Search found 14 matches

  •   Chủ đề: Chùm thơ ko đề
    thuynguyen3k, Trả lời/Số lần xem: 100/5370, , Bài viếtChuyên mục: Thơ tình yêu   Ngày gửi: khoảng 2 10 năm trước
    Subject: Không đề
  • Em vẫn đi trên những con đường ngày xưa
    Nơi chúng mình hò hẹn
    Nỗi nhớ về len đầy trong khóe mắt
    Tất cả còn nguyên vẹn quanh đây
    Vẫn hàng cây, bờ ao
    Những cặp tình nhân
    và tình yêu bất tận
    Chỉ có em lẻ loi bên này bờ kỷ niệm
    Bên bờ không anh
    tìm về nơi đã có anh

    Tháng ba
    mùa đông vẫn chưa rời thành phố
    Những cơn mưa lạc mùa
    trút vào em nỗi nhớ
    Nỗi nhớ đầy vơi
    Như những sợi mưa vắn dài
    bên ngòai khung cửa
    Có anh đi bên em
    trong mùa mưa trước

    Thời gian nhuốm màu ảm đạm
    Từ sau lần hẹn cuối
    Khi anh nói xa em
    rằng không còn gì có thể thay đổi được
    Vòng tay anh buông lơi
    Đánh rơi em vào sâu thẳm
    của cuộc đời cô độc
    Cùng nỗi nhớ lê dài theo tháng năm
    mòn mỏi

    Em vẫn đi trên những con đường ngày xưa
    Tìm về cuộc tình đã mất
    Đưa tay níu lấy kỷ niệm ngày nào
    Và níu vào em
    nỗi buồn
    bất tận
    không anh...

  •   Chủ đề: Vẽ gì
    thuynguyen3k, Trả lời/Số lần xem: 1/574, , Bài viếtChuyên mục: Truyện cười   Ngày gửi: khoảng 2 10 năm trước
    Subject: Vẽ gì
  • Lời bình: Pó tay thầy trò chúng nó heheheh

  •   Chủ đề: Vẽ gì
    thuynguyen3k, Trả lời/Số lần xem: 1/574, , Bài viếtChuyên mục: Truyện cười   Ngày gửi: khoảng 2 10 năm trước
    Subject: Vẽ gì
  • Có 1 cô giáo mới ra trường được phân công xuống tỉnh dạy bộ môn Sinh vât.
    Về đến trường đó, cô giáo được Thầy hiệu trưởng thương tình nên sắp xếp cho cô 1 lớp vừa ngoan, giỏi, thật thà .
    Ngày đầu tiên, cô giáo dạy bài về họ Củ khoai.. Và cô giáo đã vẽ phát họa lên bảng 1 củ . Cô này vẽ không được đẹp lắm, vẽ xong cô quay xuống hỏi cả lớp:
    - Đố các em trên bảng cô vẽ gì ?
    Cả lớp đồng thanh đáp:
    - Dạ thưa cô cục cứt ạ :P

    Cô giáo giận quá bỏ lớp, đi xuống càm ràm với hiệu trượng Rồi thầy hiệu trưởng cùng cô xuống lớp. Thầy nói:
    - Các em, uổng công thầy tin tưởng các em thật thà, ngoan, giỏi, vậy mà các em đã làm gì khiến cô vừa vô lớp dạy đã đòi bỏ lớp ? Angry

    Rồi thầy quay mặt lên bảng và nói tiếp:
    - Các em quá lắm rồi, kỳ này thầy không thể bênh vực các em nữa . Cô mới đi có chừng 5 phút mà các em đã vẽ cục cứt lên bảng Ohh my!!

  •   Chủ đề: Gõ cửa làm gì
    thuynguyen3k, Trả lời/Số lần xem: 0/411, , Bài viếtChuyên mục: Truyện cười   Ngày gửi: khoảng 2 10 năm trước
    Subject: Gõ cửa làm gì
  • Cô y tá gõ cửa phòng. Trong phòng có tiếng bệnh nhân "Xin cứ vào". Cô y tá bước vào, lẳng lặng lột quần bệnh nhân, tiêm một mũi, nhét viên thuốc chữa trĩ cho ông ta rồi đi. Shock

    Bệnh nhân lẩm bẩm: "Thế này thì cô ta gõ cửa làm gì nhỉ?" Grin

  •   Chủ đề: Lá Thư Từ Bên Kia Thế Giới
    thuynguyen3k, Trả lời/Số lần xem: 8/2093, , Bài viếtChuyên mục: Tâm linh & Huyền bí   Ngày gửi: khoảng 2 10 năm trước
    Subject: Lá Thư Từ Bên Kia Thế Giới
  • Lá Thư Từ Bên Kia Thế Giới Dịch Giả: Nguyên Phong


    Bác sĩ Alizabeth Kubler Ross, người tiền phong trong lãnh vực nghiên cứu về hiện tượng hồi sinh cho biết: "Con người sợ chết như con nít sợ ma, họ đã nhìn cái chết một cách sợ hãi, ghê tởm và cố gắng phủ nhận nó vì nó làm gián đoạn sự liên tục của đời sống. Nhưng nếu họ biết chấp nhận sự chết một cách bình thản, giản dị thì họ sẽ thấy chết là một sự kiện tự nhiên cũng như lúc sinh ra vậy. Bất kỳ lúc nào chung quanh chúng ta, sống và chết cũng luôn luôn tiếp diễn. Lá cây rụng để nhường chỗ cho những mầm non xuất hiện, hết mùa đông lại có mùa xuân. Một hiện tượng tự nhiên và cần thiết như thế không lẽ lại chẳng bao hàm một ý nghĩa thâm sâu nào đó? Phải chăng chính vì có sự chết mà sự sống hiện hữu, có sự xây dựng thì cũng phải có sự hủy diệt, đâu có gì tồn tại vĩnh viễn. Người ta không thể hiểu được ý nghĩa đích thực của sự sống nếu họ không chịu chấp nhận sự chết, và đã đến lúc người ta phải nghiên cứu cặn kẽ các sự kiện này chứ không thể chấp nhận những lý thuyết mơ hồ nào đó được".

    Sau đây là tài liệu được trích lại từ cuốn La revue spirite:

    Bác sĩ Henri Desrives là một khoa học gia hoạt động, vui vẻ và yêu nghề. Như mọi nhà trí thức khác, ông sống một cuộc đời rất thực tế và không buồn lưu ý đến những điều mà khoa học chưa giải thích được. Ông không tin rằng có một linh hồn tồn tại sau khi chết vì thể xác chỉ là sự kết hợp của các vật chất hữu cơ và trí thông minh chẳng qua chỉ là sản phẩm của các tế bào thần kinh. Khi thể xác đã hư hoại thì trí thông minh cũng không thể tồn tại. Một hôm khi bàn chuyện với các con về đề tài đời sống sau khi chết, ông hứa sẽ liên lạc với các con nếu quả thật có một đời sống bên kia cửa tử. Cậu con trai Piere Desrives, cũng là một y sĩ, đã nói: "Nếu đã chết, làm sao cha có thể liên lạc với con được?" Bác sĩ Henri suy nghĩ một lúc rồi trả lời: "Cha không tin có một đời sống hay cõi giới nào ngoài đời sống này nhưng nếu sau khi chết mà cha thấy được điều gì thì cha sẽ tìm đủ mọi cách để liên lạc với các con". Vài năm sau, bác sĩ Desrives từ trần, các con ông vì bận việc nên cũng không để ý gì đến buổi bàn luận đó nữa.

    Khoảng hai năm sau, một nhóm nhân viên làm việc trong bệnh viện lập bàn cầu cơ chơi, bất ngờ cơ bút đã viết: "Xin cho gọi bác sĩ Piere Desrives đến vì tôi là cha cậu đó và tôi có mấy lời muốn nhắn nhủ với các con tôi". Được thông báo, bác sĩ Piere không tin tưởng mấy nhưng nhớ lại lời dặn của cha, ông bèn gọi các em đến tham dự buổi cơ bút này. Một người cầm giữ đầu một sợi dây, đầu kia cột vào một cây bút chì và chỉ một lát sau cây bút đã tự động chạy trên các trang giấy thành một bức thư như sau:

    Các con thân mến,

    Cha rất hài lòng đã gặp đủ mặt các con nơi đây. Gần một năm nay, cha có ý trông đợi để kể cho các con về những điều ở cõi bên này mà cha đã chứng kiến nhưng không có cơ hội.

    Như các con đã biết, hôm đó sau khi ở bệnh viện về, cha thấy trong người mệt mõi lạ thường, cha bèn lên giường nằm và dần dần lịm đi luôn, không hay biết gì nữa. Một lúc sau cha thấy mình đang lơ lửng trong một bầu ánh sáng trong suốt như thủy tinh. Thật khó có thể tả rõ cảm tưởng của cha khi đó, nhưng không hiểu sao cha thấy trong mình dễ chịu, linh hoạt, thoải mái chứ không bị gò bó, ràng buộc như trước. Các con biết cha bị phong thấp nên đi đứng khó khăn, vậy mà lúc đó cha thấy mình có thể đi đứng, bay nhảy như hồi trai tráng. Cha có thể giơ tay giơ chân một cách thoải mái, không đau đớn gì. Đang vẫy vùng trong biển ánh sáng đó thì bất chợt cha nhìn thấy cái thân thể của cha đang nằm bất động trên giường. Cha thấy rõ mẹ và các con đang quây quần chung quanh đó và phía trên thân thể của cha có một hình thể lờ mờ trông như một lùm mây màu xám đang lơ lửng. Cả gia đình đều đang xúc động và không hiểu sao cha cứ thấy trong mình buồn bực, khó chịu. Cha lên tiếng gọi nhưng không ai trả lời, cha bước đến nắm lấy tay mẹ con nhưng mẹ con không hề hay biết và tự nhiên cha ý thức rằng mình đã chết. Cha bị xúc động mạnh, nhưng may thay lúc đó mẹ con và các con đều lên tiếng cầu nguyện, tự nhiên cha thấy mình bình tĩnh hẳn lại như được an ủi. Cái cảm giác được đắm chìm trong những lời cầu nguyện này thật vô cùng thoải mái dễ chịu không thể tả xiết. Lớp ánh sáng bao quanh cha tự nhiên trở nên sáng chói và cả một cuộc đời của cha từ lúc thơ ấu đến khi trưởng thành bỗng hiện ra rõ rệt như trên màn ảnh. Từ việc gần đến việc xa, ngay cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất cũng đều hiện ra rõ rệt trong tâm trí của cha. Hơn bao giờ hết, cha ý thức tường tận các hành vi của mình, các điều tốt lành, hữu ích mà cha đã làm cũng như các điều xấu xa, vô ích mà cha không tránh được. Tự nhiên cha thấy sung sướng về những điều thiện đã làm và hối tiếc về những điều mà đáng lẽ ra cha không nên làm. Cả một cuốn phim đời hiện ra một cách rõ rệt cho đến khi cha thấy mệt mỏi và thiếp đi như người buồn ngủ.

    Cha ở trong tình trạng vật vờ, nửa ngủ nửa thức này một lúc khá lâu cho đến khi tỉnh dậy thì thấy mình vẫn lơ lửng trong một bầu ánh sáng có màu sắc rất lạ không giống như màu ánh sáng lần trước. Cha thấy mình có thể di chuyển một cách nhanh chóng, có lẽ vì không còn xác thân nữa. Cha thấy cũng có những người đang di chuyển gần đó nhưng mỗi lần muốn đến gần họ thì cha lại có cảm giác khó chịu làm sao. Một lúc sau cha đi đến một nơi có đông người tụ họp. Những người này có rung động dễ chịu nên cha có thể bước lại hỏi thăm họ một cách dễ dàng. Một người cho biết tùy theo các rung động thích hợp mà cha có thể tiếp xúc được với những người ở cõi bên này. Sở dĩ cha không thể tiếp xúc với một số người vì họ có sự rung động khác với "tần số rung động" (frequency) của cha. Sự giải thích có tính cách khoa học này làm cha tạm hài lòng. Người nọ cho biết thêm rằng ở cõi bên này tần số rung động rất quan trọng, và tùy theo nó mà người ta sẽ lựa chọn nơi chốn mà họ sống. Cũng như loài cá ở ngoài biển, có loài sống gần mặt nước, có loài sống ở lưng chừng và có loài sống dưới đáy sâu tùy theo sức ép của nước thì ở cõi bên này, tùy theo tần số rung động mà người ta có thể tìm đến được các cảnh giới khác nhau. Sự kiện này làm cha cảm thấy vô cùng thích thú vì như vậy quả có một cõi giới bên kia cửa tử và cõi này lại có nhiều cảnh giới khác nhau nữa.

    Khi xưa cha không tin những quan niệm như thiên đàng hay địa ngục nhưng hiện nay cha thấy quan niệm này có thể được giải thích một cách khoa học qua việc các tần số rung động. Những tần số rung động này như thế nào? Tại sao cha lại có những tần số rung động hợp với một số người? Người nọ giải thích rằng tùy theo tình cảm của con người mà họ có những sự rung động khác nhau; người có tình thương cao cả khác với những người tính tình nhỏ mọn, ích kỷ hay những người hung ác, không hề biết thương yêu. Đây là một điều lạ lùng mà trước nay cha không hề nghĩ đến. Cha bèn đặc câu hỏi về khả năng trí thức, phải chăng những khoa học gia như cha có những tần số rung động đặc biệt nào đó, thì người nọ trả lời rằng, khả năng trí thức hoàn toàn không có một giá trị nào ở cõi bên này cả. Điều này làm cho cha ít nhiều thất vọng. Người nọ cho biết rằng cái kiến thức chuyên môn mà cha tưởng là to tát chẳng qua chỉ là những mảnh vụn của một kho tàng kiến thức rất lớn mà bên này ai cũng có thể học hỏi được.

    Người nọ nhấn mạnh rằng, điều quan trọng là con người biết làm gì với những kiến thức đó. Sử dụng nó để phục vụ hay tiêu diệt nhân loại? Sử dụng nó vào mục đích vị tha hay ích kỷ? Sử dụng nó để đem lại niềm vui hay để gây đau khổ cho người khác? Thấy cha có vẻ thất vọng, người này bèn đưa cha đến một thư viện lớn, tại đây có lưu trữ hàng triệu cuốn sách mà cha có thể tham cứu, học hỏi. Chưa bao giờ cha lại xúc động như vậy. Có những cuốn sách rất cổ viết từ những thời đại xưa và có những cuốn sách ghi nhận những điều mà từ trước tới nay cha chưa hề nghe nói đến. Sau một thời gian nghiên cứu, cha thấy cái kiến thức mà mình vẫn hãnh diện thật ra chẳng đáng kể gì so với kho tàng kiến thức nơi đây. Đến khi đó cha mới thấm thía điều người kia nói về khả năng trí thức của con người và bắt đầu ý thức về tần số rung động của mình.

    Nơi cha đang sống có rất đông người, đa số vẫn giữ nguyên tính nết cũ như khi còn sống ở thế gian. Có người hiền từ vui vẻ, có người tinh nghịch ưa chọc phá người khác, có người điềm đạm, có kẻ lại nóng nảy. Quang cảnh nơi đây không khác cõi trần bao nhiêu; cũng có những dinh thự đồ sộ, to lớn; có những vườn hoa mỹ lệ với đủ các loại hoa nhiều màu sắc; có những ngọn núi rất cao hay sông hồ rất rộng. Lúc đầu cha ngạc nhiên khi thấy những cảnh vật này dường như luôn luôn thay đổi, nhưng về sau cha mới biết cảnh đó hiện hữu là do sức mạnh tư tưởng của những người sống tại đây. Điều này có thể giải thích giống như sự tưởng tượng ở cõi trần. Các con có thể tưởng tượng ra nhà cửa dinh thự trong đầu óc mình, nhưng ở cõi trần sức mạnh này rất yếu, chỉ hiện lên trong trí óc một lúc mà thôi. Bên này vì có những rung động đặc biệt nào đó phù hợp với sự rung động của tư tưởng làm gia tăng thêm sức mạnh khiến cho những hình ảnh này có thể được thực hiện một cách rõ ràng, chính xác và lâu bền hơn.

    Các con đừng nghĩ rằng những người bên này chỉ suốt ngày rong chơi, tạo ra các hình ảnh theo ý muốn của họ; mà thật ra tất cả đều bận rộn theo đuổi các công việc riêng để chuẩn bị cho sự tái sinh. Vì mọi tư tưởng bên này đều tạo ra các hình ảnh nên đây là môi trường rất thích hợp để người ta có thể kiểm soát, ý thức rõ rệt hơn về tư tưởng của mình. Vì đời sống bên này không cần ăn uống, làm lụng nên người ta có nhiều thời giờ theo đuổi những công việc hay sở thích riêng. Có người mở trường dạy học, có kẻ theo đuổi các nghành chuyên môn như hội họa, âm nhạc, kiến trúc, văn chương thơ phú v.v....

    Tóm lại, đây là môi trường để họ học hỏi, trau dồi các khả năng để chuẩn bị cho một đời sống mai sau. Phần cha đang học hỏi trong một phòng thí nghiệm khoa học để sau này có thể giúp ích cho nhân loại. Càng học hỏi, cha càng thấy cái kiến thức khi xưa của cha không có gì đáng kể và nền y khoa mà hiện nay các con đang theo đuổi thật ra không lấy gì làm tân tiến lắm nếu không nói rằng rất ấu trĩ so với điều cha được biết nơi đây. Hiển nhiên khoa học phát triển tùy theo khả năng trí thức của con người, mỗi thời đại lại có những sự phát triển hay tiến bộ khác nhau nên những giá trị cũng vì thế mà thay đổi. Có những giá trị mà thời trước là "khuôn vàng thước ngọc" thì đời sau lại bị coi là "cổ hủ, lỗi thời"; và như cha được biết thì những điều mà ngày nay đang được người đời coi trọng, ít lâu nữa cũng sẽ bị đào thải. Tuy nhiên cái tình thương, cái ý tưởng phụng sự mọi người, mọi sinh vật thì bất kỳ thời đại nào cũng không hề thay đổi, và đó mới là căn bản quan trọng mà con người cần phải biết. Càng học hỏi cha càng thấy chỉ có những gì có thể tồn tại được với thời gian mà không thay đổi thì mới đáng được gọi là chân lý. Cha mong các con hãy suy ngẫm về vấn đề này, xem đâu là những giá trị có tính cách trường tồn, bất biến để sống theo đó, thay vì theo đuổi nhũng giá trị chỉ có tính cách tạm bợ, hời hợt.

    Cha biết rằng mọi ý nghĩ, tư tưởng, hành động đều có những rung động riêng và được lưu trữ lại trong ta như một cuốn sổ. Dĩ nhiên khi sống ở cõi trần, con người quá bận rộn với sinh kế, những ưu phiền của kiếp nhân sinh, không ý thức gì đến nó nên nó khép kín lại; nhưng khi bước qua cõi bên này thì nó từ từ mở ra như những trang giấy phô bày rõ rệt trước mắt. Nhờ vậy mà cha biết rõ rằng hạnh phúc hay khổ đau cũng đều do chính ta tạo ra và lưu trữ trong mình. Cuốn sổ lưu trữ này là bằng chứng cụ thể của những đời sống đã qua và chính nó kiểm soát tần số rung động của mỗi cá nhân. Tùy theo sự rung động mà mỗi cá nhân thích hợp với những cảnh giới riêng và sẽ sống tại đó khi bước qua cõi giới bên này. Do đó, muốn được thoải mái ở cõi bên này, các con phải biết chuẩn bị. Cha mong các con hãy bắt tay vào việc này ngay. Các con hãy rán làm những việc lành, từ bỏ những hành vi bất thiện. Khi làm bất cứ việc gì, các con hãy suy gẫm xem hậu quả việc đó như thế nào, liệu nó có gây đau khổ hay tổn thương cho ai không? Đừng quá bận rộn suy tính những điều hơn lẽ thiệt mà hãy tập quên mình. Đời người rất ngắn, các con không có nhiều thời giờ đâu.

    Khi còn sống, đã có lúc cha dạy các con phải biết đầu tư thương mại để dành tiền bạc vào những trương mục tiết kiệm, những bất động sản, những chứng khoán... nhưng bây giờ cha biết rằng mình đã lầm. Một khi qua đến bên đây, các con không thể mang nhũng thứ đó theo được. Danh vọng, địa vị, tài sản vất chất chỉ là những thứ có tính cách tạm bợ, bèo bọt, đến hay đi như mây trôi, gió thổi, trước có sau không. Chỉ có tình thương mới là hành trang duy nhất mà các con có thể mang theo mình qua cõi giới bên này một cách thoải mái, không sợ hư hao mất mát. Tình thương giống như đá nam châm, nó thu hút những người thương nhau thực sự, để họ tiến lại gần nhau, kế hợp với nhau. Nó là một mãnh lực bất diệt, mạnh mẽ, trường tồn và chính nhờ lòng thương này mà người ta có thể tìm gặp lại nhau trải qua không gian hay thời gian. Chắc hẳn các con nghĩ rằng người cha nghiêm nghị đầy uy quyền khi trước đã trở nên mềm yếu chăng? Này các con, chỉ khi nào buông xuôi tay bước qua thế giới bên này, các con mới thực sự kinh nghiệm được trạng huống của mình, tốt hay xấu, hạnh phúc hay đau khổ, thích hợp với cảnh giới thanh cao tốt lành hay những nơi chốn thấp thỏi xấu xa. Hơn bao giờ hết, cha xác định rằng điều cha học hỏi nơi đây là một định luật khoa học thật đơn giản mà cũng thật huyền diệu. Nó chính là cái nguyên lý trật tự và điều hòa hằng hiện hữu trong vũ trụ. Sự lựa chọn để sống trong cảnh giới mỹ lệ đẹp đẽ hay tăm tối u minh đều do những tần số rung động của mình mà ra cả và chính mình phải chịu trách nhiệm về cuộc đời của mình hay lựa chọn những nơi mà mình sẽ đến.

    Khi còn sống cha tin rằng chết là hết, con người chỉ là sự cấu tạo của các chất hữu cơ hợp lại, nhưng hiện nay cha biết mình đã lầm. Cha không biết phân biệt phần xác thân và phần tâm linh. Sự chết chỉ đến với phần thân xác trong khi phần tâm linh vẫn hoạt động không ngừng. Nó đã hoạt động như thế từ thuở nào rồi và sẽ còn tiếp tục mãi mãi. Hiển nhiên các nhân của cha không phải là cái thể xác đã bị hủy hoại kia mà là phần tâm linh vẫn tiếp tục hoạt động này, do đó cha mới cố gắng liên lạc với các con để hoàn tất điều mà cha đã hứa với các con khi xưa. Cha nghiệm được rằng sự sống giống như một giòng nước tuôn chảy không ngừng từ nơi này qua nơi khác, từ hình thức này qua hình thức khác. Khi trôi chảy qua những môi trường khác nhau nó sẽ bị ảnh hưởng những điều kiện khác nhau; và tùy theo sự học hỏi, kinh nghiệm mà nó ý thức được bản chất thiêng liêng thực sực của nó. Cũng như sống biển có đợt cao, đợt thấp thì đời người cũng có những lúc thăng trầm, khi vinh quang tột đỉnh, lúc khốn cùng tủi nhục, nhưng nếu biết nhìn lại toàn vẹn tiến trình của sự sống thì kiếp người có khác chi những làn sóng nhấp nhô, lăng xăng trên mặt biển đâu! Chỉ khi nào biết nhận thức về bản chất thật sự của mình vốn là nước chứ không phải là sóng thì các con sẽ ý thức được tính cách trường cửu của sự sống. Từ đó các con sẽ có một quan niệm rõ rệt rằng chết chỉ là một diễn tiến tất nhiên, một sự kiện cần thiết có tính cách giai đoạn chứ không phải một cái gì ghê gớm như người ta thường sợ hãi. Điều cần thiết không phải là trốn tránh sự chết hay ghê tởm nó, nhưng là sự chuẩn bị cho một sự kiện tất nhiên phải đến một cách thoải mái, ung dung vì nếu khi còn sống các con đã đem hết khả năng và phương tiện của mình để giúp đời, để yêu thương mọi loài thì lúc lâm chung, các con chẳng có gì phải luyến tiếc hay hổ thẹn với lương tâm cả. Trước khi từ biệt các con, cha muốn nói thêm rằng hiện nay cha đang sống một cách thoải mái, vui vẻ và an lạc chứ không hề khổ sở.

    Bác sĩ Henri Desrives.

  •   Chủ đề: Chiếc Gương Đen
    thuynguyen3k, Trả lời/Số lần xem: 1/1492, , Bài viếtChuyên mục: Tâm linh & Huyền bí   Ngày gửi: khoảng 2 10 năm trước
    Subject: Chiếc Gương Đen
  • Chiếc Gương Đen Dịch Giả: Đức Mẫn

    Chiếc Gương Đen




    Ông Thorndye chủ nhân thư viện khu Steplinn, đã nhiều lần nhìn sang mấy ngôi nhà kỳ quái có mặt tiền ốp gỗ đối diện với cửa sổ với cửa sổ phòng ông.

    Phòng đọc kê những dãy bàn gỗ đen ngổn ngang sách báo giờ đây không còn một bóng người và ông không thể nào được nói dăm câu ba điều với một người nào đó rằng ông đánh giá hết sức đặc biệt phong cách kiến trúc tuy đo của những công trình này, rằng chỉ riêng những công trình đó mới có thể trụ lại được qua bao nhiêu lần hỏa hoạn và chấn động mà Siti phải chịu đựng từ thế kỷ mười lăm.

    Không một bóng người...

    Nói chung thì cũng hoàn toàn không phải như vậy, nhưng cái ông khách duy nhất đang uể oải lần giở những tập sách nhaÜn bóng vì dầu mỡ không được người thủ thư tính đến.

    Bác sĩ Baster Brown là một thầy thuốc bình thường trong khu; ông sống ở phố Nhà thờ, thuê hai phòng trong một ngôi nhà cao tầng u ám ở ngoại vi công viên Clissold, ông không có riêng một tủ sách, một phòng thí nghiệm, còn những người khách bệnh nhân ít ỏi thì ông tiếp khám trong cái phòng khách xoàng xĩnh có mấy cái ghế bành đen đủi nhồi lông ngựa. Mỗi tuần hai lần ông lê gót xuyên qua thành đô đến Hallborn để vào cái phòng đọc đầy bụi của ông Thorndye, tại đây ông ngồi một vài giờ và cuối cùng ra về với một cuốn sách nhỏ với giá đặt cược là sáu pence.

    Ngoài trời mưa lâm thâm, mà cái bàn ông ngồi lại kê vào góc tối nhất của thư viện. Tuy thế ông Thorndye cũng không nghĩ đến chuyện thắp lên một trong số những cây đèn chao xanh vì một độc giả chẳng lấy gì làm giàu có như ông.

    Ông Baster Brown không đọc mà chỉ ngồi lật qua lật lại những trang sách "Lịch sử nước Anh", và từng tí một ông dần dần nhét xuống dưới tập sách này một cuốn sổ mỏng lấm tấm những chấm rỉ sắt và đã bị bọ sách cắn thủng.

    Đúng lúc này cô Boze bước vào và ông Thorndye trịnh trọng cúi chào. Cô Boze chẳng những đã mượn của thư viện những sách quý hiếm, mà cô còn thích chuyện trò với ông chủ, những lúc như thế ông lại có dịp trình bày nhận thức của mình về mặt lịch sử.

    - Cô Boze này, lần trước khi tôi được vinh hạnh và được sung sướng tiếp kiến cô trong tệ xá của mình, chúng ta đã nói đến Ren, đến việc sau vụ cháy năm một ngàn sáu trăm sáu mươi sáu ông ấy đã xây lại Hild Hall.

    Ông Baster Brown đứng dậy, cuốn sổ mỏng ông nhẹ nhàng cho vào túi áo bành tô, còn một tay ông cầm một cuốn tiểu thuyết gì đó mới được xuất bản.

