Hitler Và Những Xứ Mạng Bí Mật Của Skorzeny - Otto Skorzeny - Dịch Giả Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên ( 21/ 21 chương )

  • Út Mót

    khoảng 1 10 năm trước
  • Chương XV

    Quá nhiều dự án tốt đẹp



    Tại căn cứ Friedenthal, chúng tôi làm việc cực lực. Chắc chắn chúng tôi phải sử dụng đến một nửa thì giờ và năng lực để lâm chiến không ngừng chống lại các bàn giấy tràn ngập giấy tờ và các công sở vẫn so đo nhỏ giọt vật liệu và nhân viên của chúng tôi. Tuy nhiên chúng tôi vẫn có đủ thì giờ để suy tưởng và thiết lập các kế hoạch vĩ đại. Chúng tôi bị kích thích nhiều nhất khi nghiên cứu hồ sơ khổng lồ chứa đựng tất cả các chi tiết về chiến dịch của các cảm tử quân trứ danh dưới quyền Lord Mountbatten. Đây là một cuộc nghiên cứu bổ ích mặc dù có vẻ nản chí. Chúng tôi tái mặt ghen tức khi thấy các cấp chỉ huy cảm tử quân Anh được sử dụng những phương tiện vô giới hạn. Họ có thể tự ý ghi vào các kế hoạch sự yểm trợ bằng tuần dương hạm, tàu phóng ngư lôi, tiềm thủy đỉnh, đó là không nói đến sự hợp tác cố định của nhiều phi đoàn không quân với đủ loại phi cơ tân tiến. Ngược lại, chúng tôi quá nghèo nàn, nghèo dễ sợ và không tưởng tượng được. Chưa bao giờ chúng tôi nhận được “sự sẵn sàng” một chiến hạm nào đó của Hải quân, và phi đoàn 200 chiến đấu phải vật lộn để có từng chiếc phi cơ. Tôi có thể kể một thí dụ: Phi đoàn chỉ có vỏn vẹn 3 chiếc Junker 290, loại phi cơ có tầm hoạt động xa.
    Vả chăng, phải thẳng thắn mà nói rằng ưu thế của quân cảm tử Anh không phải chỉ có tính cách vật chất: Mountbatten biết cách chọn mục tiêu, và mỗi lần ra tay, ông đều đạt tới đích. Khi thì tấn công và phá huỷ một xưởng lọc dầu cá nằm trên một hòn đảo thuộc Thụy Điển, lúc khác, một chiến dịch được quan niệm tuyệt vời, dựa vào đó, quân Anh tiến chiếm một đài Ra đa do Đức vừa thiết lập trên bờ biển nước Pháp gần Dieppe; hoặc giả là một cuộc đột kích nhắm vào bản doanh của tướng Rommel tại Phi châu - hoạt động này đã thất bại, nhưng chỉ vì một sự tình cờ, có lẽ do một tin tình báo thiếu chính xác, quân Anh đã tấn công vào các cơ sở quân nhu.
    Tuy nhiên phía Đồng minh cũng có nhiều điểm tầm thường nhất là trong một khu vực rộng lớn do họ kiểm soát tại Trung Đông. Chúng tôi quyết định khai thác và tấn công vào các chỗ yếu đó. Mặc dù tình hình đã trở nên nguy ngập đối với quân đội Đức, chúng tôi vẫn khích động bởi niềm phấn khởi - nếu không nói là niềm lạc quan - đến nỗi nhiều khi dành tuần này qua tuần khác để thiết lập kế hoạch, chuẩn bị cho chiến dịch nhưng sau cùng lại chịu thất bại, mà luôn luôn vì mỗi một lý do: vấn đề chuyên chở.
    Vì không thể tìm đủ số phi cơ Junker 290, loại phi cơ Đức độc nhất có tầm hoạt động xa và chắc - loại Henkel 117, theo các chuyên gia, chỉ là một sản phẩm hư hỏng – chúng tôi phải xoay trở khắc phục khó khăn. Tại sao chúng tôi không sử dụng một lần nữa dụng cụ mà quân địch đã cung cấp cho chúng tôi? Chúng tôi nghĩ là có thể sửa chữa lại một vài chiếc phi cơ 4 máy của Hoa Kỳ mà trước đây đã bị bắt buộc đáp xuống Đức hay các khu vực do Đức kiểm soát. Dự định của tôi đã làm cho Bộ Tham Mưu Không quân thích thú. Nha vật liệu hứa sẽ thành lập ngay toán chuyên viên có nhiệm vụ thu hồi và sửa chữa các “pháo đài bay” đó. Tiếc thay công việc này tiến hành quá chậm. Mãi đến cuối mùa thu 1944, tôi mới được thông báo rằng 6 chiếc đã sẵn sàng. Vài ngày sau, một tin tức khác đã dập tắt hoàn toàn nguồn hy vọng của chúng tôi: trong một trận oanh tạc nặng nề, cả 6 chiếc đều bị tiêu huỷ. Tất cả lại trở về với số không.
    Trong khi chờ đợi - một cách vô ích - sửa chữa phi cơ, chúng tôi phải giải quyết hai vấn đề khác do kế hoạch hành động đặt ra. Trước hết là vấn đề đáp gần mục tiêu. Vì gần như chắc chắn rằng không thể tìm đâu ra chỗ có thể chịu đựng được sức nặng của các con khủng long đó, chúng tôi dự tính dùng một phương cách khác: chiếc phi cơ 4 máy sẽ kéo một số máy lượn, loại này đáp ở đâu cũng được. Khốn thay, các máy lượn của chúng tôi chỉ chịu đựng được tốc độ tối đa 250 cây số/ giờ, trong khi đó tốc độ của phi cơ Mỹ trung bình là từ 350 đến 450 cây số/ giờ. Chính nhờ giáo sư Georgi, bạn thân của Hanna Reitsch, chúng tôi mới vượt qua được trở ngại này. Giáo sư đã chế tạo một loại máy lượn chịu được tốc độ đó và chở được 12 người với đầy đủ trang bị.
    Vấn đề thứ hai, trầm trọng hơn, đó là việc đưa người của chúng tôi trở về. Thoạt nhìn, các cảm tử quân sau khi hoàn thành sứ mạng, chỉ có hai cách: hoặc là họ đầu hàng quân địch và chờ chiến tranh chấm dứt trong một trại tù binh, hoặc là tìm cách trở về phòng tuyến bạn, điều này có nghĩa là phải vượt hàng trăm cây số - ý định táo bạo quá nếu không nói là tuyệt vọng quá. Thế mà tôi vẫn tin rằng muốn cho họ hăng hái hơn, chiến đấu say sưa hơn, phải đảm bảo một sự may mắn được trở về. Làm sao cho họ sự may mắn đó? Lẽ tự nhiên ý tưởng của tôi là sẽ dùng phi cơ kéo các chiếc máy lượn mang theo quân cảm tử trở về.
    Các kỹ sư hàng không bèn tìm cách giải quyết khó khăn này. Tại phi trường Ainring, họ đang thử nhiều cách giúp một phi cơ kéo một chiếc máy lượn chở nặng mà không cần đáp xuống đất. Sau nhiều lần thí nghiệm có cả tôi chứng kiến, chúng tôi thấy chỉ có một cách xếp đặt có thể áp dụng được: dây cáp của máy lượn sẽ trải dưới đất nhờ các cột sắp xếp theo hình bình hành, ở một đầu, dây sẽ treo trên một cột cao chừng ba thước. Một chiếc móc đặc biệt, do phi cơ bay là là và thả xuống, sẽ móc vào điểm này và kéo chiếc máy lượn lên cao.
    Lần thí nghiệm đầu tiên, với loại máy lượn nhẹ, có kết quả khích lệ. Nhưng để áp dụng kỹ thuật đó với loại máy lượn to lớn nặng nề hơn, chúng tôi cần điều chỉnh lại. Nghĩa là cần thì giờ và xăng nhớt thêm, mà cả hai thứ, chúng tôi đều hoàn toàn thiếu hụt. Tình trạng này càng ngày càng nghiêm trọng đưa đến đổ vỡ hoàn toàn.
    Tôi thường tự hỏi tại sao tại Đức, các cuộc thí nghiệm kiểu này chỉ được thực hiện vào phút chót, vào lúc nguy kịch nhất, khiến cho chúng tôi không còn đủ thì giờ hoàn thiện các sáng kiến và phương pháp mới được nữa. Hiện tại tôi vẫn chưa tìm được câu trả lời thoả đáng cho cái “quá chậm” tai hại mà tôi thường phải đương đầu trong những năm cuối cùng của cuộc chiến.
    Bên cạnh đó, phe Đồng minh cũng thực hiện các cuộc thí nghiệm tương tự, tuy nhiên điểm khác biệt là luôn luôn họ đạt tới các kết quả thực dụng. Họ lại còn chứng tỏ hiệu năng của các phương pháp áp dụng trong vụ đưa nguyên cả một phi đoàn máy lượn hạ cánh sau phòng tuyến của chúng tôi tại Arnhem ngày 17 tháng 9 năm 1944 (1). Từ cuộc hành quân vĩ đại đó, tôi luôn luôn run sợ trước ý nghĩ Đồng minh có thể không vận hàng Sư đoàn cho đến ven thành phố Bá linh là nơi vẫn tập trung tất cả cơ quan lãnh đạo kể cả Tổng Hành Dinh của Fuhrer. Với một cuộc tấn công chớp nhoáng, các đơn vị này chắc chắn có thể chiếm toàn bộ cơ sở đầu não của quân lực Đức. Có lẽ chỉ vì các lý do chính trị mà Anh Mỹ chưa thực hiện một cuộc đổ bộ bằng đường hàng không như thế. Dầu sao, đối với quân cảm tử Anh và đối với cơ quan hành quân chiến lược của Thiếu tướng nổi danh William T. Donovan thuộc quân lực Mỹ, một chiến công như thế không phải là không thực hiện nổi. Một cuộc hành quân loại này dám đã có sẵn trong hồ sơ của Bá tước Mounbatten và ông “Wild Bill” cũng không chừng.

