Lê Hữu Trác

  • thangbe21

    khoảng 2 10 năm trước
  • Lê Hữu Trác

    Người nông phu đã đứng tuổi ấy kể lể:

    - Trình cụ, chú nó từ hôm cày mảnh ruộng ở chân núi gặp mưa thì phát chứng mình nóng như lửa, trong họng đau dữ. Xin cụ làm phúc chữa cho...

    Nghe giọng nói vật nài khổ sở, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác rời trang sách thuốc, nghiêng đầu lé mắt nhìn kỹ người đứng trước mặt, rồi gật gù, thủng thẳng hỏi:

    - Chú ấy năm nay bao nhiêu? Ngày thường có hay đau yếu gì không?

    - Trình cụ, chú nó từ bé vẫn ở với chúng tôi, anh em đùm bọc lẫn nhau, nào thấy có bệnh tật gì đâu. Chẳng qua năm nay vừa hăm hai tuổi, định thu xếp ra ở riêng nên cố làm dấn để kiếm chút vốn...

    - Được rồi! Để nghĩ kỹ xem nào...

    Lãn Ông rời sập, lê dép ra tủ thuốc, tìm tòi, cân gói, một hồi lâu rồi thận trọng trao phong giấy cho người nông phu, đoạn lẳng lặng quay về sập, xua tay ra hiệu cho khách lui, khi thấy khách vừa toan thò tay vào bọc lấy tiền.

    Nhưng chỉ hôm sau đã lại thấy người nông phu ấy tìm đến, gãi đầu nhăn nhó báo tin người bệnh chẳng những không thuyên giảm, mà còn đau tắc hẳn yết hầu, không ăn uống gì được nữa. Lãn Ông chau cặp mày bạc trắng, trễ miệng lẩm bẩm "Hỏa hư chăng? ", rồi thong thả với lấy khăn áo, bảo người nông phu:

    - Nhà bác đi trước dẫn đường đi...

    Vị y sư già nua chống gậy, lắc lư tấm thân mập mạp, bước theo chân người nhà bệnh nhân. Sau khi xem kỹ mạch, ông già ngồi ngây ra suy nghĩ một lúc rồi lẳng lặng ra về. Mấy thang thuốc liên tiếp được trao cho người nhà bệnh nhân và mấy hôm sau thì thấy cả hai anh em ngươi nông phu, đầu đội xôi gà, tay mang tiền bạc, tìm đến lạy tạ, cảm ơn cứu mạng.

    Bẳng đi bốn năm ngày, bỗng lại thấy người nông phu xuất hiện: Người em của bác ta bụng đau như xoắn, đi ngoài ra toàn huyết! Hải Thượng Lãn Ông lúc ấy đang ngồi câu cá dưới bóng mát ngôi nhà Nghênh phong. Ông già trễ môi nghe kể bệnh, rồi buông cần, xỏ dép đi lấy thuốc giao cho người nông phu mang về.

    Nhưng rồi tin dữ lại vẫn đến: Bệnh nhân phát nóng và tức bụng càng tăng! Vị y sư thoáng thấy sốt ruột vì phiền muộn. Ông già nhíu mày cân đong thuốc men hồi lâu, rồi vừa giao thuốc, vừa dặn người nông phu:

    - Nhà bác mang về cho người bệnh uống. Xong nước đầu, thấy thế nào thì báo cho tôi...

    Ngồi thừ nheo mắt nhìn theo bóng người nhà bệnh nhân tất tả đi về, Lãn Ông lần lượt gợi thử lại trong óc những thú vui giải trí thường ngày: Câu cá, gảy đàn, ngắm cảnh v. V...nhưng đều chẳng thấy chút hứng thú. Ông già liền gọi tiểu đồng dọn rượu, và chỉ sau mấy chén lớn đã phanh áo ngủ lăn ở sập.

    Đêm ấy, trời đổ xuống một trận mưa giải nồng, kéo dài thêm giấc ngủ say của vị y sư tới lúc sáng bạch. Ông giá chỉ tỉnh dậy khi tiếng mếu máo của người nông phu:

    - Trình cụ, chúng tôi cho chú nó uống thuốc của cụ, xong nước đầu thì thấy bệnh chuyển, Gặp trời mưa, chúng tôi ngại đi trình cụ, cứ thế sắc luôn nước thứ hai... Nào ngờ, uống vào thì liền đi ngoài như tháo cống, tinh thần mệt hết sức...

    Lãn Ông lật đật nhổm dậy. Ông già vội vã tìm khăn, xỏ dép, lục lọi thuốc thang rồi tất tả theo người nhà bệnh nhân ra đi. Mãi chiều hôm ấy mới thấy Lãn Ông thơ thẩn trở về, gương mặt nhăn nhúm tối sầm.


    Vị y sư gầy sút giảm hẳn đi. Đám tiểu đồng ngơ ngác nhìn ông già thẩn thơ đi từ nhà Di chân sang đình. Tối quảngrồi lên lầu Tị huyên mà chẳng ngồi đâu được nóng chỗ.

    Đã lâu lắm mới lại thấy Lãn Ông tự dằn vằn khổ sở như vậy. Người vợ già của vị y sư, hiểu tính chồng, lặng lẽ rót thêm rượu ngọt vào chiếc hồ lớn mỗi bữa dọn ăn cho ông lão. Hồi còn trẻ, bà cũng đã một lần chứng kiến cái cảnh tượng khổ đau vật vã của chồng như thế này. Ấy là khi ông vừa từ quan, bỏ cả quê hương Hải Dương để lánh vào xứ Bầu Thương đây. Ở ẩn mà vẫn chưa yên. Xa lánh thế sự rối bời của triều chính, nhưng chí tung hoành của kẻ nam nhi lại vẫn chẳng nguôi đi được. Đúng hơn là Lê Hữu Trác chưa tìm thấy hướng mới để lập thân. Ông già lười này chỉ muốn lười về đường bon chen kiếm chút công danh trong triều. Và khi làm ra vẻ mải mê thơ túi rượu bầu, buông câu gảy đàn, nhưng chẳng bao giờ con người có thể nhụt chí giúp đời. Người vợ biết, chỉ khi nào kí thác được tâm sự vào những trang giấy đã chất cao ngồn ngộn trong thư phòng kia, như cái lần trước ấy, thì Lê Hữu Trác mới khuây khỏa dần đi được. Phải, lần ấy, bài thơ từ con đau xé ruột của chồng, bà còn nhớ mãi:

    "Mười năm mài cây kiếm
    Sắc bén rực hào quang
    Sát khí sông ngưu đẩu
    Hùng uy động tuyết sương
    Vào Tần đã không phai
    Về Hán còn phân mang
    Hồ hải luống trôi dạt
    Chí mạnh hóa ngông cuồng!"