    - Xin cám ơn ông, chào ông - người thủ thư vừa nói mấy tiếng khô khan, vừa đưa hai ngón tay kẹp lấy đồng xu mà ông thầy thuốc đưa ra.

    Cái bóng dáng thấp bé của ông bác sĩ nhòa đi trong màn mưa bụi của Hallborn.

    - Làm việc như thế thì cũng chả lấy gì làm no đủ ông Thorndye lẩm bẩm.

    Sau đó ông lại mỉm cười và tiếp tục bài giảng của mình cho cô khách hàng thường nhật.

    Tuy nhiên cũng cần phải thừa nhận rằng những ngọn tháp mà Ren xây dựng cho Tu viện Westminster không được hài hòa lắm với cái vẻ hùng vĩ của Tu viện...

    Đứng ở góc phố Hallborn chờ xe buýt giữa cái đám người âu sầu chịu đựng, quần áo ướt sũng, ông Baster Brown lấy tay giữ khư khư cái túi căng phồng của mình, dường như trong đó có cái ví đầy tiền. Thế nhưng trong đó chỉ vẻn vẹn có một cuốn lịch thư cổ của Warren năm một ngàn tám trăm năm mươi bảy mà cho đến nay thật là may mắn ông Thorndye không đem ra nhóm bếp hoặc không rơi vào tay gã Do Thái buôn đồ cổ Paans cứ mỗi năm hai lần đến mua tất cả những cuốn sách không còn cho mượn được nữa.

    Ông Baster Brown về đến nhà thì đã muộn, ở lối cầu thang ông đụng phải cô chủ nhà Skinner, cô xì ra một tiếng không hài lòng và không đáp lại lời chào của ông.

    Lẽ ra mình phải tìm cách trả cho cô ấy một phần tiền nhà, ông thầy thuốc lẩm bẩm một cách chán chường khi leo lên tầng tư về phòng mình trên những bậc cầu thang trải một tấm thảm đã trụi lông xơ xác.


    1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13


    --------------------------------------------------------------------------------
    Chiếc Gương Đen Dịch Giả: Đức Mẫn



    Lửa trong lò sưởi đã hết cháy, còn ở cái vòi hơi có cái màn chắn rách nát bằng amiăng thì chỉ còn một chút ánh sáng loe lét.

    Ông Baster Brown đặt cuốn lịch thư Warren xuống cái bàn tròn có lớp vécni đã hơi tróc nham nhở bên cạnh chai rượu Uýtxki và một cái ống điếu cáu bẩn vì nước bọt; sau đó ông thận trọng kiểm tra xem cửa đã đóng chặt chưa, ông vo một mảnh giấy nhét vào lỗ khóa và cẩn thận kéo bức rèm vải bông màu xanh che kín cửa sổ.

    - Chà..., ông thở một hơi dài, nhưng đầu tiên phải gọi cái điếu Polli giúp đỡ cái đã.

    Ông vớ cái ống điếu, nhét vào đó một dúm thuốc vo tròn lồng phồng lấy ra từ một túi giấy màu xám và rít một hơi khoan khoái.

    Nàng Polli tốt bụng của tôi ơi! Ông thốt lên với cái giọng dịu dàng thô thiển.

    Nàng Polli phần nào đã tô điểm được cho cuộc đời đơn côi của ông, con người ít ỏi về tiền nong mà lại bị bao nhiêu rủi ro khăng khăng theo đuổi; còn ông thì bắt chước nhân vật trong một cuốn tiểu thuyết trinh thám của ông đã đọc được hồi nào để đặt cho ống điếu một cái tên nghe thật phụ nữ, thậm chí còn khắc lên đầu nó ba dấu thập ác, ông làm thế chỉ cốt để đánh dấu quyền sở hữu của mình và sự ràng buộc đặc biệt.

    "Một thứ siêu đẳng" đã có lần ông tự nói với mình khi nhớ lại cái ngày ngẫu nhiên có tiền ông đã mua cái ống điếu theo kiểu "chesterfild" bằng thứ vỏ bạch dương dày cộp của Anh này với giá khá đắt.

    - Chà...

    Baster Brown đọc sách, hai tay ôm đầu và cắn môi vì căng thẳng: "Năm một ngàn tám trăm bốn mươi hai bộ sưu tập đồ quý hiếm của Horas Wallpo ở Stroberri Hill được đem ra bán đấu giá. Trong những thứ khác lạ có một chiếc gương đen của bác sĩ John Dee, một người thầy thuốc, một nhà phẩu thuật và một nhà chiêm tinh của nữ hoàng Anh Elizabeth. Đó là một tấm than đá màu đen cực kì, được đánh bóng và đẻo gọt tinh xảo hình bầu dục có cán bằng một khúc ngà voi màu sẫm.

    Ngày trước tấm gương này được lưu giữ trong bộ sưu tập của các bá tước Peterborough, cũng như trong dòng họ Wallpol chưa bao giờ có ai có ý định sử dụng cái đồ vật bé nhỏ này, họ chỉ thờ ơ lưu giữ, đề phòng có những tai họa lớn có thể gây ra sự tò mò không đúng chỗ của ai đó.

    Alias Ashmol, tác giả cuốn sách kì lạ và rùng rợn "Theatrum Chemicum" có kể về một chiếc gương đen theo những lối nói sau đây: "Nhờ khối đá thần thông này có thể nhìn thấy mọi gương mặt mà ta muốn, dù gương mặt đó ở phương trời nào đi nữa, dù nó có lẩn trốn vào những hang sâu khuất nhỏ nhất nằm sâu tít trong lòng đất."

    "Cần biết rằng mãi về sau này những người giữ chiếc gương vì khiếp sợ cái uy lực đó mà không dám đem thử..."

    Ông Baster Brown thôi không đọc phần cuối bài báo nói đến số phận bi thảm của ông John Dee bí ẩn, mà đi lấy một chiếc kính lúp để soi xét mấy dòng chữ bé líu xíu bên lề sách:

    "Phải, nhưng tên đạo tặc Edward Kelli đã theo sát như hình với bóng cái lão Dee khôn ngoan ăn người, tên đạo tặc này đã sử dụng gương để đi tìm kho báu và để gây ra những tội ác bí ẩn.

    Trong tay tên bất lương cái vật nhỏ kì diệu này, không còn nghi ngờ gì nữa... (đến đây mảnh giấy bị mọt đục, vì thế mất một đoạn)... cái được Giấu Kín trong gương".

    Hai chữ Giấu Kín được gạch chân và viết đậm.

    Đoạn ghi chú bên lề được kết thúc bằng mấy dòng viết thân bằng một loại nét chữ khác.

    "Gương này đã bị bọn Kwaiter feidzi ăn trộm. Chúng dùng gương để tìm các kho báu (đoạn này lại bị mọt ăn)... nguyền rủa chúng suốt đời".


    1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13


    --------------------------------------------------------------------------------
    Chiếc Gương Đen Dịch Giả: Đức Mẫn



    Ông thở một hơi dài và sâu theo thói quen, ông ấn vào cái lò xo ở một chiếc hộp kín của chiếc bàn nhỏ kì cục làm theo kiểu dedlou, đặt cuốn lịch thư Warren vào đó bên cạnh một cái túi da. Trong túi này có những dụng cụ quý giá tinh xảo bằng thép bóng loáng. Đó là những vật đắc dụng đã một thời là tài sản của Stenton Miller biệt danh Con Dê mà một buổi sáng tháng Ba người ta đã treo cổ hắn ở nhà ngục Newgate, cũng vào lúc đó mưa lớn lẫn với mưa đá to đã đập vỡ hết kính của những ngôi nhà ở Paternos ter Road.

    Ông thầy thuốc lắc đầu; ông đã ra tay cứu giúp Stenton Miller khi hắn được chở đến đồn cảnh sát ở Roterhight, thừa sống thiếu chết vì đòn thù của một đám đông.

    - Ông bác sĩ, ông cầm lấy cái này thay cho tiền chữa con người bất hạnh ấy thều thào, lúc một viên cảnh sát bỏ đi giây lát, có lúc dùng đến đấy. Mà tôi cũng không muốn để người ta lục thấy trong túi tôi.

    "Cái của nợ này" cũng chẳng thấy có ảnh hưởng gì đến kết cục vụ việc của chính Stenton Miller, thế nhưng nó cũng có chút ích lợi cho ông Baster Brown, bởi vì thường mỗi tuần ông không kiếm nổi lấy một đồng bảng.

    - Chà, Polli, ông vừa thốt ra mấy tiếng, vừa nhả lên trần một làn khói.

    Ba ngày sau ông được biết rằng hầu tước cuối cùng Kwaiterfeidzi đang sống ở Estis Road trong một ngôi nhà cũ nát lụp xụp với mấy cái cửa sổ bụi bậm nhưng lại được che hắn bằng những chiếc rèm gấm nặng nề, đắt tiền.

    - À, cái lão bần tiện ma quỷ Kwaiterfeidzi, trời tru đất diệt cái lão ấy đi! một cô bán rau kêu lên đúng lúc Baster Brown vô tư dạo chơi trên đường Estis Road.

    Và ông nhìn thấy cái lão già đầu nhỏ xíu, ăn mặc chỉnh tề theo kiểu Bremmel đang lần bước trên bực thềm nhà.

    Estis Road là một phố nhỏ heo hút ở Kenonberi, đến ban ngày cũng ít người qua lại, còn đêm khuya thì hoàn toàn không có bóng người.

    Lối vào biệt thự của nhà Kwaiterfeidzi; có một cánh cửa chắc chắn có then cài và hai vòng khóa xích, ngược lại thì cánh cửa sân vườn, lối ra kênh đảo Olvin không sâu lắm, chỉ cần một que sắt năm mươi phân thì có thể mở được. Ông Baster Brown đi qua một vạt sân nhỏ đọng đầy nước mưa, tựa như một nhánh sông nhỏ, mở cái chốt cữa sổ phòng giặt và dễ dàng tìm được đường vào các phòng tầng trên.

    Phải, cái thằng cha Steton Miller nói đúng, những dụng cụ của hắn cũng có ích thật sự đấy chứ! Ông Baster Brown tin như thế khi ông cắt tấm ốp bằng tấm thép của cái két sắt kỳ cục được trang trí bằng một thứ sợi mạ vàng và những hình hoa văn cầu kỳ diễm lệ.

    Ông đang sắp hoàn thành công việc của mình thì hầu tước Kwaiterfeidzi bước vào, trong tay cầm một que chọc lò.

    Bác sĩ giật ra khỏi tay ông cái vũ khí nực cười ấy và đập một nhát vào cái hộp sọ bé nhỏ hình trái lê của ông.

    Ông già rít lên một tiếng như tiếng chim rồi ngã vật xuống; kinh nghiệm nghề nghiệp mách bảo Baster Brown rằng không cần đến nhát thứ hai nữa.

    Không hề vội vã lúng túng, ông lục soát hết mọi thứ trong tủ và phát hiện trong đó có mười hai đồng bảng tiền giấy, một vốc đồng shilling mới và chính cái gương của bác sĩ Dee đựng trong một cái túi bằng lụa màu đỏ.

    Về đến nhà ông Baster Brown nốc hết ba phần tư chai Uýtky rồi rút cái gương trong bao ra.

    Thở một hơi dài ngao ngán, ông đặt Polli lên bàn vì trong túi ông không còn một chút thuốc nào. Sau đó ông thận trọng bắt tay vào việc nghiên cứu cái vật kỳ quái ma thuật.

    Cái khuôn bầu dục nhỏ hẹp và tăm tối ánh lên như một mảnh trời đêm không trăng sao, ông nhận thấy rằng nó lấp lánh, không phản chiếu một thứ ánh sáng nào, vả lại trong cái bề sâu u tối của gương ông cũng chẳng phát hiện thấy có gì đặc biệt.


    1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13


    --------------------------------------------------------------------------------
    Chiếc Gương Đen Dịch Giả: Đức Mẫn



    Để tập trung tư tưởng và tinh thần ông bắt đầu nhắc lại tên tuổi của con người bí hiểm tạo ra chiếc gương, đôi khi ông còn kết hợp cả vào đó tên của Kwaiterfeidzi.

    Một giờ sau lưng, ông bắt đầu toát mồ hôi, tay ông thì run rẩy lập cập vì một sức nóng không biết từ đâu sinh ra.

    Gần đến sáng ánh đèn hơi đã yếu đi bởi vì ông Baster Brown quên không thả một đồng xu vào cái khe đồng hồ tính tiền.

    Ánh sáng tắt hẳn và bây giờ ông thầy thuốc mới thấy một ánh xanh tuyệt vời hắt ra từ lòng gương.

    Động tác đầu tiên của ông là cử chỉ run sợ, ông chạy vội sang phòng bên và khóa trái cửa lại.

    Tuy nhiên, gần như ngay lập tức ông nguyền rủa mình vì tội nhát gan, và mặc dầu toàn thân run rẩy một cách thiểu não, ông vẫn quay về chỗ bàn.

    Ánh sáng ấy vẫn tiếp tục hắt ra, dù không mạnh lắm.

    - Cần phải... nghiên cứu hiện tượng này... nhằm mục đích khoa học. Ông thầy thuốc lẩm bẩm. Cái ánh xanh này dường như là ánh xanh từ một đầu cực... Vậy thì, nếu ta đứng sang bên trái gương, ta sẻ nhìn thấy...

    Ôi chao, quả đúng như thế! Ông đã nhìn thấy, dù rằng, không còn nghi ngờ gì nữa, bây giờ ông chỉ mong sao trên cái mặt đen lạ lùng kia không hiện ra một hình ảnh nào nữa, mặc dấu ông đã từng ham muốn được chính mình sử dụng cái sức mạnh bí hiểm của nó.

    Hình ảnh hiện ra khá là mờ mịt và ông Baster Brown phải vận dụng hết trí lực của mình mới có thể phân biệt được một số đường nét.

    - Có vẻ giống như là... hừm, nhưng rất rõ ràng đó là một cái gì như thể một bộ áo dài... mà có lẽ, như là một chiếc áo blu. Hừm, ... à à, đây là cái đầu... còn đây là chân.

    Hình ảnh dần dần nét hơn.

    Cái đầu đội mũ hiệp sĩ lộ ra phía trên một chiếc khiên rộng không rõ hình thể. Cặp chân khẳng khiu dài quá khổ, bên ngoài mặc một thứ quần kỳ dị mà người ta dùng để mô tả trên những bức chạm khắc cổ xưa các nhà hiệp sĩ cuối cùng của cuộc chiến tranh Hoa hồng đỏ và Hoa hồng trắng.

    - Đẹp thì chả đẹp, mà ý nghĩa thì không có gì, ông Baster Brown kết luận trong một giây lát hăng hái.

    Tuy nhiên, ông cũng không có ý định hăng máu vịt trước một kiểu bất trí, ông hiểu rằng bức tranh khó hiểu và không mạch lạc sẽ tạo ra quanh mình một không khí ghê sợ hãi hùng. Cái ánh sáng xanh kia đủ mạnh để soi các vật xung quanh và ông đã nhìn thấy chai rượu uýtxky và chiếc điếu Polli được bao phủ bởi một lớp ánh lân tinh mờ mờ.

    Đó là những đồ vật quen thuộc, thậm chí còn rất đáng yêu của ông, những đồ vật sinh hoạt bình thường, thế mà giờ đây ông nhìn chung một cách khiếp sợ, tựa hồ chúng cũng là một bộ phận của sự bí ẩn nguy nan đã nảy sinh ngay bên cạnh ông.

    Đúng lúc này cái hình ảnh nhòe nhoẹt kia chợt đậm đặc lại mấy giây rồi lại nhanh chóng giãn ra; đầu tiên là cái khiên biến đi, bộ quần áo bỗng thảng thốt như sương, rồi sau đôi chân như hai con rắn chợt tan hòa vào thứ bóng tối lung linh. Thế rồi, thoắt một cái, giống như sau tiếng "tách" của công tắc điện, tất cả đồng loạt tối thui và căn phòng chìm vào bóng đêm.

    - Đồng hồ tính tiền, mau lên! Ông Baster Brown kêu lên và điên cuồng chạy khắp phòng tìm những đồng xu.


    1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13


    --------------------------------------------------------------------------------
    Chiếc Gương Đen Dịch Giả: Đức Mẫn



    Ông kịp bỏ tiền vào khe đồng hồ khi nghe thấy sau lưng tiếng thủy tinh vỡ loảng xoảng và tiếng nước chảy đổ.

    Một phút sau chiếc đèn hơi sáng lên rực rỡ.

    Chai rượu đã vỡ vụn chảy thành hai dòng trên mặt bàn. Chiếc gương đen lại giống như một chiếc đĩa thường.

    - Có thể đó là do trí tưởng tượng bệnh hoạn của ta sinh ra mà thôi. Ông bác sĩ ca cẩm.

    Nhưng ngay lập tức ông lắc đầu:

    - Vậy tại sao cái chai lại vỡ, lại còn...

    Ông mở to mắt, đứng như trời trồng, nhìn chằm chằm lên bàn: chiếc điếu Polli đã biến mất.

    Phải mất một tuần trôi qua ông Baster Brown mới lấy lại được can đảm để thử nghiệm điều bí ẩn của chiếc gương ma quái trong một đêm đen tĩnh mịch.

    Không có gì xảy cả.

    Dũng cảm hơn, đêm nào ông cũng thử nghiệm; để có vẻ ly kỳ thậm chí ông đã bắt đầu kêu gọi cả đến bóng dáng của Dee và Kelli, hơn thế nữa, cả những thực thể của thế giới bên kia, khi tìm thấy tên tuổi của họ trong sách thảo luận cổ xưa về ma thuật Nodzerx.

    Ông đã thất vọng. Ông đã thôi mơ ước có những cuộc tìm kiếm thần hiệu những kho báu và thậm chí ông đã tự nói với mình rằng thật sự ông không bao giờ tin vào chuyện đó.

    - Liệu có đáng công hay không... liệu có đáng công hay không... đôi lúc ông cứ lẩm bẩm như vậy. Tuy nhiên, ông không nói ra hết ý nghĩ của mình và chắc tự ông cũng không thể nói được rằng liệu sự hối tiếc của ông có liên quan đến vụ giết người ở Estis Road hay không.

    Dù thế nào đi nữa thì tội ác cũng đã mang đến cho ông mười hai đồng bảng và mấy shilling; nhưng những đồng tiền ấy đã tiêu veo đi như tuyết tan dưới ánh mặt trời.

    Vào cái ngày khi đồng shilling cuối cùng được đem ra để mua một ít đường và trả thì ông được cô Skinner cho hay là cô sẽ tới thăm ông.

    Cho hay là tới thăm, nói như thế thì trang trọng quá; trên thực tế thì cô chỉ sai người đấy tớ gái Diana Pabsi chuyên làm những việc bẩn thỉu đến báo cho bác sĩ biết rằng ông không được ra khỏi nhà, khi chưa nói chuyện với cô Skinner, nếu ông không muốn thì quay về nhà phải nhìn thấy trên cửa nhà mình những dấu niêm phong lớn màu đỏ.

    Cô Skinner là một cô chủ nhà khá giàu tính chịu đựng và cô chưa bao giờ tuyên chiến một mất một còn với người ở thuê vì cái chuyện chậm trả tiền nhà, nhưng ông Baster Brown nợ tiền cô đã tám quý, ấy là chưa kể những khoản lặt vặt mà cô cho vay vào những phút tâm hồn sảng khoái.

    Cô chủ đến đúng hồi mười một giờ, tức là hai tiếng sau Diana Pabsi, cô đeo trên mũ chiếc kính đồi mồi và cầm trên tay một sổ nợ khổ lớn.

    - Thưa bác sĩ Brown, cô mở đầu, việc này không thể kéo dài hơn nữa. Sức chịu đựng của tôi thì rất lớn, tôi còn có thể chịu đựng được hơn nữa, nếu như tôi không có một nhu cầu rất lớn về tiền. Xin ông vui lòng nhìn bảng kê này, ông sẽ thấy rằng ông còn thiếu của tôi...


    1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13


    --------------------------------------------------------------------------------
    Chiếc Gương Đen Dịch Giả: Đức Mẫn



    Bỗng nhiên cô ngừng bặt, cô hít ngửi một hơi, vẻ tởm lợm rồi kêu lên:

    - Trời đất ơi, quái quỷ thật... Có cái gì thối tha trong cái ống điếu của ông thế, hả ông bác sĩ? Tôi không thể ngồi đây được nữa. Thối tha quá... Ông đi ngay đi, ông cút ngay khỏi nhà tôi đi...Ôi! Làm sao lại có cái mùi như thế được chứ?

    Cô vùng chạy ra ngoài, còn cái sổ nợ (trường hợp không tiền khoáng hậu trong biên niên sử của ngôi nhà này) trượt khỏi tay cô, rơi tung tóe xuống sàn nhà.

    Ông Baster Brown mừng vì thoát khỏi những lời chỉ trích và đe dọa của cô, tuy vậy ông nhíu trán ngồi yên sau cái bàn tròn như chết lặng: từ khi mất Polli, để tiết kiệm tiền ông đã không mua điếu mới, và vì thế ông đã bỏ hút!

    Mặt khác, dú ông có đánh hơi ngửi khắp nơi đi nữa, ông cũng không thấy một chút mùi khói thuốc nào, có chăng chỉ là mùi nặng nề của cái xô rác trong bếp và chút mùi của mấy lọ thuốc.

    Ông nhún vai nhìn vào cái ngăn kéo bí mật trong góc bàn.

    Chiếc gương đen vẫn nằm đó, vẫn tăm tối và lấp lánh, nhưng chẳng có gì hấp dẫn và lạ kỳ; nó vẫn là những công cụ bằng thép nằm trong bao da.

    Baster Brown mỉm cười cầm chúng lên tay.

    Đúng giây phút đó từ tầng dưới nhà có tiếng rú lên kêu cứu:

    - Bác sĩ, bác sĩ ơi! Cô ấy sắp chết rồi!

    Người thầy thuốc nhận ra ngay cái giọng the thé của Diana Pabsi.

    Ông bắt gặp người hầu gái trước cửa phòng bếp mở rộng. Cô ấy la khóc và mặt mũi ướt đẫm nước mắt.

    - Cô chủ về phòng và bảo: "Cái mùi thuốc... chà, sao mà nó thối đến thế!" sau đó cô ấy ngã xuống. Rồi cô ấy không động đậy được nữa! Trời ơi là trời!

    Ông Baster Brown đã nhìn thấy cô Skinner nằm xỉu trên nền gạch nung trắng đỏ; cặp kính của cô văng xa vào một góc đã vỡ vụn.

    Gương mặt cô chủ nhà méo mó một cách thảm hại.

    - Cô ấy không động đậy nữa, ông thấy đấy! Cô hầu gái nức nở.

    "Cô ấy sẽ không bao giờ động đậy được nữa" người thầy thuốc tự nhủ, bởi vì ông đã xác định được rằng kẻ bất hạnh đã chết.

    Ông ngồi viết một tờ kết luận ngắn gọn cho các chuyên viên y tế của sở cảnh sát thành phố rồi lên gác về phòng mình, sau đó ông cất cả túi da vào chỗ cũ. Vì ông là người đầu tiên xác nhận cái chết của cô Skinner cho nên theo luật pháp ông sẽ phải tham gia điều tra, và với cả hai tư cách ấy ông sẽ được một khoản tiền thù lao là ba bảng sáu shilling.


    1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13


    --------------------------------------------------------------------------------
    Chiếc Gương Đen Dịch Giả: Đức Mẫn



    Với số tiền ấy ông có thể ung dung kéo dài cuộc sống thêm mấy ngày nữa.

    Vì sao kể từ ngày đó ông cứ luẩn quẩn với ý nghĩ phải bán đi cái ông điếu Polli?

    Cái ống điếu ấy đối với ông dần dần trở nên một cái gì tựa như một cô bạn gái mà trong thời độc thân khốn khó của mình ông không thể nào có được, còn bây giờ thì ông lại gắn bó với nó đến mức không muốn tìm vật thay thế, thậm chí ông đã không còn ham muốn hút nữa.

    Nhưng mối quan tâm bé nhỏ ấy chẳng bao lâu đã bị che lấp đi bởi những điều phiền toái lớn lao hơn: chẳng những ông ngồi không không kiếm được đồng nào, mà hơn thế nữa ông còn mắc nợ đầm đìa đến nỗi ông chẳng còn hy vọng nuôi nổi thân mình.

    Những khách bệnh nhân trước kia thỉnh thoảng còn đến thì nay hết hẳn; một bọn du đãng nào đó ban đêm đã gỡ đi khỏi cửa cầu thang tấm biển kẽm có ghi họ tên ông và giờ tiếp khách.

    Ông cũng chẳng nghĩ đến chuyện gặp lại nó nữa, vì chưng ông đã tin điều ấy vô bổ.

    - Chao ôi, Stenton Miller, ông lẩm bẩm, tôi lại phải nhớ đến anh, người anh em sống hèn chết khổ của tôi.

    Ông lại lấy từ trong ngăn kéo ra túi đựng những dụng cụ bằng thép bóng loáng.

    Bên cạnh đó, trong cái túi riêng bằng lụa đỏ là chiếc gương của bác sĩ John Dee.

    Ông ném sang bên ấy một cái nhìn bực dọc và khinh bỉ.

    - Mày đấy à! ông càu nhàu, mai ngày kia thì mày xuống đáy sông mà tác oai tác quái!

    Từ trước tới nay, trong những lần trộm vặt ban đêm, ông gần như toàn tâm toàn ý tin vào một ngôi sao hạnh phúc vô hình nào đó. Nếu có ngoại lệ thì chỉ là chuyến làm ăn đổ máu ở Estis Road khi ông cướp trắng gương đen này.

    Còn chuyện hành nghề lần này nhằm cứu ông khỏi rơi vào cảnh khốn cùng thì ông đã chuẩn bị cẩn thận hơn thế.

    Ông đã tìm thấy một ngôi nhà ở Blumsfild không có người ở. Chủ nhân của nó, bà Aberllou đang phải điều trị trong bệnh viện Kosuell Road và mang tất cả đầy tớ theo mình. Ông biết được tất cả những điều đó qua cuộc trò chuyện của các bác sĩ đồng nghiệp, họ không hề chú ý hoặc quan tâm đến việc ông lắng nghe câu chuyện một cách chăm chú.

    Một trong những cửa sổ tầng dưới không được đóng kín, còn ông thì lại có thừa kinh nghiệm để biết rằng nó không gây trở ngại gì lớn cho một cuộc đột nhập về đêm.

    Khi ông rời xe buýt trên đường Cornhill thì trời đã lạnh và tối. Khi ông đi bộ tới London Wall, một đường phố u ám và sầu muộn đấn nỗi ông thấy như chính mình là quỷ uất hận, thì đường phố đã dần dần tràn ngập sương mù. Ở chỗ này chỗ kia những cây đèn đường thỉnh thoảng lại nhỏ xuống những giọt nước mắt màu nâu đỏ vào trong cái lớp sương mù đầy những bóng ma ấy; thậm chí ở đây những tiếng động cũng âm u đi và những tiếng còi tàu dọc đường bờ sông Victoria cũng tựa hồ bị sương mù nhét giẻ vào mồm, chỉ u u rền rĩ ở phương xa.

    Ông Baster Brown thở một hơi dài khoan khoái. Cho dù ông có bịt kín mắt bằng vải đen ông cũng tìm ra được đường đi tới phố Blumsfild, nhà bà Aberllou, tới cái cửa sổ có cánh cửa đóng không chặt.

    Ông lẻn vào được trong nhà không mấy khó khăn, cây đèn pin nhỏ hắt ánh sáng trắng trên những tấm vải bao giường màu trắng như màu tang tóc và những tấm thảm cuộn lại trong cái phòng khách nghiêm trang thời Victoria.


    1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13


    --------------------------------------------------------------------------------
    Chiếc Gương Đen Dịch Giả: Đức Mẫn



    Ông bước lên cầu thang xoắn ốc khổ rộng dựa tít lên trên cao, tới một nơi nào đó trong bóng tối, ở tầng hai ông thấy một cái cửa, xem ra thì hình như nó dẫn vào phòng ngủ của bà Aberllou. Ông mở cửa và đứng khựng lại vì cơn khiếp đảm đột ngột, dường như trước mắt ông có con quái vật nào đó vùng dậy.

