Trần Hưng Đạo

  • thangbe21

    khoảng 2 10 năm trước
  • Trần Hưng Đạo

    Nguyên, bắt tướng giặc Ngột Lương Hợp thai cùng đám tàn quân phải nhục nhã rút chạy như lũ chuột về nước, vua Trần Thái Tôn liền mở tiệc khao thưởng các tướng, phủ dụ ba quân ngay trong cảnh đổ nát vì giặc tàn phá ở kinh đô. Trong vệc ban thưởng các tướng có công đánh thắng kẻ địch mà vó ngựa của chúng từng băng qua sa mạc Trung Á, tràn tới trung tân Châu Âu, vượt qua Vạn Lý Trường Thành, giày xéo khắp đất Tống mênh mông, riêng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn chưa được vua Trần Thái Tôn đánh giá công bằng. Nhớ lại, giữa lúc đất nước đang chuyển mình dữ dội trước họa xâm lược mạnh như giông bão của giặc Nguyên, đe dọa quét sạch từng gốc cây ngọn cỏ nước Đại Việt, giữa lúc vua Trần đang lúng túng chưa chọn được vị tường tài nào đem quân đi chận giặc thì chính Trần Quốc Tuấn là người đầu tiên tình nguyện xin đi cự giặc. Lĩnh ấn Tiết Chế đem quân lên mạn Hưng Hóa bày trận, Trần Quốc Tuấn tỏ rõ là vị tướng xông xáo mưu trí, am hiểu việc dụng binh, khiến cho quân giặc không thể xem thường sức mạnh và khí phách quân dân Đại Việt. Trong đà tiến như vũ bão về Thăng long, gặp một địch thủ có biệt tài về chiến trận, quân giặc đã phải cưỡng lại ở Hưng Hóa, đủ thời giờ cho vua Trần điều bát binh mã, lấy lại tinh thần và làm những việc cần thiết trước khi chủ động rút khỏi Thăng Long. Đến khi Ngột Lương Hợp Thai phát hiện ra rằng quân Trần rất mỏng, định giáng đòn búa bổ, bắt sống, vị tướng trẻ dũng cảm tài trí của ngưới Đại Việt thì chúng bị một đòn lừa tức hộc máu mồn. Trần Quốc Tuấn làm như bày trận đánh lớn nhưng kỳ thực là tiến hành một cuộc rút lui chiến lược bảo tồn lực lượng, để sau đó không lâu, cùng Thái Sư Trần Thủ Độ chỉ huy quân Trần bất ngờ tiến đánh Đông Độ Đầu, quét sạch quân giặc ra khỏi kinh đô, làm cho bại tướng Ngột Lương Hợp Thai lẩn trốn về đến Nguyên triều vẫn chưa hết khiếp đảm. Trong chiến công hiển hách đánh bại đạo quân xâm lược tinh nhuệ bật nhất thế giới lúc ấy, có đóng góp lớn của Trần Quốc Tuấn. Lẽ ra là con An Sinh Vương Trần Liễu, là người gọi Trần Thừa (sau được tôn làm Thái Tổ) là ông nội, gọi vua Trần Thái Tôn là chú ruột và là anh Thiên Cảm sau này trở thành hoàng hậu Thiên Cảm, vợ vua Trần Thánh Thánh Tôn thì với thiên tài Trần Quốc Tuấn đáng được phong quyền cao chức trọng. Vậy mà khi luận công, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn không được vua Trần đánh giá đúng mức. Mặc dù vậy, Trần Quốc Tuấn cũng không lấy đó làm điều bận tâm lắm. Vị tướng xuất chúng của đời Trần chưa đầy ba mươi tuổi ấy lại nhớ đến câu chuyện đau lòng cũ: Ngày ấy, thân phụ Trần Quốc Tuấn là Trần Liễu có người vợ yêu là công chúa Thuận Thiên, con vua Lý Huệ Tôn, đang có mang. Thái sư Trần Thủ Độ thấy vua Thái Tôn chưa có con, nên đã ép Thuận Thiên lấy Thái Tôn. Vì lý do đó, Trần Liễu dấy binh chống lại triều đình. Nhưng Trần Liễu bị Trần Thủ Độ đánh bại. Trần Liễu phải đi thuyền độc mộc, giả làm một người đánh cá đến thuyền vua Trần Thái Tôn để xin hàng. Trần Thái Tôn không những tha tội cho anh mà còn phong cho anh đất An Sinh làm Thái ấp, Tuy vậy Trần Liễu vẫn căm Trần Thái Tôn đã cướp mất vợ mình. Có lần, Trần Liễu đã bảo Quốc Tuấn rằng:

    - Sau này, nếu con không vì ta mà lấy lại thiên hạ thì ta sẽ không sao nhắm mắt được khi đã nằm xuống đất.

    Cũng bởi nuôi ý ấy nên ngay từ khi Trần Quốc Tuấn còn nhỏ, Trần Liễu đã kén những người tài trong nước đến dạy Quốc Tuấn học. Nhờ thông minh tuyệt vời lại hiếu học, Quốc Tuấn đã sớm nắm được tinh hoa của mọi sách vở và sớm nổi tiếng là người văn võ xuất chúng. Những người có dịp gần Quốc Tuấn, nghe Quốc Tuấn bàn về thao lược hoặc có dịp nghe Quốc Tuấn hầu vua giảng nghĩa lý kinh sách, nhất là xem Quốc Tuấn đem những hiểu biết của mình sau khi đọc binh pháp Tôn Tử của Tôn Vũ và phép dụng binh của Ngô Khởi diễn làm đồ trận để dạy các tướng, đều phải thán phục kinh ngạc trước thiên tài quân sự của vị vương trẻ rất đẹp trai ấy.

    Nhớ lại câu chuyện đau lòng đã qua để cắt nghĩa sự hiềm khích chưa dứt hẳn của vua Trần Thái Tôn, tuyệt nhiên Trần Quốc Tuấn không cho lời cha nói là phải. Chứng cớ là trước khi lâm trọng binh, Trần Quốc Tuấn đem lời cha mình hỏi thử hai gia nô là Yết Kiêu và Dã Tượng. Cả hai đều nói:

    - Làm việc ấy dẫu được giàu sang một thời thật đấy nhưng tiếng xấu để mãi nghìn thu. Bây giờ đại vương chẳng giàu rồi ư? Chúng tôi thề rằng thà chết già làm nô còn hơn làm hạng quan vô trung vô hiếu.

    Có một lần, Trần Quốc Tuấn hỏi người con lớn là Hưng Vũ Vương Trần Quốc Hiến:

    - Ngày xưa làm nên giàu có cả thiên hạ để truyền cho con cháu, vậy ý con nghĩ sao?

    Hưng Vũ Vương thưa:

    - Giả sử đối với họ khác còn không nên làm, huống chi là chỗ họ nhà ta.

    Trần Quốc Tuấn khen ý của Quốc Hiến.

    Lần khác, Trần Quốc Tuấn hỏi người con thứ ba là Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng. Quốc Tảng thưa:

    - Xưa Tống Thái Tổ chỉ là một ông lão làm ruộng mà thừa thời dấy vận lấy được thiên hạ.

    Nghe vậy, Trần Quốc Tuấn nổi giận tuốt gươm kể tội Quốc Tảng:

    - Xưa nay, kẻ loạn thần là từ đứa con bất hiếu mà ra. Nói đoạn, ông toan cầm gươm giết Quốc Tảng. Quốc Hiến phải khóc xin lỗi cho Quốc Tảng, Quốc Tuấn mới tha.

    Năm tháng qua đi, sống ở Thái Ấp Vạn Kiếp không phải không có lúc Trần Quốc Tuấn thấy lòng mình day dứt. Nhưng là người biết nắm vững sợi cương gìn giữ lòng mình trước những dốc đứng của tâm hồn. Trần Quốc Tuấn luôn đặt lợi nước lên trên quyền lợi của dòng họ. Những tháng năm sống xa kinh thành, xa quyền thế, xa cuộc đời bận rộn, Quốc Tuấn lấy làm vui trong việc tiếp xúc với nhân dân, với việc luyện binh và hơn hết là thú vui đọc sách, học binh thư. Chính trong căn phòng đọc sách rộng rãi, thoáng mát và yên ắng giữa Vương phủ Hưng Đạo ở Vạn Kiếp, Trần Quốc Tuấn dày công nghiên cứu, say mê viết cuốn "Binh thư yếu lược", phòng lúc cần đến để rèn dạy các tướng. Theo Trần Quốc Tuấn, mọi việc đều động và diễn biến không ngừng. Phải lo trước những điều có thể xảy ra là bổn phận của kẻ làm tướng.

