Bí Ẩn Của Các Nhà Tiên Tri Thế Giới - Bi Hồng Phúc & Tư Ngọc Phương

  • thangbe21

    khoảng 2 10 năm trước
  • Từ ngọn lửa trên trời rơi xuống cung vua
    Ngọn đèn của Thần Chiến Tranh sẽ bị suy yếu
    Bảy tháng - cuộc chiến tranh lớn,
    Mọi người chết vì hư hỏng…(1)
    (Bách thi 4, tứ tuyệt 100)

    Cụm từ “bảy tháng” cần được hiểu là tháng chín (trước đây cách tính là từø tháng ba). Do đó, nếu lời tiên tri này thật sự nói về đám cháy tháng chín ở tòa nhà Lầu năm góc thì Nostradamus tiên đoán: hậu quả của tai nạn đó sẽ bùng lên thành cuộc chiến tranh lớn khiến mọi người sẽ bị chết vì một “sự hư hỏng” bí ẩn nào đấy.

    Có phải đó là ám chỉ việc sử dụng vũ khí giết người hàng loạt?

    Chúng tôi đưa “Những lời tiên tri của Nostradamus” vào cuốn sách này để bạn đọc có một cái nhìn cụ thể hơn về những tri thức nhân loại bí ẩn vẫn được gán cho là “thông điệp từ vũ trụ.

    CUỘC ĐỜI CỦA NOSTRADAMUS

    LAI LỊCH

    Michael de Nostradamus là một nhân vật khác thường đầy hấp dẫn, sinh ngày 14 tháng12, 1503 tại Provence. Ông gốc người Do Thái, cha là Jacques, con trai của Pierre de Nostredame, một người buôn bán ngũ cốc có vợ tên là Blanche. Cha của Nostradamus chuyển từ vùng Avignon về St. Rémy ở Provence khoảng cuối thế kỷ 15, bỏ mặc việc gia đình. Nostradamus là một trong năm anh em trai. Người ta không được biết nhiều về ông, trừ lúc thiếu thời, chú bé Nostradamus có được đức tin Do Thái giáo từ người ông tên là Jean, ông này còn dạy cho chú bé nhiều thứ kể cả toán học, tiếng Hy Lạp, Hêbrơ, chút ít Latinh và khoa chiêm tinh. Khi lên chín tuổi thì gia đình hoán cải từ Do Thái giáo sang Cơ đốc giáo, nhưng ảnh hưởng của đạo Do Thái trong cuộc đời của bé về sau tỏ ra đáng kể khi cậu nói về những lời tiên tri của mình.

    Nostradamus, khi còn đi học, tỏ ra là một học sinh xuất sắc hơn cả-một học sinh có khả năng. Ông Jean của cậu đã qua đời, nhưng khi Nostradamus trở về nhà cha mẹ thì ông nội Pierre của cậu tiếp tục dạy bảo cho cậu. Khi còn là một thiếu niên, cậu được gởi cho ăn học tại Avignon, ở đó cậu thường nói ra mồm những điều cậu tin là đúng khiến mọi người xôn xao, và một trong những điều đó là truyện Trái đất tròn và quay chung quanh Mặt trời - một quan điểm mà ở thời đó là cực kỳ nguy hiểm. Đến năm 1522 thì Nostradamus đến Đại học Montpelier để học y khoa tại một học viện nổi tiếng ở đó. Chỉ sau ba năm ông đã có được học vị và nhận chứng chỉ hàng nghề y, ông đi nhiều nơi trong nước giúp đỡ cho các nạn nhân của bệnh dịch hạch.

    MỘT THẦY THUỐC KHÁC THƯỜNG

    Nostradamus dường như không ngại dùng các cách tiếp cận mới và khác lạ đối với bệnh nhân, và trong việc chống lại bệnh dịch hạch ông có những phương pháp điều trị riêng, có các thứ thuốc men mới và khác thường. Vì vậy ông đã thành công đáng kể và nổi tiếng với những thứ đó và cả với cách điều trị thật ưu ái và thông cảm với nạn nhân. Ông đi rất nhiều nơi, đến Toulouse, Bordeaux và các nơi khác, và trong các chuyến diễn du này cũng có cả những khoảng thời gian dành cho nghiên cứu xen vào. Cũng trong thời gian này ông đã quan tâm tới những điều huyền bí, thuật giả kim và pháp thuật, những thứ ông đã mầy mò theo đuổi tại Thư viện ở Avignon. Năm 1529 ông trở lại Montpelier để hoàn tất học vị tiến sĩ, và mặc dầu sự nổi danh đã đến với ông quá sớm thường là bất lợi cho ông, song khả năng của ông thì không ai có thể phủ nhận được, và ông đã đạt được học vị tiến sĩ.

    BẤT HẠNH

    Ông lại tiếp tục các cuộc diễn du chỉ sau một năm ở phân khoa tại Montpelier (một vị trí ông thấy rất tù túng), và lại đến Toulouse lần nữa. Trong thời gian ở đây ông đã được triết gia Scalier ở Agen mời đến thăm. Ông ở lại đó và thành hôn với một cô gái trẻ của một gia đình giàu có và họ có được hai đứa con. Mọi việc dường như đều tốt đẹp cho đến khi bệnh dịch lan đến thị trấn đó và gia đình ông là nạn nhân bị bệnh dịch tàn phá. Của cải ông có trước đó đã mau chóng đội nón ra đi, rồi ngoài tổn thất cá nhân ra, ông đã tranh luận với Scaliger và, điều tệ hại là ông đã bị tố cáo là theo dị giáo và được lệnh phải đến tòa án dị giáoToulouse để xét xử. Không ngạc nhiên, nhưng thất bối cảnh này thật bất lợi, nên một lần nữa ông lại quyết định đi xa trong sáu năm tiếp sau để tránh các thế lực củaNhà thờ. Cuối cùng ông định cư ở Salon, một thị trấn phương nam, và lần đầu tiên rời khỏi nơi ở đi Marseiles để giúp đỡ những nạn nhân của bệnh dịch và nạn lụt.

    NIÊN GIÁN ĐẦU TIÊN

    Năm 1550, Nostradamus cho xuất bản cuốn Niên giám đầu tiên của ông gồm những lời dự đoán các sự kiện xảy ra trong năm tới. Việc làm này rất thành công vàNostradamus đã làm cho Niên giám đó trở thành một sự kiện trong năm. Chỉ vài năm sau, ông có ý tưởng viết cuốn Các thế kỷ bao gồm những nhận định tiên tri. Ông tu sửa căn phòng trên cùng trong ngôi nhà ở Salon thành chỗ thành chỗ để suy tư nghiên cứu hằng đêm với cuốn sách về những điều huyền bí. Những lời tiên đoán của ông nói về các sự kiện từ thời ông cho đến thời điểm tận cùng của thế giới, cho là vào năm 3797. Từ “Thế kỷ” của Nostradamus không có một hàm ý nào về thời gian cả, mà chỉ là những khổ thơ tứ tuyệt hợp lại thành hàng trăm khổ. Năm 1955, khoảng một năm sau khi bắt tay vào việc, Nostradamus đã hoàn tất phần đầu ý tưởng của ông định viết mười thế kỷ, tức là một ngàn bài thơ tứ tuyệt. Trong khi thật sự là Thế kỷ 7 chưa được hoàn tất thì đã có bằng chứng là ông đã viết một số bài thơ tứ tuyệt cho các thế kỷ 11 và 12.

    Các bài thơ tứ tuyệt được viết theo một phong cách khác thường, cố tình làm cho khó hiểu. Điều này nhằm tránh cho ông khỏi bị mang tiếng là một thuật sĩ. Ông đã sử dụng một từ vựng pha trộn nhiều, gồm các từ Pháp, Latinh và Provence kèm theo những từ Hy Lạp và Ý. “Lời tiên tri” rất phổ biến ở triều đình, một trong ít nơi hiếm hoi người ta đọc chúng lên, bởi muốn mua được và đọc được một sách như vậy phải có tiền và có học vấn. Hoàng gia cũng tò mò muốn biết, và Catherine de Medicis đã cho vời ông đến, và Nostradamus cũng đã có cuộc yết kiến ngắn với Henri III.

    Mãi đến 1568, hai năm sau khi Nostradamus qua đời, toàn bộ tác phẩm này mới thực sự được công bố. Ông được an táng tại một trong những bức tường rào của một nhà thờ tại Salon mặc dù hài cốt của ông đã bị khai quật trong cuộc Cách mạng Pháp. Tuy nhiên, ông lại được tái an táng tại một nhà thờ khác ở Salon là Nhà thờ thánh Laurent. Mộ và chân dung của ông hiện vẫn còn tại đây.

    NHỮNG LỜI TIÊN TRI

    Những lời tiên tri của Nostradamus được quan tâm rất nhiều kể từ lần công bố đầu tiên, và các lần xuất bản thời kỳ đầu có rất nhiều nhầm lẫn. Có nhiều bài thơ giả, rất có thể là do thiếu niên đại ghi trên một số các tập xưa nhất.

    Không có gì đáng ngạc nhiên khi: “Lời tiên tri” được dùng cho mục đích tuyên truyền về các thế kỷ. Có nhiều chỗ nói về cuộc Cách mạng Pháp và những kỳ công của Napoléon, những lời của Nostradamus không phải chỉ giới hạn trong phạm vi nước Pháp. Ông nổi tiếng khắp châu Âu trong vòng 20 đến 30 năm. Trong thời gian gần đây hơn, Adolf Hitler đã quan tâm đến thái độ của dân chúng. Đồng minh đã trả đũa và tất cả những điều này đã diễn biến trong năm 1943 chưa phải xa xưa gì.

    Điều không thể tránh được là có những người coi Nostradamus là một tên đại bịp, song nhiều người khác lại coi ông là một nhà tiên tri. Ông tự nghĩ mình có được một năng lực nào đó, song không phải lúc nào cũng đúng cả. Có thể là lời tiên tri hoặc chỉ là một phỏng đoán với những lời tiên đoán mơ hồ được một người có thiện chí phân tích. Tuy nhiên, nhiều người cảm thấy phần lớn những điều được viết ra đều trùng hợp hoặc ứng nghiệm với nhiều sự kiện khác nhau, song có một số những bài thơ tứ tuyệt thì dường như chắc chắn sẽ xảy ra, và các chi tiết thì lại quá chính xác. Nếu không, sao gọi được là những lời tiên tri?



    Được sửa lần cuối bởi thangbe21 vào ngày khoảng 2 10 năm trước với 1 lần trong tổng số.
  • thangbe21

    khoảng 2 10 năm trước
  • 2. Phần 1 - Chương 1: NHỮNG LỜI TIÊN TRI

    1202

    Bài tứ tuyệt:

    Cánh buồm cực lớn đó ở ngoài cảng Zara, gần Byzantium, người ấy sẽ hoàn tất công việc của mình. Sẽ không có tổn thất về kẻ thù và bè bạn, kẻ thứ ba sẽ trở thành thù địch với hai kẻ trước, và cướp phá lớn rồi chiếm lấy (1).

    Giải thích:

    Trong bài tứ tuyệt này Nostradamus có thể mô tả các sự kiện xảy ra ba trăm năm trước trong cuộc Đệ tứ Thập tự chinh. Những người dân Venice (Zara) đồng ý tham gia Thập tự chinh với điều kiện phải chi cho họ một khoản tiền lớn và họ phải được hưởng một nửa số chiến lợi phẩm. Những thành viên cuỉa cuộc Thập tự chinh không thể kiếm đâu ra cho đủ số tiền đó và thay vào đó là chiếm lấy Zara và bị Giáo hoàng quyết định rút phép thông công. Họ tiếp tục lấn chiếm và cướp phá Byzantium (Istanbul) và hình thành Romania.

    (Thế kỷ 8, Tứ tuyệt 83)

    1512

    Bài tứ tuyệt:

    Chiến trường Perugian. Ôi! Một trận đại bàng và xung đột rất gần Ravenna. Một chuyển tiếp long trọng khi họ mở tiệc ăn mừng, kẻ chiến thắng bị đánh bại quân thù, con ngựa ăn hết thức ăn của nó.

    Giải thích:

    Nostradamus có thể muốn nói về một sự kiện xảy ra lúc ông còn nhỏ tuổi là trận chiến ở Ravenna và Perugia đều thuộc chế độ Giáo hoàng và bị rơi vào tay lực lượng do Gaston de Foix cầm đầu.

    (Thế kỷ 8, Tứ tuyệt 72).

    1517

    Bài tứ tuyệt:

    Cung bàn chân của quan tổng quản ngân khố đã bị Achiles lừa gạt để những người nắm quyền sinh tử thấy có ở sân triều đình. Lời bàn tán được cả triều đình biết, thi thể sẽ bị treo lên cho dân chúng nhìn thấy.

    Giải thích:

    Achille de Harlay là chủ tịch Nghị viện Paris đã tiết lộ những việc làm gian dối của Nguyên soái vùng Ancre, quan tổng quản ngân khố của nước Pháp. Vị nguyên soái này là cận thần trọng dụng và là quan nhiếp chính của hoàng hậu Marie de Medisis song ngay cả nử chủ này cũng không cứu được ông. Ông bị truy tố và kết án tử hình về tội biển thủ công quỹ, theo chiếu chỉ của Louis XIII, cuộc hành hình thực hiện trong sân điện Louvre. Thi thể của ông bị mang treo lên cho dân chúng xem.

    1543 -1650

    Bài tứ tuyệt:

    Một số người có hiểu biết nhiều nhất về nghệ thuật thiên thể sẽ bị các hàng vua chúa ngu dốt trách cứ, nhận hình phạt ghi trong một sắc chỉ, bị lưu đầy như những tên vô lại và để cho chết ở bất kể nơi nào họ bị phát hiện ra.

    Giải thích:

    Tòa dị giáo là một tổ chức có quyền lực đáng ghê sợ trong thời Nostradamus, bài tứ tuyệt này nói về những hoạt động của Tòa dị giáo đó. Nhiều học giả đã bị Toà án này xử ép, đặc biệt là Galileo, người đã tái khẳng định (trong năm 1632) lý thuyết trước đấy của Copernicus (1543) nói rằng, các thiên thể chuyển động theo qũy đạo quanh mặt trời. Galileo đã bị bắt buộc phải nói lời công khai từ bỏ lý thuyết đó năm 1633 vì sợ có những hậu quả nguy hiểm do Toà án dị giáo đối lập gây ra.René Descartes, một triết gia và là nhà toán học Pháp, trong luận văn năm 1637 của mình, Discours de la Méthode (Luận về phương pháp) đã lập luận rằng, sự tiến bộ của tri thức là dựa trên cơ sở các nguyên lý khoa học. Ông từ chối quan niệm cho rằng nhà thờ, hoặc bất kỳ một tổ chức nào khác là nơi khẳng định cuối cùng về chân lý, và ông tin tưởng rằng trí tuệ của mỗi người có tầm quan trọng sống còn trong việc theo đuổi tri thức và niềm tin. Đó là điều mà những thế lực nắm quyền hành của Nhà thờ và Tòa án dị giáo, quốc vương ghét cay ghét đắng, và khi Descartes qua đời, dù ông này cũng là một tín đồ mộ đạo Thiên chúa, song Louis XIV đã không cho phép một tan lễ Cơ đốc giáo. Những hoạt d0ộng của Tòa án dị giáo có tác dụng làm cho những tìm kiếm kiến thức khoa học phải chuyển từ các nước Thiên chúa giáo sang các vùng theo đạo Tin Lành ở Bắc Âu, tại đó các nhà khoa học và các triết gia không gặp phải cảnh bị hành hạ tra tấn. Nostradamus cũng đã bị gọi trình diện trước Tòa án di giáo tại Toulouse năm 1538, do bị khép tội theo dị giáo. Ông bị buộc phải không được tiếp xúc gần gũi với mọi người, và thừa nhận mình chỉ là một kẻ tầm thường, và phải ra đi xa đây đó, tránh dính dáng với các thế lực của Nhà thờ trong khoảng thời gian sáu năm.

    1552 – 1570

    Bài tứ tuyệt:

    Do lệnh của hoàng gia mà viên đại quan hoa tiêu phải rời hạm đội để nhận một cương vị cao hơn. Bảy năm sau người này sẽ buôn lậu, một đội quân man rợ sẽ làm Venice bàng hoàng sợ hãi.

    Giải thích:

    Một người có thể ứng với bài tứ tuyệt này là Gaspard de Coligny. Ông đã được chỉ định làm đô đốc Hải quân Pháp theo lệnh của Henri II năm 1952 (“đại quan hoa tiêu”). Khi vua bị giết năm 1559 một cách bất ngờ thì ông rời bỏ địa vị, và dính dáng đến sự kiện Calvin (là một giáo chủ theo đạo Tin Lành Pháp thời đó) và mâu thuẫn giữa những người Huguenots (theo đạo Tin Lành Pháp) và những Tín đồ Thiên Chúa giáo, Venice và cư dân ở đó bị “đội quân man rợ” của Sultan Selin II tấn công và đã bị bại trận tại Cyprup năm 1570.

    (Thế kỷ 6, Tứ tuyện 75)

    1555(2)

    Bài tứ tuyệt:

    Ông hoàng bất lực tức giận, bực bội, to tiếng về những cướp bóc hãm hiếp do những con gà trống và bọn cướp libiques gây ra. Trên đất liền xảy ra rất lớn, trên biển vô vàn là buồm. Một mình nước Ý sẽ đánh đuổi bọn người Xent.

    Giải thích:

    “Con gà trống” là người Pháp và bọn “libiques” là các đội quân Algeri hợp lực cùng họ tại các chiến trường Elba và các vương quốc xung quanh. “Ông hoàng bất lực” có thể là Cosimo de Medicis, Công tước vùng Florence có nhiệm vụ chỉ huy lực lượng chống lại người Pháp. Nostradamus có nói sai trong dòng thứ tư của bài tứ tuyệt, vì nước Ý không đánh đuổi được người Pháp trong dịp này, tuy họ có bị bại trận tại một nơi khác.

    (Thế kỷ 4, Tứ tuyệt 4)

    Bài tứ tuyệt:

    Các chiến thuyền và thuyền cổ Gale bao quanh bảy tàu thuyền khác một trận quyết tử sẽ xảy ra. Người chủ tướng của Madrid sẽ bị một vết thương do tên bắn trúng, hai sẽ trốn chạy được còn năm thì bị kéo lên đất liền.

    Giải thích:

    Bài thơ này có thể mô tả một sự kiện xảy ra khi Nostradamus còn sống. Mùa đông năm 1555, một hạn đội Tây Ban Nha trong eo biển Manche (Anh) bị bọn hải tặc ở Dieppe tấn công. Chiếc thuyền do đô đốc hải quân Tây Ban Nha chỉ huy đã bị bọn cướp biển nh᥂A?y lên và bắt giữ, và ông đã bị thương. Bốn thuyền khác của Tây Ban Nha cũng bị chiếm như vậy và toàn bộ được dẫn về Dieppe.

    (Thế kỷ 7, Tứ tuyệt 26)

    1555 – 1557

    Bài tứ tuyệt:

    Đại công tước vùng Alba sẽ đến với bọn phiến loạn, phản bội lại tổ tiên. Một đại công tước vùng Guise sẽ đánh bại vị công tước vùng Alba đó, bắt giam và một tượng đài được dựng lên.

    Giải thích:

    Bài tứ tuyệt này rõ ràng nói về Công tước Alba và Công tước vùng Guise, nhưng không chính xáx về mặt lịch sử. Công tước vùng Guise không đánh chiếm Alba, nhưng Công tước vùng Alba đúng là có hợp với phía người Pháp trong cuộc chiến chống lại giáo hoàng và Vatican.

    (Thế kỷ 7, Tứ tuyệt 29)

    1557

    Bài tứ tuyệt:

    Người Pháp và một dân tộc ngoại lai vượt qua núi non sẽ bị giết và cầm tù. Trong một tháng chẳng thấy ích lợi gì và lại gần vụ thu hoạch nho, các vị huân tước đã thảo ra một thỏa ước.

    Giải thích:

    Điều này nói về những thỏa ước hòa bình giữa Giáo hoàng và lực lượng Tây Ban Nha trong tháng chín năm 1557 (chữ vendage trong nguyên bản tiếng Pháp có thể có nghĩa vụ thu hoạch nói chung hoặc chính việc thu hoạch nho vào tháng chín). Trong dịp này hoàn toàn không quan tâm tới việc Công tước vùng Guise có những đội quân chiến đấu vì giáo hoàng.

    (Thế kỷ 3, Tứ tuyệt 38)

    Bài tứ tuyệt:

    Thành phố lớn bị đột kích chiếm lấy bất ngờ vào ban đêm, lính canh không được liên tục, bọn tuần canh của St. Quentin bị giết và các cổng bị phá tan.

    Giải thích:

    Thành phố St. Quentin bị chiếm năm 1557, không phải do bị tấn công bất ngờ mà là do đã bị vây hãm suốt 18 ngày. Cuộc tấn công cuối cùng tràn vào thành phố, có lẽ điều ngạc nhiên dường như muốn nói tới trong bài tứ tuyệt này.

    (Thế kỷ 4, Tứ tuyệt 8)

    Bài tứ tuyệt:

    Thành phố lớn sẽ phó mặc cho binh lính, không bao giờ có lộn xộn gây tử vong lại gần đến thế. Ôi! Một bất hạnh khủng khiếp sẽ tới, trừ một xúc phạm, còn không gì tha thứ được.

    Giải thích:

    Đây là một mô tả rất chung chung về sự suy sụp của một thành phố lớn trong trận chiến và thấy ở hầu hết các thời kỳ có chiến tranh qua các thế kỷ. Tuy nhiên người giải thích tin rằng Nostradamus nói về sự suy sụp của St. Quenti năm 1557, song nhiều bối cảnh khác cho đến ngày nay cũng thấy chẳng khác chi. Rõ ràng là dân chúng phải hứng chịu hầu như toàn bộ sự tàn sát, chỉ trừ một bộ phận những người cấu kết với bọn xâm lược.

    (Thế kỷ 6, Tứ tuyệt 96)

    Bài tứ tuyệt:

    Trong rừng Bourlis gần St. Quenti. Những người Flemish trong tu viện sẽ bị đánh chém. Hai người trẻ nhất bị đánh bán sống bán chết, thập tử nhất sinh, những người khác thì bị đối xử tàn ác, còn tốp bảo vệ thì bị chặt nhỏ thành từng mảnh.

    Giải thích:

    Hôm trước của trận đánh St. Quenti tháng 8 năm 1557, lực lượng Tây Ban Nha đã kiểm soát được tu viện Vermandois, và có lẽ hai sư huynh trẻ là nạn nhân của sự đánh đập nói trên.

    (Thế kỷ 9, Tứ tuyệt 40)

    Bài tứ tuyệt:

    Gardon đến Nimes, lụt quá cao khiến người ta nghĩ là Deucalion đã chết rồi mà được sống lại. Trong cõi bao la, phần lớn sẽ trốn thoát, và ngọn lửa của nữ thần VeSt.a xuất hiện trong thạch mộ đã bị dập tắt.

    Giải thích:

    Năm 1557 lũ sông Gardon rất lớn, Nostradamus dự đoán là trận lụt này giống như trận đại hồng thủy mà Zeus (Thượng đế của người Hy Lạp cai quản trần gian) giáng xuống trần gian. Khi đó chỉ có hai người sống sót là Deucalion và vợ ông. Trận lụt kèm theo mưa bão lớn, sau khi nước rút xuống thì nhiều dị vật đã lộ ra. Nhiều lời trong phần cuối của bài tứ tuyệt này tối nghĩa không được rõ lắm.

    (Thế kỷ ?, Tứ tuyệt ?)

    1558 – 1560

    Bài tứ tuyệt:

    Người con trai trưởng, một góa phụ, một cuộc hôn nhân bất hạnh không có con cái, hai hòn đảo bất hòa. Trước tuổi 18, một tuổi còn yếu kém của người còn lại, kể cả có thấp kém hơn, sẽ được đồng ý.

    Giải thích:

    Quan hệ giữa Francis II và Mary Stuart (Nữ hoàng Scotland) được mô tả rất chính xác trong bài tứ tuyệt này. Francis là con trưởng của Catherine de Medicis, thành hôn với Mary St.uart thì Francis qua đời. Sự bất hòa có lẽ là nói tới giữa Anh và Scotland, do việc Mary trở về nước gây ra.

    (Thế kỷ 10, Tứ tuyệt 39)

    1558 – 1562

    Bài tứ tuyệt:

    Việc bầu cử thực hiện ở Frankfurt sẽ không hợp pháp. Milan sẽ chống lại. Một người thân của chính ông ta dường như rất mạnh để đuổi ông ta ra khỏi vùng đầm lầy Rhine.

    Giải thích:

    Lễ đăng quang của Ferdinand I lên ngôi Hoàng đế La Mã thánh thần đã diễn ra ở Milan năm 1559. Sở dĩ như vậy vì người anh của Ferdinand là Charles V đã thoái vị năm 1556, để lại cho con trai là Philip II thừa hưởng phần lớn những gì có giá trị trong vương quốc của mình, mặc dù danh xưng Hoàng đế được dành cho Ferdinand Philip II cho rằng mình có quyền đòi lại Milan, bài tứ tuyệt này dường như muốn nói lễ đăng quang của Ferdinand là không hợp pháp. Philip đã cố đánh đuổi Ferdinand ra khỏi Milan nhưng bất thành song vẫn tiếp tục mưu đồ chống lại Ferdinand cho đến năm 1562.

    (Thế kỷ 6, Tứ tuyệt 87)

    1558 – 1603

    Bài tứ tuyệt:

    Người phụ nữ bị khước từ sẽ trở lại trị vì, kẻ thù của bà được phát hiện là những kẻ âm mưu. Hơn bao giờ hết, thời bà trị vì là thời kỳ chiến thắng, ba và bảy mươi chắc chắn qua đời.

    Giải thích:

    Những dòng này mô tả xác đáng đời sống và cách trị vì của Nữ hoàng Elizabeth của nước Anh. Thời Nữ hoàng trị vì coi như thời đại hoàng kim cho đến tận ngày nay. Elizabeth cảm nhận được từ lúc còn nhỏ sự trọng nam khinh nữ của cha là Henry VIII khi ông chỉ quan tâm đến con trai, và việc hành trình mẹ bà là Anne Boleyn năm 1536, khiến cho bà phải cô đơn, không bạn bè thân thích. Thời tuổi trẻ và sắp trưởng thành bà không những sống trong quên lãng mà còn bị những âm mưu, thủ đoạn đe dọa. Nhiều âm mưu có liên quan đến người “chị em họ” Mary St.uart, Nữ hoàng của người Scotland, người có quyền đòi hỏi hợp pháp ngai vàng của nước Anh. Lịch sử khẳng định Elizabeth là một nữ hoàng khôn ngoan và biết cách trị bọn phản loạn, được dân chúng yêu mến. Nước Anh trở thành một cường quốc lớn trên thế giới dưới quyền trị vì của bà, đã tạo ra được các nhà thám hiểm, nhà văn, nghệ sĩ và các nhà khoa học. Bà qua đời ở tuổi 73, năm 1603. Nostradamus có một chút sai lầm ở đây.

    (Thế kỷ 6, Tứ tuyệt 74)

    1559

    Bài tứ tuyệt:

    Một bên muốn có hòa bình và một bên là chiến tranh, chẳng hề có một theo đuổi nào đáng kể. Cảm thấy ái ngại cho người lớn và trẻ em vô tội phải đổ máu xuống đất ở khắp mọi nơi trên nước Pháp.

    Giải thích:

    Rõ ràng đây là hình ảnh đối chứng giữa hòa bình và chiến tranh có thể là sự đình chiến giữa Pháp và Tây Ban Nha, và những cuộc chiến tranh Tôn giáo ở Pháp sau đó làm cho đất nước bị chia năm xẻ bảy. Khoảng giữa thế kỷ 16, những người Huguenots (Tin Lành Pháp) gia tăng rất nhanh. Chưa kể đến việc những người Thiên Chúa giáo lại bị phân chia thành các dòng cực đoan, muốn dị giáo phải bị dập tắt, và những người theo lối của Catherine de Medicis có bản chất dễ chấp nhận hơn. Chiến tranh bùng nổ năm 1562 và chỉ kết thúc với Henri vùng Navarre khi ông hoán cải thành Thiên Chúa giáo và có được hòa ước với những người theo đạo Tin Lành trước đây, theo sắc lệnh Nantes.

    (Thế kỷ 9, Tứ tuyệt 52)

    1559 – 1589

    Bài tứ tuyệt:

    Nơi một vị vua chống lại chính mình, một cư dân của Blois sẽ khuất phục được liên minh Mammel, Cordoba và Dalmafions, ảnh hưởng của bảy, một tặng phẩm và bóng ma hoàng tộc.

    Giải thích:

    Bài này hơi mơ hồ, nhưng đôi nét được một số người có uy tín cho là nói về Henri III, một hậu duệ của triều đình Blois và là người đã khuất phục được Liên minh Thiên Chúa giáo (xin tham khảo thêm ở những chỗ khác). “Ảnh hưởng của bảy” là nói về bảy người con của Catherine de Medicis, còn các địa danh thì dường như không mấy quan trọng và ít liên quan tới sự kiện, đặc biệt là Mammel thì không thể xác định chắc chắn được.

    (Thế kỷ 10, Tứ tuyệt 41)

    Bài tứ tuyệt:

    Trong năm mà một mắt trị vì nước Pháp, triều đình sẽ rất rối ren. Nhân vật lớn ở Blois sẽ giết chết bạn, vương quốc sẽ theo đường lối ác độc và hai điều ngờ vực.

    Giải thích:

    Vua Henri II bị thương nguy hiểm đến tính mạng trong một cuộc cưỡi ngựa đấu thương vui với một người bạn. Chẳng may ông bị đâm vào mắt và mười hôm sau thì qua đời sau khi đã tha thứ cho người bạn và cũng là người tấn công mình, tên là Gabriel de Lorges, Bá tước vùng Montgomery. Bài thơ mô tả người con trai của ông và là người kế vị ngai vàng thứ ba là Henri III, người phải chịu trách nhiệm về vụ giết chết Công tước vùng Guise và em trai ông ta là Louis de Guise, Hồng y giáo chủ cùng Lorraine ở Blois. Cả trước lẫn sau sự kiện này vẫn còn mâu thuẫn giữa Liên minh Thiên Chúa giáo và những người ủng hộ đức vua, đó là “hai điều ngờ vực” nói trong bài tứ tuyệt. (xem thêm Thế kỷ 3, Tứ tuyệt 30 và Tứ tuyệt 51).

    (Thế kỷ 3, Tứ tuyệt 55)

    1560 – 1971

    Bài tứ tuyệt:

    Máu sẽ không đổ nữa, Venice sẽ nhờ cứu viện. Sau khi đợi trong một thời gian rất lâu thì thành phố đã bỏ ngỏ ngay từ khi tiếng kèn trompet đầu tiên vang lên.

    Giải thích:

    Trong cuộc vây hãm đảo Sip của các lựng lượng Thổ Nhĩ Kỳ, người dân Venice hy vọng các lực lượng Cơ đốc giáo sẽ tiếp viện, nhưng chẳng thấy gì. FamaguSt.a, thủ đô của Síp là mục tiêu vây hãm lâu dài, cuối cùng đã phải đầu hàng vào năm 1571.

    (Thế kỷ 4, Tứ tuyệt 1)

    1562 – 1569

    Bài tứ tuyệt:

    Đại quan thừa lại vùng Orléans sẽ bị tử hình bởi một dòng họ có hận thù. Ông không được chết xứng đáng cũng như không phải chết do định mệnh, do chân và tay mà bị bắt cầm tù thảm hại.

    Giải thích:

    Ở thời Nostradamus chức quan thừa lại vùng Orléans là một địa vị cha truyền con nối của dòng họ Greslot. Năm 1569, Jerôme Greslot bị hành hình do trước đó có chứng cớ phạm tội phản trắc vào năm 1562. Ông đã dàn xếp việc phòng thủ bằng cách cho mở tung các cổng thành. Câu cuối của bài thơ có thể có ý mập mờ về quãng thời gian dài giữa thời điểm phạm tội và thời điểm xét xử, và toàn bộ bài thơ muốn nói chức quan thừa lại không xứng đáng với định mệnh của ông ta.

    (Thế kỷ 3, Tứ tuyệt 66)

    1564 – 1574

    Bài tứ tuyệt:

    Người ấy đấu tranh, có vũ khí, nhưng trong chiến trận, sẽ dành phần thắng từ tay một người quyền cao hơn mình, ban đêm sáu người sẽ mang thương giáo đến giường ngủ của ông ta. Trần trụi không áo giáp, ông bỗng thấy bàng hoàng.

    Giải thích:

    Những dòng này nói về Gabriel de Lorges, Bá tước vùng Montgomery, vô tình đã giết chết bạn là chúa thượng của mình Henri II, trong một cuộc cưỡi ngựa đấu thương. Nhà vua đã tha thứ cho Montgomery trước khi qua đời, nhưng Catherine de Medicis lại muốn vị Bá tước kia phải trả nợ cho việc làm đó bằng chính sự sống của mình. Bá tước phải lánh sang Anh và gia nhập sự nghiệp Tin Lành giáo. Mười năm sau ông trở về Pháp lãnh đạo các lực lượng Tin Lành nổi dậy. Lúc đầu ông giành được nhiều thắng lợi nhưng cuối cùng phải đầu hàng Thống chế de Mantignon ở Domfront, và phải được đảm bảo an toàn, nhưng Catherine de Medicis đã phái sáu ngự lâm đến bắt ông vào đêm 27 tháng 5 năm 1574, đưa đi hành hình.

    (Thế kỷ 3, Tứ tuyệt 30)

    1565

    Bài tứ tuyệt:

    Từ phương Đông sẽ đến trung tâm châu Phi gây rắc rối cho Hadrie (hoặc Venice) và những người kế vị Romulus. Đi cùng là bộ lạc Libi; Malta và các đảo kế cận sẽ là những nơi không người.

    Giải thích:

    Nửa sau của bài tứ tuyệt này rất có thể nói về cuộc bao vây Malta năm 1565, song việc này còn phụ thuộc “bộ lạc”, được hiểu là “hạm đội” (nguyên bản tiếng Pháp dùng chữ classe). Trong sự kiện này, hạm đội “Libi” là hải quân Thổ Nhĩ Kỳ, ở Địa Trung Hải. Phần đầu của bài tứ tuyệt hoặc nói về Henri IV (Hadrie) với sự bối rối từ phương Đông là Công tước vùng Parma, hoặc, nếu coi Hadrie là Adrie và dịch ra là Venice thì ý nghĩa lại thay đổi đột ngột. Như vậy thì có thể nói vai trò của Hoàng đế Haile Selassie của Ethiopia.

    Năm 1936 ông bị người Ý đánh đuổi khỏi đất nước. Trong Thế chiến II, ông đã chiếm lại được Ethiopia và giúp đồng minh đánh bại quân phát xít tại Ý, những người tự gọi mình là những “người kế vị Romulus”. (Xem thêm Thế kỷ I, Tứ tuyệt 8).

    (Thế kỷ I, Tứ tuyệt 9)

    1567

    Bài tứ tuyệt:

    Những bức thư được tìm thấy trong các hộp báu vật của Nữ hoàng. Không có chữ ký và tên của tác giả. Bằng những thủ đoạn, các đề xuất sẽ được giấu kín, nên chẳng biết ai là người tình.

    Giải thích:

    Tư liệu là những “bức thư trong hộp” của Mary, Nữ hoàng Scotland, được truyền tụng là có liên quan đến việc ám sát người chồng thứ hai của bà là Đại quan Darnley, chết năm 1567. Chúng được dùng làm vật chứng tại phiên tòa do Bá tước vùng Morton chủ trì tại London và York. Giá trị của những bức thư này còn có những điểm nghi ngờ, và chúng đã thất lạc vào năm 1584.

  • thangbe21

    khoảng 2 10 năm trước
  • Phần 1 - Chương 2

    1568

    Bài tứ tuyệt:

    Khi nữ hoàng thấy mình bị đánh bại thì sẽ bộc lộ nét can đảm nam tính mạnh mẽ của mình. Một mình trên lưng ngựa nàng đã vượt qua sông. Bị đuổi bắt bằng gươm giáo, nàng sẽ xúc phạm lòng tin của mình.

    Giải thích:

    Tháng 5 năm 1568 Mary, Nữ hoàng của người Scotland buộc phải lánh sang Anh sau khi bị đánh bại lần thứ hai bởi các lực lượng của Bá tước Murray tại Carberry Hill. Hành trang duy nhất của bà trong cuộc chạy chốn nhục nhã này là quần áo mang theo người. Bà vượt sôngTweed trên một chiếc thuyền, rồi tiếp tục đi về phía nam. Vụ bê bối giữa Mary với Bá tước Bothwell, sát thủ tình nghi của chồng bà là Đại quan Darnley, và việc bà tái giá với Bothwell làm bất bình những đạo hữu Thiên Chúa giáo của bà và người Scotland nói chung. Với tính cách của bà, Mary đã nghiêm túc thấy được lòng kiên trì và sự trung thành của những người ủng hộ và thần dân của bà.

    (Thế kỷ I, Tứ tuyệt 86)

    Bài tứ tuyệt:

    Khi những người của Hainault, Ghent và Brussels thấy cuộc vây hãm trước Langres thì sau lưng họ sẽ có các cuộc chiến khủng khiếp, vết thương trước đó tệ hại hơn kẻ thù của họ.

    Giải thích:

    Bài này nói về cuộc vây hãm thành Langres trong các cuộc chiến Hapsburg. Tuy nhiên không biết rõ là “vết thương trước đó” ám chỉ cuộc đụng độ nào.

    (Thế kỷ 2, Tứ tuyệt 50)

    1569 VỀ SAU

    Bài tứ tuyệt:

    Mâu thuãn giữa họ ngày một gia tăng. Những người ở nơi thôn dã sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Đô thị và thành phố sẽ có những tranh luận mạnh mẽ, Carcassone và Narbonne sẽ chứng tỏ trái tim họ.

    Giải thích:

    Đây là tiên đoán về mâu thuẫn ảnh hưởng đến miền Nam nước Pháp trên 30 năm, từ 1562 đến 1598. mâu thuẫn này liên quan tới những người Thiên Chúa giáo và người Huguenots (Tin Lành Pháp), trong xung đột này thì thị trấn Carcassone ủng hộ người Thiên Chúa giáo, nhưng người Huguenot đã chiếm được một phần thị trấn đó. Thường trong các cuộc xung đột này, giữa các gia đình qúy tộc có những lập trường tôn giáo riêng, xảy ra một cuộc đấu tranh dành phần hơn. Cuối cùng thì Henri được lên ngôi báu chỉ với điều kiện phải hoán cải tôn giáo, từ đạo Tin Lành sang Thiên Chúa giáo.

    (Thế kỷ 1, Tứ tuyệt 5)

    1569

    Bài tứ tuyệt:

    Người lưng gù sẽ được hội đồng bầu lên, một quái vật khủng khiếp chưa hề được thấy trên trái đất. Một phát đạn cố ý sẽ xuyên qua mắt ông ta, kẻ phản bội nhà vua được đón nhận như một người trung thực.

    Giải thích:

    Bài tứ tuyệt này được coi là nói về Công tước lưng gù Louis de Condé, người được hội đồng Huguenot bầu làm thủ lãnh năm 1560. Thay vì công khai thề trung thành với đức vua Charles IX năm 1560 và 1562 thì ông ta lại ngấm ngầm âm mưu chống lại vua. Tháng ba năm 1569, Condé đã bị bắt làm tù nhân trong chiến trận Jarnac và bị bắn vào đầu, một hình phạt cho kẻ phản bội.

    (Thế kỷ 3, Tứ tuyệt 4)

    1571

    Bài tứ tuyệt:

    Ở hải cảng bạo chúa Selim sẽ bị để mặc cho chết, nhưng không phục hồi được tự do. Cuộc chiến mới lại bắt đầu để báo thù và do hối hận. Một quý bà được tôn vinh do có ảnh hưởng gây sợ hãi.

    Giải thích:

    Người Thổ Nhĩ Kỳ bị bại trận trước những lực lượng Cơ đốc giáo tại chiến trường Lepanto tháng 10 năm 1571, dù Sultan Selim II không bị giết chết, nhưng người chỉ huy hải quân của ông ta là AliPasha thì bị chết. Kết cục là quân Thổ phải ngừng xâm chiếm, nhưng phải nhiều trăm năm sau mới có được tự do khỏi ảnh hưởng của Ottoman. Giáo hoàng viết sắc chỉ nói rằng có được chiến thắng là do ảnh hưởng của Đức mẹ đồng trinh Mary.

    (Thế kỷ 1, Tứ tuyệt 94)

    Bài tứ tuyệt:

    Râu đen xoăn tít do đụng độ sẽ chiếm lấy đất nước đó một cách tàn ác và tự mãn. Chiren vĩ đại sẽ giải phóng tất cả những người bị cầm tù dưới lá cờ của Seline.

    Giải thích:

    Trong trận chiến Lepanto năm 1571, Don John của Áo là chỉ huy các lực lượng Cơ đốc giáo đã đánh bại quân sĩ Thổ. Chiren là từ “đảo tự” của Henric nói về Henri III, đã trở thành vua nước Pháp năm 1574. Cuộc chiến này đã giải phóng nhiều người tù binh Cơ đốc giáo, bị bắt làm thuộc hạ dưới tàu thuyền của hạm đội Thổ.

    (Thế kỷ 2, Tứ tuyệt 79)

    Bài tứ tuyệt:

    Từ Barcelona, từ Genoa và Venice, từ Sicily gầnMonaco, hợp sức chống lại hạm thuyền man rợ, bọn người man rợ này bị đánh lùi tới tận Tunis.

    Giải thích:

    Chiến trận Lepanto rất ứng nghiệm bài tứ tuyệt này.Bọn Thổ bị liên minh của lực lượng giáo hoàng, Venicevà Tây Ban Nha đánh bại. Hạm đội của Thổ gồm cả các tàu thuyền của đồng minh Algé-ri. Cuối cùng hai năm sau Tunis cũng bị đánh chiếm.

