Trần Quang Khải
-
Thi nhân trong thơ Trần Quang Khải
T rần Quang Khải, tự Chiêu Minh, sinh vào mùa đông năm Tân Sửu (1241), là con trai thứ ba Trần Cảnh (Trần Thái Tông). Dưới triều Trần Thánh Tông, ông giữ chức Tướng quốc thái úy, tước Đại vương; được thăng chức Thượng tướng Thái sư dưới triều vua Nhân Tông. Cùng với Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải cũng là một nhân vật trọng yếu của vương triều, đã đóng góp nhiều công sức vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước, đặc biệt là trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông (1284 - 1288), ông đã tham gia trận phản công lớn, đánh tan quân giặc ở Hàm Tử và Chương Dương, giải phóng Thăng Long.
Trần Quang Khải là người học rộng, biết nhiều, văn võ song toàn, ngoài ra ông còn là một nhà ngoại giao, nhà thơ có tài.
Trong số các thi sĩ - chính khách thời Trần, Trần Quang Khải có lẽ là người để lại cho người đọc một ấn tượng tươi tắn mà sâu đậm. Trước hết, tuy chỉ còn lại vẻn vẹn có 10 bài thơ thôi (Trong 10 bài thơ này thì có một bài Đề đền Bạch Mã, chỉ được chép trong Việt điện u linh tập, một bài Hạ Hồ Thành trúng Trạng nguyên, e không đúng, và một bài Đề dã thự trùng với bài Tĩnh Bang cảnh vật của Trần Tung trong Thượng Sĩ ngữ lục. Điều kiện tư liệu hiện nay chưa cho phép khẳng định dứt khoát vấn đề tác giả đích thực của các bài đó), song, thơ ông bài nào cũng mang cốt cách khoáng đạt của một thi nhân cỡ lớn. Trần Quang Khải có làm thơ xã giao thù tạc cũng là cái thù tạc không cần phải gắng gượng hay khách sáo, mà trái lại dung dị, tự nhiên, hiếm người có được:
Nhất đàm tiếu khoảnh ta phân quệ,
Cộng xướng thù gian, tích đối sàng.
(Tống Bắc sứ Sài Trang Khanh) (Tức Sài Thung)
(Vừa nói cười đó mà thoắt đã ngậm ngùi dứt áo,
Tiếc những lúc hai giường đối diện, xướng họa cùng nhau).
Và Trần Quang Khải có ngắm nhìn đồng quê trong tư cách một vị chủ nhân trang trại thì vẫn là cái nhìn đột xuất, tình tứ khác thường:
Dã thự tân khai, cảnh vật tân,
Phương phi đào lý, tứ thời xuân.
Nhất thanh ngư địch, thanh lâu nguyệt,
Kỷ phiến nông thoa, bích lũng vân.
(Đề dã thự)
(Trang trại mới mở, cảnh vật thật mới mẻ,
Đào mận tốt tươi, xuân suốt cả bốn mùa.
Một tiếng sáo trẻ chăn trâu, xanh thêm mặt trăng trên lầu,
Vài tấm áo tơi nông phu, biếc hẳn đám mây dưới lũng).
Sau nữa, ấn tượng tươi tắn của chúng ta đối với Trần Quang Khải - thi nhân còn ở chỗ, ta biết tác giả những vần thơ khoáng đạt này là một vị Thái sư Thượng tướng, cùng với Trần Quốc Tuấn là hai nhân vật đứng đầu hàng văn và hàng võ, đã từng góp nhiều công lao hiển hách vào công cuộc dựng nước và giữ nước đời Trần. Là con trai thứ ba vua Trần Thái Tông, em ruột Trần Thánh Tông, sinh năm 1241 và mất năm 1294, với tước Chiêu Minh vương, Trần Quang Khải đã thực sự đóng một vai trò chủ chốt trong triều chính nhà Trần suốt nhiều năm tháng, kể từ khoảng mươi năm sau cuộc kháng chiến chống Nguyên lần thứ nhất (1258). Ròng rã gần hai thập niên tạm gọi là hòa bình mà kỳ thực là chuẩn bị lực lượng rất khẩn trương ấy, với cương vị một ông quan đầu triều, Trần Quang Khải đã ra sức chèo chống về nội trị, ngoại giao, đưa vương triều Trần vượt qua nhiều thử thách, nhất là những cuộc đấu trí mệt nhọc, căng thẳng với đám sứ giả Nguyên Mông. Những bài thơ ông làm trong các dịp này cũng giống như những bài thơ tiếp sứ của Trần Nhân Tông và nhiều người khác, có cái mềm mỏng, nhún nhường về lời lẽ, nó là một sách lược nhất quán trong quan hệ nhiều đời giữa nước ta với các đế chế phương Bắc vốn luôn luôn tự thị vào cái "lớn", cái "khỏe" của mình:
Khẩu hàm uy phúc quân bao biếm,
Thân bội an nguy quốc trọng khinh.
Cảm chúc tứ hiền quân phiếm ái,
Hảo vi noãn dực Việt thương sinh.
(Tống Bắc sứ Sài Trang Khanh, Lý Chấn Văn đẳng).
(Miệng nói lời oai phúc thay vua mà khen chê,
Thân mang theo sự an nguy quan hệ đến việc lớn nhỏ của nước nhà.
Dám xin cầu chúc bốn vị sứ giả hiền tài có lòng yêu thương rộng lớn,
Ra sức che chở cho con dân nước Việt).
Nhưng hết sức mềm mỏng đấy - và có thể không kém thân tình nữa kia đấy - mà vẫn giữ được hiên ngang cứng cỏi sau từng chữ từng câu, nó là cái tư thế bình đẳng của chủ đối với khách, cái phong thái đàng hoàng của những con người luôn luôn tự chủ được mình:
Tống quân quy khứ độc bàng hoàng,
Mã thủ xâm xâm chỉ đế hương.
Nam Bắc tâm linh huyền phản bái,
Chủ tân đạo vị phiếm ly trường.
Nhất đàm tiếu khoảnh, ta phân quệ,
Cộng xướng thù gian, tích đối sáng.
Vị thẩm hà thời trùng đổ diện,
Ân cần ác thủ tự huyên lương.
(Tống Bắc sứ Sài Trang Khanh)
(Tiễn ông ra về, mình tôi luống những bâng khuâng,
Ngựa xăm xăm hướng về nẻo quê hương nhà vua.
Nỗi lòng Nam Bắc lưu luyến trên ngọn cờ người ra đi,
Tình chủ khách dạt dào trong chén rượu giã biệt.
Vừa nói cười đó mà thoắt đã ngậm ngùi dứt áo,
Tiếc những lúc hai giường đối diện, xướng họa cùng nhau.
Biết bao giờ lại được gặp mặt,
Để nắm tay ân cần kể nỗi hàn huyên).
Thế rồi, khi tình thế xã tắc không còn tài nào ngăn được cuộc xâm lăng ào ạt của lũ giặc Mông Thát, Trần Quang Khải lập tức cởi áo phòng văn, khoác áo tướng sĩ, dẫn đầu một đạo quân, ra đi. Và cứ thế, dưới quyền tiết chế của quốc công Trần Quốc Tuấn, ông xông pha trận mạc khắp nơi, hết Nghệ An ra Thăng Long, lại đi các trấn phía bắc... cho đến ngày toàn thắng.
Cái tấm lòng hăng hái bất kỳ việc gì cũng không từ nan, cũng thung dung nhận lấy và làm hết mình đó, Trần Quang Khải giữ được cho mãi đến già. Và cái nét dung dị mà khoáng đạt, hào hùng trong con người ông cũng vậy, vẫn là một cốt tính đặc sắc làm trẻ trung mãi ngòi bút của nhà thơ. Bài thơ Cảm xuân có lẽ làm ít lâu trước lúc mất là biểu hiện kết hợp cả hai mặt khoáng đạt và hăng hái nói trên.
