Điển hay, tích lạ - Nguyễn Tử Quang

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Mục Lục

    01. Liễu Chương Đài
    02. Bi ca tán Sở
    03. Chức cẩm hồi văn
    04. Cưỡi rồng, bói phượng
    05. Củi đậu đun hột đậu
    06. Giảo thố tam quật
    07. Gương vỡ lại lành
    08. Gấm nàng Ban
    09. Hà Đông sư tử
    10. Lam Kiều
    11. Lá thắm đưa duyên
    12. Lão tiều phu hay con hạc đen
    13. Vạn lý tìm chồng
    14. Đông sàng với thiếp Lan Đình



    Liễu Chương Đài


    Nhân đọc bài thơ "Ấm lạnh" của Vũ Hoàng Chương có câu "Chỉ thấy Chương Đài trơ gốc liễu", nên Ken tìm tích này để mọi người đọc chung cho vui:



    Liễu Chương ĐàiTrong tác phẩm "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, đoạn diễn tả nỗi lòng nhớ thương quê hương và tình nhân của nàng Kiều lúc ở lầu xanh, có câu:

    Nhớ lời nguyện ước ba sinh,

    Xa xôi ai có biết tình chăng ai?

    Khi về hỏi Liễu Chương Đài,

    Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay!

    "Chương Đài" là tên một con đường ở thành Trường An bên Tàu. "Hỏi Liễu Chương Đài" là hỏi thăm cây liễu ở đường Chương Đài. Đây có nghĩa là hỏi thăm người tình nhân cũ (tức là nàng Kiều).

    Sở dĩ có nghĩa ấy do điển tích ở tình sử:

    Đời nhà Đường, Hàn Hoành tuổi trẻ nổi tiếng là một người tài danh. Nhà nghèo kiết, lấy một nàng kỵ nữ họ Liễu ở Chương Đài.

    Mấy năm sau, quan Tiết độ sứ ở châu Thanh là Hầu Hy Dật mến tài, tâu vua xin Hàn Hoành làm người giúp việc. Bấy giờ, đương lúc nhiễu loạn, Hàn không dám đem Liễu đi theo, để nàng ở lại kinh đô, định chờ dịp tiện sẽ về đón. Nhưng trải qua ba năm trời, Hàn vẫn không về đón được. Nhân lấy vàng đựng vào một cái túi gởi về cho Liễu, kèm theo một bài thơ:

    Liễu ơi, hỡi Liễu Chương Đài,

    Ngày xưa xanh biếc, hỏi nay có còn?

    Ví tơ buông vẫn xanh rờn,

    Hay vào tay khác, khó còn nguyên xưa!

    Nguyên văn:

    Chương Đài Liễu! Chương Đài Liễu!

    Tích nhật thanh thanh kim tại phủ?

    Túng sử trường điều tự cựu thùy,

    Dã ưng phan chiết tha nhân thủ.

    Liễu được thơ cũng đáp lại:

    Xanh non cành liễu đương tươi,

    Năm năm luống để tặng người biệt ly.

    Thu sang quyện lá vàng đi,

    Chàng về biết có còn gì bẻ vin! (Bản dịch của Trúc Khê)

    Nguyên văn:

    Dương liễu chi, phương chi tiết,

    Khả hận niên niên tặng ly biệt.

    Nhất diệp tùy phong hốt báo thu,

    Túng sử quân lai khởi kham chiết!

    Lời thơ trao đổi thành một điềm gở báo trước.

    Một thời gian, Hàn được trở về triều, tìm Liễu không thấy đâu cả. Dò hỏi tin tức, thì ra Liễu đã bị viên tướng Phiên rất có công trạng với triều đình tên Sa Tra Lợi thấy nàng có sắc đẹp nên cướp mất. Nàng bấy giờ được luyến ái hơn hết cả mọi phòng. Hàn buồn bã vô cùng, nỗi nhớ thương không sao khuây được.

    May có một tráng sĩ trẻ tuổi tên Hứa Tuấn thương xót tình cảnh của Hàn, tìm mẹo cứu được Liễu. Bấy giờ vợ chồng được xum họp đầm ấm như xưa.




    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày July 13th 2011, 9:04 pm với 13 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Bi ca tán Sở



    "Bi Ca Tán Sở" là một bài hát do Trương Lương đặt ra cho hòa theo tiếng tiêu thổi để làm tan rã quân đội Sở Bá Vương Hạng Võ.

    Trương Lương tự Tử Phòng, người nước Hán, đời Tần Hán (221 trước - 195 sau Dương lịch), phò Hán Bái Công Lưu Bang. Lúc bấy giờ, Hạng Võ bị tướng soái nhà Hán là Hàn Tín bao vây tại Cửu Lý San ở phía bắc thành Từ Châu. Tuy lâm vào tình thế nguy ngập: thiếu lương, nhưng bên cạnh vua còn 8 ngàn tử đệ theo từ lúc ban đầu, ở vào lúc cùng, họ quyết tử chiến mở con đường máu, thẳng về Giang Đông tu chỉnh binh mã để tiếp tục cuộc chiến đấu.

    Như vậy là một mối nguy cho Hán, dù có đại thắng bằng binh lực tất phải trả một giá rất đắt bằng xương máu. Vì thế, Trương Lương hiến kế là tìm cách phân tán 8 ngàn tử đệ để cô lập Hạng Võ. Có thế mới bắt Hạng Võ được.

    Trương Lương liền thừa lúc đêm khuya thanh vắng, trời cuối thu lạnh lẽo, Trương đi qua lại từ Kê Minh san đến Cửu Lý san, vừa thổi tiêu vừa hát:

    "Tiết trời cuối thu chừ, bốn phía đầy sương.

    Trời cao nước cạn chừ, tiếng nhạn bi thương

    Cực người biên thú chừ, ngày đêm bàng hoàng,

    Thoát gươm mắc tên chừ, sa mạc phơi xương.

    Mười năm xa quê chừ, cha mẹ đau buồn.

    Vợ con mong nhớ chừ, gối chiếc chăn đơn.

    Đồng ruộng bỏ hoang chừ, ai người trông nom.

    Xóm có rượu ngon chừ, cùng ai thưởng thức,

    Tóc bạc mong con chừ, tựa cửa sớm hôm,

    Trẻ khóc gọi cha chừ, nước mắt trào tuôn.

    Gió bấc kia thổi chừ, ngựa Hồ nhớ chuồng.

    Người xa quê hương chừ, nỡ quên xóm làng,

    Một sớm giao phong chừ, thân bỏ sa tràng,

    Xương thịt như bùn chừ, trên bãi trong mương.

    Hồn phách bơ vơ chừ, không nơi tựa nương,

    Tráng khí lừng danh chừ, phó trả hoang đường.

    Đêm trường canh vắng chừ, tự hỏi thiên lương,

    Mau bỏ Sở tan chừ, tránh chết tha phương,

    Ta vâng ý trời chừ, soạn ca thành chương,

    Ai biết mạng trời chừ, xin đừng mờ màng,

    Hán Vương nhân đức chừ, không giết quân hàng.

    Ai muốn về quê chừ, tha cho lên đường,

    Chớ giữ trại không chừ, Sở đã tuyệt lương

    Khi Võ bị bắt chừ, ngọc đá khôn lường.

    Mượn tiếng Sở chừ, khuyên quân Sở hàng,

    Phổ thành điệu nhạc chừ theo sáu cung.

    Tiếng tiêu Tử Tư chừ nơi Đan Dương

    Khúc hát Trâu Diễn chừ tại Yên Đường.

    Tiếng tiêu vang chừ, chín từng mây.

    Gió thu về chừ, cuối thu này,

    Sở kia mất chừ, chạy đâu đây!

    Thời không đợi chừ, nhanh tựa bay.

    Lời ca chừ, ba trăm chữ dài

    Câu câu chữ chữ rõ ràng thay.

    Khuyên người nghe cho kỹ càng,

    Chậm tính, uổng đời thân chiến binh.

    (Dựa theo lời dịch của Hải Âu Tử)


    Nguyên văn:

    Cửu ngoạt thâm thu hề tứ dã phi sương,

    Thiên cao thủy hạt hề hàn nhạn bi thương.

    Tối khổ thú biên hề nhựt dạ bàng hoàng,

    Phi kiên chấp nhuệ hề cốt lập sa cương.

    Ly gia thập niên hề phụ mẫu sinh biệt.

    Thê tử hà kham hề độc tú cô phường.

    Tuy hữu du điền hề thục dữ chi thủ,

    Lân gia tửu thục hề thùy dữ chi thường.

    Bạch phát ỷ môn hề vọng xuyên thu thủy,

    Trĩ tử ức niệm hề lụy đoạn can trường.

    Hồ mã tư phong hề thượng chi luyến thổ,

    Nhân sinh khách địa hề ninh vong cố hương

    Nhất đán giao binh hề đạo nhẫn chi tử,

    Cốt nhục vi nê hề suy thảo hào lương.

    Hồn phách du du hề võng tri sở ỷ,

    Tráng chí liêu liêu hề phó chi hoang đường.

    Đương thử vĩnh dạ hề truy tư thoái!

    Cấp tảo tán Sở hề thố tử thù phương.

    Ngã ca khởi đản hề thiên khiển cáo nhử,

    Nhữ kỳ tri mạng hề vật vị diêu mang.

    Hán Vương hữu đức hề hàng quân bất sát,

    Ai cáo qui tình hề phòng nhữ cao tường.

    Vật chủ không doanh hề lương đạo dĩ tuyệt,

    Chỉ nhật cầm Võ hề ngọc thạch câu thương.

    Sở chi thanh hề tán Sở tốt.

    Ngã năng xuy hề hiệp lục luật,

    Ngã phi Tư hề phẩm Đan Dương.

    Ngã phi Trâu hề ca Yên Thất

    Tiên âm triệt hề thông cửu thiên.

    Thu phong khởi hề Sở vong nhật.

    Sở kỳ vòng hề nhữ yên quy

    Thời bất đãi hề như lôi tật.

    Ca hề ca hề tam bách tự.

    Tự cú tự cú hữu thâm ý.