    Giữa vương phủ ở Vạn Kiếp, Trần Quốc Tuấn sắc mặt dữ nghe sứ giả của thượng hoàng Trần Thánh Tôn báo tin giặc Nguyên đang sửa soạn đại binh sang đánh Đại Việt. Trong tờ chiếu gửi Trần Quốc Tuấn, thượng hoàng dặn ông suy nghĩ trước kế đánh giữ, để ba ngày sau, sẽ trình bày ở hội nghị các vương hầy ở bến Bình Than.

    Thế là cuộc chiến đã bắt đầu! Trần Quốc Tuấn tự nhủ khi đã tiễn xứ ra về. Trong suy nhĩ của con người am hiểu binh thư như Trần Quốc Tuấn, chiến tranh không phải bắt đầu từ trước đó rất nhiều. Cuộc chiến tranh mà nhân dân Đại Việt sắp phải thực sự đương đầu một cuộc chiến tranh chắc chắn sẽ vô cùng khốc liệt đã được bộ óc vĩ đại Trần Quốc Tuấn tiên đoán từ trước lúc ông dành tất cả tâm huyết viết Binh thư yếu lược. Nghĩa là từ khi cuộc đương đầu với kẻ thù còn ở địa hạt ngoại giao, bằng việc Hốt Tất Liệt phong cho chú họ vua là Trần Di Ái làm "An Nam Quốc Vương", và trắng trợn lập ra "An Nam Tuyên úy ti", với tên Sài Thung, đương chức thượng thư bộ Lễ triều Nguyên làm "An Nam tuyên úy sứ đô nguyên soái" đi kèm bù nhìn Di Ái sang Đại Việt. Trần Quốc Tuấn căm giận nhớ lại những tội ác tày trời của giặc hơn hai mươi năm về trước và hàng loạt yêu sách trịch thượng, vô lý của Nguyên triều từ đó đến nay đối với nước Đại Việt. Những cảnh giết người đốt làng xóm, tàn phá kinh thành, cướp bóc hãm hiếp của giặc vẫn còn hằn sâu trong tâm trí Trần Quốc Tuấn. Lần này đem quân sang rửa vết nhục thất trận cũ, chắc sự hung tợn tàn bạo của giặc còn gấp bội. Tổ quốc đang đứng trước hiểm họa xâm lược chưa từng có. Đối với kẻ giặc từng đánh bại nhiều nước, làm cỏ nhiều dân tộc, chúng sẽ không ngần ngại gì mà không làm những điều tàn tệ nhất ở Đại Việt. Không thể được lòng Quốc Tuấn sôi sục không thể để giặc hoành hành tội ác trên giang sơn gấm vóc này; phải chặn không cho giặc phạm tới một ngọn cỏ, một lá cây của nhân dân Đại Việt.

    Bởi vậy, kế sách đánh giặc cần phải được trù liệu ngay từ bây giờ. Không trù liệu sớm là có tội với vua, với nước. Trần Quốc Tuấn suy nghĩ về một thế cuộc rộng lón. Phải tạo cho dân tộc một sức mạnh như nước đổ từ thế cao nghìn nhẫn. Nhưng cái gì là cội rễ của thế cao nghìn nhẫn ấy? Quân giỏi, tướng giỏi? Vua, tôi đoàn kết? Trên dưới thuận hòa? Trần Quốc Tuấn căng thẳng suy nghĩ. Những kinh nghiệm đánh giặc hơn hai mươi năm trước và kiến thức uyên thâm về binh thư sao bao nhiêu năm nghiền ngẫm, vận dụng, đã giúp cho Trần Quốc Tuấn sớm tìm ra nguồn gốc của sức mạnh ấy. Theo ông, muốn tạo cho dân tộc có thế mạnh áp đảo quân giặc có binh hùng tướng mạnh như quân Nguyên, điều cốt yếu là phải quy tụ được ý chí trăm họ về một mối. Trăm họ chính là gốc rễ của cái thế cao nghìn nhẫn ấy. Phải lấy trăm họ là lính, cỗ vũ cả nước đấu sức lại mà đánh. Phải xem sức trăm học là sức mạnh của khí thiêng sông núi. Chỉ có dùng sức mạnh ấy mới đánh thắng được giặc, giữ được nước. Nhưng muốn huy động được sức mạnh ấy, triều đình phải khoan nới sức dân, rủ lòng thương yêu muôn dân, phải có những đạo quân cha con sẵn sàng sinh tử vì vua, vì nước, và điều cốt tử bậc nhất lúc này là triều đình phải có được sự nhất trí tập trung mọi cố gắng cho cuộc chiến đấu một mất một còn của da n tộc. Trần Quốc Tuấn chợt nhớ đến những lời trăng trối của Phụng Kiều vương. Dẫu lòng minh đã dứt khoát không bận tâm đến câu chuyện đau lòng ấy, nhưng sự bất hòa giữa Trần Quốc Tuấn và Chiêu minh đại vương Trần Quang Khải, lâu nay khiến ông chẳng dễ quên. Bởi vậy, nghĩ đến hiện trạng mình, Trần Quốc Tuấn thấy bâng khuâng vô hạn. Trần Quang khải được phong tước đại vương từ năm mười tám tuổi, hiện vừa giữ chức thái sư, vừa giữ chức thượng tướng quân, nắm cả quyền tướng văn, tướng võ. Còn ông thì đã lui về Thái Ấp sống như một hiều triết: đọc sách, nghiền ngẩm sự đời và học binh thư. Mối bất hòa giữa ông và Chiêu minh đại vương dường như cả nước đều biết. Người ta đồ chừng hai vị tướng tài không thể cùng đứng ngang hàng trong triều. Người ta gán ghép hai người gờm nhau về tài cầm quân và so bì tước hơn kém nhưng thiên hạ ít người biết đến nguồn gốc sâu xa của mối bất hòa ấy. Thực ra mối bất hòa ấy không phải vì chuyện riêng tây mà là hai ngành trưởng, thứ. Hơn thế, là người trọng yếu của hai ngành trưởng, thứ. Mối bất hòa ấy còn có dây mơ rễ má từ chuyện xưa giữa Trần Liễu với vua Trần Thái Tôn, cho nên giữa Hưng Đạo vương và Chiêu Minh đại vương, chắc vua sẽ nghe theo Trần Quang Khải, hơn nữa Thượng hoàng với Trần Quang Khải là chỗ anh em ruột thịt, vậy thì Trần Quốc Tuấn nghĩ ta sẽ hành động ra sao khi tổ quốc lâm nguy? Suy nghĩ căng thẳng khiến trần Quốc Tuấn thấy không khí trong chính đường trở nên ngột ngạt. Ông đứng dậy bước ra ngoài. Các võ sĩ hộ vệ lặng lẽ đi theo. Ra hiệu cho họ ở lại chính đường. Trần Quốc Tuấn chậm chạp đi về cuối Thái ấp trong ráng chiều vàng, nét mặt phương phi và kiên nghị của vị tướng năm mươi tuổi trông căng thêm rắn rỏi. Trần Quốc Tuấn dừng lại bên quả đồi kề sát địa giới Thái Chuông chủa Kiếp Bạc buông hồi ngân nga trong thinh không. Trên cánh đồng mùa, gia nô Thái Ấp và dân hương Vạn Kiếp mải mê công việc đồng áng. Ngắm nhìn khung cảnh hùng vĩ, thân thiết ấy, lòng Quốc Tuấn thanh thản trở lại. Những kỹ niệm thờ thơ trẻ, những đêm trăng vằng vặc với lời trăng trối của Phụng Kiền vương và những ngày miệt mài nghiền ngẫm sách binh thư như cùng sống lại trong lòng Trần Quốc Tuấn. Ta đã không coi lời cha là phải Quốc Tuấn đắm mình suy nghĩ có lẽ nào ta lại đặt lợi ích của gia tộc lên trên lợi ích của đất nước? Chẳng lẽ chỉ vì cá nhân mình mà không hết lòng lo cho giang sơn lúc nguy biết? Hãy biết gạt đi những vấn vương làm cho trí óc kém minh mẫn Trần Quốc Thuấn thì thầm với chính mình Đánh giặc là công việc lớn nhất trong chiến tranh, cho nên, mọi người phải tập trung sức lực trí tuệ cho việc đánh giặc. Trong lúc quốc loạn này, nếu ta và Chiêu Minh đại vương còn xung khắc nhau thì thật là bất hạnh cho nước Đại Việt. Bởi vậy, chính ta phải chủ động dẹp mối bất hòa với Chiêu Minh đại vương. Hơn thế, phải cùng Chiêu Minh đại vương chung lo việc nước.

