Ô Quan Chưởng

  • anap3

    July 9th 2006, 8:58 pm
  • May mắn cho phố cổ Hà Nội còn sót lại một Ô Quan Chư­ởng. Cửa ô là nơi nội thành tiếp cận với ngoại thành. Do đó, ca dao xư­a mới có câu:
    "Ở đâu năm cửa ô chàng ơi
    Sông Nhĩ Hà mấy khúc n­ước chảy xuôi một dòng!"

    Ðó là câu đố về Hà Nội. Năm cửa tức là năm cửa ô. Cho đến đầu thế kỷ Hà Nội vẫn còn năm cửa ô. Ðó là Ô Cầu Giấy, Ô Cầu Dền, Ô Chợ Dừa, Ô Ðống Mác và Ô Quan Chư­ởng... Bốn cửa ô kia đã bặt tăm bóng dáng. Chỉ còn một Ô Quan Ch­ưởng. Có ô chắc phải có cửa. Thành quách ngày x­a thư­ờng có 3 lớp: lớp thành ngoài cùng đắp bằng đất... Ðấy là thành của phố, ph­ường dân chúng, là nơi bảo vệ vành ngoài. Sau đó tầng thành thứ hai là hoàng thành, và lớp cuối cùng là nơi vua và các đại thần đến để làm việc gọi là Tử Cấm Thành. Mỗi vòng thành đều có cửa cả. Về Ô Quan Ch­ưởng, sách của cụ Hoàng Ðạo Thuý "Người và cảnh Hà Nội" đã ghi:

    "Song song với Hàng Ðậu là Hàng Khoai. Dư­ới chợ là Phố Mới; đầu phố, chỗ gần bờ sông có cửa Ô Quan Ch­ưởng (cửa Ðông Hà), còn nguyên cổng xây cũ, đoạn này gọi là phố Hàng Chiếu. Tr­ớc khi Tây sang, tên Jean Dupuis (Ðồ Phổ Nghĩa) gây cơ sở ở đây cùng với bọn khách trú khi Francisco Garnier đánh thành thì một ông Ch­ưởng Cơ, cùng một trăm chiến sĩ, đã giữ cửa này đến ng­ười cuối cùng!

    Quả như­ vậy thì đây là nơi mà đáng lý phải ghi biển chiến công. Nh­ưng Hà Nội với trận tử chiến cùng quân Pháp của Nguyễn Tri Phương oanh liệt quá mà chiến công ở đây bị sử sách quên ghi mất chăng...

    Cuốn "Ðư­ờng phố Hà Nội" của các ông Nguyễn Vinh Phúc và Trần Huy Bá thì đư­a ra ba giả thuyết cho rằng cửa ô có từ cuối đời Lê... và lại căn cứ vào sách C­ương Mục ghi rằng thời Mạc đã có phư­ờng Ðông Hà, bởi vì trên đỉnh Ô Quan Ch­ởng còn có 3 chữ "Ðông Hà môn"... Nh­ưng liệu cái "Ðông Hà môn" thời nhà Mạc ấy, có đúng là Ô Quan Chư­ởng hiện nay, i xì như­ thế không, thì hai ông cũng không giải thích...

    Cổng thì có tên là cửa Ðông Hà mà dân thì cứ quen gọi là Ô Quan Chư­ởng..., vậy là cái tên Ô Quan Chư­ởng là dân phong; và cái ông Quan Chư­ởng này chắc hẳn đư­ợc dân yêu thì mới đặt tên cho... Cho nên, tôi cứ nghiêng về thuyết cụ Hoàng Ðạo Thuý...

    Tôi đã nhiều lần đi lại d­ưới vòm cổng Ô Quan Ch­ưởng, có lúc ngắm cổng từ Hàng Buồm, Hàng Chiếu là ngắm từ phía tả, xế về Hàng Buồm, thuở còn nhà cửa lúp xúp, là nhìn từ phía hữu, tuy có bị che chắn như­ng cũng thấy đ­ược cái vòm cổng xa xa... nhất là khi ráng chiều đổ xuống, v­ơng vàng trên tán cây thì cái dáng Ô Quan Chư­ởng vừa oai, lại có một chút gì bùi ngùi, v­ương vấn... Ô Quan Chư­ởng gắn liền với chợ Bắc Qua, chợ Ðồng Xuân; với chợ Gạo... Trư­ớc đây ở sát gần Ô Quan Ch­ưởng còn có mấy cửa hàng nâu... Hẳn là từ phía Phú Thọ-Yên Bái-Tuyên Quang, cập bến sông Hồng, rồi đ­ưa lên đây bán...