Vũ bạch phì mai tế nhược ti,
Bế môn ngột ngột tọa thư si.
Bán phần xuân sắc nhàn sai quá,
Ngũ thập suy ông dĩ tự tri.
Cố quốc tâm tùy phi điểu quyện,
Ân ba hải khoát túng lân trì.
Sinh bình đởm khí luân khuân tại,
Giải đảo đông phong phú nhất thi.
(Cảm xuân, I)
(Lâm râm mưa bụi gội hoa mai,
Khép chặt phòng thơ ngất ngưởng ngồi.
Già nửa phần xuân cam bỏ uổng,
Tới năm chục tuổi biết suy rồi.
Mơ màng nước cũ chim bay mỏi,
Khơi thẳm nguồn ân, cá khó bơi.
Đảm khí ngày nào rày vẫn đó,
Đè nghiêng ngọn gió đọc thơ chơi!)
(Ngô Tất Tố dịch)
Bài thơ gợi một cảm xúc thực man mác, bâng khuâng! Trước mặt người đọc hiện ra hai con người: một người thơ và một anh hùng. Người thơ ngồi lặng trong phòng như si như ngây, suy tưởng mênh mang về đất nước, về tuổi trẻ và những tháng năm đã trôi vào dĩ vãng; còn người anh hùng thì luôn luôn tỉnh táo, nghiêm trang canh giữ xã tắc trong bao nhiêu năm không lúc nào lơi lỏng, và vẫn chờ đợi với tấm lòng hăng hái những nhiệm vụ hệ trọng mà xã tắc phó thác cho mình! Tưởng chừng hai con người là hai nhân vật khác hẳn nhau, đồng hành trên suốt một chặng đường dài... vừa chẵn năm mươi năm. Nhưng nào đâu có phải! Phải nói, có được cái mê si đầy khoái cảm của chàng thi nhân kia - mê si trong khung cảnh yên bình, nhàn nhã của đất nước - cũng là nhờ cái tỉnh táo trường kỳ, không biết mệt mỏi của người tráng sĩ nọ, và quả tình là ở phần cuối bài thơ, cả anh hùng và thi nhân đều đã nhập trở lại trong một hình tượng nhất trí. Cảm hứng của người thơ có vẻ như lâng lâng, dàn trải ở phần đầu, đến đây cũng được xác định lại cụ thể, là niềm hứng khởi, là ý thức sắc bén trước nhiệm vụ đối với đất nước, đúng y như cảm hứng của anh hùng:
Sinh bình đởm khí luân khuân tại,
Giải đảo đông phong phú nhất thi.
(Chí khí dũng lược lúc bình sinh hãy còn hăng hái,
Muốn quật ngã gió đông mà ngâm lên một bài thơ).
Như vậy, nền tảng của sự thống nhất giữa hai con người trong thơ Trần Quang Khải chính là sức mạnh và yêu cầu thường trực về sự vững mạnh của xã tắc giang sơn; nhờ có nó người ta nhận thức được rằng mình vẫn còn và tất yếu phải còn nguyên "đởm khí" - dồi dào sức trẻ. Cũng nhờ có nó, mặt khác, người ta lại cảm thấy cái hạnh phúc được sống và quên bẵng rằng mình đang sống, nghĩa là được thoải mái đắm mình theo nhịp trôi chảy của thời gian, để rồi đôi khi nhìn lại mà bỗng thốt giật mình.
Sự thống nhất giữa người thơ và anh hùng trong thơ Trần Quang Khải còn là sự thống nhất giữa hai bình diện khác nhau của cùng một con người Việt Nam ở thời đại Lý - Trần: con người biết mê mải vui say trong nhiều niềm vui của cuộc sống đang lên, và ngược lại, cũng biết tự cảnh giác với mọi đam mê vô ích, để nhân sức mạnh của mình lên mà tỉnh táo chống trả với mọi kẻ thù đang dòm ngó sơn hà xã tắc.
Con người đó, ngay trước khi bước vào giấc ngủ cũng đã mở to con mắt: "đề phòng" dõi nhìn về những miền biên giới thân yêu:
Nam vọng lang yên vô phục khởi,
Đồi nhiên nhất tháp, mộng thiên an.
(Phúc Hưng viên)
(Trông về Nam khói lửa không còn tái diễn,
Trên giường nằm ngủ yên tâm trong giấc mộng).
Con người đó, giữa lúc chuếnh choáng vài chén giải khuây vẫn không quên phận sự, trái lại, còn biết nâng cao tấm lòng tráng chí: "Vỗ thanh gươm cũ nhớ non xưa", làm cho sự giải khuây tăng thêm phần ý nghĩa:
Khử sầu lại hữu tam bôi tửu,
Phủ kiếm du du ức cố sơn.
(Cảm xuân, II)
(Tiêu khiển nay nhờ ba chén rượu,
Vỗ thanh gươm cũ nhớ non xưa)
(Ngô Tất Tố dịch)
Và con người đó, khi soi bóng trên dòng sông mà mặc cảm về mái tóc bạc trắng, cũng vẫn giữ được niềm lạc quan thanh thản, vì biết tin vào lịch sử trường tồn của đất nước, nó là cái bảo đảm vững chắc nhất cho những gì còn lại của cá nhân mình và sự nghiệp của mình:
Thái bình đồ chí kỷ thiên lý,
Lá đại quan hà nhị bách niên.
Thi khách trùng lai đầu phát bạch,
Mai hoa như tuyết chiếu tình xuyên.
(Lưu Gia Độ)
(Cơ đồ đất nước lúc thái bình rộng mấy nghìn dặm,
Non sông nhà Lý trải hai trăm năm.
Khách thơ trở lại đây đầu đã bạc,
Hoa mai như tuyết chiếu xuống lòng sông buổi trời tạnh).
Từ một con người đặc sắc nhiều mặt như thế, Trần Quang Khải đã để lại rất nhiều mối cảm tình cho người đọc thơ ông. Có thể nói, chân dung một Trần Quang Khải nhà thơ đã hòa quyện với chân dung một Trần Quang Khải ở trong sử sách, cũng như một Trần Quang Khải ở trong sử sách, đã làm giàu thêm sức sống và thi liệu cho một Trần Quang Khải trong thơ. ấn tượng sâu sắc của người đọc thơ Trần Quang Khải càng trở nên rất đẹp khi được gắn liền với những giai thoại trong mối quan hệ giữa ông và Trần Quốc Tuấn: hai ông đã vì việc nước lúc ấy mà bỏ hết hiềm khích cũ, trở thành hai ông quan đầu triều gương mẫu, cũng là hai người anh em rất mực thân tình. Đại Việt sử ký toàn thư đã có những dòng rất cảm động để kể về điều này: "Một hôm Quốc Tuấn từ Vạn Kiếp đến, Quang Khải xuống thuyền chơi suốt ngày mới về. Lại tính Quang Khải lười tắm gội, Quốc Tuấn thì thích xông tắm, từng nói đùa với Quang Khải rằng: "Thân cáu bẩn xin tắm giùm". Rồi Quốc Tuấn cởi áo Quang Khải ra, lấy nước thơm tắm cho ông và nói: "Hôm nay được tắm cho Thượng tướng". Quang Khải cũng nói: "Hôm nay được Quốc công tắm cho". Từ đấy hai người vui chơi với nhau, tình thân càng mặn" (Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, Tập II. NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1967, tr.72).