    *
    Như tôi đã nói trên đây, mặc dù tất cả các đề án to lớn của chúng tôi cuối cùng đều bị bỏ dở hết, tôi muốn trình bày vắn tắt vài đề án:
    Từ lâu, chúng tôi mơ ước một chiến dịch phá hoại các ống dẫn dầu: khởi đi từ các giếng dầu ở Irak, hai đường ống dẫn chất lỏng quí báu đến các nhà máy lọc ở Haiffa và Tripoli nằm trên bờ biển Địa Trung Hải. Chúng tôi biết rằng các đồng chí Ả Rập của chúng tôi, đã đặt chất nổ liên tục phá các ống dẫn dầu này. Tuy nhiên việc tuyển mộ cảm tử quân Ả Rập quá mắc, mà năng suất lại không được bảo đảm. Một mặt các chỗ bị phá hoại được sửa chữa ngay, mặt khác, chúng tôi không kiểm soát nổi kết quả mà người Ả Rập cho là đã thực hiện được. Trái lại nếu phá hoại được nhiều địa điểm bơm dầu, chúng tôi mới hy vọng một sự ngưng trệ toàn diện việc cung cấp dầu nguyên chất trong vài tháng.
    Từ hơn một năm nay, cơ sở kỹ thuật của tôi cố moi óc tìm cách giải quyết vấn đề này. Ngay từ năm 1943, các kỹ sư của chúng tôi nghĩ ra một loại mìn nổi được, có tỷ trọng bằng dầu hoả. Trái mìn này được thả vào ống dẫn dầu bằng một lỗ hình quả trám do một chất nổ đặc biệt khoét thủng, và ống dẫn dầu được vá lại ngay. Theo ý tôi, các quả mìn loại đó có kích thước nhỏ bé quá, chỉ có thể phá hư một vài nắp an toàn là cùng, do đó tôi bác bỏ ý kiến này. Các chuyên viên khác lại đề nghị dùng bom phát nhiệt lượng để nung chảy một vài đoạn ống dẫn dầu đúng vào chỗ đất lõm sâu. Khốn thay, các cuộc thử đã không mang lại kết quả. Sau cùng, Không quân đề nghị dùng bom từ tính để phá huỷ nhiều đoạn ống dẫn dầu thật dài. Tuy nhiên kinh nghiệm của chúng tôi không bao giờ vượt quá giai đoạn nghiên cứu chuẩn bị.
    Sau nhiều thất bại liên tiếp, chúng tôi chỉ còn một cách: chiến dịch cảm tử tấn công trạm bơm dầu. Các không ảnh cho thấy cạnh mỗi địa điểm có một phi trường nhỏ, dành cho máy bay của Đồng minh tuần tiễu không ngừng dọc theo các đường ống dẫn dầu, có chỗ đáp khi khẩn cấp. Bên cạnh đó một pháo đài nhỏ được dùng làm nơi trú ẩn cho nhân viên kỹ thuật khi bị một bộ lạc địa phương tấn công. Trạm bơm dầu đích danh, với các máy móc và động cơ Diesel thì ở cách đó hàng trăm thước. Nhờ các không ảnh, chúng tôi lập được kế hoạch khá chính xác:
    Sáu phi cơ 4 máy đáp xuống phi trường. Hoả lực của đại bác và liên thanh trên phi cơ sẽ bắn che cho quân cảm tử cố vô hiệu hoá tiểu pháo đài, giúp cho tiểu đội phá hoại chạy nhanh đến phá huỷ trạm bơm dầu. Tất cả mọi chi tiết đều được dự trù trước. Chúng tôi còn nghĩ đến việc trang bị cho phi cơ một bộ phận đặc biệt, nhờ đó, khi đến gần phi đạo, có thể nhổ cả dây trời ngăn không cho quân canh giữ kêu cứu bằng các máy vô tuyến. Làm như vậy, chúng tôi tin rằng địch sẽ bị bất ngờ hoàn toàn. Dầu sao vẫn còn một yếu tố mà chúng tôi chưa biết: liệu các phi trường có đủ lớn để loại phi cơ bốn máy có thể đáp được? Các không ảnh chụp từ năm 1941 chỉ cho thấy một phi đạo ngắn, nhưng theo tin tình báo mới đây, chúng đều đã được nới rộng. Đằng nào chúng tôi cũng sẵn sàng chấp nhận rủi ro này. Than ôi! - Mặc dù hết sức nỗ lực chuẩn bị, chúng tôi không có đủ máy bay có tầm hoạt động xa!
    Một điểm yếu khác của phe Đồng minh là kinh Suez hay nói đúng hơn, một vài lối đi trên con kinh. Nếu kinh Suez bị phá hoại, các đoàn tàu đi Viễn Đông phải chạy vòng quanh mũi Hảo Vọng, mất thì giờ hơn. Chúng tôi đã huấn luyện các chiến sĩ bơi lội hay nói theo người Anh, các người nhái để sử dụng trong sứ mạng này. Thế nhưng, chúng tôi đã ở vào cuối năm 1944, ưu thế Không quân của Đồng minh trên biển Địa Trung Hải mạnh đến nỗi chúng tôi phải bỏ rơi kế hoạch dù chết điếng trong lòng. Một lần nữa, quá chậm mất rồi!
    Một kế hoạch khác, cũng được soạn thảo tỉ mỉ, dự trù một cuộc tấn công vào khu vực dầu hỏa Bakou. Lẽ tất nhiên là không thể nào tấn công được các giếng dầu hay các nhà máy lọc dầu với một nhóm người nhỏ nhoi. Tuy nhiên, khi nghiên cứu kỹ cả khu vực, chúng tôi thấy có một vài điểm then chốt – vì các lý do dễ hiểu, tôi không nói rõ chi tiết được – mà nếu bị phá hủy, sẽ kéo theo sự giảm thiểu khổng lồ, gần như đình chỉ hoàn toàn công cuộc sản xuất. Lại một lần nữa, và luôn luôn cùng một lý do, chúng tôi phải bỏ dở kế hoạch.
    Trái lại, một chiến dịch khác bị thất bại vào phút chót chỉ vì lòng ganh tị của một trong các tướng lãnh của chúng tôi. Từ năm 1943, các đảng viên Cộng Sản Nam Tư đã quấy phá chúng tôi dữ dội đến nỗi Bộ Chỉ huy khu vực Ba Nhĩ Cán của chúng tôi hết sức lo ngại. Trong một vùng mà địa hình hoàn toàn thuận lợi cho hoạt động du kích qui mô, quân kháng chiến Nam Tư đã cầm chân nhiều đơn vị Đức và trong vô số các cuộc giao tranh, đã gây cho quân đội Đức những thiệt hại nặng nề. Nếu khám phá được Bản doanh của Tito, và nếu chiếm được nơi này, chúng tôi hy vọng có thể giảm thiểu đáng kể áp lực đè nặng trên quân đội Đức. Đó là đại khái nội dung sứ mạng mà Bộ Tư Lệnh tối cao Quân lực Đức giao phó cho tôi vào đầu năm 1944.
    Rõ ràng là phía chúng tôi đã ước lượng sai giá trị của các toán quân mà Tito cho tập trung chung quanh Bản doanh của ông ta. Chúng tôi cũng hoàn toàn không biết gì về nơi ẩn náu và tất nhiên là người lãnh tụ kháng chiến phải ngụy trang để đánh lạc hướng Bộ Tư Lệnh tối cao Quân lực Đức. Vậy thì thoạt tiên chúng tôi phải tổ chức một thứ cơ quan tình báo với mục đích là tìm các chỉ dẫn chính xác về hai điểm nêu trên. Để được chắc ăn, mỗi khi một nhân viên điểm chỉ một vùng nào đó có thể là nơi đặt G. Q. G. của Tito, tôi ra lệnh tổ chức nhiều đường dây khác nhau để kiểm chứng lại nguồn tin. Chỉ khi nào có ba nguồn tin cùng báo cáo như nhau, chúng tôi mới mở cuộc hành quân thực sự. Chúng tôi không được phép bất cẩn: nếu vạn nhất bị thất bại, Tito sẽ được canh gác kỹ hơn và chúng tôi không thể nào bắt được ông ta nữa.
    Để có thể tiếp xúc với các giới chức quân sự và Cảnh sát của chúng tôi tại Nam Tư, tháng 4 năm 1944 tôi mang theo một sĩ quan của đơn vị đi Belgrade. Sau hai ngày thảo luận kịch liệt, tôi dùng xe đi Agram. Tất cả mọi người đều khuyên tôi huỷ bỏ chuyến đi này vì xe sẽ chạy ngang qua một vùng bị quân du kích xâm nhập. Tuy nhiên trong ngày không có chuyến phi cơ nào mà tôi thì lại được người ta chờ ở Agram sáng hôm sau. Mặc kệ - tôi cứ thử đi, tin tưởng vào tốc độ của chiếc xe Mercedès và ngôi sao bổn mạng thật tốt. Mặc dù vậy, để gọi là có hộ tống, tôi đem theo hai hạ sĩ quan do một tướng lãnh cho mượn.
    Chúng tôi khởi hành lúc rạng đông. Đến trưa, chúng tôi dừng lại trong vùng núi Fruska Gora, nơi đây có một đơn vị của Đức đồn trú với nhiệm vụ giữ an ninh trong vùng. Trong khi ăn, viên sĩ quan trưởng đồn cho tôi biết vài tin tức thích thú:
    - “Không có tuần nào là không đụng độ với quân du kích. Vả lại, không bao giờ có thể kết thúc các cuộc giao tranh được, bởi vì giữa hai cuộc chạm súng, quân du kích lại bình yên trở về làng và nông trại, dấu vũ khí vào một đống rơm và đóng vai trò một nông dân thường, trong nhiều ngày liên tiếp. Chuyện vui nhất liên quan đến nhu cầu cứu thương. Cho đến nay, chúng tôi không thể xin quý ông ở Belgrade một y sĩ. Chúng tôi đành phải gọi ông lang tây trong làng, mặc dù biết ông này cũng săn sóc cho cả quân du kích. Ông ta cũng không dấu điều đó, nếu từ chối, quân cộng sản sẽ bắt toàn gia đình ông ta ngay - điều này chẳng liên hệ gì đến chúng tôi. Phải nói ngay rằng chúng tôi rất bằng lòng về ông ta”.
    Chúng tôi lại lên đường, ngang qua một vùng trù mật, rải rác nhiều nông trại thật đẹp. Mỗi lần thấy một nông dân cày bừa, tôi tự hỏi hắn dấu súng ở đâu. Nhưng cuộc hành trình của tôi rất bình thường, chẳng ai bắn vào chúng tôi cả, con đường thật an ninh. Đến tối chúng tôi dừng lại trong một làng để hỏi một dân quê mua vài quả trứng. Lúc lên xe, chúng tôi thoáng thấy một vài người ăn mặc rách rưới có võ trang, lảng vảng trong chợ. Tôi đã sẵn sàng đặt tay lên súng lục, nhưng khi xe tiến ngang qua họ, họ nhăn răng cười và còn làm một vài cử chỉ như chào chúng tôi nữa! Một lát sau, Chỉ Huy trưởng đồn binh ở Brcka cho tôi biết là quân du kích đã chiếm trọn vùng và vì thế, rất nguy hiểm cho các xe Đức không được hộ tống. Tại Agram, không ai tin rằng chúng tôi đã đến bằng xe trên con đường này. Hình như từ nhiều tháng qua, chúng tôi là những người đầu tiên đã đến nơi một cách an toàn. Khi nghe kể lại vô số các cuộc tấn công vào các đoàn xe và khi xem bản đồ ghi chú các chỗ tập trung quân của các chiến khu Nam Tư, tôi mới sợ cho cuộc hành trình vừa qua. Cuối cùng, tôi không còn nghĩ ngợi đến điều đó nữa, bởi vì mọi chuyện đều êm xuôi. Có một điều chắc chắn là tôi đã thoát nạn, trong đường tơ kẽ tóc.
    Một tháng sau, tất cả đều sẵn sàng. Những tin tức được phối kiểm và tái phối kiểm thận trọng, cho chúng tôi biết rằng Bản doanh lưu động của Tito sẽ đóng gần Dvar, tại miền tây Bosnie, trong vài tuần. Hiện nay, cần kết thúc công cuộc chuẩn bị để có thể tung ra cuộc hành quân mà chính tôi sẽ chỉ huy. Tôi cho Tham mưu trưởng là Đại uý Foelkersam đến Banka Luka, thủ phủ của vùng trên, để đặt liên lạc với vị Tướng lãnh Chỉ huy quân đội Đức tại Bosnie. Lúc trở về, Von Foelkersam kể lại rằng ông Tướng và các cộng sự viên thân cận của ông đã dành cho anh ta một cuộc tiếp xúc hờ hững xa cách, nếu không nói là lạnh lùng. Ngay lúc đó, tôi không chú ý đến sự kiện này; vả chăng, tôi cóc cần thiện cảm hay ác cảm mà quý ông đó dành cho tôi. Đối với tôi, chỉ có sứ mạng là quan trọng.
    Ấy thế mà vài ngày sau – lúc đó là cuối tháng 5 năm 1944 – trung tâm tình báo của tôi tại Agram gửi cho tôi một tin kinh ngạc: “Quân đoàn X sửa soạn một cuộc hành quân đánh Tổng Hành Dinh của Tito. Ngày J được ấn định là 2 tháng 6”. Sự kiện này đã giải thích thái độ câm nín của các sĩ quan. Họ chỉ nhìn tôi như là kẻ cạnh tranh đáng ghét và vì thế, họ dấu kín ý định. Trước hết, cung cách thiếu điệu nghệ này đã làm tôi nổi giận, nhất là khi nó quá lố bịch: Tôi đã tình nguyện hợp tác với họ và sẵn sàng đặt dưới quyền chỉ huy của vị tướng lãnh. Nhưng tôi nuốt giận và cố gắng cứu vãn tình thế thật nhanh. Nếu nhân viên của tôi ở Agram mà biết được kế hoạch hành quân thì gần như chắc chắn rằng người của Tito cũng biết được kế hoạch ấy. Tôi gửi ngay một mật điện truyền thanh để lưu ý quý ông ở Bosnie. Lúc trở về Friedenthal, tôi còn nhận được thêm nhiều tin tức xác nhận quan điểm của tôi: chắc chắn cuộc hành quân dự liệu sẽ gặp thất bại. Tôi nhắc lại lời báo động, nhưng không có gì (đáng?) tiếc hơn là kẻ không muốn nghe. Tướng X đã không chịu huỷ bỏ cuộc hành quân của ông.
    Đến ngày ấn định, một Tiểu đoàn dù thuộc đơn vị Waffen SS nhảy xuống một thung lũng thuộc vùng bị quân du kích kiểm soát hoàn toàn. Nhiều máy lượn đưa lực lượng tăng cường đến tham gia trận chiến. Sau một cuộc chiến đấu cam go và đẫm máu, quân du kích rút lui, bỏ lại ngôi làng và thung lũng. Khốn thay, những điều tiên liệu bi quan của tôi đã thể hiện: Tổ chim trống rỗng, con chim đã bay đi. Để xác nhận đúng là Tổng Hành Dinh, binh sĩ của chúng tôi chỉ tìm thấy hai sĩ quan liên lạc Anh mà Tito bỏ lại, có lẽ để rứt khỏi họ. Trông một ngôi nhà, chúng tôi còn khám phá được một bộ quân phục Thống chế còn mới. Chắc Tito mới rời khỏi làng vài giờ trước để đến một địa điểm khác. Và thế cũng chưa hết – còn phải gởi các đơn vị bộ binh, bằng một cuộc điều quân khó khăn, đến giải tỏa quân nhảy dù bị vây trong thung lũng.
    Như vậy, vì lòng ganh tị đê hèn của một sĩ quan khao khát được thăng thưởng mà một kế hoạch lớn, nếu thành công, sẽ có tầm ảnh hưởng đáng kể, phải chịu thảm bại – điều đáng tiếc hơn nữa là sự thất bại này đã làm giảm thiểu gần như hoàn toàn hy vọng bắt được Tito của chúng tôi. Sau đó, chúng tôi theo dõi được dấu vết Tổng Hành Dinh của Tito, di chuyển dọc theo bờ biển Adriatique và từ đó, đến đảo Vis, nơi mà ông ta thiết lập hẳn cơ sở chính quyền. Chúng tôi cũng có dự tính một cuộc tấn công chớp nhoáng đảo này – nhưng, một lần nữa các biến chuyển dồn dập đã vượt qua chúng tôi.
    hết: Chương XV

