Chiến Tranh Biên Giới 1979

  • tongdung91

    khoảng 1 10 năm trước
  • Để bao vây Trung quốc và làm suy yếu thế lực của Hoa Kỳ tại Á châu, tháng 6.1969 Leonid Brezhnev đề nghị với các quốc gia, từ Trung Đông đến Nhật Bản, hình thành một tổ chức an ninh chung bảo vệ hòa bình và an lạc trong khu vực. Riêng ở Đông dương, chủ đích của Nga là hất ảnh huởng Mỹ và Tàu ra khỏi bán đảo, kiểm soát vịnh Cam Ranh và các hải cảng chiến lược, hỗ trợ các đảng và thể chế mạc xít, đồng thời đặt các nước Đông dương trong vòng lệ thuộc Điện Cẩm Linh bằng cách viện trợ quân sự và kinh tế. Kế hoạch này thành công. Việt Nam là trường hợp điển hình.


    Sau ngày "giải phóng Sàigòn" Liên Sô tăng số cố vấn tại Lào từ 100 lên 500, giúp 500 triệu mỹ kim cho ngân sách VN tài khóa 1976 và 3 tỷ đô la cho kế hoạch ngũ niên 1976-1980 của Hà nội. Bắc Kinh, trong lúc đó, chỉ viện trợ tượng trưng 200 triệu, báo tin không cấp ngân khoản mới cho 1977 và ngày 27.9.1976, tại diễn đàn Liên Hiệp quốc, Ngoại trưởng Kiều Quán Hoa một mặt tố Nga trám khoảng trống ở Á châu và mặt khác, cảnh cáo các thành viên Đông Á đừng bao giờ "đón cọp vào ngã sau trong khi đuổi chó sói ra cửa trước". Với ước mong được thu nhập vào COMECON, Hội đồng Tài trợ Kinh tế Hỗ tương CS, Hà nội theo sát con đường Sô viết chống Tàu. Khi Đảng Lao động VN nhóm Đại hội lần thứ 4 tại Hà nội, cuối 1976, đưới sự giám sát của lý thuyết gia Mikhail A. Suslov, trưởng phái đoàn Sô viết......................


    Cuối 1977, sau khi tham khảo ý kiến Trung quốc, Cam Bốt đoạn giao với VN. Đầu năm 1979, số cố vấn và chuyên viên sô viết tại VN tăng từ 5000 lên 8000. Nhiều diễn biến dồn dập xẩy ra, khiến cho Bắc kinh và Hà nội không tránh được đụng độ trực tiếp:



    + Lý do đụng độ Việt - Hoa. Tổng quát, có bốn lý do chính yếu:
    1.- Liên sô xử dụng Vịnh Cam Ranh và ký Hiệp ước thân hữu với VN. Tháng 6.1978, không khí căng thẳng khi Phó Thủ tướng Đặng Tiểu Bình báo tin hủy bỏ viện trợ cho VN, phản đối việc trục xuất 110.000 người Việt gốc Hoa và công bố Trung quốc đã giúp cho CSVN hơn 20 tỷ mỹ kim từ 1950 đến 1978. Hà nội liền tố ngược các lãnh tụ Tàu là phản động. Hai quốc gia CS Albania và Lào cũng hùa theo chỉ trích Bắc Kinh. Đồng thời, Phạm Văn Đồng lên tiếng xin bình thường hóa bang giao với Hoa Kỳ. Mười hôm sau, giới truyền thông rầm rộ tung tin Liên sô được phép lập căn cứ quân sự tại Cam Ranh và Đà nẵng. Phần thưởng của sự nhân nhượng này là Mạc Tư Khoa bựt đèn xanh cho Hà nội xúc tiến thực hiện và điều khiển "Liên bang Đông Dương".
    Ngày 3.11,1978, Nga và Việt ký Hiệp ước Thân hữu và Hợp tác, trong đó điều 6 đặc biệt ghi rằng đôi bên sẽ áp dụng "các biện pháp thich nghi và hữu hiệu để bảo vệ hòa bình và an ninh" nếu một trong hai nước bị đe dọa hay tấn công. Trong dịp viếng Thái Lan, Đặng Tiểu Bình sỉ vả VN là "Cuba của phương Đông", bắt tay với đế quốc để xây mộng bá chủ và đe dọa Thái Bình Dương và Thế giới.
    2.- VN chiếm đóng Cam Bốt. Tại Hội nghị Genève 1954, Chu Ân Lai thuyết phục Phạm Văn Đồng cho rút quân khỏi Cam Bốt và công bố tôn trọng chủ quyền nước này. Năm 1958, Bắc kinh và Nam Vang trao đổi sứ thần và ký Hiệp ước hữu nghị và bất xâm phạm. Tháng 11.1963, sau vụ đảo chính TT Ngô Đình Diệm, Sihanouk yêu cầu các cơ quan Mỹ rời xứ Chùa Tháp và Trung quốc cảnh cào Hoa Kỳ không được xâm nhập đồng minh nhược tiểu này. Tháng 3.1970, tướng Lon Nol lật đổ Sihanouk. Một tháng sau, các dân tộc Đông dương nhóm thượng đỉnh tại Guangzhou gồm có Bắc Việt, Pathet Lào và Khờ me Đỏ (lúc đó còn liên kết với Sihanouk). Khờ Me Đỏ nhận viện trợ của Bắc kinh và tuy không tin Hà nội, vẫn liên tục cấp nơi ẩn nấp cho các lực lượng Việt cộng mỗi khi chúng bị Quân đội VNCH đẩy lui. Vì lý do lịch sử, địa dư và chiến thuật, Cam Bốt đã từng là chư hầu của VN. Miên luôn luôn lo sợ bị nuốt trửng ngay trong những năm cộng tác thân thiện với Hà nội (1970 - 1975). Sau tháng 4.1975, Khờ Me Đỏ hoàn toàn trông cậy vào sự che chở của Trung quốc. Tháng 9.1975, Chu Ân Lai sắp xếp cho Sihanouk trở về Nam Vang "để đuổi Bắc Việt ra khỏi xứ " nhưng ê kíp Pol Pot, Ieng Sary và Khieu Samphan nhất quyết đốt giai đoạn biến Cam Bốt đầu hôm sớm mai thành một "nước xã hội chủ nghĩa vẹn toàn", bất chấp lời khuyên của Chu. Những biện pháp quá khích được đem ra thi hành gấp làm cho xứ hỗn loạn. Tháng chạp 1976, khi phái đoàn chuyên viên Tàu của Fang Yi sang giúp Miên thì đã quá chậm: quần chúng kiệt sức, thợ thuyền, công chức và trí thức bị tiêu diệt, quân đội tan rã, gần 4000 lính Miên (do Việt cộng huấn luyện năm 1976) bị tẩy trừ. Từ 1975 cho đến 1978, Chính phủ Khờ Me Đỏ đòi bộ đội Việt rời xứ nhưng các đơn vị này chỉ di tản về biên giới và tại đây, hai bên nhiều lần đụng độ đẫm máu.
    Cuối 1976, Đại hội 4 Đảng Lao Động nhóm để đổi tên thành Đảng CS Việt Nam và chấp thuận đề án của Lê Duẩn xúc tiến việc thiết lập Liên bang Đông Dương bằng cách thuyết phục và nếu cần, áp lực quân sự Miên và Lào gia nhập. Tháng 2.1978, Ủy ban Trung ương quyết nghị xóa chế độ Pol Pot qua 4 giai đoạn: tố cáo đường lối khát máu của Khờ Me Đỏ, tấn công Bắc kinh viện trợ Nam Vang, xúi dân Miên nổi loạn và tận dụng lá bài Sô viết. Ngày 7.1.1979, với sự đồng ý và hỗ trợ vũ khí của Mạc Tư Khoa, 100.000 quân Việt tràn ngập Cao Miên và toàn thắng sau 2 tuần lễ. Trung quốc không can thiệp, để tránh lún vào vũng lầy chiến tranh như Hoa Kỳ. Tuy nhiên, Đặng Tiểu Bình cảnh cáo rằng trong tương lai, Bắc kinh sẽ "lấy những quyết định ngoài ý muốn vì hòa bình". Theo tạp chí Tàu cộng Geng Biao, 1.500 Hoa kiều bị kẹt lại ở Cam Bốt và phần đông đã gia nhập hàng ngũ Khờ Me Đỏ để chống VN. Ngày 8.1. 79, Hội đồng Nhân Dân Cách Mạng, do bù nhìn Heng Samrin cầm đầu, được Hà nội công nhận. Chính quyền Thái thận trọng đứng ngoài. Lời kêu cứu của Sihanouk với Liên Hiệp Quốc rơi vào sa mạc. Pol Pot rút vào rừng để kháng chiến. Ngày 18.2.1979, Miên và Việt ký Hiệp ước Thân hữu và Hợp tác có giá trị 25 năm, công khai hóa việc quân đội Việt chiếm đóng Cộng hòa Nhân Dân Cam Bốt và đặt chính thức xứ này dưới chiếc dù quân sự của Hà nội. Trước đó hai năm, ngày 18.7.1977, Lào và VN đã ký một Hiệp ước hữu nghị tương tợ. Liên bang Đông Dương thực hiện xong. Bằng võ lực.
    3.- Tranh chấp Việt - Hoa về lãnh thổ. Từ lâu, đề tài cãi vã giữa VN và Trung quốc xoay quanh ba khu vực:
    a)- Một biên giới chung dài trên 797 cây số, được thực dân Pháp và Trung Hoa ấn định năm 1887 trong một Thỏa ước và bổ túc năm 1895. Cuối thập niên 70, cả Hoa và Việt khiếu nại lẫn nhau về vị trí của 300 cột trụ phân ranh.
    - Vịnh Bắc Việt, còn gọi là Beibu Gulf / Bắc Bộ Gulf hay Gulf of Tonkin. Hai Thỏa ước vừa kể không nói rõ lằn ranh thuộc phần kiểm soát của mỗi nước. Tháng 10.1977, cuộc hội nghị tại Bắc kinh không giải quyết được dứt khoát vấn đề.
    c)- Gây cấn nhất là chuyện dành hai nhóm quần đảo Hoàng Sa (hay Paracels/Xisha) và Trường Sa (hay Spratlies/Ninsha). Khu vực này hệ trọng cho cả Trung quốc và VN về chiến thuật và dầu khí. Hoàng Sa, Trường Sa, cùng với một số đảo lân cận khác như Pratas Reef và Macclesfield là những trạm thông thương giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Bởi thế Phi Luật Tân, Đài Loan, Nam Dương, Nhựt, Brunei v..v.. cũng đòi chia phần. Mỹ và Nga theo sát vấn đề. Nga nắm thế thượng phong vì kiểm soát được Vladivostok, Cam Ranh và Đà nẵng. Ngày 4.9.1958, Bắc Kinh công bố chủ quyền trên Trường Sa và Hoàng Sa. Quân đội VN đã tái chiếm được 6 đảo nhỏ. Từ 1974 cho đến 16.2.1979, theo Renmin Ribao, số ra ngày 14.5.1979 và bản ghi chép "SRV Memorandu " đề ngày 16.3.1979, có tất cả 3535 vụ xô xát Việt -Hoa tại biên giới (trong sổ sách Trung cộng) và 4333 vụ (chiếu tài liệu VN).
    4.- Hà nội trục xuất Hoa kiều làm cho tình hình căng thẳng tột độ. Đa số Hoa kiều tại VN di cư từ hai tỉnh Quảng Đông va Phước kiến, sau Trận giặc Nha phiến (1840- 1842). Họ cần cù làm ăn, sống đoàn kết và không tham gia chính trị. Tại Nam Việt, trước 1975, hơn phân nửa tổng số 1.300.000 người Hoa ủng hộ Chính phủ quốc gia. Sau Tết Mậu thân 1968, từ 75 đến 80% không có thiện cảm với CS. Chỉ một số ít hoạt động cho Hà nội. Trước 1975, năm người Việt gốc Hoa được bầu vào Hạ Viện. Tại Chợ lớn, người Hoa tổ chức thành 5 bang: Quảng Đông, Phước kiến, Triều châu, Hẹ và Hakka, mỗi bang được đại diện bởi một bang trưởng chọn theo lối đầu phiếu. Họ có một Phòng Thương mãi, một bệnh viện đặt tên Chung Cheng, một số trường học và báo chí. Tháng 8.1956, Tổng Thống Ngô Đình Diệm ban hành sắc lệnh buộc Hoa kiều bỏ quốc tịch Tàu và nhập tịch VN nếu muốn tiếp tục hành nghề. Tháng 4.1957, thẻ lý lịch ngoại quốc bị coi như vô giá trị............................


