Văn hoá đồng bằng Bắc Bộ. Trông về Kẻ Dạm (ST)
-
Chuyện kể lại rằng, chính nàng Tấm xứ Bắc-Ỷ Lan phu nhân-đã xây dựng ngôi chùa Đại lãm, còn gọi là chùa Dạm-chùa Cao. Cho nên chùa thờ cả Phật, lại thờ cả bà Tấm.
Trước kia ở thôn Tự vẫn còn lưu giữ cuốn thần tích Lý triều đệ tam hoàng hậu sự tích. Tuy nay đã mất, nhưng bất cứ ai ở vùng này cũng có thể kể ta nghe đầu cuối câu chuyện cổ tích này:
“… Ngày xưa, trong làng Thổ Lỗi nằm ven bờ nam Thiên Đức giang, có gia đình ông Lê Công Thiết và bà Vũ Thị Tỉnh. Bà Tỉnh vì mơ nuốt được mặt trăng, sinh ra một người con gái xinh đẹp bèn đặt tên là Yến, mà nôm na gọi là bé Tấm. Năm Tấm 12 tuổi, mẹ mất. Bố lấy vợ kế là Chu Thị. Chẳng bao lâu Chu Thị đẻ một con gái, đặt tên là Cám.
Một hôm Tấm và Cám cùng đi bắt cua. Tấm chăm chỉ nên bắt được nhiều. Cám lười biếng nên bắt được ít, bèn lừa Tấm xuống ao tắm trút hết cả. Tấm tắm xong, lên bờ, thấy giỏ không, bèn khóc. Vừa lúc, lão tăng Đại Điên (Có tài liệu viết là Thái Điên. Có lẽ vì mặt chữ Hán, hai chữ Thái và Đại gần nhau nên có sự lầm lẫn), trụ trì ở chùa Linh Nhân đi qua bèn hỏi rồi bảo Tấm mang con bống còn sót lại ở giỏi, đem về nuôi ở giếng, hằng ngày cho bống ăn cơm.
Chu Thị dò biết, sai Tấm đem trâu đi chăn ở đồng xa, ở nhà bắt bống thịt ăn, Tấm về, thấy mất, bèn khóc. Đại Điên lại đến bảo Tấm tìm xương đem chôn ở chân giường đủ một trăm ngày.
Y theo lời, Tấm đào lên thì được một đôi hài sáng óng ánh đi vừa khít chân mình. Một hôm Tấm đem hài ra lau, bị một con quạ sà xuống cắp mất một chiếc. Đến kinh đô, quạ làm rơi. Vua nhặt được, cho là điềm lành, bèn cho mở hội để mọi người đến ướm hài.
Ông vua đó là Lý Thánh Tông, tuổi đã cao mà không có con trai, nên thường về chùa Linh Nhân ở Thổi Lỗi cầu tự. Ai cũng đi xem vua, riêng Tấm vẫn chăm chỉ ở nương dâu của mình. Một ông hàng dầu gánh dầu đến cho hội, vì mải ngắm ngàng, bị chậm, nên các quan quở trách. Ông ta phải thú thật: “Ở ruộng dâu có một cô gái, cô đi đến đâu mây che đến đó. Tôi hỏi vì cớ gì không đi xem vua, cô bảo mình là con nhà nghèo phải lo làm ăn”. Tin ấy đến tai vua, vua ước ao được gặp mặt nàng.
Đến nơi, vua thấy rất lạ về tài sắc của cô gái, bèn đưa về Kinh. Lúc ướm hài, nàng lại đi vừa như in, lại giống chiếc nàng còn lại. Thế là nàng trở thành thần phi, và Thổi Lỗi, quê nàng, được đổi là Siêu Loại-mảnh đất đã sinh được người con gái đẹp diệu kỳ.
Theo lời của nàng, hằng năm, nhà vua vẫn cử nội thần là Nguyễn Bông về chùa Linh Nhân cầu tự. Tăng Đại Điên bèn mách cho Bông cách để Bông đầu thai làm hoàng tử. Nàng Tấm-tức Ỷ Lan phu nhân, có thai mười bốn tháng thì sinh.