  • Út Mót

    khoảng 1 10 năm trước
  • Chương XVI

    Cuộc chính biến



    Trong khoảng thời gian này, cuộc đổ bộ của Đồng minh – tại Đức chúng tôi gọi là cuộc xâm lăng – đã bắt đầu. Vào rạng đông ngày 6 tháng 6 năm 1944, những đơn vị Anh Mỹ đầu tiên đặt chân được lên Normandie. Trong nhiều tuần lễ liền, tình hình không được rõ rệt, nhưng khi phòng tuyến Avranches bị chọc thủng, cán cân lực lượng nghiêng về phía Đồng minh. Ngày hôm đó, hầu hết dân Đức có lẽ nghĩ rằng chúng tôi sẽ bại trận. Về phần tôi, tôi chưa có cảm tưởng nào về kết quả chung cuộc, và nếu trước các thuộc viên tôi còn giữ tư thế chỉ huy trang trọng, tôi không tìm cách dấu niềm bi quan khi thảo luận với một vài người thân tín như Radl hay Đại úy Foelkersam.
    Liệu tôi có cần rút ra từ sự linh cảm này, nếu không nói là sự chắc thật, các kết luận thực hành không? Thường thường tôi tự đặt vấn đề như vậy và luôn luôn đi đến cùng một kết quả: theo ý tôi, không phải tôi, không phải binh sĩ, mà cũng chẳng phải các sĩ quan – kể cả các tướng lãnh – là những người quyết định tiếp tục hay chấm dứt sự thù nghịch. Quyết định này phải được dành cho các Đại lãnh tụ chính trị và quân sự có cái nhìn toàn diện và có khả năng ảnh hưởng vào chiều hướng các biến cố lịch sử. Nếu các người ấy ra lịnh cho chúng tôi tiếp tục chiến đấu, chúng tôi chỉ còn biết phải tuân hành.
    Tôi lại còn biết rằng Tổng Hành Dinh của Fuhrer vẫn còn hy vọng, một mặt vào diễn biến thuận lợi của tình hình chính trị, và mặt khác vào sự hoàn thiện mau chóng các loại vũ khí bí mật – theo các tin tức mà tôi có được, các hy vọng đó không phải là không có căn cứ.
    Tuy nhiên từ tháng 7 năm 1944, tình hình trở nên khẩn trương. Trong tuần lễ đầu tiên của tháng 6, một đợt tấn công kinh hồn của quân Nga đã làm cho gần như toàn diện phòng tuyến phía Đông bị tan rã. Có thể coi Lộ quân trung ương như không còn nữa. Hơn ba mươi Sư đoàn Đức bị bắt cầm tù. Tại hậu tuyến không ai hiểu làm sao mà một cuộc đầu hàng vĩ đại như thế lại có thể xảy ra được. Phải quy trách nhiệm vào Bộ Tư Lệnh tối cao hay là vào sự mệt mỏi chán nản của các đơn vị ở đây? Ở phía Tây, quân Đồng minh nhờ ưu thế vật chất tuyệt đối tiến như gió hướng về biên giới Đức. Chúng tôi chỉ còn cách nghiến chặt đôi hàm răng và chiến đấu đến cùng. Thành thật mà nói, chúng tôi chưa nghĩ rằng đó là điểm khởi đầu của sự bại trận chung cuộc.
    Ngày 20 tháng 7 năm 1944, tôi sửa soạn đi Vienne để xem xét lại một vài chi tiết của kế hoạch bắt Tito. Và tin tức về một cuộc đảo chánh lật đổ Hitler bùng nổ như sấm động, may thay âm mưu đã thất bại. Tôi và các sĩ quan hết sức kinh hoàng.[1] Một chuyện như thế có thể xảy ra được sao? Phải chăng địch quân đã len lỏi vào được trong lòng Tổng Hành Dinh của Fuhrer rồi? Không bao giờ chúng tôi lại có ý nghĩ là chính một người Đức đã đặt quả bom đó. Dầu sao, vì Hitler vẫn còn sống nên tôi không thấy có lý do gì để trì hoãn cuộc hành trình.
    Lúc 18 giờ, Radl và tôi đến nhà ga Anhalt. Chúng tôi lên toa xe dành riêng và chuẩn bị đi ngủ. Nhưng đến ga Lichterfelde, trạm dừng cuối cùng nằm bên trong khu vực Bá-linh, tôi nghe có ai gọi tên tôi: Thiếu tá Skorzeny! Thiếu tá Skorzeny! Trên sân ga, một sĩ quan chạy dọc theo con tàu và kêu réo luôn miệng. Tôi mở cửa sổ và ra hiệu, anh ta nhào tới, thở hổn hển.
    - Thưa thiếu tá, ông phải trở lại lập tức. Lệnh thượng cấp… Cuộc mưu sát Fuhrer là khởi đầu cho một cuộc chính biến.
    Tỏ vẻ không tin, tôi nhún vai:
    - Coi, chuyện đó làm sao có được. Một số quí ông ấy điên mất rồi. Thật là điên rồ, nhưng mặc kệ… để tôi trở lại với anh. Radl cứ tiếp tục đến Vienne và bắt đầu các cuộc thương thảo. Ngày mai tôi cố đi theo.
    Trong khi xe hơi đưa chúng tôi về trụ sở trung ương của Waffen SS, viên sĩ quan thông báo cho tôi những tin tức hết sức lờ mờ mà anh ta lượm lặt được. Quả nhiên là có âm mưu phiến loạn do một nhóm sĩ quan cao cấp và tướng lãnh chủ xướng. Hình như một vài đơn vị thiết giáp đang tiến về Bá-linh; không ai biết rõ ý định của các cấp chỉ huy đơn vị. Tôi thì luôn luôn không tin vào những chuyện mà tôi cho là những tin đồn đại vô căn cứ. Các vị chỉ huy quân sự của chúng tôi lúc này còn có nhiều việc phải làm hơn là đi thông mưu đảo chánh.
    Schellenberg, nay đã trở thành chỉ huy trưởng Lữ đoàn SS, tiếp tôi và thông báo cho tôi biết vài chi tiết. Theo ông, trung tâm lãnh đạo cuộc đảo chánh hình như đặt tại Bendlerstrasse nghĩa là trụ sở văn phòng Tư lệnh Quân đội Nội địa.[2] Schellenberg mặt mày tái mét và có vẻ lo sợ thấy rõ. Trên bàn giấy tôi thấy một khẩu súng lục đặt trong tầm tay ông ta.
    - Tình hình rất rối rắm và cực kỳ nguy hiểm, - ông giải thích. - Dầu sao, nếu họ đến được đây, tôi sẽ tự vệ. Tôi đã phân phối vũ khí cho thuộc viên rồi. Anh có thể gọi thật nhanh một đại đội của anh đến bảo vệ cơ sở được không?
    Trong cơn kích động, tôi quên mất cả việc gọi cho đơn vị. May thay, liên lạc điện thoại vẫn còn hoàn toàn tốt. Tôi nói chuyện với Friedenthal được ngay và cho gọi Đại úy Foelkersam.
    - Đặt tiểu đoàn trong tình trạng báo động ngay lập tức. Đại úy Fuc.ker nắm quyền chỉ huy và chờ các mệnh lệnh do chính tôi ban hành. Đưa ngay một Đại đội đến trụ sở SS trung ương, tôi đang ở đó. Chính anh và Chuẩn úy Ostafel tạm thời là tùy viên của tôi, lên xe ngay và chạy hết tốc lực đến đây trước.
    Tôi gác máy và lại quay về phía Schellenberg:
    - Theo ý tôi, ông nên giải giới các viên chức ở đây: Tôi cảm thấy sợ khi thấy các đấng thư lại của ông khoa chân múa tay với súng lục vừa được phát. Lúc mới đến tôi đã khó chịu với một chú thư ký rồi. Tôi đã cho nhốt hắn trong hầm, như vậy hắn hết đường gây rắc rối với món đồ chơi nguy hiểm. Dầu sao, nếu vạn nhất “họ” đến đây trước Đại đội của tôi, tốt hơn hết là ông nên thoát thân, bởi vì ông đâu có thể bắt họ tuân phục được bằng khẩu súng lục này?
    Tôi để ông ta ở lại với các tư tưởng hắc ám, và bước ra đường. Tôi nóng nảy chờ Von Foelkersam và Ostafel, nữa giờ sau, họ xuất hiện giữa đám bụi mù mịt. Chắc họ phải chạy như bị ma đuổi. Vì vẫn chưa nhận được lệnh lạc gì cả, tôi quyết định đi một vòng xem chuyện gì đã xảy ra ở Bá-linh. Foelkersam ở lại trụ sở trung ương SS, tôi hứa thỉnh thoảng sẽ liên lạc bằng điện thoại để cho anh ta biết tin tức. Khốn khổ thay cho chúng tôi, vì vẫn chưa được trang bị loại máy liên lạc vô tuyến cầm tay gọi là “walkie-talkie” mà quân đội Mỹ đang sử dụng!
    Nhảy lên một chiếc xe, trước hết hỏi tôi đến khu vực đặt trụ sở các Bộ, nơi đây có vẻ hoàn toàn yên tĩnh. Sau đó tôi đến công trường Fehrbellin, nơi đặt Bộ Tư Lệnh thiết giáp của Tướng Bolbrinker, người mà tôi có quen biết. Khu vực này ít có vẻ yên lành hơn, trên một đại lộ dẫn đến công trường, hai chiếc xe tăng khổng lồ đang án ngữ. Tôi chỉ cần nhô đầu ra khỏi xe là được đi qua liền. Chắc chắn cuộc hỗn loạn không có gì trầm trọng quá như Schellenberg tưởng. Tướng Bolbrinker tiếp tôi lập tức. Ông chẳng biết gì nhiều và hỏi ý kiến tôi nên làm gì. Do mệnh lệnh của Tư lệnh Quân đội Nội địa, ông ta mang các Đơn vị thiết giáp từ Wunsdorf về Bá-linh và tập trung quanh công trường Fehrbellin để có thể nắm vững lực lượng. Hiện tại ông ta đang chờ diễn biến.
    - Vả chăng, - ông giải thích, - tôi quyết định từ đây chỉ thi hành lệnh của Thanh tra các Đơn vị thiết giáp, nghĩa là của chính Tướng Guderian. Không biết ông này có biết tin tức gì về cuộc âm mưu không. Anh xem, chẳng hạn người ta bắt tôi đưa các bộ phận thám sát đến tấn công vào doanh trại của Đơn vị Waffen SS. Anh nghĩ sao? Skorzeny?
    - Coi, - tôi choáng váng trả lời, - chúng ta chưa ở trong tình trạng nội chiến mà. Tôi cho rằng nếu tuân theo một mệnh lệnh mơ hồ là thiếu thận trọng. Thưa đại tướng, nếu ông muốn, tôi sẽ đi một vòng cho đến doanh trại Lichterfelde để xem chuyện gì đã xảy ra. Từ đó tôi sẽ gọi điện thoại cho ông. Theo ý tôi, chúng ta phải có bổn phận giữ bình tĩnh.
    Như trút được lo âu, Đại Tướng chấp thuận đề nghị của tôi và tôi lại lên đường. Tại Lichterfelde, trong doanh trại cũ của tôi, tất cả đều có vẻ yên tĩnh, mặc dù Tiểu đoàn trừ bị và các đơn vị khác đều được đặt trong tình trạng báo động. Tôi tiếp xúc một lát với viên Trung tá Chỉ huy các đơn vị đó và không ngớt yêu cầu ông tỏ ra khôn ngoan, nghĩa là chớ nên làm một hành động gì dù cho tình thế biến chuyển ra sao. Sau đó, tôi gọi Foelkersam và được biết Đại đội của tôi đã đến. Tôi ra lệnh giữ Đại đội lại trong sân cơ sở Trung ương SS.
    Lúc đó tôi mới thử lượng định tình hình. Thật ra, tôi cũng chẳng hiểu thêm gì được nhiều. Rất có thể là Tướng Tư lệnh Quân đội Nội địa đã ra lệnh báo động vào buổi trưa. Nhưng sau đó, khắp nơi đều có sự do dự, nơi thì tuân lệnh, nơi khác lại phản lệnh, rõ rệt tình hình đã không ăn khớp với một kế hoạch toàn bộ nào đó. Dầu sao, theo tôi vụ này hình như không có vẻ trầm trọng lắm, chắc chắn tôi sẽ bị hố to nếu coi sự việc quá quan trọng, bởi vì các đơn vị thiết giáp vẫn án binh bất động, và các đơn vị Waffen SS thì lại chưa nhận được mệnh lệnh nào. Tóm lại, mọi người đang tự hỏi ai đã nổi dậy và để chống lại ai. Tuy nhiên ngoài tính cách ấu trĩ, âm mưu này còn là một trọng tội, bởi vì lúc này đây ở phía Đông cũng như ở phía Tây, binh sĩ đang can đảm chiến đấu trong tuyệt vọng. Trong khi đang trầm ngâm với các ý tưởng không mấy vui vẻ đó, tôi chợt nhớ rằng Đại tướng Student hiện cũng đang ở Bá-linh. Tôi chạy nhanh đến Wannsee, một trong rất nhiều hồ bao quanh thành phố, Bộ Tư Lẹnh đơn vị không vận đóng bên bờ hồ. Các sĩ quan chẳng biết gì cả, họ cũng không nhận được mệnh lệnh nào. Tôi chỉ biết Đại Tướng đã về nhà, tại Lichterfelde. Tôi lại lên xe, mang theo sĩ quan tùy viên của Đại Tướng để lâm thời, nhận lệnh từ Đại Tướng.
    Lúc đó trời đã tối, đến 2 giờ đêm, chúng tôi đến biệt thự và trông thấy một khung cảnh thật thanh bình. Trên sân thượng, Đại Tướng khoác một chiếc áo ngủ dài, đang ngồi đọc cả núi hồ sơ dưới ánh đèn. Cạnh đó, phu nhân đang ngồi thêu. Tôi không ngăn được ý nghĩ là tình thế thật khôi hài: Nơi đây, một trong các lãnh tụ quân sự quan trọng của Bá-linh đang nghỉ ngơi yên lành trong một ghế mây thoải mái, trong khi những tướng lãnh khác âm mưu đảo chánh.
    Mặc dù rất ngạc nhiên khi thấy tôi đến thăm vào giờ quá trễ, Đại Tướng cũng tiếp tôi một cách thân ái: chắc chắn dây liên lạc được thiết lập giữa chúng tôi trong chiến dịch giải thoát Mussolini năm ngoái vẫn còn. Khi trình bày rằng đến vì “công vụ”, vợ ông kín đáo tránh đi nơi khác. Nhưng khi tôi bắt đầu thông báo những gì tôi thấy và biết, ông ngắt ngang lời tôi:
    - Coi, Skorzeny, anh nói cái gì vậy! Đảo chánh – không, không thể có được.
    Tôi khổ sở thuyết phục ông ta tin rằng tình thế nghiêm trọng. Sau cùng ông ta bằng lòng gởi cho tất cả các cấp Chỉ huy đơn vị nhảy dù một mệnh lệnh đại khái như sau: Báo động. Chỉ nhận lệnh của chính Đại Tướng Student mà thôi.
    Đúng lúc đó, chuông điện thoại reo vang. Thống chế Goering gọi. Sau khi xác nhận báo cáo của tôi, Thống chế còn thêm vài chi tiết mới: có lẽ cuộc mưu sát Fuhrer là do một sĩ quan thuộc Bộ Tham Mưu Quân đội Nội địa thực hiện. Bendlerstrasse – nơi đặt Bộ Tham mưu đó – đã vội vàng loan báo cái chết của Fuhrer và cho áp dụng vài biện pháp khẩn trương. Goering xác định rằng lúc này chỉ có Bộ Tư Lệnh Tối cao của Lục quân mới có tư cách ra lệnh. Tôi nghe Đại Tướng nhắc lại các chỉ thị của Thống chế Goering: Bình tĩnh, yên tâm, bằng mọi giá cố tránh các biến chuyển có thể đưa đến nội chiến. Tôi đã hiểu, thưa Thống chế.
    Hiện tại, ông Tướng không còn nghi ngờ các điểm tôi thuật lại nữa. Sau khi hứa giữ liên lạc với tôi và Đại Tướng Bolbrinker, ông lần lượt gọi các Tiểu đoàn và ra chỉ thị. Tôi xin phép cáo từ và trở về trụ sở SS Trung ương thật nhanh.
    Trong cơ sở rộng mênh mông, tất cả yên tĩnh. Schellenberg chờ tôi trong văn phòng và yêu cầu cung cấp một đoàn hộ tống gồm một sĩ quan và mười binh sĩ. Ông vừa nhận được lệnh bắt ngay Đô đốc Canaris và lẽ tất nhiên, ông không thể đơn độc một mình thi hành một mệnh lệnh tế nhị như vậy. Vì chỉ có vỏn vẹn 1 Đại đội nên tôi chỉ cho ông “mượn” một sĩ quan. Một giờ sau, Schellenberg trở về, cuộc bắt bớ đã không gây ra một biến cố nào. Qua điện thoại, tôi biết rằng các khu vực do đơn vị thiết giáp của Tướng Bolkrinker và do quân nhảy dù của Tướng Student chiếm đóng, vẫn được yên tĩnh – Thật ra, trên đường trở lại Friedenthal, tôi thấy cả Bá-linh đều yên tĩnh. Đột nhiên, Tổng Hành Dinh của Fuhrer cho gọi tôi.