    Đầu 1977, Việt - Hoa căng thẳng. Chính quyền Hà nội đuổi người Tàu sống tại các tỉnh biên giới về Trung quốc. Tháng 5. 1978, trong vòng 13 hôm, con số này vượt lên đến 57.000, không kể 320.000 người bị đẩy đi vùng kinh tế mới và 50.000 bị tịch thu tài sản. Nhà Nước CHXHCN còn công bố cho phép ra đi vĩnh viển những ai mang chiếu khán Hồng kông, Đài Loan hay Pháp. Ngày 29 tháng 6, VN chính thúc gia nhập COMECON, Bắc kinh liền cúp viện trợ hoàn toàn, hồi hương 880 chuyên viên và đóng cửa Sứ quán. Hà nội ra lệnh cho Tòa Tổng lãnh sự Tàu ngưng hoạt động tại thành phố Hồ Chí Minh. Ba lãnh sự quán Việt ở Nam Ninh, Côn Minh và Quảng Đông củng phải rút lui. Từ tháng 9. 1978, trong Tạp chí CS và tờ Quân Đội Nhân Dân, nhà cầm quyền Việt Nam bắt đầu kêu gọi dân chúng sẵn sàng chống lại "chủ nghĩa bành trướng của nước lớn và ý đồ bá quyền của bọn Hán phong kiến." Liên hệ Việt - Hoa "môi hở răng lạnh" tan thành mây khói. Câu nói của Hồ "Việt và Hoa vừa là bạn, vừa là anh em" chua cay hơn lúc nào hết.
    +Đặng Tiểu Bình chuẩn bị chiến tranh.
    Chu Ân Lai qua đời đầu năm 1976 và Mao Trạch Đông, chín tháng sau. Nội tình Trung quốc xáo trộn vì ba sự kiện hệ trọng:
    1.- chiến dịch sôi nổi chống nhóm Tứ Quái của Jiang Qing, vợ Mao, đầu não xách động Cách Mạng Văn Hóa.
    2.- việc thi hành chậm trễ kế hoạch Bốn Hiện Đại Hóa do Chu đề xướng để canh tân kỹ nghệ, canh nông, quốc phòng và khoa học.
    3.- sự tranh quyền ráo riết giữa Đặng Tiểu Bình và Tổng bí thơ Hoa Quốc Phong, lãnh tụ của "Phe Bất Cứ Gì" (=bất cứ gì chủ tịch Mao nói và làm đều đúng cả!). Cuối 1978, sau hai lần bị khai trừ, Đặng phục hồi quyền lực, nắm đa số trong Chính trị bộ và Ủy ban trung ương Đảng CS, giữ chức Tổng tư lệnh quân đội, thi hành chính sách của Chu và xét lại đường lối Mao ít. Đặng bắt tay nghiên cứu cách giải quyết khủng hoảng với láng giềng VN. Trung quốc cảm thấy bị đe dọa trong quyền lợi và thách đố bởi một nước đàn em hung hăng, phản bội và tự hào là nước mạnh quân sự thứ ba trên địa cầu.
    Theo Gs Irving Janis và Leon Mann, Đặng Tiểu Bình hành động thực tế và thận trọng qua 3 giai đoạn. Trước hết, thu thập đầy đủ dữ kiện bên ngoài (chiến lược toàn cầu của nước Tàu, chiến lược Đông dương của VN, sự nhúng tay của Liên sô, vấn đề Cam Bốt, tranh chấp biên giới, Hoa kiều tại VN, yếu tố Hoa Kỳ, dư luận thế giới) và dữ kiện bên trong như: lợi ích và các giá trị của Trung quốc, phản ứng tâm lý quần chúng trong nước, khả năng của quân đội Tàu, ảnh hưởng chiến tranh đối với mức phát triển kinh tế quốc gia..v..v.. Thứ nữa, tham khảo ý kiến và đạt được sự đồng thuận của các cơ cấu trong đảng CS: Chính trị bộ, Ủy ban Trung ương và Quân ủy Hội. Sau hết, hành động để giữ vững quyết định đến cùng.
    Hà nội ký Hiệp ước Hữu nghị với Liên sô và cưỡng chiếm Nam Vang là hành động khiêu khích thêm, buộc Bắc kinh phải trả đũa. Ngày 15.12.1978, Hoa Kỳ công nhận Trung Hoa. Đặng Tiểu Bình liền bay qua Hoa Thịnh Đốn hội kiến với Tổng thống Jimmy Carter, báo tin riêng sẽ tấn công VN và trấn an Mỹ rằng nhà cầm quyền nước ông biết tự chế. Ngày 1.1.1979, hai nước bang giao chính thức. Đặng cũng viếng Nhựt và một số quốc gia Đông Á để dò xét phản ứng. Tất cà đều lo ngại về ý đồ tương lai của VN, đồng minh của Mạc Tư Khoa. Trở về Bắc Kinh, Đặng điều chỉnh kế hoạch. Thay vì gởi quân qua Cam bốt giúp Khờ Me Đỏ và để tránh mang tiếng với Thế giới là "mưu đồ bành trướng", Trung quốc quyết đánh thẳng vào VN dưới hình thức "phản công tự vệ", không dùng hải lực không quân, trong một thời gian giới hạn và chỉ nhắm vào vùng biên giới. Đặng muốn dạy cho nhóm lãnh tụ tại Bắc bộ phủ "một bài học quân sự đich đáng".
    Mục phiêu thật của "sự trừng phạt" là gì? Tiêu hủy vài sư đoàn, căn cứ chiến lược hay chiếm một giải đất biên phòng của đối phương? Đặng không cho biết thâm ý. Dù sao, theo học giả King C. Chen, "chiến tranh trừng phạt, the Punitive War" tượng trưng cho chính sách đối ngoại của Bắc Kinh tại Á châu từ 1949. Hành quân năm 1979 chống VN được chuẩn bị chu đáo như cuộc đụng độ Hoa - Ấn năm 1962 và không hấp tấp như trường hợp Trung cộng tham chiến ở Triều tiên hay vụ Nga sô can thiệp ở Tiệp khắc và Hungary.
    Năm 1938, Mao giải thích như sau quan điểm của Lê nin về chiến tranh: "Khi chính trị mở rộng đến mức không còn tiến tới được bằng đường lối thông thường thì chiến tranh bùng nổ để san bằng các trở ngại gặp phải". Lê nin từng viết: "Chiến tranh chỉ là chính trị nối tiếp bằng những phương tiện khác". Câu này dựa vào ý kiến của Karl Von Clausewitz: "Chiến tranh không phải là hành vi đơn giản của chính sách mà là một lợi khí chính trị đích thực, một sự tiếp tục của hoạt động chính trị với phương thức khác". Cuộc chiến để sát phạt VN, dù núp dưới danh xưng phản công tự vệ, được khởi xướng đúng theo chủ trương trên đây. Các lãnh tụ Trung quốc đã cân nhắc quyết định của họ hai năm (1977-1979), với hy vọng bình thường hóa bằng võ lực mối bang giao Hoa - Việt. Muốn thành đạt, chiến tranh nhân dân cần hội một số điều kiện: đảng và quân thống nhất, quần chúng hỗ trợ, đất nước hậu tiến, vũ khí quy ước, kỹ thuật lạc hậu, ngoại xâm đe dọa và đấu tranh trường kỳ.

