Tuyển Tập Quan Âm Truyền Thuyết - Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quan Âm Truyền Thuyết

    (Tuyển Tập)

    Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ



    Long Nữ bái Quán Âm


    Trong những hình tượng của Quán Âm đại sĩ, thường có một cặp đồng nam đồng nữ đứng hai bên, đồng nam tên là Thiện Tài, đồng nữ tên là Long Nữ.

    Long Nữ vốn là con gái út của Long Vương ở biển Ðông Hải, xinh xắn thông minh, được Long Vương cưng chìu hết mực. Một hôm, Long Nữ nghe nói rằng ở nhân gian có lễ rước đèn rất nhiệt náo, cô bèn nằng nặc đòi đi xem.

    Long Vương lắc đầu, bộ râu rồng rung rung :

    - Chỗ ấy đất lạ, người lại hỗn tạp, con là công chúa rồng, không thể đến nơi ấy.

    Long Nữ hết nhõng nhẽo đến giả bộ khóc lóc nhưng Long Vương vẫn không nhường. Cô bé chu chiếc miệng nhỏ xíu nghĩ thầm "Phụ vương không cho phép, nhưng con vẫn cứ đi !".

    Vào canh hai, Long Nữ lẻn ra khỏi thủy tinh cung không một tiếng động, biến thành một cô gái đánh cá xinh đẹp, bước lên ánh trăng thênh thang hướng đến chỗ rước đèn náo nhiệt kia.

    Ðó là một thị trấn chuyên về nghề đánh cá, ở ngoài đường đèn lồng vô số kể ! Có đèn con tôm, đèn con cua, đèn con sò, đèn con ốc biển và cả đèn san hô nữa. Long Nữ hết quay qua bên phải nhìn xong quay qua bên trái ngắm, càng nhìn càng ngắm càng vui thích.

    Tại một ngả tư đường, cô nhìn thấy hết đèn con cá này tới đèn con cá khác, hết núi đèn này tới núi đèn khác, muôn màu muôn sắc, sáng rực chói lọi, thật là hứng thú nên cô đứng trước một ngọn núi đèn mà ngắm nghía một cái say mê, xuất thần.

    Lúc ấy, từ một cái lầu cao bên đường, có người hắt xuống nửa chén trà lạnh. Nước trà quái ác không hắt xuống bên này hay bên kia, mà lại nhắm đúng đầu của Long Nữ mà hắt xuống. Long Nữ giật bắn người la oai oái, số là một khi công chúa rồng biến thành một thiếu nữ, nếu chạm phải nước thì phải hiện lại nguyên hình. Lòng cô nóng như lửa đốt, sợ rằng giữa đường mà hiện tướng rồng thì mưa to gió lớn sẽ nổi lên, các ngọn đèn lồng muôn màu muôn sắc sẽ bị hư hoại hết. Vì thế, không đếm xỉa tới gì khác nữa, cô gắng sức lách ra khỏi đám đông chạy về phía bờ biển. Vừa tới bãi cát, có tiếng "phù phù" vang lên, và Long Nữ lập tức biến thành một con cá rất lớn, nằm sõng soài trên cát, vô phương động đậy.

    Không bao lâu sau, có một anh ngư phủ đến bãi cát, thấy con cá to lớn toàn thân vẩy màu vàng óng ánh, liền bắt lấy vác ra chợ rao bán.

    Chiều hôm ấy, đang ngồi chơi trong rừng trúc tím, Quán Âm đại sĩ nhìn thấy rõ ràng những gì đã xẩy ra ở thị trấn kia nên khởi từ bi tâm, Ngài nói với Thiện Tài đứng bên cạnh :

    - Con hãy mau đến thị trấn đánh cá mua một con cá lớn, đem ra biển phóng sinh.

    Thiện Tài khấu đầu bạch :

    - Bồ Tát ơi, đệ tử lấy đâu ra tiền mà mua cá ?

    Quán Âm bật cười, dạy :

    - Con bốc một nắm tro trong lư hương là được.

    Thiện Tài gật đầu, vội vàng chạy về Quán Âm viện bốc một nắm tro, bước lên một đóa hoa sen và vun vút lướt như bay về phía thị trấn đánh cá.

    Lúc ấy anh chàng ngư phủ kia đã vác cá ra đến đường cái rồi, mượn một cái rìu sửa soạn chặt đầu cá để bán lẻ. Ðột nhiên trong số người đang vây quanh nhìn, có một cậu bé chỉ vào mắt của con cá mà kêu lên :

    - Con cá đang khóc kìa ! Con cá khóc !

    Mọi người nhìn kỹ, quả nhiên từ đôi mắt cá tuông xuống hai hàng lệ châu lóng lánh. Ðiều ấy khiến cho người nhìn phải kinh ngạc và cảm động, có người cho là kỳ quái, có người thì tán thán, tiếng bình luận lao xao nổi lên tứ phía.

    Anh chàng ngư phủ sợ rằng của trên trời rơi xuống mà mình mới nhặt được sẽ biến thành mây khói, bèn vội vàng vung chiếc rìu lên toan chém xuống, thì đột nhiên từ phía sau lưng có tiếng người kêu lên :

    - Ðừng chặt ! Ðừng chặt !

    Người ta chỉ thấy một chú sa di nhỏ chạy đến vừa thở hổn hển vừa nói :

    - Tôi muốn mua con cái này !

    Vừa nói chú vừa dúi một nắm bạc vào tay anh chàng ngư phủ, và luôn miệng hối anh ta vác cá ra bờ biển trở lại. Anh chàng ngư phủ vui mừng thầm nghĩ :

    - Ðúng là tiền lời, số ta hôm nay hên quá ! Ta vác cá ra bờ biển, rồi biết đâu khi chú tiểu quay lưng đi rồi, cá lại rơi vào tay ta trở lại như trước !

    Anh chàng ta vác cá đi theo chú tiểu ra bờ biển và thả cá vào nước. Con cá vừa chạm nước biển thì lập tức quẫy mình khiến bụi nước bắn tung lên, và bơi ra thật xa, thật xa. Ra tới ngoài khơi rồi, cá mới quay mình lại hướng về phía chú tiểu mà gật đầu, rồi biến mất trong nháy mắt.

    Anh chàng ngư phủ thấy cá đã bơi ra xa rồi mới bỏ ý nghĩ bắt cá lại kiếm chác, bèn móc túi lấy bạc ra đếm. Nào ngờ mới mở lòng bàn tay ra, thì bạc kia liền biến thành tro nhang ! Hắn quay đầu lại tìm chú tiểu, chú tiểu cũng đã cao bay xa chạy rồi.

    Trở lại long cung, từ khi khám phá công chúa nhỏ đã biến mất, cung trong cung ngoài gì cũng đều loạn lên như cái tổ ong. Long Vương giận đến nỗi râu rồng dựng đứng, thừa tướng rùa cuống quýt duỗi đầu cổ ra thật dài, tướng quân sò giữ cửa sợ đến nỗi phun bọt trắng loạn xạ, và các cung nữ tôm ngọc cứ khom lưng mà run lẩy bẩy… Cứ thế mà hỗn loạn cho tới khi trời sáng, Long Nữ về tới thủy tinh cung, mọi người mới thở phào nhẹ nhõm !

    Long Vương tức giận con gái út tự tiện đi ra ngoài, vi phạm quy luật của cung đình, hầm hầm mắng cô một trận rồi còn nghĩ rằng "Chuyện này mà đến tai Ngọc Hoàng Thượng Ðế thì thế nào cái tội 'dạy con gái bất nghiêm' cũng sẽ rơi lên đầu". Trong cơn tức giận, Long Vương đang tâm đuổi con gái ra khỏi thủy tinh cung.

    Long Nữ đau khổ cùng cực, biển đông mang mang, biết đâu là chỗ dung thân ? Cô khóc tức tưởi, bơi đến biển Liên Hoa. Tiếng khóc của cô vọng đến rừng trúc tím, Bồ Tát Quán Âm nghe thấy biết ngay là Long Nữ đã đến, bèn sai Thiện Tài đi đón Long Nữ về. Thiện Tài tung tăng nhảy nhót đến trước mặt Long Nữ hỏi :

    - Long Nữ muội muội, có nhận ra chú tiểu hôm nọ không ?

    Long Nữ vội vàng chùi nước mắt, đỏ mặt nói :

    - Huynh là ân nhân cứu mệnh tiểu muội, làm sao tiểu muội không nhận ra được ?

    Nói xong liền khấu đầu lễ. Thiện Tài đưa tay kéo Long Nữ dậy :

    - Ði, chúng ta đi, Bồ Tát Quán Âm bảo huynh đi đón muội về !

    Thiện Tài và Long Nữ nắm tay nhau chạy về rừng trúc tím. Long Nữ thấy Bồ Tát Quán Âm đoan tọa trên tòa sen, liền sụp xuống lễ. Bồ Tát Quán Âm rất mến thương Long Nữ, nên để cho hai anh em ở chung trong động đá Triều Âm cách đấy không xa. Về sau, người ta gọi động đá này là "Thiện Tài Long Nữ động".

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quan Âm Truyền Thuyết

    (Tuyển Tập)

    Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ



    Quán Âm Bồ Tát Chọn Đạo Tràng



    Sau khi triều bái đức Phật ở Tây phương về, Quán Âm Đại sĩ muốn tìm một chỗ nào lập đạo tràng để truyền kinh thuyết Pháp. Nga Mi Sơn đã có Phổ Hiền Bồ Tát nhanh chân lên trước rồi, Ngũ Đài Sơn thì đã bị Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát tuyển dụng, Cửu Hoa Sơn thì đã có Địa Tạng Bồ Tát ngự trị ; Quán Âm Bồ Tát nhất định tìm một thánh địa đủ đẹp để sánh tày với những đạo tràng kia mới nghe.

    Hôm ấy Quán Âm Bồ Tát bước lên đóa mây liên hoa, đến biển Đông Hải, từ trên không nhìn xuống thấy chi chít những quả núi hay hòn đảo với hình thù kỳ quái, giống như từng viên, từng viên ngọc phỉ thúy ẩn hiện trong một tấm thảm ngàn mẫu nhấp nhô sóng biếc, quang cảnh quả thật là đẹp ! Tuy nhiên, giữa hơn một ngàn hòn đảo ngọc, nên chọn hòn đảo nào là thích hợp nhất ?

    Quán Âm Bồ Tát dùng tri huệ chọn tới chọn lui, thấy rằng hòn đảo nào cũng được nhưng hình như không có hòn đảo nào hoàn mỹ cả. Ngài nghĩ phải tìm một hòn đảo có đủ 100 đầu núi, thế mới xứng đáng được gọi là đất thánh cửa Phật.

    Cuối cùng, ngài Quán Âm giáng đài sen xuống đỉnh cao nhất của ngọn Cù Sơn. Ngài thấy trên núi khói mây mù mịt, với những cây tùng xanh thẳng tắp, duới chân núi thì chập chùng sóng bạc trên một nền màu xanh ngọc bích, điểm thêm những cánh buồm màu vàng nghệ căng gió. Phong cảnh tú lệ như thế khiến ngài Quán Âm vô cùng đẹp lòng, thế là ngài đi từ đông sang tây, từ nam lên bắc, và bắt đầu đếm đầu núi. Thấy ngài Quán Âm làm như thế, Long Vương ở dưới biển Đông thấp thỏm lo sợ. Biển Đại Cù rộng lớn diễm lệ vốn là kho báu của Long Vương, làm sao có thể để cho ngài Quán Âm lập đạo tràng ở ngay bên cạnh kho báu của mình được !

    Thế là Đông Hải Long Vương bèn nổi gió to, dậy sóng lớn, che lấp những đỉnh núi, phá rối khiến cho ngài Quán Âm đếm đi đếm lại mà đếm hoài không xong. Ngài Quán Âm hiểu rất rõ nguyên do, chính Ngài cũng không muốn tranh đua cao thấp với Long Vương nên mau mau rời đi chỗ khác. Về sau người ta đặt cho tên đỉnh núi cao ấy là "Quán Âm Sơn".

    Quán Âm Bồ Tát rời Cù Sơn tiếp tục tiến tới phía trước tìm kiếm, đột nhiên thấy một hòn đảo nhỏ ngay dưới mắt mình, non xanh nước biếc, có những tảng đã linh ngạo nghễ đứng thẳng, thật là một nơi lý tưởng để thuyết Pháp truyền kinh. Ngài lập tức thâu mây lành về, bước xuống đài sen ở địa điểm cao nhất của hòn đảo nhỏ, ngồi xếp bằng và cẩn thận đếm những đầu núi. Nhưng từ phải đếm sang trái, từ trái đếm trở về phải, đếm trọn một vòng rồi đếm tới đếm lui, mà cuối cùng vẫn chỉ có 99 đầu núi mà thôi !

    Ngài Quán Âm vô cùng tiếc rẻ, quyến luyến không muốn rời, bước lên đài sen cưỡi mấy lành bỏ đi. Từ trên tận mây cao quay đầu nhìn lại hòn đảo nhỏ, Ngài định thần đếm lại một lần nữa, thì lần này đếm được 100 đầu núi không dư không thiếu ! Thì ra ban nãy Ngài không cẩn thận, quên đếm ngọn núi nơi mình đang ngồi ! Ngài tính quay trở lại, nhưng nghĩ trên biển Đông có hơn một ngàn hòn đảo lớn nhỏ, thế nào lại chẳng có chỗ khác làm cho mình mãn ý hơn, nên hướng về phía Đông tìm một ngôi Phật địa khác. Hòn đảo này dầu sao cũng được ngài Quán Âm dừng chân lại nên người sau đặt tên là Đảo Sóng Phật (Phật Ba Đảo).

    Ngài Quán Âm rời đảo Sóng Phật, từ mây liên hoa nhìn xuống, và cuối cùng đến đảo Phổ Đà Sơn.

    Nhìn chung thì thấy núi sông chầu mặt trời, trên núi sương mai lượn lờ, có những cây chương cổ thụ tỏa hương, có những dòng suối biếc róc rách, cát vàng óng ánh trải trên bờ biển. Ngài Quán Âm rất vừa ý, vội thâu mây lại bước xuống chỗ cao nhất của đảo. Lần này ngài rất thận trọng, bắt đầu đếm từ ngọn núi dưới chân mình, đếm đi đếm lại mấy lần mà cuối cùng vẫn chỉ có 99 đầu núi mà thôi. Ngài nghĩ có thể cũng giống như lần trước mình đã quên đếm đầu núi ngay dưới chân mình chăng ? Vì Ngài quá ưa thích hòn đảo này nên chẳng có tâm trí đâu để suy nghĩ kỹ, bèn cộng thêm đầu núi mình đang ngồi với 99 đầu núi kia, thế là gom vừa chẵn 100 đầu !

    Ngài hài lòng cười lên, thế là Phổ Đà Sơn được Ngài tuyển chọn. Về sau, chùa chiền am miếu được cất trên đảo càng ngày càng nhiều, có một thời lên đến hơn 300 ngôi ! Từ đó, Phổ Đà Sơn trở nên "Quán Âm Đạo Tràng, Hải Thiên Phật Quốc".

    Kỳ thật Quán Âm Đại sĩ thừa biết rằng đảo Phổ Đà không có đến 99 đầu núi chứ đừng nói gì tới 100 đầu, chỉ vì Ngài quá ưa thích hòn đảo nhỏ xinh đẹp đầy linh khí này nên mới ở lại, thế thôi !

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quan Âm Truyền Thuyết

    (Tuyển Tập)

    Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ



    Cá Ngao Kéo Kinh Sách


    Những năm đầu đời nhà Thanh, có một vị tăng người Nhật đến hành hương ở Phổ Đà Sơn, tá túc ở chùa Pháp Vũ. Khi nhìn thấy kinh sách ở Tàng Kinh lâu, từng bộ, từng bộ đầy đủ, chữ in tinh xảo đẹp đẽ thì trong lòng rất ao ước. Vì vậy thầy không đi chùa nào khác lễ Phật,cả ngày chỉ quanh quẩn trước Tàng Kinh lâu, có giờ rảnh thì đứng trước cửa phòng ngây người ra mà nhìn kinh sách trong lầu kinh. Bên cạnh phòng ngủ của thầy có một vị hương khách khác tên là Nguyễn Tuấn, thật ra đây là tên đầu sỏ của một bọn giặc cướp nổi danh. Mấy ngày vừa qua hắn đã đoán rõ tâm tư của vị tăng người Nhật.

    Một buổi tối nọ, Nguyễn Tuấn đi qua phòng của vị tăng, thì thà thì thào nói chuyện to nhỏ với thầy cho tới nửa đêm. Lúc đầu thì vị tăng lắc đầu quầy quậy, một lúc sau thì thầy cúi mặt, và cuối cùng, thầy gật đầu. Lúc ấy Nguyễn Tuấn mới hài lòng bước ra khỏi phòng. Thì ra hai người đã bàn tính và ước định với nhau rằng Nguyễn Tuấn sẽ lấy trộm những bộ kinh quý báu từ Tàng Kinh lâu, và vị tăng sẽ mua lại những bộ kinh ấy chở về Nhật Bổn. Hôm sau, Nguyễn Tuấn kêu gọi đồng bọn chuẩn bị chiếc thuyền đến tiếp ứng. Đến ấy, hắn lẻn vào Tàng Kinh lâu, lấy trộm ra chừng mười bộ kinh như Hoa Nghiêm Kinh, Kim Cang Kinh, Đại Bi Kinh v.v…, và cùng vị tăng Nhật Bổn âm thầm chuyển ra thuyền, và ngay đêm ấy thuyền vượt sóng rời khỏi Phổ Đà Sơn.

    Khi thuyền cướp đến gần núi Lạc Ca thì cũng vừa đúng lúc Ngài Quán Âm muốn đến chỗ ấy. Từ rừng trúc tím Ngài đến Triều Âm động, chỉ lướt mắt là nhìn thấy thuyền cướp và những bộ kinh bị lấy trộm, và đồng thời cũng khám phá ra là thuyền đã bi thủng một lỗ và nước đang tràn vào, bèn gọi lớn "Cá ngao đâu ?". Con cá ngao đã bị ngài Quán Âm thu phục ngày xưa, đúng lúc ấy đang ngủ gà ngủ gật ở cửa động Triều Âm, nghe tiếng gọi của ngài hãy còn lười biếng thả người nổi lên mặt nước, mở con mắt ngái ngủ ra nhìn. Ngài Quán Âm dặn dò hắn :

    - Thuyền cướp bị thủng một lỗ rồi, bên trong lại có kinh Phật, con hãy mau đi kéo nó vào bãi cát Thiên bộ sa.

    Con kim ngao nghe nói phải đi kéo thuyền cướp trong lòng không vui, nên còn nấn ná chưa muốn đi vội. Ngài Quán Âm nóng ruột, nghiêm giọng :

    - Nghiệp súc, mi chưa đi thì Kinh ướt hết còn chi ! Mi mà làm hỏng việc thì ta sẽ phạt mi nhốt trong động, quay mặt vào tường 300 năm !

    Con cá ngao nghe thế thì giật nẩy mình, vội vàng hướng về ngài Quán Âm gật gật đầu rồi quay người lại hướng về Lạc Ca sơn.

    Trở lại Nguyễn Tuấn, lái thuyền tới cửa núi Lạc Ca rồi, nhìn sóng đầy mặt biển như vô số nén bạc đang chạy lại phía mình, không khỏi cảm thấy vui thú mà cất lên tiếng ca, ca khẽ một câu hò chài lưới. Đột nhiên một tên đồng lõa la lên :

    - Thuyền bị thủng ! Thuyền bị thủng !

    Nguyễn Tuấn cấp tốc hạ lệnh bịt chỗ thủng, nhưng càng bịt nước càng tràn vào nhiều hơn. Trong lúc cả thuyền cướp còn đang hỗn loạn lúng túng, con thuyền bỗng từ từ được nâng lên cao, chỗ thủng từ từ bớt chảy nước, và một tia ánh sáng chiếu vào mạn thuyền. Bọn cướp nhìn nhau kinh ngạc. Nguyễn Tuấn nhô người ra nhìn, chỉ thấy một con vật khổng lồ, giống cá mà không phải cá, giống rùa mà không phải rùa đang kéo con thuyền đi ngược hướng, đáy thuyền dán sát trên mặt nước phăng phăng hướng về bãi cát Thiên Bộ sa.

    Nguyễn Tuấn chưa kịp hiểu ất giáp chuyện gì đang xảy ra cho họ, con cá ngao đã kéo thuyền cướp đến gần bãi cát, dùng lưng ủi một cái, thuyền đã bị đẩy lên bãi.

    Con kim ngao trút bỏ được gánh nặng, thấy nhẹ nhõm hẳn, đang muốn uốn mình lao vào dòng nước giỡn sóng một chút cho khuây khoả thì đã nghe Ngài Quán Âm đứng trên lưng hắn mắng rằng :

    - Đừng có phá phách mà bẩn kinh Phật bây giờ !

    Không còn cách nào hơn, con kim ngao chỉ đành chở ngài Quán Âm từ từ đến Lạc Ca sơn.

    Bọn giặc cướp thấy tình cảnh chiếc thuyền như thế, đứa nào cũng run lẩy bẩy, bèn bỏ thuyền chạy trốn.

    Những vị tăng giữ Tàng kinh lâu của Pháp Vũ tự nghe tin ấy, chạy một mạch tới bãi cát, chỉ thấy vị tăng Nhật Bổn đang đối diện với núi Lạc Ca, tụng kinh "Từ Bi" sang sảng, quỳ mọp xuống đất không ngẩng đầu lên. Các thầy đến Thiên Bộ sa xem xét, quả nhiên nhìn thấy những bị Kinh bị mất cắp không thiếu bộ nào, bèn mừng rỡ đưa kinh Phật trở về Tàng Kinh lâu.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quan Âm Truyền Thuyết

    (Tuyển Tập)

    Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ



    Chữ Tâm trên đá hay Quán Âm độ Thiên Tài


    Từ nhỏ, Thiện Tài là đứa trẻ không cha không mẹ, sống rất khổ sở, phải gánh nước đi bán mà sống. Cậu nghèo thật nghèo, nghèo đến nỗi không có lấy một cái thùng, mà phải lấy da trâu mỏng lót kín hai cái giỏ tre để đựng nước mà gánh.