    (Thế kỷ 9, Tứ tuyệt 42)

    1572

    Bài tứ tuyệt:

    Ông vua dã man tàn bạo sẽ thử bàn tay đẫm máu của mình bằng súng đạn, gươm giáo và cung tên. Toàn thể dân chúng sẽ sợ hãi khi nhìn thấy những con người vĩ đại bị treo cổ hoặc bị treo ngược chân lên.

    Giải thích:

    Vị “vua dã man” nói tới trong những dòng thơ này thường được cho là Charles IX của Pháp, nổi tiếng là khát máu trên bãi săn, khi lệnh cho chặt đầu các con vật. Người dân thấy ghê sợ cuộc thảm sát nhiều người Tin Lành Pháp (24 tháng 8 năm1572) vào ngày Thánh Bartholomew. Catherine de Medicis báo động về sự gia tăng ảnh hưởng của những người Huguenot Tin Lành với Charles, con trai bà, xúi bẩy người con trai thứ ba của bà là Henri (về sau là Henri III), trong vụ thảm sát, trùng hợp với thời gian lễ thành hôn của con gái bà là Margaret vùng Valois với Henri vùng Navarre (sau là Henri IX). Lãnh tụ Huguenot, đô đốc Coligny, một trong những người đầu tiên để cho đám đông hỗn loạn làm cho chết. Ông bị treo ngược chân lên để cho người dân đánh đập vào người. Việc này chỉ xảy ra vài năm sau khi Nostradamus qua đời.

    (Thế kỷ 4, Tứ tuyệt 47)

    1572 -1584

    Bài tứ tuyệt:

    Hành động gây tai hoạ lớn đi lòng vòng, danh xưng của người thứ 7 sẽ là của người thứ 5. Với người thứ ba, một người hiếu chiến, ngoại lai, vĩ đại hơn nhiều, chòm sao Bạch dương sẽ không gìn giữ Paris và Aix.

    Giải thích:

    Bài tứ tuyệt này nói về 7 đứa con của Catherine de Medicis, nhất là Henri III, người con trai thứ ba và là con thứ 5, trở thành vị vua Valois thứ 7 và cuối cùng của nước Pháp. Đụng độ lớn nổ ra từ những năm 1560 về sau, giữa những người Thiên Chúa giáo và người Tin Lành. Catherine de Medicis, với tư cách nhiếp chính thì bênh vực tư tưởng ôn hòa, cho tôn giáo những quyền tự do nhất định, nhưng nhóm bè phái Thiên Chúa giáo cực đoan hơn lại muốn phải diệt cho bằng hết giáo phái Tin Lành. Đã xảy ra các cuộc thảm sát người Tin Lành, nhất là năm 1572, có trên 3.000 người bị chết vào ngày Thánh Bartholomew (“hành động gây tai họa lớn”). Điều này gây ra những tác hại nghiêm trọng đối với Henri III, người không ủng hộ những người Thiên Chúa giáo thích dùng sức mạnh, và cũng không bênh vực gì những người Tin Lành. Ông bị tôn đồ Jacques Clément sát hại năm 1589 (xem Thế kỷ 1, Tứ tuyệt 97). Con gái của Catherine, Margeret de Valois thành hôn với Henri, người theo đạo Tin Lành, Tiểu vương vùng Navarre (“người hiếu chiến, ngoại lai vĩ đại hơn”). Ông trở thành người kế vị ngai vàng nước Pháp (là Henri IV). Trong tháng Ba và tháng Tư (thuộc cung Bạch dương), ông bắt đầu bao vây Paris và cuối cùng được nước Pháp chấp nhận. Ông tiến hành các cuộc chiến tranh tôn giáo tới cùng và tự mình, cũng như theo sắc chỉ Nantes, trở thành một người Thiên Chúa giáo. (Các số III vàIV cộng lại cho số 7 nói trong tứ tuyệt).

    (Thế kỷ 2, Tứ tuyệt 88)

    Bài tứ tuyệt:

    Ở những nơi thờ cúng thiêng liêng sẽ xảy ra những vụ bê bối lớn, và sẽ được coi là những vinh dự và đáng được ca ngợi. Người ta khắc hình một người lên vàng, bạc, huy chương, kết thúc sẽ là những đau khổ rất lạ thường.

    Giải thích:

    Người Huguenot (Tin Lành Pháp), Henri vùng Navarre là thủ lãnh của những người Tin Lành Pháp, và Nostradamus, một người Thiên Chúa giáo cuồng tín rất căm ghét ông. Là vua Navarre, ông ta có tiền và huy chương dập hình cái đầu của chính ông, và tiền này được dùng ở các nhà thờ (“các vụ bê bối lớn” được coi là “đáng ca ngợi”). Những “đau khổ lạ lùng” vào lúc kết thúc có thể là cuộc thảm sát 3.000 người Tin Lành trong ngày Thánh Bartholomew năm 1572 tại Paris. Henri trở thành người kế vị (về sau là Henri IV) năm 1584 và chấp nhận đức tinh Thiên Chúa giáo và công bố Sắc chỉ Nantes cho những người Tin Lành được quyền tự do tôn giáo. Việc này mang lại hòa bình trong một thời gian ngắn.

    (Thế kỷ 6, Tứ tuyệt 9)

    1573

    Bài tứ tuyệt:

    Bệnh dịch bao quanh Capellades, nạn đói khác sẽ xảy đến Sagunto. Đứa con hoang có tinh thần hiệp sĩ của người chồng tốt bụng sẽ gây nên một chuyện lớn cho Tunis làm ông bối rối.

    Giải thích:

    Bài này ám chỉ việc Don John của Áo chiến lại Tunis năm 1573. Ông là con trai bất hợp pháp của Charles V và coi thành phố đó là của Philip II thuộc Tây Ban Nha, người anh em cùng cha khác mẹ với mình. Ở đó thường xảy ra bệnh dịch theo chu kỳ và tác hại của bệnh là không thể ăn được.

    (Thế kỷ 8, Tứ tuyệt 50)

    1574 – 1584

    Bài tứ tuyệt:

    Hai anh em trong hoành tộc sẽ tiến hành một cuộc chiến dữ dội chống lại nhau, chí tử tới mức mỗi người phải chiếm cứ các nơi để phòng thủ cho vững chắc. Vương quốc và cuộc sống sẽ có liên quan tới cuộc tranh chấp lớn giữa họ với nhau.

    Giải thích:

    Bài tứ tuyệt này mô tả mốt quan hệ và bối giữa Henri III của Pháp và người anh em Francois, Công tước vùng Alencon (sau là Công tước vùng Anjou) trong các năm 1574 – 1784. Francois cầm đầu những người Huguenot trong khi Henri lại liên minh vói những người Thiên Chúa giáo, Francois cầu hôn với Elizabeth I của Anh nhưng bị từ chối. Francois qua đời năm 1584, Henri vùng Navarre kế tục Henri III.

    (Thế kỷ 3, Tứ tuyệt 98)

    1575 – 1589

    Bài tứ tuyệt:

    Bảy chi sẽ rút lại còn ba, những người lớn tuổi hơn bị chết bất ngờ, hai trong số họ sẽ có ý định ám hại lẫn nhau, những kẻ âm mưu sẽ chết khi đang ngủ.

    Giải thích:

    Đây là bài mô tả chính xác về những con của Catherine de Medicis (“bảy chi”). Năm 1575 chỉ có ba trong số họ còn sống là Henri III, Francois, Công tước vùng Anlecon, và Margaret de Valois, vợ của Henri de Navarre. Hai người anh em còn lại là những kình địch và âm mưu chống lại nhau. Henri III ra lệnh ám sát những người anh em dòng Guise. Francois liên minh với dòng họ Ggise với hy vọng hạ bệ anh mình khỏi ngai vàng, cho nên cả hai đều bị “thu hút vào cảnh anh em giết lẫn nhau”. Fran cois và Margaret chết trên đường (Margaret chết năm 1615), nhưng Henri III thị bị tôn đồ Jacques Clément ám hại chết.

    (Thế kỷ 5, Tứ tuyệt 11)

    1577

    Bài tứ tuyệt:

    Vì sự khoái lạc trong một sắc lệnh đầy tính nhục dục, thuốc độc sẽ được trộn lẫn với pháp luật, Sao Kim sẽ còn đức hạnh tới mức các thứ làm giảm tinh khiết của Mặt trời sẽ bị che lấp đi.

    Giải thích:

    Trong bài tứ tuyệt này, Nostradamus tiên đoán việc công bố sắc lệnh Poitiers năm 1577, mười năm sau khi ông qua đời. Sắc lệnh này cho phép những người thuộc giáo phái Calvin (gọi là những người Calavinit) tự do thờ cúng và nới lỏng việc cấm giới tăng lữ không được lấy vợ. Nostradamus phản đối mạnh mẽ điều này và cho rằng nó khuyến khích đồi bại. Triều đình của Henri I chắc chắn để lại tiếng xấu khi được cho phép tự do tình dục bừa bãi và những hành động ngông cuồng. Bản thân nhà vua là một người đồng tính luyến ái, khiến có những thần dân nói những lời mỉa mai, cũng như đối với việc ông học đòi về phù thủy và ma thuật.

    (Thế kỷ 5, Tứ tuyệt 72)

    1580

    Bài tứ tuyệt:

    Người ấy sẽ có nhiều vinh dự và được đón tiếp khi vào nước Bỉ thuộc Pháp, một thời gian ngắn sau sẽ phạm nhiều hành động thô lỗ và cái tinh túy hiếu chiến sẽ bị chống lại.

    Giải thích:

    Francois, Công tước của Alencon, được Henri III, vua pháp là anh phái đi Hà Lan làm toàn quyền, điều này rất phù hợp với lòng dân. Họ thỉnh cầu Francois bảo vệ họ, và ông được đón tiếp trọng thể. Hình như ông ta bị sự giàu có và kỳ vĩ của thành phố Antwerp cám dỗ và đã dùng sức mạnh đánh chiếm thành phố đó. Ông bị dân của thành phố này đánh bại hoàn toàn, giết chết nhiều binh lính. Với hành động ích kỷ và thiếu khôn ngoan này ông mất hết tín nhiệm và không được dân chúng tin cậy nữa.

    (Thế kỷ 5, Tứ tuyệt 72)

    1580

    Bài tứ tuyệt:

    Người ấy sẽ có nhiều vinh dự và được đón tiếp khi vào nước Bỉ thuộc Pháp, một thời gian ngắn sau sẽ phạm nhiều hành động thô lỗ và cái tinh tuý hiếu chiến sẽ bị chống lại.

    Giải thích:

    Francois, Công tước của Alencon, được Henri III, vua Pháp là anh phái đi Hà Lan làm toàn quyền, điều này rất phù hợp với lòng dân. Họ thỉnh cầu Francois bảo vệ họ, và ông được đón tiếp trọng thể. Hình như ông ta bị sự giàu có và kỳ vĩ của thành phố Antwerp cám dỗ và đã dùng sức mạnh đánh chiếm thành phố đó. Ông bị dân của thành phố này đánh bại hoàn toàn, giết chết nhiều binh lính. Với hành động ích kỷ và thiếu khôn ngoan này ông mất hết tín nhiệm và không được dân chúng tin cậy nữa.

    (Thế kỷ 6, Tứ tuyệt 83)

    Bài tứ tuyệt:

    Tin tức báo có tổn thất lớn, làm doanh trại kinh ngạc. Các băng nhóm hợp nhất lại chống mhững người tham gia nổi dậy, hai phalanx(1) sẽ bỏ đại quân.

    Giải thích:

    Bài tứ tuyệt này thường được coi là nói về sự kiện tác động tới quân đội của Công tước vùng Parma năm 1580. Binh lính hốt hoảng vì có một tin đồn lan tới là ở một nơi khác đã bị đại bại. Có nhầm lẫn lớn nói rằng quân Hà Lan đang chiến đấu với họ đã kiểm soát lại được Antwerp. Hai phalanx quân lính (hai lần 800, vị chi là 1.600) nổi dậy và chống lại đồng bào họ.

    (Thế kỷ 4, Tứ tuyệt 13)

    1584

    Bài tứ tuyệt:

    Nhà ở Lorraine sẽ dành chỗ cho Venđôme, cao đặt xuống thấp,thấp đặt lên cao,con trai củaHarion sẽ được bầu lên ở La Mã và hai đại quân sẽ bị coi là có sai trái

    Giải thích:

    Bài tứ tuyệt này rất phù hợp với sự thăng tiến củaHenri IV, Công tước vùng Venđôme, còn được biết tới là Henri de Navarre. Vào khoảng những năm 1560, các cuộc chiến tôn giáo ở Pháp bùng nổ với những hành động man rợ giữa những ngườiThiên Chúa giáo và những người Huguenot (tên gọi những người Tin Lành Pháp) với nhau. Năm 1572, khoảng3.000 người Huguenot bị giết ở Paris, và năm 1599 vua Pháp bị những người Thiên Chúa giáo cực đoan lật đổ. Những người Thiên Chúa giáo ôn hòa hơn thì do Catherine de Medicis lãnh đạo. Năm 1584, người Huguenot có tên Henri là người kế vị ngai vàng. Ông có thể chấm dứt chiến tranh bằng cách trở thành một người Thiên Chúa giáo và do đó được chấp nhận theo quan điểm của La Mã (“… sẽ được bầu ở La Mã”). Ông có thỏa ước với những người oở Tin Lành trước đây ủng hộ ông (trong Sắc lệnh Nanter) để cho họ được tự do thờ cúng ở rất nhiều nơi trong nước. Hai đại quan bị coi là “có sai trái” (có bản dịch là “rất bối rối” hoặc “sẽ không xuất hiện”) là Công tước vùng Guise và Công tước vùng Mayenne.

    (Thế kỷ 10, Tứ tuyệt 18)

    Bài tứ tuyệt:

    Ảnh hưởng trị vì của Navarre là không có thật, nó làm cho cuộc sống có một tương lai lộn xộn phi pháp. Không chắc có được phép của Cambrai, vua Orleans sẽ cho một bức tường hợp pháp.

    Giải thích:

    Bài tứ tuyệt này dường như cũng nói về Henri de navarre, người trở thành kế vị ngai vàng Pháp năm1584. Bốn chữ “ảnh hưởng trị vì” có thể nói về việc ông không thâu tóm được toàn bộ nước Pháp vì có thể có nhiều vùng lớn và một số thành phố được phòng thủ vững vàng của những người Huguenot muốn làm gì thì làm, ngoài tầm kiểm sát của triều đình. Henri sống một cuộc sống đặc biệt, với nhiều tình nhân, kể cả phu nhân của Toàn quyền vùng Cambrai. Coi như để bù đắp, Henri đã cho gia đình quyền sở hữu cha truyền con nối đối với thị trấn đó.

    (Thế kỷ 10, Tứ tuyệt 45)

    1585 – 1589

    Bài tứ tuyệt:

    Khi chủ soái của perouse không dám liều bỏ quần áo ngoài trơ trụi những thứ mặc bên trong thì bảy nhà qúy tộc sẽ bị bắt, người cha và con trai mình sẽ bị chết do bị đâm vào cổ.

    Giải thích:

    “Chủ soái của Perouse” là giáo hoàng, trong bài tứ tuyệt này nói về Giáo hoàng Sextus V. Ông bị rút phép thông công Henri vùng Navarre năm 1585 và thấy mình phải đối diện với cùng việc đó đối với Henri III. (Thụy Điển và Anh đã có những mối liên kết bị tan vỡ với Nhà thờ La Mã lần lượt vào các năm 1527 và 1530, dẫn tới tổn thất đáng kể về thu nhập cho nhà thờ). Do Giáo hoàng không “dám liều bỏ áo ngoài để lộ ra trơ trụi”, những năm 1589 ông thấy mình không còn lựa chọn nào khác. “Bảy nhà quý tộc” là gia đình của Catherine de Medicis. Chồng của Catherine và là cha của bảy người con, Henri II của Pháp bị giết do một vết đâm vào họng. Con trai ông, Henri III bị giết năm 1589 do tôn đồ Jacques Clément, song vết đâm là vào bụng chứ không phải vòng họng (xem Thế kỷ 1, Tứ tuyệt 97)

    (Thế kỷ 5, Tứ tuyệt 67)

    1588

    Bài tứ tuyệt:

    Nhà vua sẽ ăn năn quá muộn màng là đã không trừ khử địch thủ của mình. Nhưng ông sẽ sớm đồng ý một việc lớn hơn nhiều khiến cả dòng dõi của ông đều sẽ chết.

    Giải thích:

    Bài này có thể nói về Henri III và nỗi ám ảnh về việc ông đã thanh toán gia đình Guise khỏi nền chính trị Pháp. Ông đã lệnh ám sát Công tước vùng Guise và em trai ông ta là Louis vào tháng 12 năm 1588, nhưng người em trai thứ ba là Công tước vùng Mayenne thì cho sống. Thực tế ông này là người có mưu đồ, và cuối cùng Henri buộc phải hành động tiếp với việc đó.

    (Thế kỷ 1, Tứ tuyệt 37)

    Bài tứ tuyệt:

    Nhà vua bối rối về câu trả lời của một phụ nữ. Các Sứ thần sẽ coi thường mạng sống của mình. Người anh lớn hơn sẽ hai lần giả bộ. Hai người sẽ chết do bị tức giận, ghen ghét.

    Giải thích:

    Bài này nói về vụ giết chết Công tước vùng Guise và Louis em trai ông, Hồng y giáo chủ vùng Lorraine, ngay trước Giáng sinh năm 1588. Việc này được thực hiện theo lệnh của vua Henri III bởi ông sợ quyền lực chính trị do Công tước và gia đình mạnh thế của ông cai quản. Mẹ của vua là Catherine de Medicis vô cùng tức giận người con trai của mình về những vụ giết người này. Người em trai còn sống sót là Công tước vùng Mayenne có trong tay một lực lượng hùng mạnh ở Pháp với cương vị trung tường và lãnh tụ của Liên minh Thiên Chúa giáo (“hai lần giả bộ” nói trong bài tứ tuyệt).

    (Thế kỷ 1, Tứ tuyệt 85)

    Bài tứ tuyệt:

    Chính quyền của dân thành phố lớn không đồng ý với sự áp bức quá quắt. Nhà vua được triệu tới để rời thành phố, thang áp vào tường, thành phố sẽ ân hận.

    Giải thích:

    Ngày 12 tháng 5 năm 1588, Liên minh Thiên Chúa giáo nhân danh dân chúng, nắm quyền ở Paris. Tiếp đó là Journée des Barricades(2), dân chúng buộc vua Henri III và những người ủng hộ phải lánh xa thành phố. Phản ứng lại của Henri là hợp lực cùng Henri de Navarre, người đã thành hôn với em gái Henri III là Margaret de Valois. Họ tập trung ở St. Cloud và âm mưu cùng nhau chiếm lại Paris. Trước khi kế hoạch này sắp được thực hiện thì vua Henri bị tôn đồ Jacques Clément ám sát.

    (Thế kỷ 3, Tứ tuyệt 50)

    Bài tứ tuyệt:

    Paris âm mưu thực hiện một vụ ám sát lớn. Blois sẽ là nơi thực hiện hoàn tất việc này. Dân Orléans muốn có lại lãnh tụ của họ: Angers, Troyes và Langres sẽ mắc phải tội nhẹ chống lại họ.

    Giải thích:

    Những dòng này nói về việc ám sát Henri, Công tước vùng Guise và Louis em trai ông, Hồng y giáo chủ vùng Lorraine, bị giết vào tháng 12 năm 1588 theo lệnh của vua Henri III. Henri III từ lâu đã là địch thủ của Công tước đầy quyền lực này vì chính vị Công tước đó cũng có tham vọng chiếm ngôi vua nước Pháp. Mâu thuẫn này là do tranh quyền lãnh đạo Liên minh Thiên Chúa giáo do Công tước thành lập năm 1568, trong khi nhà vua lại tìm cách nắm quyền kiểm soát. Henri sợ Công tước mạnh dần lên và sẽ lệnh ám sát ông do một người hộ vệ của hoàng gia thực hiện. Ngày hôm sau, 24 tháng 12, Hồng y giáo chủ cũng bị chung số phận, và cả hai người đều bị sát hại tại Blois. Ngay sau những sự kiện này, người dân Orléans bất bình nổi dậy, lật đổ toàn quyền Balzac d’Entragues. Thay thế ông này là thành viên đầy quyền lực của Liên minh Thiên Chúa giáo, một người trung thành với vị Công tước bị sát hại. Nostradamus nói không đúng trong dòng cuối của bài tứ tuyệt này vì Angers và Langres là những người ủng hộ Liên minh, trong khi Troyes đã thề không theo bên nào cả. Năm sau, 1589, chính Henri III bị tôn đồ Jacques Clément ám sát tại St. Cloud (xem thêm thế kỷ 1, Tứ tuyệt 85).

    (Thế kỷ 3, Tứ tuyệt 51)

    1589

    Bài tứ tuyệt:

    Điều mà lửa đạn hoặc vũ khí không thể làm được thì một cái lưỡi dẻo quẹo sẽ thực hiện được trong hội đồng. Khi ngủ, trong giấc mơ nhà vua sẽ thấy được kẻ thù, không phải nơi chiến trận hoặc nơi máu đổ.

    Giải thích:

    Bài này ám chỉ việc một tôn đồ có tên Jacques Clément sát hại vua Henri III của Pháp năm1589. Nhà vua có linh cảm cái chế của mình ba ngày trước khi sự cố xảy ra khi ông mơ thấy áo bào và y phục của mình bị những tôn đồ và quần chúng dẫm nát. Tôn đồ Jacques Clément tiến gần lại chỗ nhà vua tại cuộc họp hội đồng ở St.Cloud. Người này nói rằng mình là người mang tới vua một bức thư mật, rồi hơi cúi xuống như thể nói về nội dung bức thư đó, và đâm vào bụng nhà vua. Henri không bị chết ngay nhưng qua đời vào ngày hôm sau.

    (Thế kỷ 1, Tứ tuyệt 97)

    1589 –1954 xem 1939/40

    1590

    Bài tứ tuyệt:

    Đã bao nhiêu lần người đã bị bắt, ôi thành phố của Mặt trời? Thay đổi luật pháp man rợ và hão huyền. Một đại hoạ đang đến với ngươi. Ngươi sẽ là chư hầu. Hadrie vĩ đại sẽ phục hồi huyết mạch của ngươi.

    Giải thích:

    Nhiều điều trong bài tứ tuyệt này phụ thuộc vào việc dịch một hoặc hai từ. Một cách hiểu “thành phố của Mặt trời” là nói về Paris đang bị những lực lượng của Henri IV bao vây trước khi ông ta tiến vào năm 1590. Luật pháp “man rợ” có thể là luật pháp của nhóm nổi dậy đã chiếm được Paris. Việc vây hãm Paris kéo dài trong sáu tháng. Nếu Hadrie, hiểu là Henri, thì dòng suối có lẽ nói về hành động của Henri chuyển thực phẩm cho dân Paris đang bị đói. Văn cảnh sẽ thay đổi với những nghĩa khác. “Thành phố của Mặt trời” có thể là một thành phố cổ ở Syria, và nếu Hadrie được đọc là Adrie thì dòng cuối cùng sẽ nói về Venice (xem thêm Thế kỷ 1, Tứ tuyệt 9).

    1594

    Bài tứ tuyệt:

    Trong mối bất hoà có một người vĩ đại mà chẳng mấy giá trị, gặp bế tắc cuối cùng ông ta đã có một hành động gây bàng hoàng. Trong khi Hadrie thấy điều gì là cần, trong đại tiệc ông ta đã đâm những kẻ tự kiêu.

    Giải thích:

    Ở Pháp năm 1594, Liên minh Thiên Chúa giáo ngày càng đe dọa các hoạt động của Nghị viện Nhân dân và làm họ sợ mất quyền kiểm soát. Công tước vùng Mayenne, người em trai sống sót của dòng họ Guise đầy quyền lực (xem Thế kỷ 1, Tứ tuyệt 85), mời tất cả các lãnh tụ của Liên minh đến dự đại tiệc. Theo lệnh của Công tước tất cả những người này đều bị sát hại chết trong khi đang tiệc tùng vui vẻ. Công tước này là người đứnh đầu Liên minh Thiên Chúa và là người nhòm ngó ngôi báu của nước Pháp, hy vọng bằng hành động này địa vị của mình sẽ thẳng tiến. Tuy nhiên Henri IV (Hadrie) thấy rằng, để cứu vãn tình thế và quy tụ được nhân dân sau lưng mình, thì ông phải hoán cải theo đức tin Thiên Chúa giáo.

    (Thế kỷ 2, Tứ tuyệt 55)

    Bài tứ tuyệt:

    Ông ấy sẽ thừa kế vương quốc củaNavarre. Khi Sicily và Naples hợp nhau lại, ông ta sẽ hợp Bigorre và Landes bởi Foix và Oloron, từ một người liên minh rất chặt chẽ với Tây Ban Nha.

    Giải thích:

    Những dòng này nói về Henri, Công tước vùng Navarre, sau trở thành vua Henri IV của nước Pháp năm 1594. Người “liên minh chặt chẽ với Tây Ban Nha” có thể là Elizabeth, vợ của Philip của Tây Ban Nha, con gái của Henri II của Pháp và chính là em họ của Navarre.

    (Thế kỷ 3, Tứ tuyệt 25)

    1596

    Bài tứ tuyệt:

    Từ Barcelona một đội quân hùng hậu đến bằng đường biển, toàn Marseilles run lên vì sợ hãi. Các đảo bị đánh chiếm, biển bao quanh không lối thoát, tên phản bội sẽ bơi trên mặt đất.

    Giải thích:

    Ngày 17 tháng 2 năm 1596, vua Tây Ban Nha Philip II cho tàu thuyền bao vây Marseilles. Chúng được lệnh tiến gần tới cảng và thả neo gần đó rồi chioếm lấy các đảo của Chateau d’If và Ratonneau. Marseilles tiếp tục chống lại cuộc tấn công, nhưng tên phản bội Charles de Caseau âm mưu giao Marseilles cho kẻ thù. Âm mưu của hắn bị bại lộ và lưỡi kiếm của một sát thủ đã kết liễu đời hắn. Phổi hắn đầy máu nên bị ngập mà chết. Nostradamus có thể nghĩ tớ sự việc này nên đã viết là “tên phản bội bơi trên mặt đất”.

    (Thế kỷ 3, Tứ tuyệt 88)

    Bài tứ tuyệt:

    Kho báu được giấu phía dưới hồ, trong bảy tháng và quân độicủa ông ta bị chưng hửng. Người Tây Ban Nha sẽ bị hư hỏng bởi những người ở Alba do chậm khởi chiến, thua trận.

    Giải thích:

    Bài tứ tuyệt này được coi là nói về cuộc tấn công lên 40 thuyền buồm galêon của Tây Ban Nha (dùng ở thế kỷ 15 -17) chất đầy vàng và báu vật, trong vịnh Cadiz năm 1596. Cuộc tấn công được thực hiện bởi hải quân Anh, chỉ huy bởi các Bá tước vùng Essex và Howard và Sir Walter Raleigh. Các tàu thuyền Tây Ban Nha từ chuyến đi đến Nam Mỹ trong 7 tháng trở về, và thả neo ở Vịnh Cadiz (“hồ” từ gaddir mà Cadiz là một từ phái sinh, có nghĩa “một khoảng không khép kín”. Vào vịnh bằng một eo nước hẹp nên người Tây Ban Nha nghĩ là được an toàn, mặc dầu họ đã sớm thấy hạm đội Anh trên biển cả. Cho nên cuộc tấn công là điều đáng ngạc nhiên, và người Tây Ban Nha nghĩ là được an toàn, mặc dầu họ đã sớm thấy hạm đội Anh trên biển cả. Cho nên cuộc tấn công là điều gây ngạc nhiên, và người Tây Ban Nha thà đánh đắm tàu còn hơnđể báu vật rơi vào tay người Anh. Khi Nostradamus viết tứ tuyệt này thì Anh và Tây Ban Nha đã liên minh với nhau vì con gái của Henri VIII Mary Tudor là vợ của vua Tây Ban Nha, Philip II.

    (Thế kỷ 8, Tứ tuyệt 94)

    1599 -1658

    Bài tứ tuyệt:

    Một tên đồ tể hơn là một ông vua Anh đã được sinh ra trong cảnh tối tăm, nhưng dùng sức lực hắn sẽ chiếm được một đế quốc. Một kẻ hèn nhát, không đức tin, không phép tắc luật lệ, hắn sẽ cướp đoạt đất nước. Thời của hắn đang đến gần khiến tôi phải thở dài.

    Giải thích:

    Trong bài này, Nostradamus nói về đời sống và các thời kỳ của Oliver Cromwell, người đã được sinh ra 30 năm sau chính cái chết của ông. Nostradamus rất ghét Cromwell, một người có nguồn gốc tầm thường, là một người Tin Lành, một tội đồ dị giáo “không có đức tin”, ở mức độ nhất định được coi là một tiên tri Thiên Chúa giáo cuồng tín. Cromwell được gọi là một “Tên đồ tể” vì trong Nội chiến Anh có nhiều cảnh giết chóc, kể cả những dân thường. (Xem Thế kỷ 5, Tứ tuyệt 60)

    (Thế kỷ 8, Tứ tuyệt 76)

    1599 -1658 HOẶC 1769 -1821

    Bài tứ tuyệt:

    Từ một chiến binh thường ông ta sẽ có cả một đế quốc, từ một chiếc áo ngắn ông ta sẽ có một chiếc áo thụng. Can đảm trong binh nghiệp, không một người đàn ông nào tồi hơn hắn tới nhà thờ, hắn sẽ quấy rầy các tu sĩ như nước cứ thấm đẫm bọt biển.

    Giải thích:

    Bài này rất ứng với đời sống và sự nghiệp của Oliver Cromwell hoặc Napoléon Bonaparte, cả hai đều gây cho Nhà thờ những vấn đề rất lôi thôi.

    (Thế kỷ 8, Tứ tuyệt 57)

    1601

    Bài tứ tuyệt:

    Mắt của Ravenna có tầm quá hạn hẹp, khi cánh không nhấc khỏi được đôi chân. Người Pháp sẽ dẫm lên hai vùng của Bresse là Turin và Vercelli.

    Giải thích:

    Bài này có thể nói về nhiều trường hợp chiếm đóng của người Pháp, lúc đầu là chiếm Bresse năm 1601. Turin bị chiếm đóng năm 1640 và lại bị chiếm từ 1798 trong gần suốt 20 năm, trong khi Vercelli thì bị năm 1704, và cũng bị chiếm cứ năm 1798. Ravenna (ở đông bắc Ý) là một trong những Cộng đồng của giáo hoàng không bị chung số phận, song vẫn cứ lo ngay ngáy khi đoán chừng rằng, các vùng này đã bị nhòm ngó tới.

    (Thế kỷ 1, Tứ tuyệt 6)

    1607

    Bài tứ tuyệt:

    Số lượng các nhà chiêm tinh sẽ tăng quá nhiều tới mức họ sẽ bị cấm đoán, sách viết ra bị kiểm duyệt. Năm 1607 việc này đã được các vị đáng sùng kính thực hiện, khiến không ai được an toàn dưới bàn tay linh thiêng của các vị đó.

    Giải thích:

    Nhà thờ Thiên Chúa giáo La Mã lo ngại và nghi ngờ khoa chiêm tinh, năm1607, Giáo hoàng Urban VIII cấm lưu hành cuốn sách Dekkers’Almanac (Niên giám Dekkers) gây tác động đặc biệt. Người nào có cuốn sách đó phải chịu rút phép thông công của Nhà thờ, gây nhiều tranh cãi công khai và rất thắc mắc. Mặc dầu sự kiện đặc biệt này xảy ra sau khi qua đời, song Nostradamus, khi còn sống dù là một người Thiên Chúa giáo tha thiết mộ đạo, cũng đã từng bị Nhà thờ gây khó dễ chỉ vì ông quan tâm tới khoa chiêm tinh. Thực ra, càng cấm đoán thì cuốn sách lại càng có nhiều ảnh hưởng, như mọi người đều thấy trong lịch sử đối với những tư liệu bị kiểm duyệt.

    (Thế kỷ 8, Tứ tuyệt 71)

    1610

    Bài tứ tuyệt:

    Vũ khí chiến đấu trên bầu trời trong một khoảng thời gian dài, cái cây dổ giữa thành phố. Nhánh thiên bị tàn phá, một lưỡi gươm trước mặt Tison, rồi vua của Hadrie chết.

    Giải thích:

    Dòng đầu trong bài tứ tuyệt này dường như cho thấy Nostradamus đã tiên đoán được cuộc chiến trên không xảy ra ở thế kỷ 20. Tuy nhiên, “Hadrie” thường được coi là nói về Henri IV của Pháp, và phần còn lại của bài thơ rất phù hợp với sự ám sát nhà vua vào tháng 5 năm 1610. trong văn bản này, dòng đầu có thể ám chỉ một đội quân ma được nghi nhận là đã nhìn thấy trên bầu trời trong lúc xảy ra vụ giết người này. Henri được mô tả như một “nhánh thiên” bở một kế tục ngai vàng làm vua, ông đã được xức dầu. Ông đã bị một tên cuồng tín tôn giáo sát thương chết gần RueTison ở Paris và như vậy là “cái cây đổ giữa thành phố”.

    (Thế kỷ 3, Tứ tuyệt 11)

  • thangbe21

    khoảng 2 10 năm trước
  • Chương 3

    1615

    Bài tứ tuyệt:

    Cậu bé hoàng gia sẽ coi khinh mẹ nó, mắt, bàn chân bị thương, thô bạo, không tuân lệnh. Tin tức đến với quý bà thật lạ lùng và cay đắng, sẽ có trên năm trăm người dân của bà bị giết chết.

    Giải thích:

    Bài này mô tả quan hệ giữa Louis XIII và mẹ mình, Marie de Medicis. Năm 1615 các quân sư của ông vua mười lăm tuổi đã thuyết phục được vua xuất binh chống lại mẹ, khi đó là hoàng thái hậu nhiếp chính. Khoảng năm trăm binh sĩ của bà bị giết chết.

    (Thế kỷ 7, Tứ tuyệt 11)

    1618 – 1648

    Bài tứ tuyệt:

    Quá giận dữ, vua La Mã muốn dùng quân lính man rợ quấy đảo nước Bỉ. Nghiến răng vì tức giận, ông sẽ đánh đuổi những người man di từ Hungari đến tận Gibraltar.

    Giải thích:

    Bài này có thể mô tả các sự kiện trong cuộc chiến tranh Ba mươi năm. “Vua La Mã” là Ferdinand II, Hoàng đế La Mã thánh thiện, một chiến binh Thiên Chúa giáo rất mộ đạo nằm mơ thấy một nước Đức Thiên Chúa giáo. Tuy nhiên, các lực lượng dàn trải chống lại ông rất mạnh – Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy, Saxony và Brandengurg ở phíc bắc đế quốc Ottoman ở phía nam, và những người Tin Lành Đức ở phía tây quanh vùng Rhine. Nga và Ba Lan là một mối đe dọa bổ sung. Cuối cùng Ferdinand hợp nhất với những người Hapsburg Thiên Chúa giáo của Tây Ban Nha dưới quyền vua Philip IV, và một cuộc đụng độ đã tàn phá nước Đức. Kết quả là các hiệp ước WeSt.phalia và được ký năm 1648, thừa nhận chủ quyền của Hà Lan và Thụy Sỹ thống nhất. “Quân lính man rợ” là các lực lượng Tin Lành Đức. Hồng y giáo chủ Richelieu của Pháp có liên quan do việc ủng hộ các lực lượng Tin Lành để làm suy yếu vị trí của Ferdinand và Philip, và ngăn không cho nổi dậy một nước Đức hùng mạnh. Kết quả là hiệp ước WeSt.phalia không được Tây Ban Nha thừa nhận và bị Pháp phớt lờ, cho nên chiến tranh lại tiếp tục cho đến khi Hiệp ước Pyrénées được ký năm 1659.

    (Thế kỷ 5, Tứ tuyệt 13)

    1625 – 1649 HOẶC 1810 – 1814

    Bài tứ tuyệt:

    Sự phẫn nộ Thần thánh gây ngạc nhiên vị đại vương một lúc trước cuộc hôn nhân với một người phụ nữ. Tức thì sự ủng hộ và tôn vinh ông ta trở nên mong manh, Hội đồng, ông ta sẽ chết với cái đầu trọc.

    Giải thích:

    Bài này có thể có hai cách giải thích, một nói về triều đại lộn xộn của Charles I, vua nước Anh và Ai-len, và việc ông bị hành hình năm 1649. Năm 1625, Charles thành hôn với công chúa Thiên Chúa giáo, Henrietta Maria của Pháp, và trong lễ cưới ông ta ra lệnh phải ngưng ngay mọi ngược đãi của những người Thiên Chúa giáo. Nghị viện rất bực vì sự ngạo mạn của vua và không ủng hộ nữa. Cùng thời gian này, việc yêu cầu cung cấp thêm tiền cho cuộc chiến ở Tây Ban Nha bị từ chối. Charles giải thể Nghị viện và chỉ triệu tập lại vào năm 1640 vì ông ta đã hết cả tiền. Năm 1642, tình hình xấu đi tới mức bùng nổ nội chiến giữa Charles với những người Bảo hoàng và những người ủng hộ Nghị viện, là các Roundheads (đầu cạo trọc) do Oliver Cromwell lãnh đạo. Charles bị kết án tử hình do hội đồng chính ông gây dựng nên, theo yêu cầu của những người Roundheads. Cách giải thích thứ hai về bài tứ tuyệt này có thể là việc Hoàng đế Napoléon ly dị Josephine và về sau thành hôn với công chúa nước Áo Marie Louise năm 1810. Điều này gây bất bình cho nhiều người trước đây ủng hộ ông và cả giáo hoàng Pius VII, người đã ra lệnh rút phép thông công Napoléon (người “đầu trọc” nói tới trong tứ tuyệt). Lại có những cảnh tượng tái hợp khi một cậu con trai được sinh cho Napoléon, nhưng ông lại tham gia chiến dịch Nga, khiến đưa ông tới cảnh suy vi.

    1627

    Bài tứ tuyệt:

    Bằng cầu máng ở Uzès và Gard bằng rừng và núi non không thể đến được, ở giữa cầu ông ta sẽ được liên hệ bằng một bàn tay nắm lại, chủ tướng của Nimes sẽ thậm tệ.

    Giải thích:

    Trong cuộc vây hãm Nimes của những người Tin Lành năm 1627 Công tước Rohan chuyển quân đến giúp thành phố này dọc theo cầu máng La Mã, Pont du Gard, chảy từ Uzès đến Nimes cần có một số cấu trúc để các khẩu pháo có thể tiến qua được. Công trình quân sự này thực hiện tốt và Công tước được trao nhiệm vụ (“chủ tướng của Nimes”) khi ông đến thành phố.

    (Thế kỷ 5, Tứ tuyệt 58)

    1623 – 1633

    Bài tứ tuyệt:

    Hoàng thái tử (Pháp) sẽ mang loa kèn vào Nancy. Một cử tri của đế quốc sẽ bị bắt và mang tới tận Flanders. Chướng ngại mới cho Montmorency vĩ đại, bị trừng phạt, trừ ở những nơi công khai.

    Giải thích:

    Hoàng thái tử mang “hoa loa kèn vào Nancy” là Louis XIII đã chiếm được thành phố này tháng 9 năm 1633. Cũng năm đó, một cử tri của thành phố Trèves bị người Tây Ban Nha bắt và đưa tới Flanders (Bỉ). Năm 1632, Montmorency đã cầm đầu cuộc nổi dậy chống lại Louis XIII nhưng thất bại và ông bị bắt làm tù nhân. Đơn thỉnh cầu của gia đình xin cho ông được khoan hồng đã không được chấp nhận, nhưng cũng có kết quả là chỉ bị hành hình kín đáo chứ không đưa ra chỗ công khai. Ông bị chặt đầu trong sân của trại giam.

    (Thế kỷ 9, Tứ tuyệt 18)

    1636

    Bài tứ tuyệt:

    Gần hồ Geneva ông ta sẽ bị một người đàn bà ngoại lai muốn phản bội lại thành phố, dẫn dắt. Trước khi người đàn bà này chết thì đoàn tùy tùng lớn của bà ta sẽ đến Augsburg, và họ sẽ xâm chiếm những vùng của Rhine.

    Giải thích:

    Bài này có thể liên hệ với Cuộc chiến Ba mươi năm, trận đánh Augsburg. Bại trận buộc quân đội của Bernhard, công tước Saxe Wiemar rút lui qua Rhine. Điều này tạo điều kiện cho các đội quân Hapsburg của Ferdinand II chiếm được Augsburg và các thị trấn khác trên sông Rhine. Không rõ ý nói gì về người đàn bà ngoại lai.

    (Thế kỷ 5, Tứ tuyệt 12)

    1640

    Bài tứ tuyệt:

    Trong năm mà Sao Thủy, Sao Hỏa và Sao Kim lùi đi thì dòng họ của đại vương sẽ không bị suy tàn. Được dân Bồ Đào Nha bầu lên gần Pactole và sẽ bị trị vì trong hòa bình trong một thời gian dài.

    Giải thích:

    Bài này dường như mô tả việc người Tây Ban Nha lật đổ Bồ Đào Nha và việc phục hồi Nhà nước quân chủ được dân chúng Bồ Đào Nha chấp nhận.

    Philip II của Tây Ban Nha chinh phục Bồ Đào Nha và làm vua trị vì ở đó cho đến năm 1621. kế tục ông là người con trai Philip III, những năm 1640 người Bồ Đào Nha nổi dậy và đánh đuổi được Tây Ban Nha. Họ phục hồi “vương quốc” của chính mình theo dòng họ đầy thế lực Breganza.

    (Thế kỷ 4, Tứ tuyệt 97)

    1641 – 1649

    Bài tứ tuyệt:

    Từ Vương quốc Anh một người đàn ông vô giá trị bị săn đuổi. Vị quân sư do tức giận sẽ bị thiêu sống. Những người theo ông sẽ nhấn chìm xuống tận đáy sâu tên vô lại đó.