    Trước tháng 2.1979, Trung quốc có 3,600.000 quân nhân tại ngũ và 175 sư đoàn tại 11 vùng chiến thuật. Võ khí gồm có 10.000 chiến xa, 20.000 giàn phóng hỏa tiễn, 16.000 cà nông và phương tiện chuyên chở rất lạc hậu. Hải quân có 30.000 thủy thủ, 75 tiềm thủy đỉnh. Hạm đội Bắc Hải có 300 chiến hạm, Đông hải: 450 và Nam hải: 300. Lực lượng không quân có 400.000 phi công, 5000 chiến đấu cơ cũ và lỗi thời, loại Mig 15,17,19 và 80 Mig 21. Đặng Tiểu Bình là Tổng Tư lênh hành quân, với 2 phụ tá Xu Xiangqian và Nie Rongzhen, tướng Gen Biao giữ chức Tham mưu trưởng. Về phía VN, tổng quân số lên đến 600.000 phân chia 200.000 tại Cam bốt, 100.000 tại Lào, 100.000 tại Nam Việt, và 200.000 ở Bắc Việt. Xung quanh Hà nội có 5 sư đoàn và 4 lữ đoàn. Dài theo biên giới Trung hoa, VN có 150.000 dân quân tổ chức thành 6 sư đoàn địa phương và một trung đoàn. Không lực Việt có 300 chiến đấu cơ (70 Mig 19, 21 Mig 17, và một số F 5 tịch thu của Mỹ năm 1975). Hải quân Việt có 2 chiếc PETYA Sô viết với hỏa tiến chống tiềm thủy đỉnh, và 60 tàu tuần tiễu.
    Cuộc "hành quân sát phạt" kéo dài 16 ngày, chia thành 2 giai đoạn: 1)- Từ 17 đến 26.2.1979. Ngày 17 thàng 2, lúc 5 giờ sáng, theo chiến thuật "biển người", 100.000 Tàu, được chiến xa hỗ trợ, tràn vào Lạng Sơn, (phía Đồng Đăng), Cao Bằng, Đồng Khê, Mông Cáy, và Lào Cai sau khi pháo kích mãnh liệt. Sự tiến quân, mau lẹ lúc dầu, lần hồi bị địa phương quân Việt chận lại và bao vây. Các đơn vị chính quy VN tập trung về phía Nam Cao Bằng và Lạng Sơn để đánh tiêu hao những sư đoàn đối phương. Số tổn thương của hai bên đều nặng nhưng khó kiểm chứng. Phía Trung quốc chiếm được Lào Cai, Cao Bằng và chuẩn bị tấn công Lạng Sơn nhưng không có ý định tiến về Hà nội. Đồng thời, Bắc Kinh công bố sẽ rút quân đội "sau khi hoàn tất mục tiêu". Trong thời khoảng đó, Liên Sô đưa 7 chiến hạm tuần tiễu dài theo hải phận VN và ngày 21 tháng 2, gởi tuần dương hạm Sverdlov và một khu trục hạm Krivak vào Nam Hải. Vũ khí Nga được không vận từ Calcutta và một phái đoàn quân sự sô viết bay qua Hà nội. Mạc Tư Khoa yêu cầu Tàu rút binh.

    2)- Từ 27.2 đến 5 tháng 3. Chiến cuộc tiếp diễn ở Lào Cai, Cao Bằng và Mông cáy nhưng tập trung mạnh nhất vào Lạng Sơn, cách Đèo Hữu Nghị lối 10 dặm và Hà nội 85 dặm. Với hai sư đoàn mới đến từ Đồng Đăng và Lộc Bình, Trung vất vả tấn công các ngọn đồi quanh tỉnh. Việt chống cự mãnh liệt và còn đột nhập vào ba thị trấn Guangxi, Malipo và Ninping ở bên kia biên giới. Ngày 3 tháng ba , Lạng Sơn thất thủ. Đồng Đăng và Cẩm Dương bị san bằng nhưng các đơn vị Việt tiếp tục đánh tại Lộc Bình và Mông cái. Ngày 5 tháng 3, Chính quyền Bắc Kinh một mặt công bố đã chiếm được các tỉnh lỵ Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai và 17 quận, gây thiệt hại nặng cho 4 sư đoàn Việt và mặt khác, cảnh cáo Hà nội không được cản trở sự rút lui của Quân đội Nhân dân Trung quốc. Cùng một ngày, Bắc bộ phủ tổng động viên toàn quốc. Ngày 7 tháng 3, VN xác nhận đồng ý cho đối phương rút quân "để tỏ thiện chí hòa bình". Tại Nga, Thủ tướng Kosygin và Tổng bí thơ Brezhnev cực lực lên án Trung quốc, tiếp tục cho không vận võ khí và canh chừng hải phận VN. Cuba cho biết sẵn sàng gởi quân trợ chiến Hà nội. Tại Liên Hiệp Quốc, với sự ủng hộ của Hoa Kỳ, khối Asean kiến nghị đòi "các lực lượng ngoại quốc rút ra khỏi khu vực" mà không lên án Bắc Kinh. Ngày 16.3.1979, không còn đơn vị Tàu cộng nào ở VN. Theo tinh thần kiến nghị Asean thì VN tại Cam Bốt cũng phãi hồi hương quân đội chiếm đóng. Hội Đồng An ninh LHQ rốt cuộc không có ra quyết nghị nào. Một nhà ngoại giao chua chát phê bình: "Khi tranh chấp xẩy ra giữa các đại cường, Liên Hiệp Quốc biến mất!".
    +Thẩm lượng "bài học quân sự 1979
    1.- Thiệt hại của đôi bên. Dưới đây là bản kê khai thiệt hại căn cứ vào tài liệu mỗi phía, trích từ quyển sách "China''''''''''''''''s War With Việt Nam, 1979" của Gs King G. Chen , trang 114:
    Trung Quốc Việt Nam
    Tử thương 26.000 30.000
    Bị thương tích 37.000 32.000
    Tù chiến tranh 260 1.638
    Chiến xa, quân xa 420 185
    Bích kích pháo, súng 66 200
    Giàn hỏa tiễn 0 6



    Hoa lẫn Việt đều tuyên bố thắng trận nhưng không xứ nào hoàn thành mục tiêu chính yếu. Trung quốc không hủy được một sư đoàn Việt nào, không chấm dứt được xung đột tại biên giới, không ép được các đơn vị Việt rút khỏi Cam Bốt và củng không thuyết phục nổi VN thay đổi chính sách đối với Hoa kiều. Tuy nhiên, Bắc Kinh đã gây ra tại Hà nội sự nghi ngờ về thực tâm của Mạc Tư Khoa can thiệp bằng võ lực để chống Trung cộng ở VN. Mặt khác, khối Asean đã lên tiếng ủng hộ Tàu trong cố gắng chận chủ nghĩa bành trướng của CS Việt tại Đông Á và, dưới khía cạnh này, gây thiệt hại cho nền kinh tế Việt không ít. Ngày 26.3.1979, Jiefangjun Bao viết trong bài xã luận: "Cuộc chiến 1979 đã làm sáng tỏ những ý kiến sai lệch về vấn đề chiến tranh và một số vấn đề khác". Không thấy báo xác định rõ vấn đề gì. Sáu tháng sau, nhân lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Cộng hòa Nhân Dân Trung quốc, Tổng trưởng Quốc Phòng Xu Xiangqian trình bày quan điểm trong tạp chí "Quân Đội": "Như chúng ta biết, trong lịch sử chiến tranh, có nhiều cuộc thất trận không vì nhân lực yếu hay võ khí kém, nhưng bởi tư tưởng quân sự lạc hậu và chỉ huy sai lầm. Một kết luận thực tế là năm 1979, tại VN, các lãnh tụ Trung Hoa vừa dạy đối phương và vừa thu thập một bài học hữu ích: Quân đội Trung Hoa không thể thắng một cuộc chiến tân tiến trước khi được hiện đại hóa về võ khí và chiến lược.