    Ngay đêm ấy trước sân chính đường Vương phủ Hưng đạo ở Vạn Kiếp, Trần Quốc Tuấn đã triệu tất cả tân binh và quân gia nô đến hầu. Hàng trăm ngọn đèn lồng được thắp sáng, soi rõ khuôn mặt đăm chiêu của các con trai Hưng Đạo vương, các gia tướng Yết Kiêu, Dã Tượng, Nguyễn Địa Lô và hiền sĩ Trương Hán Siêu... Khi tướng sĩ đã tề tựu, Trần Quốc Tuấn chậm rãi:

    - Giặc Thát lần nữa lăm le xâm lấn Đại Việt. Vó ngựa cuồng loạn của chúng lần nữa định phá trụi khinh đô Thăng Long và bao làng xóm yên lành. Các người đã tận mắt nhìn sức giặc nghênh ngang giữa kinh đô, uốn tấc lưỡi cú vọ làm nhục triều đình, đem tấm thân chó dê khinh lờn tổ phụ. Nếu không chặn tay chúng lại, nước này còn được chăng? Ta và các ngươi còn được chăng? Trong lúc quốc gia lâm nguy, nếu tướng sĩ không khổ luyện cho thành xương đồng da sắt, không tập luyện để giương cây cung cứng có sức khỏe bạt non, khí thế nuốt trâu thì làm sao lúc giặc phạm tới bờ cõi, các ngươi có thể đánh đập đầu chúng? Thế nên từ nay, các ngươi phải khổ luyện không tiếc thân, một người địch được nhiều người để làm rạng danh cho núi sông, không hổ thẹn với tiền nhân đã bỏ bao nhiêu mái xương để xây dựng nước và giữ nước...

    Từng lời, từng lời của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn như truyền thêm dũng khí cho dân binh và quân gia nô Vạn Kiếp reo hò đáp lại của tướng sĩ từng đợt rộ lên làm náo động canh khuya.

    Cuộc hội binh bất thường vừa giải tán thì Trương Hán Siêu bước đến trước mặt Trần Quốc Tuấn:

    - Thưa Đại vương! Các bô lão hương Vạn Kiếp và các hương kế cận xin được ra mắt đại vương. Cặp mắt Trần Quốc Tuấn sáng ngời:

    - Cháu hãy dẫn ngay các bô lão vào chính đường. Rồi ông ra lệnh cho quân hầu sửa soạn rượu đãi khách.

    Chỉ một chốc sau, một đoàn các bô lão các hương xung quang vùng Vạn Kiếp, xúng xính trong những tám áo the nhuộm thâm, kéo tới chính đường.

    Trần Quốc Tuấn chắp tay chào các bô lão và mời vào phòng khách. Một cụ già râu tóc bạc phơ, chậm rãi:

    - Thưa đại vương muôn vàn yêu kính: Dân chúng tôi nghe tin giặc phạm đến cõi bờ. Nay mai quan gia sẽ hội vương hầu bàn kế đánh giữ. Chúng tôi tưởng đã già nhưng không thể thấy quốc biến mà bình tâm được. Mất nước là mất hết. Còn nước là còn tất cả. Tiếc mình sức yếu không ra trận được, chỉ xin đại vương cho con em chúng tôi đứng dưới cờ đại vương, quyết chiến với giặc, cứu giang sơn khỏi họa diệt vong.

    Một nỗi xúc động lớn lao tràn ngập lòng Trần Quốc Tuấn. Lời nói và việc làm của các bô lão càng củng cố thêm chủ trương nuôi sức dân để cố kết lòng dân, phụng sự nghiệp lớn mà bấy lâu Trần Quốc Tuấn ấp ủ. Các bô lão là tượng trưng cho lòng dân cả nước. Sức mạnh của thế hệ già nua được triều đình liệt vào bậc long lão ấy là ở chỗ biết đem uy tín của mình, động viên con cháu sẵn sàng hiến thân cho dân nước, bảo vệ tổ quốc. Nếu các bô lão trăm người như một, đều có hành động nghĩa cả ấy thì quả là giặc đã chọn lầm đối thủ. Dựa vào các bô lão, ta có thể huy động cả dân tộc ra trận. Lòng dân chính là pháo đài kiên cố nhất, ý chí trăm họ sẽ là tòa thành vững chắc bảo đảm cho chiến thắng hoàn toàn giữ vững non sông xã tắc. Trần Quốc Tuấn thấy ngời nên niềm tin mãnh liệt. Ta sẽ tâu vua hỏi ý các bô lão Quốc Tuấn thầm nhủ qua các bô lão mà hiệu triệu trai tráng xả thân vì nước trong sự xúc động ấy, Trần Quốc Tuấn từ tốn:

    - Lo cho vận nước, các cụ đã tự nguyện dân con em mình cho nước, đấy là hành động cao cả rất đáng nêu gương. Xin hỏi các cụ điều nữa: Quân giặc thì ngông cuồng hung hãn, chiến trận lại xảy ra trên đất nước ta, tránh sao khỏi tổn thất cho trăm họ?

    - Thưa đại vương! Nước mắt thì nhà tan một cụ đáp vậy nên, có giữ được nước mới yên được nhà.

    - Phải, phải đấy! Thưa đại vương. Nhiều cụ đồng tình.

    Trần Quốc Tuấn mời các cụ uống rượu rồi nâng cốc:

    - Trăm họ có thể hy sinh từ niều vui, lẽ sống đến tài sản, tính mạng để chống giặc giữ nước! Trăm họ là sức mạnh vô địch. Chính các cụ dạy ta điều ấy. Ta hứa sẽ tâu lên quan gia việc làm nghĩa hiệp của các cụ.

    Mõ trong vương phủ cầm canh ba. Lính gia nô đổi nhau đốt đèn lồng đi tuần. Tiễn các bô lão về rồi, Trần Quốc Tuấn lại tiếp tục suy nghĩ về những công việc phải làm. Ông vui mừng tìm thấy chỗ dựa to lớn, quyết định trong kế hoạch phá giặc đang hình thành trong đầu ông.

    Không hẹn mà nên, tất cả các vương hầu khắp nước đều khéo đến Bình Than trước ngày hội sư. Bởi vậy chiều ấy, khi đoàn thuyền Trần Quốc Tuấn đến Bình Than, ông đã thấy dọc hai bên bờ sông, đủ các loại thuyền đậu dài san sát mang cờ hiệu của các vương hầu bốn phương tụ về.

    Hay tin đoàn thuyền của Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn đã đến, cả bến sông dày đặc thuyền và cờ hiệu của các vương hầu bỗng sôi động hẳn lên. Sự có mặc của vị tướng tài từng lĩnh ấn Tiết Chế quân Trần đánh bại đại binh giặc hơn hai mươi năm trước, đã đem lại niềm vui và lòng tin tưởng cho các vương hầu khắp nước. Trên thuyền tướng, Trần Quốc Tuấn thong thả vén bức rèm the, bước ra khoang ngoài. Trong nắng chiều, giữa rừng cờ phất muôn màu, vẻ mặt kiên nghị của Trần Quốc Tuấn ánh lên rạng rỡ.

    Bỗng gia tướng Yết Kiêu bước đến cúi đầu:

    - Thưa đại vương! Có Quan thượng tướng Thái sư đến thăm đại vương.

    Quay về phía sau, Trần Quốc Tuấn sửng sốt thấy Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải đi trên chiếc thuyền nhỏ không trương cờ hiệu, đã áp mạn vào thuyền tướng của mình.

    - Thật hân hạnh được đón tiếp Thượng tướng Trần Quốc Tuấn cúi chào, giọng thân mật.

    Trần Quang Khải, người đứng đầu triều, hiện thâu tóm cả quyền tướng văn tướng võ ấy, nhanh nhẹn bước lên truyền lớn, giọng cởi mở:

    - Vì mong gặp quốc công bàn đại sự, tôi xin quan gia cho đi trước. Chẳng hay quốc công có được mạnh giỏi không?

    Dẫn khách quý vào buồng thuyền tướng, Trần Quốc Tuấn nói vui:

    - Thượng tướng trông thì biết. Tôi đủ sức lôi giặc ra giữa sông mà dìm.

    Trần Quang Khải bật cười sảng khoái. Ông hiểu vị tướng kiệt xuất triều Trần mượn câu nói vui để ám chỉ chỗ yếu cơ bản của giặc là thủy trận. Chính Trần Quang Khải tâu xin vua hội sư không phải ở kinh đô mà trên bến sông này cũng ngầm có ý ấy. Hai bộ óc lớn của triều Trần lúc ấy đã gặp nhau vì thấy cần dựa vào nhau để chăm lo việc nước và sự nhạy cảm được ý đồ của nhau, đã khiến cho Trần Quốc Tuấn và Trần Quang Khải xóa đi rất nhanh mối hiềm khích cũ.

    Hai người bắt tay ngay vào việc. Sau lúc thông báo các mặt tinh thần và lực lượng của vương hầu. Trần Quang Khải chợt hỏi Trần Quốc Tuấn:

    - Hình như quốc công có một môn khách mới ở đất giặc về?