    Khuyến quân mạc tác đẳng nhàn khan

    Nhập nhĩ quan tâm đương thục kỳ.

    Trương Lương tập quân Hán học tiếng Sở hát theo.

    Canh khuya, đêm vắng, khí trời lạnh lẽo, lá vàng rụng bay lả tả, tiếng tiêu thâm trầm, giọng hát bi thảm đồng vọng vào dinh Sở. Ban đầu, Sở quân chỉ buồn bã than thở, nhưng sau cùng, nghe đến chừng nào thì càng cảm thấy như ruột gan tan nát, rồi nước mắt đầm đìa ... đoạn bàn nhau bỏ trốn.

    Chỉ trong một đêm, tám ngàn tử đệ cùng quân sĩ các dinh, mười phần bỏ trốn hết bảy tám.

    Binh Sở không đánh mà tự nhiên vỡ tan để Sở Vương phải ôm hận đầy lòng, buông lời than ai oán:

    Lực bạt san hề khí cái thế,

    Thời bất lợi hề chuy bất thệ...

    Tạm dịch:

    Sức nhổ núi chừ khí hơn đời,

    Thời bất lợi chừ ngựa chẳng đi...

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Chức cẩm hồi văn



    Đời nhà Tấn (265-419) ở đất Thần Châu có nàng Tô Huệ tự Nhược Lan. Nàng, dung nhan kiều mị, tài đức song toàn, văn chương xuất chúng. Khi Tô được 20 tuổi cha mẹ đính gả cho hàn sĩ Đậu Thao, người cùng quê. Vợ chồng ăn ở đầm ấm. Nàng Tô rất mực chìu chồng, đảm đương tất cả mọi việc gia đình để cho Đậu Thao có đủ thì giờ theo đuổi trau dồi nghiên bút. Người ở quanh vùng đều cho là hạnh phúc và hết sức ngợi khen nàng.

    Sau Đậu Thao đỗ đạt làm quan, may mắn được nhâm chức tại Thần Châu, không phải đi đâu xa cả. Gia đình đã đầm ấm hạnh phúc lại càng đầm ấm hạnh phúc hơn.

    Nhưng rồi vì công vụ cần thiết, vua truyền Đậu Thao ra trấn đất Lưu Sa. Vì nơi gian lao hiểm trở nên Đậu Thao đành phải để vợ ở nhà.

    Thời gian qua ...

    Ba năm chờ đợi, nàng Tô ngày càng sức vóc mỏi mòn, dung nhan tiều tụy. Đêm đêm, bên ngọn đèn khuya, nàng ngồi âm thầm đối bóng, tủi phận hờn duyên, lo ngại thân chồng mà giọt châu tầm tã. Lòng đau dằng dặc, nỗi nhớ triền miên nên hồn thơ dâng trào lên ngọc bút làm thành 10 bài tứ tuyệt. Nàng lại lấy gấm vuông độ chừng một thước, dùng chỉ ngũ sắc thêu 10 bài tứ tuyệt lên trên theo hình trôn ốc, từ ngoài xoáy tròn vào trung tâm bức gấm.

    Nàng thêu khéo, chữ nay, nên bức gấm trông cực kỳ tuyệt mỹ. Xong nàng tự tay dâng lên nhà vua. Thấy lạ, vua truyền cho quần thần đọc, nhưng cả triều không ai đọc được. Vua đành gọi nàng:

    Đứng giữa triều, Tô cất tiếng ngâm với một giọng não nùng bi thảm:

    Quân thừa hoàng chiếu an biêu thú,

    Tống quân tống biệt hà kiều lộ.

    Hàm bi yểm lụy tặng quân ngôn

    Mạc vong ân tình tiện trường khứ.

    Hà Kỳ nhất khứ âm tín đoạn,

    Ý thiếp bình vi xuân bất noãn.

    Quỳnh dao giai hạ bích đài không.

    San hô trướng lý hồng trần mãn.

    Thử thời đạo biệt mỗi kinh hồn,

    Tương tâm hà thác cánh phùng quân.

    Nhất tâm nguyện tác thương hải nguyệt

    Nhất tâm nguyện tác lãnh đầu vân.

    Lãnh vân tuế tuế phùng phu diện,

    Hải nguyệt niên niên chiếu đắc biên.

    Phi lai phi khứ đáo quân bàng

    Thiên lý vạn lý giao tương kiến.

    Thiều thiều lộ viễn quan san cách,

    Hận quân tái ngoại trường vi khách.

    Khứ thời tống biệt lư diệp hoàng

    Thùy kính kỷ kinh mai hoa bạch.

    Bách hoa tán loạn phùng xuân tảo,

    Xuân ý thôi nhân hướng thùy đạo.

    Thùy dương mãn địa vị quân phan,

    Lạc hoa mãn địa vô nhân tảo.

    Đình tiền xuân tảo chính phân phương,

    Bảo đắc tần tranh hướng họa đường.

    Vị quân đàn đắc Giang Nam khúc,

    Phó ký tình thâm đáo sóc phương.

    Sóc phương thiều đệ san hà việt.

    Vạn lý âm thư trường đoạn tuyệt.

    Ngân trang chẩm thượng lệ chiêm y,

    Kim lũ la thường hoa giai liệt.

    Tam xuân hồng nhạn đệ giang thanh,

    Thử thị ly nhân đoạn trường tình,

    Tranh huyền vị đoạn trường tiên đoạn,

    Oán kết tiên thành khúc vị thành.

    Quân kim ức thiếp trọng như san,

    Thiếp diệt tư quân bất tạm nhàn.

    Chức tương nhấn bản hiến Thiên Tử,

    Nguyện phóng nhi phu cấp bảo hoàn.

    Bài này có nhiều người dịch. Dưới đây là bản dịch của Hoàng Quang:

    Chàng vâng chiếu ra yên cõi ngoại,

    Thiếp đưa chàng tới lối cầu sông.

    Ngậm sầu gạt lệ nhắn lòng,

    Chớ tham chốn khác mà vong tình này.

    Trông tin tức tới nay thăm thẳm,

    Để buồng hương chẳng ấm hơi xuân.

    Từ ngày đôi ngả cách phân,

    Màn dần bụi bám, thềm dần rêu phong.

    Tưởng ly biệt nỗi lòng kinh sợ,

    Thiếp với chàng bao thuở gặp nhau.

    Nguyện làm trăng giữa biển sâu,

    Nguyện làm mây phủ trên đầu non cao.

    Trăng giữa biển năm nào cũng thấy,

    Mây đầu non đường mấy cũng thông.

    Bay qua bay lại bên chồng,

    Dầu ngàn muôn dặm xa trông như gần.

    Quan san ấy mấy lần trở cách,

    Hiềm nỗi chàng làm khách rất lâu.

    Chàng đi mới ố bông lau,

    Mà nay mấy độ trắng màu hoa mai.

    Hoa trăm thức xuân vui hớn hở,

    Xuân giục người than thở với ai.

    Dương kia đủ những tơ dài,

    Hoa kia rã cánh không người quét cho.

    Sân xuân sớm thơm tho trăm thức,

    Chốn họa đường lực bận đàn tranh.

    Giang Nam năm khúc rành rành,

    Mượn đầu năm mong gởi tình sóc phương.

    Sóc phương ấy đôi đường diệu vợi,

    Âm thư này nhắn gởi khôn thông,

    Gối riêng nước mắt tuôn dòng,

    Xiêm thêu áo vẽ lâu cùng mục tan.

    Ba xuân tới tiếng nhàn nhắn gởi,

    Xuân giục người bối rối như tơ.

    Năm dây còn đón sờ sờ;

    Buồn đà đứt ruột, gảy chưa rồi đàn.

    Chàng thương thiếp còn hơn núi nặng,

    Thiếp nhớ chàng tình chẳng kém thua.

    Dệt đem bức gấm dâng vua,

    Xét lòng dạ thiếp tha cho chồng về.

    Ngâm xong, nàng Tô nước mắt đầm đìa. Nhà vua quá cảm động không dám nhìn nàng, vội hạ chiếu cho Đậu Thao về ngay.

    Mười bài thơ ấy được truyền tụng với bức gấm thêu, ai cũng nước nở khen cho Tô là một bực kỳ tài. Trước họ gọi bức gấm thơ ấy là "Toàn Loa Đồ" (Bức đồ hình tròn trôn ốc), sau lại cho tên không xứng với giá trị của tác phẩm nên đổi là "Hồi Văn Cách" (Bài văn có tác dụng làm cho người đi biên thú được trở về), nhưng cũng vẫn chưa thấy thỏa đáng. Cuối cùng, họ lại đổi và thêm tên tác giả là "Tô Huệ Chức Cẩm Hồi Văn".

    Thông cảm mối tình sâu đậm của nàng Tô, cổ nhạc Việt Nam có người đã dựa theo bài "Chức Cẩm Hồi Văn" mà sáng tác một bài hát điệu Nam Ai, cũng nhan đề là "Tô Huệ Chức Cẩm Hồi Văn". Lời lẽ lưu loát, ý tình nồng nàn, nhưng không biết tác giả là ai. Bài như thế này:

    Khi vâng chiếu chỉ ra đề cờ,

    Từ chàng đi, thiếp bặt tin đợi chờ.

    Hồng nhạn kêu thu sông Hớn bơ vơ.

    Áo não nùng khiến dạ ngẩn ngơ.

    Trách bấy ông Tơ gieo chi mối sầu như tóc tơ.

    Nghĩ mấy lời từ hồi ban sơ.

    Nhớ những khi thiếp nguyện trăm năm tam tùng thờ.

    Chàng mần răng ý lẳng lơ.

    Chân đi thăm thẳm, mắt ngóng luống nhớ cách núi ải, biết chừ trao thơ

    Má phấn duyên phai lạt, hồng nhan trông đợi chờ

    Trướng lý để bụi trần nhơ.

    Kìa cờ ai, nghe tiếng trống vẫn bóng xa xa

    Hay là chiếu triệu chồng ta.

    Chốn giang biên, chàng ôi có hay chăng là

    Để lụy tương tư này như chút phận Hằng Nga.