    Đấy, con người cứ mỗi cơn nổi giông bão trong lòng thì lại như thế đấy! Bà lão chỉ biết nép mình im lặng nhìn theo người chồng loanh quanh lên lều, xuống sân, cho đến khi thấy ông lão vào hẳn trong thư phòng, không trở ra nữa, mới kín đáo buông một tiếng thở dài...

    Trong khi đó, Lãn Ông đã đang bắt đầu đọc lại những ghi chép của mình về trường hợ dùng thuốc vừa qua. Những hàng chữ thảo ngừng lại ở đoạn: "Đã dùng đại tễ Sâm Truật Phụ, gia Phá cố chi, Nhục đậu khẩu để ngăn cơn đi rửa..." Hàng chữ mờ dần đi, khi Lãn Ông hai tay bưng trán, nhắm chặt miệng lại. Nhưng trong trí ông già lại hiện ngay lên hình ảnh người trai làng, xanh nhợt vì kiệt sức, nấc lên vì một cơn xuuyễn đờm rồi tắc hơi trong tay ông vào buổi chiều hôm ấy. Lãn Ông mở to đôi mắt đục ngầu vớ nhanh lấy cây bút và cúi hẳn mình xuống trang giấy:

    "Bệnh án này, vì bệnh nhân vốn là nông dân ở vùng núi khỏe mạnh, bỗng nhiên cảm bệnh, cũng chỉ là trúnh thực mới hơi hư. Và, trước đã uống đại tễ điều nguyên cố bản, tuy ăn nhầm mà trệ lỵ, thì tạm dùng cách thông cho uống nhè nhẹ cũng không hại gì. Tôi vô tình không dặn kỹ, người anh thấy bệnh bớt, cho uống cả thang, nên âm hư từ trước không giữ vững được nguyên dương. Một khi gặp hàn lương thì chân dương nguyên hỏa trong người bị xua đuổi hết, sức cùng mà chết".

    Vì sự thở dốc như vừa qua một cơn giao chiến giữ dội, phi ngựa trở về. Những hàng chữ lại nối nhau hiện ra trên giấy, như không tự chủ được nữa:

    "Đã hàng tuần nay, suốt đêm không ngủ được, hơn một tháng, nói năng như vờ vẫn, cử chỉ như mất hồn. Nghĩ rằng vì tôi không bất cần, đến nỗi người kia bị chết, trời đất quỷ thần soi xét, tội của tôi không thể tránh được".

    Lãn Ông đã buông bút rồi lại cầm lên. Và những hàng chữ lại tuôn tràn.

    "Cái tội làm hại đời sống, không gì nặng hơn tội giết người. Đã là thầy thuốc có tiếng, thì người ta đến nhờ chữa chật cửa đầy nhà. Trong đó, có thể nhất là nhất nhất đúng lẽ, mà không lầm lỗi được ư? Không những thế, như có chứng nên xem xét đã, rồi sau mới bốc thuốc, hoặc vì ngại đêm mưa vất vả không chịu tới thăm, qua loa chữa bệnh thì đó là tội lười"

    Ghi xong được những lời lẽ ấy ra giấy, Lãn Ông mới được án thư, ra khỏi thư phòng. Nhưng tối hôm ấy, người vợ già của cị y sư vẫn thấy chồng chong đèn trong phòng sách đến khuya. Cúi đầu trên trang giấy đã kín chữ, vị y sư còn ghi tiếp:

    "Người thầy thuốc nếu không có những đức tính thương người, sáng suốt, đạo đức, khôn ngoan, rộng lượng, thành thật, liêm khiết, siêng năng, thì không làm thầy thuốc...

    Và ông già chịu tắt đèn đi nằm, sau khi đã hạ bút viết nốt dòng cuối cùng;

    "Xin các bậc quân tử đời sau, lấy cái nhầm của tôi làm cái xe đổ trước để đề phòng. Lấy lời nói của tôi làm cái gương để sửa chữa, mới khỏi thẹn với hai chữ "Nhân thuật".

    Thư trấn Nghệ An nóng nảy viết vào tấm phiếu:

    "Bản chức đã sai một chiếc thuyền đưa cụ theo đường sông đến trạm. Xin cụ đi ngay cho. Dùng dằng nữa sợ có liên lụy".

    Đoạn, quát gọi thư lại, hạ lệnh cho lính tức tốc đi Hương Sơn, giục Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác phải lên đường ngay.

    Trước đấy mấy hôm, một tờ chỉ đã từ kinh đô Thăng Long hỏa tốc truyền đến Vĩnh Dinh:

    "Quan nội sai Bình phiên Trạch trung hều, vâng lời chỉ, truyền cho quan thư trấn Nghệ An là côn lĩnh hầu phải tìm một người quê ở xã Liêu Xá, huyện Đường Hào, con quan thượng thư họ Lê, tên là Lê Hữu Trác, tục gọi là ông Chiêu Bảy. Hiện nay ông ta ngụ cư ở quê mẹ, xã Tình Diệm, huyện Huơng Sơn.

    Tìm được người này, phải sai lính ở Trấn hộ vệ đưa ngay lên kinh đợi mệnh.

    Nay chỉ truyền.

    Ngày hai chín tháng mười một năm Cảnh hưng thứ bốn hai.

    Nhận được chỉ truyền, lại biết thêm được ý chúa Trịnh chuyến này muốn vời chính Lãn Ông ra kinh đô chữa bệnh cho hoàng tộc, Thư trấn Nghệ An đã vội vã tổ chức mộtcuộc hành trình hỏa tốc đường dài để đưa vị y sư nổi tiếng của trấn mình ra đi. Nhưng lạ thay, từ Hương Sơn đáp lại, Thự trấn chỉ nhận được một lời nhắn miệng của Lãn Ông, nhờ Thự trấn làm một tờ khải, xin cho vị sư y, bởi lẽ tuổi già sức yếu, được miễn ra kinh đô hầu chúa.

    Thật kỳ dị! Biết là không dùng quyền uy thì không xong, Thự trấn Nghệ An gần như cưỡng bức vị sư y phải tuân lệnh chúa và lệnh mình. Và thế là nửa tháng sau, một buổi sáng, chiếc cáng chở Lê Hữu Trác đã cùng đoàn học trò và lính hầu hơn hai mươi người, cồng kềnh bụi bặm những hòm thuốc, rương sach, bao kiếm, túi đàn, ra đến cửa Tây kinh thành.

    Nhưng chiếc cáng đầu đàn không thẳng đường nhập thành được ngay, bởi có một người khăn áo chỉnh tề đã chờ sẵn bên đường, nài nỉ mới đón cho kỳ được vị sư ghé vào nhà mình.