    Một hôm, Thiện Tài đến bờ giếng múc nước, bỗng nhiên nghe tiếng kêu ồm ồm :

    - Thiện Tài ! Bớ Thiện Tài !

    Thiện Tài nhìn sang bên trái không thấy ai, nhìn sang bên phải cũng chẳng có bóng người. Cậu tưởng mình nghe lầm bèn gánh giỏ tre bỏ đi, nhưng không ngờ tiếng kêu lại vang lên nữa :

    - Bớ Thiện Tài, tôi đang ở trong giếng đây ! Cứu tôi với, tôi sẽ báo đáp cho cậu xứng đáng !

    Thiện Tài là một đứa trẻ rất tốt bụng, nghe nói ở dưới giếng có người đang cần cậu cứu thì nhảy ùm xuống nước. Cậu mở to mắt nhìn quanh, trong ánh sáng lung linh dưới đáy giếng cậu thấy có một khoảng trống rộng rãi nhưng chả thấy ai cả. Cậu mò bên trái, mò bên phải, giữa hai khe đá mới mò thấy một chiếc bình nhỏ bèn vớt lên, vặn nắp bình nhưng vặn hoài không ra, lắc thật mạnh thì không nghe gì cả, thì ra đó là một chiếc bình không. Cậu đập mạnh cho bể, "xoảng" một tiếng, từ trong bình bay ra một cụm mây đen như mực, cụm mây kết lại thành một người to lớn vạm vỡ, toàn thân đen như lọ nồi, nhẩy ra trước mặt Thiện Tài nói lớn :

    - Cậu đã cứu tôi ra khỏi bình !

    Thiện Tài gật đầu :

    - Đúng rồi.

    Người ấy vội quỳ xuống đất, hướng Thiện Tài mà lạy ba lạy. Thiện Tài vội ngăn lại :

    - Đừng lạy ! Đừng lạy ! Ông là ai ?

    Hắc khổng lồ nói :

    - Tôi là hắc xà tinh ! Năm trăm năm về trước, Quán Âm Bồ Tát nhốt tôi trong bình và liệng bình xuống biển Liên Hoa. Ai ngờ biển Liên Hoa thông với đáy giếng này, nên sóng nước đã đẩy cái bình đến đây.

    - Vậy sao, thôi ông hãy đi đi ! Tôi đi gánh nước đây !

    Thiện Tài nói xong bèn đặt đòn gánh lên vai toan bỏ đi.

    - Chờ một chút !

    Thiện Tài ngoảnh đầu lại nhìn, thấy xà tinh lè cái lưỡi đỏ như máu ra như muốn ăn tươi nuốt sống cậu. Thiện Tài giật mình sợ hãi :

    - Ông muốn gì ?

    Xà tinh đáp :

    - Ta bị nhốt trong bình suốt 500 năm không ăn không uống, bây giờ đói muốn chết đây ! Mi đã làm ơn thì làm ơn cho trót, hãy để cho ta ăn thịt mi đi !

    Thiện Tài thu hết can đảm đáp :

    - Hồi nãy ông nói ông sẽ báo đáp cho tôi xứng đáng, tại sao đã không giữ lời còn muốn ăn thịt tôi ?

    Xà tinh nói một cách đắc ý :

    - Mi phải biết "lấy oán báo ơn" là cách đền ơn hay nhất.

    Thiện Tài phẫn nộ nói :

    - Nói bậy, thiên hạ đâu có cái loại lý lẽ gì kỳ cục vậy !

    Xà tinh ngước mặt lên trời cười ha hả. Tiếng cười của hắn làm cho cuồng phong nổi lên, gió thổi cây đổ nhà sập, thổi luôn Thiện Tài ngã nhào xuống đất khiến cậu sợ hãi tê điếng cả người. Xà tinh trợn trừng mắt, há miệng thật to, tiến từng bước, từng bước đến gần Thiện Tài nói :

    - Đói thì muốn ăn thịt người là một lẽ phải, hiểu chưa ? Mi sắp sửa chết rồi, còn gì nói nữa không ?

    Thiện Tài từ dưới đất lồm cồm bò dậy, lại thu hết can đảm mà nói :

    - Chết thì phải chết cho chính đáng, ăn cũng phải ăn cho có lý. Ta phải đi tìm người làm trọng tài phân xử lý của ai đúng.

    Xà tinh nghĩ : "Trước sau gì ta cũng ăn thịt mi, muốn phân xử thì phân xử !". Thế là hai người cùng đi tìm người phân xử.

    Hai người đi vòng qua một lối rẽ, vượt qua một con đường núi, đi hoài đi mãi, đột nhiên, từ dưới chân núi vọng lên tiếng cãi cọ. Thiện Tài chạy xuống dốc núi nhìn, thì ra có một ông lão đứng dưới một gốc cây, tay cầm rìu, dáng vẻ giận dữ. Thiện Tài chạy đến hỏi :

    - Thưa cụ, cụ đang làm gì thế ?

    - Cây không ra quả nữa thì chặt phứt đi làm củi đốt lửa chứ để làm gì !

    Thiện Tài nhìn xung quanh, chỉ thấy có mỗi một mình ông lão, bèn hỏi :

    - Thưa cụ, hồi nãy cụ cãi lộn với ai vậy ?

    Ông lão đáp :

    - Ta muốn đốn cây mà cây không cho ta đốn, nên ta cãi lộn với cây.

    Cây ăn quả đột nhiên nói :

    - Lúc tôi còn trẻ, tôi cho quả đầy cây, quả vừa thơm vừa ngọt, ông ta ăn không hết còn đem bán lấy được bộn tiền. Bây giờ ông ta chê tôi già, không ra quả nhiều nữa nên đòi đốn tôi đi, cậu nghĩ xem lý lẽ gì lạ vậy ?

    Ông lão nói :

    - Cây do ta trồng, ta muốn đốn thì đốn, đó mới chính là lẽ phải !

    Cây ăn quả không đồng ý, trả lời :

    - Đó là ông lấy oán báo ân !

    - Lấy oán báo ân thì đã sao, ta cứ đốn !

    Ông lão nói xong vung rìu lên, "ầm" một tiếng, cây ăn quả bị đốn ngã xuống đất. Xà tinh thấy thế vui quá cười lên ha hả, nói với Thiện Tài :

    - Mi nghe thấy chưa ? Lấy oán báo ân mới là lẽ phải, bây giờ mi chịu thua rồi chứ ?

    Thiện Tài vội vàng nói :

    - Khoan hẵn, khoan hẵn, người thì nói có lý, người thì nói vô lý, có lý hay vô lý đều chưa rõ rệt, chúng ta phải tìm một người khác phân xử.

    Xà tinh nói :

    - Dù sao mi cũng không thoát khỏi tay ta, muốn kiếm người phân xử nữa thì cứ kiếm !

    Thế là hai người lại đi tiếp. Hai người ra khỏi rừng cây ăn trái, đi hoài, đi mãi, đi tới một bờ sông nhỏ, thấy một con ếch xanh rất lớn nổi trên mặt nước, miệng kêu "oa, oa". Thiện Tài vội vàng chạy đến bờ sông, kể lại mọi sự cho ếch nghe, nhờ ếch phân xử xem đâu là lẽ phải.

    Con ếch nghe xong, "bịch" một tiếng nhảy lên bờ, nhìn hắc khổng lồ đứng sau lưng Thiện Tài rồi ra sức mà kêu to :

    - Bớ Xà tinh ! Ăn hiền gặp lành, ăn ác gặp ác, nếu còn làm ác, họa giáng lên đầu !

    Xà tinh nghe vậy giận đùng đùng lòi cả hai con mắt ra ngoài, gầm lên rằng :

    - Con ếch nhỏ mọn kia, đừng có nói bậy ! Mi tài giỏi bao nhiêu mà dám dạy đời ta ? Coi chừng ta ăn thịt mi trước bây giờ !

    Thiện Tài vội vàng chen vào giữa ngăn lại :

    - Đừng ! Đừng ! Đừng giận cá chém thớt rồi đòi ăn thịt ếch !

    Xà tinh đẩy Thiện Tài ra, tiến lại phía con ếch một cách hung tợn. Con ếch bay lên trời rồi "bõm" một tiếng, lặn xuống đáy sông mất hút. Xà tinh không bắt được con ếch thì giận dữ vô cùng, trợn trừng đôi mắt đỏ ngầu như máu, mở miệng toác hoác bầy răng nanh ra, cười gằn :

    - Thiện Tài ơi, mi còn nói gì nữa thì nói đi, để ta ăn thịt mi cho rồi !

    Thiện Tài sợ quá vội vắt giò lên cổ mà chạy trốn. Thiện Tài chạy, Xà tinh đuổi, thấy như sắp bắt kịp rồi. Nào ngờ không biết từ đâu xuất hiện ra một cô gái nhỏ xông ra che chở cho Thiện Tài. Thiện Tài thấy cô, vội vàng đem mọi sự kể lại nhờ cô phân xử. Cô gái nhìn Xà tinh từ đầu tới chân rồi lắc đầu nói :

    - Tôi không tin. Một cậu bé con như thế làm gì cứu nổi một vị khổng lồ như ông từ giếng lên ?

    Xà tinh vội vàng biện hộ :

    - Thật mà, thật mà ! Năm trăm năm trước Quán Âm Bồ Tát trách tôi tàn hại sinh linh, vi phạm quy luật của Phật nên nhốt tôi trong một cái bình nhỏ.

    Cô gái cười vang :

    - Tính ác của ngươi không chừa, bộ không sợ Quán Âm Bồ Tát phạt ngươi một lần nữa hay sao ?

    Xà tinh lắc đầu :

    - Quán Âm Bồ Tát ở tận Nam Hải Phổ Đà xa lắc, làm sao biết được mà phạt !

    Cô gái lấy một chiếc bình nhỏ ra, để trong lòng bàn tay. Xà tinh nhìn thấy giật mình kinh hoàng :

    - Á ! Tịnh bình !

    Đột nhiên, cả vạn tia sáng bắn ra, từng áng, từng áng mây lành kết lại, cô gái nhỏ biến thành Quán Âm Bồ Tát. Xà tinh thấy tình thế không ổn bèn vội vàng biến thành một cụm mây đen bay lên không trung mà trốn. Ngài Quán Âm đưa tay lên, tịnh bình bèn cưỡi một áng mây ngũ sắc bay lên đuổi theo. Mây đen chạy, mây ngũ sắc đuổi, đấu pháp với nhau trong không trung tưng bừng. Từ từ, mây đen chống đỡ không lại, biến thành một làn khói xanh, phất phơ phất phới chui vào trong tịnh bình.

    Ngài Quán Âm thâu tịnh bình về, nói với Thiện Tài rằng :

    - Tuy con là người hiền lành nhưng coi bộ con không biết phân biệt người thiện với người ác, thôi con hãy theo ta về núi Phổ Đà mà tu tập nhé.

    Thiện Tài mừng khấp khởi, quỳ xuống đất liên tục dập đầu bái tạ…. và từ đó trở thành Thiện Tài đồng tử.

    Ngài Quán Âm trở về Phổ Đà Sơn nhốt hắc xà tinh đưới một tảng núi đá ở Tây thiên. Con ếch xanh thấy vậy bèn nhảy "phóc, phóc" đến gần xà tinh kêu "oa, oa" để thử tâm xà tinh.

    Cho đến nay xà tinh vẫn còn bị giam ở dưới chân núi đá, chỉ còn có thể nghểnh dài cổ ra, nhìn con ếch xanh ngóc đầu ưỡn ngực một cách hằn học nhưng không dám làm điều chi xằng bậy.

    Về sau có người khắc một chữ "tâm" thật lớn trên tảng đá ở đằng trước đầu rắn, đó chính là "Tâm tự thạch", ý nghĩa là "tâm Phật, tâm rắn, thiện ác phân minh".

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quan Âm Truyền Thuyết

    (Tuyển Tập)

    Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ



    Quán Âm Không Chịu Đi


    Tương truyền đời vua Đường Hàm Thông, có một vị tăng người Nhật tên là Huệ Ngạc đến Trung Quốc. Thầy đã từng viếng thăm rất nhiều núi cao sống rộng, đã từng lễ bái rất nhiều chùa cổ, chùa lớn. Hôm ấy, phong trần dầy dạn, thầy rảo bước lên núi Ngũ Đài, một trong những thánh địa Phật giáo ở Trung Quốc. Cảnh Ngũ Đài Sơn rất đẹp, với những tảng đá linh sừng sững, những cây tùng cổ chọc trời, những dòng nước róc rách từ khe núi chảy ra, với trăm hoa đua nhau khoe sắc, hoặc những mái chùa ẩn hiện sau lùm cây, núi thẳm. Thật là một phong cảnh huyền bí, thanh tịnh.

    Thầy Huệ Ngạc cùng phương trượng của Ngũ Đài Sơn cùng nhau tụng kinh, nói Pháp, tham thiền, đánh cờ, hai người trở thành đôi bạn tri kỷ.

    Một hôm, thầy Huệ Ngạc thấy được một bức tượng Quán Âm Bồ Tát ở hậu viện của chính điện, tượng khắc bằng gỗ đàn hương, thần thái an tường, mọi chi tiết được khắc một cách cân xứng và tỉ mỉ, cho tới búi tóc, lông mi cũng tinh vi sinh động như người sống.

    Thầy Huệ Ngạc đứng trước tượng Quán Âm Bồ Tát, hết ngắm nghía đến tán thán, say mê đến nỗi thầy phương trượng đến mời thầy dùng cơm, thầy cũng không nghe thấy.

    Thầy phương trượng thấy thầy say mê như thế bèn hỏi :

    - Pháp sư thấy tôn tượng Bồ Tát điêu khắc thế nào ?

    Thầy Huệ Ngạc không tiếc lời khen ngợi :

    - Đẹp ! Đẹp ! Tôi đến từng tuổi này lần thứ nhất mới thấy được một bức tượng như thế ! Điêu khắc tinh vi đến nỗi biểu hiện được thái độ an tường của đại sĩ, thật là một đức Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát sống vậy !

    Thầy phương trượng thấy thầy quá ưa thích nên cười tủm tỉm mà nói :

    - Nếu Pháp sư ái mộ Ngài như thế thì tôi xin cúng dường pháp sư đem về thờ đó !

    Thầy Huệ Ngạc nghe thế vội vàng chắp tay lễ tạ. Thầy tiếp lấy bức tượng, mừng quá không kềm chế được nên quyết định về Nhật Bản lập tức, xây chùa thờ tượng của Ngài để cho người Nhật có cơ duyên đến lễ bái Bồ Tát. Thầy Huệ Ngạc rời Ngũ Đài Sơn rồi còn đến Cửu Hoa Sơn, cuối cùng từ Thiên Đài Sơn xuống lấy tàu ở cửa biển Linh Giang dương buồm về nước.

    Hôm ấy, tàu đến hải phận Phổ Đà Sơn, bỗng nhiên có một ngọn gió lớn thổi đến, thổi mạnh đến nỗi tàu nghiêng bên này, ngả bên kia rồi cuối cùng xoay vòng vòng tại chỗ. Thầy Huệ Ngạc không còn có cách nào hơn là cho tàu tiến đến một thung lũng trong đảo Phổ Đà, hạ buồm thả neo, chờ sóng yên gió lặng rồi mới tính chuyện đi tiếp.

    Hôm sau, gió đã yên và sóng đã lặng. Thầy Huệ Ngạc lại cho dương buồm nhổ neo. Nhưng tàu vừa mới rời khỏi thung lũng, mặt biển đột nhiên nhả ra từng cuộn từng cuộn sương mù màu trắng xám. Sương mù bay lên mỗi lúc mỗi cao, giống như một bức mành vải được treo ngay trước mặt tàu vậy, ngăn chận không cho tàu đi tiếp.

    Thầy Huệ Ngạc thấy chuyện kinh dị, đứng trên bong tàu ngước mặt lên trời, thì trên đầu là một khoảng màu xanh biếc ; nhìn trái nhìn phải, thì hai bên bức mành sương mù là màu nước biển xanh trong. Thầy Huệ Ngạc đành cho quay mũi tàu, đi vòng bức mành sương mù mà tiến tới phía trước. Những hễ mũi tàu hướng về bên trái thì mành sương mù cũng bay về bên trái ; hễ quay về bên phải thì mành sương mù cũng phất phới bay về bên phải. Con tàu cứ chuyển lui chuyển tới trên biển mà không tiến lên được, cuối cùng phải quay về hải phận của Phổ Đà Sơn, thầy Huệ Ngạc không nghĩ ra cách nào khác nên lại đành một lần nữa cho tàu đến thung lũng, hạ buồm thả neo, chờ sương tan rồi sẽ đi tiếp.

    Qua sáng sớm thứ ba, mặt trời đỏ ửng từ đáy biển từ từ trồi lên, phóng ngàn tia ánh ráng nhuộm sáng cả bốn phương trời. Thầy Huệ Ngạc ra đứng ở khoang tàu ngước nhìn lên trời thì thấy giữa những áng mây ngũ sắc có một toà lầu nguy nga lộng lẫy, cờ phướng sáng ngời, tiên nữ vây quanh, phóng ánh sáng màu ngọc chói lòa cả mắt. Thầy rất hoan hỉ, chắp tay đảnh lễ, rồi lập tức cho dương buồm, nhổ neo. Nhưng kỳ lạ thay, tàu vừa rời khỏi thung lũng thì những cảnh vật kỳ diệu trên trời cũng đột nhiên biến mất, mây đen che kín mặt trời, gió biển khơi dậy những ngọn sóng khổng lồ. Thầy Huệ Ngạc đâm ra lo lắng, nghĩ rằng mình đã trì hoãn ở đây hết mấy ngày trời rồi, lần nào cũng kết thúc như vậy thì bao giờ mới có thể thỉnh tượng Ngài Quán Âm về Nhật Bản đây ? Thôi thì chút gió, chút sóng có là gì đâu, cứ cho tàu chạy ! Mau cho tàu chạy !

    Thầy Huệ Ngạc yêu cầu đoàn thủy thủ lái tàu đi ngược gió, rẽ sóng hướng về phía trước mà đi. Gió trở nên dữ dội hơn, sóng vọt cao hơn, nhưng thầy Huệ Ngạc không hoảng không loạn, cứ điềm tĩnh đứng ở mũi tàu mà chắp tay tụng kinh niệm Phật.

    Tuy gió và sóng từ từ bình lặng trở lại, nhưng tàu chưa đi được bao xa bỗng nhiên đứng lặng như thể mọc rễ rồi vậy. Thầy cúi đầu nhìn thì thấy có từng đóa, từng đóa hoa sen sắt nổi lên, trong nháy mắt, cả mặt biển Phổ Đà Sơn đều phủ kín hoa sen sắt, con tàu buồm bị bao vây và kềm chặt ở giữa.

    Thầy Huệ Ngạc quá sợ hãi, tâm nghĩ rằng cứ mỗi lần tàu chạy là đều bị sóng gió ngăn chận, hôm nay lại có hoa sen sắt kềm chặt khóa tàu đứng yên, không lẽ đó là vì Quán Âm Đại sĩ không chịu đi Nhật Bản chăng ? Thầy trở lại khoang tàu, quỳ trước tượng Quán Âm Bồ Tát khấn nguyện rằng :

    - Nếu như chúng sinh ở Nhật Bản không có cơ duyên được chiêm ngưỡng thánh nhan, đệ tử nguyện tuân lệnh Bồ Tát, Bồ Tát chỉ đâu đệ tử đi đó, và xây chùa viện để thờ Bồ Tát ở nơi ấy.

    Khấn chưa dứt lời đã nghe "lập cập, lập cập", từ đáy biển nổi lên một con trâu sắt. Trâu sắt một mặt bơi thẳng về phía trước, một mặt há miệng thật to nuốt chửng những đóa hoa sen sắt. Chỉ một lúc sau, trên mặt biển bỗng mở ra một con đường vừa đủ cho tàu chạy. Thầy Huệ Ngạc cho tàu chạy theo con trâu sắt, và nương theo con đường mới được mở ra ấy mà tiến. Không lâu sau, lại nghe "lập cập, lập cập", con trâu sắt chìm xuống đáy biển sâu, và những đóa sen mới đây còn tràn đầy mặt biển cũng không còn nữa. Thầy Huệ Ngạc định thần nhìn kỹ, thì ra con tàu đã trở lại thung lũng của Phổ Đà Sơn.

    Mây đã tan, trời quang đãng, mặt trời đã treo cao trong hư không. Lúc ấy có một người đánh cá họ Trương từ trên núi xuống, nói với thầy Huệ Ngạc rằng :

    - Tôi đã thấy hết những gì xẩy ra mấy hôm nay, ngài đi không được đâu ! Thôi chi bằng thỉnh Pháp sư đến nhà tôi ở lại vài bữa rồi hãy đi !

    Thầy Huệ Ngạc thấy vị này sốt sắng như thế thì nhận lời. Tay thầy ôm bức tượng Quán Âm Bồ Tát, đi theo người đánh cá trèo lên núi Phổ Đà. Phóng tầm mắt nhìn ra xa thì thấy một bãi cát vàng óng ánh, thủy triều lúc dâng lúc lùi, những đỉnh núi cây cỏ xanh tươi vây quanh đảo, rồi xa hơn nữa là mặt biển như một tấm gương sáng mang mang không biên giới.

