Tuyển Tập Quan Âm Truyền Thuyết - Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quan Âm Truyền Thuyết

    (Tuyển Tập)

    Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ



    Bạch Y Quán Âm


    Sau khi hiển hóa ở Trung Nguyên rồi, Bồ Tát Quán Âm bèn đi vân du ở biển Tây.

    Hôm ấy, vừa đúng phiên chợ ở trấn Phù Dung, một cái trấn nhỏ nằm ngay dưới chân núi Phong Hoàng. Người qua kẻ lại đông đúc náo nhiệt, chen chúc nhau trên mọi nẻo đường. Cứ dọc theo con đường lớn đi thẳng về phía trước, thì ở góc đông bắc của chợ sẽ thấy có một tấm bảng viết bốn chữ lớn "Chữa bệnh cứu đời" đập vào mắt. Nhìn kỹ, sẽ thấy dưới tấm bảng ấy có che một tấm lều vải 6 cạnh màu xanh, và trong tấm lều có một ni cô xinh đẹp thanh tú, với vẻ mặt hiền lành dễ mến, cùng hai cô chú sa di nhỏ khiêm tốn nhã nhặn ngồi bên cạnh. Người ta làm sao biết được ba người ấy chính là Ngài Quán Âm cùng Long Nữ, Thiện Tài hóa phép biến thành ?

    Vừa đúng lúc ấy có một cụ già tay chống gậy, đi đứng khổ sở, khập khiễng bước vào lều, quỳ xuống đất nghe "bịch" một tiếng, nước mắt tuông xuống dầm dề trên gò má già nua, cầu xin rằng :

    - Ni sư đại từ đại bi, xin cô trị giùm tôi cái chân què này, nếu không thì mẹ già vợ yếu và con thơ khó bề sống sót, tôi van cầu ni sư…

    Cừ già khóc ngất, khuôn mặt tiều tụy hằn lên những nếp nhăn đau đớn sở khổ khiến ai nhìn cũng phải xót xa thương cảm. Ngài Quán Âm quan sát tình cảnh ấy, trong tâm tự động khởi lên lòng từ bi, vội vàng đỡ ông lấo dậy mà hỏi một cách hoà nhã, thân thiết :
    - Thưa bác, chân bác sao thế ?

    - Ôi !

    Ông lão thở dài một tiếng và kể lể nguyên do với một giọng nói đẫm lệ.

    Số là trấn Phù Du có một ông quan lớn, ỷ có người cậu làm quan Tể Tướng trong triều nên độc ác tàn bạo, coi trời không bằng cái vung, trong chu vi một trăm dặm dưới chân núi Phong Hoàng, không ai là không biết tiếng. Hơn nữa ông có một thằng con trai, đó là một cậu công tử bụng dạ nham hiểm, chỉ biết chơi bời lêu lổng, trêu hoa ghẹo nguyệt, thật là một tên ác bá khét tiếng một vùng, trăm họ không ai là không oán hận tên nghiệt chủng này và đặt tên cho hắn là "con cọp họ Hoa".

    Ông lão nói trên là một trong những người làm công trong nhà họ Hoa này. Có một buổi tối nọ, con cọp họ Hoa mò đến cửa phòng cô em vợ, ông lão ngỡ đâu là kẻ cướp vào nhà, trong cơn hoảng hốt vớ lấy bình hoa ném vào người hắn. Con cọp họ Hoa thẹn quá hóa khùng, bèn đánh đập ông lão một trận chết đi sống lại, từ đó chân ông trở nên tàn phế. Ông quan cha biết con làm chuyện đồi phong bại tục, không những đã không dạy dỗ mà còn trách mắng ông lão làm vỡ bình hoa của mình, rồi không chữa trị bệnh cho ông lão, lại chê ông đi đứng không nhanh nhẹn nữa nên đá ông ra khỏi nhà.

    Ngài Quán Âm nghe xong, an ủi rằng :

    - Thưa bác, bác đừng buồn khổ lo lắng gì nữa, bần ni sẽ chữa lành chân cho bác.

    Long Nữ, Thiện Tài vội đưa ông lão ngồi lên cái ghế gỗ, Ngài Quán Âm dùng tay xoa chỗ bị thương rồi quan sát kỹ lưỡng bệnh tình, xong nắn bóp chữa trị. Không lâu sau, Ngài để cho ông đứng dậy đi thử, ông lão đi vài bước, thấy mình đi đứng dễ dàng nhanh nhẹn như xưa, không còn thấy đau đớn nữa, chẳng khác chi người bình thường. Ông lão bất giác kêu lên :

    - Đúng là thần y ! Chỉ có phút chốc mà ni sư đã chữa lành cho tôi cái chân tàn phế cả năm nay rồi !

    Nói xong, ông vội quỳ xuống đất khấu đầu lạy tạ không ngừng, bàn tay run run thò vào ngực móc ra một vài đồng bạc lẻ dâng lên cho Ngài Quán Âm. Nhưng Ngài đời nào chịu nhận tiền, vội đỡ ông lão lên nói :

    - Bác ơi, không có chi đâu, chữa bệnh cứu đời là bổn phận của bần ni mà !

    Trở lại người bị đặt tên là con cọp họ Hoa, tên thật của hắn là Hoa Tuấn Phương, lúc ấy đang ở nhà, cùng phu nhân làm bộ ve vãn, nói những lời cợt nhả. Hoa công tử mặt mày sáng sủa, dáng người hiên ngang chững chạc, chỉ có con mắt là để lộ ra một thứ ánh sáng tham lam, dâm đãng. Phu nhân Lâm San Trân tuy ăn mặc sang trọng, trang điểm lộng lẫy, vàng ngọc đeo sáng lòa nhưng khuôn mặt xinh đẹp kia không dấu được nét tàn phá của thời gian, những nếp nhăn nơi đuôi mắt nói lên một cách vô tình rằng tuổi thanh xuân của phu nhân đã bắt đầu qua rồi. Lối trêu ghẹo cợt nhả của Hoa công tử làm cho phu nhân ghê tởm và buồn nôn.

    Lúc ấy, cô a hoàn Ngọc Hương mở cửa bước vào phòng thưa rằng :

    - Bẩm quan, bẩm phu nhân, có tiểu thư Mỹ Nương đến chơi !

    Tiểu thư Mỹ Nương tên thật là Lâm San Mỹ, em ruột của phu nhân Lâm San Trân, là một cô gái nhan sắc mặn mà, da dẻ nõn nà mịn màng, ở Lâm gia phủ cách trấn Phù Dung không xa, cha mẹ đã qua đời lại không có anh em. Phu nhân San Trân mong muốn em gái ở lâu với mình nhưng chuyện không hay xảy ra năm ngoái với anh rể khiến cho Mỹ Nương không bước chân đến Hoa gia từ lâu.

    San Trân nghe nói có em gái tới chơi, mừng rỡ vô cùng, vội vàng tiến ra cửa đón chào nhưng khi Mỹ Nương thấy chị thì nước mắt tuôn như mưa, bi thương thống khổ, nhào vào lòng chị mà kêu ú ớ khiến cho mọi người kinh ngạc.

    Hoa Tuấn Phương đứng cách đó không xa, nhìn San Mỹ rồi nhìn qua Ngọc Hương, thở dài mà nói :

    - Lạ kìa, làm sao một cô gái trẻ tuổi như thế đột nhiên biến thành câm ?

    San Trân cũng chất vấn Xảo Nhi, cô a hoàn chuyên theo bầu bạn với Mỹ Nương.

    Xảo Nhi quỳ xuống đất run rẩy sợ hãi mà thưa rằng :

    - Tội nô tỳ đáng chết ! Đêm qua cô nương vừa mới thổi đèn đi nghỉ thì bỗng nhiên có một người đàn bà mang mặt nạ xông vào phòng, cô nương la lên một tiếng rồi bất tỉnh nhân sự. Nô tỳ ở phòng bên cạnh nghe rất rõ, nhưng khi qua đến thì không còn thấy tăm hơi người đàn bà bịt mặt kia nữa. Nô tỳ vội vàng lay tỉnh cô nương, cho cô nương uống chút nước thì cô nương an tĩnh trở lại. Hôm nay sáng sớm, cô nương thấy đau nơi cổ họng, sau đó thì nói không ra tiếng nữa.

    San Trân rất ngạc nhiên nhưng thấy em mình cứ ú ớ thì vừa đau lòng vừa lo sợ, ôm em gái vào lòng khóc oà lên khiến ai nấy hoảng hốt, không biết phải làm sao.

    Vừa đúng lúc ấy, tên gia đinh của nhà họ Hoa từ phiên chợ trở về, gọi Hoa công tử sang một bên kể lại chuyện có một ni cô xinh đẹp tuyệt trần vừa đến thị trấn của mình, và nhắc đến tài trị bệnh cao siêu của ni cô. Nghe thế công tử mê mẩn, híp tít cả mắt, bèn quay trở về phòng nói với phu nhân :

    - Nương tử ! A Cẩu mới kể rằng ở ngoài chợ có một vị thần y có thể chữa bệnh, không bệnh nào là không chữa được. Hay là chúng ta đi mời cô ta về đây chữa bệnh cho Mỹ Nương ?

    San Trân ngừng khóc tức thì, vội vã dục chồng mau ra phố nghênh tiếp thần y về. Hoa công tử và A Cẩu vội chạy ra chợ, thấy ở dưới tấm lều vải xanh có một thiếu nữ cốt cách thanh nhã đoan trang, má đỏ môi hồng, nước da trắng mịn, cử chỉ cao quý, vai khoác một tấm áo bào trắng tinh phủ dài xuống đất như một dòng thác trắng. Đôi mắt cô như hồ nước mùa thu, nhưng vô cùng tinh anh, thâm thuý. Cả đời Hoa công tử chưa bao giờ thấy một cô gái xinh đẹp dường ấy nên cứ đứng chết trân ở đấy mà nhìn một cách đắm đuối. A Cẩu thấy thái độ chủ nhân như thế vội giật chéo áo của công tử, lúc ấy con cọp họ Hoa mới sực tỉnh, lập tức tiến đến chào hỏi.

    Ngài Quán Âm đang một mặt bóp lưng cho một bà lão một cách chuyên chú, một mặt hỏi :

    - Quý công tử đến đây muốn khám bệnh chăng ?

    - Không, không, tôi đến đây thỉnh ni sư về…

    Hoa gia là một gia đình danh giá, đình viện lầu các hoa lệ khỏi cần nói. Chỉ biết là Ngài Quán Âm được mời đến gian nhà giữa, lập tức khám xét cổ họng của Mỹ Nương, nhận định rằng bệnh của cô là do một chất thuốc gây ra. Ngài rất ngạc nhiên, ngước mắt nhìn quanh một vòng, quan sát chị em họ Lâm và hai cô a hoàn Ngọc Hương và Xảo Nhi đứng bên cạnh, thần thái của mỗi người mỗi khác khiến Ngài hiểu được phần nào mọi sự. Ngài vỗ về cánh tay Mỹ Nương an ủi :

    - Tiểu thư đừng lo, bần ni có cách chữa.

    Nói xong Ngài lấy ra một cây kim bạc, bắt đầu châm cứu cho Mỹ Nương. Đột nhiên Mỹ Nương bật kêu lên "chị ơi !" rồi khóc lớn.

    Chuyện lạ xẩy ra khiến cho cả Hoa gia trên dưới đều bị kinh động, người làm công dập dìu tiến đến bái kiến vị thần y này. Hoa Tuấn Phương rất lấy làm đắc ý, xua tay quát tháo :

    - Bây đâu ! Mau dọn tiệc rượu ra đây cho ta tạ ơn vị ni sư y thuật cao minh này một cách trọng thể !

    Ngài Quán Âm vội vàng lắc đầu từ chối :

    - Không nên phí phạm như thế, trà lạt cơm nguội đủ rồi !

    Rồi Ngài nói tiếp ngay :

    - Trời đã tối, thầy trò bần ni không có chỗ nghỉ đêm, xin quan lớn và phu nhân bố thí cho một chỗ nghỉ nhờ một đêm, không biết có được không ?

    Long Nữ, Thiện Tài ngầm biết ý Ngài nên cũng lên tiếng cầu xin phụ họa. Dĩ nhiên Hoa Tuấn Phương rất đẹp lòng, vui vẻ trả lời :

    - Được ! Được ! Đừng nói một đêm, mà chỉ cần ni sư đồng ý tới đây ở thì ở cả đời cũng là điều vinh hạnh cho Hoa gia này !

    Phu nhân San Trân nghe thế lườm chồng một cách khinh ghét nhưng Ngài Quán Âm vẫn giữ nét mặt tự nhiên đáp :

    - A Di Đà Phật ! Đa tạ thí chủ !

    Ăn cơm tối xong, mọi người phân tán, già trẻ lớn bé đều trở về phòng ngủ của mình. Ba thầy trò ngài Quán Âm về căn phòng nằm ở gian tay phải của căn nhà mà nghỉ ngơi một lúc. Đột nhiên, Ngài Quán Âm như biết trước chuyện gì vội lay Long Nữ, Thiện Tài dậy, ba người bước lên một áng mây lành bay lên không trung, đứng ở phía trên sân vườn Hoa gia mà nhìn xuống, quan sát kỹ luỡng mọi động tĩnh ở phía dưới.

    Trong bóng đêm mênh mang, ánh trăng bàng bạc, Hoa Tuấn Phương vừa mới tỉnh cơn say rượu, rời khỏi ghế ngồi rón rén trở về phòng. Nhờ ánh sáng trăng, thấy phu nhân đang say giấc nồng, hắn bèn lẻn ra ngoài đi thẳng tới cái chõng ở gian nhà bên phải, nơi ba thầy trò ngài Quán Âm nghỉ đêm. Nào ngờ cửa chỉ khép hờ, trong phòng không một bóng người. Con cọp họ Hoa như cái bong bóng xì hơi, tức giận vì không ăn được quả tươi đã làm cho mình thèm rõ rãi cả ngày hôm nay, bèn dứt khoát phóng lao phải theo lao, thu hết can đảm mò đến cửa phòng của Mỹ Nương ở gian nhà bên trái. Đúng lúc hắn đang mò mẫm tìm con dao nhỏ đã chuẩn bị sẵn trong người để cạy then cửa thì nghe "vèo !" một tiếng, một bóng người mang mặt nạ phi tới như tên bắn. Hoa công tử bị đánh một chưởng ngã lăn xuống đất, đang định la lên cầu cứu thì bị người mang mặt nạ kia đưa tay bịt miệng.

    - Con quỷ háo sắc, làm cho cô nương đây hết hồn !

    Người bịt mặt nói khẽ. Hoa Tuấn Phương nghe giọng người đàn bà rất quen thuộc, nhìn kỹ thân hình liền hiểu ngay cô ta là ai, bèn hung dữ nói rằng :

    - Mi là gì mà dám xen vào chuyện của ta ?

    - Không xen thì thôi, tôi đi gọi phu nhân dậy.

    Hoa Tuấn Phương biết mình đuối lý, không dám làm to chuyện, chỉ đành để cho người đàn bà bịt mặt muốn làm thì làm, ngoan ngoãn đi theo cô ta đến ngọn giả sơn ở vườn hoa sau nhà. Dưới một gốc liễu, người đàn bà nọ như không chờ đợi được nữa, ôm chầm lấy Hoa công tử, dán chặt bộ ngực đẫy đà của mình vào người hắn. Gái lăng loàn gặp quỷ háo sắc, chuyện cẩu thả đương nhiên khó tránh. Hai người ôm nhau lăn xuống đất, chốc chốc có tiếng thì thà thì thầm, chốc chốc vang lên âm thanh dâm đãng lanh lảnh.

    - Cưng ơi, nàng đến phòng Mỹ Nương làm gì vậy ?

    Hoa Tuấn Phương chua chát hỏi.

    - Hứ ! Chàng là con cọp họ Hoa, chắc bị con yêu tinh ấy hớp hồn nên chưa chịu chừa ! Nói cho chàng biết, có thiếp thì không có nó, đừng có mơ tưởng hão huyền !

    Nghe thế Hoa công tử kinh dị hỏi :

    - Chính nàng hại Mỹ Nương thành người câm phải không ? Nàng thật là độc hại !

    - Hí hí ! Nếu chàng không hồi tỉnh mà cứ tiếp tục trêu hoa ghẹo nguyệt, không nghĩ đến tình vợ chồng không cưới lâu đời của đôi ta thì đừng trách cô nương đây vô tình ! Còn cái cô ni cô đã mê hoặc chàng, chàng hãy đuổi hết ra khỏi cửa cho thiếp !

    Ngài Quán Âm nhìn thấy tất cả, nghe thấy tất cả, bèn chắp tay lại lẩm bẩm :

    - A Di Đà Phật ! Nghiệt tội ! Nghiệt tội !

    Như một tấm lụa xanh vô tình che đậy mọi tội ác, màn đêm từ từ lùi bước. Sáng hôm sau, ở sân lớn của vườn nhà Hoa gia mọi sự đều diễn tiến như mọi thường. Người làm công dậy sớm chùi rửa dọn dẹp, đột nhiên nghe từ gian nhà trái có tiếng thét lớn "A !" khiến cho không khí tĩnh mịch của sân vườn bỗng trở nên hỗn loạn. Mọi người chạy túa đến, chỉ thấy cô a hoàn Xảo Nhi mềm nhũn nằm dưới đất, mặt mày xanh mét. Nhìn lên giường thì thấy Mỹ Nương hôn mê bất tỉnh, máu tươi từ đôi mắt tuông ra lai láng.

    Chính trong lúc mọi người đang luống cuống thì vị ni cô hôm qua bước tới gần trấn tĩnh :

    - Đừng lo, bần ni có thuốc hay.

    Nói xong ni cô lấy một viên thuốc màu vàng óng ánh bỏ vào miệng Mỹ Nương, chỉ một lúc sau Mỹ Nương tỉnh dậy nhưng còn rất đau đớn, mở mắt ra không nhìn thấy gì cả.

    Hoa Tuấn Phương đứng một bên quát rằng :

    - Cô dùng phép phù thủy, yêu ma gì mà mới chữa bệnh câm hôm qua, hôm nay lại biến thành bệnh mù ? Bây đâu, mau lôi cô ta ra phủ quan nghiêm trị !

    Lời nói vừa dứt, một bầy chó săn tay sai đã nhe răng giương vuốt xông tới. Long Nữ và Thiện Tài phất nhẹ bàn tay, không biết tại sao bọn tay sai lại bị đẩy lùi, loạng quạng luống cuống trông thật buồn cười. Ngài Quán Âm nói một cách ung dung, rành mạch và kiên định :

    - Tạm thời bần ni chưa muốn rời khỏi nơi này, còn cần phải chữa lành cặp mắt của tiểu thư Mỹ Nương.