    - Bẩm thầy chủ nhà kính cẩn chắp tay nói, sau khi đã lấy lễ thầy trò mà bái yết khách qua đường năm xưa, con có xin chép được một bộ tâm lĩnh của thầy, đêm ngày nghiền ngẫm, càng học càng thấy kinh lạ. Chỉ tiếc là xa xôi ngàn dặm, không được cập môn. Những muốn vào tận chốn núi rừng bái yết, nhưng hiềm vì còn chút mẹ già phải sớm hôm phụng dưỡng. Đành chỉ có cách ngưỡng mộ từ xa... Nay được tin thầy ra đây chữa bệnh cho chúa, lòng thành chờ đón, xin được trước tiên hầu hạ ít ngày như đã từng tháng năm đèen hương thờ phụng trươc đây...

    Lãn Ông lúc ấy mới để ý nhìn lên bàn thờ đang thơm nức khói hương ở giữa nhà. Và nhận ra hàng chữ ngay ngắn trên bài vị: "Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác tôn sư"

    "Ông ta thờ sống mình!" Lãn Ông bất giác thấy gai người đọc khi xong hàng chữ. Vị y sư liền hỏi thăm cặn kẻ, mới biết được rằng đấy cũng chính là một thầy thuốc đang nổi tiếng ở kinh thành. Thấy vậy, Lãn Ông bỗng nảy ra ý định thăm dò tài đức ở người học trò tình cờ của mình:

    - Ông đọc bộ Tâm lĩnh của tôi, thấy có điều gì sở đắc nhất?

    - Bẩm thầy người danh y kinh kỳ chợt lúng túng câu hỏi có phần đột ngột bể học khôn lường, nhưng quả là tất cả kiến thức trong nghề y đều đã được thâu tóm ở trong Tâm lĩnh rồi! Chúng con chỉ còn cách gắng hiểu lời sách mà làm theo cho đúng sách...

    - Đọc sách biết nghĩa được là khó Lãn Ông nóng nảy ngắt lời nhưng hiểu được nghĩa cũng vẫn còn chưa khó lắm. Biện luận phân biệt cho ra chân lý mới thật là khó. Mà hiểu thấy được thêm gì ở chung quanh chân lý lại càng khó hơn...

    Nhìn vẻ mặt chưng hửng ngơ ngác của người danh y kinh kỳ, Lãn Ông nói luôn một mạch:

    - Người đời nay phần nhiều đều nệ sách mà không biết rằng người xưa đã từng nói: "Y giả ý giã", tức là lập ý thì phải vận dụng linh hoạt vô cùng. Lại có câu: "Phương giả pháp giã", là phải theo vào cách xử lý điều trị của mình mà lập phương thuốc Cứ xem như các chứng bệnh mùa đông bây giờ, tôi thấy thầy y nào cũng theo bài Phát hãn trong sách Trọng Cảnh mà chữa. Nhưng có biết đâu rằng nước ta ở vào khu vực Đông Nam, gần với mặt trời, giữa mùa đông mà lá cây không rụng, nước không thành băng, trời không xuống tuyết, mùa đông thường ấm nên hơi lao động một chút là đã toát mồ hôi. Mồ hôi đã dễ toát như vậy, trung khí sẽ do đó mà hư, nên hơi gặp rét cũng có thể cảm nhiễm được ngay. Như vậy thì sự cảm nhiễm đó chỉ nông thôi, chứ đâu có sâu như người phương Bắc, cho nên nước ta tuyệt không có thương hàn thuộc loại nặng như các sách Trung Quốc đã chép.

    Uống một hơi hết chén trà, Lãn Ông tiếp ngay:

    - Tôi ngày trước đã từng đọc kỹ Trọng Cảnh, lại đọc cả Cảnh Nhạc, Thiên Sĩ, Cúc Thông nói về thương hàn. Nhưng rốt cuộc, tự mình phải thấy rằng đọc sách của TrọngCảnh, theo phép của Trọng Cảnh, nhưng không nhất thiết phải theo phương của Trọng Cảnh. Những người không hiểu lẽ đó, hễ cứ thấy phát sinh chứng nhức đầu sốt nóng thì liền cho ngay là thương hàn, rồi dùng ngay những bài chữa về chứng thương hàn nặng ở phương Bắc, nhắm mắt cho uống bừa đi, chứ có nghĩ đâu rằng Bắc Nam khác biệt, phong thổ không giống nhau, dùng liều như thế sao được?

    Lãn Ông trễ môi, nín lặng nhưng sắc giận cứ hiện dần trên sắc mặt. Người thầy thuốc ở kinh kỳ vội vã đứng dậy, chắp tay vái:

    - Nghe lời dạy của thầy mà như nghe tiếng sấm bên tai. Chỉ mới được gần thầy có một lúc mà đầu óc chúng con đã được mở mang bằng bao nhiêu tháng ngày! Thật giận mình không được sớm hôm gần gũi để thầy hằng luôn bảo ban cho...

    Lãn Ông cười xòa:


    - Cũng là tự nhiên tôi bỗng thấy có hứng muốn đàm đạo đôi chút y thuật đó thôi!

    Và xuê xóa lái câu chuyện sang hướng khác:

    - Đủ thấy rằng y hải thật mênh mông. Nhưng cũng chưa khó bằng bệnh đời:

    "Bệnh đời sâu sắc lắm thay
    Tài y khôn dễ với tay ngăn ngừa!"

    Câu thơ ngẫu hứng về thời thế của Lê Hữu Trác bỗng gợi ngay cho người học trò xa lạ một đầu mối để bộc lộ chí hướng của mình:

    - Bẩm thầy, nghe câu này, con lại càng thấy thầy là người tinh thâm về cái học về tính và mệnh. Bấy lâu nay thầy mai danh ẩn tích ở nơi núi rừng đã đành là cao thượng. Không làm một bậc lương tướng thì cũng làm được một ông lương y. Nhưng nay Cửu trùng đã biết, bốn bể nghe danh, đó chẳng phải là một việc mà kẻ trượng phu mong mỏi hay sao?

    Nghe những lời lẽ ấy, vị sư nghiêng đầu nhìn kỹ người học trò ngẫu nhiên của mình hồi lâu, rồi thở dài trả lời:

    - Cây kia có hoa nên bị người ta hái. Người ta có cái hư danh nên phải lụy về chứ danh. Ví bằng trốn cái danh đi có phải thú hơn không?

    Huy quận công Hoàng Đình Bảo đuổi hết tả hữu ra ngoài, rồi thì thầm với Lê Hữu Trác:

    - Tuần này Thánh thượng ra cung Vọng hà xem thủy quân chèo thi, bị cảm gió. Đã năm sáu năm nay, người mắc một chứng có tật, nguyên khí ngày một hao mòn, cho nên mới cảm đã trầm trọng ngay...

    Vị sư lẳng lặng theo sau Hoàng Đình Bảo vào phủ chúa. Hoạn quan Trạch trung hầu chính là người đã thảo tờ chỉ triệu Lãn Ông vào triều dẫn hai người qua hết vườn ngoài lại hiên trong, rồi bước lên mấy bậc thềm cao, vào một tòa nhà lớn, bốn bề canh phòng cẩn mật. Phía sau tòa nhà là một gian phòng rộng, màn trướng kín mít, dùng làm nơi ngự tẩm.