    - Lệnh cho Thiếu tá Skorzeny mang toàn lực lượng hiện có, đến Bendlerstrasse để hậu thuẫn cho hành động của Thiếu tá Remer, Đại đội trưởng Đại đội phòng vệ “Đại Đức Quốc” hiện đang bao vây Bộ này.
    Vội vã, tôi tập họp đại đội – đáng tiếc là tôi không cho gọi cả tiểu đoàn – và lên đường. Vào lúc gần nửa đêm, chúng tôi đến cửa chính của trụ sở. Hai xe lớn chận đường chúng tôi: lúc xuống xe và một mình đi bộ đến, tôi thấy ngay giữa một toán quân xôn xao, viên chỉ huy SS Kaltenbrunner đang nói chuyện với một Tướng lãnh lục quân – Tướng Fromm, Tư lệnh Quân đội Nội địa. Tôi nghe ông nầy nói với Kaltenbrunner: “Tôi đi về nhà, các anh có thể kiếm tôi ở đấy suốt đêm”, rồi ông lên xe chạy đi, vạch một lối cho đơn vị tôi đi qua. Tôi ngẩn ngơ, khi thấy vị Tư lệnh Quân đội Nội địa lại bỏ về nhà trong giờ phút nghiêm trọng này. Tuy nhiên điều đó không dính dáng gì đến tôi.
    Trước cổng vào Bộ, tôi gặp thiếu tá Remer. Tôi trình diện và được biết ông ta được lệnh cô lập hóa kín mít toàn thể khu công ốc. Sau khi đưa cả đại đội vào sân, tôi mang theo Đại úy Foelkersam và Chuẩn úy Ostafel, theo cầu thang tiến lên lầu. Trong hành lang tầng thứ nhứt, tôi gặp nhiều sĩ quan tay cầm súng lục. Người ta có cảm tưởng là đang ở trong một pháo đài ngay tiền tuyến. Trong văn phòng của Tướng Olbricht, tôi gặp một vài sĩ quan tham mưu quen biết từ lâu, họ cũng tự võ trang và có vẻ rất khích động. Họ kể nhanh cho tôi nghe chuyện gì đã xảy ra: vào buổi chiều, họ thấy có một cái gì sai lạc trong lệnh báo động phát xuất từ một vài Sở. Tướng Fromm gần như hội họp liên miên, nhưng chỉ có một vài sĩ quan thân tín được dự họp. Vì quá sức ngạc nhiên và lo âu, phần lớn các sĩ quan tự võ trang và đột nhập vào văn phòng của Tướng Fromm, đòi hỏi giải thích. Bị đặt vào trong tình thế khó xử, ông Tướng đành phải thú nhận một cuộc nổi dậy của quân đội đã bùng nổ, và nói thêm rằng ông đã được lệnh mở các cuộc điều tra sơ khởi các kẻ chịu trách nhiệm. Vài phút sau, Tướng Beck tự tử, trong khi đó, ba sĩ quan, trong đó có Đại tá Stauffenberg, Tham mưu trưởng của Tướng Fromm, bị Tòa án quân sự do một Tướng lãnh chủ tọa xử tử hình. Cả ba đã bị một Tiểu đội Hạ sĩ quan xử bắn ngay trong sân cách đây nửa giờ. Mặt khác, trong hành lang tầng lầu thứ nhất, đã có vài loạt súng, nhưng không có gì quan trọng.
    Những tin tức này đã đóng khung khá rõ rệt những gì tôi đã biết, nhưng vẫn không soi sáng thêm được tình hình. Những cố gắng liên lạc bằng điện thoại của tôi với Tổng Hành Dinh của Fuhrer đều vô ích, vậy tôi phải hành động theo sáng kiến. Trước hết tôi tìm cách lập lại yên tĩnh và trật tự trong tòa nhà khổng lồ này, nơi mà mọi người rõ ràng bị bối rối cực độ. Để đạt đ ược mục tiêu đầu tiên đó, tôi cho triệu tập các sĩ quan quen biết và đề nghị với họ là hãy tiếp tục các công việc bỏ dở dang từ hồi chiều. Tôi nhắc nhở họ là chiến tranh đang tiếp diễn và tất cả mọi mặt trận đều cần lực lượng tăng cường, tiếp tế, tiếp liệu. Mọi người đồng ý với tôi và trở lại làm việc. Lát sau, một Đại Tá chợt nhớ ra rằng có vài quyết định liên quan đến việc tăng cường lực lượng phải do chính Tham mưu trưởng ký, mà Đại tá Stauffenberg lại vừa bị hành quyết. Tôi tuyên bố tạm gánh thêm trách nhiệm phụ đới này. Tuy nhiên có một điều làm tôi ngạc nhiên: phần lớn các lệnh báo động cho những người dự mưu ban hành đã bị hủy bỏ từ hồi nào.
    Trước văn phòng Tướng Olbricht, tôi gặp hai nhân viên mật thám Gestapo. Vài giờ trước đó, Chỉ Huy trưởng cảnh sát đặc biệt đã phái họ đến bắt Bá tước Stauffenberg. Chưa kịp thi hành mệnh lệnh, họ đã bị các sĩ quan của Stauffenberg vừa từ Tổng Hành Dinh về, bắt nhốt vào trong một văn phòng. Càng ngày tôi càng không hiểu: hoặc giả cơ quan Gestapo vốn biết tin rất nhanh, đã bị vụ đảo chánh làm kinh ngạc quá, hoặc giả cơ quan này cho rằng nội vụ chẳng có gì là quan trọng. Nếu không phải như thế thì tại sao họ lại chỉ phái có hai trự đến bắt tay đầu não của cả một cuộc âm mưu quân sự?
    Hiện tại, tôi có thì giờ để bắt đầu lục soát bàn giấy của Bá tước Stauffenberg. Tất cả các hộc bàn đều đã bị mở tung, hình như có kẻ nào vừa vào lục soát vội vã. Trên bàn giấy tôi tìm thấy hồ sơ kế hoạch “Walkyrie” nghĩa là các chi tiết sắp xếp cuộc báo động. Tôi nhận thấy Stauffenberg đã ngụy trang ý định chính – chiếm thật nhanh các trung tâm đầu não tại Bá-linh và các cơ quan chỉ huy quân đội – dưới danh hiệu “Các biện pháp phản công trong trường hợp quân Đồng minh tấn công bằng quân nhảy dù”. Trong một hộc bàn, tôi giật nảy mình vì khám phá được một bàn cờ, các quân cờ xê dịch tùy theo số điểm của các hột xúc xắc mà người chơi đổ được. Trên một bản đồ khu vực Đông Âu thật lớn, một đường vạch đậm, mà theo lời chú thích bên lề, biểu hiện cho trục tiền quân của một quân đoàn, thuộc lộ quân phía Nam, trong cuộc tiến đánh Nga sô – quân đoàn mà chính Stauffenberg làm Tham mưu trưởng. Nếu sự sử dụng vô vàn khổ đau và sự chiến đấu của hàng ngàn binh sĩ vào một trò chơi bẩn thỉu, tự nó đã có vẻ nông nổi, chướng mắt rồi, thì các lời phẩm bình tô điểm cho sự giải thích nguyên nhân, lại còn chứng tỏ một sự vô liêm sỉ, khiến cho tôi tự hỏi, với một tâm tánh như vậy, làm sao một sĩ quan cao cấp có thể phục vụ tổ quốc trong thời chiến được.
    Một vài giờ sau, tất cả các bánh xe của guồng máy phức tạp đã hoạt động điều hòa trở lại. Tuy nhiên, một lần nữa, tôi điên đầu trước các quyết định mà tôi buộc phải lấy thay cho ba sĩ quan, quan trọng nhất của cơ quan này: Tướng Fromm, Olbricht và Đại tá Stauffenberg. Tôi xin nói chuyện với Tổng Hành Dinh không ngừng. Cuối cùng, cũng liên lạc được, tôi vội yêu cầu bổ nhiệm một vị tướng lãnh có thẩm quyền vào chức vụ Tham mưu trưởng Quân đội Nội địa. Tôi mong được giải nhiệm càng sớm càng tốt, nhưng lẽ tất nhiên người ta trả lời một cách mơ hồ, bảo đợi và tiếp tục đảm nhiệm công việc cho đến khi Fuhrer đề cử một người có khả năng. Cứ cách hai hay ba giờ, tôi lại gọi xin được thay thế, và lần nào cũng vậy, nhận được một câu trả lời tránh né. Rốt cuộc, đến sáng 22 tháng 7, nghĩa là sau 36 giờ, đích thân Himmler đến, có Tướng Juttner thuộc đơn vị Waffen SS tháp tùng. Trước sự ngạc nhiên của tôi, ông ta tuyên bố được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đội Nội địa. Chắc chắn Himmler là một trong những người thân tín của Fuhrer, nhưng ông ta không phải là quân nhân. Làm thế nào mà ông ta có thể chu toàn được nhiệm vụ trong khi cùng một lúc ông giữ nhiều chức vụ quan trọng hàng đầu? Lúc đó tôi mới chú ý đến Tướng Juttner, tư lệnh phó, ông này chắc hẳn rất bằng lòng với sự bổ nhiệm vì trong thực tế chính ông mới là người lãnh đạo thường trực của cơ quan. Nhưng tôi không có thì giờ để suy tư vẩn vơ. Sau khi cho tập họp các sĩ quan, Himmer làm một bài diễn thuyết bất ngờ, ông tuyên bố là âm mưu đảo chánh chỉ do một nhóm nhỏ hành động đơn độc. Liếc nhìn cử tọa im lặng, tôi nhận thấy tất cả có phản ứng như nhau: Sự đồng ý rõ rệt và sự khoan khoái thấy cơn bão tố đi qua mau. Có lẽ phần đông những người này, được đào tạo theo các truyền thống cứng rắn của tập thể sĩ quan nhà nghề, không còn muốn nghĩ đến âm mưu nổi loạn này nữa – hành động tội lỗi và tự dập tắt trong trứng nước.
    Cuối cùng, tôi có thể nghĩ đến chuyện xả hơi một lúc, trở về Friedenthal, tôi vùi mình trong chăn. Sau sáu tiếng đồng hồ, tôi thức dậy, tươi mát và khỏe khoắn, và tôi tìm cách tính sổ các biến chuyển. Đây là lần đầu tiên tôi thấy, trong quân lực và có lẽ trong lòng dân tộc Đức nữa, có những luồng tư tưởng mâu thuẫn, có tình trạng căng thẳng giữa các phe nhóm – cho đến nay, tôi không hề nghĩ đến sự kiện này. Đối với tôi, sự ngạc nhiên trở nên khó nhọc nếu không nói là đau đớn. Niềm an ủi duy nhất đối với tôi là thấy âm mưu đảo chính bị tan rã mau lẹ, một phần vì căn bản của nó yếu quá, phần khác nhờ hành động sấm sét của các lực lượng quân đội khác. Về phần tôi, tôi sung sướng được biết rằng, nhờ thuộc về binh chủng thứ IV,[3] các đơn vị Waffen SS, tôi đã không can dự trực tiếp vào nội vụ.
    Độc giả cho phép tôi mở một dấu ngoặc tại đây: sau 3 hay 4 năm, hôm nay khi nói đến “sự dẹp tan âm mưu đảo chánh ngày 20 tháng 7 năm 1944” rất có thể là các diễn biến không được mô tả trung thực. Tất cả những người tham dự trực tiếp vào tấn thảm kịch này đều xác nhận rằng những người chủ mưu, ngoại trừ Bá-tước Stauffenberg, đều tự động bỏ cuộc ngay khi cuộc mưu sát thất bại. Hay nói cho đúng hơn, từ lúc đó, họ không còn có thể tìm đâu ra lực lượng hành động, đến nỗi chỉ cần một nhóm nhỏ sĩ quan trung thành với chế độ, cũng đủ lật nhào toàn bộ lâu đài xây trên cát ấy. Có lẽ theo sự ước tính của các người dự mưu, cái chết của Adolf Hitler là yếu tố quyết định; vậy thì ngay lúc Fuhrer thoát chết một cách kỳ diệu, họ phải tính rằng chương trình của họ không còn thực hiện được nữa.
    Suốt đời tôi, tôi sẽ nhớ mãi cơn cuồng nộ xâm chiếm tâm hồn tôi lúc vừa thức giấc sáng ngày 23 tháng 7: tôi phẫn nộ đối với những kẻ muốn đâm sau lưng dân tộc Đức và họ làm như thế đúng vào lúc dân tộc chiến đấu để sống còn sau bao nhiêu thử thách. Rồi khi tâm tư sáng suốt trở lại, tôi nhớ đến vài câu chuyện với các sĩ quan làm việc tại nhiều cơ sở khác nhau thuộc Bộ chiến tranh. Nhiều lần người đối thoại tuyên bố, với tất cả sự thẳng thắng tin được, rằng họ chống Hitler và chế độ Quốc xã. Tuy nhiên, tất cả những đối thủ của chế độ này không trừ một ai, đều là những người yêu nước, và trong khi tình hình đất nước lâm nguy, chắc chắn họ chỉ nghĩ tới Tổ quốc. Ngay lúc bấy giờ tôi đã tin rằng – và niềm tin đó vẫn không thay đổi – trong số những người dự mưu, chắc có một vài người công dân Đức tốt. Đáng tiếc thay, những người này lại chỉ đồng ý với nhau có một điểm: sự cần thiết phải tách rời Hitler khỏi guồng máy lãnh đạo quốc gia dù bằng cách làm cho ông tự nguyện hay bằng cách dùng sức mạnh bó buộc ông. Ngược lại, quan điểm của họ về chính sách phải theo sau khi chiếm quyền thì lại khác nhau, nhất là vấn đề tìm cách đạt được mau chóng một cuộc ngưng bắn vì tình hình quân sự đã trở nên tuyệt vọng. Một nhóm do Stauffenberg lãnh đạo chủ trương thương thuyết hòa bình riêng rẽ với Nga sô, nhóm kia muốn tìm cách thỏa hiệp với các cường quốc Tây phương. Thế mà nếu căn cứ vào một tin tức được Đài phát thanh của Anh loan đi ngày 25 tháng 7, thì cả hai nhóm đều đã không thăm dò trước chiều hướng lập trường phía đối nghịch, thật vậy, đài BBC tuyên bố rằng ngay cả một chính phủ mới của Đức – người Anh tin rằng Hitler đã chết – nếu muốn chấm dứt sự thù nghịch lập tức thì phải ngưng bắn cả với Anh-Mỹ lẫn Nga sô, và chỉ sau khi chấp nhận nguyên tắc ấn định tại Casablanca, nguyên tắc “đầu hàng vô điều kiện”. Ngày nay ta có thể tự hỏi các người âm mưu đảo chánh sau khi chiếm quyền, làm sao xoay sở trong một tình hình như thế.
    Tóm lại, cuộc nổi loạn thất bại ngày 20 tháng 7 năm 1944 đã mang lại hậu quả: thứ nhất, cuộc mưu sát đã làm cho Hitler, lãnh tụ tối cao của Đức quốc, Tư Lệnh tối cao của Quân lực, trở nên tàn tạ cả về phương diện vật thể lẫn về phương diện tinh thần. Đành rằng các vết thương nơi ông không có gì nguy hiểm, tuy nhiên một người phải gánh trách nhiệm quá nặng, chịu đựng thương tích, dù là nhẹ, dở hơn người thường. Về phương diện tinh thần, không bao giờ ông có thể vượt qua được cơn kích xúc do sự khám phá đau đớn còn hơn là các vết thương trên da thịt nữa: Trong lòng quân đội, vậy là đã có một vài sĩ quan – biết đâu là vài nhóm nữa – có thể phản bội lãnh tụ và chính nghĩa. Mối nghi ngờ do linh tính hơn là do lý trí của ông, càng ngày càng bành trướng và trở thành một ám ảnh thật sự. Càng lúc, ông càng bị lôi cuốn vào các suy tư quá lạm, và những hành động bất công đối với cả những người không đáng bị đối với cả những người không đáng bị đối xử như vậy. Tôi lại còn biết rằng từ đó ông mắc luôn căn bệnh sợ hãi.
    Hậu quả thứ hai của cuộc mưu sát cũng tiêu cực như trên: Từ đó, tất cả mọi thỏa hiệp với Đồng minh để đạt được một nền hòa bình mà không tiêu diệt chế độ, không còn có cơ hội thực hiện nữa. Lẽ dĩ nhiên, thái độ cứng rắn của đối phương nay lại cứng rắn thêm bởi vì họ có thể trông đợi vào sự chia rẽ làm suy yếu Đức quốc. Không nên quên rằng sự từ chối thỏa hiệp của Đồng minh không những chỉ áp dụng cho một nước Đức quốc xã và thuộc về Hitler, mà ngay cả những người kế tục Fuhrer nữa. Trong những điều kiện đó, Đức quốc không còn cách nào để tìm kiếm một nền hòa bình bình thường cả. Tất cả các ý định biểu hiện theo chiều hướng này đều bị Đồng minh gạt ngang với thái độ khinh miệt. Và điều này chắc chắn đã làm cho Hitler quyết định giữ vững lập trường và tỏ ra cứng rắn cho đến phút cuối cùng.