    Đối với VN, hậu quả của cuộc chiến nặng nề hơn, về nhiều phương diện:
    1) Trong vòng một năm, 1979-1980, vì lý do an ninh và cũng vì nhu cầu chiếm đóng Miên và Lào, ngân sách quốc phòng tăng rất mạnh. Lục quân vượt từ 600.000 bộ binh lên một triệu, Hải quân từ 3.000 thủy thủ lên 12.000 và Không quân từ 12.000 phi công lên 15.000. không kể ngân khoản khổng lồ để mua võ khí, tàu chiến và phi cơ.
    .......................


    3) Về kinh tế, hai kế hoạch ngũ niên 1976- 1980 và 1981- 1985 thất bại thê thảm. Đồng bạc phá giá 100%. Giá sinh hoạt tăng phi mã. Lợi tức đầu người dưới 300 mỹ kim năm 1984. Ngày 30.4.1984, tại phiên họp ở La mã, Chương trình Liên Hiệp quốc về Thực phẫm cắt bỏ 5,3 triệu đô la viện trợ cho VN.



    2- Hậu quả quốc tế.
    A) Thái độ của Khối Asean: Từ 1979, chính sách của Asean có tính cách liên tục. Trong thời gian tháng 2 đến tháng 8, 1979, phần đông các nước thành viên âm thầm tán đồng cuộc hành quân của Bắc Kinh nhưng sau đó kêu gọi chính thức chấm dứt xung đột. Từ tháng 9 đến tháng 6.1982, Asean khuyến cáo VN rút quân khỏi Cam Bốt để quốc gia này tổ chức bầu cử tự do. Việc Trung quốc ngưng xô xát với VN giúp xúc tiến giải pháp. Từ tháng 6.1982 về sau, Asean vận động thành lập một liên minh chính trị do Sihanouk lãnh đạo trong khi vẫn áp lực Hà nội. Kết quả là tháng 7.1982, Hội nghị Ngoại trưởng 3 nước Đông Dương ra thông cáo đề nghị rút một phần quân Việt khỏi Cam Bốt, lập một hành lang an ninh giữa Thái và Miên và tổ chức Hội nghị Đông Á.
    Các quốc gia khác trên thế giới - Khi chiến tranh Hoa-Việt nổ lớn, Tiệp khắc, Hung Gia Lợi, Lỗ Ma Ni, Bulgarie, Cuba và Lào chỉ trích mạnh Bắc kinh. Nhựt và Tây Đức cắt viên trợ vì VN chiếm Cam Bốt. Ấn độ công nhận Chính phủ Heng Samrin để phản đối Trung quốc. Nam và Bắc Hàn im lặng, giữ thế trung lập. Mỹ có cảm tình với Đặng Tiểu Bình vì lo ngại Liên sô bành trướng, theo dõi tình hình và khuyên hai đối phương tự chế.
    +++
    Ba yếu tố căn bản đã ảnh hưởng sâu đậm cuôc chiến 1979: Quyền lợi quốc gia và chiến lược - Ý thức hệ CS và Lòng ái quốc. Một số vấn đề đã khích động nhóm người lãnh đạo có trách vụ quyết định. Tuy nhiên không một ai nghĩ rằng nước Tàu thực sự bị đe dọa về mặt an ninh vào thời khoảng đó. Trung quốc và Việt Nam không đi đến chiến tranh toàn diện vì cả hai thuộc phe xã hội chủ nghĩa. Tinh thần yêu nước và "mặc cảm huynh trưởng tự tôn" thúc đẩy Bắc kinh đòi hỏi đất đai, với mong ước tái lập ảnh hưởng cũ trong vùng. Tình anh em lâu đời giữa hai quốc gia láng giềng ngăn họ kéo dài một cuộc chiến đẫm máu. Bởi thế, sự đọ sức được giữ ở mức trung, may thay!
    Điểm khác đáng lưu ý là vai trò của lãnh đạo. Đúng thế, lãnh đạo đẻ ra chính sách. Và chính sách vẽ đường cho ngoại giao. Nhân cách Đặng Tiểu Bình chi phối cuộc khủng hoảng 1979 được mệnh danh "chiến tranh của Đặng Tiểu Bình". Đặng mưu trí, nhẫn nại, liều lĩnh và thực tiễn. Đối diện là Lê Duẩn, không có kinh nghiệm sâu sắc về nước Tàu vì ở tù ngoài Côn đảo trong giai đoạn Việt Minh kháng chiến 1940 - 1950 với sự ủng hộ duy nhất và nhiệt tình của Bắc Kinh.