    Thực ra căn phòng làm ông khiếp sợ chỉ vì một lẽ là nó sáng quá.

    Ngọn đèn chùm mười hai bóng với các loại râu tua vẫn rực rỡ, đằng sau chiếc ghế nhưng vàng là cây đèn đứng có chao hồng. Người khách không mời mà đến, tức là ông, không thể dự liệu được rằng khi ra đi những người trong nhà đã quên không tắt đèn, căn phòng vẫn nguyên trống vắng, và mặc dù có ánh sáng như trong một ngày hội, nó vẫn hoàn toàn là không có người ở.

    Ông Baster Brown lắc lắc đôi vai tựa hồ có một gánh nặng đang khiến ông nghẹt thở trong lồng ngực.

    - Thôi, cứ thế, cứ thế. Ông lẩm bẩm, cần phải làm vậy... nếu không thì hỏng hết.

    Cái nhìn của ông gắn vào một tấm gương trong xanh kiểu Venise, treo ở tường hậu. Ông bước tới và nhấc lên: có bốn chiếc nút đồn hiện ra như bốn con mắt trên cánh cửa nhỏ một chiếc két chìm trong tường.

    Những dụng cụ bằng thép liên tiếp được sử dụng và chẳng mấy nỗi ông đã vượt qua được chướng ngại vật.

    - Có thế chứ... có thế chứ, ông Baster Brown đắc chí, và quả thật trên má ông ướt nhòe những giọt nước mắt sung sướng không gì tả nổi khi ông nhìn thấy trước mắt những gói ngân phiếu lớn và ba đồng tiền vàng.

    Ông nhét đầy chặt các túi rồi đắc thắng khua lên cái que thép đã giúp ông phút cuối cùng mở khóa.

    Bỗng nhiên toàn thân ông bị một cơn co giật: ở tầng dưới một cánh cửa đóng sầm lại, có những bước chân vội vàng đi lên cầu thang; thậm chí ông còn nghe thấy tiếng cò súng lên đạn.

    Toàn thân ông hóa đá. Ông không nhích được một bước ngay cả khi có bóng một người đàn ông lực lưỡng, nặng nề xuất hiện trong khuôn cửa mở rộng, ngay cả khi cái nòng dữ tợn, tròn trặn và bé nhỏ của khẩu súng lục tự động đã đặt vào trán ông.

    Thế nhưng cái tiếng nổ khốc liệt đã không vang lên, còn người đàn ông thì không kịp kêu bắt cướp hoặc kêu cấp cứu.

    Cây gậy thép rời khỏi tay ông Baster Brown, nó rít lên cái tiếng xé gió của tên lửa trong không khí rồi văng vào một nơi nào đó trong bóng tối. Ông Baster Brown không đụng đậy nữa, cái cơ thể kia đổ rụi xuống sàn, mặt úp sấp, từ một mảng đầu máu tuôn xối ra.

    Căng thẳng đến khủng khiếp, ông nhón chân khỏi sàn nhà, chân ông tựa như mắc trong đám sình lầy vô hình. Nhưng rồi ông lấy lại được sức mạnh và nhẩy đại một cái qua được xác chết.

    Đến chiếu nghỉ cầu thang ông mới nhìn lại.

    Mười hai ngọn đèn vẫn đang rót những ánh sáng chói lòa vào cái tủ két đã bật mở và cái hộp sọ đã vỡ óc của người gác cổng bị đập chết, trong ánh sáng dịu dàng của chiếc đèn cây...

    Trời ơi! Baster Brown, con người mà đến cảnh ghê sợ của cái chết bạo tàn cũng gần như không làm động tâm, thì đúng giây phút này lại suýt bật kêu lên vì khiếp đảm: ở cái khoảng không gian giữa chao đèn và mấy cái gối đi văng, đang treo lơ lửng cái ống điếu Polli của ông ở cái tư thế như có một người hút thuốc vô hình cắn chặt vào răng.

    Ông nhận ngay ra nó một cách chính xác nhờ cái mỏm đầu của nó bị cháy đen và ba cái dấu thập ác.


    1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13


    --------------------------------------------------------------------------------
    Chiếc Gương Đen Dịch Giả: Đức Mẫn



    Bây giờ ông bỗng khát khao được quay ngược lại chỗ cũ, được nhẩy ngược trở lại qua xác chết máu me và được giằng lấy cái ống điếu yêu quý của mình, cái ống điếu bị mất đi một cách kỳ quặc, thì bỗng nhiên đúng lúc đó từ cái ống điếu bay ra một vòng khói tròn, rồi đến vòng thứ hai, thứ ba, và giờ đây cái ống điếu được hút hết sức, nó tỏa vào không khí một đám sương mù xanh đặc; nó tự hút một mình... trong căn phòng trống vắng đến rợn người.

    Và thế là ông Baster Brown cắm đầu cắm cổ chạy, ông lao vào bóng tối và sương mù, ông lạc đường trong bóng đêm mỗi lúc một đặc quánh lại, phải mất suốt ba tiếng đồng hồ ông mới mò về được Clissold Park, về căn phòng lạnh băng của mình.

    Trong lúc ông đi vắng một cơn gió mạnh đã mở toang cửa sổ, và bây giờ xung quanh ngọn đèn là một quầng sương mù bao bọc và di động như trong một điệu luân vũ ma quỷ.

    Mười năm sau, làm quen với bác sĩ Baster Brown, liệu ai có thể nghĩ được rằng trong cái ngăn kéo chứa đầy những thứ tạp pí lù kia ông lại vẫn còn đang lưu giữ cái thứ vũ khí hùng mạnh nhất và dữ dội nhất mà hồi trước những sinh thể từ thế giới vô hình đã để lại cho mọi người, chiếc gương đen của bác sĩ John Dee?

    Dù chúng ta có nói gì đi nữa về chiếc nhẫn của Tot, về những cuốn sách kỳ bí của Salon, về những chiếc ống nghiệm cao cổ của Carpenter, thì chỉ riêng chiếc gương đen cũng đã khiến mọi người phải thoát ra khỏi cái lồng xác thịt thô thiển của mình để hòa vào những đám mây đậm đặc căm thù, yêu đương hay trí tuệ mà bay đi khắp nơi không hề lạc bước, những đám mây mà Đấng trí tuệ tối cao đã dùng để tạo ra các loại ma quỷ và những thần linh bất tử.

    Ông Baster Brown đã mua được ở Kemdeltown một phòng nhỏ dùng để khám chữa bệnh. Ở tuổi bên kia dốc núi, người thấy thuốc cấp quận huyện chỉ mơ ước có một căn nhà nhỏ ở một nơi nào đó cạnh một dóng sông có cá hồi tại quê hương Devolshear của ông.

    Bây giờ ông thấy hoàn toàn hạnh phúc và yên tĩnh.

    Ông béo đẫy ra, để ria mép theo kiểu gall, da mặt bóng nhẫy, bởi lẽ ông đã quen ăn uống ngon lành.

    Ông mặc những bộ quần áo kẻ carô của anh em nhà Kerzon, ăn ở nhà hàng Bakki, nơi ông rất thích nhắm món thỏ rừng với thịt lươn rán và rượu mạnh.

    Ông cũng tham gia vào hội chơi bài uýt ở quán "Kingfisher" và ông chơi không đến nỗi tồi.

    Trong suốt những năm tháng ấy chỉ có ba bốn lần ông phải rút gương đen kỳ diệu khỏi chiếc bao màu đỏ.

    Không tò mò và cũng không sợ hãi ông lại cúi mình trước vật kỳ bí câm lặng ấy và ông cũng không hề tỏ ra có ham muốn cầu xin sức mạnh ẩn tiềm trong lòng khối đá đen kia.

    Mặc dù thờ ơ như thế nhưng ông không hề quên điều gì, và đôi khi trước đôi mắt vô hình của ký ức ông lại thấy thoáng hiện về hình bóng lạ kỳ của con người hiệp sĩ mang khiên và mặc giáp.

    Còn về phần Polli thì có một số sự cố rất đáng quan ngại làm ông không sao quên được.

    Đầu tiên là câu chuyện đau buồn của Slamber.

    Ở Kemdeltown ông Baster Brown thuê được một trong những căn nhà nhỏ xinh xắn, mà những ông chủ cho thuê thường lấy làm tự hào vào khoảng năm một ngàn tám trăm hai mươi và họ đã giữ được trong từng viên đá hiền lành cũ kỹ của mình khá nhiều những điều ma giáo và lần nào họ cũng thông minh không để bị rơi vào tay những bọn làm ăn hám lợi, những kẻ thướng phá đi những ngôi nhà cũ để dựng thay vào đó những tòa nhà mới cao tầng.

    Tầng một là dãy phòng liên thông trần thấp gồm có tiền sảnh để chuẩn bị đón khách, một phòng tiếp khách và một phòng thí nghiệm nhỏ xíu, trong đó chính tay ông Baster Brown đã chế ra gần một tá các loại thuốc cao và thuốc xirô khá là nổi tiếng và được nhiều người ưa dùng.

    Trên tầng hai có một phòng khác với những đồ gỗ mới tinh bóng loáng và những thứ đồ kim loại giả theo kiểu dinan, tại đây ông thường nghỉ ngơi thoải mái trong khu nội thất tuyệt vời của mình.


    1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13


    --------------------------------------------------------------------------------
    Chiếc Gương Đen Dịch Giả: Đức Mẫn



    Ông rất ít tiếp khách ở đây, bởi vì mặc dù là một con người cường tráng và luôn luôn thành đạt, nhưng ông vẫn cứ là kẻ cô đơn ẩn dật như xưa.

    Trong số rất ít những người bạn mà ông vui lòng mở cổng khu thiên đàng nhỏ bé nơi trần thế của mình có ông Slamber hết sức đáng yêu mà ông đã được làm quen ở "Kingfisher".

    Trước đây ông Slamber là giáo viên trung học, sống nghèo khổ và lần hồi kiếm sống bằng nghề sửa bài cho các nhà xuất bản loại xoàng. Ở quán ăn không bao giờ cho phép mình bỏ ra quá hai đồng bạc để ăn bữa tối, còn nếu như ông uống đến đồng tiền thứ ba thì đó là lúc ông Baster Brown trả thay.

    Người ta nói rằng khi ăn tối ở nhà ông cũng ít khi từ bỏ những món ăn quen: một quả trứng luộc duy nhất hoặc món kipper chính vì thế ông bác sĩ thường phải mời ông đến để cùng chia sẻ những bữa ăn đầy ắp thức ăn, món thịt gia súc hoặc gia cầm ướp muối lạnh mà bác sĩ đặt một nhà hàng gần đó mang đến tận nhà.

    Trong lúc đó chuyện ông Slamber ít có gì nổi bật, nếu như câu chuyện không lái sanng một chủ đề đặc biệt, những phương thức chiếu sáng thời xưa. Ông Slamber thật thà tốt bụng đã trở thành hết sức lãng mạng khi nói đến những ngọn nến, những đĩa đèn hoặc những cây đèn của Karsel. Vì thế, trong con mắt mờ đục của ông giáo về hưu ông Baster Brown gần như trở thành thượng đế vào cái ngày mua được của lão bán hàng tạp hóa ở Triside một chiếc đèn cây thật cao bằng kính to màu xanh có lắp một thấu kính chứa nước đặt trên một đòn tay bằng đồng và tỏa ra một thứ ánh sáng màu xanh mướt mát.

    - Tôi cam đoan với ông rằng đó là Kanterpruk! ông Slamber phấn khích kêu lên.

    - Kanterpruk?

    - Đó là tên của một nghệ nhân hàng thiếc nổi tiếng, ông Slamber tự hào đáp, ông ta sống ở Borough khoảng năm một ngàn bảy trăm chín mươi và đã được vang danh vì tài chế tạo những cây đèn như thế.

    Ông Baster Brown chẳng có gì để nói về chuyện ấy, và từ đó cứ mỗi lần ông giáo cũ tới thăm thì cây đèn Kanterpruk lại khiến trái tim nhân hậu, dịu dàng kia vui sướng vì thứ ánh sáng như ánh trăng huyền ảo của nó.

    Một lần vào ban đêm, ông Baster Brown bị đánh thức dậy vì những đợt sóng lạ kỳ báo hiệu nguy hiểm.

    Đã từ nhiều năm ông không dám ngủ trong phòng tối thui và vẫn để ở đầu giường một ngọn đèn đêm nho nhỏ có cả phao dầu; ánh lửa màu vàng mơ hồ của nó có sức chiến đấu chống lại những đạo quân âm thầm của bóng tối.

    Ngọn lửa bé nhỏ ấy bỗng rọi sáng trước mắt ông Baster Brown vừa tỉnh ngủ một hình bóng tan loãng đầy đe dọa trong bóng tối và saÜn sàng tấn công ông; trong những tia sáng của nó loáng lên một hình lưỡi dao lạnh và dài.

    Ông Baster Brown nhìn thấy con dao sáng loáng ấy được giơ cao lên một cách hung tợn và từ trong bóng tối có một khuôn mặt bịt băng đen hiện ra như hân hoan đón chờ cơn hấp hối của ông sắp đến.

    Ông cảm thấy mình đã chết, nhưng bỗng có một điều khó hiểu xảy ra.

    Con dao bỗng rơi xuống, cắm phập vào sàn gỗ, rung lên bần bật, từ bên trong mặt nạ thoát ra một tiếng xì nhỏ, sao tiếng xì là tiếng rên đau đớn và tuyệt vọng rồi cả cái thân hình dữ dội kia đổ vật xuống sàn.

    Ông bác sĩ nhảy một bước tới chỗ tên dạ khách, lột chiếc mặt nạ đen, và một giọng hấp hối thều thào cất lên:

    - Tha lỗi cho tôi. Tôi muốn lấy Kanterpruk...

    Tên cướp tắt thở ngay sau lời thú nhận đáng thương, người ấy không phải ai khác, mà chính là ông Slamber xấu số.


    1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13


    --------------------------------------------------------------------------------
    Chiếc Gương Đen Dịch Giả: Đức Mẫn



    Ông bác sĩ đã gần đoán ra được điều kỳ diệu nào đã gây ra cơn đau tim quật chết ông bạn cũ và cứu sống cuộc đời cho chính ông thì bỗng ông nhìn thấy Polli.

    Cái ống điếu treo lơ lửng trong không khí bên trên ngọn đèn đêm đang nhả ra những vòng khói ở ngang chỗ đầu ông có hình ba dấu thập ác. Những vòng khói rất đẹp, đầy đặn và tròn trặn, tựa như chính chúng cũng thấy hài lòng với cái dáng tròn tuyệt vời của mình.

    Ông Baster Brown kêu lên một tiếng gằn giọng và đưa tay về phía ông điếu, động tác của ông không được khéo léo khiến ngọn lửa nhỏ bé yếu ớt trong cây đèn đêm tắt ngấm. Khi ông châm lại được thì ống điếu không còn nữa, tuy vậy cả căn phòng vẫn còn đậm mùi thuốc cháy khét lẹt.

    Ông phải mất nhiều thời gian để cứu lại thanh danh cho ông Slamber; ông cất dấu đi mặt nạ và con dao của ông bạn rồi kéo xác ông ấy đi cách nhau một trăm bước đến chiếc ghế đá ngoài khuôn viên.

    Cô Eddy Bronks có thể đã là xinh đẹp, thậm chí là rất xinh đẹp, nếu như căn bệnh bướu cổ không làm cho đôi mắt màu xanh nhan nhát của cô có vẻ như là hơi dọa nạt người khác một chút.

    Ông Baster Brown quen với cô tại nhà người bán hàng thuốc ở Korihill tên là Littelwood, người mà ông hứa chuyển cho cả phòng thí nghiệm và cả những công thức thuốc cao của mình.

    Cô Eddy thích nói chuyện tào lao với cả hai người, và như cô thường nói ra không kém phần tự hào, cô là người "chuyện trò chuyên nghiệp".

    Trên thực tế cô là hộ lý trong bệnh viện "New Charte".

    Ông Baster Brown chưa bao giờ chú ý đặc biệt đến phụ nữ, nhưng hình ảnh cô Eddy Bronks chẳng mấy chốc đã không buông tha ông.

    "Lần sau gặp nàng ta sẽ xin cưới nàng làm vợ", nhiều lần ông đã tự nói như vậy.

    Lần gặp sau, rồi sau đó là nhiều lần gặp trôi qua, nhưng lời cầu hôn vẫn không sao thoát ra khỏi miệng ông, và mọi câu chuyện đều chỉ qui về việc xem xét các loại thuốc viên nhà Littelwood, các phương thức điều trị bệnh bướu cổ và các trường hợp mắc bệnh đặc biệt mà bác sĩ đã từng gặp trong thực tế.

    Một buổi tối mùa thu, ông Baster Brown bắt gặp Littelwood ủ rũ tỳ tay trên quầy thuốc, môi run lên, bàn tay lạnh ngắt.

    - Ông biết không, Littelwood rền rĩ, cô Bronks khốn khổ vừa mới ở đây, tâm thần hoảng loạn. Cô ấy mới bị đuổi khỏi bệnh viện sau một cuộc cãi cọ với thượng cấp. Cô ấy bảo rằng cô ấy muốn chết đi cho rồi... Không, không, ông Brown, tôi hiểu những chuyện này... Ông đừng quên rằng bệnh tình của cô ấy có thể dẫn đến thần kinh hỗn loạn. Cô ấy vừa chạy ra phía hồ nước.

    Ông Littelwood có một chân tập tễnh nặng nên không thể chạy đuổi theo cô gái tuyệt vọng.

    Như điên, ông Baster Brown cắm đầu chạy trên đường phố dài và tối, vừa chạy ông vừa thở dốc, tim đập thình thịch. Ông dừng lại khi thấy trước mặt mình làn nước hồ phẳng lặng dưới ánh trăng.

    -Eddy! Eddy! Ông gào lạc giọng.

    Và ông thấy cô cúi gập mình qua cái hàng rào ọp ẹp, đầu nghiêng xuống mặt nước tối đen.

    - Cô Eddy yêu quý ơi... tôi hết lòng mong muốn...


    1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13


    --------------------------------------------------------------------------------
    Chiếc Gương Đen Dịch Giả: Đức Mẫn



    Chính ở cái nơi không bình thường này, trong cái hoàn cảnh hết sức không bình thường này ông đã tỏ tình với cô và xin đính hôn.

    Cô Eddy Bronks đã theo ông về, người phờ phạc và mắt đẫm lệ.

    Ông nhóm lửa trong lò sưởi phòng khách, thắp hết mọi đèn, kể cả cây đèn mặt trăng Kanterpruk và với đôi bàn tay lóng ngóng ông đã pha được hai ly rượu kiểu coctail.

    - Em thân yêu, ngày mai anh sẽ đi xin giấy phép thành hôn.

    Cô không nghe ông nói mà ngửa đầu nhìn lên trần nhà, trong giây lát cái bướu cổ càng khắc họa nét buồn bực sâu sắc trong đôi mắt cô.

    - Anh có cái gì thế này, bác sĩ Brown?

    Cô vừa thở vừa hỏi.

    - Cái gì ấy à?

    Cô để rơi mình xuống một chiếc ghế bành sâu lõm bên cạnh lò sưởi.

    - Em xin lỗi... em chóng mặt... buồn nôn. Ôi, bác sĩ ơi, anh đừng hút thuốc nữa!

    Ông Baster Brown để rơi xuống sàn ly rượu mới pha.

    - Nhưng anh có hút đâu, em yêu!

    Cô Eddy Bronks đứng bật dậy.

    - Kìa kìa, trong góc nhà kia kìa... có người đội mũ sắt... nó trốn... em nhìn thấy chân nó dưới bàn... trời ơi, chân nó như con rắn.

    Rồi bỗng cô rít lên:

    - Nó ra đây này... nó châm thuốc ở chỗ đèn ấy! Lạy chúa cứu thế!

    Cô vùng chạy ra phía cửa; ông Baster Brown muốn giữ cô lại, nhưng cô đã đẩy ông ra với một sức mạnh khủng khiếp.

    Ông lảo đảo, mất cân bằng và ngã giúi đầu vào chiếc ghế bành nơi cô vừa ngồi.


    1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13


    --------------------------------------------------------------------------------
    Chiếc Gương Đen Dịch Giả: Đức Mẫn



    Lúc kịp đứng dậy thì ông nghe tiếng cửa ra vào đập mạnh và ông chỉ còn cách lao ra chỗ cửa sổ.

    Trong ánh trăng rực rỡ ông nhìn thấy cô gái đang chạy trên đường phố vắng lặng, ông thò đầu ra gọi cô, xin cô quay lại, nhưng bỗng nhiên ông nhìn thấy một bóng đen dữ dội khủng khiếp lướt đuổi theo cô không một tiếng động trên đường phố ngập tràn ánh trăng.

    Hôm sau người ta vớt được thi hài cô Eddy Bronks ở hồ nước số hai khu Kemdeltown.

    Một năm sau cái chết bi thương ấy ông Baster Brown qua đời. Có một thời gian ông bị bệnh hen và không thể chữa dứt được. Ông Littelwood vẫn thường đến thăm. Ông là người cho chúng tôi biết về những phút cuối cùng của bác sĩ.

    Ông ấy hành động rất thiếu lý trí, điều đó làm hại ông người bán thuốc nói: Bạn ông là bác sĩ Ressendl đã kê đơn chỉ định chế độ sinh hoạt và ăn uống, còn ông ta thì lại cứ mãi đi những đâu đâu.

    Mưa trút nước và ông trở về như chuột lột.

    Tôi mắng cho ông một trận kịch liệt rồi bắt lên giường nằm ngay. Ông điên hay sao mà đi phố bây giờ tôi gắt lên! Không thể hiểu được làm sao trời này lại dám ra đường.

    - Tôi vừa thoát được một gánh nặng.

    Tôi cặp nhiệt cho ông: gần bốn mươi độ, và tôi hiểu rằng ông đang mê sảng.

    Ông bắt đầu lảm nhảm gì đó, đặc biệt là về một cái gương mất bao nhiêu năm tôi mới hiểu được... Trong đó có... cô ấy... cô ấy...

    Hai chữ cô ấy ông nhắc lại mỗi lúc một to đến nỗi mấy lần tôi phải lên tiếng bắt ông thôi nói và nằm yên.

    Đến gần sáng ông dịu đi, tôi cho rằng ông đã ngủ say, hơn nữa nhiệt độ cũng đã giảm.

    Tôi nghĩ, tôi cũng có thể nghỉ một lát, tôi bèn thu mình vào ghế bành và chẳng bao lâu thiếp đi.

    Bỗng tôi bừng tỉnh vì ông thét lên.

    Ông đã bật ngồi dậy trên giường thở hổn hển, ngực phập phồng như bể lò rèn, và một điều thật là kì lạ tôi chưa từng thấy là ông hút thuốc, quanh người ông là một đám mây thuốc đậm đặc.

    - À, đúng nó rồi... đúng nó rồi... bây giờ thì tôi hiểu, tôi hiểu cô ta là ai... Chà, đồ chết tiệt, nó ăn cắp của tôi cái điếu!

    Ông đổ vật xuống nằm bất động và không bao giờ tỉnh lại nữa. Nhưng khi đổ xuống ông đã dùng tay làm một cử chỉ lạ lùng, tựa như bắt một cái gì trong không gian. Và đến khi cánh tay rơi xuống thì trong đó có một cái ống điếu dày bằng vỏ bạch dương, trên đầu có khắc ba dấu thập ác.

    Người ta không thể nào rút được cái ống điếu ra khỏi tay ông, và có lẽ người ta đã đưa nó theo ông xuống huyệt.

  •   Chủ đề: Chiếc Đèn mẫu Đơn
    thuynguyen3k, Trả lời/Số lần xem: 2/1215, , Bài viếtChuyên mục: Tâm linh & Huyền bí   Ngày gửi: khoảng 2 10 năm trước
    Subject: Chiếc Đèn mẫu Đơn
  • Dịch Giả: Phạm Tú Châu

    Chiếc Đèn Mẫu Đơn


    Họ Phương sau khi chiếm được Chiết Đông, hằng năm đến ngày rằm tháng Giêng, cho châu Minh được treo đèn năm ngày, trai gái trong thành đều được đi xem thỏa thích. Năm Canh Tý niên hiệu Chí Chính (một ngàn ba trăm sáu mươi), có Kiều Sinh nhà ở dưới núi Trấn Minh, mới góa vợ, ở một mình buồn tẻ nên không đi chơi, chỉ tựa cửa đứng xem mà thôi. Cuối canh ba hôm rằm, người đi chơi vắng dần, chợt Kiều Sinh thấy một a hoàn cầm cây đèn lồng hình hai bông hoa mẫu đơn đi trước, cô gái đẹp đi sau, tuổi chừng mười bảy, mười tám, quần hồng áo biếc, yểu điệu thướt tha, theo chân nhau đi về phía tây. Đứng ngắm dưới trăng, chàng thấy nàng trẻ trung, thật là bậc quốc sắc. Hồn phách bay bổng, chàng không sao kiềm chế nổi, bèn bước theo nàng, lúc đón trước, lúc theo sau. Đi chừng mấy chục bước, cô gái đẹp bỗng ngoảnh mặt lại mỉm cười bảo.

    - Không có lời hẹn trong dâu mà lại có cuộc gặp gỡ dưới nguyệt, hẳn không phải ngẫu nhiên đâu nhỉ?

    Kiều Sinh vội chạy lên trước, chắp tay mà rằng:

    - Tệ xá ở gần gang tấc, chẳng hay giai nhân có đoái đến chăng?

    Cô gái không tỏ vẻ khó chịu, gọi a hoàn bảo:

    - Kim Liên, hãy cầm đèn cùng đi!

    Rồi cùng với Kim Liên quay trở lại. Chàng dắt tay cô gái vào nhà, vui mừng cùng cực, tự cho chẳng kém gì cuộc gặp gỡ ở Vu Sơn, Lạc phố. Chàng hỏi tên tuổi và chỗ ở, cô gái nói:

    -Thiếp họ Phù, tên là Lệ Khanh, tên chính là Thấu Phương, con gái Phán quan châu Phụng Hóa trước kia. Cha mẹ thiếp đều mất cả, gia cảnh sa sút, đã không anh em lại ít bà con, chỉ có một thân, cùng Kim Liên tạm ở phía tây hồ.

    Kiều Sinh giữ nàng ở lại qua đêm. Nàng cử chỉ đáng yêu, nói năng diệu dàng, bèn buông màn kê gối, vui thú hết mực. Trời sáng, nàng từ biệt ra về, tối lại đến, cứ như thế gần nửa tháng. Ông hàng xóm sinh nghi, chọc vách nhòm sang thì thấy một bộ xương trang điểm phấn son ngồi dưới đèn cùng Kiều Sinh. Ông sợ quá, ngay sáng ra sang căn vặn chàng nhưng chàng giấu không chịu nói. Ông bèn bảo:

    - Ôi, cậu nguy rồi! Người ta là khí thuần dương cực thịnh, ma quỷ là khí tà uế chốn âm ty. Nay cậu cùng cùng ở với con ma nơi u âm mà không hay, cùng ngủ với vật tà uế mà không tỉnh, một mai khi chân nguyên cạn kiệt, tai họa ắt đến. Tiếc thay, người đang tuổi thanh xuân mà thành khách nơi suối vàng, há chẳng đáng buồn sao?

    Kiều Sinh bấy giờ mới thất kinh, kể hết nguyên do. Ông hàng xóm bảo:

    - Nó bảo con tạm ngụ ở phía tây hồ, cậu nên đến đó tìm thì sẽ biết ngay.