    Sáng thì thưởng thức mặt trời mọc, đêm thì lắng nghe tiếng thủy triều, nếu so với Ngũ Đài Sơn thì đảo này có một nét đặc sắc khác hẳn. Thầy Huệ Ngạc lại nghĩ, Bồ Tát Quán Âm đã không muốn sang Nhật thì mình ở lại đây xây chùa, để Ngài Quán Âm định cư ở Phổ Đà Sơn vậy !

    Người đánh cá họ Trương nghe tới chuyện xây chùa thì mừng rỡ vô cùng, tình nguyện nhường căn nhà tranh của mình biến thành một ngôi miếu nhỏ. Tạo miếu xong thầy Huệ Ngạc bèn đặt tượng lên thờ, sớm tối lễ bái.

    Từ đó, bức tượng Quán Âm Bồ Tát khắc bằng gỗ đàn hương đã lưu lại ở Phổ Đà Sơn. Còn căn miếu nhỏ kia thì được mang tên "Bất Khẩn Khứ Quán Âm Viện" (Viện Quán Âm không chịu đi).

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quan Âm Truyền Thuyết

    (Tuyển Tập)

    Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ



    Quán Âm độ Vi Đà


    Vi Đà là một vị thiên tướng hộ Pháp của Phật giáo, tương truyền rằng ngài là một trong 8 vị đại thần tướng của Nam phương Tăng Trưởng Ðại Thiên Vương, một trong bốn Ðại Thiên Vương, và là người đứng đầu trong 32 vị thần tướng thuộc quyền của bốn Ðại Thiên Vương.

    Tượng của ngài thường ở dưới dạng một người trai trẻ, thân mang áo giáp mũ sắt, hoặc một tay án chày kim cương, hoặc hai tay nâng chày lên, đứng trong điện Thiên Vương đâu lưng với Phật Di Lặc và đối diện với Thích Ca Mâu Ni Phật.

    Tại sao Vi Đà lại được thờ ở Thiên Vương Điện, đâu lưng với Phật Di Lặc và đối diện với Phật Thích Ca ?

    Đó là vì ngài đã từng lập công trạng rất lớn trong việc diệt giặc bảo hộ Phật Pháp. Vi Đà, trong thánh điển Phật giáo còn được gọi là "Thần Hành Thái Bảo", vì ngài nổi danh là có tài đi như bay. Tương truyền lúc Như Lai niết bàn, có một con quỷ mệnh danh là "nhanh như chớp" đến trộm hai cái răng của Phật rồi chạy mất. Vi Đà cấp tốc đuổi theo, không lâu sau bắt lại tên cướp lấy lại răng Phật. Từ đó, Vi Đà trở nên một vị thần hộ pháp nổi danh.

    Lúc còn trẻ, Vi Đà là một chàng trai anh tuấn, uy phong lẫm lẫm, ăn mặc như một võ tướng nên được tạo tượng khá giống các dũng tướng Trung Quốc như Triệu Vân, Mã Siêu. Vi Đà cũng là hộ pháp của Quán Âm Bồ Tát, nếu ngài tu thành chính quả cũng là nhờ sự giáo hóa của Bồ Tát vậy.

    Hồi xưa, Vi Đà là một chàng thanh niên sống ở nông thôn, ven bờ sông Lạc Dương, phủ Tuyền Châu, tỉnh Phúc Kiến.

    Cậu là người siêng năng, lanh lẹ và tốt bụng, thông minh tài giỏi, nổi tiếng là một người thợ khéo trong vùng. Nhà cậu ở bên bờ sông Lạc Dương. Sông này rất rộng, nước chảy xiết, vì không có cầu bắc ngang nên dân chúng hai bên bờ qua lại rất gian nan, phải lệ thuộc vào những chiếc thuyền chở khách. Bởi vì nước chảy xiết và trũng nước xoáy lại nhiều, lúc trời tốt qua sông đã không an toàn mà khi mưa to sóng lớn hay bão bùng thì lại càng nguy hiểm hơn nữa, nên nạn lật tàu rất thường xảy ra, người táng thân vào bụng cá cũng không phải là ít. Vi Đà đã bao lần chính mắt trông thấy những thảm cảnh lật tàu như thế, bèn lập nguyện xây một cây cầu bắc ngang sông, nên trong mấy năm trời ngày bán giày cỏ, đêm đi đập đá để dành từng đồng, và lúc cậu sắp sửa xây cầu thì Bồ Tát Quán Âm vân du ở phủ Tuyền Châu, và Ngài có một đoạn nhân duyên với Vi Đà từ đó.

    Mùa xuân hôm ấy, Bồ Tát Quán Âm tay cầm tịnh bình, chân đạp mây lành, đứng trên không trung nhìn xuống sông Lạc Dương, bỗng nhiên nghe vọng lên tiếng la khóc cầu cứu. Ngài cúi xuống, thấy dưới chân mình có giòng sông lớn cuồn cuộn trào dâng, một ông lão lái đò đang chèo thuyền sang sông và chiếc thuyền đang bị dòng nước xiết kéo tới một con nước xoáy. Ông lái thuyền cuống cuồng chống đỡ nhưng chiếc thuyền bị con nước xoáy làm cho quay mòng mòng, dường như sắp sửa bị lật, hành khách trên thuyền kinh hoảng trăm bề, đàn bà trẻ con thì khóc la thảm thiết, tiếng kêu cầu thấu tới mây xanh và tới tai ngài Quán Âm.

    Quán Âm Bồ Tát đại từ đại bi vội lấy nhành dương liễu từ tịnh bình ra, ném xuống chiếc thuyền đang lâm nạn trên mặt biển, thi thố thần lực áp cho sóng lặng xuống. Dòng nước giận dữ đang làm cho ba đào cuộn dâng, nước xoáy trũng sâu đang làm cho con thuyền lắc lư nghiêng ngửa bỗng tự nhiên bình lặng hiền hoà, con thuyền nhờ thế được thoát cơn hiểm nạn.

    Dĩ nhiên ông lái thuyền không biết mình đã được Quán Âm Bồ Tát cứu giúp, thấy con thuyền không còn tròng trành xoay vần và thoát ra khỏi con nước xoáy thì thở hổn hển, phần thì mừng rỡ, phần thì cố lấy lại can đảm để chèo nốt con thuyến đến bờ đối diện. Thừa khách trên thuyền ai cũng tự cảm thấy mình đã may mắn thoát chết, và nhớ lại cảnh nguy hiểm vừa trải qua ai cũng rùng mình rởn ốc.

    Hơn ai hết, ngài Quán Âm hiểu rõ những ý nghĩ, những mong cầu của chúng sinh, vì thế Ngài lập tức lấy quyết định ra tay làm một điều lợi ích cho dân. Thế là Ngài hạ mây xuống, biến thành một cô gái chài lưới trẻ tuổi xinh đẹp, bước lên khoang nói chuyện với ông lão chèo thuyền, hỏi ông có thể chèo trở về bờ bên kia ngay không ? Lúc đó, một vài người dân làng cũng vừa đến và cũng muốn qua sông. Ông lão còn chưa lấy lại hồn vía, bảo rằng :

    - Lúc nãy suýt nữa thuyền bị lật, thoát được hiểm là một điều may mắn không ngờ. Dòng sông này nước chảy quá mạnh, mỗi lần chèo thuyền tôi đều nơm nớp phập phồng, nói thật, bây giờ tôi hãy còn quá sợ, không muốn chèo thuyền về bên kia nữa, nhỡ có chuyện gì xảy ra thì sao ?

    Dân làng gấp muốn qua sông, xuống nước năn nỉ :

    - Ông lão ơi, ông không đưa thì chúng tôi làm sao về được ? Ông là tay nghề lão luyện, ai cũng đặt tin tưởng vào ông, xin ông chịu phiền một chút giùm đi !

    Ông lão lái thuyền không từ chối được, đành để cho Quán Âm Bồ Tát cùng một vài người dân làng bước lên thuyền, một lần nữa đưa mái chèo hướng bờ đối diện, một mặt nói :

    - Quý vị không biết chèo thuyền trên con sông Lạc Dương này nguy hiểm tới mức nào ! Mười năm trở lại, ngày nào tôi cũng chèo thuyền, gặp không biết bao nhiêu là cảnh nguy hiểm, tạm cho là tôi cứng tay nghề nên may mắn, lần nào cũng từ cõi chết trở về được. Trên dòng sông này, tôi đã chính mắt thấy vô số con thuyền bị lật, vô số người chết chìm làm mồi cho cá. Tôi già rồi, không còn khoẻ nữa, trước sau gì tôi cũng sẽ phải bỏ thuyền bỏ lái thôi !

    Quán Âm Bồ Tát bèn xen vào hỏi :

    - Thưa cụ, sông này nước chảy xiết, xoáy nước nhiều, chèo thuyền quả thật nguy khốn, làm sao không xảy ra tai nạn cho được ! Tại sao chúng ta không xây một chiếc cầu bắt ngang qua sông ? Cháu từ xa tới, chỗ cháu ở, nếu có dòng sông nào nguy hiểm như thế này cũng đều có cầu bắt qua cả.

    Ông lão lái thuyền thở dài lắc đầu, một vị thừa khách tiếp lời, nói :

    - Trăm họ ở đây trông mong xây một cái cầu từ lâu rồi, quan huyện cũng mấy lần công bố xây cầu, nay thì kêu gọi đóng góp tiền tài, mai thì yêu cầu đóng góp thóc gạo, năm nào cũng ra công bố nhưng mấy năm rồi, cầu đâu không thấy, chỉ thấy hầu bao của quan huyện mỗi năm mỗi phồng to lên thôi.

    Ngài Quán Âm hỏi :

    - Dân chúng tự mình đứng ra xây cầu không được sao ?

    Ông lão nghe thế, cười buồn mà rằng :

    - Nói thì dễ, muốn xây cầu thì một là phải có tiền, hai phải có thợ giỏi. Dân chúng làm gì có chừng đó tiền, và cũng làm gì có người đủ tài để đứng ra tổ chức một việc to lớn như thế. Tuy nhiên cách đây vài năm có một anh chàng tên là Vi Đà cũng đã từng đề cập tới việc xây cầu, đó là một thanh niên có chí lớn, cũng là một tay thợ khéo nổi tiếng tài giỏi ở vùng này. Một hôm thấy tôi chèo thuyền quá nguy hiểm, cậu đã nói với tôi là nhất định sẽ xây cầu. Thế mà về sau lại không thấy cậu xuất hiện nữa. Có người nói cậu đang ở nhà để dành tiền chuẩn bị việc xây cầu, mấy năm nay không thấy động tĩnh, có lẽ cậu không để dành được tiền. Chuyện xây cầu thật không phải dễ !

    Quán Âm nghe thế bất giác cảm thấy hoan hỉ, nghĩ rằng ở đây mà có một chàng trai trẻ tuổi như thế thật là hy hữu, có cùng một chí nguyện với mình, về sau giao cho anh ta đứng ra tổ chức việc xây cầu không phải là một điều thích hợp lắm hay sao ?

    Một người dân bình thường khó mà có thể trù liệu được cần phải có bao nhiêu tiền để xây cầu, muốn cho việc xây cầu này thành tựu thì chính Ngài phải đứng ra tìm biện pháp mới xong.

    Lúc ấy thuyền đã cặp bến, những người dân làng đã lên bờ và chia tay nhau ai về nhà nấy, nhưng cô gái chài lưới không lên bờ mà còn ngồi lại trong thuyền chìm trong suy nghĩ. Ông lão chèo thuyền cảm thấy kỳ lạ, bèn hỏi :

    - Cô nương, sao cô không lên bờ ?

    - Thưa cụ, cô gái chài lưới đáp, cháu đang suy nghĩ tới vụ xây cầu, vừa rồi cụ nói có anh chàng gì đó quyết tâm xây cầu, thật là hy hữu. Nhưng anh ấy một mình kiếm tiền thì chắc cả đời kiếm cũng không đủ. Tại sao tất cả chúng ta không cùng tìm cách giúp đỡ anh ấy ?

    Ông lão lái thuyền đáp :

    - Cách nào bây giờ, ở đây ai cũng nghèo khổ cả, còn những người tài chủ có tiền thì ai mà chịu cắt núm ruột của mình ra !

    Cô gái chài lưới đáp :

    - Cụ à, muốn tìm biện pháp thì không khó, cháu nghĩ trên sông này hễ chưa có cầu là còn có tai nạn, vì thế cháu muốn giúp một tay.

    Ông lão chèo thuyền nghe thế cảm thấy kỳ lạ :

    - Cô ? Cô có biện pháp nào ? Trừ phi nhà cô có tiền và muốn làm việc thiện.

    Cô gái đáp :

    - Nhà cháu không có tiền nhưng cháu có biện pháp, mình có cách nào lấy tiền của nhà giàu không ?
    Ông lão lái thuyền đáp :

    - Lấy tiền của nhà giàu ? Nhà giàu đời nào để cho mình lấy tiền, cô khéo mơ tưởng viễn vông.
    Có gái dân chài nói :

    - Cụ ơi, cháu có cách này nhưng cần cụ giúp đỡ, nếu cụ chịu làm chung việc này với cháu thì mình có thể lấy tiền của nhà giàu được.

    Nói xong cô gái tới gần thầm thì to nhỏ vào tai ông lão, khua tay múa chân ra dấu, còn ông lão thì cứ thế mà gật gù từ đầu tới cuối.
    Cuối cùng ông nói :

    - Được, vậy bắt đầu từ ngày mai chúng ta bắt đầu thi hành kế hoạch của cô.

    Hôm sau, vừa vặn trúng ngày mồng ba tháng ba, đó là ngày hội đình chùa lớn nhất trong năm ở phủ Tuyền Châu. Dân chúng từ bốn phương tám hướng đổ dồn về dự hội, người đi người về thật là náo nhiệt.

    Hôm ấy ông lão cũng chèo thuyền như mọi ngày nhưng hôm nay có điểm khác biệt là có một cô gái vô cùng xinh đẹp ngồi trong thuyền, còn ông lão thì cười tươi như hoa, thuyền không cập bến mà lại ngừng ở ngay chính giữa dòng sông.

    Sông Lạc Dương rộng khoảng năm mươi thước, thuyền ở ngay giữa dòng sông tức là cách xa hai bên bờ khoảng hai mươi mấy thước. Ông lão lái đò cùng cô gái cứ ở giữa dòng sông như thế mà chuyện trò, không chịu đưa thuyền về bến. Người muốn qua sông đứng hai bên bờ mà réo :

    - Ông lão ơi, mau chèo thuyền rước khách, chúng tôi muốn qua sông đây !

    Nhưng họ kêu mấy mặc họ, ông lão không hề màng đến, vẫn bình an giữa dòng sông. Khách chờ thuyền càng ngày càng đông, ai cũng nhìn thấy chiếc thuyền của ông lái và ai cũng tò mò không biết ông muốn làm gì, và càng đông họ càng ồn ào. Nhất là khi họ thấy ngồi trên thuyền là cô gái chài lưới có một nhan sắc hơn người. Cô gái này thật sự lôi cuốn người ta, cô mặc một cái áo trên ngắn thêu hoa nhiều màu, dưới là chiếc váy màu xanh lá cây nhạt thanh nhã nổi lên trên cái quần màu đỏ sậm, đầu bới tóc cao, tai đeo khuyên bạc, khuôn mặt trái soan đoan trang diễm lệ, da trắng nõn mịn màng, mắt như nước hồ thu gợi tình, người nào nhìn cô cũng phải khen thầm là đẹp tuyệt. Trong những người đứng nhìn, có một số là con nhà hào phú, họ nhìn cô gái mà hồn phách điên đảo, thần trí rối loạn. Người nào cũng kêu ầm lên :

    - Ông lái ơi, mau trở về chèo thuyền qua sông.

    Thấy người chờ càng ngày càng đông, ông lão mới đủng đỉnh đứng dậy nhìn hai bên bờ mà vừa chỉ cô gái dân chài mà nói :

    - Các vị nghe đây, hôm nay tôi không chèo thuyền vì tôi có cô cháu tức là cô nương đây, đã đi từ mãi tận Tô Châu lên đến phủ Tuyền Châu này.

    Cháu tôi năm nay vừa chẵn đôi tám, muốn tìm một chàng trai có duyên có số với mình để gá nghĩa trăm năm. Từ ngày hôm nay trở đi, cháu tôi sẽ ngồi trên thuyền, nếu có chàng trai nào muốn cưới cô về làm vợ, bất kỳ là người nào, đều phải tham dự vào cuộc thi này. Ðiều kiện duy nhất là phải ném một đồng tiền đồng hay một đồng tiền bạc về phía cháu tôi, nếu ai ném trúng người cô ấy thì coi như có duyên có số với cô vậy. Tôi sẽ đứng đây làm trọng tài, mọi người làm chứng, tuyệt đối không nói sai lời.

    Lão lái thuyền nói xong mọi người vỡ lẽ ra. Những người trai trẻ trong đám đông hiểu đây là một cuộc thi ném bạc kén chồng, nhìn có gái dân chài xinh đẹp, ai cũng nghe tim đập rộn ràng, tinh thần sung mãn, nhất là đám vương tôn công tử thì trở nên như điên như cuồng vậy. Ðó là những người hiếu sắc và có tiền, họ thấy cô gái này đẹp hơn tất cả những cô gái khác mà họ đã từng gặp, nên ai cũng muốn ném tiền trúng người cô ấy để cưới cô về làm vợ, được như thế thì thật là tuyệt vời ! Cô gái ngồi trên chiếc thuyền đang bồng bềnh ngay giữa lòng sông, cách hai bên bờ không quá hai mươi mấy thước, nhìn thì thấy tợ như gần ngay bên cạnh, lo gì ném không trúng ? Những vương tôn công tử, người nào cũng thèm rõ rãi, sốt ruột, muốn chính mình là người đầu tiên ném trúng cô nương, họ bèn lập tức lấy tiền đem theo tùy thân tranh nhau ném về phía cô gái. Trong chốc lát, những đồng tiền từ hai bên bờ sông bay tới khoang thuyền như mưa.

    Tuy nhiên, lạ lùng thay, tuy bờ không xa và cô gái thấy gần như thể ở ngay bên cạnh, và chàng thanh niên nào cũng nhắm cô gái cẩn thận trước khi ném nhưng tiền cứ rơi lên thuyền, không có đồng nào trúng được người cô. Ðám vương tôn công tử cảm thấy giống như đang ở trong một canh bạc, hễ hết tiền thì sai người hầu chạy về nhà lấy thêm. Họ cùng nhau tranh dành, cãi nhau chí choé, thi nhau mà ném từng giỏ, từng giỏ bạc vụn. Những đồng tiền ấy chỉ xẩy cô gái trong đường tơ kẽ tóc cho nên họ vừa hận vừa mừng, cho rằng ném lại một lần nữa thì chắc chắn thế nào cũng trúng, và như thế, họ không ngừng thử ném trở lại, ném cho tới khi trời tối mà rốt cuộc vẫn chưa ai ném trúng được người đẹp. Lúc ấy ông lão lái đò mới nói với mọi người là trời đã tối, không thể tiếp tục ném nữa, ngày mai hãy trở lại ném tiếp.

    Chuyện kén chồng trên thuyền đã làm chấn động cả phủ Tuyền Châu, một đồn mười, mười đồn trăm, trăm đồn ngàn. Ngày hôm sau, ông lái đò lại chèo thuyền ra giữa giòng sông, và cô gái chài lưới lại ngồi trên thuyền. Người ham vui đến xem càng lúc càng đông, chen lấn nhau ở bên này và bên kia bờ sông, trong ngoài chật ních. Hai bên bến phà huyên náo giống như một buổi hát xiệc. Những vương tôn công tử chiều qua không ném trúng cô nương nhưng vẫn chưa mất hy vọng, tiếp tục chuyển tiền tới, những anh chàng này tâm hồn hoàn toàn si mê điên đảo trước nhan sắc của tuyệt thế giai nhân nên tổn phí bao nhiêu cũng không tiếc, tiền họ ném có thể đong thành bồ, thành sọt vậy. Cứ thế hai ngày liền mà vẫn chưa có ai ném trúng cô nương mà chỉ thấy những đồng tiền cứ rào rào rơi xuống bên cạnh cô xuống tới khoang thuyền.

    Lúc Quán Âm Bồ Tát lập kế kiếm tiền bằng cách kén chồng ở giữa dòng sông, Vi Đà cũng nghe nói đến sự việc lạ lùng ấy nên cũng tìm đến xem khung cảnh huyên náo. Vi Đà là một chàng thanh niên trẻ tuổi, nhìn thấy cô gái chài lưới trên thuyền cũng bị nhan sắc tuyệt vời của mỹ nhân hớp hồn, nên cũng đứng ngây người ra nhìn người ngọc. Cậu thọc tay vào túi, trên thân cũng có vài đồng tiền. Tâm cậu bị chấn động nên cũng muốn chen vào ném, nhưng lập tức cậu đè nén ý muốn ấy, nghĩ rằng bao nhiêu đó người ném mà chưa ai ném trúng, mình không nên ném mấy đồng tiền một cách oan uổng, thì thôi nên bỏ ý nghĩ ấy đi.

