Thuật xuất vía theo phương pháp khoa học huyền bí Tây Phương

  • virusbro

    khoảng 1 10 năm trước
  • Cái này virus sưu tầm trên Net thấy hay hay nên post vô đây .
    Ai rảnh rỗi và quan tâm thì tự nghiên cứu nha
    Nghe nói tập cái này xong là có thể xuất vía đi du lịch đó . Laugh of loud Nếu là thật và tập thành công thì .......... Giggling đở tốn tiền du lịch lắm đó .

    THUẬT XUẤT VÍA

    THEO PHƯƠNG PHÁP

    KHOA HỌC HUYỀN BÍ TÂY PHƯƠNG

    Do ÁNH SÁNG ÚC CHÂU – T2

    Biên dịch

    22 – 02 – 2005



    MỤC LỤC

    1.- Những cỏi giới của Tâm Linh .

    2.- Sự Quán Tưởng.

    3.- Bài tập phát triển khả năng Quán Tưởng và Định lực .

    4.- Sự phát sinh và tích trử năng lượng Sinh Lực Khí .

    5.- Sự Chuyển Di Thần Thức .

    6.- Năm phương thức Xuất Vía .

    7.- Kỷ thuật Chuyển Di Ý thức . Thể Trí.

    8.- Kỷ thuật xuất Đẩu Tinh thể . Thể Ánh Sáng.

    9.- Kỷ thuật phối hợp Thể Trí và Thể Ánh Sáng trong việc xuất Vía .

    10.- Những trở ngại thường gặp trong việc xuất Vía .

    11.- Sợi Chỉ Bạc – Sợi Kim Quang Tuyến .

    12.- Kỷ thuật liên lạc với Nguyên Thần .

    13.- Những hiện tượng lưu ý trong kỷ thuật liên lạc với Nguyên Thần .

    14.- Những hiện tượng lưu ý trong khi xuất Vía .

    15.- Những trở ngại của hệ thống tín ngưởng và sự nhận thức trước của ý thức

    trong việc xuất Vía .

    16.- Những thắc mắc và giải đáp trong việc xuất Vía .

    17.- Những cảm nhận trên những cỏi cao hơn .

    18.- Những ứng dụng Thuật Xuất Vía trong thời đại hiện nay và tương lai .

    19.- Xử dụng thuật xuất vía trong việc làm giảm sự đau đớn vì bệnh tật của thể xác .

    20.- Xử dụng thuật xuất vía trong việc giải quyết những vấn đề nan giải của cuộc sống .

    21.- Kỷ thuật luyện Tha Tâm Thông sơ cấp .

    22.- Xử dụng thuật xuất vía trong công việc sáng tạo và tạo hình .

    23.- Thuật xuất vía và ý thức bất tử của con người trong việc loại bỏ trạng thái sợ chết .

    24.- Xử dụng thuật xuất vía trong việc tích tụ năng lực và bồi bổ sinh khí lực cho cơ thể .

    25.- Xử dụng thuật xuất vía trong việc làm giảm những căng thẳng tinh thần trong cuộc sống .

    26.- Thuật xuất vía và sự an lạc tâm thân .

    27.- Kỷ thuật xuất vía du ngoạn mặt trời và mặt trăng .

    28.- Kết Luận .





    Từ ngữ liên quan đến Thuật Xuất Vía .



    THỂ VÍA – ASTRAL BODY : Là một thể được kết hợp bởi những hạt năng lượng có mức độ rung động nhanh , tương ứng với những rung động của những hạt năng lượng trên cỏi vía . Thể vía còn được gọi là Thể Ánh Sáng – Body of Light , Thể Tình Cảm – The Emotional Body , Thể Dục Vọng - The Desire Body , Thể Siêu Linh – The Psychic Body .....



    SỢI KIM QUANG TUYẾN – ASTRAL CORD – Còn gọi là Sợi Chỉ Bạc - THE SILVER CORD , bởi vì sợi dây nầy có màu xám bạc ; Sợi Kim Quang Tuyến nầy giống như cuốn rún năng lượng Sinh Khí Lực , dùng để nối liền thể vía với cơ thể xác thịt của con người , theo tư tưởng của Huyền Bí Học , là thể xác cần Sinh Lực khí – Prana để sinh tồn và Sinh lực khí nầy được tạo trên những cỏi cao siêu hình của những thể siêu hình của con người ; sau đó Sinh lực khí nầy được truyền trực tiếp xuống thể xác thông qua sợi Kim Quang Tuyến nầy , nếu sợi dây nầy đứt , thì thể xác sẽ chết , vì thiếu sinh lực khí .



    CỎI VÍA – ASTRAL PLAN : Là một cỏi của Tâm Thức đạt đến , mà những rung động của hạt phân tử ở cỏi giới nầy nhanh hơn cỏi vật chất và chậm hơn cỏi Trí và cỏi cao hơn .Cỏi nầy cũng có thể dùng sự tưởng tượng , tình cảm ,ký ức , cảnh tượng , hình ảnh , biểu tượng , và quyền năng tâm linh thuộc về cỏi nầy . Cỏi vía còn được xem là một cỏi chiếm phạm vi 90% tiềm thức –Subconscious mind - của con người .



    XUẤT VÍA – ASTRAL PROJECTION : Là khả năng có thể tạo một hình ảnh giống mình là Thể Ánh Sáng - Thể Vía - Astral Body hay tạo ra bất cứ hình dạng nào mà mình thích và có thể rời khỏi cơ thể của mình , đi đến bất cứ nơi nào mà mình thích , sau đó có thể thu thập tin tức và truyền đạt về cơ thể vật chất qua sợi dây liên lạc Kim Quang Tuyến .



    THIÊN NHỈ THÔNG – CLAIRAUDIENCE : Là người có khả năng nghe được những âm thanh và những tiếng nói từ một nơi khác , mà không cần dùng đến lổ tai vật chất xác thịt của con người .



    THIÊN NHẢN THÔNG – CLAIRVOYANCE : Là người có khả năng nhìn thấy được những cảnh vật cùng những vật thể khác , nằm ngoài phạm vi tiếp nhận của những giác quan thông tường của người thường .



    ĐỊNH TÂM – CONCENTRATION : Là một khả năng thông qua sự tập luyện Quán Tưởng , mà ta có thể giữ vững được trong trí ; bất cứ những việc gì ; đặc biệt là những cảnh tượng hay những hình ảnh sống động như thật ( còn gọi là Khí Hình và Khí Quang ), trong một thời gian nào mà ta muốn .



    HÌNH TƯ TƯỞNG – THOUGHT FORM : Là thông qua Thiền Định và Quán tưởng , ta có khả năng tạo ra bất cứ lúc nào , những cảnh vật và hình ảnh sống động như thật trong cỏi Trung giới – cỏi Vía và những cỏi cao hơn , được kết cấu từ Khí hình, Khí Quang và Khí Thanh âm , những hình tư tưởng nhân tạo nầy được các nhà Huyền Thuật xử dụng như những Âm Binh nhân tạo , và sai khiến những âm binh nầy thi hành công việc tùy theo mục đích của họ .

    TÂM THỨC – CONSCIOUSNESS : Là khả năng của một người , nhờ thông qua thể xác vật chất hoặc không nhờ thông qua thể xác vật chất của mình , cũng có thể thức gíác và theo dỏi được những hiện tượng, sinh hoạt của tư tưởng , đồ án , cảm xúc , cảnh tượng ..... ở những cỏi có những mức độ tầng số rung động khác nhau từ thấp đến cao.

    XUẤT VÍA 50% - FIFTY – FIFTY PROJECTION : Là chỉ xuất một phần tâm thức ra ngoài cơ thể vật chất của mình , đi đến nơi mình muốn và thức giác được những sự việc xảy ra ở nơi đó ; đồng thời lại thức giác được những sự việc xảy ra chung quanh cơ thể xác thịt của mình , tức là có khả năng nhận thức được các cảnh vật và sự việc xảy ra tại hai nơi , cũng như người ta vặn nút các băng tầng khác nhau của máy truyền hình TV vậy .