    Chàng nghe lời đi thẳng đến mé tây Nguyệt Hồ. Đi quanh quẩn mãi trên đê, dưới cầu, hỏi cả cư dân lẫn khách qua đường, họ đều nói chẳng có ai như thế. Mặt trời sắp lặn, chàng bèn đi vào chùa giữa hồ nghỉ chân, dạo hết hành lang phía đông lại ngoặt sang hành lang phía tây, đến tận cùng hành lang thì thấy một gian buồng tối, trong buồng đặt một quan tài của khách qua đường, giấy trắng trên nắp ván thiên viết: "Quan tài Lệ Khanh, con gái Phán quan họ Phù châu Phụng Hóa trước kia". Trước linh cữu treo một cái đèn lồng hình hai bông mẫu đơn, dưới đèn có con hầu bằng đồ mã, sau lưng đề hai chữ Kim Liên. Kiều Sinh nhìn thấy thế, râu tóc dựng ngược, khắp người sởn gai, chạy bổ ra khỏi chùa không dám ngoái lại. Đêm ấy chàng ngủ nhờ bên ông hàng xóm, sắc mặt hiện rõ vẻ lo lắng sợ hãi. Ông hàng xóm bảo:

    - Pháp sư họ Ngụy ở quán Huyền Diệu vốn là học trò của Vương chân nhân ở Khai Phủ, nổi tiếng về bùa chú hiện thời. Cậu nên đến ngay đấy mà cầu xin.

    Sáng hôm sau, Kiều Sinh đến ngay, pháp sư trông thấy chàng kinh ngạc nói:

    - Khí yêu ma đầy đặc thế kia, làm sao đến đây?

    Chàng sụp lạy trước chỗ ngồi, kể hết chuyện mình. Pháp sư bèn cho hai lá bùa đỏ, bảo để một lá ở cửa, một lá ở giường, lại dặn không được đến ngôi chùa giữa hồ nữa. Chàng cầm bùa trở về đặt như lời dặn, từ đấy cô gái kia quả nhiên không thấy đến nữa.

    Hơn tháng sau, chàng đến thăm người bạn ở chùa Cổn Tú, bạn giữ lại uống rượu, say quá quên mất lời dặn của pháp sư, rẽ ngay vào con đường qua ngôi chùa giữa hồ để về nhà. Gần tới cửa chùa đã thấy Kim Liên đến trước mặt lạy chào, thưa rằng:

    - Cô đợi tôi mãi, sao cậu lại bạc tình như thế?

    Bèn cùng Kiều Sinh đi tới hành lang phía tây, rồi đi thằng vào phòng. Lệ Khanh đã ngồi ở đấy, kể tội chàng rằng:

    - Thiếp cùng chàng vốn không quen biết, tình cờ gặp nhau dưới đèn, cảm ý của chàng mà thờ chàng hết lòng, đêm đến sáng đi, không bạc bẽo với chàng, cớ sao chàng lại đi tin lời lão đạo sĩ yêu ma đó mà sinh bụng nghi ngờ, lại còn toan đoạn tuyệt hẳn nữa sao? Bạc tình thế cho nên thiếp hận chàng lắm đấy! Nay may được gặp, thử xem chàng có bỏ được nữa hay không?

    Lập tức nàng nắm lấy tay Kiều Sinh cùng đến trước quan tài. Quan tài tự mở nắp, cô gái kéo chàng cùng vào. Quan tài tự mở nắp, cô gái kéo chàng cùng vào, nắp liền đậy ngay lại. Thế là Kiều Sinh chết trong quan tài.

    Ông hàng xóm thấy chàng không về lấy làm lạ, tìm hỏi khắp nơi xa gần, tới khi tìm đến căn phòng quàn linh cửu trong chùa thì thấy vạt áo của Kiều Sinh thò một mẩu ngoài áo quan. Ông bèn xin với sư trụ trì mở ra thì Kiều Sinh chết đã lâu, nằm úp vào xác cô gái, còn mặt mày cô gái vẫn tươi như lúc sống. Sư than thở:

    - Đây là con gái ông họ Phù làm Phán quan châu Phụng Hóa, khi chết mới mười bảy, tạm quàn ở đây. Cả nhà cô ta đã đi lên miền Bắc, không được tin tức gì, đến nay đã mười hai năm, không ngờ lại tác quái như thế!

    Sư bèn cho chôn quan tài của cô gái cùng Kiều Sinh ở ngoài cửa tây. Từ đấy trở đi, ngày nào mây âm u, đêm nào trăng mờ tối, thường thấy Kiều Sinh cùng cô gái dắt tay nhau đi, con hầu cầm đèn mẫu đơn đi trước dẫn đường, ai gặp phải đều ốm nặng, hết nóng lại rét. Nếu biết mà làm việc công đức, cúng rượu thịt thì có thể khỏi, bằng không thì ốm liệt giường. Dân chúng sợ hãi, đều đến quán Huyền Diệu kêu với pháp sư họ Ngụy. Ngụy pháp sư nói:

    - Bùa chú của ta chỉ trừ được khi chúng chưa tác quái. Nay đã đến thế, không biết làm sao! Nghe nói có đạo nhân Thiết Quân ở trên đỉnh núi Tứ Minh dẹp được quỷ thần, pháp thuật linh nghiệm lắm, các ngươi nên đến đó mà cầu xin.

    Mọi người bèn lên núi, vịn dây bám rễ, lội suối vượt khe. Lên đến tận núi, quả có một am cỏ, đạo nhân đang ngồi tựa kỷ, xem tiểu đồng điều khiển con hạc. Mọi người sụp lạy trước am, nói lý do phải tìm đến. Đạo nhân bảo:

    - Ta là người ở ẩn chốn rừng núi, chẳng bao lâu cũng sẽ chết, làm gì có thuật lạ? Các người quá nghe đó thôi!

    Thấy đạo nhân nghiêm nét mặt từ chối, dân chúng thôi:

    - Chúng tôi vốn không biết, đó là do pháp sư họ Ngụy ở quán Huyền Diệu chỉ giáo cho như vậy! Bấy giờ đạo nhân mới tươi nét mặt nói:

    - Ta không xuống núi đã sáu chục năm nay, tên học trò bẻm mép làm phiền ta phải ra đi rồi!

    Bèn cùng tiểu đồng xuống núi, bước đi thoăn thoắt, đến thẳng ngòai cửa tây, kết đàn phương trượng, ngồi xếp bằng ngay ngắn trên chiếu rồi vẽ bùa đem đốt. Bỗng thấy mấy thiên tướng được bùa gọi đến, áo gấm khăn vàng, giáp sắt giáo nhọn, đều cao hơn trượng, đứng sừng sững dưới đàn, khom lưng chờ lệnh. Đạo nhân ra lệnh:

    - Ở đây có tà ma gây họa, quấy nhiễu sinh dân, các người há không biết hay sao? Mau mau xua chúng đến đây!

    Mấy thiên tướng vâng lệnh đi, chốc lát đã gông cổ, cùm tay cô gái, Kiều Sinh cùng Kim Liên giải tới, rồi roi hèo tới tấp đánh xuống, máu túa dầm dề. Đạo nhân quát mắng một hồi, bắt phải cung khai. Thiên tướng lấy giấy bút đưa cho, ba người cung khai đến mấy trăm lời, nay chép đại lược như sau:

    Kiều Sinh khai:

    - Trộm nghĩ, góa vợ, cô đơn một mình tựa cửa, phạm vào lời răn chữ sắc, động tới ý muốn đa dâm; chẳng quyết đoán khi gặp rắn hai đầu như Tôn Sinh, để đến nỗi yêu con chồn chín đuôi như Trịnh Tử. Việc đã trót rồi, hối không kịp nữa.

    Cô gái họ Phù khai:

    - Trộm nghĩ, lúc lìa đời, ban ngày không bạn; sáu phách tuy rời, một hồn chưa nát. Trước đèn dưới trăng, gặp kẻ oan gia vui thú năm trăm năm về trước; trên đời, trong dân, làm câu chuyện kể phong lưu cho ngàn vạn người sau. Mê muội chẳng biết quay về tội thật không còn thể trốn.

    Kim Liên khai:

    - Trộm nghĩ, cật tre làm cốt, bôi trắng thành hình. Mồ mả chôn vùi, chẳng biết ai đem dùng làm đồ mã; tinh nhanh mặt mũi, tựa hình thể người nhưng thấp kém hơn. Đã có tên để gọi, chỉ còn thiếu tính linh; nhân đó mà được thể, đâu dám làm yêu tinh!

    Khai xong, thiên tướng cầm lên đưa trình. Đạo sĩ cầm cây bút to phê rằng:

    - Mảng nghe, Vua Vũ đúc vạc đỉnh mà dâm thần, gian quỷ chẳng kẻ nào giấu được hình; Ôn Kiều đốt sừng tê mà phủ nước cung rồng đều phải hiện ra hình trạng. Nghĩ rằng, u minh khác nẻo, ngụy trá đa đoan; người gặp phải bất lợi cho người, vật gặp phải có hại cho vật. Cho nên quỷ Đại Lịch vào trong cửa mà Tấn Cảnh Công băng, lợi yêu ma kêu ngoài đồng mà Tề Tương Công chết. Giáng họa làm yêu gieo tai gây nghiệt; cho nên, trên trời đặt ra viên tướng chém tà, dưới đất bày ra các ti phạt ác. Khiến cho, bốn loài quỷ quái không được dung thứ làm điều gian; dạ xoa, la sát chẳng được tha hồ gieo bạo ngược. Huống hồ, nay thuở thanh bình, ấy thời phẳng lặng. Thế mà, biến hóa hình hài, dựa vào cây cỏ; sớm sao xế trăng tàn, đêm gió mưa mờ tỏ, kêu trên xà mà thành tiếng, nhòm vào buồng mà vô hình; nhặng lượn, chó vờn, bê dữ, sói tham, nhanh như gió vút, nóng tựa lửa hun. Trai họ Kiều do còn tham dâm, sống đã biết đấy! Kim Liên kia thàng quái, mượn vật chôn dối càn; lừa đời hại dân, trái luật phạm pháp. Chồn cáo thong dong mà dâm đãng, cun cút bay nhanh mà bất lương, thói ác đã quá, tội lỗi không dung! Hố hãm người từ nay lấp kín, trận mê hồn từ nay mở tung; thiêu hủy cây đèn hai ngọn, áp giải tới ngục âm cung! Lời khai đầy đủ, kẻ nọ chấp hành! Cấp cấp như luật lệnh!

    Tức thì ba người khóc lóc dùng dằng, bị tướng nhà trời vừa xua vừa lôi đi. Đạo nhân phất tay áo trở lên núi. Hôm sau dân chúng lên núi tạ ơn thì không thấy đạo nhân đâu nữa, chỉ còn am cỏ mà thôi. Vội đến quán Huyền Diệu gặp pháp sư họ Ngụy để hỏi thì ông ta vừa bệnh thành câm, không nói được nữa.

  •   Chủ đề: Trại Hoa Vàng - Nguyễn Nhật Ánh - Chương 4
    thuynguyen3k, Trả lời/Số lần xem: 6/5620, , Bài viếtChuyên mục: Truyện dài   Ngày gửi: khoảng 2 10 năm trước
    Subject: Trại Hoa Vàng - Nguyễn Nhật Ánh - Chương 4
  • Chương 9: Trại Hoa Vàng
    Trưa hôm sau, vừa đi học về, tôi đã sục ngay vô bếp bới cơm ăn một mình.
    Mẹ tôi mải buôn bán nên bữa nào cũng dọn cơm trưa trờ trưa trật. Có nhiều hôm mãi đến một giờ chiều, nhà tôi mới ngồi vào bàn ăn. Nhưng bữa nay thì tôi không đợi được.
    Thấy tôi bưng chén cơm và lấy và để bên ngách cửa, mẹ tôi hỏi:
    _ Đói bụng lắm hả con?
    _ Con phải tới nhà tụi bạn ôn tập ngay bây giờ ! - Tôi nói, cặp đũa vẫn ngoáy lia lịa .
    Mẹ tôi không ngờ thỉnh thoảng tôi cũng tỏ ra siêng học đến thế . Mặt mày mẹ rạng rỡ hẳn lên và dường như cảm thấy ân hận vì trước nay đã không "đánh giá đúng" con mình, mẹ nhìn tôi âu yếm:
    _ Để mẹ đi pha nước chanh cho con uống nghen!
    Dĩ nhiên là tôi không từ chối .
    Nhỏ Châu tinh quái hơn mẹ tôi nhiều . Nhìn tôi bưng ly nước chanh nốc một hơi cạn sạch, nó nheo mắt:
    _ Anh nói thật đi! Anh chuẩn bị đi đâu vậy ?
    Tôi hừ mũi:
    _ Thì tao đã nói rồi! Tao đi ôn tập!
    Nhỏ Châu bĩu môi:
    _ Em không tin! Ai lại đi ôn tập vào giờ này!
    Nhỏ Châu cứ lẵng nhẵng làm tôi phát bực. Thực ra tôi chẳng muốn giấu giếm gì nó . Nhưng ngặt nỗi tôi chưa rõ cuộc gặp gỡ Cẩm Phô lát nữa đây sẽ diễn biến theo chiều hướng nào . Nếu Cẩm Phô chịu làm hòa với tôi thì không sao . Ngược lại, nếu vừa trông thấy mặt tôi, Cẩm Phô đã mắng tôi sa sả như mẹ mắng con thì tôi không biết phải "tường thuật" lại với nhỏ Châu như thế nào . Vì vậy, tôi cứ chối quanh:
    _ Tao đi ôn tập thật mà !
    _ Anh ôn tập ở đâu ?
    Tôi liếm môi:
    _ Ở nhà Phú ghẻ.
    Nhỏ Châu gật gù :
    _ Vậy lát nữa em ghé nhà anh Phú xem anh có ở đó thật không?
    Giọng điệu đe dọa của nhỏ Châu khiến tôi giật thót và tự dưng tôi đâm ra giận ba mẹ tôi kinh khủng. Không hiểu sao họ lại sinh cho tôi một đứa em gái ranh mãnh quá chừng. Nghe nó "hù", tôi hết ham nói dóc.
    _ Mày đừng tới nhà Phú ghẻ mất công! - Tôi thở dài - Tao không có ở đó đâu!
    Nhỏ Châu cười toe:
    _ Vậy chứ anh đi đâu ?
    Tôi tặc lưỡi:
    _ Bây giờ tao chưa thể nói được! Lát chiều, tao sẽ kể cho mày nghe!
    Nghe tôi hứa hẹn, nhỏ Châu không buồn "làm khổ" tôi nữa . Khi tôi phóc lên chiếc Huy Chương Vàng, nó chỉ gọi với theo:
    _ Nói phải giữ lời à nghen!
    Tôi đạp đến chân cầu đúng mười hai giờ hai mươi phút. Liếc đồng hồ trên tay, tôi thở một hơi dài nhẹ nhõm và đủng đỉnh dắt xe vào quán.
    Buổi trưa, quán vắng tanh. Những tán lá lim dim mơ ngủ , chốc chốc lại rung lên xào xạc khi có một làn gió từ dưới sông thổi lên. Tôi lựa một chiếc bàn ở góc vườn, kế gốc xoài . Đó là một vị trí kín đáo, khó bị phát hiện, đồng thời ngồi ở đó tôi có thể quan sát được những người vào quán. Hễ Cẩm Phô tới là tôi biết ngay .
    Bàn là một khúc gỗ cưa ngang, còn nguyên cả lớp vỏ xù xì , gai nhám. Bốn chiếc ghế mây kê chung quanh theo hình vòng tròn. Sau một hồi ngắm tới ngắm lui, tôi cảm thấy vị trí của bốn chiếc ghế có điều không ổn. Cứ theo cái kiểu "bố trí" này thì dù ngồi vào chiếc ghế nào, Cẩm Phô vẫn cách xa tôi gần cả thước.
    Sau khi kêu hai ly chè đậu đỏ bánh lọt, tôi thò tay kéo chiếc ghế bên cạnh lại gần. Để cho tự nhiên, hai chiếc ghế kia tôi cũng kê sát rạt như vậy và đặt chúng ở phía bên kia chiếc bàn gỗ . Thoạt nhìn vào, khó có ai có thể đoán ra hành động mờ ám của tôi . Chắc chắn Cẩm Phô sẽ tưởng những chiếc ghế đã được sắp xếp như vậy từ thời khai thiên lập địa .
    Vẫn cảm thấy chưa chắc ăn, tôi liền nhặt nhạnh thêm một mớ lá khô và vứt đầy lên hai chiếc ghế đối diện. Một tiểu thư khuê các như Cẩm Phô chắc sẽ không bao giờ chịu ngồi lên những chiếc ghế vương vãi "rác rến" như vậy . Và nếu đảo mắt nhìn quanh, nó sẽ thấy chỉ có chiếc ghế xếp cạnh tôi là sạch sẽ và hợp vệ sinh nhất. Cẩm Phô sẽ ngồi vào đó - như mẹ tôi vẫn ngồi bên ba tôi - bởi xét cho cùng, nó không thể ngồi trên bàn hay ngồi dưới đất được.
    Mải loay hoay bày mưu tính kế xếp ghế kê bàn, tôi quên phắt mất cái chuyện nhìn ra cổng. Vì vậy, Cẩm Phô tới lúc nào tôi chẳng hay .
    Đang lui cui phủi bụi trên chiếc ghế "cò mồi", tôi bỗng giật bắn người khi nghe tiếng Cẩm Phô vang lên bên tai:
    _ Anh đang làm gì vậy ?
    Tôi ngẩng đầu lên, thấy Cẩm Phô đã đứng sát rạt trước mặt. Đôi mắt nó nhìn tôi chăm chăm như thể đọc thấu hết những ý nghĩ "hắc ám" trong đầu tôi . Quai hàm tôi bỗng chốc cứng đơ:
    _ Ơ ơ tôi có làm gì đâu .
    Tôi ấp úng đáp và nghe mặt mày nóng ran, hệt như một tên trộm đang lom khom chui vách bỗng bị chủ nhà túm lưng quần kéo lại .
    Điệu bộ lóng ngóng của tôi có lẽ khiến Cẩm Phô thương hại . Nó không thèm hỏi tới mà lặng lẽ buông mình lên chiếc ghế ngổn ngang xác lá .
    Trong một thoáng, tim tôi như thắt lại . Cẩm Phô ngồi lên đống lá khô mà tôi tưởng như nó ngồi lên.trái tim bé bỏng của tôi . Tôi nghe tiếng lá vỡ rào rạo, tưởng xương sường trong lồng ngực mình đang gãy rời từng khúc. Công trình sắp xếp của tôi nãy giờ thế là hỏng bét! Cẩm Phô thà mang tiếng "ở dơ" chứ nhất quyết không chịu ngồi gần tôi, chứng tỏ nó còn thù tôi ghê lắm.
    Tôi lấm lét nhìn nó .
    _ Cẩm Phô ăn chè đi!
    Cẩm Phô ngồi quay ra sông nên tôi chỉ nhìn thấy có nửa mặt. Nửa mặt đó nói, giọng đượm vẻ lạnh lùng.
    _ Anh mời Cẩm Phô ra đây chỉ để ăn chè thôi hả ?
    Tôi không hiểu câu nói của Cẩm Phô có ý gì , đành cười cầu tài:
    _ Thì trước là ăn chè , sau là làxin lỗi Cẩm Phô cái chuyện hôm nọ.
    _ Chuyện hôm nọ là chuyện gì ?
    Câu hỏi oái oăm của Cẩm Phô khiến tôi cắn chặt môi . Con nhỏ này xưa nay vẫn hiền lành, tử tế với tôi sao hôm nay lại ăn nói móc họng hệt con Liên móm vậy không biết! Hay là trước khi đến đây, nó đã được Liên móm chỉ cách "trị" tôi ? Ý nghĩa đó làm tôi chột dạ . Ngắc ngứ một hồi, tôi mới mở miệng lắp bắp:
    _ Thì chuyện "ông nội ông ngoại" đó .
    _ Chuyện đó có gì để nói ?
    Cẩm Phô hờ hững buông từng tiếng, mặt vẫn quay ra sông.
    Tôi nhăn nhó :
    _ Bữa đó tôi đâu có nói động gì đến ông nội của Cẩm Phô .
    Cẩm Phô hừ giọng:
    _ Cẩm Phô nghe anh Phú nói rõ ràng!
    Tôi đoán quả không lầm. Phú ghẻ đích thực là một tên hại bạn. Trong một phút tôi nghe đầu mình nóng lên:
    - Cái thằng ghẻ ngứa đó...
    Đang gân cổ , sực nhớ trước mặt mình là Cẩm Phô chứ không phải Phú ghẻ , tôi liền hạ giọng:
    _ Cẩm Phô đừng nghe lời thằng đó ! Nó nói bậy đó !
    Rồi sợ Cẩm Phô không tin, tôi đành thở một hơi dài và dở cười dở mếu nhắc lại nguyên văn câu nói của tôi bữa trước.
    Nghe xong lời "tường thuật" của tôi, Cẩm Phô không nói gì . Nó chỉ cúi đầu nhìn xuống đất. Tôi ngắm mái tóc óng ả của nó , bụng hồi hộp không thể tả . Tôi cố đoán xem nó đang nghĩ gì về lời tuyên bố "hách xì xằng" của tôi hôm nọ nhưng không tài nào đoán nổi, chỉ thấy khuôn mặt đang cúi thấp của nó dường như đã bớt vẻ lạnh lùng, thay vào đó là nét buồn buồn khiến tôi xốn xang trong dạ .
    Mãi một lúc lâu, không dằn nổi, tôi ngập ngừng hỏi:
    _ Bộ Cẩm Phô giận tôi hả ?
    _ Cẩm Phô có giận gì đâu! Cẩm Phô chỉ bị bất ngờ thôi!
    Tôi liếm môi:
    _ Bất ngờ chuyện gì ?
    _ Cẩm Phô đâu có biết chuyện tặng hoa cho Cẩm Phô đối với anh lại khó khăn như vậy! - Giọng Cẩm Phô đầy hờn mát.
    Tôi hốt hoảng:
    _ Không phải đâu! Tại bữa đó đông người quá !
    _ Đông người thì sao ?
    _ Tôi sợ tụi nó cười .
    Cẩm Phô khẽ liếc tôi và bỗng buột miệng bâng quơ:
    _ Nhưng bữa nay đâu có ai!
    Phải mất đến ba mươi giây tôi mới hiểu Cẩm Phô nói câu đó là nhằm ý gì .
    _ Được rồi! - Tôi xô ghế đứng dậy - Nếu Cẩm Phô muốn, tôi sẽ chạy về nhà hái hoa đem tới cho Cẩm Phô ngay bây giờ !
    Nhìn thái độ hùng hổ như sắp nhảy vào lửa của tôi, Cẩm Phô mỉm cười:
    _ Cẩm Phô chỉ nói đùa thôi! Đến giờ Cẩm Phô phải về rồi!
    Cẩm Phô làm tôi chưng hửng:
    _ Sao Cẩm Phô về sớm vậy ?
    _ Cẩm Phô chỉ xin phép đi được chút xíu thôi .
    Tôi nhìn xuống ly chè còn nguyên trên bàn:
    _ Còn ly chè ?
    Cẩm Phô đứng lên:
    _ Bữa nay Cẩm Phô đến đây là để gặp anh chứ đâu phải để ăn chè !
    Rồi như sợ tôi buồn, trước khi quay lưng bỏ đi, nó còn nhẹ nhàng hứa hẹn:
    _ Ăn chè để lúc khác!
    Cẩm Phô đột ngột cáo từ khiến tôi không kịp nói thêm một câu, chỉ đực mặt nhìn nó yểu điệu quay gót. Mãi đến khi tà áo của nó sắp biến mất sau cánh cổng rào, tôi mới sực tỉnh và lật đật kêu lớn:
    _ Lúc khác là lúc nào ?
    _ Lúc nào anh mời Cẩm Phô!
    Câu trả lời vọng lại từ sau dãy hàng rào xanh um. Tiếp đó là tiếng bánh xe lăn mỗi lúc một xa dần, chấm dứt cuộc hẹn hò mà không có từ ngữ nào diễn tả chính xác hơn từ : "cụt ngủn"!
    Cẩm Phô bỏ đi đã mười lăm phút, tôi vẫn chưa nhúc nhích. Tôi thẫn thờ đưa mắt nhìn mặt sông loáng nắng, lòng không rõ buồn vui . Cuộc gặp gỡ diễn ra chóng vánh ngoài dự liệu . Cẩm Phô thoạt đến thoạt đi như một cơn gió thoảng. Nó bỏ tôi ngồi một mình giữa trưa nắng quạnh hiu .
    Suốt đêm hôm qua tôi nằm day trở trên giường, đầu nghĩ ra bao nhiêu là lời hay ý đẹp, vậy mà bữa nay rốt cuộc tôi đã không thốt được câu nào ra hồn. Sự xuất hiện đột ngột của Cẩm Phô đã khiến tôi lính quýnh ngay từ lúc chưa bắt đầu câu chuyện. Và tôi đã để nó quay tôi như quay dế . Đến khi nó nằng nặc đòi về , tôi cũng chẳng biết cách giữ chân. Tôi bỏ tiền túi ra mua chè đãi nó , nó không thèm ăn, tôi cũng đành giương mắt ngó .
    Nghĩ đến đây, tôi phát giác "giương mắt ngó" ly chè Cẩm Phô để lại . Chè bà Thường ngon nổi tiếng, tôi đã "giải quyết" xong một ly rồi mà nhìn đến ly thứ hai tôi vẫn cảm thấy thòm thèm.
    Nhìn quanh quất không thấy ai, tôi thò tay với lấy ly chè kém ngọt. Tôi múc một muỗng cho vào miệng và lại nghĩ đến Cẩm Phô : "Con nhỏ này ngu quá chừng! Chè ngon vậy mà chê!".
    Ăn giùm chè cho Cẩm Phô xong, tôi chậm rãi dắt xe ra khỏi cổng. Nhưng tôi không dám về nhà ngay . Về nhà lúc này, chắc chắn tôi sẽ đụng đầu nhỏ Châu ngay ở cửa . Ai chứ nó dám bỏ cả ngủ trưa để thức đợi tôi . Nếu biết tôi đi "hò hẹn" với "chị hai" nó và bị "chị hai" nó bỏ rơi trong quán bà Thường như mẹ bỏ rơi con, chắc nó sẽ cười tôi ba ngày ba đêm chưa hết.
    Tôi trực chỉ tới nhà Phú ghẻ . Khi đi ngang qua tiệm thuốc tây Hồng Phát, tôi cố không nhìn ngang nhìn ngửa nhưng mặt mày vẫn nóng bừng.
    Tôi vừa đẩy xe vào, đã thấy Phú ghẻ ngồi trong nhà ngó ra, miệng cười toe toét. Điệu bộ của nó ý như thể nó đã ngồi chờ tôi đâu từ tuần trước.
    _ Sao rồi ? - Tôi vừa bước qua khỏi cửa, Phú ghẻ đã nháy mắt hỏi .
    Tôi ngồi phịch xuống ghế :
    _ Rót cho tao ly nước!
    Phú ghẻ rót nước, mắt vẫn nhìn tôi lom lom.
    _ Mở cho tao cái quạt! - Tôi lại nói .
    -  có "bồ" rồi làm "cha" thiên hạ hả ?
    Mặc dù nói vậy nhưng Phú ghẻ vẫn bước lại góc nhà mở quạt.
    Tôi uống một hơi hết ly nước rồi thở ra:
    _ Mệt quá !
    Phú ghẻ khịt mũi:
    _ Hôn nhiều quá mệt chứ gì ?
    _ Hôn cái đầu mày!
    Phú ghẻ nhăn nhở :
    _ Cái đầu Cẩm Phô chứ !
    Phú ghẻ lại giở mửng cũ . Nhưng lần này tôi không buồn nhếch mép trước sự pha trò của nó . Tôi lại thở ra:
    _ Hỏng bét!
    _ Hỏng cái khỉ mốc! Mày đừng làm bộ ! Tao thấy Cẩm Phô mới chạy xe về rõ ràng!
    _ Thì vậy!
    Phú ghẻ hừ mũi:
    _ Tụi mày một đứa về trước một đứa về sau cho thiên hạ khỏi để ý chứ gì !
    Tôi buồn bã lắc đầu:
    _ Nó bỏ tao nó về trước!
    _ Xạo đi! Phú ghẻ tỏ vẻ không tin.
    Tôi nhún vai:
    _ Đứa nào xạo làm con!
    Đến đây thì Phú ghẻ biết tôi không đùa . Nó chớp mắt.
    _ Sao kỳ vậy ?
    Tôi lắc đầu:
    _ Tao cũng không biết!
    Phú ghẻ ngẫm nghĩ một hồi rồi chép miệng:
    _ Chắc nó còn giận mày .
    Tôi tủi thân:
    _ Tao kêu chè cho nó , nó cũng không thèm ăn!
    Phú ghẻ vò đầu:
    _ Vậy là nguy to rồi! Không thèm đụng đến bất cứ thứ gì của mày chứng tỏ nó thù mày ghê gớm!
    _ Ừ , - tôi bùi ngùi - Nó bảo nó đến quán bà Thường là để gặp tao chứ không phải để ăn chè !
    _ Như vậy là nó hận mày ghi xương khắc cốt! - Phú ghẻ tiếp tục bình luận.
    Thấy có người quan tâm chia sẻ , tôi càng ai oán kể lể :
    _ Nó bảo muốn ăn chè thì để lúc khác!
    _ Lúc khác là lúc nào ? - Phú ghẻ ngạc nhiên. Nó hỏi tôi hệt như khi nãy tôi hỏi Cẩm Phô .
    _ Lúc nào tao mời nó ! - Tôi đáp.
    _ Trời đất! - Phú ghẻ kêu lên - Như vậy là nó "thương" mày chứ đâu phải "thù" mày!
    Tới phiên tôi há hốc miệng:
    _ Thương tao ?
    _ Chứ còn gì nữa! Nó nói vậy khác nào nó bảo mày muốn gặp nó lúc nào thì gặp! Hễ mày "mời" là nó tới ngay tức khắc!
    Phú ghẻ đúng là thông minh hơn tôi gấp bội . Hèn gì năm nào nó cũng đạt học sinh giỏi . Nó chỉ cần phán một câu, tự nhiên tôi thấy đầu óc sáng láng hẳn ra . Nỗi buồn đeo đẳng tôi từ nãy đến giờ bỗng dưng biến mất không còn một dấu vết. Càng ngẫm nghĩ tôi càng nhận ra tôi quả là "thằng đầu bò". Con gái không giống như con trai . Con trai giận là giận, thương là thương. Con gái đỏng đảnh và khó hiểu hơn nhiều . Cẩm Phô giống như trái dưa hấu, xanh vỏ đỏ lòng. Nó ngầm "tạo điều kiện" cho tôi mà tôi chẳng hay biết tí ti ông cụ nào . Nếu không nhờ Phú ghẻ , tôi sẽ tưởng Cẩm phô muôn đời chỉ là trái dưa xanh. Ngu ơi là ngu!
    Tôi hí hửng bảo Phú ghẻ :
    _ Vậy mày "mời" nó giùm tao đi!
    _ Tao ?
    _ Chứ còn ai!
    Phú ghẻ hơi nhăn mặt nhưng rồi tính tới tính lui, nó thấy ngoài nó ra không còn ai đủ "tư cách" để làm chuyện đó , bèn chép miệng:
    _ Chừng nào ?
    Tôi hăm hở :
    _ Ngay ngày mai!
    Phú ghẻ giật mình:
    _ Mày khùng hả ? Mới gặp đây mà !
    _ Thì mai gặp nữa! - Tôi cười hì hì - Tao nhớ nó quá !
    Phú ghẻ chìa cùi chỏ :
    _ Nhớ cái này nè !
    Giao "nhiệm vụ" cho Phú ghẻ xong, tôi hớn hở đạp xe về nhà . Quả như tôi dự đoán, nhỏ Châu ngồi ngay trước hàng hiên, chong mắt ngó ra .
    _ Mày phụ bán với mẹ hả ? - Tôi giả vờ hỏi .
    _ Em đợi anh!
    _ Đợi tao chi ?
    Tôi vừa hỏi vừa dắt xe vào nhà . Nhỏ Châu đứng dậy đi theo:
    _ Anh đi đâu về đó ?
    Tôi thản nhiên:
    _ Tao đi gặp chị hai mày!
    _ Gặp ở đâu ? - Giọng nhỏ Châu tò mò .
    Tôi nhún vai:
    _ Chỗ này bí mật lắm! Mày con nít hỏi làm chi!
    Nhỏ Châu "xí" một tiếng:
    _ Ở quán chè bà Thường chứ đâu mà bí mật!
    Đang đi, tôi bỗng đứng sững lại:
    _ Sao mày biết? Bộ khi nãy mày len lén theo dõi tao hả ?
    Nhỏ Châu bĩu môi:
    _ Em thèm vào theo dõi!
    _ Chứ sao mày biết tao hẹn với Cẩm Phô ở quán bà Thường? - Tôi nhìn nhỏ Châu, giọng nghi ngờ .
    Nhỏ Châu hất mặt ra vẻ hiểu biết:
    _ Cả thị trấn này ai hẹn nhau mà không dẫn vô đó !
    Tôi thót bụng:
    _ Ai bảo mày vậy ?
    _ Cần gì ai bảo! Lần nào vô đó ăn chè với mấy đứa bạn, em cũng thấy người ta ngồi từng cặp từng cặp!
    Hoá ra là vậy! Nhỏ Châu làm tôi hết hồn. Nếu khi nãy nó len lén theo tôi, chắc nó đã chứng kiến rõ mồn một cái trò lượm lá rải lên ghế của tôi như cái cảnh tôi ngồi xơi một lúc hai ly chè cho vơi cơn ấm ức. Và bây giờ nó sẽ tha hồ chế nhạo và tôi sẽ hết đường đón đỡ . Thật là may! Tôi thở phào nhủ bụng.
    _ Em nói đúng không? - Nhỏ Châu lắc lắc tay tôi .
    Tôi không đáp mà lặng lẽ dựng xe vô góc nhà rồi cầm tay nó kéo tuốt ra sau vườn, thì thầm:
    _ Mày nói nho nhỏ thôi! Ba mẹ mà nghe thấy là tao với mày nhừ đòn!
    _ Ba đi rồi! - Nhỏ Châu trấn an tôi .
    Tôi liếm môi:
    _ Ổng quay về mấy hồi!
    Nghe tôi hù , Nhỏ Châu khẽ liếc vào trong nhà rồi hạ giọng:
    _ Anh gặp chị Cẩm Phô chi vậy ?
    _ Mày ngu quá ! Yêu nhau thì gặp nhau chứ chi! Ai yêu mà chẳng vậy!
    Nhỏ Châu chớp mắt:
    _ Anh rủ chỉ vô đó hả ?
    _ Nó rủ tao!
    _ Xạo đi!
    _ Tao xạo mày làm chi! Nó bảo nó nhớ tao quá , nó muốn nhìn thấy mặt tao!
    Nhỏ Châu cười hích hích:
    _ Phịa ơi là phịa! Anh với chỉ học chung trường, ngày nào mà chả thấy mặt!
    Tôi hừ giọng:
    _ Gặp trên trường thì ăn nhằm gì ! Phải gặp riêng thì mớicó giá trị !
    Nhỏ Châu nói, chẳng hiểu nó không biết thật hay nó giả vờ :
    _ Gặp chung hay gặp riêng gì cũng vậy thôi! Em chẳng thấy có gì khác!
    Tôi nổi khùng:
    _ Mày mà biết cóc khô gì ! Khi nào mày lớn bằng tao rồi mày mới thấy khác!
    Nhỏ Châu cúi đầu ngẫm nghĩ một hồi rồi lại hỏi:
    _ Khi nãy chỉ nói gì với anh vậy ?
    Tôi ưỡn ngực:
    _ Thì nó nói nó nhớ tao muốn chết!
    Tôi vừa nói vừa nhìn lom lom vào mặt nhỏ Châu xem nó có cười mím chi không. Nhưng lần này, nhỏ Châu có vẻ tin tôi thật. Nó không cười, mà tò mò hỏi tiếp:
    _ Rồi anh nói sao ?
    _ Tao hả ? Tao cũng nói y như vậy . Tao bảo tao cũng nhớ nó muốn chết.
    Nhỏ Châu liếm môi:
    _ Rồi sao nữa ?
    _ Sao là sao ?
    _ Sau đó anh với chị Cẩm Phô nói với nhau những gì nữa ?
    Tôi nhíu mày:
    _ Sau đó hả ? Sau đó tụi tao không nói gì nữa . Tụi tao ăn chè .
    Nhỏ Châu nuốt nước bọt:
    _ Mỗi người ăn mấy ly ?
    _ Mỗi ngườ ăn một ly! - Tôi tặc lưỡi - Nói đúng ra thì chỉ có mình Cẩm Phô ăn. Tao nhường cho nó luôn ly của tao .
    _ Làm gì có chuyện đó ! - Nhỏ Châu cười khúc khích - Ai chẳng biết anh là chúa giành ăn!
    Bị chạm tự ái, tôi nổi nóng:
    _ Mày ngu quá ! Tao chỉ giành ăn với mày thôi! Còn Cẩm Phô thì khác!
    Thoạt đầu, nhỏ Châu ngoác miệng định cãi . Nhưng rồi sợ tôi át giọng "khi nào lớn bằng tao mày mới thấy khác", nó phớt lờ và "phỏng vấn" tiếp:
    _ Ăn chè xong rồi anh làm gì nữa ?
    Tôi khịt mũi:
    _ Thì trả tiền rồi về chớ làm gì !
    Câu trả lời của tôi khiến nhỏ Châu ngơ ngác:
    _ Chỉ vậy thôi ?
    Vẻ thất vọng của nó khiến tôi chột dạ . Ừ , chẳng lẽ cuộc hẹn hò giữa một cặp "tình nhân"nhớ nhau "muốn chết" mà chỉ gói gọn trong hai ly chè và từ đầu đến cuối mỗi người chỉ nói được có một câu ? Tôi hít một hơi đầy lồng ngực và lật đật "bổ sung":
    _ Không, không phải chỉ có vậy! Trước khi ra về , chị hai mày còn nói với tao một câu vô cùng tình tứ . Nó bảo bất cứ lúc nào tao rủ nó đi ăn chè , nó cũng sẵn sàng đi ngay!
    _ Tình tứ gì đâu! - Nhỏ Châu trề môi - Như vậy là chỉ thích ăn chè chứ đâu phải thích anh!
    Bình luận xong một câu ác nhơn, nhỏ Châu quay mình chạy tọt vô nhà khiến tôi chỉ biết hậm hực trợn mắt nhìn theo .

