Văn học cổ đại Hy Lạp - Nguyễn Thị Ngọc Dung (5/5 chương)

  • katkatt

    khoảng 1 10 năm trước
  • VĂN HỌC CỔ ÐẠI HY LẠP




    V. BI KỊCH HY LẠP

    Bi kịch (Tragedie) là một thuật ngữ gốc Hy lạp, với ý nghĩa ban đầu của nó là bài ca về con dê. Theo truyền thuyết, Icarios là người được thần Dyonysos dạy cách trồng nho và ép rượu. Một hôm có một con dê vào phá vườn nho, Icarios đuổi bắt con vật và giết được nó. Mọi người được tin đến reo mừng quanh xác con vật và hát những bài hát ca ngợi vị thần ân đức của mình. Từ đó trong các cuộc cúng tế thần Dyonysos người ta đều có giết một con dê để nhắc lại chuyện xưa.



    Bi kịch Hy Lạp có hai nguồn gốc:


    - Nguồn gốc dân gian: Trước khi thành hình thức hoàn chĩnh, bi kịch mang nhiều tính chất vui nhộn sỗ sàng, yếu tố nhảy múa còn chiếm khá nhiều. Trong các buổi hội hè cúng tế, đội đồng ca ngồi quanh bàn thờ thần Dyonysos hát lên những ca khúc than vãn cho những nỗi gian truân bi thảm của cuộc đời vị thần, hoặc ca ngợi công lao ân đức, những thắng lợi và sự tái sinh của vị thần ấy. Ðó là những ca khúc Ditijanbe. Từ những khúc ca này đã nảy sinh ra tính chất bi kịch và mầm mống của đối thoại.


    - Nguồn gốc xã hội: Nếu hình thức đồng ca trữ tình đã dọn đường cho bi kịch Hy Lạp thì phải đợi đến sự xâm nhập của lịch sử vào cuộc sống thì bi kịch Hy Lạp mới trở thành một bộ môn nghệ thuật. Xã hội Athène trong gần 2 thế kỷ ( VI và V TCN ) chính là miếng đất đã vun xới cho bi kịch Hy Lạp và nuôi dưỡng nó trưởng thành.



    Nguyên nhân xã hội có tính chất quyết định đối với sự ra đời của bi kịch, chuyển bi kịch từ những nghi thức tôn giáo nguyên thủy thành một loại hình văn học, là những cuộc đấu tranh giai cấp giữa quý tộc công thương và dân tự do, đại diện cho lực lượng tiến bộ, với lớp quý tộc ruộng đất. Cuộc đấu tranh này gắn liền với sự hình thành nhà nước dân chủ nô lệ. Trong cuộc đấu tranh đó con người luôn luôn có khát vọng nhận thức và giải thích những biến cố lịch sử, và những lực lượng xã hội mới đã tìm thấy trong tôn giáo của Dyonysos một biểu hiện cho lý tưởng và khát vọng của mình. Như vậy, yếu tố quyết định sự ra đời của bi kịch là sự hình thành nhà nước nô lệ và cuộc đấu tranh giai cấp của thế kỷ VI, V TCN. Bi kịch trở thành vũ khí của cuộc đấu tranh đó.



    Quá trình phát triển của bi kịch:



    Năm 539 TCN thi sĩ Thespis là người đã thành lập ra những đoàn ca kịch đầu tiên trên các xe bò trong đó vai trò của người diễn viên (lúc này chỉ mới có một). Năm 510 TCN thi sĩ Phrynichos tiếp tục phát triển thêm khả năng biểu diễn (những sự biến trước mắt, những người thực việc thực). Ví dụ: Bi kịch thành Milê thất thủ của Phrynichos hoặc quân Ba Tư của Eschyle là tác phẩm lấy đề tài ngay trong những sự kiện chính trị đương thời.



    Về sau, Eschyle, Sophocle và Euripide đã tiếp tục xây đắp nền móng cho bi kịch, nâng nó lên thành mức độ hoàn thiện. Bi kịch bắt đầu trở thành một thể loại của kịch, đối lập với hài kịch, thường miêu tả những con người lương thiện, dũng cảm, những anh hùng đấu tranh vì những mục đích tốt đẹp, lý tưởng cao quý nhưng điều kiện khách quan không ủng hộ khiến họ thất bại. Qua những khó khăn, gian khổ, hy sinh, phẩm chất cao quý của họ nổi bật lên, gợi cảm và hấp dẫn người đọc, người xem trong không khí bi tráng. Ơû bi kịch cổ đại Hy Lạp ta thường thấy cuộc đấu tranh chống lại số mệnh. Nhân vật bi kịch thất bại, lý tưởng mà họ đấu tranh không thực hiện được nhưng tinh thần của họ gợi lên sự kính phục và tin tưởng trong lòng người xem. Ðó là tác dụng giáo dục của bi kịch (Nguyễn Xuân Nam)



