Cô Ba Cháo Gà - Nguyên tác: Thích Nữ Huệ Hiền

  • thangbe21

    khoảng 1 10 năm trước
  • Cô Ba Cháo Gà Nguyên Tác: Thích Nữ Huệ Hiền

    Cảnh Nhơn Hiền

    Sau khi từ giã các vị Đại Tiên, chư thần dìu tôi đằng vân lên mây bay qua cảnh Nhơn Hiền. Cảnh này vẽ đẹp thua cảnh Địa Tiên, nhưng lâu đài nguy nga sang trọng mường tượng như kinh thành to lớn, nhưng các lâu đài này rời rạc uy nghiêm chớ không khít sát như thành phố cõi Diêm phù, người ở đây như bậc giàu sang ở cõi Diêm phù muốn chi có nấy, chỉ muốn là được chớ khỏi nhọc nhằn vất vả làm lụng chi cả. Người ở đây cũng không còn nạn khổ về sanh, già, bệnh, chết, hễ tu hành tinh tấn thì về cái cõi trời, còn ham vui giã đãi không chĩu tu hành thì trở lại cõi Diêm phù, nhập xác đầu thai làm người.

    Tôi được chư thần cho biết, nếu người ở thế gian chỉ biết làm hiền, không hại đời, không phái đạo, sống theo nhơn đạo, hoặc tạo được chút phước mọn chi đó. Khi chết được chư thần rước về cảnh Nhơn Hiền tu thêm. Ở đây hàng ngày chỉ lo tụng kinh, niệm Phật, ngồi thiền lần hồi mới được về cõi trời. Hoặc giã khi chết có con cháu biết đạo, đem tiền bố thí, cúng chùa in kinh, tạt tượng hay mau vật phóng sanh mà hồi hương cho vong linh thì cũng được đắc quả về vời cõi trời hưởng phước.

    Dẫu về được cõi Trời cũng phải tu thêm nhiều năm, nhiều kiếp (Kiếp ở đây là nói theo cõi đời, chớ các cõi khác không có sanh và tử) mới được về Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di đà. Còn nếu về trời ham vui không chịu tu hành đến ngày hết phước cũng bị đọa xuống trần gian chịu khổ nữa.

    Người ở cõi Nhơn hiền đẹp và cao lớn hơn người ở cõi Diêm phù, một tháng thọ thực hai lần như cõi Địa Tiên. Hằng ngày không phải nhọc nhằn làm lụng chi tiết. Tất cả cảnh trí, cỏ cây, lầu đài đều do công đức tu hành biến hóa thành. Nơi đây khác hẳn với chúng sanh ở cõi Diêm Phù, nhọc nhằn xây dựng mà cũng không bền.

    Đi dạo một vòng gặp các chư thần ở đây ra tiếp đón và hướng dẫn tôi đi dạo cảnh. Đi một lúc đến một tháp báu tôi thấy có một người nữ ngồi tụng kinh, lắng tai nghe biết là kinh Địa Tạng nhưng chẳng thấy quyển kinh. Tôi bèn hỏi: "Ở đây cũng tụng kinh nữa sao?" Người nữ đáp: "Thưa ngài, nơi đây rất cần tụng kinh để thâm nhập giáo lý của Đức Phật và để cầu siêu cho cửu huyền thất tổ. Vì ông nội tôi chết còn bị đọa nơi Địa ngục nên tôi phải tụng kinh Địa Tạng mà cầu siêu cho ông tôi.

    Người dứt lời tôi xin kiếu từ để đi nơi khác. Lúc ấy nhằm giờ thọ trì kinh pháp và đi kinh hành nên không nói chuyện nhiều với ai được.

    Nào tháp, nào chùa nguy nga đồ sộ, chư thần đưa tôi vào một ngôi chùa to lớn vô cùng và cho tôi biết chùa nầy có đến sáu trăm cây cột. Người trong chùa hành đủ pháp môn của Phật, ai hạp với pháp nào thì đến đó mà hành đạo, tùy theo căn cơ mỗi người, có lớp đang học có lớp đang hành, đó là sơ lược cảnh nhơn hiền.



    Được sửa lần cuối bởi thangbe21 vào ngày khoảng 1 10 năm trước với 1 lần trong tổng số.
  • thangbe21

    khoảng 1 10 năm trước
  • Cô Ba Cháo Gà Nguyên Tác: Thích Nữ Huệ Hiền

    Cảnh Long Vương

    Khi từ giả cõi Nhơn hiền chư thần cũng dìu tôi đằng vân qua cảnh Long Vương và được các ngài cho biết về nhiệm vụ của Đức Long Vương đối với chúng sanh ở cõi Diêm Phù.

    Đức LongVương là một vị Thánh Đế, ngài là chúa tể các vị Long Vương khác ở khắp biển và sông hồ. Ngài có tất cả 17 Hoàng Tử đều làm vua Long Vương ở khắp nơi trong quả địa cầu và 5 vị Công Chúa thường gọi là Ngũ Long Công Chúa. Hiện nay, Đức Long Vương đang hướng về Phật Pháp tu hành nhường sự cai quản lại cho các Hoàng Tử.

    Cảnh Long Vương có một cái hang gió, một hang nước, một hang không khí (nói là hang vì nó giống như cái hang chớ thật ra mỗi cái hang to lớn lắm, và mỗi cái lại ăn thông vào một ngọn núi khổng lồ cao ngút tận mây, bên trong là máy nhiệm màu của Trời đất). Hang gió chuyển biến bốn mùa, vì có bốn cửa xoay chuyển tuần hoàn: Xuân, Hạ, Thu, Đông cho hợp thời tiết. Hang nước luân chuyển nguồn nước biển cả cho được điều hòa. Hang không khí đổi thay khí trời cho chúng sanh mới sống được. Hiện nay con người chết yểu vì không khí nhiễm nhiều khí độc làm biến hoại phần nào không khí thiên nhiên đó là ba hang cần yếu cho con người, thú vật và cây cỏ. Cảnh Long Vương chư thần đông vô số, nào thần rồng, thần rắn, thần rùa, các chư thần này có bổn phận biến chuyển nước và không khí. Còn riêng Đại thần tức thần Long Vương lo hộ trì Phật Pháp các nơi như: Chùa, tháp, những nơi có xá lợi, có tượng Phật, có kinh pháp và hộ trì các vị đại đức tăng ni tu hành chánh pháp, nghiêm trì giới luật. Các Long thần cũng hộ trì cư sĩ giữ tròn năm giới. Người đời gọi là ông tiên hay Long thần chớ thật là Đại thần Long Vương.

    Cảnh Long Vương to tát hơn cảnh Địa Tiên, nhưng vì các hang gió, hang nước, hang không khí choáng mất đi nhiều.

    Tôi cùng chư thần vào yết kiến Đức Long Vương ngài vô cùng mừng rỡ bèn cho sứ giả thỉnh Hoàng Hậu đến để hướng dẫn tôi dạo cảnh.

    Cảnh Long Vương vô cùng xinh đẹp chẳng thua gì cảnh Địa Tiên, trăm hoa đua nở đủ màu sắc, rồng chầu, hổ phục khắp nơi. Hoàng hậu dẫn tôi đi ngay vào cung điện của các vị Công chúa. Một vị Công chúa hiện bị đọa ở cõi Diêm phù còn 4 vị nữa điều đi tu. Cung điện rất to lớn nguy nga, châu ngọc sáng lòe, nào quạt ngọc, chiếu ngà, bình báu đủ loại, cung nữ hằng ngày vẫn còn lo săn sóc cung điện. Bốn vị đi tu nhưng thỉnh thoảng còn trở về thăm cung điện, còn riêng vị bị đọa ở cõi Diêm phù thì bịt đường không còn lui tới. Vì Đức Long Vương sợ con ngài đắm đuối cõi trần không chịu tu hành làm sao trở về ngôi cũ thì ngài sẽ hổ thẹn với trăm quan cùng mười vua thập điện. Bởi cớ ấy nên Hoàng Hậu hết sức thiết tha yêu cầu tôi cố gắng độ cho Công chúa tu hành.

    Hoàng Hậu cùng tôi ra khỏi cung điện, đến bãi Rồng, Rồng lớn có, nhỏ có đủ màu sắc rất oai nghi. Nhìn một lúc bắt rùng mình, sợ quá tôi bạch cùng Hoàng Hậu xin đi nơi khác. Dọc theo bãi cát không biết bao nhiêu là rùa, con nào con nấy bằng chiếc xe hơi, nào là kỳ đà, cua biển cỡ chiếc xe bò. Hoàng Hậu dẫn tôi đến một cái hồ rộng lớn chung quanh cây cối um tùm. Dưới hồ nhiều loại cá đủ màu, Hoàng Hậu cất tiếng bảo: "Các ngươi lội cho Hiền Tăng xem". Tự nhiên thấy cá gom lại màu nào theo màu nấy, mỗi màu thành một đoàn, đoàn này nối tiếp đoàn kia có hàng lối chỉnh tề trông rất đep mắt, như đoàn quân diễn hành tong ngày đại lễ. Mặt nước đang phẳng lặng bỗng dợn sóng ào ào. Khi chúng đua giáp vòng trở lại, chúng vọt mình lên khỏi mặt nước như reo vui chào đón.

    Hoàng Hậu bảo:

    Các ngươi tiếp tục diễn đi.

    Tiếng Hoàng Hậu vừa dứt, thấy chúng lội đứng kết nhau thành vòng tròn, mỗi vòng một màu riêng biệt, kế những vòng tròn chuyển động, vòng sắc này lẫn lộn với vòng sắc khác như một đóa hoa khổng lồ trăm màu lẫn lộn. Thấy vậy tôi hết lời khen và nói: "Bạch Hoàng Hậu! Còn kiểu nào nữa bảo chúng làm luôn cho vui mắt". Ngài bảo: "Các ngươi quạt nước cho êm". Bầy cá liền nằm nghiêng trên mặt nước, con này nối đuôi con kia có dọc có hàng ngay ngắn như vải lụa đủ màu dài vô tận. Xem hoài không biết chán, thật công phu tập luyện rất nhiều, nay nhắc lại mà lòng còn vui thích. Kế Hoàng Hậu cho chúng nghỉ, chúng bèn lội lộn lại đủ màu, Hoàng Hậu phán:

    Số cá này bắt ở biển đem về đây hàng ngày chư thần đến huấn luyện tập tành chúng, rồi tụng kinh chú nguyện cho chúng nó, dạy chúng nó lần đầu trong thời gian ba trăm sáu chục năm, lúc ấy cho chúng nó uống nước cam lồ rồi đọc chú thì chúng hóa thân người. Khi đã được thành người đem giáo pháp của Phật mà dạy chúng tu hành, đồng thời dạy về pháp hộ trì, đằng vân giá vỏ, khi chúng thông thuộc rồi mới cho đi độ đời đặng đắp bồi công đức. Lớp nào giỏi thì cho đi hộ trì Phật Pháp, số nào kém thì chuyển qua thần cây, thần nông, thần gió, thần nước, thần lửa...