    Đêm đông quạnh quẽ, tiếng quyên hòa

    Gìn lòng son nỡ để cho trăng già

    Luông tuồng bao nỡ vắng bặt nhạn tin qua.

    Hay là ong bướm đã say đắm mê hoa,

    Chim ô thước qua sông Ngân thường,

    Nỡ nào để cho loan phụng Sâm Thương.

    Chẳng biết no nao cá nước hội một trường,

    Kẻo nặng nề hai chữ uyên ương

    Ong bướm dẫu say mên hoa hường,

    Cũng đoái tưởng chút nghĩa tào khương.

    Chim bao nài bay qua cho tỏ tường.

    Để trông đợi tháng ngày thương.

    Trông tin chàng, đêm nằm mơ màng,

    Tỉnh giấc hòe trằn trọc thở than.

    Năm canh sầu riêng cho bạn vàng,

    Phận làm trai hiếu nghĩa trung cang.

    Bệ ngọc trên báu kiếm sắc phán.

    Chốn giang biên ra khử trừ đảng gian.

    Nước noan xa cách muôn dặm, da người bọc mình chàng.

    Tuyết sương lạnh nơi chốn Đồng quan

    Chàng trừ mô ra giai đấi khởi ngụy bang,

    Cho rồi, đặng trở về Trường An.

    Kẻo để tương tư này mày xanh sầu võ vàng.

    Soi đài gương luống thẹn hồng nhan.

    Châu rơi lã chã lệ tuông đôi hàng,

    Hiềm vì ai xui duyên nợ lỡ làng.

    Ngàn trùng xa cách như khách ở ngoại bang.

    Bao nỡ bỏ cái nghĩa Ngưu lang,

    Thuở ra đi lau lá vàng.

    Bây chừ đã trắng mai rỡ ràng.

    Cung quế xơ rơ bóng nguyệt đã tàn.

    O*n kia chưa trả oán nọ liền mang.

    Nghe tiếng dế năm canh mơ màng,

    Ngỡ tạc ngựa chàng đã hồi bang.

    Bởi duyên cớ nào bạc đen lòng phụ phàng.

    Để gió thảm mưa sầu khan.

    Chẳng biết no nao yên gót trở về

    Trên ngai vàng bạc thẻ bêu kia.

    Răng rứa bạn niềm tây nhớ nghĩa, nhớ nghĩa

    Mây bay khói tỏa in cờ rìa,

    Trống trường thành giục điểm canh khuya.

    Bâng khuâng nhớ chàng như nhạn chít lìa.

    Thiếp lạy ông Trời: chớ có phân chia.

    Từ chàng ra chốn cung đao,

    Thiếp trông tin chàng tựa cá trông sao.

    Ôm gối phụng chờ trông áo não, áo não ...

    Sao quên lời núi hẹn sông giao.

    Ai đi lấp thảm cho khuây má đào

    Tương tư này rằng thấu cung cao.

    O*n trên tha về đặng tỏ nỗi âm hao.

    Hiệp một nhà mới phỉ ước ao. (1)

    (1)Vì không tìm được bản chính, chỉ nghe người ca truyền mà sưu tập lại, hẳn có ít chỗ chưa được ổn đáng. Vậy xin cáo lỗi cùng tác giả và bạn đọc; và mong được bổ chính cho. Nhân đây xin cảm tạ lòng tốt của ông Ngô Văn Lương (ở Bạc Liêu), người đã giúp một phần cho tài liệu này.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Cưỡi rồng, bói phượng


    Đời Chu Tương Vương (651-617 trước D.L.), Tần Mục Công làm bá chủ các nước ở tây phương. Nhà vua có một người con gái. Lúc mới sinh, gặp có kẻ dâng viên ngọc phác, Tần Mục Công sai thợ giũa, thành một viên ngọc sắc biếc và đẹp lắm.

    Đến khi cô gái đầy tuổi tôi, trong cung bày đồ toái bàn, nàng nhặt ngay viên ngọc, rồi ngắm nghía mãi, mới đặt tên nàng là Lộng Ngọc.

    Lớn lên, Lộng Ngọc nhan sắc đẹp tuyệt trần. Tính trời thông minh, nàng có tài thổi ống sinh hay lắm, không học ai mà thành âm điệu. Tần Mục Công sai thợ làm ống sinh bằng ngọc để cho nàng thổị Nàng thổi ống sinh ấy, tiếng trong như tiếng chim phượng.

    Tần Mục Công cưng lắm, lập cái lầu để cho nàng ở, tên là Phượng Lâu. Trước lầu có xây một đài gọi là Phượng Đài. Năm Lộng Ngọc lên 15, Tần Mục Công muốn tìm một người giai tế, Lộng Ngọc thề: nếu có người nào có tài thổi ống sinh họa được với nàng thì mới chịu lấy làm chồng.

    Tần Mục Công sai sứ đi tìm, nhưng không có ai cả.

    Một hôm, Lộng Ngọc ngồi trên lầu, vén rèm ngắm cảnh. Bấy giờ trời quang mây tạnh, vừng trăng sáng tỏ như gương, nàng truyền cho thị nữ đốt một lò hương rồi đem ống sinh ra thổi. Bỗng nghe tiếng tiêu từ đâu họa lại, lúc gần lúc xa. Lộng Ngọc lấy làm lạ, dừng ống sinh lại không thổi nữa, lắng tai nghe giọng tiêu ấy chỉ còn dư âm văng vẳng. Lộng Ngọc ngẩn ngơ, lưỡng lự thao thức canh chầy, đoạn đặt ống sinh ở đầu giường rồi nằm ngủ.

    Giữa lúc ấy, nàng bỗng thấy trên trời về phía tây nam, cửa mở rộng, hào quang ngũ sắc rực rỡ như ban ngày, có một chàng thiếu niên, mũ lông áo bạc, cưỡi con chim phượng từ trên trời sa xuống, đứng trước Phượng Đài. Chàng bảo nàng:

    - Ta đây là chủ núi Họa Sơn, Ngọc Hoàng Thượng Đế cho ta kết duyên với nàng. Đến ngày Trung Thu này thì đôi ta gặp nhau. Ấy là duyên số đã định sẵn như vậy.

    Nói xong, chàng đưa tay rút ống ngọc tiêu bên mình, rồi đứng tựa lan can mà thổi. Con chim phượng đứng bên cũng giương cánh ra vừa hót vừa múa. Tiếng phượng hót cùng với tiếng tiêu xướng họa hòa nhau như một theo điệu cung thương, nghe rất thâm trầm. Lộng Ngọc mê mẩn tâm thần hỏi: Khúc tiêu này là khúc tiêu gì? Chàng thiếu niên đáp: Đây là khúc "Họa sơn ngâm". Nàng lại hỏi: Khúc này có học được không? Chàng đáp: Khi cả hai kết duyên rồi thì có gì không học được. Đoạn chàng bước đến gần đưa tay cầm lấy tay nàng...

    Lộng Ngọc giật mình tỉnh dậy. Sáng lại, nàng thuật lại điềm chiêm bao cho cha nghe. Tần Mục Công liền sai người cứ theo hình dáng người trong mộng đó dò tìm đến núi Họa Sơn. Có người nông phu chỉ rằng: Từ rằm tháng bảy vừa qua, có một chàng trẻ tuổi lạ mặt đến làm nhà ở đỉnh núi, hằng ngày thường xuống chợ mua rượu uống, chiều lại thổi chơi một khúc ngọc tiêu, ai nghe cũng rất lấy làm thích.

    Người của Tần Mục Công mừng rỡ tìm đến, trông thấy chàng thiếu niên mũ lông áo bạc, cốt cách thần tiên, vái chào hỏi tên họ. Chàng xưng là Tiêu Sử. Người của nhà vua thuật lại sự tình và yêu cầu Tiêu Sử về triềụ Sau mấy lần từ chối không được, Tiêu Sử cùng theo về triều ra mắt Tần Mục Công. Tần Mục Công thấy Tiêu Sử dung mạo thanh nhã, có vẻ bằng lòng, cho ngồi bên cạnh, hỏi:

    - Ta nghe nhà ngươi có tài thổi ống tiêu tất có tài thổi ống sinh nữa.

    Tiêu Sử đáp:

    - Tôi chỉ biết thổi ống tiêu, chứ không biết thổi ống sinh.

    Vua bảo:

    - Ta định tìm một người có tài thổi ống sinh, nay nhà ngươi chỉ biết thổi ống tiêu, vậy không thể làm rể ta được.

    Đoạn bảo người đưa Tiêu Sử ra.

    Lộng Ngọc sai nội thị tâu với Tần Mục Công: Tiêu với sinh cũng là một loài, người ta có tài thổi ống tiêu thì sao không bảo dạo chơi một khúc để cho người ta được phô tài.

    Tần Mục Công lấy làm phải, truyền Tiêu Sử thổi nghe.

    Tiêu Sử mới thổi qua một khúc thì thấy có gió mát hây hẩy. Đến khúc thứ nhì thì mây che bốn mặt. Đến khúc thứ ba thì có đôi bạch hạc múa lượn trên không, đồng thời có đôi khổng tước bay đến rồi các giống chim đua nhau kêu hót..., một lúc mới tan. Tần Mục Công rất lấy làm bằng lòng. Lộng Ngọc đứng bên rèm trông thấy vui tương nói: "Người ấy thật đáng làm chồng ta!"

    Tần Mục Công lại hỏi Tiêu Sử:

    - Nhà ngươi có biết ống sinh và ống tiêu có từ đời nào không?

    Tiêu Sử thưa:

    - Ống sinh làm ra từ đời Nữ Oa; ống tiêu làm ra từ đời Phục Hi.