    Cửa ô là nơi chân quê, những ng­ời sơn c­ước lần đầu tiên vào thành phố chạm trán với kinh thành. Qua các Ô Cầu Dền, Ô Ðống Mác, Ô Chợ Dừa, Ô Cầu Giấy x­a thì chỉ trống huơ, trống hoác... Nh­ưng đến với Ô Quan Chư­ởng thì còn vòm cửa trấn giữ, trên lại còn lư­u giữ một lầu vọng địch... gạch cũ rêu phong... cửa ô dày bằng cả thân thành x­a. Cái vòm tò vò rất rộng, chắc trư­ớc đây còn có hai cánh cổng dày và lớn, ban đêm đóng lại, sáng lại mở ra... Nh­ưng cổng đã không còn... Cái vòm tò vò chính là cái khuôn hình tạo nên một trong vẻ đẹp của cửa ô, mỗi khi có một chiếc xích lô, một gánh hàng rong, hay một lữ khách nào, l­ưng đeo ba lô, dừng lại ngó nghiêng ở đấy.

    Tôi đã nhiều lần chứng kiến, một vài Việt kiều khi thăm phố cổ, thăm Hàng Chiếu, Hàng Buồm cứ lững thững đi lại d­ới vòm Ô Quan Chưởng, có một lần họ mừng reo lên vì có một hàng bún ốc rong và họ gọi đến, ngồi ngay bên cổng Ô Quan Ch­ởng, mà xì xụp ăn... Lúc ấy họ mới có cái phút hân hoan, thấy mình quả là Hà Nội gốc...

    May sao, Hà Nội còn một cửa Ô Quan Ch­ưởng. Tôi cứ nghĩ thế. Sau này nữa, khi phố cổ đã như­ một góc bảo tàng sống, thì cửa ô với nguyên hình dáng này mới thật quý làm sao... Vì chợ Ðồng Xuân cũ cũng còn đâu nữa... Chợ Gạo, chợ Bắc Qua cũng biến dạng nốt rồi... Chỉ còn dáng một cổng thành xưa..., với nỗi hoài niệm đủ đầy vì quá khứ, là cái đẹp của một thời, không chỉ về kiến trúc mà còn lại một di tích lịch sử đáng trân trọng nữa...

    May sao Hà Nội còn nguyên một Ô Quan Chưởng!


    Đây là một trong 21 cửa ô của tòa thành ngoại vi Thăng Long cũ. Ô Quan Chưởng được xây dựng từ năm 1749, nay ở đầu phố Hàng Chiếu.
    Cửa ô còn nguyên một cửa chính và hai cửa phụ hai bên. Trên tường còn gắn một tấm bia đá do Hoàng Diệu cho làm từ năm 1881, ghi lệnh cấm quân canh không được sách nhiễu dân qua lại cửa ô.


    Cửa có ghi ba chữ lớn “Thanh Hà Môn”, gọi thế vì ở trên đất thôn Thanh Hà, tổng Đồng Xuân, bên cửa sông Tô Lịch xưa. Nhưng dân Thủ đô chỉ quen gọi là Ô Quan Chưởng. Lai lịch có thuyết như sau: ngày 20/11/1873, giặc Pháp gây hấn đánh thành Hà Nội. Chúng từ tàu chiến đậu ở bến sông Hồng kéo lên, xông vào cửa ô và đã gặp sự chống cự mãnh liệt của một toán quân ta do một viên Chưởng Cơ chỉ huy. Cuộc chiến đấu kéo dài suốt từ sáng đến gần trưa, khi viên Chưởng Cơ và cả 100 người lính đều anh dũng hy sinh. Ô Quan Chưởng trở thành một chứng tích của tinh thần bất khuất của người Thăng Long – Hà Nội.

    Long Thành bao quản nắng mưa
    Cửa Ô Quan Chưởng bây giờ còn đây.

  • anap3

    July 9th 2006, 9:03 pm
  • Sau khi nhất thống sơn hà, triều đình nhà Nguyễn cho chuyển kinh đô vào Phú Xuân (TP Huế ngày nay). Khoảng những năm 1820-1821 dưới triều Minh Mạng, việc phân định địa giới các địa phương (tỉnh, phủ, huyện và làng 4 xã) cũng hoàn thành để thống nhất cách cai trị. Kinh thành Thăng Long gọi là Bắc Thành, nhưng vua Minh Mạng cho đổi tên là Hà Nội vì nơi đây là vùng đất nằm giữa các sông lớn.