    Giá trị to lớn của bi kịch:


    Trong lịch sử văn học cổ đại Hy Lạp giai đoạn phát triển mạnh mẽ, rực rở và phong phú nhất được mang danh hiệu là thời kỳ cổ điển cũng chính là giai đoạn ra đời của những bi kịch vĩ dại làm nền móng cho kịch trường Châu Aâu sau này. Sự ra đời của bi kịch phản ánh cuộc sống của con người trong xã hội ngày càng văn minh hơn, tầm nhận thức và khả năng sáng tạo của con người ngày càng mở rộng hơn. Những công cuộc tổ chức diễn kịch được qui mô cùng với những dấu vết còn lại của các nhà hát cổ đại là bằng chứng. Bi kịch Hy Lạp đã trở thành một nghệ thuật dân tộc đối với nhân dân Athène. Người ta tôn sùng bi kịch không phải chỉ do lòng ngưỡng mộ thần Dyonysos như thuở ban đầu, mà vì những âm điệu bi tráng, những tâm hồn sôi nổi, bất khuất, những đau khổ và xung đột trong bi kịch Hy Lạp đều là những tiếng vang của một thời đại lớn đang đấu tranh khai phá và phục hưng đất nước.

    Các tác giả và tác phẩm tiêu biểu



    Eschyle
    (525-456 TCN)


    Tiểu sử: Eschyle xuất thân trong một gia đình quý tộc ruộng đất ở Eleusis gần Athène. Tuy vậy ông vẫn đứng về phía nhà nước dân chủ chủ nô vàsuốt đời đã dùng ngòi bút của mình để chiến đấu cho nền trật tự và văn hóa của xã hội mới. Cuộc đời ông gắn liền với những biến cố lớn lao của thời đại: đó là sự hình thành của nhà nước dân chủ nô lệ vàcuộc chiến tranh chống đế quốc Batư xâm lược. Trong chiến tranh Ba tư Hy Lạp (500-446 TCN), ông là một chiến sĩ dũng cảm cùng với hai anh tham gia chiến đấu. Ông có mặt trong cả ba cuộc chiến thắng vẻ vang của người Hy Lạp (Marathon 490, Salamin 480 và Platé 479).

    Ông đã sống và sáng tác trong không khí sôi sục đó của lịch sử. Ông viết tất cả 70 vở nhưng hiện nay chỉ còn lại có 7 vở. Ông đã đoạt được 13 giải thưởng trong đời và 28 giải sau khi mất. Qua 7 vở kịch còn lại của ông ta thấy những vấn đề mà ông quan tâm là những vấn đề lớn của thời đại và nhân loại.: Cuộc đấu tranh giữa mẫu quyền và phụ quyền và cuộc đấu tranh cho tự do hạnh phúc của loài người. Bằng thiên tài và sức mạnh sáng tạo của mình, Eschyle đã là người nhìn thấy những bước ngoặc lớn của lịch sử nhân loại. Trong các vở kịch lớn của Eschyle qua từng giai đoạn ta có thể thấy những tư tưởng dân chủ của tác giả. Ðối với chiến tranh, Eschyle công kích cuộc viễn chinh của Hy Lạp vào nhà nước Athène năm 129. Ðối với thần linh ông có thái độ hoài nghi, và trong nhiều vở kịch ông đã phê phán hành động của các vị thần, mà mạnh mẽ và tập trung nhất là trong vở Prométhée bị xiềng. Trong thế giới quan tiến bộ của ông còn thấy rất nhiều dấu vết của chủ nghĩa duy vật thô sơ thời cổ đại.


    PROMÉTHEÉ BỊ XIỀNG



    Là một vở bi kịch nổi tiếng của Eschyle từ lâu đã có ảnh hưởng đối với nền văn hóa thế giới. Ðược diễn vào năm nào không rõ, ước chừng 469 TCN. Ðây là một trong bộ ba vở kịch liên hoàn: Prométheé người mang lửa, Prométheé bị xiềng và Prométheé được giải phóng. Hai vở kịch kia đã thất truyền.