    Hễ lớp này tiến hóa lên thì bắt lớp cá khác vào hồ mà dạy nữa. Vì thế từ xưa đến nay cõi Long Vương này đào tạo không biết bao nhiêu Thần để đọ chúng sanh ở cõi Diêm Phù. Một số thần có bổn phận ghi chép điều ác, số khác ghi thiện. Một số hộ trì những vị tu hành và quan sát việc hành đạo của từng người như hàng ngày tụng kinh? Được bao nhiêu? Tu giờ nào? Nghỉ giờ nào? Niệm Phật lúc nào? Được bao nhiêu? Có nghiêm trì với luật hay không? Giữ tròn được giới đạo? Phạm giới nào rồi ghi vào sổ hàng tháng về tâu Thượng Đế. Chư thần ở cõi Diêm Phù tính ra còn đông hơn chúng sanh ở cõi ấy, nếu vị nào tu hành tinh tấn, tham thiền nhật định thì mắt thấy chư thần rõ ràng, như thấy vật ban ngày. Sở dĩ chúng sanh không nhìn thấy được chư thần vì bị sắc, tài, danh lợi làm mê mờ chơn tánh.

    Hoàng Hậu phán xong tôi liền từ giã đoàn cá và khuyên chúng tu hành, bỗng chúng ngóc đầu lên khỏi mặt nước và đồng thanh niệm: " Nam mô Thường Tinh Tấn Bồ Tát" ba lần, làm tôi giật mình không ngờ lòai cá mà nói được, thật là lạ lùng! Làm Hòang Hậu cười xòa. Tôi thấy chúng khôn ngoan như vậy bèn dừng lại chú nguyện và Quy Y Phật, Pháp, Tăng cho chúng, trong lúc tôi quy cho chúng thấy chúng nghiêng đầu niệm Phật làm tôi cảm động vô cùng. Hoàng Hậu dẫn tôi đến một ngọn núi sáng rực hào quang tua tủa, tôi bèn hỏi:

    Bạch Hoàng Hậu đó là núi chi vậy?

    Hoàng Hậu đáp:

    Không phải là núi mà chính là kho châu vật.

    Vì vua Long Vương được chiếu chỉ của Thượng Đế phải cho thần quan sát lượm châu ngọc trong bể cá về chứa tại đây chớ lịnh Thượng Đế đem về bỏ đất Mõ thì ở cõi Diêm Phù, nay đã hơn sáu trăm năm rồi mà chưa được lịnh nên chư thần cứ tiếp tục lượm hoài. Nhưng kho này nhỏ hơn kho báu ở cõi Địa Tiên, chắc Hiền tăng đã được thấy. Kế Hoàng Hậu phán tiếp: "Khi Hiền Tăng trở lại cõi Diêm Phù khuyên chúng sanh ráng lo tu hành trong thời gian chẳng bao lâu nữa thì được hưởng của này. Bây giờ đừng tham ác làm chi mà gây tội lỗi sa vào Địa Ngục ngàn năm".

    Tôi bèn hỏi:

    - Bạch ngài chừng nào chúng sanh ở cõi Diêm Phù mới được hưởng của này?

    Ngài bảo:

    - Cơ Trời chẳng khá nói nhiều, đến năm Quý dậu thì thành công.

    Nghe vậy tôi không hỏi nữa, Ngài bèn dẫn tôi đi chung quanh kho báu, tôi thấy nào là sư tử, cọp, rắn, kỳ đà, sấu và nhiều loại thú khác nữa to lớn có sừng, có nanh trôn rất ghê sợ mà tôi không biết tên chi. Con nào con nấy quá lớn làm tôi rùng mình rởn óc, nhưng nhìn lại thấy chúng hiền lành tôi cũng vững tâm. Mỗi khi Hoàng Hậu và tôi đi ngang qua con nào thì chúng đứng lên hai chân trước chắp lại, đầu gục gặc như xá chào, miệng niệm:

    Mô Phật, mô Phật!

    Tôi lấy làm lạ mà hỏi:

    Nơi đây là cảnh thanh tịnh sao có thú quá nhiều?

    Ngài đáp:

    Đó cũng là sự tiến hóa lần lần, lớp này tiến lên làm người thì lớp khác tiến lên làm thú luôn luôn tiếp nối như vậy.

    Tôi thấy lớp thú này khôn ngoan nên cũng dừng chân chú nguyện và quy y Phật Pháp Tăng cho chúng nó và khuyên chúng tinh tấn tu hành đặng sau này tiến lên làm người mà tu nữa.

    Đến đó Hoàng Hậu đưa tôi về đến rồng vua Long Vương. Đức Long Vương từ trên ngai vàng bước xuống niềm nở đón chào, kế ngài phán cho trăm quan ra khỏi đền rồng truyền lệnh cho bốn vị Long thần đảo vô cho tôi xem.

    Được lệnh bốn vị Long thần hiện hình rồng to lớn vọt thẳng lên mây múa lộn xem thật là đẹp mắt. Ban đầu còn thấy mình rồng rõ ràng lần lần không còn thấy nữa mà chỉ thấy như một cuộn mây lớn chuyển vận lộn nhào tới lui. Lúc ấy giông gió ào ào sóng biển trào lên có cuộn trong thật kinh thiên động địa. Các vị khác đứng xem vững vàng còn riêng tôi như muốn quay cuồng theo gió bèn hạ xuống bàn cẩm thạch mà ngồi nhưng lòng còn hãi hùng khiếp sợ không dám nhìn nữa. Thấy tôi như vậy đức Long Vương bèn truyền lệnh cho Lonh Thần ngưng đão võ. Ngài cùng Hoàng Hậu và trăm quan đưa tôi ra tận mé biển để trở lại cõi Diêm phù. Đây là sơ lược cảnh Long Vương.



    Được sửa lần cuối bởi thangbe21 vào ngày khoảng 1 10 năm trước với 1 lần trong tổng số.
  • thangbe21

    khoảng 1 10 năm trước
  • Cô Ba Cháo Gà Nguyên Tác: Thích Nữ Huệ Hiền

    Cõi Tứ Thiên Vương

    Trong lúc khám phá mười ngục cùng ngục Vô gián, và trong lúc viếng cảnh Địa Tiên, Nhơn hiền cùng cảnh Long Vương, tôi cũng có chú ý tìm mẹ tôi nhưng không gặp, tôi bèn đến Nhất điện Tần Quảng Vương mà bạch:

    - Bạch ngài! Tôi có người mẹ tên là Lê Thị Thêm chết ngày 18 tháng 10 năm Tý, đến nay cũng gần mãn tang, tôi cố ý kiếm tìm nhưng không gặp, xin ngài từ bi chỉ dạy cho tôi biết mẹ tôi hiện nay ở đâu?

    Nhất điện Tần Quảng Vương phán:

    - Cũng nhờ Hiền tăng có lòng chí hiếu, thọ trì kinh Địa Tạng hồi hướng cầu nguyện cho mẹ, nên thân mẫu của Hiền Tăng được về cõi Trời Tứ Thiên Vương hưởng phước mà cữu huyền thái tổ cũng được siêu sanh.

    Nghe vậy tôi bèn quỳ xuống bạch:

    - Bạch ngài! Tôi có thể về cõi trời Tứ Thiên Vương để tìm mẹ cho thỏa lòng ao ước được không?

    Ngài phán:

    - Quý thay! Nếu Hiền Tăng muốn đi tìm mẹ thì phải chí tâm cầu nguyện, chừng nào ơn trên ứng chứng mới được đi.

    Được Nhất điện Tần Quảng Vương dạy bảo, tôi từ giả ngài để trở về cõi Diêm phù.

    Chư thần đưa tôi về đến ngôi gia thì tôi nhập xác, hàng ngày tôi chí tâm cầu nguyện được về cõi Trời Tứ Thiên Vương tìm mẹ. Tôi nguyện như vậy trong thời gian ba tháng. Đến ngày 9 tháng giêng năm Mẹo. Thượng Đế Tứ Thiên Vương phê chiếu chỉ cho chư thần xuống trục hồi tôi ra khỏi xác rồi dẫn hồn tôi về thăm mẹ.

    Chư thần dìu tôi bay lên mây đi được một lúc lâu nhìn xuống thấy núi non trùng điệp, đi một lúc nữa chỉ thấy mây đủ màu sắc rất đẹp mà không thấy chi nữa. Nhìn mặt trời thấy to lớn quá, các ngôi sao cũng thật lớn. Tôi định bụng chắc tại nơi đây gần mặt trời và các vì sao hơn cõi thế nên mình thấy lớn. đi một lúc lâu gặp một số Thánh thần đang đứng trên mây, các chư thần dẫn tôi đến trình chiếu chỉ. Các vị này cho đi qua và lấy làm hoan hỉ lắm.

    Tôi được các vị thần cho biết đó là cửa Trời, nhưng tôi nhìn lại không thấy cửa nẽo thành trì chi hết mà chỉ thấy khoảng không mây phủ lớp lớp. Đi một lúc nữa thấy cảnh trí trang nghêm xinh đẹp hiện ra thật vô cùng rực rỡ, cây cối ngay hàng, lâu đài uy nghiêm lố nhố. Chứ thần cùng tôi hạ xuống lại trình chiếu chỉ lại một lần nữa rồi bay thẳng đến đền Rồng của Tứ Thiên Vương. Một đền Rồng to tát hiện ra, chung quanh đền đài lớp lớp đồ sộ uy nghiêm đẹp đẽ vô cùng, ánh sang đủ màu trong các đền đài tua tủa chiếu ra như ánh đèn ban đêm nơi đô thị. Nhưng ánh sang ở đây mát mẽ và suốt thấu tận các tầng mây. Mùi hương lạ ngạt ngào làm tâm hồn tôi nửa say nửa tỉnh, tiếng nhạc trời du dương trằm bổng văng vẳng từ xa vọng lại, thật cảnh thiên đường vui đẹp không cùng. Trước đền rồng có rồng chầu, hổ phục, long, lân, qui, phụng đứng có hàng. Những con vật này vừa to vừa đẹp nhiều màu sắc khác lạ cõi đời, chúng thỉnh thoảng rùng mình uốn khúc, con rờ râu mép, con vẫy đuôi múa, xem vẽ ung dung nhàn hạ lắm.

    Khi tôi cùng chư thần vào, chúng đồng đứng dậy đón chào. Bước vào trong tôi thấy đền rồng cao vòi vọi rộng lớn vô cùng, xây cất bằng châu báu. Người ở đây sao to lớn quá, thân tôi sánh với người cõi Trời chẳng khác nào con cóc sánh với người ở thế gian, thấy mình bé nhỏ lòng hơi khiếp sợ. Được chư thần cho biết vị Trời chánh đế cao hai mươi bốn thước, mặt y đỏ, mão đỏ, hia đỏ: Vị Trời thường cao mười hai thước, mặt áo trắng, mão trắng, hia trắng. Vị đại Tiên cao mười sáu thước. Người Tiên đẹp hơn người Trời nhưng dưới quyền Trời chánh đế. Còn các vị tiên nhỏ màu sắc đủ lọai, tùy theo cấp bậc về công đức tu hành (Tuy cao nhưng đồng thanh đồng thủ).

