Trần Nhật Duật

  • thangbe21

    khoảng 2 10 năm trước
  • Trần Nhật Duật

    Hoàng Giang trở về kinh đô Thăng Long. Đủ các kiểu thuyền lớn nhỏ chen chúc bên nhau. Chiếc nào cũng sặc sỡ, long lanh những lụa là gấm vóc căng vuông, quây tròn làm nên cảnh màn che trướng rủ ngay trên sông nước. Vừa tháng trước đoàn thuyền của hoàng gia cồng kềnh mà gấp gáp rời kinh đô đi lánh giặc, bây giờ tất cả đã tươi vui, hồ hởi trở lại hoàng cung: đại quân của Trần triều vừa cả phá binh đoàn hung bạo của tướng giặc Cốt Đải Ngột Lang, thu được kinh đô!

    Gió xuân ấm và ấm nhè nhẹ lay cánh màn trong tay Linh từ quốc mẫu người vừa góp phần không nhỏ vào chiến thắng của triều đình Đại Việt. Chưa đầy một tháng trường dốc sức lo liệu việc đưa gọn cả hoàng gia vừa kịp rời bỏ kinh thành trước lũ giặc Thát ập đến tàn phá, rồi lại đứng đầu việc thu thập, quyên góp binh khí, quân nhu gởi ra trận tiền cho tướng sĩ mái tóc của Linh từ quốc mẫu đã thêm nhiều sợi bạc. Và bấy giờ thì bà lão quắc thước đang vén cánh màn gấm, ngó đầu ra ngoài khoang thuyền. Linh từ quốc Mẫu vừa toan cất tiếng gọi thì đã dừng ngay lại: Quay lưng về phía bà, một bóng người nhỏ xíu đang lặng lẽ đứng thẳng ở mũi thuyền, mải mê nhìn mãi ra phía trước, chẳng hề động đậy.

    Linh từ quốc Mẫu chớp chớp mắt, lắc đầu. Từ ngày để con người nhỏ bé kia theo sát bên mình trong suốt thời gian cùng hoàng gia lánh giặc, quốc mẫu ngày càng nhận ra những nét đặt biệt ở vị hoàng tử thứ sáu của vua Thái Tông. Mới năm tuổi đầu mà khác hẳn mọi đứa trẻ, hoàng tử lúc nào cũng lặng lẽ như luôn luôn đắm mình vào những việc xa vời.

    Quốc Mẫu bước nhẹ ra mũi thuyền, đặt tay lên vai đứa cháu nhỏ:

    - Nhật Duật!

    Chú bé đứng nhìn đăm đăm vào một vùng sóng nước trước thuyền, nghe tiếng gọi đột ngột mà chẳng hề thảng thốt giật mình, thong thả xoay người trở lại, gương mặt hướng về phía người vừa gọi mình, nhìn kỹ một lúc rồi mới mở miệng gọi:

    - Bà ơi, cháu...

    - Hoàng tử Chiêu Văn! Cháu phải gọi ta là "Quốc Mẫu",

    Linh từ quốc Mẫu nhẹ nhàng mà nghiêm nghị uốn nắn cách xưng hô cho đứa cháu nhỏ. Chú bé lặng lẽ ngước mắt nhìn lên trời rồi thong thả:

    - Tâu quốc Mẫu, người ở đây ai cũng gọi bà là "Bà".

    - Đấy là tiếng nói của dân thường. Còn hoàng tộc thì đã có lệ phải dùng chữ của người Hán để phân biệt!

    Trí tuệ của vị hoàng tử năm tuổi bắt lấy ý đó và nói rộng nay:

    - Tâu quốc mẫu, ở vùng này có nhiều người nói tiếng gì mà nhiều khi không giống hẳn người thường?

    Linh từ quốc mẫu mở to mắt nhìn đứa cháu. Lại một việc kỳ lạ nữa! Quốc mẫu giảng giải:

    - Đấy là người Chiêm Thành mà các đời vua trước đi trận bắt được, cho về sống ở đây...

    Khuôn mặt non nớt của Trần Nhật Duật thoáng một nét đăm chiêu:

    Người Hán này, người Chiêm Thành này... Thế ở quanh ta đây còn có bao nhiêu giống người tất cả?


    - Nhiều... Vị quốc mẫu bắt đầu lúng túng. Rồi... Lớn lên cháu sẽ biết!

    Chiêu Văn hoàng tử Trần Nhật Duật lại xoay người nhìn ra trước mũi thuyền. Trong khi đó, Linh từ quốc mẫu cũng nghiêng người ngắm đứa cháu: "Thằng bé sớm lộ thiên tư, ham thích hiểu biết về các tiếng nói và các giống người!" Bất giác, đầu óc của vị quốc mẫu hình dung ngay ra cái thế của người Việt đang sống xen giữa bao giống người khác mà bà, cũng như cả triều đình, đều chưa am tường. Trong khi chính đây là chuyện hệ trọng. Nội một việc trại chủ vùng Qui Hóa vừa từ đem binh mường của mình ra đánh chặn giặc Thát trên đường chúng rút chạy từ Thăng Long về nước, cũng đủ để thấy rằng, liên kết chặt chẽ được với những người mà triều đình quen gọi là Phiên, Man thì lợi ích sẽ không nhỏ.