Dương hậu biết thần phi có mang, cũng vờ có thai và đợi thần phi sinh nở bèn đem con mèo đánh tráo để hãm hại Ỷ Lan. Nhà vua tưởng thật, bèn giam Ỷ Lan vào cung lạnh vì tội sinh ra muông thú (Ở Dạm, có người kể hơi khác một vài chi tiết. Khi thần phi bị cướp mất con trai và bị vu là sinh ra cầm thú, nhà vua bèn đuổi đi. Thần phi ra đi, gặp một người bán hành, được người này đưa về một lò gạch coi như mẹ. Thần phi giận chồng, thương con, khóc mãi mờ cả hai mắt. Hồi đó trong triều có ông Bao Công Chuẩn trông coi thiên địa nhân, biết được việc gian, chán đời bỏ đi. Khi hoàng tử Càn Đức lên ngôi Lý Nhân Tông, thiên hạ lâm vào cảnh “bất phân trú dạ”, triều đình lo lắng mới mời Quỷ Cốc đến hỏi. Quỷ Cốc bảo vì quân bất trung, thần bất chính, nên trời đất phạt; muốn khỏi hạn phải mời Bao Công Chuẩn về. Bao Công Chuẩn được triệu hồi và phục chức, mới thuật lại chuyện xưa. Lý Nhân Tông bèn sai ông dẫn một đạo quâ đi tìm mẹ mình. Đạo quân đi đã nhiều nơi mà không tìm ra thần phi, một hôm qua chợ, gió nổi lên làm dải mũ của Bao Công Chuẩn vướng vào quanh gánh của anh hàng hành. Quân lính nghi anh hàng hành ăn cắp, bèn giữ lại. Quá trưa, anh hàng hành xin cho về nhà nấu cơm cho mẹ già loá, bèn được tha. Về nhà, anh kể lại chuyện cho mẹ nghe. Thần phi hỏi diện mạo viên tướng và sau đó bảo anh ra mời về để nói chuyện. Bao Công Chuẩn theo anh hàng hành về lò gạch, nhưng thấy thần phi gầy yếu nên không nhận ra. Thần phi bảo con trai ta ở tay chân có bốn chữ “Sơn-Hà-Xã-Tắc”. Bao Công Chuẩn cho người về kinh hỏi vua thì quả là như vậy, Lý Nhân Tông bèn đi đón mẹ, và mắt thần phi lại sáng ra. Về ngòi Con Tên, có người bảo xưa kia tên giặc kiêm thầy phù thuỷ Cao Biền thấy kiểu đất ở đây là “tứ linh hội tụ” sẽ sinh ra nhân tài, y bèn giở trò ma thuật bắn đứt cổ con rùa để triệt long mạch. Đầu rùa đứt văng ra phía trước ở làng Phương Lưu. Thân rùa nằm lại tại chỗ, vẫn rỉ ra hai dòng nước trong và đục là máu và mủ của nó. Xem thêm Phong Châu: Tấm Cám có thật ở Việt Nam không? Tập san Nghiên cứu Văn Sử Địa, số 39, tháng 4-1958). Sau này, thái tử Càn Đức, lên nối ngôi cha, mới biết chính mẹ mình đang bị giam hãm, bèn thả rồi phong là Á Quốc phu nhân, bắt Dương hậu cùng bọn tòng phạm 72 người sai chém. Á Quốc phu nhân can không được, bèn cho dựng 72 ngôi chùa, mà trong đó chùa Dạm là một…”.
---------------------------------------------------

May 20th 2006, 9:58 am
Trông về Kẻ Dạm
“Ai về thăm đất quê em,
Mà lên núi Dạm xem tiên đánh cờ”(Ca dao)
Mảnh đất của những truyền kỳ
Kẻ Dạm, được ví như nằm giữa đoạn xương sống của vùng đất Vũ Ninh xưa. Nơi đây, có những quả núi đất dấu vết của những thềm sông cổ, gồ cao lên giữa dải bình nguyên. Và đất với người như cùng gương mặt, nên cũng ở đây nền văn minh tinh thần đã xếp thành tầng, thành lớp với biết bao câu chuyện thần kỳ. Kẻ Dạm-một trung tâm của thần thoại, cổ tích, dân ca và lễ nghi tín ngưỡng.
Nếu như, vào thuở các vua Hùng dựng lập quốc gia, đất đai ở đây nằm trong cương vực của bộ lạc Rồng-như một số nhà sử học chủ trương-có lẽ cũng bởi vì thế núi sông. Đất Vũ Ninh cứ thoải dần xuống, là bậc thềm tiếp nối giữa vùng đồi núi lô xô và vùng đất trũng lầy. Sông Cầu bọc lấy ở phía bắc, con sông của những vị thần rắn trị vì. Sông Đuống chắn lại ở phía nam, cũng đã được định hình.