    Thẳng vào chánh điện xa xa, một vị to lớn mặc đồ đỏ đang ngự giữa, tôi biết ngay là Trời Tứ Thiên Vương bèn cùng chư thần tiến vào bái yết tung hô (tôi đã được chư thần dạy trước). Yết kiến xong Tứ Thiên Vương phán cho ngồi, tiếng ngài sang sảng như tiếng chuông đồng, kế ngài phán:

    Hiền Tăng tuy người trọng tội, nhờ lời đại nguyện phá xong mười ngục cứu độ chúng sanh cũng nhiều, đức kia rất lớn. Nay vì lòng hiếu thảo cầu xin về trời gặp mẹ trẩm cũng rộng hồng ân. Hơn nữa, trẫm cũng muốn cho Hiền tăng về trời cho biết, sau nói lại cho chúng sanh nghe đặng chúng biết có Trời, có Phật, có Thánh, có Thần, để chúng sanh khỏi lầm tưởng ngoài cõi đời không còn ai nữa rồi mặc tình làm ác mà phải sa vào địa ngục.

    Nay trẫm phán đôi lời cho Hiền Tăng rõ: Chúng sanh ở cõi Diêm Phù lòng tham ác dẫy đầy, nghiệp sát sanh quá nặng, cho nên chiến tranh khói lửa không ngừng. Đã thế còn loạn dâm, hủy đạo, ngổ nghịch, bất hiếu, bất trung, mở miệng ra là cống cao ngạo mạn, chửi Trời mắng đất, khi dễ Thánh Thấn. Hàng tháng chư thần về tâu tội lỗi của chúng sanh tràn ngập, còn người thiện về cõi khác rồi cho thần lôi thần hỏa tiêu hủy thế gian đặng lập lại đời thượng cổ cho người hiền chung hưởng. Nhưng đức Quán Âm vì lòng từ bi đã bao lần ngăn cản để ngài tìm cách cứu độ chúng sanh, nếu làm như vậy thì chúng sanh chết khổ tội nghiệp.

    Cũng may, hiện nay nhiều vị Bồ tát ở cõi Trời Đâu suất vì lòng độ tha nên đã giáng trần độ thế rất nhiều. Nhờ các vị Bồ Tát giảng thuyết Kinh pháp nên chúng sanh biết đường tu tỉnh, ăn chay, niệm Phật, thọ trì Kinh pháp. Trẫm phán cho Hiền Tăng rõ: "Người nào giữ trọn tam quy ngũ giới, khi chết trẫm cho kim đồng ngọc nữ rước về cõi trời Tứ Thiên Vương này hưởng phước tu thêm. Còn từ năm giới tới mười giới thì được về các cõi Trời trên, hoặc về cõi Trời Đâu suất gặp Đức Phật Di Lặc giáo hóa tu thêm. Riêng những vị Tăng Ni Đại Đức khi bổn nguyện đã viên mãn thì về ngay cõi Cực lạc của Đức Phật A Di Đà. Còn những người vào hàng Phật Tử mà phá đạo, hại đời hoặc đã xuất gia thọ giới mà phá giới, phạm trai hoặc loạn dâm, đắm sắc khi chết bị đọa vào địa ngục không biết bao nhiêu năm để đền tội.

    Còn những vị mặc dầu ở tại gia nhưng một lòng vì đạo, kiến thiết chùa chiền, in kinh ấn tống, ủng hộ tăng ni tu học, đó là hàng Bồ Tát tại gia. Phước báo này đến chổ vô lậu, cứ tô bồi công đức như vậy lần lần đến quả vị Niết Bàn. Vì ủng hộ tăng ni tức bảo tồn tăng bảo thường trụ. Thay mặt đức Như Lai giáo hóa chúng sanh. In kinh ấn tống là bảo tồn pháp bảo thường trụ ở thế gian để chúng sanh nương theo kinh pháp mà tu hành. Tuy nhiên, những vị tu bồi công đức trên phải luôn luôn khiêm nhường, đừng sanh tâm cống cao ngạo mạng mà tiêu mòn phước báu đi rất uổng.

    Tất cả các Đức Phật đều muốn cho chúng sanh về đất Phật, tất cả các cõi trời đều muốn cho chúng sanh đặng về trời. Thế mà chúng sanh cứ mà làm ác, lao đầu vào địa ngục, thật là mê muội. Tuy biết rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, tánh Phật ấy như hột giống vậy. Hột giống này phải được trồng trong đất đạo đức, hàng ngày phải được vun tước bằng pháp của Phật thì hột mới nẩy mầm lên cây, đơm bông kết trái Phật, tức thành Phật. Chớ như mê muội đem hột giống bỏ vào sình lầy tham ác, bỏ vào lửa đỏ bạo tàn, ngang ngược thì mọng thúi, hoặc ra tro, cuối cùng thành súc sanh ngạ quỷ chịu thống khổ nuôn đời. Trẫm phán bấy nhiêu lời Hiền Tăng cố nhớ về nói lại cho chúng sanh nghe".

    Phán xong Ngài cho hai vị Tiên nữ gọi mẹ tôi đến, sau khi bái yết tung hô xong mẹ của tôi được tự tiện hàn huyên.

    Tôi không nhìn được mẹ tôi vì bà cao lớn và xinh đẹp quá, nhưng nhờ tiếng nói không đổi nên tôi nhận ra. Còn mẹ tôi vừa thấy tôi bà mừng quá chạy lại ôm tôi bà nói: "Ủa Nhi, (vì tôi tên Nhi) con cũng được về trời nữa sao, vậy thì tâu tới tứ Thiên Vương cho mẹ con mình ở chung một chỗ để cùng tu hành. Nhi ạ! ở cõi trời vui lắm, các vị Bồ Tát ở cõi trời Đâu suất thường xuống đây thuyết pháp, hào quang các ngài sáng ánh tua tủa, ban đầu mẹ tưởng là Phật, mẹ mừng quá, mẹ lạy hoài không thôi, sau nhờ các vị Tiên nói mẹ mới biết là Bồ Tát. Mẹ nhờ con biết tu hành cầu siêu cho mẹ mới được về trời, thật con có hiếu với mẹ quá, bằng không mẹ còn khổ nữa biết ngày nào được ở đây.

    Mẹ ở tận núi Hoa, chổ mẹ ở đẹp hơn đây nhiều lắm, một ngày ở đây dài lắm mẹ nghe các vị Tiên cho biết bằn gmột năm ở cõi thế. Lúc mẹ chết thằng Thinh (vì em tôi tên Thinh) làm một con bò va một con heo để làm đám ma, nếu không có con cầu siêu cho chúng nó hóa thân làm người thì mẹ phải đầu thai một kiếp làm bò và một kiếp làm heo để đền mạng. Ôi! Khổ biết bao nhiêu, thằng Thinh ngu quá nó tưởng làm như vậy là báo hiếu cho mẹ, nào ngờ nó làm hại mẹ phải làm súc sanh thật là đâu đớn. Nhưng việc đã qua rồi không nhắc lại làm chi, con hãy tâu với Tứ Thiên Vương xin về ở chung với mẹ đi, ở đây tu hành vui lắm, khỏi phải làm lụng gì hết.

    Mẹ con mình ráng tu rồi sẽ được trở về cõi Trời đầu suất, mẹ nghe các vị Tiên nói ở Trời Đâu suất có Phật Di Lạc, nhờ ngài giáo hóa mình tu thêm sau một thời gian lâu mới về được cõi cực lạc của Đức Phật A Di Đà. Nè! Con thấy mẹ không, lúc này mẹ đẹp lắm phải không! Hồi mẹ mới về trời cũng giống như con ngày nay thật là nhỏ nhoi xấu xí quá chừng, thôi con đừng buồn, ở đây ít lâu rồi cũng lớn đẹp như mẹ vậy. Con ạ! Ở đây cúng dường lạ lắm, hễ tâm mình muống cúng dường vị Bồ Tát đang thuyết pháp loại hoa nào tự nhiên loại hoa ấy từ trên hư không đổ xuống tua tủa như mưa thật là vui. Mới về cõi Trời mẹ tâm tưởng để cúng dường như vậy chưa được, phải tu một thời gian sau mẹ mới cúng dường bằng cách tâm tưởng sang hoa.

    Cõi Trời vui lắm, để rồi con thấy mẹ không nói sai đâu. Lúc mẹ còn sống thường mở máy thâu thanh để nghe và thích nhất tuồng hát bội, nhưng ở đây các vị Tiên nữ múa hát hay gấp bội lần, còn trên hư không nhạc trời tự nhiên trỗi thật hay mẹ nóikhông hết được. Thôi con đến xin cùng tứ Thiên Vương cho mẹ con mình ở chung rồi con sẽ thấy lời mẹ nói thật, còn nữa, còn nhiều chuyện lạ nữa, đến xin đi con". Bà nói huyên thuyên không ngừng nghỉ, vì lòng phàm còn nặng nên khi thấy mẹ tôi vui mừng kể lễ làm tôi mủi lòng nước mắt dầm dề.

    Chư thần bèn cho mẹ tôi biết là tôi chưa chết vì lòng hiếu thảo muốn tìm mẹ mà thôi.

    Vừa lúc ấy Tứ Thiên Vương phê chiếu chỉ cho phép tôi được dạo cảnh trời, tôi cùng chư thần yết kiến Tứ Thiên Vương rồi ra khỏi đền Rồng để dạo cảnh. Cảnh trời đẹp hơn cảnh Địa Tiên rất nhiều, tiếng gió thổi, chim kêu man mác nhẹ nhàng tưởng chừng như cảnh Tây Phương. Các vị Tiên cõi lạc, cõi công bay lơ lững trên không. Tiếng ống tiêu, ống sáo nghe thâm trầm, các loại chim hạt, chim công, chim quy cùng nhiều loại chim khác nữa mà tôi không biết tên đang nhảy múa ca hát tiếng cười, làm tôi ngây ngất tâm hồn, không muốn trở lại cõi trần đầy đâu khổ.

    Các vị Tiên nữ từng nhóm, từng đoàn đủ màu sặc sở đang tung tăng múa hát. Cỏ hoa xinh đẹp nhiều đóa hoa to lớn như cái mâm mùi thơm bát ngát, cây cối đầy đàn thẳng tấp, thân cây trong sáng hoa quả đặc cành, không một gợi bụi không một chiếc lá rơi, không một cành cỏ dại, đất như pha lê cẩm thạch. Lầu ngà tháp ngọc vòi vọi tận mây, gió hây hây thổi mang hương thơm ngào ngạt hòa lẩn với tiếng sáo du dương, tiếng chim ca hát, tiếng lãnh lót của các vị tiên nữ làm tâm hồn tôi ngây ngất muốn bay bổng lên tận hư không. Nghĩ lại cảnh đời đua chen xô xát mà ngán ngẩm, nghĩ đến chiến tranh ly loạn ở cõi đời mà tê tái cõi lòng. Tôi hết muốn trở lại trần gian, nhưng nhớ đến lời đại nguyện tôi nhất quyết phải trở lại cảnh diêm phù. Trước là trả xong nghiệp quả, sau cho trọn lời đại nguyện, rồi tôi từ giã mẹ tôi để trở lại đền Rồng tâu cùng Tứ Thiên Vương phê chiếu chỉ cho tôi trở về cõi thế.