    Quốc Tuấn thấy khôn cần giấu người chỉ huy quân Trần lúc ấy:

    - Tôi đã phái người ấy đi khi bọn giặc Sài Thung ngông nghênh không tiếp Thượng tướng, lại cho lính lấy mũi sắt nhọn chọc và đầu tôi. Nghĩa là lúc cuộc chiến đã báo trước không thể tránh được. Con người mẫn cán, tận trung với nước ấy đã trả lời đầy đủ, rõ ràng những điều tôi muốn biết về địch quân.

    Nhắc đến Sài Thung, Trần Quang Khải chau mày:

    - Sài Thung xấc xược thật nhưng chưa phải là kẻ thù ghê gớm nhất. Lần này giặc phái đại binh sang chính là lúc ta phải diệt tan nguốn gốc bạo lực, cuồng chiến của chúng. Thời kỳ ta chịu lép vì sức chưa đủ, của chưa nhiều đã qua rồi. Phải đánh cho giặc khiếp đảm đến ba đời. Việc điều binh khiển tướng, tôi chẳng thể bằng quốc công. Có chiến tranh, mọi việc phải xếp lại. Tôi đã tâu quan gia trao ấn Tiết Chế cho quốc công. Chúng ta phải hợp sức đánh bại quân thù.

    - Lúc này tôi cũng sẵn lòng giúp quan gia và Thượng tướng việc điều bát binh mã, đánh thắng giặc.

    Trần Quang Khải hồ hởi:

    - Ngày mai, quan gia sẽ cùng các vương hầu nghị kế. Việc gây khí thế ấy là cần. Nhưng lập kế ra quân, Quan gia đã riêng cậy nhờ quốc công. Quốc công đã nghĩ đến việc đó chưa?

    Trần Quốc Tuấn cởi mở:

    - Dụng binh cần hiểu rõ kẻ địch của mình. Hiểu địch rồi mới lập kế ra quân. Mà lập kế rồi, ba phần đã thắng hai.

    Chiêu Minh đại vương phấn chấn, quên cả giữ gìn:

    - Không phải không có người ngại e Quốc công còn bận lòng đến chuyện cũ. Lòng Quốc công sáng như sao Khuê. Vẫn đoán Quốc công đã trù liệu kế phá giặc từ lâu.

    - Dã tâm của kẻ giặc, ai mà không thấy. Binh thư dạy: Mạnh mà bị bất ngờ cũng có thể thua.

    Trần Quan Khải trở lại đăm chiêu:

    - Vừa qua trong cung Quan Triều, tôi được đọc những tờ sớ tâu của các tướng trấn thủ biên thùy. Ở mặt Bắc, giặc công binh năm mươi vạn, nguyên soái giặc là Thoát Hoan, con trai thứ chín của Hốt Tất Liệt, tướng tiên phong là Ô Mã Nhi. Ở mặt Nam, nguyên soái giặc là Toa Đô đã kéo mười vạn quân đổ bộ lên đất Chiêm Thành. Nghe Quan gia nói quốc công tâu gấp cử quân đi cứu Chiêm Thành. Vì sao vậy?

    - Xâm lược Chiêm Thành, cánh quân Toa Đô chính là một gọng kìm giương sẵn để đánh nước ta đó. Bởi thế, đem quân giúp Chiêm Thành đánh Toa Đô chẳng qua là để bẻ trước cái gọng kìm đó mà thôi.

    - Việc rất nên, tôi sẽ tâu thêm với quan gia. Về đạo binh của Thoát Hoan, Quốc công nghĩ thế nào?

    Trần Quốc Tuấn chậm rãi:

    - Những tên tướng giặc mà Thượng tướng vừa kể chỉ là loài tướng dũng. Thoát Hoan từng chinh chiến nhiều năm nhưng lần nầy là lần đầu tiên cầm một đạo quân lớn. Hắn đang thèm khát chiến công nên dễ bị khích. Khi bị khích, hắn dễ liều lĩnh, để hở những chỗ yếu trong thế trận. Tướng Ô Mã Nhi người Hồi Hột, đánh ngựa giỏi nhưng dốt thủy trận. Tất cả chúng chưa đủ bản lĩnh cầm quân lớn.

    Thầm phục những hiểu biết tường tận của Trần Quốc Tuấn về quân giặc nhưng Trần Quang Khải chưa hết băn khoăn:

    - Vậy bộ não của quân giặc theo Quốc công là ai?

    - Tra cứu nhiều nguồn tin, tôi biết đó là A Lý Hải Nha. Tên này giỏi dùng mẹo, đã từng hạ hàng chục thành Tống. Toa Đô, Ô Mã Nhi đều coi hắn là sư phụ.

    Trần Quang Khải khẽ thở dài:

    - Hình như gia thần nhà Tống là Lý Hằng cũng là một tướng đáng gờm.

    - Đúng vậy Trần Quốc Tuấn xác nhận nhưng Thoát Hoang không ưa gì chúng. Sự không nhất trí ấy là chỗ yếu của giặc.

    - Tôi hoàn toàn yên lòng vì bọn tướng giặc không tên nào xứng là địch thủ của Quốc công. Nhưng còn quân giặc? Chúng chuyên đánh ngựa, một địch nổi trăm, đến như mưa giông, đi như gió cuốn, thật đáng ngại.

    - Đây là sự thật. Nhưng bên chỗ mạnh vô địch ấy, giặc lại kém thủy trận. Xem vậy, biết đánh thì vẫn thắng. Vả chăng, đối với giặc dữ, muốn thắng chúng, chẳng những ta cần có tướng giỏi, quân giỏi mà quan trọng hơn là huy động được cả nước vào trận. Lực lượng, ý chí trăm họ bao giờ cũng là cội nguồn của chiến tuyến dân tộc.

    Cuộc đàm đạo giữa hai vị tướng trụ cột triều Trần kéo dài xuất cả chiềy ấy. Đến khi Trần Quang Khải vui vẻ cáo lui. Trần Quốc Tuấn phác cử chỉ ngăn lại. Ông đến bên Chiêu Minh đại vương cười hóm hỉnh:

    - Biết Thượng tướng bận, việc nước ít có dịp tắm gội, tôi đã mật sai gia nhân đun nước để sẵn. Nay xin được tắm cho Thượng tướng.

    Không thể chối từ, Trần Quang Khải vui vẻ nói:

    - Đến cả cõi lòng tôi, Quốc công cũng đã gột rửa, huống chi là thân thể. Được Quốc công thân tắm cho thật là may mắn!

    Trời tối dần, bến Bình Than dậy lên ngàn vạn ngọn đèn lồng đủ màu sắc, trên các thuyền của vương hầu. Cũng từ chiều, dân chúng quanh vùng đã kéo đến đứng đông đặc hại bên bờ sông. Trên bến dưới thuyền đều náo nức không khí buổi xuất quân.

    Hội nghị Bình Than diễn ra cực kỳ sôi nổi và kết thúc tốt đẹp. Khi Thượng hoàng Trần Thánh Tôn và vua Trần Nhân Tôn đem việc lớn của xã tắc ra hỏi, các vương hầu mỗi người một ý nhưng rồi đều nhất trí với kế đánh mà Trần Quốc Tuấn đã dày công chuẩn bị. Hội nghị càng phấn khởi và cảm động khi thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải tâu vua xin nhường quyền tiết chế thống lĩnh binh mã các đạo cho Trần Quốc Tuấn. Do lường được uy tín tuyệt đối của Trần Quốc Tuấn đối với các vương hầu, sau lúc trở về kinh thành, vua Nhân Tôn đã làm lễ trao ấn kiếm Tiết Chế cho Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn. Việc cắt cử ấy đã làm cho quân dân Đại Việt vô cùng phấn khởi. Nhân dân vững tin vào cuộc chiến đấu mà vị Tiết Chế chẳng những là một thiên tài quân sự, biết nhìn xa thấy rộng mà còn là người có phẩm chất đạo đức trong sáng, nặng tình thương dân và yêu quân lính như cha con trong nhà. Bởi vậy, từ kinh đô Thăng Long đến các thôn cùng xóm vắng, trai tráng náo nức tập luyện võ nghệ, sẵn sàng nghe theo mệnh lệnh của Tiết Chế. Các bễ lò rèn nổi lửa suốt ngày đêm để rèn vũ khí. Hiểu được lòng ngưỡng mộ của nhân dân đối với mình, Trần Quốc Tuấn thấy rõ lần này chỉ có thể đánh thắng giặc.