    Phên giậu của triều đình chính là họ, nếu rồi đây quân giặc lại gây hấn nữa.

    "Phải có riêng người để cậy trông việc giao dịch kết liên với các Phiên, Man và các lân bang" Linh từ quốc mẫu vừa nhủ thầm, vừa long lanh cặp mắt nhìn mãi vào khuôn mặt khôi ngô của đứa cháu nhỏ, trong khi vị hoàng tử thứ sáu của vua Thái Tông vẫn thản nhiên, khẽ nhíu cặp long mày xanh biếc, nhìn mãi về phía trước..

    Hơn hai mươi năm đã qua, kể từ ngày đạo quân của tướng Cốt Đải Ngột Lang tàn phá kinh đô rồi tháo lui khỏi kinh đô. Giặc Thát đã một lần nhục nhã tả tơi rút chạy, nhưng giấc mộng cuồng điên thôn tín nước Đại Việt của chúng vẫn chẳng bao giờ nguôi. Vó ngựa quân Thát đã băng qua sa mạc Trung Á, tràn tới tận trung tâm Châu Âu, vượt qua Vạn lý Trường Thành, giày xéo khắp đất Trung Hoa mênh mông, không lẽ nào dừng lại trước một nước Đại Việt! Binh mã đã sẳn sàng, nếu Đại Việt "Không chịu ngồi yên, cố ý kháng mệnh, thì... Cứ sẵn sàng thành lũy, sắm sửa giáo binh, chờ đấy mà xem!"

    Từ một chú bé phải theo hoàng gia đi chạy giặc, Trần Nhật Duật đã trở thành một chàng thanh niên tuấn tú vào giữa những ngày đó. Non sông đang chuyển mình dữ dội trước trước cơn giông bão từ phía giặc Thát lừng lững kéo tới, đe dọa quét sạch từng ngọn cỏ gốc cây. Thấy rõ cha anh mình cùng nhân dân Đại Việt đổ mồ hôi và máu xương đương đầu với quân giặc, tuổi trẻ của Trần Nhật Duật là những năm tháng miệt mài rèn luyện để nên người hữu dụng, xứng đáng với dân tộc và dòng họ.

    Đọc binh thư, tập nghề võ, luyện văn chương như mội người và hơn nhiều người, Trần Nhật Duật còn trẻ mà đã nổi tiếng hiểu nhiều biết rộng. Nhưng uy tín của vị hoàng tử ít tuổi còn nổi cao hơn nữa ở trong triều ngoài nước, chính là nhờ tài ba được luyện rèn trên cái năng khiếu đã sớm lộ rõ từ ngày còn nhỏ. Để tâm nghiên cứu, tìm hiểu về các nước láng giềng, chàng thanh niên Nhật Duật đặc biệt chú ý đến nước Trung Hoa dưới vương triều Tống ở phương Bắc, và nước Chiêm Thành ở phía Nam. Học tiếng Tống và tiếng Chiêm, sử dụng thành thạo các ngôn ngữ ấy, Nhật Duật còn am hiểu nhiều mặt của các nước đó, kể cả những phong tục tập quán chi li nhất. Đối với các dân tộc ở trong nước, Nhật Duật càng chuyên tâm học hỏi, tìm tòi. Hiểu về họ, Nhật Duật không chỉ hiểu tiếng, mà còn hiểu cảnh, hiểu người.

    Ngoài hai mươi tuổi, Trần Nhật Duật đã được phong tước vương, và là người của triều đình nhà Trần đặc trách những công việc về các dân tộc có liên quan. Vua Trần Nhân Tông vừa kinh ngạc vừa thán phục khả năng của Trần Nhật Duật, thường thân mật nói đùa: "Chiêu Văn Vương dường như không phải người Việt mà chính là hậu thân của các giống Phiên, Man!". Trong khi đó, tiếp xúc với sứ thần của triều đình nhà Nguyễn, có lần Trần Nhật Duật đã vui vẻ tự nhiên, cùng uống rượu và chuyện trò suốt cả một ngày, khiến cho sứ Nguyên nhất định cho rằng Nhật Duật là người Hán ở Chân Định sang làm quan ở bên Đại Việt.

    Giữa thư phòng ngồn ngộn sách vở, Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật cúi đầu đọc rốn mấy trang của bộ Thái Bình hoàn vũ ký trước khi ra sảnh đường tiếp khách.