    ---------------------------------------------------------------------- ----------



    [1] Xem “Những trận đánh lịch sử của Hitler”, sách đã phát hành – Sông Kiên xuất bản.
    [2] Quân đội có nhiệm vụ duy trì trật tự tại Đức quốc và tại các vùng bị sáp nhập – Tiệp Khắc, Ba Lan, Alsace, v.v.
    [3] Ba binh chủng khác là: Lục quân (Wehrmacht), Hải quân (Kriegsmarine), Không quân (Luftwaffe) – Ghi chú của người dịch.
    hết: Chương XVI

  • Út Mót

    khoảng 1 10 năm trước
  • Chương XVII

    Đối phó khắp nơi



    Tình hình quân sự càng trầm trọng, lãnh vực hoạt động của tôi càng được nới rộng. Sau nhiều cuộc thảo luận gay go với Bộ Tham mưu thuộc Bộ Tư Lệnh Tối cao, tôi đạt được kết quả mong ước là bành trướng các đơn vị đặc biệt của tôi. Tiểu đoàn duy nhứt mà tôi có trong tay cho đến nay, sẽ trở thành căn bản của một Lữ đoàn gồm sáu Tiểu đoàn, được thành lập phần đông nhờ 1.800 quân nhân tình nguyện thuộc Sư đoàn Brandebourg, đáp ứng lời kêu gọi của tôi. Mặt khác Fuhrer giao cho tôi chỉ huy luôn bộ phận thứ nhì của cơ quan tình báo quân đội (phá hoại và làm giảm tinh thần chiến đấu của địch).
    Trong nhiều tuần lễ liền, chúng tôi phải làm việc tại Friedenthal như tù khổ sai: tổ chức lại, huấn luyện, chuẩn bị các chiến dịch mới. Bị bao vây tứ phía, Đức quốc càng ngày càng giống như một pháo đài vĩ đại: không những chúng tôi phải bảo vệ phòng tuyến, nhưng còn phải chặn đường tiến quân của địch bằng cách dự trù các cuộc phá hoại nội bộ địch. Vậy tôi phải tìm cách sử dụng các đơn vị đặc biệt của tôi để đóng góp vào nỗ lực khó khăn đó. Và cho đến hôm nay, khi nhìn lại quá khứ, có thể nói là chúng tôi đã tham dự các trận đánh thật đẹp.
    Thật vậy, cuối mùa hè năm 1944, đội người nhái của chúng tôi cộng thêm với một phân đội thuộc lực lượng đặc biệt đã hoàn toàn thành công trong một công tác có thể làm cho họ hãnh diện. Các quân đoàn Anh-cát-lợi, dưới quyền chỉ huy của Thống chế Montgomery, vừa mới vượt qua Waal - một trong những nhánh sông chính thuộc lưu vực sông Rhin - và thiết lập chung quanh Nimègue một đầu cầu đe dọa cả phòng tuyến chúng tôi. Khốn thay, họ chiếm được cây cầu bắc ngang sông, nhờ đó các đoàn xe của họ dễ dàng chạy cho đến tuyến lửa. Vì lẽ người Anh đã cho bố trí chung quanh cây cầu một dàn D.C.A cực mạnh, các cuộc đánh phá bằng phi cơ chiến đấu oanh tạc của chúng tôi không có kết quả.
    Được báo cho biết tình hình đó, tôi thảo luận với một số chuyên viên để sử dụng người nhái vào việc phá hủy cây cầu. Dầu cho là một sự phá hoại nhỏ cũng được coi như thành công, ít ra cũng giảm thiểu đáng kể áp lực địch trong vùng, tôi được biết rằng các chuyên viên hải quân đã sáng chế được một loại mìn thủy lôi để sử dụng trong trường hợp này. Loại khí giới này có hình dáng bằng một nửa quả thủy lôi có chỗ chứa không khí, có thể nổi trên mặt nước, nhờ đó rất dễ điều khiển. Theo kết quả của các lần thử đầu tiên, sức nổ cùng một lúc của hai trái mìn được đặt gần một cột cầu, đã làm di chuyển một khối nước vĩ đại mà không một thứ kiến trúc nào chịu đựng nổi.
    Đầu cầu quân Anh dàn rộng cả về phía thượng lưu lẫn về phía hạ lưu sông Nimègue, mỗi bên chừng 7 cây số. Riêng vùng tả ngạn con sông thì đã hoàn toàn do địch chiếm đóng. Một đêm, đại úy Hellmer, người sẽ chỉ huy chiến dịch, một mình bơi một vòng thám sát. Nhờ các chân vịt bằng cao su, anh ta bơi thật nhanh mà không gây tiếng động nhiều. Một tấm lưới dày được trùm lên đầu để che bớt các mảng da trắng trên mặt, nhưng không làm cản trở sự quan sát. Được trang bị như thế xong, Hellmer cẩn thận bơi về phía chiếc cầu, chọn lựa trụ cầu sẽ bị giật sập và nghiên cứu thật kỹ. Làm thế nào mà khi đến giờ ấn định, mỗi người phải biết các động tác thi hành. Bên trên, các chiến xa Churchill chạy không ngừng ra tiền tuyến. Tiếng động ầm ĩ của động cơ và xích sắt sẽ tạo một yếu tố quan trọng cho sự thi hành công tác, chúng tôi có thể hy vọng các tiếng động đáng nghi từ dưới sông sẽ bị át đi. Và lại lính gác sẽ không nghĩ đến chuyện canh chừng mặt sông. Làm sao mà sự nguy hiểm có thể đến từ phía ấy khi quân Anh chiếm đóng toàn thể khu vực mấy cây số trên thượng lưu cũng như hạ lưu con sông? Im lặng, Hellmer tự để cho dòng nước đưa đi, qua mặt các vị trí canh gác của địch hai bên bờ và trở lại phòng tuyến bạn.
    Vài ngày sau, cơ quan khí tượng hứa với chúng tôi một đêm tối trời đặc biệt, có thể có mưa nữa. Thời tiết lý tưởng cho một hoạt động như thế này. Đưa các quả mìn thủy lôi xuống nước là cả một công việc nặng nhọc, nhất là khi súng cối của quân Anh rót vài quả khá chính xác. Vài người tham dự chiến dịch của chúng tôi đã bị thương. Sau cùng mọi chuyện đều xong - Các khối mìn to lớn trôi gần bờ sông. Mười hai quân tình nguyện đã sẵn sàng, ôm các thủy lôi bên hông - cứ ba người một bên - biến dần trong đêm tối, do dòng nước đưa đi. Đột nhiên bóng của chiếc cầu vĩ đại hiện ra trong bóng tối. Toán cảm tử đã nghe tiếng xe, tiếng xích sắt của thiết giáp đi từ bên này qua bên kia. Và rồi thì họ đến dưới bụng cầu. Thật nhanh, họ đưa 2 quả mìn đến một cột chân cầu đã được chọn lựa, đặt bên phải một quả, bên trái một quả và mở nắp ngăn chứa không khí, trong khi một chuyên viên phát động ngòi nổ chậm. Hiện tại, hai quả mìn vô hại cho đến giờ ấn định mới trở thành nguy hiểm. Từ từ những điếu xì gà khổng lồ chìm sâu xuống sóng nước dọc theo chân móng, trong khi đó các cảm tử dùng hết sức mình bơi ra xa. Năm phút sau một tiếng nổ kinh hồn xé toang bầu không khí. Các quả mìn tác động đúng mức, cột cầu gẫy sụm, kéo theo phần chính giữa của bụng cầu. Lập tức hai bên bờ sông trở nên náo nhiệt. Quân Anh bắt đầu bắn, thoạt tiên là bắn hú họa, dần dần với độ chính xác ghê rợn, bởi vì hiện tại, các tia sáng bình minh đầu tiên có thể giúp quân Anh nhìn thấy được đầu của quân cảm tử. Một loạt tiểu liên đã bắn trúng một người của chúng tôi. Các người khác bao quanh, che chở. Nhiều lần đạn đi ngay vào giữa đám người đang bơi, nhưng nhờ phép lạ, chỉ có hai người trúng đạn và lại rất nhẹ. Sau cùng tất cả nhóm đã trở về được phòng tuyến bạn cách chừng 10 cây số phía hạ lưu. Mệt nhoài nhưng những con người rắn rỏi đó cất bước trở về trại, mang theo ba đồng bạn bị thương.
    Như vậy chiến dịch đã hoàn toàn thành công, nhưng từ đó, chắc chắn quân Anh sẽ canh gác kỹ và sự lập lại một vố táo bạo như thế nếu không phải là không thể làm được thì ít ra cũng rất khó khăn.
    *
    Vào đầu mùa thu 1944, tôi cùng với một trong các tiểu đoàn dưới quyền thực hiện một cuộc thực tập đặc biệt. Chúng tôi thỏa hiệp với viên Giám đốc một xưởng chế tạo vũ khí, nằm gần Friedenthal, rằng một ngày nào đó nhiều nhóm người sẽ xâm nhập vào và làm cho nhà máy tê liệt - Tóm lại đây là một trận giặc giả, bắt chước một cuộc tấn công của quân phá hoại địch.
    Trước sự ngạc nhiên của mọi người, cuộc thực tập đã hoàn toàn thành công - tôi có thể nói là quá thành công. Vào khoảng 20 người xử dụng các thẻ căn cước giả lọt được vào các xưởng máy, và chỉ trong vòng 20 phút mà không bị ai chú ý, họ đặt được các khối chất nổ - lẽ dĩ nhiên là vật tượng trưng - vào những nơi quan trọng nhất, nhưng tầm thường nhất của cơ xưởng. Lẽ tất nhiên, cũng giống như tại các cơ xưởng làm việc cho hệ thống quốc phòng, một "phân đội bảo vệ" đã có mặt tại cơ xưởng từ lâu - tôi có cảm giác là phân đội này chẳng bảo vệ được gì cả. Ngày hôm sau, ban giám đốc làm một phúc trình thật dài gởi lên Bộ, và tôi nghĩ rằng các bộ phận bảo vệ cơ xưởng sản xuất vũ khí sẽ phải nhận các chỉ thị mới, nghiêm khắc hơn. Về phần tôi, kết quả của cuộc thực tập này đã cho tôi thấy một điều chắc chắn: đối thủ trực tiếp của chúng tôi, nghĩa là cơ sở tình báo Anh, đặc biệt là các cơ sở có nhiệm vụ phá hoại tại Đức, không phải là mạnh hơn chúng tôi, nếu không các cuộc phá hoại xưởng máy của chúng tôi sẽ xảy ra luôn luôn. Các phân đội bào vệ không phải là các đơn vị có thể đập tan âm mưu phá hoại do một nhóm nhỏ những người cương quyết chủ trương.
    *
    Cũng trong thời kỳ đó, mặt trận miền Đông yêu cầu các đơn vị đặc biệt của tôi can thiệp. Cuối tháng tám, một điện văn khẩn cho gọi tôi về trình diện Tổng hành dinh của Fuhrer. Ngay khi vừa đến, Đại tướng Jodl giới thiệu tôi với hai sĩ quan Tham mưu của ông để hai ông này cho tôi biết lý do của lệnh triệu dụng.
    Một thời gian ngắn, sau khi một đoạn trung tâm của phòng tuyến phía Đông sụp đổ vào tháng 6 năm 1944, một cảm tử quân thám sát - nghĩa là một trong các bộ phận mà sở phản gián biệt phái cho mỗi đơn vị - đã được một người Nga, vốn làm việc với chúng tôi ngay từ khi chiến tranh bắt đầu, sau lưng hậu tuyến địch, gởi cho một điện văn có nội dung như sau:
    "Trong một khu rừng rộng lớn phía Bắc Minsk, có nhiều đơn vị của Đức ẩn nấp và cho đến nay họ chưa đầu hàng"
    Nhiều quân nhân, sau khi đi lạc hàng tuần trong khu vực bị quân Nga chiếm đóng, lần mò trở về được phòng tuyến bạn, cũng đã xác nhận có nghe nói đến các đơn vị bị bao vây này. Sau khi gủi bức điện văn trên, điệp viên của chúng tôi đã vượt phòng tuyến tìm người lính cảm tử thám sát của chúng tôi để báo cáo bổ túc. Cứ như lời anh ta tuyên bố thì hiện có vào khoảng 2.000 người dưới quyền chỉ huy của một trung tá tên Scherhorn, đang ở trong một khu vực mà anh ta chỉ có thể chỉ ranh giới một cách mơ hồ. Ngay lập tức, người tiền sát viên cảm tử của chúng tôi cố gắng dùng máy liên lạc vô tuyến để liên lạc với toán quân thất lạc này, nhưng cho đến nay, mọi cố gắng đều vô hiệu. Vậy mà Bộ tư lệnh tối cao quyết định tính chuyện mò trăng đáy nước, bằng cách tìm và đưa toán quân của trung tá Scherhorn về phòng tuyến bạn. Lẽ tự nhiên, người ta đã nghĩ đến các đơn vị đặc biệt của tôi.
    - Ông có sẵn sàng nhận lãnh nhiệm vụ không? - Hai sĩ quan tham mưu hỏi tôi.
    Tôi trả lời thuận. Tôi biết các sĩ quan và quân nhân giỏi, thích hợp cho một sứ mạng tương tự - nghĩa là phần đông gồm người Baltes - sẽ rất sung sướng vì có cơ hội đi cứu đồng bạn hiện đang bị thất lạc giữa vùng Cộng sản chiếm đóng. Ngay đêm đó, tôi lại lên máy bay và ngay khi về đến Friedenthal, chúng tôi bắt tay ngay vào việc. Vài ngày sau, một kế hoạch hoàn thành lấy tên kế hoạch Braconnier. Rôi chúng tôi lo cho hằng hà sa số các chi tiết mà kế hoạch đã đặt ra. Kế hoạch dự trù thành lập bốn toán, mỗi toán có hai lính Đức và ba Nga sô. Họ được vũ trang bằng súng lục Nga, mang theo lương thực cho bốn tuần, mỗi toán có một lều và đặc biệt, được trang bị một máy truyền tin xách tay. Điều rõ rệt hơn cả là người của chúng tôi phải giả trang thành lính Nga. Như vậy chúng tôi phải cung cấp cả giấy tờ, bằng lái xe v.v.. cần thiết. Ngay từ bây giờ, họ đã phải làm quen với thuốc lá Nga, và mỗi người phải có trong xách vài mẩu bánh mì đen phơi khô và loại đồ hộp của quân đội Nga, vừa đủ để khi cần chứng minh. Mọi người đều bị hớt tóc gần như trọc, theo kiểu quân đội Nga, và trong những ngày cuối trước khi khởi hành, họ sẽ phải từ bỏ việc tắm rửa, ngay cả việc cạo râu nữa.
    Hai trong số các toán sẽ nhẩy dù xuống một nơi nào đó phía Đông Minsk, gần giữa thành phố Borisow và Cervenj và sẽ đi về phía Tây để khám phá khu rừng mênh mông thuộc khu vực này. Trong trường hợp thất bại, không tìm được toán quân của Scherhorn, họ phải tìm cách trở lại phòng tuyến. Toán số 3 và số 4 sẽ được thả xuống giữa Dzesinsk và Witeja, họ sẽ đi về phía Minsk, tìm tòi trong khu vực bán nguyệt mà tâm điểm chính là thành phố Minsk. Họ cũng vậy, trong trường hợp các cuộc tìm kiếm không có kết quả, phải tìm cách trở về phòng tuyến của Đức.
    Chúng tôi hoàn toàn có ý thức rằng kế hoạch này chỉ có thể được dùng làm nền tảng lý thuyết. Trong thực tế chúng tôi bắt buộc phải để cho mỗi toán tự do hành động tới một mức độ nào đó, vì lẽ chúng tôi không chỉ dẫn cho họ được điều gì chính xác cả, họ bị bắt buộc phải tin tưởng vào linh tính và hành động tùy theo tình hình. Chúng tôi hy vọng là nhờ máy truyền tin, chúng tôi có thể chuyển chỉ thị cho họ khi cần. Hiện tại, chúng tôi có ý định, ngay khi một toán của chúng tôi tìm được đoàn quân của Scherhorn, làm ngay một phi đạo có thể giúp cho phi cơ vận tải lên xuống mang dần dần các binh sĩ trở về.
    Vào cuối tháng 8, toán thứ nhất do thượng sĩ P. chỉ huy, lên đường bằng một chiếc Henkel 111, của phi đoàn thứ 200. Chúng tôi bồn chồn nóng nẩy chờ đợi phi cơ trở về, bởi vì vào thời kỳ đó, phi cơ phải bay sâu hơn 500 cây số vào vùng bị địch chiếm đóng trước khi đến địa điểm nhẩy dù (lúc đó chiến tuyến chạy dọc theo con sông Vistule). Vì một chuyến bay như vậy chỉ có thể thực hiện vào lúc ban đêm, không có một phi cơ săn giặc nào theo hộ tống chiếc máy bay vận tải khổng lồ, chậm chạp đó, may thay trước lúc rạng đông, chúng tôi đã thấy phi cơ quay về. Ngay đêm đó, người lính tiền sát cảm tử của chúng tôi đã liên lạc vô tuyến được với bộ phận của thượng sĩ P.
    - Đáp rất tồi tệ, - họ báo cáo. - Chúng tôi đang thử tập hợp lại. Chúng tôi ở ngay dưới hỏa lực của nhiều súng liên thanh....
    Bức điện văn ngừng ngay lại ở đó, có lẽ họ phải chạy trốn, bỏ lại chiếc máy truyền tin. Đêm này qua đêm khác, hiệu thính viên của chúng tôi rình nghe từng ám hiệu nhỏ nhoi trông nón nghe. Không có gì cả - không còn tin tức gì của phân đội do P. chỉ huy cả. Một sự khởi đầu không mấy tốt đẹp!
    Đầu tháng 9, phân đội thứ hai, do thượng sĩ S. chỉ huy, cất cánh, bắt đầu chuyến phiêu lưu vĩ đại. Lúc trở về, viên phi công tuyên bố là họ đã nhảy đúng địa điểm và tất cả đều xuống đất an toàn. Tuy nhiên bốn ngày bốn đêm liền trôi qua mà chúng tôi không nhận được một điện văn nào. Chúng tôi đã nghĩ đến tình trạng bi đát nhất. Sự im lặng này chỉ có thể được giải thích bởi một tai nạn thê thảm. Sau cùng, vào đêm thứ 5, chiếc máy của chúng tôi trong khi không ngừng phát đi tín hiệu định trước, đã bắt được tín hiệu trả lời. Thoạt tiên là mật khẩu, sau đó là mật hiệu chứng tỏ người của chúng tôi nói một cách tự do (một sự cẩn thận cần biết: nếu không có mật hiệu này, người đối thoại đang bị đối phương bắt nói dưới họng súng). Và rồi tin tức trọng đại đã đến. Đoàn quân của Scherhorn có thật, thượng sĩ S. đã thành công trong nhiệm vụ tìm kiếm nó! Đêm sau, chính trung tá Scherhorn diễn đạt lòng tri ân của ông đối với chúng tôi bằng vài chữ đơn giản nhưng đầy cảm động. Những nỗ lực, các âu lo của chúng tôi đã được tưởng thưởng đẹp đẽ làm sao!