    CÁC CỎI GIỚI TÂM LINH – CÁC TẦNG TRỜI – HIERARCHY : Những cỏi giới siêu hình khác nhau , mà các thể xác , thể vía , thể phách , thể trí , thể bồ đề , thể kim thân , tiên thể , thức thần , nguyên thần , sinh hoạt thích ứng với từng loại cấu trúc tầng số rung động nguyên tử của nó .

    QUÁN TƯỞNG – IMAGINATION : Là khả năng có thể tưởng tượng và tạo ra bất cứ lúc nào và tùy ý , những khí hình hay những cảm xúc của mình ở các cỏi giới siêu linh hay ở các tầng trời khác nhau , tùy theo trình độ đắc đạ́o cao thấp của mình .

    TRỰC GIÁC – INTUITION : Là khả năng nhận biết được một kiến thức , một sự việc , hay một cảnh vật , một cách tức thì , mà không cần thông qua sự lý giải và lý luận , phân tích của cái trí .

    THỂ TRÍ – MENTAL PLAN : Là một trạng thái tâm thức , được hiểu nôm na là Ý Thức , được con người trên quả địa cầu này xử dụng trong thời đại hiện nay , ở cỏi giới vật chất , và ở cỏi trí , nó bao gồm chữ viết , ngôn ngữ , óc phân tích , phê bình , lý luận ... Đây là trạng thái tâm thức có thể thức giác được sự trôi qua của thời gian .

    CỎI TRÍ – MENTAL PLAN : Là một nơi trong cỏi siêu hình , có tầng số rung động nhanh hơn cỏi vía và thấp hơn cỏi linh hồn , nguyên thần , bản lai diện mục .

    XUẤT THỨC THẦN – MENTAL PROJECTION : Là khả năng có thể xuất ý thức , hay còn gọi là thức thần ra khỏi thể xác .

    TINH THẦN – MIND : Được xem như là căn bản của tất cả những thức gíác và hiện hữu của con người ở các cảnh giới thích ứng khác nhau .

    THẦN BÍ – OCCULT – Xuất phát từ chữ Latin “ Occultas “ có nghĩa là ẩn tàng , huyền bí . Là nằm trên và vượt khỏi phạm vi giới hạn của những kiến thức thông thường của thế nhân , nằm ngoài những qui luật thông thường của tự nhiên giới .

    SINH LỰC KHÍ – PRANA : Là năng lực hay Sinh lực căn bản , đả tạo ra và duy trì tất cả sự sống nằm trong vũ trụ vật lý . được thể hiện qua sự chuyển động, sức hút của trái đất , từ trường , ý niệm lực , sự hành động của thể xác , khí hình , khí quang.....

    ĐIỀU KHÍ – PRANAYAMA : Là một phương pháp kiểm soát, phân phát và tích tụ sinh lực khí , được thể hiện qua qua một quá trình hít thở : hít vào – puraka , ngưng thở hoặc thở sâu hơn nửa – kumbhaka , thở ra – rechaka ; hoặc có thể phối hợp tập chung với chú niệm , trì chú – mantra hay trung tâm lực - chakra , thuộc hệ thống Yoga Ấn độ hay Mật Tông Tây Tạng , Kabalah Tây Phương ... ; Khác với sự điều khí , điều tức của Đạo Gia Trung Hoa , thông qua Tiểu Châu Thiên và Đại Châu Thiên ; nhưng cả hai phương pháp đều đem lại một kết quả và một hiệu ứng tương tự, tùy theo mục đ́ich mà người xử dụng mong muốn đạt được.

    NGŨ HÀNH – TATTWAS : Là năm nguyên tố hay năm thành phần liên quan đến vũ trụ vật lý ; Đó là Tinh Thần – Tiên Thiên Khí - Không Đại - AKASHA , Lửa – Hỏa Đại - TEJAS , Nước – Thủy Đại - APAS , Không khí – Khí Đại - VAYU , Đất – Địa Đại - PRITHIVI . Năm hành nầy có biểu tượng màu sắc hình kỷ hà như sau : Hình bầu dục màu đen như quả trứng, tượng trưng cho Tinh Thần – Không Đại ; Hình tam giác đều màu đỏ , tượng trưng cho Lửa – Hỏa Đại ; Hình mặt trăng lưởi liềm màu bạc , tượng trưng cho Nước – Thủy Đại ; Hình tròn màu xanh dương , hay màu xanh da trời , tượng trưng cho Không Khí – Khí Đại ; Hình vuông màu vàng , tượng trưng cho Đất – Địa Đại . Ngũ hành vừa kể , được xử dụng trong Thuật Xuất Vía , để luyện tập và hoàn thiện khả năng quán tưởng , thiền định , nâng cao trình độ định lực và khả năng thông tin, truyền đạt những xung động của tâm linh và là nhu cầu căn bản , cần trải qua trong quá trình , tiến đến việc phát triển những tiềm năng tâm linh , còn ẩn tàng trong cơ thể con người .

    THẦN GIAO CÁCH CẢM – TELEPATHY : Còn được gọi là Ngoại Cảm . Là khả năng biết được và thông tin hai chiều , hay một chiều , về những tình cảm , ý nghỉ của người khác , thông qua việc xuất Thần – Mental projection , hay xuất Vía – Astral projection.

    CHUYỂN DI THẦN THỨC – TRANSFERENCE OF CONSCIOUSNESS : Là khả năng có thể chuyển di Thần Thức của mình , nhập vào một cơ thể , của một người khác hay một vật , một sinh vật nào đó , ở một nơi cách xa với thể xác của mình ; rồi từ vị trí đó , ta có thể cảm nhận và kinh nghiệm , được tất cả những diển biến và cảnh vật xảy ra chung quanh , một cách trung thực , mặc dù thể xác thật của ta không có mặt ở nơi đó.