Trong vô vàn cái đẹp của đời sống, tưởng không có gì đẹp hơn là những con người biết tự vượt mình. Nhưng trong số những con người biết tự vượt mình, tưởng không có gì cao cả hơn là những người biết gắng sức theo cùng tầm thước lịch sử mà lớn vượt lên. Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải và nhiều nhân vật đời Trần đã chiến thắng oanh liệt kẻ thù phương Bắc và sống mãi cho đến ngày nay, chính là những con người như vậy!
*
* *
Nhưng tất cả những điểm nổi bật ở thi sĩ Trần Quang Khải mà ta vừa viện dẫn cũng sẽ không hoàn toàn thu hút được sự chú ý rộng rãi của các thế hệ sau, nếu như trong văn nghiệp của ông không có một bài thơ tuyệt tác: bài Tụng giá hoàn kinh sư (Phò giá trở về kinh). Bài thơ làm vào khoảng những ngày cuối thượng tuần tháng Bảy năm 1285, tức là trong những ngày thắng lợi tưng bừng của cuộc kháng chiến lần thứ hai. Ngày 9 tháng Bảy năm này, Trần Quang Khải được lệnh hộ giá hai vua Trần trở lại kinh đô đã sạch bóng quân giặc. Và bài thơ của ông đã ra đời vào dịp ấy, gồm vẻn vẹn 4 câu thơ 5 chữ:
Đoạt sáo Chương Dương độ,
Cầm hồ Hàm Tử quan.
Thái bình tu trí lực,
Vạn cổ thử giang san.
Bốn câu thơ thật ngắn gọn, ý tứ cũng không có gì hóc hiểm, nhưng đã sống trong mọi trí nhớ, đem lại niềm bồi hồi, xúc cảm cho rất nhiều thế hệ, không khác gì một bài Bình Ngô đại cáo, một bài Hịch tướng sĩ, một bài Nam quốc sơn hà.
Hãy bàn về hai địa danh Chương Dương, Hàm Tử của bài thơ. Đối với tác giả thì đây là những sự kiện hãy còn quá mới mẻ. Chỉ mới trước khi ông đặt bút viết bài thơ đúng hai tháng thôi, hai trận thắng oanh liệt Chương Dương, Hàm Tử đã diễn ra, làm kinh hoàng quân giặc, và cũng mở ra cơ hội để quân Trần lật lại thế cờ. Nhưng mới có hai tháng mà hai địa danh chưa ai quen biết đã bước hẳn vào địa hạt của thơ, y như những điển cố quen thuộc nói về chiến công vẫn thường gặp trong sách vở. Trước Trần Quang Khải, chiến công anh hùng của dân tộc cũng đã có nhiều, và thơ nói về chiến công cũng không ít, nhưng một địa danh cụ thể của một chiến công nào được văn thơ ghi lại thì chưa hề có. Thế mà ở đây, lần đầu dùng những địa danh Việt Nam để nói về chiến trận, người viết lại không chút bỡ ngỡ, lúng túng, trái lại, vẫn dồi dào cảm xúc. Đấy quả là điều lạ!
Vậy, cái lý do gì làm cho Trần Quang Khải nói đến Chương Dương, Hàm Tử mà xúc động thành thơ? Phải nói đây là hai cái tên tượng trưng cho cả một chiến dịch lớn của quân dân nhà Trần. Bấy giờ, sau nhiều ngày tháng liên tiếp đuổi theo hai vua Trần không có kết quả, đạo quân Nguyên Mông hùng hổ và kiêu căng, chỉ biết ỷ vào sức mạnh đã dần dần lâm vào thế bị động. Hai vua Trần và Trần Quốc Tuấn liền hạ lệnh cho quân sĩ phản công. Tháng Năm năm 1285, Trần Nhật Duật cùng một số tướng sĩ được lệnh đem quân đến đón giặc ở cửa Hàm Tử - nay thuộc huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Giặc Nguyên đại bại. Thừa thắng, Trần Quang Khải cùng một số tướng sĩ khác lại được lệnh đem quân đánh úp Chương Dương - nay thuộc huyện Thường Tín, Hà Tây. Cuốn Kinh thế đại điển tự lục đời Nguyên đã thừa nhận: "Thủy lục đến đánh vào đại doanh, vây thành mấy vòng, tuy chết nhiều nhưng quân tăng thêm càng trở nên đông. Quan quân - nhà Nguyên - sớm tối đánh rất khốn đốn, thiếu thốn, khí giới đều kiệt" (Dẫn theo Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ 13, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1968, tr. 235). Và thế là bắt đầu một cuộc tháo chạy của đám tàn quân Trung Quốc ra khỏi thủ đô của Đại Việt, rồi từng bước, từng bước rút lui thục mạng về nước.
Trên đường trở về kinh đô đúng giữa ngày toàn thắng, tất cả những hình ảnh sốt dẻo của cái chiến dịch mà chính mình vừa tham gia, chắc vẫn chưa thôi xôn xao trong tâm trí Trần Quang Khải, chưa hết làm ngạc nhiên, sảng khoái tâm hồn nhà thơ. Cái nhân tố gì đã giúp cho non sông xã tắc ta giành được thắng lợi? Trước một kẻ địch thiện chiến và kiêu hùng đến như vậy, làm sao quân ta lại có thể giáng cho chúng những đòn thất điên bát đảo, và thần tốc đến chính người trong cuộc cũng ít ai có thể ngờ? Lạ lùng quá đi thôi! Nhưng mà sự thực vẫn còn kia: này đây là Chương Dương, này đây là Tây Kết, này đây là Hàm Tử. Lòng nhà thơ bỗng rộn lên một niềm bâng khuâng khôn tả. Ông ngẫm lại những ngày long đong xa giá triều đình đã phải ra đi, ngẫm lại bao nhiêu cái giá đã phải trả cho cuộc chiến thắng... và đột nhiên, một chân lý bỗng lóe hiện trong óc ông: chiến thắng này phải đâu giờ đây mới đến. Nó đã được chuẩn bị từ ngày đất nước còn thanh bình. Vì chính vào những ngày đó, cả nước đã biểu hiện sự chung sức chung lòng; người trên biết "nới sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc"; kẻ dưới biết quyết tâm "Sát Thát" và có tinh thần thắng giặc. Chân lý đến với Trần Quang Khải và cảm hứng thi ca cũng đến cùng một lúc. Nhà thơ thấy không thể không thốt lên, bằng những lời rất tiết kiệm và súc tích, để nhắc nhở con cháu, cũng là để nhắc nhở với lòng mình:
Cướp giáo Chương Dương đó!
Bắt thù Hàm Tử đây!
Thái bình nên gắng sức,
Muôn thuở nước non này!
(Trinh Đường dịch)
Không có gì gọn ngắn và đơn giản hơn nữa. Quả là buột thốt thành thơ! Song cái ý chứa đựng bên trong, cái ý nhắc nhở của nhà thơ, thì không chút tầm thường và đơn giản. ở đâu và bao giờ cũng cần một lời nhắc như vậy! Những chiến công chói lọi của ông cha thật đáng tự hào cho con cháu. Nhưng càng tự hào, càng không quên quá khứ, thì càng phải làm sao sống những phút giây hiện tại cho thật ý nghĩa. Trên hay dưới, ai cũng như ai, đều phải sử dụng thích đáng từng phút từng giây thanh bình vô giá đó. Có thế mới xứng đáng tiếp nối được cái "nước non" mà cha ông trao vào tay mình, mới làm cho "nước non này" trở thành "nước non muôn thuở".