    Hai mươi bốn tiếng đồng hồ sau đó, phân đội thứ 3 lên đường do hạ sĩ quan M. chỉ huy. Không bao giờ chúng tôi còn có thể biết số phận của 5 người này nữa. Đêm lại đêm, chúng tôi điều chỉnh tần số theo máy của họ, gọi danh hiệu của phân đội... rồi hàng tuần trôi qua, rồi hàng tháng trôi qua ..... vô ích, chúng tôi không nhận được câu trả lời nào hết. Phân đội M. đã biến mất trong nước Nga mênh mông.
    Vẫn cách 24 giờ sau, chúng tôi đưa phân đội thứ 4 lên dường, do thượng sĩ R. chỉ huy. Trong bốn ngày đầu, R. gọi chúng tôi rất đều. Sau khi xuống đất, họ đi về phía Minsk. Họ không thể giữ mãi một hướng đi bởi vì họ phải tránh các đội quân cảnh Nga tuần tiễu. Thỉnh thoảng họ gặp các tên đào ngũ và bị coi là những người bạn đồng hành bất hạnh. Nói chung, thái độ của dân chúng trong phần đất Bạch Nga này có vẻ thân thiện. Đột nhiên, đến ngày thứ 5, liên lạc với phân đội R. bị gián đoạn. Chúng tôi chưa có thì giờ kịp chỉ dẫn địa điểm chính xác của đoàn quân do Scherhorn chỉ huy. Sự chờ đợi âu lo lại bắt đầu - rồi kéo dài, không chịu đựng nổi. Mỗi buổi sáng Foelkersam buồn bã báo cáo với tôi "không có tin tức gì về ba phân đội R., M. và P.". Cuối cùng, chừng ba tuần lễ sau, một đơn vị đồn trú đâu đó trong vùng biên giới Lithuanie gửi cho chúng tôi qua điện thoại, một điện văn như sau: "Phân đội R. đã tìm đến tuyến phòng thủ của chúng tôi không thiếu một ai".
    Lẽ dĩ nhiên, báo cáo của thượng sĩ R. làm cho mọi cơ sở tình báo của chúng tôi lưu tâm cao độ. Thật vậy, hiếm khi có trường hợp các quân nhân Đức gặp cơ hội đi ngang qua một vùng nằm sau phòng tuyến của Nga. R. rất đỗi kinh ngạc khi thấy giới lãnh đạo Nga sô áp dụng nguyên tắc chiến tranh toàn diện, bằng các phương thức tàn bạo như thế nào. Mọi lực lượng, sức mạnh đều được động viên, khi cần, gọi cả đàn bà và con nít nữa. Nếu thiếu phương tiện chuyên chở, thì chính dân chúng phải lăn các thùng xăng ra tiền tuyến qua hàng trăm cây số, rồi đứng thành hàng chuyền tay nhau các quả đạn súng cối cho đến các vị trí đặt súng. Rõ ràng không còn chối cãi gì được nữa, chúng tôi còn phải học hỏi người Nga nhiều điều.
    Ngụy trang thành một Trung úy Hồng quân, Thượng sĩ R. đã táo bạo đến mức dám đi vào một câu lạc bộ sĩ quan để được mời ăn tối. Nhờ giỏi tiếng Nga, quan khách không ai nghi ngờ lý lịch của anh ta cả. Vài ngày sau anh ta trở lại phòng tuyến bạn mang theo toàn thể phân đội.
    Hiện tại vấn đề đặt ra là thỏa mãn các nhu cầu cấp bách của đoàn quân Scherhorn, đơn vị đang bị thiếu hụt đủ thứ sau ba tháng trời bị cô lập. Trước hết Scherhorn yêu cầu gởi cho một bác sĩ, thuốc men, dụng cụ vệ sinh y tế. Viên bác sĩ đầu tiên nhảy dù xuống một cánh đồng tăm tối bị gãy luôn hai chân và vài hôm sau thì chết. Người y sĩ thay thế gặp nhiều may mắn hơn, ông nhảy xuống an toàn. Sau đó, chúng tôi gởi tiếp liệu gồm lương thực và đạn dược cho vũ khí nhẹ. Vì bị thiếu thốn từ lâu, tình trạng sức khỏe của binh sĩ tồi tệ đến nỗi, tạm thời, chưa thể ra lệnh cho Scherhorn lên đường được.
    Cứ cách hai hay ba đêm, phi đoàn 200 lại phái nhiều máy bay mang tiếp liệu đến cho đoàn quân bị vây hãm. Khốn thay, việc thả dù không được chính xác lắm, thường các kiện hàng quý báu rơi vào nơi không đến được, hoặc lạc mất tiêu trong rừng già, và mỗi lần như vậy phải thả dù kiện hàng khác thay thế. Trong khi chờ đợi, tôi lập một kế hoạch cứu đoàn quân, cùng với các chuyên gia của phi đoàn. Chúng tôi dự trù làm một phi đạo gần nơi Scherhorn ẩn núp. Sau đó, lợi dụng các đêm tối trời vào tháng mười để dùng phi cơ đưa các người bị bệnh, bị thương di tản trước, rồi mới đến các người khỏe mạnh.
    Do đó chúng tôi gởi cho Scherhorn một chuyên viên để giúp ông ta xây dựng nhanh chóng một phi đạo tạm thời. Tuy nhiên công việc vừa mới khởi sự thì quân Nga đã biết, và rồi các cuộc tấn công không ngừng của địch đã làm cho việc thiết lập phi đạo không còn có thể thực hiện được nữa. Vậy chúng tôi phải tìm cách khác. Sau khi bàn với Scherhorn qua máy truyền tin, chúng tôi quyết định rằng đoàn quân của ông ta phải rời chỗ ẩn náu, đi về phía Bắc để đến một vùng rải rác có nhiều hồ cách đấy chừng 250 cây số, gần biên giới cũ giữa Nga sô và Lithuanie thuộc khu vực Dunaburg. Các hồ nói trên sẽ đông cứng vào đầu tháng 12. Ngay khi lớp băng vừa đủ dầy, chúng tôi sẽ sử dụng như các phi đạo để phi cơ lên xuống.
    Để giúp làm dễ dàng cho sự di chuyển cả một đoàn quân quan trọng như thế qua một vùng do địch chiếm đóng, Scherhorn chia thành hai toán, đi bộ theo hai hàng dọc. Hàng thứ nhất đi thẳng lên hướng Bắc do một đơn vị tiền sát hướng dẫn được Thượng Sĩ S. của chúng tôi chỉ huy. Hàng thứ hai, do chính Scherhorn chỉ huy, sẽ theo một con đường song song nhưng giữ hướng nam nhiều hơn. Hiện tại, phải đưa đến cho họ áo quần ấm và hàng trăm danh sách dụng cụ cần thiết. Nhân cho 2000, nhu cầu trở thành một số khổng lồ cần thả dù nhiều lần. Chúng tôi cũng gởi cho họ chín máy truyền tin mới và binh sĩ gốc Nga, để đề phòng trường hợp bị lạc đường, họ có thể giữ liên lạc với nhau và với chúng tôi.
    Ngày 15 tháng 11 năm 1944, tất cả đều sẵn sàng và hai hàng người bắt đầu khởi hành, đi bộ, vì một vài chiếc xe đẩy kiểu Nga hiếm hoi phải được dùng để chở thương bệnh binh. Họ tiến tới quá chậm, khác xa với điều chúng tôi dự trù. Mỗi ngày trung bình đi được từ 8 đến 12 cây số. Nhiều lần Scherhorn phải cho xen kẽ vài ngày nghỉ ngơi, như thế mỗi tuần trung bình chỉ đi tới được chừng 40 cây số. Mặt khác, các điện văn phúc trình tới tấp các cuộc đụng độ đẫm máu với các đội tuần tiễu của quân cảnh Nga, số thương vong càng ngày càng tăng. Dần dần, tất cả những người biết về nước Nga, trong số chúng tôi đều ngã lòng. Cơ may trở lại quê nhà của nhóm Scherhorn trở nên quá mong manh.
    Nếu đường bay của các phi vụ tiếp tế có ngắn hơn thật, thì việc xác định địa điểm thả dù trở nên khó khăn hơn. Qua máy truyền tin, chúng tôi thỏa thuận một địa điểm trên bản đồ và đến ngày giờ định trước, sẽ được đánh dấu. Mặc dù cẩn thận đến như vậy, nhưng càng ngày số kiện hàng rơi vào tay quân cảnh Nga càng nhiều không đếm xuể. Nhưng đó không phải là mối lo âu lớn nhất của chúng tôi. Từ tuần này đến tuần khác, số lượng xăng cấp cho phi đoàn 200 giảm dần trong khi nhu cầu vẫn giữ nguyên. Thỉnh thoảng chúng tôi gỡ gạc được của cơ quan cấp xăng một cấp khoản đặc biệt bốn hoặc năm tấn và nhấn mạnh đến tính cách khẩn cấp của đồ cứu trợ cần phải gởi đi, nhưng mỗi lần có yêu cầu mới, các khó khăn gặp phải càng gia tăng. Mặc dù Scherhorn kêu gọi thảm thiết, chúng tôi phải bắt buộc giảm số phi vụ tiếp tế vốn đã rất hạn chế rồi. Tôi tin rằng Scherhorn và binh sĩ của ông ta đang chiến đấu trong những điều kiện hãi hùng, chắc không thông cảm được các khó khăn của chúng tôi. Do đó tôi thử giữ vững tinh thần của họ, niềm tin của họ đối với ý chí của chúng tôi, ý chí giúp đỡ trong phạm vi phương tiện cơ hữu, bằng cách hàng ngày gởi cho họ các điện văn trong đó tôi cố tỏ vẻ lạc quan.
    Đến tháng 2 năm 1945. Tôi chỉ huy một Sư đoàn ở mặt trận Miền Đông. Vừa đẩy lui các mặt tấn công điên cuồng của địch, tôi vừa cố gắng theo đuổi các “sứ mạng đặc biệt” của chúng tôi.
    Những điện văn do Scherhorn gởi về đều đều cho chúng tôi biết tình thế ngày càng tuyệt vọng. “Xin gởi thêm tiếp liệu… xin giúp đỡ chúng tôi… Đừng bỏ quên chúng tôi…” Chỉ có một tin vui duy nhất: Scherhorn vừa gặp được phân đội P., phân đội đầu tiên trong số bốn phân đội được gửi đi và bị coi như mất tính từ tháng 8. Nhưng ngoài sự kiện đó ra, đọc các điện văn ghi các cuộc đối thoại ban đêm, làm cho tôi đau đớn như bị tra tấn. Hiện tại, chúng tôi chỉ có thể gởi mỗi tuần một chuyến phi cơ mà thôi. Một chuyến bay khứ hồi dài 800 cây số. Khối lượng tiếp liệu có thể gởi đi cũng giảm dần. Ngày đêm, tôi moi óc nghĩ cách giúp đỡ những người không muốn ngưng chiến đấu đó. Nhưng làm sao đây?
    Vào cuối tháng 2, cấp khoản xăng không còn nữa. Tôi không ngăn được cơn giận khi nghĩ đến khối lượng nhiên liệu khổng lồ mà địch quân xài phung phí trong khi tiến quân. Tại mỗi phi trường của khu vực Warthegau[1] mà quân Nga vừa mới chiếm, hàng trăm tấn xăng được dự trữ cho phi cơ.
    Ngày 27 tháng 2, chuẩn úy S. gởi cho tôi điện văn sau:
    - Đã đến, với bộ phận tiền sát, khu vực có nhiều hồ. Sẽ bị chết đói nếu không nhận được lương thực gấp. Các ông có thể đến kiếm chúng tôi không?
    Rồi, vì làn sóng phát yếu dần đi, các lời kêu cứu càng cấp bách. Và chúng tôi bất lực. Sau cùng: S. năn nỉ cấp cho anh một chút xăng để có thể “sạc” lại bình điện cho máy truyền tin.
    - Tôi chỉ còn xin có một điều… có thể giữ liên lạc với các anh… có thể được nghe các anh…
    Sự suy sụp và nhiều khi là sự hỗn độn trong các công sở lại tỏ ra mạnh hơn chúng tôi. Hiện tại đừng nghĩ đến việc tiếp tế cho những người khốn khổ đó nữa và nhất là việc tìm kiếm đưa họ trở về.
    Tuy nhiên, các hiệu thính viên của tôi hàng đêm vẫn ngồi trước máy, ống nghe úp chặt vào tai, cứ như thế, mặc dù quân đội rút lui dần và nhiều khi rút lui hấp tấp. Đôi khi, họ lập được liên lạc với các đoàn quân của Scherhorn. Thỉnh thoảng chúng tôi còn nhận được lời kêu cứu tuyệt vọng – thế rồi từ ngày 8 tháng 5, không còn gì nữa, im lặng hoàn toàn. Scherhorn không trả lời nữa, chiến dịch Braconnier thất bại.
    *
    Vào cuối tháng tám, mặt trận Miền Đông lại sắp ghi nhận một tai họa khác. Liên quân Đức tại miền Nam – tại Bessarabie và Lỗ - ma - ni – hình như bị đợt tiến quân dũng mãnh như thủy triều của Nga sô nhận chìm. Theo các tin tức còn mơ hồ qua các thông cáo, chúng tôi lo âu theo dõi trên bản đồ, đà tiến quân liên tục của các Sư đoàn Nga sô qua lãnh thổ Lỗ - ma - ni. Trong sự tan rã đó, các thuộc địa lâu đời của Đức sẽ ra sao?
    Vào đầu tháng 9, tôi được Tổng Hành Dinh của Fuhrer ra lệnh như sau:
    - Thành lập ngay hai tiểu đội hoạt động vô giới hạn. Phi cơ cần để chuyên chở đã sẵn sàng. Nhiệm vụ của cảm tử quân là: nếu có thể, chắn ngang đèo Carpathes phía Nam, đẩy mạnh các điểm thám sát vào sâu trong vùng bị địch chiếm. Cản trở lưu thông của quân Nga, giúp đỡ tổ chức và đẩy mạnh công tác cứu thoát dân chúng gốc Đức.
    Một lần nữa, chúng tôi lại được giao cho một nhiệm vụ, sau một quyết định vội vàng, vào phút chót, trong khi thông thường, sự thành công của hoạt động cảm tử lệ thuộc cốt yếu vào công tác chuẩn bị kỹ lưỡng và lâu dài. Mặc kệ - chúng tôi sẽ cố hết sức. Tôi nhận thấy Thiếu úy G. là sĩ quan thích hợp nhất để chỉ huy phân đội gồm có vài bộ phận xung kích, nhiều hạ sĩ quan công binh, và chừng mười quân nhân rành tiếng Lỗ-ma-ni. Chúng tôi vội vã kiếm dụng cụ cần thiết như điên, và rồi đơn bị lên đường đến nơi vô định. Danh từ này đúng nhất, phải dùng, vì lẽ tình hình quân sự biến chuyển hàng ngày. May thay, chúng tôi có ý tưởng là phái một chiếc phi cơ thám sát đến vùng do Tổng Hành Dinh chỉ định, nhờ đó đến phút chót chúng tôi biết rằng phi trường Temezvar, nơi mà toán quân tôi sẽ đổ bộ, đã bị quân địch chiếm mất. Các phi cơ vận tải phải đáp ở một bãi đất phụ do quân đoàn Phleps xây dựng.
    Ngay khi vừa đặt chân xuống đất, phân đội chia ra làm bốn toán chiến đấu và tiến đến đèo Carpathes thành công. Lúc đó, không thể nói đến phòng tuyến của Đức trong vùng này nữa: quân sĩ của chúng tôi đang chạy dài, phần chủ động ở nơi quân Nga với các đợt tiến quân vũ bão. Nhưng trong nhiều ngày, quân đội chúng tôi cũng làm chậm đà tiến của địch nhờ vài ngọn đèo của núi Carpathes, và giúp được nhiều nhóm dân chúng Đức – gồm đàn ông, đàn bà tuyệt vọng chạy trốn không ngừng. Chẳng mấy chốc, quân cảm tử của chúng tôi cũng phải vừa đánh vừa lui. Thiếu úy G. và binh sĩ trong toán đã ngụy trang thành lính Lỗ-ma-ni, và cùng với quân Nga vào Kronstadt. Họ còn lấy hoa cài cả lên nòng súng gọi là “để mừng cuộc tiến quân thằng lợi của Hồng quân”. Tuy nhiên, cơ may đã đến với họ nay bỏ rơi họ, khi cố len lỏi cho đến phòng tuyến chót của quân Nga, họ bị phát giác. Quân Nga, sau khi dùng báng súng đánh ngất, lột hết quần áo và không cần xét xử gì cả, đem họ lên đỉnh đồi bắn bỏ. Đến phút chót, Thiếu úy G. nhẩy dựng lên và chạy trốn. Sau khi chạy hết sức qua nhiều cây số, chân mặt anh ta bị một viên đạn, khiến anh ta phải ẩn náu trong một đầm lầy. Đêm sau, anh trở về được phòng tuyến bạn mới được tái lập. Nhờ các điều anh quan sát được về sự chuyển quân của địch, quân Đức thành công vài ngày sau, trong việc cứu cả một Sư đoàn đang chiến đấu trong vùng Gyergyoti, khỏi bị vây hãm.
    Về phần ba phân đội kia, họ đã trở về sau khi bị tổn thất nhẹ, và cung cấp các tin tức quí báu liên quan đến quân số và ý đồ của quân Nga.
    *
    Chính các loại công tác kể trên đã làm tôi thích thú nhất. Thường thường, một nhóm người không quá đông, nhưng gồm toàn người cương quyết, có thể đạt được các kết quả không ngờ. Khốn nỗi, sự thành công của các đơn vị cảm tử chỉ như là một tia sáng mặt trời yếu ớt trong một bức tranh tối tăm ảm đạm. Một chi tiết do viên Hạ sĩ quan thuộc toán của Thiếu úy G. phúc trình đã cho tôi thấy một tia sáng buồn thảm trong một tình hình vốn đã khẩn trương rồi: Tại Lỗ-ma-ni, bên kia dãy Carpathes, phân đội của anh gặp một đơn vị phòng không đông đến 2.000 người. Họ được trang bị đầy đủ và còn giữ nguyên vũ khí – loại tối tân – bắn nhanh – nhưng họ dừng lại trong một thung lũng nhỏ bên cạnh một con đường lớn và không biết làm gì, họ chờ đợi – nói tóm tắt, họ đầu hàng trước cả khi quân Nga đến nữa. Trong số 2.000 người chỉ có 300 là chịu theo phân đội của G. tìm về phòng tuyến. Những người khác ưa ở lại đó hơn – ngu ngốc, thụ động, tiêu cực, đến nỗi không có ý chí vạch một con đường đến khu vực còn ở trong tay quân bạn. Họ phải đầu hàng ngay với đội quân tiền sát của Nga – 1.700 người có trong tay một hỏa lực ghê gớm, nhưng lại không còn tinh thần chiến đấu nữa. Và câu chuyện thương tâm này xảy ra hàng chục hàng trăm lần tại mặt trận miền Đông. Liệu đã có thể kết luận rằng tinh thần quân Đức bị suy sụp, rằng quân Đức không còn tin vào chiến thắng cuối cùng, hay chưa? Hay đây chỉ là sự thể hiện “bệnh tinh thần phát cuồng của quân Nga” mà đôi khi người ta quan sát thấy trong các khu vực thuộc phòng tuyến miền Đông – nghĩa là một hiện tượng đặc biệt, do sự mệt nhọc quá sức, do tinh thần bị căng thẳng quá sức, gây ra? Lúc đó, tôi còn nồng nhiệt hy vọng rằng chỉ có vậy thôi.