    Tĩnh đô vương Trịnh Sâm lờ đờ cặp mắt, nằm trên một chiếc võng điều, mắ là là qua một chiếc sập thiếp vàng, phủ nệm gấm. Vừa nhác thấy Lê Hữu Trác, chúa Trịnh đã khàn khàn giọng nhận xét:

    - Trông giống thấy Liêu!

    Phía sau một tấm màn gấm, cũng có một tiếng thì thào nhè nhẹ của đám cung nữ vừa được lệnh lánh mặt. Một ngọn sáp cháy vật vờ trên cây nến mạ vàng ở góc nhà, soi mờ tỏ bàn tay lẻo lướt của chúa Trịnh, vừa rời võng, vừa ngồi sập, đặt lên trên chiếc gối gấm để chờ Lê Hữu Trác thăm mạch.

    Lúng túng vướng víu mất hồi lâu, vị y sư mới tập trung được trí tuệ vào việc định bệnh. Sau một lúc nhíu mày, trễ miệng xem xét bệnh trạng, Lãn Ông được phép lui ra ngoài tòa Thị kỷ điếm, để cùng Huy quận công và các quan Ngự y luận bệnh của chúa. Rồi đó, Lãn Ông được lệnh được thảo đơn thuốc và sau một cuộc biện luận căng thẳng nữa, cách chữa bệnh chúa của vị y sư mới được duyệt y. Chúa Trịnh Sâm theo thuốc của Lãn Ông uống hai nước, lập tức giảm bệnh.

    Cả phủ chúa xôn xao! Vị y sư ngồi đâu đứng đâu cũng cảm thấy có những cặp mắt thán phục soi vào mình. Chúa Trịnh cũng liên tiếp ban cho vị y sư những mâm cơm ngự soạn. Và cuối cùng, lại chính chức hoạn quan Trạch trung hầu trịnh trọng tìm đến, dõng dạc xướng to:

    - Kính mừng: Vâng lời thánh chỉ, ban khen lão sư vào chầu đối đáp minh mạch, lại hiểu rõ bệnh lý. Nay ban thưởng một cái thai ngưu. Lại sẽ ban áo mát, áo ấm để tiện khi vào chầu!

    Một lần nữa, vị y sư thấy lúng túng khó chịu về những nghi thức đang diễn ra trước mắt. Lãn Ông quay sang hỏi một viên quan hầu đứng cạnh:

    - Thái ngưu là cái gì?


    Sợ hãi đảo mắt liếc quanh, viên quan hầu ghé tai vị y sư nói nhỏ:

    - Là mười quan tiền!

    Huy quận công Hoàng Đình Bảo thấy cảnh tượng nhốn nháo, vội hạ lệnh cho Lê Hữu Trác:

    - Cụ quỳ xuống lĩnh thánh chỉ!

    Và đến lúc ấy, viên quan đầu triều mới nhận ra vị y sư vẫn cứ đánh nguyên bộ quần áo thường dân xộc xệch! Huy quận công xít răng dắn giọng:

    - Nếu ngày mai vào chầu mà cụ còn mặc thế này thì tức là coi thường ân huệ của nhà vua, tội đáng chết đấy!

    Quả là Lãn Ông không màng đến việc mình được chúa Trịnh trọng dụng. Được giữ lại ở trong vùng trùng điệp lầu son gác tía của phủ chúa để thường trực viên thuốc thang cho hoàng tộc, vị y sư lập tức tạ sư thoái thác:

    - Tôi già yếu, lại có bệnh đau dạ. Ở đây không tiện... Việc đi đồng! Xin cho tôi ra ở bên ngoài...

    Cả mấy vị quan lại đều kinh ngạc:

    - Làm thầy thuốc mà lại kêu mình có bệnh, thế thì còn ai để cho mình chữa nữa!

    Viên A bảo gượng nhẹ giải quyết:

    - Ở đây có một nơi nhà xí ở chỗ dưới chân thành, đã vắng vẻ, lại sạch sẽ, phía trước còn có thêm một cái ao, rất tiện!

    Nhưng vị y sư vẫn nằng nặc đòi ra ở bên ngoài. Và ông tự tìm thấy nhà trọ để ở. Từ nơi nhà trọ, Lãn Ông gửi thư cho Huy quận công Hoàng Đình Bảo, thiết tha bày tỏ nỗi nhớ nhà để xin được rời kinh đô, về quê quán:

    "Tỉnh giấc dậy, đi về chưa toại
    Trước thêm nhà, trăng lại mọc ngay
    Hồ bằng, thu sắc rạng đầy
    Một chi réo rắt tiếng bay lìa đàn
    Chơi núi cũ mơ màng nằm thấy.
    Nơi để thành mình hãy còn đây
    Người khôn nên già làm ngây
    Hư danh quấy mãi thân này làm chi? "

    Chưa biết rõ chí hướng ấy, các vị công hầu khanh tướng chốn kinh kỳm chỉ nghe dậy tiếng tăm ông già lười kỳ dị của xứ Nghệ, đã rầm rập ngày đêm, xe, ngựa, kiệu, võng, tìm đến xin kết giao, xướng họa và nhất là xin chữa bệnh, trong khi Lãn Ông cố tìm cách trốn chuyển hết nhà trọ này sang nhà trọ khác. Sốt ruột chờ lệnh của Huy quận công cho phép trở về, vị y sư lại làm thơ:

    "Thuốc gì chữa được mạng khanh tướng?
    Lòng khá tâu lên với quỷ thần
    Chỉ có tiếng thơm đời để mãi
    Giầu sang già đổi chốn phù vân"

    Trước một ý chí không thể chuyển lay như thế của vị y sư cao ấn, Huy quận công mặc dù đã hết ý lưu giữ Lê Hữu Trác ở lại kinh đô phục vụ chúa Trịnh, cuối cùng cũng đành ngán ngẫm bó tay.

    Lê Hữu Trác dò biết được thái độ ấy của viên quan đầu triều, vội vã làm ngay một cuộc chạy trốn thực sự. Và chỉ đến khi đã xuống được thuyền ở bến Tràng Tín để xuôi dòng về Hương Sơn, Lãn Ông mới thở được một hơi dài nhẹ nhõm. Giữa cảnh bát ngát nước trời, lời thơ phóng khoáng lại cất lên cùng với nỗi lòng giục giã tìm mau về nơi ẩn dật của vị sư:

    "Lên đường từ giã long lâu
    Gươm đản nửa gánh, rời mau đô thành
    Ngựa quen đường cũ về nhanh
    Quay thuyền khó lúc lênh đênh giữa dòng!
    Đa tình mây muốn che nồng
    Nước non mở mặt như lòng vì ai..."