    Đến nơi Tứ Thiên Vương phán: "Tuy cõi trời rộng bao la, tốt đẹp vô ngần, các vị Bồ Tát ở cõi trời Đâu suất thường đến thuyết pháp dạy đạo, song chúng tiên cứ mãi say sưa trong cảnh đẹp ít chịu tu hành. Nay trẫm thỉnh Hiền Tăng đến pháp đài giảng cho chúng tiên một thời pháp về cái khổ ở thế gian và nơi địa gục, đặng chúng tiên sanh tâm lo sợ mà tinh tấn tu hành, kẻo chúng tiên cứ mãi vui chơi đến ngày hết thuốc bị đọa lại trần gian thì tội lắm! Hiền Tăng đến ngay tháp đài ở núi hoa, tháp này có mười tám tầng dành cho các vị Bồ Tát đến thuyết pháp, nhưng khi đến nơi Hiền Tăng chỉ ngồi ở tầng thứ mười thuyết một thời pháp cho chúng tiên nghe". Được lệnh chư thần đưa tôi bay đến tháp đài. Tháp này cao vòi vọi. Không biết xây bằng thứ gì mà trong sáng lạ thường. Chung quanh tháp đài một khoảng trống mênh mông mặt đất như vàng ròng. Tôi đến ngồi ở tầng thứ mười thấy các vị tiên bốn phía từng đoàn, từng lũ đằng vân về tháp đông đảo như ngày hội.

    Sau các vị Tiên ngồi theo thứ lớp, tôi nhìn xuống thấy thật có thứ tự màu áo nào ngồi theo nhóm nấy không xen lẫn lộn. Hết lớp này đến lớp khác đều đặng trang nghiêm.

    Tôi bèn cất tiếng giảng về những điều khổ ở thế gian: (Ở đây tôi xin tóm lược nhựng điểm cốt yếu) nào cái khổ còn từ trong bào thai tối đen ngộp thở, nào cái khổ từ lúc mới sinh ra dại khờ ngu tối, yếu đuối sống nhờ nơi cha mẹ, nào cái khổ khi lớn lên tạo lập gia đình, lam lũ nhọc nhằn, đổ mồ hô, sôi nước mắt mới có miếng ăn, áo mặc, nhà ở. Nào những lúc bệnh tật ốm đau dày vò, nào những lúc già yếu, chân mỏi, da dùn, mắt lờ, tai điếc. Nào khi chết bức khổ than tâm. Còn bao nhiêu cái khổ thiên tai, hỏa hoạn, cái khổ về chiến tranh tàn phá, chết chóc, đến những cái khổ về tù đày, sanh ly tử biệt. Kế tôi nói về sự đâu khổ ở địa ngục.

    Lúc ấy tôi thấy các vị Tiên nơm nớp lo sợ. Sau khi tôi giảng xong các vị Tiên tụ tập từng nhóm bàn tán với nhau, thấy vậy tôi bèn lân la với các vị Tiên, các ngài nói: "Nếu không có Hiền Tăng nói rõ về cảnh khổ ở thế gian chúng tôi đâu biết. Chúng tôi tưởng ở thế gian cũng sung sướng như ở cõi nầy nào ngờ khổ quá.

    Chúng tôi ở đây nào có nghĩ tới năm tháng nào có thấy ai già, ai chết bao giờ, hễ bị tội là Thượng Đế đọa xuống trần gian, nhưng tưởng là đi du ngoạn một lúc vậy thôi nào ngờ khổ quá. Các vị Bồ Tát thường đến đây thuyết pháp mà chúng tôi nào có tin lời. Còn Hiền Tăng từ cõi thế lên đây nói rõ cảnh đời khổ sở làm chúng tôi thức tỉnh. Thôi chúng tôi bắt đầu tu theo Phật kẻo bị đọa xuống trần gian khổ lắm chịu sao cho nổi.

    Một vị khác tiếp: "Thỉnh thoảng Hiền Tăng lên đây một lần nhắc nhở chúng Tiên tu hành tinh tấn chớ các chư thần thường xuống cõi Diêm phù quan sát về nói lại lắm lúc chúng Tiên cũng chẳng mấy làm tin lắm".

    Tôi bèn cáo biệt các vị Tiên, trở lại đền rồng lãnh chiếu chỉ trở về dương thế.

    Đến nơi tôi bái yết xong, Tứ Thiên Vương phán: "Hôm nay Hiền Tăng đã toại nguyện khi trở về khi trở về cõi Diêm phù nhắc nhở chúng sanh tin tấn tu hành, cảnh đẹp ở cõi trời rất rộng đang chờ đón chúng sanh tu thiện. Hiền Tăng nhắc nhở chúng sanh đừng đắm đuối theo xác thân giả tạm, thời gian nó cũng tiêu hoại, phải lo phần hồn là cái chắc thật lâu dài, phải nuôi phần hồn bằng giáo pháp của Phật, phải biết quên mình vì kẻ khác đửng ích kỷ thì cửa trời đang mở rộng đón chờ".

    Phán xong ngài phê chiếu chỉ cho chư thần đưa tôi về cõi thế.

    Mô Phật, đây là lời sơ lược về cảnh trời Tứ Thiên Vương, nếu nói cho hết thì chẳng cùng, hơn nữa tôi chỉ đằng vân ở trên đi lướt qua các cảnh chớ không có thời giờ quan sát tỉ mỉ từng chi tiết một, và ở cõi trời nhiều vật đẹp lạ mà thế gian không có nên tôi cũng không biết gọi là gì.

    Cõi trời là cõi thật, muôn đời nghìn kiếp chẳng đổi thay, nơi thánh nhân đầy đủ phước duyên hưởng thọ, trí phàm như tôi không sao tả cho tường tận được. Nếu chư vị Phật tử nào còn nghi ngờ điều chi trong quyển này xin đến Liên Hoa tịnh thất Mỹ Tho chúng tôi vui lòng hầu chuyện cùng quý vị.

    Chúng tôi nguyện đem công đức này hồi hướng cho tất cả pháp giới chúng sanh đồng quay về bờ giác.


    Viết xong ngày 28-11-1971
    Nhằm ngày 11 tháng 10 năm Tân Hợi
    Thích nữ Huệ Hiền Kính bút

  • thangbe21

    khoảng 1 10 năm trước
  • Cô Ba Cháo Gà Nguyên Tác: Thích Nữ Huệ Hiền

    Khuyến Thiện

    Hiện nay chúng ta đang sống giữa cõi đời đua chen, tranh đấu để dành sự sống, chúng ta mãi lo cho ta, lo cho gia đình ta, rồi lại lo cho thân bằng quyến thuộc. Lo hoài, lo mãi nhưng nào ai đã xong việc.

    Thật vậy, cha mẹ vợ con rồi cũng chết, nhà cửa, ruộng vườn rồi cũng không còn, chính thân ta còn không thật có, vì nào ai chắc sống đến ngày mai, nào ai làm chủ được thân mình.

    Sở dĩ chúng ta lo không xong, không rồi, vì chúng ta chỉ lo cái giả, mà chúng ta chưa lo đến cái thật.

    Xác thân này dễ hư hoại, chỉ gặp chút nghịch duyên thì hồn lìa khỏi xác, cha mẹ vợ con như kẻ bạn đường, của tiền nghề nghiệp chỉ là phương tiện sanh nhai nào có chi chắc thật.

    Cái chắc thật là linh hồn, còn gọi là thần thức, chỉ có linh hồn mới là cái ta thật, nhưng nào có ai nghĩ đến. Dù chúng ta tạo tội phải ở địa ngục ngàn năm, hay phải làm súc sanh muôn kiếp, lúc làm trời, khi làm người, chỉ vì chúng ta quên nó chớ linh hồn không thây đổi biến dời.

    Hiện nay chúng ta đang đứng giữa hai con đường: Con đường nuôi thân ích kỹ, tham lam, ác độc, si mê dẩn đến địa ngục khổ đau! Con đường nuôi tâm vị tha, bố thí, từ bi, sáng suốt dẩn đến Thiên đường an lạc.

    Nếu chúng ta theo con đường nuôi thân tội lỗi thì thân chúng ta phạm ba tội: Sát sanh, trộm cắp và dâm dục. Miệng phạm bốn lỗi: Nói láo, nói thêm, bớt, nói đâm thọc và chửi mắng. Ý chúng ta cũng phạm ba lỗi: Tham lam, sân giận và cuồng si.

    Bây giờ chúng ta quay về nẻo thiên để nuôi tâm, thì thân miệng và ý chí quay đầu trở lại, thân không sát sanh mà phóng sanh, giúp người mà trong sạch. Miệng nói lời chân thật, đúng đắn, hòa giải và dịu dàng. Ý không tham lam mà phải bố thí, từ bi và sáng suốt.

    Ở đây vì đức mỏng tội dầy nên chúng ta chưa dám nghĩ đến cảnh Niết Bàn của chư Phật đầy đủ bốn đức: Chơn thường, chơn lạc, chơn ngã, chơn tịnh, mà chúng ta chỉ bàn đến ác và thiện, khổ và vui để định rõ hai nẻo đường mà chúng ta đã vạch sẵn.

    Mười phương chư Phật, hằng sa Bồ Tát, Hiền, Thánh, Tăng ba đời bước đầu cũng khỏi tu mười nghiệp thiện này.

    Hỡi ai là bậc trí giả, hãy tự chọn lấy con đường mà đi.

  • thangbe21

    khoảng 1 10 năm trước
  • Cô Ba Cháo Gà Nguyên Tác: Thích Nữ Huệ Hiền

    Trần Tình

    Trong quyển "Du Ký Tiên, Long, Thiên cảnh" đoạn tả cảnh Địa Tiên và cảnh Long Vương có nói sau này núi châu báu sẽ đem về sứ Mõ Thi ở làng Kim Sơn, nên có nhiều vị hỏi:

    - Mõ Thi có phải là tiếng nói của từ Mỹ Tho mà ra không?

    Xin đáp:

    - Không! Tiếng Mỹ Tho là địa danh do người đời đặt ra, còn tiếng Mõ Thi, do ơn trên đặt để từ lâu. Tiếng Mõ Thi hàm chứa ý nghĩa sâu xa bí ẩn để chi nơi tụ hội của các bậc Thánh hiền. Khởi đầu từ năm Quý Dậu ánh đạo vàng hưng thịnh lan tràng khấp thế giới, có ảnh hưởng cả muôn năm! điều nầy chắc chắn như vậy! Quý vị cố gắng tu hành sẽ sống sót hưởng đời thượng cổ, chỉ vắn tắt ít lời không thể nói nhiều hơn được.

    Có người lại nói:

    - Vì cô Ba tức là Huệ Hiền ở Mỹ Tho, nên nói núi châu báu sau này về đất Mõ Thi để quan trọng hóa vấn đề có tính cách ích kỷ?