  •   Chủ đề: Trại Hoa Vàng - Nguyễn Nhật Ánh - Chương 4
    thuynguyen3k, Trả lời/Số lần xem: 6/5620, , Bài viếtChuyên mục: Truyện dài   Ngày gửi: khoảng 2 10 năm trước
    Subject: Trại Hoa Vàng - Nguyễn Nhật Ánh - Chương 4
  • Chương 8: Trại Hoa Vàng
    Tôi thẩn thờ suốt mấy ngày liền. Bức thư (đúng là mẩu giấy) của Cẩm Phô khiến tay chân tôi xụi lơ, cất lên không muốn nổi . Những dự định đẹp đẽ của tôi thế là bỗng chốc tiêu ma hết. Tình yêu chưa kịp trổ hoa, hận thù đã vội vàng kết trái, kiếp này chắc tôi hết mong sờ được ngón chân út của Tiên Dung.
    Tôi thẫn thờ không chỉ vì buồn mà còn vì cay đắng nữa . Oan cho tôi đúng là oan thấu trời xanh. Trước nỗi oan của tôi, sự khuất tất của Thị Kính ngày xưa chỉ đáng xếp hạng nhì. Ba mẹ Cẩm Phô đi ngang tôi còn không dám ngó , huống chi ba mẹ của ba mẹ nó. Ông nội Cẩm Phô cao hay thấp, béo hay gầy, còn sống hay đã "đi bán muối" tôi còn không biết, tôi "cà khịa" ổng làm chi . Vả lại đang "yêu" Cẩm Phô, tôi ngu gì đi "chửi" ông nội nó ! Đầu đuôi câu chuyện chắc cũng tại Phú ghẻ. Nghĩ tới thằng bạn ghẻ ngứa này, ngực tôi muốn sôi lên. Chắc chắn là trong khi giở thói "mách lẻo", nó ăn nói thiếu trước hụt sau đó , Cẩm Phô mới nghe gà ra vịt mà giận tôi như thế.

    Sáng hôm sau, vừa thấy mặt nó, tôi hầm hầm :

    - Phú ghẻ !

    - Dạ , có em.

    Thấy nó rụt cổ pha trò, tôi muốn lộn tiết :

    - Bữa nay tao không giỡn với mày !

    Phú ghẻ giở giọng cù nhầy :

    - Nhưng tao thì tao khoái giỡn!

    - Kệ mày ! - Tôi nghiến răng trèo trẹo - Bây giờ mày hãy nói cho tao biết mày đã nói với Cẩm Phô những gì !

    - Tao nói tao yêu nó.

    - Yêu cái đầu mày ! - Tôi gầm gừ.

    Phú ghẻ lắc đầu :

    - Không, tao yêu cái đầu của Cẩm Phô kìa !

    Trước nay, bao giờ thằng ghẻ ngứa này pha trò, tôi cũng không nhịn được cười . Lần này cũng vậy, dù cố nén, cuối cùng tôi phải phì cười .

    Phú ghẻ nghiêng đầu ngó tôi và chép miệng :

    - Khi mày cười trông mày đẹp trai hơn khi mày giận !

    - Nhưng lúc này tao không cười nổi ! - Tôi thở dài móc "bức thư tình" trong túi ra đưa cho Phú ghẻ - Mày coi đây nè !

    Phú ghẻ đọc bức thư, nhíu mày :

    - Sao lạ vậy cà ?

    - Lạ cái khỉ mốc ! - Tôi hậm hực - Mày ton hót những gì với nó vậy ?

    Phú ghẻ chớp mắt :

    - Tao có ton hót gì đâu ! Tao chỉ nói lại những gì mày nói !

    - Nhưng bữa đó tao đâu có "động chạm" gì đến ông nội nó ! - Tôi nói, giọng tức tối .

    - Thì tao cũng đâu có nói gì ! - Phú ghẻ gãi đầu - Chắc tại Cẩm Phô nghe lộn đó thôi !

    Tôi nhủ bụng: Lộn kiểu gì mà lộn ác nhơn vậy không biết ! Rồi nghĩ đến tình cảnh của mình hiện tại, bất giác tôi buông một tiếng thở dài não nuột. Thấy vậy, Phú ghẻ động lòng :

    - Để tao gặp Cẩm Phô tao thanh minh !

    - Khỏi ! - Tôi cộc lốc.

    - Sao lại khỏi ? Phải nói cho nó biết chứ !

    - Tự tao sẽ làm việc đó !

    Tôi gằn từng tiếng như dao chém đá. Phú ghẻ há hốc mồm :

    - Mày ?

    Mặc cho Phú ghẻ giương mắt ếch, tôi làm thinh không thèm đáp. Thực ra tôi chẳng phải "anh hùng" gì. Sở dĩ tôi quyết định nói chuyện trực tiếp với Cẩm Phô chẳng qua tôi sợ cái thói bộp chộp, nói năng không đến đầu đến đũa của Phú ghẻ làm hỏng chuyện. Nó làm hại tôi một lần rồi, tôi nhất định không để nó hại tôi lần thứ hai .

    Phú ghẻ vẫn nhìn tôi lom lom :

    - Mày định gặp nó ở đâu ?

    - Ở nhà mày chứ ở đâu !

    - Ấy chết, không được đâu ! - Phú ghẻ giãy nảy - Hai đứa mày "hẹn hò" ở nhà tao, ông già nó qua đốt nhà tao liền !

    Tôi tỉnh khô :

    - Đốt nhà mày chứ đâu phải đốt nhà tao ! Mày bép xép thì mày ráng chịu chứ !

    Mặt Phú ghẻ méo xẹo :

    - Thôi mà, Chuẩn !

    Tôi khăng khăng :

    - Không "thôi" gì hết !

    Trước quyết tâm sắt đá của tôi, Phú ghẻ biết phản đối cũng chẳng ăn thua gì. Nó tìm cách khác :

    - Nhà tao nhỏ xíu à !

    Tôi nhún vai :

    - Lớn nhỏ ăn nhằm gì !

    - Lại nóng nữa !

    - Nóng thì mở quạt.

    Phú ghẻ khịt mũi :

    - Mấy đứa em tao nó đái khai rình !

    Lần này, Phú ghẻ đưa ra lý do quá xá nặng ký. Tôi hết dám thờ ơ . Phú ghẻ khác tôi . Tôi chỉ có một đứa em gái . Trong khi nó có cả một bầy em lúc nhúc. Hai đứa út sinh đôi, chưa tới hai tuổi, chuyên môn tè bậy khắp nhà. Trò chuyện với Cẩm Phô trong bầu không khí thoang thoảng đó chắc chắn câu chuyện sẽ mất hết vẻ trữ tình. Người ta không thể vừa nói về nỗi thổn thức của trái tim vừa đưa tay bịt mũi .

    Thấy tôi ngồi im không chịu nói câu "khai rình thì ăn nhằm gì", Phú ghẻ mừng lắm. Nó vỗ vai tôi :

    - Mày đừng lo ! Tao sẽ chỉ cho mày một điểm hẹn cực kỳ thơ mộng !

    - Dóc đi !

    - Tao thèm vào nói dóc ! Mày biết quán chè bà Thường không ?

    Vừa nghe Phú ghẻ nhắc đến quán chè bà Thường, tôi bỗng buột miệng "à" một tiếng và nghe lòng nhẹ nhõm hẳn đi .

    Quán chè ba Thường nằm dưới chân cầu, sát bên bờ sông phía nam thị trấn. Những chiếc ghế mây kê rải rác trong vườn, dưới những tán cây xanh um tỏa bóng, cộng với làn gió mát từ dưới mặt sông thổi lên, tất cả dường như giúp cho chè bà Thường ngon lên gấp bội . Giữa khung cảnh hữu tình đó mà "trao đổi" với Cẩm Phô về đề tài "ông nội ông ngoại" thì thật hết ý. Gió sông sẽ nhanh chóng làm dịu đi cơn giận trong lòng nó. Chè ngon sẽ khiến nó mải ăn và không còn thì giờ rảnh để "lên án" tôi . Tôi sẽ mặc sức thanh minh, tha hồ giải thích, nói gì mà nó chẳng gật !

    Dòm mặt tôi, Phú ghẻ biết ngay tôi đang nghĩ gì. Nó cười toe:

    - Vậy là mày đồng ý rồi hén ?

    - Ừ ! Tôi ngập ngừng - Nhưng đó mới chỉ là chuyện địa điểm.

    - Thì tụi mình đang bàn về địa điểm mà !

    Tôi nhăn mặt :

    - Nhưng quan trọng là làm sao rủ được Cẩm Phô tới đó.

    - Trời đất ! - Phú ghẻ kêu lên - Đó là chuyện của mày chứ đâu phải chuyện của tao ! Mày đòi trực tiếp gặp nó mà !

    Tôi xuống nước :

    - Thì là trực tiếp ! Nhưng vẫn phải "thông qua" mày ! Mày nhắn với nó giùm tao một tiếng !

    Được tôi tâng bốc, Phú ghẻ sướng rơn. Nhưng nó vẫn làm bộ :

    - Chà, gay đấy !

    Tôi liền hạ mình sát đất :

    - Nếu mày không ra tay chắc tao chết !

    Phú ghẻ phổng mũi :

    - Thôi được rồi ! Tao sẽ nhắn !

    Bộ tịch của Phú ghẻ trông ngứa mắt không chịu được. Chính nó là đứa đầu tiên "ghép đôi" tôi với Cẩm Phô . Từ đầu tới cuối, nó toàn "bàn vô". Nó còn hứa sẽ hỗ trợ tôi đến cùng. Vậy mà bây giờ tôi nhờ nó , nó lại làm bộ õng ẹo . Mà cái chuyện "ông nội ông ngoại" rối rắm này do nó gây ra chứ ai ! Nhìn nó nhơn nhơn, tôi rủa thầm : "Đồ ghẻ ngứa". Phú ghẻ không biết tôi đang chửi nó. Nó cười hề hề, động viên tôi :

    - Mày yên chí đi ! Ngày mai thế nào tao cũng có tin vui cho mày !

    Trong khi chờ "tin vui", lòng tôi chẳng vui tí ti nào . Tôi cứ sợ Cẩm Phô sẽ từ chối lời hẹn hò của tôi . Nó sẽ bảo tôi là đồ mặt dày, đồ mặt mốc, mới chửi ông nội người ta bây giờ lại cả gan rủ người ta đi chơi . Nếu vậy, chắc tôi không còn mặt mũi nào mời nó giữ chức "chị hai nhỏ Châu". Tôi cũng không dám cỡi chiếc Huy Chương Vàng lượn ngang tiệm thuốc tây Hồng Phát. Tôi sẽ lầm lũi đến trường, lầm lũi về nhà và suốt ngày đánh bạn cùng hoa cỏ trong vườn, chẳng cất bước đi đâu .

    Qua ngày hôm sau, đang "lầm lũi đến trường", chợt thấy Phú ghẻ chặn phía trước, tôi liền hối hả rượt theo, miệng rối rít :

    - Phú ghẻ ! Phú ghẻ !

    Phú ghẻ quay lại và khi nhận ra tôi nó chậm rãi lắc đầu .

    Thế là hỏng ! Nó bảo hôm nay nó sẽ báo tin vui cho tôi, nhưng chẳng ai báo tin vui bằng cách lắc đầu . Tôi hỏi và nghe trái tim chùng xuống :

    - Cẩm Phô nói sao ?

    - Nó không nói gì hết !

    "Tin vui" của Phú ghẻ khiến tôi cắn chặt môi . Nhưng tôi chưa kịp thổn thức thì nó đã thản nhiên bổ sung :

    - Tao chưa gặp Cẩm Phô ! - Dẹp mày đi ! Đồ ghẻ ngứa ! - Tôi phát khùng, không thèm chửi thầm như mọi lần nữa .

    Phú ghẻ nhăn răng cười :

    - Suốt buổi chiều hôm qua, tao chẳng thấy nó đâu . Tối, thấy nó đứng trong nhà nhìn ra nhưng tao chẳng dám vào !

    Tôi tặc lưỡi :

    - Mày sợ "thần giữ cửa" hả ?

    - Hai bên hai đống thù lù ai mà không sợ ! Nhưng mày đừng sốt ruột, bây giờ đến tối thế nào tao cũng gặp nó !

    Phú ghẻ trấn an tôi . Nhưng rồi suốt năm ngày liên tiếp, ngày nào nó cũng báo "tin vui" cho tôi bằng một cái lắc đầu . Ngày thứ năm, kèm theo cái lắc đầu quen thuộc là lời than vãn :

    - Lúc bình thường, đi ra đi vô cứ đụng đầu nó hoài, đến khi cần kíp lại cóc thấy nó đâu !

    Dường như lời than thống thiết của Phú ghẻ thấu đến tai Cẩm Phô hay sao mà nó mới than buổi sáng, buổi chiều Cẩm Phô đã chường mặt ra cho nó gặp liền.

    Và tối đó Phú ghẻ tức tốc ghé nhà tôi, không đợi đến lúc lên trường.

    - Đi đâu vậy mày ? - Thấy nó lù lù dẫn xác tới vào lúc đêm hôm, tôi ngạc nhiên.

    Phú ghẻ liếc quanh một vòng rồi khẽ bấm tay tôi . Hai đứa len lén chuồn ra sau vườn.

    Vẻ mặt dáo dác của Phú ghẻ khiên tôi sinh nghi . Vừa ra tới hè , tôi đã hỏi liền :

    - Mày gặp Cẩ Phô rồi hả ?

    - Ừ.

    - Mày nhắn giùm những gì tao nhờ chưa ?

    - Rồi .

    Tôi hồi hộp :

    - Cẩm Phô nói sao ?

    - Nó "ừ".

    - "Ừ" là sao ?

    - Cái thằng đần này ! "Ừ" tức là nó đồng ý gặp mày trong quán chè bà Thường chứ sao !

    Tôi liếm môi :

    - Nó có nói gặp nhau vào lúc nào không ?

    - Trưa mai . Đúng mười hai giờ rưỡi .

    - Trời đất ! - Tôi kêu lên - Bộ hết giờ hẹn rồi hay sao mà nó hẹn vào cái giờ nắng chang chang vậy nè !

    - Mày ngu quá ! Chính giờ đó mới là giờ "an toàn" nhất, tụi mày khỏi phải sợ gặp ai quen ! Cẩm Phô là con gái, nó ý tứ chứ đâu có thô lỗ sỗ sàng như mấy "thằng đầu bò" kia !

    - Ừ , tao ngốc thật !

    Đêm đó , tôi nằm thao thức đến gần sáng, cố tưởng tượng mình sẽ nói gì và làm gì vào mười hai giờ rưỡi trưa mai .

  •   Chủ đề: Trại Hoa Vàng - Nguyễn Nhật Ánh - Chương 4
    thuynguyen3k, Trả lời/Số lần xem: 6/5620, , Bài viếtChuyên mục: Truyện dài   Ngày gửi: khoảng 2 10 năm trước
    Subject: Trại Hoa Vàng - Nguyễn Nhật Ánh - Chương 4
  • Chương 7: Trại Hoa Vàng
    Như vậy, Cẩm Phô không phải là cô công chúa hợm mình như tôi đã nghĩ oan cho nó . Nó không mời tôi vô nhà là để giữ thể diện cho "người yêu" của nó, chứ không phải sợ tôi làm bẩn sàn nhà. Rõ ràng tình cảm của nó dành cho tôi rất sâu đậm. Y hệt tình cảm của công chúa Tiên Dung dành cho gã thuyền chài họ Chử ngày xưa .
    Ngày xưa Chử Đồng Tử nghèo đến không quần mà mặc, khi đánh cá phải trầm mình dưới sông cho nước ngập ngang lỗ rốn, gặp con gái vội vàng đánh bài "độn thổ", vùi mình trong cát che thân, vậy mà rốt cuộc vẫn khiến Tiên Dung mê tít. Tôi ngày nay, trừ mỗi vụ "tam giác Béc-muđda" xúi quẩy kia, còn quần áo nói chung vẫn đàng hoàng, kín đáo, lẽ nào bạc phước hơn họ Chử .

    Không, Cẩm Phô đối xử với tôi rất đặc biệt. Nó không chê tôi là con nhà buôn đồ đồng nát. Chắc nó từng nghe bài hát "em yêu anh không kể giàu nghèo" và bây giờ nó đem ra áp dụng. Nó cũng bất chấp cả sự canh gác và theo dõi ngặt nghèo của ba mẹ. Nó cố tình đưa xe nó cho tôi tông để được làm quen với tôi, để được nói với tôi vài lời tình tứ . Vậy mà tôi nỡ trách nó , lại gán cho nó bao nhiêu ý nghĩa xấu xa, tội nghiệp nó ghê !

    Tôi kể lại sự tình với nhỏ Châu .

    Nhỏ Châu không tin. Tôi liền đợi trời tối chở nó chạy ngang tiệm thuốc tây Hồng Phát.

    Tới trước cửa tiệm, tôi phóng một cái vèo, rồi quay đầu lại:

    - Mày thấy chưa ?

    Nhỏ Châu không trả lời thẳng câu hỏi của tôi . Mà xuýt xoa cảm thán:

    - Tội nghiệp chỉ ghê !

    Tôi mới tội nghiệp Cẩm Phô , bây giờ tới phiên nhỏ Châu tội nghiệp "chị hai" nó . Bất giác sinh lòng cảm khái, Tôi chép miệng ngậm ngùi:

    - Biết làm được! Đã yêu là phải chấp nhận thử thách! Chỉ tội cho Cẩm Phô , giờ này bị nhốt trong nhà , chắc nó nhớ tao phát khóc!