    San Trân vội vàng quỳ xuống đất, khấu đầu nói :

    - Đa tạ ni sư cứu người trong cơn hiểm nạn, chị em chúng con suốt đời không bao giờ dám quên ơn sâu đức trọng của ni sư. Còn quan nhân nhà con nói lời vô lễ, thỉnh ni sư đừng để ý.

    - Giải trừ đau khổ của người khác là bổn phận của bần ni.

    Nói xong Ngài Quán Âm bước đến bên giường, tiếp tục trị liệu cho Mỹ Nương. Chỉ thấy bàn tay Ngài cách đôi mắt bệnh khoảng ba tấc, miệng lâm râm câu gì, từ lòng bàn tay phóng ra những tia sáng màu vàng rực, đưa tới đưa lui mấy lần, trong khoảnh khắc Mỹ Nương sáng mắt, thấy lại được. Những người đứng tại chỗ chứng kiến được sự việc thần kỳ như thế, không ai là không kinh dị tán thán. Hoa Tuấn Phương cũng rất lấy làm lạ, nhưng nhớ lại sự việc xảy ra hôm qua ở vườn sau và những lời nói của người đàn bà bịt mặt, bèn tiến lại gần mà nói :

    - Đa tạ pháp sư, nhưng xin miễn thứ cho tôi, tôi không thể giữ pháp sư ở lại được !

    - A Di Đà Phật, vậy thì bần ni xin cáo từ.

    Ngài Quán Âm đứng dậy rồi bèn nói với chị em họ Lâm rằng :

    - Phu nhân, tiểu thư xin bảo trọng, chúng ta sẽ có ngày gặp lại !

    Nói xong cùng Long Nữ, Thiện Tài chậm rãi ra đi trong niềm tri ân lưu luyến của chị em họ Lâm.

    Một vài ngày sau, có một gánh hát rong dọn về đến thị trấn Phù Dung. Gánh hát gồm ba cha con, họ đều biết tự đàn tự hát, âm nhạc vô cùng mỹ diệu, ai nghe cũng phải khen là tuyệt ! Hôm ấy Hoa gia lại treo đèn kết hoa, mời ba cha con đến đàn hát giúp vui. Giọng ca của hai cô gái du dương thanh thúy, lời ca lại cảm động thấu tâm can, điệu vũ thì lại nhẹ nhàng phất phới như tiên nữ, nên chủ tớ Hoa gia ai cũng bị hấp dẫn mê say. Con cọp họ Hoa lại mơ tưởng viễn vông, cặp mắt không rời khuôn mặt xinh đẹp, thân người yểu điệu của hai nàng ca nữ, trong phút mê mẩn đến hoa cả mắt, không kềm chế được hắn nhéo đùi của Mỹ Nương đang ngồi bên cạnh. San Mỹ xấu hổ đỏ cả mặt, phu nhân San Trân thì chỉ lo thưởng thức màn kịch, không hề hay biết những gì đang xảy ra chung quanh. Chỉ có cô a hoàn Ngọc Hương là nhìn Hoa công tử đăm đăm, đôi mắt phóng ra những tia ghen hờn.

    Tối hôm ấy ba cha con hát rong nghỉ đêm lại ở mái tây. Giữa đêm mây đen cuồn cuộn, sấm chớp ngang trời, sau đó là một trận mưa trút nước. Đột nhiên, một bóng đen bước vào phòng của Mỹ Nương, tiếp đến một bóng đen khác cũng bước sau bén gót.

    Khi bóng đen thứ nhất bước vào phòng thì Mỹ Nương đã sợ hãi mà thức giấc rồi.

    - Mỹ Nương, ta nhớ nàng muốn chết, đáng lẽ ta phải cưới nàng làm vợ ngay từ đầu !

    Nghe tiếng, Mỹ Nương đã đoán ra đây là ông anh rể bất lương. Cô vừa hận vừa xấu hổ, lấy hết sức bình sinh đẩy bóng đen đang xông tới nhưng sức nhi nữ làm sao đối địch lại với một người hung bạo, con cọp họ Hoa đã ôm chặt lấy San Mỹ. Đúng cái lúc chỉ treo đầu mành ấy, bóng đen thứ hai hung dữ tiến tới nắm lấy con cọp họ Hoa xô sang một bên, quát rằng :

    - Đi chỗ khác cho ta !

    Cũng ngay lúc ấy, một ánh chớp loé lên, San Mỹ nhìn thấy người mới tới bịt mặt bằng một tấm vải đen, tay cầm một con dao bén, nhắm ngay chính mình mà xông tới. Cô hét lên một tiếng kinh hoàng, ngã xuống bất tỉnh. Hoa công tử vội vàng tiến lên ngăn cản nhưng người bịt mặt nọ sát khí đằng đằng nói rằng :

    - Để thiếp đâm chết con yêu tinh này cho chàng đỡ phải ngày thương đêm nhớ !

    Đột nhiên một trận cuồng phong nổi dậy, cuộn lấy một cái bình sứ đen, và "xoảng" một tiếng, bình sứ bể tan tành, miểng sứ bắn lên tung tóe bốn phía. Một trong những mảnh sứ bể ấy văng lên trúng ngay vào mắt phải của người bịt mặt. Tuy thế người này vẫn chưa bỏ ý định giết chết Mỹ Nương, một tay bưng con mắt phải đang chảy máu lênh láng, tay kia huơ dao lên xông về phía Mỹ Nương. Hoa Tuấn Phương chen vào giữa, nhưng đã không ngăn cản được mà còn bị đâm vào họng, thét lên một tiếng thê thảm, ngã lăn xuống đất. Người bịt mặt cố mở to con mắt trái còn lại, thấy mình đâm nhầm người, thẹn quá hóa khùng, bèn nhổ dao trên họng Hoa công tử chĩa vào ngực tình địch, nhưng làm sao cũng không với tới được Mỹ Nương. Một trận gió mạnh nữa tạt đến khiến người này đầu óc choáng váng, lảo đảo ngã xuống đụng phải cái bàn, con mắt trái không nghiêng không lệch mà lại đâm thẳng xuống góc bàn, máu chảy đầy mặt, bất tỉnh nhân sự.

    Cơn mưa thịnh nộ không biết ngừng lại từ bao giờ, một làn ánh sáng bạc ửng lên ở phương đông. Lâm San Mỹ trong lòng hãy còn sợ hãi, mở to đôi mắt hoảng hốt kêu lên :

    - Có biến ! Cứu tôi với !

    Toàn nhà Hoa gia trên dưới nghe tiếng hét đều lật đật ngồi dậy, không kịp sửa soạn, người thì vừa chạy ra vừa cài nút, người thì cứ thế mà lết giày tới. Đến phòng Mỹ Nương, chỉ thấy Hoa công tử cùng với một người đàn bà bịt mặt đang nằm trong vũng máu, ai nấy đều sợ thất thần, còn San Trân thì xỉu ngay tại chỗ. A Cẩu vội vàng lột mặt nạ của người bịt mặt xem là ai, thì ra không ai khác hơn là cô a hoàn Ngọc Hương, khiến mọi người đều kinh dị sững sờ.

    Lúc ấy người cha của hai cô ca nữ đưa đến ba viên thuốc quý, bỏ vào miệng vợ chồng họ Hoa cùng Ngọc Hương. Chẳng bao lâu, ba người đều tỉnh lại hết. Ngọc Hương hai tay bưng lấy mắt, đau đớn lăn lộn dưới đất, Hoa Tuấn Phương thì nói không ra tiếng, chỉ biết ú ớ loạn lên.

    San Trân quỳ trước mặt ông lão dập đầu cầu xin :

    - Thưa cụ, xin cụ làm phước giúp đỡ, cứu quan nhân nhà con.

    Dập đầu xuống rồi ngước mắt lên thì đột nhiên thấy cụ già nhân từ kia đã biến thành vị ni cô mấy ngày trước. Người xung quanh thấy thế kinh dị há hốc giương mắt nhìn, họ mới hiểu rằng ba cha con gánh hát rong chính là ba thầy trò vị ni cô hóa phép mà thành.

    Ngài Quán Âm nghiêm túc, trang trọng nói rằng :

    - Hoa gia có nhiều điều tà ác, đã tạo ra tội nghiệt quá nặng nề. Nhân ác quả ác, nhân thiện quả thiện, tất cả những việc xảy ra hôm nay là do điều tà ác báo ứng mà ra.

    Nói xong Ngài chắp hai tay lại mà nói nhẹ "tội nghiệt ! tội nghiệt !".

    A Cẩu túm lấy Ngọc Hương quát lên :

    - Con a đầu khốn khiếp, tại sao mi lại bịt mặt, có phải chính mi đâm công tử không ?

    Ngọc Hương trấn định mạnh dạn trả lời :

    - Tiểu nữ làm sao dám làm như thế, chính Hoa công tử đến phòng tiểu thư Mỹ Nương mưu đồ bất chánh, tiểu thư không chịu thuận tùng nên lấy dao đâm công tử, con nghe tiếng chạy đến không ngờ cũng bị tiểu thư đâm mù hai mắt rồi còn lấy vải đen bịt mặt. Oan uổng cho con lắm !

    Nhưng làm sao lừa dối qua được đôi mắt huệ của ngài Quán Âm ! Đêm qua, chuyện gì xảy ra, xảy ra như thế nào Ngài đã biết hết. Hai trận gió lớn thần kỳ kia, là do chính miệng Ngài đã thổi hơi pháp để cứu Mỹ Nương.

    Hoa Tuấn Phương cực lực muốn biện giải nhưng không nói ra được nửa chữ, nóng lòng quá bèn ú ớ loạn lên, mồ hôi từ trên đầu tuông xuống lả chả. San Trân vừa khổ đau vừa phẫn nộ, trong cơn tức giận, nhìn thấy cây cột, bèn lao tới muốn đâm đầu tự sát nhưng bị ngài Quán Âm tinh mắt nhanh tay chụp lấy ngăn cản.

    San Mỹ thấy chị mình quá khổ đau không muốn sống nữa nên vội tiến đến cầu xin :

    - Pháp sư tôn kính, xin Ngài cứu mạng cho họ lần này !

    Ngài Quán Âm đáp :

    - Niệm tình Mỹ Nương tâm địa thiện lương, tôi có thể chữa cho mắt cô Ngọc Hương sáng trở lại, và chữa cho Hoa công tử nói lại được. Song với điều kiện là cô Ngọc Hương phải nói rõ ra tiền nhân hậu quả tại sao ba lần làm tội ác như thế, bằng không sẽ không bao giờ có thuốc chữa.

    San Trân nhìn chồng có miệng mà không nói được, giận dữ mắng Ngọc Hương :

    - Con a đầu tiện tỳ, còn chưa thú thật nữa hay sao ? Muốn quan lớn đánh chết hả ?

    Không còn cách nào khác, Ngọc Hương đành phải thú thật tự sự. Thì ra cô a hoàn Ngọc Hương đã dan díu với Hoa công tử từ lâu nhưng đến khi Mỹ Nương xuất hiện thì bị công tử đối xử lạnh nhạt. Bị lửa ghen thiêu đốt, cô muốn giết chết Mỹ Nương để tiếp tục giấc mộng làm vợ không cưới của Hoa công tử, nên lần đầu đổ thuốc câm vào chén nước, lần thứ hai ném vôi vào mắt và lần thứ ba muốn đâm cho chết, nào ngờ…

    Nghe đến đây, mọi người căm phẫn sùng sục, bèn tay đấm chân đá con điếm thối tha mà hằng ngày vẫn làm ra cái điều cao nhã kia. Ngọc Hương rút vào góc phòng, cầu xin tha mạng luôn mồm.

    Ngài Quán Âm bình tĩnh nói :

    - Tội nghiệt đã khai, lẽ ra phải bị trừng phạt rặng nề. Nhưng nay ta niệm tình tiểu thư Mỹ Nương đã có lòng tốt cầu xin cho, nên tha cho mấy người phen này. Nếu không hối cải thì không những bị câm, bị mù mà cả tính mệnh cũng khó bảo toàn.

    Nói xong Ngài chắp tay tụng kinh Kim Cang và đọc Đại Bi Chú để tiêu tai trừ bệnh cho hai tội nhân. Chẳng bao lâu sau, Hoa Tuấn Phương nói lại được và Ngọc Hương cũng thấy đường lại như cũ. Chủ tớ Hoa gia đều quỳ mọp xuống đất khấu đầu lạy tạ. Hoa Tuấn Phương càng cảm ơn sâu vô tận nên muốn cúng lụa, cúng tiền, tuy nhiên tất cả đều bị ngài Quán Âm cự tuyệt. Hai chị em họ Lâm thì nước mắt đoanh tròng, không nói ra được lòng cảm khái của mình.

    Lúc ấy ba thầy trò ngài Quán Âm ra đến giữa sân, bỗng nhiên trên đất bằng bỗng cuộn lên một đám mây trắng, ba người bước lên áng tường vân ấy. Đám mây bay lên không trung rất mau, trong phút chốc ba người xuất hiện chân tướng. Lúc ấy mọi người mới biết vị ni sư kia thật ra là bậc Bồ Tát đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn quảng đại linh cảm Quán Thế Âm, còn hai cô cậu sa di nhỏ chính là Long Nữ và Thiện Tài đồng tử vẫn đứng hai bên phải trái của Ngài Quán Âm. Họ thấy Ngài Quán Âm mặc tấm cà sa trắng, vai khoác chiếc áo khoác dài màu bạc, đầu đội phong mão kiểu nữ, tóc thả dài, đi chân đất, tay trái cầm hoa sen, tay mặt bắt ấn "dữ nguyện" (ban cho điều nguyện ước), khuôn mặt từ bi hiền hậu, đoan trang khả kính, vô cùng trang nghiêm. Ba pháp tướng của ba vị theo từng đóa, từng đóa mây trắng lơ lửng từ từ biến mất.

    Mọi người vừa kinh sợ vừa vui mừng, quỳ lạy một cách chân thành, miệng không ngớt niệm thánh hiệu của Ngài. Từ đó về sau, toàn thể Hoa gia đều quy y Phật Pháp, trong nhà có thờ một tấm tranh vẽ pháp tượng Ngài Quán Âm áo trắng, sớm tối thắp hương cầu nguyện, thời thời cúng dường và đâu đâu cũng nghe tiếng tụng niệm. Tâm trí họ từ từ khai mở, giúp họ bước lên con đường đạo làm thiện tích phước.

    Hoa công tử nhờ được huân tập Phật Pháp nên chuyên tâm dồi mài kinh sử, về sau được bảng vàng đề tên, ra làm quan thì làm việc chính sự một cách thanh liêm, kính tin Phật Pháp, được mọi người ai ai cũng ủng hộ kính mến. Ngay tại Hoa phủ, trong ngoài mọi người hoà thuận an lành, trên dưới vui vẻ.

    Tranh vẽ Ngài Quán Âm hiển hóa được hậu thế đặt tên là "Bạch Y Quán Âm".

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quan Âm Truyền Thuyết

    (Tuyển Tập)

    Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ



    Giếng Thần Tiên


    Ở miệt trên của bãi cát Bách Bộ Sa và phía nam của Kỷ Bảo lĩnh, có một cái động đá bị cây lá che phủ. Trong động có một cái đầm nước tên là "giếng thần tiên"; nước giếng ngọt ngào, trong trẻo, hạn hán không khô, lụt lội không tràn. Khách hành hương qua lại nơi ấy, ai cũng ngừng chân lại uống một hớp nước tiên, họ cho rằng uống nước ấy vào thì mắt sáng bệnh lành, sống lâu trường thọ.

    Giếng tiên này từ đâu mà có vậy ?

    Xưa thật là xưa có một anh chàng tiều phu trẻ tuổi, xây một túp lều tranh ở triền núi phía nam để nương thân qua ngày. Muốn đi từ chùa trước qua tới chùa sau, thế nào cũng phải đi qua lều tranh của anh chàng, nên khách hành hương thường đứng lại nghỉ chân và xin anh chàng một chút nước uống. Vì anh chàng thường hay lên núi cắt củi, bèn đào một đầm nước nhỏ bên hông túp lều và đóng một cái gáo nước đặt ở bên cạnh, để khi mình vắng mặt thì khách hành hương có thể tự múc nước lấy mà uống. Nhưng gặp lúc hạn hán thì nước trong đầm ấy giống như một bồn nước bùn vàng, trở mưa to thì lại trở thành một hố nước bùn vàng, phải đợi mấy ngày sau mới uống được. Vì thế anh chàng tiều phu cứ thấy lòng xốn xang không yên.

    Một hôm trời thật nóng, anh chàng đang múc nước từ dưới đáy đầm đổ vào thùng để cho nước lắng xuống hầu cung cấp cho khách hành hương giải khát, thì đột nhiên thấy từ dưới chân Kỷ Bảo Lĩnh một vị thầy tu cà thọt, cà thọt tiến đến, áo cà sa lam lũ, mồ hôi đầy người, lưng đeo một cái hồ lô. Vị thầy tu chống một cây gậy thô kệch, đến bên đầm nước cắm cây gậy xuống mà nói :

    - Trời nóng quá, xin thí chủ cho tôi một chén nước uống nào !

    Anh chàng tiều phu vội vàng múc từ thùng ra một gáo nước dâng lên vị thầy tu thọt chân, nhưng vị này làm như không thấy mà còn ồm ồm nói rằng :

    - Chú đưa cho tôi mượn cái chén sứ trắng kia !

    Anh chàng tiều phu ngây người ra, nghĩ rằng :

    - Ông thầy này sao mà lôi thôi quá, uống nước lạnh mà còn đòi hỏi này nọ nữa ! Bát sứ trắng ta chỉ dành để đựng cơm ăn thôi, phải bán tới nửa gánh củi mới mua được cái bát ấy chứ đâu phải dễ !

    Nhưng khi nhìn bàn tay vừa đen vừa bẩn của vị thầy tu đang chìa ra chờ đợi, anh chàng ngượng mồm không từ chối được, đành lấy chiếc bát sứ trắng dâng lên cho thầy.

    Vị thầy tu tiếp lấy chiếc bát, đến thùng nước múc một bát uống, và cứ thế liên tu uống 18 bát. Anh chàng tiều phu thấy thế phải cau mày, nhưng lại nhè nhẹ thở ra một tiếng, nghĩ rằng :

    - Ông thầy này thật tội nghiệp, thôi thì để cho ông ấy uống cho no, cùng lắm là ta tốn chút sức gánh thêm vài gánh nước, và cùng lắm là lên núi chặt thêm một gánh củi nữa mua cái chén mới vậy !

    Không lâu sau, vị thầy tu uống cạn thùng nước, chùi mồm toan bỏ đi. Anh chàng tiều phu lại càng thấy kỳ quái, nhưng vẫn lễ độ nói :

    - Lão sư phụ à, khi nào trở về thì ghé lại đây uống nước nữa nhé !