  • virusbro

    khoảng 1 10 năm trước
  • 1.- NHỮNG CỎI GIỚI CỦA TÂM LINH :
    Khoa học đã chứng minh cho chúng ta biết rằng , những giác quan của con người chỉ có thể cảm nhận được một phần nào, của tất cả những năng lượng đang tồn tại trong vũ trụ . Thí dụ như , tai của con người không có thể nghe được tiếng còi tu huýt đặc biệt dùng để huấn luyện loài chó , hoặc tiếng kêu ré lên của loài dơi . Mắt của con người không thể thấy được hồng ngoại tuyến ( infra-red ), hoặc tia tử ngoại ( ultra violet light ).....
    Kiến thức của khoa học chỉ căn cứ và được xây dựng xuyên qua những cảm nhận và thấy được của ngũ quan con người , và chỉ những vật nào có trọng lượng , khối lượng , thuộc về vật chất , có độ dài sóng thấy được , dù bằng ngũ quan hay nối dài qua dụng cụ khoa học ; thì được khoa học công nhận là thực có và đáng được các nhà khoa học qui ước cho là đáng nghiên cứu .
    Vì lý do nầy , khoa học chỉ quan tâm đến những phần thấy được của thân thể vật chất ; mặc dù sự cấu tạo nên con người không chỉ là những phần bề ngoài thấy được của vật chất ; Do đó, khoa học không chỉ bỏ qua, những gì vượt khỏi phạm vi vật chất của thể xác , mà khoa học còn nổ lực phê bình , lên án , cản trở , bác bỏ , và tránh né những ai tìm tòi , đi sâu vào và khám phá thế giới siêu vật lý của con người .
    A.- CÁI NHÌN CỦA HUYỀN BÍ HỌC VỀ CON NGƯỜI :
    Huyền bí học đã từng cho ta biết , chúng ta tồn tại qua bốn cỏi tâm linh , và năng lượng ở mổi cỏi nầy được hình thành bởi vô số những cỏi nhỏ hơn . Sự khác nhau và chiều đo ở mổi cỏi tâm linh nầy , được phân biệt qua tốc độ tầng số rung động nhanh hay chậm của những hạt nguyên tử ở những cỏi nầy . Giống như màu sắc và những note của âm nhạc , sự khác biệt của chúng cũng do độ dài sóng và sự rung động của mổi màu và mổi note nhạc khác nhau . Do đó , cỏi nào được cấu tạo bởi những năng lượng có tần số rung động cao , thì thanh nhẹ và siêu linh hơn , còn những cỏi nào được cấu tạo bởi những năng lượng có tần số rung động chậm thì thô kệt và vật chất hơn . Nên cỏi giới vật chất mà con người đang cư ngụ , là cỏi giới có tần số rung động chậm nhất trong bốn cỏi tâm linh .
    Bốn cỏi tâm linh :
    - Cỏi giới của nguyên thần ( Soul plane ) :
    Là một cỏi có tầng số rung động nhanh nhất và là nguồn năng lượng cho ba cỏi kia , là tinh hoa của con người , đại diện cho tất cả ý thức vũ trụ . Cỏi nầy được cổ đức diển đạt như : ĐÓ LÀ NHỮNG GÌ HIỆN HỮU , NHƯNG CHƯA HIỆN HỮU ( That which exists, yet exists not ). Cỏi nầy nằm trên lảnh vực của thời gian ( cỏi trí – Mental plane ), Không gian - hình dạng (cỏi vía – Astral plane )và vật chất ( cỏi vật chất – Physical plane ) ; Cỏi giới của Nguyên Thần không thể hiểu được , qua sự lý giải và cảm thức của những cỏi có tầng số rung động chậm chạp , thô kệch và đậm đặc hơn, như thể xác , thể vía , thể phách , thể trí , mà nó chỉ có thể được kinh nghiệm một cách mơ hồ mà thôi .
    - Cỏi Trí ( Mental plane ) :
    Cỏi nầy chiếm 1/10 lý tính của tư duy , xuyên qua đó , nó xử dụng khả năng thông minh và lý luận của con người để tiến hành phân tích sự hiện tồn của thực tại . Thông tin của cỏi nầy thường xử dụng như ngôn ngữ , chữ viết , văn từ , phân tích , phán quyết , lý luận .... Cỏi trí có tầng số rung động nhanh hơn cỏi vía và cỏi vật chất , nhưng lại chậm hơn cỏi nguyên thần ( Soul Plane ) vì nó bị chi phối bởi định luật của thời gian ( The law of time ); cỏi trí không giống như cỏi nguyên thần , là cỏi hợp nhất của sự tồn tại , còn cỏi trí thì phân chia sự tồn tại qua ý thức tuần tự của dòng thời gian trôi chảy một chiều ( Quá khứ - hiện tại - tương lai ) , tuy nhiên bất kể sự giới hạn của thời gian , tiến trình của tư duy được tiến hành với một tốc độ nhanh kinh khủng , để chứng minh điều nầy , ta thử làm thí nghiệm sau đây :
    Với một thái độ độc lập của một người quan sát viên đối với trạng thái sinh hoạt tư duy ; Ta ngồi im lặng , mắt nhắm lại , đừng can dự hay xử dụng một lực nào của thể trí , để xen vào dòng trôi chảy của tư tưởng đang trôi qua trong tâm của mình , cũng như đừng dính mắt hay chạy theo những tư tưởng nào đang xảy ra . Hảy giữ mình ở một trạng thái thức giác và cởi mở , độc lập ; trong thời gian khoảng 5 phút , ta sẻ thấy những dòng tư tưởng khác nhau được sanh ra , hiện ra , rất nhanh trong tâm ta và cũng như biến mất đi , trôi qua , rất nhanh trong tâm ta . Đó là sự biểu hiện tầng số rung động nhanh ở cỏi trí. Khi làm thí nghiệm nầy , ta có thể thấy được vài cảnh hay hình ảnh hiện ra trong tâm , nhưnh hầu hết những phần còn lại đều là những dòng tư tưởng khác nhau liên tục trôi qua mà thôi .

    - Cỏi Vía ( Astral plane ) , còn gọi là cỏi ánh sáng , Thể tinh tú :
    Là cỏi tri giác chiếm 9/10 tiềm thức ( mạt na thức – subconscious mind ) của con người , cỏi nầy có sự liên hệ đến tình cảm , tưởng tượng , hình dung , quán tưởng ,năng lực siêu linh ... Nói chung tất cả những hình ảnh , đồ hình , ánh sáng màu sắc , cảnh vật siêu hình ..đều là những thành phần của cỏi nầy . Cỏi nầy có tầng số rung động chậm hơn cỏi trí và cỏi nguyên thần ,vì chịu ảnh hưởng của luật không gian - hình thể ( The law of Form ) chi phối , những cảm nhận ở cỏi nầy được bao bọc bởi những biểu tượng của hình ảnh , mà con người cần phải có chìa khóa để giải mả số thông tin , được ẩn tàng qua những hình ảnh nầy , mà những biểu tượng hình ảnh nầy đôi khi được xem như là VÔ TỰ CHÂN KINH , mà những bậc đắc đạo có thể dùng thần nhản mà đọc hiểu và thấy được vậy . Cỏi nầy giúp cho những dục vọng của tình cảm , ý đồ và định lực được thành tựu , cho đến có thể biến thành hiện thực trong cỏi vật chất nửa .

    - Cỏi Vật chất ( Physical plane ) :
    Đây là vũ trụ của thế giới vật chất , được tạo thành , do sự làm việc chung của ý thức và tiềm thức , vũ trụ nầy thể hiện ra , nhờ vào những tư tưởng của cỏi trí và những hình ảnh của cỏi vía cung cấp . Bốn tinh linh , tứ đại , ở cỏi vật chất là Lửa ( Hỏa Đại – Salamanders thuộc Thần Seraph ) ; Nước ( Thủy Đại – Undines thuộc Thần Tharsis ) ; Gió ( Phong Đại – Sylphs thuộc Thần Cherub ) ; Đất ( Địa Đại - Gnomes thuộc Thần Ariel ) ; Đã hợp thành một khối vật liệu phàm trần , để chuyển hóa và bao bọc lấy những tư tưởng của cỏi trí và những hình ảnh của cỏi vía trong giới siêu hình , để biến chuyển hình thành vật chất và hiển hiện ra ngoài ở thế giới vật chất trần gian .
    Tất cả những tạo vật ở cỏi giới vật chất , và tất cả những thụ nhận của ngũ quan ( Thấy , nếm , đụng chạm - cảm xúc , nghe , ngưởi ), đều bị sự kiểm soát, ảnh hưởng và chịu sự chi phối của định luật thời gian và định luật không gian , hình thể ; Nói một cách khác , những hiện thực của thế giới vật chất , chỉ có thể nhận biết được qua hình thể của chúng trong thời gian liên tục mà thôi . Thí dụ : Một hột giống soài , không thể nào đột nhiên biến thành cây soài ngay được , mà nó cần trải qua nhiều năm ( Luật của thời gian ) để hình thành ( Luật hình thể trong không gian ) một cây soài . Như vậy có một sự thống nhất và đồng điệu giửa thời gian và hình thể trong không gian ; Thời gian được nhận thấy , được nhận biết xuyên qua sự thay đổi hình dáng khác nhau của vật thể trong không gian , và những sự thay đổi hình dáng khác nhau của vật thể trong không gian , được nhận thấy xuyên qua thời gian .