    Giải thích:

    “Người đàn ông vô giá trị” là Charles I, người bị dân chúng xa lánh, và giải tán Nghị viện trong 11 năm kể từ 1629. Chiến tranh ở Scotland và do thiếu tiền khiến Charles phải tái lập lại Nghị viện năm 1640, nhưng nội chính đột ngột nổ ra năm 1642. Một trong các quân sư của Charles là Bá tước vùng St.rafford bị xử trảm năm 1641, và một người nữa là Tổng giám mục Laud bị thiêu sống tại cột thiêu vì phản bội. Những “người theo” nhấn chìm xuống tận đáy sâu, là những người Scotland đã phản bội nbhà vua theo Cromwell. Bản thân nhà vua bị hành hình năm 1649. “Tên vô lại” là Cromwell.

    (Thế kỷ 8, Tứ tuyệt 80)

    1642 – 1643

    Bài tứ tuyệt:

    Vị Hồng y giáo chủ già bị một người còn trẻ lừa và bị hất cẳng khỏi cương vị của mình. Arles không tỏ ra là đã có thấy một bản nữa, Liqueduct và nhà vua được ướp xác.

    Giải thích:

    Trong bài này, Nostradamus tiên đoán việc Hồng y giáo chủ Richelieu bị hất cẳng bởi những người kế tục trẻ của ông là Hầu tước de Cinq-Mars, lúc đó mới 22 tuổi. Richelieu bị buộc phải từ chức, không được Louis XIII tin cậy nữa, Ở Arles, ông có được trong tay một bản sao một tư liệu phản bội do Cinq-Mars và em trai nhà vua ký liên quan tới một thỏa ước Với Tây Ban Nha. Ông khởi hành vội tới Paris để báo cho nhà vua biết, nhưng quá ốm yếu và sau đó ít lâu thì qua đời vào tháng 12 năm 1642. năm tháng sau, chính Luis cũng chết và cả hai thi thể đều được ướp xác.

    (Thế kỷ 8, Tứ tuyệt 68)

    1642 – 1649

    Bài tứ tuyệt:

    Viên đại tá do tham vọng có mưu đồ nắm lấy đại bộ phận quân đội. Chống lại vua là một ý tưởng sai, ông ta sẽ bị phát hiện dưới ngọn cờ của chính mình.

    Giải thích:

    Viên đại tá trong bài này được phần lớn các nhà luận giải chấp nhận cho rằng là Oliver Creomwell, người đã nắm được phần lớn quan sĩ và chống lại các lực lượng bảo hoàng dưới ngọn cờ của chính ông ta. Mặc dầu rõ ràng ông ta là một người có nhiều điều phải lên án, song ông tin rằng con đường mình đi là đúng, nhiều người nói ông ta dối trá nhà vua. Thành công của Cromwell chắc chắn sẽ dẫn tới sự suy vi và cuối cùng là hành hình Vua Charles I.

    (Thế kỷ 4, Tứ tuyệt 62)

    1642 – 1658

    Bài tứ tuyệt:

    Nhà đại hùng biện trơ tráo sẽ được chọn là người cầm đầu quân đội. Sự cả gan trong tranh đấu của ông ta, cái đầu bị sập gẫy, thành phố choáng váng vì sợ hãi.

    Giải thích:

    “Nhà đại hùng biện trong bài này nói về Oliver Cromwell ông ta đã kiểm soát được các lực lượng nghị viện, và cuối cùng cả chính phủ nữa. “Cái cầu gãy” được cho là ám chỉ thành phố Yorkshire của Pontefract (tiếng Latinh là pons fractus) Pontefract là một thành trì của hoàng gia và đã bị bao vây hai lần trong cuộc nội chiến.

    (Thế kỷ 3, Tứ tuyệt 81)

    Bài tứ tuyệt:

    Ông ta sẽ được coi là do những người đầu trọc bầu lên một cách thiếu đạo đức, với một gánh nặng mà ông ta bị đè xuống rụt cả cổ mà vẫn không nhấc lên được. Tức giận nổi cơn thịnh nộ gây ra máu lửa và tất cả nam nữ sẽ bị băm chém thành từng mảnh.

    Giải thích:

    Bài này nói về việc những Roundheads (những người đầu trọc) đã bầu Oliver Cromwell làm lãnh tụ của họ. Không thể mô tả ông ta là “được bầu lên một cách thiếu đạo đức” bởi ông đã nổi lên như một người chiến thắng sau cuộc nội chiến ở Anh và trong các chiến dịch về sau ở Scotland và Ireland.

    Có thể nói được là ông ta không có quyền giữ trách nhiệm bởi đã có một ông vua trị vì theo luật định. Cromwell bị bù đầu vì những trách nhiệm của mình, Cromwell băn khoăn mãi về việc hành hình Charles I, nhưng không còn lựa chọn nào khác. Ông ta tin rằng có Chúa ở bên ông, nhưng trong cuộc chinh phục Ireland nổi dậy năm 1649 ông đã “tức giận nổi cơn thịnh nộ”. Nam nữ già trẻ và các giáo sĩ, mục sư bị đánh đập cho đến chết một cách tàn bạo, nhất là ở Drogheda và Limerick. Về sau Cromwell viết rằng ông đã hành động “trong lúc nóng giận”, cứ như là rất lấy làm tiếc về sự tàn ác. Tuy nhiên ông cũng viết rằng “Thực sự tôi tin rằng những đắng cay này sẽ thấu lòng lành của Chúa mà máu đổ sẽ bớt đi được rất nhiều”. Nostradamus tỏ ra rất chính xác khi đánh giá bản chất và những hành động của Oliver Cromwell.

    (Thế kỷ 5, Tứ tuyệt 60)

  • thangbe21

    khoảng 2 10 năm trước
  • Chương 4

    1643 – 1715 VÀ 1715 – 1774

    Bài tứ tuyệt:

    Do chỉ họ của một người dũng cảm của nước Pháp, đã suy yếu bởi người cha bất hạnh. Danh dự, giàu có việc làm lúc tuổi già của ông ta, vì ông tin hội đồng của một người đơn giản.

    Trái tim, sức mạnh và vinh quang sẽ làm thay đổi vương quốc về mọi mặt, kẻ thù chống lại, nước Pháp sẽ tùy thuộc một đứa bé cho đến chết, vị đại nhiếp chính sẽ là người đối lập nhất.

    Giải thích:

    Bài này nói về triều đình của Vua louis XIV, Le Roi Solei (“Vua Mặt trời”). Sinh năm 1638, lúc 5 tuổi đã là kế vị ngôi báu, và đến năm 1660 mới trở thành vua. Trong những năm vị thành niên của cậu bé, nước Pháp được trị vì theo ý các vị thượng thư. Người kế tục là Louis XV, cũng ở tuổi thiếu thời. Toàn bộ quyền lực của nước Pháp đều rất có hiệu quả đặt trong tay quan nhiếp chính Philippe Công tước vùng Orléans. Dưới triều đại Louis XV nước Pháp gần như phá sản, dù giới quý tộc vẫn cứ giàu có mà nhà nước không làm gì được (“nước Pháp đã suy yếu”). Điều này đã dẫn tới cuộc cách mạng mà trước đó là vụ ám sát nhà vua năm 1757. “Danh dự, giàu có, việc làm lúc tuổi già của ông ta” được cho là nói về Fleury thầy dạy đã già của vua và là linh mục, ông trở thành người có thế lực muộn trong đời khi đã 72 tuổi.

    (Thế kỷ 3, Tứ tuyệt 14,15)

    1644 – 1648

    Bài tứ tuyệt:

    Khi Innocent sẽ giữ vị trí của Peter thì người Sicil Niazaram sẽ đầy vinh dự, nhưng sau đó ông sẽ rơi xuống vũng bùn nhơ bẩn của cuộc nội chiến.

    Giải thích:

    Ngay từ câu đầu của Tứ tuyệt này đã có thể thấy nó nói về thời kỳ Giáo hoàng Innocent X (“Peter”) nắm quyền hành khi được bầu lên năm 1644. Người “Sicil Niazaram” là Hồng y giáo chủ Mazarin của nước Pháp, một gốc Ý đã leo lên được một cương vị có thế lực lớn dưới sự che chở của người tiền nhiệm, Hồng y giáo chủ Richelieu, sau khi Richelieu qua đời vào năm 1643, thì ông chịu trách nhiệm điều hành nhiều công việc của nước Pháp trong giai đoạn cuối của Cuộc chiến Ba mươi năm.

    (Thế kỷ 7, Tứ tuyệt 42)

    1648 – 1649

    Bài tứ tuyệt:

    Pháo đài gần Thames sẽ sập đổ khi vua bị nhốt bên trong. Sẽ được nhìn thấy vua trong chiếc sơ mi, gần cầu, đối diện với cái chết, rồi cấm đoán bên trong pháo đài.

    Giải thích:

    Trong bài này, Nostradamus tiên đoán rất chính xác số phận của Charles I. Sau khi Charles I bị đánh bại và bị bắt vào tháng 12 năm 1648, ông bị cầm tù trong lâu đài Windsor, đã “rơi” vào tay các lực lượng nghị viện do Oliver Cromwell cầm đầu. Từ thời điểm đó Charles “đối diện với cái chết” là cái chắc. Ngày 30 tháng Giêng năm 1649, ông được dẫn tới nơi hành hình, chỉ mặc mỗi một cái sơ mi trắng và không có áo ngoài và bị chặt đầu, cái sơ mi bị máu tóe vào được treo lên một cái cột đèn trên cầu London gây sợ hãi và làm khiếp đảm những người ủng hộ nhà vua.

    (Thế kỷ 8, Tứ tuyệt 37)

    1649

    Bài tứ tuyệt:

    Ghent và Brussels sẽ hành quân chống lại Antwerp. Thượng viện ở London sẽ đặt nhà vua của họ vào chỗ chết. Muối và rượu vang sẽ là biện pháp sai lầm quanh ông, với họ sẽ chỉ còn một vương quốc lộn xộn.
    Giải thích:

    Bài này chắc chắn nói về cuộc hành trình Charles I năm 1649. Phần thứ nhất nói lên các mưu đồ ở châu Âu, với Philip tìm mọi cách chinh phục lại Hà Lan lại kiểm soát được nhiều đô thị và cuối cùng đã tàn phá Antwerp. Dòng thứ hai rõ ràng nói về vụ hành hình, mặc dầu phần sau của tứ tuyệt có tối nghĩa.

    ( Thế kỷ 9, Tứ tuyệt 49)

    1649 – 1655

    Bài tứ tuyệt:

    Họ đã giết chết một người đúng đắn một cách sai lầm giữa nơi công cộng và ở giữa một đám đông, ông đã không còn nữa. Một trận dịch lớn sẽ phát sinh ở nơi đó khiến những người xét xử sẽ buộc phải bỏ chạy.

    Giải thích:

    Bài này nói về việc hành hình Charles I, “người đúng đắn một cách sai lầm” và bị xử tử nơi công cộng. Nostradamus là một người bảo hoàng tận tụy và tin vào quyền năng thánh thiện trị vì của nhà vua, và coi việc giết chết một nhà vua là khủng khiếp. Trong tứ tuyệt này ông suy luận rằng trận Đại dịch giết chết hàng ngàn người ở London 16 năm sau, có thể là một hình thức báo thù của thánh thần nhằm vào những thủ phạm gây ra vụ án.

    1651 HOẶC NHỮNG NĂM 1940

    Bài tứ tuyệt:

    Vào nửa đêm, người cầm đầu quân đội sẽ tự cứu lấy mình đột nhiên biến mất. Bảy năm sau, danh tiếng phục hồi, khi trở lại ông sẽ không nói “được”.

    Giải thích:

    Bài này hơi chung chung nhưng có thể ứng vào hai sự kiện, một xảy ra năm1651 và sự kiện kia xảy ra vào những năm 1940. Năm 1651, Charles II phải chạy trốn sau khi bị thất bại ở chiến trường WorceSt.er. Cromwell nắm quyền lực trong bảy năm, sau cuộc đảo chính quân sự năm 1653. Tuy nhiên mặc dù Cromwell đã chết năm 1658 song con trai ông vẫn giữ quyền thượng nghị sĩ được bảo vệ nhưng đến 1659 thì thôi. Charles II, nhờ có quân đội đã trở lại ngôi báu năm 1660. Một cách giải thích khác liên quan tới tướng MacArthur người đã rút khỏi Philippine năm 1942 và trở lại năm 1944 sau khi đã thâu tóm thành công được người dân ở đó. Bảy năm sau, ông mất quyền chỉ huy. Chữ “ được” có thể liên quan không rõ ràng tới những hy vọng trúng cử tổng thống của ông, điều mà dựtính của ông không bao giờ khẳng định được.

    ( Thế kỷ 9, Tứ tuyệt 4)

    1655

    Bài tứ tuyệt:

    Hạm đội Pháp không đến được Corsia cũng như Sardinia, người ta sẽ ân hận về việc này. Người ta sẽ chết hết, không hy vọng vàosự trợ giúp từ mũi đất, bơi trong máu, sẽ không ai tin tôi cả.

    Giải thích:

    Bài này được cho là nói tới một sự cố liên quan tới hạm đội Pháp khi đi qua Vịnh Lyons năm 1655, gần Corsica và Sardinia. Nhiều tàu thuyền bị chìm trong biển dậy sóng, không thể đến được chẫ đất liền gần nhất là Mũi Porceau (trong bản gốc bằng tiếng Pháp, chữ “mùi đất” được dùng là chữ grogne, cũng có thể có nghĩa là mõm lợn).

    (Thế kỷ 3, Tứ tuyệt 87)

    1660

    Bài tứ tuyệt:

    Trong thời đại mặc đồ tang, khi nhà vua dáng mèo sẽ gây chiến chống lại Aemathien trẻ. Nước Pháp sẽ rung chuyển, tàu thuyền (hoặc thuyền có ba hoặc nhiều buồm) gặp nguy hiểm, Phocens sẽ được thu hút tới, một cuộc trò ở phương Tây.

    Giải thích:

    BåA0i này có nhiều phần dịch mang tính giải thích vì nếu không thì ít thấy được ý nghĩa. Thời mặc đồ tang có thể nói về thời Louis XIII vì “Aemathien” (“đứa trẻ bình minh”) dường như muốn chỉ Louis XIV, Vua Mặt trời. Nhà vua dáng méo có thể là Philip IV của Tây Ban Nha, người theo đuổi cuộc chiến chống lại Louis. Phocens gây dựng nên. “Cuộc trò chuyện ở phương Tây” có thể nói về lúc Louis đi về phía tây nước Pháp để quyết định hòa bình do Pyrénées. Cuối triều đại của Louis XIV nước Pháp có sức mạnh hàng đầu ở châu Âu.

    (Thế kỷ 10, Tứ tuyệt 58)

    1665

    Bài tứ tuyệt:

    Trận đại dịch ở thành phố biển sẽ không ngừng cho đến khi trả thù được cho cái chết của giọt máu chính đáng bị kết án mà vô tội để trả giá, quý bà cao cả bị xúc phạm do vu cáo.

    Giải thích:

    Bài này tiên đoán về trận Đại dịch ở London mà Nostradamus là một người Thiên Chúa giáo một đạo và dùng lời lẽ nặng trong nhiều bút văn của ông chống lại đạo Tin Lành.

    (Thế kỷ 2, Tứ tuyệt 53)

    1666

    Bài tứ tuyệt:

    Máu của những người lương thiện sẽ bị rơi ở London, bị thiêu cháy vào ba lần hai mươi sáu. Quý bà xa xưa từ nơi cao, vị trí cao của bà sẽ rơi xuống, và nhiều giáo phái cùng loại sẽ bị giết chết.

    Giải thích:

    Trong bài tứ tuyệt đáng lưu ý này, Nostradamus tiên đoán chính xác và cho biết cả thời điểm trận Đại Hỏa hoạn ở London năm 1666. “Quý bà xa xưa” có thể là nhà thờ St. Paul, mà cụ thể hơn là tượng Đức Mẹ Đồng trinh trên tháp nhà thờ. “Nhiều giáo phái cùng loại” là nói về các nhà thờ và tập thể những người đi lễ. Hỏa hoạn làm chết nhiều người dân ở London, và “máu của những người lương thiện” nhấn mạnh rằng họ là những nạn nhân vô tội của thảm họa này.

    (Thế kỷ 2, Tứ tuyệt 51)

    1685

    Bài tứ tuyệt:

    Người dân Geneva sẽ bị khô quắt vì đói và khát, sẽ chẳng bao lâu mà ngất xỉu: Luật pháp của xứ Cévennes sẽ ở mức độ gây sợ hãi, hạm đội không thể được vào cảng lớn.

    Giải thích:

    Năm 1685, Louis XIV thu hồi sắc chỉ Nantes (1584), buộc những người Tin Lành ở Pháp phải lựa chọn giữa việc cải hoán chấp nhận đức tin Cơ đốc giáo hoặc phải rời đất nước Pháp. Việc này gây phản kháng nơi những người Tin Lành và đã có nổi dậy ở một thành phố. Các tàu thuyền ý nói phải mang đồ cứu trợ qua hồ Geneva cho những người đang bị vây hãm.

    (Thế kỷ 2, Tứ tuyệt 64)

    Bài tứ tuyệt:

    Một đứa trẻ được sinh ra dị dạng, do bị nghẹt thở đáng hoảng sợ, tại thành phố vị đại vương đang sống. Sắc chỉ nghiêm khắc đối với những tù nhân sẽ được thu hồi, mưa đá và sấm chớp. Miễn tội thật là vô giá.

    Giải thích:

    Phần đầu của bài tứ tuyệt, Nostradamus có thể mô tả người được gọi là “Người đàn ông Mặt nạ sắt”, nói về đứa con trai bất hợp pháp giữa hoàng hậu của Louis XIV, Maria Theresa, và Hồng y giáo chủ Mazarin. “Sắc chỉ nghiêm khắc được thu hồi” có thể là Sắc chỉ Nantes, được vua Louis XIV giải tỏa. Nostradamus không thích sắc chỉ này vì nó để cho những người Tin Lành được tự do thờ cúng, cho nên ông đã mô tả nó rất được trong bài tứ tuyệt này.

    (Thế kỷ 5, Tứ tuyệt 97)

    1687 – 1690

    Bài tứ tuyệt:

    Vua Gallic (tức là thuộc nước Pháp xưa gọi là xứ Gaul) do cánh tay phải của người Celt, suy nghĩ về sự bất hòa của đại vương, sẽ vung vương trượng của mình lên trên ba con báo chống lại vua Pháp với một hệ thống lớn các nhà thờ.

    Giải thích:

    Bài này lại một lần nữa dường như viết về chủ đề của hai bài trên. Dòng đầu nói về William vùng Orange, đại quan Hà Lan, ông nhìn thấy những khó khăn mà James II đang gặp và lật đổ ngai vàng nước Anh. Ba con báo là cách mà Nostradamus dùng để mô tả các con sư tử hoàng gia biểu hiện các dòng họ lâu đời có quyền thế ở Anh. Đó là một cuộc lật đổ nhiều ít không phải đổ máu vì William được nhiều người ủng hộ ở Anh và đã thành hôn với con gái của James là Mary. Nước Pháp lấy làm sợ hãi khi xảy ra những sự kiện này và ủng hộ James trong nỗ lực giành lại ngai vàng của ông.

    (Thế kỷ 2, Tứ tuyệt 69)

    1688

    Bài tứ tuyệt:

    Ba mươi người London sẽ vạch những kế hoạch ngầm chống lại vua của họ, việc này được thực hiện trên biển. Nhà vua và những người kế cận sẽ chết. Một ông vua tóc vàng người Friesland.

    Giải thích:

    Bài này mô tả những âm mưu phế truất nhà vua St. uart cuối cùng, James II, và việc thừa kế ngai vàng của William vùng Orange (William III) (và Hoàng hậu Mary). Ông vua trong dòng đầu là James II Thiên Chúa giáo, thừa kế ngôi báu năm 1685 với đầy rẫy thù địch. Điều này lại tiến tới mức độ cao mới, khi một đứa con trai và là người kế vị được sinh ra năm 1688 và được rửa tội trở thành người Thiên Chúa giáo. Ba mươi nhà quý tộc Tin Lành ngầm vạch kế hoạch và ký một tư liệu, và được Đô đốc Herbert mang đến Friensland (Hà Lan) cho William vùng Orange và vợ ông là Mary, con gái của James II. Tờ kiến nghị thỉnh cầu Wiiiliam Tin Lành gởi hạm đội tới nước Anh, lật đổ bố vợ của ông ta, và những người đã ký vào kiến nghị hứa sẽ hỗ trợ ông. William là một người có quyền, là một người kế vị vì là cháu trai của Charles I, và ông ta đã căng buồm về hướng nước Anh, đổ bộ lên vào ngày 5 tháng 11 năm 1688. Một vài tuần sau, James và những người theo ông sẽ chết đã bỏ trốn, sống lưu vong ở Pháp. Màu tóc của William không được rõ là màu gì, nhưng chắc chắn là người Friesland.

    (Thế kỷ 4, Tứ tuyệt 89)

    1688 – 1689

    Bài tứ tuyệt:

    Người tóc vàng sẽ chiến đấu với cái mũi chẻ và đánh đuổi được trong một trận đấu tay đôi. Ông ta sẽ đẩy lùi được những kẻ sống lưu vong, tống kẻ mạnh nhất trong số họ ra những nơi ngoài biển.

    Giải thích:

    William vùng Orange là “người tóc vàng” nói tới trong tứ tuyệt này, và bè phái của người này đã lật đổ bố vợ của ông ta, James II (“cái mũi chẻ”) năm 1688. James và những người St. uart theo ông (“Những người lưu vong”) rút về Ireland, và được sự giúp đỡ của hải quân Pháp, đã chiến đấu trên biển chống lại các lực lượng Anh. Họ cũng có những thắng lợi đáng kể, nhất là ở Beachy Head, nhưng lại bị đánh bại trong trận Boyne quyết định ở chính Ireland và James buộc phải rút về Pháp.

    (Thế kỷ 2, Tứ tuyệt 67)

    Bài tứ tuyệt:

    Nỗ lực của phương bắc sẽ lớn, qua đại dương, cổng sẽ mở. Triều đại trên đảo sẽ được tái lập, London sẽ run lên khi nhìn thấy các cánh buồm.

    Giải thích:

    Bài này tiếp tục chủ đề của Tứ tuyệt 67, “nỗ lực của phương bắc” là của William vùng Orange. Viên chỉ huy hải quân Anh, Bá tước Torrington là người không quyết đoán và phải chịu trách nhiệm trong nhiều lần bại trận. “Cổng” của biển để mở cho một lực lượng hải quân hùng mạnh tiến vào chiếm lấy quần đảo Anh. “Triều đại trên biển” nói về thời gian James ở Ireland, và London run lên có lẽ phản ánh sự bất an của người dân Anh khi nhận ra là hải quân của họ chưa đủ để chống lại.

    (Thế kỷ 2, Tứ tuyệt 68)

    1701 – 1713

    Bài tứ tuyệt:

    Do một cái chết nước Pháp sẽ đảm nhận một hành trình hạm đội ngoài biển, họ sẽ hành quân ngang qua dãy núi Pyrénées. Tây Ban Nha gặp khó khăn, một đội quân đang tiến lên. Một số quý bà địa vị cao nhất sẽ được đưa về Pháp.

    Giải thích:

    Bài tứ tuyệt này thường được mô tả các cuộc chiến sau khi Philip V, người kế tục Charles II của Tây Ban Nha lên ngôi năm 1700. Vì ông của Philip là Louis XIV của Pháp, nên việc lên ngôi kế tục này gây lo lắng cho một nhóm nước, nên các nước đó đã liên minh chống lại ông. Các nước này gồm có Anh, Hà Lan, Áo và Phổ liên minh lại ủng hộ một người khác muốn chiếm được ngai vàng là hoàng tử Charles. Nước Pháp tung hải quân ra, và quân đội Pháp hành quân trên Pyrénées. Cuộc chiến trên đất Tây Ban Nha kéo dài 12 năm. Các “quý bà địa vị cao nhất” có lẽ là các công chúa Tây Ban Nha thành hôn lần lượt với Louis XIII và Louis XIV và đã sinh ra những người kế vị hoàng gia lên ngôi báu.

    (Thế kỷ 4, Tứ tuyệt 2)

    Bài tứ tuyệt:

    Thánh giá, hòa bình do một người đã hoàn tất một lời thánh thiện Tây Ban Nha và Pháp sẽ hợp nhất với nhau. Một tai họa lớn trong tầm tay, trận chiến rất ác liệt, không một trái tim can đảm nào mà không run sợ.

    Giải thích:

    Bài tứ tuyệt này có thể ám chỉ khoảng thời gian ngắn ngủi nước Pháp và Tây Ban Nha hợp nhất khi Philip V trở thành người kế tục ngai vàng Tây Ban Nha năm 1700. Philip là cháu của Louis XIV của Pháp và là người kế vị Charles II của Tây Ban Nha. “Tai họa trong tầm tay” là Cuộc chiến kế vị Tây Ban Nha, kéo dài tới tận năm 1713. “Thánh giá, hòa bình do một người đã hoàn tất một lời thánh thiện” có thể ám chỉ một sắc lệnh của Giáo hoàng có tên gọi Unigenitus do Giáo hoàng đưa ra năm 1713.

    (Thế kỷ 10, Tứ tuyệt 58)

    1714

    Bài tứ tuyệt:

    Sau khi có chuyện từ những nơi xa xôi đến, thì một Công tước trong họ lên ngôi báu. Việc làm miễn cưỡng này là do từ bên kia đại dương, quý bà được phục dịch trong thời gian đó không được sùng bái nhiều hơn nữa.

    Giải thích:

    Lời tiên tri này nói về sự đăng quang ngai vàng nước Anh năm 1714 của Công tước vùng Hanover, George I. Nước Đức thời Nostradamus được coi là một nước xa xôi, và George I là lại anh em họ với nữ hoàng Anne. (chữ German trong nguyên bản tiếng Pháp có thể có nghĩa người đức, nhưng cũng có nghĩa một “người họ hàng”). “Việc làm miễn cưỡng” phục vụ nước Anh là do bố trí chứ không phải do chinh phục, bởi George I được đề nghị chấp nhận “ngai vàng” đầy uy tín của nước Anh. “Quý bà” được coi là nói về Nhà thờ Thiên Chúa giáo La Mã, bị yếu thế dưới quyền những người Hanover, nhưng cũng có thể là nói về Nữ hoàng Anne.

    (Thế kỷ 2, Tứ tuyệt 87)

    1729 – 1796

    Bài tứ tuyệt:

    Những nỗ lực lớn của một phụ nữ nam tính hướng về phương Bắc gây lo âu cho châu Âu và toàn thế giới. Hai sự lu mờ sẽ buộc phải trốn chạy khiến sẽ gia tăng mức sống còn của người Ba Lan.

    Giải thích:

    Bài này mô tả Catherine Đại đế, hoàng hậu nước Nga, thành công do được thần dân ái mộ và trung thành, dù bà đến đất nước này với tư cách là một công chúa nước ngoài. Catherine là người gốc Đức và được hưởng một nền giáo dục Pháp tinh tế. Thời bà được coi là một chủ tướng có tư tưởng mới, so sánh được với những nhà văn và triết gia thông thái như Voltaire, Diderot và các nhà Báck Khoa khác của Pháp. Catherine đã cố gắng cải thiện nhiều cho những nông nô Nga và tiến hành những cải cách khác trong những năm đầu trị vì, và có thành công nhất định. Tuy nhiên, những tư tưởng của bà được coi là nguy hiểm, nên những điều bà viết ra, “những chỉ dẫn”, bị cấm lưu hành ở Pháp. Rút cuộc là, cuộc Cách mạng Pháp và việc lo lắng nó thức tỉnh những người trong hoàng gia và các nhà quý tộc, đã làm giảm đi các cuộc cải cách khác. Catherine rất nhạy cảm, tinh nhanh trong chính sách đối ngoại và chiếm được nhiều vùng lãnh thổ cho nước Nga và củng cố được vị trí của nước này trên trường quốc tế. Điền này thấy rõ hơn cả là hàng loạt những hành động chia cắt để chiếm lĩnh Ba Lan, bắt đầu từ năm 1772 và kéo dài mãi tới khi đất nước này cuối cùng chịu sự kiểm soát của nước Nga năm 1775.

    (Thế kỷ 8, Tứ tuyệt 15)

    1737

    Bài tứ tuyệt:

    Người tiếp nhận Công tước quốc tế sẽ đến từ nơi biển xa ngoài Tuscany. Một chi họ người Pháp sẽ nắm giữ Florence tiếp sau là một thỏa ước hàng hải liên quan tới con ếch(1) ([chữ frog, nghĩa đen là con ếch, nhưng còn dùng với nghĩa khinh thị để chỉ người Pháp.])

    Giải thích:

    Florence là thành phố chính của Công ước quốc tế Tuscany, và năm 1737 lần đầu tiên thuộc quyền một gia tộc Pháp có thế lực của Công tước vùng Lorraine. Công tước quốc tế này tồn tại cùng dòng họ Lorraine cho đến năm 1859, ngoại trừ những năm sống động của cuộc Cách mạng Pháp.

    (Thế kỷ 5, Tứ tuyệt 3)

    1745 – 1746

    Bài tứ tuyệt:

    Dưới lãnh thổ của mặt trăng tròn, vào lúc Sao Thủy sẽ chế ngự, hòn đảo Scotland sẽ sinh ra một người đầy uy tín gây khó chịu cho người Anh.

    Giải thích:

    Bài này dường như mô tả rất thích đáng Bonnie Công tước Charlie, một người còn trẻ ngấp nghé ngai vàng và những người Jacobite theo ông, đã làm cho người Anh khó chịu, kể cả ở tận Derby miền Nam xa xôi. Đó là một chủ đề của nhiều tự biện về hậu quả của việc Vua Charles Edward St.uart và những người theo ông tiếp tục hành quân đến London.

    (Thế kỷ 5, Tứ tuyệt 93)

    1769

    Bài tứ tuyệt:

    Một hoàng đế được sinh ra gần nước Ý, người sẽ làm cho đế quốc đo phải trả giá rất đắt. Người ta sẽ hỏi ông ta giao du với những người nào. Ông ta là vua thì ít, mà là một đồ tể thì nhiều hơn.

    Giải thích:

    Bài này được nhiều người cho là nói về sự chào đời của Napoléon I. Ông sinh ra ở Corsica mà hai năm trước vẫn thuộc nước Ý. Tuy nhiên, nước Pháp (do Louis XV) đã mua được nơi đó, vì vậy nơi sinh của ông là “gần nước Ý”. Chữ “người” mà ông giao du có thể có nhiều cách giải thích trong đó có cách giải thích là những người dòng dõi bên Josephine vợ ông hoặc anh em trai của ông, những người được nắm chắc các cương vị đầy vinh dự tại các nước khác. Có điều chắc chắn là ông đã làm cho đất nước phải trả giá đắt. Rất nhiều người bị chết ở các chiến trường, và nhiều vùng đất đai chiếm được thì về sau lại mất, và đất nước yếu đi nhiều sau khi ông đã nắm quyền lực.

    1783 – 1794

    Bài tứ tuyệt:

    Từ Montgaulfier và Aventine mà ra, một người qua một cái lỗ sẽ làm hoảng sợ quân lính. Giữa hai tảng đá sẽ lấy được chiến lợi phẩm. Tiếng tăm của Sextus, một người duy nhất, sẽ không còn nữa.

    Giải thích:

    Bài này noi về việc anh em Montgaulfier phát minh khinh khí cầu năm 1783 và việc dùng nó về sau để do thám quân sự (qua một cái lỗ khoét ở đáy giỏ khinh khí cầu). Trái cầu này đã được dùng như vậy trong cuộc chiến Fleurs năm 1794, và nhờ vậy người Pháp chiến thắng giòn dã. Sau đó họ đánh chiếm được, và cướp bóc Rome và Aventine. “Sextus, một người duy nhất” là Giáo hoàng Pius VI, bị Napoléon Bonaparte đuổi khỏi La Mã và chết trong cảnh đầy ải. Năm 1797 ông bị buộc phải cắt bỏ nhiều phần đất thuộc Vatican theo Hiệp ước Tolentino. Đó là chiến lợi phẩm “lấy được giữa hai tảng đá”.

    (Thế kỷ 5, Tứ tuyệt 57)

    1785 – 1794

    Bài tứ tuyệt:

    Đệ tam cấp có những hành động, còn tồi tệ hơn Nero, máu của những người dũng cảm tiếp tục đỗ. Lò thiêu, sẽ được xây lại, một thế kỷ hoàng kim, rồi chết, một vua mới và những cảnh tượng khủng khiếp.

    Giải thích:

    Bài này nói về các sự kiện dẫn tới cuộc Cách mạng Pháp. “Thế kỷ hoàng kim” là triều đại Louis XIV (và cũng là triều đại Louis XV) sẽ không bao giờ còn nữa. Tiếp sau là lễ trao mũ miện cho “vua mới”, và tiếp sau nữa là những sự kiện khủng khiếp của Cách mạng, những người của hoàng gia và nhiều dân thường bị giết chết, và “máu của những người dũng cảm” chảy từ máy chém. Máy chém đặt tại Place de la Révolution (Quảng trường Cách mạng) đối diện với điện Tuileries, tại đó trước kia là các lò nung của “nhà máy” ngói. Máy chém là “lò thiêu” mới, gây ra bao điều kinh khủng, khiếp ở nước Pháp Cách mạng. “Đệ tam cấp” ý nói về Quốc hội do Đệ tam đẳng cấp (các Công xã) thành lập, một trong nhiều tổ chứa được thành lập trong những năm Cách mạng. Trong khoảng thời gian này, những hành động khủng khiếp diễn ra ở Pháp, ngang bằng hoặc còn hơn cả những hành động của Hoàng đế Nero.

    (Thế kỷ 9, Tứ tuyệt 17)

    1789

    Bài tứ tuyệt:

    Từ những người bị bọn vua chúa bắt làm nô lệ đã nảy sinh những bài ca, điệu hát và những đòi hỏi. Trong tương lai, những thứ này sẽ được những bọn ngốc không đầu chấp nhận như những lời nói siêu phàm.

    Giải thích:

    Bài này, một lần nữa, dường như đích thị nói về cuộc Cách mạng Pháp, và có một số nét có thể nhận ra được. Bài ca và điệu hát là của quần chúng đòi hỏi được giải phóng khỏi cảnh nô lệ. Bọn “ngốc không đầu” là nạn nhân của Quý bà Máy chém và có ngầm ý nói về những người ít hoặc không hiểu biết về chính trị.

    Nếu không ngụ ý nói về máy chém thì bài này có thể nói về cuộc Cách mạng Nga năm 1917, đặc biệt là trong có dùng từ “enslaved” (bị bắt làm nô lệ), mà từ này có thể nói về người Slave.

    (Thế kỷ 1, Tứ tuyệt 14)

    Bài tứ tuyệt:

    Vương quốc bị chiếm, nhà vua sẽ gặp phiền toái, quý bà bị dẫn tới chỗ chết, bị nhiều người nguyền rủa. Họ sẽ không chấp nhận cho sống đối với con trai của Hoàng hậu và quý phi. Đối với tất cả củangười vợ.

    (Thế kỷ 9, Tứ tuyệt 77)

    1789 – 1810

    Bài tứ tuyệt:

    Đại Po sẽ người Pháp gây tổn hại lớn, sợ hãi hão huyền con sư tử biển. Người nhiều vô kể sẽ vượt qua biển, một phần tư triệu người sẽ không trốn chạy được.

    Giải thích:

    Một lần nữa, bài tứ tuyệt này nói về các cuộc chiến tranh của Napoléon, nhất là những cảnh đau khổ ở Ý (“Đại Po”?). Có ngầm ý nói về những nỗi sợ hãi của người Anh đối với Napoléon (“con sư tử biển”) mặc dầu sự sợ hãi đó không có cơ sở vì không xảy ra vụ xâm lược nào cả. Năm 1798, Napoléon mang quân vượt biển đến Ai Cập, và cuộc chiến xảy ra sau đó đã làm nhiều ngàn người chết.

    (Thế kỷ 2, Tứ tuyệt 94)

    1789 – 1793

    Bài tứ tuyệt:

    Tinh thần của vương quốc sẽ ngược hẳn với những luật lệ địa phương và người dân sẽ nổi dậy chống lại vua của họ. Một hòa bình mới ra đời, pháp luật thánh thiện tồi đi, Paris chưa từng có rối loạn lớn như vậy.

    Giải thích:

    Bài này mô tả tình trạng bất đồng và rối loạn trong những ngày Cách mạng ở Paris. Luật pháp xưa và các truyền thống bị đảo ngược, vua bị hành hình năm 1793, và trong một thời gian thành phố này gần như ở tình trạng vô chính phủ.

    (Thế kỷ 6, Tứ tuyệt 23)

    1790

    Bài tứ tuyệt:

    Ôi, một người vĩ đại sẽ làm cho khổ sở, và pháp luật thánh thiện hoàn toàn bị tàn lụi. Bằng những luật lệ mới, toàn thể Cơ đốc giáo, khi sẽ tìm thấy những mỏ vàng, bạc mới.

    Giải thích:

    Bài này rất phù hợp với việc giải tán giới tăng lữ ở Pháp và việc giới này bị hành hạ về sau. “Luật lệ mới” có thể là sự Sùng bái Lý trí. Vàng và bạc có thể là những vật sở hữu lấy được từ giới tăng lữ.

    (Thế kỷ 1, Tứ tuyệt 53)

    1790 – 1814

    Bài tứ tuyệt:

    Sét đánh, sấm chớp ở vùng rượu vang Bourgogne là những điềm chẳng lành không thể có ai làm trò bịp bợm mà ra thế được. Thầy tu què sẽ làm cho kẻ thù biết được những việc làm của thượng viện.

    Giải thích:

    Bài này nói về Charles Maurice de Tallyrand-Périgord, một thầy tu què đã ngoi lên được một địa vị cao trong cuộc Cách mạng Pháp và trong thời kỳ Napoléon lãnh đạo đất nước. Đó là cương vị quan nội gián, nhưng lại càng ngày càng có những ý tưởng mâu thuẫn với nhiều chính sách của Napoléon nên đã phải từ chức năm 1807. Sau thời gian này ông đã tích cực ngầm phá hoại cương vị của hoàng đế bằng cách thông đồng với Sa hoàng Alenxander I của Nga. Tallyrand là người góp sức triệu tập thượng viện tháng 4 năm 1814 để phán quyết Napoléon phải trả lại ngôi vua.

    (Thế kỷ 2, Tứ tuyệt 76)

    Bài tứ tuyệt:

    Đại Henry sẽ chiếm Avignon, những bức thư từ La Mã thật ngọt ngào nhưng đầy cay đắng. Bức thư, sứ giả rời khỏi Chanignon, Carpentras bị hắc y công tước gài lông vũ đỏ chiếm.

    Giải thích:

    Avignon đã có một thời là trung tâm quyền lực giáo hoàng, ở đây Nostradamus nói về việc nơi này đã bị vua Pháp chiếm lấy. “Chanignon” hiện vẫn chưa nhận ra ở đâu, nhưng Carpentras thì ở gần Avignon và cũng thuộc quyền cai quản của Vatican. Những bức thư viết những lời lẽ ngọt ngào ngoài mặt trận nhưng thật là cay đắng có lẽ từ Vatican gởi tới. Điều này mãi tới năm 1791 mới xảy ra. Ý nói về Henry không được chính xác, có chăng là nói về hoàng tộc Pháp. Cũng có thể chữ Chyren trong chính bài tứ tuyệt là một từ đảo chữ của Henry, nhưng cũng có thể còn có ý nghĩa khác.

    (Thế kỷ 9, Tứ tuyệt 41)

    1791 - 1793

    Bài tứ tuyệt:

    Ba trăm người sẽ đồng lòng nhất trí cho rằng họ có thể đạt được mục tiêu, hai mươi tháng sau, tất cả những người này bàn bạc với nhau phản bội lại vua, làm ra vẻ căm ghét lắm.

    Giải thích:

    Bài này dường như nói tới bản án và việc hành hình Vua Louis XVI. Louis và hoàng gia đã bị chặn lại và bị bắt vào tháng sáu năm 1791 khi tìm cách trốn chạy khỏi nước Pháp. Quốc hội đã sử dụng nhà vua làm bù nhìn, bắt ký các văn bản lập pháp, đặc biệt là hiến pháp mới có hiệu lực vào tháng chín năm đó. Rồi Quốc hội tự giải tán và một cơ chế mới được hình thành và gọi là Hội đồng lập pháp. Tháng 7 năm 1792 người dân Pháp yêu cầu nhà vua thoái vị và tuyên bố một nước cộng hòa. Cuối cùng Hội đồng quyết dịnh phải xét xử nhà vua và việc này đã xảy ra tháng 12 năm 1792. Ông bị hành hình ngày 21 tháng Giêng năm 1793.

    (Thế kỷ 5, Tứ tuyệt 37)

    1792

    Bài tứ tuyệt:

    Nấp dưới chiêu bài giải phóng nô lệ, người dân và thành phố sẽ chiếm đoạt quyền lực. Ông ta sẽ làm những điều sai trái vì bị một gái điếm trẻ phản bội giữa cánh đồng khi đang đọc một bài thơ giả.

    Giải thích:

    Bài này nói về cuộc Cách mạng Pháp, Louis XVI và Marie Antoinette. Cuộc cách mạng đã tuyên bố giả dối lành dành tự do nhiều hơn cho dân, nhưng thực tế lại không phải như vậy. Marie Antoinette được mô tả bằng những lời lẽ gay gắt trong bài này. Bà ta bị căm ghét vì xa hoa lãng phí trong khi dân thường thì bị đói khát, và bị nghi ngờ là có ngoại tình với một hồng y giáo chủ. Năm 1792 cả hoàng gia bị đưa vào một giáo đường, và vua đã hứa không tìm cách chạy trốn. Tuy nhiên lời hứa này không giữ được và cả gia đình đã bị chặn bắt ở Varenes tháng sáu năm 1792.

    (Thế kỷ 5, Tứ tuyệt 5)

    1792 – 1795

    Bài tứ tuyệt:

    Trước khi nước Pháp rơi vào cảnh đổ nát, bên trong thánh đường hai người sẽ bàn bạc trong nghị viện. Bị một người cưỡi ngựa chiến cầm giáo đâm vào tim không gây ra tiếng động, họ sẽ giành được một nhân vật lớn.