    Nhưng vừa vặn lúc ấy có Lữ Động Tân, một trong Bát Tiên, cũng vân du đến chỗ này. Ông nhìn thấy bên dưới người đông như kiến, không biết đang có chuyện gì nên đáp mây xuống lẫn lộn trong đám đông người chen vào xem. Ông biến thành một ông lão tóc trắng như bông, mới nhìn cô gái chài lưới trên thuyền liền biết ngay đó chính là Quán Âm Bồ Tát và hiểu ngay tự sự, nên rất ngầm thán phục phương pháp kiếm tiền của ngài Quán Âm nhưng đồng thời không khỏi cảm thấy buồn cười, thầm nghĩ :

    - Đại sĩ, Đại sĩ, thật đã khổ công tìm cách làm việc thiện để nghĩ ra một diệu kế như thế. Nhưng hôm nay tôi muốn làm cho Ngài phải xuất đầu lộ diện chơi. Ngài làm cho con em các nhà hào phú ném tiền một cách oan uổng, không ai có thể ném trúng Ngài, Ngài kén chồng như thế đủ để xây cầu rồi, nếu không có chuyện gì xảy ra thì thật là toi công cho đám công tử thiếu gia kia quá, nên tôi muốn xem Ngài đối phó làm sao nếu phải làm vợ một kẻ phàm phu !

    Lữ Động Tân bèn đưa mắt tìm một anh chàng thanh niên để giúp anh ta ném trúng cô gái chài lưới, làm khó dễ Quán Âm Bồ Tát xem sao ! Khéo sao ông lại đứng ngay bên cạnh Vi Đà, ông thấy anh chàng này phúc hậu lại chín chắn, chứ không phải loại công tử đẻ bọc điều kia, và ông cũng đã bắt gặp động tác móc tiền ra rồi lại bỏ vào của anh chàng. Ông nghĩ :

    - Được rồi, Đại sĩ, tôi sẽ làm cho anh chàng này ném trúng Ngài xem Ngài làm sao ?

    Thế là ông vỗ vai Vi Đà, cười nói :

    - Này cậu, cậu có muốn thử một chuyến không ?

    Vi Đà bị hỏi bèn đỏ bừng cả mặt, xấu hổ cúi đầu. Lữ Động Tân nói:

    - Cậu không có gì phải xấu hổ, trai lớn phải có vợ, một tuyệt sắc giai nhân như thế đang kén chồng thì không nên bỏ qua cơ hội, biết đâu hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, cậu có duyên có phần với cô ấy thì sao ?

    Chàng thanh niên nhìn ông lão nói :

    - Ông bác ơi, cháu cũng muốn thử chứ, nhưng nghĩ lại hai ngày vừa qua, biết bao nhiêu là vương tôn công tử ném không biết bao nhiêu là tiền mà ném không trúng, còn cháu chỉ có mấy đồng bạc trên thân, nếu đem ra ném thì chỉ có phí tiền thôi chứ làm sao trúng được. Hơn nữa, mấy năm vừa qua, cháu chỉ nghĩ tới có một điều mà thôi, đó là làm sao để dành tiền xây cầu. Tiền kiếm được hãy còn ít lắm, cháu không thể tự tiện nghĩ tới lấy vợ của cá nhân mình mà đi tiêu phí những đồng tiền này.

    Lữ Động Tân nghe thế cảm thấy rất mến anh chàng này và nghĩ thầm :

    - Thì ra chàng trai trẻ này cùng có chung một ý nguyện với ngài Quán Âm, thật là hy hữu, hy hữu ! Ta phải giúp cho anh chàng ném trúng Quán Âm Đại sĩ, phá Ngài chơi. Rồi khi nào Ngài biết được và có nổi giận thì cũng dễ gỡ thế bí bằng cách để cho anh chàng này giúp đỡ Ngài trong việc xây cầu là xong !

    Nghĩ thế rồi Lữ Động Tân nói với Vi Đà :

    - Này cậu, để tôi nói cho cậu biết tại sao cô nương này lại kén chồng. Cô kén chồng bằng cách này là cũng chỉ vì muốn kiếm tiền xây cầu, cậu và cô ấy đều có cung một ý chí nên tôi nghĩ rằng cậu sẽ ném trúng. Đôi bên kết hôn rồi chung lưng sát cánh với nhau với nhau lo chuyện xây cầu không phải là thượng sách hay sao ? Cậu cứ ném thử đi, nếu đúng duyên đúng phận, người khác ném mấy cũng không trúng mà cậu ném một lần là trúng, không tin cậu cứ thử, mà dù ném có không trúng đi nữa thì tiền này coi như cậu tặng cho cô ấy xây cầu chứ có mất mát đi đâu, cậu nghĩ tôi nói có đúng không ?

    Đúng ngay lúc ấy, giọng ông lão lái đò vọng tới :

    - Bà con làng xóm ơi, trời đã tối rồi nên hôm nay ngừng ở đây, tôi muốn gác mái chèo về nhà nghỉ.

    Lữ Động Tân nghe vậy vội thúc Vi Đà ném, Vi Đà luống cuống bèn ném bừa về phía cô gái một đồng tiền. Có lẽ vì trong suốt hai ngày Ngài Quán Âm dùng thần lực nên tiền không thể nào trúng tới mình Ngài, nay ông lão chèo đò đã ra hiệu ngừng để về nghỉ nên Ngài bèn xả thần lực. Thêm vào lại có Lữ Động Tân cố ý làm cho đồng tiền ném trúng Ngài nên ông thổi một cái, đồng tiền của Vi Đà theo hơi thần của ông mà rơi lên người cô gái chài lưới, không rơi bên phải, không rơi bên trái, không rơi ở trên hay ở dưới mà rơi ngay tim của Ngài. Lúc ấy ai cũng đã ngừng tay, chỉ còn có Vi Đà ném tiền, người đứng hai bên bờ ai cũng thấy rõ ràng, thế là sau hai ngày trời cuối cùng cũng có người ném trúng, không ai bảo ai mà mọi người đều reo hò nhảy cỡn lên vỗ tay hoan hô :

    - Giỏi ! Giỏi ! Trúng rồi ! Trúng rồi ! anh chàng này tốt phước quá !

    Quán Âm Bồ Tát giật mình kinh ngạc, bị ném trúng một cách bất ngờ nên Ngài lúng túng, không biết chuyện chi xảy ra, bèn nhìn Vi Đà đang được mọi người hoan hô. Nhìn thấy rồi Ngài giận muốn đứt hơi vì trong đám đông, có Lữ Động Tân đang nhìn Ngài mà cười ha hả, do đó Ngài biết ngay là có bàn tay phá rối của Lữ Động Tân.

    Có tiếng người kêu :

    - Ông lái đò ơi, mau chèo qua đây, chú rể đứng ở đây nè !

    Quán Âm Bồ Tát rất bối rối nhưng không có cách nào hơn là để cho ông lái đò chèo thuyền về rước Lữ Động Tân và Vi Đà lên thuyền, một lời đã hứa đâu có dễ gì nuốt lại được !

    Ông lão lái đò nhận ra Vi Đà, mừng rỡ nói với cô gái chài lưới :

    - Cô nương, cậu này chính là anh chàng thanh niên muốn xây cầu đây, đúng là trời có mắt !

    - Đúng rồi, đúng rồi, đây là duyên trời định, Lữ Động Tân nói. Cô nương à, lão phu đặc biệt tới đây để tác hợp cho hai người.

    Quán Âm Bồ Tát nhìn Lữ Động Tân như thể ông là con quái vật, vừa tức vừa giận mà không thể để lộ ra ngoài mặt. Tuy nhiên, nghe nói rằng anh chàng thanh niên này chính là Vi Đà, người muốn xây cầu, thì cũng đổi giận làm vui, thầm nghĩ rằng :

    - Anh chàng này phúc hậu lương thiện lại là một tay thợ đá giỏi, để cho anh ta đứng ra xây cầu thì không có gì bằng.

    Còn Lữ Động Tân, Ngài Quán Âm biết ông là người hay phá phách trêu ghẹo người khác, nên Ngài cũng không giận nữa mà lại bảo rằng :

    - Ông làm việc tốt, tôi xin cám ơn ông. Nhưng ông đùa lần này là quá lố, không nên đắc ý như vậy. Ông đã gieo gió thì bây giờ hãy gặt bão, theo tôi nghĩ, ông nên mau nói lên sự thật.

    Ông lão lái đò và Vi Đà nghe ngài Quán Âm và Lữ Động Tân nói chuyện với nhau như thể là người quen biết từ lâu, cảm thấy kỳ lạ nên hai người đều đứng ngây người ra nhìn. Lữ Động Tân nghe Ngài Quán Âm dạy như thế rồi thì cũng không dám đùa nữa, và cũng nghĩ rằng mình chỉ nên đùa vừa phải thôi, phải mau nói lên sự thật kẻo càng để lâu càng khó xử. Nghĩ thế rồi, Lữ Động Tân bèn nói sự thật cho ông lão chèo đò và Vi Đà nghe.

    Khi biết mình đang đứng trước mặt Quán Âm Bồ Tát và Lữ Động Tân, hai người vừa kinh sợ vừa vui mừng. Lại nghĩ đến ngài Quán Âm vì muốn có đủ tiền xây cầu mà phải nhọc tâm nghĩ diệu kế, mấy ngày qua thu được tiền đầy cả một khoang thuyền, hai người vô cùng kính phục tấm lòng từ bi và trí huệ của Ngài nên khấu đầu lễ bái không ngừng. Chuyện kén chồng chỉ là một mưu kế của Bồ Tát, tiên và phàm vĩnh viễn cách biệt nên một khi giải thích rồi, không có vấn đề gì nữa.

    Bốn người đếm xong tiền thu được rồi, Quán Âm Bồ Tát nói với ông lão lái đò và Vi Đà :

    - Chuyện xây cầu là chuyện quan trọng, nay ta ủy thác cho hai người. Vi Đà là người tốt, hãy chịu khó cố gắng thêm chút nữa. Hiện tại thì số tiền này đủ để xây cầu, mong hai người hãy mau tiến hành công việc, tranh thủ thời gian để cầu được xây càng mau càng tốt. Khi nào cầu xây xong, ta sẽ trở lại.

    Nói xong, Ngài hiện ra Quán Âm bảo tướng trang nghiêm, rồi cùng Lữ Động Tân lên mây mà đi.

    Ông lão lái đò và Vi Đà được Ngài Quán Âm ủy thác việc này rồi, ngay ngày hôm sau là bắt tay vào việc, làm ngày làm đêm không dám trễ nãi, không tới một năm sau, một cây cầu hùng vĩ tráng lệ được bắc ngang sông Lạc Dương.

    Đúng ngày cầu vừa xây xong, quả nhiên Ngài Quán Âm trở lại. Tuy Ngài vẫn xuất hiện dưới lốt một cô gái chài lưới, nhưng lần này ai cũng biết đó là Bồ Tát Quán Âm giáng lâm nên tất cả đều sụp xuống lễ.
    Bồ Tát nói với mọi người :

    - Các vị hãy mau đứng dậy, không nên tạ ơn ta, cầu này mà hoàn thành là do sức đóng góp của tất cả quý vị, chính ta mới phải tạ ơn các vị.

    Quán Âm Bồ Tát chúc mừng việc cầu đã hoàn thành, rồi lên mây trở về Nam Hải. Nhưng trước khi đi Ngài nói riêng với Vi Đà :

    - Vi Đà, ngươi đã hoàn thành tốt đẹp việc xây cầu. Ngươi đã ném tiền trúng ta vì ta với ngươi có duyên phận. Ta thấy ngươi là người có tâm thiện lành, ngươi có muốn cùng ta về Phổ Đà Sơn không ? Nếu muốn thì có thể ở bên ta mà tu hành cho tới chính quả, làm thần hộ Pháp cho ta, nếu không muốn thì cứ ở lại đây.

    Vi Đà vội vàng đáp :

    - Bồ Tát trên cao, Vi Đà con được Bồ Tát giúp đỡ, một lòng thề nguyện xây cầu viên mãn, cầu xây xong rồi, con luôn tạc dạ ghi lòng tâm đại từ đại bi của Bồ Tát. Nếu được theo Bồ Tát mà tu hành, thì đó là điều vinh hạnh mà con vẫn hằng mơ tưởng mà không dám nghĩ có thể thành sự thật. Con nguyện theo Bồ Tát về Phổ Đà Sơn.

    Quán Âm Bồ Tát bèn đưa Vi Đà về Phổ Đà Sơn. Một vài năm sau, Vi Đà tu hành thành chính quả, được phong là thần Hộ Pháp, và được gọi là "Vi Đà Thiên Tôn", thời thời khắc khắc đứng trước mặt Quán Âm Bồ Tát để hộ vệ Ngài.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quan Âm Truyền Thuyết

    (Tuyển Tập)

    Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ



    Quán Âm độ Di Lặc


    Trước khi Di Lặc Bồ Tát thành Phật, ngài là con của một gia đình tài chủ rất giàu có.

    Từ nhỏ sinh ra đã trắng trẻo mập mạp, suốt ngày cười hà hà, đặc biệt tốt bụng , luôn luôn đem tài sản trong nhà ra bố thí cho người nghèo. Khi Di Lặc lớn lên thì gia sản kếch sù kia đã bị đem cho hết sạch sành sanh rồi, cuối cùng cả quần áo trên thân cậu cũng bố thí hết, chỉ còn lại cái quần. Nhưng cậu không hề hối hận cũng chẳng hề buồn, cả ngày mình trần trùng trục vui vẻ uỡn bụng mà cười.

    Quán Âm Ðại Sĩ biết được việc này thì trong tâm rất tán thưởng nhân cách của Di Lặc. Nhưng chuyện tai nghe sao rõ bằng mắt thấy, Ngài muốn tự mình đi thử thách anh chàng thanh niên này, nếu như danh bất hư truyền thì sẽ dẫn độ cho cậu ta về Phổ Ðà Sơn thành Phật. Một hôm, Ngài Quán Âm giả trang thành một cô gái nghèo, tìm đến Di Lặc để cầu xin bố thí. Di Lặc thật là khó xử, trên thân chỉ còn có cái quần, ngoài ra không có lấy một vật gì khác, đứng trước mặt một cô gái làm sao cậu có thể cởi quần đem bố thí cho cô ta được ! Cậu xoa bụng cười hề hề mà rằng :

    - Cô nương chờ một chút, tôi đến nhà mấy người nhà giàu xin cái gì về cho cô nương nhé !

    Nói xong bèn xoay lưng đi ngay. Ngài Quán Âm nhẹ mỉm cười, kêu giật Di Lặc lại :

    - Khoan đã ! Bần nữ có hai chậu hoa ở đây, tiên sinh một chậu tôi một chậu. Nếu hoa trong chậu của tiên sinh nở trước, thì tôi sẽ không xin tiên sinh bố thí cho gì cả ; còn nếu hoa trong chậu của tôi nở trước thì tiên sinh phải cho tôi cái gì của chính tiên sinh, không được đi xin vật gì của ai khác.

    Di Lặc nghe xong, không đòi hỏi gì hơn, vui vẻ cười dài, luôn miệng nói "được !", nhưng thật ra trong tâm thì cậu không có một chủ ý gì.

    Ngài Quán Âm và Di Lặc đến một nơi vắng vẻ, cả hai nhắm mắt ngồi bệt xuống đất trước mặt chậu hoa của mình.

    Hai giờ trôi qua, Ngài Quán Âm hí hí mắt ra nhìn thì thấy chậu của mình thì không có lấy một nụ hoa, còn chậu của Di Lặc thì có một đóa hoa đã nở rồi. Quán Âm Bồ Tát vẫn cố tình muốn thử Di Lặc nên mới nhẹ nhẹ đổi chỗ hai chậu hoa, rồi giả bộ làm ra vẻ ngạc nhiên và mừng rỡ kêu lên rằng :

    - Hoa trong chậu của tôi đã nở rồi !

    Tuy Di Lặc rất thật thà nhắm nghiền đôi mắt nhưng vẫn cảm biết khi Ngài Quán Âm đổi chỗ hai chậu hoa, cậu nghĩ thầm :"Người ta là một cô nương đã lớn, ta phải nhường nhịn cô ta chứ có lý gì mà tị nạnh hơn thua !". Cậu bèn mở banh hai mắt, cười hề hề :

    - Tôi thua rồi ! Tôi thua rồi !

    Quán Âm Bồ Tát thấy dáng diệu của cậu như thế thì cười :

    - Tiên sinh thua rồi, bây giờ phải bố thí cái gì cho tôi !

    Di Lặc gãi đầu, xoa bụng và cười hì hì :

    - Cô nương ơi, cô nương cũng thấy rồi mà, thật ra tôi không có gì để tặng cô nương hết. Tuy nhiên tôi hãy còn cái giải quần này !

    Nói xong Di Lặc tháo cái giải quần ra trao cho Ngài Quán Âm, còn mình thì lấy hai tay xách quần, vui vẻ cười hoài.

    Ngài Quán Âm rất cảm động nên nói thật cho Di Lặc biết mình là ai, và chủ ý của mình là gì. Di Lặc đồng ý ngay, theo Quán Âm Ðại sĩ về Phổ Ðà Sơn. Thần hộ Pháp của Quán Âm viện là ngài Vi Ðà, thấy Bồ Tát Quán Âm đã về, đi theo sau có một anh chàng thanh niên mình trần trùng trục lại hai tay xách quần miệng cười hề hề, thì bất giác cau mày, mắt toé lửa, đưa chày hàng ma lên, khí lực hùng dũng uy nghi chận cửa đại điện nhìn Di Lặc hét :"Ðứng lại !".

    Quán Âm Bồ Tát thấy Di Lặc bị chận ở ngoài đại điện thì vội vàng đến giải thích mọi sự cho ngài Vi Ðà nghe, lúc ấy ngài Vi Ðà mới ngây người ra để cho Di Lặc bước vào.

    Ngài Quán Âm nhìn Di Lặc, rồi lại nhìn ngài Vi Ðà, nói rằng :

    - Di Lặc miệng luôn tươi cười, có thể đón khách thập phương. Vi Ðà uy nghi lẫm liệt, làm Hộ Pháp bảo vệ điện Phật đúng lắm !

    Từ đó trở đi, ngài Di Lặc, ngài Vi Ðà, và tứ đại Kim Cương cùng nhau thủ hộ chùa chiền ở Thiên Vương Ðiện. Phật Di Lặc ngồi đối mặt với cửa chính, lúc nào cũng mang bộ mặt vui vẻ tươi cười hỉ hả.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quan Âm Truyền Thuyết

    (Tuyển Tập)

    Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ



    Quán Âm độ 18 La Hán


    Ở chân núi Thiên Thai, khoảng 3,5 cây số phía bắc huyện Thiên Thai tỉnh Triết Giang, hiện nay có một ngôi chùa rất nổi tiếng tên là Quốc Thanh tự, do Kim Vương Dương Quảng đời nhà Tùy năm Khai Hoàng thứ 18 (598 DL), vâng lời Trí Giả Đại Sư mà xây nên, cũng là tổ đình của Thiên Thai Tông của Phật giáo Trung Hoa. Trong giới Phật tử, ngôi chùa Thiên Thai này vẫn còn nổi danh trên khắp hoàn cầu.

    Trong Đại Hùng Bảo Điện (Chính Điện) của chùa Quốc Thanh, có một bức tượng Quán Âm "Từ Hàng Phổ Độ" ở ngay trung tâm, và ngồi dọc xếp thành hai hàng ở hai bên điện có tượng 18 La Hán khắc bằng gỗ lim, từ đời nhà Nguyên.

    18 vị La Hán ban đầu chính là 18 người thợ đến làm công ở chùa này.

    18 người thợ đã tỉ thí đấu với Bồ Tát Quán Âm và thua cuộc nên được Ngài thâu làm 18 La Hán.

    Sau khi chùa Quốc Thanh được xây lên rồi, Kim Vương Dương Quảng ban cho chùa rất nhiều ruộng đất nên hòa thượng trụ trì phải mướn 18 người thợ đến cầy cấy trồng trọt.

    Còn việc cơm nước trong chùa thì có một bà lão rất già, đầu tóc bạc phơ, một tay đảm nhiệm. Các vị tăng trong chùa nói là lúc chùa còn đang xây thì đã thấy bà có mặt ở chùa rồi. Nhưng hiện nay chùa có 327 vị tăng thường trụ cùng 18 người thợ, bà vẫn hãy còn là người duy nhất lo chuyện bếp núc, thế mà dọn cơm chưa từng một lần trễ giờ, cơm nấu chưa bao giờ khê cũng chưa bao giờ sống. Bà lão cũng chưa từng ngồi không, ngày ngày phải đi nhặt củi ở gần chùa rồi chất sẵn một núi to ở ngoài cửa, sau đó còn đi trồng rau ở trên núi trong một miếng đất của chùa. Các thầy trong chùa, từ lớn tới nhỏ ai cũng phải khen ngợi tán thán tính siêng năng cần cù của bà lão. Sự thật bà lão này không ai khác hơn là Quan Thế Âm Bồ Tát, vì Kim Vương Dương Quảng muốn xây chùa Quốc Thanh nên Ngài bí mật đến giúp một tay, để biến vùng đất này thành một thánh địa nổi danh của Phật giáo .

    18 người thợ là những cậu thanh niên vạm vỡ khỏe mạnh, hiếu chiến, háo thắng. Họ đến chùa này, ngày ngày ăn cơm của bà lão nấu, vừa thơm vừa ngon, đáng lẽ phải biết mang ơn, nhưng trong đầu lại nẩy ra một ý kiến quái gở.

    Họ thấy bà lớn tuổi dường ấy mà làm việc lại giỏi như thế, nấu cơm cho rất nhiều người ăn mà bữa nào dọn cơm rau ra cũng đúng giờ, thật là kỳ lạ ! Thế là một buổi sáng ăn sáng xong, họ ra đồng làm việc, vừa làm vừa bàn tán với nhau, hay là mình tìm cách phá bà ấy chơi ? Họ bàn mưu tính kế với nhau xong, thừa lúc bà lão vắng mặt, bèn lấy nước đổ lên đống củi dùng để đốt lửa thổi cơm trước cửa khiến củi ướt sũng, rồi mới xuống núi. Họ cười thầm trong bụng rằng để xem trưa nay trở về xem bà làm sao để dọn cơm đây ? Thế nào lại chẳng có dịp cười bà một phen ! Nào có ngờ đâu rằng buổi trưa trở về, thì cũng như mọi thường, cơm đã dọn ra sẵn cho mấy trăm người ăn, mười mấy mâm cơm vẫn thơm ngon như mọi bữa ! 18 người thợ chạy ra ngoài cửa xem, thì thấy đống củi bị họ tưới ướt sáng nay bây giờ lại khô rang khô ráo, nên há hốc mồm đứng thừ người ra.