    TINH LINH TỨ ĐẠI – CÁC CỎI
    VÀ
    NHỮNG LUẬT CỦA THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN - HÌNH THỂ

    Thể xác của con người là một biểu hiện hùng hồn cho sự tác động của những luật thời gian , không gian và tứ đại .
    Thể xác đã trải qua năm tháng và trưởng thành , xuyên qua những cơ thể khác nhau của từng lứa tuổi tương ứng : thai nhi , trẻ sơ sinh , trẻ em , thiếu niên , thanh niên , trung niên , lảo niên .....Trong quá trình trưởng thành nầy, còn có sự tác động và duy trì của tứ đại như : Lửa : liên quan đến nhiệt độ và sức ấm của cơ thể . Nước : liên quan đến các chất lỏng trong cơ thể như máu , các chất nước bài tiết của các cơ quan nội ngoại cơ thể . Không khí, gió : liên quan đến những hơi gas trong cơ thể như carbon dioxide – thán khí , oxygen – dưởng khí .....Đất : liên quan sự cấu trúc vật chất của cơ thể như xương , nội tạng , bắp thịt và da .....
    Để thấy được sự làm việc của các cỏi nầy , ta lấy một thí dụ : Một người bị ngứa lổ mủi, đầu tiên người đó suy nghỉ cần phải ngoái lổ mủi để giải tỏa sự ngứa ngáy trong lổ mủi , việc nầy được xảy ra trên cỏi trí ; tức khắc sau đó là hình ảnh một cái tay đưa lên để ngoái lổ mủi , việc nầy xảy ra ở cỏi vía ; cuối cùng là cánh tay phải đưa lên để ngoái lổ mủi , việc nầy xảy ra trong cỏi vật chất .
    Ta đã thấy rằng , những tồn tại và hiện hữu của những cỏi nầy đều quan trọng và cần thiết ngang nhau ;Nếu , ta thích ở mải một cỏi nầy , hơn cỏi kia , thì ta sẽ bị mất thăng bằng và sẽ bị đưa đến sự nguy hại .
    Thí dụ : Nếu người nào quá quá cường độ sinh hoạt ở mải cỏi nguyên thần , thì năng lượng tăng cường trong cỏi nầy được tăng cao , người đó sẽ quá thiên về tâm linh , thì sự tồn tại của thể xác ở cỏi vật chất sẻ gặp trở ngại , và người đó sẽ trốn tránh những sinh hoạt và bổn phận của mình trần thế và cảm thấy mình không thích hợp với sinh hoạt ở cỏi vật chất nửa . Như vậy , nếu quá phát triển tâm linh , thì linh hồn sẽ từ bỏ thể xác sẽ ốm yếu ,bệnh tật ...và ngược lại .
    Nếu quá cường độ sinh hoạt ở cỏi trí , thì người đó sẽ quá mưu mô , cơ trí , và có thể bị đưa đến mất óc sáng tạo , mất lý tưởng và nhân ái trong cuộc sống .
    Nếu quá cường độ sinh hoạt ở cỏi vía , thì tình cảm sẽ bị yếu đuối , ủy mị và sẽ đưa đến sự rối loạn về tình cảm cùng tinh thần .
    Nếu quá cường độ sinh hoạt ở cỏi vật chất , thì sẽ bị đưa đến việc phủ nhận , sự hiện tồn của các cỏi sinh hoạt tâm linh .Trạng thái mất thăng bằng nầy , hiện nay , được đa số con người trong xả hội đang theo , để cầu mong tìm được những niềm vui và tiện ích của thế giới ở cỏi vật chất nầy . Kết quả của những niềm vui nầy , đã được công nhận là tạm thời và thoáng qua mà thôi .

    2.- SỰ QUÁN TƯỞNG :
    Trong thế giới tây phương , thường xử dụng khả năng tinh thần để phân tích , lý luận rất nhiều trong cuộc sống , nhiều hơn việc xử dụng đầu óc trong việc tưởng tượng , tạo hình và nghệ thuật . Đầu óc lý luận và phân tích chỉ xử dụng được 1/10 năng lực của thể trí , và nó thiếu sự sáng tạo ; còn đầu óc tưởng tượng , có thể xử dụng được 9/10 năng lượng của tâm trí , nó còn khả năng khai mở được những tiềm năng tâm linh còn ẩn tàng trong cơ thể của con người , và những quyền năng tâm linh chỉ được khai mở xuyên qua việc xử dụng khả năng tưởng tượng , quán tưởng và thiền định trên cỏi vía mà thôi .
    Khi nào con người gặp khó khăn , trở ngại , bế tắc trong cuộc sống hay công việc , vì sự quen dùng khả năng phân tích và lý luận của lý trí , thì đột nhiên một tia sáng , một sáng kiến , trực giác , sáng tạo , được lóe lên từ cỏi vía , đã cung cấp và giúp cho lý trí có được một phương pháp , một lối thoát tốt đẹp , để giải quyết cho những vấn đề nan giải . Việc nầy thường xảy ra cho mọi người.
    Quán tưởng , khả năng tưởng tượng, tạo hình và định lực , là một chìa khóa cần thiết cho việc học thuật xuất vía . Rất khó mà giải thích những việc nầy , khi ta muốn định nghĩa một vật gì , mà ta lại không biết hình thù của vật đó ra sao và nó từ đâu đến .
    Tốc độ rung động của những vật trên cỏi vía , có một tầng số rung động rất cao , và sự quán tưởng , tưởng tượng và tạo hình trên cỏi nầy , đòi hỏi một tầng số rung động thanh cao , và vượt khỏi khả năng cảm nhận của xác thịt hồng trần ; do đó nó trở nên vô hình , đối với những ai quen sống , với nếp sống hiện thực của trần gian .
    Tuy nhiên , quán tưởng , khả năng tưởng tượng , tạo hình và định lực , là một năng lực trọng yếu cơ bản của con người ; những tài năng , năng khiếu và sức mạnh đều được xuất phát từ đó. Với sự chú ý kiểm soát và chuyên tâm phát triển khả năng quán tưởng , tưởng tượng , tạo hình và định lực ; con người có thể mở được cánh cửa của tiềm thức ( cỏi vía ) và khai phóng được tất cả những tiềm năng sáng tạo còn tiềm ẩn của con người .
    Để tiện cho việc học cách xuất vía , ta tạm định nghỉa cụm từ ” quán tưởng , khả năng tưởng tượng , tạo hình và định lực “ như sau :
    Là một khả năng có thể biểu đạt và nhận thấy được tức thời , một cách rỏ ràng những hình ảnh và cảnh vật , mà những hình ảnh và cảnh vật nầy , không được nhận thấy bởi ngũ quan bình thường của con người .
    Hảy làm một thí nghiệm để minh chứng cho định nghĩa trên :
    Đầu tiên , ta để một tay ta đặt lên mặt bàn , lòng bàn tay úp xuống mặt bàn , xong ta nhắm mắt lại , và ta nghỉ trong tâm ta “ tay của dở cao khỏi mặt bàn “ và ta chú ý đến kết quả đó .
    Kế đến , ta liên tục di chuyển tay ta lên xuống liên tục trên mặt bàn , và mắt vẩn còn nhắm lại , và ta chú ý đến những gì xảy ra trong tâm ta .
    Trong trường hợp đầu , bàn tay của ta không di chuyển và dở lên khỏi mặt bàn , mặc dù mệnh lệnh dở tay lên đã được nghỉ ra từ 1/10 tâm trí của ta ; như vậy dòng tư tưởng dở tay lên đã trôi qua trong tâm trí như những tư tưởng bình thường khác , và tay ta vẫn nằm yên ở đó , vì đó là sự suy nghỉ của cái trí , không ảnh hưởng gì đến cơ thể vật chất .
    Trong trường hợp thứ nhì , khi tay ta di chuyển lên xuống liên tục trên mặt bàn , và mắt vẩn nhắm lại , thì ta sẽ thấy một hình ảnh bàn tay đưa lên xuống liên tục , đã được tạo lập ra ngay tức thì , xuất hiện trên cỏi vía của ta , chiếm 9/10 khả năng tinh thần của ta .
    Do đó , mổi cử động của cơ thể ta , dù đơn giản hay phức tạp , đều kèm theo một ảnh tượng, được tạo ra từ cỏi vía thích hợp với cử động đó ; nên chỉ nghỉ đến một cử động trong trí ta thì không đủ , vì khi nghỉ đến , là chỉ tạo lập trên cỏi trí một dòng tư tưởng chạy theo một đường thẳng , vì nó bị ảnh hưởng của thời gian , như một chiếc xe hơi chạy vụt ngang qua đường rồi biến mất . Còn những ảnh tượng xuất hiện trên cỏi vía , lúc đầu những ảnh tượng nầy di chuyển rất nhanh , hầu như chúng không thể nhận thấy được ; Nhưng với sự chuyên tâm thực tập và liên tục hồi quang phản chiếu , nội quán ( tức nhắm mắt lại và tập tưởng tượng ) thì mổi ngày , nhờ thực tập mà định lực và khả năng quán tưởng được nâng cao , thì những cảnh tượng và những hình ảnh được tạo lập hay xuất hiện lên trên cỏi vía , sẻ được hiện ra trong một thời gian lâu mau tùy ý và hiện ra cách rỏ ràng và sáng tỏ .
    Tóm lại , quán tưởng , khả năng tưởng tượng , tạo hình và định lực là một quyền năng , một sức mạnh .
    Một trở ngại lúc đầu cho mọi người , thường cho rằng , việc xuất vía , là một việc không có thật , vì nó chỉ là một tưởng tượng , như một giấc mơ mà thôi ; nói một cách khác , họ khai trừ , không tin tưởng , và cho những kinh nghiệm và hình ảnh thấy được trên cỏi vía là ảo tưởng và ảo giác mà thôi .
    Xuyên qua những thí nghiệm và thực hành liên tục về thuật xuất vía , nhờ củng cố , tăng cường và nâng cao khả năng quán tưởng , khả năng tưởng tượng , tạo hình và định lực trên cỏi vía , khi thành công ; Ta sẽ thấy tầm quan trọng của nó trong cuộc sống hằng ngày của ta và nó sẽ giúp ích cho ta rất nhiều trong mọi lảnh vực .