    Việc đọc sách bao giờ cũng khiến Trần Nhật Duật mê say. Những dòng chữ cổ kim, đọc lúc thư nhàn hay vội vã, luôn luôn cuốn hút trọn vẹn tâm trí Nhật Duật. Phần Lĩnh nam đạo của bộ sách Thái Bình đồ sộ này có nhiều dòng trực tiếp đề cập đến các tộc người sống trên miền giáp ranh giữa hai nước Trung Hoa và Đại Việt chính là những trang ưa nghiền ngẫm hàng ngày của vị thân vương trẻ tuổi đặc trách công việc miền biên viễn. Nhật Duật với tay lên giá sách, chọn thêm mấy cuốn trong bộ Lĩnh ngoại đại đáp, cặm cụi tra cứu, so sánh đoạn văn vừa chợt thấy có điều ngờ ngợ. Cuối cùng, ông đặt cả những tập sách lên án thư, ngước mắt đăm đăm nhìn vào thanh bảo kiếm treo nghiêng trên vách, lặng lẽ suy tư...

    "... Nước Tống quả là có lắm người tài. Kiến thức của họ thật là rộng. Sách vở của họ như núi. Lĩnh Nam là miền đất xa ngoài biên cương mà họ cũng dầy công viết nhiều đến như vậy! Một nước văn hiến đến thế, mà sao không cự nổi giặc Thát? " Trần Nhật Duật suy nghĩ miên man, bàn tay vô tình mân mê chiếc ấn mang hai chữ triện "Chiêu Văn" vuông vức đặt trên án thư "Hoàng đế nhà Tống rút chạy quân Thát từ Bắc xuống Nam cuối cùng đã trải trẫm mình ngay ở Nhai Sơn thuộc Lĩnh Nam. Đất Lĩnh Nam mà Tống triều đã bỏ công nghiên cứu viết sách, cuối cùng không giúp được vua Tống thắng giặc, Sao vậy? Bàn tay của Nhật Duật tiếp tục gại ngón trên gờ sắc của chiếc ấn "Tống triều chăm viết sách mà không chăm việc cố kết lòng người nơi biên viễn. Sách vở của họ cũng đầy rẫy những chuyện miệt thị các dân ngoại tộc, ngay trên từng dòng viết về miền Lĩnh Nam... Phải chăng đây chính là cái gương nhơn tiền mà người lo việc binh viễn phải khiêng dè? "

    Mấy tiếng chuông báo hiệu từ sảnh đường vọng vào thư phòng. Trần Nhật Duật dứt ra khỏi dòng suy tưởng, sửa sang khăn áo, tạm rời bỏ chồng sách.

    Ít lâu sau, quân quan nhà Tống thất trận trước giặc Thát, ùn ùn rời quê hương sang nương náu ở Đại Việt. Nhiều người trong bọn họ là những kẻ có chí khí và tài năng. Rất có thể đây sẽ là một cái vốn quý trong cuộc chiến tranh với quân Thát sau này Trần Nhật Duật lặng lẽ tính toán rồi đứng ra xin vua Trần cho phép thu nạp họ. Dưới trướng Chiêu văn Vương, từ năm trước đã nhận vào đạo sĩ Hứa Tông Đạo là người có tài văn chương, giỏi phép thuật. Bây giờ đến lượt một võ tướng, họ Triệu tên Trung, biết tiếng Chiêu Văn Vương chiêu hiền đãi sĩ, đã vừa gửi thiết xin được yết kiến.

    Trần Nhật Duật dùng thẳng tiếng tống trò chuyện cùng Triệu Trung, Viên tướng của nhà Tống rõ ràng đang hoang mang về cảnh ngộ mất chúa cũ mà chưa tìm được chủ mới, bộc bạch với Nhật Duật:

    - Tôi là kẻ mất nước nên mới lưu lạc sang đây. Chẳng hay thân phận bèo bọt này rồi sẽ ra sao dưới trướng của Ngài?

    - Giặc Thát đã chiếm mất nước ông, bức hại hoàng đế của ông. Chúng đang muốn diễn lại cảnh ấy trên đất Đại Việt. Cho nên kẻ thù của chúng tôi cũng là kẻ thù của ông Trần Nhật Duật điềm đạo trả lời Triệu Trung. Ông vì mối thù chung đó mà cùng chúng tôi cự giặc, nếu Tống sử không ghi công của ông thì Việt sử sẽ làm việc thay thế.

    Thấy Triệu Trung rạng rỡ sắc mặt vì những lời khích lệ chân tình, Trần Nhật Duật thong thả nói tiếp:

    - Tôi mới được nghe mấy câu thơ của người nước ông, bây giờ xin đọc lại;

    "Nhân sinh tự cổ thùy vô tử
    Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh

    Câu thơ chưa đọc dứt, viên tướng của Tống triều đã nước mắt lưng tròng, sụp ngay xuống lạy:

    - Triệu Trung này những tưởng chỉ riêng mấy người Tống chúng tôi mới biết Văn Thiên Tướng, nào ngờ chuyện mới vừa xảy ra mà Ngài cũng đã tường tận những lời nghĩa khí của bậc nhân giả chúng tôi. Quả là danh bất hư truyền! Xin cho được cùng lũ bộ hạ cắp giáo theo hầu Ngài suốt đời dưới trướng!