    Một bài học quân sự thứ hai: Tháng 4.1985, Quân đội VN tảo thanh biên giới Thái - Miên, Son Sann hù dọa Hà nội rằng Trung quốc chuẩn bị một bài học khác. Mùa đông 1984- 1985, VN thành công dẹp phiến loạn Miên. Lại có tin đồn giống như thế. Tại Bắc kinh, Đặng Tiểu Bình, Lý Chấn Nhiệm và Hoàng Hoa không bỏ hẳn ý định này. Giới truyền thông Tây phương, chính giới Hoa Kỳ và Nghị sĩ Henry Jackson cũng tiên đoán bi quan.
    KẾT LUẬN:
    Trung Hoa - thành công hay thất bại - mãi mãi sẽ là mối ám ảnh của nước Việt Nam bé nhỏ. Ngược lại, Việt Nam luôn luôn là khúc xương khó nuốt của anh chàng khổng lồ phương Bắc. Đồng sàng nhưng dị mộng. Buộc phải sống chung hòa bình.
    "..... ông ta <Đặng Tiểu Bình> đưa ra một quan sát bao trùm về những việc Liên Xô đã làm ở Châu Âu , Trung Đông , châu Phi , Nam Á và sau cùng là Đông Dương . Liên Xô đã đạt được ưu thế tại Việt Nam .Nhiều người không hiểu tại sao các quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam lại xấu đi như thế , và tại sao Trung Quốc lại có các hành động như cắt viện trợ , mà việc đó lại càng khiến VN thân Liên xô hơn . Câu hỏi nên đặt ra là tại sao Việt Nam chọn lựa ngả hẳn theo Liên Xô khi điều đó không có lợi cho họ? Câu trả lời là vì một "giấc mơ ấp ủ nhiều năm về một liên bang Đông Dương thống nhất " .Trung Quốc không tán thành điều này và Việt Nam đã xem TQ như là cản trở lớn nhất trong việc xây dựng liên bang này. TQ đã kết luận là VN sẽ không thay đổi quan điểm và sẽ trở nên nghi kị TQ hơn.Việc bùng nổ vấn đề người Hoa tại Viện Nam là một trong những biểu hiện như thế . Sau khi suy xét kĩ Trung Quốc đã quyết định cắt viện trợ.
    Đặng nói tổng giá trị viện trợ của TQ dành cho Việt Nam đã lên tới hơn 10 tỷ USD , theo thời giá lúc đó thì là hơn 20 tỷ .Khi Trung Quốc ngưng viện trợ , Liên Xô phải cáng đáng một mình .Khi họ không kham nổi thì chuyển qua khối COMECON để chia gánh nặng với các nước Đông Âu , Việt Nam cũng muốn lập quan hệ với Nhật ,Mỹ ....... và ngay cả Singapore nữa. Trong vòng mười năm, ông ta nói , Trung Quốc sẽ xem tới việc thuyết phục Việt Nam . Tôi <Lý quang diệu> thầm nghĩ Đặng có một tầm nhìn rất xa , hoàn toàn khác hẳn những nhà lãnh đạo Mỹ.
    Đặng nói vấn đề thực sự và cấp bách là khả năng Việt Nam kiểm soát hoàn toàn Campuchia, Trung Quốc sẽ làm gì ? Ông ta hỏi như một cách nêu vấn đề . Việc Trung Quốc làm sẽ tuỳ vào Việt Nam hành động tới đâu , ông tự trả lời như thế. Ông ta lặp lại điều này nhiều lần , không nói thẳng tới một cuộc phản kích vào Việt Nam . Ông ta nói nếu Việt Nam thành công trong việc kiểm soát toàn Đông Dương , nhiều nước Châu Á sẽ đứng trước mối đe doạ . Liên Bang Đông Dương mở rộng ảnh hưởng sẽ phục vụ cho mục tiêu toàn cầu của Liên Xô muốn tiến vào phía Nam vào vùng biển Ấn Độ Dương . Vai trò của Việt Nam sẽ giống như một Cuba ở phương Đông , Liên Xô đang tăng cường lực lượng hạm đội tại Thái Bình Dương . Thế giới đã chứng kiến rối loạn trong hai năm qua tại Việt Nam , Afghanistan , Iran và Pakistan , tất cả đều cho thấy xu hướng tiến về phía Nam của Liên Xô....."
    ".... trong bữa tối ông ta rất lịch sự và thân thiện , nhưng vẫn còn căng thẳng .Việc Việt Nam tấn công vào Campuchia vẫn còn làm ông bận chí .Khi tôi hỏi gặng - Trung Quốc sẽ làm gì bây giờ ,khi mà tướng Kriangsak ,thủ tướng Thái đã tỏ ra ủng hộ Trung Quốc bằng cách tiếp đón Đặng rất long trọng ở BangKok , ông ta lại nói vắn tắt rằng điều đó còn tuỳ thuộc Việt Nam sẽ hành động tới đâu . Tôi có ấn tượng rằng nếu Việt Nam không vượt sông Mekong , thì sẽ không có gì nguy hiểm , như nếu họ vượt thì Trung Quốc sẽ có hành động.
    ........Tại dinh thống đốc ở Fanling , Hồng Kông , trong một kì nghỉ , tôi đã gặp Davis Bonavia , một chuyên gia về Trung Quốc từng làm cho tờ Times ở London . Ông ta nghĩ lời cảnh báo của Đặng chỉ là đe dọa xuông vì hải quân Liên Xô đang có mặt ở biển Nam Trung Quốc . Tôi nói rằng đã gặp Đặng 3 tháng trước và ông ta là một người ăn nói rất cân nhắc. Hai ngày sau , 19/2/1979 , quân đôi Trung Quốc tấn công vào biên giới Bắc Việt Nam .
    Trung Quốc tuyên bố rằng các mục tiêu hành động quân sự này rất hạn chế và kêu gọi Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc có biện pháp tức thời và hữu hiệu ngăn chặn VN chiếm đóng Campuchia . Chiến dịch kết thúc trong vòng 1 tháng . Họ chịu tổn thất nặng nhưng đã cho VN thấy là bằng bất cứ giá nào , họ vẫn có thể tiến sâu vào VN , tàn phá làng mạc thị trấn trên đường tiến quân và rút lui , như họ đã làm vào ngày 16/3/79.
    Trong cuộc tấn công vào VN , Đặng nói công khai rằng TQ đã chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh có thể xảy ra với Liên Xô , và cho rằng một bài học cho VN cũng là một bài học cho Liên Xô . Liên Xô đã không tấn công Trung Quốc . Báo chí phương Tây mô tả hành động trừng phạt của Trung Quốc như một thất bại . Còn tôi thì tin rằng nó đã thay đổi dòng lịch sử Châu Á . Việt Nam hiểu rằng TQ sẽ tấn công khi họ vượt quá Campuchia vào đến đất Thái . Liên Xô không muốn bị vướng vào một cuộc chiến dai dẳng ở một nơi xa xôi tại Châu Á. Họ có thể có một hành động mau chóng có tính quyết định đối với Trung Quốc , nhưng Trung Quốc đã không cho họ là như thế bằng cách tuyên bố rằng hành động quân sự của Trung Quốc là một hành động "trừng phạt " và không có ý chiếm đóng VN . Như Đặng đã tiên đoán , Liên Xô đã phải chịu gánh nặng trong việc ủng hộ Việt Nam . việc mà họ đảm nhận thêm 11 năm nữa cho đến 1991 , khi Liên Xô tan rã. Khi chuyện này xảy ra , Việt Nam đồng ý rút quân khỏi Campuchia vào tháng 10/1991."
    đây là chân dung 2 tướng Trung Quốc chỉ huy chiến tranh năm 79
    [img]http://english.pladaily.com.cn/special/figures/sj/ydz-1.jpg
    [/img]
    Một tháng phiêu lưu chiến tranh của Trung Quốc xâm lược đã diễn ra như sau:
    Trên hướng Lạng Sơn : chúng chia thành ba cánh quân, mỗi cánh từ 1 đến 2 sư đoàn:
    -Cánh chủ yếu từ cửa Hữu Nghị thọc theo đường 1A đánh vào thị trấn Đồng Đăng, tiến chiếm Tam Lương là coi như đã hoàn thành nhiệm vụ giai đoạn 1.
    -Cánh thứ hai đánh qua bản Sâm vào Cao Lộc, hình thành mũi thọc ngang sườn.
    -Cánh thứ ba đánh qua Chi Ma, chiếm Lộc Bình để ép phía đông và nam thị xã Lạng Sơn, hỗ trợ cho cánh chủ yếu thực hiện nhiệm vụ giai đoạn 2 là đánh chiếm thị xã Lạng Sơn.
    Cả ba cánh quân nói trên đều bị quân dân địa phương của ta chặn đánh, ghìm chân tại chỗ suốt ba ngày liền. Ngày 20-2-1979, chúng phải tăng thêm quân để tăng hiệu lực đột phá. Lần này, chúng mở đợt tiến công rộng ra các điểm cao trên dọc đường 1 để hỗ trợ cho đại quân tiến xuống phía nam Đồng Đăng. Nhưng mỗi bước tiến của chúng đều bị quân dân ta đánh trả quyết liệt: chúng bị đánh ở khắp nơi, cả phía trước lẫn sau lưng và hai bên sườn đội hình hành quân. Vì vậy cuộc tiến quân của chúng buộc phải nhích lên từng bước rất chậm, có nơi còn bị đẩy lùi.
    Nhìn chung, cuộc chiến đấu đã diễn ra ác liệt tại các điểm cao 417, 608, 800, 556 và 473. Hàng nghìn tên giặc Trung Quốc xâm lược đã bị diệt trên quãng đường số 1A này. Riêng trong trận đánh địch ngày 27-2-1979, các chiến sĩ ta đã loại khỏi trung đoàn 850 của địch ra khỏi vòng chiến đấu. Đặc biệt, ở khu vực cầu Khánh Khê trên đường số 1B, các chiến sĩ ta đã chặn đứng cả 1 sư đoàn và 1 tiểu đoàn xe tăng địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại nặng nề.
    Riêng trên mặt trận Lạng Sơn, từ ngày 17-2-1979 đến 18-3-1979, gần 19.000 tên giặc Trung Quốc đã bị tiêu diệt; 128 xe quân sự địch (trong đó có 76 xe tăng-xe bọc thép), 98 khẩu pháo, súng cối và hỏa tiễn của địch bị bắn cháy và phá hủy. Quân dân địa phương Lạng Sơn đã thu được hàng trăm súng và nhiều đồ dùng quân sự.

    Trên hướng Cao Bằng : địch dùng 2 quân đoàn tăng cường, chia làm hai cánh lớn: một cánh từ tây bắc theo hướng Thông Nông-Hà Quảng và một cánh từ phía đông nam qua Thủy Khẩu-Quảng Hóa vòng lên cùng hợp điểm đánh chiếm tiến công Cao Bằng. Đồng thời, chúng còn cho hai mũi phối hợp tiến công Thất Khê-Na Sầm.
    Trong quá trình tiến công, cả hai cánh quân chính đều bị các lực lượng vũ trang địa phương Cao Bằng chặn đánh quyết liệt.
    Cánh tây bắc có xe tăng đột phá mở đường bị chặn đánh tại Hòa An. Mũi đánh vào Trà Lĩnh-Trùng Khánh bị đánh ở ngay sát đường biên giới, riêng ở cột mốc 62 chúng bị tập kích mất gần hết 1 tiểu đoàn ở đồi Chông Mu.
    Cánh đông nam bị chặn ngay ở đèo Khâu Chia-Phục Hòa. Chỉ trong 5-6 ngày đầu, 1 sư đoàn đã bị thiệt hại nặng mà vẫn không vượt qua được đèo.
    Như vậy là toàn bộ các cánh, các mũi của địch đều bị chặn đánh, không những bị đánh trước mặt mà còn luôn luôn bị đánh ngang sườn và sau lưng. Lực lượng vũ trang địa phương của chúng ta tuy ít nhưng đã cùng dân quân, tự vệ giữ vững các chốt chặn địch ở Khau Đồn (tây thị xã Cao Bằng), cầu Tài Hồ Xìn, các chốt đông Nguyên Bình cản phá nhiều đợt tiến công ác liệt của địch cho đến ngày buộc địch phải tháo chạy.
    Tổng cộng, trong 30 ngày chiến đấu, quân dân Cao Bằng đã diệt hơn 18.000 tên, bắn cháy và phá hủy 134 xe tăng-xe bọc thép và 23 xe quân sự.

    Trên hướng Hoàng Liên Sơn : địch cho nhiều sư đoàn tiến công từ tây bắc vòng qua đông bắc thị xã Lao Cai. Chúng tổ chức thành nhiều mũi đánh vào Bát Xát, Mường Khương và thị xã Lao Cai. Chúng bị chặn đánh ở khu vực Quang Kim, ngã ba bản Phiệt, khu phố Duyên Hải (trong thị xã Lao Cai). Đến ngày 24-2-1979, chúng đã phải tung hết lực lượng dự bị vào chiến đấu, nâng tổng số quân trên hướng Hoàng Liên Sơn lên tới trên 2 quân đoàn.
    Tính đến ngày 18-3-1979, ngay trên dải đất Hoàng Liên Sơn đã có hơn 11.500 tên địch bị diệt, 255 xe quân sự địch (trong đó có 66 xe tăng-xe bọc thép) bị phá hủy.