    TẤT CẢ NHỮNG VẬT DO CON NGƯỜI TẠO RA ,
    ĐỀU ĐƯỢC TẠO DỰNG TRƯỚC TIÊN TRÊN CỎI VÍA ( TIỀM THỨC )

    ( Còn tiếp )

  • virusbro

    khoảng 1 10 năm trước
  • 3.- Bài tập phát triển khả năng Quán Tưởng và Định Lực .


    Trong phần 2 đã nói về việc quan trọng và cần thiết của sự quán tưởng để khai mở khả năng sáng tạo và tiềm năng của con người . Trong chương nầy chúng ta sẽ nói về những kỷ thuật để phát triển và cải thiện khả năng quán tưởng và cách định tâm.
    Sự tưởng tượng một hình ảnh trong tâm , không đủ định lực để thực hành việc xuất vía ; mà chúng ta cần phải có một khả năng, để duy trì hình ảnh trong tâm , trong một khoảng thời gian nào đó .
    Để biết định lực của mình yếu hay mạnh , thử làm một thí nghiệm như sau : Hảy nắm mắt lại , tưởng tượng trong tâm , hình một tam giác đều , màu đỏ , với độ lớn nhỏ tùy ý ; khi đã tưởng tượng ra hình tam giác đỏ nầy rồi , ta thử ráng giử hình ảnh nầy trong tâm được càng lâu , càng tốt , khoảng 10 phút .
    Sau 10 phút tưởng tượng , ta sẽ thấy rằng , rất khó khăn , mà giử được hình ảnh nầy trong tâm , nếu không phát triển khả năng chuyên tâm ,chú ý và định tâm vào hình ảnh nầy . Trong lúc , ta làm thí nghiệm trên , ta đã thấy hình tam giác nầy , luôn thay đổi màu sắc , kích thước và vị trí khác nhau trong tâm ta ; và có khi hình tam giác nầy lại biến mất đi khi ta lơ đểnh . Việc trên đã cho ta thấy rằng việc phát triển định lực trong lúc tưởng tượng là quan trọng đến chừng nào .
    Để phát triển và nâng cao định lực của ta , ta có 5 biểu tượng sau đây , để hổ trợ cho ta trong việc tập luyện :
    a.- Hình tam giác đều màu đỏ .
    b.- Hình tròn màu xanh dương.
    c.- Hình bầu dục quả trứng màu đen.
    d.- Hình vuông màu vàng .
    e.- Hình trăng lưởi liềm màu trắng hay màu bạc .
    Sự tổ hợp của 5 hình nầy trong huyền bí học được biết dưới tên là biểu tượng TATTWA . Thật ra, đây là cửa vào quyền năng để ảnh hưởng đến năm tinh linh ngũ hành KHÔNG – HỎA – THỦY – PHONG – ĐỊA .
    Sự liên hệ của ngũ hành như sau :

    a’.- KHÔNG ( NĂNG LƯỢNG ) : Được biểu tượng bằng hình quả trứng màu đen , được gọi là TIÊN THIÊN KHÍ – AKASA TATTWA . Không đại nầy tương ứng với hào quang , nhân điện bao phủ chung quanh con người .
    b’.- HỎA ( SỨC NÓNG – ÁNH SÁNG ) : ) Được biểu tượng bằng hình tam giác đều màu đỏ , được gọi là TEJAS TATTWA . Tương ứng với sức nóng của cơ thể .
    c’.- THỦY ( CHẤT LỎNG – SỰ LẠNH LẼO – ẨM THẤP ) : Được biểu tượng bằng hình mặt trăng lưởi liềm màu trắng hay màu bạc , được gọi là APAS TATTWA . Tương ứng với máu trong cơ thể .
    d’.- PHONG ( HƠI GAS ) : Được biểu tượng bằng hình tròn màu xanh dương , được gọi là VAYU TATTWA . Tương ứng với những luồng khí , hơi gas trong cơ thể .
    e’.- ĐỊA ( VẬT CHẤT – CHẤT RẮN CHẮC ) : Được biểu tượng bằng hình vuông màu vàng , được gọi là PRITHIVI TATTWA . Tương ứng với cơ thể vật chất của con người .

    Mổi TATTWA là một công cụ huyền học , khi được xử dụng một cách tương tứng , sẽ cho ta kiểm soát được sức mạnh của những tinh linh nầy . Vì cơ thể của ta được cấu tạo bởi những tinh linh nầy , do đó, sự thông hiểu về những tinh linh nầy sẽ cho ta hiểu nhiều hơn nửa về con người của chúng ta .
    Nhưng ở đây , ta không xử dụng những năng lực của chúng , mà chúng ta chỉ xử dụng những hình kỷ hà và màu sắc của chúng mà thôi , vì chúng là những nhân tố cần thiết để làm kích thích , khai phóng 9/10 năng lực của tâm nảo và giúp cho ta phát triển khả năng quán tưởng và định lực của chúng ta.

    CÁCH THỰC TẬP
    QUÁN TƯỞNG VÀ ĐỊNH TRÍ .