    Ba mặt của Hà Nội tiếp giáp sông Hồng và sông Tô Lịch. Vùng đất mạn Nam kinh thành vừa thấp vừa trũng. Có sông tất phải có đê bao bọc để giữ cho nội thành không bị ngập lụt, trong khi các vùng chung quanh bị vỡ đê mùa lũ. Đê thì cao mà đường đi thì thấp, nên chính quyền cho cắt ngang thân đê tạo ra các cửa cho thuận tiện giao thông. Tại những nơi này, người ta làm thành các đầu trụ, lại đặt sẵn những phiến gỗ lim to và dài vừa bằng khẩu độ của cửa. Khi cần sẽ xếp thành hai hàng gỗ chồng lên nhau và đổ đất vào giữa đóng kín cửa lại. Đồng thời xếp các bao đất làm lối lên xuống cho các phương tiện giao thông.

    Đê và các cửa ra vào ấy phân định ranh giới giữa Hà Nội và các tỉnh lân cận, đồng thời cũng là ranh giới giữa lối sống và cách sống của người Hà Nội với dân chúng bên ngoài. Ngựa xe ra khỏi các cửa thì lấm lem bẩn thỉu do đường sá lầy lội, nhất là vào những ngày có mưa. Đa phần dân chúng sống ở vùng ngoài các cửa ấy là nông dân, lớp dân nghèo chuyên làm thuê hoặc hầu hạ trong các nhà quan hay nhà giàu buôn bán trong nội thành. Lớp người lao khổ ấy bị miệt thị và khinh rẻ nên gọi là dân nhà quê hay dân ngoại ô. Rồi các cửa ra vào kia gọi là cửa ô.

    Thời xa xưa, có tới trên 10 cửa ra vào cắt ngang thân đê. Nhưng tới trước ngày giải phóng thủ đô còn lại 6 cửa, người ta chỉ quen nói đến 5 cửa mà thôi. Đó là: Cầu Giấy, chợ Dừa, cầu Dền, Đống Mác, Đông Hà (hay còn gọi là Quan Chưởng) và Kim Liên (hay còn gọi là Đồng Lầm). Mỗi cửa mang một nét riêng biệt mà hình thành tên gọi. Người Việt Nam ta hay nói tắt, nên rồi cửa ô biến thành Ô mà ra: Ô Cầu Giấy, Ô Chợ Dừa, Ô Quan Chưởng.

    Đáng lưu ý nhất là có hai cửa mang những nét tiêu biểu không bao giờ phai mờ trong tâm khảm của người Hà Nội:

    - Thứ nhất là Cửa Đông Hà mà tên chữ Hán Đông Hà Môn khắc trên tấm biển đá treo cao trong cửa này. Đông Hà Môn có nghĩa là cửa ra sông phía Đông. Nơi đây nay vẫn còn sừng sững lầu cao, cửa cuốn và vọng gác cùng với một đoạn tường thành.

    Mọi sự ra vào kinh thành, nhất là với người nước ngoài đều bị kiểm tra rất nghiêm ngặt. Cho ai ra vào thì quan ký tên vào thẻ bài và đóng dấu. Đó là quan Chưởng vệ hay có khi gọi là Chưởng ấn. Quan Chưởng ấn tức là quan giữ ấn, kiểm soát người ra vào như đã nói trên. Nhưng có lẽ tên gọi quan Chưởng vệ là đúng hơn cả. Bởi lẽ vị quan này tước vị chỉ dưới quan Tổng đốc kinh thành, chuyên việc bảo vệ an ninh quốc phòng và an ninh trật tự xã hội công cộng.

    (Do hiểu lầm chữ Chưởng là “giữ” với Chưởng là “tay” nên một tác giả có tên gọi là Dương Thanh Hải, trong bài viết đăng báo Tiền phong số 122 ra ngày 10-10-2000 đã giải thích rằng Ô Quan Chưởng là Quan tay đen, có ý gán cho vị quan ấy tham ô, nhũng nhiễu dân lành khi ra vào nơi đây (!).

    Trước ngày giải phóng thủ đô, đoạn phố thông từ cửa này ra tới đường Trần Nhật Duật có tên là phố Quan Chưởng. Nhưng rồi không rõ từ lúc nào người ta cho thay tấm biển ấy mà thêm vào chữ ô thành ra phố Ô Quan Chưởng. Rồi lại thêm ra hai tấm biển đá to, khắc ba chữ lớn “Ô Quan Chưởng” để án ngữ lối vào ra nơi đây.