    Đất rừng Hương Sơn ra hoa cây nảy lộc mừng đón người thân trở về. Trẻ già trấn Nghệ yên dạ hồ hởi gặp lại vị y sư. Và Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, như cá được thả lại vào nước, lại chữa bệnh, lặn lội hết thôn này đến xóm khác, tìm thuốc lang thang từ rừng nọ đến núi kia, để rồi, yên tâm đắm mình trong những dòng thơ kỳ thú:

    "Ngày ngày xem bệnh vừa xong
    Đêm đêm tựa bóng trăng trong gảy đàn
    Vừng đông cao, vẫn ngủ tràn
    Bởi lòng mơ tưởng chữ nhàn mà say"

    Bộ Tâm lĩnh của cả một đời làm thuốc chất ngất giữa thư phòng, trong chuyến đi vừa rồi cố công lo việc khác, in không thành, bây giờ Lãn Ông lại cặm cụi sửa sang và viết thêm.

    Hôm nay, Lê Hữu Trác cẩn thận ghi chép tỉ mỉ về một trường hợp chữa bệnh màmỗi lần nghĩ tới, vị y sư lại thấy hiện lên như vẽ ra trước mắt từng cảnh, từng việc, từng người...

    "Một người dân chài tên là Thuộc, có con gái mười ba tuổi mắc chứng Đậu mùa. Lúc mới phát nóng, vì ngoại cảm nặng nên nhức đầu, đau mình không có mồ hôi, sợ lạnh, sốt cao, mũi ngạt tiếng nặng, ho, phiền khát, mê man nói nhảm, đại tiện táo kết, tiểu tiện sén đỏ".

    Người đó mời tôi đến chữa.

    Lúc đầu tôi cũng không đề phòng là phát Đậu. Thấy đứa bé sức vóc đen gầy nên trong huyết được, thêm vị biểu dược đề phát tán. Nhưng tuy ra mồ hôi mà nóng không lui. Lại dùng thanh giả đề cho hơi lợi một chút. Nhưng nóng cũng không bớt. Liều dùng thuốc làm mạnh thủy để chế hỏa. Dù chưa bớt được nhiều, nhưng tinh thần đã hơi tỉnh, phiền khát khỏi dần.

    Hết thuốc bệnh lại như cũ.

    Lúc đó, đã nóng đến sáu ngày. Tôi rất ngờ, lại thân hành đến xem thì thấy tai, xương cùng ngón tay giữa đều lạnh, mạch Trầm sắc. Vả lại, mạch chứng Đậu, từ lúc phát nóng đến khi mưng mủ, cần phải Phù đại, không nên Trầm tố. Đây là vì huyết nóng độc thịnh quá. Tôi dùng thang Thăng ma Cát căn, gia những vị lưỡng huyết giải độc như Từ thảo, Hồng Hoa, Ngưu hoàng, Xuyên khung để thanh nhiệt thác độc. Tuy thấy nóng mà không dám vội dùng thuốc hàn lương sợ lạnh làm độc không ra được.

    Đến tối, tôi lại đến xem. Soi đèn thấy Đậu mọc lờ mờ ở trong da, khắp mình vẫn đỏ. Lúc đó lại kiêm chứng trong bụng trướng đau, đánh rắm rất thối. Biết là trong có phân tích lại và độc úng tắc, tôi lại dùng phương thuốc trước, gia Đại hoàng rửa rượu để hơi dạ một chút.

    "Sáng sớm hôm sau, tôi lại tới xem, thấy trên trán đứa bé có chấm đỏ như son, hai gò má, dưới cằm có mụn đầy như trứng tằm, ở ngực, ở lưng hơi rẽ quã đậu, ở tay chân, mụn mọc chi chít như đầu kim. Đứa bé nhai nuốt thì trong cổ họng vướng vướng như có vật gì làm hơi đau. Mình nóng rát như lửa. Mặt đã hơi sưng..."

    Lãn Ông dừng bút, lấy tay xoa trán, vuốt mặt. Trí óc tập trung đã quá căng thẳng để cho việc nhớ lại và chép ghi không thể sai sót một chi tiết nhỏ, giờ đây đã khiến vị y sư như không phải một mình ngồi trước xấp giấy nữa, mà rõ ràng đang sống giữa cảnh ngộ của mình ngày ấy...

    Một bến sông hoang vắng hiện ra. Con đò nát gối mình trên cát nóng mùa hạ. Trời oi bức như đốt như thiêu. Và mùi tanh thối xông lên nồng nặc.

    Lom khom chui ra khỏi lòng thuyền chật chội, Lãn Ông cố nén cơn buồn nôn, đưa tay gạt những giọt mồ hôi chảy đầm đìa trên mặt. Buổi thăm bệnh thật quá nặng nhọc đối với tuổi tác của vị y sư. Và ác chứng của căn bệnh hiểm nghèo khiến cho ông già làm thuốc nản lòng. Một cơn nóng giận đột ngột kéo đến.

    - Chứng Đậu của cháu rất nguy hiểm. Tôi không chữa được đâu! Bác nên tìm thầy khác xem họa may có vớt vát được phần nào thì vớt!

    Lãn Ông dấm dẳng nói với người ngư dân khốn khổ, đoạn lùi lủi đi thẳng về nhà.

    Nhưng không ngờ là ngay tối hôm ấy người ngư dân đã lại lần đến, cả hai vợ chồng và một mâm lễ vật: Năm quan tiền dài cùng với trầu cau đủ bộ. Gia đình chài nghèo đã bán cả đồ nghề của mình để chạy cho được khoản đó, nghĩ rằng vị y sư vì thấy thiếu cái gì đó mà chưa hết lòng chữa bệnh cho con mình. Và thế là, mỗi bên một ý, vật nài, thoái thác, van xin chối từ... Cuối cùng hiển nhiên là một kết cùng sầu thảm: Vợ chồng nhà chài gạt nước mắt, thất thểu ra về, trong bụng chỉ còn biết tủi hờn cho cái số phận nghèo hèn và bất hạnh của mình...

    Nghĩ đến đấy, Lãn Ông không cầm lòng được nữa, vị y sư vớ lấy bút, dầm mạnh vào nghiên mực, và viết tiếp:

    "Trước cảnh tượng đó, tôi cảm động vô cùng. Nghĩ rằng: Thầy thuốc đời nay chỉ là thầy thuốc của kẻ giàu sang. Không phải thầy thuốc của kẻ nghèo hèn. Nếu thấy kẻ rách rưới đã không muốn đếm xỉa, thì khi nào họ còn chịu tốn thuốc cứu chữa để mongsự báo đáp vu vơ? Vả lại, làm thuốc là nhân thuật, chỉ nghĩ sao cứu sống được người. Nếu ta mất chút thì giờ mà ngươi được sống trọn đời, thì tuy mất mà cũng làm được. Huống nữa, nhà kia đang tìm cái sống ở trong chỗ chết mà trông cậy thầy thuốc. Thầy thuốc lại có thái độ dễ làm khó bỏ thì làm thuốc để làm gì?