    Tìm một nơi yên lặng , chọn lấy một trong năm hình biểu tượng TATTWA được làm bằng giấy cứng màu dán trên nền trắng , để dựng trên bàn, trước ngang tầm mắt của mình ; xong mở mắt nhìn hình một hồi , và nhắm mắt lại , xong cố lập lại và nhớ hình đó trong tâm ( màn hình tâm linh – tâm nhản ) trong thời gian độ 10 phút . Ta có thể thay đổi những TATTWA khác nhau để thực tập , hầu cho tâm ta đừng thói quen đối với một hình ; Do sự thực hành nầy , tâm của ta có thể tưởng tượng , tạo lập và định tâm được ở bất cứ TATTWA nào mà ta muốn .
    Trong thời gian đầu , ta sẽ thấy mơ hồ hoặc mê hoặc , hoặc ta thấy sẽ dể dàng định tâm được lâu với một TATTWA nào đó , còn các TATTWA khác thì khó nhớ lại hơn ; nhưng sau một thời gian chuyên tâm luyện tập , ta lại thấy những lần tập sau , không dể dàng tưởng tượng và định tâm như lúc tập đầu , khiến cho ta có cảm giác định lực bị yếu đi ; nhưng thực ra , định lực quán tưởng đã có tiến bộ rồi đấy , vì những lần thực tập đầu tiên , tâm ta chưa có khả năng nhận biết , thức giác được rỏ ràng những lơ là , lơ đểnh của tâm trí , nếu có thì chỉ nhận biết được một hai lần mà thôi . nhưng càng về sau định lực của ta đã tiến bộ , ta sẽ nhận thức được toàn diện những tâm lơ đểnh quấy nhiểu nầy nhiều hơn , và sẽ biết rỏ ràng cái tâm của mình đã lơ là xao động bao nhiêu lần ; như vậy khả năng quán tưởng , định lực và mức độ thức giác của mình trên cỏi vía đã tăng cao .
    Sau một thời gian dài thực tập , một vài hiện tượng khác sẽ xảy ra như : Ta sẽ thấy có nhiều hình ảnh quang học khác nhau xuất hiện , như khi ta tưởng tượng ( visualizing ) hình tam giác đỏ với cặp mắt mở ra , ta sẽ thấy hình nầy sẽ xuất hiện ngay trước mắt ta , cách trán của ta khoảng cách từ 8 đến 30 cm ( 3 – 12 inches ) , hoặc sẽ xuất hiện bên trong đầu ta cách trán trở vô khoảng gần 1 cm ( vẩn với cặp mắt mở ra ) , còn nếu ta nhắm mắt lại và vẩn tưởng tượng lại hình tam giác đỏ nầy , ta sẽ thấy nó sẽ xuất hiện gần như nằm ở giửa đầu bên trong của chúng ta .
    Sự giải thích hiện tượng xuất hiện khác biệt giữa vị trí khác nhau của hình nầy rất phức tạp , ta hảy tạm gọi đây là “ sự phản xạ quang học “. Khi mắt ta nhắm lại , thì là thuộc tầng số chấn động Alpha từ 8 – 13 lần trong một giây . khi ta mở mắt ra thì tầng số chấn động nầy biến mất . Việc nầy đã chứng minh cho chúng ta thấy , khi chúng ta mắm mắt lại , thì có những sự thay đổi khác lạ xảy ra trong tâm thức , tức là khi ta nhắm mắt lại , thì năng lực của mắt ( prana ) thay vì được phóng ra ngoài , thì được chuyển hướng vào trong và chạy khắp nẻo trong cơ thể và đặc biệt là ở nảo bộ và đầu của ta , vì thế mà hình ảnh hiện ra sẽ thay đổi , do ta nhắm hoặc mở mắt trong lúc tập quán tưởng các hình TATTWA .
    Chúng ta chỉ tập những bài tập nầy khi nào tinh thần ta sung mản và khoẽ mạnh , đừng tập lúc ta mệt mỏi hay buồn ngũ . Cố gắng tập luyện mổi ngày ít nhất là một lần , mổi lần khoảng 10 phút .

    Còn tiếp ....

  • virusbro

    khoảng 1 10 năm trước
  • 4.- Sự phát sinh

    và

    tích trử năng lượng Sinh Lực Khí .



    Theo bản chất , thì ý thức ( consciousness ) là một loại năng lượng có mang theo tín hiệu mả số , mà ta có thể nhận thấy được qua các biểu đồ của các máy đo sinh vật hồi ứng ( Bio-feedback – EEG – EKG ) .

    Có một định luật quan trọng cần ghi nhớ là : Sự gia tăng cảm thức ( awareness ) và ý thức ( consciousness ) thì cũng cần phải gia tăng thêm năng lượngvà ngược lại ; Sự gia tăng năng lượng thì cũng cần phải cần gia tăng cảm thức và ý thức.

    Như ta biết , sự xử dụng trạng thái ý thức trong lúc xuất vía , thì ở một tầng số rung động cao hơn trạng thái ý thức trong lúc sinh hoạt bình thường . Có bốn trạng thái và bốn tầng số rung động của ý thức , đo được từ máy sinh vật hồi ứng ( bio-feedback ) như sau : Trạng thái trong lúc thức ( Beta level ) có làn sống nảo từ 14 – 27 lần /giây, – Trạng thái trong lúc xuất vía – nhập định ( Alpha level ) có làn sống nảo từ 8 – 14 lần /giây – Trạng thái trong lúc ngũ ( Theta level ) có làn sống nảo từ 4 - 8 lần /giây – Trạng thái trong lúc ngũ mê ( Delta level ) có làn sống nảo từ 0 – 4 lần / giây .

    Vì lý do nêu trên , ta cần phải tập luyện , phương cách điều khiển hơi thở sau đây , để gia tăng năng lượng dùng trong lúc xuất vía .

    Đầu tiên , hảy ngồi trong một tư thế , mà ta cảm thấy thoải mái và thích hợp cho ta nhất , trong khoãng nữa tiếng đồng hồ , điều quan trọng là ta phải ngồi làm sao , mà xương sống và lưng được thẳng đứng , nếu ai có tập qua ( Yoga - Du già ) và Thiền định , thì có thể ngồi thế hoa sen , bán già hay kiết già ; nếu không , thì có thể ngồi thoải mái trên ghế và giữ lưng cho thẳng , không nên tập thở trong lúc nằm .

    Sau khi đã chọn được thế ngồi thích hợp , hảy nhắm mắt lại , hảy hít vào bằng mủi , một cách chậm chậm và nhẹ nhàng với một hơi thở , được cân bằng , chia đều theo số đếm từ 1 – 4 trong đầu , sau đó hảy giữ lại hơi thở đó và đếm từ 1 – 6 , tiếp theo thở ra bằng mủi và đếm từ 1 – 4 ; sau đó nín thở ngưng và đếm từ 1 – 6 , trước khi tiếp tục lập lại , thở lại chu kỳ thở hít vừa qua . Tức là H4 - G6 - T4 - N6 - H4 ......

    Chu kỳ thở hít

    được tóm tắt như sau :

    - Hít vào đếm 4 nhịp.

    - Giữ hơi thở đếm 6 nhịp .

    - Thở ra đếm 4 nhịp .

    - Ngưng thở đếm 6 nhịp

    - Lập lại chu kỳ Hít thở trên .



    Đây là chu kỳ và nhịp thở , còn gọi là cách hít thở năng lượng ( Pranayama ) , trung bình tập trong vòng nữa tiếng đồng hồ .

    Cách đếm hơi thở , nhanh hay chậm là tùy theo cơ thể và tùy theo khả năng của bạn , điều quan trọng là phải thở hít một cách thoải mái và điều hòa theo nhịp đếm , không gắp rút và không được căng thẳng .

    Khi ta đã quen với một nhịp hít thở nào rồi , thì ta hảy giữ lấy nhịp hít thở ấy với ta ; đừng nên đếm và thở hít , lúc chậm , lúc nhanh với những nhịp và độ đếm khác nhau ; điều quan trọng là hảy thở hít cho điều hòa và trôi chảy , thoải mái .

    Trong lúc thở hít với bài tập như trên , ta sẽ cảm thấy và có những hiện tượng như sau xảy ra :

    - Ra mồ hôi ở hai tay .

    - Có cảm giác tê tê và giựt giựt ở huyệt lao cung ở khoãng giữa lòng bàn tay .

    - Có cảm giác kỳ lạ , nhột nhột , giựt giựt , co bóp nhẹ hay có một lớp sáp mỏng dính ở dưới bụng , giống như cảm giác có được trong lúc căng thẳng thần kinh , cuồng nhiệt hoặc lo sầu ; hoặc cảm giác có một làn sóng rung động tê rần , tỏa lan khắp thân thể .

    - Cảm thấy cơ thể tự nhiên nhẹ nhỏm lên và mất thể trọng .

    - Cảm thấy nóng .

    - Cảm thấy như bị kim châm .

    - Cảm thấy cơ thể thoải mái , sảng khoái và tràn đầy sinh lực .



    Tất cả những cảm nhận trên , là năng lượng của vũ trụ đã được hút nạp vào cơ thể , do cách thở hít theo nhịp chu kỳ điều hòa , cuả bài tập trên mang lại ; một khi năng lượng nầy đã được nạp vào trong cơ thể , nó sẽ chạy khắp trong cơ thể như máu lưu thông trong mình vậy .



    Ngoài những cảm nhận được , trong lúc tập thở hít như trên , ta còn có được những ích lợi như sau :

    - Có một sức khõe tốt hơn : Cơ thể sẽ được hít vào một lượng lớn dưởng khí oxygen và lưu thông khắp cơ thể , mang nhiều năng lượng cho các cơ quan trong thân thể , được cải thiện và trẻ trung hóa , nên chúng hoạt động tốt hơn .