    Vị thầy tu chân đi cà thọt nghe thế thì bật cười chắp tay lại mà nói với anh chàng rằng :

    - Tiểu thí chủ không hiềm ta uống sạch hết nước và làm bẩn cái chén sứ trắng của chú sao ?

    Anh chàng tiều phu vội vàng đáp :

    - Không, không, cho người ta giải khát, ai lại đi tiếc chút nước bao giờ !

    Vị thầy tu thọt chân bèn cởi cái hồ lô trên lưng xuống :

    - Thí chủ, cám ơn chú nhiều. Trong hồ lô này còn chừng phân nửa nước, ta cho chú đây !

    Nói xong thầy bèn đổ nước từ trong hồ lô xuống cái đầm, sau đó gật gật đầu, bỏ đi mà không lấy lại cây gậy.

    Anh chàng tiều phu thật là ngạc nhiên, nửa hồ lô nước làm được việc gì đây ? Anh chàng nhìn mãi theo bóng vị thầy tu, rồi xoay đầu lại thì ô kìa ! Cây gậy đã biến thành một tàn cây rậm rạp xanh tươi, cành lá che phủ cái đầm nước nhỏ xưa. Và lạ chưa ! trong chiếc bát sứ trắng sao lại có một đóa hoa sen trắng như tuyết ? Anh chàng nhìn kỹ nước trong đầm thì ô hay, sao nước lại trở nên trong vắt thế này ?

    Anh chàng tiều phu vô cùng mừng rỡ, nghĩ rằng vị thầy tu thọt chân kia chắc chắn là một bậc thần tiên, nên đặt tên cho đầm nước nhỏ ấy là "giếng thần tiên".

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quan Âm Truyền Thuyết

    (Tuyển Tập)

    Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ



    Kỷ Bảo Lĩnh


    Thiên bộ sa và bách bộ sa* được nối liền với nhau bằng một ngọn núi nhỏ, giống như cái kỷ trà tựa sát vào cái ghế, và trên ấy trà rải rác rất nhiều những hòn đá lớn đá nhỏ khác nhau, thiên hình vạn trạng, giống như vô số ngọc ngà châu báu được rải lên kỷ trà vậy. Vì vậy mà người ta gọi chỗ ấy là "Kỷ Bảo Lĩnh". Truyền rằng những hòn đá nói trên đã từng thật sự là trân châu mã não, vàng bạc châu báu biến thành.

    Trên sườn núi phía đông của Kỷ Bảo Lĩnh có một cái am tên là Duyệt Lĩnh, thật ra là một túp lều tranh thuộc quản hạt của chùa Pháp Vũ. Thời ấy, thầy trụ trì chùa Pháp Vũ chỉ chu cấp thức ăn và áo mặc cho mỗi một người trong mỗi túp lều mà thôi, mà am Duyệt Lĩnh lại có hai vị thầy tu.

    Ðể bù vào chỗ thiếu, vị thầy đương gia của am Duyệt Lĩnh tên là Trân Đạo gọi sư đệ là chú Tính Lương đi khai khẩn một thủa ruộng nhỏ ở bên cạnh am, mỗi năm bốn mùa cũng gặt hái được khá nhiều rau cải. Am Duyệt Lĩnh chỉ là một túp lều tranh nên tiền hương đèn cúng dường thâu được không bao nhiêu, vì thế thầy Trân Đạo nhất tâm nhất ý muốn xây một ngôi chùa lớn.

    Có một năm kia, thầy Trân Đạo kêu đau lưng, mỏi vai nên bảo chú Tính Lương tới thửa ruộng nọ trở đất. Chú Tính Lương phải dùng hết sức lực huy động cây đinh ba để trở đất, trở hoài trở mãi, trở cho tới phân nửa thửa ruộng. Chú bổ xuống một phát đinh ba thì phát giác một cái động, qua một lỗ nhỏ bằng cái miệng chén, phóng lên những tia ánh sáng chói lọi. Lấy làm lạ, Tính Lương muốn coi ánh sáng đó từ đâu ra, nên lại gắng sức đào đất.

    Ðột nhiên, "huỵch" một tiếng, Tính Lương rơi xuống một cái động lớn. Trong động có một loại ánh sáng kỳ lạ, thì ra đó là trân châu chiếu chói cả mắt. Ðây là đâu ? Tính Lương nhìn một cách kỹ lưỡng, ui da ! nguyên cái động như một cái ổ chim, bốn bề là vách đá, bên trong có 18 cái chum đựng vàng sáng chói, 18 chum khác đầy bạc sáng lòa và và 18 chum nữa đựng đầy trân châu mã não đủ màu đủ sắc !

    Ðúng lúc chú tiểu Tính Lương đăng đứng ngây người ra nhìn, thì trong động vang lên âm thanh rổn rảng :

    - Tính Lương , Tính Lương, thật thà hiền lương, muốn vàng muốn bạc, cứ lấy mà hưởng !

    Chú Tính Lương ngạc nhiên nhìn quanh bốn phía, không thấy có hình bóng một người nào, bèn hỏi :

    - Ông là ai ?

    - Ta là Thạch Hòa thượng. Chú muốn lấy gì thì lấy, muốn bao nhiêu lấy bấy nhiêu, mau lấy đi !

    Tính Lương nhìn chum này, ngó chum kia, cuối cùng chỉ chọn một viên trân châu sáng chói cả mắt.

    Ðôi mắt sáng quắc của Thạch Hòa thượng loang loáng hiện lên trên vách tường :

    "Tính Lương, Tính Lương, thật thà hiền lương, chỉ lấy một thứ, sau có hối chăng ?

    - Viên ngọc sáng chói như thế, con lấy để làm đèn soi đường, thế cũng đủ rồi, không nên tham lam !

    Tính Lương vừa trả lời vừa leo lên miệng động. Chú quay đầu lại nhìn thì không thấy động bảo vật đâu nữa. Chú ngây người một lúc, rồi cắm đầu trở đất trở lại.

    Gần chiều tối, Tính Lương trở về thiền phòng, hân hoan lấy viên trân châu từ trong ngực áo ra. Úi dào ! Cả phòng sáng rực ! Ðúng lúc ấy thầy Trân Ðạo về tới, nhìn thấy ánh sáng của trân châu, bèn buộc miệng la lên :

    - Ôi ! Dạ minh châu !

    Vừa nói, bèn chụp lấy hạt bảo châu và hỏi luôn mồm :

    - Sư đệ, chú lượm cái này ở đâu ra vậy ?

    Tính Lương nở một nụ cười mộc mạc, và đem chuyện chiều qua đã xẩy ra lúc chú trở đất ngoài ruộng kể lại hết cho sư huynh nghe. Thầy Trân Đạo nghe kể thì vừa kinh ngạc vừa vui mừng :

    - Sư đệ ơi, vậy là Bồ Tát tặng vàng bạc tài sản cho mái chùa nghèo của chúng ta rồi đó. Chuyện này tuyệt đối chú không được nói cho người ngoài biết, nghe chưa ?

    Tính Lương ậm ừ vâng dạ rồi lo đi làm công phu khuya, xong lên giuờng đi ngủ. Nhưng thầy Trân Đạo thì làm sao ngủ được ! Thầy mở mắt thao láo, mơ hồ nhìn thấy từng chum, từng chum đựng đầy vàng óng ánh, rồi từng chum, từng chum đựng đầy bạc chói loà nhảy múa tiến tới trước mặt mình… thầy nhẫn nhục chịu đựng như thế cho tới nửa đêm, rồi nhẹ nhàng bước ra khỏi giường, cõng cái đinh ba len lén dọ dẫm ra đến giữa ruộng, mau mắn đào lấy đào để. Đào hoài đào mãi cho tới khi cái hố đã lớn đại rồi mà vẫn chưa thấy vàng bạc gì cả. Thầy tiếp tục đào cho tới khi phương Đông hừng sáng thì mệt mỏi kiệt sức, tiu nghĩu ủ ê trở về chùa.

    Sáng sớm ngày hôm sau, Tính Lương đi ra ruộng dồn đất đã xới đắp lên thành luống, thấy cái hố lớn ở ngay giữa ruộng, ngỡ rằng bảo vật đã bị người ta cướp mất, vội vàng trở về báo cho sư huynh biết. Thầy Trân Đạo nghe dở khóc dở cười, tròng mắt láo liên, nói với Tính Lương :

    - Chắc sư đệ nằm mộng đó. Thôi hôm nay chú đi đào bảo vật lấy thêm vàng bạc đi. Có vàng có bạc mình mới có thể mở lớn ngôi chùa, sửa sang cho mới mẻ, đó là một cơ hội làm công đức ngàn năm mới có một lần đó chú à.

    Tính Lương suy nghĩ một lúc thấy cũng có lý, nên lại đi đào bảo vật. Không lâu sau, chú đào được đến cửa động, từ từ trèo xuống, thấy từng chum từng chum vàng bạc châu báu ở bên trong mới yên lòng, chắp tay lại nói :

    - Bạch Thạch Hòa Thượng, hôm nay con lại đến nữa ! Sư huynh con nói có vàng có bạc mới có thể mở lớn và sửa sang mái chùa lá. Lần này cho con xin thêm một chút vàng bạc nữa nhé.

    Cặp mắt sáng loang loáng của Thạch Hòa thượng lại chiếu rực trên vách tường, hoà thượng cười nói :

    - Tính Lương Tính Lương, thật thà hiền lương, muốn nhiều muốn ít, tùy ý lấy đi !

    Tính Lương nghe thế mới cẩn thận nhặt lên ba khối vàng, xong lại nhặt lên ba khối bạc, rồi hứng chí trèo ra khỏi động đem về chùa giao hết sáu khối vàng bạc cho sư huynh. Thầy Trân Đạo vui lòng tươi cười hỏi :

    - Sư đệ, chú tìm ra lại động bảo vật rồi phải không ?

    Tính Lương đáp :

    - Vâng tìm thấy rồi, vẫn còn đầy bảo vật ở trong ấy.

    Thầy Trân Đạo nghe vậy càng vui mừng hơn nữa :

    - Tìm thấy rồi sao chỉ lấy về ít quá vậy ?

    Tính Lương thật thà cười :

    - Chính sư huynh nói với tiểu đệ là có vàng có bạc mới xây mới lại ngôi chùa lá của mình, thì sáu khối vàng bạc này đủ để làm chuyện đó rồi !

    Thầy Trân Đạo cứng lưỡi, bực dọc trở về thiền phòng tự nghĩ :

    - Mình đào cả đêm mà đào không thấy, còn nó mới đi có chút xíu mà đã tìm ra, tại sao lạ vậy ?

    Thầy Trân Đạo muốn số châu báu trong động phải là của mình toàn bộ, nên trong lòng cứ nóng như lửa đốt. Đêm hôm ấy, thầy tắm rửa thắp hương, bái lạy Bồ Tát rồi lại lén ra ruộng đào bảo vật. Nhưng thầy đào liên tiếp ba đêm mà đêm nào cũng về tay không. Không biết làm cách nào hơn, thầy đành chỉ biết dỗ ngọt Tính Lương, bảo chú đi đào một lần nữa, còn mình thì sẽ đi theo sau bén gót. Đào tới động bảo vật rồi, nhưng khi trèo xuống thì thấy bốn bề trong động trống rỗng, cái động trước đây vốn đầy chum vàng chum bạc mà nay không còn chum nào cả.

    Thầy Trân Đạo đấm lưng đấm ngực giận dữ mắng rằng :

    - Tính Lương, mi muốn dấu bảo vật dành cho riêng mình phải không ? Hừ, nếu hôm nay mà tìm không ra bảo vật thì ta sẽ đến gặp sư phụ trụ trì, tố cáo mi tội "thấy vàng mờ ám lương tâm, làm điều sỉ nhục Phật môn" cho mi xem !

    Đáng thương thay cho Tính Lương, cực khổ đào đất cả đêm rồi mà còn bị ghép tội oan uổng, đỏ mặt tía tai mà không nói được nửa câu bào chữa !

    Ngay lúc ấy cặp mắt loang loáng sáng của Thạch Hòa thượng hiện lên trên vách đá :

    - Tính Lương hiền lương, lại bị oan uổng, Trân Đạo vô đạo, tham lam phát cuồng !

    - Yêu quái, yêu quái !

    Nghe tiếng của Thạch Hòa thượng, thầy Trân Đạo sợ mất cả hồn vía, quay đầu trèo trở lên nhưng quá hoảng sợ nên cứ hễ trèo lên thì lại tụt xuống, cuối cùng Tính Lương phải lấy cây đinh ba bợ mông của thầy để giúp cho thầy lên tới được mặt đất.

    Tiếng cười của Thạch Hòa thượng lại vang lên, hòa thượng một mặt cười, một mặt từ vách đá bước xuống, chỉ cái túi đầy ắp châu báu đang cõng trên lưng mà nói với thầy Trân Đạo rằng :

    - Mấy người đào lung tung làm vỡ hết mấy cái chum của ta, nay ta sẽ đem mấy thứ bảo vật này kiếm ngọn núi tiên khác ở cho yên thân.

    Nói xong hòa thượng ra khỏi động, hướng lên dốc núi bắt đầu trèo lên. Thầy Trân Đạo nóng ruột quá, bèn đoạt lấy cây đinh ba từ trên tay chú Tính Lương, rượt theo Thạch Hòa thượng lên núi. Rượt lên tới đỉnh núi, không cần biết gì nữa, thầy phác một nhát đinh ba vào túi châu báu. Chỉ nghe "linh đinh đinh", bao nhiêu trân châu mã não, vàng bạc châu báu đều rơi lông lốc rải rác đầy trên sườn núi, nhưng chỉ trong nháy mắt là tất cả đều biến thành những hòn đá to đá nhỏ !

    Thầy Trân Đạo buồn phiền vô hạn, bỏ trở về chùa lá nằm dài ba ngày ba đêm. Trong suốt ba ngày ba đêm ấy thầy suy nghĩ cạn cùng, thấy rằng tham lam thật là một điều không ổn.

    Để chứng tỏ lòng thành của mình, thầy Trân Đạo bèn đi đổi hết mấy khối bạc khối vàng lấy tiền xây lên một ngôi thiền viện rộng lớn, hiện nay chính là am Duyệt Lĩnh. Trước cửa am có một cái ao nguyệt ấn, chính là cái hố ngày xưa thầy đã đào mấy đêm liền mà không tìm được động bảo vật, còn lưu lại cho đến ngày nay !

    * Thiên bộ sa / Bách bộ sa : bãi cát ngàn bước / trăm bước : tên hai bãi cát ở Phổ Đà Sơn.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quan Âm Truyền Thuyết

    (Tuyển Tập)

    Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ



    Lầu Quán Âm


    Vào thời Đông Trưng, vua Đường Thái Tông mỗi lẫn đi hay về cũng đều ngừng chân lại ở Kế Châu. Về tới Trường An rồi, để chứng tỏ sự lưu tâm của mình đối với dân chúng ở Kế Châu, vua đặc biệt phái Uất Trì Kính Đức (lnd : một võ tướng nổi danh đời Đường) đến đấy trông coi việc xây cất một ngôi chùa.

    Lệnh của vua là phải xây một ngôi chùa to nhất nước, và khắc một pho tượng Phật cũng lớn nhất nước, toàn quốc không có ngôi chùa nào hay pho tượng Phật nào lớn bằng. Uất Trì Kính Đức phụng mệnh vua, bèn triệu tập hơn mười người thợ nổi tiếng, bảo họ chế tạo cho họ mô hình của một cái lầu Quán Âm cho chùa Đại Phật. Ông đòi hỏi rằng :

    - Tượng Phật cao nên lầu cũng phải cao. Không được dùng đinh, không được dùng ốc. Bây giờ các ông cũng như Bát Tiên sang sông vậy, mỗi người hãy về thi thố tài năng của mình đi !

    Một tháng sau, những người thợ trình lên cho ông một vài mô hình, nhưng ông xem một lúc, lắc đầu không ngừng, không có cái nào được ông chấm cả. Cái thì bắt chước những kiến trúc bằng gỗ đã từng xây ở chỗ khác rồi nên không có cá tính gì cả ; cái thì quá cứng ngắc, không đủ đẹp mắt và trang nhã ; cái thì tạm có thể gọi là tinh xảo nhưng lại không thể chứa được một pho tượng Phật cao năm, sáu trượng (17 hay 20 thước tây).

    Một tháng lại trôi qua, đám thợ lại trình lên một vài mô hình khác. Uất Trì Kính Đức mới thoạt nhìn đã giận quá, râu xõa ra hết vì mấy cái mô hình ấy, cái nào cũng như cái nấy, chỉ là những đồ bỏ không hơn không kém ! Ông lớn tiếng quát lên :

    - Đồ ngu ! Đồ ngu !

    Không có mô hình nào của lầu Quán Âm làm cho Uất Trì Kính Đức vừa ý khiến ông lo lắng sủi cả bọt mép, ăn thì nuốt không xuống, ngủ thì không chợp mắt được.

    Buổi chiều hôm ấy, ông ngồi nốc một mình hai lượng rượu giải sầu, mê mê tỉnh tỉnh dựa vào chồng mền được xếp ngay ngắn đằng sau lưng, đột nhiên thấy một ông lão râu đen đẩy cửa bước vào phòng, tay cầm một cái lồng dế. Uất Trì Kính Đức nhìn cái lồng, nó không giống một cái lồng dế bình thường mà lại tinh xảo đặc thù, hình dáng như một cái lầu các, từ ngoài nhìn thì thấy có hai gian, từ trong nhìn thì thấy có ba tầng, ở giữa trống không thông lên tới đỉnh. Mắt ông chợt sáng lên, đây đúng là một mô hình của lầu Quán Âm mà ông thấy trúng ý mình nhất. Ông vội hỏi :

    - Sư phụ à, cái lồng dế này bao nhiêu tiền ?

    Ông lão râu đen đáp :

    - Bao nhiêu cũng không bán.

    Uất Trì Kính Đức lo quá :

    - Tôi đặc biệt cần một cái lồng dế như thế này.

    - Tôi đặc biệt đem cái lồng này đến tặng ngài đó chứ !

    Nói xong ông lão râu đen đặt lồng dế lên bàn, quay người bỏ đi ra ngoài.

    - Ông ơi khoan đi đã, để tôi trả tiền cho ông !

    Uất Trì Kính Đức đưa chân lên toan chạy đuổi theo thì "huỵch" một tiếng, ông từ giường lăn xuống đất, thì ra đó chỉ là một giấc mộng !

    Ông đứng dậy, lượt qua một lần trong óc những gì đã mộng thấy, mừng rỡ quá chạy ra khỏi phòng và ngay đêm ấy, cho gọi bọn thợ đến, tả lại cho họ nghe tỉ mỉ hình dáng cái lồng dế mà ông đã thấy trong mộng.

    Bọn thợ nghe xong thì hiểu ý ông một cách rõ ràng. Họ làm việc ngày đêm không ngừng, chẳng lâu sau đã tạo được một cái mô hình của lầu Quán Âm. Uất Trì Kính Đức nhìn qua là vừa lòng ngay, thế là chỉ mấy ngày sau họ khởi công xây cất.