    Thời xưa, thông thường mỗi địa danh trên đất nước ta có hai tên là: tên “chữ” và tên gọi nôm. Đông Hà môn là tên chữ và cửa Quan Chưởng là tên gọi bình thường nôm na dân dã. Trong mọi loại giấy tờ bao giờ cũng dùng tên chữ, mà không dùng tên nôm. (Ví như trên giấy tờ thì viết là làng Cổ Nhuế chứ không viết là làng Kẻ Noi).

    Cách giải thích sai dẫn đến hiểu sai và viết sai, gây tác hại không nhỏ đối với lịch sử thủ đô chúng ta và những người có công đối với mảnh đất ấy.

    - Cửa thứ hai là: Cửa Kim Liên hay còn gọi là cửa Đồng Lầm, nằm trên ngã tư đường Giải Phóng - Đại Cồ Việt và lối vào khu chung cư Kim Liên - Trung Tự.

    Kim Liên là vùng đất trũng nhất khu vực này. Nước thải trong thành phố tuôn xuống hai hồ Thiền Quang, đổ ra cửa cống để thoát vào đồng ruộng Kim Liên. Nơi đây quanh năm nước đục ngầu. Người lao động Kim Liên khi giặt áo nâu non vào thứ nước thải ấy, thì màu vải biến thành màu sẫm. Các hãng dệt lợi dụng việc ấy, họ cho nhuộm vải chỉ thành nâu rồi thuê người đem ra giặt ở khu này. Thực chất là đem nhuộm mà không mất thêm tiền mua thuốc. Bãi phơi vải rộng lớn chính là khu chung cư Kim Liên ngày nay. Thứ vải có màu nâu sẫm ấy được các bà, các chị mua về may áo cánh hay áo dài, chính là vải Đồng Lầm và thứ áo kia gọi là áo dài Đồng Lầm đã đi vào lịch sử của đất thủ đô. Do việc gánh gồng mà áo dài Đồng Lầm hay bị rách hai bên vai nên những người thợ may khéo tay đã cắt đi phần trên, chỉ giữ lại hai vạt đằng trước và phần thân áo phía sau, được gọi là áo đổi vai. Rồi lại thêm các biến cải nữa thành ra thứ áo với các màu sắc khác nhau mà ngày nay hay dùng cho các nữ văn công hay tuồng, chèo...

    Thời thực dân và phong kiến, người trong nội thành khinh ghét ai thì gọi người ta là dân ngoại ô hay nhà quê (viết liền theo tiếng Pháp là nhaque đọc là “nhắc cờ”). Nhưng cũng sau giải phóng thủ đô, ngôn từ ấy bị xóa bỏ mà chỉ gọi nội thành hay ngoại thành thôi.

    Ngày nay cả trong địa giới và ý thức, không mấy người còn phân biệt đâu là nội thành với ngoại thành nữa. Nhưng cách nói sai, viết sai, hầu như vẫn còn thể hiện trên nhiều trang viết hay nói trên truyền hình, với những ngôn từ: ngoại ô, cửa ô. Ngay những nơi gọi là ô ấy như Ô Đống Mác, Ô Cầu Dền, Ô Cầu Giấy thì nay đã thành phường Đống Mác, phường Cầu Dền hay quận Cầu Giấy rồi. Chỉ còn duy nhất một nơi là phường Ô Chợ Dừa ! Với một phố là phố Ô Quan Chưởng.



    Hà Nội xưa, theo một số sách cũ để lại có đến 16 cửa ô được xây dựng vào đời Lê Hiển Tông (1740 - 1786), vào khoảng năm 1749. Các cửa ô phần lớn đều được xây bằng gạch rất chắc chắn, nhưng đến nay, chỉ còpn lại một cửa ô Thanh Hà, thường gọi là Ô Quan Chưởng. Vậy tại sao lại gọi là Ô Quan Chưởng?

    Theo sách Đường phố Hà Nội của Nguyễn Vinh Phúc và Trần Huy Bá viết: "Cửa Ô Quan Chưởng có thể có từ thời Lê, vào năm Cảnh Hưng thứ 10 (1749) đã đắp thành đất bao quanh kinh đô Thăng Long, có mở một số cửa ô. Về tên gọi của cửa ô này, hiện nay có nhiều cách giải thích:

    1. Có thuyết cho rằng vào cuối đời Lê, có một viên quan Chưởng ấn về hưu, lập dinh cơ ở cạnh ô, do đó mà thành tên.

    2. Có thuyết lại cho rằng vào đời Nguyễn, có một chức quan Chưởng cơ kiểm soát ô này, phàm thuyền bè ghé các bến quanh đây đều phải trình giấy ở viên quan ấy. Vì vậy mà thành tên.