    Tôi xin thưa:

    - Biết rằng núi châu báu sau này về đất Mõ Thi là nơi chánh (như đoạn nói trên). Nhưng tôi phải chỉ riêng xứ Mõ Thi có châu báu mà tất cả nhà nhà, chốn chốn toàn thế giới, nơi nào có người tu hành chánh pháp đều có châu báu, mặt tình tiêu dùng hưởng lạc muôn năm. Lúc ấy cõi Ta Bà này như cõi Địa Tiên.

    Cố gắng lên! Cố gắng lên! Tinh tấn tu hành sẽ đến thành công mỹ mãn.

    Chúc quý vị Phật Tử bốn phương tinh tấn tu hành hưởng đời an lạc.


    Nam Mô Thường Tinh Tấn Bồ Tá Ma Ha Tat
    Thích Nữ Huệ Hiền.

  • thangbe21

    khoảng 1 10 năm trước
  • Cô Ba Cháo Gà Nguyên Tác: Thích Nữ Huệ Hiền

    Luật Trời

    Nếu... Người làm việc chẳng lành
    Mà sau hiển đạt vang danh lẫy lừng
    Người dầu không hại, không trừng
    Luật trời ắt chẳng bao dung được nào.

    Ham Thích Điều Lành

    Điều lành điều phải khá nên ham
    Việc ác đừng vui, chớ kiếm tâm
    Gặp được điều lành như giải khát
    Nghe điều hung giữ tránh xa xăm
    Làm lành rất được an vui
    Đạo lành to lớn như trời bao la.

    Lời Lành

    Ta nói lời lành đẹp da nhau
    Đừng nen nặng nhẹ khiến người đau
    Đừng nên đâm thọc cho sanh chuyện
    Đừng ỷ thế thần giọng thấp cao
    Lời nói thanh bai ý diệu hiền
    Đượm màu chơn thật, đượm tâm thiền
    Nghe như giọt nước cam lồ rưới...
    Mát mẽ tâm lòng tạo thiện duyên.

    Sấm Ông Đồ

    Người sanh trong cõi Nam Hoàng,
    Không phen đài các, cũng hàng Lạc Long
    Muốn cho rạng vẽ Tiên Rồng,
    Muốn bình thên hạ trước phòng quốc gia.
    Muốn cho lợi nước yên nhà,
    Trước lo sửa trị gia hòa khiêm cung.
    Muốn cho gia đạo hiền hùng,
    Tự thân trước phải tư dung nhân hiền.
    Nhàn xem sách vở luân thường,
    Thầy đồ người ở hậu trường Sài Châu.
    Trăng khuya băm sáu tuôi đầu,
    Thế thời gặp phải gió âu phong trần.
    Mặc Tôn dầu đặng cái lân,
    Lòng son Cử trị lãnh phần long đong.
    Ra đi vừa lố mặt hồng,
    Dường mòn ngoắc ngoẻo như lòng quăn queo.
    Trời trưa nắng đổ trên đéo,
    Gợi lòng thêm chạnh phận nghèo đắn đo.