    Đoàn quân dài dặc, sáng lóe giáo gươm, rực rỡ tinh kỳ, rời nhanh kinh thành nhằm thẳng hướng Tây bắc tiến phát. Chiêu Văn Vương trần Nhật Duật cưỡi ngựa đi trên đầu đoạn quân, dưới cờ hiệu "Trần thủ Đà Giang". Đây là chức mới được phong của Nhật Duật. Vị thân vương hai mươi bảy tuổi đó, lần đầu tiên mặc nhung phục, cầm đầu một đạo quân lớn, đi chinh chiến phương xa.

    Mấy hôm trước, vua quan nhà Trần đã vào cuộc họp bàn, lo lắng nhâïn được tin chúa đạo Đà Giang Trịnh Giác Mật vừa tụ họp phe đảng nổi lên cự lại triều đình. Tin dữ trong nước đến cùng một lúc với điều cấp báo từ ngoài biên ải: Vừa diệt xong nhà Tống, Xu mật viện nhà Nguyên đã xin với hoàng đế Hốt Tất Liệt cho ra quân đánh ngay Đại Việt, và vua Thát đã hạ lệnh đóng chiến thuyền, tính thêm cả đường vượt biển để vào Đại Việt! Tình thế thật gấp gáp đã khiến triều đình nhà Trần phải quyết định dẹp yên ngay mối họa trong nước. Để tránh cái thế nổi loạn ở phía sau, trong khi đang dồn sức ra chống giặc ngoài ở phía trước. Vậy thì không còn ai hơn được Nhật Duật trong việc đảm nhiệm trọng trách này. Và thế là chỉ mấy ngày sau, vị tướng trẻ đã làm lễ ra quân, lên đường.

    Bây giờ thì làng mạc ruộng đồng đã lui cả về phía sau. Đoàn quân đã tiến sâu vào miều núi rừng điệp trùng, hiểm trở. Trại quân của Trịnh Giác Mật chẳng còn bao xa nữa.

    Giữa lúc đó, chúa đạo Đà Giang cũng đang ngồi giữa đám đầu mục của mình:

    - Đêm qua ta mộng thấy một con chim lô đỏ bay đến đậu ở trước trại quân. Thế là điềm gở! Lại dò được tin kẻ làm tướng của triều đình chính là Chiêu Văn Vương Nhật Duật. Đấy là người có tiếng thông thạo tình hình đất đai dân cư của ta...

    Đám đầu mục nhớn nhác nhìn nhau. Trịnh Giác Mật hùng hắng ho:

    - Thượng sách bây giờ là tránh giao chiến. Ta đã nghĩ ra một kế dụ chủ tướng của triều đình tới đây. Nếu nó là người non nớt, chỉ có hư danh, thì ta giết luôn. Còn nếu nó đúng là người tài, thì phải giảng hòa với nó!

    Một lá thư bay ngay đến lều trận của Trần Nhật Duật khi ấy đã cùng đội quân của mình hạ trại ngoài núi: "Giác Mật không dám trái mệnh triều đình, nếu ân chủ một mình một ngựa đến, Giác Mật xin ra hàng ngay".

    Các tướng sĩ của Trần Nhật Duật đều ra sức can ngăn chủ tướng. Không nên nghe theo lời của chúa đạo Đà Giang. Quỉ kế đang ẩn náu sau đấy. Nhưng Nhật Duật vừa đọc kỹ lại lá thư, vừa âm thầm suy tính: "Giác Mật không dám đàng hoàng cự chiến, vậy là đã nao núng. Cái kế mọn dụ tướng, xưa nay chỉ dụ được những kẻ non gan. Ta sẽ nhân kế này mà xoay chuyển cuộc dấy loạn. Đạo Đà Giang xa xôi này không thể đồn quân chinh chiến lâu dài. Không thể hao binh tổn tướng mãi ở đây, trong khi triều đình đang cần từng người lính để sửa soạn cự lại giặc nguyên ở bên ngoài. Thượng sách vẫn là thu phục được lòng người ở đây, khiến họ thuận theo về với triều đình làm nên cái thế liên kết lâu bền ở trong một nước..."

    Nhật Duật quyết định một mình một ngựa đến ngay trại Giác Mật, chỉ mang theo mấy tiểu đồng cắp tráp đi hầu.

    Con ngựa trắng của Chiêu Văn Vương đi thủng thỉnh giữa những hàng quân dữ tợn của chúa đạo Đà Giang. Một lưỡi gươm rồi lại một lớp giáp, Giác Mật cố ý dàn quân phô trương, dọa nạt. Nhưng nét mặt của vị thân vương đi trấn thủ đạo Đà Giang vẫn lặng lẽ thản nhiên. Chỉ có mấy chú tiểu đồng, khi vừa đến sát ngôi nhà sàn đồ sôï của Giác Mật, nghe một loạt tiếng quát dữ dội, và thấy đám quân lính sắc phục kỳ dị của chúa đạo Đà Giang chĩa ra một loạt mũi giáo nhọn hoắt, thì tái xanh nét mặt, đỏ bừng đôi tai!

    Trần Nhật Duật thong thả bước lên nhà sàn, chậm rãi nói với Trịnh Giác Mật vừa từ phía trong tiến ra:

    - Lũ tiểu đồng của ta khi đi đường thì nóng tai trái, vào đến đây thì nóng tai phải...