    Tần Mục Công bảo kể rõ nguyên ủỵ Tiêu Sử nói:

    - Nghề tôi vốn ở ống tiêu, vậy tôi xin kể nguồn gốc ống tiêu. Ngày xưa vua Phục Hi ghép ống trúc làm ống tiêu, chế theo hình chim phượng. Tiếng thổi cũng giống tiếng chim phượng. Thứ lớn ghép liền 23 ống, dài 1 thước 4 tấc gọi là Nhã Tiêu; thứ nhỏ ghép liền 16 ống, dài 2 thước 1 tấc gọi là Tụng Tiêu. Cả hai thứ gọi chung là Tiêu Quản. Còn một thứ không đáy gọi là Đổng Tiêu. Về sau vua Huỳnh Đế sai Linh Luân lấy trúc ở Côn Khê chế làm ống địch, ống này có 7 lỗ, cầm ngang mà thổi, tiếng cũng giống chim phượng, trông rất giản tiện. Người đời sau thấy ống Tiêu Quản phiền phức quá nên chỉ dùng ống địch. Thứ dài gọi là tiêu, thứ ngắn gọi là địch. Bởi vậy, ống tiêu ngày nay không giống ống tiêu ngày xưa.

    Tần Mục Công lại hỏi:

    - Sao nhà ngươi thổi ống tiêu mà lại có các giống chim bay đến?

    Tiêu Sử thưa:

    - Ống tiêu dẫu mỗi đời mỗi khác nhưng tiếng thổi bao giờ cũng giống tiếng chim phượng. Chim phượng là chúa các giống chim, vậy khi nghe tiếng chim phượng tất nhiên các giống chim đều kéo nhau đến cả. Ngày xưa vua Thuấn chế ra khúc nhạc tiêu thiều mà chim phượng còn bay đến, huống chi là các giống chim khác.

    Tiêu Sử ứng đối lưu loát. Tần Mục Công rất lấy làm bằng lòng, sai quan Thái Sử chọn ngày để làm lễ thành hôn.

    Tiêu Sử kết hôn cùng Lộng Ngọc, được phong làm Trung Đại Phu. Tuy làm quan nhưng Tiêu Sử không dự gì đến quyền chính, ngày ngày vui chơi ở Phượng Lâụ Lại không ăn cơm, chỉ thỉnh thoảng uống mấy chén rượu. Lộng Ngọc học được phép tiên của chồng cũng không ăn cơm. Tiêu Sử lại dạy vợ thổi tiêu.

    Ở nhau được non nửa năm, nhân một đêm trăng sáng vằng vặc, vợ chồng đem tiêu ra thổi. Bỗng thấy một con phượng xuống đậu bên tả, và một con rồng xuống phủ phục bên hữu. Tiêu Sử bảo Lộng Ngọc:

    - Ta vốn là tiên ở thượng giới, Ngọc Hoàng Thượng Đế thấy sử sách trần gian nhiều chỗ tán loạn, vậy nên giáng sinh ta xuống họ Tiêu ở nhà Chu để san định lại. Người nhà Chu thấy ta có công về việc sử sách mới gọi ta là Tiêu Sử, đến nay đã hơn trăm năm rồi. Ngọc Hoàng cho ta làm chủ ở núi Họa Sơn, vì ta cùng nàng có tiền duyên nhau, nhờ khúc ngọc tiêu mà được cùng nhau tác hợp, nhưng cũng không nên ở mãi chốn trần gian này. Nay rồng và phượng đã đến đón, vậy chúng ta cùng nhau đi.

    Lộng Ngọc định vào từ biệt cha. Tiêu Sử ngăn:

    - Không nên! Đã là thần tiên thì chớ nên vì chút tình riêng mà quyến luyến.

    Đoạn Tiêu Sử cưỡi rồng, Lộng Ngọc cưỡi phượng cùng bay lên trời.

    Trong "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, lúc Từ Hải cùng Kiều gặp gỡ, có câu:

    Trai anh hùng, gái thuyền quyên, Phỉ nguyền bói phượng, đẹp duyên cưỡi rồng.

    "Đẹp duyên cưỡi rồng" là do điển tích trên.

    "Bói phượng có nghĩa là kén được chồng tốt.

    Sách Tả Truyện có chép: Trần Trọng Kính sang nước Tề, được vua nước này cho coi việc công chính. Quan Đại Phu nước Tề có ý muốn gả con gái cho Trọng Kính. Người vợ liền bói một quẻ, bảo rất nên. Vì quẻ bói nói:

    "Phượng hoàng vu phi, hòa minh tương tương" nghĩa là phượng hoàng cùng bay, cùng hót vang vang.

    Phượng là tên một giống chim. Theo sách cổ, đó là một trong 4 con thú linh thiêng: Long, Lân, Qui, Phượng, đem lại điềm lành, và chỉ khi nào có đời thái bình hay thánh nhân ra đời thì mới xuất hiện.

    Phượng là chúa loài chim. Con trống là phượng; con mái là hoàng. Loan là một giống chim cùng loại với phượng hoàng. Vì là đồng loại nên người ta hay dùng để ví với vợ chồng. Ca dao có câu:

    Ước gì anh được vô phòng, Loan ôm lấy phượng, phượng bồng lấy loan.

    "Bói phượng", "Cưỡi rồng" đều cũng có nghĩa là kén được chồng xứng đáng.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Củi đậu đun hột đậu



    Đời Tam Quốc (220-264), Tào Thực tự Tử Kiến là con thứ ba của Tào Tháo, vốn có tài làm thơ hay, được tiếng là đệ nhất thi nhân đời Tần-Hán nhưng có tính phóng túng. Tào Tháo thương lắm nhưng không thể truyền ngôi cho một chàng giàu tâm hồn nghệ sĩ ấy được.

    Tháo chết, truyền ngôi cho con cả là Tào Phị Thực bản tính ngông nghênh bất phục, có ý chống lại ông vua anh. Phi giận lắm, truyền người bắt Thực đến định làm tội. Nhưng vì yêu tài Thực nên Phi bảo:

    - Ta với mày tuy tình anh em nhưng nghĩa vua tôi, sao dám cậy tài miệt lễ? Ngày tiên quân còn, mày thường đem văn chương khoe giỏi lòe đời. Ta rất nghi, có lẽ mày nhờ người khác làm giúp. Vậy giờ đây ta ra hạn: đi bảy bước phải làm xong một bài thơ. Nếu làm được thì tha tội chết; bằng không xong, ta quyết chẳng dung.

    Thực nói:

    - Xin ra đề cho.

    Trên điện sẵn có treo bức tranh thủy mặc, vẽ hai con trâu chém nhau bên bức tường đất. Một con rơi xuống giếng chết. Tào Phi trỏ vào bức tranh, bảo:

    - Hãy lấy bức họa kia làm đề. Nhưng trong thơ cấm phạm vào những chữ "Ngưu", "Đẩu", "Tường", "Trụy", "Tỉnh", "Tử" (Trâu, chọi, tường, rơi, giếng, chết).

    Thực đi khoan thai. Vừa hết bảy bước, liền cất tiếng ngâm:

    Hai tấm thân đi đường,

    Trên đầu bốn khúc xương.

    Gặp nhau tựa sườn núi.

    Bỗng đâu nổi chiến trường.

    Đôi bên đua sức mạnh,

    Một địch lăn xuống hang.

    Đâu phải thua kém sức,

    Chẳng qua sự lỡ làng.


    Nguyên văn:

    Lưỡng nhục tề đạo hành,

    Đầu thượng đới ao cốt.

    Tương ngô do sơn hạ,

    Huất khởi tương đường đột.

    Nhị địch bất câu cương,

    Nhất nhục ngọa thổ quật.

    Phi thị lực bất hư,

    Thịnh khí bất tiết tất.


    Tào Phi cùng tất cả quần thần đều giựt mình, nức nở khen. Phi lại hỏi:

    - Bảy bước thành thơ, ta còn cho là nhàm. Mày có thể ứng khẩu đọc ngay một bài được chăng?

    Thực đáp:

    - Xin ra đề cho.

    Phi nói:

    - Ta với mày là anh em. Cứ lấy câu đó làm đầu đề. Nhưng cấm dùng hai chữ "Huynh", "Đệ".

    Thực chẳng cần nghĩ ngợi một giây, ứng khẩu đọc ngay:

    Củi đậu đun hột đậu

    Đậu trong nồi khóc kêu:

    Cùng sinh trong một gốc,

    Bức nhau chi đến điều.


    Nguyên văn:

    Chữ đậu nhiên đậu cơ,

    Đậu tại phẩu trung khấp.

    Bản thị đồng căn sinh,

    Tương tiễn hà thái cấp.


    Phi nghe cảm động, sa nước mắt, liền tha cho, nhưng giáng Tào Thực làm An Hương Hầu.

    Ở Việt Nam trong thời Tây Sơn (1771-1802), hai anh em Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ xuýt đánh nhau để tranh quyền. Nguyễn Nhạc yếu thế, phải khóc nói với em:

    - Bì oa chữ nhục, đệ tâm hà nhẫn?

    Nghĩa là: nồi da nấu thịt, lòng em sao nỡ? Nên Nguyễn Huệ cảm động rồi cả hai hòa nhau.

    Ở tỉnh Bình Định, mỗi khi người ta đi săn được hươu nai gì thì lột da ra làm nồi mà nấu thịt. Do đó ca dao Bình Định có câu:

    Da nai mà nấu thịt nai,

    Việc đời như thế không ai động lòng.

    Thịt nai mà chín bên trong,

    Da nai cũng cháy còn mong nỗi gì!


    Cảm động lời nói của Nguyễn Nhạc, người Bình Định đem lời đó diễn bằng câu ca dao:

    Lỗi lầm anh vẫn là anh,

    Nồi da xáo thịt sao đành hỡi em?


    Đời nhà Nguyễn (1802-1945) vua Tự Đức giết anh là Hồng Bảo để củng cố địa vị ngai vàng của mình. Một hôm, trong một buổi chầu, nhà vua vô ý để răng cắn nhằm lưỡi mới khiến quần thần làm bài thơ chơi, nhưng trong thơ cấm dùng tiếng "Răng", "Lưỡi".

    Đây là bài thơ của cụ Nguyễn Hàm Ninh:

    Ngã sinh chi sơ nhữ vị sinh,

    Nhữ sinh chi hậu ngã vi huynh.

    Bất tư cộng hưởng trân cam vị;

    Hà nhẫn tương vong cốt nhục tình.


    Tạm dịch:

    Thuở tớ sinh ra, mày chửa sinh,

    Mày sinh sau tớ, tớ là anh.