    - Nhiều năng lượng cho cơ thể hơn : Với kỷ thuật tích tụ năng lượng qua các chu kỳ ngưng thở sau khi hít thở , cơ thể sẽ được nạp vào và giữ năng lượng lại nhiều hơn theo lối thở bình thường ; nên cơ thể sẽ hoạt động dẻo dai và trẻ trung hơn .

    - Gia tăng mức độ thức giác cao hơn : Nhờ sự gia tăng năng lượng trong cơ thể , sẽ tạo ra cho ta có được một mức độ nhạy cảm và thức giác cao hơn lúc bình thường .

    - Gia tăng khả năng học hỏi : Nhờ phương pháp hít thở nầy , hệ thống thần kinh và tinh thần được an lạc và khõe khoắn , tươi mát , nên đầu óc có khả năng tiếp nhận thông tin nhiều hơn và học hỏi nhiều hơn .

    Thử chứng minh cho điều nầy , ta thử làm một thí nghiệm như sau : Lấy một cuốn tạp chí , hảy đọc thử một trang nào đó , xong xem ta đọc trang đó trong khoãng thời gian là bao lâu và ta sau khi đọc , ta đã biết gì và nhớ được gì trong trang đó ; sau đó, ta hảy tập hít thở theo nhịp thở đã học trong vòng 15 phút , sau đó , hảy lật một trang khác trong quyển tạp chí vừa rồi và đọc , sau đó , ta sẽ thấy có sự tiến bộ khác nhau thấy rỏ .

    Sau một thời gian tập luyện , ta sẽ thấy khả năng và tốc độ đọc sách của ta tăng lên và khả năng nhớ lại những nội dung trong sách cũng tăng lên . Đó là nhờ sự thở hít theo nhịp điều hòa trong thời gian nữa tiếng đồng hồ .

    - Tình cảm được lắng đọng an lạc trở lại : Nhờ sự tập thở nầy mà tình cảm , tinh thần và thể xác của ta được an lạc , lắng dịu lại và nhờ sự tập thở nầy , mà ta có thể kiểm soát được tình cảm ; nên nhớ rằng , năng lực tâm linh , tình cảm và hình tư tưởng đều cần thiết cung ứng cho sinh hoạt ở cỏi vía ; nếu tình cảm mất thăng bằng , thì nó sẽ ảnh hưởng nhiều đến việc xuất vía và sẽ mang lại loại tình cảm tiêu cực trên cỏi vía .

    Một thí dụ cho việc nầy : có một người con trai , tính tình hay nghi kỵ và ghen tương đối với một người bạn gái ; Anh ta nghi là bạn gái của anh ta đang đi đêm với một người đàn ông khác , nên anh ta quyết định xuất vía để theo dỏi người bạn gái nầy , Bởi vì anh ta ghen tương tin tưởng như vậy , nên sự tin tưởng ghen tương và hình ảnh đi đêm nầy của bạn gái của anh ta đã ảnh hưởng đến cỏi vía , trong lúc anh ta thực hành xuất vía để theo dỏi bạn gái cuả anh ta trong đêm đó . Và trong lúc xuất vía anh ta thấy được việc đó trên cỏi vía qua ảnh hưởng tình cảm ghen tuông của anh ; nhưng thật tế , thì cô bạn gái của anh ta có thể , không có làm việc đó với người đàn ông khác trên cỏi vật chất với sự đụng chạm thật sự của thể xác hai người , hoặc cô bạn gái của anh ta có thể làm việc đó với người đàn ông khác , trong tư tưởng hay đang nghỉ đến việc chung đụng với người đàn ông khác trên cỏi vía mà thôi .

    Do đó, ta thấy trạng thái tình cảm có được trước khi xuất vía sẽ ảnh hưởng đến việc xuất vía . Nên ta cần kiểm soát tình cảm , mới có được sự xuất vía thành công .

    Có một định luật quan trọng là : Để kiểm soát và làm thay đổi một trạng thái tình cảm nào , thì ta chỉ cần làm thay đổi nhịp thở hít theo một chu kỳ công thức thở hít , thích ứng với nó mà thôi .

    Nếu khi nào ta cảm thấy tức giận , căng thẳng thần kinh hoặc lo lắng , thì ta hảy thở hít với nhịp 4/6 , thì trạng thái tình cảm đó , không được cung cấp năng lượng cho nó nữa , thì nó sẻ chết và biến mất mà thôi , thay vào đó ta sẽ cãm thấy an lạc và thoải mái , vì với hơi thở , nhịp thở chậm 4/6 đã tạo ra trạng thái tình cảm an lạc nầy .



    Những điều cần lưu ý

    trong lúc tập thở năng lượng 4/6 :

    - Dùng bài tật hít thở nầy mổi ngày khoãng nữa tiếng ,nên giữ lưng thẳng đứng trong lúc tập .

    - Hảy dùng cách hít thở nầy để nạp năng lượng khi ta cảm thấy cơ thể mệt mỏi , khi cơ thể thiếu cạn năng lượng .

    - Mổi ngày nên tập vào buổi sáng , khi mới thức dậy , như vậy cơ thể ta sẽ nạp đầy đủ năng lượng , cung cấp năng lượng dồi dào cho ta trong ngày ấy .

    - Đừng tập trước khi đi ngũ , vì năng lượng quá dư thừa trong đêm , sẽ làm cho ta nằm lăn lộn và khó ngũ .

    - Có một trường hợp ngoại lệ , có một loại người , khi tật bài tập nầy sẽ cảm thấy cơ thể mỏi mệt , thì loại người nầy cần tập bài tập nầy trước khi đi ngũ , sẻ giúp họ dể ngũ hơn vì quá mệt , như vậy , sau khi sáng thức dậy , người nầy sẽ cảm thấy khõe khoắn và tràn đầy sinh lực hơn .

    - Hảy tập bài tập hít thở nhịp 4/6 khi nào ta cảm thấy tình cảm ta bị nóng giận,ghen ghét , hay lo sợ .....để chuyển hóa tình cảm và đạt được thân tâm an lạc .

    - Hảy tập bài tậphít thở 4/6 nầy , từ 15 đến 30 phút , trước khi thực tập thiền định hay định trí , quán tưởng hay trước khi làm việc bằng trí óc , nó sẻ giúp cho ta làm các việc trên được dể dàng và thành công hơn .

    - Bài tập hít thở nầy không có tạo một nguy hại nào cho sức khõe , hảy tập càng nhiều càng tốt , tùy theo óc sáng tạo , bạn có thể tìm được , sự lợi ích của việc tập hít thở theo phương pháp nầy , trong các lảnh vực sinh hoạt khác.



    Còn tiếp ...

  • virusbro

    khoảng 1 10 năm trước
  • 5.- Sự Chuyển Di Thần Thức .



    Bài tập sau đây sẽ giúp cho các bạn phát triển khả năng , làm cho thần thức xuất ra khỏi thể xác ; đây là một dạng của CHUYỂN DI Ý THỨC ( THỂ TRÍ – xem ở chương 7 ).

    Trong bài tập nầy , THẦN THỨC sẻ được nhập vào một vật thể bất động nằm ngoài thân thể.

    a .- Đầu tiên lấy một cái ly , để trên cái bàn , ở một góc phòng .

    b.- Sau đó đi đến một góc phòng đối diện, cũng cùng một phòng với cái ly , bạn ngồi xuống , mặt đối diện với cái ly được đặt ở phòng kia .

    c.- Bạn hảy ngồi với một tư thế thoải mái , mắt nhắm lại , rồi hảy tưởng tượng , thân thể bạn từ từ biến thành hình dạng của cái ly đó , và cuối cùng bạn trở thành cái ly đó.

    d.- Sau khi bạn đả trở thành một cái ly giống hệt cái ly đặt ở góc phòng , tiếp theo bạn hảy cố gắng cảm nhận là bạn đang ở đúng vị trí của cái ly đang ở góc phòng nầy , vì hiện thời bạn là một cái ly , đang được nằm trên bàn và hảy quên đi tất cả những gì thuộc về cơ thể và cá nhân của mình .