    Dùng ngay ngôn ngữ của dân tộc Đà Giang, vừa chỉ vào những đôi tai đỏ ửng của bầy tiểu đồng, vừa điềm nhiên nói năng thật rành rẽ, Trần Nhật Duật thốt nhiên khiến cho chúa đạo Đà giang và cả đám đầu mục cùng sững sờ kinh ngạc. Những tiếng rì rầm nổi lên giữa các thủ lĩnh của Giác Mật:

    - Người này là ai mà biết nói hết những điều giống hệt tục lệ của ta? Nóng tai trái là có người ngoài mong đợi, nóng tai phải là có người thân trông ngóng. Sao nói giỏi vậy.

    Trong khi đó, Trần Nhật Duật vẫn như không nghe thấy những tiếng bàn tán xôn xao, đàng hoàng phân ngôi chủ khách, cùng trịnh Giác Mật ngồi giữa nhà. Mâm rượu đã bày sẵn, và chúa đạo Đà Giang vừa nheo mắt thách thức, vừa đưa tay mời: Chỉ có một quả bầu cắt đôi, sóng sánh một thứ rượu ngâm và một đĩa thịt nai muối. Trần Nhật Duật không chút ngần ngại, bình thản nhón một miếng thịt, rồi vừa nhai vừa ngửa mặt, cầm gáo rượu, từ từ dốc vào mũi, uống ăn hết sức thành thạo.

    Trịnh Giác Mật không kìm giữ được nữa:

    - Nghe vua Trần vẫn nói Chiêu Văn Vương chính là hậu thân của các giống Phiên, Man, quả đúng thế chăng?

    Trần Nhật Duật khi ấy mới nhìn thẳng vào mắt Giác Mật một hồi lâu, rồi hỏi lại:

    - Chúng ta xưa nay vẫn là anh em. Triều đình đối với dân Đà Giang xưa nay vẫn không có điều tiếng gì, cớ sao gây chuyện bất hòa?

    Những tiếng kêu nhao nhao khắp nhà:

    - Nó là anh em với ta!

    - Chúng ta là anh em với nhau thôi!

    Dường như chỉ đợi có thế. Trần Nhật Duật nhẹ nhàng vẫy gọi tiểu đồng tới gần. Viên trấn thủ của triều đình tự tay mở tráp, lấy ra những chiếc vòng bạc long lanh sáng trắng, trao tận tay cho từng đầu mục đạo Đà Giang, và chọn riêng cho chúa đạo Đà Giang một chiếc vòng lớn, lồng nguyêân một chiếc vuốt cọp!

    Những người cầm đầu đạo Đà Giang xa xôi chỉ còn biết sung sướng đón nhận lấy những tặng phẩm kết nghĩa đúng với phong tục cổ truyền của mình...

    Tình hình trong nước bấy giờ đã đủ yên ổn để có thể dốc toàn lực cự lại giặc ngoại. Vừa lúc ấy, hoàng đế nhà Nguyên hung hăng điều động một đạo binh mã khổng lồ năm mươi vạn, do chính con trai y là Thoát Hoan làm tổng chỉ huy, chia đường tràn vào Đại Việt.

    Quân giặc xâm lược mưu toan từ ba mặt đè bẹp bước Đại Việt. Trên biên giới phía Bắc, hai cánh quân từ mạn Tây và mạn Đông dồn xuống. Liền đó, từ mạn biên giới phía Nam một cánh quân nữa sẽ do chính Chiêm Thành đánh ra. Cả ba cánh quân đều phóng thẳng đến kinh đô Thăng Long: Chúng sẽ hội sư sau khi chiếm thành, bắt sống triều đình nhà Trần ở đấy.

    Nước Đại Việt lập tức tung các lực lượng các lực lượng ra để đối phó. Vua Trần thân chinh cùng với các vương hầu, tướng lĩnh chia nhau kéo quân đi các ngả chặn giặc. Ngả phía Tây của mặt trận biên giới phía Bắc được giao trọn cho Chiêu văn Vương Trần Nhật Duật. Vị thân vương này sẽ ra quân trên địa bàn rừng núi quen thuộc, sẽ đánh những trận lớn vào tuổi ba mươi hai của đời làm tướng còn rất trẻ của mình.

    Cửa trận đã khép lại, hồi chuông thu quân như còn quyện mãi trong màn sương chiều đang buông nhanh xuống núi rừng.