    Tại nhiều khu vực khác, quân Trung Quốc xâm lược cũng bị đánh tả tơi.
    Ở Lai Châu, 1 quân đoàn địch đã tiến đánh dọc theo đường 10 vào Nậm Cúm-Phong Thổ. Nhưng chỉ hai ngày đầu, chúng đã bị diệt trên 750 tên và 2 tiểu đoàn bị thiệt hại nặng. Ngày 10-2-1979, ở Pò Tô (cạnh đường số 6), 17 đợt tiến công liên tiếp của địch đều bị bẻ gãy. Tới 3-3-1979, cả trận địa pháo địch, gồm 4 giàn hỏa tiễn H12 ở Hội Luông đã bị ta phản pháo hủy diệt.
    Ở Quảng Ninh, địch dùng 2 sư đoàn tiến công Thán Phún, Pò Hèn, Đồng Văn và pháo kích vào thị xã Móng Cái. Nhưng tất cả đều bị đẩy lùi. Ở Pò Hèn, chỉ trong ngày đầu, chúng đã bị diệt 450 tên. Ở Thán Phún, chúng tiến công tám lần lên điểm cao 404 song lần nào cũng bị chặn đứng ở chân điểm cao. Vì thế, đến ngày 19-2-1979, chúng đã phải co rút về bên kia biên giới.
    Ở Hà Tuyên, khoảng 1 sư đoàn địch định đánh chiếm Đồng Văn-Mèo Vạc-Thanh Thủy, song bị đánh trả mạnh nên không thực hiện được ý định, đành phải rút lui.

    Trên toàn chiến trường biên giới, nơi nào quân TQ cũng bị đánh đau nên đến ngày 06/03/1979, chúng buộc phải tính chuyện rút quân.
    Không rút cũng không được, lúc này VN đã điều các sư đoàn thuộc 2 quân đoàn 2,3 ra phía Bắc. Có những sư đoàn đi bằng máy bay bỏ hết trang bị cá nhân tại phía Nam, bay ra Bắc nhận lại đầy đủ trang bị và lên thẳng biên giới. Các đơn vị thuộc quân đoàn 1 cũng đã áp sát tuyến đầu. Nếu TQ không tuyên bố rút quân thì sẽ phải chịu " một bài học " còn nặng nề hơn nữa.
    Quân TQ bị thiệt hại nặng, nhưng VN cũng tổn thất đáng kể, đặc biệt là về cơ sở vật chất, tính mạng dân thường :
    Kể từ mờ sáng ngày 17/02/1979 khi quân TQ tràn sang VN đến lúc rút đi, bất cứ nơi nào quân " Giải phóng TQ " đặt chân tới, nơi đó chỉ còn lại một cảnh hoang tàn, đổ nát. Quân TQ đốt phá tất cả những gì nhìn thấy, không kể đó là kho tàng, nhà dân, trường học, cơ quan hay công trường. Những gì có thể vơ vét được đều không được bỏ lại, từ máy móc, quặng mỏ, cho đến những đồ dùng gia đình như hòm xiểng, chăn màn, quần áo.
    Tại Phong Thổ { Lai Châu } quân TQ đã vét sạch một kho của cửa hàng bách hoá trị giá 50.000 đồng { Năm 1979 thì 50.000 đồng lớn lắm }. Không chỉ thế, quân TQ còn bắt trâu, bò, lợn gà, thậm chí những nhà có cột, kèo, gỗ ván tốt đều bị dỡ ra chất lên ô-tô hoặc ngựa thồ chở về nước.
    Đi đôi với cướp bóc là tàn phá triệt để : Phố Lu { thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn } là một thị trấn có 5.000 dân, quân TQ chỉ đóng được ở đây có 3 ngày mà đã đốt trụi thị trấn này gồm 200 nóc nhà, phá sập nhà ga, bưu điện, đốt kho lương thực. Trên đoạn đường sắt từ Phố Lu đến Phố Mới dài hơn 30 km, thanh ray nào cũng bị phá đứt từng đoạn dài từ 25 đến 30 cm bằng những khối bộc phá nhỏ. Cầu sắt Cam Đường - Phố Lu bị bộc phá đánh tung cả hai mấu cầu. Cách đánh phá này rõ ràng là có nghiên cứu trước, cố tình gây khó khăn cho việc phục hồi sau này.
    Ở thị trấn Sa Pa, một thị trấn nghỉ mát hoàn toàn không có bất cứ một công trình quân sự nào, nhưng cũng bị huỷ diệt triệt để.
    Quân TQ đặt mìn cho nổ tung tất cả từ các biệt thự, nhà an dưỡng, thậm chí cả đài tưởng niệm liệt sĩ và trạm vật lý địa cầu vốn cung cấp thông tin khí tượng cho cả TQ.
    Thị xã Cao Bằng xinh đẹp nằm trên bờ sông Hiến, sông Bằng bị tàn phá nặng nề nhất. Bệnh viện đa khoa lớn nhất tỉnh chỉ còn là đống gạch vụn. Trường phổ thông cấp I-II do quỹ UNICEF xây dựng chỉ còn trơ lại khung sắt cong queo. Thậm chí chúng còn thù ghét cả đến vật vô tri, vô giác : đặt mìn đánh đỏ cột điện, dùng lê đâm thủng nồi nhôm, xoong chảo, lấy mã tấu rạch nát ghế mây, đổ hàng thùng thìa nhôm của cửa hàng bách hoá ra đường rồi cho xe tăng nghiến nát.

    Theo thống kê, chỉ trong 30 ngày quân TQ đã tàn phá ở 6 tỉnh biên giới như sau :
    - Số thị xã bị huỷ diệt : 4/4
    - Số xã bị phá huỷ : 320/320
    - Diện tích nhà bị tàn phá ở các thị xã : 600.000 m2
    - Số trường phổ thông các cấp bị phá : 735/904
    - Số bệnh viện, bệnh xá bị phá huỷ : 428/430
    - Số nông trường bị tàn phá và cướp bóc : 41/41
    - Số lâm trường bị phá hoại : 38/42
    - Số xí nghiệp, hầm mỏ bị phá và cướp đi : 81
    - Số trâu bò, lợn bị giết và bị cướp : 400.000 con
    - Diện tích hoa màu bị phá huỷ : 80.000 ha
    Khoảng một nửa trong số 3,5 triệu dân ở 6 tỉnh biên giới bị mất nhà cửa và tài sản, phương tiện sinh sống.

    Nhưng không chỉ có thế, quân TQ còn phá huỷ các di tích lịch sử, điển hình là di tích Pác Bó. Kinh hoàng nhất là tàn sát và giết hại dân thường....

    http://www.ttvnol.com/uploaded/dongadoan/coree50.gif
    http://www.ttvnol.com/uploaded/dongadoan/ca30_2.jpg
    Quân TQ
    Giai đoạn chiến tranh sau 79 :


    Trước khi bùng nổ trở lại năm 1984, trước đó năm 1981 còn diễn ra một số cuộc giao tranh, lực lượng TQ tham gia trận chiến ở Gao Lin Shan là trung đoàn biên phòng 15 và sư đoàn bộ binh 42 quân đoàn 14, ở Fa Car Shan là sư đoàn 3 biên phòng tỉnh Quảng Tây (theo www.orbat.com).
    Phía VN cũng ghi nhận xung đột giai đoạn này ở Hà Tuyên, Cao Bằng, Lạng Sơn. Đặc biệt, trong đó có dải bình độ 400 ở Cao Lộc (Lạng Sơn) đã bị quân TQ chiếm đóng từ 1981-1997 (nguồn : Ngoại giao Việt Nam). Nhưng nói chung xung đột năm 1981 không lớn.

    Ngày 28-4-1984, quân đội Trung Quốc tấn công đánh chiếm đỉnh 1509 (Lão Sơn)
    Giai đoạn tấn công gồm sư đoàn 40 quân đoàn 14 đánh chiếm Lao Shan (Lão Sơn), trung đoàn 122 sư đoàn 41 quân đoàn 14 đánh chiếm Hu Dong Shan, sư đoàn 31 quân đoàn 11 đánh chiếm Jer Yan Shan (Giả Âm Sơn?).
    Từ đỉnh 1509 (nằm ngay trên đường biên), TQ theo sống núi lấn dần xuống các bình độ phía dưới, cũng như nhiều điểm tựa xung quanh.
    Ở Hà Tuyên đã diễn ra nhiều trận giành giật quyết liệt, nhất là ở 1509 và núi Bạc (Giả Âm Sơn).

    Các đơn vị TQ tham chiến giai đoạn 1984-1988 (nguồn : www.china-defense.com).

    Đại quân khu Côn Minh :

    - Sư đoàn bộ binh 31 (quân đoàn 11).
    - Sư đoàn bộ binh 32 (quân đoàn 11).
    - Sư đoàn bộ binh 40 (quân đoàn 14).
    - Sư đoàn bộ binh 41 (quân đoàn 14), gồm trung đoàn bộ binh 122, 123 và trung đoàn biên phòng 15.
    - Sư đoàn pháo binh số 4, ĐQK Côn Minh.