    ---------------------------------------------------------------------- ----------



    [1] Khu vực giữa sông Oder và một trong các phụ lưu chính của nó, sông Warthe tại Tây Phổ - ghi chú của người dịch.
    hết: Chương XVII

  • Út Mót

    khoảng 1 10 năm trước
  • Chương XVIII

    Hoàng hôn ảm đạm



    Ngày 10 tháng 9 năm 1944, trong khi tôi đang bận rộn tại Friedenthal, lo tổ chức lại các tiểu đoàn sao cho thuần nhất để có thể đảm trách bất cứ loại hoạt động nào, thì Tổng Hành Dinh của Fuhrer cho gọi tôi. Hiện tại “Hang sói” không còn cách xa phòng tuyến đầu bao nhiêu, mặt trận chỉ còn cách 10 cây số về phía Đông. Do đó cần phải thay đổi sắp xếp lại khu vực đặt Đại bản doanh. Người ta vừa hoàn thành một hầm ẩn núp chính – gọi là “Fuhrerbunker” – đó là một khối bê tông vĩ đại có vòm đậy dầy 7 thước. Vì không có một cửa sổ nào, người ta thiết trí một hệ thống thông hơi phức tạp, hoạt động rất kém khiến cho việc ở dưới hầm một ngày trở nên khó nhọc, vì lẽ bê tông chưa được khô hẳn, tỏa ra một mùi thật nhức đầu.
    Ngược lại, dãy phòng trung ương được ưa thích hơn vì có nhiều ngỏ rộng, nhiều phòng sáng sủa, trật tự. Đó chính là nơi hằng ngày từ 14 đến 22 giờ, các cuộc hội nghị quân sự được tổ chức, được gọi vắn tắt là “tình hình” trong đó các quyết định chủ yếu được thành hình. Ngay khi mới đến vào lúc 10 sáng, Đại Tướng Jodl cho biết là trong nhiều ngày liên tiếp tôi sẽ dự các cuộc thảo luận liên quan đến khu vực phía Nam của mặt trận Miền Đông. Bộ Tổng Tư Lệnh Tối Cao hình như muốn giao cho tôi một sứ mạng cực kỳ quan trọng trong khu vực này.
    Mặc dù chỉ dự vào một phần hội nghị liên quan đến một phần mặt trận mà thôi, tôi cũng ý thức được mau lẹ mối âu lo của các giới chức quân sự cao cấp. Bộ “Tổng Tư Lệnh Tối Cao” trong thực tế chỉ lãnh đạo có mỗi Mặt trận Miền Đông, riêng các mặt trận khác, kể cả mặt trận Balkans thì do “Bộ Tham mưu hành quân của Lục quân” trực tiếp chỉ huy. Hơn nữa, hải và không quân cũng phải gởi sĩ quan tham mưu đến phúc trình hàng ngày. Bên trên các cơ cấu phức tạp đó, một mình Adolf Hitler biểu tượng cho cơ quan điều hợp, nhất là từ khi ông nắm quyền lãnh đạo tối cao tất cả quân lực.
    Một gánh nặng đè bẹp, có lẽ là quá sức chịu đựng của con người ngay cả đối với một siêu nhân.
    Được đưa vào dãy nhà chính ở Trung tâm, tôi vừa mới trình diện với các tướng lãnh và sĩ quan tham mưu, thì một mệnh lệnh ngắn làm chúng tôi cứng người đứng nghiêm tại chỗ, Fuhrer đi vào có Thống chế Keitel và Đại Tướng Jodl tháp tùng.
    Thật là hãi hùng, nếu tôi không nói là kinh sợ, tôi nhìn thấy người này, thật khác xa với hình ảnh một người đã khắc sâu trong trí nhớ của tôi. Càng dễ sợ hơn nữa khi nhớ lại lần gặp gỡ sau cùng mới xảy ra mùa thu năm rồi – chưa được một năm. Tôi thấy tiến về phía trước một người mệt mỏi vô biên, lưng còng, già khú, ngay cả giọng nói trầm ấm rung động ngày xưa nay cũng tỏ vẻ mệt mỏi. Liệu ông có hiểm độc như vẻ mặt biểu lộ? Bàn tay trái run dữ dội đến nỗi ông phải lấy tay phải nắm chặt. Phải chăng đấy là hậu quả của vụ mưu sát ngày 20 tháng 7? Hay là Fuhrer đã bị suy sụp dưới gánh nặng trách nhiệm kinh hồn mà ông chịu đựng trong nhiều năm qua? Tôi không thể ngăn mình tự hỏi ông già này làm cách nào tìm được năng lực cần thiết để hoàn thành trách nhiệm.
    Adolf Hitler bắt tay vài sĩ quan đứng gần cửa, nói với tôi vài lời dịu dàng và yêu cầu được nghe báo cáo. Hai tốc ký viên đã ngồi vào đầu của chiếc bàn lớn đặt giữa phòng. Tất cả sĩ quan đều đứng, về phần Fuhrer, một chiếc ghế đẩu được đặt sau bàn, nhưng thỉnh thoảng ông mới ngồi vài phút. Trước mặt (là?) vô số bút chì màu và kiếng đeo mắt của ông.
    Đại tướng Jodl trình bày tình hình. Chúng tôi theo dõi dễ dàng các điểm giải thích trên một bản đồ mênh mông phủ kín mặt bàn. Các con số sư đoàn, quân đoàn, trung đoàn thiết kỵ, được liệt kê không ngơi. Chỗ này quân Nga tấn công nhưng đã bị đẩy lui. Chỗ kia họ đã chọc thủng được phòng tuyến và tạo một túi thật sâu, mà hiện nay ta đang cố phản công. Tôi thật ngẩn ngơ khi thấy Fuhrer thuộc lòng nhiều chi tiết quá – Số chiến xa có sẵn tại chỗ này hay chỗ nọ, số lượng xăng dự trữ, tầm quan trọng của lực lượng tăng cường v.v… Ông kể các con số mới, ra lệnh điều quân, căn cứ vào tấm bản đồ, cứ thế không ngừng. Tình hình rất trầm trọng. Hiện tại, ngoại trừ vài chỗ lồi lõm, mặt trận gần như chạy dài theo biên giới Hung-Gia-Lợi và Lỗ-Ma-Ni. Được kinh nghiệm báo trước, tôi tự đặt vài câu hỏi âu lo: liệu những sư đoàn vừa được nhắc nhở còn có thể chiến đấu được không? Hỏa lực, bãi đậu xe của họ ra sao? Có bao nhiêu chiến xa, súng ống đã bị phá hủy hay thất lạc từ khi gởi xong bản báo cáo mà hiện nay đang được đem ra làm căn bản thảo luận?
    - Hôm nay không có quyết định nào thật quan trọng, - vài sĩ quan tham mưu thì thầm bên tai tôi.
    Những lời nói đó nhắc nhở với tôi rằng tại đây, trên tột đỉnh của quân đội, người ta chỉ tính bằng đơn vị quân đoàn hoặc liên quân.
    Khi đến phiên đại diện không quân thuyết trình, tôi nhận thấy có một cái gì sai lạc, thiếu sót. Fuhrer đứng ngay dậy và bằng giọng khô khan, yêu cầu viên sĩ quan giải thích chính xác hơn. Người ta nói rằng trước đây không quân rất được cưng chìu, nay thì điểm tình cảm bị sút giảm. Thật vậy, bài thuyết trình của viên sĩ quan tham mưu có vẻ vô vị, thiếu nhiệt thành. Một cử chỉ đột ngột, Fuhrer ngắt lời và quay lưng về phía viên sĩ quan. Đại Tướng Jodl đưa mắt ra dấu bảo tôi ra ngoài, bởi vì bây giờ người ta bắt đầu bàn luận đến tình hình các mặt trận khác.
    Trong phòng kế bên, tôi bắt chuyện với một vài sĩ quan tham mưu trẻ. Vừa nhấm nháp ly rượu ngọt do các binh sĩ hầu cận mời, chúng tôi nói về Mặt trận Miền Đông. Tại Varsovie, quân đội bí mật của Ba-Lan vừa phát động cuộc nổi dậy: nhiều trận đánh đẫm máu xảy ra trong thành phố: càng về phía Nam, tình thế càng tệ hơn; tin tức về khu vực này thảy đều tai hại.
    Chúng tôi không thể nói tất cả chuyện đó cho Fuhrer, một trong những sĩ quan nói với tôi. Chúng tôi phải tìm cách giải quyết êm đẹp tình trạng đó mà Fuhrer không biết.
    Ba ngày sau, người ta quên bảo tôi ra ngoài khi cuộc thuyết trình về các mặt trận khác bắt đầu. Sĩ quan có trách nhiệm báo cáo không dám dấu tình trạng tệ hại tại khu vực này. Hitler vừa ngồi xuống đã nhảy chồm lên.
    - Tại sao tôi không được báo cáo sớm hơn? - Ông ta vừa hét vừa ném thật mạnh các cây bút chì khiến chúng lăn long lóc và rơi xuống đất.
    Bối rối, tất cả đều giữ im lặng, trong khi Fuhrer để cho cơn giận bùng nổ, lần lượt Đại Tướng Jodl, Bộ Tổng Tư Lệnh tối cao Không quân phải đón nhận. Phần tôi, tôi cố thu người lại thật nhỏ, ít ra là trong phạm vi có thể được. Tôi cảm thấy khó thở, muốn đi ra chỗ khác. Các người trách nhiệm phải chịu xát xà phòng trước một cử tọa đông đúc đến thế sao? Đột nhiên, Hitler trở lại bình tĩnh và quay về phía một Tướng lãnh khác để đặt vài câu hỏi chính xác.
    - Chúng ta còn quân trừ bị trong khu vực đó không? Liệu có thể đưa một tàu đạn dược đến kịp không? Gần đó có đơn vị công binh nặng nào không?
    Và đó là lúc bắt đầu công việc vá víu tạm bợ thật khó khăn và tế nhị. Bằng cách sử dụng tất cả lực lượng trừ bị, các biện pháp đầu tiên đã thành hình nhằm mục tiêu cứu vãn chỗ nguy cấp nhất, lần này dù hay dù dở, mọi chuyện lại được dàn xếp xong. Vào buổi chiều, tôi gặp nhiều sĩ quan quen biết từ lâu. Tất cả đều bi quan. Tin tức không có gì đáng vui, đó là sự thật. Một tia nắng mặt trời duy nhất chiếu trên quang cảnh hoàng hôn ảm đạm này: Lúc đó, có phần chán nản, tôi thơ thẩn theo các lối đi trong vườn và đột ngột gặp Hanna Reitsch. Cô báo tin là vừa đưa Tướng Von Greim về Tổng Hành Dinh, đây là một trong các Tướng lãnh Không quân chính yếu, cô cũng mời tôi đến thăm trại. Vào nửa đêm, sau bảng “tình hình tối”, tôi mò mẫm tìm đến doanh trại dành cho các quan khách đặt biệt. Trong một căn phòng rộng, một loại living room, Hanna giới thiệu tôi với Tướng Von Greim – khuôn mặt dịu dàng và dễ có cảm tình, nét mặt rành rẽ, mái tóc trắng như tuyết. Lập tức bỏ rơi các lời giáo đầu tầm thường, câu chuyện của chúng tôi hướng đến hai vấn đề mà có thể xem là cùng một bản chất: vấn đề Chiến tranh và vấn đề Không quân. Tôi ngơ ngẩn khi thấy trong giờ phút này mà ông Tướng còn châm biếm đùa cợt được! Ông giải thích lý do được triệu dụng về G.Q.G: Fuhrer muốn cách chức Thống chế Goering và giao quyền chỉ huy Không quân cho Von Greim. Tuy nhiên Goering còn giữ quyền quản trị nhân sự, trong khi Von Greim đòi có toàn quyền. Hiện tại vấn đề còn để đó, Hitler chưa quyết định gì cả. Với vẻ giận dữ đặc biệt, Von Greim chỉ trích Bộ Tham mưu Không quân kịch liệt, nhất là Goering.
    - Không quân đã ngủ quên trên chiến thắng. Tôi đồng ý là rất xứng đáng trong những năm 1939-1940 nhưng Không quân đã không nghĩ đến ngày mai. Những lời tuyên bố của Goering: Không lực của chúng ta là vô địch, nhanh nhất, can đảm nhất thế giới – những câu nói đó không đủ mang lại chiến thắng sau cùng, - Von Greim nói một cách chua chát.
    Và rồi ông mô tả một bức tranh bi quan của tình hình không quân Đức. Hiện nay tôi không nhớ được hết các chi tiết, tôi chỉ còn nhớ rằng ông Tướng nhìn thấy một tia hy vọng, có thể nói là hy vọng độc nhất: các phi cơ săn giặc phản lực sắp được đem ra sử dụng. Rất có thể nhờ loại máy bay này chúng tôi đẩy lui được các cuộc oanh tạc không ngừng của Đồng minh và tái chiếm ưu thế không quân, ít ra cũng trong một vài khu vực. Nhưng tôi tự hỏi liệu với một chút thiện chí, người ta có cung cấp kịp thời cho phi công chúng tôi các loại máy bay đó không. Tôi biết là cuộc nghiên cứu loại phi cơ này đã hoàn tất năm 1942. Liệu trong lịch sử cuộc chiến tranh này, một lần nữa lại có một chương trong vô số chương mang danh “quá chậm” nữa hay không.
    hết: Chương XVIII