    Những ngọn đuốc nhựa thông đã thắp sáng khu đại trại Thu Vật. Chiêu Văn Vương cởi bộ chiến bào, ngồi nghỉ giữ quân doanh. Cả một ngày đốc quân chặn giặc, bây giờ mới được một lúc thư thái, bộ óc ham suy tính của vị tướng trẻ đã lập tức hoạt động. Liền ngay đó, cái điều ngờ ngợ cảm thấy ở giữa bãi chiến trường lúc ban ngày đã lớn vụt lên. Tại sao ở ngay trận đánh mở màn hôm nay, quân Nguyên chỉ giao chiến cầm chừng? Mấy lần tung quân kỵ mở đường qua cửa ải bị chặn lại, chúng không nôn nóng liều mạng tràn tới nữa. Cái cung cách tiến đánh như thế rõ ràng có điều khác với những kiến thức mà Nhật Duật đã thu lượm được về quân giặc. Nghe Bảo Văn Hầu kể lại việc năm Nguyên Phong, ở trận Phù Lỗ, vừa nhác thấy quân ta bày trận ở bên kia bờ, giặc Thát bị vướng sông ở bờ bên này đã xô lên, dùng ngay cung tên bắn xuống nước để dò đáy, gặp chỗ nào không thấy tên nổi lên là lập tức phóng ngựa ào qua để tấn công. Thế mà bây giờ quân giặc lại chỉ đánh chắc rời rạc, hẳn là đang còn mưu toan điều gì. Phải chăng chúng còn muốn đưa quân bọc sau quân ta rồi mới hai mặt giáp công?

    Một hồi trống hiệu giật gióng gọi tới. Quân canh đưa vào trình một người lính khắp người bết mồ hôi và bụi bặm đường trường. Nhận ra sắc phục lính Thánh Dực, Nhật Duật đã linh cảm ngay một biến cố hệ trọng. Nhưng viên tướng trẻ vẫn không hề đổi sắc mặt, chỉ rướn cặp lông mày dò hỏi. Người lính từ chỗ vua Trần gấp đường tìm đến vội vã trình ngay tình hình: ở mạn Đông của mặt trận biên giới, quân ta do vua Trần và Hưng Đạo Vương chỉ huy đã giao chiến lớn với đại binh của giặc ở Vạn Kiếp. Thế giặc rất mạnh. Và Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Vương đã cho lệnh lui quân để bảo toàn lực lượng...

    Truyền cho dẫn người lính Thánh Dực đi nghỉ, Trần Nhật Duật ngồi giữa quân doanh điềm tĩnh tính toán. Đại cuộc như thế, lui quân là phải. Nhưng ở đây, ta và giặc đều mới vào trận. Nhất đán rút đi là việc dễ bị đuổi đánh. Phải có cách lui quân sao cho an toàn...

    Suốt đêm đó, rồi cả ngày hôm sau nữa, viên tướng trẻ phụ trách gánh nặng của mặt trận biên giới phía Tây không hề chợp mắt. Nhật Duật căng óc liệu định từng chi tiết trước mắt của cuộc rút quân, cũng như cả những công việc lâu dài về sau.

    Nhưng quân lính dưới trướng vẫn chỉ thấy chủ tướng của mình thản nhiên, ung dung như mọi ngày. Và một hôm sau thì tất cả đều đã gọn gẽ, nhẹ nhàng xuống thuyền kín dòng sông Chảy đổ xuôi. Trần Nhật Duật đã quyết định chọn đường sông để hạn chế thế mạnh trên bộ của kẻ địch. Quân ta từ sông Chảy vào sông Lô rồi ra Nhị Hà, về Thăng Long.

    Đoàn chu sư của Trần Nhật Duật vừa rút lui được một chặn đường thì đã thấy hậu quân báo lên: Có dấu hiệu giặc đuổi theo! Trần Nhật Duật lên thẳng lầu thuyền cao, nheo mắt nhìn kỹ về phía sau. Cát bụi đang bốc lên ở cả hai bên bờ sông. Quân giặc đúng là đang men theo dọc sông để bám gót quân ta. Những đám bụi quân hành trông mới lờ lững, thung dung làm sao! Đuổi theo quân ta mà sao chúng chậm chạp làm vậy? Mối nghi ngờ lại lóe lên, viên tướng trẻ thận trọng phái ngay mấy chiếc thuyền nhẹ chèo gấp về phía trước dò đường. Quả nhiên, chẳng bao lâu đã có tin báo về: Một cánh quân giặc đã cắt ngang sông ở mạn hạ lưu!

    Trần Nhật Duật lục lại trí nhớ, hình dung ra địa thế quanh miền và cân nhắc tình hình rất nhanh. Sau đấy, rất bình tĩnh, viên tướng trẻ hạ lệnh ghé thuyền vào bờ hữu ngạn, rút hết quân lên bộ, nhẹ nhàng tạt vào từng tắt đường rút về phía tây. Cái bẫy quỷ quyệt mà quân giặc dung công giương nên, không ngờ lại để lỗ hỗng tai hại này!

    Nhưng, vừa đưa được quân đội an toàn về đến Bạch Hạc. Trần Nhật Duật đã lại nhận thêm được một tin dữ nữa: Mới ngày hôm qua, sau trận đánh chặn giặc ở bến sông Hồng ngoài thành Thăng Long, đại quân triều đình đã bỏ kinh thành, rút xa hơn nữa về phía Nam về phủ Thiên Trường. Tướng giặc Thoát Hoan đã chiếm tòa kinh đô bảo trống. Và thế là đường về với quân triều đình của Trần Nhật Duật bị giặc chặn ngang ở quãng ấy!