    Tôi tưởng sau khi nghe câu nói não lòng của tôi, nhỏ Châu sẽ xúc động mà sụt sùi phụ họa . Nào ngờ tôi vừa nói xong, nó hớt hơ hớt hải la lên:

    - Đừng, đừng!

    - Mày bảo đừng cái gì ? - Tôi ngạc nhiên.

    - Anh đừng giễu nữa! Em tức cười quá !

    Vừa nói nhỏ Châu vừa cười hích hích khiến tôi tức muốn ói máu .

    Nhưng nhỏ Châu chỉ trêu tôi về cái tật khoác lác, nói năng một tấc đến trời . Còn những lúc tôi ngồi tỉ tê với nó về Cẩm Phô , nó đều lắng nghe nghiêm chỉnh, thỉnh thoảng lại hùa theo tôi khen "chị hai" nó một câu khiến tôi nức lòng nức dạ. Dạo này nó chẳng nhắc gì đến chuyện "nghèo vật chất nhưng giàu tình cảm" nữa, không rõ vì nó sợ tôi buồn hay vì nó quên bẵng chuyện đó rồi!

    Nhưng "đề tài Cẩm Phô" nói hoài cũng cạn. "Mối tình" giữa tôi và Cẩm Phô kể từ sau vụ đụng xe hôm nọ chẳng tiến triển gì thêm. Nhiều hôm tôi đến chơi nhà Phú ghẻ , ngồi trước hiên thấy Cẩm Phô đi ra đi vô nhưng chẳng dám kêu . Ở trường, tôi lại càng không dám hó hé . Lũ nữ quái 10A2 lúc này đã không chòng ghẹo tôi nhưng nếu thấy tôi lân la gạ chuyện Cẩm Phô, chắc chắn tụi nó sẽ không tha . Tôi chỉ dám liếc trộm Cẩm Phô trong giờ ra chơi để sung sướng biết rằng thỉnh thoảng nó cũng quay đầu lại nhìn tôi chứ không chỉ riêng tôi quay đầu về phía nó . Nhưng tất cả cũng chỉ có thế thôi .

    Rốt lại, những buổi "nói chuyện chuyên đề" của tôi với nhỏ Châu quanh đi quẩn lại cũng chỉ có mấy câu:

    - Tên Cẩm Phô đẹp ghê mày hén? - Tôi nói .

    - Ừ , đẹp ghê ! - Nhỏ Châu phụ họa .

    Tôi lại nói:

    - Tên cũng đẹp mà người cũng đẹp!

    - Ừ , cái gì cũng đẹp!

    Tôi sờ cằm:

    - Tính tình lại hiền nữa!

    - Ừ , hiền nhất thế giới! - Nhỏ Châu tiếp tục a dua .

    Cứ thế , hai anh em người tung kẻ hứng suốt buổi . Lúc đầu, kiểu đối đáp này khiến tôi khoái tít mắt. Nhưng càng về sau, tôi càng đâm chán. Cứ hết đẹp lại hiền, hết hiền lại đẹp. Chẳng có gì mới mẻ.

    Nhỏ Châu chắc cũng chán không kém gì tôi nhưng sợ tôi nổi đóa, nó không dám hỏi han lôi thôi, hễ tôi khen cái gì nó khen theo cái đó.

    "Mối tình" giữa công chúa Cẩm Phô và chàng Chử Đồng Tử thời đại đang có nguy cơ lâm vào bế tắc thì dịp may đột ngột xuất hiện.

    Bữa đó , tôi và Phú ghẻ đang chở nhau chạy ngang qua rạp hát Thống Nhất, bỗng nghe tiếng con gái gọi giật:

    - Phú ghẻ !

    Phú ghẻ dừng xe lại, hoang mang đảo mắt nhìn quanh. Trước nay chỉ có bạn trai, mà phải bạn thân như tôi và thằng Cường mới gọi Phú ghẻ bằng cái biệt danh khó nghe đó. Bữa nay cái tiếng đó lại từ miệng một đứa con gái thốt ra, lại kêu oang oang giữa đường giữa chợ , khiến Phú ghẻ không khỏi chột dạ.

    - Phú ! Chuẩn!

    Lần này, hai đứa tôi nhận ngay ra giọng thằng Cường. Nó đang đứng trước hiên một căn nhà nằm kế rạp hát, với một lô một lốc những đứa khác. Thấy tôi và Phú ghẻ dòm qua, nó ngoắt lia:

    - Vô đây chơi!

    Tôi liếc Phú ghẻ :

    - Nó đứng với tụi nào vậy mày ?

    - Tao không rõ ! - Phú ghẻ nhún vai - Qua bển là biết liền chứ gì !

    Vừa nói, Phú ghẻ vừa dắt xe băng qua đường. Tôi đi sau lưng Phú ghẻ , mới nửa đường đã đầu hoa mắt váng. Hóa ra tụi đứng chung với thằng Cường, tôi quen mặt không sót một đứa: Cẩm Phô, thằng Luyện, con nhỏ miệng móm và một con nhỏ tóc dài 10A2 khác.

    Phú ghẻ cười cười chào cả bọn, rồi quay sang Cường:

    - Làm gì tụ tập đông quá vậy ?

    - Tụi tao định đi coi phim.

    - Coi phim sao còn đứng đây ?

    - Chưa hết xuất! - Rồi Cường nheo mắt, rủ - Tụi mày đi không?

    Trong khi tôi và Phú ghẻ đang ngần ngừ thì con nhỏ miệng móm đã nhanh nhẩu:

    - Mời hai bạn vô nhà ngồi chơi rồi tính! Mấy khi rồng đến nhà tôm.

    Con nhỏ miệng móm vừa cất tiếng, tôi và Phú ghẻ không hẹn nhau mà cùng giật mình đưa mắt nhó nhau, không phải vì lối ăn nói pha trò của nó mà vì chúng tôi nhận ngay ra nó chính là đứa gọi xách mé cái biệt danh "Phú ghẻ" vừa rồi .

    Thằng Cường không hiểu tâm sự của hai đứa tôi . Thấy tôi và Phú ghẻ lộ vẻ ngẩn ngơ, nó tưởng tụi tôi bỡ ngỡ trước "người lạ", liền vồn vã giới thiệu:

    - Đây là Liên.

    Nghe nhắc đến mình, con nhỏ miệng móm tỉnh bơ "bổ sung":

    - Tên thường gọi là Liên móm!

    Một lần nữa, tôi và Phú ghẻ liếc nhau, nhưng lần này cả hai đứa đều cố mím môi để khỏi phì cười .

    - Liên học chung trường với tụi tao chứ đâu phải học chung trường với mày mà mày giới thiệu kỹ thế !

    Phú ghẻ làm Cường cụt hứng. Nó ngắc ngứ một hồi rồi chỉ tay vào con nhỏ tóc dài:

    - Vậy tụi mày biết ai đây không?

    Tôi thù 10A2 vô hạn. Vì vậy, lần này Phú ghẻ chưa kịp đáp, tôi đã vọt miệng:

    - Nữ quái 10A2 ai mà không biết!

    Câu nói vừa thốt ra, tôi biết ngay là mình lỡ lời nhưng không làm sao thu lại kịp. Quả nhiên, Liên móm nhảy dựng:

    - Ông nói cái gì nữ yêu, nữ quái đó ?

    Trong khi tôi đứng chết trân và thầm rủa mình không tiếc lời về cái tội ngứa mồm nói bậy thì Phú ghẻ liền kịp thời "cứu bồ". Nó quay sang tôi, giả vờ nạt nộ :

    - Cái thằng này! Mày đọc truyện Tàu riết rồi cứ lộn "nữ sinh" với "nữ quái", "con gái" với "con yêu" hoài!

    Thằng Cường có vẻ sốt ruột khi thấy tụi tôi chuẩn bị lạc đề. Nó xua tay lia lịa:

    - Thôi, thôi, đừng cãi nhau nữa! Tụi mày không cho tao giới thiệu, vậy tụi mày nói thử xem có đúng tên bạn này không?

    Thấy thằng Cường cứ nói lòng vòng về con nhỏ tóc dài hoài, tôi nhăn mặt:

    - Chung trường chứ phải chung lớp đâu mà biết tên!

    - Vậy mà cũng nói! - Cường hừ giọng, lên lớp - Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe tao giới thiệu nè : Bạn này là Thùy Dương, hoa khôi của trường Trần Cao Vân tụi mày đó !

    Lời "quảng cáo" của Cường khiến Thùy Dương mắc cỡ đỏ mặt, còn Liên móm và Cẩm Phô che miệng cười khúc khích. Riêng tôi, tôi tức muốn ói máu . Thằng Cường đúng là đồ mắt lé. Con nhỏ Thùy Dương kia mặt mày nói chung coi cũng được nhưng bảo là hoa khôi trường tôi thì bảo là bá láp! Cẩm Phô của tôi mới là người đẹp nhất, không những đẹp nhất trường mà còn đẹp nhất thì trấn nữa .

    Tôi tức Cường nhưng không nói ra . Tôi chỉ nhìn nó gườm gườm. Đồng thời tôi cũng ngạc nhiên không hiểu sao nó học bên Huỳnh Thúc Kháng mà lại rành đám con gái trường tôi quá vậy . Mãi sau này tôi mới biết Cường "để ý" con nhỏ Thùy Dương và nó thường léng phéng tới chơi nhà Liên móm với hy vọng gặp Thùy Dương ở đó.

    Trong khi tôi đang đực mặt nghĩ ngợi thì lũ bạn lục tục kéo nhau vào nhà. Đến khi Liên móm thò cổ ra kêu:

    - Ông Chuẩn ới ời!

    Tôi mới giật mình lẽo đẽo đi theo, bụng nhũ "May mà nó không kêu mình bằng cái tên "Béc-muđda" như bữa trước!".

    Nhưng tôi quá vội mừng. Liên móm không kêu tôi là "ông Béc-muđda" nhưng nó "giết" tôi bằng cách khác. Tôi vừa ngồi xuống ghế, nó đã cười hì hì :

    - Cẩm Phô vô trong này từ lâu rồi, ông không biết hay sao mà còn đứng ngóng?

    Liên móm làm tôi chết điếng. Tôi ú ớ như bị ai nhét giẻ vào mồm:

    - Đâu có.

    Vẻ ngớ ngẩn của tôi khiến tụi bạn phá ra cười . Thằng Cường khốn nạn kia cười đến nỗi nước sặc lên mũi và tung tóe ra đầy bàn, trông dơ dáy hết sức. Tai nóng bừng, tôi bóp chặt ly nước trong tay, ngồi nín thinh. Tôi không biết Cẩm Phô có cảm giác thế nào chứ riêng tôi, nếu chui được xuống nền nhà của nhỏ Liên thì tôi đã chui từ đời tám hoánh rồi . Nếu Cẩm Phô cũng cùng ý định với tôi, hai đứa rủ nhauchui xuống đất, sống với nhau suốt đời ở dưới đó thì hay biết mấy! Như vậy tôi khỏi phải nhìn thấy mấy cái mặt mẹt đang cười hi hi ha ha kia!

    Liên móm đang cười, chợt thấy tôi sắp ngất xỉu trên ghế, nó liền tốp lại và hỏi sang chuyện khác:

    - Nghe nói ông có vườn hoa đẹp lắm phải không?

    Tôi không ngờ con nhỏ "trời đánh" này cũng để ý chuyện hoa cỏ của tôi . Câu hỏi của nó khiến tôi khoan khoái quá xá , bao nhiêu bực bội nãy giờ bay biến đâu hết. Tôi tươi tỉnh hỏi lại:

    _ Sao bạn biết?

    Liên móm hếch mặt:

    - Chẳng có chuyện gì của ông mà tôi không biết! Ông trồng cây gì trong vườn hoặc mơ tưởng đến ai trong lòng, tôi đều rõ hết!

    Cái con quỷ móm này, nó đúng là yêu tinh tu luyện lâu năm mà thành người! Tôi vừa mới khen thầm nó một câu, nó đã vội chứng minh là tôi khen bậy liền! Nhưng dù nó không nói, tôi cũng biết thừa kẻ mách lẻo là đứa nào .

    Quả như tôi đoán, tôi vừa liếc mắt về phía Cường, nó đã vội quay mặt đi chỗ khác, miệng bâng quơ:

    - Mặt tao có dính lọ đâu mà mày nhìn chăm chăm vậy!

    Liên móm ngó tôi:

    - Nhưng chuyện tại sao tôi biết nhà ông trồng hoa đâu có gì quan trọng! Quan trọng là ông có sẵn lòng tặng hoa cho tụi này không!

    - Sẵn sàng thôi! - Tôi nói .

    - Vậy thì ông chạy về nhà hái một cành hoa tặng cho Cẩm Phô ngay bây giờ đi!

    Đề nghị bất thần của Liên móm khiến tôi dở cười dở khóc. Nếu chỉ có riêng Cẩm Phô với tôi và Cẩm Phô "sai" tôi như vậy, tôi sẽ không ngần ngại chạy bay về nhà lấy "lễ vật" đem tới liền. Nhưng khổ nỗi, đề nghị này lại do Liên móm đưa ra, mà lại đưa ra trước mặt lủ khủ bạn bè thì dù có mê Tiên Dung đến mấy, Chử Đồng Tử này cũng quyết không bao giờ tỏ ra nhu nhược để cho thiên hạ chê cười .

    - Ông thấy sao ? - Thấy tôi làm thinh, Liên móm liền lên tiếng - Nuốt lời rồi phải không?

    - Đâu có ! - Tôi ấp úng - Nhưng mà để lúc khác!

    - Tặng ngay bây giờ mới quý chứ để hôm khác thì nói làm gì ! Hôm khác chạy ra chợ mua cũng được vậy!

    Đúng là con nhỏ miệng móm này nó quyết hại tôi đến cùng! Thiếu gì lời tử tế nó không nói, lại cứ xổ toàn những câu "hắc ám", nghe một hồi chắc Cẩm Phô nó bỏ tôi để đi theo Phú ghẻ mất.

    Phú ghẻ không biết tôi đang nghĩ xấu cho nó. Thấy tôi bị Liên móm quay mòng mòng như quay dế, nó liền đứng dậy "giải vây":

    - Không được đâu! Bây giờ tôi với Chuẩn phải đi công việc gấp! Còn các bạn cũng vô coi phim đi, trễ giờ rồi!

    Rồi nó quay sang tôi, nháy mắt:

    - Đi mày!

    Hệt như kẻ sắp chết đuối vớ được cọc, Phú ghẻ vừa "ho" một tiếng, tôi liền lật đật xô ghế đứng lên.

    Cuộc tháo chạy đột ngột của hai đứa tôi diễn ra nhanh như chớp. Tụi kia chỉ kịp ú ớ , chưa nói được tiếng nào, tôi với Phú ghẻ đã ngồi chễm chệ trên chiếc Huy Chương Vàng.

    Lúc nãy Phú ghẻ chở tôi . Lần này hoảng quá , tôi phóc lên yên trước giành lấy ghiđdông, đạp vội đạp vàng. Phú ghẻ đập tay lên lưng tôi:

    - Chậm lại đi! Con Liên móm có đuổi theo đâu mà mày chạy như bị ma đuổi thế !

    Tôi đạp chậm lại, miệng thở hổn hển.

    Phú ghẻ cười hích hích phía sau:

    - Con nhỏ đó ghê thật!

    - Ai ?

    - Thì "bà chằn" đó chứ ai!

    Tôi sực nhớ chuyện khi nãy, liền "khích" Phú ghẻ :

    - Nó dám kêu mày là Phú ghẻ !

    - Kệ nó.

    Tôi khịt mũi:

    - Mày sợ nó hả ?

    - Tao cóc sợ ! Nhưng nó còn dám xưng nó là Liên móm thì nó kể gì tên người khác!

    - Nhưng tên nó, nó muốn kêu gì mặc nó, còn tên người khác nó đâu có quyền kêu lung tung!

    Bị tôi khích một hồi, Phú ghẻ ngồi im. Chắc nó đang nghiền ngẫm những lời vàng ngọc của tôi .

    Tôi liền thăm dò :

    - Chứng tỏ nó coi thường mày!

    Phú ghẻ vẫn làm thinh.

    Tôi nghiến răng:

    - Như vậy có khác nào nó là kẻ thù của tụi mình!

    Tôi cố "gài" chữ "tụi mình" vào để Phú ghẻ thấy rằng tôi luôn luôn ở bên cạnh nó. Danh dự của nó cũng là danh dự của tôi . Quả nhiên, Phú ghẻ chẳng hề phản đối lời "tuyên chiến" của tôi với "kẻ thù" Liên móm. Nó không nói không rằng, chỉ rên lên một cách tức tối .

    Chỉ đợi có vậy, tôi liền xổ ấm ức nãy giờ :

    - Vậy mà khi nãy, lúc con Liên móm "chơi quê" tao, mày lại ngoác mồm ra cười phụ họa với kẻ thù.

    - Kẻ thù cái đầu mày! - Phú ghẻ thình lình hét lên khiến tôi sém tí nữa lủi xe vô gốc cây - Nãy giờ tao ngồi im là tại tao đau bụng, chứ mày tưởng mày nói năng hay ho lắm hả ?

    Đang nói, Phú ghẻ lại rên lên. Nhưng lần này tiếng rên của nó không làm tôi "xúc động" nữa . Bây giờ thì tôi biết nó rên vì đang bí cái "chuyện kia" chứ chẳng phải vì nó tức tối gì con nhỏ miệng móm cả.

    Rên xong, Phú ghẻ lại tiếp tục cự nự :

    - Con Liên móm tuy mồm miệng chanh chua nhưng nó đâu có ác ý gì với mày mà mày xúi tao "thù" nó !

    Cái thằng ghẻ ngứa này, đau bụng thì "nín" quách cho rồi, còn bày đặt trách với móc! Tôi nhủ bụng và phát cáu vặc lại:

    _ Nó kê vào miệng tao cả chục cái tủ buýp-phê khiến tao ú ớ như thằng ngọng mà mày bảo là không ác ý ? - Mày ngốc quá ! - Phú ghẻ hừ mũi - Nó làm như vậy chính là nó giúp mày đấy, thằng ngu ạ !

    - Giúp tao ?

    - Chứ gì nữa! Nhờ vậy mày mới dò được tình cảm của Cẩm Phô! Liên móm công khai "cáp đôi" hai đứa mày, nhưng Cẩm Phô lại làm thinh không tỏ ý gì phản đối, chứng tỏ là nó "khoái" mày!

    Phú ghẻ làm tôi mát dạ quá xá ! Nhờ nó "chỉ giáo", tự dưng tôi thấy nhỏ Liên móm không còn móm nữa . Tôi thôi thù Liên móm. Tôi cũngkhông giận Phú ghẻ. Tôi chỉ trách tôi: "người ta" yêu mình mà mình không thấy, ngu ơi là ngu!

    Tôi không giận Phú ghẻ nhưng Phú ghẻ giận tôi . Nó trách:

    - Khi nãy thấy mày lúng túng như gà mắc tóc tao phải "cứu" mày ra chứ theo tao, lúc đó mày chạy về nhà hái hoa cho Cẩm Phô là "đúng sách" nhất!

    - Thôi đi! Mày đừng có xúi bậy! - Tôi gầm gừ - Nó có phải là ông nội tao đâu mà tao phải chạy tới chạy lui hầu hạ !

    Thấy tôi có vẻ ta đây "cao giá", Phú ghẻ không thèm "góp ý" nữa . Nó lặng thinh cho tới tận nhà.

    Cuộc chuyện trò giữa tôi và Phú ghẻ chỉ có vậy, thế mà không hiểu Phú ghẻ nói đi nói lại với Cẩm Phô thế nào, hôm sau tôi vừa chạy ngang tiệm thuốc tây Hồng Phát đã thấy thằng Luyện đứng đợi sẵn trước hiên.

    - Anh Chuẩn! - Luyện kêu tôi .

    - Gì vậy ? - Tôi dừng xe lại .

    Luyện bước lại gần dúi vào tay tôi một mảnh giấy:

    - Chị Cẩm Phô gửi cho anh nè !

    Bức thư tình đầu đời khiến đầu óc tôi bỗng chốc quay cuồng. Ngực tức nghẹn, tôi không đủ kiên nhẫn để đợi về đến nhà. Cố nín thở để trấn áp nỗi hồi hộp, tôi run run mở tờ giấy ra . "Bức thư tình" chỉ một dòng vỏn vẹn: "Tôi làm gì mà anh chửi tới ông nội tôi ?".

  •   Chủ đề: Trại Hoa Vàng - Nguyễn Nhật Ánh - Chương 4
    thuynguyen3k, Trả lời/Số lần xem: 6/5620, , Bài viếtChuyên mục: Truyện dài   Ngày gửi: khoảng 2 10 năm trước
    Subject: Trại Hoa Vàng - Nguyễn Nhật Ánh - Chương 4
  • Chương 6: Trại Hoa Vàng