    Ngọt bùi chẳng nghĩ cùng nhau hưởng,

    Xương thịt đành tâm nỡ dứt tình.


    Nhà vua khen hay, thưởng một chữ một nén vàng; nhưng vì cho bài có ý "móc", nên bắt phạt mỗi chữ đánh một roi.

    "Củi đậu đun hột đậu", "Nồi da xáo thịt", "Răng cắn lưỡi" thành ngữ điển tích này đều có một ý nghĩa như nhau

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Giảo thố tam quật


    "Giảo thố tam quật" nghĩa là "con thỏ khôn có ba ngách hang". Ý nói: thỏ có ba ngách hang để tránh cho khỏi bị chết; cũng như con người phải có trí mưu tự tồn.

    Câu này là do Phùng Huyên bày kế cho Mạnh Thường Quân.

    Sách cổ văn có chép:

    Phùng Huyên người nước Tề, đời Chiến Quốc (470-221 trước D.L.) làm thực khách ở cửa Mạnh Thường Quân là Tướng quốc nước Tề. Một hôm, Mạnh Thường Quân đưa sổ bộ ra hỏi các thực khách xem có người nào biết về việc kế toán, nhờ qua đất Tiết, là phong ấp của Thường Quân, để thu các mối nợ, thì xin ký tên vào sổ. Phùng Huyên nhận sổ ký tên. Thường Quân lấy làm lạ hỏi tên họ người ký là ai? Kẻ tả hữu đáp:

    - Đó là người thường ca câu "trường hiệp quy lai".

    "Trường hiệp" là cán gươm dài, "quy lai" là đi về. Nguyên trước khi ấy, họ Phùng có ba lần cạ Lần thứ nhất là:

    "Ở đây không có cá, nên mang gươm dài đi về".

    Lần thứ hai ca:

    "Ở đây không có xe, nên mang gươm dài đi về".

    Lần thứ ba ca:

    "Ở đây không có nhà cho cha mẹ ở, nên mang gươm dài đi về".

    Họ Mạnh cười, ân hận lỗi mình đã bạc đãi họ Phùng, nên cho người mời Phùng đến tạ:

    - Văn này chìm đắm trong công việc quốc gia rất mỏi mệt, lòng lo rối loạn mà tính lại ngu đần, không rảnh gặp mặt, xin tạ tội cùng tiên sinh. Tiên sinh đã không lấy làm hổ thẹn, nay lại có ý muốn vì tôi đi thu nợ ở đất Tiết chăng?

    Phùng thưa:

    - Huyên nguyện đi.

    Khi ra đi, họ Phùng hỏi: thu nợ xong rồi có cần mua vật gì? Mạnh bảo: xem trong nhà còn thiếu vật gì thì cứ mua về.

    Phùng Huyên đến đất Tiết, cho người thuộc lại mời tất cả những người thiếu nợ đến đông đủ, rồi truyền rằng Mạnh Tướng quốc ra lịnh xóa bỏ tất cả số nợ. Và, để cho mọi người tin tưởng, Phùng đem đốt hết những văn khế nợ. Dân đất Tiết vui mừng, tung hô vạn tuế.

    Khi họ Phùng trở về, Thường Quân lấy làm lạ cho là đòi nợ cách gì mà mau chóng thế, mới hỏi:

    - Thu nợ xong phải không?

    - Thu xong cả.

    - Có mua gì về không?

    - Khi đi, Tướng công có bảo: nên mua những vật gì trong nhà còn thiếu. Tôi trộm nghĩ trong bụng Tướng công chất chứa những đồ trân bảo, ngoài chuồng nuôi đầy chó ngựa, nhà sau la liệt những mỹ nhân, vậy vật mà Tướng công còn thiếu, chưa có là điều Nghĩa, nên tôi trộm lịnh mua điều Nghĩa đem về.

    Thường Quân ngạc nhiên hỏi:

    - Mua điều nghĩa thế nào?

    Họ Phùng đáp:

    - Tướng công nguyên trước được phong cho thực ấp ở đất Tiết là đất nhỏ mọn, mà không lo vỗ về thương yêu dân, lại còn mưu toan làm lợi. Vì vậy, tôi trộm lịnh xóa cho tất cả các con nợ, nhân đó thiêu hủy cả văn khế, được dân chúng vui mừng tung hô vạn tuế. Ấy là tôi vì Tướng công mua được điều nghĩa vậy.

    Thường Quân nghe nói không bằng lòng, nhưng phải bỏ qua.

    Một năm sau, vua Tề không dùng Mạnh làm Tướng quốc nữa, phải về đất Tiết ở. Bấy giờ bá tính đất Tiết, trai gái già trẻ đua nhau đến đón rước giữa đường, hoan hô nhiệt liệt. Khi ấy, Mạnh quay lại Phùng Huyên mà bảo rằng:

    - Tiên sinh vì Văn này mua điều nghĩa, ngày nay Văn mới trông thấy.

    Phùng thưa:

    - "Con thỏ khôn có ba cái ngách hang mới khỏi chết", nay Tướng công mới có một ngách hang, chưa được dựa gối nằm yên, tôi xin vì Tướng công đào thêm hai ngách nữa.

    Mạnh nghe nói, liền ban 50 cỗ xe và 50 cân vàng để họ Phùng hoạt động. Họ Phùng liền tây du nước Lương, bảo vua Huệ Vương nước Lương rằng:

    - Được người hiền thì nước mạnh, bỏ người hiền thì nước yếu. Nước Tề nay bỏ Mạnh Thường Quân, nếu Lương dùng làm tướng thì Mạnh Thường Quân sẽ đem những việc khả dĩ làm lợi cho Tề được mà làm lợi cho Lương. Như vậy, Lương sẽ hùng mạnh mà Tề nguy mất.

    Lương Huệ Vương bằng lòng khiến sứ giả dem 1000 cân vàng và 100 cỗ xe qua mời Thường Quân. Giữa lúc ấy, Phùng lại sang Tề, vào yết kiến Tề Mân Vương bảo:

    - Được người hiền thì nước mạnh, bỏ người hiền thì nước yếu. Nay Tề bỏ Mạnh Thường Quân, nếu nước Lương hay một nước nào khác dùng làm tướng thì Mạnh Thường Quân sẽ đem những việc khả dĩ làm lợi được cho Tề mà làm lợi cho nước khác. Như vậy, nước khác sẽ hùng mạnh. Huống chi Mạnh trước kia ở Tề, những việc bí mật của Tề, Mạnh đều hiểu biết, như vậy dù muốn dù không Mạnh cũng dựa theo đó mà làm nguy Tề.

    Mân Vương ngoài miệng tuy khen phải nhưng lòng còn do dự. Bỗng có quân báo nước Lương đương cho xe ngựa đi rước Mạnh Thường Quân về làm Tướng quốc, nên lập tức sai quan Thái Phó đem 1000 cân vàng và văn xa tứ mã (xe có vẽ vời và gác 4 ngựa) cùng một bảo kiếm, một phong thư đến xin lỗi Thường Quân và xin mời về làm tướng như cũ.

    Sau khi vua Tề tái dụng Thường Quân, Phùng Huyên lại khuyên Mạnh nên thỉnh cầu cho đủ những đồ tế khí của tiên vương và xin lập nhà tôn miếu ở đất Tiết. Vì Mạnh vốn là dòng dõi của vua Uy Vương nước Tề, xong lập tôn miếu ở đất Tiết để thờ tiên vương làm căn bản vững vàng, sau này nước Tề chẳng những không dám đoạt đất Tiết, mà phải cứu trợ một khi đất Tiết bị nước khác xâm lăng.

    Vua Tề không hiểu được mẹo của Phùng Huyên nên bằng lòng cho Mạnh thiết lập tôn miếu ở đất Tiết. Khi ấy họ Phùng bảo Mạnh:

    - Ngày nay ba ngách hang đã đào xong, Tướng công có thể dựa gối cao mà nằm được yên vậy.

    Mạnh Thường Quân làm Tướng quốc hơn vài mươi năm, không xảy ra chút mảy tai họa gì là nhờ mưu kế "Giảo thố tam quật" của Phùng Huyên.

    "Ba ngách hang" của Phùng Huyên là: mua nghĩa, lập kế cho vua Tề tái dụng làm tướng, lập tôn miếu ở đất Tiết.

    Thành ngữ "Giảo thố tam quật" chỉ con người cần phải có trí mưu để tạo nhiều điều kiện, nhiều phương tiện mới tự tồn được.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Gương vỡ lại lành


    Trung Quốc, đời nhà Trần, người hầu cận Thái Tử là Từ Đức Ngôn có tình với Nhạc Xương công chúa.

    Khi nhà Trần suy loạn, Từ bảo công chúa:

    - Nước mất, nàng tất lọt vào nhà quyền quý. Nếu tình duyên chưa dứt thì còn có ngày được gặp nhau.

    Đoạn, bẻ tấm gương làm đôi, mỗi người giữ một mảnh hẹn nhau đến ngày thượng nguyên sẽ đem gương đến kinh đô bán để tìm nhau.

    Bấy giờ, giặc đánh vào đế đô. Từ chạy thoát, còn công chúa bị tướng giặc là Việt Công bắt ép làm vợ. Đến ngày rằm tháng giêng, Từ đem mảnh gương ra chợ bán, thấy có người cùng bán một mảnh gương giống của mình. Lấy hai mảnh gương ghép lại thì liền nhau như một. Từ bèn gởi cho người bán gương, nhờ đem về cho chủ mảnh gương ấy và kèm theo một bài thơ:

    Người đi gương cũng đi,

    Gương về người chưa về.

    Chị Hằng đâu chẳng thấy,

    Chỉ thấy ánh trăng lòe.

    Nguyên văn:

    Cảnh dữ nhơn câu khứ,

    Cảnh quy nhơn vị quy

    Vô phục Hằng Nga ảnh,

    Không lưu minh nguyệt huy.

    Nhạc Xương công chúa đọc thơ khóc rống lên. Việt Công hỏi, công chúa thuật lại cả. Việt công lấy làm cảm động, thương tình bèn cho cả hai người tái hợp.