    Nghĩ mình xưa cũng yên cho,
    Chức làm thầy ký dưới trò hoạn quan.
    Gia đình cũng khỏi cơ hàn,
    Vợ là lương thị tánh nàng xa hoa.
    Nàng ưa quý của sang nhà,
    Thấy chồng chơn thật sanh ra hẫn hờ.
    Trách ông không rõ thời cơ,
    Oai như ông Thượng cuốn cờ theo Tây.
    Ta nên giả điếc giả ngây,
    Thánh hiền chi đó cho tầy khô bao.
    Ông Y, ông Doãn thế nào,
    Ôm cầy cuốc bẩm con gào vợ than!
    Anh tài như cụ họ Phan,
    Hết lưu hải ngọai bàng giang ngồi tù.
    Anh hùng Yên Bái công phu,
    Sa cơ còn phải mạng tru tan tành.
    Tài tình như cụ Phan Thanh,
    Ba Đình nhất thủ cũng đành co tay.
    Trở cờ một sánh ấy hay,
    Xu thời theo thế là tài lập an.
    Kìa xem ông lớn nhà quan,
    Biết tôn người Pháp mà sang mà giàu.
    Quan thời kín cổng lầu cao,
    Tới chi dân giả mà đâu mà lòng.
    Chỉ theo thời thế lập công,
    Cúi đầu mọp xá cho xong lẽ nào.
    Ông mà không nghĩ trước sau,
    Con thơ bốn đứa ai hầu đảm đang.
    Buồn đời lại gặp vợ gàn,
    Đến quan gai mắt về nhà xốn xang.
    Bỗng nghe thiên hạ nhôn nhàng,
    Dân nghèo trốn thuế, lính làng nên ghê.
    Chú cai, thầy Đội nhùn trề,
    Đánh thôi không kể chửi điên nhiếc mờ.
    Thảm thương cho đám dân khờ,
    U đầu sưng mặt biết nhờ cậy ai.
    Cúi xin ông Đội thầy Cai,
    Hưởng vài kỳ hạn chúng tôi chạy tiền.
    Vợ con đau ốm liên miên,
    Mùa màng thất bát làm phiền các ông.
    Cha già, mẹ yếu, của không,
    Sở làm chẳng có biết phòng cậy ai.
    Áo cơm thiếu hụt hằng ngày,
    Cúi xin quan lớn nới tay khoan hồng.
    "Đồ khốn! Lũ bây cuồng ngông,
    Muốn làm cách mạng không tuân lệnh làng.
    Ký đồ đem sổ trước quan,
    Hãy làm biên bản tống giam lũ này."
    Đồ rằng: "Cớ sự như vầy,
    Dân nghèo đói khổ tội này bởi quan.
    Nhớ xưa dân chúng cơ hàn,
    Ông vũ coi việc khai đàng sông Thương.
    Cho nước khỏi ngập ruộng vườn,
    Vì dân vì nước lòng thường siêng năng.
    Thế mà ông còn bảo rằng,
    Nếu dân bị lụt tội này về ông.
    Ông tắc coi việc điền công,
    Đốt trầm đuổi thú cho dân cày bừa.
    Ông rằng nếu dân thất mùa,
    Vợ con đói khổ tội này về ông.
    Người hiền mãi lo việc công,
    Kẻ khôn! Chỉ muốn ở không làm nền.
    Đinh, Lê, Lý chúa Nam Hoàng,
    Khuyếch trương kinh tế dân làng ấm no.
    Thuế sưu đơn giản nhẹ lo,
    Nay vì quan lớn ăn no ngồi rồi.
    Cướp bóc, hà khắc đủ điều,
    Phần mùa thất bát thế nào cho dân.
    Thương người như thể thương thân,
    Quan trên xin thử cân phân thế nào.
    Dẫu cho tước trọng quyền cao,
    Cũng thương lấy chút đồng bào dân ta.
    Ham chi chút bã lang sa,
    Mà gây lắm nỗi phong ba bất bình".
    Thấu tai quan nổi lôi đình,
    "Khá khen thầy ký dám kình với ta,
    Linh quyền lột chức đuổi ra,
    Tẩy chai cho nó khôn qua đóng tiền".
    Thôi rồi thế sự ngửa nghiêng,
    Từ đây con vợ than phiền đến đâu.
    Éo le đơn khảy mấy câu,
    Nước xao mấy lượn nghĩ âu nực cười.
    Cho hay vậy cũng là người,
    Con Hồng cháu Lạc hồ ngươi chẳng là.
    Trời Nam một dãy sơn hà,
    Linh đinh bể cả biết mà về đâu.
    Ba Đồ một vẽ âu sầu,
    Khi buồn khi tức câu mâu đủ điều:
    Kia nhà phú quý quan liêu,
    Thiếm Cai bà Đội đủ điều phong dinh.
    Quan oai kẻ bẩm người trình,
    Phủ đường có lính có binh gác hầu.
    Bà lớn sang biết là bao,
    Ra đường thiên hạ cúi đầu sợ oai.
    Đi thời xe cộ hẳn hoi,
    Trùm làng vòn nể mựu đòi thứ dân.
    Ông Đồ là người bất nhân,
    Học đòi liêm sĩ giết lần vợ con.
    Nhẫn tâm một chút chịu lòn,
    Nã dân lập nghiệp vợ con nó nhờ.
    Ông không xét rõ thời cơ:
    Thử xem thiên hạ bây giờ có ai,
    Nhìn kỹ quan liêu ngày nay,
    Phần đông môn đệ học tài với ông.
    Cớ sao nó lại nên công,
    Còn ông thì lại tay không chân rồi.
    Chúng con khi dễ đến tôi,
    Xem ông như rác đưng ngồi với ai.
    Pháp định gặc đức tranh tài,
    Quan trên bắt lính để bài tồng quân.
    Ông ra gánh vác chút phần,
    Làm sổ biên bản lập thân với đời.
    Ấm no thê tử vui tươi,
    Tệ chi lắm lệ trời ơi là trời.
    Hết khuyên rồi lại lắm lời,
    Mắng chồng rồi lại tơi bời đánh con.
    Tội chi mà phải chịu đòn,
    Áo cơm không có lại còn vọt roi.
    Trẻ thơ lắm nỗi đắng cay,
    Nhìn cha, cha thảm, nhìn mẹ, mẹ sầu.
    Sợ mẹ hồn vía lên đầu,
    Bồng em chạy trốn dãi dầu thảm thê.
    Ác vàng nhựt tợ ngoại kề,
    Cánh buồm bao quản bốn bề gió xiêu.
    Ông Đồ một mực chuộng chiều,
    Tìm lời to nhỏ cho yên qua ngày.
    Rằng: "Xem thiên hạ thời nay,
    Biết bác cơ cần đọa đầy thảm thương!
    Thuê sưu ép ngặt đủ đường,
    Lâm cơn nghèo thiếu lại vương lao tù.
    Ta có nghèo đói mặc dù,
    Cũng là chia sẽ nổi buồn cùng ai".
    Thất nghiệp ngày tháng loay hoay,
    Lần hồi sự nghiệp gia tài sạch không.
    Con thơ đói rách long đong,
    Bạn bè xa lánh biết trong cậy ai.
    Hết phương tính một liệu hai,
    Hết lời to nhỏ hết nài hết lơn.
    Bà Đồ tột độ căm hờn,
    Dân mâm xán chén dặm chơn kêu trời.
    "Mặt này cũng tại vì ai,
    Làm ra mặt phải có tài được không?".
    Thầm cho lũ trẻ bập bồng,
    Bữa râu bữa cháo bữa lòng vắng hoe.
    Xin cơm, mượn gạo lăm le,
    Bữa có bữa chẳng rách te áo quần.
    Chôi con lọng gió tưng bừng,
    Ngẩn ngơ trúc tử khôn ngừng dòng châu.
    Hoa non trời nở mưa ngâu,
    E cho tan tác mái đầu non non.
    Gió đông thổi buốt lòng son,
    Làm cho con én đầu non dật dờ.
    Bèn tan rã cánh lờ đờ,
    Ngẩn ngơ hồn bướm biết nhờ vào đâu.
    Đau lòng lụy nhỏ thấm bâu,
    Ông đồ nhỏ nhẹ rầu thốt ra.
    Bà cùng con ở lại nhà,
    Hẩm hiu rau cháo cho qua tháng ngày.
    Tôi ra miền Trung phần ngoài,
    Tìm sở làm mướn một vài tháng qua.
    May nhờ phước dư ông bà,
    Bay tiền chi độ chẳng là ấm no.
    Dứt lời bà hứ tiếng to:
    "Cái bộ ông đó sớm lo ở tù"
    Hết lời biện bạch trí ngu,
    Nói nhiều thêm oán chác thù ích chi.
    Một hai gì cũng phải đi,
    Đi cho khuất mắt huốn chi ở nhà.
    Chơn ông vừa mới bước ra,
    Lũ trẽ triều mến xót xa khôn cùng.
    "Cha ơi! Cho con đi chung,
    Ra về sớm tối con cùng bên cha".
    Rằng: "Con tạm ở lại nhà,
    Cha đi giây lát mua quà cho con.
    Gượng vui kẻo mà bị đòn,
    Khi về cha ẫm cha bồng cha cưng".
    Ngỡ cha nó đi cầm chừng,
    Không dè biền biệt Thê lương tháng ngày.
    Chợt nhìn trời tối mới hay,
    Ông Đồ mãn nhớ mãn gay mãn sầu.
    Ở đây là ở đâu đây?
    Gió hòa thông khóc, nước reo nhạc sầu.
    Vang vang vượn hú non đầu,
    Như say mới tỉnh giây lâu bên đàng.
    Xem chừng làng xóm thôn trang,
    Lần đến đầu ngõ ngỡ ngàng bước vô.
    Thưa cùng anh chị cậu cô,
    Tôi người thất nghiệp đạo đồ lang thang.
    Hỏi ra mới biết xóm làng,
    Gần đến Phan Thiết, Nha Trang ranh ngoài.
    Ngàn năm một thuở là may,
    Có ông Triệu phú mới hay thầy Đồ.
    Mời vế thăm hỏi tề mô,
    Rược cơm trà nước lại phô ý mình.
    "Nhà tôi có lũ Môn sinh,
    Vốn dòng con cháu Nho Kinh gia đường.
    Ngặt nổi lối đi vào trường,
    Xa xôi e ngại thêm đường rừng hoang.
    Gặp thầy tôi cũng đặng an,
    Xin thầy ở lại mở trang phá ngư.
    Ơn thầy tôi cũng đền bù,
    Năm đồng mỗi tháng công phu của thầy".
    Như vầy thì cũng là hay,
    Ông đồ vui dạ tỏ ngay cùng là.
    Vừa dạy vừa cũng dò la,
    Tìm hiểu Tiệu phú giàu mà làm sao.
    Rõ rồi lòng cũng nao nao:
    Ai ai nước đục cũng ào thả câu.
    Việc người đành mặt người âu,
    Xây dựng lũ trẻ chút câu nhân tình.
    Những khi cơm nước linh đình,
    Nhớ đến gia đạo nổi mình mà đau.
    Giờ này con ra làm sao?
    Bà Đồ xoay trở lẽ nào có hay!
    Ở đây đời việc ngoài tai,
    Nhớ thì thêm ghét, sầu thì hay thương.
    "Thương là thương đấng cang cường,
    Anh hùng trụy lạc ẩn tường nơi nao.
    Thương cho huynh đệ đồng bào,
    Sưu cao thế nặng lâm vào nạn tai".
    Thương rồi ghét đắng ghét cay,
    "Ghét là ghét kẻ bất tài mị dân.
    Ghét thay cái lũ vô ân,
    Giả danh bảo hộ lột trần dân ta".
    Nghĩ gần rồi lại nghĩ xa,
    Ghét thương, thương ghét không ra kẽ nào.
    Ngủ thời thiêm thiếp chiêm bao,
    Ăn thời như thế cho vào đặng no.
    Dạy thời! Liêm là thẳng, Chi là cho,
    Nhân là hiền, Cang là cưng, Gia là nhà, Bất là không.
    Cơm thời miễn đặng no lòng,
    Tiên thời mỗi tháng năm đồng còn nguyên.
    Gượng cười gượng nói cho yên,
    Đúng kỳ ba tháng ta đành hồi quê.
    Còn năm ngày nữa gần kề,
    Đến rằm tháng chạp công thuê mãn kỳ.
    Bãi trường từ giã chẳng trì,
    Cơm khô gói sẵn phòng khi thượng hành.
    Bến tàu dừng lại nghĩ quanh,
    "Nếu đi tàu hỏa tiền dành mẻ đi.
    Âu ta cuốc bộ một khi,
    Tiền lương ba tháng chớ tiêu đồng nào.
    Về xem con, vợ làm sao,
    Bặt tin ba tháng âm hoa chưa tường.
    Để cho con, vợ nó mừng,
    Mười lăm đồng bạc tết từng cũng vui.
    Thôi thì ta cũng làm nguôi,
    Ba phải thời thế cho xuôi lòng bà".
    Tinh gần rồi lại nghĩ xa,
    Đói ăn cơm rán khát hòa nước sông.
    Trời xuân con én đưa song,
    Ai ngồi bên cửa trông chồng ru con.
    Tiếng luồng theo gió nỉ non,
    Hòa theo đơn suối chảy lòn cầu lam.
    "Lỡ tay trót đã nhúng chàm,
    Đánh liều nhúng hết hai bàn cho xong.
    Gió tây chuyền ngọn đòng đòng,
    Sông nam gợn sóng biết lòng vào đâu.
    Ù ơ ví dẫu ví dầu,
    Bí bầu chê ghét biết đâu về chiều.
    Mẹ gà con vịt chít chiu,
    Mấy đời mẹ ghẻ thương yêu con chồng".
    Bước qua đàng vắng xa xong,
    Còn nghe văng vẳng tiếng đồng như tơ.