    Ba tháng nữa trôi qua, sườn cốt của lầu Quán Âm đã được dựng lên, họ bắt đầu đóng cái rui. Một buổi trưa nọ, bọn thợ đang ngồi dưới đất vừa ăn cơm vừa cười nói vui vẻ, thì có một ông lão râu đen bước đến vái chào và nói :

    - Tôi là thợ mộc, đi cùng với gia đình ngang qua đây nhưng hết tiền lộ phí, xin quý ông vui lòng cho tôi xin một chút cơm.

    Bọn thợ nói :

    - Mời ông ngồi xuống đây ăn chung với chúng tôi.

    Ông lão đưa chén lên, và mấy và cơm rồi gắp một gắp rau bỏ vào miệng, vừa nhồm nhoàm nhai vừa nói :

    - Thiếu muối !

    - Ông ăn mặn quá nhỉ, chúng tôi đã bỏ muối vào rau nhiều rồi đấy !

    Một người thợ vừa nói vừa đưa cho ông một nhúm muối.

    Ông lão lại gắp rau rồi nói một lần nữa :

    - Thiếu muối !

    Một người thợ khác lại bốc muối đưa cho ông. Sau một lúc ông lại gắp rau ăn, dùng tay lau mồm, ngẩng cổ lên nhìn lầu Quán Âm, lắc đầu bước ra ngoài bỏ đi, vừa đi vừa lầu bầu :

    - Thiếu muối ! Thiếu muối !

    Sau đó bọn thợ kể lại chuyện này cho Uất Trì Kính Đức nghe, ông này giật mình và nhận ra ngay : vóc người cùng mặt mũi của ông lão râu đen này giống y hệt với ông lão đã đem lồng dế lại cho mình trong mộng, không phải là thầy Lỗ Ban hiển thánh đó sao ?

    Ông đứng trước lầu Quán Âm, một mặt nhìn cái rui đã đóng xong, một mặt suy nghĩ đến hai chữ "thiếu muối". Thật lâu sau, ông chợt tìm ra đáp số cho bài toán đố trên : thì ra cái rui đỡ mái hiên ngắn quá ! (lnd : muối tiếng Hán là "diêm", đọc là "yán" ; mái hiên, "thiềm", cũng đọc là "yán" ; "đoản" là ngắn, thiếu…).

    Ông bảo thợ leo lên giàn, nối cái rui dài ra một xích (33 cm), ôi ! Tuyệt vời ! Chống cái đấu xong thì mái hiên lầu dường như muốn cất cánh bay lên vậy ! Thế là Uất Trì Kính Đức ra lệnh chỗ nào của rui mái hiên có dáng hất lên như nét "khiêu" (lnd : nét hất từ dưới lên trên trong thư pháp) thì nối dài ra một xích.

    Một năm sau, lầu Quán Âm xây xong, Uất Trì Kính Đức muốn mời người đến viết cho một tấm biển, nhưng những nhà thư pháp nổi danh không phải dễ tìm.

    Đêm hôm ấy ông vừa chợp mắt ngủ thì Lỗ Ban lại đến trong mộng bảo rằng :

    - Cái vụ viết biển đó, ông khoan hãy gấp. Hiện nay có một ngôi sao Thái Bạch vừa mới giáng trần, sinh ra sẽ là một nhà thơ rất lừng danh, hãy đợi ông ta viết biển cho !

    Thế là Uất Trì Kính Đức không làm biển, và quả nhiên về sau khi nhà thơ Lý Bạch nổi tiếng rồi thì có người mời viết cho bốn chữ "Quán Âm chi Các" trên một tấm biển vuông.

    Uất Trì Kính Đức cung kính lễ lạy Lỗ Ban, vị thợ tài ba ấy. Xây xong lầu Quán Âm rồi, ông bèn dặn thợ lập một cái miếu cho Lỗ Ban ở phía đông cách đó không xa. Vì Lỗ Ban tên thật là Công Thâu Ban, là người nước Lỗ nên dân chúng quen gọi là Lỗ Ban, do đó miếu có tên là "Công Thâu tử miếu".

    Hiện nay cái miếu tinh xảo, đặc thù ấy hãy còn tồn tại.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quan Âm Truyền Thuyết

    (Tuyển Tập)

    Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ



    Hòa Thượng Giả Bị Phạt


    Ngày xưa có một nhà phú hộ, lớn tuổi rồi mới sinh được đứa con muộn, đặt tên là Thừa Tài.

    Thời gian qua như thoi đưa, 18 năm sau Thừa Tài biến thành một thanh niên chơi bời phóng đãng, cả ngày ở ngoài đường rượu chè trai gái, chơi hoa bẻ cảnh, tiêu phí không biết bao nhiêu là tiền bạc. Lão phú hộ cưng con như ngọc, không những không trách mắng lấy nửa câu mà còn đắc ý nói rằng "tiền đi rồi tiền trở lại mà !".

    Năm ấy lão phú hộ qua đời, gia tài kếch xù kia để lại hết cho Thừa Tài. Từ đấy, Thừa Tài mặc sức tiêu phí, nào cờ bạc nào lầu xanh, càng chơi bời càng sa lầy, không thể nào quay về con đường thiện được nữa. Không đến ba năm sau gia tài to lớn của cha để lại đã tiêu tán sạch sành sanh !

    Từ một anh công tử con nhà phú hộ từ bé đến lớn chỉ biết ăn thịt uống rượu, trau tria chải chuốt, nay Thừa Tài đã biến thành một kẻ áo quần lam lũ, tóc tai bờm xờm như ăn mày, láng giềng không buồn ngó ngàng đến, bạn bè cũ cũng xoay mặt làm ngơ, ai nhìn cũng thấy phát ghét.

    Thừa Tài nghĩ :

    - Tiếp tục sống kiểu này thì thật là sống cũng như chết, phải tìm một con đường khác mới được.

    Một hôm, hắn thấy một vị xuất gia đến làng của mình hóa duyên, được bất luận người giàu hay nghèo, ai ai cũng kính cẩn cúng dường. Thừa Tài thấy thế tròng mắt láo liên, nghĩ ra một kế :

    - Đúng rồi ! Giả dạng làm thầy chùa đi xin tiền, đúng là làm ăn không cần vốn !

    Thế là hắn cạo đầu nhẵn thín, ăn mặc như thầy tu, đi ra làng khác hóa duyên. Nhưng mấy ngày sau, bụng no thì có no nhưng cặp đùi thì nhức nhối, chân đi khập khiễng, hắn biến thành một "ông thầy cà thọt".

    Hóa duyên thật là khổ, Thừa Tài bèn nghĩ đến chuyện để tóc lại. Hôm ấy đang đi trên đường, bỗng thấy một ni cô trẻ tuổi đi ngang, chắp tay nói với hắn :

    - Chưa thoát được tục lụy, đến Nam Hải lễ Phật, trước tiên phải bỏ ác, sau mới trở thành thiện.

    Thừa Tài thấy đột nhiên xuất hiện một ni cô xinh đẹp mỹ miều, đến gặp mình nói chuyện có câu có kệ thì lập tức tươi cười hí hởn, tà niệm nẩy sinh. Vị ni cô trừng mắt một cái và bỏ đi lập tức, Thừa Tài chưa đi được mấy bước cà thọt mà người đẹp đã biến mất đằng xa.

    Thừa Tài nhìn theo bóng dáng của cô, hai con mắt cứ xoay tít :

    - A, Nam Hải Phổ Đà Sơn, chính là chốn Cực Lạc của các đệ tử nương thân cửa Phật đây mà !

    Càng nghĩ hắn càng thích thú, thế là hắn vượt biển đến đảo Phổ Đà. Tuy nhiên hắn biết mình là một ông sư giả, không dám đến các chùa lớn xin tá túc mà chỉ đắp một túp lều tranh nhỏ ở ngã rẽ đường Ngọc Đường, bày một bức tượng Quán Âm Bồ Tát, gõ mõ thật to và tụng kinh Phật thì lí nhí trong họng, hóa duyên với khách hành hương qua lại.

    Quả nhiên chuyện "làm ăn" của hắn cũng phát đạt, cuộc sống trở nên dư dả, nhưng tâm thì càng ngày càng gian tà. Không lâu sau, hắn bỏ túp lều tranh và chỉ chuyên môn theo đuổi các nữ hương khách trẻ tuổi, làm ô uế cửa Phật bằng những hành động đồi phong bại tục.

    Một hôm Thừa Tài đến động Triều Âm, nham nhở nhìn ngắm những cô khách hành hương trẻ, có lúc dùng lời cợt nhã sàm sỡ để trêu ghẹo, có khi tìm cách kề vai sát vế, khiến cho các cô sợ hãi lúng túng, chỉ ráng trốn tránh mà không dám phản đối ra mặt.

    Từ rừng Trúc Tím bỗng nhiên có một ni cô trẻ tuổi bước ra, trừng mắt nhìn Thừa Tài một cái rồi quay đi về phía động Quán Âm.

    Thừa Tài nhận ra vị ni cô xinh đẹp mà mình đã có lần gặp bèn la lớn :

    - Cô ấy đây rồi ! Đúng là "hữu duyên thiên lý năng tương ngộ" mà !

    Ba hồn chín vía của hắn đê mê, con mắt háo sắt của hắn như bị thôi miên, rồi như thể có một sợi dây vô hình nào kéo đi, hắn đi theo ni cô không rời nửa bước.

    Một ni một tăng, người trước người sau, đi từ Quán Âm Động đến tảng đá Bàn Đà ở Tây Thiên, đi ngang Am Mây Phúc, vượt qua tảng đá có khắc chữ Tâm, chùa Phổ Tế, động Triều Dương, rồi ven theo bãi cát ngàn bộ, xuyên qua đình Vọng Hải, đi ngược về thung lũng cát bay, và cuối cùng đến động Phạm Âm.

    Đi một vòng như thế khiến Thừa Tài nhức nhối tới long cả xương chân, mũi thở phì phì.

    Trời bắt đầu tối, xung quanh không có một người. Thừa Tài thấy ni cô ngồi xuống một cái lan can bằng đá, cúi đầu chăm chú nhìn cảnh chiều trên biển, bèn bổ xông tới như con chó đói. Nào ngờ đầu hắn bị va vào thành đá lan can nghe cái "rầm", máu chảy dầm dề. Vị ni cô nọ đã ngồi trên hoa sen từ bao giờ, đưa tay về phía Phạm Âm động phất nhẹ, từ trong động chợt vọt ra một ngọn sóng cao cả trăm trượng, cuốn Thừa Tài ra biển Liên Hoa biến thành con cá heo.

    Thừa Tài hối hận cũng đã muộn. Từ đó mỗi kỳ nước lũ mùa xuân người ta lại nghe "bõm, bõm", đó là con cá heo từ ngoài biển khơi hướng về Phổ Đà Sơn mà lễ bái, cầu xin Bồ Tát Quán Âm phát từ bi tâm xá tội cho nó. Nhưng Ngài Quán Âm vẫn còn giận nó làm chuyện xấu xa, ô uế đất Phật, nên chưa chịu tha.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quan Âm Truyền Thuyết

    (Tuyển Tập)

    Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ



    Ðội Đá Chận Lính


    Ở Ðại Lý, tỉnh Vân Nam, dân tộc Bạch Tộc sống quây quần với nhau trong một sơn trại. Trong sơn trại có một ngôi miếu thờ một bức tượng Quán Âm lưng cõng một tảng đá lớn. Nghe nói rằng ngôi miếu này đã được dân Bạch Tộc xây lên từ thời nhà Hán để tại ơn ngài Quán Âm.

    Ðại Lý ở Vân Nam đất đai phì nhiêu, non xanh nước biếc. Người Bạch Tộc đã định cư ở đây từ không biết bao nhiêu là thế hệ rồi. Ðó là một sắc dân hiền lành chất phác, siêng năng cần mẫn và còn hát hay múa đẹp, họ sống một đời sống thanh bình, đủ ăn đủ mặc. Nhưng những năm cuối của triều đại nhà Hán thiên hạ loạn lạc, dân Bạch tộc bị nạn đao binh đe dọa.

    Số là có một vị tri phủ ở Quế Lâm, Quảng Tây, đã dấy binh làm loạn và muốn kiếm tiền mua binh khí và lương thực nên nhắm sơn trại Ðại Lý của dân Bạch Tộc, quyết định kéo binh đến xâm chiếm sơn trại. Vị tri phủ nọ thừa biết dân Bạch Tộc hiền lành, không có phòng vệ, cho rằng xâm chiếm sơn trại cướp đọat tiền tài của cải của dân Bạch Tộc là một việc dễ dàng như trở bàn tay, nên dẫn đầu một toán binh sĩ hăm hở rầm rộ lên núi.

    Nghe tin này, dân Bạch Tộc kinh hoàng, không ai là không lo sợ bất an. Ngay đúng cái thời điểm nguy hiểm đó, Quán Âm Bồ Tát đặt chân lên sơn trại.

    Ðầu tiên, Ngài hóa thành một vị du tăng hành cước, tìm đến nhà trại chủ xin tá túc qua đêm. Trại chủ đang ưu sầu ủ ê, không biết sao đối phó với đám loạn binh đang kéo đến, nên nói với vị tăng hành cước :

    - Sư phụ ơi, sư phụ đừng nghỉ chân đêm nay ở chỗ này thì hơn. Sư phụ không thấy đám loạn binh đang muốn xâm chiếm sơn trại của chúng tôi đó sao ? Chúng tôi đang bàn tính với nhau tìm cách chống cự, nhưng ở đây binh lính không đông, tướng tá cũng không nhiều, làm sao chống cự lại họ ! Dân chúng trong làng đang kiếm đường chạy giặc tứ tán, sư phụ nên chạy trốn đi để khỏi mất mạng.

    Ai ngờ vị tăng hành cước điềm nhiên trả lời :

    - Xin trại chủ bớt lo phiền, bần tăng có cách làm cho họ lui binh.

    Trại chủ nhìn vị tăng một cách kinh dị :

    - Làm cho họ lui binh ? Sư phụ chỉ có một mình, làm cách nào để đẩy lùi họ được ?

    Vị tăng đáp :

    - Bần tăng có cách. Chỉ xin trại chủ y theo lời của bần tăng mà bố trí là được. Một là tứ bề xung quanh thôn trại, phải cắm cờ xí cho nhiều vào. Hai là đặt chừng một trăm người lính đứng thủ vệ cửa trại một cách chỉnh tề để cho địch tưởng rằng bên trong sơn trại có một số đông quân lính đang mai phục và phòng vệ cẩn mật. Một chút nữa khi địch quân tới, một mình bần tăng sẽ đi chận họ lại.

    Nói xong vị tăng rời sơn trại. Trại chủ bán tín bán nghi nhưng cũng cho sắp đặt bố trí y như lời vị tăng dặn dò.

    Lúc ấy, một toán quân do vị tri phủ lãnh đạo hùng hổ xông lên sơn trại. Ở một chỗ cách sơn trại chừng vài trăm thước, tri phủ thấy một một người đang chận lối đi, thì ra đó là một bà già đầu tóc bạc phơ, lưng cõng một khối đá to tướng. Khối đá này vuông vức mỗi bề chừng hai xích, nặng ước chừng 1 trăm mấy chục cân là ít. Thế mà hơi thở bà cụ vẫn đều đặn, chân bước thoăn thoắt, nhẹ nhàng ném khối đá lên mặt đất. Nhìn trên mặt đường thì đã có rất nhiều khối đá lớn như thế chồng thành một núi cao, ngăn trở không có đội quân nào tiến vào được. Những tên lính tiên phong cảm thấy kỳ dị bèn hỏi bà cụ rằng :

    - Bà cụ kia, đang làm gì đó ? Già cả như vậy làm sao khiêng nổi một tảng đá lớn như thế ?

    Bà cụ cười đáp :

    - Mấy ông không thấy sao ? Tôi chồng đá để chận đường quân địch đó mà ! Tôi thì già rồi, mấy viên đá nhỏ này ăn thua gì, chứ mấy anh chàng thanh niên trẻ tuổi trong trại thì khác, họ khiêng đá tảng nào tảng nấy to hơn thế này nhiều !

    Người binh sĩ tiên phong nghe bà cụ nói thế bèn nói riêng với tên lính bên cạnh :

    - Nếu bà già này mà sung sức như vậy thì bọn trai trẻ trong trại chắc là sức mạnh vô địch ! Thật là đáng sợ.

    Nói xong vội vàng trình tự sự lên vị tri phủ. Tri phủ tiến đến gần đội quân tiên phong, nhìn thấy tường đá rồi thì sợ hãi vô cùng. Ngước lên nhìn lần nữa thì thấy xung quanh trại cờ xí phần phật trong gió, đội quân thủ vệ thì tề chỉnh nghiêm mật, uy phong lẫm lẫm, bỗng đâm ra rụt rè, thầm nghĩ :

    - Dân trên núi này sức mạnh vô song, ta không phải là đối thủ của họ, tự nhiên tiến vào chiếm đất thế nào cũng bị thua to !

    Nghĩ thế xong bèn lập tức hạ lệnh lui binh. Bọn lính rút về Quảng tây, thầm lặng như những con rùa rụt đầu.

    Dân chúng từ sơn trại nhìn xuống, thấy rõ ràng mọi sự đã xảy ra. Trước tiên, họ ngạc nhiên thấy có một bà lão không biết từ đâu xuất hiện, nhưng lại không thấy vị tăng hành cước đâu nữa. Sau đó họ thấy bà lão ung dung thư thái từ eo núi bước ra với những tảng đá lớn trên lưng, rồi lại thấy đoàn quân giặc lên núi, không đánh mà lui thì vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ. Ðợi quân dịch rút lui xong, dân làng mới chạy túa ra đi tìm bà lão, nhưng bà đã biến đâu mất từ lâu !

    Về sau, có một ông lão Phật tử duy nhất trong sơn trại bỗng nhiên đại ngộ, nghĩ ra rằng vị tăng hành cước và bà lão kia đều là Quán Âm Bồ Tát hiển thánh, và nói lên sự khám phá của mình cho mọi người nghe.

    Dân làng ùn ùn quỳ xuống khấu đầu lễ tạ, tại ơn Bồ Tát đã cứu họ khỏi bị cảnh nạn đạo binh, người mất nhà tan.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quan Âm Truyền Thuyết

    (Tuyển Tập)

    Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ



    Thủy Nguyệt Quán Âm


    Quán Âm Bồ Tát đến Cô Tô thì gặp ngay lúc thành phố này đang bị nạn đao binh hoành hành, dân chúng thành Cô Tô bị lính người Kim tàn sát chết cả hơn mười vạn người, oan hồn vất vưởng các nơi đồng hoang mông quạnh thật là khổ sở. Bồ Tát thấy thế khởi lòng lân mẫn, phát tâm từ bi sâu rộng, nên thi thố pháp lực để cứu vớt những oan hồn ấy thoát khỏi mọi khổ ách.