*
* *
Hơn một trăm năm sau bài thơ của Trần Quang Khải, chúng ta lại được đọc bài Quá Hàm Tử quan của Trần Lâu, một nhà thơ đồng thời là nhà giáo đời Hồ. Không ai biết nhiều về cuộc đời và văn nghiệp của nhà thơ họ Trần này, chỉ biết ông đỗ đến Tiến sĩ (Thái học sinh) và để lại cho hậu thế chỉ có bài thơ duy nhất, cảm tác về cửa Hàm Tử ấy. Nhưng có lẽ cũng chính nhờ bài thơ duy nhất đó mà tên tuổi ông còn được lưu truyền. Bài thơ như sau:
Thuyết trước sa trường cảm khái đa,
Nhi kim Hàm Tử mạn kinh qua.
Cổ chinh húng dũng triều thanh cấp,
Kỳ bái sâm si trúc ảnh tà.
Vương đạo hồi xuân nồng cổ thụ,
Hồ quân bão hận thấu hàn ba.
Toa Đô thụ thủ tri hà xứ?
Thủy lục sơn thanh nhập vọng xa.
(Cảm khái bao nhiêu cuộc chiến này!
Mà nay Hàm Tử mới qua đây.
Trống chiêng rộn rịp: triều lên gấp,
Cờ xí tưng bừng: tre lả lay.
Vương đạo hồi xuân, cây thắm lại,
Quân Hồ ôm hận, sóng vùi thây.
Toa Đô nộp mạng nơi nào nhỉ?
Nước biếc non xanh mắt chứa đầy!)
Rõ ràng là trên cùng một sự kiện lịch sử mà cảm hứng thơ đã khác xưa. ở đây, nhịp điệu thơ trầm tĩnh hơn, hình tượng thơ tỏa rộng xen lẫn chất trầm tư, tứ thơ trở nên man mác. Quả là lời thơ của người đời sau, tức cảnh mà cảm khái về lịch sử, chứ không còn là người trong cuộc hào hứng xúc động về sự kiện nóng bỏng của thời đại mình.
Và nói chung, những điều nhận xét về Trần Lâu cũng hoàn toàn đúng đối với tất cả những thơ văn cảm tác về Chương Dương, Hàm Tử làm ra sau bài Phò giá trở về kinh: chúng đều là những đóng góp có tính chất bổ sung hay tô đậm thêm vào cái phần sáng tạo căn bản của Trần Quang Khải; song chúng không thể làm lu mờ, càng không thể thay thế bốn câu thơ tinh túy của nhà thơ đời Trần.
Lại cũng có thể ngờ rằng mấy câu:
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
Trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi là bắt mạch xa gần từ trong hình tượng thơ của bài Phò giá trở về kinh. Mấy chi tiết lẫn lộn về lịch sử ở đây - Toa Đô không phải bị bắt ở Hàm Tử mà bị giết chết ở trận Tây Kết lần thứ hai; trái lại Ô Mã Nhi không phải bị giết mà bị bắt sống ở Bạch Đằng chẳng làm người đọc bận lòng cho lắm, nhưng cái hình ảnh bắt giặc ở cửa Hàm Tử thì cứ y như thoát thai từ nguồn cảm hứng tươi rói của câu thơ: Hàm Tử bắt quân thù.
Còn như mấy câu lục bát của tác giả Đại Nam quốc sử diễn ca.
Chương Dương một trận phong đào,
Kìa ai cướp giáo ra vào có công.
Hàm Quan một trận ruổi rong,
Kìa ai bắt giặc uy phong còn truyền.
Thì không nghi ngờ gì nữa, đó là dư âm trực tiếp của hai câu thơ đầu trong bài Tụng giá... nổi tiếng của Trần Quang Khải.
Nguồn: sưu tầm

January 31st 2005, 11:46 pm
Trần Quang Khải
Mùa đông năm Thiệu Long thứ nhất có lệnh phong cho hoàng tử thứ ba của vua Trần Thái Tông là Trần Quang Khải, vừa tròn mười tám tuổi, tức Chiêu Minh đại vương.
Mùa xuân năm ấy, người anh thứ hai của Chiêu minh đại vương, vừa tròn mười chín tuổi, cũng đã lên ngôi hoàng đế nước Đại Việt.
Kém vua anh một tuổi, vị đại tướng trẻ từ đấy hiểu rằng sau ngôi hoàng đế thì địa vị thứ nhất của triều đình Đại Việt sẽ được tin cẩn trao vào tay mình. Bất giác, con người sẽ thâu tóm cả quyền bình thiên hạ ấy chợt nhớ lại câu chuyện xảy ra từ thuở mình còn nhỏ: Vị hoàng tử thứ ba của vua Trần Thái Tông vừa mới sinh ra đã mắc chứng bệnh hiểm nghèo, lên cơn kinh giật để rồi sửa soạn lìa bỏ hẳn giòng họ và địa vị quyền quý của mình. Hoàng đế nhà Trần hay tin dữ, hớt hải nhợt nhạt chạy đến nhìn đứa con trai mà vẻ thông minh đĩnh ngộ lồ lộ hiện sớm, khiến nhà vua đã phải nghĩ sẵn đến một tên cho. Luống cuống đảo mắt khắp gian điện lộng lẫy vàng son, chợt nhận ra chiếc áo gấm quý của thượng hoàng đang treo ở gần, hoàng đế nhà Trần vội quơ tay nắm lấy tấm áo mà dứ dứ trước mặt vị hoàng tử tý hon:
- Này, sống dậy đi, ta sẽ cho con cái này...
Rồi lại hấp tấp tháo luôn thanh gươm báu truyền quốc bên người:
- Cả cái này nữa, nào, sống dậy đi!
Thật không ngờ, chú bé tưởng đã sắp bỏ đi bỗng hồi tỉnh. Rồi đó, sau một thời gian thuốc thang chữa chạy thì ở hẳn lại với dòng họ nhà Trần. Còn hoàng đế Trần Thái Tông thì một hôm nghe hoàng hậu vừa âu yếm nựng con vừa nhắc đùa lại câu chuyện dỗ dành hoàng tử của vua cha, đã lúng túng ừ à một hồi, rồi bỗng đột ngột truyền phán:
- Không được! Gươm báu truyền quốc không thể cho bậy được. Chỉ cho chiếc áo của Thượng hoàng thôi!
Hoàng đế và hoàng hậu cùng cười.
Trần Quang Khải cũng mỉm cười khi nhớ lại chuyện đó, Chiêu Minh đại vương vốn có tính vui.
Phủ Tướng quốc thái úy Chiêu Minh đại vương sáng lóa giáo gươm của binh lính canh phòng cẩn mật khắp trong ngoài. Giữa tòa phủ đệ trang nghiêm, Trần Quang Khải chau mày nghe tin cấp báo từ biên giới truyền về: Sứ bộ Đại Việt, do chú họ của vua Trần là Trần Di Ái cầm đầu, năm ngoái được phái sang Nguyên triều điều đình việc bãi miễn yêu sách của vua Nguyên đòi vua Trần phải sang chầu, năm nay đã trở về đến biên giới. Nhưng Di Ái lại trở về cùng với sắc phong của hoàng đế Hốt Tất Liệt nhà Nguyên cho y được làm "An Nam quốc vương" thay cho vua Trần! Một chiếu thư của vua Nguyên gửi vua Trần cũng được chuyển tới:
"Ta đã cho sứ sang vời thì ngươi lại kiếm cớ không đi, chỉ sai chú là Di Ái vào chầu. Ta cũng định cư ngay quân sang đánh, nhưng vì ngươi nội phụng và cống hiếu đã lâu năm rồi, có lẽ nào bắt chước kẻ vô tri để hại uổng tính mệnh dân chúng!
"Vậy ngươi đã cáo bệnh không vào chầu thì cho ngươi được nghỉ mà thuốc thang điều dưỡng luôn! Ta đã lập chú ngươi là Di Ái thay ngươi làm vua nước An Nam, coi trị dân chúng của ngươi".