    Ngày rời Vạn Kiếp, Trần Quốc Tuấn tưởng dăm bữa nủa thắng sẽ trở về. Nhưng ấn Tiết Chế lưu ông ở lại kinh đô với khối lượng công việc to lớn, nặng nề chưa từng thấy. Việc sắp đặt tướng lĩnh, luyện quân, dự đoán các mũi tiến quân của giặc, giả thiết những khó khăn nhất có thể xảy ra, tìm cách đối phó, đã cuốn hút Trần Quốc Tuấn đến nỗi ông không còn thì giờ dành cho riêng mình. Tuy vậy, Trần Quốc Tuấn làm việc rất thận trọng. Trong việc duyệt lại kế hoạch chống giặc, ông không bỏ qua một chi tiết nhỏ. Ông làm việc với từng tướng, hiểu chỗ mạnh chỗ yếu của từng người. Ông phán bảo những sự suy nhgĩ nông cạn của họ, thành thật khen những ý tướng táo bạo, cách nhìn nhận tình hình mới mẻ, dự kiến được mọi tình huống để chủ động thực hiện mệnh lệnh của ông. Các tướng tùy tùng của ông nhận rõ mặc dù bận rộn, ông chưa hề cáu gắt với bất cứ ai. Ông muốn cấp dưới dám nói những suy nghĩ riêng, uốn nắn họ để họ hiểu thấu phương lược dụng binh của ông, thực hiện nó một cách mưu trí.

    Chính trong những ngày khẩn trương ấy, muốn các vương hầu tướng lĩnh có thêm năng lực chỉ huy quân đội, Trần Quốc Tuấn xúc tiến mở những lớp học binh thư. Vua Nhân Tôn vốn dòng tướng võ, tự cho mình là giỏi, nhưng chỉ dự mấy buổi nghe Trần quốc Tuấn giảng về nghệ thuật cầm quân, đã tôn Trần Quốc Tuấn là bậc thầy. Thấy vua và mọi người ca ngợi Trần Quốc Tuấn như thần thánh, thượng hoàng Thánh Tôn nửa tin nửa ngờ. Một lần, lấy cớ xem xét các vương hầu học binh thư, thượng hoàng đến giảng võ đường để nghe Trần Quốc Tuấn giảng về nghệ thuật tiến lui, các cơ hội đánh giặc. Ngay từ đầu, thượng hoàng đã bị Trần Quốc Tuấn chinh phục bởi nội dung bài giảng mẫu mực, lối nói rành mạch, khúc chiết:

    - Dụng binh phải biết rõ tình hình của địch. Thực hư thế nào rồi nhằm vào chỗ nguy mà đánh. Địch mới ở xa đến, hàng ngũ chưa ổn, có thể đánh; ăn mà chưa phòng bị, có thể đánh; đương rối ren, có thể đánh; nhọc mệt, có thể đánh; chưa được địa lợi, có thể đánh; lỗi thời không theo, có thể đánh; lặn lội đường dài, quân sau chưa nghỉ, có thể đánh; qua sông nửa chừng, có thể đánh; đường hiểm, đường hẹp, có thể đánh; cờ xí loạn động, có thể đánh; tướng lìa quân sĩ, có thể đánh; lòng sợ, có thể đánh. Phàm gặp các trường hợp đó, nên kéo quân tinh nhuệ để xung đột trước, rồi sau chia quân mới đến, cứ việc đánh gấp, không phải ngờ gì nữa.

    Cả lớp học chăm chú theo dõi như nuốt từng lời vị Tiết Chế có học vấn uyên thâm.

    Những người dụng binh giỏi không phải chỉ biết đánh Trần Quốc Tuấn phấn chấn, tiếp Thế có lúc không thể đánh ngay được thì nên kéo dài; thế địch rất sắc, tạm phải chờ nó lơ là; địch đến rất nhiều, tạm phải chờ nó trễ nải; gọi quân chưa đến, phải chờ tập hợp được; người mới phụ chưa hiệp, phải chờ cho họ tin; mưu kế chưa nên, phải chờ cho nó lớn mạnh lên; thời chưa đánh được thời tạm dừng đánh. Động là phải thắng; quân ra phải vẹn toàn. Việc binh không có thử.

    Thật là một tay cự phách, một con người mẫn tiệp hiếm thấy, Thượng hoàng tự nhủ.

    Bỗng từ giữa giảng võ đường, một người đứng vụt dậy, giọng đứt đoạn:

    - Thưa Quốc công Tiết Chế. Quốc công Tiết Chế vừa răn dạy cách đánh, cháu nghe mà sáng mắt ra. Nhưng gặp thế giặc mạnh, có khi phải trốn chạy, binh thư có nói đến không?

    Tiếng cười nhất loạt nổi lên. Thượng hoàng nhận ra trang thiếu niên vừa hỏi câu hỏi "Ngộ nghĩnh" ấy là Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản. Hoài Văn vì không được dự hội nghị Bình Than đã tức giận bóp nát quả cam trong tay và sau đó chiêu binh mãi mã luyện tập nghiêm chỉnh, cũng đã được Quốc công Tiết Chế thu dụng Thượng hoàng nghĩ chỉ có cách nói năng còn quá bồng bột mà thôi. Thượng hoàng nhìn về phía Trần Quốc Tuấn chờ đợi, lòng vui vẻ lạ thường.

    Vừa khi ấy, Hưng đạo vương mỉm cười độ lượng, cất cao giọng:

    - Binh thư không nói đến việc trốn chạy. Người Đại Việt chúng ta càng không được nói đến câu ấy. Tuy nhiên, việc binh nên nhằm vào chỗ dễ mà tránh chỗ khó. Uy dữ thì hết, sắc nhọn thì gẫy. Cho nên, địch đem quân đến, thế bách, muốn thắng ngay, thì ta cầm. Địch đánh có lợi, ta đánh không có lợi thì ta cầm. Cầm cho nó đã mệt, bấy giờ ta nổi dậy mà đánh, thì sức vẹn mà công nhiều. Đánh gấp thì thừa cơ, lợi hoãn thì cầm lại. Thấy chắc thì phòng, thấy mạnh thì tránh, trêu cho nó tức, nhún cho nó kiêu, địch nhàn thì khiến cho địch nhọc, kéo dài để bền sức mình, cầm lâu để làm khốn địch. Dùng sau làm trước, đó là điều bó của phép binh.

    Nhiều tiếng thầm thì thán phục nổi lên. Thượng hoàng Thánh Tôn đọc được sự sùng kính vị Quốc công Tiết chế trong ánh mắt của từng tướng lĩnh. Một người giỏi giang, một bậc kỳ tài xưa nay Thượng hoàng xác nhận và bỗng lo lắng.

    Kẻ có tài thường dễ kiêu căng. Cho nên cũng là cách nhắc khéo mọi người, thượng hoàng vẫy tay ra hiệu rồi hỏi Trần Quốc Tuấn:

    - Trong binh thư có nói đến tướng dũng, tướng trí và tướng nhân. Vậy Quốc công hãy nói cho tướng lĩnh nghe về tướng nhân để làm gương chung.

    - Tâu Thượng hoàng! Xin cho thần được tùy tiện bộc bạch những suy nghĩ còn thô thiển, Tướng tài mà không có nhân đức thì lợi bất cập hại. Tướng nhân phải thanh liêm về của cải, tiết kiệm về tiêu dùng, lơ là về rượi, giữ mình theo lễ; thờ bề trên lấy trung; vui lo cùng quân lính; lấy của địch mà không tích trữ; nghe mưu mà dùng người; gặp ngờ mà phán đoán; giấu tội nhỏ, răn lỗi lớn; phạm tội không kể là thân, thưởng công không nghĩ đến thù, người già thì ngâng đỡ, người trẻ thì vỗ về; người sợ thì làm cho yên lòng; người lo thì làm cho vui vẻ. Có kiện thì xử đoán, có lạm thì xét rõ; có giặc thì đánh dẹp; kẻ ngang ngược thì giết; kẻ phục tùng thì tha; người mất thì cho được lại; người quên thì nhắc bảo cho; người quy thuận thì cho tước; người hung bạo thì trấn trị; gần người mưu trí, xa người gièm pha. Trong quân có người ốm, tướng phải thân hành đem thuốc điều trị, quân có người chết, tướng phải khóc thương; quân đi thú xa thì sai vợ con đến nhà thăm hỏi; phàm có khao thưởng thì chia đều cho quan và quân; khi có hành động thì phải họp tướng tá lại để bàn, mưu đã định rồi mới đánh; tướng với binh có cái ân hòa rượu, hút máu, thế gọi là nhân tướng.

    Thượng hoàng Thánh Tôn nét mặt rạng rỡ:

    - Thực không ngờ Quốc công Tiết chế trong một lúc nghĩ được nhiều đến thế. Nếu ai cũng làm được như lời răn của Quốc Công Tiết Chế, nước Đại Việt sẽ vô địch. Trong cuộc đọ sức với giặc Mông Thát này, nước Đại Việt phải vô địch. Đáp lại lời Thượng hoàng, cả giảng võ đường rung lên trong tiếng hô:

    - Thượng hoàng muôn tuổi! Quốc công Tiết chế trường thọ! Nước Đại Việt vô địch!