Thư tịch nay đọc được cho hay thế kỷ III, thời thuộc Ngô, tên huyện Vũ Ninh xuất hiện-tên mới của vùng đất Rồng xưa cũ. Có lẽ vậy mà, cho tận tới ngày nay, vùng đất này vẫn còn lắm sông nhiều ngòi. Mùa nước đến, các dòng chảy chứa chan nước bạc tựa những con Rồng trườn mình giữa biển lúa xanh rờn.
Trong những năm dài bị chính quyền phong kiến phương Bắc đô hộ, tên huyện Vũ Ninh lúc ẩn lúc hiện. Phải đến kỷ nguyên Tổ quốc Đại Việt độc lập-kể từ nhà Lý –thì tên gọi ấy mới được vững bền, dù tên ấy chỉ vì kiêng huý, chuyển sang là Vũ Giang-Võ Giang (Thời Lê, do kiêng huý chữ Ninh-Lê Trang Tông tên là Duy Ninh, làm vua từ 1533 đến 1548, nên sau Vũ Ninh đổi sang là Vũ Giang, ta quen gọi là Võ Giang).
Nằm trọng giữa tiềm thức của người Việt cổ từ buổi khai thiên lập địa, đất Vũ Ninh đã sản sinh ra hình ảnh ông Đổng khổng lồ: thân hình cao vợi, đầu chạm trời, vai đụng mây, chân bước lún đất, tiếng nói như sấm dậy, mắt nhìn như lửa chớp loé. Con người ấy đã xẻ cát thành sông, vun đá thành núi, biến rừng thành ruộng nương. Bát cơm gạo trắng với quả cà là món ăn thường ngày của ông. Khắp nơi, từ rặng Tiên Lát, rặng Dạm, Khám, Che… đâu cũng có dấu chân ông.
Về Kẻ Dạm, bạn sẽ được bất cứ ai chỉ cho dấu chân ông Đổng. Cái vũ trụ được người xưa nhân hoá từ khối hỗn mang chia ra trời đất, núi cao, biển rộng, sông dài. Cái thiên nhiên kỳ lạ ấy đồ sộ biết bao:
“Núi kia ai đắp mà cao,
Sông kia ai xẻ, ai đào mà xâu?”
Thì ra, tổ tiên ta đã hoà mình vào thiên nhiên, phóng mình ngang tầm vũ trụ, xếp lại tạo vật để có thứ tự hơn.
Đất Vũ Ninh đang sống trong khung cảnh ấy, thì từ phương Bắc, giặc Ân tràn đến, chúng đóng chặt núi Trâu, gây bao cảnh bạo ngược hung tàn: bắt dân ta phải trồng cây ngược, phải nuôi ngựa đá bằng cỏ. Ai cũng nóng lòng chờ thời để vùng dậy.
Thế rồi, những ngọn lửa từ các bễ rèn ở Kẻ Mòi (Mai Cương) ngày đêm rực toả. Tiếng búa đe, tiếng sắt, tiếng người thở, tiếng reo hò ầm ầm góc núi. Ông Hồng, người thợ cả của Kẻ Mòi, với nước da đỏ au, mắt sáng quắc đang chỉ huy hàng trăm, hàng trăm người rèn roi, đúc ngựa cho cậu bé làng Dóng. Đúc đi đúc lại hai lần, cậu bé thần lính ấy mới lên đường giết giặc.
Ngựa Dóng phi như bay, lửa hờn căm từ miệng phun cháy giặc Ân. Cây roi của Dóng bị gãy một nửa cắm trên đỉnh núi Trâu. Dóng bỏ gậy sắt, dùng ngay tre của vùng Thất Gian quăng vào bọn giặc. Đánh xong, Dóng nghỉ lại ở Bãi Bùng, rồi ghé thăm Kẻ Mòi trên đường về núi Sóc.
Soi vào trong truyền thuyết, một hiện thực của buổi hồng hoang hiện lên khoẻ đẹp ngời ngời. Từ buổi bình minh của dân tộc, Vũ Ninh đã thay mặt cho đất nước, ghi những dòng đàu tiên cho trang sử dựng nước và giữ nước đầy gian khổ nhưng vẻ vang.
Kẻ Dạm-vùng đất theo cách gọi của dân gian là đất tứ linh: rồng uốn lượn một dải từ Sơn Dương, Tự, Trung và Triều; phượng đậu ở Sơn Đông và Đa Cấu; lân đứng ở Sơn Nam và Đông Dương; quy ngoi đầu lên từ đồng ruộng, nằm cạnh Nga Hoàng.