Chà, quân đốn mạt! Thật đáng giận cho Di Ái, cam tâm làm bù nhìn để vua Nguyên lợi dụng! Trắng trợn và thâm hiểm, Nguyên triều còn lập ngay một "An Nam tuyên úy ti", với tên Sài Thung đương chức Thượng thư bộ lễ của Nguyên triều, nay làm Di Ái sang Đại Việt, nghiễm nhiên nhận việc cai quản xứ này. Lại còn kèm cả một đạo quân năm nghìn người dóng trống mở cờ, gọi là làm nhiệm vụ hộ tống Tân An Nam quốc vương và An Nam tuyên úy sứ đô nguyên soái!
Trần Quang Khải nhíu mày suy nghĩ rất lâu... Trong óc vị đại vương đang gánh vác toàn bộ việc nước trước cơn sóng gió, những con số, những con người lần lượt hiện lên: Năm nghìn quân! Sài Thung! Trần Di Ái!
Năm nghìn quân! Không, đây chưa phải là một lực lượng quân sự đáng kể. Vậy thì cuộc đại xâm lược mà ta đang ráo riết chuẩn bị đối phó vẫn chưa nổ ra. Đây mới chỉ là một thứ áp lực quân sự cho một âm mưu chính trị bạo ngược hơn. Và Sài Thung! Tên Lễ bộ thượng thư mà chẳng có lấy một chút lễ nghĩa này, ta đã từng mấy lần đương đầu với hắn những năm trước. Lần này, hẳn là hắn sẽ còn già ngông cuồng hơn nhiều nữa. Và Trần Di Ái! Con người tệ hại này mà tách được ra khỏi cái gậy chống là bọn giặc Nguyên thì bù nhìn sẽ đỗ gục như bù nhìn thôi...
Những cân nhắc, phán đoán, tính toán cụ thể diễn ra thật căng thẳng trong khi vị Tướng quốc Thái úy của triều Trần vẫn nhiếu mày, nhìn đăm đăm vào một điểm ở góc án thư. Cho đến khi cả một kế sách đối phó với những âm mưu mới chợt nhận giặc dần dần thành hình, thì Trần Quang Khải mới chợt nhận ra tòa sảnh đường đã chìm trong bóng chiếu, và quân hầu đang nhẹ tay đốt lên một cây đinh liệu ở góc phòng...
Mờ sáng hôm sau, Trần Quang Khải đã rời phủ Tướng quốc vào triều chầu vua. Kế sách chống phá những thủ đoạn lấn lướt mới của nguyên triều đã được định đoạt ngay trong buổi sáng hộm đó. Và vua trần cũng đã trao cho quan tướng quốc trọn quền thực hiện kế sách ấy một kế sách mà cả hai đều thấy có nhiều bộ phận chằng chéo, phức tạp, rất cần phải khôn khéo và kiên quyết ứng xử, kẻo mà chỉ cần trục trặc một chi tiết hỏng vỡ cả đại cục...
Phủ tướng quốc của Trần Quang Khải lập tức sắp đặt lại một lại thể chế đón nhận và tâu trình những tin tức đưa về từ biên giới. Và tướng quốc Thái úy Chiêu Minh đại vương thì luôn đêm ngày ở lại ngay trong tòa sảnh đường để lo liệu mội công việc của cuộc đương đầu rất căng thẳng mà lại cũng thật tế nhị này.
Thoạt tiên, ngựa lưu tinh ướt đẫm mồ hôi đưa tới cửa phủ tin tức về cánh quân phòng vệ biên giới đã dồn một lực lượng mạnh, cải trang thành đủ các hạng bách tính, bất giờ đánh úp đạo quân hộ tống của Sài Thung và Di Ái, vào lúc chúng mới kép sang ngổn ngang hạ trại ở địa đầu đất Việt. Cuộc xung sát quyết liệt nổ ra trong đêm tối, đã làm vỡ tan cả đạo quân năm nghìn người của giặc, vừa chân ướt chân ráo vượt biển, mà vẫn không mảy may phạm tới "Tuyên úy ti" của Sài Thung!
Tiếp đấy, lại có tin đưa về: Bọn Trần Di Ái không bắt sống được, nhưng cũng không thấy mặt mũi trong đám "Tuyên úy ti", mà ở đống loạn thây của giặc thì cũng không tìm ra thi hài...
Trần Quang Khải chau mày, rút trong ống sứ một chiếc thẻ, hạ lệnh phải tìm kiếm ngay bọn Di Ái cho kỳ thấy. Rồi đó, vị tướng quốc chăm chú chờ đợi phần tin hệ trọng nhất viên trung sứ của triều đình đã đón được Sài Thung tiếp tục lên đường đi tới kinh đô đại Việt! Chỉ có điều là tên tướng giặc này cứ lồng lộn hục hặc quá đỗi, y như kẻ quá dại vậy...
- Sài Thung không bỏ về Nguyên triều! Vậy là giặc chưa thể nhất đán có ngay được những hành động quyết liệt để trả đò! Trần Quang Khải reo thầm trong óc như vậy Mà cũng phải thế thôi! Tên tướng giặc này không thể bỏ về để một mình hứng lấy tai ương của sự hỏng vỡ cả một âm mưu mới của Nguyên triều. Nó chỉ còn cách tìm đường vớt vát, gỡ gạc lại những gì đã mất sau đòn phủ đầu linh hoạt mà kiên quyết của ta. Và con đường ấy thì ta đã mở ra cho nó...
Tươi nét mặt, Trần Quang Khải xuống lệnh chuẩn bị phần tiếp theo của kế sách đương đầu với giặc: đón rước Sài Thung ở Thăng Long.
Dẫy quán sứ ở bên kia sông Cái lập tức được sửa sang, trang hoàng lộng lẫy. Nhưng Trần Quang Khải vừa ra lệnh sẵn sàng thuyền xe để sang quán sứ gặp Sài Thung, thì bỗng thấy viên phó tướng đạo quân Thiên Trường chạy đến bẩm việc, mặt đầy sắc giận:
- Tướng giặc Sài Thung vừa thẳng đường một mạch nhập hoàng thành. Quân Thiên Trường đang canh giữ cửa Dương Minh thấy có kẻ ngoài đến phạm, đã lập tức ngăn lại.
Nhưng Sài Thung vô lễ, vẫn hầm hầm xông tới, dùng roi ngựa đánh quân ta bị thương!
Lại một viên phó tướng Thiên Trường nữa xin vào trình.
- Tướng giặc Sài Thung đã phóng ngựa thẳng đến sân điện Tập Hiên rồi mới chịu rời yên cương, hiện đang đứng nghênh ngáo ở thềm điện...
Trần Quang Khải vừa nổi cơn giận đã lại thấy muốn cười về thái độ điên khùng của tên "An Nam tuyên úy sứ đô nguyên soái" bị thất cơ lỡ vận này. Quả là tướng giặc đã bị một đòn quá đau mà không kêu được ở trên biên giới nên phát rồ. Vừa hay, viên trung sứ vẫn đi kèm Sài thung từ biên giới về kinh đô, cũng hớt hải đến phủ tâu trình về việc tướng giặc sinh chuyện phá đám. Trần Quang khải nhẹ nhàn khuyên giải các quan tướng của mình, rồi nhân thể sai phái cắt đặt công việc tiếp ngay:
- Trung sứ mau đi tìm gặp Sài Thung, đón nó về quán sứ, rồi triều đình sẽ tiếp kiến!
- Các phó tướng Thiên trường dẫn ngay quân sĩ, vũ khí tuốt trần, canh giữ các cửa điện thật nghiêm ngặt!