    Thời gian tham chiến : tháng 4-1984 đến tháng 4-1985.

    Thiệt hại : 766 chết (gồm cả công nhân dân sự ?).
    Trong đó :
    - Cao điểm Lao Shan và Ba Li He Dong Shan : 651 chết.
    - Cao điểm Zheyin Shan : 115 chết.
    - Trận ngày 12-7 : trung đoàn 119 và 122 thiệt hại 61 chết.
    - Trung đoàn 118 : 198 chết.
    - Trung đoàn 96 : 41 chết, 298 bị thương.


    Đại quân khu Nam Kinh :

    - Sư đoàn bộ binh số 1 (quân đoàn 1).
    - Sư đoàn bộ binh 36 (quân đoàn 12).
    - Sư đoàn pháo binh số 3, ĐQK Phúc Châu.
    - Sư đoàn pháo binh số 9, ĐQK Nam Kinh.

    Thời gian tham chiến : tháng 12-1984 đến tháng 5-1985.

    Thiệt hại : 404 chết.
    Trong đó :
    - Sư đoàn bộ binh số 1 : 359 chết.
    - Sư đoàn bộ binh 36 : 38 chết.
    - Sư đoàn pháo binh số 9 : 7 chết.


    Đại quân khu Tế Nam :

    - Sư đoàn bộ binh 138 (quân đoàn 46).
    - Sư đoàn bộ binh 199 (quân đoàn 67), được tăng cường trung đoàn 598 sư đoàn bộ binh 200.
    - Sư đoàn pháo binh 12, ĐQK Tế Nam.

    Thời gian tham chiến : tháng 5-1985 đến tháng 4-1986.

    Thiệt hại : không rõ tổng số.
    - Trung đoàn 199 thiệt hại 300 chết từ 30-5 đến 11-6-1985.
    - Trung đoàn 595 thiệt hại 120 thương vong và 1 bị bắt ngày 2-12-1985.
    - Trung đoàn 597 thiệt hại hơn 20 chết trong trận tấn công cao điểm 405.


    Đại quân khu Lan Châu :

    - Sư đoàn bộ binh 61 (quân đoàn 21).
    - Sư đoàn bộ binh 139 (quân đoàn 47), được tăng cường trung đoàn 421 sư đoàn bộ binh 141.
    - Lữ đoàn pháo binh số 1, ĐQK Lan Châu.

    Thời gian tham chiến : tháng 4-1986 đến tháng 4-1987.

    Thiệt hại : 164 chết, 962 bị thương.


    Đại quân khu Bắc Kinh :

    - Sư đoàn bộ binh 79 (quân đoàn 27), được tăng cường trung đoàn 241 sư đoàn bộ binh 81.
    - Sư đoàn bộ binh 80 (quân đoàn 27).
    - Sư đoàn pháo binh 14 (gồm trung đoàn pháo binh 10 và 37), ĐQK Bắc Kinh.

    Thời gian tham chiến : tháng 4-1987 đến tháng 4-1988.

    Thiệt hại : 63 chết, 172 bị thương.


    Đại quân khu Thành Đô :

    - Sư đoàn bộ binh 37 (quân đoàn 13).
    - Sư đoàn bộ binh 38 (thiếu trung đoàn114) (quân đoàn 13).

    Thời gian tham chiến : tháng 4-1988 đến tháng 10-1989.

    Thiệt hại : không rõ.


    Lực lượng trinh sát và đặc nhiệm :

    Tháng 12-1984 đến tháng 5-1985 :

    - Đơn vị trinh sát số 1 thuộc quân đoàn 20, ĐQK Vũ Hán.
    - Đơn vị trinh sát số 2 thuộc quân đoàn 43, ĐQK Quảng Châu.
    - Đơn vị trinh sát số 3 thuộc quân đoàn 50, ĐQK Thành Đô.
    - Đơn vị trinh sát số 4 thuộc quân đoàn 54, ĐQK Vũ Hán.
    - Đơn vị trinh sát số 5 thuộc quân đoàn 55, ĐQK Thành Đô.

    Thiệt hại : 6 chết, 9 bị thương.

    Tháng 5-1985 đến tháng 6-1986 :

    - Đơn vị trinh sát số 6 thuộc quân đoàn 46, ĐQK Tế Nam.
    - Đơn vị trinh sát số 7 thuộc lữ đoàn 44, quân đoàn đổ bộ đường không số 15.

    Tháng 9-1985 đến tháng 7-1986 :

    - Đơn vị trinh sát số 8, ĐQK Xinjing.
    - Đơn vị trinh sát số 9 thuộc quân đoàn 19, ĐQK Lan Châu.
    - Đơn vị trinh sát số 10 thuộc quân đoàn 21, ĐQK Lan Châu.

    Thiệt hại : 21 chết.
    Trong đó 20 chết trong trận tấn công cao điểm 1828 đêm 18-3-1986.

    Tháng 9-1986 đến tháng 12-1987 :

    - Đơn vị trinh sát số 11 thuộc quân đoàn 24, quân khu Bắc Kinh và Tianjin, ĐQK Bắc Kinh.
    - Đơn vị trinh sát số 12 thuộc quân đoàn 38, ĐQK Bắc Kinh.

    Thiệt hại : 7 chết, 1 mất tích.

    Tháng 12-1987 đến tháng 1-1989 :

    - Đơn vị trinh sát số 13 thuộc quân đoàn 16, ĐQK Shenyang.
    - Đơn vị trinh sát số 14 thuộc quân đoàn 40, ĐQK Shenyang.
    - Đơn vị trinh sát số 15 thuộc quân đoàn 64, ĐQK Shenyang.

    Thiệt hại : gần 20 chết.
    hiện nay chỉ có Việt Nam , Trung quốc , Ðài Loan ,PhiLippin,Malayxia và Brunei có tranh chấp ở quần đảo Trường Sa .
    Sau gần 40 năm lấn chiếm quần đảo Hoàng Sa, Trung quốc lại tiến hành việc lấn chiếm quần đảo Trường Sa (1995 đến nay). Đã lấn chiếm vùng lãnh hải của Việt Nam mà Trung quốc còn “đánh trống la làng” là Việt Nam đã “xâm phạm chủ quyền” của Trung Quốc, và đòi Việt Nam phải “làm sáng tỏ lập trường về Trường Sa”(?)
    Quần đảo Trường Sa hiện nay đang là một vùng lãnh hải có sự tranh chấp của nhiều nước:
    *,Vùng Trung quốc đang tranh chấp với Việt Nam là vùng lãnh hải nằm về phía Tây của đảo Trường Sa (gọi tắt là Tây Trường Sa). Tây Trường Sa là vùng lãnh hải nằm gần bờ biển Việt Nam nhất (so với các đảo khác ở phía Đông của quần đảo Trường Sa).
    Đảo Trường Sa là hòn đảo lớn và quan trọng nhất của vùng lãnh hải Tây Trường Sa. Người Pháp gọi đảo này là Đảo Bão Tố (Ile de Tempête). Nằm giữa những bãi và đá của vùng Tây Nam Trường Sa, đảo Trường Sa có một diện tích rộng khả dĩ có thể lập được một phi đạo chiến thuật (phi đạo ngắn). Trước năm 1970, quân Việt Nam Cộng Hòa đã cố đồn trú và bố phòng ở đảo này. Sau năm 1975, quân đội nhân dân của CHXHCNVN đã xây dựng căn cứ quân sự, xây cầu tàu và bến đậu cho tàu thuyền cập bến. Hải quân của CHXHCNVN đã có một lực lượng đồn trú thường xuyên tại đảo này, là cái gai trong mắt của Trung quốc hiện nay.
    Tính cho đến cuối năm 2000, hải quân CHXHCNVN, ngoài việc xây cầu tàu, còn thiết lập được một hệ thống hải đăng trên các đảo của Tây Trường Sa và chánh phủ CHXHCNVN cũng đã thiết lập xong bộ máy chính quyền để quản trị cả vùng lãnh hải của quần đảo Trường Sa. Chính vì thế mà Trung quốc đã la hoảng là “Việt Nam đã xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc”. Đúng là vừa ăn cướp vừa la làng! (như một phiếm luận của một ký giả phương Tây).
    *, Vùng 5 nước tranh chấp chủ quyền với Việt Nam (12) là vùng ở phần cực nam quần đảo Trường Sa. Vùng này phần nhiều là đảo thật nhỏ.
    Đảo An Bang (tức Amboyna Cay) là đảo lớn nhất trong vùng cực nam Trường Sa. Bờ biển của Trung quốc nằm cách xa đảo này đến 1000 hải lý, thế nhưng họ vẫn liên tục đòi chủ quyền và đang tìm cách lấn chiếm(!?)
    Vị trí quan trọng thứ hai bên cạnh đảo An Bang là Bãi Thuyền Chài (tức Barque Canada Shoal) nên hải quân CHXHCNVN đã có mặt trên bãi này từ mấy năm nay để khẳng định chủ quyền của Việt Nam!
    Vùng lãnh hải này đang diễn ra sự tranh chấp chủ quyền khá phức tạp. Ngoài hải quân Việt Nam trú đóng ở Bãi Thuyền Chài, còn có hải quân của Mã Lai Á và hải quân của Phi Luật Tân cũng đã đồn trú ở một số hòn ở cách Bãi Thuyền Chài từ 40 đến 60 hải lý.
    *, Vùng tranh chấp giữa Trung Quốc, PhiLippin, Đài Loan và Việt Nam ở trung tâm và phía Nam của quần đảo Trường Sa. Đây là một vùng đảo, hòn rộng lớn nhất và có nhiều hòn đảo lớn trong quần đảo Trường Sa.
    Trong vùng lãnh hải đang tranh chấp gay gắt này, Đảo Ba Bình (tức đảo Itu Buba) là một hòn đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa. Đài Loan đã đưa hải quân chiếm đảo này từ tháng 6-1946. Nhưng, Đài Loan lại rút quân ra khỏi đảo Ba Bình vào năm 1950. Đến tháng 5-1951 hải quân Đài Loan lại tái chiếm Ba Bình, khi nghe tin PhiLippin đang khám phá tài nguyên của quần đảo Trường Sa. Đài Loan đã đưa một tiểu đoàn thủy quân lục chiến trú đóng thường xuyên ở Ba Bình. Họ đã biến Ba Bình thành một căn cứ quân sự hoàn chỉnh, có cả phi đạo chiến thuật hiện đại nhất so với các căn cứ của Việt Nam ở đảo Trường Sa.
    Xét trong lịch sử hiện đại, Việt Nam giữ chủ quyền đảo Ba Bình từ thời nhà Nguyễn, cho đến thời Pháp thuộc (1884-1945). Nhưng khi có sự biến cách mạng tháng 8-1945 và cuộc chiến tranh Việt Pháp (1945-1946) thì Đài Loan nhân cơ hội đó, đưa quân chiếm đảo Ba Bình.
    Nếu Ba Bình là hòn đảo lớn nhất, thì hòn đảo Nam Yết là hòn đảo cao nhất của quần đảo Trường Sa. Có nhiều tài liệu nói về chiều cao của hòn đảo quan trọng này – 61 feet hoặc 20 mét hay thấp hơn – nhưng vẫn chưa xác định cụ thể, nhưng chắc chắn là cao hơn các đảo khác trong cả quần đảo Trường Sa. Nam Yết nằm đối diện với Ba Bình về hướng Bắc – nơi có xây dựng cầu tàu của đảo Nam Yết.
    Việt Nam đã có chủ quyền từ lâu tại đảo Nam Yết. Đến thời Việt Nam Cộng Hòa đã có xây dựng hệ thống công sự phòng thủ khá kiên cố trên đảo Nam Yết. Bộ chỉ huy quân sự của hải quân VNCH ở quần đảo Trường Sa vào những năm 1974-1975 đã đặt tại Nam Yết. Nam Yết là một vị trí quân sự tốt nhất để canh phòng mọi hoạt động của Đài Loan ở Ba Bình và cả PhiLippin ở khu Đông và Đông Bắc quần đảo Trường Sa. Nhưng hiện nay hải quân CHXHCNVN lại không lập Bộ Chỉ Huy quân sự của cả quần đảo ở Nam Yết, mà chỉ để một toán cành phòng thôi.