    Nhưng họ đâu có chịu thua, họ lại bàn mưu tính kế kiếm một cách khác quỷ quái hơn. Hôm ấy, họ đem từ ngoài vào một thúng cát vàng, chờ bà lão ra ngoài xếp củi, bèn đổ hết thúng cát vào nồi cơm rồi đắc ý cười hỉ hả xuống núi làm việc, xem lần này bà lão sẽ đương đầu cách nào nhé ?

    Bà lão gánh củi về, đã biết đám thợ đã giở trò gì rồi, trong lòng không khỏi buồn cười. Bà bèn dở nắp nồi lên, cầm một cái vớt bọt bằng đồng lớn, miệng nói "vớt cát đừng vớt gạo", khuấy vào nồi cơm như thế vài dạo thì bao nhiêu cát bọn thợ đã đổ vào hồi sáng nay đã vớt ra hết không còn một hạt.

    Đến trưa, cơm vẫn nấu xong như thường lệ, và cũng như thường lệ không sống không khê, thơm phưng phức, ngon tuyệt vời, không hề lẫn lộn một hạt cát nào. 18 người thợ trở về ăn cơm thấy thế lại ngẩn người ra, họ vẫn chưa phá được bà lão nên ăn mất ngon.

    Nhưng những cậu thanh niên hiếu chiến háo thắng ấy đời nào chịu thua, họ lại bàn với nhau kiếm một kế khác hiểm hóc hơn nữa. Gạo trong chùa vốn được giao tới mỗi tháng trong vựa lúa. Vựa lúa của chùa Quốc Thanh cách nhà bếp rất xa, đầu tháng nào cũng có mấy vị tăng gánh về đổ vào trong một cái lu lớn cho bà lão. Hôm ấy là ngày cuối tháng, 18 người thợ ăn xong, chờ bà lão lên núi nhặt củi rồi bèn lấy bao nhiêu gạo còn lại trong lu dấu mất, "không bột đố gột nên hồ", lúc nhặt củi về không có gạo để nấu cơm trưa, mà muốn đi gánh về thì cũng không thể kịp, để xem lần này bà làm sao trở tay ?

    Bà lão nhặt củi về, nhìn lu gạo thấy trống trơn, biết ngay đây là mấy cậu thanh niên dở trò nữa, bà lại cười thầm. Chừng ấy mà có thể làm khó dễ Bồ Tát được sao ? Ngài lấy thúng cát vàng mà bọn thợ đem tới hôm nọ, miệng nói "cát vàng biến thành gạo", thế là trong nháy mắt, Ngài có một thúng gạo lớn.

    Đến giờ ăn trưa, 18 người thợ trở về, lại thấy trên bàn cơm rau đã dọn sẵn, thì ra bà lão vẫn nấu cơm được như thường khiến họ một lần nữa ngẩn tò te. Lần này, họ dần dần cảm nhận rằng bà lão không phải là người tầm thường, mà họ cũng không nghĩ được cách khác để phá bà, nên trong tâm đã cảm phục nhiều rồi.

    Một hôm, 18 người thợ đang gặt lúa trên đồng, bà lão nhặt củi trên núi về bèn ghé đến. Nhìn họ gặt lúa nhanh như gió, Bồ Tát cũng phải công nhận họ thật là những người thợ giỏi và thầm tán thán, nghĩ rằng nếu thâu 18 anh chàng về làm La Hán bảo vệ chùa chiền thì không phải là một điều rất tốt hay sao ?

    Thế là Ngài nẩy ra một ý kiến, nên tiến đến chào những người làm công ấy.

    - Các cậu mười mấy người nghe này, tôi hỏi các cậu, có phải các cậu đã phá tôi ba lần liên tiếp không ? Các cậu có sao nói vậy, phải nói thật.

    18 người làm công ngượng ngùng nói :

    - Bà lão ơi, đúng thế, chính chúng cháu đã tinh nghịch muốn phá bà lão chơi nhưng nay thì chúng cháu không dám nữa, bà lão thật là thần thông quảng đại, chúng cháu đã khuất phục rồi, chúng cháu thật tình xin lỗi, mong bà lão bỏ qua cho chúng cháu.

    Bồ Tát cười :

    - Bọn thanh niên các cậu mà biết khuất phục người khác sao, thí dụ như hôm nay tôi gặt lúa thi với các cậu xem ai gặt mau, thì các cậu có phục hơn không ?

    18 người làm công nghe nói tới chuyện thi gặt lúa thì không phục nữa mà nói :

    - Bà lão ơi, nấu cơm thì chúng cháu không phá nổi bà, chứ mà gặt lúa thì trong vòng 10 dặm, 100 dặm quanh đây không ai qua mặt chúng cháu được, chúng cháu là tay nghề mà, không sợ bà đâu ! Bà muốn thi thì thi, mà người thua mất gì, người thắng được gì, bà lão quyết định đi !

    Bồ Tát nói :

    - Nếu tôi thua thì tôi sẽ đãi các cậu một buổi tiệc 18 món, còn nếu các cậu thua thì phải ở lại chùa Quốc Thanh này làm La Hán, các cậu chịu không ?

    18 người làm công đâu có sợ bà lão, bèn đồng thanh trả lời :

    - Chịu !

    Sau đó bà lão đem tới một lưỡi liềm, cùng 18 người làm công mỗi người chiếm một luống cày, bắt đầu gặt xem ai gặt mau nhất. 18 người làm công nghĩ, chúng tôi trẻ tuổi khỏe mạnh, chân tay lanh lợi, còn bà thì già nua mà còn bị bó chân, làm sao chúng tôi thua bà được !

    Nghe tiếng Bồ Tát nói "bắt đầu !", thế là 19 người như ngựa phi điện chớp bắt đầu gặt lúa. Bà già tuy chân bó thật nhưng khi bắt đầu gặt thì hoàn toàn biến dạng, bà làm thoăn thoắt như bay. 18 người làm công chuyên tâm cúi đầu làm việc, thoáng một cái là xong nửa luống, có một người ngẩng đầu lên xem bà lão đã làm tới đâu rồi, nghĩ rằng không chừng bà đã ngã xuống đất cũng có, nào ngờ người ấy nhìn xong bỗng sững sờ, bà lão đã gặt xong luống cày, đang đứng ở đầu bên kia mà cười !

    Bây giờ thì 18 người làm công hoàn toàn phục thiện. Họ gặt xong luống của mình rồi bèn nói với bà lão :

    - Bà cụ ơi, chúng cháu hoàn toàn phục bà rồi. Bà không phải là người phàm, chắc bà là Bồ Tát, chúng cháu tình nguyện xin làm đệ tử của bà.

    Bấy giờ Quán Âm Bồ Tát mới hiện bảo tướng Bồ Tát, nói với 18 người làm công rằng :

    - Đúng rồi, ta là Quán Âm Bồ Tát, đến đây giúp Kim Vương Dương Quảng xây chùa lập thánh địa. Nếu các ông bằng lòng theo ta, ta sẽ thâu các ông làm La Hán, cùng ta bảo hộ ngôi chùa này, các ông nghĩ sao ?

    18 người làm công thấy bảo tướng của Quán Âm Bồ Tát rồi liền quỳ xuống dập đầu lạy lia lịa, bạch rằng :

    - Bồ Tát đại từ đại bi, chúng con nguyện xin theo Bồ Tát.

    Từ đó 18 người làm công biến thành 18 vị La Hán, ai đi chùa Quốc Thanh cũng có thể thấy tượng của họ ngồi dọc hai bên Đại Hùng Bảo Điện.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quan Âm Truyền Thuyết

    (Tuyển Tập)

    Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ



    Quán Âm Khiêu


    Quán Âm Ðại Sĩ ở núi Phổ Ðà đọc kinh thuyết Pháp và tu luyện thành Phật rồi, bèn đi đến Tây Phương Cực Lạc tham bái Như Lai. Mới đó mà 81 ngày đằng đẳng đã trôi qua. Hôm ấy Ngài Quán Âm rời Lôi Âm Tự, bước lên đài sen, gió thổi mây bay đưa Ngài trở về đạo tràng của mình. Khi Ngài ở trên không nhìn xuống biển Liên Hoa thì thấy trên núi Phổ Ðà có khí độc mịt mù, cây khô cằn, lá vàng úa, thắng cảnh Nam Hải ngày xưa tươi đẹp bao nhiêu thì nay đã trở thành một ngọn núi trọc, bao bọc bằng một màn chướng khí dày đặc.

    Ban đầu Ngài không thấy rõ ràng nguyên nhân của sự thay đổi ấy, bèn đáp xuống núi Lạc Ca.

    Thì ra trong thời gian 81 ngày mà Ngài Quán Âm vắng mặt để lên Tây Phương Cực Lạc tham bái Như Lai thì ở cõi trần gian dài bằng mấy trăm năm . Trong thời gian đó, có một con rắn lửa đã thành tinh (Hồng Xà Tinh) từ động Vân Vụ (Vân = mây ; Vụ = sương mù) của đảo Ðông Phúc đến chiếm cứ Phổ Ðà sơn, và tự xưng mình là Xà vương. Hồng Xà Tinh này thân đỏ như lửa, mắt như hai ngọn đèn pha, miệng thì như cái thúng lúa, nó chỉ ngáp một cái là toàn đảo nồng nặc chướng khí đen nghịt. Hắn còn thích du ngoạn đó đây trong đảo để giết hại sinh linh.

    Ngày hôm sau, Ngài Quán Âm đi tìm con xà tinh, thì thấy từ xa có một người đàn ông mặt đỏ từ động Phạm Âm bước ra. Người đàn ông này tiến đến trước mặt Ngài Quán Âm, dùng giọng thô lỗ mà hỏi "Ê, ngươi đến đảo rắn để làm gì ?"

    Thấy thái độ của hắn như thế, Ngài Quán Âm biết ngay đây là hóa thân của Hồng Xà Tinh, bèn nhẫn nại thi lễ và hỏi :

    - Ông hẳn là xà tiên rồi ! Tại sao lại đến chiếm Phật môn thánh địa của ta, rồi còn làm hại sinh linh nữa ?

    Xà tinh trợn mắt, gầm lên :

    - Ta ở trên đảo này đã hơn mấy trăm năm, sao lại dám nói ta chiếm đất Phật của ngươi ?

    Quán Âm thấy hắn lộ tướng hung dữ, giọng điệu ngạo mạn, biết rằng không thể nói phải trái cho hắn nghe được. Ngài nghĩ :"Con xà tinh này nóng nảy lỗ mãng, sao ta không dùng chút mưu kế để bắt hắn thần phục ?". Nghĩ thế rồi, Ngài Quán Âm mới dùng lời nói nhã nhặn mà nói :

    - Nguyên quán của ông vốn ở động Vân Vụ, bây giờ lại đến Phổ Ðà sơn, chiếm cứ hai nơi như thế có ích gì ? Thôi bây giờ xin ông phương tiện cho tôi mượn Phổ Ðà sơn để dựng chùa thuyết Pháp, được không ?

    Hồng Xà tinh thấy thái độ hòa nhã của Ngài Quán Âm, nghĩ rằng mình có thể tự tung tự tác, bèn nói :

    - Vụ mượn núi thì có thể điều đình với nhau được, nhưng chỉ được mượn trong một thời gian ngắn thôi, không được mượn lâu.

    - Không mượn lâu, không mượn lâu !

    - Vậy thì mượn bao giờ trả ?

    Ngài Quán Âm cười :

    - Bao giờ không còn tiếng mõ trên núi Phổ Ðà, và sóng không còn vỗ trên bãi cát Thiên Bộ Sa thì ta sẽ trao trả đảo lại cho ông.

    Con Xà Tinh nghe thế đùng đùng nổi giận, thế mà dám nói là mượn, rõ ràng là muốn chiếm đảo rắn của ta đây mà !

    - Không cho mượn ! Không cho mượn ! Ngươi hãy đi khỏi núi Lạc Ca này mau lên !

    Nói xong hắn quay mình bỏ đi. Nhưng Ngài Quán Âm đâu chịu bỏ cuộc, Ngài vội chận Hồng Xà Tinh lại, hỏi :

    - Không lẽ núi Lạc Ca cũng là của ông luôn ?

    Hồng Xà Tinh trả lời :

    - Thì từ trước tới giờ Phổ Ðà Lạc Ca vốn là một ngọn núi, bộ không biết sao ?

    Ngài Quán Âm thấy Hồng Xà Tinh nổi giận, cố ý trêu tức thêm :

    - Ông luôn miệng nói Phổ Ðà sơn là của ông, vậy ông lấy gì làm chứng ?

    Hồng Xà Tinh dương dương tự đắc trả lời :

    - Tại vì chân thân của ta có thể quấn đảo này đúng một vòng.

    Ngài Quán Âm nắm lấy cơ hội, tiến đến một bước nói khích :

    - Thân ông dài chừng âý sao ? Ta không tin, ông thử quấn một vòng cho ta xem !

    Con Hồng Xà Tinh muốn phô trương bản lĩnh của mình, không hề thấy dụng ý của Ngài Quán Âm, bèn rùng mình một cái, biến thành một con rắn thật to. Trong nháy mắt, hắn dãn thân ra càng lúc càng dài, ven theo chân núi ngoằn ngoèo khúc khuỷu làm một vòng chu vi của núi Phổ Ðà, không bao lâu thì đầu đuôi của hắn tiếp giáp với nhau. Ngài Quán Âm nhẹ nhàng dùng chân đạp xuống một cái, khiến núi Lạc Ca tách ra khỏi Phổ Ðà thật xa. Từ đó Phổ Ðà và Lạc Ca trở thành hai ngọn núi khác nhau. Chờ Hồng Xà Tinh dùng thân quấn xong một vòng Phổ Ðà sơn, đầu đuôi gặp nhau rồi, Ngài Quán Âm đứng trên núi Lạc Ca cất tiếng cười khanh khách, nói với Hồng Xà Tinh rằng :

    - Ông nói Phổ Ðà và Lạc Ca chỉ là một ngọn núi, sao ông quấn một vòng Phổ Ðà mà chưa quấn tới Lạc Ca ?

    Hồng Xà Tinh ngóc đầu lên nhìn, quả nhiên thấy núi Lạc Ca rất xa núi Phổ Ðà, biết mình đã bị mắc mưu, không phục mà nói :

    - Bỏ đi, bỏ đi, để ta quấn lại một vòng !

    Ngài Quán Âm đưa ra một cái bát bằng vàng :

    - Không cần ông quấn một vòng núi Phổ Ðà Lạc Ca nữa. Nếu ông có thể quấn một vòng cái bát bằng vàng này, thì ta nhường Phổ Ðà sơn cho ông đó.

    Hồng Xà Tinh nhìn bát vàng, nói một cách khinh miệt :

    - Chuyện đó có khó gì ?

    Nói xong hắn lại biến thành một con rắn lửa. Chỉ thấy con rắn lăn một vòng trên mặt đất, sột soạt một tiếng, thân hắn co nhỏ lại dần, rồi nhẹ nhàng tung người lên cuộn trên miệng bát một vòng. Ngài Quán Âm lợi dụng thờỉ cơ lấy ngón tay khẽ búng, Hồng Xà Tinh rơi vào bát cái "bộp", rồi dùng tay đậy miệng bát lại khiến con rắn không còn hơi để thở, hổn hển luôn miệng kêu cứu :

    - Quán Âm Đại sĩ tha mạng ! Đại sĩ tha mạng !

    Ngài Quán Âm suy nghĩ một lúc rồi nói :

    - Ðược, tha cho ngươi một con đường sống, nhưng ngươi hãy trở về động Vân Vụ.

    Nói xong Ngài thả Hồng Xà Tinh xuống biển. Hồng Xà Tinh lại cầu xin :

    - Ðộng Vân Vụ đã không có mây lại cũng không có sương mù, lại hoang vu, một năm bốn mùa mặt trời như thiêu như đốt, thật khó cho tôi nương náu, xin Ðại Sĩ cho tôi ở chỗ khác !

    Ngài Quán Âm thuận tay bẻ một đóa hoa sen, tung lên không trung, đóa sen biến thành một áng mây hình hoa sen. Ngài nói với hồng xà :

    - Ngươi mà biết cải tà quy chính thì áng mây hình hoa sen này sẽ che nắng cho ngươi hoài. Còn nếu làm ác trở lại, ta sẽ không dung thứ !

    Hồng Xà Tinh khấu đầu bái tạ, theo áng mây mà trở về động Vân Vụ. Cho đến nay, áng mây hình hoa sen này vẫn còn lãng đãng trên nền trời của động Vân Vụ !

    Ngài Quán Âm đuổi được con rắn lửa rồi, bèn tung người lên nhảy từ núi Lạc Ca đáp xuống núi Phổ Ðà. Trên tảng đá mà Ngài đáp xuống, hiện nay còn lưu lại một dấu chân thật sâu đậm, mọi người gọi tảng đá đó là "Quán Âm Khiêu" (khiêu = nhảy).

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quan Âm Truyền Thuyết

    (Tuyển Tập)

    Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ



    Hải Thiên Phật Quốc


    Dưới chân núi Phật Đỉnh Sơn, ở bên đường Hương Vân có một tảng đá lớn nghiêng hẳn về phía trước như chực đổ xuống, trên đá có khắc bốn chữ "Hải Thiên Phật Quốc" với nét bút hùng tráng, nét khắc tinh xảo. Bốn chữ đẹp như một bức tranh, thư pháp ấy không phải do một văn nhân, học sĩ nào viết, mà là bút tích của một vị Tướng quân nổi danh đời nhà Minh, tên là Hầu Kế Cao, nhờ dẹp tan giặc Nụy mà sử sách đề tên.

    Hầu Kế Cao là một vị Tướng quân văn võ song toàn, ra trận thì cầm binh như thần, tài ba vũ bão, mà bình thường thì lại là một tín đồ Phật giáo thuần thành. Năm Vạn Lịch, ông lãnh đạo quân binh diệt giặc Nụy, nhờ chiến thuật cao cường nên đánh trăm trận trăm thắng, khiến Nụy quân phải rút tàn binh ẩn náu trên đảo Lãn Cương, một hòn đảo hiểm trở, núi đồi nhấp nhô như sóng nước.

    Người ta nói "Lãn Cương 3 quả núi, lên xuống thật nguy nàn" cũng không ngoa. Đảo này rất xa đất liền, giáp với biển sâu, trên biển thì sóng to gió lớn và nhiều đá ngầm, chỉ có những con thuyền nhỏ và nhẹ mới có thể lách giữa những tảng đá ngầm ấy mà đi, người nào không biết đường đi nước bước thì không cách gì đến gần bờ được.

    Lúc ấy, Hầu Kế Cao cùng binh lính trấn thủ trên mặt biển, mấy lần đem quân chinh phạt nhưng vì giặc Nụy ẩn trốn rất sâu trong đảo nên mấy lần đi không lại về không. Ông khổ tâm suy nghĩ tính toán, nhưng không làm sao tìm được mưu chước nào để đánh đuổi bọn giặc này.

    Dầu cho việc quân sự gian khổ, nhưng đêm đêm Hầu Kế Cao vẫn ngồi trước tượng Ngài Quán Âm tĩnh tọa một lúc, một là để tịnh dưỡng tâm thần, và hai là lợi dụng những lúc an tĩnh như thế để mà mưu tính kế hoạch.

    Đêm hôm ấy, Hầu Kế Cao ngồi trước bàn thờ ngây người ra mà nhìn tượng Ngài Quán Âm. Đột nhiên, ông nghe hương thơm từ bàn thờ tỏa xuống, định thần lại nhìn kỹ thì thấy tượng Ngài Quán Âm lớn dần, lớn dần, đôi mắt hơi mở to một chút, và còn nghe Ngài nói :

    - Thiên thời, địa lợi, nhân hòa ! Thiên thời, địa lợi, nhân hòa !

    Hầu Kế Cao mừng quá kêu lên :

    - Đúng rồi ! Thiên thời, địa lợi, nhân hòa !

    Nhưng trong chớp mắt, tượng Ngài Quán Âm đã nhỏ lại như cũ.

    Lúc ấy trời đã tờ mờ sáng, nhưng Hầu Kế Cao không hề cảm thấy mệt mỏi hay buồn ngủ. Ông lên tàu chiến chạy thẳng tới đảo Câu Kỷ. Trên đảo này, một mặt ông hỏi han dân chài, một mặt ông quan sát tình hình. Lên tới chóp đỉnh của hòn đảo nhỏ, thấy những chiếc thuyền đánh cá lấm tấm trên mặt biển ông chợt nghĩ ra một diệu kế, vội vàng trở về căn cứ và bắt đầu xếp đặt một chiến thuật khôn khéo, tinh tế.

    Một vài ngày sau, có bốn chiếc thuyền đánh cá giăng lưới trên mặt biển Lãn Cương. Tướng giặc Nụy nhìn thấy mừng thầm, vung đao lên hét :

    - Mau ! Hãy mau bắt lấy thuyền chài !