    Giải thích:

    Bài này có thể nói về số phận của con trai thứ hai của Louis XVI và Marie Antoinette là Louis XVII. Khi cuộc Cách mạng lên đến cao điểm năm 1792 thì toàn bộ hoàng gia đang bị giam giữ trong Thánh đường. Nhà vua bị hành hình tháng Giêng năm 1793 và con trai cả của ông bị chết năm 1795. tuy nhiên, không có gì là chắc chắn lắm về số phận của Louis XVII, người đã bị tách khỏi gia đình. Nostradamus dường như muốn nói là cậu bé này đã bị một tên át nhân giết chết và bí mật chôn đi. Lời thuật chính thức về các sự kiện thì nói rằng Louis bị ốm nặng vào tháng năm năm 1795 và chết vào ngày 8 tháng Sáu. Và được chôn trong một nấm mồ không ghi gì cả tại nhà thờ St. Marguerite ngày 10 tháng Sáu. Một số người thời đó không tin như vậy và cho là Louis đã trốn thoát hoặc bị giết chết. Cũng như đối với Nữ Đại công tước Nga AnaSt.asia một thế kỷ sau, sự suy đoán vẫn cứ tiếp tục và trong những năm sau đó, nhiếu người lại bào là một hoàng tử.

    (Thế kỷ 5, Tứ tuyệt 1)

    Bài tứ tuyệt:

    Do bất đồng lớn, kèn hiệu sẽ vang lên. Bất đồng nổ ra, đưa cái đầu cao tít lên, miệng đầy máu sẽ bơi trong máu, mặt được thoa sữa và mật ong, hướng về Mặt trời.

    Giải thích:

    Ở đây lại nói về các mặt của cuộc Cách mạng Pháp, nhất là việc hành hình Louis XVI. “Bất đồng lớn” rõ ràng nói về mâu thuẫn giữa nền quân chủ với Quốc hội, máu phản ánh chính sự hành hình. Cái đầu sau đó được đặt nhìn về phía Mặt trời, xức dầu bằng sữa và mật ong ở lễ đăng quang.

    (Thế kỷ 1, Tứ tuyệt 57)

  • thangbe21

    khoảng 2 10 năm trước
  • Chương 5

    1793 – 1810

    Bài tứ tuyệt:

    Có một cái tên chưa từng thấy là một vua Pháp, quá sợ hãi sét đánh, xưa nay chưa thấy ai như vậy. Ý, Tây Ban Nha và người Anh run sợ, ông ta thấy phụ nữ nước ngoài rất hấp dẫn.

    Giải thích:

    Các dòng này lại một lần nữa mô tả Napoléon Bonaparte, với tính cách một hoàng đế, cái tên của ông hoàn toàn xa lạ với những tên tuổi thuộc các dòng dõi hoàng tộc Pháp. Napoléon rất sợ các nước xung quanh có thể đánh bại ông chỉ bằng cách hợp nhất lại với nhau. Ông ta rất thích phụ nữ nước ngoài, đầu tiên thành hôn với một phụ nữ Crêon (Creole có nghĩa là người da trắng sinh trưởng ở thuộc địa) tên là Josephine de Beauharnais, sau đó là Marie Louis nước Aùo, người tình là Marie Walewska, người Ba Lan.

    (Thế kỷ 4, Tứ tuyệt 54)

    1793 – 1813

    Bài tứ tuyệt:
    Từ thành phố biển và phụ lưu, đầu trọc sẽ chiếm chính quyền, ông ta sẽ đánh đuổi tên bẩn thỉu chống lại mình. Ông ta sẽ nắm quyền chuyên chế trong 14 năm.

    Giải thích:

    Napoléon Bonaparte lúc 24 tuổi đã cầm đầu một chiến dịch thành công chiếm lại Toulon. Lúc đó thành phố này do lực lượng Anh chỉ huy dưới quyền của Arthur Wellesley (về sau là Huân tước Wellington). Sau này, khi Napoléon bắt đầu sự nghiệp chính trị, ông cắt tóc rất ngắn nên binh lính gọi ông bằng một biệt danh trìu mến là “cậu bé tóc đầu đinh” hoặc “đầu cua nhỏ bé” (cua là court, tiếng Pháp, có nghĩa là ngắn, đầu cua là đầu cắt tóc ngắn). Napoléon đã trừng phạt Directoire (Ban chấp chính “tên bẩn thỉu”) và là hoàng đế trị vì đến năm 1814.

    (Thế kỷ 7, Tứ tuyệt 13)

    1794

    Bài tứ tuyệt:

    Con gà trống, các chú chó, mèosẽ không chịu nổi cảnh máu rơi hơn nữa, trong khi đó bạo chúa đã được tìm thấy, mất hết quyền hành vì một vết thương, trên giường của người khác, chân tay gẫy, người không biết sợ đã chết thảm khốc.

    Giải thích:

    Gà trống là nước Pháp, các chú chó, mèo là thường dân, sợ phát ốm vì những cuộc xử tử bằng máy chém trong Triều đại Khủng bố của Robespierre. Robespierre bị bắt ngày 26 tháng 7 năm 1794 nhưng lại được các nhóm của công xã giải thoát ngay và hộ tống đến Hotel de Ville (Toà thị chính, tức là địa điểm của chính quyền thành phố), qua đêm tại đó (“ giường của người khác”). Ngay hôm sau ông lại bị Ban bảo vệ Quốc gia bắt lại và bị bắn vào hàm trong lúc lộn xộn. Tuy nhiên, chân tay ông ta không bị gãy. Ông bị hành hình không xét xử vào ngày hôm sau tại Quảng trường Cách mạng, chính tại nơi này ông đã xử tử rất nhiều người khác.

    (Thế kỷ 2, Tứ tuyệt 42)

    1795

    Bài tứ tuyệt:

    Đất Ý gần núi non sẽ run sợ. Sư tử và Gà trống sẽ không cùng nhau bàn bạc cho tốt. Do sợ mà mỗi bên sẽ giúp bên kia. Chỉ có tự do mới làm dịu được người Pháp.

    Giải thích:

    Bài này nói về các cuộc chiến của Napoléon gây ra ở Ý, bắt đầu từ năm 1795, núi non là nói về dãy Alpes. Tiếp su chiến dịch đánh chiếm được Toulon, quan hệ giữa Anh (“Sư tử”) và Pháp (“Gà trống”) ngày càng trở nên thù địch. Về sau, dưới thời Louis XVIII, một tinh thần hợp tác lại được tiếp tục, và người Pháp không còn bị những hành động thái quá của nền quân chủ tuyệt đối tác động nữa.

    (Thế kỷ 1, Tứ tuyệt 93)

    Bài tứ tuyệt:

    Vạn sự ở đại Lyons đã thay đổi. Phần lớn đã sớm lụi tàn. Con mồi cho lính tráng cướp bóc. Núi vùng Jura và Thụy Sĩ có sương mù.

    Giải thích:

    Tháng 10 năm 1795 thành phố Lyons trong tình trạng nổi dậy chống lại quân cách mạng Pháp, và đã bị bao vây trong hai tháng. Nhiều dân thường bị chết, và sau khi quân đối phương vào thành phố thì những người lợi dụng lúc nhốn nháo đã cướp bóc, gây hư hại đáng kể. Tuy nhiên, những ghi nhận hiện nay không thấy nói đến sương mù trên núi.

    Bài tứ tuyệt:

    Quân Celtic sẽ chống lại những người vùng cao khi họ bị phát hiện và bị phục kích bắt. Những người nông dân tức giận sẽ bị đẩy lùi đến vùng đầm lầy và tất cả sẽ bị đặt dưới lưỡi gươm.

    Giải thích:

    Bài này có thể nói về trận đánh ở Brittany giữa quân của nước Pháp cộng hòa và những người nông dân Chouan. Những người này đã bị đánh bại và phần lớn trong số họ đều bị giết chết, hoặc trng chiến trận, hoặc về sau này, khi họ bị săn lùng và hành hình.

    (Thế kỷ 4 Tứ tuyệt 63)

    Bài tứ tuyệt:

    Ở vị trí một người quan trọng, người ấy sẽ bị kết án, rồi ở ngoài nhà tù, người bạn sẽ thế chỗ người ấy. Hy vọng Trojan (người của thành Troy thời cổ đại) trong sáu tháng được hợp lại, chết non, Mặt trời trong cung Bảo bình, sông sẽ đóng băng.

    Giải thích:

    Trong bài này, Nostradamus góp phần tranh luận về số phận của Louis XVI, bị bỏ tù trong cuộc Cách mạng cùng với những người khác trong gia đình nhưng bị tách riêng ra. “Hy vọng Trojan” nói về dòng dõi hoàng tộc Pháp, và Nostradamus dường như muốn nói là một đứa trẻ khác đã được thay thế cho hoàng tử trong những tháng đầu của năm 1795. Dường như sự thay thế này, nếu quả có xảy ra, thực hiện chẳng bao lâu mà bị “chết non”, có thể có nghĩa là cả hai bé trai đều chết. Theo văn bản chính thức về những sự kiện này thì hình như Nostradamus cũng nói như vậy trong Thế kỷ 5, Tứ tuyệt 1, rằng hoàng tử nhỏ tuổi bị ốm và chết ngày 8 tháng Sáu và sau đó được chôn trong một nấm mồ không ghi gì cả tại Nhà thờ St.Marguerite ngày 10 tháng Sáu.

    (Thế kỷ 6, Tứ tuyệt 52)

    Bài tứ tuyệt:

    Tại thành phố mới, nghĩ nhiều đến việc lên án, con chim săn mồi lảng vảng trên bầu trời. Sau chiến thắng, những người bị bắt sẽ được xá tội. Ở Cremona và Mantua sẽ phải chịu nhiều đau khổ.

    Giải thích:

    Bài này có thể liên quan tới chiến dịch Ý đại lợi của Napoléon. Không có những mệnh lệnh đặc biệt, Napoléon cứ tiến đến được Villa Nova (“thành phố mới” rồi tiếp tục giành được Mantua. Quân của ông bao vây thị trấn này và nó đã tự vệ được nhiều tháng. Khi thị trấn bị thua, Napoléon rất cao thượng với cư dân ở đó. Bất hạnh là đúng hai năm sau, cả Mantua và Cremona đều bị người Áo chiếm đóng và họ đã không khoan dung như vậy. “Con chim săn mồi” chính là Napoléon.

    (Thế kỷ 1, Tứ tuyệt 24)

    1796

    Bài tứ tuyệt:

    Trước trận đánh tiến hành, vang lên một bài hùng biện, Milan bị đại bàng c%E1??p do bị lừa là có quân phục kích săn. Các tường cổ bị pháo bắn đỏ, trong máu rơi lửa cháy không mấy người được giúp đỡ.

    Giải thích:

    Bài này mô tả chiến dịch Ý đại lợi của Napoléon, và cụ thể hơn là việc chiếm lấy Milan ngày 15 tháng 5 năm 1796. Trước trận đấu Napoléon đã nói chuyện trước ba quân thiếu ăn của mình, với một giọng nói hùng hồn, khơi dậy khí thế nhiệt tình của họ. Sự thật thì Milan đã đầu hàng không chống cự, và có thể hai câu cuối cùng là nói về trận đánh tiếp sau, chiếm thành phố Pavia. Cư dân ở đây chống lại cuộc tấn công của Pháp, kết quả là tường thành bị pháo binh bắn phá tan tành và thành phố bị cướp phá, rất nhiều người bỏ mạng.

    (Thế kỷ 3, Tứ tuyệt 37)

    1797 VÀ 1808

    Bài tứ tuyệt:

    Tấc cả bao quanh thành phố lớn, binh lính đóng trên các cánh đồng và những thị trấn, thị xã, Paris sẽ đột kích, Rome bị kích động, trên cầu sẽ xảy ra cướp bóc lớn.

    Giải thích:

    Bài này mô tả việc các lực lượng Pháp cướp bóc Rome (“thành phố lớn”) dưới sự chỉ huy của Napoléon Bonaparte năm 1797 và 1808. Giáo hoàng Pius VI bị đuổi khỏi Rome và chết khi bị đi đày sau lần tấn công đầu tiên. Giáo hoàng Pius VII bị bắt trong lần tấn công thứ hai vào năm 1808.

    (Thế kỷ 5, Tứ tuyệt 30)

    Bài tứ tuyệt:

    Pau, Nay, Loron, trong khói lửa, máu sẽ nhiều hơn, tràn ngập trong những lời ca, nhân vật quan trọng sẽ chạy đến chỗ hợp lưu (của các dòng sông). Ông sẽ từ chối không cho các tên hay ba hoa (magpies) vào Pampon, Durance sẽ giam cầm họ.

    Giải thích:

    Bài thơ có vẻ tối nghĩa này đã được một số các nhà bình giải cho là nói về Napoléon Bonaparte và cách xử sự với hai vị giáo hoàng, Pius VI và Pius VII. Nếu sắp xếp lại các từ Pau, Nay, Loron thì có thể thành Napaulon Roy, có nghĩa là “Vua Napoléon”. Từ Magpie trong tiếng Pháp là pie hoặc pius, có thể là một kiểu chơi chữ điển hình của Nostradamous. Napoléon là một cái gai lớn đâm vào da thịt Rome và chế độ giáo hoàng, cho nên ông ta mới bắt đầu cầm tù cả Pius VI lẫn Pius VII. Pius VI chết năm 1798 trong tù đày và Pius VII bị cầm tù năm 1808, nhưng sau được tha.

    (Thế kỷ 8, Tứ tuyệt 1)

    1798

    Bài tứ tuyệt:

    Viên thủ lĩnh sẽ chỉ huy nhiều vô kể người ta, đi rất xa đến nơi ở những tập quán và ngôn ngữ xa lạ. Năm ngàn sẽ kết thúc tại Crete và Thessaly, viên thủ lĩnh lảng tránh, được cứu trong một nhà kho đi biển.

    Giải thích:

    Tiếp sau chiến dịch của Napoléon ở Ai Cập, ông buộc phải trốn chạy trong nmột chiếc thuyền tiếp tế bằng gỗ và về được tới Pháp mà không bị các hải thuyền của Anh bắt lại. Ông để lại phía sau một đoàn quân 5 ngàn người đã kiệt sức phải đối diện với người Thổ Nhĩ Kỳ lúc đó đang đóng tại Crete và Thessly.

    (Thế kỷ 1, Tứ tuyệt 98)

    1798 – 1802

    Bài tứ tuyệt:

    Một công tước sẽ đến Sardinia và chỉ giữ được vương quốc đó trong 3 năm. Ông sẽ hợp cùng nhiều màu cờ, sau dự chăm sóc và nâng giấc cho ông là những buồn phiền, chế nhạo và hoạn nạn sẽ đến.

    Giải thích:

    Vua Charles Emmanuel bị Pháp chiếm mất nhiều đất đai, ông bỏ đến Sardinia năm 1798 và ở tại đó trong 3 năm. Ông thoái vị (nhường ngôi cho em trai là Victory Emmanuel I) và sống lưu vong tại Rome, hợp cùng dòng Tên cho đến lúc qua đời năm 1819.

    (Thế kỷ 8, Tứ tuyệt 88)

    1799

    Bài tứ tuyệt:

    Một hạm đội bị đánh phá gần nơi sóng biển Adriatic, mặt đất rung lên, ném lên không trung rồi lại rơi xuống đất liền. Ai Cập run sợ, người Hồi giáo tăng lên, sứ giả được gởi ra xin đầu hàng.

    Giải thích:

    Bài này được cho là có ngầm ý nói về cuộc viễn chinh của Napoléon sang Ai Cập, tại đó lưc lượng của ông đã bị người Anh đánh bại trên sông Nile. Chiếc thuyền do đô đốc hải quân Pháp chỉ huy đã bị nổ tung, các mảnh bị phá vỡ văng xa lên đất liền. Napoléon tiếp tục vây hãm lực lượng Thổ Nhĩ Kỳ tại thành phố Arce, dù quân lính của ông đang bị nạn dịch hoành hành. Một sứ giả được phái tới xin cho thành phố được đầu hàng, nhưng đã bị từ chối. Do chính mình cũng ở thế yếu, Napoléon buộc phải chấm dứt bao vây.

    (Thế kỷ 2, Tứ tuyệt 86)

    1799 HOẶC 1981

    Bài tứ tuyệt:

    Giáo hoàng La Mã cảnh giác với việc đến gần thành phố có hai con sông chảy qua. Mi sẽ thổ ra máu ở đó, cả mi lẫn những người của mi, khi hoa hồng nở.

    Giải thích:

    Bài này nói về cái chết của Giáo hoàng Pius VI bị cầm tù năm 1799 khi Rome thất thủ vào tay người Pháp dưới quyền của Napoléon. Vị giáo hoàng này chết tháng Tám năm đó (khi những bông hồng nở) trong khi nôn và thổ ra máu. Hai con ông được nói tới là sông Saône và Rhône, và Giáo hoàng bị cầm tù ở Valence. “Mi và những người của mi” ngầm ý nói tới các linh mục bị bắt cùng giáo hoàng. Các nhà bình giải khác đã liên hệ bài tứ tuyệt này với việc tìm cách ám sát Giáo hoàng John Opaul II năm 1981. Một viên đạn làm bị thương đã gây cho ông chảy máu nhiều ở bụng.

    (Thế kỷ 2, Tứ tuyệt 97)

    1800

    Bài tứ tuyệt:

    Người Pháp vượt qua núi và sẽ chiếm lĩnh trung tâm lớn Insubria. Ông ta sẽ đưa quân vào sâu. Genoa và Monaco sẽ đầy được hạm đội đỏ ra.

    Giải thích:

    Bài này mô tả những sự kiện xảy ra năm 1800. Đầu tháng 5 đó, Napoléon mang 40 ngàn quân băng đèo St. Bernard sau khi vượt dãy Alpes, và mở cuộc tấn công vào người Áo đang chiếm đất ở Ý. Ông đã lật đổ được họ tại Milan (Isubria) ngày 1 tháng Sáu. Monaco bị hạm đội Anh bao vây và tấn công ngày 23 tháng Năm, trong khi Genoa bị nước Áo bao vây và đánh bại ngày 4 tháng Sáu. Song cuối cùng thì người Áo lại bị lực lượng Pháp đánh bật ra, và Napoléon trở về Paris trong chiến thắng và được chào đón như một anh hùng.

    (Thế kỷ 4, Tứ tuyệt 37)

    1801 – 1814

    Bài tứ tuyệt:

    Rất gần dãy núi lớn Pyrénées, một người sẽ tuyển mộ một đoàn quân lớn chống lại con đại bàng. Mạch bị mở và sức mạnh tiêu tan. Viên thủ lĩnh sẽ đuổi họ tới tận Pau.

    Giải thích:

    Các dòng này mô tả cuộc hành quân của quân hạm đội Anh, dưới quyền chỉ huy của tướng Arthur Wellesley, về sau trở thành Công tước Wellesley, đi qua Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, vào Pháp sau khi băng qua dãy Pyrénées. “Đại bàng” là Napoléon, dù rằng khi Wellesley tiến quân vào Madrid năm 1812 thì vị hoàng đế này đang chỉ huy các trận đánh ở Nga. Quân của Pháp bị đẩy lui liên tục. Tuyến cung cấp cho đoàn quân của họ bị cắt đứt (“mạch bị mở và sức mạnh bị tiêu tan”), và họ buộc phải rút về tận sông Pau.

    (Thế kỷ 4, Tứ tuyệt 70)

    1807

    Bài tứ tuyệt:

    Milan, Ferrare, Turin và Aquilia, Capua và Brindisi sẽ bị dân Celtic làm cho lo âu đau buồn, gần sư tử và móng vuốt của đại bàng, Rome sẽ có “người Anh xưa, cai quản”

    Giải thích:

    Bài này có thể mô tả tình hình năm 1807 khi Napoléon và người Pháp nắm quyền hành ở mọi miền nước Ý như đã kể ra ở bài tứ tuyệt. Năm 1807, người cuối cùng của hoàng gia St.uart, Hồng y giáo chủ Yotk chết tại Rome, “người Anh cai quản xưa” người có tổ tiên là các vua chúa nước Anh và Scotland.

    (Thế kỷ 5, Tứ tuyệt 99)

    1808

    Bài tứ tuyệt:

    Khi căng buồm chạy, vị giáo hoàng tầm cỡ sẽ bị bắt, giới tăng lữ bối rối, vô cùng náo động. Người thứ hai được bầu vắng mặt, lòng lành của ông ta bị hạ thấp. Tên vô lại chịu làm cho chết.

    Giải thích:

    Những dòng này dường như nói về việc quân Pháp và Napoléon bỏ tù Giáo hoàng Pius VII năm 1808, sau đó là chiếm lấy Rome. Nhà thờ Thiên Chúa giáo bị bãi bỏ. Pius VII thực ra năm 1804 đã tới Paris để làm lễ đăng quang hoàng đế cho Napoléon, cho nên hành động bắt ông thật đáng hổ thẹn. “Người thứ hai được bầu vắng mặt” có thể nói về Giáo hoàng Pius VI, bị lưu đày và chết ở Valence, một hậu quả trực tiếp của hành động của Napoléon. “Tên vô lại được ân huệ” là chính Napoléon (kẻ hưởng ngôi báu nước Pháp bất hợp pháp). Có lẽ chữ “được ân huệ” là nói về việc giáo hoàng đã thừa nhận và làm lễ đăng quang cho ông ta thành hoàng đế.

    (Thế kỷ 5, Tứ tuyệt 15)

    1809 – 1865

    Bài tứ tuyệt:

    Sự hào nhoáng long trọng sẽ hạ thấp đôi cánh khi nhà lập pháp lớn đến. Ông ta từ nghèo khổ mà ngoi lên, và làm cho bọn phiến loạn phải sợ, không một người nào được sinh ra trên đời này sánh được với ông.

    Giải thích:

    Bài này dường như mô tả Abraham Lincoln, sinh năm 1809 và là tổng thống vĩ đại nhất giữ cương vị này của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Ông đã đi lên từ nguồn gốc cực kỳ nghèo khổ, đạt cương vị cao nhất đất nước, và hết sức dành cả đời cho “ tự do và công bằng cho mọi người”.

    (Thế kỷ 5, Tứ tuyệt 79)

    1810 – 1814 xem 1625 – 1649

    1812

    Bài tứ tuyệt:

    Theo lời thầy bói điềm thì đất La Mã sẽ bị người Pháp gây khó chịu, phiền hà. Những người Celtic sẽ sợ lúc có gió bấc, đầy hạm đội của họ đi rất xa.

    Giải thích:

    Nước Ý (“đất La Mã”) phải chịu đựng trong tay quân lính của Napoléon, năm 1810 các Khu Giáo hoàng của Vatican đã chịu khuất phục. Những dòng cuối của bài tứ tuyệt này dường như nói về chiến dịch Nga gặp đầy tai họa năm 1812 khi khí hậu mùa đông cắt ruột (“gió đông”) gây cho quân lính của Napoléon nhiều cực khổ và mất mát. Chỉ một phần mười số quân trên 450 ngàn người trở về được nước Pháp. “Hạm đội” bị đầy “quá xa” có thể nói về hải quân Napoléon sớm bại trận trước người Anh tại chiến trường Trafalgar năm 1805.

    (Thế kỷ 2, Tứ tuyệt 99)

    1812 – 1813

    Bài tứ tuyệt:

    Một đoàn quân được tập hợp lại sẽ từ Slavonia đến, người phá bỏ làm tan thành phố cổ, ông ta sẽ thấy đế quốc La Mã của mình bị hoàn toàn cô lập, rồi chẳng biết làm thế nào để dập được ngọn lửa lớn.

    Giải thích:

    Bài này mô tả cuộc hành quân của Napoléon qua nước Nga, và chiếm được Moscow, một “thành phố cổ” bỏ hoang. Ngày 14 tháng 12 năm 1812 một số người yêu nước Nga đã đốt cháy thành phố cổ bằng gỗ này, và người Pháp không sao dập tắt được ngọn lửa. “Ngọn lửa lớn” còn có thể ngầm ý nói về các trận chiến do các nước này hợp nhất lại chống Napoléon và đưa ông ta đến thất bại. “Đế quốc La Mã” có thể nói về vương triều mà Napoléon hy vọng mình sẽ đặt được nền móng, và thực tế đứa con trai sơ sinh của ông ta đã được phong Vua La Mã. Napoléon đã sống để nhìn thấy mọi hy vọng của ông đều tiêu tan như đã mô tả trong bài tứ tuyệt.

    (Thế kỷ 4, Tứ tuyệt 82)

    1813 – 1814

    bài tứ tuyệt:

    Con đại bàng bị đẩy lùi về quanh lều bait sẽ bị những chim khác chung quanh đánh đuổi. Rồi âm vang của kèn trống sẽ làm tỉnh lai quý bà mất trí.

    Giải thích:

    “Con đại bàng” là Napoléon trong chiến dịch Nga đầy chủ quan, đã bị đẩy lùi khỏi Moscow bởi các “con chim khác” là Nga, Thổ và Áo. “Quý bà mất trí” có thể là Josephine, vợ đầu tiên của Napoléon, về sau Napoléon ly dị để cưới Marie Louis của Áo. Cách giải thích khác là dòng này nói về sự điên rồ của nước Pháp khi chấp nhận chiến dịch này để rồi thất bại. Việc làm tỉnh lại, có thể nói về tình cảnh lưu đày của Napoléon và sự phục hồi của vua Louis XVIII.

    (Thế kỷ 2, Tứ tuyệt 44)

    1814

    Bài tứ tuyệt

    Một người Pháp dùng chiến tranh sẽ chiếm đóng một đế quốc, và sẽ bị em rể phản bội. Người này sẽ bị một con ngựa hăng máu kéo lê, do hành động này mà người em ấy bị ghét bỏ.

    Giải thích:

    Bài này liên quan đến một người họ hàng ngoại tộc của Napoléon. Em gái ông là Caroline thành hôn với Công tước Naples Joachim Murat, năm 1814 người này đã phản bội lại Napoléon. Tuy nhiên, năm 1815 lại đứng về phía Napoléon. Hành động tiến quyền Napoléon là một nét thường thấy ở những người có họ hàng với ông, Murat không phải ngoại lệ.

    (Thế kỷ 10, Tứ tuyệt 34)

    1815 xem 1812

    1815 HOẶC 1939 – 1945

    Bài tứ tuyệt:

    Trong tháng thứ ba, lúc mặt trời mọc, có cuộc chiến giữa con lợn rừng và con báo tại cánh đồng Mars. Báo mệt lử người như lên trời thấy một con đại bàng bay quanh mặt trời.

    Giải thích:

    Theo những phân tích gần đây thì đây là một trong những bài nổi tiếng nhất của Nostradamus. Nó mô tả trận Waterloo ngày 18 tháng Sáu. Kế hoạch là Thống chế Blucher và các cánh quân Phổ của ông sẽ gặp Wellington ở Waterloo, nhưng trước đó quân Phổ đã bị đánh lui tại Ligny nên sự hẹn hò gặp nhau đó bị chậm lại. “Con báo” là cách nói khác về con sư tử Anh, và con báo Anh đó đã bị quân Pháp tấn công suốt ngày cho đến lúc hoàng hôn. Bulcher đến kịp, nổ sóng chống lại quân Pháp. ‘Đại bàng” có thể là chính Napoléon và cờ xí của các đoàn quân của ông, và vì Wellington hướng về phương nam nên những thứ đó trông như là đang bay quanh mặt trời. Mặc dù cuộc chiến xảy ra tháng Sáu, nhưng Nostradamus lại nói tới “tháng thứ Ba”. Điều này có thể nói ba tháng sau là tháng Ba là hạ chí (vào tháng Sáu), hoặc nói về ba tháng ngự trị của Napoléon khiến trận đánh kết thúc.

    Mặc dù người ta thấy cách giải thích này có phần đáng chú ý, song một cách giải thích khác nói là có thể con báo Anh đang chiến đấu với con lợn rừng Đức, và con đại bàng Mỹ chuẩn bị sà xuống để lấy cắp, tức là nói về Thế chiến II.

    (Thế kỷ 1, Tứ tuyệt 23)

    1815

    Bài tứ tuyệt:

    Đế quốc lớn đó sẽ sớm thể hiện và trở thành một nơi nhỏ bé chẳng quan trọng là bao. Ở giữa nới đó người ấy sẽ phải đặt vương trượng của mình xuống.

    Giải thích:

    Việc biến một đế quốc thành thứ không mấy đáng kể đã mô tả hùng hồn sự sụp đổ của Napoléon sau thất bại ở Waterloo. Đầu tiên ông đưa tới Elba rồi đến St.Hélène, từ đó không thấy trở về.

    (Thế kỷ 1, Tứ tuyệt 32)

    Bài tứ tuyệt:

    Do xung đột mà vua sẽ phải bỏ vương quốc, viên chỉ huy quan trọng đã chịu thất bại vào lúc cần. Chết chóc, huỷ diệt, một số chạy thoát, tất cả bị chém giết, chỉ có một nhân chứng còn lại.

    Giải thích:

    Bài này thường được cho là nói về thất bại của Napoléon ở Waterloo. Viên chỉ huy quan trọng có thể là Thống chế De Grouchy, và binh sĩ của Napoléon phải chịu cảnh bàng hoàng và thất bại không thể đảo ngược. Napoléon bị buộc phải thoái vị và sống sáu năm cuối đời trong lưu đầy đơn độc trên đảo St.Hélène ở Nam Đại Tây Dương, một chứng nhân về sự thăng trầm trong công danh sự nghiệp của chính mình.

    (Thế kỷ 4, Tứ tuyệt 45)

    Bài tứ tuyệt:

    Ông vua bị bắt bị đánh bại ở Ý sẽ từ Genoa đến Marseilles bằng đường biển. Một lực lượng lớn người nước ngoài giúp tháot khỏi, cứu thoát một phát đạn, một thùng mật ong.

    Giải thích:

    Một lần nữa Nostradamus lại nói về Napoléon khi ông bỏ trốn thoát nơi cầm giữ ở Elba. Ông cập bean gần Marseille, ở Cannes. Ông bị đánh bại ở Waterloo, mật ong là biểu tưởng của ông.

    (Thế kỷ 10, Tứ tuyệt 24)

    1820

    Bài tứ tuyệt:

    Người cháu trai sẽ tỏ rõ có sức mạnh lớn. Một trái tim nhu nhược đã gây trọng tội. Công tước sẽ xét tới Ferrare và Ast.i, khi vở hài kịch trình diễn vào buổi tối.

    Giải thích:

    Sự kiện mô tả ở đây là vụ ám sát Công tước de Berry xảy ra khi xem xong buổi trình diễn tối vở opera hài ở Paris ngày 13 tháng 2 năm 1820. người cháu trai là Louis Napoléon Bonaparte (Napoléon III), một người có hy vọng lên ngôi, do con trai và là người kế vị Charles X bị sát hại.

    (Thế kỷ 4, Tứ tuyệt 73)

    1820 – 1838

    Bài tứ tuyệt:

    Cái cây đó đã chết từ lâu và héo quắt, song ban đêm sẽ tươi tốt lại. Vua, ông của cậu sẽ bị ốm yếu đau buồn, hoàng tử có một bàn chân bị quắt lại. Việc sợ kẻ thù sẽ làm hoàng tử phải vội căng buồm.

    Giải thích:

    “Cái cây đã chết từ lâu và héo quắt” trong bài này có thể nói về Công tước Berry bị ám sát 1820. “Sự tươi tốt lại vào ban đêm” ý nói con trai ông được sinh ra bảy tháng sau vụ sát nhân ngày 28 tháng Chín năm đó. Đứa bé này, Công tước Bordeaux, là người kế tục ngai vàng nước Pháp đã bị tai nạn khi cưỡi ngựa năm 1841, khiến bị què vĩnh viễn. Tuy nhiên, do số phận mà ông không được đăng quang ngôi báu và gần như suốt đời sống lưu vong cùng người ông tuổi đã già, Charles X. Vào giữa những năm 1800, nước Pháp đã kiên quyết từ bỏ chế độ quân chủ và thiết lập một nền cộng hòa dưới quyền một tổng thống, và hoàng đế sau này là Louis Napoléon Bonaparte.

    (Thế kỷ 3, Tứ tuyệt 91)

  • babyson82

    khoảng 2 10 năm trước
  • Không muốn phá topic của thangbe21 nhưng Nostradamus is the best. Không nhớ chính xác năm tháng nhưng theo bbs nhớ trong mộ của Nostradamus có một miếng gỗ (?) ghi chính xác năm mà mộ của ông bị những người săn kho báu đào bới, khai quật - gần 300 năm (?) sau ngày ông chết. Nhờ thangbe21 correct lại hộ.

  • thangbe21

    khoảng 2 10 năm trước
  • Chương 6

    1820 – 1846

    Bài tứ tuyệt:

    Xuất thân từ một nhánh đích thực hoa loa kèn (huệ tây) là người kế vị, sống ở Etryria, dòng máu xa xưa từ lâu đã được bàn tay se lại sẽ làm cho chiếc áo khoác ngoài của Florence thật lẫy lừng.

    Giải thích:

    Đây là một bài khác mô tả Henri de Bourbon, Công tước vùng Bordeaux, sinh năm 1820 bảy tháng sau khi người cha là Công tước Berry bị ám sát chết. Ông là cháu trai và là người kế vị Charles X của nước Pháp, nhưng bị buộc phải sống lưu vong tại Ý. Do đó ông là “một nhánh đich thực của hoa loa kèn” (Hình hoa loa kèn là biểu tượng của vua chúa Ý, Pháp). Năm 1846 ông thành hôn vơi người thuộc dòng Florence, cũng có hình hoa loa kèn trên áo choàng. Cô dâu là con gái của Công tước Francis IV của Florence, và việc họ thành hôn với nhau có thể làm cho cả hai dòng họ tiếp tục rạng rỡ. Lúc sinh thời của Công tước Botdeaux, Pháp quyết tâm trở thành một nước cộng hòa, cho nên ông sẽ chẳng bao giờ được đăng quang ngôi báu, và chết trong bối cảnh lưu vong như ông của ông.

    (Thế kỷ 5, Tứ tuyệt 39)

    1820 – 1871

    Bài tứ tuyệt:

    Khi người què vào vương quốc ông ta thấy một đứa con hoang là một đối thủ gần gũi. Cả ông lẫn vương quốc sẽ bị làm cho mỏi mòn mai một tới lúc tỉnh lại thì hành động sẽ quá muộn.

    Giải thích:

    Bài này mô tả Công tước Brdeaux, người kế vị ngai vàng nước Pháp sau Charles X. Ông bị tai nạn do cưỡi ngựa năm 1841 khiến bị què, và có một đối thủ bất hợp pháp (nên là “con hoang”, “tên vô lại”) nhòm ngó ngôi báu trong con người của Bá tước Paris. Nước Pháp bị “mòn mỏi mai một” nhiều là do cuộc chiến tranh Pháp – Phổ gây ra. Công tước Bordeaux đến quá muộn bởi vì năm 1848 nước Pháp đã vĩnh viễn loại bỏ chế độ quân chủ và tuyên bố một nền cộng hòa thứ hai. Tổng thống là cháu trai của Napoléon Bonaparte, người được gọi là Hoàng đế Napoléon III. Ông nắm quyền từ 1852 đến 1871, trong khi cả Công tước Bordeaux và Bá tước Paris đều sống lưu vong trong cuộc đời còn lại của họ.

    (Thế kỷ 3, Tứ tuyệt 73)

    1830

    Bài tứ tuyệt:

    Ban đêm, trên giường, người chủ tướng sẽ bị bóp cổ chết vì quá dính dáng tới người đắc cử tóc vàng (kế vị). Do ba mà Đế quốc bị nô lệ và thay thế. Ông ta bị để cho chết mà không đọc lá thư nào hoặc một gói gì.

    Giải thích:

    Đây là một bài có phần tối nghĩa có thể giải thích theo nhiều cách, thậm chí với những sự việc cần nhấn mạnh khác nhau. Một cách giải thích có cơ sở nhất và bài này nói về Louis, Công tước Condé được phát hiện thấy treo cổ (chứ không phải “bị bóp cổ”) trong phòng ngủ của mình. Ông là người cuối cùng thuộc dòng dõi, do đó đã dùng từ “chủ tướng”. “Người đắc cử tóc vàng”, tối thiểu có hai nghĩa, hoặc là một người tình hoặc nữ chủ tóc vàng hoặc có thể nói tới Công tước Bordeaux, người kế vị ngai vàng nước Pháp. “Ba” rất có thể là những người âm mưu chống lại Condé, trong số đó có cả Charles X. Được biết mong muốn của Condé đã được viết lại với thiện ý ủng hộ Công tước Bordeaux, câu cuối của bài tứ tuyệt có thể là nói về chuyện này.

    (Thế kỷ 1, Tứ tuyệt 39)

    1830 – 1848

    Bài tứ tuyệt:

    Bảy năm Philip sẽ có được nhiều vận may, sẽ đánh hạ bọn man di. Rồi ở tột đỉnh phải để mắt tới những bất đồng Ogimion trẻ sẽ hạ được sức mạnh của ông ta.

    Giải thích:

    Phần đầu bài tứ tuyệt này rất đúng với Louis Philippe của Pháp, dù phần cuối không mấy rõ ràng. Trong bảy năm đầu trị vì, vận may đã mỉm cười với Philippe và ông đã dẹp được loạn “man di” (có những giải thích nói là người Ả Rập) trong khi bảo vệ được Algeria. Triều đại ông chấm dứt năm 1848 khi đất nước tuyên bố một nền cộng hòa mới.

    Một giải thích khác cho rằng bài này có thể nói đến Philip II của Tây Ban Nha, người có quyền lực được coi là một quốc vương trị vì một vương quốc “tuyệt đối” theo nền quân chủ. Quyền lực của ông vượt trội ở châu Âu (trị vì từ 1556 đến 1598), kiểm soát nam Ý và Sicily, chinh phục được Bồ Đào Nha. Để nắm giữ được một đế quốc lớn, Philip không thể không biết tới những khía cạnh không quan trọng mấy của chính phủ (phải để mắt tới những bất đồng”?) và chứng tỏ cho thấy một hệ thống hoàn toàn tập trung không thể kiểm soát được các vùng quá xa xôi.

    (Thế kỷ 9, Tứ tuyệt 89)

    1831 – 1848 VÀ 1852 – 1871

    Bài tứ tuyệt:

    Sau mười bảy năm giữ được chỗ ngồi, năm sẽ làm thay đổi khoảng thời gian đó, rồi một người được bầu lên vào lúc mà người La Mã không dễ chịu lắm.

    Giải thích:

    Vua Louis Philipe nước Pháp trị vì 17 năm và là cha của 5 người con trai. Năm 1848 bị lưu đày, một chuyện thật kỳ cục, và người kế tục ông, Louis Napoléon Bonaparte (Napoléon III) được bầu lên năm 1852 làm người lãnh đạo. So với những gì trước dó thì có thể nhiều nước Âu châu, chứ không phải chỉ có người Ý, băn khoăn khó chịu.

    (Thế kỷ 5, Tứ tuyệt 92)

    1842

    Bài tứ tuyệt:

    Một người là trưởng trong hoàng gia nhảy lên lưng một con ngựa chiến hiếu động, thúc quá mạnh khiến nó lồng lên. Mồm há hốc, chân kẹp ở bàn đạp (khi cưỡi ngựa) kêu trời, bị kéo lê đến chết, thật khủng khiếp.

    Giải thích:

    Hoàng thái tử Ferdinand là người kế vị Louis Philippe nước Pháp bị tai nạn chính xác như đã mô tả trong bài tứ tuyệt này và chết ngày 13 tháng 7 năm 1842

    (Thế kỷ 7, Tứ tuyệt 38)

    1842 – 1871

    Bài tứ tuyệt;

    Nhà tiên tri sẽ đặt tay lên đầu nhà vua và cầu nguyện cho hòa bình ở Ý. Ông sẽ đưa vương trượng sang bàn tay trái, nhà vua sẽ là một hoàng đế trong hòa bình.

    Giải thích:

    Bài này có thể nói về Louis Napoléon Bonaparte, cháu trai của Bonaparte, đã trở thành Napoléon III. “Nhà tiên tri” hoặc là Giáo hoàng, hoặc là một tu sĩ khác, đặt tay lên đầu Napoléon và cầu nguyện cho hòa bình. Việc đưa chiếc vương trượng từ tay này sang tay kia có thể là một biểu hiện sự linh hoạt của Napoléon trong những năm ông là hoàng đế đã tìm mọi cách gìn giữ mọi mặt cho được tốt đẹp. Khi lên ngôi hoàng đế, ông đã tuyên bố rằng “nghệ thuật của đế quốc là hòa bình”, rất phù hợp với câu cuối cùng của bài tứ tuyệt.

    (Thế kỷ 5, Tứ tuyệt 6)

    1894 – 1906

    Bài tứ tuyệt:

    Đến muộn, cuộc hành hình sẽ xảy ra. Gió thổi ngược và thư từ bị chận lại trên đường. Có 14 kẻ âm mưu của một phái. Do Rousseau mà các việc sẽ xảy ra.

    Giải thích:

    Các sự kiện nói ở đây rất phù hợp với trường hợp của Alfred Dreyfus. Dreyfus, một lính Pháp và là người Do Thái, bị kết tội phản bội vì đã bán bí mật quân sự cho người Đứa. Năm 1895 ông ta xuống thuyền đến trại hình phạt (Đảo Devil) nhưng đến năm 1899 lại trở về Pháp để xử lại. Bất lợi là do những cảm xúc chống Semic (người Do Thái và Ả Rập ngày nay) quá mạnh nên ông ta lại bị lên án, dù đã được coi là đã có giảm nhẹ. Vài hôm sau ông ta được Tổng thống Emile Loubet ân xá, và những thẩm cứu về sau được thực hiện theo lệnh của tòa án. Quyết định cuối cùng nó là những bức thư dùng làm cơ sở để kết tội là giả mạo và Dreyfus được tuyên bố trắng án. Một người có dính dáng đến những thẩm tra trong vụ này năm 1899 có tên gọi là Rousseau, ông ta hoàn toàn chống lại Dreyfus và không ngạc nhiên khi thấy ông này bị phạm tội, nhưng diều này đã bị quần chúng tha thứ hủy bỏ. Ngoài việc nói đích danh Rousseau, trong dòng cuối dường như còn có ý nói việc xác minh sự vô can của Dreyfus là “quá muộn” vì ông đã bị tống giam và “gió ngược” có thể coi là những cảm xúc chống Semic ở thời đó. Có suy diễn là âm mưu là do một nhóm 14 người hoạch định, nhưng không có chứng cớ để khẳng định hoặc bác bỏ điều đó. Một giải thích khác cho rằng nói về vụ sát hại Sa hoàng Nicholas II và gia đình ông bởi những người cách mạng Nga năm 1918, và hiểu Rousseau là một “người đỏ”.