    Thử thách đến với đạo quân của viên tướng trẻ tuổi lần này quả là lớn. Trong quân ngũ đã thoáng thấy những ánh mắt lo ngại. Nhưng một mệnh lệnh kiên quyết đã bay ra: Toàn quân sẽ tạt xa nữa về phía Tây, đi xuyên vùng các tộc Phiên Man, vòng qua miền giặc chiếm đóng mà về với đại quân ở Thiên Trường!

    Trần Nhật Duật đã cho lệnh triệu ngay các bộ tướng đến dưới trướng. Nhưng trước đó, viên tướng trẻ đã kịp gọi riêng viên đạo sĩ nước Tống, Hứa Tông Đạo bấy lâu nay vẫn cho đi theo quân ngũ dặn dò cặn kẽ:

    - Hứa đạo sĩ! Mấy năm nay thu nạp người tài ở dưới trướng, bây giờ mới là lúc ta cần đến ông. Hãy thiết lập một đàn tế trời đất ở ngay bên bờ sông Bạch Hạc này! Ngày mai, trước lúc quân sĩ lên đường, đạo sĩ sẽ là người lo việc làm lễ ăn thề cho toàn quân, để mọi người đều yên lòng theo ta đánh giặc!

    Sau đấy, giữa các bộ tướng, Trần Nhật Duật, điềm đạm nói:

    - Vận nước gian nan thì mới thấy rõ lòng người. Dẫn quân qua vùng phiên Man để về với triều đình là việc khó khăn mà dễ. Khó vì đường xa hiểm trở. Dễ vì thung thổ ở đây ta đã thuộc như lòng bàn tay. Lại thêm các dân Phiên man năm trước đều đã theo Trịnh Giác Mật một dạ kết liên với triều đình. Vậy chỉ còn cần chư tướng cùng quân sĩ dốc lòng. Ngày mai, Hứa đạo sĩ chủ trì lễ cắt tóc tuyên thệ, nguyện lấy lòng trung để báo ơn vua của tất cả mọi người!

    Rút phắt thanh gươm bên sườn, Trần Nhật Duật cắt ngọt ngay một vạt tóc của mình và tiếp tục nói đều đều:

    - Kẻ nào trong chúng ta mà đổi dạ thay lòng thì sẽ như mớ tóc này!

    Đã qua rồi những ngày gian khổ để chắt chiu chuẩn bị cho thời cơ hưng khởi nức lòng bây giờ. Đạo quân mà Trần Nhật Duật vượt núi rừng đưa được nguyên vẹn về Thiên Trường, nay đã đến lúc tung hoành thỏa chí.

    Mấy hôm trước, trong cuộc họp bàn với tướng lĩnh thân cận. Hưng Đạo Vương đã tâu vua Trần cho lệnh bắt đầu phản công, và chọn phòng tuyến của giặc Nguyên xây dựng trên sông hồng làm hướng tiến đánh trước tiên. Vua Trần chấp nhận kế sách ấy. Và hồ hởi nói với mọi người:

    - Quân giặc nhiều năm đi xa, quân nhu chở đi vạn dặm, tất rất mệt mọc. Lấy nhàn đổi mệt, trước hết làm mất khí thế của chúng thì nhất định phá được!

    Và thế là trận đánh mở màn do chính Quốc Công Tiết Chế chỉ huy, nhằm vào đại đồ A Lỗ của giặc Nguyên đã bùng nổ. Quân ta xung trận với khí thế ngất trời, đánh tan tác cánh quân trú phòng A Lỗ của tên tướng Vạn Hộ Lưu Thế Anh, buộc tên tướng giặc khét tiếng gian hùng này phải cắm đầu tháo chạy.

    Rồi đó, đến lượt Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật! Mục tiêu của trận đánh lớn giao phó cho viên tướng trẻ, chính là cửa Hàm Tử của quân giặc. Nhận được lệnh ra quân, Trần Nhật Duật lập tức cho dàn sẵn binh thuyền. Một mặt, truyền lệnh cho gọi riêng viên tướng Tống Triều Trung đến dưới trướng. Như ngày nào đã giao nhiệm vụ cho đạo sĩ Hứa Tông Đạo trên bến Bạch Hạc, lần này, viện tướng trẻ của nhà Trần cũng lựa lời khích lệ Triệu trung, rồi ghé sát vào tai, thì thầm mật lệnh. Không biết Nhật Duật đã nói những gì mà chỉ thấy cuối cùng, Triệu Trung sáng bừng nét mặt, vòng tay nói thật cảm kích:

    - Được một lần sống lại cùng cố quốc như thế, Triệu Trung này dẫu gan óc lầy đất cũng hả lòng!