Kẻ Dạm-có núi Dạm, còn gọi là Đại Lãm sơn, Cảnh Lãm sơn hoặc Lãm sơn. Đây không phải là quả núi đột khởi giữa đồng bằng, mà cùng một hệ với các rặng bên vùng Tiên Sơn, ở vào đoạn cuối. Trên đỉnh núi Dạm có “bàn cờ tiên” bị lật ngược, dấu tích trừng phạt của thiên cung đối với các nàng tiên mải mê nơi hạ giới.
Giờ đây, trèo lên đỉnh núi, dù chẳng được gặp tiên, nhưng cứ phóng tầm mắt ra xa mà ngắm nhìn một vùng phong cảnh quê ta, khác nào tiên cảnh. Thiên nhiên đã ưu đãi cho Kẻ Dạm. Hãy nghe, người Kẻ Dạm ca ngợi sông núi quê mình:
“Kẻ Dạm có núi Long Lân,
Đói ta ắt hẳn đã gần gặp nhau.
Nhác trông thẳng núi sông Cầu
Núi có ba trái mà đau đớn lòng”
Phan Huy Chú đã đi đến Kẻ Dạm và ghi nhận: “Mười sáu xã chia quanh núi, có rất nhiều chùa cổ, cảnh trí sông núi rất thâm u, tịch mịch, trên núi là chỗ tu của sư Không Lộ, dấu cũ nay hãy còn” (Phan Huy Chú-Lịch triều hiến chương loại chí, tập I. Nhà xuất bản Sử học, Hà Nội 1960, trang 88). Còn Lê Quý Đôn đã hoạ lại trong thơ của mình:
“Long Hạm đương sơ tác thượng phương
Cao phong khai đạo thượng lưu phương.
Toàn vân lục tính tam thiên thụ,
Bản lĩnh thanh hoàn thập lục hương”.
(Chùa Long Hạm xưa kia là một cảnh tiên,
Mở lối lên núi cao tu hành, tiếng thơm nay còn để lại.
Ba ngàn cây biếc, cao sát tầng mây,
Một dãy núi xanh vòng quanh cả mười sáu làng)(Phan Huy Chú-Sđd).
Dịch thơ:
Long Hạm chùa xưa đẹp cảnh tiên
Lên cao đắc đạo tiếng thơm truyền.
Ba ngàn cây biếc, nhoà mây thắm,
Một dãy núi xanh bọc cả miền.
Trong An Nam chí nguyện của Cao Hùng Trưng và Đại Nam nhất thống trí đều dành những đoạn ghi chép về núi và chùa ở Kẻ Dạm. An Nam chí nguyện ghi: “Ngọn núi chơm chởm cao vót, có thể lên cao để nhìn ra xa. Trong núi có chùa Thần Quang, trông ra sông Thiên Đức, thông bách xum xuê xanh mượt, nhìn trông rất dịu mát, cứ mồng 8 tháng Tư, các cử nhân và sĩ phu đều đến hội họp ở đây ca múa, ngâm, vịnh. Họ Trần có thơ rằng:
“Tục đa biến thái vân thương cẩu
Tùng bất tri niên, tăng bạch đầu”.
(Cuộc đời xoay chuyển nhiều như đám mây luôn biến dạng
Cây tùng chẳng biết bao nhiêu năm, còn sãi thì bạc đầu).
Dịch thơ:
Mây biến sắc khác gì thói tục
Sư bạc đầu chẳng biết tuổi thông (Cao Hùng Trưng-An Nam chi nguyên, bản dịch của Nguyễn Khắc Đạm, đánh máy, lưu tại Thư viện Hà Bắc).
Đại Nam nhất thống trí chi ta biết thêm: “Hàng năm, đến ngày 8 tháng Tư, trai gái thường tụ họp ở đây cùng nhau hát múa” (Đại Nam nhất thống chí, tập IV. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971, trang 73). Còn trong Bắc Ninh toàn tỉnh địa dư chí nói rõ hơn: “Về địa phận Sơn Trung có chùa Đại Lãm, về địa phận Sơn Đông có chùa Bảo Quang, địa phận Sơn Dương có chùa Long Hạm; suối chảy vòng quanh núi, cây cối rườm rà, trông cả vùng như một bức tranh vẽ. Từ xưa ở đây, có tiếng là cảnh danh thắng, thi nhân đề thơ rất nhiều. Trước núi có một con đường nhỏ, đào từ chân núi xuyên qua núi Rùa (Quy Sơn), đường này là một lạch núi chạy ra đến sông Thiên Đức, tục gọi là Đường Con tên” (Bắc Ninh toàn tỉnh địa dư chí, tờ 12a và 12b).