    Bây giờ , bạn hảy nhìn mọi vật chung quanh phòng , ở vị trí và góc độ của cái ly , vì hiện thời cơ thể của bạn là cái ly . Thí dụ : từ vị trí của cái ly ở cuối phòng , bạn hảy nhìn cơ thể của bạn đang ngồi mắt đang nhắm lại ở góc phòng đối diện , lúc đầu có thể hình dáng cơ thể cuả bạn không được rỏ ràng , lúc ẩn lúc hiện , hoặc lờ mờ thấp thoáng , nhưng với thời gian thì hình ảnh sẽ được thấy rỏ ràng , lúc đầu có thể bạn nhìn mọi vật chung quanh không được rỏ ràng , điều nầy sẽ được giải thích ở phần liên hệ sự cảm nhận của thể vía và thể trí . Ở bước đầu thực tập nầy bạn sẽ để ý ghi nhận tất cả những hiện tượng gì đang xảy ra và bạn đả cảm nhận được những gì .

    Khi bạn chuyển di thần thức đi nhập vào một vật gì , thì bạn phải nhìn mọi vật chung quanh với vị trí cuả vật đó , cố gắng cảm nhận sự tương quan và liên hệ cuả vật đó với tất cả những vật khác .

    Tức là khi bạn là cái ly , thì bạn thử cảm nhận mặt bàn như thế nào , nếu trên bàn có những vật thể khác , bạn cần cảm nhận sự hiện diện cuả những vật đó ở gần cái ly .

    Thí dụ : Trên bàn có một cây đèn cầy đang cháy , gần cái ly , thì bạn cảm thấy sức nóng của cây đèn cầy nầy như thế nào , và khi nhìn xuống bàn , bạn cảm thấy độ cao của cái bàn như thế nào .

    Các bạn hảy dùng những vật thể khác nhau để tập chuyển di thần thức vào các vật thể bất động . Bài tập chuyển di thần thức vào các vật thể trên , cần thực tập hằng ngày , mổi ngày tối thiểu khoảng từ 5 đến 10 phút . Các bạn cần luyện tập bài tập trên một cách thường xuyên , cho đến khi nào các bạn có thể xuất thần một cách tùy ý và dể dàng nhập thần thức vào bất cứ vật thể nào mà các bạn muốn .

    Những trở ngại và sự khó khăn khi tập bài tập nầy có thể xảy ra , và sẽ được đề cập đến trong chương sau.

    Sau đây là một vài ấn chứng của vài hành giả khi bắt đầu tập bài tập nầy , được nêu ra để các bạn tham khảo và vấn đề được sáng tỏ hơn :

    Trường hợp 1 :

    Người thực tập , xuất thần thức nhập vào một bóng đèn tròn , nằm trên trần nhà ở một góc phòng đối diện . Trong khi đó anh ta đang ngồi trên một cái ghế ở một góc phòng đối diện ,cùng phòng với bóng đèn . Ngăn cách bởi một cái cầu thang ở giửa .

    Theo lời anh ta kể lại rằng :

    Đầu tiên anh ta cảm thấy rất khó khăn , mà nhập vào vị trí của cái bóng đèn , anh chỉ có thể ở vị trí của cái bóng đèn trong một giây phút thoáng qua , là anh ta đả phát giác ra , anh ta đả trở về với cơ thể xác thịt của mình rồi ; anh có một cảm nhận rằng , có một sự giằng co , dội ngược , tới lui , của thần thức giữa cơ thể xác thịt và cái bóng đèn .

    Một khi anh ta đã nhập thần thức được vào trong bóng đèn rồi , anh cảm thấy bức tường rất gần với bóng đèn , ( thực ra có một bức tường gần cái bóng đèn ) . Đầu tiên , anh cố gắng dùng đầu óc phân tích và trí nhớ , để nhớ lại cảnh vật trong phòng , mà anh đã thường biết trước , thì thần thức của anh liền nhập trở lại thể xác ngay tức tốc .

    Tức là , khi anh thấy , thì anh thấy cảnh vật ngay tức thì , còn nếu anh xử dụng đến sự suy nghỉ của ý thức để thấy , thì thần thức của anh sẽ bay trở về cơ thể xác thịt , ngay lập tức .

    Khi anh ở vị trí của bóng đèn , anh nhìn xuống , anh thấy cơ thể xác thịt của anh bên dưới , nhưng anh không thể thấy rỏ ràng , màu sắc y phục của anh đang mặc và kiểu tóc của anh đang có .

    Khi anh thử dùng trí óc và trí nhớ của anh để nhớ lại cảnh vật trong phòng , thì thần thức của anh liền bay về cơ thể ngay lập tức, việc nầy đã xảy ra , ba đến bốn lần , còn những cảnh vật mà anh thấy được , nó được cảm nhận một cách tự nhiên , không qua cơ chế sinh hoạt , sinh lý bình thường của ý thức thường ngày , trong cuộc sống .

    Có một điều xảy ra , bất ngờ và lý thú là , anh ta thấy từ vị trí bóng đèn , ở phía dưới có hai cái hộp , mộ t cái thì đựng một loại dây gì đó và một hộp đựng giấy vụn . Mà trước đó anh ta không để ý , là có hai vật nầy trong phòng .

    Khi anh ta , trả thần thức về cho cơ thể , thì anh ta liền đi đến vị trí hai cái hộp , mà anh thấy khi nảy , khi anh ở vị trí của bóng đèn , thì nay anh thấy , cái hộp đựng dây khi nảy , thực ra , không phải là cái hộp đựng dây , mà là một cái máy phóng đại âm thanh Hi Fi cho cây đàn điện của anh , còn cái hộp kia thì đúng là một cái hộp đựng giấy vụn .

    Một điều nữa là , khi anh ở vị trí của bóng đèn thì anh thấy , hai vật ở dưới , nằm lệch qua một bên , chớ không phải nằm ngay ở dưới bóng đèn ; khi anh leo lên vị trí của bóng đèn với cơ thể xác thịt cùng ý thức của anh để kiểm chứng lại , thì anh mới thấy là đúng như thế . Như vậy là trong bài tập vừa qua anh đã thực sự là cái bóng đèn rồi .



    Trường hợp 2 :

    Người thực tập , xuất thần nhập vào một cuốn sách đang nằm dưới sàn nhà .

    Anh ta kể rằng :

    Khi anh ta trở thành cuốn sách trên sàn nhà , điều đầu tiên, là anh ta cảm thấy là có sự thay đổi trong chiều cao , và anh thấy cơ thể xác thịt của anh đang ngồi trên ghế , ở trên đầu của anh ; và anh nhìn mọi vật chung quanh với một góc độ và chiều cao khác với góc độ khi anh nhìn với chiều cao , khi anh còn ở trong cơ thể xác thịt . Anh cảm thấy , anh đang nằm trên một tấm thảm và các sợi chỉ mịn màng của tấm thảm ; từ vị trí cuốn sách , anh nhìn lên trần nhà , anh thấy có những vết sơn củ loang lổ và vài đường nứt cong queo trên trần nhà . Sau khi chấm dứt buổi thực tập , anh ta kiểm soát lại và đi đến nằm sát xuống mặt đất ở vị trí của cuốn sách , mà anh ta nhập vào khi nảy , thì anh ta thấy , góc độ nhìn từ cuốn sách , mà nhìn cảnh vật hiện giờ , giống hệt như cảnh vật , như lúc anh ta đã nhập vào cuốn sách khi nảy , kể cả những vết sơn củ loang lổ và vài đường nứt cong queo trên trần nhà , cũng có thật và giống y hệt những gì nhìn thấy trong lúc anh đang thực tập .

    Các bạn cần lưu ý , cái thấy mà các bạn nhìn thấy được , trong lúc xuất thần thức , nhập vào vị trí , góc độ của các vật thể , là cái thấy của tâm nhản ( mind’s eye ) , chứ không phải là cái thấy của con mắt xác thịt trong lúc thức đâu nhé.

    Còn tiếp ...


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group