    Trời chiều quạnh quẽ như tờ,
    Ngư về viễn Phố Mục về cô thôn.
    Thu không tiếng mõ đầu đền,
    Đèn nhà lắp lóe hoàng hôn phủ đằng.
    Bóng cầu đen vắt sông ngang,
    Sao in đấy nước chớp làn sống châu.
    Rảo chơn vừa quá nhịp cầu,
    Chợt nhìn thấy bóng người đâu lẹ làng.
    Đàn bà bụng lại có mang,
    Đâm sầm xuống mé muốn toan liều mình.
    Kính hồn Đồ chạy tới nhìn.
    Nắm áo níu lại sự tình hỏi han.
    "Rằng tôi nhiều nỗi ức oan,
    Chết đi cho mất sống càng khổ thân.
    Chồng tôi là kẻ thường nhân,
    Thất mùa chư đóng thuế thân bị đầy.
    Phần tôi thai nghén gần ngày,
    Một mình đói khổ ai hoài hẩm hiu.
    Nuôi một con heo sớm chiều,
    Phòng bán nuôi sống, đở nghèo khi sanh.
    Nào ngờ gặp đứa lưu manh,
    Mua heo với giá bạc đành mười lăm.
    Bắt heo tiền trả tôi cầm,
    Sáng ngày ra chợ toan tầm mua than.
    Mới hay bạc giả kinh hoàng,
    Lính làng đòi phạt đòi răn sỗ sàng.
    Đầu đuôi tôi phải kêu oan,
    "Xin làng cho kẻ truy tầm bắt giam".
    Làng rằng: "Làng mắc việc quan,
    Công đâu mà tính chuyện gàn bông lông".
    Về nhà ngồi đứng không xong,
    Đếng này sinh sản hết trông phương rồi.
    Bà con không có ai nuôi,
    Cô thân chỉ có mình tôi khổ đời.
    Mồ cha nó bắt chồng tôi,
    Bằng không đâu có lôi thôi thế này.
    Đồ hay cớ sự như vầy,
    Lòng đau như cắt biết tài nào cao.
    Rằng: "Đâu bạc giả làm sao?
    Đưa tôi xem thử lẽ nào cho minh".
    Xoay qua phía khác cho minh,
    Trao đưa bạc thiệt tỏ tình nguồn cơn.
    Thôi thôi tôi cũng làm ơn,
    Giúp giùm cho nó khỏi cơn nguy nàn.
    Vốn tôi là thầy Lỗ Ban,
    Thư phù bạc giả hóa thành bạc chơn.
    Nàng rằng: "Còn có chi hơn,
    Tôi xin ghi dạ đội ơn muôn đời".
    Cầm tiền từ giã đôi lời,
    Ông Đồ đứng ngó thương người dân quê.
    "Thật thà chơn chất, vụng về,
    Dốt nát thiên hạ, dễ bề gian tham.
    Cơ mưu họ khéo dụng tâm,
    Cho dân ngu dốt dễ lầm dễ sai.
    Bảo tin kẻo bị tội đày,
    Bảo sợ kẻo bị hình hài phat răn.
    Chẳng hề lo việc mở mang,
    Để cho dân chúng bị tòn yêu ma.
    Ngồi không vẽ lắm điêu ngoa,
    Nghĩ sưu toan kế cho ra tùi tiền.
    Dân nghèo chạy ngửa chạy nghiêng,
    Ráng cho ra tốp dưới quyền quát la.
    Vừa suy vừa nghĩ gần xa,
    Chợt liền nhớ lại thân ta thêm phiền:
    "Mười lăm bạc giả cầm nguyên,
    Về đây biết nói biết yêu lẽ nào.
    Làm sao thì mặc làm sao,
    Người chết ta nỡ lòng nào làm ngơ".
    Trời đêm lặng lẽ như tơ,
    Vạc kêu đồng nội trống hơ đầu thôn.
    Nhá nhem nhà cửa tối om,
    Dò theo lối cũ quanh chòm trúc thưa.
    Xơ rơ một mái nhà xưa,
    Vách hay rước gió chái thừa trút mưa.
    Xác xao cành liễu đồng đưa,
    Âm thầm đứng tựa vách thưa nhìn vào.
    Ngạc nhiên ông đồ thở phào!
    Bà đồ nay khác biết bao cho cùng.
    Áo quần rách rưới lạnh lùng,
    Thế mà bình tỉnh vô cùng hiền lương.
    Con ba bốn đứa trần truồng,
    Ngồi kề bên mẹ ra tuồng thương yêu.
    Xưa thầy phát ghét bao nhiêu,
    Nay xem gương mặt yêu kiều dễ thương.
    Ai dạy bà ở hiền lương,
    Ai bảo bà sửa khác thường hơn xưa.
    Trước kia gương mặt chẳng vừa,
    Thấy mà phát tởn có ưa được nào.
    Nói thời như tát nước vào,
    Con thời bị đánh la gòa thất thanh.
    Mà nay xem vẽ hiền lành,
    Mẹ con xúm xít xem đành biết bao.
    Làm sao chưa hẳn làm sao,
    Thoạt nghe trẻ nhỏ bều bào nói ra:
    "Mẹ ơi! Con bụng xót xa,
    Vì đói lạnh quá! Nhớ cha vô cùng".
    Mặt bà điềm đạm ung dung,
    "Con ôi! Vì bởi bần cùng phải cam.
    Bạc tiền ai lại chẳng ham,
    Nhưng của phi nghĩa mà tham làm gì.
    Mẹ mà xưa biết lễ nghi,
    Thì cha con chẳng ra đi xa đàng.
    Phụ tử tình nghĩa đã mang,
    Cha con bao nỡ dứt đàng hay sao.
    Chờ năm ba bữa chẳng lâu,
    Sắp đến ngày tết bắt đầu sang năm.
    Cha con chắc sẽ về thăm,
    Chẳng nhiều cũng ít chị em con mừng".
    Ông Đồ đứng dửng dừng dưng,
    Muốn bỏ đi trốn bước dừng dở dang.
    Bỗng thấy bà đứng gần bàn,
    Ngước lên liền thấy ngang hàng mõ, chuông.
    Đốt hương bà nguyện buồn buồn,
    Mấy đứa nhỏ cũng sắp hàng quỳ theo.
    Cắm hương chuông, mõ tụng reo,
    "Ờ! Ra bà đã quên nghèo vì tu.
    Thật là đạo cả công phu,
    Như vậy thật đáng đền bù công ơn.
    Nghĩ mình xưa lỗi đường chơn,
    Chẳng hiểu Phật pháp thật hơn đâu màng.
    Cho rằng: Mê tín dị đoan,
    Cho rằng: Cái đạo làm càn mị dân.
    Cho rằng: Những kẻ chán trần,
    Vào chùa chuông mõ lãnh phần chuối xôi.
    Lại cho cái đạo mị đời,
    Tín càn không có ít thời chi chi.
    Coi thường các bực tu trì,
    Rằng: Từ bi ấy ngoa nghi bỏ quàng.
    Nào hay đạo cả thinh thang,
    Bao nhiêu cũng đủ đáp toàn lời ta.
    Thật là phước đức không xa,
    Mới hay đạo Phật vốn là tại tâm.
    Bao nhiêu cũng rõ thậm thâm,
    Thật nước cam lộ rải nhằm đến ta.
    Từ bi phước đức hà sa,
    Còn hơn phú quý mà đa tham tàn.
    Cúi lạy đức Phật trên bàn,
    Từ bi tế độ muôn vàn khổ đau.
    Thật tôi có phước làm sao,
    Đạo Phật xây dựng thế nào mà hay.
    Nhớ ơn đức Phật cao dày,
    Độ người ám muội ngày này quang minh".
    Nghe bà vừa dứt lời kinh,
    Cất tiếng phục nguyện lại in tấm lòng.
    "Nguyện mười phương Phật chứng minh,
    Cho trong lệ tội tình tiêu tan.
    Hết cơn vẫn bị tai nạn,
    Thoát cơn ác quỷ lạm đàng nhiễu nhương.
    Cầu hồn xiêu lạc bốn phương,
    Diệt hết phiền não Tây phương sớm gần.
    Nguyện chư Bồ tát ai lân,
    Độ ông Đồ mạnh tinh thần bằng an".
    Thành tâm vừa nguyện vừa van,
    Ông đồ ngoài cửa lại càng phục lăn.
    Phục bà thật có thiện căng,
    Cảm Phật lại kính chư Tăng hoàng triều.
    Tự quy bà đứng lạy liền,
    Mấy đứa nhỏ cũng ngoan hiền lạy theo.
    Ngoài thềm năm vóc cũng gieo,
    Như có thần lực nào đeo bên mình.
    Cũng cúi cũng xá cũng quỳ,
    Ông Đồ như tỉnh qua thì cơn say.
    Đằng hằng lên tiếng bên ngoài,
    Mẹ con mở cửa loay hoay đón mừng.
    Giờ đây náo nhiệt tưng bừng,
    Lũ trẻ lăn líu tươi cười lắm thay.
    Gượng cười dòng lệ chảy ngay,
    "Mừng bà được khỏe con rày bình an".
    Vuốt ve trẻ nhỏ dịu dàng,
    Thầy bà vui vẽ lòng càng vững yên.
    Bà không hỏi tới bạc tiền,
    Mà hỏi: "Ông đặng bình yên chẳng là?
    Bây giờ tôi mới sáng ra,
    Bây lâu có một như lòa khác chi.
    Ông thật coa quý ai bì,
    Thanh tao liêm sĩ đáng vì nêu cao.
    Thế mà tôi đã hỗn hào,
    Xin ông tha thứ cho bao lỗi lầm.
    Si mê trót đã tối tâm,
    Đuốc từ vừa nhóm phóng tầm quang huy.
    "Lạ chưa bà thật nên hay,
    Lẽ ra tội ấy tôi gây thêm buồn.
    Bỏ con bỏ vợ luôn tuồng,
    Thế mà bà lại chẳng buồn chi tôi.
    Việc rồi đã qua thì thôi,
    Bà tu chừ đặng bao hỡi mà cao.
    Tôi xem bà thắm tương chao,
    Ai dạy cách thức làm sao hở bà?"
    Đứa nào bập bẹ khoe khoang,
    "Mẹ con niệm Phật không la khỏi rấy.
    Tay mẹ mềm mại thế này,
    Khác hơn khi trước như cây như chà".
    Rầy em: "Đừng nói ba hoa,
    Để mẹ kể lại cho cha nghe cùng".
    Bà rằng: "Đạo cả bao dung,
    Duyên lành gặp đặng phước tùng hậu lai.
    Vì đời lầm lạc mê say,
    Đọa cao siêu lại xem bày dị đoan.
    Pha trò phù thủy phá hoàng,
    Giấy tiền vàng mã lập đàn làm chay.
    Ở chùa phạm giới phá trai,
    Theo trò danh lợi làm sai chơn truyền.
    Làm cho hoen ố cửa thiền,
    Bởi nhà thực trị chính nghiêng mưu thần.
    Mặc cho dân chúng sai lầm,
    Cố cho dân tộc nhân tâm suy đồi.
    Đạo đời vướng phải lôi thôi,
    Cho dễ tự ý ghế ngồi vững yên.
    May mà còn chút thiện duyên,
    Con Hồng cháu Lạc còn truyền chơn sư.
    Đứng lên cố xúyt vô từ,
    Cùng hàng trí thức quyết trừ tà mê.
    Từ Nam chí Bắc nhất tề,
    Đại sư thiện đức cụ Lê Khánh Hòa.
    Nam kỳ Phật học mở ra,
    Lương Xuyên Phật học, phước Hòa Trà Vinh.
    Các Tổ Huệ Quang, Khánh Anh,
    Rồi đến họat động tại thành Sài Châu.
    Tăng già giáo hội cầm đầu,
    Như lai sứ giả khắp châu hoàng truyền.
    Xa nhà may có thiện duyên,
    Khai đàn diễn giảng trước niên đình làng.
    Tôi được nghe giảng mãn đàn,
    Mười bài thuyết pháp chơn toàn phổ thông.
    Mới rõ tà cánh đục trong,
    Đạo, đời chơn chán ngỏ hòng mở mang.
    Phật dạy nhơn quả rõ ràng,
    Phá mê dân chúng tự cường cách tân.
    Từ bi tỏa khắp nhân dân,
    Tôn trọng bình đẳng không phân sang hèn.
    Tại gia năm giới tập rèn,
    Tự mình tu luyện như đèn nhà đêm.
    Năm giới trong đó phân tìm,
    Cũng làm căn bản đời thêm thái bình.
    Thử xem gia đạo của mình,
    Gia không có đạo thế tình ra sao.
    Năm điều ai cũng ước ao,
    Sống, giàu, đẹp đẽ, trí cao ngôn từ.
    Áp dụng năm giới phước dư,
    Muốn sống đừng sát nhơn từ chi hơn.
    Muốn giàu bố thì làm nhơn,
    Muốn đẹp tà hạnh sạch trơn trong lòng.
    Muốn thông vọng ngữ phải phòng,
    Muốn có trí tuệ mưu hòng say sưa.
    Chuyển lòng niệm Phật sớm trưa,
    Chay lạt tu tập dứt chưa sân sì.
    Tự thân lấy đó làm nghi,
    Trị gia lấy đó làm quy tông đàng.
    Trị quốc nhờ đó bằng an,
    Năm điều yếu tố nhân gian hòa bình.
    Xét chút thế sự nhân tình,
    Xưa nay lọan, trị lưu truyền sử sanh.
    Loạn hết tới trị an ninh,
    Trị hết đến loạn thế tìng đâu sai.
    Trị là nhân kẻ thảo ngay,
    Loạn là phạt kẻ dày tiền thân.
    Ai tu cứ giữ đạo chân,
    Nghe chi nói thánh nói thần rộn tai.
    Thấy dân khổ sở hoang mang,
    Xưng thần xưng thánh rằng toan cứu đời.
    Rằng sắp tận thế tới nơi,
    Thay trời đổi đất rót rồi đều sai.