    Prométheé bị xiềng mở đầu bằng cảnh Prométheé bị xích chặt vào núi đá và yên lặng chịu đựng cực hình mà không một lời kêu than. Chàng khinh bạc tất cả những lời khuyên dụ của thiên thần. Chàng còn là hiện thân của một người bạn chân tình của nững kẻ bị áp bức, đau khổ.Lúc bấy giờ, Ios, một thiếu nữ bị Zeus phụ tình và Héra ghen tuông cho muỗi mòng cắn đốt chạy qua vùng này. Prométheé tiên tri rằng nàng sẽ sinh hạ một vĩ nhân, sau này sẽ giải phóng chàng. Ðồng thời chàng cho biết những bí mật về số phận và cái chết của Zeus. Ðược tin đó, Zeus cho Hermès xuống tra hỏi. Bất chấp mọi lời dọa dẫm, dụ dỗ, Prométhée không dứt lời sỉ nhục Zeus. Bất lực trước ý chí sắt đá đó của Prométheé, Zeuus giáng mây mù giông bão xuống núi đá chôn vùi Prométheé.

    Vở bi kịch đã trình bày một cách tổng quát cuộc đấu tranh của con người chống lại thiên nhiên và những lực lượng thống trị tàn bạo trong xã hội. Nó cũng ghi lại những thắng lợi đầu tiên của con người trong cuộc đấu tranh trường kỳ và gian khổ đó. và đó cũng chính là cuộc đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hình thành nhà nước nô lệ. Mác đã vạch ra rằng: Sự phê phán các vị thần trên thiên đình cũng đồng thời là sự chống lại các vị thần ở cõi trần và Promé theé là vị thánh đầu tiên, là người tuẫn tiết đầu tiên trong triết học.Nhận xét đó giải thích được vì sao hình tượng Prométheé sống mãi trong lòng nhân loại. Ðó là hình ảnh tiêu biểu của những chiến sỹ dũng cảm đấu tranh với thiên nhiên, chinh phục tự nhiên cũng như đấu tranh với những lực lượng hắc ám trong xã hội để mang lại tự do, văn minh và tiến bộ cho loài người.



    Sophocle

    (496-406 TCN)



    Tiểu sử: Sophocle sinh ra đời tại Colon, một thị trấn gần Athène trong một gia đình quý tộc có thế lực. Cha ông là chủ một xưởng sản xuất vũ khí. Từ nhỏ Sophocle đã được hấp thu một nền giáo dục đầy đủ. Truyền thuyết xưa kể lại rằng vào năm 480 TCN khi quân Hy Lạp đánh Ba Tư trong trận thủy chiến Salamin, khi đó mới 16 tuổi, Sophocle đã chỉ huy đội đồng ca thiếu sinh quân hát mừng đoàn quân chiến thắng trong đó có Eschyle trở về. Ðó cũng là năm ra đời của Euripide. Năm 480 TCN được xem như thời điểm hội tụ của ba nhà viếi bi kịch xuất sắc nhất của Hi Lạp cổ đại.

    Cuộc đời Sophocle gắn với hai biến cố lớn lao cuả thời đại:


    - Thời cực thịnh của vương triều Périclès (461-429 TCN). Trong 32 năm cầm quyền, Périclès dã biến Athène không chỉ là thủ đô kinh tế, chính trị mà còn là trung tâm văn hóa của toàn cõi Hy Lạp.

    - Cuộc chiến tranh Péloponèse (431-402 TCN) chia Hy Lạp ra làm hai khối liên minh do Sparta và Athène cầm đầu, kết thúc bằng sự thất bại của Athène. Thể chế Cộng hòa dân chủ bị xóa bỏ để thay thế bằng chế độ quý tộc theo mô hình của Sparta.



    Sophocle đã tạo bước chuyển biến quyết định làm cho nghệ thuật sân khấu trở thành sinh động. Ông đã viết trên 120 vở kịch, ngày nay chỉ còn lại 7 vở, trong đó nổi tiếng nhất có vở bi kịch Oedipe làm vua.


    OEDIPE LÀM VUA:


    Odipe làm vua thành Thèbes, đau xót vì nạn dịch xảy ra trong dân, đã cử Créon đến đền thờ thần Delphe để xin lời chỉ dẫn. Thần Apollon phán tryền phải trừng trị kẻ đã giết chết nhà vua trị vì thành Thèbes trước kia hiện đang có mặt trong thành. Với trách nhiệm của người nắm vận mệnh đất nước, Odipe quyết tâm đi tìm thủ phạm và cuối cùng sự thật về cái chết của nhà vua Laius đã được phơi bày.