    Trong tác phẩm "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du có câu:

    Bây giờ gương vỡ lại lành,

    Khuôn thiêng lừa lọc đã dành có nơi

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Gấm nàng Ban


    Nàng họ Ban, không biết tên, vốn là một cung phi của vua Thành Đế nhà Hán (32-8 trước D.L.). Nàng làm nữ quan, chức Tiệp Dư nên thường gọi nàng Ban Tiệp Dư.

    Nàng đẹp, duyên dáng, được nhà vua sủng ái.

    Nhưng sau, nhà vua say mê Triệu Phi Yến. Bị nàng này gièm pha, nàng Ban sợ nguy cho thân nên xin vua cho hầu bà Thái Hậu ở cung Trường Tín. Từ đó, sự sủng hạnh của vua đối với nàng ngày càng phai lần.

    Tủi cho thân phận lâm cảnh phũ phàng, nàng buồn bã, lấy một thứ lụa bát tơ trắng gọi là Tề Hoàn (lục nước Tề) do nàng tự dệt lấy và làm thành một cây quạt tròn. Trên quạt, nàng đề một bài thơ để tự ví thân phận mình:

    Mới chế lụa Tề trắng.

    Trong sạch như sương tuyết.

    Đem làm quạt Hợp Hoan,

    Tròn hin giống mặt nguyệt

    Ra vào trong tay vua,

    Lay động sinh gió mát.

    Thường sợ tiết thu đến,

    Gió mát cướp nồng nhiệt,

    Ném cất vào xó rương,

    Nửa đường ân ái tuyệt.

    Nguyên văn:

    Tân chế Tề Hoàn tố,

    Hạo khuyết như sương tuyết.

    Tài thành Hợp Hoan phiến,

    Đoàn đoàn tự minh nguyệt.

    Xuất nhập quân hoài tụ,

    Động đạo vi phong phát

    Thường khủng thu tiết chí

    Lương viêm đoạt viêm nhiệt.

    Khí nguyên giáp tư trung,

    Ân tình trung đạo tuyệt.

    Nàng cung nữ họ Ban ấy tự ví mình như cây quạt Hợp Hoan đã từng được nhà vua nâng niu yêu chuộng. Nhưng rồi lại ném cất vào xó rương, vì gió thu mát đã cướp mất gió mát của quạt rồi. Thế là mối tình nửa đường đoạn tuyệt. Nhà vua nỡ say đắm kẻ khác, nghe lời gièm pha để nàng chịu nỗi duyên phận bẽ bàng.

    Vương Xương Linh, một thi hào danh tiếng đời Đường (617-907) cảm xúc nỗi duyên phận ghẻ lạnh của nàng cung phi họ Ban, mà đây cũng là số kiếp chung của khách hồng nhan vô phúc sa vào cung cấm, nên có làm 3 bài, đề là "Trường Tín thu từ" để vịnh nàng:

    I

    Giếng ngọc cành khô rụng lá vàng,

    Buông rèm đêm đã lạnh hơi sương.

    Lò hương, gối ngọc vô duyên quá,

    Lắng giọt đồng rơi xiết đoạn trường.

    (Bản dịch của Lam Giang)

    Nguyên văn:

    Kim tỉnh ngô đồng lạc diệp hoàng,

    Chu liêm bất quyển dạ lai sương.

    Huân lung ngọc chẩm vô nhan sắc,

    Ngọa thích Nam cung xuân lậu trường.

    II

    Ban mai quét tước mở đền vàng,

    Nâng quạt nhìn thôi luống thở than.

    Mặt ngọc không bằng con quạ rét,

    Nó còn sưởi nắng điện Chiêu Dương.

    Nguyên văn:

    Phụng chửu bình minh kim điện khai

    Thả tương đoàn phiến tạm bồi hồi.

    Ngọc nhan bất cập hàn nha sắc,

    Do đái Chiêu Dương nhật ảnh lai.

    III

    Đã đành phận bạc, ôi đau đớn,

    Thấy vua trong mộng, tỉnh nhớ nhung.

    Tây cung rộn rực đêm yến tiệc,

    Mơ màng nhớ lúc được vua ban.

    Nguyên văn:

    Chân thành bạc mệnh cửa tầm tư,

    Mộng kiến quân vương giác hậu nghi.

    Họa chiếu Tây cung tri dạ ấm,

    Phân minh phức đạo phụng ân thì.

    Ba bài theo điệu nhạc phủ. Tác giả tả tâm trạng u hoài của Ban Tiệp Dư: nỗi buồn đêm thu, mối buồn sáng thu lại mối sầu đêm thu.

    Đêm trước u buồn, sáng dậy bâng khuâng, đêm đến sầu não, cả ba bài đều cực tả một nỗi buồn tha thiết. Mà nỗi buồn ấy mãi vương vấn, không bao giờ chịu buông tha người bạc mệnh ở lãnh cung.

    Trong "Cung oán ngâm khúc" của Nguyễn Gia Thiều, đoạn thuật lời thán oán của nàng cung phi trong cung cấm, có câu:

    Nụ hoa chưa mỉm miệng cười,

    Gấm nàng Ban đã nhạt mùi thu dung.

    "Gấm nàng Ban" lấy ở điển tích trên.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Hà Đông sư tử


    Trần Tạo tự Quý Thường, người đời nhà Tống, quê ở Vĩnh Gia. Vợ của Trần họ Liễu vốn có tính ghen dữ ghê gớm. Quý Thường rất sợ vợ nhưng rất có lòng tôn sùng đạo Phật. Hằng ngày ngồi đọc kinh, vợ lấy làm bực, la hét om sòm, nhưng Trần vẫn điềm nhiên, không dám cự một tiếng.

    Tính của Trần cũng hào hoa, bằng hữu nhiều, nên ở nhà thường có yến tiệc. Để tăng phần hứng thú, long trọng của buổi tiệc, Trần chiều khách, mời kỹ nữ xướng ca. Liễu Thị trong phòng mượn điều này, điều nọ, quát tháo om sòm. Trần có lúc hốt hoảng, cầm gậy nơi tay bỏ rơi mất gậy. Bạn thân của Trần là Tô Đông Pha, nhân đó làm một bài thơ đùa cợt:

    Thùy tự Long Khâu cư sĩ hiền,

    Đàm không thuyết pháp dạ bất miên.

    Hốt văn Hà Đông sư tử hống,

    Trụ trượng lạc thủ tâm mang nhiên.


    Tạm dịch:

    Ai hiền bằng thầy đồ Long Khâu,

    Đọc kinh thuyết pháp suốt đêm thâu,

    Bỗng nghe sư tử Hà Đông rống,

    Kinh hoàng bỏ gậy rớt nơi đâu.

    "Hà Đông sư tử" chỉ người đàn bà ghen dữ tợn.

    Tô Đông Pha dùng hai tiếng "Hà Đông" là mượn câu thơ của Đỗ Phủ: "Hà Đông nữ nhi thân tính Liễu" (cô gái Hà Đông người họ Liễu) vì vợ của Quý Thường cũng họ Liễu. Và tiếng "Sư tử" do lời trong kinh Phật: sư tử là chúa loài thú, mỗi khi rống lên thì các thú vật đều khiếp đảm để vừa chỉ tính ghen dữ của Liễu Thị, vừa chỉ Quý Thường là một tín đồ đạo Phật.

    Tú Xương trong bài thơ vịnh cảnh lấy lẽ, có câu:

    Hậu hạ đã cam phiền cát lũy,

    Nhặt khoan còn ỏi tiếng Hà Đông.

  • kingdragon1998

    khoảng 1 10 năm trước
  • nó dài dọc gần chết mà gọi là truyện ngắn đó hã :P

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Lam Kiều


    Lam Kiều là một cái cầu bắc trên sông Lam, thuộc tỉnh Thiểm Tây bên Tàu, tương truyền là nơi tiên ở.

    Đời nhà Đường, triều Mục Tông (821-825), có một chàng nho sĩ tên Bùi Hàng, lều chõng đi thi bao lần đều hỏng. Một hôm, Bùi thuê đò đi Tương Hán định sang ghé Ngọc Kinh để xem phong cảnh. Cùng đáp một chuyến đò có một mỹ nhân tên Vân Kiều, sắc nước hương trời, con người đoan trang, thùy mị. Bùi sinh cảm mến, mong được giao duyên, mới mượn thơ thay lời, nhờ con nữ tỳ của giai nhân đưa hộ:

    Kẻ Hồ, người Việt còn thương nhớ,

    Huống cách người tiên chỉ bức mành.

    Ví được Ngọc Kinh cùng nối gót,

    Xin theo loan hạc đến mây xanh.

    (Bản dịch của Phan Như Xuyên)


    Nguyên văn:


    Đồng vi Hồ Việt do hoài tưởng,

    Huống ngộ thiên tiên cách cẩm bình.

    Thắng nhược Ngọc Kinh triều hội khứ,

    Nguyện tùy loan hạc nhập thành vân.

    Vân Kiều xem thơ, vui vẻ mỉm cười.

    Nhưng thơ đi mà tin chẳng lại, Bùi rất lo lắng, băn khoăn. Nhưng khi đò sắp ghé bến, Bùi bỗng tiếp được thơ do con nữ tỳ của giai nhân đưa đến:


    Uống rượu Quỳnh Tương trăm cảnh sinh,

    Huyền Sương giã thuốc thấy Vân Anh.

    Lam Kiều vốn thật nơi tiên ở,

    Hà tất nhọc nhằn đến Ngọc Kinh.

    Nguyên văn:


    Nhất ẩm Quỳnh Tương bách cảnh sinh,

    Huyền Sương đảo tận kiến Vân Anh.

    Lam Kiều tự hữu thần tiên quật,

    Hà tất khí khu thượng Ngọc Kinh.

    Bùi không hiểu ý nghĩa ra sao, định hỏi; nhưng thuyền vừa ghé bến thì Vân Kiều đã thoáng mất. Nghiền ngẫm hai câu thơ cuối, Bùi không đến Ngọc Kinh, mà hỏi dò người, tìm đến Lam Kiều.