    3. Có thuyết giải thích là hồi giặc Pháp hạ thành Hà Nội lần thứ nhất (1873), có một viên quan Chưởng vệ đã hy sinh ở đây. Để tưởng nhớ, nhân dân đã gọi cửa ô này là Quan Chưởng".

    Còn hỏi tại sao Hà Nội xưa có tới 16 cửa ô thì 15 cái bị phá nay không còn dấu vết. Chỉ riêng Ô Quan Chưởng còn tồn tại? Để giải đáp thắc mắc này phóng viên VOVNews đã tới gặp ông Đào Tam Trọng - một hậu duệ của gia đình có khoảng hơn 300 năm sinh sống tại Hà Nội. Ông kể:

    "Sau khi quân Pháp sang đánh chiếm nước ta, chúng đã cho phá dần các cổng ô để mở rộng thành phố. Với các cửa ô khác không rõ việc phá dỡ tiến hành như thế nào. Còn cửa Ô Quan Chưởng lúc đó thuộc tổng Đồng Xuân do một ông họ Đào làm Thiên hộ trông coi (chức Thiên hộ thời đó ngang với chức Chánh tổng). Ông họ Đào người làng Khúc Thuỷ tên là Đào Đăng Chiểu, sinh năm ất Tỵ (1845), mất ngày 25/6 năm Bình Thìn (1916), nguyên là Chánh tổng Tổng Đồng Xuân, sau này thành phố Hà Nội đổi ra làm 8 hộ, ông được cử làm Thiên hộ hộ thứ nhất. Bọn Pháp gọi ông Đào Thiên hộ đến và bảo: "Để người Pháp tiện việc xây dựng mở mang đường sá, thuận lợi giao thông dân bản xứ, nên phải phá Ô Quan Chưởng. Vậy ông về làm một tờ đơn trình bày đề nghị quan Pháp cho phá cửa ô. Đơn phải có chữ ký của các đại biểu bô lão dân làng. Hẹn 10 ngày nữa ông mang tới đây". Ông Đào Thiên hộ về bàn với dân làng rồi cùng mọi người nhất trí nhận định: "Pháp nó sang chiếm đóng đô hộ nước ta, nó muốn làm gì chẳng được, sao nó lại cần xin ý kiến của ta. vậy ta không đồng ý chắc nó không dám phá! Với lại ai mà biết nó phá cửa ô để làm đường hay làm gì!". Đúng 10 ngày sau ông Đào Thiên hộ đến gặp quan Pháp và trả lời: "Dân làng tôi không ai chịu ký vào đơn. Họ nói cửa ô là của dân cả nước, có phải là của riêng họ đâu mà họ ký. Nếu các quan Pháp muốn phá thì cứ phá, nhưng nếu xảy ra chuyện gì, dân chúng tôi không chịu trách nhiệm".Nghe xong chuyện này, mấy người Pháp tức tối lắm, chúng bảo: "Các cửa ô khác, dân chúng sở tại đều làm đơn cả rồi, sao dân ở đây lại bướng bỉnh, không muốn được mở mang khai phá hay sao?" Chúng yêu cầu ông Đào phải về bàn lại với dân làng. Sau ông Đào Thiên hộ lại phải lên trả lời cho bọn chúng: "Dân làng tôi họ nói, các nơi khác người ta có làm đơn hay không là việc của người ta. Còn dân làng tôi họ không chịu ký, và tôi cũng không ép buộc được họ". Bọn Pháp cho gọi ông Đào lên mấy lần, chúng còn hăm doạ, nhưng vẫn không đạt được mục đích. Sau đó ông Đào Thiên hộ tìm mọi cớ tránh không lên gặp bọn chúng nữa. Rồi sau không biết vì nó ngại dân tổng Đồng Xuân rất cứng đầu cứng cổ hay vì còn có nhứng lý do nào khác, nên không thấy chúng nhắc nhở đả dộng đến việc phá vỡ cửa ô này nữa. Và thế là cửa Ô Quan Chưởng an toàn tồn tại cho đến ngày nay. Đây cũng là công đóng góp của dân tổng Đồng Xuân và một phần không nhỏ của ông Đào Thiên hộ."

    Vậy ông có thể cho biết do đâu lại biết được câu chuyện này không?

    Ông Đào Tam Trọng trả lời: "Bố tôi là hậu duệ của ông đào Thiên hộ, sự việc này có ghi trong gia phả gốc bằng chữ Hán của họ Đào. Tiếc rằng trong chiến tranh chống Pháp, gia đình tản cư, đồ đạc sách vở để lại ở Hà Nội bị mất cả. Sau này chúng tôi chỉ được nghe bố tôi kể lại mà thôi".


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group