    Ra quân dẹp giặc phải một lần thuyền hịch. Công việc cuối cùng phải làm trước lúc động binh này, đã được Trần Quốc Tuấn suy nghĩ từ lâu. Cái khó không phải ở chỗ bút pháp có điêu luyện hay không là là có truyền được niềm tin tất thắng, làm dậy lên hào khí dân tộc cho chủ tướng và sĩ tốt hay không. Với sức nghĩ phi thường, bằng tài diễn đạt, Trần Quốc Tuấn đã đem vào bài hịch cả khí thế hừng hực ra quân của dân tộc. Ngọn bút song chu trong tay Trần Quốc Tuấn lướt nhanh trên giấy lụa. Tưởng như chính ông phải vội lắm mới ghi kịp những ý liên tiếp nẩy ra trong đầu. Giữa lúc ấy, lần nữa, sứ Nguyên bắn tin buộc vua Trần nếu không đầu hàng thì hãy sửa soạn đón binh mã Thiên triều sang hỏi tội. Trong thế thúc bách, Nhân tôn triệu Trần Quốc Tuấn vào cung Quan triều. Bỏ qua nghĩ lễ vua tôi, vị vua trẻ hỏi Trần Quốc Tuấn:

    - Nguyên triều huy động năm mươi vạn binh sắp tràn vào nước ta, chưa kể mười vạn binh Toa Đô ở Chiêm Thành đánh ra. Vậy Quốc công Tiết chế cần bao nhiêu binh để chống lại?

    - Tâu Quan gia: Giặc có sáu mươi vạn quân. Muốn đánh thắng, ta phải có gấp đôi số quân ấy. Nhưng ta không thể có được số quân ấy. Vậy chỉ trông và binh lính, ta khó mà cự giặc.

    Vua Nhân Tôn đỡ ngay lời:

    - Chúng ta không thể dâng nước cho giặc!

    - Lão thần chưa nói cạn lời Trần Quốc Tuấn vội đáp, một nước nhỏ chống lại một nước lớn có binh hùng tướng mạnh phải có cách đánh riêng. Việc cần kịp lúc này là phải huy động được sức người, sức của trăm họ mới có đủ lực lượng chống lại giặc mạnh. Muốn vậy, phải nới sức dân để làm cái chước rễ sâu gốc vững. Nghĩa là phải lấy dân làm căn bản xem dân là gốc nước. Đối với cái gốc ấy phải trồng cho sâu, vun cho vững, chứ không nên nhũng nhiễu dân, sưu cao thuế nặng làm kiệt sức dân.

    Vua Nhân Tôn đăm chiêu:

    - Đấy là việc làm lâu dài. Còn trước mắt?

    - Tâu Quan gia! Quan gia hãy xuống chiếu phủ dụ muôn dân, động viên tất cả trai tráng phải liều chết đánh giặc ở bất cứ đâu và bất cứ lúc nào. Khi không chống nổi thì mọi người phải đem theo toàn bộ của cải, thóc lúa lui vào rừng; nếu phải đốt cả nhà cũng không tiếc để khi giặc đến, chúng không cướp được lương ăn, không nơi cư trú. Đếunđâu giặc cũng thiếu lương thảo, phải làm mọi việc, từ bắc cầu cống, kiếm lương ăn đến làm nhà ở. Như vậy chẳng bao lâu giặc sẽ kiệt sức. Từ đó chúng sẽ nản lòng, tinh thần bạc nhược. Đợi đến lúc ấy ta dốc sức đánh vài trận là quét giặc dữ.

    Không kìm được niềm vui, vị vua trẻ, tính khí còn bồng bột ấy cười lớn và câu chuyện trao đổi giữa hai người cứ thế phát triển.

    Vừa khi ấy Thượng hoàng Thánh Tôn bước vào. Hiểu được đầu đuôi câu chuyện của Quan gia với Trần Quốc Tuấn, Thượng hoàng khen:

    - Ý Quốc công Tiết chế phải lắm, cần làm ngay. Còn việc sắp xếp các tướng, Quốc công đã định xong chưa?

    - Tâu Thượng hoàng, việc đó thần đã có dự kiến.

    - Toa Đô là tướng lắm mưu nhiều mẹo, trải việc đời. Quốc công cử ai đi chặn?

    - Mặt ấy xa triều đình, cần người có bản lĩnh cầm quân. Chỉ có Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải mới đảm đương nổi.

    Vua Nhân Tôn kinh ngạc:

    - Chiêu Minh đại vương? Còn việc triều chính?

    Trần Quốc Tuấn chậm rãi:

    - Tâu Quan gia! Nước có chiến tranh, đánh giặc là việc lớn nhất. Chỉ có thượng tướng mới điều khiển nổi mặt trận ấy!

    - Mặt bể, Quốc công đã chọn được người chưa? Thượng hoàng hỏi.

    - Người ấy phải là vị tướng đánh thủy giỏi nhất nước.

    - Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư phải không?

    - Việc cần kíp, thần đã làm sai Nhân Huệ vương đem binh thuyền ra Vân Đồn tập cho quen sóng biển để rồi dễ dàng trận mạc trên sóng nước.

    Vua Nhân Tôn phán:

    - Việc an nguy của xã tắc, trẫm đã phó thác cho Quốc công. Quốc công cứ tùy tiện định liệu... Còn mặt biên thùy nơi xảy ra những trận đầu với giặc?

    - Nơi ấy lão thần xin đi đốc chiến bởi vì biết thắng đã khó, biết lùi quân để thắng càng khó hơn.

    Thượng hoàng vui vẻ:

    - Kế đánh giữ, quốc công đã lập xong, chỉ còn truyền lịnh xuất quân.

    - Cả việc ấy nữa, thần sửa soạn đã xong.

    Tổ quốc lâm nguy, Hưng Đạo Vương quyết định làm lễ duyệt binh lớn ở Đông Bộ Đầu. Vào những ngày này, không khí Thăng Long náo nức lạ thường. Trên bộ, binh các đạo kép về ầm ầm như sấm động. Dưới sông, thuyền chiến khen đặc các bến. Từ các bến. Từ các phố, bãi tập đên các chợ, đâu đâu cũng sôi sục hào khí ra quân chống giặc.

    Sáng sớm hôm ấy, sau lúc quân Long Dực, Hổ Dực lên ngựa đi trước mở đường, Trần Bình Trọng chỉ huy quân tả, hữu Thánh Dực hộ vệ vua Nhân Tôn từ cửa Việt Thành đến Đông Bộ Đầu. Ngay sau kiệu đồng, Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải uy nghi trên lưng ngựa chiến, cùng cất bước. Bấy lâu, bận trăm công nghìn việc, ngày quên ăn, đêm quên ngủ, nhưng Trần Quốc Tuấn vẫn quắc thước lạ thường. Đến bến Đông, vua Nhân Tôn xuống kiệu thân giữ cương ngựa cho Trần Quốc Tuấn bước xuống. Các quan văn võ đại thần và trên hai mươi vạn binh lính, đứng lặng dõi theo vua cùng Trần Quốc Tuấn bước lên đài cờ.

    Vua xúc động nắm tay Trần Quốc Tuấn:

    - Việc lớn của xã tắc, uy danh nước Đại Việt, trẫm phó thác cho Quốc công.

    Tần Quốc Tuấn đáp:

    -Lão thần thề đem cái chết đổi lấy thanh danh cho bệ hạ, cho dân nước.

    Vua Nhân Tôn ban cho Trần Quốc tuấn kiếm quý, hàm ý trao cho ông toàn quyền hành động. Trần Quốc Tuấn quỳ xuống đỡ lấy kiếm. Sau đó, đeo cây kiếm quý, Trần Quốc Tuấn xuống đài cùng các tướng tùy tùng đi xem xét các cơ đội thủy binh và bộ binh. Dù binh đông đến ức vạn nhưng không cần nhìn cờ hiệu Trần Quốc Tuấn vẫn nhận ra nét khác biệt giữa các đội. Đội quân lực lưỡng nổi tiếng gan dạ, rất giỏi võ nghệ đứng ngay dưới đài là quân Thánh Dực túc vệ thượng đô của Trần Bình Trọng. Đội quân ăn mặc gọn gàng, đẹp nhất, có cả một đoàn ky binh hùng hậu kia là quân của Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật. Đội quân đông nhất, binh khí tua tủa, đứng sát mép nước chính giữa là quân của Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải, Trần Quốc Tuấn đặc biệt phấn chấn tự hào khi nhận ra đội quân thủy của Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư vừa ở Vân Đồn về, da mặt sạm đen nắng và gió biển, khỏe mạnh và rất có kỷ luật. Và vậy, đội quân thiếu niên của Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản, tươi tắn đứng với lá cờ đại mang sáu chữ kiêu hãnh: "Phá cường địch, báo hoàng ân". Đi xong một lượt, Trần Quốc Tuấn trở lại đài cờ. Một hồi trống, Trần Quốc Tuấn uy phong lẫm liệt hét lớn:

    - Bớ ba quân!