    (Thế kỷ 1, Tứ tuyệt 7)

    1912 – 1917

    Bài tứ tuyệt

    Vờ nóng giận do một kích động rất khớp, vợ của một nhân vật lớn sẽ bị nhiều xúc phạm. Những người am hiểu muốn chỉ trích một tín điều như vậy, một nạn nhân bị hy sinh cho những người không hay biết.

    Giải thích:

    Trong bài này Nostradamus dường như muốn nói tới Hoàng hậu Alexanmdra, vợ của Sa hoàng Nicholas I của nước Nga và quan hệ của bà với một “tăng đồ” khét tiếng xấu xa, Grigori Rasputin.

    Alexandra là một người mẹ lúc nào cũng lo lắng cho cậu con trai độc nhất Alexei bị bệnh ưa chảy máu. Rasputin gây được ảnh hưởng đối với Alexandra do chữa khỏi được nhiều trận ốm của cậu bé. Nicholas xem ra có hoan nghênh, hoặc ít ra là cũng chấp nhận sự hiện diện của Rasputin, vì thấy ông này cũng có vẻ hữu ích cho con trai và vợ mình. Rasputin đã chiếm được ưu thế trong suy nghĩ của Alexandra, và thông qua và, đối với cả Nicholas và trong chính sự. Đây có thể là điều xúc phạm nói tới trong bài này, dù nhiều người thời đó ngờ rằng Rasputin và Alexandra đã có ngoại tình với nhau. Bất kể thế nào, người Nga cũng thấy rất chướng mắt khi một tăng đồ nông dân ngu dốt, nhất là lại nổi tiếng là một tên nát rượu và thích gái, lại tham gia vào việc kiểm soát hoạt động điều hành đất nước. Một nhóm quý tộc đã hoạch định một âm mưu giết chết Rasputin, và điều này đã được thực hiện năm 1916. Một “nạn nhân” hy sinh cho “những người không hay biết” có vẻ không được thích hợp lắm ở đây, bởi nhiều người tin rằng hành động này đã cứu vãn được nước Nga và những người Romanov. Rasputin là một nạn nhân ở chỗ ông ta đã chết một cái chết thê thảm kéo dài liên miên tới việc đầu độc bằng xyanua (tức cyanide, một hoá chất rất độc), bị đánh đập, và cuối cùng là dìm xuống nước cho chết. Chết như vậy là đáng với cái tiếng xấu của một kẻ chuyên mê hoặc lòng người bằng thủ đoạn ma thuật xấu xa.

    (Thế kỷ 6, Tứ tuyệt ?)

    1915

    Bài tứ tuyệt:

    Các trận đánh của Anh về hướng Aquitaine, họ cũng thực hiện những cuộc xâm nhập lớn. Mưa và băng giá làm cho địa thế không được an toàn. Chống lại Cảng Selin họ sẽ tiến hàng các cuộc xâm lược mạnh mẽ.

    Giải thích:

    Bài này nói tới giai đoạn đệ nhất thế chiến khi Pháp (“Aquitaine”) và Anh bị mắc kẹt trong các giao thông hào với tình hình thời tiết thật khủng khiếp ở Mặt trận phía Tây. Qua quyết tâm kiên trì của WinSt.on Churchill, Đồng minh mở một mặt trận thứ hai tấn công vào Dardanells. Kế hoạch là chiếm lấy ConSt.antiople (“Cảng Selin”) và cuối cùng đánh bại Thổ Nhĩ Kỳ. Thời tiết tiếp tục xấu là một trong những lý do khiến kế hoạch không thành công.

    (Thế kỷ 2, Tứ tuyệt 1)

    1918

    Bài tứ tuyệt:

    Một thanh niên được sinh ra cho Vương quốc Anh mà người cha lúc sắp qua đời đã mong muốn như vậy. Một khi người này chết, London sẽ cho ông ta một đề tài và sẽ đòi hỏi vương quốc được trả lại kể từ con trai ông.

    Giải thích:

    Đây là một bài nữa nói về Edward VIII thoái vị năm 1936, và người lên ngôi vua là em trai ông, George VI. Câu “London sẽ cho ông ta một đề tài” hầu như chắc chắn ngầm ý nói về vụ bê bối giữa ông và bà Simpson gây ra.

    (Thế kỷ 10, Tứ tuyệt 40)

    1937 – 1945

    Bài tứ tuyệt:

    Lực lượng La Mã sẽ bị mất hết uy lực khi dẫm theo dấu chân của người láng giềng tầm cỡ của mình. Không tin và căm ghét những điều huyền bí mới làm giảm được những việc làm điên rồ của những thằng hề này.

    Giải thích:

    “Lực lượng La Mã” trong bài này là nói về Benito Mussolini người đã cố theo bắt chước cho bằng “người láng giềng tầm cỡ” của mình là Adolf Hitler. Hitler là người nổi tiếng tin vào những điều huyền bí, ông ta và các đảng viên cao cấp của Đảng Quốc xã là những nô lệ của sự mê tín. Hitler và Mussolini được mô tả rất đúng là những “thằng hề” nguy hiểm, có những cơn điên không lường trước được, cũng như những hành động cực đoan khác. “Việc làm điên rồ” của họ đã dẫn họ tới thất bại và chết.

    (Thế kỷ 3, Tứ tuyệt 63)

    1938

    Bài tứ tuyệt:

    Con chim săn mồi bay đến cửa sổ. Trước cuộc xung đột với người Pháp đã có những chuẩn bị. Một số người cho ông ta là giỏi, người khác lại coi là xấu xa, ác độc hoặc quá mơ hồ. Phe yếu hơn sẽ coi ông ta là một tín hiệu tốt.

    Giải thích:

    “Con chim săm mồi” là cái tên dành cho cả Hitler lẫn Napoléon. Trong bài này rất phù hợp với Hitler, bởi “bay tới cửa sổ” là một cách nói hình tượng về mục đích bành trướng của Hitler và những cuộc xâm lăng về sau của ông đối với Áo, Tiệp Khắc và Ba Lan. Những ý kiến (tốt, giỏi,… xấu xa, ác độc hoặc quá mơ hồ) phản ánh những cảm nhận của người Đức trong thời gian đầu Hitler nắm quyền lực, hoặc sự phân biệt giữa Thống chế Pétain của Pháp, người theo gót thế lực Hitler, với nội các Vichy. “Phe yếu hơn” ngầm chỉ Đảng Quốc xã đang phát triển mà Hitler là lãnh tụ và nhà độc tài.

    (Thế kỷ 1, Tứ tuyệt 34)

    1939

    Bài tứ tuyệt:

    Người ta tập trung lại để xem một cảnh tượng mới, vua chúa và nhiều phụ tá. Cột và tường đổ, và cứ như một phép màu, vua và ba mươi người khác có mặt đã được cứu thoát.

    Giải thích:

    Bài này nổi tiếng là một “Tứ tuyệt Kraff” bởi ErnSt.Kraff đã dùng tiên đoán vụ ám sát nhằm vào Adolf Hitler. Nhiều nhân vật cao cấp của Quốc xã là những người quá tin vào khoa chiêm tinh và “nghệ thuật huyền bí” và không lạ gì những bài tứ tuyệt của Nostradamus. Thực ra Kraff có quốc tịch Thụy Sĩ, nhưng là một tên Quốc xã tận tụy và được Bộ tuyên truyền của Goebbels tin dùng làm “cố vấn”. Dùng bài tứ tuyệt trên và một vài tính toán khác, Kraff đã tiên đoán một âm mưu ám sát Quốc trưởng vào một thời điểm từ 7 đến 10 tháng 11 năm 1939. Ông đã đệ trình những khám phácủa mình lên Bộ, nhưng vì Hitler cấm không được tiên đoán điều gì liên quan tới mình nên những gì Kraff đệ trình đều bị cho dìm xuống. Chỉ hai ngày sau, Hitler có cuộc nói chuyện với quần chúng và có mặt một số tên Quốc xã nổi tiếng. Bất chợt họ được mời về Berlin rời nơi nói chuyện sớm hơn dự định. Ít phút sau, một trái bom được đặt đằng sau bục đứng nói chuyện bên trong một cái cột, phát nổ và làm chết nhiều người đứng gần đó. Kraff, thay vì được trọng thưởng vì đã báo trước, lại bị nghi là có nhúng tay vào vụ đặt bom, và cuối cùng ông phải trả giá bằng chính mạng sống của mình.

    (Thế kỷ 6, Tứ tuyệt 51)

    1939 – 1940

    Bài tứ tuyệt:

    Khi những con rắn đến bao quanh bầu trời và người Pháp (thành Troy) bị Tây Ban Nha làm cho sôi máu lên. Do họ mà rất nhiều người bỏ mạng. Người cầm đầu trốn chạy và nấp trong đầm lầy.

    Giải thích:

    Bài này hơi mơ hồ nhưng có thể là nói về Thế chiến II khi ở giai đoạn mở đầu người đức đã chiếm thế thượng phong trên bầu trời. Người Pháp còn có thêm vần đề phải giải quyết với Tây Ban Nha. Phần cuối bài có ngầm ý nói tới việc tổng thống Pháp và ban lãnh đạo của ông bị buộc rời khỏi Paris.

    Một cách giải thích khác phụ thuộc vào chữ “bệ thờ” được dùng thay vì chữ “bầu trời”, và vào các cuộc đụng độ giữa Pháp và Tây Ban Nha. Điều này có thể xảy ra cuối thế kỷ 16 (1589 – 1594). Máu thành Troy cũng liên quan tới Catherine de Medicis bởi từ “máu thành Troy” mô tả dòng máu hoàng tộc Pháp, bắt nguồn từ, theo truyền thuyết, một người con trai thần thoại của Vua Priam thành Troy.

    (Thế kỷ 1, Tứ tuyệt 19)

    Bài tứ tuyệt:

    Trong năm sắp tới, không xa Venus, hai đại thể của châu Á và châu Phi sẽ được nói đến từ Rhine và Hitler. Tiếng kêu khóc ở Malta và trên bờ biển Ligurian.

    Giải thích:

    Nếu Venus được hiểu là Venice thì bài này có thể mô tả liên minh giữa Ý, Đức và Nhật trong giai đoạn đầu của cuộc Thế chiến II. Hitler và Mussolini gặp nhau tại Đèo Brenner rất gần Venice để bàn về Hiệp ước Ba bên có liên quan tới Nhật (châu Á). Dòng cuối ý nói tới các cuộc hành quân trong giai đoạn này của cuộc chiến tranh.

    (Thế kỷ 4, Tứ tuyệt 6)

    1939 – 1945

    Bài tứ tuyệt:

    Các cuộc chiến ở Pháp sẽ kéo dài trong nhiều năm sau thời kỳ các vua CaSt.ilian. một chiến thắng chưa biết chắc sẽ tôn vinh ba đại thể, đại bàng, gà trống, mặt trăng, sư tử, mặt trời trong dấu ấn.

    Giải thích:

    Các cuộc chiến ở Pháp sau khi đã kết thúc nền quân chủ Tây Ban Nha cho thấy có ý nói về Thế chiến II. Chắc chắn trong bài có đề cập tới ba nước trong phe Đồng minh là Mỹ (“Đại bàng”), Pháp (“Gà trống”) và Anh (“Sư tử”). “Mặt trời trong dấu ấn” có thể trực tiếp nói tới nước Nhật, đất nước Mặt trời mọc, hoặc nói về việc Nhật đầu hàng vào tháng Tám (Cung Sư tử của hoàng đạo).

    (Thế kỷ 1, Tứ tuyệt 31)

    Bài tứ tuyệt:

    Ở nơi cho là sẽ bị đói thì vẫn sẽ được toại nguyện. Mắt của biển và bản năng tranh ăn của chó sẽ cho dầu và lúa mì.

    Giải thích:

    Bài này nói về việc hải quân Đức phong tỏa nước Anh trong Thế chiến II. Mặc dầu có bị thiếu thốn và phải phân chia khẩu phần song không bị đói. Một số tàu thuyền chạy qua được mang theo đồ tiếp tế cần thiết, nhất là từ Mỹ. “Mắt của biển” với “bản năng tranh ăn của chó” có thể nói vể các kính viễn vọng ở mỗi tàu chữ U của Đức. Các tàu chữ U này chắc chắn đã phá hủy các đoàn tàu Đại Tây Dương trong Thế chiến II.

    (Thế kỷ 4, Tứ tuyệt 15)

    1940

    Bài tứ tuyệt:

    Người chạy trốn, lửa từ trên trời giáng xuống vũ khí của họ. Cuộc đụng độ sắp xảy ra kéo theo các con quạ. Từ dưới đất họ kêu xin trời giúp, khi các chiến binh sẽ bị dồn tới chân tường.

    Giải thích:

    Bài này được cho là nói về sự thất thủ của nước Pháp, trước đoàn quân xâm lược Đức năm 1940. Lính Pháp rút lui và những người sơ tán buộc phải lánh tới Paris và bị bom ném liên tục (“lửa từ trên trời”). Xác chết nằm ngổn ngang và là mồi cho các con quạ ăn xác thối. Các câu cuối có vẻ nói về chính Paris trong những ngày trước khi thành phố rơi vào tay quân chiếm đóng.

    (Thế kỷ 3, Tứ tuyệt 7)

    1940 VÀ 1944 – 1945

    Bài tứ tuyệt:

    Đại đế quốc sẽ sớm trở thành hoang tàn và có nhiều thay đổi gần rừng Ardennes. Hai tên vô tích sự sẽ bị người kỳ cựu nhất tước quyền và Ardennes sẽ trị vì, người có cái mũi diều hâu.

    Giải thích:

    Những dòng này có thể là một tiên đoán về các sự kiện trong Thế chiến II, khi “Đại đế quốc” Pháp bị rơi vào tay người Đức. Có các trận đánh bên trong và chung quanh vùng Ardennes năm 1940 và những năm 1944 – 1945. Những “tên vô tích sự” có thể là các tướng lĩnh Pháp đã bị thất bại không ngăn cản nổi bước tiến của Đức. “Người kỳ cựu nhất nước tước quyền họ” có thể là Maxime Weygand, giữ quyền tổng chỉ huy, và người “có mũi diều hâu” có thể là tướng Charles De Gaulle.

    (Thế kỷ 5, Tứ tuyệt 45)

    1940 – 1942

    Bài tứ tuyệt:

    Ông già có một hy vọng chính bất thành, sẽ đạt tới cương vị đứng đầu đế quốc của mình. Ông sẽ nắm quyền lực lớn trong vương quốc được 20 tháng, một bạo chúa độc ác, và dọn đường cho kẻ kém hơn.

    Giải thích:

    Giải thích dễ được chấp nhận nhất là bài này mô tả một giai đoạn ngắn từ năm 1940 đến năm 1942 khi Thống chế Pétain đứng đầu chính phủ Pháp. Tháng 4 năm 1942 ông bị buộc phải đầu hàng Đức.

    (Thế kỷ 8, Tứ tuyệt 65)

    1940 – 1945

    Bài tứ tuyệt:

    Khu mộ khổng lồ của người dân Pháp sẽ từ nơi gần nước Ý mà đến, khi chiến tranh gần phương trời Đức và trong lãnh thổ của người dân Ý.

    Giải thích:

    Bài này dường như mô tả những bối cảnh của Thế chiến II khi Ý và Đức liên minh với nhau, và người Pháp bị chết rất nhiều.

    (Thế kỷ 3, Tứ tuyệt 32)

    Bài tứ tuyệt:

    Qua Thụy Sĩ và các vùng xung quanh, họ sẽ dùng tới chiến tranh vì có các đám mây. Châu chấu và bù mắt biển, những lỗi lầm của Geneva sẽ hiện nguyên hình.

    Giải thích:

    Thất bại của Hội Quốc liên và sự bùng nổ Thế chiến II được tiên đoán trong bài tứ tuyệt này.

    (Thế kỷ 5, Tứ tuyệt 85)

    1944 – 1945

    Bài tứ tuyệt:

    Năm sau gặp họa vô đơn chí, hai thủ lĩnh không được cứu rỗi, người thứ nhất sẽ không tồn tại được, người kia sẽ là một kẻ trốn chạy, nạn nhân bị cướp bóc vạch mặt kẻ thứ nhất.

    Giải thích:

    Một số nhà bình giải cho rằng bài này nói về Mussolini và cuộc chạy trốn sang Đức sau khi bị mất quyền lực. Ông ta sống nơi di tản trong một thời gian, song chẳng bao lâu cả Hitler lẫn Mussolini đều bị chết.

    (Thế kỷ 9, Tứ tuyệt 4)

    1945

    Bài tứ tuyệt:

    Gần các hải cảng và trong hai thành phố sẽ xảy ra hai tai họa xưa nay chưa từng thấy. Đói khát, dịch bệnh, người bị gươm kiếm đâm, cầu xin Đấng tối cao bất tử cứu vớt.

    Giải thích:

    Bài này nói về việc Mỹ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki. Đó là hai thành phố biển bị tàn phá ở mức độ khủng khiếp mà trước đó chưa từng thấy. Trên 100 ngàn người bị chết hoặc bị thiêu cháy, và nhiều người sống sót sau cũng bị chết rất đau đớn. Họ đã không chịu nổi đói khát, bệnh do nhiễm xạ và thiếu thuốc men giống như những nạn nhân của dịch bệnh mà Nostradamus đã chứng kiến. Mức độ chịu đựng của họ thật xót xa như đã nói trong hai câu cuối của bài tứ tuyệt.

    (Thế kỷ 2, Tứ tuyệt 6)

    1956

    Bài tứ tuyệt:

    Do vấn đề sống còn mà chế độ ở Hungary sẽ phải thay đổi, luật pháp sẽ khắc khổ hơn so với sự phục vụ. Thành phố của họ khóc lóc, gào thét. CaSt.or và Pollux là kẻ thù trên chiến trường.

    Giải thích:

    Bài này dường như tiên đoán rõ ràng việc nổi dậy ở Hungary năm 1956, khi nhân dân Hungary tìm cách tự giải phóng mình khỏi sự thống trị của Liên Xô. Thủ tướng Hungary, Imre Nagy từ bỏ Hiệp ước Vacxava ngày 1 tháng 11 năm 1956, và nhân dân BudapeSt. ăn mừng. Song, trong ba ngày, xe tăng của Nga đã tiến vào đất nước này và chiếm đóng BudapeSt., dẹp cuộc nổi dậy. Thành phố này bị tàn phá, nhiều người dân Hungary, kể cả Thủ tướng Nagy, hoặc bị chết hoặc bị hành hình sau đó. Chế độ Xô viết áp đặt một trật tự khắc nghiệt, áp bức, cấm đoán quyền tự do cá nhân. Trong bài có nói tới hai anh em sinh đôi La Mã là CaSt.or và Pollux dường như muốn ám chỉ những người thân Liên Xô đánh nhau chống lại những người đứng về phía nổi dậy trong thời điểm đó.

    (Thế kỷ 2, Tứ tuyệt 90)

    1967

    Bài tứ tuyệt:

    Pháp luật mới sẽ chiếm một vùng đất mới về hướng Syria Judea và PaleSt.ine. Đại đế quốc Man di sẽ sụp đổ trước khi thế kỷ của Phoebe được xác định.

    Giải thích:

    Những dòng đầu của bài này nói về việc thành lập Nhà nước Isarel và cuộc chiến Sáu ngày từ 5 đến 10 tháng 6 năm 1967. “Đại đế quốc Mandi” là các nước Ả Rập đã bị mất khá nhiều đất vào tay người Israel. Rất nhiều ngưởi chết, người trốn chạy, buộc phải sống trong các lều trại tha phương.

    Isarel chiếm đóng “vùng đất mới” ở cao nguyên Golan, Dải Gaza, Bờ Tây và Nam Liban, và kể từ đó đụng độ liên miên thay vì cần có nỗ lực mang lại hòa bình và ổn định. Dường như Nostradamus cho rằng lối thoát cuối cùng sẽ có lợi cho Isarel.

    (Thế kỷ 3, Tứ tuyệt 97)

    1974

    Bài tứ tuyệt:

    Đại thượng việc sẽ dành sự lộng lẫy và trọng thể cho một người sau đó bị thất bại, bị hạ bệ. Những người ủng hộ ông sẽ hiện diện ở đó với tiếng kèn, bán rộng rãi, kẻ thù bị đánh bại.

    Giải thích:

    Bài này có thể hợp với bất kỳ người nào thành công về chính trị nhưng sau đó mất hết hy vọng và bị hạ bệ khỏi chức vụ. Sự kiện rõ ràng này phù hợp với bối cảnh vụ Bê bối Watergate và Richard Nixon từ chức năm 1974 khi bị đe dọa sẽ bị kết tội. Hai câu cuối có lẽ muốn nói rằng những sự kiện như vậy sẽ được nhiều người quan tâm và nhiều người mượn gió bẻ măng (“bán rộng rãi” có thể nói về những người viết sách, báo v.v… khi vỡ lở vụ Watergate). Câu cuối (“… kẻ thù bị đánh bại”) có thể nói lên việc Nixon được chấp nhận lại gần như trong vai trò một chính khách lớn tuổi, và do đó đã đánh bại được những người đối lập với ông ta.

    (Thế kỷ 10, Tứ tuyệt 76)

    1979

    Bài tứ tuyệt:

    Công viên thế giới, gần thành phố mới, trên đường của núi nhân tạo nó sẽ bị giữ lại và đổ vào bể, bị buộc phải uống nước có lưu huỳnh gây viêm nhiễm.

    Giải thích:

    Mặc dầu thoáng nhìn thì bài này có vẻ mơ hồ, song lại có một số nét nói lên một vấn đề của thời hiện đại. Nếu “thành phố mới” được coi là New York, thì một nơi không quá xa, ‘công viên của thế giới” có thể là Harriburg ở Pennsylvania tại đó có một lò phản ứng hạn nhân tại Three Mile Island. Nhiều người có uy tín đã chấp nhận giải thích này, và phần cuối của bài nói về lưu huỳnh có thể là chất làm ô nhiễm tiềm năng của nguồn cung cấp nước, khiến nó chứa chất đồng vị phóng xạ. Phần giữa (“… giữ lại và đổ vào bể…”) có thể là sự tan chảy của lõi lò phản ứng hoặc nói thêm về nước bị nhiễm độc.

    (Thế kỷ 10, Tứ tuyệt 49)

    1981 xem 1799

    1999

    Bài tứ tuyệt:

    Trong năm 1999 và bảy tháng, từ bầu trời sẽ xuất hiện đến một đại vương gây hoảng sợ. Lại nổi lên Đại vương của người Mông Cổ. Trước sau, Hỏa tinh sẽ trị vì một cách thích hợp.

    Giải thích:

    Bài này là một nét đặc trưng riêng có của Nostradamus trong thời đại ông khi tiên đoán nét bi quan vô vọng ở thời điểm kết thúc thiên niên kỷ này. Không những ông chỉ tiên đoán sự xuất hiện “Vua của người Mông Cổ” (có thể hiểu làngười thứ ba không tin là có Chúa, gốc ở phương Đông) mà còn tiên đoán các cuộc chiến tranh sẽ tàn phá, hoành hành cả trước lẫn sau giai đoạn này (“Hỏa tinh sẽ trị vì một cách thích hợp”).

    (Thế kỷ 10, Tứ tuyệt 72)

    THẾ KỶ 20

    Bài tứ tuyệt:

    Bộ máy hỏa lực bay trên không sẽ đến quấy phá vị đại chủ nhân bị bao vây. Bên trong sẽ có rất nhiều phe phái nổi loạn khiến những người bị bỏ rơi sẽ không còn chút hy vong nào.

    Giải thích:

    Bài này mô tả những vũ khí hiện đại dùng trong chiến tranh khi một thành phố bị phong tỏa. Không có một đầu mối nào để khẳng định thời điểm của sự kiện.

    (Thế kỷ 5, Tứ tuyệt 34)

  • thangbe21

    khoảng 2 10 năm trước
  • Phần 2: VANGA HAY LÀ NHỮ..??N SIÊU NHÂN

    Lê Nguyễn – Lê Xuân Sơn dịch

    Hiện tượng kỳ lạ VANGA giờ đây được cả thế giới biết tới. Bạn đọc nước ta cũng đã được làm quen với nhà nữ tiên tri người Bungary nổi tiếng nảy qua một số bài dịch in trên các báo. Khả năng tiên tri kỳ lạ của Vanga bị phủ nhận hoàn toàn cho đến khi tiến sĩ khoa học Ghescghi Lôdanô tiến hành một công trình nghiên cứu về bà. Nhà khoa học này đã mô tả lại 7000 trường hợp tiên đoán của Vanga. Ghi âm lại hàng trăm buổi tiếp xúc với khách của bà ta, qua đó đã buộc cả châu Âu, cả thế giới phải hướng cái nhìn ngưỡng mộ lên khuôn mặt với đôi mắt không nhìn thấy ánh sáng của Vanga chính xác tới 80 phần trăm.

    Chúng tôi giới thiệu với bạn đọc cuốn sách về Vanga do KRAXIMIRA XTÔIANKÔVA, cháu gái của Vanga viết. Tác giả kể lại tỉ mỉ cuộc đời Vanga và những khả năng kỳ lạ còn chưa giải thích của bà.

    Chương 1: CUỘC PHỎNG VẤN SIÊU NHÂN

    Chúng tôi, các cháu gái của Vanga, con của em gái và, thường đến thăm bà. Ngay từ lúc còn bé tí, những điều lạ lùng của bà đều không làm chúng tôi cảm thấy lạ, chúng tôi chỉ không hiểu tại sao bà tự nhiên tái nhợt đi, miệng thốt ra những lời khó hiểu, giọng nói bỗng to lên một cách không tự nhiên, thậm chí đầy đe dọa, làm chúng tôi kinh ngạc vì cái sức mạnh tiềm ẩn trong đó. Vào những lúc ấy, nếu có ai trong số hàng xóm đang ở cạnh đó thì thế nào chúng tôi cũng nghe những tiếng thì thào: “Nhỏ mồm, nhỏ mồm, bà ấy phán đấy”. Bác Vanga là nhà tiên tri?

    Tôi còn nhớ ngày tôi tròn 16 tuổi. Tôi nhớ bởi vì sau bữa ăn khiêm tốn trong căn nhànhỏ ở Petretrơ, Vanga bỗng hướng về phía tôi và nói – và đó không phải là giọng của bác, mà một giọng ai đó hoàn toàn khác. Những lời nói ấy chẳng liên quan đến những gì xảy ra quanh bàn ăn cả và thực chất chẳng về cái gì cả. Tôi vẫn nhớ rõ lời bác phán: “Cháu lúc nào cũng trong tầm nhìn của ta”. Rồi sau đó bác kể lại rành rọt từng việc tôi làm trong ngày. Tại sao bác lại biết chi tiết như vậy? Tôi sững người. Sau đó, tôi hỏi bác kể những chuyện đó làm gì. Vanga ngạc nhiên, bác có kể gì đâu? Nhưng khi tôi nhắc lại mọi chuyện, bác nói nhỏ: “Không phải bác mà là những người khác, những người luôn luôn ở cạnh bác”. Bác gọi một số trong họ là “sức bé”. Chính họ đã qua bác mà kể lại một ngày của cháu, và còn có những “sức lớn” nữa. Khi họ bắt đầu nói qua bác, bác mất rất nhiều sức, bác trở nên yếu hẳn. “Con ơi. Con có muồn trông thấy họ không?” Tôi kinh hoàng trước những điều vừa nghe, đến nỗi hét lên: “Không! Không đời nào!”. Sau đó hoàn hồn lại, tôi hỏi Vanga: “Chẳng có gì đặc biệt cả, chỉ là những chấm sáng trong không gian mà thôi, họ giống như những con đom đóm”.

    Sau này, khi lớn khôn, tôi cố tự tìm cách giải thích tất cả những gì nghe được từ Vanga. Tôi ghi lại những câu hỏi của mình và những câu trả lời của bác. Chỉ có điều, giống như tất cả những người tập trung cho chiều sâu của cuộc sống nội tâm. Vanga rất ít lời. Bởi vậy hầu như câu trả lời bao giờ cũng ngắn gọn.

    Hỏi: Bác ơi, bác có thấy gương mặt cụ thể của những người mà bác tiếp xúc không, bác có hình dung được bức tranh chung không?

    Trả lời: Có, bác thấy rõ.

    Hỏi: khi xảy ra một việc nào đó – trong hiện tại, trong quá khứ hoặc trong tương lai thì nó có ý nghĩa nào đối với bác không?

    Trả lời: những điều vớ vẩn ấy chẳng có ý nghĩa gì đối với bác cả. Bác không biết loại “máy thời gian” là gì nhưng cả quá khứ hay tương lai đều vẽ ra trước mắt bác rõ rệt như nhau.

    Hỏi: Những gì bác thấy là những thông tin về con người hay là chính con người đó ạ?

    Trả lời: Cả thông tin về con người lẫn chính bản thân người đó.

    Hỏi: mỗi con người có “mã số”, “mật mã” riêng, mà nếu biết được thì có thể đoán được “đường đời” của người đó, tức số phận của anh ta hay không?

    Không trả lời.

    Hỏi: tương lai của một người nào đó hiện lên như thế nào – chỉ những sự kiện chính, hay toàn bộ cuộc đời cứ tuần tự diễn ra trong mắt bác? Tóm lại là có giống như một cuộn phim hay không?

    Trả lời: Bác nhìn thấy cả cuộc đời của một người giống như một cuộn phim.

    Hỏi: Bác có đọc được ý nghĩ không?

    Trả lời: Có.

    Hỏi: Ngay khi ở xa?

    Trả lời: Khoảng cách chẳng có ý nghĩa gì cả.

    Hỏi: Bác có đọc được ý nghĩ của những người nói các thứ tiếng khác mà không biết tiếng Bungari hay không?

    Trả lời: Không có trở ngại nào trong ngôn ngữ cả. Khi bác nghe thấy giọng nói thì bao giờ đó cũng là tiếng Bungari.

    Hỏi: Bác có “gọi” được những thông tin bác cần biết trong bất kỳ thời điểm nào không?

    Trả lời: Được.

    Hỏi: Sức mạnh tiên tri của bác có phụ thuộc vào tính nghiêm túc của câu hỏi đặt ra hoặc vào sức mạnh tư cách của người đối thoại với bác không?

    Trả lời: Có, điều đó là quan trọng.

    Hỏi: Vậy nó có phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe không chỉ của bác mà cả trạng thái thần kinh của người đến hỏi hay không?

    Trả lời: Không, không phụ thuộc.

    Hỏi: Nếu bác thấy tai họa sắp đến với một người, hoặc thậm chí thấy người đó sắp chết thì bác có thể làm một cái gì đó để tránh tai họa hay không?

    Trả lời: Không, chẳng ai có thể giúp gì được, kể cả bác.

    Hỏi: Số phận một người có phụ thuộc vào sức mạnh nội tâm và các khả năng sinh lý không? Có thể tác động tới số phận hay không?

    Trả lời: Không thể được. Mỗi con người phải đi đúng con đường riêng của mình.

    Hỏi: Làm thế nào bác xác định được người đến với bác đang phiền muộn điều gì?

    Trả lời: Bác nghe có tiếng nói thông báo về người đó, trước mắt bác hiện lên hình ảnh của người đó, và nguyên nhân của nỗi ưu tư trở nên rõ ràng.

    Hỏi: Thế bác có cảm giác là khả năng của bác được định từ trên không?

    Trả lời: Có. Được định bởi những sức mạnh tối cao.

    Hỏi: Những sức mạnh đó là gì?

    Không trả lời.

    Hỏi: Thế tín hiệu từ những sức mạnh tối cao đó thường ở hình thức gì?

    Trả lời: Thường là giọng nói.

    Hỏi: Thế bác có nhìn thấy những cái mà bác gọi là sức mạnh tối cao hay không?

    Trả lời: Có. Cũng rõ như con người nhìn thấy bóng của mình trong nước.

    Hỏi:Chúng hình thành từ những đốm sáng trong không khí?

    Trả lời: Đúng như vậy đấy.

    Hỏi: Những sức mạnh đó có vật chất hóa được không, mang hình dạng con người chẳng hạn?

    Trả lời: Không, không thể.

    Nếu bác muốn liên lạc với họ, thì bác làm bất kỳ lúc nào được không? Hay họ mới là bên chủ động?

    Trả lời: Thường thì mối liên hệ do họ chủ động. Nhưng bác có thể gọi được. Họ ở khắp nơi.

    Hỏi: Người chết mà người ta thường hỏi bác hiện lên trên trước mắt bác như thế nào? Đó là một hình ảnh xác định hay là một cái gì khác?

    Trả lời:Hiện ra thấy được của người chết và nghe được tiếng nói của người đó.

    Hỏi: Như thế những người chết có thể trả lời các câu hỏi.

    Trả lời: Người đó có thể đặt câu hỏi cũng như câu trã lời các câu hỏi được đặt ra.

    Hỏi: Nhân cách con người có tồn tại sau cái chết thể xác của anh ta hay không?

    Trả lời: Có.

    Hỏi: Nghĩa là bác coi cái chết của con người chỉ là sự ngừng tồn tại của thể xác anh ta?

    Trả lời: Đúng thế. Chỉ là cái chết của thể xác.

    Hỏi: Con người có” tái sinh” sau cái chết thể xác hay không?

    Vanga không trả lời.

    Hỏi: Có tồn tại một loại trí tuệ khác hoào hảo và cao hơn trí tuệ con người không?

    Trả lời: Có.

    Hỏi: thế cáo siêu trí tuệ đó có nguồn gốc từ đâu? Nó thấm nhuần chỉ khoảng không cận Trái đất hay toàn bộ Vũ trụ? Nó đến với chúng ta từ những nền văn minh trong quá khứ bị tuyệt diệt hay từ tương lai? Nó từ đâu tới và đang ở đâu?

    Trả lời: trí tuệ khởi đầu và kết thúc trong Vũ trụ. Nó vĩnh cửu và vô hạn. Nó là toàn năng.

    Hỏi: Trên Trái đất, đã từng có những nền văn minh lớn, tổ chức cao?

    Trả lời: Đúng.

    Hỏi: Có bao nhiêu nền văn minh tất cả, và chúng kết thúc khi nào?

    Không trả lời

    Hỏi: Trong vũ trụ có nền văn minh nào đặt ngang trình độ phát tri6ẻn với văn minh Trái đất?

    Trả lời: Có.

    Hỏi: Có đúng là có những con tàu vũ trụ có người ngoài hành tinh khác, được gọi một cách thô thiển là “dĩa bay” đến thăm Trái đất hay không?

    Trả lời: Đúng, có.

    Hỏi: Chúng bay từ đâu tới?

    Trả lời: Từ hành tinh mà những người dân trên đó gọi là – Vaphim. Ít ra là bác nghe tên nó là như vậy. Đó là hành tinh thứ tư kể từ trái đất.

    Hỏi: Nếu người Trái đất muốn thì có thể giao tiếp với cư dân của hành tinh bí hiểm đó được không? Bằng các phương tiện kỹ thuật hay bằng thần giao cách cảm?

    Trả lời: Người trái đất bất lực. Sự giao tiếp là do họ chủ động, tùy theo ý muốn của họ.

    Tôi cho rằng cái đặc biệt nhất trong khả năng Siêu nhiên có thể là tự nhiên của Vanga là sự dễ dàng dịch chuyển trong không gian và thời gian của trí não bà: từ quá khứ xa xăm đến tương lai xa tít tắp.

    … Cạnh làng Prepetrere nằm giữa hai thành phố Xandanxki và Petriti có thung lũng Rupite nổi tiếng ở Bungari nhờ những nguồn nước khoáng của mình. Án ngữ phía Tây của nó là một ngọn núi lớn được bao phủ bằng những bụi cây rậm rạp như tấm lông cừu gọi là núi Kojiuc. Ngày trước, dưới chân dãy núi này có một con sông sâu tên là sông St.ruma, giờ đây dòng của nó chỉ có nước khi có những trận mưa lớn đổ xuống gây ngập lụt. Còn thường thì lòng sông cạn khô và các dải cát trong đó ánh lên dưới ánh mặt trời. Ở đó có một ngôi nhà nhỏ của Vanga, nơi bà sống những nơi tĩnh lặng.

  • thangbe21

    khoảng 2 10 năm trước
  • Chương 2: TÔI SỐNG KHÔ... MỌI NGƯỜI

    Ngôi nhà của Vanga ở Petriơ thu hút rất nhiều khách. Điều gì đã dẫn họ tới đây? Một số người muốn nhờ người đàn bà thông tuệ chỉ giùm phương thuốc chữa chứng bệnh nan y, một số người khác nữa thì đến vì tò mò muốn tận mắt nhìn thấy Vanga… hàng ngày có lẽ đến hàng trăm người đến ngôi nhà ở Petritrơ…
    Người dân Petritrơ đã quen từ lâu với việc quanh nhà Vanga luôn luôn có một đám mây vây quanh và họ không để ý đến những người này nữa. Người dân ở đây đã quen với cả Vanga lẫn những người khác của bà. Một nhà văn nổi tiếng, hình như là Đôxtôiepxki nói rằng con người là sinh vật có thể quen với mọi thứ. Vậy nên nếu bạn hỏi người dân Petritrơ. Vanga nổi tiếng của họ là ai: một nhà tiên tri hay một bà lang, thì chúng ta thường được nghe một câu trả lời bình thường: đó là một người đồng hương, hàng xóm của chúng tôi. Chỉ có thế thôi. Vanga sinh ngày 31 tháng 1 năm 1911 tại thành phố Xtrumitse ở Nam Tư trong một gia đình tiểu chủ. Bà thừa kế của người cha lực điền một sự dẻo dai đặc biệt trong công việc chân tay. Ngoài ra còn có cả các phẩm chất khác nữa như sự trung thực, yêu thích chính nghĩa, ghét sự lừa dối. Mẹ bà để lại cho bà bản tính vui vẻ, thích sạch sẽ.

    Vanga bị đẻ non, lúc mới bảy tháng nên rất yếu, tai còn áp chặt vào đầu, các ngón tay ngón chân gần như cứ dính nhau. Chẳng ai dám nói là cô bé sẽ sống được. Người ta quấn tã cho bé rồi lại cuộn thêm một tấm da lông ấm áp. Do ở vùng đó có phong tục chưa vội đặt tên cho đứa bé nếu nó ít có hy vọng sống nên cô bé không có tên trong một thời gian. Phong tục đặt tên cũng rất đặc sắc. Thông thường bà của đứa trẻ ra đường và đề nghị người đàn bà gặp đầu tiên nói lên một cái tên. Bà của cô bé yếu ớt cũng làm như vậy. Người đàn bà được hỏi nói: “Hãy gọi nó là Anđrômakha”.

    Hồi đó ở Xtrumitse nhiều người có tên Hy Lạp như vậy, nhưng người bà không thích cái tên quá kêu. Bà tiếp tục đứng cạnh cửa và đợi người đàn bà tiếp theo đi qua. Người ấy nói: “Đặt cho đứa bé tên gì ấy à? Chẳng cái tên nào nghe đẹp hơn là Vangelia nữ thần báo điềm lành. Một cái tên Hy Lạp tuyệt vời. Cứ đặt cho cháu gái của bà cái tên Vangelia”.

    Thế là cô bé có tên – Vangelia, Vanga…Liệu cha mẹ cô bé lúc đó có biết ai đang trong tấm da cừu không nhỉ? Chắc không.

    Panđe Xurơtrep, cha của Vanga coi việc cày cuốc là sứ mạng của mình. Nhưng tai họa là ở chỗ người nông dân ít được hưởng cái hạnh phúc, đơn giản là chăm sóc lúa mì trên cánh đồng yên tĩnh của mình. Hôm nay họ làm việc, ngày mai đã ra chiến địa. Đã bao thế kỷ như thế rồi – Panđe cũng đi du kích chiến đấu chống quân xâm lược Thổ Nhĩ Kỳ. Ông không gặp may nơi chiến trận, trong một trận đánh, ông bị bắt và bị kết án tù chung thân trong nhà giam. “Ieđi Kule”. Nhờ có cuộc cách mạng ở Thổ Nhĩ Kỳ năm 1908 mà Panđe và những người bạn của ông mới thấy lại tự do và trở về nhà.
    Nhưng những người thân của Panđe đều đã chết. Cha mẹ ông mất khi ông còn ngối trong nhà tù “Ieđi Kule”, một người em trai không rõ biến đi đâu. Làm gì đây? Ông nghe nói ở Xtrumitse người ta đang chia đất và nhà do quân Thổ bỏ lại. Ông quyết định lập nghiệp ở đó.
    Người ta cho ông một căn phòng trong một ngôi nhà cũ kỹ nằm ở rìa thành phố. Nhà tồi tàn, đất đai xấu. Nhưng hương vị ngọt ngào của tự do làm say sưa những người dân ở đó. Nghèo mà vui – đó là tâm trạng của họ.

    Panđe sống hòa thuận với những người hàng xóm của mình. Ông ở độc thân một thời gian rồi gặp được một cô gái dễ thương, thanh mảnh như cây sậy, khéo tay vàvui tính là Paraxkeva. Họ cưới nhau và sống rất hạnh phúc. Và năm 1911, Vangelia qua đời.