    Bồ Tát hóa thành một ni cô ở tuổi trung niên, tay cầm tịnh bình dương liễu, đến nơi có nhiều oan hồn tụ tập mà chồng đá xây một cái đài cao vài trượng, lên đài ngồi kết già phu và tụng những bộ kinh phá địa ngục chướng như "Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh" hoặc là "Đại Bi Chú Kinh", mỗi lần một ngàn biến. Xong một ngàn biến thì Ngài lấy nhánh dương liễu chấm vài giọt nước cam lồ trong tịnh bình, nhìn lên không trung mà rắc khắp một vòng, sau đó cắm lại nhánh dương liễu vào tịnh bình đâu đó cẩn thận rồi mới tụng kinh tiếp.

    Sự Quán Âm Bồ Tát lập đài tụng kinh để siêu độ oan hồn của những người đã bị giết hại trong chiến tranh làm cho những người đương thời rất ngạc nhiên. Họ không hiểu ý nghĩa hành động này, mà chỉ thấy một người thiếu phụ xinh đẹp đến xây một cái đài rồi lên đó ngồi tụng kinh, họ cho là kỳ quái nên ùn ùn kéo nhau đến nhìn rồi nhao nhao bàn tán với nhau, mỗi người một ý, không ai đồng ý với ai. Người thiếu phụ nói để chấm dứt sự nghi ngờ của mọi người :

    - Ở đây người vô tội đã bất hạnh chết dưới tay người Kim rất nhiều, số người chết oan như thế lên tới cả chục ngàn sinh linh, thật là thê thảm. Những oan hồn ấy không ở trong ba giới cũng không vào sáu nẻo, mà cứ lưu lạc bơ vơ vất vưởng ở bên ngoài. Hôm nay bần ni có nhân duyên đến chỗ này, vâng theo tôn chỉ từ bi của đức Phật làm sao cho họ được siêu độ, vì thế nên mới xây đài phát nguyện tụng kinh trong 49 ngày, dùng nhành dương liễu rảy nước cam lồ khắp nơi, để họ thoát mọi khổ ách và vãng sinh nước Cực Lạc. Mọi người không nên nghi ngờ, bần ni không hóa duyên cũng chẳng khất thực, chỉ muốn hoàn thành bổn nguyện của mình, thế thôi.

    Mọi người nghe vậy thì lục tục kéo nhau bỏ về.

    Thấm thoát ngày thứ 49 đã đến, chiều hôm ấy là ngày cuối, hết hạn tụng kinh của người thiếu phụ. Mọi người đúng kỳ hạn lại kéo nhau đến, yên lặng nghe Bồ Tát thuyết pháp. Quán Âm Bồ Tát nói :

    - Các vị hãy nghe tôi nói, tôi tụng kinh này tên là "Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh" có thể phá các chướng trong địa ngục, siêu độ tất cả mọi khổ cách trong thế giới u minh, tụng xong được một tạng thì tất cả mọi tai họa đều được tiêu trừ hết.

    Tiếp theo Bồ Tát đưa tịnh bình lên rồi lại nói :

    - Nước trong bình này của tôi gọi là cam lồ công đức thủy, rảy khắp mười phương chỉ cần một giọt thôi là đã có thể vãng sinh Cực Lạc quốc. Coi như bần ni có nhân duyên với chỗ này nên không tính trước mà lại đến, bần ni đã làm xong trách nhiệm của mình, tức là lập cách siêu độ giải trừ khổ ách cho hằng vạn sinh linh chết oan. Bây giờ công đức đã viên mãn, bần ni cũng phải đi nơi khác.

    Mọi người nghe nói vị ni sư này đã làm công đức như thế chỉ vì để siêu độ cho người bị nạn mà không đòi gì để đền bù nên cảm kích vô cùng. Trong đám những người ấy có một vị đột nhiên đại ngộ, nghĩ rằng việc làm và lời nói của vị ni sư này không bình phàm chút nào, chắc chắn người thiếu phụ này phải là Quan Thế Âm Bồ Tát hóa thân. Nếu thỉnh được Bồ Tát hiển hiện bảo tướng thì một đời hạnh phúc biết bao nhiêu ! Nghĩ thế rồi, ông chạy lên phía trước nói với người thiếu phụ rằng :

    - Nghe nói rằng Quán Âm Bồ Tát vân du trong nhân gian, hiện bảo tướng ở bất kỳ chỗ nào, không biết chúng tôi có thể có may mắn thấy được Bồ Tát một lần không ?

    Người thiếu phụ đáp :

    - Tâm tức là Phật, Phật tức là tâm, nếu thành tâm muốn gặp Bồ Tát thì trong tâm đã có Bồ Tát, nghĩa là đã là thấy Bồ Tát rồi !

    Sau đó, thiếu phụ chỉ về hướng bờ sông nói :

    - Không phải Bồ Tát đấy sao ?

    Mọi người nhìn theo hướng ngón tay của thiếu phụ, quả nhiên nhìn thấy trên mặt nước có bóng mặt trăng sáng cực kỳ, và họ thấy Bồ Tát chầm chậm bước vào trong bóng trăng ấy. Lúc ấy bóng trăng lung linh trên mặt nước gợn sóng, bảo tướng trang nghiêm và từ bi của Bồ Tát ảnh hiện giữa trời và nước, ánh sáng chiếu khắp tứ phía.

    Mọi người thấy thế bèn ùn ùn quỳ xuống lễ. Lễ xong đứng dậy, trên đài đá không còn bóng người thiếu phụ nữa. Người đã lên tiếng vừa rồi thấy điều mình nghi là đúng nên rất sung sướng, những người ở tại chỗ cũng chợt hiểu ra rằng người thiếu phụ chính là Quán Âm Bồ Tát hóa thân. Thế là thiện nam tín nữ trong thành Cô Tô ai nấy đều đồng lòng quyên góp tiền bạc để xây một ngôi Quán Âm miếu ngay tại chỗ mà Bồ Tát xây đài tụng kinh và tạc tượng Quán Âm Bồ Tát tụng kinh, rảy nước.

    Bức tượng này được dân gian đặt tên là "Quán Âm rảy nước" (Sái Thủy Quán Âm) hay là "giọt nước Quán Âm" (Trích Thủy Quán Âm).

    Trong số những người đã nhìn thấy Bồ Tát hiện thân, có nhà họa sĩ Khưu Tử Thanh, là một họa sĩ có nét vẽ tuyệt vời. Người này tin Phật một cách thuần thành, có đầy đủ huệ nhãn, muốn cho người đời đồng chiêm bái bảo tướng Bồ Tát và đồng thấm nhuần pháp vũ, bèn vẽ lại bảo tướng Bồ Tát thị hiện trong bóng trăng trên nước. Trong bức họa này, ánh trăng lồng trong ánh nước, bảo tướng trang nghiêm của Đại sĩ lấp lánh phóng ánh sáng trong mặt nguyệt lung linh, nét bút tinh xảo và xuất thần, ai thấy cũng phải tấm tắc là tuyệt. Thế nhân gọi bức tranh này là "Thuỷ Nguyệt Quán Âm".

    Một khi bức tranh Bồ Tát này được vẽ ra rồi là dân chúng thành Cô Tô nối đuôi nhau trước nhà Khưu Tử Thanh xin ông vẽ cho mình một bức. Khưu Tử Thanh muốn tuyên dương công đức của Bồ Tát nên ai xin cũng đều nhận lời, vì thế nên Phật tử đương thời ở đấy, ngoài bức "Sái Thủy Quán Âm" ra, phần đông cũng đều thờ bức "Thủy Nguyệt Quán Âm", cứ thế cha truyền con nối cho đến ngày nay. Hiện thời ở Tô Châu Hàng Châu, rất nhiều nhà riêng hãy còn thờ phụng bức tranh Thủy Nguyệt Quán Âm.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quan Âm Truyền Thuyết

    (Tuyển Tập)

    Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ



    Thủy Nguyệt Quán Âm


    Quán Âm Bồ Tát đến Cô Tô thì gặp ngay lúc thành phố này đang bị nạn đao binh hoành hành, dân chúng thành Cô Tô bị lính người Kim tàn sát chết cả hơn mười vạn người, oan hồn vất vưởng các nơi đồng hoang mông quạnh thật là khổ sở. Bồ Tát thấy thế khởi lòng lân mẫn, phát tâm từ bi sâu rộng, nên thi thố pháp lực để cứu vớt những oan hồn ấy thoát khỏi mọi khổ ách.

    Bồ Tát hóa thành một ni cô ở tuổi trung niên, tay cầm tịnh bình dương liễu, đến nơi có nhiều oan hồn tụ tập mà chồng đá xây một cái đài cao vài trượng, lên đài ngồi kết già phu và tụng những bộ kinh phá địa ngục chướng như "Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh" hoặc là "Đại Bi Chú Kinh", mỗi lần một ngàn biến. Xong một ngàn biến thì Ngài lấy nhánh dương liễu chấm vài giọt nước cam lồ trong tịnh bình, nhìn lên không trung mà rắc khắp một vòng, sau đó cắm lại nhánh dương liễu vào tịnh bình đâu đó cẩn thận rồi mới tụng kinh tiếp.

    Sự Quán Âm Bồ Tát lập đài tụng kinh để siêu độ oan hồn của những người đã bị giết hại trong chiến tranh làm cho những người đương thời rất ngạc nhiên. Họ không hiểu ý nghĩa hành động này, mà chỉ thấy một người thiếu phụ xinh đẹp đến xây một cái đài rồi lên đó ngồi tụng kinh, họ cho là kỳ quái nên ùn ùn kéo nhau đến nhìn rồi nhao nhao bàn tán với nhau, mỗi người một ý, không ai đồng ý với ai. Người thiếu phụ nói để chấm dứt sự nghi ngờ của mọi người :

    - Ở đây người vô tội đã bất hạnh chết dưới tay người Kim rất nhiều, số người chết oan như thế lên tới cả chục ngàn sinh linh, thật là thê thảm. Những oan hồn ấy không ở trong ba giới cũng không vào sáu nẻo, mà cứ lưu lạc bơ vơ vất vưởng ở bên ngoài. Hôm nay bần ni có nhân duyên đến chỗ này, vâng theo tôn chỉ từ bi của đức Phật làm sao cho họ được siêu độ, vì thế nên mới xây đài phát nguyện tụng kinh trong 49 ngày, dùng nhành dương liễu rảy nước cam lồ khắp nơi, để họ thoát mọi khổ ách và vãng sinh nước Cực Lạc. Mọi người không nên nghi ngờ, bần ni không hóa duyên cũng chẳng khất thực, chỉ muốn hoàn thành bổn nguyện của mình, thế thôi.

    Mọi người nghe vậy thì lục tục kéo nhau bỏ về.

    Thấm thoát ngày thứ 49 đã đến, chiều hôm ấy là ngày cuối, hết hạn tụng kinh của người thiếu phụ. Mọi người đúng kỳ hạn lại kéo nhau đến, yên lặng nghe Bồ Tát thuyết pháp. Quán Âm Bồ Tát nói :

    - Các vị hãy nghe tôi nói, tôi tụng kinh này tên là "Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh" có thể phá các chướng trong địa ngục, siêu độ tất cả mọi khổ cách trong thế giới u minh, tụng xong được một tạng thì tất cả mọi tai họa đều được tiêu trừ hết.

    Tiếp theo Bồ Tát đưa tịnh bình lên rồi lại nói :

    - Nước trong bình này của tôi gọi là cam lồ công đức thủy, rảy khắp mười phương chỉ cần một giọt thôi là đã có thể vãng sinh Cực Lạc quốc. Coi như bần ni có nhân duyên với chỗ này nên không tính trước mà lại đến, bần ni đã làm xong trách nhiệm của mình, tức là lập cách siêu độ giải trừ khổ ách cho hằng vạn sinh linh chết oan. Bây giờ công đức đã viên mãn, bần ni cũng phải đi nơi khác.

    Mọi người nghe nói vị ni sư này đã làm công đức như thế chỉ vì để siêu độ cho người bị nạn mà không đòi gì để đền bù nên cảm kích vô cùng. Trong đám những người ấy có một vị đột nhiên đại ngộ, nghĩ rằng việc làm và lời nói của vị ni sư này không bình phàm chút nào, chắc chắn người thiếu phụ này phải là Quan Thế Âm Bồ Tát hóa thân. Nếu thỉnh được Bồ Tát hiển hiện bảo tướng thì một đời hạnh phúc biết bao nhiêu ! Nghĩ thế rồi, ông chạy lên phía trước nói với người thiếu phụ rằng :

    - Nghe nói rằng Quán Âm Bồ Tát vân du trong nhân gian, hiện bảo tướng ở bất kỳ chỗ nào, không biết chúng tôi có thể có may mắn thấy được Bồ Tát một lần không ?

    Người thiếu phụ đáp :

    - Tâm tức là Phật, Phật tức là tâm, nếu thành tâm muốn gặp Bồ Tát thì trong tâm đã có Bồ Tát, nghĩa là đã là thấy Bồ Tát rồi !

    Sau đó, thiếu phụ chỉ về hướng bờ sông nói :

    - Không phải Bồ Tát đấy sao ?

    Mọi người nhìn theo hướng ngón tay của thiếu phụ, quả nhiên nhìn thấy trên mặt nước có bóng mặt trăng sáng cực kỳ, và họ thấy Bồ Tát chầm chậm bước vào trong bóng trăng ấy. Lúc ấy bóng trăng lung linh trên mặt nước gợn sóng, bảo tướng trang nghiêm và từ bi của Bồ Tát ảnh hiện giữa trời và nước, ánh sáng chiếu khắp tứ phía.

    Mọi người thấy thế bèn ùn ùn quỳ xuống lễ. Lễ xong đứng dậy, trên đài đá không còn bóng người thiếu phụ nữa. Người đã lên tiếng vừa rồi thấy điều mình nghi là đúng nên rất sung sướng, những người ở tại chỗ cũng chợt hiểu ra rằng người thiếu phụ chính là Quán Âm Bồ Tát hóa thân. Thế là thiện nam tín nữ trong thành Cô Tô ai nấy đều đồng lòng quyên góp tiền bạc để xây một ngôi Quán Âm miếu ngay tại chỗ mà Bồ Tát xây đài tụng kinh và tạc tượng Quán Âm Bồ Tát tụng kinh, rảy nước.

    Bức tượng này được dân gian đặt tên là "Quán Âm rảy nước" (Sái Thủy Quán Âm) hay là "giọt nước Quán Âm" (Trích Thủy Quán Âm).

    Trong số những người đã nhìn thấy Bồ Tát hiện thân, có nhà họa sĩ Khưu Tử Thanh, là một họa sĩ có nét vẽ tuyệt vời. Người này tin Phật một cách thuần thành, có đầy đủ huệ nhãn, muốn cho người đời đồng chiêm bái bảo tướng Bồ Tát và đồng thấm nhuần pháp vũ, bèn vẽ lại bảo tướng Bồ Tát thị hiện trong bóng trăng trên nước. Trong bức họa này, ánh trăng lồng trong ánh nước, bảo tướng trang nghiêm của Đại sĩ lấp lánh phóng ánh sáng trong mặt nguyệt lung linh, nét bút tinh xảo và xuất thần, ai thấy cũng phải tấm tắc là tuyệt. Thế nhân gọi bức tranh này là "Thuỷ Nguyệt Quán Âm".

    Một khi bức tranh Bồ Tát này được vẽ ra rồi là dân chúng thành Cô Tô nối đuôi nhau trước nhà Khưu Tử Thanh xin ông vẽ cho mình một bức. Khưu Tử Thanh muốn tuyên dương công đức của Bồ Tát nên ai xin cũng đều nhận lời, vì thế nên Phật tử đương thời ở đấy, ngoài bức "Sái Thủy Quán Âm" ra, phần đông cũng đều thờ bức "Thủy Nguyệt Quán Âm", cứ thế cha truyền con nối cho đến ngày nay. Hiện thời ở Tô Châu Hàng Châu, rất nhiều nhà riêng hãy còn thờ phụng bức tranh Thủy Nguyệt Quán Âm.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quan Âm Truyền Thuyết

    (Tuyển Tập)

    Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ



    Ao Quán Âm


    Xưa thật là xưa, dưới chân núi Hổ Phong phía đông huyện Bích Sơn, tỉnh Tứ Xuyên, có một người nhà giàu họ Hoàng. Tiểu thư nhà này đem lòng yêu thương một người thợ làm công trong nhà, ông nhà giàu biết được bèn sai gia nhân tống cổ người thợ ra khỏi cửa. Tin này đến tai cô tiểu thư, cô bèn lén bỏ nhà đi theo tiếng gọi của ái tình.

    Hai người đi hoài đi mãi, đi đến một khe núi nọ, người thợ mới nghĩ rằng :

    - Ta nghèo khổ đến nỗi một cái nồi nấu cơm cũng không có, nên ở độc thân là hơn, tại sao lại kéo tiểu thư vào cái cảnh sống cơ cực này ? Chi bằng lập kế bắt nàng phải trở về !

    Nghĩ ngợi kỹ lưỡng rồi bèn ngắt một bó lá, nói rằng :

    - Nàng ở đây chờ một chút, tôi ra đằng kia đi cầu rồi trở lại.

    Nhưng người thợ một đi là không trở lại. Tiểu thư chờ đợi mỏi mòn, đi khắp các đường đèo dốc núi, vừa đi tìm vừa gọi tên, gọi tới rát khan cả cổ mà vẫn không thấy bóng người tình, cô tuyệt vọng quá đến một gốc cây treo cổ tự tử.

    49 ngày sau, người thợ kia đi ngang qua khe núi bữa trước, tới chỗ chia tay với cô tiểu thư ngày nào thì bất chợt thấy nàng đang ngồi ở đấy. Anh chàng vội vàng tiến đến hỏi :

    - Tại sao nàng lại ngồi ở đây ?

    Hoàng tiểu thư đáp :

    - Sau khi chàng bỏ rơi thiếp, cha thiếp không đoái hoài tới thiếp nữa nên ngày nào thiếp cũng đến đây ngồi đợi chàng.

    Người thợ thấy tiểu thư đối với mình chung tình và chân thành như thế, cảm thấy quá ăn năn hối hận, nói với nàng rằng :

    - Không phải tôi muốn bỏ nàng, thật ra chỉ vì tôi quá nghèo khổ, không nỡ thấy nàng vì tôi mà phải sống cảnh bần cùng cơ cực nên mới hành động như thế khiến cho nàng phải đau lòng, có trời chứng kiến cho lòng thành của tôi !

    - Thôi được, đừng nói đến nữa. Nhưng chàng phải hứa với thiếp là từ nay về sau chàng sẽ không bao giờ bỏ rơi thiếp nữa.