    Tôi liền sai trẻ gọi người kia trở lại mà bảo:

    - Không phải tôi khinh bác nghèo mà không giúp đỡ. Chỉ vì sức tôi không chịu nổi khó nhọc đó thôi. Trước bác còn có ăn, có mặc, tôi không chữa thì có thầy khác chữa, nhưng nay bác nghèo ngặt quá, tất họ không chữa cho đâu, cho nên tôi phải cố chữa. Nhưng bệnh cháu mười phần, chết chắc tám phần. Nay tôi không tiếc thuốc men, không nề vất vả, may ra muôn phần có kéo lại được một, cũng là nhờ ân đức của nhà bác. Số tiền bác cầm đến, hãy mang về để mua gạo củi!

    Nói xong, tôi thắp đuốc tới xem thì thấy bệnh nhi bụng trướng hơn trước, chối nắn không cho sờ tay vào. Tôi cho đó là hiện tượng nhiệt ủng tắc ở trong, trường vị táo bón, nếu không mau sơ thống cả biểu và lý, thì âm dương không sao thông đạt để đẩy độc tà ra. Tôi liền dùng bài Quế chi Đại hoàng thang, gia những vị thăng khí thác độc, cho uống. Uống xong, ỉa được một chút thì trướng đau đều khỏi, liền bảo thôi, không dám dùng hết thang. Lại nghĩ: Họng hầu là cửa ngõ của thủy cốc, là then khóa của toàn thân, không thể để chậm được. Liền dùng bài Sưu độc tiễn, gia những vị Cam thảo, Cát cánh, Ngưu Hoàng, Huyền sâm, Kinh giới. Quả nhiên, uống hai thang thì chứng vương vướng như vật rắn ở cổ khỏi hết, chỉ còn hơi đau.

    Bốn ngày sau, nốt đậu mới mọc đều, những chỗ giữa trán, hai gò má dày chi chít không hở chỗ nào, tình trạng giống như bưng đầu trùm gáy, không nói cũng biết, chân tay lại còn dày hơn, không phân rõ ranh giới: Chỉ ở lưng và ngực hơi thưa, tuy có mọc lên thành mụn, nhưng đầu phẳng sắc tía, may mà sờ tay vào còn chuyển sắc trắng. Tôi nghĩ, nếu không dự phòng thanh nhiệt giải độc, nhất là chú ý thác độc ra, thì độc sẽ phục lại, dẫn đến chỗ hãm đen, hãm tía. Liền dùng bài Hoàng liên giải độc thang, xen lẫn với những vị Xuyên khung, Đương qui, Liên Kiều, Cát cánh, Sơn tra, Huyền sâm, Đơn bì, Hồng hoa, Xích thược, Gạo nếp, Hoàng cầm, Thạch cao, Từ thảo, Búp măng, Sâu dâu, Xuyên sơn, Linh dương, tùy chứng lựa dùng, hàng ngày thay đổi cho uống.

    Đậu mọc dần lên, khí đã đẩy ở đầu mụn, huyết đã phụ ở chân mụn. Sắc tía dần đổi ra sắc đỏ nhạt, dưới ánh đèn lấp lánh coi có thần sắc. Nhưng vì khí huyết khô độc ủng tắc, trường vị táo bón, nên thang nào cũng dùng Đại hoàng cho thông lợi một chút thì nóng bớt. Không cho uống như thế thì lại có trạng thái lìm lịm không biết gì.

    Đến ngày thứ bảy, thế nóng lui dần, độc đã hóa dần thành mủ.

    "Đến ngày thứ tám, mủ đã hơi vàng, tơi mới dám cho uống thuốc, bổ khí, như Bảo nguyệt thang, gia vị Lộc nhung để tẩm bổ, thêm Gạo nếp, gai bồ kép, Sữa người, gia ít Nhục quế để thúc độc ra ngoài. Lại chiếu cố đến phần huyết, dùng thuốc lương bổ, đề phòng gãi dập ra. Lúc này mùi đậu rất thối. Tôi mừng, cho là khí độc đã ra hết..."

    Nhưng cuộc vật lộn với bệnh tật vẫn chưa kết thúc được ở đây. Lãn Ông lại buông bút, xoa trán, vuốt mặt, nghĩ đến những biến chứng ác liệt của Đậu mà vị y sư đã phải đem hết sức lực và trí tuệ để đối phó ròng rã thêm nửa tháng trời nữa. Thử thách quả là lớn: Con bệnh bỗng lên cơn sốt rét cầm cập, rồi thổ, rồi tả, và Đậu chuyển thể đảo áp trắng xám.

    Phải chăng đây là chứng Đậu "Quay quả" như sách vẫn nói: Lãn Ông căng óc tính toán, cân nhắc và quyết định một phép chữa khác hẳn: Dùng ôn bổ để tăng lực vì nghĩ chắc chắn rằng cháu bé đã kiệt sức sau những ngày nung bệnh, chứ không phải do Đậu quay quả. Ác bệnh quả đã không đánh lừa đượcvị y sư lão luyện: Cơn nguy kịch lui dần. Nhưng mấy ngày sau lại thấy xuất hiện triệu chứng mới: Đậu không chịu bong vảy trên khu mặt bệnh nhi. Một Bổ trung thang, gia Xuyên khung, giảm Hoàng kỳ, sắc đặc, cuối cùng mới giúp được Lãn Ông giải quyết căn bệnh.

    Vị y sư khe khẽ thở dài, cầm bút viết tiếp những lời tổng kết:

    Tôi chữa bệnh Đậu này ngày đêm không dám bỏ vắng. Khi sinh ra "Tặc đậu" "đinh đậu" thì phải tự tay khều ngay. Mỗi khi tới xem thì phải cởi hết quần áo để ở trên bờ, mình trần mà vào, lấy bông nút mũi, nín hơi như dân chài lặn ở trong nước, xem một mạch rồi ra ngay, khắp mình mồ hôi nhễ nhãi. Về nhà, lại phải xông tắm rồi mới ăn uống được. Không những thế phàm gạo củi, dầu đèn, thiếu đâu giúp đó. Tính ra, từ khi phát nóng đến khi khỏi hẳn, trước sau một tháng bốn ngày, khoản chi phí về thuốc của tôi không hết năm quan tiền mà làm cho người ta được sống, toàn thân không bị hư hỏng chỗ nào.

    Những trang sách đã viết xong, Lê Hữu Trác buông bút mà vẫn thấy tâm thần lâng lâng sảng khoái. Vị y sư rung đùi, mồm lẩm nhẩm không rõ lời một câu thơ cổ, trong khi tay lại cấm lấy bút viết thêm xuống cúi trang:

    Vương Ung Chấn nói: "Nhà làm thuốc có công tạo hóa" quả đúng như thế này chăng?