    Vanga cứng cáp dần lên. Nhưng tai họa lại ập đến. Ba năm sau, Paraxkeva chết trong lần sinh nở thứ hai. Panđe đau khổ tuyệt vọng. Lại còn thêm cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất bùng nổ. Panđe bị động viên vào quân đội Bungari. Vanga được một người hàng xóm tốt bụng tên là Axanisa đón nuôi. Ba năm chiến tranh, cha của Vanga bặt tin. Hàng xóm cho rằng Vanga giờ đây hoàn toàn trơ trọi trên đời, nhưng vào một ngày tuyệt đẹp, Panđe trở về nhà, gầy kinh khủng, chỉ còn xương với da nhưng hoàn toàn lành lặn.
    Hai cha con lại tiếp tục sống trong căn phòng xưa. Nhưng thời buổi khó khăn đã đến. Lúc đó Vanga đã bảy tuổi. Panđe hiểu rằng cô bé thiếu bàn tay săn sóc dịu dàng của người mẹ. Cần phải tìm cho nó một người mẹ. Nhưng ai mà chịu lấy một người đàn ông nghèo lại còn đèo bòng thêm một đứa bé?

    Đến cuối đại chiến. Chính quyền ở Xtrumitse chuyển sang tay người Xecbi. Nhiều binh lính và sĩ quan Bungari giải ngũ về buộc phải từ bỏ quê hương. Cả Panđe cũng muốn đi vì giờ đây dân phố buộc phải nói và viết bằng tiếng Xécbi. Nhưng đi đâu được với đứa con bé bỏng? Panđe đành ở lại.

    Cuối cùng Panđe cũng lấy được vợ. Hồi đó, chính quyền Xécbi ra một mệnh lệnh mang dáng dấp của thời Trung Cổ: tất cả phụ nữ có quan hệ với binh lính và sĩ quan Bungari phải rời khỏi Xtrumitse cùng với toàn thể gia đình. Một trong những cô gái xinh đẹp nhất thành phố tên là Tanke – người yêu của một sĩ quan Bungariđã bị bố mẹ cho Panđe để tránh việc gia đình bị đuổi khỏi Xtrumiste một cách nhục nhã. Tanka cảm thấy vô cùng bất hạnh mặc dù Panđe là một người chồng tốt và hay lam hay làm. Nhưng người ta có câu: mãi cùng thành yêu. Trường hợp này cũng vậy: Panđa yêu vợ và Tanka cũng trở thành nữ chủ gia biết chăm lo và là người mẹ dịu dàng đối với Vanga.

    Những ngày hạnh phúc bắt đầu. Panđe chăm chỉ lao động và đất đai của ông dần lên tới 10 hécta. Vào mùa, ông đã phải thuê thêm người làm. Người ta bắt đầu gọi ông là ngài Panđa.

    Nhưng ngày vui ngắn ngủi chẳng tày gang. Giông tố lại nổi lên, chính quyền Xácbi đặt mục đích biến càng nhiều dân thành người Xácbi càng tốt. Những người dân Bungari trở thành đối tượng bị khủng bố. Panđe bị bắt, đất đai của họ bị tịch thu. Gia đình bị bần cùng hóa.

    Khi Panđe ra tù trong tình trạng bbị đánh đập dã man thì vợ ông đang quằn quại trong cơn đau lúc sinh nở. Đức con trai sinh ra được đặt tên là Vaxin. Đó là năm 1922, Panđe đi chăn cừu cho dân mấy làng xung quanh. Người chăn cừu và tá điền, những kẻ bần cùng trong xã hội. Panđe sống như thế cho đến cu%E1??c đời.

    … Năm 1923, gia đình Panđe chuyển sang làm chỗ người anh trai của Panđe tên là Koxtađina. Ông này giàu có, cưới được vợ giàu nhưng vẫn không có hạnh phúc vì không có con. Biết em trai gặp chuyện khó khăn, ông gợi cả gia đình em đến ở với mình để cùng làm ăn.

    Bắt đầu một cuộc sống mới. Là đứa bé lớn nhất, Vanga, lúc đó 12 tuổi, có nhiệm vụ hàng ngày lùa ừu ra bãi rồi chở từ đó hai thùng sữa về nhà.

    Vào một ngày hè Vanga cùng hai cô bé khác trở về làng, rẽ xuống một con suối để uống nước. Tự nhiên một trận cuồng phong nổi lên. Trời tối sầm lại, cơn gió khủng khiếp bẻ gẫy cả cành lớn cuốn chúng đi cùng bụi đất. Các cô bé khiếp đảm bị gió quật ngã, riêng Vanga thì bị bốc bay trên cánh đồng. Trận cuồng phong kép dài trong bao lâu, chẳng ai biết cả. Khi gió lặng, hai cô bé vừa khóc vừa chạy về nhà. Một tiếng đồng hồ sau người ta mới tìm thấy Vanga bị cành cây và cát bụi vùi kín. Cô bé gần phát điên vì sợ và vì đau, đôi mắt đầy bụi như bị kim châm không tài nào mở ra được nữa.

    Cha mẹ cố gắng chữa cho Vanga, nhưng vô hiệu. Họ nhờ đến các thầy lang nhưng chẳng còn hy vọng. Mắt của Vanga bầm máu, mí mắt sưng húp. Biết những thầy thuốc địa phương không thể giúp gì được, cha của Vanga đưa con trở lại thành phố Xtrumiste để tìm một bác sĩ giỏi. Ông bị cắn đứt bởi ý nghĩ là việc ông chuyển đến làng mới đã làm Vanga bị mù mắt.

    Một bác sĩ nhãn khoa đã khám cho Vanga và nói rằng tình trạng đôi mắt rất xấu và quá trình viêm nhiễm đang tiến triễn rất nặng nề, cần phải có nhiều tiền, và phải đi Bangrát. Gia đình đã làm mọi cách để có được 500 lêva. Hầu như tất cả đồ đạc đều bị bán. Panđe vay thêm một ít tiền, tổng cộng tất cả được hừng nửas ố tiền cần có, mà thời gian mổ đã đến gần.

    Hôm trước ngày hẹn mổ, Vanga được gửi đi cùng với một người hàng xóm tương đối giàu có đi thăm con trai. Panđa đàng phải bấm bụng ngồi ở nhà để khỏi tiêu lạm vào số tiền dành cho việc chữa bệng con gái.

    Bác sĩ Xavich mổ cho Vanga nổi giận trước số tiền ít ỏi mà người ta đưa cho ông. Ông tuyên bố: “chỉ khi nào mang đủ số tiền đến tôi mới mổ”. Nhưng rồi ông ta cũng chạy chữa cho cô bé.

    Trở về từ Bengrát, Vanga nhìn thấy mờ mờ. Bác sĩ dặn trước là để giữ được thị mực, Vanga cần được ăn tốt, giữ vệ sinh và yean tĩnh. Dĩ nhiên lời dặn dò này không thể nào thực hiện được. Năm 1924, gia đình Penđa có thêm một con trai là Tome, Panđe lang thang làm thuê kiếm tiền nuôi vợ con, Tanka làm việc đến kiệt lực ngoài đồng còn Vanga lo việc nhà và trông hai em trai.

    Sự thiếu thốn , điều kiện sống lao khổ đã xóa sạch kết quả của sự chữa bệnh không mấy nhiệt tâm, ít lâu sau, Vanga mù hoàn toàn và lần này là vĩnh viễn.

    Vanga tuyệt vọng, cô bé khóc ròng suốt mấy ngày đêm và cầu nguyện chúa Trời, nhưng chẳng có phép màu đến cả. Nhiều tháng sau, Vanga vẫn không tài nào quen được với việc mình trở thành gánh nặng cho cả gia đình. Những người quen ái ngại cho tình cảnh của họ đã khuyên Panđe tìm một trại người mù để gửi Vanga. Người cha bất hạnh cũng thấy cần phải như vậy.

    Năm 1926, một trại mù báo tin họ sẵn sàng nhận Vanga. Năm đó Vanga 15 tuổi.

    Trong trại người mù ở thành phố Demun, tất cả đều mới mẻ và tuy có hơi đáng ngại một tý nhưng thú vị.

    Những trẻ em đến đây lập tức được moặc bộ quần áo học sinh rất nghiêm nghị. Váy nâu và áo sơ mi cổ lính thủy. Lần đầu tiên trong đời, mái tóc sẫm của Vanga được tỉa ngắn đi. Cô thẹn thùng nhưng cảm thấy bình yên và hạnh phúc. Cô rụt rè lướt tay trên làn vải mới, và cảm thấy mình như một nàng công chúa vì cô chưa bao giờ được ăn mặc đẹp như vậy.

    Chế độ trong trại rất nghiêm túc. Trước giờ ăn trưa, học sinh được học chữ nổi Lui Brain giành cho người mù, học các môn văn hóa và học nhạc. Vanga rất có năng khiếu âm nhạc nên chẳng bao lâu đã chơi được dương cầm.

    Sau đó là những giờ học thực hành. Những trẻ em mù này được học cách đăt các đồ vật theo đúng vị trí của chúng, bày bàn ăn, dọn dẹp nhà cửa. Đó là những việc đơn giản đối với người sáng mắt, còn những người mù cần phải học “nhìn” bằng tay, phát triển sự nhạy cảm và độ mềm dẻo của các ngón tay. Vanga học mọi thứ dễ dàng. Các thầy cô giáo luôn hài lòng về cô.

    Ba năm trôi qua như một cái chớp mắt. Từ một đứa trẻ gầy gò, Vanga trở thành một cô gái thanh tú, gương mặt gầy của cô tỏa ra sự yên tĩnh và hài lòng. Thỉnh thoảng gương mặt đó cũng bừng lên một niềm vui thầm kín nào đó. Trong số học sinh củ trại có chàng trai trẻ tên là Đimitơ. Vừa nghe giọng nói của anh, Vanga đã đỏ mặt sung sướng, trái tim cô đập rộn ràng vừa lo âu, vừa sung sướng trong lồng ngực. Chàng trai cũng phân biệt giọng nói của Vanga. Cả hai người đều cảm thấy hạnh phúc khi họ ở bên nhau. Đến một hôm, Đimitơ ngỏ lời yêu với Vanga. Bố mẹ Đimitơ giàu có họ cũng tán thành tình cảm của đôi trẻ.

    Hàng ngày ròng rã Vanga cố hình dung mình trong vai cô dâu. Chiếc áo trắng và vòng hoa tinh khiết. Cô lặng đi vì hạnh phúc. Lãnh đạo trại đã gửi thư thông báo cho Panđe biết về quyết định của Vanga và Đimitơ và mọi người đợi lời chúc phúc của ông.

  • thangbe21

    khoảng 2 10 năm trước
  • Chương 3: MỘT CUỘC SỮ.. NGHIÊNG MÌNH

    Năm 1928 thật là một năm khủng khiếp! Thay vì lời chúc phước của cha, Vanga nhận được từ Xtrumitse bức thư làm cô tan nát cõi lòng. Cha cô viết rằng cô phải lập tức quay về nhà để trông nom các em. Hai năm trước, mẹ kế cô sinh thêm một em gái và vừa qua đã mất khi sinh nở đứa con thứ tư.

    Thế là Vanga đã phải vĩnh biệt mối tình đầu, vĩnh biệt trường học và cuộc sống ít nhiều hạnh phúc. Đường trở về nhà là thật buồn thảm. Cô biết rằng ba năm ở trại người mù là những năm tháng đẹp nhất trong đời cô.

    Từ đó trở đi cuộc đời Vanga là một chuỗi dài những đau khổ mà không phải những người sáng mắt cũng chịu đựng nổi. Thật lạ lùng: Vanga đã vững vàng, như có sức mạnh tiềm ần trong tâm hồn đã giúp cô vượt qua mọi khó khăn.

    Vanga trở về trong tình cảnh bần cùng của gia đình. Mấy đứa trẻ bẩn thỉu và luôn đau ốm vì đói ăn. Em trai Vaxin 6 tuổi. Tôme 4 tuổi, còn em gái út Liupka mới 2 tuổi. Và cô gái mù có sứ mệnh giúp phải là tất cả đối với chúng: là mẹ, là chị, là người chăm sóc, bảo vệ. Vanga vừa trở về là Panđe đã phải đi làm thuê để kiếm tiền nuôi các con.

    Trớ trêu là cuộc đời hay thử thách, trước hết là những người nghèo. Trận động đất năm 1929 ảnh hưởng đến cả vùng Xtrumitse. Ngôi nhà mà gia đình Vanga sống sụp đổ. Cha cô thu nhặt các mảnh vụn dựng nên một căn lều vách đất và một gian bếp nhỏ để có thể nướng bánh mì khi gia đình có bột. Vanga cố gắng thu xếp căn lếu gọn gàng và ấm cúng. Cô cùng Liupka sống những năm dài trong căn lều này. Các em trai của Vanga mặc dù còn bé nhưng cũng lang thang suốt ở các làng mạc để làm thuê hoặc chăn cừu thuê kiếm miếng ăn cho gia đình.

    Những người chung quanh dần dần nghe nói rằng cô gái mù biết đan đẹp và nhanh. Họ mang len đến thuê cô đan. Họ trả công bằng các đồ vật nhỏ hoặc cuộn len cũ. Từ giẻ thừa, vải cũ, Vanga may quần áo cho các em. Cô hầu như chẳng bao giờ ra khỏi nhà. Ai cũng biết cái nghèo khủng khiếp của họ. Trong vùng, hễ có người đàn bà nào chết, người ta lại cho Vanga quần áo của người đó. Buổi sáng, Vanga dậy rất sớm. Công việc nhà cửa rất ngiều, Vanga không thích rỗi rãi chân tay và cũng không cho phép ai được ăn không ngồi rồi. Liupka mặc dù còn bé nhưng biết may vá. Vanga dạy cô bé làm các công việc gia đình khác và tỏ ra là một cô giáo nghiêm khắc.

    Ở Xtrumitse có một phong tục thú vị: Buổi tối trước ngày lễ thánh Gheocghi (ngày 6 tháng 5), các cô gái bỏ vào cái vỏ sành đựng rượu một vật đánh dấu đặc biệt thì ngày hôm sau nhìn vào đó có thể đoán được hạnh phúc của mình. Các cô gái hàng xóm thường đặt vò trong sân nhà Vanga dưới một khóm hoa hồng già. Có thể là sự thông cảm với cô gái mù, họ thường chọn Vanga làm người đoán cho họ. Sáng hôm sau, Vanga lấy các vật làm dấu ra và “kể” cho các cô gái số phận của họ. Những lời tiên đoán của Vanga hay nghiệm nhưng lúc đó chẳng ai nghĩ Vanga sẽ có tài tiên tri.

    Có một ngày lễ nữa là ngày 40 vị Thánh tử vì đạo, các cô gái cũng bói: họ đặt những cành cây bắt ngang con suối làm cầu và tin rằng đến đêm sẽ nhìn thấy người chồng tương lai trong giấc mơ đang đi qua cây cầu của mình. Buổi sáng, các cô gái đến gặp Vanga để nghe cô kể lại cho họ nội dung những giấc mơ của họ. Điều đó nghe rất lạ lùng nhưng chẳng ai nghĩ đến chuyện tìm lời Giải thích: cho những “phép lạ” đó cả.

    Nhưng những phút vui trong gia đình Vanga rất ít. Họ thường bị đói. Lương thực thường xuyên của họ là bắp cải dại, bột ngô và nếu may thì có sữa chua.

    Nếu con cái có đòi Panđe mua gì đó, ông chỉ hứa: “Khi nào bán được anh đào, bố sẽ mua”. Nhưng trong sân nhà họ chẳng có một gốc anh đào nào cả.

    Mỗi mùa xuân họ trồng một vạt thuốc lá. Khi lá thuốc già, họ hái, cuộn, thái phơi khô rồi bán. Nhưng tổ hợp thuốc lá trả cho họ ít tiền đến mức họ chỉ đủ để mua một cái “vò sành mới”. Cái cũ đã nứt rạn đến mức không thể dùng được nữa.

    Năm 1934, Liupka bắt đầu đi học. Liupka học giỏi. Vanga rất vui sướng vì cô cũng từng được học tập ở trại. Mấy em trai thì kiên quyết không chịu đi học. Tại Xtrumitse có một câu lạc bộ quốc tế ngữ tập hợp hầu như tất cả các trẻ em nhà nghèo. Cả Vaxin lẫn Tome đều ghi tên và đến câu lạc bộ đều đặn như đi học quốc tế ngữ. Họ thường bắt Liupka mang những gói nhỏ chuyển đến nhiều địa điểm trong thành phố. Một thời gian sau mới vỡ lẽ là ở câu lạc bộ người ta nghiên cứu chủ nghĩa Mác. Hai con trai của người chiến sĩ du kích già Panđe đã tìm ra con đường của mình. Vanga tiếp tục chăm lo việc gia đình và trở thành chỗ dựa không chỉ cho các em mà cho cả ông bố. Panđe nhiều lúc tuyệt vọng trong cảnh bần cùng. Vanga lại gieo hy vọng vào ông bằng cách khẳng định rồi sẽ đến những ngày tươi sáng hơn đối với ông. Lúc nào cũng túng thiếu, có lúc Panđe mơ ước trở thành người đi tìm kho báu, tìm được thật nhiều tiền.

    Một lần Vanga nói với ông rằng có một nơi có chôn rất nhiều đồng tiền cổ và mô tả tỉ mỉ nơi đó. Nó nằm cách không xa Xtrumitse, tại một làng bỏ hoang bên một cánh rừng có một mỏm đá nhọn hoắt. Vanga nói là tiền cổ được chôn dấu dưới tảng đá này. Ông bố thoạt đầu ngạc nhiên sau đó phá lên cười rất to và lâu. Vanga sầm mặt im lặng. Ông bố thôi không cười nữa và sau đó nhớ lại rằng quả thật có một nơi như thế. Đó là làng Raianna bị dân làng từ bỏ từ lâu sau trận dịch hạch. Ở đó có cả sông, cả cánh rừng, cả tảng đá.

    Panđe hỏi Vanga tại sao cô lại biết chỗ đó, Vanga nói là cô thấy trong mơ. Panđe đành rủ con gái đi cùng mình đến đó biết đâu vận may đang chờ họ.

    Và thế là cả nhà lên đường.

    Liupka nhớ lại là Vanga định hướng nơi đó rất dễ dàng, cứ như cô từng đến đó rất nhiều lần và tất cả mọi thứ đều đúng như là cô mô tả. Panđe quyết định trở lại nơi này với cả cuốc xẻng để đào. Nhưng sau đó đã xảy ra một chuyện không may, ông bị ngã gẫy tay nên không đào được. Rồi người ta đắp đập chặn sông để xây một hồ chứa nước. Nếu quả thực ở đó có chôn tiền thì giờ số tiền cũng nằm sâu dưới đáy nước chờ đợi các thế hệ tìm kho báu tương lai.

    Ít lâu sau đàn cừu mà Panđe chăn thuê bị mất trộm một con. Ông trở về nhà lòng giận dữ vì chủ không chịu trả công cho ông vì con cừu bị mất đó. Vanga nói rằng con cừu đó do một người ở làng Xonoxintovo bắt trộm. Vanga tả cảnh bề ngoài của kẻ đó. Panđe kinh ngạc bởi ngay cả ông cũng không biết người đó huống chi Vanga, một cô gái mù ít khi ra khỏi sân nhà. Nhưng Vanga nói rằng cô mơ thấy như vậy. Cô thường buồn bã nhắc lại là cô hay mơ thấy những việc không hay và sau đó chúng trở thành hiện thực. Đó chính là thời kỳ đầu của tài tiên tri của Vanga. Panđe đến làng mà Vanga chỉ ra và quả là tìm thấy con cừu bị mất trong đàn cừu của một người làng đó.

    Năm 1939 Vanga bị viêm màng phổi. Tám tháng liền cô ở giữa cái sống và cái chết. Cô gầy kinh khủng khiếp và nhẹ như bấc. Vào những ngày nắng Liupka đặt chị gái vào tấm chăn và mang ra đường. Thỉnh thoảng bác sĩ cũng đến thăm nhưng chẳng thể giúp gì và một lần nữa còn nói với Liupka là chị gái cô sắp chết. Tin này nhanh chóng lan ra khắp khu phố và hàng xóm đã gọi linh mục đến làm lễ rửa tội. Vào ngày Công nhân tổ hợp thuốc lá lĩnh lương, một người cầm mũ đứng cạnh cổng đề nghị mọi người quyên góp tiền để làm lễ tang cho cô gái mù nghèo bị chết.

    Nhưng hai ngày sau, khi lấy nước trở về, Liupka đã đánh rơi xô nước. Vanga mà mọi người đang chờ chết đã trở dậy và đang quét sân. Không thể nói là cô vừa ốm “thập tử nhất sinh”. Cô chỉ gầy khủng khiếp và da tái hơn thường lệ. Cử động của tay cô vẫn mạnh mẽ và đầy tự tin. Khi nghe tiếng Liupka, Vanga nói: “Chúng ta nhanh tay lên nào, cần phải quét dọn mọi nơi sắp có nhiều người đến nhà ta đấy!”.

    Năm 1939 trôi qua trong bầu không khí chính trị sôi sục. Chính phủ ngày càng thân Hítle. Nhân dân phản đối, nhiều cuộc biểu tình, đình công nổ ra. Bắt đầu những cuộc bắt bớ hàng loạt. Cả cha của Vanga cũng bị bắt. Một kẻ nào đó đã vu cáo ông. Trong tù ông bị đánh đập dã man nhưng vì thiếu chứng cớ, chúng buộc phải thả ông. Bình phục một cái là ông già Panđe 53 tuổi lại bắt đầu lang thang làm thuê.

    Đầu năm 1940, Liupka bị viêm màng não. Sau hai tuần nằm viện, Liupka trở về và thấy Vanga chỉ còn da với xương. Suốt thời gian Liupka bị ốm, không ai bước qua cửa nhà họ cả và dĩ nhiên chẳng có ai mang nước uống cho Vanga. Nhưng Vanga chịu đựng không một lời kêu ca và rất vui sướng khi thấy em gái lành bệnh trở về.

    Hàng ngày Vanga và Liupka đi lấy nước ở những cái giếng nằm giữa cánh đồng. Trong khi Liupka kéo nước, Vanga ngồi xuống một hòn đá và ngồi im lặng, bất động hoàn toàn thoát ly thực tại. Một lần Liupka hoảng hồn tưởng chị gái mình mất trí và chết đến nơi. Cô đứng chôn chân cạnh Vanga cho đến khi chị gái hồi tỉnh lại: “Em đừng sợ”, Vanga nói chẳng có gì đáng sợ cả. Đó là do chị vừa nói chuyện với một người, một kỵ sĩ, ông ấy muốn cho ngựa uống nước. Chị nói ông ấy đừng giận khi em không chịu nhường cho ông ấy lấy nước trước, bởi em không trông thấy ông ấy mà. Người kỵ sĩ trả lời: “Tôi không giận đâu, tôi đợi được mà. Còn cô, cô hãy hái những cọng cỏ có hoa trắng nhỏ kia kìa, nó gọi là “Cỏ sao” có thề tác dụng chữa rất nhiều thứ bệnh”.

    Liupka nhìn quanh và lúc đó mới để ý đến loại cỏ mọc đầy quanh giếng. Loại cỏ này thân mảnh không lá, trên ngọn có những bông hoa nhỏ màu trắng vương lên với mặt trời. Từ trước đến nay, cô chưa biết tên nó bởi chưa từng thấy nó ở một nơi nào khác. Liupka còn hoảng sợ hơn nữa khi thấy trên cánh đồng không một bóng người, Vanga nói về người kỵ sĩ nào. Chị ấy nói chuyện với ai trong khi không hề mấp máy môi.

    Có lẽ số phận của họ là phải ốm trong cái năm 40 ấy. Sau các con gái đến lượt ông bố bị ốm, trên da xuất hiện các vết loét, ông bị nhiễm trùng máu. Suốt mùa hè hai chị em chăm sóc bố có những lúc đã tưởng ông khoẻ lên, nhưng Vanga nói với em: “Em đừng hy vọng làm gì, chị biết là cha sắp mất rồi. Chúng ta hoàn toàn trơi trọi trên đời, không còn ai che chở nữa”.

    Đến tháng 9, Panđe đã rất yếu. Cả hai con trai đi xa đều trở về để túc trực bên giường của ông. Sau nhiều năm ly tán, rốt cuộc cả gia đình quy tụ về để mà …đói cùng nhau. Mỗi buổi sáng, hai anh em lại ra chợ làm bất kể việc gì. Họ thường trở về tay trắng. Thời buổi thật khó khăn.

    Đầu tháng 11, Panđe cảm thấy mình sắp chết, ông gọi các con lại và dặn: “Các con, cha sắp chết đây. Các con hãy ở lại và sống cho đến lúc mảnh đất của chúng ta lại trở lại là đất đai Bungari. Tiếc là cha không sống được đến cái ngày tươi sáng ấy. Cha có một ước muốn lớn: “Khi người Bungari quay trở lại, hãy gọi một người lính Bungari nào đó để người đó cắm lưỡi lê vào đất trên mộ cha, cha sẽ hiểu là Bungari đã đến!”.

    Ngày 8 tháng 11 năm 1940, Panđe mất, thọ 54 tuổi.

    Sau này khi quân đội Bungari tiến vào Xtrumitse, hai con trai Panđe dẫn một người lính đến mộ cha. Người lính đó là Bôrít Ianép người làng Beliuset. Anh cắm lưỡi lê lên mộ và nói: “Hãy an nghỉ hỡi người Bungari trung hậu”. Như đã nói ở trên, đó là chuyện về sau.

    Ngày tháng trôi đi với những nỗi cay cực đến tội cùng. Chỉ có sự chịu đựng không giới hạn của Vanga giữ cho các em cô khỏi tuyệt vọng. Mặc dù cay đắng hơn tất cả mọi người, Vanga đã tỏ ra dũng cảm và là tấm gương về sự cứng cỏi cho các em. Ít lâu sau, hai em trai lại lên đường đi làm thuê.

  • thangbe21

    khoảng 2 10 năm trước
  • Chương 4: KHỞI ĐẦU

    Cơn bão táp vần vũ thế giới. Đâu đâu cũng nghe những lời bàn tán về cuộc chiến tranh đang đến gần. Thực phẩm biến đi khỏi các cửa hàng và chợ. Những người hàng xóm thường tụ tập trong sân nhà Vanga. Họ nói với nhau những chuyện đầy lo âu. Vanga thỉnh thoảng lại nói là cần quyên góp tiền cúng cho nhà thờ Mười lăm vị Thánh tử vì đạo. Một năm nữa chiến tranh sẽ bắt đầu. Vanga báo trước, chỉ có sự hào phóng mới cứu được thành phố khỏi phá huỷ. Những người hàng xóm tiếc tiền không muốn làm. Vanga kiên trì nhắc lại rằng cô nhìn thấy trong mơ những sự kiện đáng sợ của cuộc chiến tranh sắp tới. Nó sẽ nổ ra trong năm 1941, vào tháng tư.

    Cả năm 1940 trôi đi trong sự chờ đợi lo âu. Và vào đầu năm 1941…

    “Ông ta cao lớn, tóc sáng màu và đẹp thiên thần. Những giáp trụ binh khí chiến binh của ông toả sáng dưới ánh trăng. Con ngựa có túm đuôi trắng lấy móng cào cào đất. Người kỵ sĩ dừng lại trong sân, xuống ngựa rồi bước vào căn phòng tối. Ông ta toả ra một ánh hào quang làm căn nhà sáng lên như ban ngày. Quay về phía Vanga, vị khách nói bằng giọng trầm: “Mọi thứ trong thế giới sẽ bị đảo lộn, rất nhiều người sẽ chết. Nhưng cô sẽ ở lại đây và sẽ thông báo về những người sống và những người chết. Đừng sợ, ta sẽ ở ngay bên cạnh. Lúc nào ta cũng ở bên để giúp cô”.

    Vanga hỏi em gái: “Liupka, em có nhìn thấy người kỵ sĩ không, ông ấy mới phi ngựa ra từ sân nhà ta”.

    “Người kỵ sĩ nào? – Em gái hỏi. – Chị có biết bây giờ là mấy giờ rồi không? Có lẽ chị vừa mới ngủ mê ấy”.

    “Chị không rõ, có thể là chị ngủ mơ, nhưng đó là một kỵ sĩ lạ lùng và giấc mơ cũng thật lạ lùng. Em nghe này…”

    Vanga lo lắng kể lại giấc mơ cho Liupka và cả hai chị em không chợp mắt nổi cho đến sáng.

    Ngày 8 tháng 4 năm 1941, đúng như Vanga đã tiên đoán một năm trước đó, quân đội Đức vượt qua biên giới Nam Tư. Buổi sáng, tất cả dân phố Xtrumitse đều đi kiếm nơi ẩn nấp. Chỉ có Vanga và Liupka là ở lại nhà.

    Đến trưa thì trên đường phố đã vang lên tiếng động cơ của các loại xe hạng nặng. Xe tăng Đức tràn vào thành phố. Hai chị em nghe những tiếng la hét, tiếng gót giầy thình thịch, quân Đức đang lùng tìm cướp tài sản, súc vật và của cải. Cánh cửa bật mở tung, một tên lính Đức hiện ra trong khung cửa. Hai chị em đứng giữa nhà, tái nhợt như những xác chết. Tên lính nhìn lướt qua gian nhà và cái sân trống không rồi bỏ đi: ở đây chẳng có gì để cướp cả.

    Hai ngày sau những người hàng xóm mới lục đục trở về. Nhiều người kéo đến nhà Vanga xem tình hình hai chị em ra sao. Nhưng họ khinh ngạc không dám bước vào nhà. Họ không nhận ra Vanga nữa. Sau mấy tiếng đồng hồ, Vanga đã thay đổi đến mức không còn nhận ra được nữa.

    Vanga đứng ở một góc phòng và nói bằng một giọng to, mạnh và đầy tự tin. Một sự căng thẳng nội tại thể hiện trong mỗi lời nói, mỗi hành động. Đôi mắt mù vẫn trống rỗng nhưng khuôn mặt cô biến đổi, trở nên sống động đến nỗi có cảm giác dường như từ gương mặt đó có ánh sáng tỏa ra. Từ miệng Vanga phát ra lời nói của người khác, nêu đúng tên, vị trí các sự kiện sẩy ra. Vanga nói về số phận của những người dân thành phố đã bị quân Đức bắt đi, ai còn ai mất, ai sẽ trở về và về khi nào… cảnh tượng kinh ngạc đến nỗi nhiều người bỗng có ý muốn quỳ sụp xuống trước mặt Vanga mà lạy như trước vị nữ Thánh. Sau đó, những người mà Vanga tiên đoán đã trở về đúng thời hạn như cô dự đoán.

    Tiếng đồn về Vanga, nữ tiên tri lan nhanh trong thành phố, người ta bắt đầu lũ lượt kéo đến nhà cô.

    Sau đây là một trong những trường hợp tiên đoán đầu tiên của Vanga.

    Vợ người hàng xóm Milan Nactenôp ngồi trong sân nhà Vanga và khóc bởi chồng bà bặt tin. Vanga nói với bà: “Cô đừng khóc, mà tốt hơn hết là đi giặt là quần áo và chuẩn bị bữa ăn tối cho chú ấy bởi đêm nay Milan sẽ trở về nhà. Cháu nhìn thấy chú ấy. Chú ấy đang nấp trong một cái vực cách không xa thành phố, trên người chỉ còn đồ lót thôi”.

    Người đàn bà nghĩ Vanga nói thế để động viên bà thôi nhưng cũng đi về nhà chuẩn bị cơm nước và quần áo của chồng. Đêm đó bà nằm không ngủ. Khoảng nửa đêm, có ai đó gõ vào cánh cửa sổ. Nhìn ra, chút nữa thì bà ngất xỉu, chồng bà đang đứng ngoài sân, trên mình chỉ còn đồ lót. Té ra ông vừa trốn khỏi trại tù binh của bọn Đức.

    Ngay từ đầu cuộc chiến, Vanga đã nói với một bà già hàng xóm, mẹ của Khrixôp là con trai của bà còn sống và sẽ trở về. Vợ chưa cưới của Khrixôp không tin và đi lấy người khác. Một năm sau, Khrixôp trở về và người đầu tiên nhìn thấy anh là người yêu cũ. Cô ta lập tức ngất xỉu. Bà già Khrixôp thì suýt ngất đi vì sung sướng.

    Từ hai sự việc này khiến người ta kéo đến gặp Vanga rất đông. Ai cũng muốn Vanga nói về số phận người thân của mình. Vanga tiên đoán cho tất cả, và sau đó những lời tiên đoán đó đều trở thành sự thật.

    Vanga cũng nổi tiếng là một bà lang chữa được rất nhiều bệnh. Bà chỉ dùng các loại cây cỏ. Và điều thú vị là tri thức của bà làm các chuyên gia có kinh nghiệm lúng túng. Những phương thuốc của bà thường đơn giản nhưng cho hiệu quả rất cao. Chẳng hạn, Vanga đã chữa khỏi cho một người đàn bà bị suy nhược thần kinh bằng một loại cỏ mọc ven con sông nhỏ gần đấy. Người đàn bà lành bệnh và giờ đây, bà ta vẫn sống khoẻ mạnh ở lứa tuổi tám mươi.

    Vanga nói cho những người nông dân những gì làm họ lo lắng với độ chính xác tuyệt đối và giúp họ giải quyết các khó khăn.

    Một người nông dân ăn cắp một con lợn con của một bà goá nghèo. Vanga nói trắng ra giữa bàn dân thiên hạ câu chuyện nhục nhã đó. Kẻ ăn trộm len lén ra về. Ngay hôm sau, bà goá mở cửa đã thấy con lợn đang đứng ở trong sân.

    Dần dần, một huyền thoại về Vanga hình thành.

    Một số người sợ khả năng nhìn thấu của Vanga nên gán cho cô những đặc tính thần bí. Kết tội cô là phù thuỷ. Một số người lại thán phục tài năng tiên tri của cô, phóng đại những điều cô nói và gọi đó là những điều “kỳ diệu của kinh Thánh”. Vanga được toàn thể mọi người yêu mến.

    Sự kính trọng vẫn bao quanh Vanga cho tới ngày nay, giờ đây, Vanga vẫn tiếp tục được mời làm mẹ đỡ đầu cho những đứa trẻ mới sinh, được mời tới các lễ cưới. Mà không chỉ trong phạm vi vùng Petritrơ mà cả ngoài. Người ta mời bà những dịp lễ trong gia đình vì họ cho rằng sự có mặt của Vanga sẽ mang lại cho họ những điều may mắn, tốt lành, sự yên ấm, hoà thuận trong gia đình.

    “Ngày 8 tháng 4 năm 1942 – Liupka kể – bà già Tina, một người quen của chúng tôi tới và nói rằng sẽ có một vị khách quan trọng tới thăm chúng tôi. Bà chỉ nói là năm 1918 ông ta đã trọ ở nhà bà. Bà ta đi ra rồi sau đó trở lại dắt theo một người đàn ông thâm thấp, mắt xanh, ria xén cẩn thận, mặc quân phục xám. Ông ta hỏi Vanga xem liệu chị có thể giành cho ông ta một thời gian không. Bà già Tina rỉ tai tôi: hãy nhìn ông ta cho kỹ, bởi đó chính là nhà vua Bungari – Vua Bôrits. Tôi ngạc nhiên, tôi chẳng bao giờ lại tưởng tượng nổi chuyện một vị vua tới thăm lều của chúng tôi. Còn Vanga thì lại đứng vào một góc phòng quen thuộc và trước khi vị khách kịp nói điều gì, chị ấy nói bằng giọng nghiêm khắc. “Vương quốc của Người đang lớn lên, nó trải rộng, nhưng người hãy chuẩn bị sẵn sàng để bỏ sở hữu của mình trở lại vào vỏ quả hồ đào – Rồi Vanga lặp lại – Hãy sẵn sàng. Sau đó im lặng, đoạn tiếp: - Hãy nhớ ngày 28 tháng 8!”

    Nhà vua không nói không rằng ra về trong trạng thái lo lắng. Ông chết ngày 28 tháng 8 năm 1943.

    Sau khi ông chết, ba người đàn bà từ Xôphia tới gặp chúng tôi. Họ nói họ là họ hàng của nhà vua và yêu cầu Vanga nói cho họ biết những gì đang đợi gia đình nhà vua. Vanga trả lời: “Khi trở về, các bà hãy treo lên giường nhà Vua một dải băng màu đỏ”. “Thế có thể là băng màu hồng hay màu trắng được không?” Ba người đàn bà không bao giờ trở lại nữa. Còn ngày 9 tháng 9 năm 1944, lá cờ đỏ chiến thắng tung bay trên cung Vua cũ.

  • thangbe21

    khoảng 2 10 năm trước
  • Chương 5: MỌI NGƯỜI Į..?C HẠNH PHÚC

    Năm 1942, biên giới Nam Tư – Bungari được mở thông. Những người từ Petritrơ và từ xa hơn nữa cùng nhau tới gặp Vanga. Ai cũng muốn Vanga nói trước cho về số phận của mình, của người thân và gia đình. Những người bệnh đến đây hy vọng được bà chữa lành.

    Một lần có một số người lính thuộc trung đoàn II, quân đội Bungari tới gặp bà. Trong số họ có anh lính Đimitơrơ Guserôp, 23 tuổi, người làng Krưngllise. Anh chỉ muốn gặp chính Vanga để hỏi về cái tương lai chẳng hứa hẹn điều gì sáng sủa của mình. Người anh trai của anh là một nhà buôn vừa bị giết và cướp sách cả hàng hoá, để lại một mẹ già, một người vợ bị bệnh ho lao và ba đứa con thơ.

    Đimitơrơ ngần ngừ ngoài sân chưa dám vào ngay. Bỗng Vanga từ trong nhà bước ra và gọi đúng tên anh, rồi nói: “Tôi biết vì sao anh tới đấy. Anh muốn biết tên những kẻ đã giết anh trai của anh. Có thể tôi sẽ cho anh biết, nhưng anh phải hứa trước với tôi là anh sẽ không trả hận. Anh sẽ sống và trở thành người làm chứng tội ác của chúng tại mỗi phiên toà”.

    Vanga không cho phép ai trả thù. Bà tin tưởng vững chắc rằng con người chỉ được hoặc hướng tới điều thiện, bởi điều ác, trong đó có cả sự trả thù sẽ bị trừng phạt, và sự trừng phạt đó nó thường rất nặng nề và nếu không rơi lên đầu người trả thù thì cũng rơi lên đầu hậu thế của anh ta. Tôi thường hỏi bà tại sao lại có sự không công bằng như vậy, bà luôn trả lời: “Để cho đau hơn”. Tôi không thể hiểu ý nghĩa những lời nói này của bà.

    Tôi còn nhớ một trường hợp như thế này. Mấy năm trước có một người nông dân tới gặp Vanga. Gia đình ông sinh tất cả 13 đứa con, nhưng tất cả đều chết khi còn nhỏ, đứa thứ 13 chết khi vừa 12 tuổi. Bác sĩ giải thích: rằng chính nguyên nhân những cái chết đó vì bà truyền vi trùng lao cho con mình, nhưng Vanga giải thích khác. Bà nhắc lại cho vị khách chuyện ngày xưa ông ta đã quá thẹn thùng vì bà mẹ mình già còn có mang nên đã lăng mạ bà rất nặng. Ông ta hối không kịp nữa: cả mẹ và cả em ông ta đều chết. Điều đó xảy ra lâu lắm rồi, người kia đã quên, nhưng Vanga thì không quên. Bà lập tức hiểu ngay tại sao thiên nhiên lại nặng tay đến như vậy đối với gia đình ông ta.

    Nhưng chúng ta hãy quay lại với người lính trẻ. Khi ấy ở Xtrumitse, việc Vanga gọi đúng tên và nói đúng mối bận tâm của Đimitơrơ làm anh khinh hoàng đến nỗi không nhớ mình đã ra khỏi nhà Vanga như thế nào. Sau đó anh quay lại nhà Vanga nhiều lần nữa và lần nào họ cũng nói chuyện tay đôi với nhau rất lâu trong căn phòng của Vanga.

    Vào giữa tháng tư, Vanga nói với em gái là Đimitơrơ đã ngỏ lời cầu hôn với cô và sắp tới họ sẽ chuyển sang sống ở Pêtritrơ.

    Thời gian này, mấy em trai của Vanga cũng không có nhà. Vaxin vào lính và đóng tại Đupnitse còn Tôm bị lùa sang Đức lao động khổ sai.

    Sáng ngày 22 tháng 4, một chiếc xe ngựa dừng trước cửa nhà Vanga. Anh chành Đimitơrơ hồi hộp nhảy xuống. Tin mừng lan nhanh khắp hàng xóm và mọi người đến để chia tay với cô gái tiên tri. Nhiều người thậm chí trách Vanga là can tâm dời quê hương xứ sở. Vanga không để tâm những lời này vì chuyến đi này chính là chia tay với cuộc sống đầy tủi cực của đời thiếu nữ. Tuy tương lai cũng rất mù mịt nhưng cô vẫn hy vọng là những ngày tương sáng đang ở phía trước.

    Của hồi môn của cô dâu chỉ mang tính chất tượng trưng. Trên vai của Vanga vắt một chiếc khăn quàng lụa màu đỏ do cô tự may lấy và cô mang theo mình một cái chảo và một cái bi đông bằng đồng để làm vật kỷ niệm về ngôi nhà của bố mẹ. Đó là toàn bộ đồ đạc của cô. Liupka ngồi cạnh chị và ngoái đầu như nhìn lại lần cuối cùng ngôi nhà nhỏ bé của họ.

    Chiều ngày hôm đó, họ về tới Petritrơ. Họ đứng trước một ngôi nhà nát không thể gọi là nhà ở được nữa. Từ các khung cửa sổ nhàbên cạnh, những đôi mắt mở to tò mò nhìn họ. Một số người bước ra đường, một vài cô nào đó thể hiện sự ngạc nhiên của mình thành lời: “Làm sao một người mù lại có thể làm bà chủ được, mắt mũi thế kia thì còn làm với ăn gì được”. Nhưng Vanga không để tâm những lời nói như vậy.

    Họ bước vào hành lang dài bẩn và tối, hai bên là hai căn phòng nhỏ. Sau này một căn trở thành phòng ngủ còn một căn thì Vanga ngồi tiếp khách khứa.