    Trong khoảnh khắc, từ thung lũng Lãng Cương túa ra hơn mười chiếc thuyền Nụy, đâm thẳng vào những chiếc thuyền đánh cá. Dân chài trên thuyền vội vàng cắt dây, vứt bỏ lưới mà chạy trốn. Giặc Nụy đuổi sát theo sau không nhả, thẳng tiến đến đảo Câu Kỷ. Bỗng nhiên tiếng hiệu lệnh tù và vang dậy, bốn chiếc thuyền câu nhanh nhẹn quay đầu lại đối mặt với thuyền Nụy và xông thẳng tới, những người dân đánh cá ban nãy ai cũng có giáo mác, chuẩn bị hỗn chiến với giặc Nụy. Quân lính trên đảo Câu Kỷ cũng ào ạt đánh trống hỗ trợ, lên thuyền trợ chiến. Giặc Nụy thấy bị tấn công bốn bề thì hoảng hốt mở đường máu mà chạy.

    Đúng cái lúc thuyền Nụy đuổi theo thuyền đánh cá, rời xa hải phận Lãng Cương thì Hầu Kế Cao dẫn một đoàn "nam phương binh" rất giỏi về thủy chiến, lên thuyền nhỏ đi đường tắt âm thầm đến đảo Lãng Cương. Như những bóng ma, họ tiêu diệt đám Nụy binh ở lại hậu cứ thủ đồn trong chớp nhoáng và chiếm lấy đảo.

    Đám bại quân từ đảo Câu Kỷ chạy thoát về đến Lãng Cương thì vội vàng bỏ thuyền lên bờ, những tưởng thu thập tàn binh tổ chức kháng chiến. Nhưng Hầu Kế Cao đã phi thân nhảy lên một tảng đá lớn, dương cung lắp tên, "phụp" một tiếng, tên tướng Nụy bị một mũi tên vào cổ chết tốt. Lính Nụy như rắn mất đầu luống cuống chạy tán loạn, Hầu Kế Cao hô "sát", thế là binh sĩ từ trên núi đổ xuống xáp la cà với binh Nụy, sau một trận đánh kịch liệt, giặc Nụy bị dồn vào ngõ bí, lớp nhảy xuống biển, lớp mổ bụng tự sát, chẳng bao lâu không còn một người.

    Nhờ chiến thuật lấy ít đánh nhiều thần diệu, Hầu Kế Cao đã toàn thắng.

    Trong lòng tràn ngập niềm vui, ông bèn đến đảo Phổ Đà nào xây chùa, nào tạo tượng, và tự tay viết cuốn "Phốc Đà Sơn ký" để biểu lộ lòng thành của mình đối với Ngài Quán Âm.

    Trong lúc du ngoạn, ngắm thắng cảnh cùng các chùa miếu cổ xưa của đảo, nhìn quanh thấy trời và nước hỗ tương chiếu sáng cho nhau, phong cảnh quá ư tráng lệ, bất giác buộc miệng khen rằng :

    - Phổ Đà Sơn thật là một vương quốc giữa trời và biển !

    Tức thì ông vung bút viết lên bốn chữ "Hải Thiên Phật Quốc", rồi mướn thợ khắc lên đá ngay sau đó.

    Từ đó, Hải Thiên Phật Quốc là một tên khác của Phổ Đà Sơn.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quan Âm Truyền Thuyết

    (Tuyển Tập)

    Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ



    Tám Bức Tranh Quán Âm


    Ở quanh vùng Tô Châu Hàng Châu, dân chúng thường thờ phụng những bức tranh họa 8 tướng của Quán Âm Bồ Tát. Sở dĩ dân chúng rất thích 8 bức tranh này, là vì ngay từ đầu, chính Quán Âm Bồ Tát đã hiện thân tự tay vẽ ra những bức tranh mẫu. Chuyện này có liên quan đến một vị cư sĩ tên là Vương Tích Tước.

    Vị cư sĩ này, biệt hiệu là Kinh Thạch, đã từng làm quan lớn trong triều đình, cuối đời từ quan về vườn sống ẩn dật, dốc lòng làm việc Phật Pháp. Suối đời ông thích làm việc thiện hay bố thí, đã làm được nhiều việc lợi ích cho dân cho nước.

    Ông giao du một cách thân tình với một vị cao tăng đương thời, tức là Thiền sư Viên Thông. Một bên là quan lớn, một bên là cao tăng, hai bên cùng hỗ tương xiển dương Phật Pháp nên lúc ấy đạo Phật rất hưng thịnh.

    Một hôm, Vương Kinh Thạch đang tụng bài Tâm Kinh, đọc tới câu "Quán Tự Tại Bồ Tát hành thân Bát Nhã Ba La Mật chiếu kiến ngũ uẩn giai Không, độ nhất thiết khổ ách", bèn nghĩ đến công đức của Quán Âm Bồ Tát đại từ đại bi, bỗng nhiên phát sinh ý nguyện mời một vị họa sĩ tài cao để vẽ một ngàn bức tranh, họa pháp tướng của Quán Âm Bồ Tát, và đồng thời kèm theo bài Tâm Kinh để tặng cho người ta đem về thờ. Nhờ thế, người ta sẽ càng thêm một lòng hướng thiện,và chịu thay đổi những phong tục tập quán xấu.

    Quyết định như thế rồi, Vương Kinh Thạch bèn đi tìm Thiền sư Viên Thông để bàn luận. Ông bạch với Thiền sư rằng :

    - Bạch Thiền sư, những ngày gần đây đệ tử có một ý muốn như thế này : Quán Âm Bồ Tát vì lòng đại từ đại bi, tầm thanh cứu khổ, nên hiển hóa huyền ảo đủ các bảo tướng để cứu độ chúng sinh. Con đã phát nguyện mời họa sư vẽ 1000 bức họa bảo tướng của Bồ Tát tặng cho dân gian để khuyến hóa họ, đại sư nghĩ thế nào ?

    Thiền sư Viên Thông nghe thế thì mừng rỡ vô cùng, khen ngợi nhiệt liệt :

    - Ông tận tâm tận lực xiển dương Phật Pháp, phát tâm vẽ bảo tướng của Quán Âm Bồ Tát tặng cho dân gian để khuyến hóa thế tục, đó là một điều thiện, công đức vô lượng.

    Vương Kinh Thạch nói :

    - Tuy nhiên đệ tử có một điều xin thỉnh ý đại sư, đó là Bồ Tát hiển hóa đủ các bảo tướng khác nhau, vậy thì đệ tử nên vẽ bảo tướng nào ? Đại sư trí tuệ uyên thâm, xin đại sư chỉ giáo đệ tử.

    Viên Thông pháp sư trả lời :

    - Muốn biết tốt nhất nên vẽ bảo tướng nào của Bồ Tát, thì phải chiếu theo Thiên quang nhãn Quán Tự Tại Bồ Tát Bí Mật Pháp Kinh", tất cả có tám tướng :

    - một là "Kim Cương Quán Tự Tại Bồ Tát"

    - hai là "Dữ Nguyện Quán Tự Tại Bồ Tát"

    - ba là "Sổ Châu Quán Tự Tại Bồ Tát"

    - bốn là "Câu Triệu Quán Tự Tại Bồ Tát"

    - năm là "Trừ Chướng Quán Tự Tại Bồ Tát"

    - sáu là "Bảo Kiếm Quán Tự Tại Bồ Tát"

    - bảy là "Bảo Ấn Quán Tự Tại Bồ Tát"

    - tám là "Bất Thối Chuyển Kim Luân Quán Tự Tại Bồ Tát".

    Đó là tám hình tướng của Bồ Tát, mỗi hình tướng diễn tả một loại thần thông khác nhau. Vậy thì cuối cùng nên vẽ hình tướng nào ? Bần tăng không dám chủ quan quyết định, xin mời cư sĩ hãy tự định đoạt lấy.

    Vương Kinh Thạch suy nghĩ một lúc rồi nói :

    - Lời sư phụ chỉ giáo rất đúng, đệ tử nghĩ tốt nhất là mời một vài họa sư đến, trước hết dặn họ tắm rửa trai giới thanh tịnh, xong thỉnh Bồ Tát ứng cho một điềm lành, thị hiện bảo tướng cho họ thấy. Họ thấy bảo tướng của Bồ Tát rồi thì chiếu theo đó mà vẽ, làm như thế là đúng nhất.

    Viên Thông Pháp sư đáp :

    - Làm như thế rất tốt.

    Vương Kinh Thạch bèn đi mời họa công về vẽ, vừa vặn mời được 8 người, rồi bày tỏ cho họ biết điều mình mơ ước. 8 vị họa công nghe lời Vương Kinh Thạch, tắm rửa trai giới thanh tịnh để cầu nguyện Quán Âm Bồ Tát ứng mộng cho mình thấy bảo tướng. Nhưng liên tiếp mấy ngày mà không có ai mộng thấy điềm gì cả. Họ không biết bảo tướng của Bồ Tát thật sự như thế nào nên cũng không biết vẽ Ngài ra sao, vì thế họ cảm thấy rất khó xử.

    Vừa khéo Quán Âm Bồ Tát đi ngang qua chỗ ấy, biết rằng Vương Kinh Thạch muốn vẽ tranh của mình mà đang gặp khó khăn, nên Ngài hóa thành một anh chàng Tú Tài áo trắng đến trước cửa nhà xin gặp, nói rằng mình có sở trường vẽ các loại hình tướng của Quán Âm Bồ Tát.

    Vương Kinh Thạch nghe nói có người tự giới thiệu như thế thì mừng khấp khởi, vội mời vào gặp mặt. Nói chuyện một lúc với Tú Tài, ông rất vừa ý, nhất là khi vị này nói với ông một cách rất thành tâm :

    - Ngài phát nguyện lớn như thế thì làm sao không giúp ngài được. Tại hạ đã bẩy lần mộng thấy đến đất Phật nên rất quen thuộc với với các hình tướng cùng khuôn mặt của Bồ Tát, ngài muốn vẽ thì tại hạ có thể vẽ liền tức thì.

    Vương Kinh Thạch mừng không thể tả :

    - Vậy xin thỉnh tiên sinh thi thố tài năng cho, nhưng không biết tiên sinh định vẽ bảo tướng nào ?

    Tú Tài đáp :

    - Pháp sư Viên Thông đã nói với ngài rằng Bồ Tát Quán Âm có 8 tướng, thì theo thiển ý của tại hạ, mình nên vẽ cả 8 tướng thì mới hoàn mỹ và không thiếu sót.

    Vương Kinh Thạch gật đầu liên hồi tỏ ý tán đồng :

    - Thế thì quá tốt rồi !

    Thế là ông gọi người xếp đặt bàn vẽ, chuẩn bị mực vàng mực bạc, bút nghiên mới tinh cùng giấy trắng thanh khiết, và mời Tú Tài vẽ.

    Bạch y Tú Tài tiến đến trước bàn, xắn tay áo lên, cất bút lên bắt đầu vẽ, ngọn bút bay trên giấy mau như gió thổi, cánh tay cầm bút thoăn thoắt như điện chớp, chỉ trong phút chốc là hoàn thành bức hình thứ nhất của Bồ Tát Quán Âm. Tú Tài tiếp tục múa bút, lại vẽ xong một bức khác. Không đầy nửa ngày, tám bức họa bảo tướng Quán Âm Bồ Tát đã vẽ xong. Tám vị họa công không ai là không tấm tắc xuýt xoa khen là đẹp tuyệt, còn Vương Kinh Thạch thì mừng vui không bút mực nào tả xiết.

    Hãy nhìn tám bức tranh :

    - Bức thứ nhất "Kim Cương Quán Tự Tại Bồ Tát" là tướng phẫn nộ, mặt mũi dữ tợn, dáng vẻ giận dữ, tướng này có thể nhiếp phục ma quỷ.

    - Bức thứ hai "Dữ Nguyện Quán Tự Tại Bồ Tát" là tướng đại từ, tay trái cầm quyển kinh, tay phải bất ấn "dữ nguyện" (ban bố những điều mà chúng sinh cầu xin) để kết thiện duyên sâu rộng với chúng sinh.

    - Bức thứ ba "Sổ Châu Quán Tự Tại Bồ Tát" là tướng đại bi, Bồ Tát ngồi nhắm mắt, tay cầm xâu chuỗi như thể đang thầm niệm Phật, biểu lộ lòng từ bi lân mẫn của Bồ Tát đối với muôn loài.

    - Bức thứ tư "Câu Triệu Quán Tự Tại Bồ Tát" là tướng Viên Thông, Bồ Tát ngồi kết già phu, có ba mặt, khuôn mặt chính vui vẻ, đầu đội thiên quan (mũ trời), trên mũ có hóa thân A Di Đà Phật. Khuôn mặt bên trái giận dữ đáng sợ, tóc tai dựng đứng, đầu đội nguyệt quan (mũ có hình mặt trăng). Khuôn mặt bên phải cau mày tức giận, răng nanh chĩa ra ngoài. Bồ Tát có sáu cánh tay, một tay cầm dây thừng, một tay cầm hoa sen, một tay cầm đinh ba, một tay cầm rìu, một tay bắt ấn Thí Vô Úy (ấn làm cho chúng sinh không còn sợ hãi), một tay cầm bảo trượng Như Ý. Tướng này biểu thị Bồ Tát muốn "câu" những "con cá" trời và người đem lên bờ giác ngộ.

    - Bức thứ năm "Trừ Chướng Quán Tự Tại Bồ Tát" là tướng Phổ Chiếu, một đầu ba khuôn mặt, tay phải cầm gương báu, bay trái bắt ấn "Dữ Nguyện", tướng này biểu thị Bồ Tát có năng lực phá trừ ba chướng lục đạo.

    - Bức thứ sáu "Bảo Kiếm Quán Tự Tại Bồ Tát" là tướng Giải Thoát, trên đầu hiện hoa sen, một tay cầm kiếm báu, một tay đưa lên trước ngực, tướng này biểu thị Bồ Tát có năng lực diệt trừ lục tặc.

    - Bức thứ bảy "Bảo Ấn Quán Tự Tại Bồ Tát", một thân ba đầu và 6 cánh tay, là tướng Phấn Tấn (mạnh dạn tiến lên). Cả ba khuôn mặt đều hiện vẻ từ bi. Sáu cánh tay mỗi tay cầm một pháp khí là bảo ấn, chuông mõ, tràng phan, bảo kiếm và hoa sen. Tướng này biểu thị Bồ Tát đi đi lại lại trong ba giới.

    - Bức thứ tám "Bất Thối Chuyển Kim Luân Quán Tự Tại Bồ Tát" là tướng Như Ý, mặt ngọc mỉm cười, đầu đội mũ báu, trên mũ có hóa thân của Vô Lượng Thọ Phật, tay nâng bánh xe vàng ra dáng quay bánh xe, tướng này biểu thị Bồ Tát có năng lực diệt trừ các ác nghiệp.

    Vương Kinh Thạch thấy tám bức tranh bảo tướng đã vẽ xong, mừng rỡ quá sức tưởng tượng, khen ngợi không hết lời.

    Tú Tài nói :

    - Bây giờ ngài đã có 8 bức tranh bảo tướng này, có thể để làm mẫu cho các vị họa sư vẽ theo. Tại hạ không ở lâu được, xin cáo biệt.

    Vương Kinh Thạch nhất định giữ lại mà không được, kêu người đem bạc nén ra để trả tiền thù lao nhưng Tú Tài kiên quyết không nhận, còn lấy từ trong ngực áo ra một viên gì như hạt đậu đưa tặng Vương Kinh Thạch :

    - Đây là hạt Tây Phương Vô Úy tôi tặng ngài, ngài hãy thường thường đeo trong người, nó có thể giúp ngài tiêu trừ mọi tai ương, tăng trưởng trí huệ và không bao giờ bị hãm hại.

    Vương Kinh Thạch nhiều lần tạ ơn, thân hành tiễn bạch y Tú Tài ra tận cửa ngoài. Tiễn khách đi rồi, Vương Kinh Thạch sung sướng cầm 8 bức tranh bảo tướng Quán Âm Bồ Tát đi tìm Pháp sư Viên Thông và kể mọi sự cho ngài biết. Pháp sư nghe xong hoan hỉ nói với Vương Kinh Thạch rằng :

    - Mừng cho ông, Vương cư sĩ ! Hôm nay ông đã được gặp Bồ Tát rồi đó !

    Vương Kinh Thạch không hiểu gì cả, nói một cách kinh ngạc :

    - Gặp Bồ Tát nào ? Ý Đại sư muốn nói vị bạch y tú tài vẽ tranh là Quán Âm Bồ Tát chăng ?

    Viên Thông Pháp sư cười :

    - Đúng thế. Vị Tú Tài áo trắng ấy chính là Quán Âm Bồ Tát, nếu không phải là Bồ Tát, người phàm nào có thể vẽ các bảo tướng được như vậy ? Vả lại, nếu không phải là Bồ Tát, ai là người có thể tặng ngài hạt Tây Phương Vô Úy ?

    Vương Kinh Thạch bừng tỉnh ngộ, vừa kinh dị vừa vui mừng vạn phần. Ông cảm thấy vinh hạnh vì Bồ Tát đã giáng lâm đến nhà mình vẽ tranh nên lòng tin vào Phật Pháp càng kiên cố thêm, lòng muốn làm việc thiện càng tăng mạnh thêm.

    Ông đem 8 bức tranh bảo tướng Bồ Tát treo trong đại đình, nhờ 8 vị họa công mỗi người lấy một bức mà vẽ theo. Vẽ xong bức nào, ông tự tay chép bài Tâm Kinh kèm theo và tặng cả hai cho người ta. Vẽ như thế tròn một năm thì ông đã tặng hết 1000 bức. Còn 8 bức tranh mẫu mà Ngài Quán Âm đã tự tay vẽ thì ông giữ làm của gia bảo trong nhà, truyền từ thế hệ này tới thế hệ khác.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quan Âm Truyền Thuyết

    (Tuyển Tập)

    Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ



    Thượng Tọa Lịch Sơn Bắt Rùa


    Trước cửa chùa Phổ Tế có một hồ sen, hoa sen ở đó đặc biệt tinh khiết, hương thơm đặc biệt ngào ngạt.

    Năm ấy có một viên khâm sai của hoàng thành đến chơi Phổ Đà Sơn, được ăn một bát chè hạt sen thơm phức, về tới triều đình bèn hết lòng tán dương khen ngợi.

    Nhà vua nghe được, bèn hạ thánh chỉ truyền lệnh mỗi năm Phổ Đà Sơn phải tiến cống hạt sen. Từ đó trở đi, hạt sen trong hồ bị đưa lên triều cống cho hoàng đế không chừa một hạt nào còn lại. Chư tăng trong chúng ai cũng căm phẫn nhưng không ai dám nói ra.

    Về sau, có một vị hòa thượng đến chùa Phổ Tế cư ngụ, ngài tên là Pháp sư Lịch Sơn. Vị hoà thượng này râu trắng dài tới ngực, lông mày dài che mặt, khí phách phi phàm, được mọi người mệnh danh là "lão tăng trăm tuổi".

    Hoà thượng Lịch Sơn nghe nói mỗi năm Phổ Đà Sơn phải triều cống hạt sen cho hoàng đế, trong lòng không phục, bèn viết gởi lên triều đình một bản tấu thư, tâu rằng trong hồ có một con rùa đen đã thành tinh rất ham ăn, đêm nào cũng về ăn vụng hết hạt sen trong hồ nên hạt sen vô cùng khan hiếm, thỉnh cầu hoàng đến miễn cho việc triều cống.

    Hoàng đế nhận bản tấu thư xong thì giận quá, râu tóc dựng ngược cả, cặp mắt muốn lồi ra ngoài ! Ông thừa biết hạt sen của Phổ Đà Sơn hằng năm phải hiến cống triều định, tất cả đều dành cho ông dùng, "rõ ràng họ muốn nhục mạ ta là con rùa đen thành tinh đây mà !".

    Nghĩ thế xong ông nắm lấy ngự bút, toan viết lời phê phán, song vừa mới viết xuống bốn chữ "Lịch Sơn hoà thượng" thì ngừng lại. Tại sao vậy ? Ban đầu ông tính viết là "Lịch Sơn hòa thượng nhục mạ hoàng đế, xử tử !", nhưng nghĩ kỹ lại thì thấy không được, trong bản tấu thư giấy trắng mực đen ghi rằng "con rùa đen thành tinh ăn vụng hạt sen", làm sao có thể bảo đó là một câu "nhục mạ hoàng đế" được ! Kết tội Lịch Sơn hòa thượng "nhục mạ hoàng đế", há chẳng phải giống như ngầm công nhận rằng hoàng đế chính là con rùa đen thành tinh ăn vụng hạt sen hay sao ! Làm thế thì tránh sao khỏi bị thiên hạ chê cười ! Phải kiếm một cách khác để trừng trị Lịch Sơn hòa thượng mới được.

    Một tay cầm ngự bút, một tay cầm bản tấu thư, cuối cùng ông cũng tìm ra một cách. Ông ngoáy bút một lúc rồi đổi lời phê như sau :

    "Lịch Sơn hòa thượng có nhiệm vụ phải bắt con rùa đen thành tinh, nếu không bắt được, xử tử !"

    Sau đó ông phái vị khâm sai bữa trước trở lại Phổ Đà Sơn tuyên đọc thánh chỉ.

    Chư tăng của Phổ Đà Sơn nghe xong thánh chỉ, ai cũng sững sờ và kinh hoàng. Chỉ có Lịch Sơn Hòa thượng là không chút lo âu, tiếp xong thánh chỉ bèn nói với khâm sai :

    - Nếu muốn bắt rùa tinh thì thế nào ngó sen cũng bị hủy hoại, lúc ấy sẽ không còn hạt sen nào để hiến cống lên cho hoàng thượng, lão tăng không dám chịu trách nhiệm ấy, xin đại nhân xét cho !

    Vị khâm sai nghe thế thầm nghĩ : "Ông Lịch Sơn Hòa thượng này thật là không phải tay vừa !" rồi bèn làm bộ xuề xoà, cười nói :

    - Nếu bắt được rùa tinh thì về đến kinh đô rồi lão thần nhất định sẽ tâu lên sự thật, cầu xin hoàng thượng xá miễn cho các vị việc triều cống !