    - Không bao giờ nữa đâu ! Lần này là vì muốn cho nàng sung sướng nên mới làm như thế, nếu về sau còn làm thế nữa thì ra tôi táng tận lương tâm quá !

    Thế là hai người đến phía Nam huyện Bích Sơn, tìm một cửa tiệm có mặt tiền hướng ra ngoài đường mà mở tiệm bánh hấp để sinh sống. Tiệm bánh hấp mở không bao lâu đã phát đạt vô cùng.

    Một hôm, có một lão hòa thượng từ trên núi Hổ Phong xuống, thấy ở tiệm nọ có rất nhiều người đang tranh nhau mua bánh hấp, ngài cũng đến mua một cái.

    Mới đến ngài ngửi thấy có cái gì không ổn, dường như có yêu khí đâu đây ! Nhìn kỹ lại, ngài phát giác rằng yêu khí đó là từ người của bà chủ tiệm toát ra. Ngài đứng đợi một chút, thấy ông chủ tiệm bước ra đường, bèn gọi ông lại mời ông cùng đi dạo với mình một vòng. Ông chủ tiệm nào phải ai xa lạ, chính là anh chàng thợ làm công xưa kia. Lão hòa thượng nói một cách thẳng thừng :

    - Vợ ông là yêu tinh đó !

    Người chồng nghe thế giật mình hoảng hồn, nhưng cũng hơi giận nên đáp rằng :

    - Thầy dựa vào đâu mà nói vợ tôi là yêu tinh ? Vợ tôi là một người đàn bà hiền lành đức độ, lại còn siêng năng giỏi giang, làm sao là yêu tinh được ?

    Lão hòa thượng hỏi hai người cưới nhau lúc nào, thì người chồng không dấu giếm gì cả, đem hết sự thật kể cho ngài nghe. Lão hòa thượng lại nói :

    - Buổi sáng, hai ông bà ai là người ra khỏi giường trước ?

    - Vợ tôi luôn luôn dậy trước hấp bánh đâu đó xong xuôi rồi mới gọi tôi dậy, ai cũng nói tôi là "chuột sa chỉn nếp" !

    Lão hòa thượng nói :

    - Thế được rồi, sáng mai ông chờ bà ấy dậy, lén theo dõi xem bà ấy làm gì nhé.

    Nói xong ngài bỏ đi ngay. Người chồng tuy nói là không tin nhưng cũng muốn làm cho hai năm rõ mười nên làm theo lời hòa thượng.

    Sáng sớm hôm sau, người chồng thấy vợ ra khỏi giường rồi bèn mở mắt theo dõi. Trước hết, ông thấy vợ ra đứng trước gương chải đầu, chải đầu xong thì xuống bếp. Ông rón rén dậy theo, núp sau cánh cửa mà nhìn qua khe thì thấy vợ lấy gạo bỏ vào một cái vại lớn, chế nước vào rồi kê miệng thổi một hơi, gạo liền biến thành bột đã quậy nước rồi. Tiếp theo, ông thấy từng cái, từng cái lồng hấp bay vào nồi chồng lên nhau, không có lửa mà từ mấy cái lồng hấp ấy lại có khói bay lên mù mịt, còn cái vại bột gạo ban nãy thì không còn thấy nữa. Nhìn đến đây, ông tính trở về giường nhưng chợt thấy vợ biến thành một làn khói xanh bay xuyên qua khe cửa sổ mà ra khỏi nhà. Ông sợ quá, vội vàng trèo lên giường lấy mền che đầu kín mít. Một chốc sau bình tĩnh trở lại, ông suy nghĩ rằng :

    - Yêu tinh cũng có người tốt kẻ xấu, từ khi cưới nhau nàng đối với ta rất tốt, chắc nàng sẽ không bao giờ hại ta đâu. Hơn nữa, may mà nàng có pháp thuật nên cửa tiệm bánh mới phát đạt như thế ! Có gì đâu mà lo, yêu tinh thì yêu tinh, rồi đã sao nào ?

    Vợ ông trở về rồi bèn gọi ông dậy và hai người lại lo chuyện buôn bán như bình thường.

    Không lâu sau, lão hòa thượng lại đến mua bánh nữa. Chờ vắng khách ngài lại gọi người chồng ra hỏi :

    - Sao, ông thấy cả rồi phải không ?

    - Thấy thì thấy, nhưng vợ tôi không hại ai thì có sao đâu ?

    - Ông cứ cố chấp không chịu tỉnh ngộ ! Bây giờ bà ấy không hại ai, còn về sau thì sao ? Tại vì hồi đó ông bỏ rơi bà nên bà mới treo cổ tự tử, tại sao bà ấy chưa ăn sống ông tôi cũng lấy làm lạ ! Nhưng thôi, chuyện đó không nói, nhưng trong thành còn có dân chúng có thể bị vạ lây, vì ông mà mang họa. Ta không thể thấy vậy mà để yên.

    Nghe lão hòa thượng nói thế, người chồng cảm thấy đuối lý. Lão hòa thượng vội vàng vẽ 21 lá bùa, đưa cho ông dặn rằng :

    - Ngày mai, đợi vợ ông ra khỏi nhà rồi thì lấy mấy lá bùa này dán lên phía trên cửa vào và cửa sổ, dán xong, thủ trong mình 21 quả trứng gà và lên núi Hổ Phong tới cái miếu bên cạnh ao Quán Âm tìm ta. Vợ ông sẽ theo đuổi ông, khi nào ông thấy bà ấy sắp bắt kịp thì ném một quả trứng gà lên người bà. Gần đến miếu, ta sẽ có cách thu phục bà ấy.

    Người chồng tiếp lấy bùa, lại nghĩ thầm rằng :

    - Chính ra, vợ ta mà trở thành yêu tinh là lỗi tại ta. Nếu quả thật sau này bị hại, có chết cũng cam tâm nhưng ngộ nhỡ để cho người khác bị vạ lây rồi có bề gì thì tội ta rất lớn. Dầu sao đi nữa, xong vụ này ta phải xuất gia tu hành để độ cho oan hồn nàng được siêu sinh, có thế mới không uổng tình vợ chồng từ bao năm nay !

    Nghĩ thế xong, ông trở về nhà và làm như không có chuyện gì xẩy ra. Hôm sau trời chưa sáng, vợ ông ra ngoài rồi, ông lấy mấy là bùa dán lên phía trên cửa ra vào và cửa sổ như lời lão hòa thượng chỉ bày, rồi lấy trứng gà đem theo mình, hướng phía núi Hổ Phong lên đường.

    Vợ ông về nhà, thấy trên cửa và cửa sổ dán đầy bùa, nhớ lại lão hòa thượng hôm qua đến tìm chồng mình, bèn nghĩ rằng :

    - Chắc chắn lão hòa thượng này đến phá thối chứ không ai vào đây cả !

    Nghĩ xong bà quay đầu đuổi theo chồng, vừa chạy vừa kêu :

    - Phu quân ơi, sao lại bỏ thiếp vậy ? Thiếp một lòng một dạ với chàng mà !

    Người chồng nghe tiếng vợ kêu như vậy, lòng đau như cắt, đôi chân mềm nhũn. Nhưng khi thấy vợ sắp đuổi kịp, biết mình không thể quay về được nữa, bèn nhớ lại lời dặn của lão hoà thượng, lấy một quả trứng gà cắn răng ném vào người vợ.

    Vợ ông bị ném trúng quả trứng gà thì lập tức lùi lại mấy bước, kêu lên một cách thảm thiết :

    - Chàng đừng ném trứng gà lên người thiếp nữa ! Thiếp không bao giờ hại ai cả mà !

    Người chồng thừa cơ ấy đứng lại nói với vợ rằng :

    - Nàng đừng đuổi theo tôi nữa, tôi không cố ý bỏ nàng đâu. Tôi biết là tôi không xứng đáng với nàng, nhưng tôi đã quyết tâm xuất gia tu hành. Làm thầy tu rồi, biết đâu tôi có thể độ cho nàng được siêu sinh !

    Nói xong ông quay đi, hướng vế phía núi Hổ Phong mà chạy. Vợ ông cũng chạy theo đằng sau, chạy một lúc thì gần bắt kịp, ông lại phải ném một quả trứng gà khác. Cứ thế mà ném hết 21 quả trứng gà thì cửa miếu cũng vừa hiện ra trước mắt. Người chồng bủn rủn chân tay, ngã nhào xuống đất.

    Lão hòa thượng đã đứng trước cửa miếu từ bao giờ, mở xoạc một cánh quạt ra quạt một cái, trong ánh sáng chói lòa bắn ra, có thể thấy một làn khói xanh từ từ chui vào ao Quán Âm. Sau đó, giọng người vợ vang lên, vừa khóc vừa nói :

    - Trời ơi, sao số của tôi khổ thế này !

    Lão hòa thượng lại quạt thêm một cái nữa, bỗng có hai cái chuông sắt bay lên liên tiếp, một cái rơi trên cành cây mọc bên cạnh bờ ao treo lủng lẳng, một cái nữa thì rơi vào trong ao Quán Âm.

    Từ đó không nghe tiếng kêu khóc của người vợ nữa. Về sau có người nói rằng người chồng quả thật đã xuất gia làm thầy tu.
    __________________

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quan Âm Truyền Thuyết

    (Tuyển Tập)

    Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ



    Chuông Thần


    Xưa thật là xưa, chùa Pháp Vũ hãy còn là một cái am nhỏ, tên là am Hải Triều. Vị tổ thứ nhất của am Hải Triều tên là Đại Trí, đã dày công đúc một cái Đại Hồng Chung bằng đồng đen nặng hơn bảy ngàn cân treo tại lầu chuông, mỗi ngày sáng và chiều thỉnh chuông hai lần.

    Tiếng chuông trong trẻo rền vang, dư âm tới cuối ngày vẫn chưa dứt, cho đến Long Vương ở Thủy Tinh cung biển Đông Hải cũng nghe thấy, suốt ngày đứng ngồi không yên, chỉ muốn dẫn một đạo binh tướng cá, tướng rùa đến ngoài bãi cát Thiên Bộ Sa bái kiến Ngài Quán Âm.

    Về sau có bọn cướp Hồng Mao xâm nhập Phổ Đà Sơn, đi đến đâu là cướp bóc tài vật của dân chúng đến đó. Nghe nói chuông đồng của am Hải Triều là một bảo vật, nên tên đầu sỏ của bọn Hồng Mao phái khoảng mười tên cướp lực lưỡng, hấp tấp khiêng chuông đồng lên tàu đang đậu ngoài khơi, chở về nước của chúng.

    Tàu cướp về đến nước Hồng Mao, bọn giặc phải ra sức bằng hai cọp chín trâu mới khiêng chuông lên bờ. Nhưng vừa đến cửa thành thì chúng làm cách nào cũng không nhấc nổi chuông đồng, cả bọn nhốn nháo cả lên, viện binh thêm cả một đoàn người đến góp sức, làm gẫy mấy cây đòn bẫy mà chuông vẫn không xê xích một tơ một hào nào.

    Việc này làm chấn động toàn quốc. Vua nước Hồng Mao cũng cảm thấy lạ kỳ, bèn đích thân ra khỏi thành để nhìn tận mắt, nhưng khi ông vừa bước chân đến cửa thành thì chiếc chuông đồng bèn kêu "loong coong" một tiếng và lún xuống đất, chẳng bao lâu bị đất bùn lấp kín.

    Nhà vua bất mãn kêu người đào chuông lên, đào ngày đào đêm, không những không đào được chuông mà chuông càng ngày càng lún sâu xuống. Vua hoàn toàn cụt hứng, chỉ biết bỏ cuộc và ra lệnh từ đấy không còn ai được đào chuông nữa.

    Thoáng một cái mà hơn 10 năm trôi qua, nước Hồng Mao có một vị quốc vương khác lên ngôi. Có một hôm, chỗ cái chuông bị chôn đột nhiên vang lên tiếng "đinh ! đong !" ngày đêm không ngừng, khiến cho người Hồng Mao sợ hãi hoảng hốt. Vị quốc vương mới đứng ngồi không yên, vội vàng hạ lệnh đào chuông thần lên.

    - Phải đào chuông thần lên !

    Người Hồng Mao đổ về từ bốn phương tám hướng. Cửa thành trở nên chật ních, người đông như kiến. Già trẻ lớn bé đều một lòng cầu nguyện thượng đế bảo hộ cho họ bình an, một mặt nguyền rủa bọn cướp biển đã cướp chuông thần về.

    Cuối cùng, chuông lớn được đào lên rồi, trên mặt chuông có khắc rõ ràng bảy chữ "Nam Hải Phổ Đà am Hải Triều". Vị quốc vương mới đã mời đến vài chục người tu đạo của họ, ngày đêm thay phiên nhau khấn vái, nhưng tiếng chuông rền vang trong trẻo vẫn không chịu ngừng. Vị quốc vương này mới nghĩ rằng nếu giữ chuông trong nước mãi thì cả nước sẽ phỉ nhổ ông, vì thế quyết định trả chuông về xứ sở. Nhưng cái chuông ngàn cân như thế, làm sao chở về nổi ? Quốc vương và quần thần trong triều ai cũng lo âu phiền não.

    Có một nhà buôn người Phúc Kiến, đúng lúc ấy đang ở nước Hồng Mao buôn bán. Khi biết được tin này, ông vội vàng xin yết kiến quốc vương, và trình bày ý nguyện phụ trách việc chở chuông thần về cố hương. Quốc vương rất vui mừng, lập tức gọi một vị đại thần đưa ông đi đến chỗ chuông thần. Ra tới ngoài cửa thành, nhà buôn Phúc Kiến chạy đến xem thì quả nhiên thấy đây là thần khí nhà Phật của nước mình, lập tức quỳ xuống, thành tâm khấu đầu đảnh lễ ba lần, đầu đập xuống đất thật kêu. Tiếng chuông thần quả nhiên ngừng bặt, người Hồng Mao đứng nhìn xung quanh reo hò hoan hô từng đợt.

    Các vị thầy của am Hải Triều nghe nói đã tìm được chuông thần về, vội vàng xuất công xây một lầu chuông mới. Nhà buôn Phúc Kiến hộ tống chuông thần, vượt trăm sông ngàn núi mới về tới Phổ Đà Sơn.

    Ngày chuông thần về tới là ngày lầu chuông cũng vừa xây xong, tất cả các thầy của am Hải Triều đều ra sức, người kéo kẻ khiêng, treo chuông thần lên lầu chuông mới.

    Tiếng chuông trong trẻo của am Hải Triều lại vang rền trở lại trong khắp đảo từ đấy.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quan Âm Truyền Thuyết

    (Tuyển Tập)

    Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ



    Đoản Cô Đạo Đầu


    Xưa thật là xưa có hai người chị dâu em chồng sống chung với nhau. Hai chị em ăn tiêu rất cần kiệm ròng rã suốt mười năm trời, khó khăn lắm họ mới dành dụm được một số tiền. Thế là hai chị em chuẩn bị một cái giỏ hương đèn hoa quả, cùng nhau lấy thuyền đến Phổ Đà Sơn dâng hương và lễ bái Bồ Tát Quán Âm.

    Lúc ấy Phổ Đà Sơn chưa có bến đò, thuyền bè cứ thế mà đậu dọc theo một bãi cạn đầu phía tây của Nam Thiên Môn, và lấy dây thừng cột thuyền lại ở đấy.

    Thuyền đến Phổ Đà Sơn đúng lúc thủy triều xuống, khách hành hương vội xuống thuyền đi mất, chỉ có cô em chồng là còn ngồi đó ôm bụng, yên lặng cúi đầu không nhúc nhích. Người chị dâu gấp đi nên thúc dục cô, cô bèn lí nhí nói với chị rằng mình đang có kinh nguyệt, thân không thanh tịnh nên không dám bước chân lên đất thánh. Người chị dâu nghe thế, dậm chân thình thịch trách rằng :

    - Cô lớn đầu như thế mà tới ngày kinh nguyệt cũng tính không ra. Bây giờ lên không lên, xuống không xuống, ái dà ! Đó chính là nghiệp tội của cô đó thôi !

    Người chị dâu khiển trách cô em chồng một trận xong, chỉ đành tự xách giỏ lên bờ đi dâng hương một mình.

    Ông lão lái đò cũng lên bờ uống rượu rồi, trong khoang thuyền chỉ còn lại mỗi một mình cô gái nhỏ. Nghĩ đi nghĩ lại thân phận mình, muốn dâng hương mà không dâng được còn bị chị dâu chê trách cho một trận, cô tủi thân chỉ biết khóc, nước mắt tuông thành dòng, vừa ân hận mà cũng vừa sợ hãi. Bốn giờ đã trôi qua, nước triều lại dâng lên cao. Nước triều phủ cả bãi cát, con thuyền theo sóng mà lắc tới lắc lui,cô gái ngồi một mình trên thuyền vừa đói vừa khát, nghĩ lại thật là đau lòng !

    Ngay lúc ấy, từ rừng trúc tím có một bà lão bước ra, một tay chống gậy, một tay xách giỏ tre, bước những bước chân run rẩy đến chỗ chiếc thuyền. Bà còng lưng xuống nhặt một vốc đá nhỏ, và vừa đi vừa ném từng viên đá xuống nước biển nghe "bõm, bõm". Viên đá vừa chìm xuống đáy biển thì lập tức biến thành một tảng đá ngầm trồi lên khỏi mặt nước. Bà lão đi đến đâu ném đá đến đó, và trên bãi cạn một hàng đá ngầm mọc lên ngay ngắn, thẳng đến chỗ chiếc thuyền, giống như một cái bến đò vậy.

    Bà lão lên thuyền, cười tủm tỉm nói với cô gái :

    - Cô nương, cô đói rồi phải không ?

    Vừa nói bà vừa dở chiếc khăn hoa đậy giỏ tre, lấy ra một bát cơm rau thơm phưng phức đặt trước mặt cô gái.

    Cô em chồng thấy bà lão đem thức ăn tới, kinh ngạc hỏi :

    - Thưa bà, bà làm sao biết được là cháu đang đói bụng ở nơi này ?

    Bà lão cười cười :

    - Chị dâu của cô bảo tôi đem cơm đến cho cô dùng đó, cô dùng mau đi !

    Cô em chồng đói chịu không nổi nữa, nghe nói chị dâu gởi thức ăn đến thì bưng bát đũa lên và lấy và để . Ăn no rồi, cô mới đỏ mặt cám ơn bà lão. Bà lão không nói không rằng, thu dọn bát đũa, xách giỏ bỏ đi. Cô em chồng mỏi mệt, dựa vào khoang thuyền mà đánh một giấc.

    Ông lão lái thuyền uống rượu xong trở lại, mở to cặp mắt kèm nhèm, quái lạ ! làm sao chỗ này lại biến thành một cái bến đò ? Hay là ta đi lộn đường rồi chăng ? Ông lão dụi dụi mắt, tính toán cẩn thận, đâu có lộn ! Chiếc thuyền nhỏ nhà mình đây mà !