    Trước kia vua Laius và bà huàng hậu Jocaste bị một lời nguyền khủng khiếp là đứa con mà họ sinh ra sẽ là đứa con giết cha và lấy mẹ. Vì vậy khi đứa trẻ ra đời, họ đã sai một nô lệ mang đi giết chết. Nhưng người nô lệ không giết đứa trẻ mà mang cho một người chăn cừu ở thành bang Corinthe nuôi dưỡng,Tình cờ đứa trẻ trở thành con nuôi của nhà vua Polipe ở thành bang Corinhthe. Ðó chính là Odipe. Lớn lên, bị xúc phạm, Oedipe đi cầu thần và được phán truyền: sẽ giết cha và lấy mẹ.



    Sợ hãi, Odipe bỏ nhà ra đi để khỏi bị phạm tội. Dọc đường chàng gặp một chiếc xe ngựa. Do thái độ hống hách của những người trên xe, xung đột xảy ra. Odipe đánh nhau và đã giết gần hết bọn người đó, trong đó có Laius.



    Odipe đến thành Thèbes. Ðô thành này đang bị một con quái vật là Sphinx, mình sư tử, đầu người đang gây tai họa. Chàng giải được câu đố bí hiểm của con vật bắt nó phải đâm đầu xuống vực chết, trả lại bình yên cho kinh thành. Oedipe được suy tôn làm vua thành Thèbes và cưới vợ góa của nhà vua trước.



    Khám phá ra sự thật, Jocaste tự tử chết, Odipe tự đâm mù mắt mình rồi bỏ ngai vàng ra đi.



    Vở kịch miêu tả quá trình Oedipe đi tìm sự thật. Những biến cố và chiến công của chàng trước kia không được thuật lại. Xung đột kịch không như trong Prométheé bị xiềng mà diễn ra giữa một bên là tính cách của Oedipe, một bên là số mệnh, được thể hiện qua những sự cản trở Oedipe trên con đường đi tìm sự thật. Nó như những đòn đánh ác hiểm tấn công dồn dập vào chàng: Lời tiết lộ của vị tiên tri mù về việc Oedipe chính là kẻ giết Laius. Việc Jocaste trấn an Oedipe nhưng lại có một nô lệ còn sống sót trong vụ thảm sát có thể làm chứng được gọi ra. Việc người đưa tin ở Corinthe đến mời Oedipe về kế vị ngai vàng của nhà vua vừa mới qua đời nhưng Oedipe từ chối vì sợ mắc phải lời nguyền, và người đưa tin đã tiết lộ thân thế của Oedipe, chàng chỉ là con nuôi của nhà vua Corinthe. Rồi cuộc đối chất diễn ra giữa người đưa tin và người nô lệ chăn cừu còn sống sót.



    Số mệnh đã tiên định những tai họa cho cuộc đời Odipe và cha mẹ của chàng, dù họ đã cố tránh. Nếu nhìn bề ngoài thì dường như vở kịch chứng minh cho sức mạnh tuyệt đối của định mệnh. Con người chỉ là trò chơi, là con rối trên cái sân khấu mênh mông của cuộc đời mà số mệnh là người giật dây, điều khiển.



    Qua vở kịch của Sophocle, chúng ta khẳng định: Oedipe là vô tội. Chính thần thánh, số mệnh mới là kẻ phạm tội trong câu chuyện này. Chính họ là thủ phạm gây nên những tai họạ trong cuộc đời Oedipe. Và hình tượng Oedipe với cuộc đấu tranh truy tìm sự thật cũng đã khẳng định tinh thần bất khuất và ý chí tự do của con người. Bằng cuộc đấu tranh đi tìm sự thật, Oedipe cũng khẳng định mình là người anh hùng chân chính của nhân dân, hành động vì quyền lợi của nhân dân, không dùng quyền lực để che dấu lỗi lầm, duy trì ngôi báu.



    Euripide

    (480-406 TCN)


    Tiểu sử: Euripide là nhà bi kịch cuối cùng của đất nước Hy Lạp cổ đại. Xuất thân quý tộc, có trình độ học vấn uyên bác, ông lớn lên và trưởng thành ở giai đoạn nước Cộng hòa Athène sau một thế kỷ phát triển rực rỡ, bắt đầu suy vong, nội bộ chia rẻ và bị Sparta đánh chiếm.