    Lịch Sơn Hòa thượng nghe thế cười ha hả :

    - Đại nhân thật là người biết thông cảm cho phận kẻ thấp cổ bé miệng, lão tăng rất khâm phục. Không phải như kẻ khác, ngoài thì thơn thớt nói cười mà sau lưng lại giết người không dao bằng những lời sàm tấu, thật là đáng ghét ! Vậy thì chúng ta cùng ra hồ bắt rùa đi !

    Lịch Sơn Hòa thượng dẫn đầu chư tăng của toàn chùa, mặc áo cà sa, chắp tay cúi đầu, miệng đọc kinh Phật, đến hồ sen sai người tát cạn hồ nước, rồi chọn mười vị tăng mạnh khoẻ cường tráng nhảy xuống hồ bắt rùa. Mò mẫm như thế liên tiếp ba ngày ba đêm, cuối cùng họ mới mò ra được một con rùa đen bằng đá nằm ở dưới cầu Vĩnh Thọ. Hòa thượng Lịch Sơn bảo mấy vị tăng ấy đem dây thừng cột chặt con rùa đá rồi đem nó lên xem xét, ôi, con rùa này nặng tới ngàn, vạn cân là ít !

    Lịch Sơn Hòa thượng chỉ con rùa đen nói với khâm sai rằng :

    - Thưa đại nhân ! Con rùa đá này tu luyện thành tinh, tạo nghiệp tội trên đất Phật, may quá được thánh chỉ của hoàng thượng nên lão tăng mới trừ được cái hại này !

    Khâm sai bước tới rờ đầu rồi khõ lưng con rùa, đảo mắt nhìn quanh rồi nói :

    - Đây là con rùa đá, làm sao có thể ăn vụng hạt sen được ? Này, nói dối là bị tội khi quân chứ không phải chuyện đùa đâu !

    Lịch Sơn Hòa thượng mỉm cười đáp :

    - Đại nhân không rõ đấy thôi ! Con rùa này là do Bát Tiên đánh mất lúc họ qua sông đó mà ! Lúc đầu nó chỉ là một con rùa nhỏ bằng ngọc đen, nhờ tu luyện lâu năm ở đây nên mới trở nên to lớn như thế. Ngày nó ngủ, đêm mới thức dậy lén ăn hạt sen trên đất Phật với ý nguyện mau đắc được chính quả. Mặc dầu nó đã thành tinh, nhưng không có phép để thăng thiên hay độn thổ cho nên một khi bị mặt trời chiếu vào rồi thì bao nhiêu công phu tu hành đều mất trọn. Đại nhân có thể đem con rùa này về hoàng thành, thỉnh hoàng thượng xem qua để thấu rõ cho lòng thành của bần tăng đi bắt rùa trừ yêu cho Phổ Đà Sơn !

    Vị khâm sai nọ nghe Lịch Sơn Hòa thượng nói thế thì bán tín bán nghi, cảm thấy thật là khó xử. Con rùa đá nặng cả ngàn cân, nếu đem về kinh thành thì phải mất rất nhiều thời gian, rất nhiều công sức. Hơn nữa phải đi đường biển xa xôi, trên biển gió thuận thì không nói gì, mà nếu gặp gió mưa bão bùng thì thật là không thể kham nổi lao khổ ! Ông bèn làm bộ thân thiết nói rằng :

    - Nay pháp sư đã hàng phục được yêu tinh, trừ hại cho đất Phật, lão thần sẽ về tâu điều này lên cho Thánh thượng là được rồi. Còn con rùa đá này, thôi thì cho nó ở lại đây, sau này bắt nó đội bia vậy !

    Lịch Sơn Hòa thượng nghe khâm sai nói thì trong bụng mừng thầm, vội cúi đầu tạ ơn "Tuân mệnh !".

    Khâm sai biết bản lãnh của Lịch Sơn Hòa thượng, không dám nấn ná ở lại lâu, đành tiu nghĩu trở về kinh báo cáo kết quả nhiệm vụ cho hoàng đế. Từ đấy, Phổ Đà Sơn không còn phải triều cống hạt sen cho vua nữa.

    Về sau, có người nói chính Lịch Sơn Hòa thượng đã ngầm sai người thả rùa đá đen này xuống hồ trước rồi.

    Đúng là "Sư đi nước cờ cao, khâm sai bị hàng phục !".

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quan Âm Truyền Thuyết

    (Tuyển Tập)

    Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ



    Quán Âm tạt nước nhận chìm Bồng Lai


    Tương truyền rằng thời xưa, ở trong biển lớn phía đông của Phổ Đà Sơn có một hải đảo với phong cảnh diệu kỳ, trên bờ thì trăm chim thi nhau ca hót, dưới biển thì cá tôm bơi lội thành đoàn, trai thì bắt cá, gái thì đan lưới, tất cả đều sống một đời sống tự do tự tại nên được gọi là đảo Bồng Lai.

    Đến một năm nọ, có một ông vua tham lam hung ác lên ngôi trị vì, muốn xây hoàng cung nên nay thì bức bách dân chúng phải lên núi đốn cây đập đá, mai thì ức hiếp trăm họ bắt xuống biển sâu mò san hô, ngọc trai... Nếu có ai tỏ ý phản kháng thì nhẹ nhất cũng bị roi đòn, nặng hơn thì chém đầu. Từ đấy chim muông bay đi hết, cá tôm cũng bỏ trốn, và trăm hoa đều tàn tạ. Dân chúng không chịu đựng nổi những khổ nạn như thế nữa nên cũng rầm rộ kéo nhau đi tìm đất khác mà nương thân.

    Vua thấy như vậy thì nổi trận lôi đình, sai một đại tướng quân dẫn binh đi bắt dân chúng phải trở lại, đồng thời phải tìm chim, cá và hoa tươi mang về đảo. Đại tướng quân nọ lên tàu lênh đênh trên biển cả tìm kiếm khắp nơi nhưng chẳng kiếm được gì.

    Một hôm, đại tướng quân đột nhiên thấy trên mặt biển xa xa có một hòn đảo nhỏ, bầu trời ở phía trên hòn đảo ấy lác đác những đám mây ngũ sắc, ráng trời đủ màu chói sáng cả mắt. Ông vội vàng dương buồm, cho tàu chạy mau về nơi ấy. Lên đảo hỏi han rồi mới biết đây là Phổ Đà Sơn.

    Ông thấy trên đảo cây cao chọc trời tỏa hương ngào ngạt, trăm hoa nở rộ, từng bầy chim tung bay xoè cánh khoe mầu, tranh nhau hót líu lo. Bên cạnh biển xanh thì cát vàng óng ánh, trúc tím thành rừng, và dưới đất thì có những búp măng non vàng ngậy hấp dẫn.

    Đại tướng quân mừng quá chạy xồng xộc vào rừng trúc tím lắc những búp măng hấy dẫn ấy để kéo chúng lên. Nhưng lắc tới lắc lui, lắc tới mồ hôi ướt đẫm cả lưng mà búp măng không hề suy suyển, ông tức qua xoay qua nhổ trúc tím, nhổ tới nhổ lui, nhổ tới đau lưng mỏi tay mà trúc tím không hề lay động.

    Đại tướng quân tức giận quá độ, "xoẹt" một tiếng rút dao ra bổ bên phải, chém bên trái, "phập, phập, phập", chém vào măng vàng, măng vàng bắn ra những ngôi sao chói lọi, bổ vào trúc tím, trúc tím toé ra những tia sáng rực rỡ. Ông đã dùng hết sức lực mà măng vàng chém không đứt, trúc tím bổ không ngã, mệt quá bèn ngồi bệt xuống đất thở phù phù.

    Ở đầu bên kia của rừng trúc tím có một ni cô đang ngồi giặt áo. Khi cô nghe tiếng dao chém vào thân trúc thì đứng dậy hỏi :

    - Ai chém thần trúc loạn lên vậy ?

    Đại tướng quân hướng theo âm thanh tiếng nói mà nhìn thì thấy một ni cô vô cùng xinh đẹp, bèn bước tới gần gân cổ lên hét :

    - Ta là đại tướng quân của vua đảo Bồng Lai sai đến đây tìm kỳ hoa dị thảo, phượng hoàng chim chóc đem về !

    Ni cô nói :

    - Núi này là thánh địa, là đất Phật, dẫu một nhánh cây hay một cọng cỏ cũng được tưới tẩm bằng nước cam lồ, xin ông đừng xúc phạm vào lề lối nhà Phật !

    Đại tướng quân cười gằn :

    - Lề lối nhà Phật cái gì ? Quốc vương đã tuyền lệnh hoa nào tươi đẹp nhất, cô nương nào diễm lệ nhất cũng phải đều đem về cống hiến lên cung vua. Một cô gái đẹp như cô chắc chắn sẽ làm cho quốc vương vừa lòng lắm đấy !

    Ni cô nào có ai khác lạ, chính là hóa thân của Quán Âm Bồ Tát. Ngài thấy ông đại tướng quân vô lễ quá, hơi bực mình bèn nhổ trên đầu mình một sợi tóc đen nhánh, đặt xuống một khối đá bằng phẳng và nói :

    - Nếu ông nhặt được sợi tóc này lên thì trăm loài chim muông trong rừng này ông đều có quyền lựa, trăm loài hoa tươi trên núi ông đều có quyền hái.

    Đại tướng quân nghe thế thì ôm bụng cười ngất :

    - Ta có sức mạnh nhấc được ngàn cân, xá gì một sợi tóc cỏn con như vậy ! Một sợi tóc như vậy mà nhặt không lên thì sao gọi là đại tướng quân !

    Không nói thêm lời nào, ông đưa tay ra nhặt. Nhưng bàn tay của ông thô kệch như cán xẻng, bốc tới bốc lui mà nhặt không lên khiến ông nóng nảy mồ hôi dầm dề.

    Ngài Quán Âm đứng một bên lạnh lùng nhìn, lúc ấy mới thổi nhẹ một hơi, sợi tóc nọ vờn bay lên trước mặt đại tướng quân, bay thẳng lên đầu Ngài trở lại.

    Đại tướng quân mở bành hai con mắt to như cái chén uống rượu, hoảng hốt nói :

    - Cái này không tính ! Tay tôi hơi lớn mà sợi tóc thì quá nhỏ nên tôi mới nhặt không lên !

    Ni cô cười một cách châm biếm, chỉ một bồn nước rửa chân sơn màu vàng óng ánh trên mặt đất mà nói :

    - Nếu ông có thể bưng được bồn nước này lên mà không đổ ra ngoài thì trăm loài chim muông trong rừng này ông đều có quyền lựa, trăm loài hoa tươi trên núi ông đều có quyền hái.

    Tên đại tướng quân liếc xéo ni cô một cái rồi mừng rỡ trở lại, nghĩ bụng rằng bồn nước rửa chân bé nhỏ như thế làm gì mà đại tướng quân ta không bưng lên nổi !

    Ông không thèm nói lời nào, đưa tay ra bưng.

    Nào ngờ bồn nước rửa chân sơn vàng này vừa trơn vừa bóng, nếu ông quá dùng sức với tay phải thì nước sẽ đổ xuống hết qua bên trái, còn nếu quá dùng sức với tay trái thì nước sẽ đổ hết lên tảng đá. Ông tìm thế bưng tới bưng lui mà nước cứ tròng trành một cách nguy hiểm. Ông đỏ mặt tía tai, tròng mắt lòi ra ngoài mà chỉ bưng bồn nước lên tới lưng bàn chân, lên cao hơn nữa thì không nổi.

    Quán Âm Bồ Tát thấy bộ dạng lố bịch của ông ta bất giác cười phì một tiếng. Nghe tiếng cười, đại tướng quân ngước mặt lên nhìn, người ni cô ban nãy không còn nữa mà đứng trước mặt ông là Quán Âm Bồ Tát, với chuỗi anh lạc đầy người, phóng ánh sáng huyền diệu. Ông sợ quá sững cả người, hai tay run bần bật, hai chân mềm nhũn, "bình" một tiếng, ông quỵ xuống, nguyên cái đầu ụp vô chậu nước rửa chân. Vì đại tướng quân đần độn ấy kinh hãi ú ớ muốn kêu lên nên bị uống mấy hớp nước lạnh.

    Ngài Quán Âm đưa chân ra nhẹ khều chậu nước, cả đại tướng quân cả chậu nước đều bị lật ngửa. Mà lạ thay, nước trong chậu sao chảy hoài không ngừng, càng chảy càng mạnh, chẳng mấy chốc như cả vạn thác nước đổ xuống biển đông hải. Trong chớp mắt thủy triều phồng to lên, cuồng phong đẩy những ngọn sóng lên thật cao rồi "ầm" một tiếng, đổ xuống cung điện ở đảo Bồng Lai.

    Ngay lúc ấy nhà vua đang vui hưởng ngũ dục trong một buổi yến tiệc linh đình với rượu ngon thịt béo, bỗng nhiên thấy cuồng phong rồi nước biển ào ạt đổ xuống, những ngọn sóng khổng lồ cuốn sập bức tường rào xung quanh cung điện. Nhà vua sợ quá há hốc miệng, các đại thần cũng sợ quá ôm đầu chạy trốn, tạo nên một cảnh vô cùng hỗn loạn. Thủy triều mỗi lúc mỗi to, mỗi lúc một cao, thêm một tiếng động long trời lở đất, ngọn sóng thần đã nhận chìm cả cung điện xuống đáy đại dương mênh mông.

    Ông vua tàn ác đã theo cung điện của mình chìm xuống đáy biển. Cái chậu rửa chân sơn vàng ban nãy biến thành một con tàu lớn, cứu vớt dân lành đáng thương trên đảo Bồng Lai, nương theo gió rẽ sóng lướt đến gần Phổ Đà Sơn rồi thoắt biến thành một hòn đảo. Dân chúng xây nhà đắp vườn trên hòn đảo này, và sinh sôi nẩy nở tạo lập một cuộc sống mới.

    Bởi vì hòn đảo này do một con tàu biến thành nên người dân di cư đến đấy đặt tên cho nó là "Châu Đảo" (châu nghĩa là thuyền).

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quan Âm Truyền Thuyết

    (Tuyển Tập)

    Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ



    Cổ Phật Động


    Trên núi Phổ Đà, ở phía tây bắc của Thung Lũng Cát Bay, có một động đá gọi là Cổ Phật Động, trong đó có thờ một "nhục thân Phật". Lai lịch của Cổ Phật Động này là một câu chuyện khá thú vị.

    Xưa thật là xưa, trong động này có một vị cao tăng được mọi người gọi là Nhân Quang Sư. Nhân Quang Sư có hai người đệ tử, người lớn nhất tên là Huệ Tính, và người trẻ nhất tên là Huệ Minh. Thầy Huệ Minh tính tình thật thà trung hậu, trong khi thầy Huệ Tính thì xảo quyệt khôn khéo, biết quan sát sắc mặt và lời nói của sư phụ để chìu theo và lấy lòng. Lúc ra ngoài đường, bao giờ thầy cũng cầm một cây chổi quét một cái rồi mới bước một bước, để tỏ ra rằng thầy là người từ bi, đến một con kiến thầy cũng không nhẫn tâm dẫm lên và giết hại. Khi hai anh em đi hái rau, thầy Huệ Minh thì lo hái rau tươi rau tốt, còn thầy Huệ Tính thì trái lại chỉ hái lá già, lá hư về nấu ăn, ra mòi một bậc chân tu tu hành khổ hạnh.

    Tuy vậy, Nhân Quang Sư vẫn đối đãi với hai đệ tử một cách bình đẳng, không phân biệt thân sơ, khiến Huệ Tính rất phiền não trong lòng.

    Không lâu sau, tuổi già sức yếu, Nhân Quang Sư biết đã đến lúc mình sắp viên tịch, trước phút lâm chung ngài căn dặn hai vị đệ tử Huệ Tính và Huệ Minh rằng :

    - Thầy lìa trần rồi, hai con hãy lấy một cái vại và bỏ di thể của thầy ở trong ấy. Sau đúng 3 năm 6 tháng, hãy mở vại ra khám. Nếu như di thể của thầy rữa mục thì thôi, coi như không có gì đáng nói, nhưng nếu chân thân không hoại thì điều đó chứng minh thầy đã tu thành chính quả, lên cõi Cực Lạc rồi. Lúc đó các con hãy đem chân thân vào động mà thờ phụng cho người ta đến lễ cúng, hai con hãy nhớ kỹ.

    Nhân Quang Sư nói xong liền ngừng thở, Huệ Tính, Huệ Minh làm đúng theo di chúc của thầy.

    Sư phụ mất rồi, Huệ Tính mới để lộ bộ mặt thật tham lam của mình. Lúc sinh tiền Nhân Quang Sư thường đeo bên mình một cái hồ lô, Huệ Tính ngỡ rằng trong đó có chắc là bảo vật gì đây nên lấy ra xem, thấy hồ lô trống rỗng. Thầy chúc ngược nó xuống thì thấy có ba hạt ngũ cốc rơi ra : một hạt gạo trắng, một hạt gạo đỏ và một hạt kê. Huệ Tính không tìm thấy vật gì đáng tiền bèn vứt hồ lô rồi bỏ đi. Huệ Minh vội nhặt lên, bỏ ba hạt ngũ cốc vào trở lại như cũ và cẩn thận giấu đi.

    Sau ba năm sáu tháng, Huệ Tính và Huệ Minh mở vại ra khám, quả nhiên thấy chân thân bất hoại của Nhân Quang Sư ngồi xếp bằng ngay ngắn trên bồ đoàn, sắc mặt, thần thái không khác gì lúc sinh tiền. Huệ Minh thấy thế thì vô cùng sung sướng, vội sụp xuống lễ lạy, còn Huệ Tính tuy cũng miễn cưỡng lễ một lễ song trong tâm thì bất mãn : sư phụ lên cõi Cực Lạc, bỏ mặc huynh đệ chúng tôi không thèm lo đến, thật là nhỏ mọn !

    Tin đồn rằng Nhân Quang Sư đã để lại chân thân bất hoại thật là nhiệm mầu được lưu truyền khắp Phổ Đà Sơn. Thế là nào tăng nào tục, toàn dân của Phổ Đà Sơn đem bánh trái lên động cúng dường, khiến cái động đá nhỏ bé trở thành nhiệt náo hẳn lên.

    Có hai tên vô lại từ Thượng Hải lên Phổ Đà Sơn du ngoạn, nghe tin này bèn nẩy ra một ý kiến bất lương. Hai người bèn thông đồng với Huệ Tính, lén trộm "nhục thân Phật" ra khỏi động với một giá hối lộ là 500 đồng tiền, đưa trước 300 đồng, chờ mọi sự thành công tốt đẹp thì mới đưa 200 đồng còn lại sau. Đương lúc nửa đêm, Huệ Tính bèn khiêng chân thân của sư phụ đi theo hai tên vô lại lên thuyền chạy về Thượng Hải.

    Hôm sau Huệ Minh tắm rửa súc miệng xong, bèn đi thắp hương cho sư phụ như mọi ngày. Nhưng thầy kinh hoàng khám phá Phật tòa trống rỗng, "nhục thân Phật" không biết ở nơi nào. Thầy vội vàng chạy đi tìm sư huynh, sư huynh cũng biệt tăm biệt tích. Huệ Minh chạy cùng khắp Phổ Đà Sơn nhưng vẫn không tìm ra "nhục thân Phật" lẫn sư huynh, nên ngày ngày ngồi trước Phật tòa đau khổ ứa nước mắt.

    Một hôm có một vị khách hành hương họ Vương lên tới động. Ông nhìn thấy cái hồ lô trên bàn thờ, mừng quá reo lên :

    - Tìm thấy rồi ! Tìm thấy rồi !

    Huệ Minh ngạc nhiên hỏi :

    - Khách nhân tìm thấy gì ạ ?

    Vị khách không trả lời mà hỏi ngược lại :

    - Có phải trong cái hồ lô này đã từng đựng một hạt gạo trắng, một hạt gạo đỏ và một hạt kê không ?

    - Thưa đúng rồi ạ, hiện giờ vẫn hãy còn.

    Huệ Minh vừa nói vừa đổ hồ lô ra cho khách xem ba hạt ngũ cốc. Người khách đặt ba hạt ngũ cốc lên lòng bàn tay, ngắm nghía kỹ lưỡng rồi như nghĩ ra chuyện gì :

    - Ái dà, thì ra "Muộn Hàng Sư" ở nơi này...

    Huệ Minh nói :

    - Thầy chúng tôi tên là Nhân Quang Sư, hình như ngài đã gặp thầy chúng tôi rồi thì phải ?

    Người khách gật đầu, kể lại chuyện xưa.

    Thì ra vị hương khách họ Vương sống gần Tô châu. Hai vợ chồng tới trung niên mới có được một cậu con trai nên cưng quý vô cùng. Nào ngờ từ khi mới lọt lòng, thằng bé không ngừng gào khóc, bao nhiêu y sư thuốc thang đều không chút công hiệu nên hai vợ chồng vô cùng khổ não. Vừa may Nhân Quang Sư đến Tô Châu, đi ngang cửa nhà hai vợ chồng họ Vương, thấy một cô nữ tỳ đang bồng một đứa trẻ sơ sinh và cô dỗ dành thế nào đi nữa đứa bé cũng không ngừng la khóc. Nhân Quang Sư đến gần, đưa tay ra nhè nhẹ vuốt lên đầu thằng bé, tiếng khóc của đứa bé nhỏ dần tức thì. Ngài vuốt một cái nữa, tiếng khóc ngừng bặt. Vuốt lần thứ ba, đứa bé toét miệng ra cười tuy mặt còn đầm đìa nước mắt, nụ cười ngây thơ của nó khiến ai thấy cũng phải thương.