    Chiều đó, tôi khoe với nhỏ Châu :
    - Tao thấy mặt "chị hai mày" rồi nghen mày !
    - Chỉ đẹp không ?
    - Y như tiên !
    - Xạo đi !
    - Thật ! Còn hơn tiên nữa !
    Nhỏ Châu trề môi :
    - Người ta mà đẹp hơn tiên ?
    - Chứ sao ! Con nhỏ này không những đẹp mà còn hiền nữa ! Hồi trưa, tao tông nó một cái "rầm", chiếc xe nát bấy, còn người nó thì máu me tùm lum, vậy mà nó không hề trách tao một câu . Nó còn cười với tao nữa !
    Nhỏ Châu đúng là đồ nhát gan. Nó chẳng thèm để ý đến khía cạnh trữ tình trong câu chuyện của tôi . Vừa nghe tới "máu", nó đã đưa tay bụm mặt :
    Eo ôi, ghê quá !
    Tôi cười :
    - Ghê gì mà ghê !
    Nhỏ Châu vẫn không buông tay xuống :
    - Rồi anh có đưa chỉ đi bệnh viện không ?
    - Cần gì đi bệnh viện ! - Tôi nhún vai - Nhà nó thuốc men cả khối ! Còn nhiều hơn bệnh viện nữa !
    - Anh lại dóc tổ rồi ! - Nhỏ Châu lắc lắc mái tóc. Nó làm tôi tự ái quá chừng.
    - Tao thèm vào nói dóc ! - Tôi hừ mũi - Mày biết tiệm thuốc tây Hồng Phát ở kế nhà Phú ghẻ không ?
    - Biết ! Mà sao ?
    - Nhà nó đó !
    - Eo ôi ! - Nhỏ Châu lại kêu lên.
    - Gì mà "eo ôi" ?
    Nhỏ Châu thè lưỡi :
    - Nhà chỉ giàu quá chừng !
    - Thì giàu chứ sao ! Nhà bán thuốc tây mà lại !
    Nhỏ Châu rụt cổ :
    - Nhưng nhà mình thì nghèo !
    Con nhỏ này, nó là con nít không hiểu sao lại lắm điều quá chừng ! Tự dưng nó "phang" một câu khiến tôi cụt hứng. Tôi đang hí hửng khoe nó về mối "duyên kỳ ngộ" giữa tôi với Cẩm Phô và tính quảng cáo tiếp về tính tình dịu dàng có một không hai của "chị hai" nó, bỗng nhiên nó lôi chuyện "giàu nghèo" ra khiến tôi bất giác xụi lơ .
    Thấy mặt tôi xịu xuống, nhỏ Châu có vẻ áy náy . Nó vớt vát :
    - Mình nghèo vật chất nhưng mình giàu tình cảm !
    Tôi biết nhỏ Châu cố gỡ gạc lại câu nói khi nãy để xoa dịu nỗi buồn vừa nhú lên trong lòng tôi . Nhưng cái lối lập luận của nó khiến tôi nổi đóa :
    - Tình cảm cái khỉ mốc ! Nghèo thì nói đại là nghèo cho rồi, còn bày đặt "giàu tình cảm" !
    Trước vẻ mặt hầm hầm của tôi, nhỏ Châu không dám nói tới nói lui về chuyện "giàu nghèo" nữa . Rồi sợ tôi phát khùng lên cốc nó u đầu, thừa lúc tôi đang bần thần nghĩ ngợi, nó len lén chuồn mất.
    Nhỏ Châu bỏ đi, để tôi ngồi thẩn thờ một mình suốt buổi chiều hôm đó.
    Tiệm thuốc tây Hồng Phát cùng với tiệm vàng Kim Long và tiệm vải Quang Hưng là ba đại phú gia tại thị trấn tôi ở. Nhà nào nhà nấy bốn, năm tầng lầu cao ngất, ngó lên muốn gãy cổ. Người dân trong thị trấn mỗi khi nói đến sự giàu có bao giờ cũng đem ví với ba nhà này .
    Hồi trưa, lúc ủi phải Cẩm Phô, sự gặp gỡ bất ngờ với "người đẹp trong mộng" khiến hồn vía tôi bay tuốt lên mây . Lúc đó, mặt đờ ra, tôi chẳng còn đầu óc đâu để thắc mắc việc Cẩm Phô là con nhà bình dân hay con nhà quý tộc. Bây giờ, nghe nhỏ Châu nhắc khéo, tôi mới sực nhớ ra "thân phận bé mọn" của mình.
    Con gái hiệu thuốc Hồng Phát thuộc hạng "công nương" cành vàng lá ngọc có lý đâu để ý đến thằng con nhà buôn đồ đồng nát là tôi . Chử Đồng Tử ngày xưa sở dĩ vớ được công chúa Tiên Dung là nhờ nàng buồn tình ra bờ sông quây màn đứng tắm. Công chúa Cẩm Phô ngày nay quanh năm tắm táp trong bồn tráng men, dù tôi có lặn lội ra bờ sông vùi mình suốt đời trong cát ướt cũng đừng hòng gặp hên như họ Chử. Tôi nhớ lại hồi trưa, lúc Cẩm Phô chào về, nó không thèm mời tôi vô nhà uống lấy một miếng nước. Nó bỏ mặt tôi lủi thủi ra về giữa trời nắng chang chang. Đích thị nó ỷ mình là công chúa, khinh thường những kẻ thư sinh áo vải như tôi .
    Và như vậy, chuyện nó "bênh vực" tôi từ trước đến giờ chắc chẳng xuất phát từ động cơ sâu xa thầm kín nào . Đó chẳng qua chỉ là lòng thương hại của người giàu đối với người nghèo . Chắc nó thấy tôi bốn mùa quần thừa áo vá, mặt mày lại ngơ ngơ ngáo ngáo trong giống con cù lần núi nên nó đem lòng tội nghiệp đó thôi ! Tôi tông nó móp xe, nó không thèm bắt đền không phải vì nó ưa thích gì cái bản mặt đần độn mà nó thừa biết ngữ tôi, có bắt đền, cũng chẳng đào đâu ra bạc cắc để nộp cho nó. Vậy mà trước giờ tôi cứ tưởng bở. Thấy nó bịt miệng con nhỏ miệng móm, tôi hí hửng tưởng mình là phò mã. Tôi vội phong ngay cho nó chức "chị hai của nhỏ Châu". May mà nó không biết, nếu biết, dù hiền đến đâu nó cũng sẽ chửi tôi tắt bếp ! Nhớ lại những lời ba hoa vung vít trước đây, thốt nhiên tôi bỗng rùng mình.
    Càng nghĩ ngợi, tôi càng ủ ê . Cây mộng mơ vừa mọc trong hồn tôi, mới vừa loe hoe ba chiếc lá còm, chưa kịp trổ hoa đã vội vàng tàn lụi . Thật chả bù với những cành hoa đang lung linh khoe sắc trong vườn. Chúng nom mới tươi tắn làm sao, thật chẳng giống tí ti nào với ông chủ của chúng lúc này đang ngồi thừ người trong bóng chiều chập choạng, mặt mày ngẩn ngơ cứ như kẻ mất hồn.
    Trong lúc tôi đang mải mê gặm nhấm nỗi buồn của mình như con mọt đang say sưa gặm từng thớ gỗ, bỗng có tiếng chân vang lên lạo xạo sau lưng.
    Lại nhỏ Châu ! Tôi nhủ bụng và bất giác cảm thấy khó chịu . Nhỏ Châu là một đứa em gái cực kỳ dễ thương, dễ thương nhất là nó rất thương tôi, nhưng lúc này tôi chẳng muốn thấy mặt nó một chút xíu nào . Tôi đã trót khoe khoang với nó quá nhiều về tình cảm của Cẩm Phô đối với tôi, bây giờ tôi rất ngượng khi phải trò chuyện với nó. Vậy mà nó chẳng biết điều, cứ mò ra định làm khổ tôi ! Ý nghĩa đó khiến tôi phát khùng. Và tôi gân cổ quát tướng :
    - Đi đi ! Đi chỗ khác chơi đi !
    Tiếng chân phía sau liền im bặt. Lâu thật lâu . Tôi lại nổi điên :
    - Mày còn đứng đó, tao cốc mày sói trán bây giờ !
    Nghe tôi dọa, nhỏ Châu không dám nấn ná nữa . Nó ngập ngừng bước lui về phía cổng rào . Tự dưng thấy tội tội, tôi liền nghiêng đầu ghé mắt trông theo . Trời đất, trước mắt tôi không phải nhỏ Châu, mà là nhỏ Thảo hàng xóm. Nó đang cầm trên tay một trái ổi to tướng, chắc là nó định đem qua tặng tôi . Tôi hốt hoảng kêu :
    - Thảo ! Thảo !
    Nhỏ Thảo quay đầu lại, tay còn vịn cách cổng. Tôi lật đật chạy tới và thấy cặp mắt nó đỏ hoe . Tôi kéo tay nó, giọng chuộc lỗi :
    - Vô đây chơi với anh !
    Nhỏ Thảo sụt sịt :
    - Em không vô đâu ! Anh đuổi em !
    - Anh xin lỗi mà ! - Tôi phân trần - Khi nãy anh đâu có biết đó là em !
    Nhỏ Thảo giương đôi mắt mọng nước :
    - Chứ anh tưởng ai ?
    Tôi gãi tai :
    - À, à anh tưởng đó là mấy đứa bạn quỷ quái của anh !
    Nhỏ Thảo thật thà :
    - Bạn anh mà anh dám đòi cốc sói trán ?
    Hết gãi tai, tôi lại gãi cổ :
    - Ờ, ờ anh cốc tuốt ! - Đang nói, ánh mắt chợt chạm phải trái ổi trên tay nhỏ Thảo, tôi liền nuốt nước bọt, "đế" thêm - Bị anh cốc hoài, đầu tụi nó trọc lóc giống như trái ổi kia kìa !
    Nghe tôi nhắc khéo, nhỏ Thảo sực nhớ, liền chìa trái ổi ra :
    - Tặng anh nè !
    Tôi cầm lấy tặng vật không chút khách sáo :
    - Để anh hái hoa tặng em nghen !
    Nhỏ Thảo phụng phịu :
    - Em hái ổi là để tặng anh chứ có phải để đổi lấy hoa đâu !
    Lời trách móc của nhỏ Thảo khiến tôi cà lăm mất ba mươi giây . Tới giây thứ ba mươi mốt, tôi nhe răng cười giả lả :
    - Thì đây đâu phải là chuyện đổi chác ! Tại anh biết em thích hoa nên anh hái tặng em thôi !
    Nói xong, không đợi cho nhỏ Thảo đồng ý hay không, tôi bước dọc các luống hoa, hái cho nó một chùm to tướng, đủ cả đồng tiền, cẩm chướng và các loại hoa hồng.
    Nhỏ Thảo có vẻ bất ngờ trước món quà hậu hĩ này . Trước nay, mỗi lần nhỏ Thảo xin hoa, tôi chỉ ngắt cho nó một cành và tất nhiên không phải là cành đẹp nhất. Bữa nay tự nhiên thấy tôi rộng rãi khác thường nhỏ Thảo ôm hoa mà mắt sáng rực :
    - Anh cho em làm gì nhiều thế !
    Tôi phẩy tay :
    - Em cứ cầm về cắm chơi đi ! Hoa phải cắm nhiều mới đẹp !
    Giọng của tôi rõ là giọng của một chàng trai hào hiệp. Nhỏ Thảo ôm bó hoa về mà lòng vẫn không hiểu tại sao một kẻ keo kiệt kinh niên như tôi lại đột ngột trở nên hào phóng như thế. Nó có biết đâu bữa nay tôi đang rầu thúi ruột. Tôi là con nhà buôn bán phế liệu, trót tơ tưởng đến tiểu thư con nhà quyền quý, bị người ta khi nh rẻ, nên chui ra góc vườn nhà ngồi ngắm bóng chiều rơi . Ba nhỏ Thảo làm nghề mộc, cũng một cảnh bần hàn như nhà tôi, nên trông thấy nó lòng tôi bất giác nảy sinh một tình cảm gần gũi và tôi có tiếc chi một chùm hoa tặng nó. Đó là chưa kể từ lúc trước đến giờ nhỏ Thảo luôn luôn "thần phục" tôi . Tôi bảo gì nó làm nấy, không cãi lại nửa lời . Những lúc ngứa ngấy tay chân hoặc bực bội trong lòng, tôi giở thói du côn cốc nó vài cái cho đỡ buồn, nó cũng chỉ biết khóc và ôm đầu chạy về nhà chứ chẳng hề mách lẻo với ai .
    Nhỏ Thảo đúng là nhu mì thứ thiệt. Nó quí tôi và không hề coi thường tôi . Nó khác xa với Cẩm Phô . Cẩm Phô không thèm mời tôi vô nhà. Nó sợ tôi làm bẩn nhà nó.
    Phú ghẻ không biết mây đen đang giăng ngang đầu tôi . Sáng hôm sau, vừa vô lớp nó đã huých cùi chỏ vào hông tôi :
    - Cẩm Phô hỏi thăm mày kìa !
    Tôi làm thinh. Phú ghẻ lại nói tiếp :
    - Nó hỏi tao nhà mày ở đâu ?
    Tôi vẫn không nói không rằng.
    Thái độ lầm lì của tôi khiến Phú ghẻ ngạc nhiên. Nó nhìn tôi lom lom :
    - Nó khen mày đẹp trai nhất thế giới !
    Tôi nhăn mặt :
    - Tao không giỡn à nghen !
    Phú ghẻ trố mắt :
    - Bữa nay mày làm sao vậy ?
    - Không làm sao hết ! - Tôi nhún vai - Tao không quan tâm đến Cẩm Phô, thế thôi !
    - Nhưng nó quan tâm đến mày !
    Tôi hừ mũi :
    - Con nhỏ đó khinh người !
    - Ai bảo mày vậy ?
    - Cần gì ai bảo ! - Tôi nhếch mép - Nhà nó giàu, còn nhà tao nghèo, đương nhiên là nó coi thường tao !
    Phú ghẻ bắt đầu hiểu ra tâm sự của tôi . Nó hạ giọng :
    - Không có đâu ! Mày đừng nghi oan cho nó !
    Tôi cay đắng :
    - Hôm qua nó đâu có thèm mời tao vô nhà !
    - Trời đất, làm sao nó mời mày vô nhà được ! - Phú ghẻ kêu lên - Tao ở sát rạt bên cạnh, nó còn không dám rủ qua chơi nữa là mày !
    - Sao kỳ vậy ? - Tới phiên tôi ngạc nhiên.
    - Ông bà già nó còn "hắc ám" gấp mấy lần ông già của mày ! - Phú ghẻ thè lưỡi - Thằng nào xui xẻo bước vô nhà đó, đố mà ngồi được lấy năm phút !
    Tôi nuốt nước bọt :
    - Bị đuổi hả ?
    - Đuổi thì không đuổi, nhưng ngồi lâu một chút là có chuyện ngay !
    Tôi nhếch mép :
    - Ông già nó suỵt chó cắn ?
    - Tệ hơn vậy nữa ! Khách đang ngồi nói chuyện, ông già nó đột ngột bước ra, mặt mày lầm lì, tay cầm cái chổi lông.
    - Nện vào đầu ?
    Phú ghẻ cười :
    - Không. Ổng chỉ phủi bụi trên bàn thôi . Nhưng ổng nện rầm rầm, bụi bay tứ tán. Khách hít bụi, ho sặc sụa, lập tức đứng dậy cáo từ.
    - Và không bao giờ trở lại ?
    - Chứ gì nữa !
    Sự tiết lộ của Phú ghẻ khiến tôi thở phào . Như vậy, Cẩm Phô không phải là đứa khinh người . Nó không dám mời tôi vô nhà chỉ vì nó sợ ba mẹ nó. Song với ba tôi, ba mẹ nó còn "cao thủ" hơn một bậc. Ba tôi cấm tôi đàn đúm với bạn bè vì sợ tôi bê trễ việc học hành. Nếu tôi lỡ vi phạm ba tôi cũng chỉ trút cơn bực tức lên đầu tôi chứ không đả động gì đến lũ bạn quỷ quái kia . Ba Cẩm Phô lại khác. Ông sẵn sàng hạ nhục bạn của con mình để không ai dám "đeo đuổi" và "quấy rầy" Cẩm Phô . Bữa đó nếu tôi liều mạng xông đại vô nhà nó, chắc chỉ ba mươI giây sau tôi đã phải bỏ của chạy lấy người ! Thật hú vía !
    Phú ghẻ còn cho tôi biết nhiều chuyện động trời khác. Nhà Cẩm Phô có tất cả ba chị em. Cẩm Phiêu, chị cả, đã lập gia đình, hiện nay ở với ông chồng gần bến xe thị trấn. Thằng Luyện là út, lại là con trai, nên được gia đình cho đi chơi thoải mái . Chỉ riêng Cẩm Phô là bị canh giữ nghiêm ngặt. Ban ngày Cẩm Phô còn được tự do đi lại chứ ban đêm thì đố có ra khỏi nhà được lấy một bước. Ngày nào cũng như ngày nào, hễ ăn cơm tối xong là ba mẹ Cẩm Phô xách ghế ra ngồi trước cửa, mỗi người trấn một bên, "nội bất xuất ngoại bất nhập". Tụi con trai trong thị trấn gọi đùa là "thần giữ cửa".
    Nghe Phú ghẻ kể, thoạt đầu tôi không tin :
    - Vậy ai dám vô mua thuốc ?
    - Khách mua thì được ! Còn bạn bè thì cấm tiệt !
    - Nhưng ba mẹ nó đi làm "bảo vệ" hết, ai đứng bán ?
    Phú ghẻ hừ mũi :
    - Mày ngốc quá ! Nhà nó có một bà dì nữa !
    Rồi thấy tôi vẫn lộ vẻ ngờ vực, Phú ghẻ nhún vai :
    - Nếu không tin, tối nay mày chạy ngang nhà nó là biết liền !
    Trước nay, thỉnh thoảng tôi vẫn ghé chơi nhà Phú ghẻ buổi tối nhưng lúc đó tôi chưa "để ý" Cẩm Phô nên chẳng đóai hoài gì đến tiệm thuốc tây Hồng Phát. Vì vậy tôi chẳng rõ những thông tin mà Phú ghẻ cung cấp có chính xác hay không.
    Nhưng nỗi nghi ngờ của tôi chỉ tồn tại có một buổi chiều . Tối đó, cỡi chiếc Huy Chương Vàng lượn ngang nhà Cẩm Phô, tôi mới biết Phú ghẻ không bịa chuyện. Quả nhiên trước tiệm Hồng Phát, hai bên cửa có hai "vị thần" đang ngồi thù lù, câm nín. Tôi chỉ đủ can đảm đưa mắt liếc một cái rồi cắm cúi phóng vù qua, trống ngực đập thình thịch.
    Hôm sau vừa thấy mặt tôi, Phú ghẻ hỏi liền :
    - Quan sát "trận địa" chưa ?
    - Rồi .
    - Thấy sao ?
    Tôi xuôi xị :
    - Đúng y như mày nói !
    Phú ghẻ vỗ vai tôi :
    - Thấy chưa ! Tao xạo mày làm gì ! Nhưng mày cứ yên chí, có tao "chốt" ngay bên hông nhà nó, khi cần tao sẽ "hỗ trợ" cho mày !
    Tôi chơi thân với Phú ghẻ bao lâu nay nhưng chưa bao giờ tình bạn lại khiến tôi cảm động như thế này . Tôi cầm tay nó nịnh nọt :
    - Mày tốt ghê !
    Phú ghẻ thản nhiên :
    - Vậy mà tốt lại với tao đi !
    - Nghĩa là sao ? - Tôi trố mắt.
    - Phú ghẻ cười hì hì :
    - Chiều nay đưa chiếc Huy Chương Vàng cho tao chạy một vòng !

  •   Chủ đề: Trại Hoa Vàng - Nguyễn Nhật Ánh - Chương 4
    thuynguyen3k, Trả lời/Số lần xem: 6/5620, , Bài viếtChuyên mục: Truyện dài   Ngày gửi: khoảng 2 10 năm trước
    Subject: Chương 5: Trại Hoa Vàng
  • Chương 5: Trại Hoa Vàng

    Bữa đó về đến nhà, tôi vẫn chưa hết hoang mang. Bốn năm ròng mài đũng quần bên trường Trần Quốc Toản, chưa bao giờ tôi gặp phải một tình huống như thế. Tụi con gái Trần Quốc Toản tất nhiên chẳng hiền lành gì, nhưng tụi nó không có cái kiểu trêu chọc "đứng tim" như đám nữ quái Trần Cao Vân. Dùng tên một đứa con gái để gọi một đứa con trai thì đúng là từ khi cha sinh mẹ đẻ đến giờ tôi mới gặp đây là lần đầu.

    Nghĩ đến đây, bất giác tôi nhớ đến con nhỏ Cẩm Phô, liền nhe răng cười một mình. Tôi không biết nó là đứa nào trong đám nhí nhố kia nhưng một khi đã lên tiếng bênh vực tôi, chắc chắn nó phải có một khuôn mặt cực kỳ xinh đẹp. Tôi tưởng tượng một hồi lòng tự nhiên cảm thấy lâng lâng.

    Từ trước đến nay, tôi chưa từng chơi thân với một con nhỏ nào. Chơi với bạn trai, ba tôi còn cấm ngặt, huống hồ gì bạn gái. Ngày nhà giáo năm ngoái, mấy đứa con gái cùng lớp cứ nằng nặc đòi đến khu vườn của tôi hái hoa tặng thầy cô, tôi phải tìm đủ cách để ngăn cản không cho tụi nó mò tới. Tôi chỉ cho Phú ghẻ tới nhà và sau đó hai đứa tôi phải è cổ ôm mấy chục bó hoa tới lớp.

    Cứ theo quan niệm của ba tôi thì bạn bè và học tập là hai thứ khác nhau như nước với lửa. Hễ người mê học thì dứt khoát không có bạn. Và trong các thứ bạn thì bạn gái đương nhiên là "độc hại" hơn bạn trai.

    Tôi chưa có bạn gái bao giờ nên không biết "nó" có "độc" như ba tôi "quảng cáo" hay không. Gần gũi tôi chỉ có mỗi nhỏ Thảo nhà hàng xóm. Nhưng nó không phải là bạn. Nó coi tôi như anh, thường xuyên bị tôi sai vặt và lúc nào cũng tuân lệnh tôi răm rắp. Nếu mấy nhỏ con gái đứa nào tính tình cũng hiền lành như nhỏ Thảo, nghĩa là tôi sai gì làm nấy, thì kết bạn với vài đứa như vậy kể cũng khoái.

    Nghĩ vớ nghĩ vẫn một hồi, hết chuyện nghĩ, tôi lại nghĩ đến nhỏ Cẩm Phô. Mặc dù không hình dung được mặt mày nó một cách rõ rệt, tôi vẫn mường tượng là nó rất đẹp, đẹp nhất bọn và ý nghĩ đó khiến tôi bâng khuâng suốt cả buổi chiều.

    Nhỏ Châu ra vườn, thấy tôi ngồi thừ bên mấy luống hoa, liền hỏi :

    _ Anh đang làm gì vậy ?

    _ Tao ngồi đây chứ có làm gì đâu !

    Nhỏ Châu nheo mắt :

    _ Tự dưng lại ra đây ngồi ?

    _ Ừ. Tao chuẩn bị tưới hoa.

    Nhỏ Châu sốt sắng :

    _ Để em phụ anh nghen !

    Vừa nói, nó vừa quay lưng định đi lấy thùng tưới khiến tôi phải đưa tay ngăn lại :

    _ Chờ chút đi ! Đợi nắng dịu thêm đã !

    Nhỏ Châu nghe lời tôi. Nó không đi nữa mà ngồi xuống cạnh tôi, lân la gợi chuyện :

    _ Hổm rày, bạn bè còn trêu anh nữa không ?

    _ Trêu chuyện gì ?

    _ Chuyện "tam giác Béc-muđda" đó !

    _ Còn, nhưng không phải tụi lớp tao mà tụi lớp khác.

    _ Tụi nào vậy ?

    _ Tao có nói, mày cũng không biết đâụ Tụi 10A2.

    Nhỏ Châu chép miệng :

    _ Kệ tụi nó. Anh đừng thèm để ý !

    _ Biết làm sao được ! - Tôi tặc lưỡi - Tao không để ý tụi nó nhưng tụi nó cứ để ý tao ! Hai bên "đụng đầu" hoài !

    Nghe tôi nói, nhỏ Châu chợt đâm ra lo lắng. Nó níu tay tôi :

    _ Nhưng dù sao thì anh cũng phải cố nhịn. Anh không được đánh nhau à nghen !

    _ Tao sẽ không đánh nhau đâu ! - Tôi thở dài - Tụi nó là con gái !

    _ Con gái ? - Nhỏ Châu trố mắt.

    _ Ừ.

    _ Con gái gì mà ghê vậy ?

    _ Ừ, tụi nó ghê lắm ! Tụi nó không giống mấy đứa bên Trần Quốc Toản mình !

    Nhỏ Châu "xì" một tiếng :

    _ Đúng là đồ con gái vô duyên ! Tôi đang tính gật đầu phụ họa theo nó, sực nhớ tới Cẩm Phô, tôi liền đổi giọng :

    _ Không phải tất cả đều vô duyên đâu ! Trong bọn, có một con nhỏ đẹp lắm.

    Nhỏ Châu vẫn chưa hết ấm ức :

    _ Đẹp cũng vô duyên !

    Tôi nhăn mặt :

    _ Nhưng mà con nhỏ này nó không trêu tao !

    Nhỏ Châu vẫn nhất quyết không cho tôi bênh vực "con nhỏ đẹp lắm" đó. Nó khăng khăng :

    _ Không trêu cũng kệ nó ! Hễ cùng bọn với mấy đứa kia đều là vô duyên tất !

    Sự bướng bỉnh của nhỏ Châu khiến tôi dở cười dở mếu. Nhưng tôi không trách nó. Tôi biết vì thương tôi nên nó mới "thù" mấy đứa con nhỏ 10A2 đến thế.

    Nghĩ tới nghĩ lui một hồi, chẳng tìm ra cách nào "bao che" cho nhỏ Cẩm Phô, cuối cùng tôi đành ngước mặt lên trời :

    _ Nhưng mà nó thích tao !

    _ Nó thích anh ? - Nhỏ Châu lộ vẻ sửng sốt.

    Tôi nuốt nước bọt :

    _ Ừ.

    _ Sao anh biết ?

    _ Sao lại không biết ! Khi bạn nó kêu tao là "Béc-muđda", nó bịt miệng bạn nó lại, không cho kêu !

    _ Rồi sao nữa ? - Nhỏ Châu hỏi, giọng tò mò.

    _ Sao nữa là sao ?

    _ Sau đó nó có nói gì với anh không ?

    Tôi nhún vai :

    _ Không ! Chỉ vậy thôi !

    Nhỏ Châu nhăn mũi :

    _ Nếu chỉ có vậy thì đâu thể gọi là thích !

    Bị chạm tự ái, tôi hừ giọng :

    _ Mày ngốc quá ! Như vậy tức là thích ! Trong sách người ta bảo vậy !

    Nhỏ Châu có vẻ không tin lời khẳng định của tôi. Nó thừa biết trong lãnh vực này tôi chẳng hơn gì nó.

    _ Trong sách người ta nói khác kìa ! - Nhỏ Châu hấp háy mắt - Người ta bảo thích là phải nhìn nhau cả ngày kia ! Con nhỏ đó nó có nhìn anh không ?

    Tôi thở dài :

    _ Tao cũng chẳng biết nữa !

    _ Sao lạ vậy ? - Nhỏ Châu ngạc nhiên.

    _ Tao có nhìn thấy nó đâu mà biết ! - Tôi đành thú thật, giọng xuôi xị - Tao chỉ dỏng tai nghe tụi nó tán chuyện thôi !

    Nhỏ Châu vẫn chưa chịu buông tha tôi :

    _ Không nhìn thấy nó sao anh biết nó đẹp ?

    Tôi liếm môi :

    _ Thì tao đoán vậy !

    Nhỏ Châu cười hí hí :

    _ Anh chỉ giỏi phịa ! Như vậy là anh thích người ta chứ đâu phải người ta thích anh !

    _ Dẹp mày đi ! - Tôi đỏ mặt - Nói chuyện với mày chán bỏ xừ !

    Nói xong, tôi giận dỗi đứng dậy xách thùng đi tưới nước, không thèm tâm sự với con nhỏ ưa bắt bẻ này nữa. Thấy tôi đùng đùng bỏ đi, nhỏ Châu liền chạy theo :

    _ Em phụ với anh nghen !

    _ Khỏi cần ! - Tôi hừ mũi - Mình tao đủ rồi !

    Thật rõ chán, anh em như thế này thì thà sống một mình còn hơn ! Cả đời mình chưa hề biết bạn gái là gì, nay mới tập tễnh "để ý" được một đứa, đem kể với nó, nó không "nhiệt liệt biểu dương" thì chớ, lại còn toàn giọng "vặn be sường", nghe muốn ứa gan !

    Nhưng tôi không thể giận nhỏ Châu lâu được. Những chuyện như thế này, ngoài nó ra, tôi không dám tỉ tê với bất cứ ai, kể cả Cường và Phú ghẻ.

    Ngày hôm sau, tôi ngoắt nhỏ Châu lại :

    _ Nè, mày biết con nhỏ đó tên gì không ?

    Thấy tôi đổi giận làm lành, nhỏ Châu mừng lắm. Nó tươi tỉnh :

    _ Tên gì ?

    Tôi khoe :

    __ Tên đẹp lắm ! Cẩm Phô !

    _ Anh biết mặt nó rồi hả ?

    Tôi nhăn mặt :

    _ Mày cứ "nó, nó" hoài ! Nhỏ Cẩm Phô lớn tuổi hơn mày, mai mốt biết đâu nó sẽ làm chị hai mày không chừng ! Mày cứ quen miệng gọi "nó, nó" hoài, tới lúc đó nó sẽ cốc mày sói trán !

    _ Eo ôi, ghê quá ! - Nhỏ Châu rụt cổ - Vậy anh cho em biết đi, "chị hai" đẹp đến cỡ nào ?

    Tôi xoa ngực :

    _ Tao vẫn chưa biết mặt nó. Chỉ mới biết tên thôi.

    Rồi tôi bắt đầu kể tỉ mỉ cho nhỏ Châu nghe về những xung đột giữa tôi và tụi nữ sinh 10A2 ở trên trường và cái tên Cẩm Phô đã xuất hiện trong tình huống đó như thế nàọ Kể xong, tôi hào hứng "bổ sung" thêm :

    _ Trưa nay, lúc tao và Phú ghẻ đi về, tụi nó chạy xe phía sau réo tên Cẩm Phô om sòm làm tao ngượng quá chừng !

    Tôi nói "ngượng" mà mặt mày lại hí ha hí hửng khiến nhỏ Châu nguýt tôi một cái dài cả mười cây số.

    Nhỏ Châu làm tôi nhớ đến Phú ghẻ. Hồi trưa, Phú ghẻ cũng nhìn tôi bằng ánh mắt nghi ngờ như thế.

    Lúc tụi 10A2 chạy kè kè sau lưng và chốc chốc lại kêu tên Cẩm Phô để chọc tôi, Phú ghẻ liếc tôi :

    _ Bộ mày quen con nhỏ này hả ?

    _ Con nhỏ nào ? - Tôi giả nai.

    _ Thôi đừng làm bộ ngờ nghệch ! - Phú ghẻ hừ mũi - Con nhỏ Cẩm Phô chứ con nhỏ nào !

    _ Tao đâu có biết ! - Mặt tôi hiền như bụt.

    Phú ghẻ vẫn chưa hết nghi hoặc :

    _ Mày không quen nó sao nãy giờ tụi kia cứ réo tên nó sau lưng mày hoài vậy ?

    _ Ai biết ! - Tôi nhún vai - Tụi nó có miệng tụi nó muốn réo tên ai thì réo chứ !

    Rồi không để cho Phú ghẻ "chất vấn" tiếp, tôi guồng chân đạp mạnh, bỏ "thằng bạn hay hỏi" ở tít đằng sau một quãng xa. "Đời tư" Của tôi mà để cho thằng quỷ này "moi móc" một hồi chắc gan ruột phèo phổi lòi ra hết !

    Vào ngay cái lúc tôi gò lưng phóng thục mạng với quyết tâm bỏ rơi thằng bạn ghẻ ngứa đó, tôi không hề biết nó sắp sửa đóng một vai trò then chốt trong mối quan hệ giữa tôi và Cẩm Phô sau này. Bởi Phú ghẻ có một ưu thế mà cả đời tôi không thể nào mơ thấy nổi: nhà nó ở sát bên nhà Cẩm Phô.

    Trước nay, Phú ghẻ không hề hé môi với tôi về điều này, bởi lẽ đơn giản là nó không biết tôi đang quan tâm đến Cẩm Phô. Hồi trưa nó dò hỏi, thấy tôi chối biến, nó cũng làm thinh luôn. Tôi biết được cái "ưu thế về địa lý" đó hoàn toàn do tình cờ.

    Bữa đó tôi đi chơi về, đang chạy ngang nhà Phú ghẻ, thình lình có một con nhỏ quẹo ngang đầu xe của tôi, tấp vô lề. Đang ngon trớn trên chiếc Huy Chương Vàng, thấy sự cố xảy ra đột ngột, tôi toát mồ hôi hột, liền lật đật bóp thắng và cố lách ra mé ngoài. Nhưng vẫn không kịp, chiếc Huy Chương Vàng của tôi vừa rít lên "kin kít" vừa húc mạnh vào bánh xe sau của con nhỏ đó.

    Chiếc xe ngã chổng kền, còn con nhỏ thì kịp thời buông xe và nhanh chân nhảy ra ngoài. Thật là hú vía ! Nếu tôi không vội vàng hãm bớt đà phi của con "thần mã" và nếu con nhỏ đó không phóc mình xuống đất nhanh như tia chớp, có lẽ cả người lẫn xe đã bị tôi đè bẹp dí rồi.

    Sau khi định thần nhìn lại, thấy con nhỏ đó tuy mặt mày tái xanh nhưng chưa bể đầu sứt trán miếng nào, tôi thở một hơi dài nhẹ nhõm. Nhưng đến khi ngoảnh cổ dòm chiếc xe của nó đang nằm chèo queo dưới đường, mặt tôi bỗng xám ngoét. Cái niềng xe cong vòng, vè trật qua một bên, căm xe thì chiếc gãy chiếc rụng, trông chả ra hình thù gì cả.

    Tôi dựng chiếc Huy Chương Vàng trước hiên nhà Phú ghẻ rồi chạy vội ra dựng chiếc xe của con nhỏ đó dậy, miệng ấp úng :

    _ Tôi xin lỗi nghen ! Để tôi bỏ xe sửa lại cho cô !

    Nạn nhân trước sau vẫn đứng chôn chân một chỗ. Chắc nó chưa hết hoảng hốt. Cũng có thể nó đang giận tôi ghê lắm. Tôi nghĩ vậy nên miệng xin lỗi mà mắt thì nhìn chăm chăm xuống đất như thể đang tìm bạc cắc.