    Phật dạy thiện, ác chiêu lai,
    Hết loạn đến trị xưa nay lẽ thường.
    Trịnh, Nguyễn xưa cắt biên cương,
    Ba mươi năm loạn đủ đường đắng cay.
    Nghĩ xưa mà ghét ngày nay,
    Đừng nghe mà mị rầy tai hư mình.
    Tu thì cứ học luật kinh,
    Chớ tu đâu cứ luận tình thế gian.
    Bàn tán nói dọc nói ngang,
    Cũng đừng luyện xác tập đoan cầu kỳ.
    Ăn ngay ở thật theo thì,
    Rộng lòng tế độ hay vì phân minh.
    Sửa mình sớm kệ chiều kinh,
    Ăn chay niệm phật giàu tình từ bi.
    Dẹp hết phiền não sầu si,
    Diệt sạch nghiệp chướng ràn vì phát minh.
    Giáo lý cao cả thinh thinh,
    Thắm nghe tôi lại giật mình thở ra.
    Bấy lâu bèn hạ xấu xa,
    Tham, sàn, si, chướng mới ra nỗi này.
    Nhờ thầy chỉ dạy như vầy,
    Tam quy làm hướng đoạn dây tam đồ.
    Năm giới phước đức tài bồi,
    Như vầy ai dâm nhọ bôi đạo nhà.
    Tinh hoa vốn đạo ông bà,
    Học Phật thờ Phật con nhà Lạc Long.
    Ông nghe mát dạ vừa lòng,
    Êm như gió thoảng đẹp bằng tráng thu.
    "Như vầy ai lại không tu,
    Như vầy thật đáng công phu sĩ hiền.
    Như vầy ai lại không kiêng,
    Văn hào trí thức còn khuyên nễ vì.
    Đạo mâu huyền diệu tri tri.
    Phước này con có phước gì cho hơn.
    Dù cho giàu có tước quờn,
    Mà thiếu đạo đức chuốc hờn ích chi.
    "Sao ông ngồi mãi nghĩ suy,
    Không phân chẳng luận tiếng chi lại thù.
    Ông đi cớ sự hà như?
    Khi về lộ vẽ ưu tư bàng hoàng".
    Giờ đây ông đồ ngở ngàng.
    Rằng: "Tôi làm nướn vì nàng vì con.
    Tiền lương ba tháng vẹn toàn,
    Đem về định để vợ con nó mừng.
    Hôm chiều gặp việc dửng dưng,
    Thấy người lâm nạn tạm dừng hỏi ra".
    Đầu đuôi kể lại gần xa,
    Vừa nói vừa lên coi bà xem sao.
    Bà không buồn giận chút nào,
    Lại còn cười nói am nào đầu đuôi.
    "Bạc tiền tiêu đặng bao lâu?
    Vợ con ăn hết còn đâu phước lành.
    Ông làm điều ấy phước dành,
    Con ông nhờ đó nên danh với đời.
    Vậy là điều đáng vui mừng,
    Cớ sao ông lại lộ người lo âu.
    Sống theo đạo đức nhiệm màu,
    Sốn mạnh sống rộng cao sâu vô cùng.
    Sống mạnh là đức đại hùng,
    Diệt hết phiền náo hung sùnh nơi tâm.
    Mạnh dạn nhìn nhận lỗi lầm,
    Khi người chỉ lỗi không câm chẳng hờn.
    Văn vương là phụ chi dân,
    Nghe lờinói phải ân cần kính vâng.
    Người dầu sức mạnh ngàn cân,
    Trăm trận trăm thắng tài bằng Hạng Vương.
    Dường ấy chưa phải đại hùng,
    Tự thăng dục vọng tâm trung ai bằng.
    Diệt sạch phiền não ác căn,
    Mới là sống mạnh tài bằng pháp vương.
    Sống rộng là mở lòng thương,
    Thương người thương vật tai ương đọa đầy.
    San phẳng hầm hố chông gai,
    Xá hết oán giận còn ai tranh giành.
    Lo gì không dứt chiến tranh,
    Sống mà dường ấy sử xanh còn hoài.
    Sống chừng vài tháng cũng hay,
    Sống lâu vô nghĩa như cây trên rừng.
    Ngàn năm no sống đã từng,
    Hai lẽ sống ấy ông ưng lẽ nào?
    Ông sống ý nghĩa đã cao,
    Cớ nào ông lại nghĩ sao mà rầu.
    Ông Đồ nhẹ nhõm tới đâu,
    Trong lòng quả cảm đạo màu thênh thang.
    Nếu bà không tu để an,
    Ít ra bà cũng tụng tan cả ngày.
    Thế mà bà lại cười dài,
    Làm cho đáng phục nhắc hoài không thôi.
    Tu sao nhẩn nại vô hồi,
    Tu sao bà lại thật thôi hiền hòa.
    Lại thêm rộng lượng hài hòa,
    Từ bi hỷ xả bao la tội đời.
    Dầu cho lở đất long trời,
    Mà vẫn bình tĩnh không lời núng nao.
    Đói rách khổ đến làm sao,
    Cũng vẫn yên tĩnh anh hào ai qua.
    Trăm năm trong cõi người ta,
    Quý chăng một chữ ấy là chữ tu.
    Phiền não u uất từ lâu,
    Bỗng tan theo gió mạch sầu sạch trơn.
    Như vầy con có chi hơn,
    Khen bà đã đáng hiền nhơn trên đời.
    Con vui bà lại tươi cười,
    Thế là gia đạo đẹp mười từ đây.
    Một nhà đặng như thế này,
    Mười nhà rồi đến đông, tay thẩy đều.
    Thấm nhuần đạo đức cao siêu,
    Quốc gia thạnh trị quan liêu nhân từ.
    Lo gì đời chẳng an cư,
    Làm gì xã hội chẳng như thái bình.
    Gác tay nghĩ lại gia đình,
    Xuân nhựt sắp đến liệu tình làm sao.
    Nát óc xoay xở lẽ nào,
    Của đâu sắm mặc làm sao no lòng.
    Trẻ thơ tuổi dại đèo bồng,
    Áo cơm không có dưa hồng cũng không.
    Thế nào giải quyết cho xong,
    Chợt nghe gà gấy hừng đông rộn ràng.
    Giấy hồng vuông gói rôn gàng,
    Kêu bà thức dậy tính toan lẽ này.
    "Gói nầy vật quý trong đây,
    Bà mau cầm lấy ra ngay chợ làng.
    Chiều qua tôi vừa đi ngang,
    Thấy tiệm đề bảng khai trương cầm đồ.
    Sáng nay bà sớm bước vô,
    Đưa gói xin gởi món đồ cầm cho.
    Bà đừng cấn biết căn do,
    Cứ y như vậy chớ lo ngại gì.
    Tôi bảo bà chớ hoài nghi,
    Cứ như thế ấy bà đi là vừa.
    Chần chờ kẻo trời quá trưa,
    Lại sợ hư việc bà thừa lời ông.
    Cầm đi lòng lại hỏi lòng,
    Lạ thay không hiểu ý ông hế nào.
    Mình nghèo đèn chí tử nguy,
    Nào có của báo vật gì lạ thay.
    Cầm thì nhẹ hỏng trên tay,
    Sao ông cấm mở bảo ngay cứ cầm.
    Vừa đi vừa nghĩ lầm thầm,
    Vừa đến trước cửa xin cầm đưa vô.
    Ông chủ tiếp lầy gói đồ,
    Mở xem trịnh trọng cất vô văn phòng.
    Hỏi bà muốn cầm bao đồng,
    Bà Đố lúng túng biết hồng bao nhiêu.
    Nhớ ông nói chuyện hồi chiều,
    Ý chừng theo đó nói liều mười lăm.
    Bà theo giá đó xin cầm,
    Vui trao ba tấm bạc năm cho bà.
    Đặng bạc bà liền bước ra,
    Nghĩ đi nghĩ lại lạ mà làm sao.
    Định về hỏi ổng thế nào,
    Buộc ổng phải nói âm hao cho tường.
    Cằn nhằn đón hỏi đủ đường,
    Túng ông phải nói chuyện thường có chi.
    Người ta quý chữ xưa nay,
    Khai trương có chữ khéo hay là mừng.
    Cho rằng! Đó là điềm hưng,
    Tôi đà toan tính liệu chừng xa xăm.
    Viết khéo hai chư õ"Chánh Tâm"
    Sai bà cầm lấy đầu năm sắm quà.
    Nghe xong bà lại xuýt xao,
    Ấy chết như vậy mất mà Chánh Tâm.
    Rồi chỉ còn lại tà tâm,
    Người tu thà chết ai cầm thế ni.
    Dầu cho nghèo đói chẳng chi,
    Mang lấy tiếng thẹn còn gì ông ơi.
    Đời ta nghiệp chướng nhiều rồi,
    Vì mê vọng ngã chuyền dời lăng xăng.
    Ai cùng sợ khổ tham ăn,
    Vì chưa diệt vọng chấp càn mà ra.
    Nếu mà diệt được cái Ta,
    Thì không như có khổ mà như không.
    Phải ngộ bản tánh chơn không,
    Nào có chi khổ chẳng hòng chi vui.
    Khổ vui thoát ra thật rồi,
    Dẫu cho khốnđốn vẫn cười vẫn cam.
    Gặp lúc sang trọng chẳng ham,
    Khổ, vui giả tạm có can chi mình.
    Như như không động đinh ninh,
    Thì làm chi có nhơn tình lôi thôi.
    Một hai gì cũng phải thôi,
    Tôi xin đi chuộc "Tấm rồi mới an".
    Nói xong bà đi vội vàng,
    Ông Đồ chết sửng không rằng lời chi.
    Đã tâm khốn khổ thế thì,
    Cho đến tiếng nói có chi không bằng.
    Người ta chịu đấm mà ăn,
    Dầu bị sỉ vả mắng răng mặc tình.
    Miễn cho no ấm gia đình,
    Luồn cuối bợ đỡ mặc tình thị phi.
    Ham mê nào biết lỗi nghì,
    Mặt chai mày đá ngu ai đến cùng.
    Bà nhà theo tánh đại hùng,
    Tiếng gọi cầm chữ tâm trung vẫn còn.
    Thế mà bà thật sắc son,
    Mang tiếng một chút ý còn đón ngăn.
    Làm ta lòng cũng băng khoăn,
    Người mà đường ấy ai bằng được chăng.
    Nam nhi đáng thẹn vô ngần,
    Ta thật cương trực chưa bằng nữ nhơn.
    Đến tiệm bà tỏ thiệt hơn,
    "Làm người xin giữ tâm chơn mà dùng".
    Chủ tiệm vui vẻ lạ lùng,
    Nghe nói như vậy ông vùng cười khan.
    "Hay bà chê rẻ phàn nàn,
    Muốn thêm thì nói cho bằng thì thôi.
    Không không xin ông cho hồi,
    Để cho tôi giữ trọn rồi "Chơn tâm".
    Trácg lòng ai nỡ đem cầm,
    Rằng: "Không tôi cũng hồi tâm cho bà.
    Nhà bà cách đây gần xa",
    Hỏi thăm sau trước dò la rõ ràng.
    Về nhà bà Đồ mới an,
    Ông Đồ hết tính lại toan gãi đầu.
    Nãy giờ cũng chẳng bao lâu,
    Chợt thấy ông chủ ngỏ hầu bước vô.
    Gia đình ông nghèo thế mô,
    Dò xem tôi biết bà Đồ người ngay.
    Ông trời tuồng chữ đại tài,
    Chồng tài, vợ đức trên đời mấy ai.
    Người đời mù mắt ù tai,
    Vì danh vì lợi biết ai ngu hiền.
    Kẻ giàu họ tưởng như tiên,
    Thấy nghèo họ thị như điên như khờ.
    Tôi người có mắt xem đời,
    Biết người có đức gặp thời nạn tai.
    Như vầy còn có chi hay,
    Tiệm thiếu tài phú ông rày giúp tôi.
    Tiền lương mỗi tháng đáp bồi,
    Mười lăm đồng lẽ thì tôi sẳn mà.
    Đồ rằng: "Đức ở nơi bà,
    Tôi người thường thế có ra nổi gì.
    Chủ rằng: Xưa nay hành vì,
    Vợ mà chơn chánh chồng vì hiền lương.
    Vợ gàn xuôi chồng tầm thường,
    Vợ ác chồng cũng theo đường tà gian.
    Vợ người Vương Bỉnh tham sang,
    Xúi chồng lạm hối phải mang lao đề.
    Vợ anh xa phu nước Tề,
    Khích chồng liêm sĩ chức đề Đại phu.
    Đơn bà nhân đức khéo tu.
    Gia đình ảnh hưởng phước bù xuê xang.
    Vợ ngay xúi chồng đàng hoàng,
    Vợ chồng có đức thì an cửa nhà.
    Tết nhứt nay đã đến ngày,
    Giúp trước hai tháng ông xài đầu năm.
    Ông Đồ cũng vừa an tâm,
    Bà Đồ nhận bạc đầu năm ăn mừng.
    Trẻ nhỏ nhảy nhót tưng bừng,
    Mừng nay đã có gạo ăn vừa xài.
    Cuộc đời bỉ cực thới lai,
    Hết cơn vận bĩ tới ngày vinh sang.
    Nom na góp để ít hàng,
    Cầu cho trăm họ khi nhàn ngâm nga.
    Chúc đời mau sớm âu ca,
    Lấy lòng nhơn đức xây tòa non sông.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • oh Bài viết này hay quá... Ken mượn bài này đăng nha ... Ken sẽ ddoc. tiếp tục... cam on bạn post bài này.... :)

  • raincatcher

    khoảng 1 10 năm trước
  • dài dữ đọc xong đi mổ mắt quá Shock Shock Shock


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group