    Vị y sư bất giác ngả người, tựa lưng vào chiếc trường kỷ, phanh tà áo rộng, kéo trễ xuống dưới vai. Và hứng chí xoa bộ ngực to rộng lại vuốt chòm râu thưa dài cùng mái tóc bạc để xõa đến vai. Tiếng ngâm bỗng vụt ra từ khuôn miệng đang rạng rỡ một nét cười lành:

    "Chỉ muốn người đời không có bệnh
    Ngâm thơ uống rượu được thanh nhàn".

  • m0tintinhyeu

    khoảng 2 10 năm trước
  • Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1720-1791)

    Lê Hữu Trác hiệu là Hải Thượng Lãn ông. Sinh ngày 12 tháng 11 năm Canh Tư (11-12-1720) tại thôn Văn Xá, làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương. Nay là xã Hoàng Hữu Nam huyện Yên Mỹ, tỉnh Hải Dương. Tuy nhiên, ông sống nhiều (từ năm 26 tuổi đến lúc mất) ở quê mẹ xứ Bầu Thượng, xã Tĩnh Diệm, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, nay là xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn và cũng qua đời ở đây vào ngày rằm tháng giêng năm Tân Hợi (1791) thọ 71 tuổi. Mộ ông nay cọ̀n nằm ở Khe nước cạn chân núi Minh Từ thuộc huyện Hương Sơn (cách phố Châu huyện lỵ Hương Sơn 4 cây số).

    Lê Hữu Trác là con thứ bảy của Lê Hữu Mưu và bà Bùi Thị Thưởng.

    Dọ̀ng họ của ông có truyền thống khoa bảng; ông nội, bác, chú (Lê Hữu Kiều), anh và em họ đều đỗ tiến sĩ và làm quan to. Cha Lê Hữu Trác đỗ đệ tam giáp tiến sĩ làm Thị lang Bộ Công triều Lê Dụ Tông, gia phong chức ngự sử, tước bá, khi mất được truy tặng Thượng thư.

    Năm Kỷ Mùi (1739) Lê Hữu Trác 20 tuổi thấy cha qua đời, ông rời kinh thành về nhà, vừa trông nom gia đình vừa chăm chỉ đèn sách, thi vào tam trường, sau đó không thi nữa.

    Năm 1739 cũng là năm mở ra quy mô lớn của phong trào nông dân nổi dậy chống phong kiến, chỉ một năm sau (1740) nghĩa quân của Hoàng Công Chất đánh sát huyện ông. Chàng thư sinh trẻ tuổi Lê Hữu Trác đang mê mải đèn sách phải lánh đi nơi khác đọc sách. Có người thấy thế đă bảo ông "Binh lửa khắp nơi, con trai thời loạn há chịu già đời ở trong phòng sách mãi sao?" và khuyên ông nên theo nghề vợ. Từ đó ông vừa dùi mài kinh sử vừa nghiên cứu binh thư. Sau nhờ ẩn sĩ họ Vũ ở Đặng Xá dạy vũ thuật âm dương (phép bói toán độn số), ông "nghiên cứu trong vài năm cũng biết được đại khái, mới đeo gươm tọ̀ng quân để thí nghiệm sức học của mì́nh" (Tựa "Tâm lĩnh").

    Chiến tranh phong kiến đă gây đau thương chết chóc cho biết bao nhiêu gia đình làng xóm, nó không đem lại gì cho nhân dân, cho đất nước; đã làm cho Lê Hữu Trác chán nản muốn ra khỏi quân đội, nên ông đã nhiều lần từ chối sự đề bạt của tướng nhà Trịnh. Ông nhận ra theo Lê hay Trịnh cũng là chí theo đuổi chiến tranh "cốt nhục tương tàn"; cái chí mạnh "xung Ngưu Đẩu" của ông cũng hóa "ngông cuồng" mà thôi. (Đọc bài thơ trong lời tựa bộ "Tâm lĩnh"). Cho nên năm 1746 khi người anh ở Hương Sơn mất, ông liền viện cớ về nuôi mẹ già, cháu nhỏ thay anh, để xin ra khỏi quân đội, thực sự "bẻ tên cởi giáp" theo đuổi chí hướng mới.

    Lê Hữu Trác bị bệnh từ lúc ở trong quân đội, giải ngũ về phải gánh vác công việc vất vả "trăm việc đổ dồn vào ḿnh, sức ngày một yếu" (Lời tựa "Tâm lĩnh"), lại sớm khuya đèn sách không chịu nghỉ ngơi, sau mắc cảm nặng, chạy chữa tới hai năm mà không khỏi. Sau nhờ lương y Trần Độc, người Nghệ An là bậc lão nho, học rộng biết nhiều nhưng thi không đỗ, trở về học thuốc, nhiệt tình chữa khỏi.

    Trong hơn một năm chữa bệnh, nhân khi rảnh rỗi ông đọc sách thuốc "Phùng thị cẩm nang" hiểu được chỗ sâu xa của sách thuốc. Ông Trần Độc thấy lạ, muốn đem hết cái hiểu thấu về y học truyền cho ông. Vốn là người thông minh học rộng, ông mau chóng hiểu sâu y lý, tìm thấy sự say mê ở sách y học, nhận ra nghề y không chỉ lợi ích cho ḿnh mà có thể giúp người đời, nên ông quyết chí học thuốc.

    Ở Hương Sơn, ông làm nhà cạnh rừng đặt tên hiệu Lãn ông (ông lười) ý nói lười biếng, chán ghét công danh, tự giải phóng mình khỏi sự ràng buộc của danh lợi, của quyền thế, tự do nghiên cứu y học, thực hiện chí hướng mà mình yêu thích gắn bó.

    Giữa cảnh thiên nhiên tĩnh mịch của núi rừng Hương Sơn, sớm khuya mê mải đọc các sách thuốc: Y học nhập môn, Cảnh nhạc toàn thư, Nam dược thần hiệu (của Tuệ Tĩnh), Bảo sinh diệu toản yếu... thật là:

    Sá chi vinh nhục việc đời,
    Đem thân đạo nghĩa vào nơi lâm tuyền.

    Bất can vinh nhục sự Bảo đao nhập cùng lâm. An bần - Y lý thâu nhàn)

    Hải Thượng Lãn ông muốn tì́m thầy, tìm bạn để học thêm nhưng nơi núi rừng hẻo lánh "trên không có thầy giỏi để học, dưới không có bạn hiền giúp, chỉ một mình nói với mình, tự hỏi tự đáp mọ̀ mẫm tưởng tượng đủ thứ" (Lời tựa "Tâm lĩnh") để tìm ra chân lý. Sau ông nhờ một ông lang ở làng bên đi lại thân mật, giúp ông giải đáp những mắc mớ, vài ba năm sau ông đă chữa được một số bệnh thông thường trong gia đình và làng xóm.