    Lúc ấy bà chị dâu cùng những người khách dâng hương cũng vừa về đủ, nghe lão lái đò nói họ cũng lấy làm lạ. Bà chị dâu bước mau vào khoang thuyền lay cô em chồng dậy, hỏi cô bến đò làm sao hiện ra ? Cô gái lắc đầu nói không biết. Bà chị dâu vừa lấy trong giỏ ra hai cái bánh lớn, vừa trách cô rằng :

    - Đoảng như cô là cùng ! Chỉ biết ngủ chứ không biết gì nữa hết. Thôi, mau ăn bánh đi !

    Cô em chồng ngạc nhiên :

    - Chị cho người đem cơm về cho em rồi mà ?

    Bà chị dâu cũng ngạc nhiên :

    - Ai cho người đem cơm về cho cô hồi hào ? Cô nằm mơ đấy hẳn ?

    Cô em chồng kể lại chuyện bà lão đem cơm ban nãy. Ông lái đò nghe xong vừa kinh ngạc vừa vui mừng, vỗ đùi reo lên :

    - Người đã tạo cái bến đò này và đem cơm đến cho cô, chắc chắn là Quan Thế Âm Bồ Tát !

    Những người đồng thuyền, ai cũng mừng cho cô gái vì cô đã được chính mắt nhìn thấy Ngài Quán Âm hiện thân, lại còn được Bồ Tát đem thức ăn cho ăn nữa.

    Bà chị dâu hãy còn nghi ngờ, bèn chạy một mạch đến Đại Hùng Bảo Điện của ngôi chùa trước mặt nhìn lên tượng Ngài Quán Âm, nhìn kỹ thì quả nhiên thấy vạt dưới của chiếc áo Ngài mặc hãy còn vết ướt của nước biển. Lúc ấy bà mới chịu tin lời của ông lão lái đò là đúng.

    Từ đấy, Phổ Đà Sơn mới có bến đò. Lại vì có câu chuyện chị dâu chê trách em chồng ở đấy nên bến đò này mới có tên Đoản Cô Đạo Đầu (Đầu đường cô bị trách).*


    * DH có lấy thuyền từ đảo Phổ Đà đi đảo Lạc Ca, thì không thấy "bến" Đoản Cô Đạo Đầu, mà thấy một tảng đá lớn có khắc bốn chữ "Đoản Cô cổ kiều" (cầu xưa "cô bị trách") ở ngay bến tàu.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quan Âm Truyền Thuyết

    (Tuyển Tập)

    Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ



    Thiên Ðăng Ðài


    Lúc ban đầu, Phật Ðỉnh Sơn không có chùa chiền, chỉ có một cái đình bằng đá nhỏ xíu. Trong am Duyệt Lĩnh có một chú sa di tên là Viên Huệ vừa đúng 15 tuổi. Mỗi ngày chú đều trèo lên Phật Ðỉnh Sơn đốn củi. Từ sáng sớm chú đã lên tới đỉnh núi, trời tối mịt mới trở về am, trong ngày khi mệt thì ngồi nghỉ trong cái đình bằng đá, cứ thế mãi không bao giờ gián đoạn.

    Có một buổi trưa nọ trời oi bức lạ thường, Viên Huệ ngồi trong đình hóng mát, ngẩng đầu lên nhìn ra xa, thấy trên mặt biển mây trời sắc màu lộng lẫy thật là huy hoàng. Một đoàn chim biển từ xa bay đến, xoay tròn trên Phật Ðỉnh Sơn thật lâu như không muốn rời xa. Ngắm những cảnh tượng ấy, Viên Huệ như có ý nghĩ riêng tư gì, chú nghĩ : Phật Ðỉnh Sơn đối diện với biển rộng, đẹp như tiên cảnh, giá như xây được mái chùa trên này thì không những hấp dẫn được hằng vạn hằng ngàn du khách hành hương mà còn có thể tăng thêm phần tráng lệ cho Nam Hải Phật quốc này.

    Ý nghĩ này như mọc rễ trong tâm chú, thế là chú vội vàng thu xếp gánh củi rồi gấp rút trở về am Duyệt Lĩnh, mới vào cửa đã nói ầm lên :

    - Sư Phụ, con đã thấy ánh sáng của Phật trên Phật Ðỉnh Sơn ! Ðó là một mảnh đất lành, phải cất ngôi chùa lớn trên ấy mới được !

    Vị hoà thượng đương gia không đồng ý, đáp rằng :

    - Tuy Phật Ðỉnh Sơn quả thật là một vùng đất quý, nhưng dễ gì mà cất ngôi chùa lớn trên ấy ? Nào ngói, nào gạch, nào gỗ, lấy ở đâu ra ?

    Viên Huệ chớp chớp mắt trả lời :

    - Ðệ tử đi bốn phương hoá duyên.

    Vị hòa thượng già nhìn Viên Huệ, vừa tò mò lại vừa cảm thấy buồn cười, bèn nói bừa rằng :

    - Con mà hóa duyên xây được chùa thì thầy nguyện sẽ nhóm lửa thổi cơm cho con làm trụ trì trong ba năm.

    Viên Huệ xin thầy một bộ cà sa cũ và một cái mõ, rồi rời Phổ Ðà Sơn đi hóa duyên.

    Qua biển rồi, chú lênh đênh vượt suối băng ngàn, lên thác xuống ghềnh, ngày đi đêm nghỉ, đi hết 6 tháng mới đến tỉnh Phúc Kiến. Một hôm, chú đi theo con đường mòn khúc khuỷu, băng qua một quả núi, quẹo qua một chỗ ngoặc thì đột nhiên thấy một ngôi làng, đằng trước là biển, đằng sau là một dãy núi cao. Chú đi nghe ngóng một hồi thì biết rằng trong làng có một ông tài chủ giàu có, mẹ ông là tín đồ Phật giáo, ăn chay niệm Phật đã lâu năm. Viên Huệ mừng rỡ, ba chân bốn cẳng chạy đến trước cửa nhà tài chủ, nhắm mắt đứng thẳng, gõ mõ không ngừng tay. Tài chủ nghe tiếng mõ bèn ra cửa xem, thấy một chú sa di vừa nhỏ con vừa nhỏ tuổi, mặc một bộ cà sa vừa dài rộng lại vừa cũ kỹ, trên lưng cõng cái mõ bằng gỗ vừa to lại vừa nặng, bộ dạng thật tiếu lâm, ai thấy cũng phải buồn cười. Ông bèn hỏi :

    - Chú tiểu ơi, chú xuất gia ở chùa nào, hóa duyên gì, và đọc kinh nào rồi ?

    Viên Huệ chắp tay vái chào, cười đáp một cách chân thành :

    - Xuất gia ở Quán Âm miếu, miếu ở Phổ Ðà Sơn, miệng tụng kinh Di Ðà, xin thí chủ bố thí kết duyên lành !

    Tài chủ nghe xong, kêu người bưng ra bát cơm chay và mời :

    - Từ Phổ Ðà Sơn đến đây đường xa thăm thẳm, mời chú dùng bát cơm chay này cho đỡ đói, nghỉ ngơi một chút rồi hẵn tiếp tục đi !

    Viên Huệ nhìn bát cơm chay, lắc đầu mà rằng :

    - Ngài Quán Âm hiển linh, phóng ánh sáng chiếu lên Phật Ðỉnh Sơn, thí chủ có duyên xin ủng hộ chút gỗ để xây chùa !

    Tài chủ nghe chuyện ủng hộ gỗ xây chùa thì trong lòng không vui, bèn lắc đầu bỏ đi.

    Viên Huệ đã quá hoan hỉ lúc mới đến đây hóa duyên, ngờ đâu tài chủ không cho gì cả nên cảm thấy trong lòng lo lắng. Chú chớp mắt, trong đầu nghĩ ra một kế, bèn làm như thái độ của tài chủ chẳng hề làm cho chú quan tâm chút nào. Chú ngồi xuống xếp bằng, và ra sức bình sinh gõ mõ "cốc, cốc" vang lừng. Tiếng gõ mõ làm kinh động bà mẹ già của tài chủ. Bà lão này chuyên ăn chay niệm Phật, đã lâu muốn đến Phổ Ðà Sơn hành hương một chuyến nhưng chỉ vì bị con trai cản trở nên chưa đi được. Vì vậy bà cứ u uất trong lòng, sầu não lâu ngày nên sinh căn bệnh kỳ lạ. Nay bỗng nghe tiếng mõ, liền hối a hoàn ra cửa xem đó là chuyện chi. Nghe nói đó là một chú tiểu từ Phổ Ðà Sơn tới, bà lên tinh thần ngay, đứng dậy ra cửa tiếp đón.

    Viên Huệ thấy bà lão từ trong nhà bước ra, cách ăn mặc của bà làm cho chú đoán được ngay rằng đây là mẹ của tài chủ. Chú khoan thai đứng dậy, miệng lẩm bẩm :

    - Tin Phật phải thành tâm ! Thành tâm Phật mới linh !

    Nói xong, chú quày quả bỏ đi.

    Bà cụ vội vàng gọi lại :

    - Chú tiểu ơi, trở lại đây ! Chú tiểu ơi, trở lại !

    Viên Huệ nghe tiếng kêu, không những không trở lại mà đi càng lúc càng mau rồi mất hút trong nháy mắt. Bà cụ lo lắng, cảm thấy lồng ngực như bị thắc nghẹn, đôi chân mềm nhũn và ngã nhào xuống đất. Tài chủ thấy vậy, vội vàng bồng mẹ già trở về phòng, nào xoa ngực, nào đấm lưng, cứ thế thật lâu bà lão mới từ từ hồi tỉnh lại, miệng cứ kêu lên "Phổ Ðà Quán Âm ! Phổ Ðà Quán Âm !"

    Hôm ấy, người nhà của tài chủ ai cũng lo mời thầy, sắc thuốc, bận rộn cho đến nửa đêm. Ðúng lúc bà lão sắp chợp mắt ngủ thì đột nhiên từ rừng cây trên núi sau nhà vọng lại âm thanh một hồi mõ dòn tan. Bà lão ngồi nhỏm dậy, lắng tai chăm chú nghe. Nghe một hồi lâu, bà cười khúc khích, mải cho đến khi trời tảng sáng, tiếng mõ dừng bặt thì bệnh tình của bà lại tái phát. Sự kiện như thế kéo dài liên tục ba ngày ba đêm. Tài chủ hoảng hốt, chỉ đành đi kiếm Viên Huệ nhưng kiếm khắp cùng, từ trên núi xuống đến thung lũng, kiếm cũng không ra tăm tích của chú.

    Thật ra, cái hôm Viên Huệ bỏ đi rồi, chú bèn trốn trong một cái động đá trên núi, chờ tới nửa đêm mới ra khỏi động, đến khu rừng sau nhà tài chủ ngồi gõ mõ không ngừng, ngày nào cũng thế. Nay chú thấy tài chủ đưa người đi tìm mình thì cố ý lãng tránh, đi đường vòng lẻn vào nhà tài chủ, đứng trước giường bệnh ra sức gõ mõ nữa.

    Bà lão mở bừng đôi mắt ra nhìn, thấy chú tiểu của Phổ Ðà Sơn ngày nào thì hoan hỉ vô cùng, bệnh tình thuyên giảm rất nhiều. Bà nhất định cho rằng Viên Huệ là Phật Quán Âm sống, nên vừa đốt hương vừa hứa lễ tạ ơn, luôn mồm nguyện cúng gỗ xây chùa. Khi bà lão khấn hứa như thế và cúng dường chú rồi thì như uống được thuốc tiên, chỉ mấy ngày sau là hoàn toàn khỏi căn bệnh kỳ quặc kia. Tài chủ thấy Phổ Ðà Quán Âm quả có linh nghiệm thật, cũng đồng ý ủng hộ.

    Viên Huệ bó mớ gỗ đã hóa duyên được lại thành từng bè và thuận theo dòng nước mà chở về Phổ Ðà Sơn. Tuy nhiên Phật Ðỉnh Sơn trên núi cao, đường đi lại hẹp, gỗ thì vừa thô vừa dài, làm sao đem số gỗ ấy lên núi được đây ? Chính đương lúc Viên Huệ đang nhìn đống gỗ to lớn ấy một cách ưu sầu thì bỗng nhiên gió nổi lên, mây cuồn cuộn, một lớp sương mù u ám bao phủ cả mặt biển rộng. Viên Huệ thấy thế tự bảo :

    - Thôi chết rồi, thuyền đánh cá trên biển lâm nguy rồi !

    Chú lo sợ quá, phăng phắc trèo một mạch lên Phật Ðỉnh Sơn, và trên vách đá cheo leo của Bồ Tát Ðỉnh, chú thu một đống củi thật lớn nhóm lửa lên. Chỉ trong chớp mắt, lửa bốc lên phừng phực trên đỉnh núi chiếu khắp bốn phương, từ xa cũng nhìn thấy, giống như một ngọn đèn trời vậy.

    Lúc ấy những chiếc thuyền chài đang lạc hướng thấy trên núi có một ngọn đèn đỏ, ai cũng nghĩ rằng đó là Quán Âm Bồ Tát treo đèn trời để dẫn đường cho đám thuyền chài trở về đúng hướng. Không bao lâu, đám thuyền chài trên biển nhắm ngọn đèn đỏ mà chèo và tất cả đều hướng về hải cảng của Phổ Ðà Sơn.

    Viên Huệ thấy họ bèn la to lên :

    - Bồ Tát hiển linh, chúng ta phải xây chùa trên Phật Ðỉnh Sơn ! Mọi người mau lại góp một tay khiêng gỗ ! góp một tay khiêng gỗ !

    Dân chài nghe tiếng kêu gọi bèn kẻ gánh người gồng, kẻ khiêng người vác, dành nhau mà làm, chẳng bao lâu toàn bộ số gỗ ấy đều được khiêng lên Phật Ðỉnh Sơn.

    Trên Phật Ðỉnh Sơn, lấp ló trong màu xanh thúy ngọc của cây cỏ, một mái chùa lớn được xây lên, hiện này là Huệ Tế thiền tự vậy*.

    Ngày chùa vừa xây xong, vị đương gia hòa thượng của Miếu Duyệt Âm mừng khấp khởi trèo lên Phật Ðỉnh Sơn, tìm xuống nhà bếp tính thổi cơm ba năm, Viên Huệ can mãi nhưng vị thầy già nhất định không nghe, Viên Huệ đành phải để thầy xuống bếp nhóm ba bếp lửa để đền bù lại lời nguyện của ba năm về trước.

    Về sau, Viên Huệ còn xây một ngôi miếu nhỏ trên Bồ Tát đỉnh và đêm nào trời phủ sương mù, chú sẽ "mở đèn trời" để hướng dẫn đám thuyền chài trở về bến an ổn.

    Từ đó, Bồ Tát Ðỉnh cũng có tên là Thiên Ðăng Ðài (Ðài đèn trời).


    * Phật Đỉnh Sơn là điểm cao nhất của Phổ Đà Sơn.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quan Âm Truyền Thuyết

    (Tuyển Tập)

    Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ



    Bát Giác Đình


    Có một lần, vua Ung Chính nghe nói rằng Phổ Đà Sơn là một thắng cảnh nổi danh toàn quốc, bèn tỏ ý muốn thân hành lên núi lễ bái Quán Âm để cho trăm họ trong thiên hạ biết rằng mình là một vị minh quân thánh hiền đại từ đại bi. Các quan trong triều nghe thế, đều can gián rằng Phổ Đà Sơn cách xa ngàn trùng, đường xá hiểm trở, chi bằng vua viết một bài văn khắc lên ngự bia, phái khâm sai đến Phổ Đà Sơn cai quản việc xây một mái đình để thờ bia văn ấy cho toàn dân có dịp kính phục ngưỡng mộ.

    Ung Chính nghe thế hết sức đẹp lòng, bèn phái khâm sai đến Phổ Đà Sơn để xây dựng mái đình.

    Mái đình che chở ngự bia phải xây ở đâu mới thích hợp ? Vị khâm sai đứng ở khung cửa sổ chùa Phổ Tế, nhìn về phía trước chỉ thấy một bãi đầm lầy, nếu xây đình ngự bia ở bên cạnh đầm lầy thì cửa vào của chùa Phổ Tế sẽ bị che kín, không được ! Nếu xây trên bờ đối diện của cái đầm thì lại rất thích hợp, nhưng phải đi vòng qua cầu Vĩnh Thọ, thế cũng không được ! Vị khâm sai thấy thật khó xử, ông nhíu chặt đôi lông mày, băng qua cầu Vĩnh Thọ, bước qua rồi đột nhiên kêu lên một tiếng.

    - Đúng rồi ! Xây cầu mới !

    Ở giữa đầm thì xây cái đình tám góc (bát giác), hai bên đình thì xây cái cầu bằng đá, khiến cho chùa Phổ Tế và đình ngự bia thông qua lại với nhau. Như thế vừa có cầu vừa có đình, thật là hùng tráng và trang nhã, nếu vua mãn ý thì thế nào cũng thăng cho mình ba cấp quan là ít ! Quả nhiên, Ung Chính nhìn qua bản tấu thư, hỏi han một phen rồi bảo ông phải trông coi việc xây cất cho cẩn thận, để sớm về kinh thành phục chỉ.

    Khâm sai đắc ý vô cùng, lập tức sai người tìm thợ thuyền xa gần, nào thợ đá, thợ mộc, thợ hồ, tới Phổ Đà Sơn nghe ông đọc thánh chỉ, và ra kỳ hạn trong vòng 100 ngày công việc phải xong.

    Đầm lầy này nước thì sâu, bùn thì dơ, đám thợ thuyền ngâm mình trong đầm, mệt bở hơi tai sống dở chết dở, tốn một tháng tròn nền móng của đình mới xuất hiện lên khỏi mặt nước. Nền đình mỗi ngày một cao lên, không lâu nữa có thể dựng cột lợp ngói rồi. Khâm sai thấy tiến trình như thế thì rất vui mừng, vuốt râu gật đầu cười lên thích chí. Nào ngờ tiếng cười chưa dứt, chỉ nghe vọng lên "cô lô, cô lô", bọt nước từ giữa đầm sủi lên và "bõm", nguyên cái móng đình đổ sụp xuống đáy không còn thấy đâu nữa.

    Khâm sai lo lắng quá hai chân nhảy cỡn, mắng người cai thợ một trận, ra lệnh xây lại, không được trì hoãn kỳ hạn. Vị cai thợ chỉ biết ngậm đắng nuốt cay không nói ra lời, hướng dẫn mọi người đi kiếm vật liệu khác chở tới, lại ngâm mình trong đầm cả ngày lẫn đêm, một lần nữa mệt bở hơi tai sống dở chết dở, một tháng sau móng đình mới xuất hiện lên mặt nước trở lại. Khâm sai nóng ruột muốn cho mau xong, thôi thúc thợ thuyền khiêng gỗ xây đình. Có ai ngờ, cột đình mới dựng lên xong thì cũng một lần nữa, từ giữa đầm lại vọng lên "cô lô cô lô", bọt nước sủi lên và "bõm", nguyên cái móng đình chìm xuống đáy nước không còn thấy đâu nữa.