    Ở phía sau còn có một căn phòng nữa, sau mới được dựng lên. Liupka nhớ lại, trong có một số tấm phản gỗ trên để một tấm nệm, gối là các túi vải trong nhồi bẹ ngô. Đó là giường ngủ của bà lão Magdalena bảy mươi tuổi – mẹ của chàng rể với ba đứa cháu con của người anh trai bị giết và thêm hai đứa cháu con một người anh khác nữa. Lại thêm một người con dâu bị bệnh ho lao. Sự bần cùng thấy rõ khắp nơi.

    Như vậy Vanga đã đổi được cuộc sống đói khổ lấy một cuộc sống khác cũng không kém đói khổ và khó khăn hơn.

    Ngày 10 tháng 5 năm 1942, Vanga chính thức kết hôn cùng Đimitơrơ và bắt đầu chăm lo đến cuộc sống gia đình. Người đàn bà trẻ gặp rất nhiều khó khăn. Bà lão Magdalena không hài lòng với sự lựa chọn của con trai mình và thậm chí còn nói: “Chẳng lẽ số phận mày nó lại như vậy”. Có lẽ bà hy vọng con trai sẽ tìm một cô vợ lực điền khoẻ mạnh để cứu cái gia đình đông người toàn người già, người ốm và con nít này. Vanga im lặng nhẫn nhục chịu đựng và nhanh chóng chứng tỏ với những người còn hoài nghi những gì cô có thể làm được. Cùng với Liupka, Vanga thu dọn, lau chùi nhà cửa, sửa sang, quét lại vôi tường và chẳng bao lâu, ngôi nhà đã sáng sủa hẳn lên. Vanga không cho những người dân trong làng đến biến cái sân nhà mình thàng cái chợ để mua bán nữa và sắp xếp nó lại. Thấy rõ là ngôi nhà có một bà chủ biết thu vén.

    Gia đình họ sống như những gia đình khác thời chiến tranh. Nhưng điều đó tiếp diễn không được lâu. Tiếng đồn về tài tiên tri của Vanga nhanh chóng lan xa, dòng người lại đổ về nhà Vanga. Đimitơrơ không hài lòng về chuyện này. anh nghĩ là giờ đây Vanga phải từ bỏ việc tiên đoán để giành toàn bộ thời gian cho gia đình. Do rất tôn trọng Vanga, anh cảm thấy rất khổ tâm khi mình không có khả năng nuôi được gia đình. Vanga cũng rất yêu chồng nhưnh cô cho rằng sứ mạng của mình là phục vụ mọi người và cái sứ mạng đó còn lớn lao hơn những nghĩa vụ và trách nhiệm với gia đình, thậm chí cô còn thấy cuộc sống riêng của mình cũng phải gình cho người khác.

    Dòng người đổ đến nhà Vanga lo âu mệt mỏi những với những tia hy vọng trong ánh mắt.

    Trong những năm tháng ấy, rất nhiều thanh niên Bungari chiến đấu chống lại bọn phát xít trong các dội du kích. Những người thân của họ thường tìm đến Vanga hy vọng nghe được những tin tức về họ. Bọn cảnh sát cũng biết được điều đó. Hai viên cảnh sát Xugurôps và Ladadốp hầu như ngày nào cũng đến nhà Vanga, tung ra những lời đe doạ, bắt Vanga phải khai ra những gì đã nói với thân nhân của những “kẻ thù của chính quyền”. Nhưng Vanga đã im lặng. Chúng trả thù bằng cách bắt Vanga đi lao động bắt buộc mà trước đó một người mù như cô vẫn được miễn.

    Rồi lệnh động viên quân dự bị được ban bố. Đimitơrơ bị động viên vào bộ phân quân đội đóng ở Hy Lạp. Từ giã Vanga anh hứa là nếu sống sót trở về, anh sẽ xây cho cô một ngôi nhà mới. Đimitơrơ rất khéo tay và rất giỏi nghề mộc mặc dù chẳng học ở đâu cả. Nhưng lời hứa của anh chỉ thực hiện xong vào năm 1947.

    Tiễn chồng Vanga chỉ nói: “Coi chừng nước”.

    Quả thật, những ai sống sót từ Hy Lạp trở về phần nhiều đều bị ngã nước và các bệnh gan khác do uống thứ nước độc trong các đầm lầy Hy Lạp.

    Năm 1942, Maria Gaigurôva, một bà giáo thành phố Xandaxiki thường đến thăm Vanga. Vanga và Liupka rất mến bà. Bà có bốn cô con gái và hai con trai. Vanga thường đùa: “Cô Maria ạ! Cháu gả con Liupka nhà cháu cho một trong hai cậu bên nhà đấy”. Chuyện xảy ra đúng như vậy. Liupka đã gặp gỡ với Xtôian, người con trai lớn của bà Maria. Họ yêu nhau và chẳng bao lâu đã làm lễ cưới. Đó chính là cha và mẹ tôi.

    Cả bà ngoại Maria và ông nội Bôrít của chúng tôi đều là những người học rộng thời ấy. Ông tôi chơi được đàn vĩ cầm, biết vẽ và đọc các pho kinh điển bằng tiếng Pháp.

    Là một người được giáo dục trong tinh thần của chủ nghĩa duy vật, ông tôi không tin lắm vào những lời tiên đoán của Vanga và thậm chí có một lần khi Vanga đến thăm nhà, ông đã thử tài của cô. Ông hỏi: “Cô có biết điều gì xảy ra với hài cốt của cha tôi, người đã bị bọn Thổ giết chết năm 1912 ở Mennic không? Cho đến bây giờ, người ta vẫn chưa tìm thấy hài cốt của ông ấy”. Vanga khuyên ông nên đến Mennic tìm một người có tên là Petrơ, người đã chứng kiến sự việc trên và có thể kể lại tỉ mỉ những gì đã xảy ra trên thực tế. Ông Bôrit ngạc nhiên nhưng quyết định tiếp tục cuộc thử nghiệm. Ông đến Mennic và quả thật đã tìm được gia đình ông Petrơ. Ông này đã chết, nhưng người con trai của ông ta đã kể cho ông tôi những chuyện mà ông ta đã kể lại nhiều lần. Té ra, cụ ngoại tôi là một linh mục và đồng thời là một người tích cực đấu tranh vì sự trong sáng của tiếng Bungari, trường học Bungari, nhà thờ Bungari, đã bị quân Thổ bắt và giết hại một cách dã man. Bọn Thổ căm thù ông đến nỗi tiếp tục hành hạ hài cốt của ông. Chúng ném xương vung vãi dưới một gốc cây, còn trong hòm của ông thì chúng bỏ xương của một con ngựa vào.

    Sau chuyện này, ông ngoại tôi bắt đầu tin vào tài tiên tri của Vanga và quyết định hỏi cô về số phận của hai người anh trai của ông đã rời khỏi đất nước vào năm 1912. Vanga trả lời: Sêrô nằm trong mộ, Nicôla còn sống. Tôi trông thấy ông ấy cách đây không lâu, ông ấy còn ở tại một thành phố lớn của nước Nga. Ông ấy học ở đấy và trở thành một nhà khoa học. Nhưng giờ đây ông ấy đang là tù binh trong một trại. Chú đừng sợ, ông ấy sẽ trở về vào mùa xuân này.

    Khi chú trông thấy một người mặc bộ đồ xám, tay sách hai cái vali thì đó chính là anh trai của chú đấy!

    Câu chuyện thật khó tin, ông tôi không thể tin được là người anh trai bị mất tích của mình trở thành một nhà khoa học Xô Viết, cũng không tin chuyện ông trở thành tù binh. Lần này thì ông không tin ở Vanga nữa và không có hy vọng sẽ gặp lại anh trai.

    Nhưng ngày tháng trôi đi và một hôm một người lữ hành mệt mỏi dừng lại trước ngôi nhà của ông tôi. Trên người ông ta mặc một bộ đồ xám và dưới đất đặt hai chiếc va ly. Không ai biết ông ta cả. Cả ông ngoại tôi cũng không thấy quen. Nhưng đó chính là anh trai Nicôla của ông. Người em trai út đã trở về quê hương sau 22 năm phiêu lãng. Sau đó ông đã xác nhận tất cả những gì Vanga nói là đúng.

    Tham gia từ năm 1919 vào hoạt động của các tổ chức cộng sản, năm 1912 hai anh em Sêrô và Nicôla buộc phải chạy trốn sang Nga. Nicôla đến Ođetxa. Sau nhiều năm gian khổ, ông tốt nghiệp đại học, trở thành kỹ sư điện. Ông đã tham gia xây dựng các nhà máy thuỷ điện ở tất cả các nước cộng hoà Xô viết. Khi quân Đức xâm lược Liên Xô, Nicôla bị bắt làm tù binh và bị đưa về Đức. Sau nhiều lần bị tra tấn dã man, ông trốn thoát được khỏi trại. Sau chiến tranh, ông quyết định trở về Bungari.

    Mùa xuân năm 1944, vào mùa anh đào chín, chồng của Vanga từ Hy Lạp trở về. Ông chỉ còn lại một nửa. Vì uống phải nước đầm lầy độc, gan ông sưng to và ông thường phải chịu những cơn đau khủng khiếp. Ông yếu đến nỗi không cầm nổi chiếc rìu trong tay nữa. Nhưng nhớ lời hứa với Vanga, ông bắt đầu dựng một ngôi nhà mới – 1945.

    Càng ngày càng nhiều người đến mong ở sự giúp đỡ của Vanga. Bà dậy từ lúc trời còn sáng, nấu ăn cho những người thợ tới giúp Đimitơrơ dựng nhà, sau đó tiếp những người mong được gặp bà.

    Một sĩ quan cùng vợ từ Xôphia đến gặp Vanga nhiều lần. Người ta đã quen mặt họ, thậm chí một số người còn ghen tị với vẻ hạnh phúc của họ nữa. Nhưng Vanga nói: Đừng vội ghen tị. Tương lai sẽ cho thấy có đáng ghen tị không. Sau này người ta điều tra rằng trong chiến tranh, viên sĩ quan là một tên đao phủ. Hắn đã bị kết án tử hình.

    Nghe tin này, Vanga nói với những người khách của mình “Đừng có ghen tị với bất cứ ai trước khi biết chung cuộc của cuộc đời anh ta”.

    Còn một trường hợp của những năm đó nữa. Một người đàn bà vùng Petritrơ để lạc mất đứa con gái ba tuổi của mình ở chợ, tìm khắp nơi không thấy, người mẹ bất hạnh tới gặp Vanga. Vanga nói rằng con gái của bà bị những người Digan bắt trộm. Bây giờ tìm kiếm chỉ vô ích, mà nhiều năm sau hai mẹ con mới lại sẽ gặp được nhau.

    Hai mươi năm sau, người đàn bà đó đến Blagoegrat và tình cờ nghe được câu chuyện câu chuyện của hai người đàn bà trên sân ga Krexana. Nhờ đó bà biết rằng ở một làng gần đó có mấy gia đình Digan sống. Một cô gái Digan trẻ khác biệt hẳn với đồng bào của mình vì có mái tóc màu hạt dẻ sáng, đôi mắt xanh và những cử chỉ không giống dân Digan.

    Một cái gì đó run rẩy trong tim người mẹ – đã bao năm bà chờ đợi lời tiên đoán của Vanga trở thành hiện thực. Bà tìm đến làng đó, dễ dàng tìm được nhà của cô Digan có mái tóc màu hạt dẻ. Tim bà như muốn vỡ ra vì hồi hộp. Người đàn bà Digan trẻ không tin lời kể của bà ta và nói rằng từ bé đến lớn cô ta sống với những người Digan, còn chồng của cô ta thì muốn tống cổ mụ già lếu láo. Nhưng “bà mẹ vợ” đã quát anh ta im mồm và kể rằng nhiều năm trước đây những người Digan khác đã trao cho bà ta cô bé bắt trộm được tại một hội chợ ở vùng Petritrơ.

    Người đàn bà tội nghiệp bèn kể cho cô gái nghe về tuổi thơ và trong tâm trí của cô ta đã có điều gì đó mơ hồ như đang sống lại. Mắt cô mờ đi và cô nhớ lại được rằng hồi bé cô sống trong một ngôi nhà trong sân có một cái giếng sâu và gần đó có một tảng đá rất to. Hoàn toàn tin tưởng là mình đã tìm được con gái, người đàn bà mời cô gái đi với mình về làng. Đến đó, cô gái Digan nhớ lại được rằng mình có một người anh trai nữa. Cô nhận ra ngôi nhà cũ và đi lại một cách tự tin. Người làng kéo đến. Cuộc gặp mặt diễn ra rất cảm động. Nhiều người không cầm nổi nước mắt.

    Tháng 5 năm 1944, em trai út Tôme của Vanga cũng tới Đức trở về và dừng chân ở Xtrumitse. Còn ngày 10 tháng 6, người em trai khác là Vaxin đột ngột xuất hiện ở Petritrơ để từ biệt mọi người: Anh muốn đến Xtrumitse gia nhập đội du kích.

    Hồi ấy, vào thời gian cuối cuộc đại chiến, Lữ đoàn du kích Makeđôn thứ tư được thành lập ở Xtrumitse. Nhiều trai tráng ghi tên gia nhập đội quân du kích. Liupka cũng quyết định bí mật đi cùng với họ. Riêng với em trai, Vanga khóc khuyên anh đừng đi. Bà nhắc đi nhắc lại: Đừng đi, người ta sẽ giết em khi em mới 23 tuổi mất thôi. Người em trai không tin. Thế là hai anh em Liupka tới Xtrumitse gia nhập du kích.

    Ngày 8 tháng 10 năm 1944, Vaxin, lúc đó đã trở thành chỉ huy một phân đội công binh nhận nhiệm vụ phá sập một chiếc cầu gỗ gần làng Turka. Các đơn vị Đức đang rút lui qua chiếc cầu này. Vaxin hoàn thành nhiệm vụ nhưng chẳng may chứng minh thư của anh lại rơi tại trận địa. Bọn Đức tìm thấy chiếc chứng minh thư ấy. Một người kiếm củi bị bắt đã khai rằng có nhìn thấy chàng trai này trong làng. Lập tức toàn bộ dân làng bị lùa vào ngôi nhà thờ. Cả Vaxim cũng bị lùa vào trong ấy. Để cứu mọi người, Vaxim đã bước ra và nói: Chính tao đã phá cầu. Vaxim đã chết hết sức đau đớn.

    Vaxim chết vào ngày 8 tháng 10 đúng 23 tuổi tròn!

    Năm 1947, chồng Vanga xây dựng xong nhà và bị ốm nặng. Ông kiệt sức sau khi từ Hy Lạp trở về và ngôi nhà càng làm ông cạn kiệt. Ông thường thấy những cơn đau trong dạ dày, một người bạn mách ông làm dịu cơn đau bằng cách mỗi ngày uống một cốc rượu. Đimitơrơ làm theo và ông không kịp nhận thấy là mình dần dần trở nên nghiện ngập. Ông thường đóng chặt cửa, uống một mình. Có thể là trong lòng ông có một tấn bi kịch nào đó nhưng ông không muốn chia sẻ với mọi người. Cả Vanga, cả bác sĩ đều khuyên Đimitơrơ phải thay đổi cách sống, nhưng ông không muốn nghe ai hết. Vanga đi lại trong nhà như một cái bóng dưới hai mi mắt quầng thâm. Đêm đêm bà khóc thầm. Bà biết rằng tình thế của chồng mình đã vô vọng nhưng bà giấu kín điều đó trong lòng và thầm mong rằng chúa Trời sẽ ban cho một phép lạ.

    Đimitơrơ chữa bệnh bằng rượu trong vòng 12 năm trời cho đến khi phải vào bệnh viện. Kết quả chẩn đoán: xơ gan, Vanga tuyệt vọng. Bà luôn luôn ở cạnh chồng. Khi bác sĩ kín đáo ngụ ý rằng mọi chuyện sắp kết thúc, Vanga nói: “Tôi biết. Cái chết đã đến gần lắm rồi”. Vào một trong những ngày cuối cùng, Đimitơrơ thấy nhẹ nhõm hơn và thiếp đi. Vanga cũng thiếp đi ngay trên sàn, dưới chân giường của ông. Liên tục sáu tháng trời Đimitơrơ nằm viện, bà tận tuỵ chăm sóc chồng.

    Mẹ tôi kể lại những ngày đau buồn ấy:

    - Khi Đimitơrơ hấp hối, Vanga quỳ gối trước giường của ông, nước mắt chảy ròng ròng từ đôi mắt mù của chị ấy. Chị ấy thì thầm một cái gì đó. Hoặc là cầu xin chúa Trời xá tội, hoặc là từ biệt với chồng – tôi không biết rõ, Đimitơrơ mất ngày 1 tháng 4 năm 1962, thọ 42 tuổi. Khi Đimitơrơ tắt thở, Vanga thôi khóc và thiếp đi. Chúng tôi làm tất cả mọi việc cần thiết, mọi người kéo đến chia buồn nhưng Vanga vẫn ngủ. Chị ấy ngủ cho đến tận lúc làm lễ hoả thiêu. Sau đó bà nói: “Tôi tiễn anh ấy đến tận chỗ định trước cho anh ấy”.

    Sáng sớm hôm sau, tôi ra nói với những người đến chờ gặp Vanga rằng chồng chị ấy mới chết, chị ấy không thể tiếp ai được cả. Nhưng Vanga lập tức phản đối: “Gọi mọi người lại đây. Tôi sẽ tiếp tất cả mọi người. Họ cần tôi”.

    Từ ngày đó, chúng tôi, các cháu gái của Vanga – Kraximira Anna và Đimitơrơ và cả mẹ của chúng tôi là Liupka nữa trở thành những người chứng kiến cuộc sống goá bụa, cay đắng dài đằng đẵng của bà.

    Tôi nhớ bác tôi vào những ngày đó: dưới tấm khăn len goá bụa là gương mặt tái nhợt bất động. Toàn bộ con người bà sống cuộc sống nội tâm tập trung một cách căng thẳng, tách rời hoàn toàn khỏi thế giới chung quanh. Còn dòng người thì vội vàng cứ đến, cứ đến mỗi ngày một đông hơn từ khắp mọi nơi trên Trái đất. Họ, những con người khác nhau, từ thông thái cho đến mù chữ, những người tin và những người hoài nghi, những người khoẻ mạnh và những người đau ốm, họ bước qua cửa nhà Vanga với giễu cợt hoặc với nỗi sợ. Vanga không từ chối một ai hết.

    Tôi còn nhớ một trường hợp xảy ra đã lâu. Một người phụ nữ trí thức trẻ đến với mẹ ở Xunđanxki nhờ mẹ dẫn đến gặp Vanga. Chỉ vì tò mò thôi, lúc đó sân nhà Vanga đang có rất nhiều khách xếp hàng chờ đến lượt mình. Vanga bỗng bước ra khỏi cửa và gọi đúng tên ông, thậm chí còn gọi đúnh tên thân mật chưa từng sử dụng ngoài khung cảnh gia đình. Không tin ở tai mình nữa, cha tôi đi theo Vanga vào nhà. Sau đó Vanga kể rất nhiều chuyện đúng về quá khứ của ông. Cha tôi lấy vợ hai lần, Vanga đã mô tả đúng đám cưới của ông, kể nhiều chi tiết tỉ mỉ đến nỗi có chi tiết mẹ tôi cũng không biết. Sau đó Vanga nói về tương lai. Bà nói rằng mười bốn năm nữa ông sẽ chết vì bệnh ung thư. Bà nói cả về tôi và em trai tôi nữa. Bà nói rằng tôi có hạnh phúc nhưng chồng tôi sẽ chết sớm, tôi sẽ goá bụa với đứa con nhỏ trên tay. Sau đó tôi sẽ lấy chồng lần thứ hai và lần này tôi sẽ không hạnh phúc. Về em trai tôi thì Vanga nói số phận của nó rất bi thảm: Nó sẽ chết trong một trường hợp không may khi vừa 20 tuổi.

    Cha tôi rất kinh hoàng khi nghe Vanga phán như vậy. Ông định giữ kín bí mật này, nhưng không chịu đựng nổi nên đã tiết lộ với người vợ thứ hai của mình do đó mà chúng tôi được biết. Thời gian trôi đi, cha tôi bắt đầu ốm. Thoạt đầu, ông nghĩ là ông bị loét dạ dày. Người ta mổ cho ông hai lần. Lần thứ hai chỉ mổ ra rồi đóng lại. Ông mất năm 1958 vì bệnh ung thư, đúng vào ngày mà Vanga đoán trước.

    Bản thân tôi lấy chồng và cảm thấy rất hạnh phúc. Nhưng chồng tôi đột ngột ốm và chết. Lần lấy chồng thứ hai tôi không gặp vận may và đành phải li dị. Trước đó không lâu em trai tôi ngã tàu điện chết. Nó mới hai mươi tuổi. Tất cả những gì Vanga tiên đoán đã lần lượt diễn ra chính xác đến kinh ngạc.

    Và một trường hợp như thế này nữa, đứa con nhỏ của một nhà hàng xóm chúng tôi ốm ba tuần liền, nhiệt độ lúc nào cũng giữ ở mức 38o – 39oC. Các bác sĩ không xác định nổi nguyên nhân của căn bệnh mặc dù hết sức cứu chữa, bệnh tình vẫn không hề thuyên giảm. Chúng tôi mang đứa trẻ đó đến cho Vanga xem. Bà bắt đi mua ngay một số loại lá thuốc về đun nước tắm cho đứa bé. Sau lần thứ nhất nhiệt độ bắt đầu xuống, lần thứ hai đứa trẻ bắt đầu chơi, và chẳng bao lâu đã khỏi hẳn.

    Một nữ diễn viên ba lê người Nga lấy chồng người Bungari sau khi sinh con thấy có hiện tượng mất chức năng của các cơ quan vận động. Các bác sĩ chẩn đoán rằng cô ta sẽ không múa được nữa. Người ta mách cho cô gặp Vanga. Người nữ diễn viên vô cùng sung sướng khi nghe Vanga nói rằng chẳng bao lâu nữa cô sẽ khỏi, sẽ còn sinh thêm hai đứa con nữa và sẽ múa cho sự vinh quang của nền ba lê Nga.

    Chuyện xảy ra đúng như vậy.

    …Sau cái chết của người chồng Vanga không thể xử lý hết được số người xúm trước ngôi nhà của bà nữa. Một lần họ chen lấn và suýt đè bẹp chính Vanga. Sau trường hợp này, bà yêu cầu cha mẹ tôi chuyển đến Petritrơ sống cùng với bà để hỗ trợ cho cuộc sống của bà. Đó là vào năm 1966.

    Bây giờ tôi sẽ dẫn lời cha tôi kể về Vanga.

    - Gia đình chúng tôi thường hay nói chuyện về Vanga, bố mẹ tôi đều rất kính trọng chị ấy và thường nói ý kiến của chị ấy trong nhiều việc. Đáng ngạc nhiên nhất là chị ấy đã biết tôi và số phận của tôi trước khi gặp tôi (khi tôi đang ở lính) và tiên đoán đúng rằng tôi sẽ lấy em gái của chị ấy.

    Các con tôi cũng được chị ấy đoán trước số phận. Tất cả đều diễn ra đúng như chị ấy tiên đoán.

    Chẳng hạn Vanga nói rằng con gái đầu lòng của chúng tôi sẽ học ngoại ngữ, thích chữ tượng hình, sau khi tốt nghiệp phổ thông sẽ thi vào khoa ngữ văn Bungari, nhưng nó sẽ nghe lời khuyên của người khác và chuyển qua học tiếng Thổ Nhĩ Kỳ. Sau đó nó học các thứ tiếng nước ngoài khác nữa và học cả chữ tượng hình. Con gái út của chúng tôi thì Vanga tiên đoán sẽ trở thành bác sĩ giỏi. Con bé có khiếu âm nhạc, chơi dương cầm hay và mơ ước về một sự nghiệp âm nhạc. Quả thật, Anna của chúng tôi trở thành một bác sĩ giỏi. Còn con trai Đimitơrơ của chúng tôi thì Vanga bảo nó sẽ trở thành thợ cơ khí và đúng là nó đang làm thợ cơ khí thật.

    Rất nhiều người không tin vào khả năng kỳ lạ của Vanga cho rằng bà có những người giúp việc chuyên đi điều tra những thông tin cần thiết về những người đến nhờ bà giúp đỡ. Điều đó không chỉ không đúng mà còn không thể có được vì có hàng ngàn người từ khắp thế giới về đây gặp Vanga. Làm sao có thể điều tra về họ được. Ngoài ra, Vanga còn đoán trước số phận của trẻ sơ sinh và cả những trẻ chưa sinh nữa, nhìn thấy và nói chuyện với những người đã chết từ hàng trăm năm trước đây, với những người mà thậm chí cả họ hàng thân quyến của họ đã lãng quên họ. Vanga biết cây cỏ, vị thuốc nào chữa được những cơn bệnh nghiêm trọng mà y học đã bó tay. Làm sao bà lại có khả năng kỳ lạ đó?

    Đây là câu hỏi mà chúng ta cần tìm câu trả lời!

    Khi Vanga thấy rằng không thể giúp khắp lượt hàng nghìn người tập trung ở nhà bà, bà yêu cầu chính quyền giúp đỡ. Người ta thông cảm với những lo lắng của bà và thi hành các biện pháp giúp đỡ. Thế là từ ngày 3 tháng 10 năm 1967, Vanga, theo chính lời bà nói, đã bắt đầu đi làm việc Nhà nước. Người ta cử ra những người điều hành trật tự trong sân nhà bà, quan tâm đến giờ giấc nghỉ ngơi của bà.

    Nói cách khác, Vanga đã được chính thức công nhận, và bà trở thành đối tượng nghiên cứu khoa học của các nhà khoa học nghiêm túc, đứng đầu là tiến sĩ Gheocghi Lôdanốp.

    Đáng tiếc là công việc này bị dừng lại và các tư liệu thu được đã không được công bố (ít ra là ở Bungari). Nhiều người muốn đọc các tài liệu về Vanga nhưng không thể kiếm ra, và do đó nảy ra mối nghi ngờ ở đây có một điều bí mật gì đó mà chính phủ Bungari muốn giữ. Ở Bungari lan truyền đi những lời đồn đại lạ lùng. Chúng càng làm tăng thêm sự tò mò đối với khả năng của Vanga. Năm 1966, một tạp chí đã đăng một tư liệu đầu tiên về Vanga, trong đó ngoài lời phỏng vấn tiến sĩ Lôdanốp ra còn có những cố gắng nhằm giải thích hiện tượng này. Trong thời gian đó, ở nước ngoài tư liệu về Vanga tiếp tục được công bố. Bà trở nên rất nổi tiếng: những bức thư và lời chào từ rất nhiều nước trên thế giới gửi về chứng tỏ điều đó.

    Từ năm 1970, ở Mỹ người ta đã xuất bản một cuốn sách về những người có khả năng lạ. Ở chương đầu tiên gọi là Vanga Đimitrôva – Nhà tiên tri Bungari, các tác giả đã dựa trên cơ sở mô tả một loạt sự kiện trong cuộc sống của Vanga và những đoạn phỏng vấn những người đã gặp bà để cố gắng giải thích: hiện tượng và đưa ra một loạt vấn đề thú vị. Chương này dài gần 30 trang và là bài nghiên cứu sâu sắc nhất hơn cả hiện tượng tiên tri cho tới thời gian đó.

    Điều lạ lùng nhất trong khả năng kỳ lạ của Vanga là việc bà “tiếp xúc” (cũng chẳng thể dùng một từ nào khác ở đây) với những người chết. Quan niệm của Vanga về cái chết khác hẳn với quan niệm chung. Tôi dẫn dưới đây một trong những cuộc nói chuyện của Vanga và nhà đạo diễn P.I (năm 1988).

    - Tôi đã nói với anh là sau cái chết, thân thể bị phân huỷ, tiêu biến đi như mọi sinh vật khác. Nhưng có bộ phận của cơ thể không bị tiêu huỷ.

    - Có lẽ bà muốn nói đến linh hồn của con người?

    - Tôi không biết là phải gọi như thế nào. Tôi cho rằng cái không bị tiêu huỷ trong con người sẽ phát triển lên một trạng thái cao hơn mà chúng ta còn chưa biết gì cụ thể về nó cả. Nhưng có thể mô tả nó như thế này: một người chết mù chữ, sau đó chết như một học trò, sau đó chết với trình độ đại học, và sau đó chết như một nhà bác học.

    - Như vậy có nghĩa là có tới mấy cái chết chờ đợi một con người?

    - Có tới mấy cái chết, nhưng cái ban đầu tối thượng không chết.

    Đối với Vanga, cái chết chỉ là sự kết thúc của thể xác, còn con người vẫn bảo tồn sau cái chết.

    Một lần Vanga kể cho một người đàn ông về bà mẹ đã chết của anh ta, anh ta nói: Có phải sự có mặt của tôi đã gợi lên hình ảnh người mẹ đã chết của tôi không? Vanga trả lời: Không, hình ảnh tự chúng đến. Đối với họ, tôi là cái cổng để họ bước vào thế giới này.

    Vanga kể cho tôi nghe chuyện sau đây: “Một lần có một người đàn bà trẻ tuổi đến gặp bác, bác lập tức hỏi cô ta: Cô có nhớ người mẹ đã chết của cô có một cái sẹo ở đùi trái không? Cô ta trả lời là có và hỏi tại sao bác biết chuyện đó. Tại sao ư…Vì bản thân người chết đang đứng trước mặt bác. Đó là một người đàn bà trẻ. Bác nhớ là bà ta vén tà váy lên và nói: Bà hãy hỏi con gái tôi xem nó có nhớ cái sẹo sau lần ngã này không. Sau đó người chết nói với bác: Bà hãy nhắn qua vị khách của bà cho Magdalena là đừng tới nghĩa địa nữa. Cô ấy đi lại khó khăn lắm, cô ấy không có đầu gối. Magdalena là em gái của người chết. Cô ta phải dùng chân giả.

    Lại còn một trường hợp như thế này nữa. Một người đàn bà có con phục vụ trong quân đội không may gặp tai nạn chết. Bà ta tới gặp Vanga. Vanga hỏi:

    - Chàng trai tên gì?

    - Marko – Người mẹ trả lời.

    - Nhưng cậu ấy lại nói với tôi rằng cậu ấy tên là Mario.

    - Vâng, đúng vậy, ở nhà chúng tôi gọi nó là Mario.

    Qua Vanga, chàng trai còn thắc mắc tại sao không nhìn thấy em gái. Bà mẹ trả lời là em gái anh ta đã tốt nghiệp đại học và hiện đang làm việc ở một thành phố khác.

    Khả năng đặc biệt này của Vanga đã gây ấn tượng mạnh đối với nhà phê bình văn học nổi tiếng Dđravkô Petrôp. Ông đã cho in năm 1975 những tư liệu vô cùng thú vị mang đầu đề “Người đàn bà Bungari tiên tri” trong một tạp chí uy tín ở Xôphia. Tôi xin lược trích bài báo đó:

    “Cho đến mùa thu năm 1972, tôi đánh giá rất thấp hiện tượng nhà nữ tiên tri sống ở thành phố nhỏ Petritrơ gần biên giới Hy Lạp. Từ sáng sớm tinh mơ, rất nhiều người đã tụ tập trong nhà bà. Bà biết về số phận của những người mất tích, vạch trần các tội ác, đưa ra các chuẩn đoán y học, kể về quá khứ. Điều thú vị là bà không chỉ nói về hiện tại mà cả về tương lai. Bà nói chuyện tuyệt đối chính xác về nhiều chuyện”.

    Trong một số buổi tiếp mà tôi có mặt, Vanga đề nghị khách của mình đưa cái đồng hồ đeo cho bà (thông thường người ta đưa cho bà một miếng đường). Người khách ngạc nhiên khi thấy Vanga muốn sờ nắn cái đồng hồ để đoán. Nhưng Vanga nói: “Tôi cầm trong tay không phải đồng hồ mà là bộ não của anh”.

    Một lần tôi tình cờ đến Petritrơ để nghỉ ngơi mấy ngày. Trong thời gian đó, tôi tới nhà người đàn bà tiên tri nghe rồi lại đi. Thành thực mà nói tôi không có ý định trở thành đối tượng tiên đoán của bà. Hình như Vanga hiểu tâm tư của tôi trong những ngày đầu tiên tôi tới Petritrơ nên sau này bà nói với một người bạn của tôi: “Anh ấy đến với ý định không muốn biết gì về mình cả, nhưng tôi đã nói hết cho anh ta”. Và bà bật lên cười cái cười đặc trưng của bà.

    Nhưng những điều thú vị nhất diễn ra về sau.

    Người bạn đã giới thiệu tôi với Vanga có ôtô và anh ấy đề nghị chúng tôi vào thành phố sau bữa ăn trưa. Anh mời cả Vanga và em gái của bà nữa. Chúng tôi tới cạnh làng Xamôilôvơ, gần đó có những đống đổ nát của một thành phố xưa do vua Xamuil xây dựng. Khi đi trong xe, chúng tôi hoàn toàn im lặng. Khi đến nơi, chúng tôi quyết định xem pháo đài một tí. Vì không nhìn thấy gì nên Vanga và em gái của bà ngồi lại trên xe nói chuyện với nhau. Tôi đi lại cách đó không xa. Khi tôi cách xe khoảng 7 – 8 mét, bỗng Vanga bắt đầu nói – Tôi hiểu là những lời nói của bà nói về tôi. Bà làm tôi kinh hoảnh ngay từ câu nói đầu tiên: Ông bố Petrơ của anh đang ở đây. Tôi đứng sững như Hămlet khi thấy hồn ma người cha của mình. Tôi có thể trả lời gì đây? Cha tôi đã chết trước đó 15 năm. Vanga bắt đầu nói về ông, chi tiết đến nỗi tôi chết sững vì kinh ngạc. Bà nhắc đi nhắc lại mấy lần rằng bố tôi đang đứng trước mặt bà. Tôi cũng không hình dung ra được phép chiếu hình mà ông đang ở trong là quá khứ, hiện tại hay tương lai. Thậm chí Vanga còn chỉ tay lên ông nữa. Rõ ràng là bà nhận được những thông tin (Nhận như thế nào?!) về những sự kiện trong nhà chúng tôi cũng quên từ lâu. Đối với Vanga không tồn tại các khái niệm quá khứ, hiện tại và tương lai. Trong trí não bà thời gian là một dòng chảy thống nhất, ít ra là tôi có cảm tưởng như vậy. Bà biết rằng ông là một luật sư nhưng đã có thời gian dạy chính trị kinh tế học và luật dân sự trong một trường phổ thông trước năm 1944.

    Sau đó, Vanga bắt đầu nói về ông chú của tôi. Bà nêu tên hai người. Về người chú thứ ba đã chết một cách bi thảm tự tôi kể với bà. Cái chết của ông bị bao phủ bằng một bí mật. Vanga nói rằng nguyên nhân cái chết của ông là sự phản bội. Tôi rất ngạc nhiên khi bà bỗng hỏi: “Trong gia đình anh ai tên là Matei?”. Tôi trả lời đó là tên của ông tôi. Ông chết khi tôi mới năm tuổi. Đã 40 năm trôi qua từ ngày ấy, không hiểu tại sao Vanga lại biết được tên ông.

    Khi tôi trở về Xôphia, một người bạn nghe chuyện hỏi tôi liệu có mơ về ông mình trong thời điểm đó không. Tôi trả lời: Không! Tôi rất ít nghĩ về ông, thậm chí ngay cả khi đang ở Xôphia, nơi có một số họ hàng của tôi, nghĩa là nơi đó có lý do để thỉnh thoảng nhớ về ông. Thậm chí cả những người bạn thân nhất của tôi cũng không biết tên ông.

    Vanga nói về những người ruột thịt của tôi khá lâu, khoảng 10-15 phút. Bà kể cả về cô cháu gái của tôi đã nhầm khi làm bài thi vào trường tổng hợp. Bà nói cả về những chuyện vặt vãnh trong cuộc sống, chẳng hạn về việc hệ thống hơi nóng để sưởi trong căn hộ của tôi bị hỏng. Sau đó bà khuyên tôi nên tiếp xúc với ánh sáng mặt trời nhiều hơn nữa. Bà nói: hãy để cho mặt Trời trở thành chúa Trời của anh! Sau đó bà nói tôi có hai bằng đại học (hai cái đầu, theo cách nói của bà).

    Vanga nói rằng bà trông thấy những chiến binh của vua Xamuil. Họ đi thành đội ngũ trước mắt bà. Lịch sử ghi lại rằng họ đã bị chặt đầu theo lệnh của vua Vaxili II. Vanga hỏi tôi ai đã ra lệnh chặt đầu họ, và y người dân tộc nào. Tôi rất ngượng vì lúc đó tôi không nhớ, tôi đã quên hoàn toàn lịch sử triều đại đó. Sau này một người bạn cứ hỏi tôi làm sao lại có thể quên vua Vaxili II một khi biết rõ về lịch sử đế quốc Hy Lạp đến thế. Có lẽ lúc đó tôi quá khinh ngạc trước khả năng kỳ dị của Vanga mà quên mất chăng.

    Tôi đã có thể tìm hiểu khả năng nhìn thấy quá khứ và tương lai của Vanga. Giữa chúng tôi có những cuộc nói chuyện vô cùng thú vị.

    Vanga nói về cái chết. Chúng tôi không dời mắt nổi khỏi gương mặt bất động của bà. Rõ ràng là bà nhìn thấy một cái gì đó. Bà kể về một số trường hợp khi bà cảm thấy cái chết đến. Bà kể rằng bà thấy trước chính xác giờ chết của chồng mình. Sau đó bà kể là một lần bà đang nấu mứt mận trong sân, bà nghe rõ cái chết gầm gào trên những ngọn cây. Trong trí tưởng tượng của Vanga cái chết mang hình một người đàn bà đẹp, tóc để xoã. Tôi có cảm tưởng trước mặt tôi là một nhà thơ chứ không phải là một nhà tiên tri.

    … Một lần một người đàn bà trẻ từ Xôphia tới gặp Vanga. Vanga quay mặt về phía cô ta và hỏi ngay:

    - Thế bạn trai cô đâu?

    Người đàn bà trả lời rằng đã chết đuối trong một lần đi tắm mấy năm trước.

    Vanga mô tả người thanh niên và nói rằng nhìn thấy anh ta như người sống, rằng anh ta đang nói chuyện với bà.

    - Tôi nhìn thấy anh ta trước mắt mình. Anh ta cao lớn, da ngăm ngăm và trên má có một cái nốt ruồi. Tôi nghe thấy tiếng nói của anh ta. Anh ta có chút khuyết tật trong giọng nói.

    Người đàn bà nói tất cả đều đúng. Vanga tiếp tục:

    - Anh ta nói với tôi: Chẳng ai có lỗi trong cái chết của tôi cả. Tôi tự ngã xuống nước và bị gãy cột sống. Anh ta hỏi ai được cái đồng hồ và các đồ vật khác của anh ta. Anh ta đang nhớ lại những người thân và bạn bè cũ. Anh ta khuyên người yêu cũ nên lấy chồng trong thời gian tới và nói rằng cuộc hôn nhân đó sẽ hạnh phúc.

    Một nhà khoa học người Tây Ban Nha có danh hiệu giáo sư kể với Vanga rằng mẹ của ông ta là một người rất nhân hậu. Nhưng bà đã sống suốt đời nghèo khó. Vanga ngắt lời ông ta và nói:

    - Để tôi kể tiếp cho ông nghe. khi sắp chết, mẹ ông nói: “Mẹ chẳng có gì để lại cho con ngoài một chiếc nhẫn gia bảo. Con hoàn toàn đơn côi. Chiếc nhẫn đó sẽ giúp đỡ con và bảo vệ con trong suốt cuộc đời”.

    Nhà khoa học kinh ngạc nói rằng tất cả đều đúng như vậy.

    - Được – Vanga nói tiếp – thế chuyện gì đã xảy ra với chiếc nhẫn?

    Người Tây Ban Nha kể lại rằng một lần, khi ông trở đã trở thành một nhà khoa học có tiếng, ông đi nghỉ ở biển, chiếc nhẫn bị tụt khỏi ngón tay và rơi xuống nước, ông đã cố gắng tìm kiến nhưng không thấy.

    - Ông đã làm gì thế, hỡi con người kia! Ông đã đánh đứt mối liên hệ với mẹ mình rồi! – Vanga kêu lên.

    Nhà khoa học ngượng ngập thú nhận rằng đôi lần trong đầu ông cũng thoàng qua ý nghĩ đó, nhưng là một nhà khoa học có thế giới quan duy vật, ông đã xua đi ý nghĩ này. Nhưng từ khi chiếc nhẫn mất, ông liên tiếp gặp những không may.

    Mấy năm trước, trong một trận lụt một đôi vợ chồng mất đứa con duy nhất của họ. Về lôgích thì có thể đoán là đứa trẻ chết đuối, nhưng họ không muốn tin vào điều đó. Họ tới gặp Vanga để được biết sự thật. Vanga nói với họ: “Đừng khóc. Số phận con của anh chị là như vậy. Nó quả là không còn sống nữa rồi, nhưng thi thể nó không ở chỗ mà người ta tìm. Nó ở dưới chỗ mà con sông rẽ ngang. Ở đó có những cây toả ra và thi thể nó bị mắc vào đó. Tôi nhìn thấy nó như đang còn sống. Nó vươn tay về phía tôi, nó gọi tôi để tôi chỉ cho anh chị chỗ đó. Nó muốn được chôn cất”.

    Một thời gian sau, người nhà của đôi vợ chồng nọ đến để cám ơn Vanga vì họ đã tìm được thi thể của đứa bé chính ở chỗ Vanga chỉ ra.

    Những trường hợp như thế có hàng nghìn, không thể kể xuể được và phải công nhận rằng đây không phải là một đề tài dễ chịu.