    Ông sáng tác khoảng 92 vở kịch, còn lại được 19 vở. Ông đã biết tiếp thu được yếu tố cơ bản nhất của thời đại, là lòng tin ở lý trí, tư duy của con người. Các nhân vật thần trong kịch của ông tốt ít, xấu nhiều. Các nhân vật người của ông không phải là những con rối trong bàn tay các vị thần. Họ là những con người có tự do tư tưởng, biết lý luận, phân tích, phê bình, biết tư duy đồng thời cũng biết xúc động. Họ hành động là tự ý mình và do sự thôi thúc bên trong. Con người trong bi kịch Euripide là những con người đam mê. Và chính từ những nỗi đam mê cuồng nhiệt không được thỏa mãn sẽ dễ dàng dẫn đến bi kịch. Ðam mê cũng lấn át lý trí va øquyết định hành động của các nhân vật. Trong kịch của ông nhân vật thường bị đưa vào những tình huống bi đát, những cơn khủng hoảng nặng nề. Không ai bằng ông trong việc kích động lòng thương xót cũng như những nỗi kinh hoàng. Không ai hơn ông trong việc khắc họa những bức tranh về lòng say đắm, căm giân hoặc hờn ghen. Và người ta hiểu vì sao nhân vật phụ nữ chiếm một vị trí trọng đại trong các vở kịch của ông.


    Euripide vừa là người của thời đại mình, vừa đi trước thời đại.Ông chủ trương sân khấu phải tổng hợp cả tiếng khóc lẫn nụ cười, cả ngôn từ tầm thường lẫn ngôn từ cao cả, cái lớn lao và bé nhỏ, cái cao thượng lẫn thấp hèn.


    MEDEÉ:




    Vở bi kịch Médeé khai thác truyền thuyết về tấm da lông cừu vàng và truyền thuyết về những thủy thủ trên con tàu Aùcgốt, làm nên một tấn bi kịch đau xót về tình yêu.



    Médeé là một nhân vật truyền thuyết trong kho tàng văn học dân gian Hy Lạp. Nàng là con gái nhà vua xứ Colchis, giỏi phù phép, ma thuật. Vua có tấm lông da con cừu vàng, là bùa hộ mệnh của đất nước, được canh giữ cẩn mật. Jadon là hoành tử Ioncos, bị chú là Pélias chiếm ngôi và hứa sẽ trả lại khi nào chàng mang về được tấm da lông cừu vàng. Chàng ra đi, chỉ huy con tàu Acgôt với 50 dũng sỹ. Ðến Colchis, chàng được Médeé đem long yêu và hết sức giúp đỡ đạt được mục đích. Médeé trốn theo Jadon về Ioncos. Ho lấy nhau và có 2 con. Người chú nuốt lời không trả lại ngai vàng. Médeé lại giúp Jadon trả thù người chú, sau đó họ phải đi lánh nạn tại Corinthe.



    Vở kịch bắt đầu với tâm trạng đau khổ, ghen hờn và căm giận của Médeé trước thái độ phụ bạc trắng trợn của Jadon. Chàng sắp sửa thành hôn cùng công chúa Joké con của nhà vua Créon. Càng căm giận hơn khi vua còn ra lệnh trục xuất nàng cùng hai con trai ra khỏi Corinthe. Médeé xin nán lại một ngày để sửa soạn, thật ra là để trả thù. Nàng sai hai con đem dâng lên cho công chúa chiếc áo choàng và vương miện, nói rằng để cầu xin ở lại Corinthe. Khi vừa mặc vào là công chúa ngấm thuốc độc chết cháy. vua Créon đến cứu con cũng bị chết theo. Ðể trừng phạt Jadon, Médeé còn giết cả hai con. Bi kịch kết thúc bằng nỗi đau khổ của Jadon trong lời bình luận của đội đồng ca.



    Médeé là một vở bi kịch về tình yêu, gia đình nhưng rất giàu ý nghĩa xã hội. Qua câu chuyện một người phụ nữ, một người vợ, người mẹ có tình yêu mãnh liệt và có ý thức về quyền sống, nhân phẩm của mình, bị phụ bạc đã nổi giận giáng một đòn trả thù rất khủng khiếp và độc ác xuống người chồng, Euripide đã cho ta thấy tình trạng suy đồi đạo đức trong xã hội thời đó. Vở kịch tố cáo những thành kiến phân biệt đối xử đối với người phụ nữ và ước mơ được quyền sống bình đẳng của họ. Cuộc đấu tranh trong tâm hồn Médeé giữa lý trí và dục vọng, giữa tình mẫu tử và ý định trả thù nghiệt ngã đã tạo nên sức hấp dẫn của vở kịch. Chỗ hạn chế là cảnh trả thù quá rùng rợn khiến cho giá trị chân chính của tác phẩm và ý nghĩa nhân đạo bị tổn thương.

    (hết)


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group