    Tôi đinh ninh sau khi hoàn hồn, con nhỏ đó sẽ chửi tôi tắt bếp. Nó sẽ gán cho tôi những biệt danh như "đồ có mắt như mù" hoặc "đồ chạy xe như ăn cướp" như người ta vẫn thường gán cho những đứa chạy xe theo kiểu du côn du kề như tôi, hoặc bét ra nó cũng trách mắng tôi vài câu gì đó cho hả giận. Nào ngờ tôi dỏng tai một hồi, chẳng thấy nó nói nặng nói nhẹ gì hết. Nó chỉ hiền lành :

    _ Thôi, anh để đó cho tôi ! Chuyện này là do tôi quẹo ngang mà không báo trước chứ có phải tại anh đâu !

    Trời đất ơi, không biết con nhỏ này là con cái nhà ai mà nó nói một câu nghe mát lòng mát dạ quá chừng ! Tôi lỡ tông phải nó nên đành bấm bụng giành sửa xe cho nó, chứ thực tình tôi đang lo ngay ngáy không biết đào tiền ở đâu ra. Nay nó nói vậy khác nào nó bảo tôi mai mốt có muốn tông xe thì cứ nhắm nó mà tông "thoải mái", hư hao gì nó chịu hết !

    Nhưng mặc dù được nó "tha bổng", chẳng lẽ tôi ung dung ra về, bỏ mặc nó giữa đường với chiếc xe quặt quẹo đó.

    _ Nhà cô ở đâu, để tôi kêu xe chở cô về ! - Tôi ngập ngừng đề nghị .

    Con nhỏ nhoẻn miệng cười :

    _ Thôi được rồi, anh cứ về đi !

    Con nhỏ không trả lời thẳng câu hỏi của tôi, mà lại nói :

    _ Sao anh cứ kêu tôi bằng "cô" hoài vậy ? Bộ tôi già lắm hả ?

    Tôi đỏ mặt :

    _ Đâu có ! Tại tôi không biết kêu cô bằng gì thôi !

    Con nhỏ lại cười :

    _ Thì kêu bằng "bạn" chứ bằng gì !

    Tôi nhìn lên trời :

    _ Vậy lát nữa bạn về nhà bằng cách nào ?

    _ Tôi đi bộ.

    Tôi giật thót mình :

    _ Bạn tính đi bộ thật hả ?

    _ Thì thật chứ sao ? Bộ anh Chuẩn tưởng tôi hay nói giỡn lắm hả ?

    _ Trời đất ! - Tôi kêu lên, sửng sốt - Bạn biết tên tôi hồi nào vậy ?

    Con nhỏ nheo mắt :

    _ Hồi đầu năm chứ hồi nào !

    _ Hồi đầu năm ? - Tôi tròn mắt - Như vậy bạn cũng học Trần Cao Vân hả ? - Rồi không đợi đối phương xác nhận, tôi láu táu hỏi tiếp - Thế bạn học lớp...

    Đang thao thao, sực nhớ đến câu chuyện "tam giác Bermuda", tôi thót bụng một cái và lập tức ngưng bặt. Câu chuyện về cái quần của tôi là "sự kiện trung tâm" trong ngày khai giảng năm học mới, con nhỏ này học Trần Cao Vân chắc chắn nó đã chứng kiến tường tận cái cảnh tôi đứng phơi mông giữa sân trường bữa đó. Đúng rồi, hèn gì mà cả ngàn học sinh trong trường, nó không thèm biết tên ai mà biết ngay chóc tên tôi, lại biết ngay từ hồi đầu năm ! Càng nghĩ, mặt tôi càng nóng bừng, tay chân bỗng chốc đâm ra luống cuống hệt như đang ăn cắp bị bắt quả tang.

    Con nhỏ dường như không để ý đến nét mặt thoạt xanh thoạt đỏ của tôi. Nó thản nhiên đáp :

    _ Tôi học 10A2.

    Giọng lưỡi đối phương trước sau vẫn nhẹ nhàng, từ tốn nhưng lần này tôi nghe như đại bác nổ bên tai. Biết nó học trường nào, tôi đã thấy trong người "khó thở", giờ biết thêm tên lớp của nó, chắc tôi xỉu tới nơi. Nhưng trước khi xỉu, tôi cố thu hết can đảm liếc nó thêm một cái nữa và ở lần "liếc bổ sung" này tôi bàng hoàng nhận thấy mặt nó quen quen.

    Bây giờ thì tôi không còn nghi ngờ gì nữa. Con nhỏ này đích thị là một thành viên trong đám nữ quái vẫn thường theo "ám" tôi bấy lâu naỵ Và rất có thể cú đụng xe vừa rồi là một màn kịch đã được lũ tiểu yêu này sắp đặt trước nhằm thực hiện một âm mưu đen tối nào đó đối với tôi.

    Đang hoang mang lo lắng, tôi bỗng giật bắn người khi nghe tiếng Phú ghẻ đột ngột vang lê n sau lưng :

    _ Vậy mà mày dám bảo là không quen hén ?

    Tôi ngoảnh lại, thấy Phú ghẻ đang ngồi trên xe, chân trên chân dưới, vẻ như vừa đi đâu về. Nó nháy mắt với tôi và nhe răng cười như khỉ đột.

    Tôi ngơ ngác :

    _ Mày bảo tao quen ai ?

    Phú ghẻ hất hàm về phía con nhỏ 10A2 :

    _ Quen với Cẩm Phô chứ quen ai !

    Lần thứ hai trong vòng năm phút, đại bác lại nổ bên tai tôi.

    _ Cẩm Phô ?

    Tôi kêu lên, giọng đầy ngạc nhiên và hấp tấp quay đầu về phía con nhỏ có cái tên là Cẩm Phô đó nhưng nó đã mỉm cười quay mặt đi chỗ khác.

    Trong thoáng chốc, gánh nặng trong lòng tôi như được một bàn tay vô hình nào đó nhấc đi. Thay vào đó là một cảm giác lâng lâng kỳ lạ, nửa như thẹn thùng nửa lại hân hoan. Hóa ra con nhỏ trước mặt tôi là Cẩm Phô, đứa con gái đã từng "chở che" tôi trước những đòn tấn công của con nhỏ miệng móm, đứa con gái đã khiến tôi lần đầu tiên trong đời phải nghĩ ngợi vẩn vơ. Nó là Cẩm Phô, hèn gì nó hiền lành quá xá, tôi tông nó rầm rầm mà nó chẳng hề trách móc mảy may, lại còn bảo "lỗi này là do tôi" nghe ngọt ngào như mật ong nguyên chất. Càng nghĩ tôi càng ngẩn ngơ, mặt đực ra như thằng khờ được của.

    Phú ghẻ huých vào lưng tôi :

    _ Hết chối rồi nhé !

    _ Chối gì ?

    Phú ghẻ nheo mắt :

    _ Sao hôm trước mày bảo với tao là mày không quen Cẩm Phô ?

    Tôi gãi cổ :

    _ Thì tao đâu có quen.

    _ Không quen sao đứng đây ?

    Tôi lắc lắc chiếc xe tôi đang vịn nãy giờ :

    _ Mày biết xe ai đây không ?

    Phú ghẻ liếc chiếc xe :

    _ Xe Cẩm Phô chứ xe ai !

    Tôi tặc lưỡi :

    _ Mày dòm bánh xe sau thử coi !

    Phú ghẻ dòm bánh xe saụ Bây giờ nó mới "nhìn ra vấn đề":

    _ Trời đất ! Sao vậy ?

    _ Bị tông.

    _ Ai tông mà ác ôn vậy ?

    _ Tao chứ ai ! - Tôi nhăn nhó.

    Phú ghẻ gật gù :

    _ Bây giờ thì tao hiểu rồi ! Như vậy là mày "tông trước quen sau" chứ không phải là "tông sau quen trước" ! - Đang nói Phú ghẻ bỗng chép miệng - Nhưng mày "làm quen" kiểu này, chắc có ngày cảnh sát mời mày về đồn quá !

    Tôi chưa kịp phân trần thì Cẩm Phô đã lên tiếng thanh minh giùm tôi :

    _ Không phải tại anh Chuẩn đâu ! Tại Cẩm Phô quẹo đột ngột đó thôi !

    Con nhỏ Cẩm Phô này dễ thương thiệt tôi hớn hở nhủ bụng, lúc nào nó cũng "bênh vực" tôi, làm như thể nó là chị hai của nhỏ Châu không bằng ! Đang phấn khởi, sực nhớ đến tình cảnh hiện tại, tôi bối rối nhìn Phú ghẻ :

    _ Cẩm Phô không chịu để tao kêu xe chở, mà cứ đòi đi bộ về nhà làm tao áy náy quá !

    _ Mày biết nhà Cẩm Phô ở đâu không ? - Phú ghẻ lườm tôi.

    _ Ở đâu ?

    _ Đây chứ đâu ! - Phú ghẻ chỉ tay vào cửa hiệu thuốc tây nằm sát nách nhà nó và toét miệng cười hì hì.

    Trong khi tôi đang há hốc mồm ra vì bất ngờ thì một thằng nhãi trạc tuổi tôi từ trong hiệu thuốc đi ra. Thấy tụi tôi đang túm tụm, nó liền bước lại :

    _ Có chuyện gì mà "đông vui" vậy anh Phú ?

    _ Đông vui cái con khỉ ! - Phú ghẻ chỉ tay vào chiếc xe của Cẩm Phô - Mày coi đây nè !

    Thằng nhãi trố mắt nhìn chiếc xe, rồi quay sang Cẩm Phô :

    _ Sao vậy ? Chị bị đụng hả ?

    _ Ừ, nhưng mà không sao! Luyện đem xe đi sửa giùm chị đi !

    Hoá ra thằng nhãi này là em của Cẩm Phô ! Tôi cứ sợ thằng Luyện sẽ hỏi tới "ai đụng", "đụng lúc nào" nhưng rất may là nó không thèm quan tâm đến những chi tiết "nhỏ nhặt" đó. Thấy Cẩm Phô không việc gì, nó cảm thấy yên tâm và bước lại chỗ tôi cầm lấy chiếc xe kéo xềnh xệch vào nhà.

    _ Thôi, Cẩm Phô về luôn nghen !

    Cẩm Phô mỉm cười chào tôi và Phú ghẻ rồi rảo bước theo Luyện.

    Mãi đến khi Cẩm Phô đã khuất dạng đằng sau cánh cửa, tôi vẫn chưa hết bần thần, cứ tưởng mình vừa trải qua một giấc chiêm bao

  •   Chủ đề: Trại Hoa Vàng - Nguyễn Nhật Ánh - Chương 4
    thuynguyen3k, Trả lời/Số lần xem: 6/5620, , Bài viếtChuyên mục: Truyện dài   Ngày gửi: khoảng 2 10 năm trước
    Subject: Trại Hoa Vàng - Nguyễn Nhật Ánh - Chương 4
  • Chương 4

    Trái với sự lo lắng của tôi, những ngày sau đó bạn bè chẳng ai chòng ghẹo gì tôi về sự cố hôm khai giảng. Có lẽ không ai nỡ trêu chọc sự nghèo khổ của kẻ khác. Nhờ vậy mà tôi có thể yên tâm học hành, cũng như yên tâm cóp-pi bài làm của thằng Phú ghẻ ngồi cạnh.

    Nỗi mặc cảm của tôi chắc chắn sẽ phai nhạt dần cuối cùng rơi tõm vào quên lãng nếu như cái ngày u ám đó không xảy ra một cách bất ngờ.

    Hôm đó, mải bận bịu vun đất sau vườn để chuẩn bị trồng lay-ơn cho kịp Tết, tôi ra khỏi nhà trễ mất mười phút so với thường lệ .

    Khi tôi đến trường thì cổng đã đóng. Lố nhố trong các hàng quán bên kia đường là những học sinh đi trễ đang ngồi tán dóc đợi vào hai tiết sau.

    Trường tôi có thông lệ hễ chuông reo vào lớp là cổng khóa chặt. Học sinh đi trễ chỉ có cách ngồi ngoài đợi giờ ra chơi len lén chuồn vô.

    Mặc dù biết vậy, tôi đánh liều rề xe lại sát cổng tìm cách năn nỉ bác bảo vệ. Bác bảo vệ trường tôi khó tính nhất thế giới, từ khi làm nghề gác cổng đến nay chưa hề xiêu lòng trước bất cứ một lời nỉ non sụt sùi nào, vậy mà không hiểu ma xui quỷ khiến thế nào, sau khi nghe tôi thủ thỉ một hồi, bác rút xâu chìa khóa trong túi ra mở cổng cho tôi vào. Có lẽ bác thấy tôi hiền lành, đần độn, thời buổi quần bó váy túm mà dám mặc một chiếc quần giống hệt chiếc quần của vợ bác ở nhà nên bác động lòng nhớ vợ mà rộng rãi với tôi cũng nên.

    Tôi vừa lách qua khỏi cách cổng mở he hé thì đám nữ sinh ngồi ăn vặt chờ thời bên kia đường cũng vừa kịp phát hiện. Thế là cả đám lũ lượt kéo nhau ùa sang. Nhưng bác bảo vệ tinh quái đã nhanh tay bấm ổ khóa đánh "tách" khiến mấy con nhỏ tức tối làm ầm lên. Nổi bật nhất là một giọng the thé : _ Sao "ông Béc-muđda" vào được mà tụi này vào không được ?

    Tôi đang tính nán lại xem tụi nó đôi co những gì nhưng chỉ mới nghe mỗi một câu, tôi đã thất kinh dắt xe chạy mất.

    Vào đến cửa lớp, tôi mới thở phào và hậm hực ngoái cổ nhìn lại. Đám nữ sinh đã không còn bu trước cổng. Có lẽ thái độ cứng rắn của bác bảo vệ đã khiến tụi nó chùn bước và rút về cố thủ bên kia đường.

    Mặt mũi mấy con nhỏ này chẳng xa lạ gì với tôi. Mặc dù không biết tên một đứa nào trong tụi nó nhưng chỉ nhìn thoáng qua, tôi đã nhận ngay ra đó là tụi nhãi ranh 10A2, cái đám vẫn thường đứng xếp hàng sau lưng tôi mỗi sáng thứ hai và lúc nào miệng mồm cũng chí cha chí choét, kể cả lúc đang chào cờ.

    Trước nay, tôi chẳng bao giờ "để ý" đến mấy con nhỏ vô trật tự này, không ngờ tụi nó lại "để ý" tôi kỹ đến thế. Mấy hôm nay chẳng thấy bạn bè trêu ghẹo gì, tôi cứ đinh ninh cái sự cố hôm nào đã trôi vào quá khứ và chẳng ai còn nhớ. Hóa ra cuộc đời còn lắm chông gai. Cuộc đời còn có tụi nữ sinh 10A2 mồm loa mép giải.

    Nhưng dù giận đến ứa gan, tôi cũng chỉ biết ngậm bồ hòn làm ngọt. Trêu vào lũ tiểu yêu này chỉ tổ quê mặt. Tốt nhất là làm theo lời dạy của ông bà "tránh voi chẳng hổ mặt nào !", nhất là khi trong "bầy voi" đó có một con voi mồm miệng móm xọm, giọng chua như giấm, cứ một điều "ông Béc-muđda" hai điều "ông Béc-muđda" nghe muốn điếc con ráy !

    Phú ghẻ không biết nỗi khổ của tôi nên đến giờ tan học, nó rủ tôi ra về, thấy tôi cứ nấn ná ngồi lì trong lớp, nó giương mắt ếch lên :

    _ Hôm nay mày làm sao vậy ?

    Tôi khịt mũi :

    _ Tao có làm sao đâu ! _ Thế sao mày ngồi đây ?

    Tôi bóp trán :

    _ Tao nhức đầu quá !

    Phú ghẻ nhìn tôi bằng ánh mắt ngờ vực :

    _ Hồi nãy tao có nghe mày than vãn gì đâu !

    Thằng Phú ghẻ ngứa này, sao nó lắm chuyện thế không biết ! Tôi đã bảo là tôi nhức đầu, vậy mà nó cứhỏi tới hỏI lui. Chẳng lẽ tôi lại nói thẳng với nó là tôi sợ "đụng đầu" với mấy con nhỏ quỷ quái bên 10A2 nên đành ngồi ru rú trong lớp, đợi cho tụi nó về hết rồi mới dám ló mặt ra.

    Thấy tôi ngồi im, Phú ghẻ lại hỏi :

    _ Giờ làm sao ?

    _ Sao là sao ?

    Phú ghẻ chép miệng :

    _ Chẳng lẽ ngồi đây hoài ?

    Tôi vung tay :

    _ Mày chờ chút đi ! Tao sắp hết rồi !

    Rồi sợ nó sốt ruột, tôi vội vã nói thêm :

    _ Chừng mười phút nữa tụi mình về !

    Tan trường chừng mười phút, chắc chắn sân trường không còn một mống. Tôi tính thầm trong bụng như vậy nên lên tiếng trấn an Phú ghẻ. Nào ngờ tôi vừa nói xong, nó lại càng thắc mắt tợn :

    _ Nhức đầu gì mà có giờ giấc kỳ vậy ?

    _ Ừ, cái đầu của tao nó kỳ lắm ! - Tôi bối rối đáp bừa.

    Phú ghẻ chắc chẳng tin gì lời tôi. Nhưng biết tôi đã muốn giấu chuyện gì thì có ai cạy răng tôi cũng không bao giờ nhả ra nửa chữ nên nó tặc lưỡi đặt cặp xuống bàn rồi ngồi chống tay lên cằm nhìn ra cửa sổ, đợi "bệnh" của tôi thuyên giảm.

    Quả như tôi dự liệu, lúc tôi và Phú ghẻ mò ra bãi giữ xe, tụi bạn đã về hết ráo. Mấy con nhỏ 10A2 mất tăm mất tích khiến tôi mừng rơn.

    Bác bảo vệ nhăn nhó nhìn tụi tôi :

    _ Hai cậu nấp đâu mà bây giờ mới chịu về ?

    Tôi cười cầu tài :

    _ Dạ, cháu bị nhức đầu, nằm ở trong lớp.

    Sực nhận ra tôi, bác bảo vệ đổi giọng ôn hoà :

    _ À, cậu đấy hả ! Nhức đầu thì về nấu một nồi lá, xông một hồi là khỏi ngay thôi !

    _ Dạ, cảm ơn bác !

    Vừa nói tôi vứa kín đáo nháy mắt với Phú ghẻ, hai đứa riu ríu dắt xe ra.

    Nhưng tôi chỉ có thể gạt được bác bảo vệ mỗi một lần. Lần thứ hai, nếu tôi còn than nhức đầu đau bụng, chắc bác không tin. Nghĩ vậy, tôi quyết định thay đổi chiến thuật. Ngày hôm sau chuông reo hết giờ vừa vang lên, tôi đã hấp tấp xếp tập lại và kéo tay Phú ghẻ chạy vù ra cổng.

    Phú ghẻ chạy theo tôi mà mắt trợn tròn :

    _ Mày làm trò gì vậy ?

    _ Hôm nay tao phải về nhà gấp có chuyện !

    Vừa đáp tôi vừa liếc về phía hành lang và yên tâm khi thấy mấy con nhỏ 10A2 còn đủng đỉnh tít đằng xa. Không hiểu sao tôi chạm trán tụi nhãi này ghê gớm, hệt như tà ma sợ giáp mặt thầy bùa. Phú ghẻ vừa dắt xe ra tới cổng, chưa kịp hỏi thêm câu gì, tôi đã phóc lên chiếc Huy Chương Vàng chạy thục mạng khiến nó cong lưng đuổi theo miệng chửi ỏm tỏi.

    Nhưng số tôi đúng là cái số ăn mày. Tránh mặt tụi 10A2 được ba bữa, đến bữa thứ tư vừa phóc lên yên xe chưa kịp chạy trốn, tôi đã điếng hồn phát hiện ra bánh xe trước xẹp lép.

    Chẳng thể dắt bộ về nhà trên quãng đường dài dằng dặc đầy nắng nôi bụi bặm, tôi đành thất thểu tấp vào chỗ vá xe bên kia đường.

    Tôi đứng chưa nóng chỗ, tụi nữ sinh 10A2 đã ùa ra. Sợ tụi nó phát hiện, tôi vội xoay lưng lạị Nhưng mới vừa quay người, hấp tấp quay thêm một vòng nữa. Khỉ thật, con người ta ai cũng có mặt trước mặt sau, chỉ riêng tôi cả hai mặt đều là mặt trước, nhìn phía nào cũng biết đấy là thằng Chuẩn mặc quần thừa của mẹ, đố có lẫn đi đâu được !

    Mấy con nhãi ranh kia lại càng không lẫn. Vừa thấy tôi đứng trơ bên đường với chiếc Huy Chương Vàng nằm bẹp dưới cỏ, cả bọn liền chụm đầu lại thầm thì rồi cười rúc ra rúc rích và đấm lưng nhau thùm thụp. Chẳng biết tụi nó nói nhăng nói cuội những gì nhưng nhìn tụi nó ngả ngớn, vừa cười vừa xô vào nhau, tôi bỗng thấy nhột kinh khủng, cứ mong tụi nó đi khuất mắt cho rồi.

    Nhưng mấy con nhỏ này có vẻ như muốn hù cho tôi chết khiếp. Tụi nó chẳng thèm về ngay mà lại líu ríu dắt nhau vào quán. Thị trấn tôi ở ban trưa trời nắng như đổ lửa, giờ tan trường học trò kéo vào quán uống nước, ăn chè đá lạnh trước khi gò lưng đạp xe về nhà là chuyện thường. Nhưng hôm nay không hiểu sao tôi cứ có cảm giác mấy con nhỏ kia nấn ná không chịu về là vì tôi. Một bầy cọp bắt gặp một con dê lạc đàn đang đứng lẻ loi, ngơ ngác trên đồng vắng mà cam tâm bỏ đi là chuyện không tưởng ! Tôi bần thần nhủ bụng và tự dưng đâm tức Phú ghẻ. Gặp bữa hiểm nghèo như thế này, nó lại nghỉ học mất, đúng là thằng bạn chẳng ra gì !

    Đang thẫn thờ nghĩ ngợi, tôi bỗng giật bắn người bởi một giọng chua lè :

    _ Ông Béc-muđda !

    Tôi nhận ngay ra giọng con nhỏ miệng móm. Trong bọn, nhỏ này hình như đóng vai "chúa trùm", dây vào nó chỉ tổ to chuyện. Nghĩ vậy, tôi đánh bài lờ và cúi đầu xuống làm ra vẻ bận tập trung đầu óc vào thằng nhỏ sửa xe đang loay hoay nãy giờ với chiếc Huy Chương Vàng nằm tênh hênh trên bãi cỏ.

    Con nhỏ miệng món không chịu thua. Nó lại ngoác mồm :

    _ Ông Ba-muđdéc !

    Tôi giận tím gan nhưng cố nén. Tôi biết mấy con nhỏ này thù tôi về chuyện tôi được hưởng "đặc ân" của bác bảo vệ hôm trước. Tôi đi học trễ hơn tụi nó lại được cho vào, còn tụi nó bị đứng bên ngoài, vì nỗi bất bình đó mà cả bọn quyết theo "ám" tôi cho bằng được. Biết thân biết phận, hổm rày tôi trốn chui trốn nhủi, bữa ra về nào cũng bắt Phú ghẻ rượt theo muốn xịt khói. Nhưng hôm nay thì tôi hết đường thoát, chỉ có cách trân mình chịu trận.

    Sự nhẫn nhục của tôi đến đá cũng phải xúc động. Nhưng khỗ nỗi, con nhỏ kia không phải là đá. Vì vậy, vẻ phớt tỉnh của tôi chỉ tổ làm nó điên tiết. Nó tiếp tục ra đòn :

    _ Ông Béc...

    Nhưng lần này, nó chỉ vừa kịp "Béc" một tiết đã tắc tị . Một bàn tay nào đó của một đứa trong bọn đã bịt lấy cái miệng móm xọm của nó .

    Tôi không nhìn nhưng hoàn toàn có thể hình dung được. Bởi sau đó là tiếng con nhỏ miệng móm thét lên the thé :

    _ Mày làm gì vậy ?

    _ Thôi, đừng chọc người ta nữa ! - Một giọng dịu dàng đáp khẽ.

    _ Chà, nhỏ này bữa này lại bênh vực "kẻ thù", tụi bây ơi !

    Tiếng cả bọn cười khúc khích. Rồi vẫn giọng dịu dàng khi nãy cất lên :

    _ Tao có bênh vực gì đâu ! Mày muốn gọi gì thì gọi, nhưng đừng gọi người ta là Béc-muđda nữa !

    _ Tao cứ .

    Con nhỏ miệng móm khăng khăng. Nhưng mới thốt lên được hai tiếng, có lẽ sực hiểu không nên tiếp tục trêu chọc sự nghèo khó của người khác, nó bỗng đổi giọng :

    _ Vậy tao gọi tên mày hén ?

    _ Này, này

    Tiếng nhỏ kia hốt hoảng. Nhưng nó chưa kịp ngăn cản thì con nhỏ miệng móm đã chĩa mồm về phía tôi, kêu lớn :

    _ Cẩm Phô !

    Từ nãy đến giờ, tôi không dám đảo mắt về phía tụi nó lấy một lần nhưng tai tôi dỏng lên như tai mèo và nghe rõ hết mọi chuyện. Tôi không hề lấy làm lạ về thái độ của con nhỏ miệng móm nhưng lại vô cùng ngạc nhiên về cách xử sự của con nhỏ kia. Hóa ra trong bọn nó cũng có được một đứa tử tế. Đã mấy lần tôi định liếc mắt xem thử mặt mũi con nhỏ đó đẹp xấu ra sao nhưng cuối cùng tôi kềm lại được. Tôi đang đóng vai một người điếc bẩm sinh nên không muốn mấy con nhỏ đó biết là tôi đang quan tâm đến tụi nó.

    _ Cẩm Phô !

    Con nhỏ miệng móm lại kêu tôi.

    Khi nãy tôi tái mặt vì giận, còn bây giờ thì tôi đỏ mặt vì ngượng. Tôi cảm thấy người nóng bừng và mồ hôi ướt đầm lưng áo. Thậm chí tôi không cả nhúc nhích, tay chân bỗng chốc trở nên cứng đơ, vướng víu.

    Dường như nhận ra sự bối rối của tôi, mấy con nhỏ khác liền hùa theo con nhỏ miệng móm réo om sòm :

    _ Cẩm Phô ! Cẩm Phô !

    Con nhỏ có tên Cẩm Phô không biết có mắc cỡ như tôi không, nhưng chắc là nó đang thò tay ngắt véo lũ bạn nghịch ngợm nên mấy con nhỏ kia vừa kêu réo chọc phá vừa la "oái, oái" luôn mồm.

    Tôi vẫn đứng trơ thân cụ và chưa bao giờ cảm thấy thời gian trôi chậm như vậỵ Thằng nhỏ mới sửa xe chừng mười phút mà tôi tưởng như nó loay hoay tới hàng giờ và động tác của nó không hiểu sao trông cứ rù rờ như trong phim quay chậm. Đã mấy lần tôi định ngoác mồm ra giục nó nhưng lại sợ mấy con nhỏ kia nhìn thấy vẻ hốt hoảng của tôi nên cuối cùng tôi đành ngậm miệng làm thinh, lòng nóng như lửa đốt.

    Mãi đến khi nó nhét ruột xe vào và cầm lấy cái bơm, tôi mới thở hơi dài nhẹ nhõm.

    Khi cầm lấy ghiđdông chiếc Huy Chương Vàng, tôi định bụng sẽ chạy ngang qua mặt bọn nữ quái kia một cách ung dung, thong thả, ra vẻ thằng này cóc biết sợ ai, nhưng chẳng biết ma xui quỷ khiến thế nào, ngồi lên yên, tôi bỗng vội vàng mất hết tự chủ và cong lưng phóng thục mạng.

    Chạy tít đằng xa, tôi còn nghe chuỗi cười của bọn nữ quái văng vẳng đuổi theo.

Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group