    Trời trưa nắng gắt, Bùi mệt mỏi, mồ hôi nhuễ nhoại. Ghé vào hàng nước, nghỉ chân, hỏi nước uống. Bà lão chủ quán bảo người con gái đem nước ra. Nàng rất đẹp, trông dáng vẻ tựa Vân Kiều. Bùi hỏi, thì ra nàng là em của Vân Kiều, tên Vân Anh.

    Bùi Hàng mừng rỡ, cho là gặp duyên trời định, mới thuật lại cả hai bài thơ. Bà lão cười, bảo:

    - Hẳn là con Vân Kiều muốn xe duyên em nó cho cậu đó.

    Bùi nghe nói lấy làm hớn hở. Nhưng bà lão cho biết là hiện bà có cái cối, song thiếu chiếc chày ngọc để giã thuốc Huyền Sương, nếu Bùi tìm được chày thì bà sẽ gả Vân Anh cho.

    Bùi Hàng bằng lòng. Nhưng đi tìm mãi khắp nơi mà không biết ở đâu có chày ngọc. Lòng buồn tha thiết. Tưởng hoàn toàn thất vọng, chàng đi lang thang. May mắn, một hôm, chàng gặp được tiên cho chiếc chày ngọc. Thế là duyên thành.

    Sau cả hai vợ chồng Bùi Hàng đều tu thành tiên cả.

    Những tác phẩm cổ văn của ta có nhiều đoạn dùng điển tích này:


    Nỗi riêng nhớ ít tưởng nhiều,

    Xăm xăm đè nẻo Lam Kiều lần sang.

    (Đoạn trường tân thanh)


    Chầy sương chưa nên cầu Lam,

    Sợ lần khân quá ra sàm sỡ chăng?

    (Đoạn trường tân thanh)


    Chốn Lam Kiều cách nước mây,

    Bùi Hàng chưa dễ biết đây chốn nào?


    "Lam Kiều"

    chỉ chỗ tiên ở hay người đẹp ở, hoặc chỉ gặp duyên tốt đẹp... như gặp duyên với tiên.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Lá thắm đưa duyên


    Triều vua nào cũng vậy, nhiều giai nhân tuyệt sắc trong nước được tuyển vào cung để làm cung nữ. Họ là những giai nhân bạc mạng, đi chẳng có về, suốt đời chịu cảnh lạnh lùng, buồn tủi, sầu đau trong chốn thâm cung.

    Nhà vua có cả tam cung, lục viện, hàng ngàn cung nữ phi tần toàn bực diễm kiều, tài sắc cả. Mỗi đêm ngủ ở cung nào, nhà vua phải nhờ xe dê đưa đến. Xe dừng trước cung nào thì nhà vua vào cung ấy. Có những nàng hằng năm không được đoái hoài, đành chịu cảnh cô phòng giá lạnh.

    Đời Đường (618-907), đời vua Hy Tông có nàng cung nữ tuyệt sắc tên Hàn Thúy Tần sống cảnh lẻ loi buồn bực trong thâm cung, nên thường nhặt những chiếc lá đỏ (hồng diệp) rồi đề thơ lên trên lá, thả xuống ngòi nước:

    Nước chảy sao mà vội?

    Cung sâu suốt buổi nhàn.

    Ân cần nhờ lá thắm

    Trôi tuốt đến nhân gian.

    Nguyên văn:

    Lưu thủy hà thái cấp

    Cung trung tận nhật nhàn.

    Ân cần tạ hồng diệp.

    Hảo khứ đáo nhân gian.

    Chiếc lá chở bài thơ theo dòng nước chảy xuôi ra ngoài vòng cấm lũy. Lúc bấy giờ có người môn khách của quan Tể Tướng Hàn Vinh tên Vưu Hựu vốn kẻ phong lưu tài tử, thơ hay, chữ tốt, chỉ hiềm một nỗi vận chưa đạt nên đành chịu sống nhờ nơi quan Tể Tướng họ Hàn. Đương thơ thẩn ngắm dòng nước chảy, Hàn bỗng nhìn thấy chiếc lá có bài thơ, lấy làm lạ mới vớt lên xem. Cảm tình chan chứa với người gởi thơ lạ mặt, chàng cũng bẻ một chiếc lá, viết một bài thơ vào đấy, đợi dòng nước xuôi mới thả lá xuống cho trôi trở vào cung.

    Nghe oanh thấy liễu chạnh lòng thương,

    Thương kẻ trong cung lúc đoạn trường.

    Chiếc lá đề thơ trôi mặt nước,

    Gởi cho ai đó nói không tường.

    (Bản dịch của Phan Như Xuyên)

    Người cung nữ họ Hàn thường ngồi nhìn dòng nước chảy, bỗng bắt được chiếc lá trở vào của người không quen biết, mới đem cất vào rương son phấn.

    Ba năm sau, nhà vua sa thải một số cung nữ, trong đó có Thúy Tần. Nàng đến ở tạm dinh quan Tể Tướng họ Hàn để chờ thuyền trở về quê cũ, bỗng gặp Vưu Hựu. Hai người trò chuyện, ý hợp tâm đầu. Tể Tướng họ Hàn thấy cả hai đều xứng đôi vừa lứa nên làm mối thành duyên giai ngẫu.

    Đêm tân hôn, Hựu chợt mở rương của vợ thấy chiếc lá của mình ngày xưa. Lấy làm lạ lùng, chàng cũng đem chiếc lá của mình vớt được cho vợ xem. Thì ra cả hai lại giữ hai chiếc lá của nhau. Cho là thật duyên trời định.

    Cổ thi có bài: (*)

    Một đôi thi cú theo dòng nước

    Mười mấy năm qua nhớ dẫy đầy.

    Mừng bấy ngày nay loan sánh phụng

    Cũng nhờ lá thắm khéo làm mai.

    Nguyên văn:

    Nhất liên giai cú tùy lưu thủy,

    Thập tải ưu tư mãn tố hoài.

    Kim nhật khước thành loan phượng lữ,

    Phương tri hồng diệp thị lương môi.

    Trong "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, có câu:

    Thâm nghiêm kín cổng cao tường,

    Cạn dòng lá thắm, dứt đường chim xanh.

    hay:

    Dù khi lá thắm chỉ hồng,

    và:

    Nàng rằng hồng diệp xích thằng,

    Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha.

    "Lá thắm", "Hồng diệp" đều do điển tích trên.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Lão tiều phu hay con hạc đen


    Núi Na ở thôn Quần Ngọc, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa. Trên đỉnh núi có chùa xưa, tục danh là Tiên am. Phía tả có động thâm u. Đời nhà Trần, Hồ (1225-1407) có một tiều phu ẩn cư ở đấy. Người ta gọi là Hoàng My tiên sinh.

    Một hôm Hồ Hán Thương đi săn đến đấy, bỗng gặp một lão tiều phu vừa đi vừa hát:

    Na chi sơn hữu thạch toàn ngoan

    Thụ thương thương

    Yên tịch mịch

    Thủy sàn sàn

    Triêu hề ngô xuất

    Mộ hề ngô hoàn

    Hữu y hề chế kỹ,

    Hữu bội hề nhận lan

    Thát bài thanh hề bình hiểu chướng,

    Điền hộ lục hề chẩm tình than.

    Nhậm tha triều thị

    Nhậm tha sa mã

    Tri trần bất đáo thử giang san,

    U thảo Tống triều cung kiếm

    Cổ khâu Tấn đại y quan.

    Vương Tạ phong lưu

    Triệu Tào sự nghiệp,

    Toán vãng cổ lai kim khanh tướng

    Trạch triện đài man

    Tranh như ngã trạo đầu nhất giác

    Hồng nhật tam can.

    Tạm dịch: (Bản dịch của Trúc Khê)

    Núi Na đá mọc chênh vênh,

    Cây tùm um, nước long lanh khói mờ.

    Đi về hôm sớm thẩn thơ,

    Mình dư áo lá, cổ thừa chuỗi hoa.

    Non xanh bao bọc quanh nhà,

    Ruộng đem sắc biếc xa xa diễu ngoài.

    Ngựa xe võng lọng thây ai,

    Nước non riêng chiếm, bụi đời khôn vương.

    Áo đai đời Tấn gò hoang,

    Kiếm cung triều Tống dưới làn cỏ xanh (*)

    Sự đời bao xiết mong manh,

    Phong lưu Vương, Tạ, công danh Triệu, Tào

    Từ xưa khanh tướng ngôi cao,

    Đá mờ rêu phủ đã bao nhiêu rồi.

    Sao bằng ta được thảnh thơi,

    Giấc mai bừng tỉnh, mặt trời lưng không.

    Hán Thương nghe hát cho đó là một vị ẩn giả, bèn truyền thị thần đi theo vào động. Thấy trên vách đá có đề hai khúc ca "Ái miên" (Thích ngủ) và khúc "Ái kỳ" (Thích đánh cờ), thị thần xin mời tiều phu về triều.

    Tiều phu không bằng lòng nói:

    - Nghiêm Tử Lăng không lấy chức Gián nghị ở Đông Đô mà đổi cái thú yên ba sông Đồng Lại. Khương Bá Duy không vì họa đồ của Thiên tử mà làm nhơ cái cảnh sơn thủy Bành Thành.

    Sứ thần về tâu lại, nhưng Hán Thương bảo đi mời một lần nữa, mang theo một cỗ an xa, quyết mời cho kỳ được. Nhưng đến nơi chỉ thấy cửa động rêu mọc phủ cả, gai góc lấp mất đường đi, trên vách đá có hai câu thơ đề bằng nhựa cây:

    Kỳ La hải khẩu ngâm hồn đoạn,

    Cao Vọng đầu khách tứ sầu

    Nghĩa:

    Cửa biển Kỳ La hồn sẽ dứt,

    Đầu non Cao Vọng khách đeo sầu.

    Sứ thần về kể lại; Hán Thương nổi giận, khiến người đến đốt núi ấy. Chỉ thấy một con hạc đen từ trong núi bay bổng lên, liệng múa giữa không trung, mà không thấy giấu tích tiều phu đâu cả.