Trước các biện pháp vừa rắn vừa dẻo của Trần Quang Khải, tướng giặc Sài Thung đành lại chịu phép, hậm hực lui về quán sứ. Nhưng đến khi quân canh vào bán tin có Tướng quốc Thái úy Chiêu Minh đại vương thân tới thăm hỏi thì Sài Thung lại nổi cơn khùng. Hắn nằm lì trong phòng, không trả lời.
Trần Quang Khải mỉm cưới khi nghe lại tình hình ấy. Vị Tướng quốc Thái úy để đám quân dân hầu ở lại bên ngoài, thủng thẳng bước vào tận buồng của Sài Thung! Tướng giặc hết cách ra gan thì lại chồm ngay dậy, dồn dập chất vấn luôn:
- Ông Tướng quốc Thái úy! Kẻ nào đã ra lệnh cho quân đội xúc phạm tới đạo quân hộ tống của thiên triều ở trên biên giới?
Trần Quang Khải vẫn điềm đạm, đợi bày trà, mời Sài Thung ngồi yên vị rồi mới thong thả trả lời:
- Quan Thượng thư chẳng hay trong người có được mạnh? Tôi đương chức Thái úy của Trần triều mà không ra lệnh này thì còn ai nữa! Nhưng việc ở trên biên giới là như thế nào, sao tôi không rõ? Trần Quang Khải lại mỉm cười, lam ra vẻ ngạc nhiên hỏi lại Sài Thung.
Tướng giặc lâm vào cảnh tiến thoái lưỡng nan. Nếu đem việc cả một đạo quân năm nghìn người bất ngờ bị đánh tan trong một đêm ta kể lại cặn kẽ thì thật quá nhục. Mà không nói ra thì tức không chịu nổi. Cuối cùng, Thung đành lúng túng giữ thể diện:
- Ta thân dẫn sứ bộ sang nước ông, qua chốn núi rừng hiểm trở, phải mang vài tên quân đi hộ vệ. Không ngờ bọn giặc có ở biên giới nhân cơ hội đêm, đổ ra giết mất của ta mấy thằng lính ốm! Sài Thung bỗng lại nổi cáu Ông coi nghề võ bị, lại giữ cả việc nước ở xứ này, vậy mà để xảy ra cơ sự như thế, lỗi không phải nhỏ! Vậy cần mau dâng biểu ta lỗi với thiên triều!
_ Chúng tôi sẽ tra xét việc này... Trần Quang Khải vẫn giữ nụ cười điềm đạm trên môi. Thấy tướng giặc tự hạ mức độ nghiêm trọng của sự kiện vừa xảy ra ở biên giới, và nhất là thấy hắn chịu lờ việc đem theo cả một "An Nam tuyên úy ti" sang Đại Việt mà chỉ trở lại danh nghĩa đi sứ, vị tướng quốc Thái úy đã sáng ý nhận ra ngay cái thế thắng của mình. Và thấy không cần phải nệ vào nghi thức nữa. Vâng, chúng tôi sẽ tâu quốc vương để Người làm biểu trình với thiên triều về việc này...
Giúp Sài Thung gỡ được trách nhiệm và thể diện rồi, Trần Quang Khải vẫn thấy cần phải nói khéo cho y biết ý chí của quân dân Đại Việt:
- Dân nước chúng tôi vốn trọng chủ quyền. Thấy người lạ vào cõi mà không có ý hiếu hảo là họ liều chết đánh ngay. Xin quan Thượng thư cẩn thận điều đó...
Cuộc giao tiếp giữa đôi bên, từ chỗ chông chênh chủng chẳng, dần dần lấy lại dáng vẻ bình thường. Và Trần Quang Khải, khi cương khi nhu, đã áp đảo hẳn Sài Thung, khiến cho tướng giặc không sao thi thố nổi một yêu sách nào nữa, cho đến khi hắn phải trở về Nguyên triều. Nhưng giữa lúc ma vị Tướng quốc Thái úy đang soát lại công việc mở đại yến tiễn đưa sứ giả nhà Nguyên, thì có tin Trần Di Ái cùng bộ sâu đã lẩn trốn từ biên giới về đến kinh thành. Trần Quang Khải buông ngay cây bút cầm tay xuống mặt án thư, làm tờ giấy trắng vân hoa vương thẫm một vệt mực tối. Vò tờ giấy trong tay, vị Tướng quốc Thái úy ra lệnh:
- Vậy giữ phủ đệ của Di Ái cho cẩn mật. Không để một ai ra vào một bước. Tội hám lợi mà theo giặc thì dù là chú vua cũng phải trừng trị.
Trần Quang Khải lại trải một tờ giấy hoa mới lên án thư và cầm lấy bút. Bài thơ thù tiếp sứ giả Nguyên triều, nghĩ sẵn từ mấy đêm nay để sẽ tặng cho Sài Thung trong tiệc yến tiễn biệt, bây giờ theo đà tay của vị Tướng quốc văn võ kiêm toàn, bay múa trên mặt giấy:
Tống quân quy khứ độc bàng hoàng
Mã thủ xâm xâm chỉ để hương
Nam Bắc tâm tình huyền phản bái
Chủ tâm đạo vị phiến ly tràng
Nhất đàm tiểu khoảnh ta phân duệ
Công xướng thú gian tích đối sàng.
Vị thẩm hà thời trùng địch diện
Ân cần ác thủ tự huyên hương
- Để cho người Nguyên thấy rõ tình ý của người Việt ngày cả khi đương đầu với kẻ thù cũng là như thế!
Trần Quang Khải đọc lướt lại bài thơ và nghĩ như vậy!
Cuộc đương đầu với kẻ thù xâm lược đã từ địa hạt ngoại giao chuyển sang lĩnh vực quân sự. Cuộc chiến tranh ác liệt mà triều đình nhà Trần, đứng đầu là Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải, cố sức trì hoãn để tranh thủ thời gian chuẩn bị đối phó, cuối cùng đã nổ ra, ba năm sau khi âm mưu thiết lập "An nam tuyên úy ti" của Sài Thung bị thất bại.
Có chiến tranh, mọi việc đều sắp xếp lại. Trần Quang Khải, do uy tín càng lớn bởi những công tích lập được trong suốt thời gian chuẩn bị đối phó với chiến tranh, đã được thăng đến chức Thượng tướng Thái sư, vẫn là người đứng đầu triều đình nhà Trần. Nhưng riêng việc quân đội thì cần phải chuyển sang cho nhà quân sự thiên tài Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn giữ quyền Tiết chế, để cho người đứng đầu triều đình có thể rảnh tay gánh vác thêm những công việc bề bộn của một triều đình kháng chiến.
Tuy nhiên, việc đánh giặc vẫn là công việc lớn nhất trong chiến tranh. Giặc Nguyên đã mở tới ba trận, để từ ba phía đông bắc, tây bắc và chính nam dồn lại chiếm kinh đô Thăng Long ép đánh quân ta. Và quân ta cũng đã tung lực lượng ra cản giặc ở cả trên ba mặt trận ấy. Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật đã mang đại quân đi dự trận ở các mạn đông bắc và tây bắc. Còn mặt trận phía nam thì chính Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải phải gánh vác thêm, cùng với những công việc triều chính hàng ngày của mình.
Sau gần nửa năm trường gối đất nằm sương, tiến lui quần thảo, Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải đã cùng với quân đội nhà Trần trên các mặt trận khác, phá được cái thế tiến công hùng hổ của kẻ thù, giành lấy quyền phản công chiến lược cho quân ta. Và loạt trận đánh quyết định số phận giặc Nguyên là nhằm vào phòng tuyến dọc sông Cái ở phía Nam tổng hành dinh Thăng Long của chúng.