    Triệu Trung vừa đi ra thì Trần Nhật Duật dồn nhanh đội hình tiến quân xông thẳng vào thủy trại của giặc, xung sái cực kỳ dũng mãnh. Chiến thuyền giặc Nguyên gắng gượng chống cự được một chập thì phải giạt dần vào bờ, nhờ quân bộ tiếp cứu. Theo dõi trận đánh, thấy thế trận đã chuyển, Trần Nhật Duật, sau một thoáng cân nhắc, đã vớ ngay chiếc dùi trống trận, thúc một hồi dài. Trao lại dùi trống cho một viên tùy tướng, Nhật Duật nhảy ngay xuống một chiếc thuyền nhẹ, tuốt gươm vẫy quân ồ ạt tràn lên bờ. Đạo quân thiện chiến của Trần Nhật Duật lăn xả vào trận giặc đang bắt đầu rối loạn, công phá dữ dội. Từng đám từng đám xác giặc đổ gục. Chỗ này một tên tướng rống lên, ngã nhào xuống chân ngựa. Chỗ kia, một lá cờ hiệu bị chém rơi, giẫm nát.

    Vừa lúc ấy, từ phía sau hàng trận giặc Nguyên cũng xuất hiện một cánh quân lạ. Lá cờ hiệu dẫn đầu cánh quân mang chữ "Tống" cực lớn. Tiếng trống thúc lẫn tiếng quân reo dội tới, nghe cũng lạ tai: Tiếng Tống! Cuối cùng, khi cánh quân đã áp tới gần, đã có thể nhận ra những bóng người mặc toàn sắc phục của quân Tống, thì những loạt tên từ những chiếc cung hai cánh lớn thứ vũ khí lợi hại chỉ riêng những đạo quân cung thủ đặc biệt của Tống triều mới có đã bay như mưa rào vào phía sau hàng trận quân Nguyên.

    Một cảnh cực kỳ hỗn loạn chưa từng thấy, diễn ra ngay giữa hàng trận quân giặc. Bị đánh dồn từ hai mặt: Một bên là đạo quân của Trần Nhật Duật vẫn ào ạt xông tới, mạnh như chẻ tre, một bên là cánh quân Tống Triều mà lũ giặc Nguyên kinh hãi rụng rời, tưởng đâu là họ đã khôi phục được quốc triều, mới từ đất Tống kéo sang chi viện cho quân Trần toàn trại binh Nguyên trên cửa Hàm Tử phút chốc vỡ tan, bị giết một phần, còn thì bị bắt vô số.

    Hai cánh quân vừa giáp công ở cửa Hàm Tử đã gặp nhau. Tướng Truệu Trung phải, chính là viên gia tướng được thu nạp dưới trướng Trần Nhật Duật, theo mật lệnh của chủ tướng đã cho bộ hạ của mình một phen dùng lại sắc phục của nước mình, góp phần cùng quân Trần đánh tan kẻ thù chung như lời khích lệ của Nhật Duật ngày nào bây giờ tiến thẳng đến trước vị chủ tướng trẻ tuổi mà mưu trí như thần, dâng lá cờ của tướng Nguyên vừa cướp đươc, giữa tiếng reo vui đại thắng của quân sĩ.

    Đoàn chiến thuyền lại ken đặc mặt nước đỏ ngầu phù sa, vùn vụt lướt sóng, tiến lên phía trước. Chu sư nhà Trần đang rầm rộ ngược sông hồng về thu phục lại Thăng Long.

    Ở chiếc kỳ hạm đi đầu, Trần Nhật Duật đứng thẳng người dưới lá cờ hiệu mang hàng chữ "Chiêu Văn Vương, Trần". Đôi mắt sáng của viên tướng trẻ mở to, bao quát cả một vùng cảnh quan đang trải ra bao la phía trước. Thốt nhiên, từ một điểm lung linh sâu thẳm của ký ức viên tướng trẻ, hiện dần lên cảnh tượng của hơn hai mươi năm trước, cảnh tượng của đoàn thuyền hoàng gia tươi vui, hồ hởi ngược sống trở lại kinh thành, sau trận thắng giặc năm Nguyên Phong. Phải rồi, vẫn đất kia, sông này. Ngày ấy, Thăng Long giải phóng vẫy gọi đoàn thuyền. Bây giờ, Thăng Long cũng đang mong chờ đại quân tiến về giải phóng. Viên tướng trẻ của nhà trần bỗng nhớ lại, rõ mồn một, hình ảnh của Linh từ quốc mẫu và chuyện trên mũi thuyền giữa bà quốc mẫu cùng đứa cháu thơ dại vị hoàng tử nhỏ tuổi mà đã ham hiểu biết.

    Tự nhiên, Trần Nhật Duật thấy mình muốn mỉm cười. Nhưng viên tướng trẻ vẫn không quen để lộ cảm xúc ra ngoài nét mặt, mặc dầu trái tim đang rộn lên những nhịp đập tự hào. Từ chỗ phải chạy giặc lần ấy, đến bây giờ, lần này, đã xuất hiện một viên tướng trẻ, đóng góp một phần không nhỏ vào sự nghiệp bảo vệ đất nước. Ôi, Đất nước, những ngày đắm mình trong giông bão thử thách quyết liệt như thế này, thật đã khiến cho những ai biết gắng sức mình sống cho xứng đáng, đều sẽ vụt lớn bỗng lên, diệu kỳ biết bao.


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group