    Về sau, hai cha con họ Hồ là Quý Ly và Hán Thương đều bị xảy ra tai họa đúng như hai câu thơ báo trước của lão tiều phu.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Vạn lý tìm chồng


    Nhà Tần (306-209 trước D.L.), đời vua Tần Thủy Hoàng (221-209 trước D.L.) có người con gái họ Hứa tên Mạnh Khương. Chồng của nàng họ Phạm tên Thực, người ở miền Quan Trung nước Sở. Vốn con nhà danh giáo, từ nhỏ đã hấp thụ đạo đức, thư hương theo tinh thần gia phiệt.

    Mạnh Khương kết hôn được ít lâu thì nhằm lúc vua Tần mưu tính một công cuộc kiến trúc vĩ đại. Nguyên sau khi thôn tính xong sáu nước: Yên, Triệu, Hàn, Ngụy, Tề, Sở, Thủy Hoàng muốn bảo vệ ngai vàng và phòng ngừa cuộc xâm lăng của bọn Hung Nô ở miền Bắc, mới truyền xây Vạn Lý Trường Thành để làm biên giới từ Lũng Tây ở mạn tây đến Liêu Đông ở mạn đông. Thành cao từ 15 đến 30 thước, chân rộng 25 thước, dài 3600 cây số. Cứ từng quãng lại có cửa ải đồ sộ.

    Thủy Hoàng đặt công trình lớn lao ấy dưới quyền chỉ huy của đại tướng Mông Điềm và dưới sự kiểm soát của Thái Tử Phò Tô. Nhà vua truyền huy động đến 30 vạn nông dân để xây trường thành, lại dùng đến 50 vạn người bắt làm binh phòng giữ miền Lĩnh Nam. Ngoài ra hơn 70 vạn người bị cung hình (bị cắt sinh thực khí) chia đi làm cung A Phòng, hoặc xây lăng ở Ly Sơn.

    Vua truyền huy động đến hàng triệu thanh niên từ 18 đến 45 tuổi đi sưu dịch. Những người này không biết bao giờ mới trở về hay không chắc có ngày trở về nữa. Vì thế, trong nhân dân, vợ khóc chồng, mẹ khóc con vô cùng thảm não.

    Chồng nàng Mạnh Khương phải tuân lịnh nhà vua. Cha chồng đã mất để lại mẹ chồng, Mạnh Khương phải thay thế chồng phụng dưỡng mẹ và dưỡng dục con thơ. Nhà ngày suy sụp, nàng phải giã gạo, quay tơ để mưu sinh. Đối với mẹ chồng, nàng vẫn làm tròn nhiệm vụ của một người dâu thảo.

    Phần nỗi già, phần thương nhớ con, bà mẹ phát bịnh nặng rồi qua đời. Mạnh Khương phải lo cư tang báo hiếu. Đằng đẵng mấy năm trường trông đợi chồng nhưng bặt vô âm tín. Nghe được tin đồn ở miền bắc, vì tuyết sương lạnh lẽo, vì công việc quá khó nhọc nên có nhiều người ốm chết, Mạnh Khương thương chồng nên nhất định đến tận ải quan, mong tìm chồng để an ủi, giúp đỡ, san xẻ gánh nặng. Nàng gởi con cho người thân rồi ra đi.

    Nàng theo đường vạn lý. Từ miền hộ Động Đình nước Sở lên phía bắc đến kinh đô Hàm Dương. Nàng lại nghe đồn: bọn người sưu dịch đã lên vùng tây bắc, nên lại đi từ miền sông Hán Thủy đến dãy núi Tần Lĩnh về hướng tây, đoạn theo dòng sông Tất Xuyên mà đi thẳng lên phía bắc. Trải qua bao cảnh nắng mưa, sương gió, tuyết, nhưng nàng vẫn không nản lòng. Đến sông Hắc Thủy và bến Mã Lan, bị bùn lầy quá nhiều làm chậm bước tiến. Nàng lại men theo mé trường thành, thẳng về hướng đông. Hỏi han từng người, nhưng nàng vẫn thất vọng, vì chẳng ai biết được tin chồng của nàng.

    Cuối cùng, Mạnh Khương đến một bãi sa mạc ở miền đông. Giữa lúc ấy, bỗng mây đen vần vũ phủ nhuộm u ám cả bầu trời. Gió bắc thổi giật giọng từng cơn vô cùng lạnh lẽo. Ngựa từ đâu lại cất tiếng hí vang những giọng thảm thê bi đát. Trước mặt nàng lại bày ra một đống xương trắng ngổn ngang, ghê rợn.

    Trước cảnh tượng, nàng hỏi: "Có lẽ chồng ta đã thác mất rồi mà thác ở đây chăng?" Và, nàng lại, nghĩ thêm: "Có lẽ phần anh linh của chồng báo điềm lạ cho nàng". Nàng bèn khấn vái vong linh của chồng và cầu Hoàng Thiên phò hộ: nếu chồng nàng thác rồi thì xin cho một biểu hiệu để biết. Đoạn, nàng cắn móng tay, rỏ máu vào những đống xương.

    Từ đống xương này cho đến đống xương khác, mãi đến khi nàng rỏ một giọt máu vào chiếc đầu lâu nọ, thì chiếc đầu lâu lại thấm máu và đỏ rực lên. Nàng hiểu ngay đấy là dấu hiệu Trời cho biết đây là hài cốt của chồng. Nàng liền ôm chầm lấy ngay bộ xương, khóc lóc thê thảm suốt cả ba ngày đêm.

    Câu chuyện này thấu đến tai thái tử Phò Tô, con trưởng của Tần Thủy Hoàng và đại tướng Mông Điềm, lúc bấy giờ đương đóng đại bản doanh tại đất Lư Long, một ải quan trong tỉnh Hà Bắc ngày nay. Rồi cả hai cấp tốc sai người đánh xe đến Trác Lộc, chỗ của nàng Mạnh Khương đương khóc. Thái tử Phò Tô gọi nàng hỏi chuyện và tìm hiểu căn do nỗi oan ức của nàng. Nàng bây giờ đã kiệt sức, phều phào thưa:

    - Vì chồng tôi đã chết nơi biên thùy, tôi cũng xin chết theo để được cùng nhau họp mặt ở suối vàng!

    Nói xong, nàng nghẹn ngào, hấp hối, ngã quỵ rồi tắt thở. Đồng thời một dãy tường mới xây sụp đổ theo!

    Nghe chuyện bi thảm và xem cảnh hãi hùng, hai người nao nao cảm động. Cả đến tướng sĩ và dân phu đều thương xót mà rưng rưng nước mắt.

    Thái tử Phò Tô hạ lịnh hành lễ mai táng. Lễ truy tặng phẩm hàm Tả Tướng quân cho Phạm Thực và truy phong tước hiệu Trinh Phu Nhân cho Mạnh Khương. Phò Tô truyền chôn hai cỗ săng vào một cánh cửa Sơ Hải quan chừng 8 dặm, cách ven Bột Hải chừng một dặm (dặm: 576m).

    Thấy việc hiển linh lạ lùng, người ta lập gần nơi nầy một miếu đá gọi là "Khương Nữ Tử". Đời sau, tại Cổ Bắc khẩu, tỉnh Hà Bắc và ở Lộ An, tỉnh Sơn Tây, người ta cũng có dựng miếu đặt cùng một tên ấy. Vì sùng mộ nhân đức của nàng, những bá tính xa gần thường đến chiêm bái.

    Đời nhà Tây Hán (206-25), nhà Đông Hán (25 trước D.L.-220 sau D.L.), nhà Ngụy (220-265), mộ nàng Mạnh Khương được triều đình lập cho nhiều bia đá. Sang đời nhà Minh (1368-1644), miếu của nàng được trùng tu vẻ vang.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Đông sàng với thiếp Lan Đình



    Đời nhà Tấn (265-419) có quan Thái Úy tên Khước Giám muốn chọn một người rể hiền, mới cho người đến trường của Vương Đạo xem trong đám học sinh, có người nào xứng đáng không.

    Lúc người nhà trở về, Khước Giám hỏi thì người ấy đáp:

    - Học sinh giỏi thì đông, người nào nghe việc kén rể cũng sửa soạn áo quần bảnh bao, ganh đua nhau, ra dáng nề nếp; chỉ có một người không để ý đến, trật áo, tréo chân nằm ở giường phía đông.

    Khước Giám bảo:

    - Người ấy mới thật đáng rể ta.

    Đoạn chọn làm rể. Người đó là Vương Hy Chi, sau làm quan đến chức Hữu quân, có tài viết chữ đẹp hơn cả thiên hạ.

    "Đông sàng" là giường phía đông, chỉ người rể quý, "rể đông sàng".

    Trong "Nhị độ mai" có câu:

    "Có Tây Tử Đô, thiếu đông sàng nàỏ" là do điển tích trên.

    Vương Hy Chi, tự Dật Thiếu. Vì làm quan đến chức Hữu quân nên thường gọi là Vương Hữu Quân. Tương truyền Vương tập viết chữ bên bờ ao, sau nước ao đen ngòm những mực.

    Lối chữ "Khải" của Vương được người đời cho là lối chữ đẹp nhất từ xưa đến nay.

    Người đời thường khen bút thế của Vương "lướt như mây bay, mạnh như rắn lộn". Trong các bản bút thiếp của Vương để lại có bản "Lan Đình tập tự" viết ngày 3 tháng 3 năm Vĩnh Hòa thứ 9 đời nhà Tấn (337) được hậu thế quý trọng, cho làm mẫu mực để tập theo. Những bản "Lan Đình tập tự có lưu hành nhưng có lẽ đó là những bản phỏng theo. Bản chính đã thất lạc từ sau đời nhà Đường (618-907).

    Ngày nay, trong các lối chữ Hán có lối chữ "Lan Đình"; đó tức là lối chữ phỏng theo chữ viết của Vương Hy Chi trong "Lan đình thập tự".

    Trong "Đoạn trường tân thanh" của Nguyễn Du, đoạn nói về Kiều bị Hoạn Thư cho ra tu ở Quán Âm các để chép kinh, Hoạn Thư khen chữ viết của Kiều, có câu:

    Khen rằng: "Bút pháp đã tinh

    So vào với thiếp Lan Đình nào thua!

    Ý nói chữ viết tốt ngang với chữ của Vương Hy Chi.


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group