    Để mở đầu thực hiện âm mưu bá chiếm quần đảo Trường Sa, tháng 1- 1988, Trung quốc xua quân tiến chiếm hòn Đá Chữ Thập (Fierry Cross Reef). Hòn Đá Chữ Thập các đảo Trường Sa (13) (thuộc khu vực Tây Trường Sa) là 80 hải lý về phía Đông Bắc. Hiện nay Trung quốc đã đặt tại đây một trụ sở tổng chỉ huy quân trú phòng của họ ở quần đảo Trường Sa(!) Rõ ràng là Trung Cộng đã thách thức trắng trợn đối với chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Trường Sa. Mầm mống chiến tranh sẽ xảy ra bất cứ lúc nào ở vùng lãnh hải quan trọng này - Trường Sa - Đá Chữ Thập. Và thực tế đã xảy ra một trận thủy chiến ở khu vực này vào giữa năm 1988, giữa Trung quốc và CHXHCNVN (Kết quả: CHXHCNVN đã bị đánh chìm 2 chiến hạm, thiệt hại 70 người!)
    Có một khu vực đã diễn ra sự tranh chấp vô cùng gay cấn giữa Việt Nam và Trung quốc, đó là khu vực nhóm đảo Sinh Tồn (Sin Cowe Island). Nhóm đảo này (gồm 6 hòn) có một vòng đai san hô có tên là Union Reefs. Từ năm 1970, hải quân VNCH đã đồn trú ở đây. Và hiện nay hải quân CHXHCNVN cũng đang đồn trú và phòng thủ ở khu vực này để chống lại sự tiến chiếm của quân Trung quốc. Từ năm 1988, hải quân Trung quốc cũng đổ bộ lên một số hòn và trú đóng ở đây. Cho nên, có những nơi hai bên Trung Việt trú đóng chỉ cách nhau có 3 hải lý. Đặc biệt quân của hai bên cùng trú đóng trên một bãi đá ngầm nhỏ có tên là Johnson Reefs – Việt Nam ở đầu phía Bắc, tại hòn đá Co-lin; Trung quốc ở đầu Nam, tại hòn đá Gác Ma!
    Như vậy, sự tranh chấp chủ quyền ở vùng lãnh hải này, tuy có cả Đài Loan và PhiLippin, nhưng tình hình căng thẳng nhất là giữa Trung quốc với Việt Nam. Chiến tranh lãnh hải ở vùng quần đảo Trường Sa có thể bốc cháy bất cứ lúc nào.
    Sự tranh chấp về chủ quyền lãnh hải ở vùng này của quần đảo Trường Sa giữa Việt Nam với Đài Loan và PhiLippin đang chỉ là sự ngấm ngầm, bởi vì cả Đài Loan và PhiLippin (nhất là PhiLippin) cũng đang bị Trung quốc thực hiện chiến thuật lấn chiến từ từ (bắt đầu từ mùa xuân 1995 với hành động chiếm cứ hòn đá ngầm Vành Khăn, của Trung quốc).
    PhiLippin cũng không chịu lép vế. Họ đã dùng chiến thuật “đàm phán công khai, bất ngờ tấn công bằng quân sự” để cho Trung quốc không kịp trở tay. Chẳng hạn như, vào cuối tháng 3- 1995, sau khi Trung quốc đã chiếm hòn đá ngầm Vành Khăn, PhiLippin bắt đầu thương thuyết với Trung quốc tại Bắc Kinh. Trong khi cuộc thương thuyết chỉ mới tiến hành có một ngày, thì bất ngờ PhiLippin cho hải quân tiến đến vùng đá ngầm ngoài khơi đảo Palawan, đồng thời cho không quân dội bom tàn phá các công trình xây cất của Trung quốc trên các bãi ngầm Jackson...
    Lãnh hải quan trọng nhất của PhiLippin ở trong vùng tranh chấp này là Bãi Cỏ Rong (Reed Tablemount). Bao quanh Bãi Cỏ Rong, có Bãi Trăng Khuyết (Half Moon Shoal), Bãi Cá Ngựa (Sea Horse Shoal) và bờ biển Palawan, đã được chính phủ PhiLippin cho chia lô và thăm dò dầu khí... Bãi Cỏ Rong dài hơn 100 hải lý, và rộng đến 70 hải lý. Tài nguyên dầu khí ở đây là nguồn lợi lớn lao nhất của quốc gia PhiLippin. Nhưng, chủ quyền của PhiLippin ở Bãi Cỏ Rong cũng đang bị Trung quốc tìm cách lấn chiếm.
    Qua một số sự kiện điển hình trên đây cho chúng ta thấy tính chất phức tạp của vùng lãnh hải Trường Sa. Không phải toàn bộ quần đảo Trường Sa là của Việt Nam. Nhưng phải khẳng định rằng Việt Nam có chủ quyền một vùng lãnh hải rộng nhất trong khu vực quần đảo Trường Sa.
    Chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Trường Sa đã được minh chứng một cách xác đáng cả về hai phương diện địa lý và lịch sử.
    từ sau khi bộ quy tắc ứng xử trên biển đông ra đời .TQ đã hứa sẽ không dùng vũ lực

    1 số hình ảnh
    http://img230.echo.cx/img230/7655/60309me.jpg
    bọc thép TQ tiến vào cao bằng
    http://img230.echo.cx/img230/9089/40165pd.jpg
    http://img230.echo.cx/img230/868/40155pt.jpg
    http://www.ttvnol.com/uploaded/dongadoan/3002.jpg
    http://www.ttvnol.com/uploaded/spirou/1114987254.jpg
    đây là 1 số tu liệu tôi kiếm đuọc mong đc góp ý

  • ph0ngvu

    khoảng 1 10 năm trước
  • xưa nay Việt Nam vẫn là cái xương khó gặm của TQ trong công cuộc bành trướng xuống vùng Đông Nam Á. Bằng chứng là từ ngàn năm nay nó vẫn trăm mưu ngàn kế để đô hộ, đồng hoá và xóa VN ra khỏi bản đồ thế giới. Người Việt Nam ta vẫn kiên cường đứng vững trước mọi sóng gió


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group