    Vợ chồng họ Vương biết được có một vị hòa thượng chữa được bệnh khóc của con thì vội vàng mời Nhân Quang Sư vào nhà, cảm tạ không ngớt lời. Phải chăng Nhân Quang Sư đang đi hóa duyên ? Ngài hóa tiền hay hóa thức ăn ? Nhân Quang Sư đáp hóa thức ăn. Vợ chồng họ Vương vội mở rộng cửa nhà kho, thỉnh Nhân Quang Sư tự tiện muốn lấy bao nhiêu lúa gạo thì lấy. Nhân Quang Sư chỉ lấy ba hạt ngũ cốc, một hạt gạo trắng, một hạt gạo đỏ và một hạt kê, bỏ vào cái hồ lô đeo trên lưng, miệng niệm "A Di Đà Phật" rồi thong thả quay đi. Hai vợ chồng vội chạy theo hỏi :

    - Cao Tăng pháp hiệu là gì ? Núi tiên Ngài tu ở chỗ nào ?

    Nhưng họ chỉ loáng thoáng nghe ngài đáp từ xa :

    - Tôi ở Nam Hải Phổ Đà, người ta gọi tôi là Muộn Hàng sư.

    Chuyện này xảy ra đã gần mười năm rồi, bây giờ đứa con đã lớn, vị khách họ Vương vẫn không quên công đức của Nhân Quang Sư, nên đặc biệt đến Phổ Đà để tìm ngài.

    Vì đọc sai tên Nhân Quang Sư thành Muộn Hàng Sư nên ông tìm thật lâu mà tìm không ra, nay nhìn thấy cái hồ lô và ba hạt ngũ cốc mới nhận được người.

    Thầy Huệ Minh nghe khách kể lại chuyện xưa thì cảm động vô hạn, tuông nước mắt mà nói :

    - Khách nhân không biết, sư phụ chúng tôi tạ thế đã hơn ba năm rồi. Ngài có để lại chân thân bất hoại nhưng đã bị kẻ trộm lấy đi mất rồi.

    Vị khách họ Vương nghe thế giật mình :

    - Xin lỗi thầy, chân thân của Nhân Quang Sư bị cướp đi bao lâu rồi ?

    - Gần một tuần rồi.

    Vị khách vỗ đầu gối nói :

    - Đúng rồi, đúng rồi, thảo nào khi tôi đi ngang Thượng Hải nghe có người nói là "Đại Thế Giới" đang triển lãm "Nhục thân Phật", người đến xem như kiến. Chắc chắn đó là chân thân của Nhân Quang Sư rồi đó.

    Huệ Minh nghe chân thân của thầy bị đem đi triển lãm như thế thì đau lòng khóc òa lên. Khách họ Vương an ủi :

    - Thầy yên tâm đi, tôi, Vương mỗ, sẽ đem chân thân của ngài Nhân Quang Sư về Phổ Đà Sơn dẫu có phải bỏ mình đi nữa ! Ngày mai chúng ta đi Thượng Hải.

    Nói lại về hai tên vô lại đem "nhục thân Phật" trộm được đến Thượng Hải triển lãm ở Đại Thế Giới. Nào ngờ "nhục thân Phật" này, ba ngày đầu thì còn coi được, ba ngày sau thì da và thịt từ từ tuột xuống còn lại có một bộ xương người chết. Khách đến xem ai cũng sợ hãi bỏ trốn, và kết tội ông chủ của Đại Thế Giới là tên bịp bợm, lừa tiền người ta, rồi còn đem lên cửa quan tố cáo. Ông chủ của Đại Thế Giới một mặt thâu "nhục thân Phật" về, một mặt đi tìm thầy Huệ Tính thanh toán, không những đòi lại số tiền 300 đồng đã đặt trước mà còn đánh cho thầy một trận nên thân. Thầy Huệ Tính vừa giận vừa hối hận, chiều hôm ấy hộc máu tươi, nằm liệt trên giường không dậy nổi.

    Chính lúc đó, vị khách họ Vương đưa Huệ Minh đến Thượng Hải, hai người đến cửa quan để kiện, những vị quan ở đấy sợ dư luận công chúng nên vội vàng đòi ông chủ của Đại Thế Giới phải đưa "nhục thân Phật" về Phổ Đà Sơn và bồi thường một số tiền tổn thất cho chùa.

    Thắng kiện rồi, Huệ Minh đến quán trọ thăm sư huynh vừa bệnh vừa sạt nghiệp, Huệ Tính khóc nức nở, xấu hổ muốn chết quách. Huệ Minh thấy sư huynh đã biết hối lỗi nên không trách móc lấy một lời, trả tiền cơm nước quán trọ và thuốc men rồi dìu thầy lên thuyền trở về Phổ Đà Sơn.

    "Nhục thân Phật" về đến động núi, người khách họ Vương bèn mời thợ giỏi, thợ khéo về điểm trang lại và giát vàng lên nhục thân, mua sắm bàn ghế, màn trướng toàn bộ mới tinh, và còn xây một cái am nhỏ trước cửa động để thờ phụng nhục thân của hoà thượng Nhân Quang Sư, bây giờ đã được người ta tôn xưng là "Cổ Phật".

    Từ đấy, trước cảnh sắc mới mẻ, khách hành hương trở lại đông đảo hơn trước. Mọi người tranh nhau đến chiêm ngưỡng và lễ bái "nhục thân Phật" trong Cổ Phật Động, cũng từ đó mà động đá này cũng được đặt tên là Cổ Phật Động.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quan Âm Truyền Thuyết

    (Tuyển Tập)

    Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ



    Quán Âm thâu Tứ Đại Kim Cang


    Quán Âm Bồ Tát thâu Long Nữ và Thiện Tài rồi thì Phổ Đà Sơn, đạo tràng của Ngài trở nên càng ngày càng hưng thịnh, khách hành hương càng ngày càng đông đảo, xa gần ai cũng nghe danh và còn gọi đảo này là Hải Thiên Phật Quốc.

    Bốn đại Thiên Vương hộ vệ cửa Nam Thiên nghe thế, quyết định chính mắt mình nhìn thấy mới tin, thế là mỗi vị cầm vũ khí của mình, cưỡi mây lành hướng về Phổ Đà Sơn.

    Bốn đại Thiên Vương còn được gọi là bốn đại Kim Cang.

    Nhà Phật chia vũ trụ này làm ba cõi là cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc. Ở cõi dục có Lục Dục thiên, và tầng trời thứ nhất của Lục Dục Thiên, gần với thế gian nhất, chính là Tứ Thiên Vương Thiên, tức là nơi ngự trị của bốn vị Kim Cang này. Kinh Phật nói các vị này trụ ở lưng chừng núi Tu Di, ở đấy có ngọn Kiên Đà La, và ngọn này có bốn đỉnh tên là Tu Di Tứ Bảo Phong (bốn đỉnh báu của núi Tu Di). Nhiệm vụ của bốn đại Thiên Vương là mỗi ngài bảo hộ một phương của thế gian, vì thế bốn Thiên Vương còn được gọi là hộ thế tứ Thiên Vương.

    Vị Thiên Vương ở phương đông tên là Trì Quốc Thiên Vương, âm phạn là Đa La Sất, thân màu trắng, mang áo giáp mũ sắt, tay cầm cây đàn tì bà. Trì Quốc có nghĩa là lấy từ bi làm đầu, bảo hộ chúng sinh. Vị này là thần âm nhạc nên tay cầm cây đàn tì bà, lấy âm nhạc để cảm hóa chúng sinh quy y Phật giáo. Thiên Vương này có tên khác là "Điều".

    Thiên Vương ở phương nam tên là Tăng Trưởng Thiên Vương, âm phạn là Tỳ Lưu Ly, thân màu xanh, mang áo giáp mũ sắt, tay nắm bảo kiếm. Vị Thiên Vương này có nhiệm vụ là làm cho chúng sinh tăng trưởng thiện căn, hộ trì Phật giáo nên tay cầm bảo kiếm để bảo vệ cho Phật Pháp không bị xâm phạm. Vị này còn có tên là "Phong".

    Thiên Vương của phương tây tên là Mục Quảng Thiên Vương, âm phạn là Tỳ Lưu Bác Xoa, thân màu đỏ, tay có quấn con rồng. Quảng Mục có nghĩa là dùng tịnh thiên nhãn để luôn luôn quán sát thế gian, hộ trì nhân dân. Tay cầm con rồng, hay cũng có thể coi như sợi dây thừng màu đỏ, nghĩa là dùng dây thừng trói người không tin Phật, khiến cho họ quy y Phật giáo. Vị này còn có tên là "Thuận".

    Thiên Vương của phương Bắc tên là Đa Văn Thiên Vương, âm phạn là Tỳ Sa Môn, thân màu đen, mang mũ giáp, tay cầm dù báu. Vị này dùng phúc đức để nghe ngóng khắp bốn phương, dù báu là để chế phục chúng ma, bảo hộ tài sản của nhân gian. Vị này còn có tên là "Vũ".

    Bốn vị Thiên Vương, hay còn gọi là bốn đại Kim Cang, hợp lại để mang lại "Phong Điều Vũ Thuận" cho nhân gian.

    Bốn vị Thiên Vương này là những vị thiên tướng lừng lẫy, người cao lớn, so với bậc thần tiên thường thì cao lớn gấp mười lần. Bốn vị Kim Cang uy phong lẫm lẫm bước xuống bãi cát Thiên Bộ Sa, lấy đường Vân Đầu, dọc theo đường Ngọc Đường vừa đi vừa ngắm cảnh núi. Họ thấy trên núi tự viện hùng tráng, chùa chiền mọc như rừng, cây cổ thụ cao chọc trời, hoa cỏ xanh rì rậm rạp, sóng biếc, cát vàng bủa quanh tứ bề, nên bị cảnh Hải Thiên Phật Quốc làm cho mê đắm, thật quả danh bất hư truyền, nên trong lòng ngầm thán phục.

    Họ vừa đi vừa thưởng thức, vừa đi vừa say sưa nhìn ngắm nên đến giờ ăn cơm trưa lúc nào mà không hay. Họ đã ra đi lúc trời tảng sáng, đi không biết bao nhiêu là dặm đường, đến giờ là đã hơn nửa ngày trời nên bây giờ cảm thấy bụng đói cồn cào, ruột sôi sùng sục, vội lo tìm xuôi tìm ngược xem có chỗ nào bố thí cơm chay mà tìm mãi không có. Trên thiên giới, bốn đại Kim Cang vốn quen muốn gì được ngay nấy, chưa bao giờ phải chịu cảnh đói khát như thế này nên tìm hoài mà không có gì ăn đâm ra cáu kỉnh, một vị Thiên Vương nổi giận la lên :

    - Đạo tràng của vị Bồ Tát này chỉ là hư danh, cái gì mà một bát cơm chay cũng không có chỗ nào bố thí cả !

    Bốn đại Thiên Vương bản tánh vốn nóng nảy, gặp đều không vừa ý là lửa giận bùng lên ngay, thế là cả bốn nhao nhao đả kích :

    - Đại sĩ với chẳng tiểu sĩ, thật là không biết điều chút nào, bốn đại Kim Cang chúng ta giá lâm mà tại sao lại không ra đón tiếp !

    - Đại sĩ dỏm, không biết nể mặt anh em chúng ta gì cả, khi nào gặp thì thế nào cũng phải làm cho bà ta biết tay mới xong !

    Quán Âm Bồ Tát thật ra đã biết sự có mặt của bốn đại Kim Cang,từ lâu, nay nghe họ càu nhàu như thế, trong lòng không khỏi buồn cười, lập tức nảy ra một ý kiến.

    Đương lúc bốn vị Kim Cang đang lớn tiếng mạt sát, bỗng nhiên từ rừng trúc tím trước mặt bay ra một làn khói bếp. Họ bèn rảo bước về phía rừng trúc tím, tìm quanh một lúc mới thấy khói bếp ấy là từ một căn nhà bé nhỏ, vừa thấp vừa hẹp bay ra. Bốn đại Kim Cang nhìn qua khe cửa thì thấy trong nhà có một thiếu phụ đang ngồi trước bếp nhóm lửa thổi cơm. Thiếu phụ trạc ngoài 30 tuổi, khuôn mặt thanh tú, cử chỉ an tường, trang nhã. Cơm thổi đã chín, từng cụm, từng cụm khói thơm phức bay lọt ra ngoài khiến cho bốn đại Kim Cang càng cảm thấy đói thêm, không chờ được nữa, bèn gõ cửa nói :

    - Cô nhỏ ơi, chúng tôi là bốn đại Kim Cang từ thiên giới xuống đây, xin cô bố thí cho chúng tôi nồi cơm ấy đi !

    Người thiếu phụ chẳng tỏ vẻ gì là kinh sợ, trả lời :

    - Mời quý vị vào nhà. Nồi cơm này là để đãi khách, đủ cho bốn vị dùng.

    Bốn đại Kim Cang muốn bước vào nhà nhưng người nào cũng cao lớn, nhà lại nhỏ hẹp cao không tới đầu gối của họ, làm sao chui vào cho lọt đây ? Họ còn đang lúng túng, người thiếu phụ mỉm cười thúc giục :

    - Quý vị vào đi chứ, tại sao lại không vào ?

    Bốn vị quá muốn ăn cơm nên đành cúi đầu uốn lưng tiến vào nhà. Kỳ lạ thay, bước vào rồi thi căn nhà bé nhỏ ấy dường như được nới rộng ra, bốn vị Kim Cang có thể cử động thư thái, không thấy nhà nhỏ hẹp nữa mà còn thấy rộng rãi thoải mái nữa là khác.

    Người thiếu phụ mời họ ngồi xung quanh một cái bàn vuông và nói :

    - Tôi xới cơm cho quý vị dùng.

    Một vị Kim Cang nói :

    - Cô nhỏ à, chúng tôi đói rã rời rồi, anh em chúng tôi lại ăn rất khoẻ, xin cô làm ơn nấu thêm cơm chứ cái nồi bé tí thế kia sợ không đủ cho chúng tôi no.

    Ba vị còn lại cũng phụ họa :

    - Đúng rồi, đúng rồi, nồi cơm bé tí ăn không đủ no.

    - Xin bốn vị tướng quân yên lòng, đừng thấy nồi nhỏ mà lo sợ, cơm trong nồi ấy đủ cho quý vị ăn no bụng.

    Người thiếu phụ nói rồi, xới cơm vào bốn cái bát đem đến bàn rồi tiếp :

    - Nồi hãy còn cơm, quý vị dùng xong hãy tự tiện xới thêm, tôi ra ngoài giặt quần áo một chút, không ở lại hầu chuyện với quý vị được. Mời quý vị tự nhiên ăn cơm cho no.

    Nói xong cô bèn xách một cái giỏ bước ra khỏi nhà. Bốn đại Kim Cang vội vàng nâng bát, vừa ăn vừa canh chừng nồi, ai cũng nghĩ "cái nồi có chút xíu, cơm này thì đủ cho ai ăn, ta nên ăn cho mau để xới trước". Cả bốn người đều nghĩ như nhau nên ai nấy đều ăn thật mau. Kết quả là vị Kim Cang mặt trắng ăn xong trước, chỉ và mấy cái là cả bát cơm đã vào bụng, thế là vị này chạy mau như bay đến trước bếp lửa mở nồi xúc cơm. Nào ngờ cái vung như thế bị gắn dính vào nồi, không cách nào dở lên. Ông bèn buông bát xuống, dùng hai tay để mở nồi, dùng hết cả sức lực mà cái vung vẫn trơ trơ bất động.

    Vị Kim Cang mặt trắng đỏ mặt tía tai, đứng ngây người ra. Vị Kim Cang mặt đen cũng vừa ăn xong bát cơm bèn qua xúc thêm, thấy vị Kim Cang mặt trắng mở vung không ra bèn cười chế nhạo và đẩy vị ấy sang một bên, tự mình đến dở nồi. Ông những tưởng việc này dễ như trở bàn tay mà thử mấy lần không xong, bèn đứng dang hai chân, dồn hết sức mạnh nắm chặt vung, nhưng vì dùng sức quá mạnh, vung đã không nhúc nhích mà nồi lại vuột ra khỏi bàn tay khiến ông ngã lăn đùng xuống đất, giận quá chửi toáng lên.

    Hai vị Kim Cang còn lại cũng đến thử và cũng thất bại, họ dùng sức đến đâu đi nữa vung vẫn dính chết vào nồi, trơ trơ bất động ! Cuối cùng bốn vị Kim Cang bèn đứng xếp thành hàng, vị đứng đầu cầm vung, vị đứng sau ôm bụng vị đứng trước, hễ nghe hiệu lệnh thì cùng nhau kéo về phía sau : "dô ta ! dô ta!". Họ dùng hết sức lực để "nhổ" cái vung ra khỏi nồi như người ta nhổ một củ cải ra khỏi đất nhưng cái vung vẫn không hé ra chút xíu nào, bốn vị cứ kéo tới kéo lui một hồi lâu, mệt quá nằm dài xuống đất thở phì phò, không còn nhúc nhích được, thật là xấu hổ !

    Bỗng có tiếng cửa mở, người thiếu phụ bước vào phòng, thấy bốn đại Kim Cang nằm la liệt dưới đất nhăn răng méo miệng, buồn cười quá mà vẫn phải làm bộ kinh ngạc :

    - Hẳn bốn vị tướng quân ăn no rồi nên nằm xuống nghỉ ngơi chăng ?

    Vị Kim Cang mặt đỏ vội vàng cải chính :

    - Không phải, không phải, chúng tôi chưa ăn xong, mới chỉ ăn được có một bát cơm mà thôi !

    Người thiếu phụ nói :

    - Tại sao quý vị không ăn cho xong ? Hay là quý vị đừng chê nồi nhỏ, cơm trong nồi hãy còn đầy, sao quý vị không múc ăn thêm ?

    Vị Kim Cang mặt đỏ đáp :

    - Vì mở vung không ra !

    Thiếu phụ nói :

    - Sao lạ vậy ? Cái vung bé tí ti thế này, bốn vị tướng quân sao lại mở không ra ? Bốn vị là thiên tướng lừng danh trên thiên giới, sức mạnh vô địch, làm gì dở không lên một cái vung ?

    Bốn đại Kim Cang không trả lời được, người nào cũng cảm thấy ngượng ngùng, nhìn nhau không nói mà trong lòng phát hoảng.

    Mọi người còng đang nghĩ ngợi thì người thiếu phụ bước đến trước bếp, đưa tay ra nhẹ nhàng nhấc vung lên và nói :

    - Vung dễ mở lắm mà, bốn vị tướng quân, xin mời dùng thêm cơm !

    Bốn đại Kim Cang sững sờ nhìn người thiếu phụ nhấc cái vung một cách ung dung nhẹ nhàng, nghĩ lại ban nãy bốn anh em phí bao nhiêu là sức mà mở mãi không ra, cảm thấy thật là bất khả tư nghì ! Vị Kim Cang mặt trắng cuối cùng nhanh trí nhất, trong thoáng chốc hiểu rõ ngọn nguồn, biết người thiếu phụ này không phải là người phàm, sau đó thoắt nhiên tỉnh ngộ la lên :

    - Ối ! Tôi hiểu rồi ! Ngài là Quán Âm đại sĩ, anh em chúng con không thấy núi Thái Sơn, xin Bồ Tát thứ lỗi !

    Ba đại Kim Cang kia cũng lớn tiếng nói :

    - Bồ Tát thứ lỗi ! Xin Bồ Tát tha thứ cho bọn chúng con ngu si !

    Nói rồi, bốn đại Kim Cang quỳ xuống trước mặt người thiếu phụ dập đầu lạy liên tiếp. Quán Âm Đại sĩ mỉm cười :

    - Xin bốn đại tướng quân đứng dậy, đứng dậy đi, dùng cơm xong hãy nói chuyện.

    Ăn cơm xong, bốn đại Kim Cang nói :

    - Đa tạ Đại sĩ, hôm nay chúng con nhờ ơn từ bi của Bồ Tát, vô vàn cảm tạ, bây giờ xin phép Đại sĩ cho chúng con trở về thiên đình.

    Quán Âm Đại sĩ nói :

    - Bốn đại tướng quân còn muốn trở về sao ? Bốn vị muốn trở về thì không có vấn đề gì, tuy nhiên uy danh của bốn vị bốn chấn động thiên đình, hôm nay chỉ có một cái vung mà nhấc không lên, chỉ e… thiên binh thiên tướng có còn tôn trọng quý vị chăng ? Hay là họ sẽ cười chê ? Theo ta nghĩ, hay là các vị ở lại đây theo ta tu hành, các vị nghĩ sao ?

    Sự thật, khi Quán Âm Bồ Tát biết có bốn đại Thiên Vương đến Phổ Đà Sơn, Ngài nghĩ rằng đất này đang thiếu thần hộ Pháp, nếu có cách nào giữ bốn đại Kim Cang này ở lại thì thật là thích hợp ! Vì thế Ngài đã lập ra một kế kích thích ngạo khí của họ để giữ họ ở lại.

    Bốn đại Kim Cang nghe Quán Âm Đại sĩ nói như thế thì không có lời lẽ nào để trả lời, thật sự họ không còn mặt mũi nào mà trở về thiên đình nữa.

    Trải qua chuyện này rồi họ mới được thấy uy lực của Phật Pháp và thần thông vô tỉ của Quán Âm Bồ Tát. Họ vô cùng kính phục Đại sĩ, đồng lòng chấp thuận ở lại Phổ Đà Sơn, theo ngài Quán Âm học Phật Pháp và hộ vệ Phổ Đà Sơn.

    Từ đấy, ở hai bên trái và phải của Thiên vương điện xuất hiện ra những bức tượng uy vũ hùng tráng của bốn đại Thiên Vương.


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group