    Hai tháng đã trôi qua rồi, đừng nói gì tới cái đình tám góc, nội bóng dáng cái móng đình vẫn chưa thấy mặt. Khâm sai sốt ruột như thiêu như đốt, cả người cứ thế mà quay mòng mòng. Những tưởng mau xong việc mà về kinh lãnh thưởng, nay sự thể như thế này, đừng nói tới chuyện đầu đội mũ lông công (mũ của quan liêu trong lễ phục đời nhà Thanh), mà tính mạng của cả nhà chưa chắc đã giữ được. Ông càng nghĩ càng sợ, càng sợ càng dữ dằn, bèn hét lên ra lệnh lôi người cai thợ ra chém đầu làm gương !

    - Khoan hẵn !

    Chỉ thấy một ông già khoan thai, từ tốn đến trước mặt khâm sai, cung tay vái chào và nói :

    - Đại nhân bớt giận, đây là đất Phật thanh tịnh, làm sao có thể động dao giết người được ?

    Khâm sai liếc mắt nhìn, thấy lão già đầu đội mũ cỏ, chân mang dép cỏ, áo bằng vải thô, dáng vẻ tầm thường nhưng mở miệng nói chuyện thì giọng thật oai hùng, sang sảng. Viên khâm sai đúng lúc đang bực bội, thấy một ông già không biết từ đâu lại mà còn tự nhiên xía vào chuyện của mình, lại càng thêm bực tức, lửa giận bốc phừng phừng gắt rằng :

    - Ông là ai mà dám to gan đến thế ?

    Lão già không lộ ra chút gì là hoảng hốt sợ hãi, đáp rằng :

    - Tôi từ vạn lý xa xăm đặc biệt tới đất Phật xây đình.

    Khâm sai nghe ông lão nói mình biết xây đình vừa mừng vừa nghi, nhíu mắt nhìn ông lão từ trên xuống dưới để đánh giá rồi quát rằng :

    - Ông đừng nói xằng nói điên, người như ông mà có thể xây nổi một cái đình tám góc ?

    - Xây một cái đình tám góc nhỏ xíu, có gì là khó ? Ông già trả lời thẳng thắn. Nhưng phải chịu ba điều kiện của tôi.

    Khâm sai thấy cử chỉ của ông không giống phàm nhân, sau một lúc dò xét, suy nghĩ chín chắn rồi mới nói :

    - Được rồi. Chỉ cần ông biết xây một cái đình tám góc, ra điều kiện gì ta cũng chịu.

    - Thứ nhất, thả ông cai thợ.

    Khâm sai đáp :

    - Ta bằng lòng.

    - Thứ hai, tạo đình trên đất Phật thì phải lấy từ bi làm căn bản, không được tùy tiện mắng mỏ công nhân.

    Khâm sai đáp :

    - Được, được !

    - Thứ ba, xin đại nhân thêm cho kỳ hạn.

    Đến đây khâm sai lắc đầu lia lịa :

    - Không được ! Phải xây đúng kỳ hạn, nếu không ta sẽ bắt tội ông !

    - Ha ha !

    Ông lão ngẩng mặt cười dài, rồi nghiêm sắc :

    - Xử tử người thì dễ, xây đình mới khó. Bây giờ kỳ hạn 100 ngày gần tới rồi, ông làm sao để về kinh phục chỉ đây ?

    Câu hỏi này đánh trúng vào chỗ yếu của khâm sai, ông suy nghĩ mãi thấy không có cách nào khác, chỉ đành gật đầu chấp thuận.

    Ngày hôm sau, ông lão không nói không rằng, một mình một thân nhảy xuống đầm cỏ sình lầy, sờ soạn bên này, rờ rẫm bên kia, suốt cả ba ngày mới tìm một ra cái "miệng rồng" ngay ở giữa đầm. "Miệng rồng" này thông qua biển lớn Đông Hải, bình thường thì bị bùn dơ bịt kín, nhưng đến ngày thủy triều lớn thì "cô lô cô lô", bọt sủi lên mặt nước, và bùn dơ hay rác rưởi gì cũng đều bị hút xuống đáy biển. Ông lão tìm ra được "miệng rồng" rôi thì hớn hở trèo lên bờ. Lúc ấy tất cả đám thợ thuyền đều đứng chờ xem ý định của ông lão là gì, bèn vây xung quanh ông xin giao cho việc làm. Ông lão chỉ cười mà đáp :

    - Không có gì gấp, các ông hãy chuẩn bị vật liệu đi !

    Mọi người nghe thế đều ngẩn người ra :

    - Vật liệu đã chuẩn bị xong từ lâu rồi, bây giờ ông giao việc gì khác đi chứ !

    Ông lão nhìn mọi người rồi chỉ lên núi, chỗ có một đống đá vụn mà nói :

    - Gánh hết chỗ đá vụn ấy xuống đây, chất lên hai bên bờ đầm, sẽ có lúc cần dùng !

    Mọi người không biết ông lão đang nghĩ gì trong đầu nhưng không dám cưỡng lệnh, chỉ đành đi gánh đá vụn, không đầy một ngày, hai bên bờ đầm chất một đống đá vụn cao thật là cao. Tuy nhiên ông lão thì trốn trong một gian thiền phòng của chùa Phổ Tế, cửa đóng kín mít nhưng đèn đuốc sáng choang, và cả ngày chỉ nghe "sầm sập, sột soạt" chẳng ai biết ông đang làm gì trong ấy.

    Sau ba ngày, mọi người vẫn thấy ông lão trốn trong thiền phòng chưa ló mặt ra, họ bắt đầu bàn tán xôn xao, người thì nói :

    - Ông già này không có tài cán gì cả, chúng ta bị lừa rồi !

    Người khác cho rằng :

    - Ông già này dường như không muốn sống, tới đây tìm cái chết hay sao ấy !

    Đứng lúc mọi người đang bàn tán như thế thì đột nhiên nghe tiếng "cô lô cô lô" quen thuộc từ giữa đầm vọng lên, và nước sủi bọt không ngừng.

    Ông già nghe âm thanh ấy, "sầm" một tiếng từ thiền phòng phóng ra, hai tay ôm một con rồng gỗ điêu khắc thật tinh xảo, đầu hất lên trời, duỗi chân dương móng, hệt như một con rồng thật. Ông già chạy đến gần đầm phóng con rồng gỗ lên trời, nghe "vù vù", rồi có một con rồng toàn thân dát vàng đâm đầu xuống đầm, chúi xuống đáy nước. Đám thợ thuyền há hốc mồm ngây người ra mà nhìn, ông lão lớn tiếng giục giã họ đẩy đống gạch vụn xuống đầm. Trong nháy mắt, từ giữa đầm lầy không còn thấy nước sủi lên nữa.

    Ông lão lại nhẹ nhàng phi thân xuống ao, hướng dẫn đám công nhân khiêng đá đắp móng đình.

    Kỳ lạ, lần này móng đình xây xong vững như bàn thạch, không còn sụp đổ nữa.

    Chẳng bao lâu sau, một ngôi đình tám góc trang nhã xinh xắn được xây lên, hai bên đình là cây cầu đá nối ngự bia với cửa chính của chùa Phổ Tế.

    Về sau người ta dọn sạch đầm lầy xung quanh đình, biến đầm trở thành một hồ sen. Mỗi lúc hoa sen nở rộ, toà đình tám góc này trở nên một quang cảnh đặc biệt đẹp mắt.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quan Âm Truyền Thuyết

    (Tuyển Tập)

    Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ



    Hai Rùa Nghe Pháp


    Trên một dốc núi gần Bàn Ðà Thạch ở Tây Thiên có hai hòn đá hình dáng giống hai con rùa biển, được người ta đặt tên là "đá hai rùa nghe Pháp" (nhị quy thính Pháp thạch). Có người đã viết về hai con rùa đá mấy câu thơ như sau :

    Việc gì đã khiến hai rùa hóa đá
    Nghe nói đất ở Bàn Ðà linh
    Mọi loài đã từng ở đấy luận bàn Kinh
    Phải chăng lúc ấy nghe Pháp không hiểu ?

    Xưa thật là xưa, trên núi Phổ Ðà chưa có tăng có tục và chùa chiền, Ngài Quán Âm tu hành một mình, cứ đêm đêm đoan tọa trên tảng đá Bàn Ðà tụng kinh. Trong những đêm trăng sáng rực rỡ, dưới ánh nguyệt lung linh giọng của Ngài càng thêm hay ho, hấp dẫn nên lôi cuốn hết tất cả thú vật chim chóc trên núi cũng như cá tôm rùa ốc dưới biển. Cứ mỗi lúc Ngài Quán Âm tụng kinh là chúng túa đến bao vây tảng đá Bàn Ðà, Ngài chưa đi thì chúng cũng chưa về.

    Tin này truyền đến long cung dưới đáy biển, khiến Long vương lấy làm quái lạ. Một đêm nọ, Long vương lén đến biển Liên Hoa, quả nhiên thấy rất nhiều loài thủy tộc đang say sưa, mê mẩn ngẩng đầu nghe Quán Âm Bồ Tát tụng kinh. Long vương nghĩ rằng :

    - Quán Âm Đại sĩ đang tụng kinh gì khiến cho loài thủy tộc động lòng đến dường ấy ? Nếu lấy được kinh này đem về Thủy Tinh cung mà đọc, biết đâu các loài thủy tộc sẽ phục tòng ta hơn ?

    Càng nghĩ Long vương càng đẹp dạ, khoái trá, bèn trở về Thủy Tinh cung và lập tức triệu thừa tướng Rùa đến hầu, truyền cho ông ta làm sao lấy về cho được bộ kinh mà Quán Âm đang tụng. Thừa tướng Rùa duỗi dài cổ ra, vỗ ngực bẩm Long vương rằng :

    - Ý kiến của bệ hạ thật là tuyệt diệu ! Thần xin bảo đảm với bệ hạ rằng sau 81 ngày, thần sẽ lấy trộm được bộ kinh ấy đem về đây hiến dâng cho bệ hạ !

    Trong đám thuộc hạ của thừa tướng Rùa có hai con rùa biển trí nhớ rất tốt, thừa tướng bèn truyền lệnh cho chúng mỗi chiều phải lén đi nghe Quán Âm Bồ Tát tụng kinh, cho đến khi trời sáng thì mới được về long cung phục mệnh.

    Hai con rùa vâng lệnh đi nghe lén kinh. Ban đầu chúng chỉ đến biển Liên Hoa, lẫn lộn trong đám cá tôm, nhô đầu lên im lặng ghi nhớ thuộc lòng, nhưng về sau càng nghe càng thấm, bèn dần dần xích lại gần Quán Âm động. Ðến đêm thứ 81, chúng lại càng bò đến gần tảng đá Bàn Ðà hơn khiến cho chim muông thú vật đang đứng trên dốc núi lúc ấy phải hoảng sợ, con thì bay, con thì chạy, náo động hẳn lên.

    Trên tảng đá Bàn Ðà, Quán Âm Bồ Tát chỉ cần nhìn lướt qua hai con rùa liền biết ngay đấy là mật thám của Long Vương sai đến trộm kinh, bất giác nhè nhẹ mỉm cười, tiếng tụng kinh của Ngài nghe càng êm ái hơn, lôi cuốn hơn. Hai anh chàng rùa nghe mê say đến nỗi tiếng mõ canh tư không nghe thấy, qua đến tiếng mõ canh năm cũng chẳng nhúc nhích, mà trời hừng sáng rồi chúng cũng không động đậy. Chuyện gì đã xẩy ra vậy ?

    Số là Ngài Quán Âm vốn luôn luôn chủ trương "chúng sinh bình đẳng", bây giờ Long vương muốn hai con rùa đến trộm kinh, chỉ với dụng ý muốn dùng kinh làm khí giới để chế ngự các loài thủy tộc. Ðiều này hoàn toàn phản nghịch lại với tôn chỉ của nhà Phật, làm sao Quán Âm Bồ Tát lại cho Long vương toại ý được ?

    Do đó trong lúc tụng kinh, Ngài đã phương tiện dùng chút pháp thuật điểm hai con rùa khiến chúng đứng yên. Vì thế, từ đó trở đi chúng cứ giữ nguyên tư thế của mình, con thì duỗi cổ, con thì ngóc đầu.

    Long vương và thừa tướng Rùa ngồi dưới Thủy Tinh cung khoái trá đợi hai con rùa đem kinh về, nhưng đợi hoài đợi mãi mà không thấy chúng về. Họ nào có biết là hai con rùa đã hóa đá rồi !

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quan Âm Truyền Thuyết

    (Tuyển Tập)

    Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ



    Đa Bảo Tháp


    Xưa thật là xưa, giữa chùa Phổ Tế và động Phạm Âm có một bãi cát rất dài, mặt đưa ra ngoài biển chính là Bách Bộ sa ngày nay. Khi thủy triều lên thì sóng biển vọt cao lên tới trước cửa chùa Phổ Tế. Đến mùa nước lũ tháng tám thì sóng còn cao hơn thế nữa.

    Có một năm nọ, vị hoàng thái tử đương triều đến Phổ Đà Sơn dâng hương cúng dường Quán Âm Bồ Tát. Hôm ấy rơi đúng vào ngày lễ trung thu tháng 8, hoàng thái tử ngồi trước cửa Đại Viên Thông điện, ngắm trăng, nghe sóng vỗ. Bỗng nhiên một trận cuồng phong nổi lên xô ngã thái tử, ngay cả cái mũ cũng bị gió thổi rơi xuống biển. Thái tử kinh hãi hỏi vị hòa thượng trụ trì :

    - Gió sao lại thổi mạnh đến thế, có yêu quái gì gây ra nông nỗi ?

    Vị hòa thượng trụ trì đáp rằng :

    - Ở dưới bãi cát trước cửa chùa có một con rồng nhỏ, con rồng này ban đầu ở trong biển, thường hay nhảy lên cao rồi lặn xuống đáy làm cho sóng to gió lớn, bị thần hộ pháp quất cho một roi gẫy xương sống, nên mới chui xuống bãi cát tịnh dưỡng vết thương. Có khi nó hắt hơi, lăn lộn hay duỗi chân cho khoan khoái, hễ nó động đậy thì trên núi liền nổi gió, trên biển liền nổi sóng, thật là làm tình làm tội người ta !

    Thái tử nói :

    - Đúng là nghiệt súc ! Có cách nào giữ cho nó nằm yên không ?

    Hoà thượng trụ trì đáp :

    - Muốn cho con nghiệt súc ấy nằm yên không có gì khó, chỉ cần xây một tòa bảo tháp là xong !

    Thái tử nghe thế vui mừng nói :

    - Thế thì quá tốt, tôi về tâu việc này lên cho phụ vương rõ, rồi truyền chỉ xây tháp, giữ con nghiệt súc nằm yên !

    Hòa thượng trụ trì liền chắp tay thi lễ :

    - Thái tử vui lòng xây tháp, thật là Bồ Tát hộ trì !

    Hôm sau Hòa thượng trụ trì đưa một số người thợ nề, thợ đá đến bãi cát, bốc một nắm cát bùn đưa lên mũi ngửi, cúi rạp người xuống dán lỗ tai lên cát nghe ngóng, từ đông sang tây, từ tây sang đông, đi tới đi lui. Cuối cùng, ngài đến cửa núi Phạm Sơn không xa Bách Bộ sa, lấy thiền trượng vẽ lên một vòng tròn và nói :

    - Đây là chỗ xây tháp !

    Hoàng thái tử không hiểu, vị trụ trì bèn giải thích rằng :

    - Muốn xây tháp trấn rồng thì phải xây đúng tại bẩy thốn từ đầu yết hầu của nó tính lên.

    Hoàng thái tử nghe thầy trụ trì nói có lý, bèn phái một ông quan áo vàng lưu lại ở Phổ Đà Sơn coi việc xấy cất bảo tháp, còn mình thì trở về kinh.

    Trọn một năm trời trôi qua, một tòa tháp bốn góc xinh xắn được xây lên, đó chính là tháp Đa Bảo hiện nay vậy. Vì tháp này do một vị thái tử triều nhà Nguyên cúng dường việc xây cất nên cũng có tên là "Thái Tử tháp".

    Hôm ấy tháp vừa xây xong xuôi, cũng rơi đúng vào ngày lễ trung thu, con rồng nhỏ cũng vừa mới tỉnh dậy sau một giấc ngủ dài. Nó tính duỗi chân, trườn mình cho thư thái thân rồng, nhưng nó cảm thấy toàn thân không được tự tại, bèn mở to mắt rồng xem xét, thấy có bốn cây cột trụ vừa to vừa dài kềm chặt đầu cuống họng, khiến cho nó không có cách nào động đậy. Nó cảm thấy nóng nẩy vô cùng, muốn lấy sừng rồng húc gẫy cột trụ nhưng phía trên lại có một cuốn kinh Pháp Hoa trấn giữ, cho nên nó húc thế nào đi nữa cũng không vùng vẫy được.

    Nó bèn nổi giận, hất đầu rồng, hắt hơi thật mạnh, một trận cuồng phong bèn nổi lên cuốn đỉnh tháp xuống biển. Thấy thân tháp cũng gần muốn xiêu đổ, vị quan thái giám áo vàng lo sợ vô cùng, vội chạy đi tìm hòa thượng trụ trì. Đúng ngay lúc ấy, đột nhiên trong viện sau của thiền tự có ánh sáng vàng chiếu lên rực rỡ, một gian phòng từ trước đến nay vốn bị bỏ trống khóa chặt bỗng bật mở, khóa rơi xuống đất. Mọi người chạy lên xem, bên trong thấy có một bàn thờ Phật, trên bàn có đài sen báu, trên đài sen chỉ có một bình bát bằng lưu ly đang phóng ánh sáng vàng, trên bát có đắp một giải lụa vàng với hàng chữ : "Đa Bảo tháp trấn nghiệt long, lưu lý bát bình yêu khí" (Đa Bảo tháp trấn giữ nghiệt long, bình bát lưu ly dẹp trừ yêu khí).

    Vị hoà thượng trụ trì thấy thế vội bưng cái bình bát lưu ly, cứ ba bước lễ một lễ, lên tới Đa Bảo tháp, đặt bát lưu ly lên đỉnh tháp.

    Thật là kỳ quái, sóng gió lập tức lặng yên và Đa Bảo tháp không còn lung lay nữa.

    Từ đó, nước thủy triều chỉ dâng lên Bách Bộ Sa là ngừng, Đa Bảo Tháp vững vàng đứng cao sừng sững trên đảo Phổ Đà !


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group