    Tiếng dạ xé gió nhất loạt nổi lên.

    - Ta phụng mệnh Quan gia thống đốc quân sĩ ra phá giặc.

    Chúng ta thề quyết xông pha trận mạc như hùm beo, đánh cho lũ giặc ngông cuồng kia phải tan tác mảnh giáp không còn, đem lại vinh quang muôn đời cho nước Đại Việt, làm rạng danh cho Quan gia.

    Quân sĩ đồng thanh dạ ran.

    Nhìn rường cờ xí rợp trời, nhìn tướng sĩ mặt ngời sáng, đầy sĩ khí, Trần Quốc Tuấn thấy cả sức mạnh của dân tộc như được chung đúc lại, khiến cho ông càng thấy đủ sức gánh vác sứ mạng nặng nề.

    - Trong lễ xuất sư này ta có mấy lời nhắn nhủ các ngươi Trần Quấc tuấn rút tờ hịch trong tay áo, tờ hịch mà ông soạn bằng cả tâm huyết và bằng tấm lòng yêu nước thương dân cháy bỏng của ông. Tờ hịch ông viết không phải bằng lời văn khoa cử, miệt mài gọt cả tư tưởng, tâm hồn ông "Ta từng nghe nói: Kỷ Tín đem thân chết thay, cứu thoát Hán cao Tổ. Do Vu lấy lưng đỡ giáo, cho Sở Chiêu vương. Dự nhượng nuốt than báo thù cho chủ. Phàn Khoái chặt tay, cứu nạn cho nước...

    Tiếng loa xướng họa lời Quốc công Tiếc chế được truyền đi khắp hàng quân, tới cả từng khối đông dân chúng tụ tập suốt hai bờ sông gây nên những xúc động lớn.

    - "Huống chi ta và các ngươi sinh ra giữa buổi rối ren, lớn lên nhằm thơiø nguy cấp, mắt thấy sứ giặc đi lại đường sá nghênh ngang, uốn lưỡi cú vọ xỉ mắng triều đình... Các ngươi ở dưới trướng ta, đã lâu nắm giữ binh quyền, không có áo thì ta cho mặc, không có cơm thì ta cho ăn, thăng chức, cấp lương, cấp thuyền, cấp ngựa..." Trần Quốc Tuấn nhìn bao quát hàng quân. Bằng trái tim mình ông thấy rõ bài hịch của ông đã có sức truyền cảm lớn. Phải, kẻ thù sẽ biết đến lòng căm hờn và ý chí quyết thắng của nhân dân Đại Việt. Chúng sẽ phải nếm đủ các ngón đòn, ở bất kỳ đâu vào bất cứ lúc nào. Chúng sẽ rã rời, mệt mỏi và khiếp sợ. Và, Khi ấy trước đội quân thân yêu, tràn khí phách này xốc tới, giặc chạy đâu cho thoát.

    Trong niềm phấn khởi ấy, Trần Quốc Tuấn đọc tiếp đoạn cuối:

    - "Bởi vì như vậy tức là các ngươi không hề nghĩ đến mối thù không đội trời chung, điềm nhiên không lo rửa nhục không nghĩ đến việc dẹp giặc, không siêng năng luyện sĩ tốt. Như thế là trở giáo hàng giặc. Rồi đây, khi đã tan giặc, các ngươi sẽ phải để thẹn muôn đời, còn mặt mũi nào đứng giữa trời đất nữa? Vì vậy, ta viết bài hịch này để các ngươi rõ bụng ta".

    Trần Quốc Tuấn dứt lới. Tiếng reo hò như sấm động đáp lại:

    - Quan gia van tuế! Quốc công Tiết chế vạn tuế! Nước Đại Việt hùng cường vạn tuế!

    Hơn hai mươi vạn tướng sĩ đua nhau gào thét đến vỡ cả giọng.

    Ngay sau đấy, nghe hiệu lệnh, cờ nào đội nấy diễu đi trong tiếng trống rung trời, tinh kỳ rợp đất. Ở dưới sông, các thuyền chiến rùng rùng chuyển động rồi phút chốc lao đi, tạo nên những đợt sóng dữ dội, táp mạnh vào bờ như muốn cuốn phăng đi những người đứng gần mép nước. Trần Quốc Tuấn nhìn những đoàn quân thân thiết, khí phách hiên ngang diễu qua trước mặt, lòng rạt rào cảm xúc.

    Thốt nhiên, một tiếng thét vang như sấm nổi lên:

    - Sát Thát! Sát Thát!

    Tiếng binh sĩ hòa theo thành từng đợt như không bao giờ dứt. Đôi mắt quắc sáng của Trần Quốc Tuấn mở to. Ông vui sướng nhận ra vị tướng vừa thét vang ấy là Phạm Ngũ Lão, một chàng trai đan sọt có chí lớn vừa được ông tiến dẫn lên quan gia hồi đầu năm.

    Lễ duyệt binh đã kết thúc. Theo lệnh Trần Quốc Tuấn, các đạo quân tiến về mặt trận đã được nhận lãnh.

    Trần Quốc Tuấn vái vua Nhân Tôn:

    - Xin kính chúc Quan gia an khang trường thọ.

    Vua cảm kích:

    - Quốc công Tiết chế xin vì trẫm, vì nước mà giữ gìn sức khỏe.

    Trần Quốc Tuấn gặp lại Trần Quang Khải:

    - Xin Thượng tướng cho tuyền lệnh đi các lộ ngay đêm nay.

    Trần Quang Khải thân ái cầm tay Trần Quốc Tuấn:

    - Quốc công Tiết chế hãy yên lòng! Kế đã lập, quân đã xuất, thắng lợi đã cầm chắc trong tay. Chúng ta đinh ninh lời thề khải hoàn với kinh thành yêu dấu.

    Trần Quốc Tuấn bước lên mui thuyền trước. Nắng long lanh trong mắt vị Tiết chế trông đẹp như một thiên thần.

    Vào những ngày rét nhất trong mùa đông năm 1284, ở quân doanh Vạn Kiếp, Quốc công Tiết chế Trần Quốc Tuấn được quân tế tác báo tin:

    Năm mươi vạn quân Nguyên do thái tử Thoát Hoan bắt đầu xuất quân tiến vào nước ta. Trần Quốc Tuấn vội sai người phi báo về kinh đô, mặt khác, phái thêm các tướng Lê Phụ Trần, Nguyễn Khoái, Trần Quốc Toản vv...gấp đem binh tăng cường cho mặt trận phòng giữ biên thùy. Chính trong những giờ phút thử thách hiểm nghèo ấy, vua Nhân Tôn y lời Trần Quốc Tuấn, triệu các bô lão về điện Diên Hồng hỏi kế đánh giữ. Trần Quốc Tuấn được vua dời về kinh cùng thượng tướng Thái Sư Trần Quang Khải lo tổ chức hội nghị. Đúng như dự đoán của vị Quốc Công Tiết chế triều Trần, các bô lão trăm người như một, nhất quyết tâu vua đòi đánh. Nghe tiếng thét "đánh" rung lên như sét nổ ở điện Diên Hồng của các bô lão khắp nước, Trần Quốc Tuấn hiểu rằng, đằng sau các đạo binh đã và sắp lên đường chặn giặc của ông, cả dân tộc đều đứng dậy. Đại binh của Trần Quốc Tuấn được cả kinh thành tiễn đưa, lên tới Lạng Sơn thì giặc cũng vừa tiến vào địa phận Đại Việt. Giặc Nguyên đã mở tới ba trận để từ ba phía Đông bắc, Tây bắc và chính Nam dồn lại chiếm kinh đô Thăng Long ép đánh quân ta, hoàn toàn như dự kiến của vị tiết chế quân Trần. Soát lại kế phòng giữ, Trần Quốc Tuấn yên tâm. Ở mạn Tây bắc, Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật đã đem binh đi từ tháng trước. Ở mặt chính Nam, Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải cũng sắp lên đường. Còn ở mặt trận chính do Trần Quốc Tuấn thân đốc suất, việc bày binh bố trận cũng đã làm xong.

    Mặc dù đã được chuẩn bị đầy đủ từ trước, nhưng trước thế giặc mạnh, đạo quân Trần từ các hướng Đông bắc, Tây bắc phải làm một cuộc rút lui chiến lược để bảo toàn lực lượng. Ở mặt trận chính sau những thắng lợi ban đầu, Trần Quốc Tuấn phải rời bản doanh từ Lạng Sơn về Lạng Giang, rồi lại phải lui về Vạn Kiếp.