Giữa quân doanh Thiên Trường của nhà Trần, những tướng lĩnh trụ cột của cuộc kháng chiến: Trần Quốc Tuấn, Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải... đang vào cuộc họp bàn quân cơ tối mật cùng với hoàng đế nhà Trần. Vua Trần gửi gắm tất cả niềm tin vào cặp mắt đang thong thả nhìn một lượt các vị tướng lĩnh tài ba của mình, rồi nhẹ nhàng nói điều nhận xét lớn:
- Quân giặc nhiều năm đi xa, quân nhu chở chuyên vạn dặm, thế tất mỏi mệt. Lấy quân sung sức đánh với quân mệt nhọc, trước hết làm mất khí thế của chúng, tất sẽ phá tan được!
Để triển khai ý đồ làm mất khí thế của giặc, ba trận đánh lớn, mở màn cho cuộc tổng phản công chiến lược đã được quyết định ngay sau đấy, Hưng Đạo vương Quốc Tuấn sẽ đánh đại đồn A Lỗ trước tiên. Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật đánh tiếp vào cửa Hàm Tử. Rồi đó, căn cứ Chương Dương sát phía nam kinh thành Thăng Long là phần của Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải.
Nhận trận Chương Dương, thượng tướng thái sư Trần Quang Khải được nhận thêm về dưới trướng mình viên tướng trẻ nổi tiếng kiêu hùng: Hoài văn hầu Trần Quốc Toản. Trung thành vương cùng đạo quân bản bộ của vương cũng sẽ thuộc quyền, điều đáng mừng nữa là các đạo dân binh ở đủ các miền quanh Thăng Long, nghe tin đại quân sắp đánh lớn, cũng đã rầm rập kép đến xin được phối thuộc. Trần Thông, rồi anh em Nguyễn Khả Lạp, Nguyễn truyền, đã đem về dưới trướng Thượng tướng Thái sư hàng vạn tay giáo mác cung nỏ trong dân gian.
Hết sức cảm kích, vị chủ tướng trận Chương Dương cố nén nỗi vui mừng, thận trọng tính toán kế sách điều binh khiển tướng, quyết giành phần thắng to cho quân ta trong trận đánh quyết định cả đại cục này.
Những đội quân tế tác được tung đi trước đến Chương Dương đã lần lượt trở về trình việc. Và Trần Quang Khải đã hình dung ra đầy đủ thế trận của giặc trước mắt mình:
Căn cứ Chương Dương có một thủy trại với một đạo binh thuyền khổng lồ để vừa bảo vệ mạn nam kinh thành Thăng Long mà thái tử Thoát Hoan của nhà Nguyên đang đóng tổng hành dinh, lại vừa liên lạc ứng chiến cùng các thủy trại Hàm Tử, Tây Kết, A Lỗ suốt dọc sông Cái. Thủy trại của giặc lại dựa vào hệ thống đồn lũy của cánh quân Kỵ bộ đóng sát trên bờ, sẵn sàng ứng cứu lẫn nhau khi xảy ra động dụng. Chương Dương như vậy là một căn cứ thủy bộ lợi hại của giặc. Và cái thế ỷ giốc của căn cứ này với tổng hành dinh Thăng Long của giặc ở phía trên, lại khiến nó dễ dành nhận thêm sự chi viện của đạo kỵ binh chủ lực của Thoát Hoan đóng thường trực ở trên ấy, cùng với cả hệ thống đồn trại của giặc bao quanh Thăng Long ở các mạn khác nữa.
Trần Quang Khải căng óc suy nghĩ rất linh. Đánh vào Chương Dương như vậy là rung thẳng vào cả một mạng lưới phòng thủ liên hoàn của giặc, với quân số mới điều tra được là mười vạn, và gồm đủ các loại quân hiệu, dồn lại ở quanh Thăng Long. Vậy nên, trước tiên phải có cách làm tê liệt những hoạt động ứng cứu của màng lưới đồn trại giặc đã! Và nhân đấy mà buộc Thoát Hoan phải xẻ chủ lực của hắn, chia ra các ngả để đối phó với ta...
Trần Quang Khải cho triệu ngay những người cầm đầu các đạo dân binh quanh miền đến quân doanh. Chuyển những tấm phù cho từng người kể cả những người đang nắm trong tay hàng vạn dân binh như Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp, Nguyễn truyền mà bây giờ vị Thượng tướng Thái sư mới biết mặt biết tên, Trần Quang Khải vui vẻ khích lệ họ, rồi trao nhiệm vụ để cho ai ở đâu thì mau trở về nấy. Cùng với các đạo dân bình của mình, họ sẽ phải nhằm vào tất cả các đồn trại của giặc ở vòng ngoài mà đánh phá.
Nhìn các viên tướng dân binh hồ hởi kéo nhau đi, Trần Quang Khải xúc động tận đáy lòng. Những con người ấy, phú quý vinh hoa, thường ngày chẳng bao giờ được hưởng, vậy mà khi vận nước cần đến thì họ tận tụy dốc lòng dốc sức đến như vậy! Và vị Thượng tướng Thái sư càng thấy trong người phấn chấn: Ngay từ khi giặc Nguyên chưa vào cõi, đề chuẩn bị chống giặc, chính Chiêu Minh đại vương là người đã chủ trương nương cậy vào những lực lượng dân binh này!
Chẳng bao lâu, tin vui đã từ các ngả bay về quân doanh: Giặc Nguyên ở cả nam bắc, đông tây đều đang bị đánh tới tấp. Mạng lưới phòng thủ của chúng như thế là đã bị ghìm ngay tại chỗ mà rung lên bần bật rồi!
Nhưng Thoát Hoan vẫn ngồi in ở Thăng Long. Chỉ nơi nào nguy cấp lắm, y mới phóng ra một đạo quân ứng cứu nhỏ. Vị chủ tướng trận Chương Dương khẽ cười gằn:
- Thằng giặc cáo già này còn chưa biết miếng đòn chính của ta sẽ giáng vào đâu, nên còn rình rập. Được, ta sẽ cho ngươi biết ngay!
Đạo quân tinh nhuệ của Hoài văn hầu Trần Quốc Toản bấy lâu bị buộc phải im hơi lặng tiếng, bây giờ được lệnh cùng viên tướng trẻ tuổi dũng mãnh của mình, bất ngờ đánh thẳng vào ngay Chương Dương. Từ cả hai mặt thủy bộ, quân ta hùng dũng xuất trận dưới bóng lá cờ lệnh của Thượng tướng Thái sư tung bay phần phật. Thân chinh đốc chiến trận ấy, Trần Quang Khải hởi lòng hởi dạ chứng kiến cảnh tượng quân ta như một cơn lốc dữ dội, lao vào thủy trại giặc. Khí thế ngất trời của cả một đạo quân tinh luyện, dốc lòng xả thân vì sự nghiệp và vì vị chủ tướng anh minh mà họ hằng tin phục, lập tức tạo ngay thế áp đảo cho quân ta. Những chiếc thuyền chiến đồ sộ của quân Nguyên bị đốt cháy, bị đánh chìm, ngồn ngang quay cuồng trên dòng nước mênh mang ngầu đỏ. Và xác giặc, cùng lều trại của chúng, nối nhau đổ gục, tan tành. Những hồi trống trận hùng tráng từ chính tay Thượng tướng Thái sư tung vào trận đánh ác liệt, chỉ ngừng tiếng thúc giục khi toàn bộ căn cứ Chương Dương đã bị quân ta đánh chiếm.
