn bà không có và cái gì mà người đàn ông có nhưng con trai thì không có ?"


    Có quá nhiều câu trả lời cho câu hỏi này. Bóp trán một hồi, Trọng Thủy quyết định alô cho Dido để xin trợ giúp, Dido cũng bó tay nhưng quyết định giúp Trọng Thủy bằng cách hack vào máy chủ của hệ thống bảo mật của An Dương Vương để dò câu trả lời. Dù gác kiếm đã lâu nhưng Dido cũng còn một số tool để dành, nay đem ra xài, nó vẫn chạy tốt. Sau khi tìm ra được một số lỗi tràn bộ đệm để có thể đi vòng qua firewall, Dido cũng truy cập được vào database của hệ thống.


    Sau khi decode dữ liệu, kết quả thật bất ngờ: Cái mà người con gái có nhưng người đàn bà không có là sự e thẹn & cái mà người đàn ông có nhưng con trai thì không có là sự tự tin.


    Khi vừa nhập kết quả vào, một cánh cửa bí mật trên bức tường bên phải lập tức mở ra. Sau cánh cửa là một cầu thang xoắn dẫn xuống đất. Trọng Thủy nhanh nhẹn chạy xuống. Cuối cầu thang là một căn phòng tối tăm, hôi hám vì có lẽ do không có ai lui tới đây. Trong ánh sáng lờ mờ của chiếc đèn pin cầm theo, Trọng Thủy phát hiện có tới hơn một trăm cái nỏ.


    - Ái chà, cái nào là thật, cái nào là giả đây ? - Trọng Thuỷ nhủ thầm - An Dương Vương quả là bậc tài trí hơn người.


    Xăm xoi từng cái một, Trọng Thủy phát hiện một cái bị mòn nhiều nhất do nhiều lần sử dụng. Biết đã tìm đúng, Trọng Thủy thay sợi dây kém chất lượng đã thủ sẵn từ trước vào rồi bẻ thêm cái lẫy nỏ cho hư luôn. Sau khi xong việc, Trọng Thủy xóa sạch mọi dấu vết rồi rời khỏi khu vực đó trở về phòng lúc trời vừa hừng sáng. Trọng Thủy hôn nhẹ lên má công chúa Mỵ Châu như thầm cảm ơn nàng rồi không quên phone cho Dido hẹn bữa nào rảnh thì ra nhậu mừng thành công ở quán bia Hải Xồm.


    Ngay sáng đó, Trọng Thủy xin An Dương Vương cho về nhà thăm cha đang bệnh nặng. Hai vợ chồng chia tay rất là quyến luyến nhưng rồi công chúa Mỵ Châu chỉ còn biết lên tháp canh cao nhất của kinh thành mà mắt ngấn lệ nhìn theo cánh máy bay dần xa khuất chở theo chàng Trọng Thủy lấp loáng trên trời xanh.


    Vừa về đến nhà, Trọng Thủy không chỉ báo tin đã phá hủy Kình Thiên Nỏ mà còn mang theo một số tài liệu mật cực kỳ quan trọng mà chàng đã lấy được trong thời gian ở rể. Triệu Đà lập tức điểm quân, phát chiến thư chính thức tuyên chiến với An Dương Vương.


    An Dương Vương ỷ lại vào Kình Thiên Nỏ không thèm để ý quân tình chiến sự chỉ biết ngồi đánh cờ mà cười rằng: "Thằng họ Triệu không sợ chết à! Is he crazy?".

    Quân Triệu Đà tiến như vũ bão, đánh đâu thắng đó. An Dương Vương ra lệnh đem Kình Thiên Nỏ ra để uy thần thiên hạ nhưng ôi thôi... Lẫy nỏ bị gẫy, An Dương Vương lập tức điện cho Kim Quy mua gấp một cái lẫy nỏ khác để thay vào. Nỏ lại được đem ra trận nhưng tên bắn đi thì yếu như cỏ tranh, chẳng khác nào gãi ngứa cho quân Triệu Đà. Quân Triệu Đà đã làm chủ tình hình, chiếm toàn bộ kinh đô.

    An Dương Vương bỏ chạy mang theo con gái. Do tình thế cấp bách nên không nhớ đã để cái điều khiển con BMW ở đâu nên phải chạy bộ. Biết Trọng Thủy sẽ tìm mình, Mỵ Châu mang theo cái áo lông đà điểu quý hiếm mà Trọng Thủy mua tặng lúc hai vợ chồng đi tuần trăng mật ở Ai Cập, Mỵ Châu rải lông đà điểu dọc đường đi. Có dấu vết, quân Triệu Đà càng đuổi cùng giết tận. Chạy đến núi Dạ Sơn, xã Cao Xá ở Diễn Châu (nay thuộc Nghệ An) không còn đường để chạy, An Dương Vương buộc lòng phải giết con rồi nhảy xuống biển tự sát.


    Trọng Thủy lòng đau khôn xiết khi biết tin Mỵ Châu đã chết. Thấy cuộc sống không còn ý nghĩa dù danh vọng ngất trời, tiền bạc như núi, gái gú bao la... Lúc này Trọng Thủy mới thấm thía cái nghĩa vợ chồng, cái tình chăn gối. Trong lúc tuyệt vọng, chán nản Trọng Thủy chỉ biết dùng men rượu để quên đời rồi thành nghiện rượu từ đó. Một hôm lúc xỉn về, Trọng Thủy chân thấp chân cao đã té xuống cái giếng mà vợ chàng ngày trước hay ngồi chải tóc. Âu cũng là số kiếp đã tận.

  •   Chủ đề: Thay cho lời kết ...Forever and one!
    Amar, Trả lời/Số lần xem: 13/10263, , Bài viếtChuyên mục: Cảm xúc âm nhạc   Ngày gửi: khoảng 1 10 năm trước
    Subject: Thay cho lời kết ...Forever and one!
  • Hãy để những cảm xúc theo bài hát, khi nghe những bài hát đúng tâm trạng , tâm hồn mình lẫn vào nội dung của bài hát đó, ừm, mà nghe bài hát này thấy có chút rock trong đó nên đâu thấy nhẹ nhàng như là bài bình luận của minhtuan đâu nhỉ Blinking

Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group