    Đã từng đánh nhau với ky binh giặc Nguyên hơn hai mươi năm về trước, nhưng lần này Trần Quốc Tuấn thấy rõ chúng mạnh hơn gấp bội.

    Đặt quanh doanh ở Vạn Kiếp, Trần Quốc Tuấn gấp huy động thêm binh mã. Trong hoàn cảnh hiểm nghèo ấy, dân binh các lộ Hải Đông, Vân Trà, Bà Điểm đã tình nguyện đến hội dưới cờ ông rất đông. Một nỗi xúc động lớn đến với Trần Quốc Tuấn, những con người phú quý vinh hoa thường chẳng bao giờ được hưởng, vậy mà khi vận nước cần đến thì họ tận tụy dốc lòng dốc sức xem việc nước như việc nhà. Vì vậy, chẳng mấy chốc Trần Quốc Tuấn đã có một đạo binh đông đảo tới hai mươi vạn người. Với đạo binh ấy, Trần Quốc Tuấn bày trận "Tắm nước" đợi giặc.

    Giữa lúc ấy ở kinh đô, biết tin quan Trần bị đánh lui hầu hết trên các mặt trận, hai vua Trần vô cùng lo lắng. Bởi vậy, hai vua Trần cùng triều đình rời cung thất, để lại cả kinh thành trống rỗng, chạy ra Hải Đông, không thiết gì ăn uống. Vua Nhân Tôn cho vời Trần Quốc Tuấn đến hỏi:

    - Trẩm nghe trong truyện Mạnh Tử có nói "Tranh đất, đánh nhau giết người đầy nơi đồng áng". Nay thế giặc to lắm, chống lại không nổi, và dù có chống được, thì dân hại, hay là Trẫm hàng đi để cứu mạng cho muôn dân?

    Đọc được nỗi lo lắng, mất tinh thần của vị vua trẻ, Quốc công Tiết chế Trần Quốc Tuấn cả quyết đáp:

    - Ra trận thua được là chuyện thường, chỉ cần bảo tồn được lực lượng và trận cuối cùng ai sẽ thắng. Vả lại, chỉ sợ kẻ giặc tiến binh thận trọng như tằm ăn lá chứ không sợ giặc hùng hổ, hung hãn. Nay Thoát Hoan tiến binh như gió lốc, nghênh ngang không coi ai ra gì, chính là điềm thua đã báo vậy.

    Vua đăm chiêu:

    - Chuyện sau thì chưa rõ nhưng trước mắt quân ta không cự nổi, giặc mặc sức tàn sát dân lành. Chẳng thà hàng đi để cứu dân, đợi dịp khác sẽ lấy lại nước.

    - Tâu quan gia! Không phải giặc đã thắng. Các tướng Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Khoái, Trần Quốc Toản cũng đã đánh lui giặc. Thế đánh chưa có lợi thì ta lui cho kiêu lòng giặc. Chứng cớ là tướng lĩnh chưa ai phải bỏ thân ở chiến trường.

    Dừng lại nén xúc động, Trần Quốc Tuấn lại tiếp, giọng đau khổ:

    - Vẫn biết bụng Bệ hạ muốn hàng là vì lòng nhân đức, nhưng còn tôn miếu, xã tắc? Nếu bệ hạ muốn hàng, xin trước hãy chém đầu lão thần đi đã. Đầu lão thần còn thì xã tắc cũng còn. Xin bệ hạ đừng lo.

    - Chẳng riêng gì trẫm, triều đình hoàng tộc đều lo lắng. Hiểu bụng trẫm, Quốc công hãy cố đánh lấy vài trận để yên bụng Trẫm và quần thần.

    Trần Quốc Tuấn nén giận:

    - Việc tiến lui lão thần đã có phương lược. Đánh mà chắc thắng mới đỡ tổn hại xương máu binh lính. Huống chi, giặc hùng hổ tiến sâu và đất Đại Việt khác nào chúng đi vào chỗ chết. Quân Tế tác các nơi vừa cho hay: Những vùng đất giặc chiếm được cứ ba mươi dặm, chúng đặt một trạm quân, sáu mươi dặm một trại ngựa, mỗi trại ba trăm quân trấn giữ để hộ vệ cho việc chuyển lương và cướp lương thảo. Như vậy, giặc sẽ cần bao nhiêu quân khi tiến sâu vào Đại Việt? Điềm chết của chúng đã lộ.

    Vị vua trẻ thoáng vui:

    - Gần Quốc công, nghe Quốc công phân giải, trẫm thấy yên lòng.

    - Tâu quan gia! Lão thần biết chắc rằng quân giặc sẽ không còn tung hoành đuợc đến mùa hè này. Ta sẽ ca khúc khải hoàn vào lúc ấy. Lão thần lấy đầu đảm bảo lời nói ấy.

    Vua Nhân Tôn vái Trần Quốc Tuấn:

    - Vận nước nhờ Quốc công sẽ được an hưởng cảnh thái bình, thịnh trị.

    Trần Quốc Tuấn cáo lui. Ông vội trở về quân doanh Vạn Kiếp.

    Trận Vạn Kiếp do đích thân Quốc công Tiết chế Trần Quốc Tuấn dày công bống trí, chẳng mấy chốc đã bị quân Nguyên do tướng Ô Mã Nhi phá vỡ. Thừa thắng, Thoát Hoan tung quân đánh Vũ Ninh, Đông Ngàn, chiếm Đông Bộ Đầu. Và, sau khi đánh lui được đạo binh tinh nhuệ bậc nhất triều Trần do Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng chỉ huy, Thoát Hoan đem đại quân tràn vào Thăng Long.

    Giữ tổng hành dinh vừa được lập ở Thăng Long, Thái tử Thoát Hoan nói với Bình chương A Lý Hải Nha, người được xem là linh hồn đạo quân xâm lược Nguyên:

    - Ông thường tỏ ra dè dặt đối với dân man Việt. Nay hẳn đã thấy, chúng đã tan tác dưới gót chiến mã của ta. Ngay cả Hưng Đạo Vương tiết chế của quân chúng, người mà các ông luôn tỏ ra sợ hãi về tài dùng binh, trước uy danh của Thái tử Thiên triều, cũng chỉ còn biết chạy.

    A Lý Hải Nha nét mặt không vui, đáp:

    - Thưa chủ soái! Ta thắng nhanh như tôi có bốn điều nghi ngại. Thứ nhất, quan man triều tuy thua trận nhưng số bị giết thật không đáng kể. Dường như chúng chưa liều mạng quyết đánh. Lẽ thứ hai, quân man triều rút chạy nhưng dân binh vẫn luôn luôn tiến đánh chúng ta. Ta thắng mà quân thua thiệt nhiều. Lẽ thứ ba, man triều khéo dụ dỗ dân man bỏ chạy, tự phá phách nhà cửa, vườn tược, cất giấu thóc lúa khiến quân ta khốn đốn về lương thảo. Lẽ thứ tư, quân man triều bị bắt không đứa nào chịu hàng phục. Trên tay chúng đều thích chữ "Sát Thát" rất đỗi đáng giận. Chỉ bấy nhiêu điều đủ tỏ ra tiết chế quân man giỏi điều khiển dân man. Xem vậy, chủ soái phải cẩn thận lắm mới được.

    Máu hiếu thắng của Thoát Hoan bốc lên:

    - Mới có hai mươi ngày, ta đã lấy được kinh đô Nam man. Bất quá một tháng nữa ta sẽ làm cỏ cả nước này cho ông xem.

    Dứt lời, Thoát Hoan triệu các tướng Khoan Triệt, Lý Hằng tới ra lệnh:

    - Ta giao cho các ngươi trọng trách phải đem năm vạn binh đi bắt bằng được man vương đem về nộp cho ta rồi lĩnh thưởng.

    Vừa lúc ấy Ô Mã Nhi từ Đông Bộ tới, ra mắt Thoát Hoan:

    - Xin chúc mừng Trần Nam Vương đã hạ được kinh thành giặc. Mọi việc thế là sắp được định đoạt.

    Thoát Hoan Mặt mày nở nang:

    - Nếu không có tướng quân đánh bại đại binh của Hưng Đạo Vương ở Vạn Kiếp, ta chưa dễ lấy nhanh được kinh thành này.

    Ô Mã Nhi đổi giọng:

    - Thưa chủ soái! Hôm qua man triều cho tên Đỗ Khắc Chung đi sứ. Tiểu tướng mạn phép chủ soái tiếp h

  • rdcenter

    khoảng 2 10 năm trước
  • Mình là người Việt thì cũng nên tìm hiểu về lịch sử nước nhà và cũng nên tự hào về điều đó. Xin cảm ơn thangbe21 nhiều nghen

  • vkb281

    khoảng 1 10 năm trước
  • post tiếp đi chứ...sao ngừng nữa chừng vậy


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group