    Mùa thu năm Bính Tý (1754) Lê Hữu Trác ra kinh đô mong tìm thầy để học thêm v́ì ông thấy y lý mênh mông nhưng không gặp được thầy giỏi, ông đành bỏ tiền mua một số phương thuốc gia truyền, trở về Hương Sơn "từ khước sự giao du, đóng cửa để đọc sách" (Tựa "Tâm lĩnh"), vừa học tập và chữa bệnh. Mười năm sau tiếng tăm của ông dã nổi ở vùng Hoan Châu (Nghệ An).

    Sau mấy chục năm tận tụy với nghề nghiệp, Hải Thượng Lãn ông dã nghiên cứu rất sâu lý luận Trung y qua các sách kinh điển: Nội kinh, Nam kinh, Thương hàn, Kim quỹ; tìm hiểu nền y học cổ truyền của dân tộc; kết hợp với thực tế chữa bệnh phong phú của mình, ông hệ thống hóa tinh hoa của lý luận Đông y cùng với những sáng tạo đặc biệt qua việc áp dụng lý luận cổ điển vào điều kiện Việt Nam, đúc kết nền y học cổ truyền của dân tộc. Sau hơn chục năm viết nên bộ "Lãn ông tâm lĩnh" gồm 28 tập, 66 quyển bao gồm đủ các mặt về y học: Y đức - Y lý, Y thuật, Dược, Di dưỡng. Phần quan trọng nữa của bộ sách phản ảnh sự nghiệp văn học và tư tưởng của Hải thượng Lãn ông.

    Ngày 12 tháng giêng năm Cảnh Hưng 43 (1782) Lãn ông nhận được lệnh chúa triệu về kinh. Lúc này ông đă 62 tuổi, sức cũng yếu lại là người chăm lo chữa bệnh cho trăm họ, nhất là ông đă quyết chí xa lánh công danh, theo đuổi nghiệp y đă mấy chục năm nên ông nhận chiếu chỉ của chúa Trịnh với tâm trạng vừa lo lắng, vừa chán nản; măi sau nghĩ đến bộ "Tâm lĩnh" chưa in được, mà ông "không dám truyền thụ riêng ai, chỉ muốn đem ra công bố cho mọi người cùng biết, nhưng việc th́ì nặng sức lại mỏng, khó mà làm được" (Thượng kinh íy sự), nên ông hy vọng lần đi ra kinh đô có thể thực hiện việc in bộ sách, phần "con cái trong nhà cũng hết sức van nài", ông tạm làm vui từ giă gia đình, học trò rời Hương Sơn lên đường.

    Ra kinh vào phủ chúa xem mạch và kê đơn cho thế tử Trịnh Cán, ông được Trịnh Sâm khen "hiểu sâu y lý" ban thưởng cho ông 20 xuất lính hầu, và bổng lộc ngang với chức quan kiểm soát bộ Hộ để giữ ông lại. Nhưng Lãn ông thấy nếu nhận thưởng chịu ơn thì khó lòng rời kinh đô trở lại Hương Sơn được, nên ông giả ốm không vào chầu, sau lại viện cớ tuổi già mắt hoa, tai điếc thường ốm yếu để được trọ ở ngoài.

    Bọn ngự y ghen tỵ với Lãn ông không chịu chữa theo đơn của ông, nên thế tử không khỏi, ông biết thế nhưng không hề thắc mắc với bọn thầy thuốc thiếu lương tâm này, mặt nữa ông không thật nhiệt tình chữa, kết quả để sớm thoát khỏi vòng cương tỏa của quyền thần, danh lợi.

    Thời gian ở kinh đô, Lãn ông muốn về thăm cố hương Hải Dương của mình, nhưng mãi đến tháng 9 năm 1782, sau chúa Trịnh mới cho phép ông về. Sau hơn 20 năm xa cách, được trở về mảnh đất "chôn nhau cắt rốn".

    Đang sống giữa quê hương, ông lại có lệnh triệu về kinh vì Trịnh Sâm ốm nặng. Nhận được lệnh triệu, ông đành phải rời quê hương.

    Về kinh ông chữa cho Trịnh Sâm khỏi và cũng miễn cưỡng chữa tiếp cho Trịnh Cán. Trịnh Sâm lại trọng thưởng cho ông. Ông bắt buộc phải nhận nhưng bụng nghĩ: "Mình tuy không phải đã bỏ quên việc ẩn cư, nhưng nay hãy tạm nhận phần thưởng rồi sau vứt đi cũng được" (Thượng kinh kư sự).

    Trịnh Sâm chết vì bệnh lâu ngày sức yếu, Trịnh Cán lên thay, nhưng Trịnh Cán cũng ốm dai dẳng nên "khí lực khô kiệt", khó lòng khỏe được, lại nóng lòng trở về Hương Sơn, Lãn ông đang tìm kế thoái lui, thì may có người tiến cử một lương y mới, ông liền lấy cớ người nhà ốm nặng rời kinh.

    Hải Thượng Lãn ông trở về Hương Sơn bằng đường thủy, nhưng sợ triều đình bắt trở lại ông phao tin đi đường bộ. Thoát khỏi kinh đô ông sung sướng như "chim sổ lồng, cá thoát lưới", lòng chỉ muốn "bay nhanh" về quê nhà:

    Lên đường từ giã long lâu
    Gươm đàn nửa gánh ra ngay đô thành,
    Ngựa quen đường cũ về nhanh,
    Quay thuyền khó lúc lênh đênh giữa dòng.
    Mây qua đường để bớt nồng
    Núi non mở mặt như lòng với ai
    Xanh xanh một dải non đoài
    Giống non ta cũ chỉ vài ḥn thôi.(Thượng kinh kư sự).

    Ngày 2 tháng 11 (năm 1782) Lãn ông về đến Hương Sơn.

    Gần một năm sống giữa kinh đô phong kiến biết bao công danh phú quý lôi kéo, nhưng ông "thung dung" ra đi lại "ngất ngưởng" trở về, lòng trong không hề đục, chí lớn không hề sờn.

    Năm 1783 ông viết xong tập "Thượng kinh ký sự" ghi lại tỉ mỉ chuyến đi kinh, tập ký ấy là một tác phẩm văn học vô cùng quý giá. Mặc dầu tuổi già, công việc lại nhiều: chữa bệnh, dạy học, nhưng ông vẫn tiếp tục chỉnh lý, bổ sung, viết thêm (tập Vân khi bí điển, năm 1786) để hoàn chỉnh bộ "Tâm lĩnh". Hải Thượng Lãn ông Lê Hữu Trác không chỉ là danh y có cống hiến to lớn cho nền y học dân tộc, ông còn là một nhà văn, nhà thơ, nhà tư tưởng lớn của thời đại.

    Nguồn: sưu tầm


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group