    Vanga không chỉ nhìn thấy thế giới của những người chết. Bà còn nhìn thấy sự tàn lụi và sự phục sinh của các thành phố. Chẳng hạn thành phố Mennic. Bà kể:

    - Mỗi cọng cỏ, mỗi hòn đá, mỗi tấc đất ở đây đều thiêng liêng, ở đây tôi thấy rất dễ chịu và nghỉ ngơi tốt hơn mọi nơi khác. Ở đây tôi nhận thêm năng lượng, sức lực và sự hứng khởi. Tôi ngồi lên một hòn đá nào đấy và im lặng. Đừng ai nên quấy rầy tôi vào lúc này. Tất cả những gì quanh tôi đang nói chuyện với tôi – cả các hòn đá, các đống đổ nát và cả bóng râm nữa. Thành phố kể cho tôi nghe lịch sử của những thế kỷ đã qua từ lâu. Tôi nhìn thấy những con người đã chết, những đền miếu đã bị phá huỷ, những ngôi nhà được dựng lên từ hàng ngàn năm trước đây.

    …Một lần tôi đến Mennic cùng với em gái tôi. Cô ấy mang theo đứa con trai sáu tháng tuổi. Tôi có cảm tưởng như tâm hồn thằng bé nói với tôi bằng giọng nói của Vanga “Bác ơi, bác có nhìn thấy Mennic không? Nó giống bác quá!?”

    Tôi rất buồn và bật khóc: Tại sao lại giống Mennic? Vanga ngụ ý gì? Lịch sử cổ xưa của thành phố này hay là sự hoang tàn, trống vắng của nó?

    Cho đến bây giờ tôi vẫn không thể hiểu nổi.

    Vào đầu những năm 70, Vanga rất muốn ngày ngày đến Mennic và tiếp các vị khách đông đảo của mình ở đấy. Bà cho rằng ở thành phố này, khả năng của bà thể hiện mạnh mẽ nhất, rằng ở đó bà có thể kể mọi chuyện thú vị về mọi người. Nhưng những hoạt động như thế trong thành phố bé nhỏ này gặp phải một loạt những vấn đề và ý muốn của Vanga không thể thực hiện được.

    Lại thêm một trường hợp thú vị nữa.

    Năm 1983, đạo diễn P.K chia sẻ với Vanga về ý định dựng một bộ phim về Orphei. Vanga nói ngay rằng sẽ chẳng thành công được vì quan điểm của nhà đạo diễn về nhân vật thần thoại này hoàn toàn sai lầm. Bà nói như sau: cuộc nói chuyện này được ghi lên băng ghi âm:

    - Khả năng của Orphei không phải thánh thần mà có nguồn gốc từ Trái đất. Ông ta nghe Trái đất và hát. Những thú hoang đứng nghe ông hát nhưng không hiểu gì cả. Orphei là người Trái đất. Ông ta cảm thấy sung sướng trên mặt đất. Ông nghe những giai điệu của Trái đất, những giai điệu của bầu trời tuyệt diệu hơn nhiều nhưng Orphei không nghe được chúng.

    - Anh hãy nói cho tôi nghe – Vanga nói với nhà đạo diễn – trong phim Orphei là người giàu hay người nghèo? Tôi thì thấy ông ta trong bộ quần áo rách tả tơi, nhưng móng tay rất dài. Lúc nào ông ta cũng hát, đất cho ông ta giọng hát. Bởi vậy mà ông ta lôi thôi bẩn thỉu. Anh có xây dựng hình ảnh ông ta như vậy không? Không thể. Điều tồi tệ chính là ở chỗ đó.

    Vanga rất thích trò chuyện với các loại hoa. Bà coi chúng là các sinh vật sống cũng như con người. Bà nhất thiết dừng chân trước một bông hoa, vuốt ve nó, tưới nước cho nó và thì thầm điều gì đó. Bà nói rằng những bông hoa kể cho bà nghe nhiều điều thú vị. Hệt như những câu chuyện cổ tích.

    Trong số toàn bộ số phận của bà có biết bao nhiêu chuyện không thể giải thích nổi. Nếu sau một cái chết của người thân thiết, bạn đến gặp Vanga thì do ảnh hưởng của sự kiện đau buồn đó, bà có thể phát ốm, thậm chí có lần bà ngất đi. Khi có người như vậy đến, Vanga thường nói ngay: Sao anh không mang hoa đến? Thông tin về người chết đó mà chính sự có mặt của anh cũng đủ thông báo cho tôi được các loài hoa tiếp nhận. Và các loài hoa biết truyền thông tin tế nhị hơn nhiều so với con người và do đó cứu tôi khỏi bị những chấn động mạnh.

    Nhưng Vanga không thích bó hoa. Bà nói: “Những bông hoa đẹp nhất khi còn liền cành. Bó hoa cũng như một đám đông, ở đó cá tính con người bị xoá nhoà”

    Mẹ tôi nhớ một lần Vanga nhờ bà ra sân, nơi những người muốn gặp Vanga đang xếp hàng chờ và gọi một người đàn bà vào. Vanga nói tên và giải thích: là bà ta là một người trồng hoa ở Xôphia. Được hỏi tại sao lại biết có người trồng hoa đang đợi, Vanga nói: thì bông Thi xa vừa mới nói cho tôi biết đó thôi. Người đàn bà kia muốn hỏi bà hãy nói gì với đứa con hư hỏng của mình. Gọi bà ta đến đây, tôi sẽ nói cái cần nói với bà ta!

    Vanga từng nói chuyện rất lâu về đề tài hoa với nhà văn Xô viết Lêônit Lêônôp trong lần nhà văn này tới Bungari vào năm 1980. Bà nói rằng bà ghen tị với Lêônôp về cái vườn hoa rộng có nhiều loài hoa đẹp của ông. Sau đó bà trách Lêônôp việc ông đã tặng cho hội nhà văn Liên Xô chậu dây leo nhiệt đới lớn mà ông có. Bà khuyên ông nên kiếm một cây khác vì loài dây leo có tác dụng gây hứng khởi. Nó là loài hoa của các hoạ sĩ và các diễn viên.

    Như tôi đã nói ở trên, Vanga từng nói chuyện với họa sĩ Reric về hoa. Trở lại câu hỏi của ông về ý nghĩa của các loài dược thảo trong y học, Vanga trả lời: “Chuyện này không thể nói bằng một hai lời được. Đó là cả một đề tài. Thế giới bắt đầu bằng thực vật và cũng kết thúc ở thực vật. Cây cỏ ở mỗi nước chỉ có giá trị dược liệu đối với người nước đó. Đã có thiên định như vậy. Mỗi người phải chữa bệnh bằng cây cỏ của đất nước mình”.

  • thangbe21

    khoảng 2 10 năm trước
  • Chương 6: VANGA – THẦY THUỐC

    Sức khoẻ con người, chẩn trị bệnh tật là những vấn đề luôn được Vanga nghiên cứu rất nghiêm túc. Bà cho rằng hầu như tất cả các bệnh đều có thể chữa khỏi bằng cây cỏ và trong lĩnh vực này Bungari là một đất nước may mắn bởi vì ở đây có rất nhiều thứ có thuốc thật sự quý giá.

    Vanga tin tưởng rằng đã sắp tới ngày nhân loại thoát khỏi thứ bệnh nguy hiểm là ung thư, rằng sẽ tìm được thuốc chống ung thư. Bà nói: “Sẽ tới ngày bệnh ung thư bị cùm vào xích sắt”. Giải thích lối tiên đoán lạ lùng này Vanga trả lời rằng thuốc chống ung thư cần phải chứa nhiều sắt bởi vì trong thức ăn và nước uống của con người hiện nay đang thiếu chính chất sắt. Bà cho rằng trong tương lai không xa các nhà khoa học sẽ tìm ra một loại thuốc cần thiết để hồi phục sức khoẻ con người. Chế phẩm này chủ yếu sẽ chứa các hormon của ngựa, chó và rùa, bởi vì theo bà “ngựa thì khoẻ, chó thì dẻo dai, còn rùa thì sống lâu”. Theo ý kiến Vanga các loại cây cỏ thuốc đặt biệt có tác dụng rất tốt nếu như người ta tắm gội bằng nước sắc của chúng bởi vì các hoạt chất sẽ hấp thụ đầy đủ qua da người. Vanga không khi nào chống lại y học chính thống và thừa nhận những thành công của nó trong mọi lĩnh vực khác nhau. Cách điều trị của Vanga không bác bỏ các phương thuốc truyền thống mà chỉ bổ sung cho chúng mà thôi. Nhưng Vanga cho rằng lạm dụng các loại thuốc là nguy hiểm bởi vì “chúng sẽ đóng sập những cửa ngõ mà qua đó bằng tác động của những loại cỏ thuốc, thiên nhiên có thể phục hồi sự thăng bằng đã bị bệnh tật phá vỡ trong cơ thể người ốm” Vanga tán thành cách điều trị bằng châm cứu. Nhưng hãy nghe bà nói với một vị bác sĩ châm cứu thăm bà:

    “Chữa bằng kim đó là một phương tốt, nhưng để đạt được hiệu quả cao nhất không nên dùng kim loại mà dùng kim bằng gốm như thời xa xưa người ta đã làm. Cần phải sấy chúng bằng lửa chứ không phải bằng điện, bởi vì không có điều đó thì trong cơ thể người cũng đã có đủ điện rồi”…

    Vị bác sĩ phản đối rằng phương pháp như thế là một bước thụt lùi. Nhưng Vanga trả lời

    - Vâng, tất cả mọi thứ đều quay vòng, những vòng tròn của nó. Hãy chăm chú nhìn ra xung quanh mình và anh sẽ dễ dàng tin vào điều đó.

    Cũng nên lưu ý rằng với những người khác nhau mắc cùng một thứ bệnh thì Vanga cho những lời khuyên khác nhau về cây thuốc và hướng điều trị. Vanga biết chắc rằng mỗi người là một cá thể không lặp lại vì thế cần phải có cách điều trị riêng cho từng người. Tôi muốn dẫn một số trường hợp được chính các bệnh nhân khẳng định – nhờ những lời khuyên của Vanga mà tình trạng sức khoẻ chung của họ khá hẳn lên, nhiều người khỏi hẳn bệnh.

    Một người bị bệnh bạch cầu, Vanga khuyên nên uống nước ép từ rễ cây miên quỳ (cối xay), với một đứa trẻ cũng mắc bệnh này thì bà lại chỉ dùng nước ép từ cây hoa này.

    Bệnh nhân xơ gan bà đề nghị uống sữa hoà với bột lúa mì trắng.

    Có đứa trẻ bị thương ở đầu nên đâm ra kém ngủ, bà đã mách một cách đơn giản và hiệu nghiệm: tắm cho đứa trẻ bằng sương sớm vốn phủ đầy cỏ vào buổi bình minh ngày hè. Sau đó dùng tã lót ẩm quấn đứa trẻ lại. Bố mẹ đứa trẻ đã làm đúng như vậy. Rất nhanh sau đó bố đứa trẻ đã tới tận nhà Vanga thông báo: đứa trẻ khá hơn và bình phục nhanh chóng. Vanga coi sương sớm mùa hè là một điều kỳ diệu bởi cho rằng vào các buổi sớm mai cỏ cây thường tiết ra nhiều hoạt chất chữa bệnh và do vậy sương sớm không chỉ tốt cho người bệnh mà còn cho người khoẻ nữa.

    Một đứa trẻ khác, suốt ba tháng trong tình trạng hâm hấp sốt, Vanga khuyên nên tắm cho nó bằng những thứ ép từ loại nhu chua. Mẹ đứa trẻ làm theo, cơn sốt lui, nó ngủ được.

    Người bị ếch-zê-ma, bà khuyên nên hái một bó hoa rừng, sắc lấy nước đặc nóng thấm lên những chỗ bị bệnh

    Một chàng trai bị đau thận, bà khuyên nên uống nước chè nấu bằng hạt bí.

    Đứa trẻ bị động kinh bà ra lệnh tắm cho nó bằng nước một số cây cỏ trong rừng.

    Người phụ nữ mười năm bị đau ở ngực, Vanga bảo đó là bà ta bị viêm màng phổi, bà khuyên nên làm thuốc đắp từ bột mì trộn với men nhà làm, cho thêm dấm, dầu thực vật và rượu chua.

    Những trường hợp tương tự rất nhiều thật khó kể xiết. Em trai tôi Đimitrơ Gaigurov miêu tả khá nhiều trường hợp thú vị, ở đây tôi xin dẫn ra những ghi chép của cậu ấy. “Suốt ngày ở bên cạnh dì mình nên tôi có nhiều cơ hội chứng kiến những buổi tiếp khách của dì. Tôi không thể nhắc đến sự kinh ngạc mà tôi đã trải qua vào đầu tháng 5 năm 1988”.

    Ba ngày trước đó dì tôi rất yên lặng trầm ngâm, không muốn nói chuyện với ai và đề nghị đừng khuấy động bà. Ngày thứ tư bà gọi lại bảo ngồi xuống bên cạch. Và bỗng dưng bà nói với tôi bằng một giọng rất lại khiến tôi sởn gai ốc. Nguyên văn là thế này: “Ta là linh hồn của Giana Đ-Ark. Ta xuất hiện từ nơi xa xôi và đang hướng về Aênggôla. Ở đó máu đang đổ chan hoà và ta cần phải giúp lặp lại hoà bình ở đó”. Sau khi ngừng lời một chút bà tiếp tục vẫn bằng giọng ấy: “Đừng kết tội linh hồn này. Nó không phải của bạn. Nó không phải của ai hết. Người chứng kiến điều này là mẹ cháu (mẹ chúng tôi là Liupka), người đã mang nó trong chậu giặt khi bà ta lâm chung. Lúc đó trong một tích tắc, linh hồn của bà đã bay ra còn một linh hồn khác đã chui vào thân xác. Mẹ của cháu đã bình phục để tiếp tục cuộc sống trần thế. Nhưng giờ đây tâm hồn của bà không còn là ruột thịt với các cháu nữa và không thể nhận ra các cháu”. Lại ngừng lời một chút rồi Vanga tiếp tục: “Mẹ của các cháu cần phải thăm viếng Nhà Thờ Đức Bà Pari (notre Dame de Paris), ở đó bà phải thức cầu nguyện suốt đêm – bằng cách đó nhiều điều bí mật lớn về thế giới xung quanh sẽ mở ra trước các cháu”

    Sau đó là một im lặng kéo dài, Vanga dần dần trở lại bình thường. Mặt hết tái và trở lại phớt hồng. Nhưng dì tôi vẫn còn uể oải như ngái ngủ. Không thể giải thích được điều kỳ lạ gì đã trước mắt tôi nữa.

    Tôi còn nhớ những trường hợp lạ lùng khác liên quan trước hết đến phương pháp chữa của bà. Một lần vào đêm khuya, từ låA0ng Colarovo người ta đưa bạn tôi là B.P tới. Bạn tôi bỗng dưng bị mất trí. Anh ta túm lấy rìu và lao vào người thân. Anh ta điên cuồng tới mức anh em của anh đã phải trói anh lại. Bạn tôi thay đổi tới mức khó nhận ra. Tôi đánh thức dì dậy và hỏi làm thế nào bây giờ. Ngay lập tức bà phán: “Hãy mua một chiếc bình gốm mới, đổ đầy vào nó nước từ con sông gần nhất và hãy rẩy lên người ốm ba lần. Sau đó ném bình xuống đá để cho nó vỡ thành mảnh nhỏ. Dù thế nào cũng không được ngoảnh về chiếc bình vỡ”. Mặc dù thật bất tiện, nhưng chúng tôi đã đánh thức ông thợ gốm hàng xóm dậy. Ông rất bối rối trước cuộc viếng thăm lạ lùng, nhưng cũng đưa cho chúng tôi một chiếc bình gốm. Dòng sông ở Petrise chảy qua trung tâm thành phố còn nhà của chúng tôi thì ở bên bờ cao của nó. Chúng tôi ra sông làm tất cả những gì Vanga ra lệnh. Thật may là đêm khuya nên “nghi lễ thánh thần” của chúng tôi diễn ra suôn sẻ. Nhưng điều ngạc nhiên nhất là anh bạn tôi tỉnh lại, ngủ say suốt đêm, sáng trở lại bình thường. Về những hành động phá phách của mình, anh không nhớ chút gì. Hay một trường hợp khác, có một người trẻ tuổi thợ lái máy xúc đến cầu cứu Vanga: Khi làm việc trên đầm lầy cạn trong bùn thối anh đã gãi sứt đầu gối. Vết thương mưng mủ, sưng lên và tím đen lại, các bác sĩ bảo đành phải cắt đi. Nhưng Vanga khuyên nên bắt một chú ếch, tốt nhất là đúng nơi chàng thanh niên đã làm hỏng chân mình, lột lấy da của nó đắp vào chỗ đau. Bố mẹ chàng trai y lời. Cơn đau dịu ngay, chàng trai ngủ liền hai ngày (suốt thời gian dài hầu như không ngủ được). Anh tỉnh dậy và tháo băng trên đó dính lại cái ngòi mủ của nhọt. Một tuần sau vết thương liền miệng, chân anh được cứu thoát khỏi phải cưa. Cách chữa trị lần này của Vanga làm tôi rất ngạc nhiên, sau lần đó tôi biết rằng trong da ếch có chất làm suy yếu (trung hoà) thậm chí cả nọc rắn độc. Thành ra, có lẽ chẳng có gì dễ sợ trong “toa thuốc” đó cả, chỉ có điều nó chưa được y học chính thống biết tới mà thôi.

    Có lần chính tôi cũng được dì Vanga chữa bệnh. Một thời gian dài tôi bị đau bên vai trái. Bác sĩ chuẩn đoán: bị đọng muối. Vì chữa chạy sẽ đau và lâu. Biết dì mệt mỏi vì phải tiếp quá nhiều người ốm, mãi tôi không dám nói với dì. Cuối cùng khi cơn đau không thể chịu nổi tôi đành thú thực. Vanga ra lệnh lấy hai gói trầm hương nghiền thành bột và trộn với 50 gram dấm (làm từ táo tây) và quét thứ bột này lên băng rồi buộc vào chỗ đau trong ba tối liên tiếp. Tôi y lệnh. Cơn đau biến mất và căn bệnh đó tôi không bị lại nữa.

    Một người bạn tôi ở Petritse cũng bị đúng bệnh này. Nhưng Vanga lại bảo nhúng một mảnh vải len vào xăng, đắp lên chỗ đau và ấp lên phía trên một đĩa đồng nóng già. Làm ba buổi như thế thì hết đau.

    Anh K.B rất nhiều năm khốn khổ vì bệnh chảy máu bên trong ruột, không sao chữa khỏi. Vanga bảo anh ta tìm loại tầm gửi trắng mọc trong rừng thông, giã nhỏ những chồi non của nó ngâm vào cốc nước và uống thứ nước đó vào mỗi buổi sáng. Phương pháp này hoá ra rất hiệu nghiệm.

    Mẹ tôi tập hợp cả một pho “bách khoa toàn thư” những trường hợp Vanga chữa khỏi bệnh khác nhau và những lời khuyên của dì. Đây là một vài lời khuyên của dì.

    Mùa hè nên đi chân trần càng nhiều càng tốt để không cách đứt mối liên hệ với đất. Hãy để trẻ em chạy nhảy chơi đùa trên mặt đất nhiều. Điều đó giúp chúng tránh khỏi những bệnh thường mắc vào mùa đông. Thức ăn cho trẻ em là chất lỏng. Không nên cho chúng ăn khô.

    Ngoài việc tắm táp trong sông ngòi ao hồ, thì nên rửa chân trước khi đi ngủ bằng nước “thiên nhiên” (nước sông, hồ). Đôi khi bà bảo chúng tôi dẫn bà vào trảng rừng ở Rupit và ở đó mặc dù không nhìn thấy gì bà vẫn có thể chỉ cho chúng tôi các loại cây cả và công dụng của nó. Chẳng hạn, Vanga bảo: “Cỏ ba lá không đem lại giấc ngủ bình yên cho những ai trồng nó bên cạnh nhà. Đặc biệt nó rất độc trong thời kỳ ra hoa. Dì không nhìn thấy chúng thật, nhưng lại nghe thấy chúng nói với dì. Dì ngửi thấy mùi cần tây, đấy là một loại thuốc kỳ diệu chữa phong thất, thấp khớp. Cháu vừa dẫm lên một loại cây rất tốt để trị những vết thương khó lành…”

    Tôi còn nhớ mãi trường hợp Vanga chữa cho anh bác sĩ khỏi ung nhọt, áp xe bằng cách cho anh ta uống nước luột hạt đậu xanh 20 ngày liền.

    Mẹ tôi kể ngày bé chúng tôi thường bị sốt rét. Vanga đã chữa khỏi cho chúng tôi như sau: đặt quả trứng gà tươi vào chiếc đĩa men sạch rót vào đó 200 gr rượu dấm, đặt đĩa ở ngoài sân dưới ánh nắng mặt trời. Đến ngày hôm sau vỏ trứng tan ra. Khi đó Vanga trộn đều lên và cho chúng tôi uống lúc đói bụng. Bệnh lui.

    Có thể kể ra hàng nghìn những trường hợp chữa bệnh kỳ lạ của Vanga. Nhưng có lẽ ghi chép lại và phát hiện ra những hạt nhân hợp lý trong thực tiễn chữa bệnh của bà đó là công việc của các nhà chuyên môn.

    Có lần tôi hỏi Vanga, con người cần phải làm gì để giữ gìn món quà vô giá là sức khoẻ, có hay không những phương thuốc phổ quát?

    - Sao cơ? – Bà hỏi lại – Rất đơn giản! Những lời khuyên đặc biệt thì không có đâu. Mỗi người biết anh ta không nên làm gì. Dì chẳng phát hiện ra điều gì mới đâu, tuy nhiên dì cũng muốn nhắc lại những nguyên tắc sơ đẳng:

    Trước hết không được ăn quá no. Thực phẩm bây giờ chứa quá nhiều các chất hoá học nhân tạo, thành ra có thể ngộ độc chúng. Cần tăng lượng lúa mạch đen trong khẩu phần thức ăn (nên ăn bánh mì đen).

    Nên uống nước nấu từ các loài cây cỏ nhiều hơn nữa. Giảm hẳn hàm lượng mỡ trong thức ăn.

    Không hút thuốc. Thuốc lá là kẻ giết người dần dần, êm ái. Đi ngủ sớm – vào 22h và dậy sớm – vào 5h.

    Nên giữ sạch sẽ trong sinh hoạt, không tắm nước quá nóng.

    Hãy cẩn thận! Sắp tới sẽ xuất hiện những bệnh mà mọi người chưa từng biết tới (đây là những ghi chép vào năm 1981). Mọi người sẽ bị ốm nặng mà không rõ nguyên nhân. Nhưng tai họa phổ biến đó có thể bị chặn đứng. Tất cả nằm trong tầm tay của chúng ta.

  • thangbe21

    khoảng 2 10 năm trước
  • Chương 7: CON NGƯỜI VÀ SỨC kHỎE TÂM HỒN

    Vanga cho rằng con người trước hết phải quan tâm tới tình trạng tinh thần của mình. Hãy xem bà nói gì về điều này:

    - Mọi thực thể sống, toàn bộ Trái đất và cả Vũ trụ đều tuân theo một nhịp điệu và trật tự Vũ trụ nghiêm ngặt nhất định. Phá vỡ trật tự đó, dù là ở mức độ nhỏ nhất cũng dẫn tới những hậu quả lớn khó tránh khỏi, mà nhân loại sớm muộn gì cũng phải trả giá đắt cho chúng. Và bây giờ cũng đang phải trả giá.

    - Vâng, nhưng là thế nào để tiến tới trật tự đó? – tôi hỏi

    - Đừng phá vỡ sự hài hoà.

    - Nhưng làm thế nào để sống nhịp nhàng với nó?

    - Người hiền sẽ đạt tới sự hài hoà với thiên nhiên và con người xung quanh. Lòng tốt đó là phẩm chất chủ yếu của con người. Con người không có quyền trở nên vô dụng, không đem lại lợi ích cho người khác, mỗi người, dù anh ta là ai cũng đều phải thực hiện sứ mệnh của mình trên mặt đất… Mỗi một cuộc đời đều có khả năng tự phát triển vì những mục đích cao cả. Và tất nhiên chúng ta không có quyền coi thường trách nhiệm cao cả đó. Nhưng nếu trao quyền tự do đó cho người tồi thì chúng ta sẽ vô tình trở thành đồng loã cho tội lỗi của cái ác, chúng ta kìm hãm quá trình hoàn thiện đạo đức.

    Tôi muốn minh họa ý kiến của Vanga về bản chất của sự phát triển con người hài hoà bằng một số ví dụ:

    …Một người đàn ông đứng tuổi, mệt mỏi, ăn bận xuyềnh xoàng đứng bối rối trước mặt Vanga. Sau khi trấn tĩnh được ông ta hỏi:

    - Bà chị hãy nói cho tôi biết tôi phải làm gì bây giờ – bà nhà tôi mới chết, tôi còn trơ trọi một thân một mình.

    - Tại sao lại một mình? – Vanga ngạc nhiên – Tôi nhìn thấy 7 người con của anh.

    - Vâng – người đàn ông trả lời – tôi có nhiều con nhưng chúng chỉ có những mối quan tâm của chúng thôi, chứ chẳng có thời gian dành cho cha. Chúng hoàn toàn quên tôi rồi.

    - Anh bạn ơi, đối với những người bị con cái lãng quên, ở nước ta đã có những nhà dưỡng lão, ở đó có thể sống yên ổn cuối đời. Hãy để cho nhà nước lo cho anh, anh sẽ còn sống lâu và sống tốt hơn bây giờ. Tôi hiểu, là một người cha, anh sẽ đau đớn khi nghe những lời của tôi, nhưng hãy biết rằng, các con anh sẽ phải trả giá nghiệt ngã cho việc con thường nghĩa vụ làm con của mình. Trong cuộc sống của chúng ta, thờ ơ với người thân, đui điếc trước nỗi khổ người khác, chắc chắn sẽ không tránh khỏi bị trừng phạt.

    Mỗi lần mẹ tôi đề nghị Vanga tiếp một người quen của mình. Bà này thường khó ở vì một điều gì đấy. Nhưng Vanga lại cương quyết trả lời:

    - Không, bà ta hoàn toàn chẳng ốm đau gì hết! Bà ấy là một người tồi! Bà ấy muốn sao cho cả thế giới tội nghiệp của chúng ta chỉ quanh xung quanh bà ấy và các con bà. Tôt hơn hết hãy để bà ấy nhớ lại xem mình đã lớn lên từ cảnh bần hàn thế nào! Bây giờ bà ấy có đủ thứ mình mong muốn. Nhưng lòng tham vô đáy, mong ước có nhiều đồ đạc, nhà cửa hơn nữa đã hành hạ bà ta. Đấy chính là bệnh của bà ta. Chẳng có loại thuốc nào chống lại căn bệnh này được!

    Còn có một chuyện rất thú vị.

    Một hôm có đôi vợ chồng đứng tuổi ở một làng nhỏ bé Pleven tới gặp Vanga để xin lời khuyên về những nỗi cay đắng và bệnh tật của mình. Bỗng nhiên Vanga quay sang phía ông chồng và hỏi:

    - Thế anh không quên chuyện về cái dây thừng đấy chứ? Người đàn ông ngơ ngác không hiểu, nhưng vợ ông ta lập tức nhớ ngay ra chiếc dây bất hạnh đó và bà kể lại:

    Khi cả hai còn trẻ và khỏe, họ có một mảnh vườn lớn. Họ trồng dưa hấu rồi đem dưa đi bán. Tiền thu được cũng khá. Một lần trên đường ông chồng đem dưa ra chợ bán, có một cậu bé đu lên đằng sau xe telega của ông và moi lấy một quả. Ông ta nổi nóng vớ lấy chiếc dây nằm dưới tay mình đánh cậu bé tàn bạo. Vợ ông phải khó khăn lắm mới giằng nổi cậu bé ra khỏi tay ông chồng đang nổi điên.

    - Vì sự tàn bạo của mình bây giờ anh phải trả giá đó. Quả dưa có đáng gì không?

    Không có lẽ mọi người đến với Vanga không phải vì những chuyện vạch vãnh. Tôi rất thích ý kiến của một trong những người kính trọng Vanga.

    Có thể Vanga không tiên đoán cho bạn điều gì cả, mà đơn giản bạn chỉ cần xin một lời khuyên là đủ. Bởi bà đọc được từ cuốn sách của cuộc sống.

    Có lần tôi hỏi bà:

    - Dì hãy nói xem con người là gì?

    Vanga trả lời:

    - Ngay cả trong câu hỏi đã chứa đựng một câu trả lời: một thực thể lăng xăng, hối hả không ngừng quan sát, nghiên cứu tìm tòi và không tìm thấy cái đáng đi tìm. Xin lỗi, dì đùa đấy. Nếu nói một cách to tát, con người như là một phần của vũ trụ bao la – thì chẳng là gì cả. Một hạt cát bé nhỏ trong cái vô biên. Nhưng trong con người có một ngọn lửa thần thánh. Vì thế con người rất thường xuyên biến chuyển bản thân, không mệt mỏi tìm tòi và nghiên cứu những bí mật còn tồn tại, làm nên những phát minh chưa từng thấy, dũng cảm đi tới sự mạo hiểm chết người. Cái nhìn cương quyết của con người nhằm hướng bầu trời, những khoảng không Vũ trụ không làm cho con người sợ hãi, con người nhìn thấy và đếm được các vì sao. Hai trăm năm nữa, con người sẽ tiếp xúc với những anh em về trí tuệ từ những thế giới khác. Những người hàng xóm – Hungari của chúng ta sẽ thiết kế được những máy móc mà nhờ đó họ lần đầu tiên bắt được những tín hiệu từ Vũ trụ. Còn những tri thức đúng đắn về Vũ trụ thì nên tìm trong những cuốn sách cổ thiêng liêng.

    - Còn trước đó thì sao?

    - Thế giới đang trải qua nhiều thảm hoạ và những chấn động mạnh. Bản thân nhận thức của con người cũng thay đổi. Thời kỳ nặng nề đang tới. Mọi người được phân chia theo dấu hiệu niềm tin (tôn giáo). Một học thuyết thông thái và cổ nhất sẽ quay lại với họ. Người ta hỏi dì: “Khi nào thì thời kỳ đó tới?” Không nhanh đâu! Xiry vẫn còn chưa sụp đổ (Câu chuyện này được ghi lại vào tháng 5 năm 1979 và xin thề là tôi không biết ý nghĩa phù thuỷ là gì bao hàm trong bốn từ cuối cùng).

    Mẹ tôi kể:

    - Mẹ thường sang nhà Vanga vào sáng sớm, khi dì còn chưa bắt đầu tiếp khách. Nhiều khi nhìn thấy dì rất mệt mỏi, mẹ hỏi tại sao dì không ngủ và thường nghe câu trả lời: %E2??Tôi không thể ngủ được bởi vì ban đêm tôi có mặt ở những điểm nóng khác nhau trên Trái đất, tôi nhìn thấy những cảnh tượng khủng khiếp của chiến tranh và tai họa. Tôi muốn ngủ chút ít bây giờ, nhưng không thể bởi vì mọi người lại đã đợi tôi”.

    - Sau một trận lụt lớn ở Scopine – mẹ tôi kể tiếp – mẹ cùng dì Vanga sang Strumitsa tới thăm người bạn cũ Panđe Ascanov. Ông hết sức tuyệt vọng vì nhà cửa của ông ở Scopine hầu như bị lũ cuốn sạch. Tiện thể Panđe hỏi Vanga: “Có nên chữa lại ngôi nhà hay không, tốt hơn hết là tích góp tiền xây nhà mới”. Vanga trả lời: “Còn nhà mới gì nữa! Hãy chạy khỏi Scopine, bởi sắp tới ở đây sẽ bùng nổ một cái gì đó còn khủng khiếp hơn trận lụt vừa qua. Hãy ở lại Strumitsa này”.

    Một tuần sau, một trận động đất khủng khiếp đã tàn phá tận gốc Scopine, rất nhiều người chết và bị thương nặng.

    Vào đầu năm 1968 Vanga mấy lần rơi vào trạng thái xuất thần và cứ nhắc đi nhắc lại: “Hãy nhớ tới Praha! Hãy nhớ tới Praha! Mây đen đang tụ đặc trên thành phố và từ mây đen vang lên giọng nói: “Chiến tranh! Praha sắp biến thành cái bể kính, mà trong đó những kẻ điên sẽ bắt cá. Vâng, vâng, chính là như vậy!”

    Có rất nhiều người cũng như tôi đã chứng kiến và nghe thấy những gì Vanga nói khi đó, tất cả họ có thể khẳng định điều này.

    Rất nhanh sau đó, cả thế giới được chứng kiến những sự kiện bi thảm ở Tiệp Khắc. Nhưng Vanga ngụ ý gì khi nói rằng Praha biến thành bể kính ở đó người ta bắt cá, thì tôi cảm giác rằng cho đến hiện nay vẫn không ai hiểu. Thường thì Vanga không giải thích: những gì bà nói ra, đặc biệt khi điều đó động chạm đến những sự kiện lớn có tính chất vận mạng. Có thể nghe được ở bà những điều mà bản thân bà cũng không hiểu. Công việc của bà là truyền đi những gì nghe được.

    Vanga thường tránh nói về chính trị, điều đó có lý do của nó. Bà sợ lời của bà có thể được giải thích những cách rất khác nhau. Nhưng quả thật, cũng có một vài lần bà nói về đề tài này. Cách đây khoảng chục năm đã có một cuộc đàm đạo thú vị giữa bà với nhà báo Libăng Abđel Amir Abđala. Về những ấn tượng của mình trong cuộc gặp gỡ này nhà báo đã chia sẻ với bạn đọc trong tờ tuần báo chính trị “Al.Kitakh al arabi”. Bài báo này được dịch sang tiếng Bungari và đăng trong tạp chí “Bulgaria de Oji” – Số 2 năm 1982. Thiết nghĩ không phải tất cả mọi người quan tâm tới Vanga đều đã đọc bài báo này nên tôi cho rằng có thể trích ra đây vài đoạn.

    “Vanga có một căn phòng giản dị như trăm ngàn các căn phòng khác. Ở giữa phòng là một lò sưởi điện. Vanga ngồi trên đi văng trải thảm sọc xanh và vàng da cam. Nói chuyện với bà, tôi cố gắng tập trung sức mạnh tinh thần vào những ý nghĩ của mình để không bị rơi vào ảnh hưởng của người phụ nữ này. Tôi tháo kính và nhìn mặt ba người phụ nữ khác ngồi trong góc phòng. Mọi thứ vẫn còn in trong tâm trí tôi.

    Im lặng ngự trị. Gương mặt Vanga toả ra sự yên tĩnh. Bà ngửng đầu và nói bằng một giọng mạnh mẽ tự tin:

    - Nhà báo Libăng hãy lại đây và ngồi xuống. Hãy để người lái xe ra ngoài! – Đây là dấu hiệu đầu tiên cho tôi thấy sức mạnh của Vanga. Làm sao bà đoán được rằng người lái xe đang ngồi trong phòng.

    - Hãy đưa miếng đường đây, nhà báo!

    Tôi lấy từ trong túi ra miếng đường và đặt lên bàn để xem. Vanga cầm nó lên như thế nào. Không chút khó khăn, bà đưa tay ra và cầm ngay được miếng đường và bắt đầu sờ nắn nó. Bàn tay bà rất tự tin. Bà quay sang phía tôi và tôi cảm thấy bà nhìn thấu tâm hồn tôi. Vanga nói:

    - Cậu có cặp kính mà cậu vẫn thường đeo trong những cuộc gặp gỡ và những tình huống quan trọng. Tại sao bây giờ cậu lại tháo nó ra?

    Đó là đòn thứ hai giáng vào sự thiếu tin tưởng của tôi đối với sức mạnh của cái nhìn nội tại của bà.

    - Hãy nghe đây – bà nói – cha mẹ cậu đang sống ở Libăng. Vào thời điểm này mẹ cậu đang ở nhà, còn cha cậu thì không. Có lẽ ông đang làm việc ngoài đồng. Cậu sống ở thành phố và làm nghề báo được 12 năm. Cậu viết về những vấn đề chuyên ngành của mình, đôi khi cũng viết về chính trị. Nhưng đóng góp của cậu ở đây không lớn lắm. Năm 1982 và 1983 sẽ đem lại cho cậu thành công lớn trong công việc. Sau này cậu sẽ có bảy đứa con, còn khi cậu 42 tuổi, cậu sẽ chứng kiến một cuộc chiến tranh lớn, nhưng tôi sẽ không nói ai là kẻ mở đầu cuộc chiến tranh này. Cậu theo đạo Hồi, hãy tuân thủ nghiêm ngặt những ngày lễ của lịch Hồi giáo. Các bạn có một văn bản thiêng liêng lớn đó là kinh Côran. Cậu phải chăm chú đọc nó, đặc biệt từ chương IX đến chương XII.

    Im lặng một lúc, Vanga tiếp tục:

    - Năm 1984, ở Xiry sẽ nổ ra một cuộc chiến tranh lớn vì các vấn đề quốc tế của nó đang trở nên phức tạp. Cậu đã đến Jeruxalem bao giờ chưa? Bây giờ tôi đang nhìn thấy Bagđa. Thành phố Bagđa là gì vậy? Cậu sắp đi tới đó.

    Bà tiếp tục không để cho tôi kịp ra câu hỏi:

    - Ở Libăng sẽ có những vấn đề từ tứ phía. Tôi nhìn thấy dòng sông Nin hùng vĩ. Cậu sẽ tới thăm đôi bờ của nó. Trước mặt cậu có rất nhiều ngả đường.

    Ngừng một chút, bà tiếp bằng giọng đều đều:

    - Libăng bị bao bọc bởi những ngọn lửa. Tôi nhìn thấy nhiều quả đỏ và nhiều nước. Nhưng ở nước bạn sẽ không có và sẽ không dầu lửa.

    Sau đó Vanga hỏi tôi:

    - Ai đã kể cho cậu biết về tôi?

    - Tổng biên tập Ualid Al-Huxein, chính ông cũng muốn nói chuyện với bà.

    Vanga im lặng một lúc, sau đó lại xoay miếng đường giữa những ngón tay. Lát sau bà nói:

    - Hiện nay ở Libăng có rất nhiều xe quân sự hạng nặng. Vào tháng 5 năm 1982 bầu trời của các bạn bỗng dưng tối đen. Sau một phút im lặng, bà lại tiếp tục:

    - Ở Libăng có rất nhiều những uỷ ban khác nhau, chỉ có điều họ chẳng có khả năng bắt tay vào việc gì hết. Các chiến hào vẫn không có binh lính, còn các chướng ngại vật và chiến luỹ sẽ không bị phá vỡ.

    Tôi nhìn và nghe, còn bà thì nói, hỏi và tự trả lời:

    - Ai là nhà tiên tri của các bạn? Đó là người truyền đạo khiêm nhường như nhau cho cả người giàu lẫn người nghèo và nhìn thấy ngay ba hành tinh. Giờ đây linh hồn ông ta đang bước vào phòng. Eliax Sarkix là ai? Ông Tổn Thống của các bạn, theo đạo Cơ đốc, chưa vợ, dòng dõi Ả rập. Ông là một nhà chính trị tốt. Nhưng hiện nay ở Libăng đang có quá nhiều quân nhân. Trong tương lai vị trí của ông sẽ thay đổi theo chiều hướng tốt.

    Vanga im lặng một chút rồi lại bổ sung:

    - Tôi nghe thấy ở Brâyrut bây giờ đang có chiến tranh. Lửa lúc tắt, lúc lại bùng lên. Cậu có ủng hộ cuộc chiến tranh này không?

    - Không, tôi không ủng hộ! – tôi trả lời.

    Bà Vanga đã kể cho tôi nghe tất cả điều đó vào hồi 8 giờ 45 phút sáng ngày 2 tháng 12 năm 1981.

    Sau này tôi trở về Libăng tôi tìm thấy trong kho lưu trữ những tư liệu cho biết chính vào ngày đó khu vực phía Tây của Bâyrút đã xảy ra những cuộc đụng độ giữa hai tổ chức vũ trang.

    Tôi biết rằng thường thì Vanga không động chạm đến vấn đề chính trị. Nhưng tại sao so với tôi bà lại nói về điều đó? Có lẽ tình hình chính trị và vận mạng của đất nước tôi đã làm tôi rất lo lắng. Trước khi gặp Vanga, tôi đã nghĩ nhiều về điều đó và những ý nghĩ thầm kín của tôi có lẽ bằng cách nào đó đã in dấu nên trên miếng đường mà tôi vẫn thường cầm theo cả khi ngủ. Còn Vanga thông qua những dấu ấn đó biết được những ý nghĩ của tôi và cố gắng dùng những lời tiên đoán của mình để trả lời những vấn đề đang dày vò tôi.

    Quay về Xôphia, tôi cứ nghĩ mãi về người phụ nữ mà năng khiếu đã được nhà nước công nhận này. Tôi quyết định không đăng những gì dính dáng đến riêng tôi cũng như không đăng những gì động chạm trực tiếp đến lợi ích của đồng bào và Tổ quốc tôi – Libăng.

    Tại sao? Bởi vì nếu những gì mà Vanga nói, được xác nhận thì điều đó thật khủng khiếp. Tôi những muốn tin rằng: đó chỉ là những lời đoán mà thôi”

    Năm 1978 có một vị khách cao cấp từ Nicaragoa tới thăm Vanga. Khi nói về tình hình chính trị ở nước mình vị khách tỏ hy vọng rằng tình hình sẽ ổn định phần nào. Nhưng Vanga trả lời ông ta:

    - Không, máu vẫn còn đổ nhiều. Dòng sông máu còn chảy. Ông thậm chí cũng không hình dung nổi điều gì chờ đợi ông…

    Mọi người thường hỏi Vanga: “Bà chưa chán tất cả những người thường ngày vẫn đến với bà ư? Bà thích nói chuyện với ai hơn?”

    Bà trả lời:

    - Đối với tôi tất cả mọi người đều như nhau (bà rất thích nhắc tới câu chuyện ngụ ngôn: Một lần Chúa Trời ra lệnh mở tất cả những quan tài và cử Thiên Sứ xuống xem trong đó có gì. Khi Thiên Sứ trở về Chúa Trời hỏi: hãy nói xem ngươi nhìn thấy những gì? Ngươi có phân biệt được ai là chiến binh, ai là người thường, ai là quan toà không? – Không thưa ngài – Thiên Sứ trả lời – tôi chỉ nhìn độc có xương trắng dưới đất thôi)”.


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group