Những người dự trận Chương Dương nô nức đón mừng vị chủ tướng của mình tiến vào căn cứ vừa bị mất của giặc, giữa những tiếng reo hò thắng trận rền vang. Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải nét mặt rạng rỡ, vẫn không cho phép khao quân như mọi lần, mà lại hạ lệnh dàn quân bày trận tiếp ngay. Trước vẻ ngơ ngác của tướng sĩ, Trần Quang Khải nói rõ ý định của mình:
- Phải nhân đà này mà lập tiếp hai chiến tích nữa: Tiêu diệt đạo kỵ binh chủ lực của Thoát Hoan và thu phục lại kinh thành Thăng Long
Hiểu ra ý định linh hoạt và kiên quyết của chủ tướng, các tướng sĩ thấy đều nô nức theo lệnh điều động ngay. Những cánh quân câu liêm và giáo trường kéo ra dọc đường cái mai phục thành một tuyến dài, người nấp kín dưới các hố sâu đào cấp tốc cạnh đường, người dấu mình trong các lùm cây vèn làng. Những cánh quân cung thủ dàn trận ở phía sau, sẳn sàng những bao tên độc và những cánh nỏ cứng.
Trong khi đó, rút một cây lệnh tiễn, Trần Quang Khải sai quân xích hầu truyền lệnh cho đạo binh của Trung thành vương đang đóng ở phía tây Thăng Long mau ra quân ngay theo kế đã dặn. Đồng thời, dũng tướng Trần Quốc Toản cũng được lệnh chỉnh đốn binh thuyền, ngược sông đi luôn.
Một thế trận lợi hại của một tài năng quân sự lỗi lạc đang triển khai. Và tướng giặc Thoát Hoan đã mắc ngay miếng đòn chính của đối phương là ở chổ này, chủ tướng giặc Nguyên vội dẫn toàn bộ đạo ky binh chủ lực của y từ Thăng Long đi ứng cứu ngay. Nhưng những tên kỵ thủ của giặc đang hùng hổ phóng ngựa trên đường xung trận thì đã vấp phải những cánh quân mai phục do chính Trần Quang Khải chỉ huy. Pháo lệnh nổ rền trời. Loa trận vang vang hiệu lệnh tiến lui của Thượng tướng Thái sư. Theo lệnh ấy, giáo đài xỉa ngang, câu liêm móc chân ngựa quân ta đã đánh ngã ngổn ngang những con chiến mã lợi hại của giặc. Những tên kỵ thủ văng ra khỏi yên ngựa, chưa kịp gượng dậy, đã bị ngay những mũi tên độc ghim xuyên cổ, lút ngực!
Lần đầu tiên, sức mạnh ghê gớm nhất của giặc Nguyên đụng phải Trần Quang Khải và bị đánh gục ngay giữa chiến trường. Nhưng lũ kỵ binh giặc tan vỡ trước. Chương Dương đang tìm cách lẻn về Thăng Long, thì tin dữ lại bay đến: Quân bộ của Trung Thành vương và quân thủy của Hoài Văn hầu đã xuất kỳ bất ý chia làm hai mũi tràn vào Thăng Long, nhân lúc tổng hành dinh quân Nguyên bị rỗng mất đạo kỵ binh chủ lực! Phút chốc, mười vạn quân giặc kinh hoảng tan tành, mạnh ai nấy chạy. Thoát Hoan chỉ còn một dúm quân mê man cắm đầu theo chủ tướng tháo chạy sang mạn bắc sông Hồng.
Trận đại thắng Chương Dương đã mở đường cho quân ta tiến nhanh đến thắng lợi cuối cùng, quét sạch giặc Nguyên ra khỏi bờ cõi.
Kinh thành được thu phục, Thượng tướng Thái sự Trần Quang Khải hồ hởi mời đón vua Trần cùng triều đình trở lại Thăng Long. Tiệc mừng chiến thắng vui đến nổ trời. Quân dân tướng sĩ reo hò tưởng đén vỡ giọng. Giữa cảnh tượng nức lòng người ấy, Trần Quang Khải cảm động đón lấy chén rượu mừng công sóng sánh men say của vua Trần ban tặng, và xin phép đọc bài thơ cảm khái vừa hoàn thành.
Phút chốc, chiêng trống lặng im. Reo hò ngừng bật. Núi sông lắng nghe và âm vọng mãi mãi lời thơ sang sảng của vị Thượng tướng Thái sư anh hùng tài trí:
"Đoạt sáo Chương Dương độ
Cầm Hồ Hàm Tử quan
Thái bình tu nỗ lực
Vạn cổ thứ giang san!"
Vì non nước này muôn thuở mà khi gian khổ chinh chiến cũng như lúc hưởng thái bình, mọi người đều phải luôn gắng hết sức mình!
Những ngày sôi nổi cướp giáo, bắt thù ở Chương Dương Hàm Tử còn để lại mãi những hình ảnh lẫm liệt của nó trong tâm khảm Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải.
Vị Thượng tướng Thái sư của nhà Trần hôm nay tạm rời việc triều chính bộn bề, để về Thiên trường dưỡng bệnh. Đã lâu rồi, khu vườn Phúc Hưng xinh xắn của thái ấp Chiêu Minh đại vương mới lại được thấy bóng chủ nhân. Những bụi trúc, nhành mai, sau tiết đại hàn càng long lanh hương sắc bên dòng nước quanh co lượn khắp khu vườn.
Rời bàn trà tiễn mấy cụ bô lão trong làng vừa kép đến thăm người ở kinh đô mới về nghỉ ngơi thái ấp, Trần Quang Khải vui chân đi dạo một lượt khắp khu vườn cũ. Trận mưa đêm qua đã làm đổ nghiêng mất giàn thuốc nam trồng thử ở góc vườn. Trần Quang Khải vừa rảo bước, vừa vội vã lớn tiếng gọi tiểu đồng sửa mau lại giàn cây. Nhìn mấy đứa trẻ ăn mặc sặc sỡ, lọn tóc trái đào nhảy nhót, hấp tấp chạy ùa đến góc vườn, Chiêu Minh đại vương bỗng thấy dấy lên một niềm vui không duyên cớ. Để mặc lũ tiểu đồng với những cây thuốc, Thượng tướng Thái sư quay trở về thư phòng đặt ở chính giữa vườn Phúc Hưng.
Trên án thư, tập thơ Lạc Đạo từ hôm trước vẫn mở nguyên. Bài thơ tám câu bảy chữ đang làm dở còn chờ đó:
"Phúc Hưng ngòi nước chảy quanh qua
Vường rộng phẳng phiu mấy mẫu lành
Tam tuyết, chòm mai hoa lấp lánh
Cuốn mây, bụi trúc ngọc biếc xanh...
Trần Quang Khải đọc lại những câu thơ chưa hoàn thành. Cảnh tượng vừa thấy trong vườn Phúc Hưng gợi tiếp ngay một tứ thơ mới, giục giã nhà thơ mau nối tiếp những vần dang dở:
"Nắng đến, mời khách pha trà nhấp
Mưa tạnh, sai đồng đỡ thuốc nhanh!...
Vị thượng tướng Thái sư mỉm cười, ngả người trên sập, tính vui cố hữu lại có dịp trỗi dậy. Khẽ nhắm mắt lại, để mặc cho bộ óc mẫn tiệp suy nghĩ lan man, Trần Quang Khải cảm thấy trong lòng nhẹ nhàng, yên tĩnh. Sau những năm sóng gió, vận nước đã trở lại vững vàng hơn bao giờ hết. Một ý thơ nữa lại đến. Và Trần Quang Khải vặt tay lên trán, lẩm nhẩm đọc lên những câu kết của bài thơ thế là đã làm trọn:
"Trông vọng về Nam yên khói lửa
Nằm khểnh trên giường ngủ giấc thanh!"
Trần Quang Khải lại mơ màng mỉm cười. Phải, nhà chính trị, vị tướng và nhà thơ Trần Quang Khải chỉ có thể để cho mình được ngủ yên một giấc, khi mà đất nước đã sạch bóng thù.