  • Út Mót

    khoảng 1 10 năm trước
  • Chương XIX

    Tôi hành động tại Hung-Gia-Lợi



    Ba hôm sau, khi hội nghị “tình hình” buổi tối chấm dứt, Fuhrer ra hiệu cho tôi ở lại. Ông cũng giữ lại thống chế Keitel, Đại Tướng Jodl, Ribbentrop và Himmler (đặc biệt hiện diện hôm đó). Chúng tôi ngồi vào các ghế bành chung quanh chiếc bàn nhỏ và Adolf Hitler tóm lược tình hình khu vực Đông Nam trong vài câu. Mặt trận vừa mới được ổn định dọc biên giới Hung – gia – lợi phải được giữ vững bằng mọi giá, bởi vì trong khu vực mênh mông của tuyến phòng thủ này có một triệu quân Đức mà số phận của họ sẽ là bị bắt làm tù binh tất cả, nếu phòng tuyến tan vỡ.
    - Thế mà, - Fuhrer nói tiếp, - chúng ta vừa nhận được các báo cáo mật cho biết Nhiếp chính vương Hung – gia – lợi, Đô đốc Horthy, đang cố tiếp xúc với địch để thương thảo một nền hòa bình riêng rẽ. Các cuộc hội đàm này, một khi kết thúc, sẽ có nghĩa là đạo quân của chúng ta bị xóa bỏ. Horthy không những chỉ muốn ký kết với các cường quốc Tây phương mà còn chấp nhận đầu hàng toàn diện trước Nga sô nữa.
    “Thiếu tá Skorzeny, anh phải chuẩn bị để chiếm đóng Mont du Château (Burgberg) tại Budapest. Anh sẽ phát động chiến dịch ngay khi chúng tôi được báo cáo rằng viên Nhiếp chính phản lại chúng ta, nghĩa là khiếm khuyết trong sự thi hành nghĩa vụ qui định trong hiệp ước liên minh với Đức quốc. Bộ Tổng Tham Mưu đã nghĩ đến một cuộc tấn công bằng lực lượng nhẩy dù hay có thể là cho hạ cánh nhiều phi cơ ngay trên đỉnh đồi. Trong công tác này anh được đặt dưới quyền chỉ huy của Tư Lệnh lực lượng Đức tại Budapest, Tướng N. Nhưng anh phải chuẩn bị ngay từ bây giờ, bởi vì Bộ Tham Mưu của Tướng N. đang còn được tổ chức. Để giúp anh vượt qua các khó khăn, tôi sẽ ký một lệnh viết cho anh nhiều thẩm quyền rộng rãi.
    Rồi thì Đại tướng Jodl đọc cho tôi danh sách các đơn vị được đặt dưới quyền sử dụng của tôi: Một tiểu đoàn dù của Không quân, tiểu đoàn dù 600 của binh chủng Waffen SS, một tiểu đoàn bộ binh cơ giới gồm sinh viên Trường Sĩ quan Wiener Neustadt. Ngoài ra, hai phi đội máy lượn vận tải cũng sẽ được đưa đến Vienne để đặt dưới quyền chỉ huy của tôi.
    - Trong suốt thời gian chiến dịch, anh cũng còn được cấp một phi cơ thuộc phi đội biệt phái cho Tổng Hành Dinh của Fuhrer, để sử dụng trong khi anh cần di chuyển, - Jodl kết luận.
    Trong vài phút, Hitler còn bàn luận với Ribbentrop về các báo cáo do Đại sứ quán Đức tại Budapest gửi về. Theo các điện văn đó thì tình hình được coi như rất căng thẳng, chính quyền Hung – gia – lợi công khai muốn bỏ khối Trục. Rồi Fuhrer ký sự vụ lệnh, đưa cho tôi, và nói thêm:
    - Tôi tin tưởng ở anh và các quân nhân thuộc quyền.
    Sau đó, ông rút lui. Môt lúc sau, những người khác cũng cáo biệt, để tôi ở lại một mình. Khi đọc thoáng qua các tài liệu, tôi bị sửng sốt về các phương tiện hành động vô giới hạn giành cho tôi. Trên một tờ giấy lớn khổ "văn kiện Quốc qia", bên góc trái phía trên có in nổi hình con ó và dấu chữ Vạn quốc xã, mạ vàng, và dưới đó, dòng chữ kiểu Gô – tích : Fuhrer, Tể tướng Đức Quốc Xã, tôi đọc thấy :
    "Thiếu tá trừ bị Otto Skorzeny được chính tôi giao phó thi hành một mệnh lệnh riêng, mật và tối quan trọng. Tôi yêu cầu tất cả các cơ quan quân sự và dân chính triệt để giúp đỡ và tuân hành ý muốn của đương sự".
    Dưới các dòng chữ đó, là chữ ký từ bàn tay run rẩy của nhà lãnh tụ Đức Quốc xã. Trong thoáng chốc, tôi nghĩ rằng với tờ khống chỉ tương tự, tôi có thể, do tính thay đổi thất thường làm cho toàn diện chế độ lật nhào. Và tôi quyết định sử dụng văn kiện này rất hạn chế. Thật vậy, tôi vẫn khinh lối tuân phục mù quáng của các công sở khi trông thấy một "lệnh thượng cấp" được trình ra. Tôi thích dựa trên sự cảm thông và sự hợp tác tự nhiên của những người mà tôi sẽ nhờ cậy.
    Hiện tại, đã 2 giờ sáng rồi, tuy nhiên tôi muốn thực hiện vài công tác trước khi đi ngủ. May thay, hai ngày trước, tôi đã cẩn thận đánh điện đặt một trong các Lữ đoàn của tôi, tiểu đoàn khinh binh 502 cũ, trong tình trạng báo động.
    - Alô, Foelkersam. Tôi vừa được giao phó nhiệm vụ quan trọng. Hãy ghi nhận : Đại đội đầu tiên được tăng cường bằng một vài trung đội chọn lọc, có mặt tại phi trường Gatow đúng 8 giờ sáng mai. Tăng cường gấp ba lần tiếp liệu và đạn dược thường lệ, thêm vào đó trang bị hoàn toàn cho bốn trung đội chuyên về chất nổ. Phân phát cho mỗi người sáu ngày lương thực. Đặt Đại đội dưới quyền chỉ huy của Trung úy Hunke, sĩ quan chỉ huy phi đội vận tải đã biết nơi đến. Phần tôi, cũng đúng 8 giờ ngày mai, tôi sẽ bay về và đến phi trường của nhà máy Henkel gần Oranienbourg lúc 10 giờ. Hãy đến đó gặp tôi, đến trưa, chúng ta sẽ khởi hành, anh, Ostafed, Radl và tôi. Có gì cần hỏi lại không? Tốt – sẽ gặp lại.
    Sau vài giờ nghỉ ngơi, tôi bay về trên một chiếc Henkel 111. Vừa ngắm cảnh, tôi vừa suy nghĩ hậu quả không tránh được của việc Hung – gia – lợi trở cờ. Trong canh bạc, vốn liếng mà tôi phải bảo vệ quá lớn: cả một đạo quân – một triệu người – mà tình trạng rất bấp bênh – phải nói là tuyệt vọng – nếu các sư đoàn Hung – gia – lợi buông võ khí, hay tệ hơn nữa, ngã theo phe địch. Và nếu như vậy, chúng tôi mất luôn Budapest, giao điểm của tất cả các ngõ giao thông của chúng tôi ... tai hại không thể tưởng tượng được. Miễn là tôi hành động đúng lúc!
    Đột nhiên, tôi nghĩ đến các máy lượn mà Fuhrer đặt dưới quyền sử dụng của tôi. Có cả hai tiểu đoàn dù nữa. Trong thực tế - làm sao mà quí ông trong Bộ Tổng Tham Mưu lại có thể tưởng tượng đến việc dùng quân nhẩy dù đánh Mont du Château mà lại không nói gì đến kế hoạch hạ cánh các phi cơ xuống đỉnh đồi! Tôi biết Budapest rất rõ, địa điểm duy nhất có thể bất đắc dĩ đổ quân dù, là một cánh đồng lớn không hiểu sao lại có tên "cánh đồng máu". Thế nhưng, nếu người Hung phản bội, chúng tôi sẽ lâm nguy, trước khi kịp tập họp thì đã hứng trọn hỏa lực tập trung từ trên đồi kế đó và từ các ngôi nhà trước bãi đáp quét sạch. Tuy nhiên cũng rất có thể là một vài đơn vị xung kích đổ bộ xuống được ... vậy đến lúc đó hẳn biết.
    Đúng giờ đã định, tôi đến Oranienbourg và gặp Foelkersam đang đợi đó. Anh ta báo cáo đại đội đầu tiên đã lên đường đi Vienne, địa điểm hẹn gặp của tất cả các đơn vị do tôi chỉ huy. Chúng tôi lái xe như bay về Friedenthal, để lấy vật dụng cần thiết, rồi có thêm Radl và Ostafed, chúng tôi bay đến thủ đô Áo quốc. Trong số hành lý chúng tôi có mang theo một thùng mìn, kiểu mới được phòng thí nghiệm quân đội sáng chế. Số lượng hành lý của chúng tôi không có gì cồng kềnh lắm nếu đừng nghĩ đến việc có thể gặp một phi cơ địch – chuyện này rất có thể bởi vì phi cơ săn giặc Đồng minh đã có mặt thường xuyên trên không phận Đức quốc rồi – chỉ một viên đạn trúng thùng mìn, tất cả sẽ nổ tung! Thật ra, vì quá bận rộn với kế hoạch, chúng tôi cũng không nghĩ đến điều đó nữa. Tất cả chúng tôi đều đồng ý là phải cơ giới hóa tất cả các đơn vị. Viễn cảnh đấu khẩu với các cơ quan cấp xe lại xuất hiện. Chúng tôi biết việc tìm kiếm xe cộ lúc này có kết quả đến mức nào. Mặt trận Miền Đông và cả Miền Tây nữa, đã hủy diệt biết bao nhiêu là xe cộ đến nỗi không một cơ xưởng nào dù lớn nhất hoàn vũ, có thể sản xuất kịp để trám vào chỗ trống.
    Tuy vậy, tại Vienne, chúng tôi chỉ mất có ba ngày là san bằng được hết mọi trở ngại. Tại Wiener Neustadt tôi đã duyệt qua tiểu đoàn bộ binh gồm 1.000 chuẩn úy – một sự chọn lựa tuyệt vời gồm toàn các thanh niên khỏe mạnh có tinh thần chiến đấu đáng chú ý đặc biệt. Tiểu đoàn dù của không quân đã đến Vienne, cùng lúc đó tiểu đoàn dù SS cũng đã từ mặt trận miền Đông trở về. Đơn vị trước ở trong tình trạng tốt đẹp, các sĩ quan đầy phong độ, trong khi quân dù SS, có vẻ bê bết hơn, tiếp theo sau các trận đụng độ gay go từ nhiều tuần lễ trước. Vả lại, đây cũng chính là tiểu đoàn đã tham dự vào cuộc hành quân bắt Tito vào tháng 6 năm 1944.
    Ngay sau khi giải quyết xong các vấn đề do sự cơ giới hóa và trang cụ cho các đơn vị, tôi khởi hành đi Budapest, có Radl tháp tùng. Thật vậy, đây là lúc tôi cần phải biết tại chỗ, diễn biến của tình hình. Xử dụng một thông hành mang tên "bác sĩ Wolff", mặc một bộ thường phục cắt thật đẹp, tôi đến thủ đô Hung – gia – lợi và tìm đến nhà một nhân vật M.X. nào đó mà một người bạn chung đã ân cần giới thiệu với tôi. Ông nầy đã tiếp đón tôi vô cùng vồn vã và tỏ ra hiếu khách với truyền thống tốt đẹp của dân Magyare (1). Thậm chí ông còn dọn đi ở chỗ khác để tôi được hoàn toàn tự do xử dụng nhà ông kể cả người bồi phòng và bà đầu bếp. Tôi phải hổ thẹn nhìn nhận rằng suốt đời tôi, thời gian sống sung sướng nhất là tuần lễ đó – và là ba tuần lễ sống sung sướng trong năm thứ năm của cuộc chiến! Ông chủ nhà còn rất phật ý nếu tôi ăn uống khiêm nhượng quá.
    Giữa lúc đó, cấp chỉ huy trực tiếp của tôi, Tướng N. cũng đã đến Budapest. Trước hết, ông ráng lập một Bộ Tham mưu có khả năng để làm việc. Vì thiếu sĩ quan nên tôi cho mượn Foelkersam và Ostafel để sẵn sàng đương đầu với mọi chuyện sắp xẩy ra, chúng tôi thiết lập một kế hoạch báo động cho toàn thể các đơn vị Đức đóng trong và chung quanh Budapest, mục đích của kế hoạch là trong trường hợp có xung đột, các đơn vị của chúng tôi phải chiếm giữ các thiết lộ, nhà ga trung tâm điện thoại và điện tín.
    Cơ quan tình báo của chúng tôi đã khám phá rằng con của Nhiếp chính vương là Nicklas Von Horthy, vừa mới mở cuộc tiếp xúc – lẽ tất nhiên là tối mật – với đại diện của Tito. Rõ ràng là người Hung đang tìm cách, nhờ trung gian các đảng viên cộng sản Nam – Tư, tiếp xúc với Nga sô để thương thảo một nền hòa bình riêng. Một lần nữa, tin tức của Tổng hành dinh của Fuhrer tỏ ra rất chính xác. Trong một cuộc thảo luận với các Chỉ huy trưởng Tình báo, chúng tôi quyết theo dõi sát hành động của Nicky Horthy, bằng cách gài một người của chúng tôi vào làm việc gần hắn ta. Thật vậy, một người gốc dân Croate, được đặt đúng chỗ trong guồng máy chính quyền, đã mau lẹ lấy được lòng tin cẩn của người Nam – Tư cũng như Nicky Horthy. Nhờ vậy, chúng tôi biết rằng chính viên Nhiếp chính sẽ tham dự một cuộc họp đêm với những người dự mưu trong một ngày rất gần. Đây là một tin tức không mấy tốt đẹp đối với chúng tôi bởi vì chúng tôi không mong ngay chính vị Quốc Trưởng lại thông đồng với sự việc. Tôi để cho cơ quan tình báo và cảnh sát tìm cách đối phó, phần tôi, tôi có chuyện khác phải làm.
    Mỗi lần xe tôi leo dốc để lên đồi Mont du Château – tôi đến thăm khi thì sĩ quan tùy viên quân sự - khi thì ông Đại sứ hoặc khi thì Tướng lãnh Chỉ huy Quân đội Đức – nỗi âu lo của tôi lại tăng thêm, bởi vì, một khi tình hình đòi hỏi, tôi không biết làm cách nào có thể chiếm ngọn đồi thật cao và được cấu tạo như một pháo đài thiên nhiên này. Mặc dù lệnh của Fuhrer không được rõ, để ngăn cản sự phản bội của người Hung – gia – lợi, tôi thấy không thể nào dùng lực lượng quân sự tấn công vào khu vực chính phủ và vào lâu đài, một hành động được phát khởi tự động ngay khi có dấu hiệu đầu tiên cho thấy sự thù nghịch của các nhân vật Magyare đối với Đức quốc.
    Tôi bèn giao cho Foelkersam nghiên cứu tỉ mỉ các bản đồ thành phố có trong tay, và bổ túc bằng các sự hiểu biết lý thuyết của anh ta sau nhiều lần dò xét liên tục các con đường trong khu vực được chú trọng. Công việc này đã mang lại cho chúng tôi đủ loại ngạc nhiên: Dưới chân đồi Mont du Château, có cả một hệ thống đường hầm hành lang và giếng nước chằng chịt như mê hồn trận, và sự kiện này cũng không giúp ích gì cho chúng tôi thêm khi cần hành động. Vì lẽ dựa theo hệ thống báo động đã được thiết lập, tôi có nhiệm vụ chiếm ngọn đồi với các đơn vị cơ hữu, tôi cho gọi 3 tiểu đoàn của tôi đến Budapest. Họ rời Vienne vào đầu tháng 10 và đóng quân ở ngoại ô Budapest.
    Trong thời gian đó, Tổng Hành Dinh của Fuhrer lại gửi đến một ông Obergruppen-fuhrer SS – một loại Thiếu Tướng – tên Bach-Zelewski với nhiệm vụ chỉ huy toàn thể quân Đức tại Budapest. Đó là một cấp chỉ huy mạnh về phương diện tàn bạo – ông lại còn tượng trưng cho người có bàn tay sắt và là chuyên viên trong những vụ cực kỳ khó khăn. Ông từ Varsovie đến sau khi dẹp tan vụ quân Ba-Lan nổi loạn trong nội bộ. Lập tức ông tuyên bố quyết tâm chứng tỏ, nếu cần, thái độ tàn nhẫn như vừa được chứng tỏ tại thủ đô Ba-Lan. Ông còn nói thêm là chính với ý định đó mà ông cho mang theo một khẩu súng cối 65 ly. Cho đến lúc đó, khẩu súng quỉ quái này chỉ được sử dụng có hai lần; một lần để triệt hạ toàn diện chiến lũy hình con trốt chung quanh thành Sébastopol, và lần thứ hai, trong các trận mới đây tại Varsovie. Đối với tôi, sự tàn bạo quá mức như vậy là thừa ... tôi không dấu quan điểm đó, theo ý tôi, chúng tôi có thể đạt mục tiêu nhanh chóng hơn và hữu hiệu hơn bằng cách vận dụng các phương thức lịch sự hơn. Chiến dịch được hoạch định – mang tên chiến dịch Bazooka – sẽ thành công mà không cần đến khẩu đại pháo đó.
    Ngược lại, một vài sĩ quan rất thán phục cung cách cộc cằn và dữ dội của Bach-Zelewski – có lẽ ông ta đã làm cho họ trở nên rụt rè. Tuy nhiên, không bao giờ tôi tỏ ra khó chịu vì các tiếng la hét, đập bàn của ông ta, và khi dốc toàn lực để bênh vực quan điểm của mình, cuối cùng bao giờ tôi cũng thắng.
    Khốn nỗi, không phải chính tôi là người chủ động tất cả mọi hành động. Khác với tình trạng xảy ra tại Ý, nơi đó, tôi chỉ phúc trình cho Đại tướng Student và trong thực tế, gần như tôi được độc lập hoàn toàn trong việc chuẩn bị cho chiến dịch, hiện nay, tôi phải dự vô số các phiên họp và phải lưu tâm đến đủ thứ vấn đề liên hệ đến các thừa số cá nhân. Cách nhìn của Tướng N. không hoàn toàn phù hợp với ông Đại sứ và quan điểm của ông này cũng không nhất thiết giống ông Tướng Cảnh sát Winkelmann. Các cơ quan tình báo và một vài nhân vật Hung-gia-lợi tham dự các cuộc bàn cãi, một đôi khi cũng thêm mắm thêm muối vào câu chuyện. Tôi thật rất bằng lòng là khỏi bị đóng vai trò phối hợp các quan điểm đó. Nhưng tôi vẫn không hiểu tại sao chúng tôi lại đem thảo luận kế hoạch trước cả 15 hay 20 sĩ quan? Thế nào chính quyền Hung-gia-lợi cũng đã nghe nói đến các phiên họp này, rồi đoán già đoán non các âm mưu; do đó, lấy các quyết định hấp tấp. Mối lo sợ này rất đúng vì chúng tôi được biết Tướng M. tư lệnh tối cao quân đội Hung ở Carpathes đã điều đình thẳng với người Nga rồi.
    Ngày 10 tháng 10 năm 1944, Nicklas Horthy đã họp đêm với các đại biểu Nam Tư. Mặc dù được báo trước, cảnh sát Đức vẫn không hành động gì. Một cuộc tiếp xúc khác còn được dự liệu tổ chức ngày 15 tháng 10 tại một ngôi nhà đồ sộ gần bờ sông Danube. Hiện tại, đã đến lúc phải hành động! Ngày 13 tháng 10, Tổng Hành Dinh của Fuhrer lại gởi Tướng Wenck đến với nhiệm vụ là chỉ huy toàn thể quân lực nếu có lộn xộn, và sẽ ban hành các quyết định tuỳ theo diễn tiến của tình hình. Lần này cảnh sát quyết định bắt con của Horthy và những người Nam Tư. Kế hoạch dự liệu các hành động của cảnh sát, đã dựa trên mối hy vọng rằng viên Nhiếp chính lo âu muốn tránh cho cậu con khỏi bị kết tội, sẽ từ bỏ ý định ký kết hoà bình riêng rẽ với kẻ thù. Tướng Winkelmann, Chỉ Huy trưởng Cảnh sát, mượn tôi một đại đội trong buổi sáng ngày 15 tháng 10, vì ông biết rằng cuộc tiếp xúc đầu tiên của Nicklas Horthy đã diễn tiến dưới sự bảo vệ của một phân đội quân lực Hung-gia-lợi. Lần này, chắc người Hung cũng sẽ thận trọng tương tự, và đại đội của tôi có nhiệm vụ vô hiệu hoá hoàn toàn quân Magyare. Tôi nhận lời giúp với điều kiện là chính tôi quyết định lúc nào phải can thiệp.
    Chúa nhật 15 tháng 10 năm 1944, mặt trời chói lọi chiếu sáng bầu trời trong vắt. Vào lúc 10 giờ sáng - giờ họ hẹn gặp - đường phố còn vắng vẻ. Đại đội của tôi ẩn trong một con đường yên tĩnh không sợ gây chú ý. Đại uý Foelkersam giữ liên lạc giữa tôi và đơn vị. Bởi vì hôm đó tôi không thể xuất hiện với quân phục. Nếu muốn tham dự vào các biến cố đang xẩy ra, tôi phải mặc thường phục. Tài xế và một hạ sĩ quan của tôi mặc quân phục không quân, ngồi nghỉ ngơi trên một ghế dài nơi công viên chiếm hết cả mặt tiền của toà nhà. Phần tôi, tự lái xe đến địa điểm vài phút sau khi cuộc nói chuyện của họ bắt đầu. Vừa đến đầu công viên, tôi thấy ngay trước cửa toà nhà có một quân xa của Quân lực Hung và một xe dân sự, có lẽ là xe của Horthy con. Không ngần ngừ, tôi đậu xe ngay trước mũi hai chiếc xe của người Hung, đầu xe tôi châu sát vào đầu xe của họ để ngăn cản không cho xe họ vọt chạy bất thình lình.
    Đêm trước, nhiều cảnh sát Đức đã chiếm các căn phòng ký túc xá ngay bên trên các gian hàng thương mại được dùng làm nơi hội họp. Mặt khác, hai cảnh sát viên khác đúng 10 giờ 15 phải đi vào toà nhà để thi hành việc bắt bớ. Trong chiếc xe của Quân lực Hung có ba sĩ quan Hung, trong khi đó hai người khác đang đi lui tới trên công viên. Mọi diễn viên đều đã có mặt tại chỗ - màn thứ nhất bắt đầu!
    Tôi vừa xuống xe và làm như đang tìm xem nguyên nhân khiến xe bị hỏng máy, thì hai cảnh sát viên Đức xuất hiện. Đúng lúc người thứ nhất bước qua ngưỡng cửa vào toà nhà, một tràng tiểu liên từ chiếc xe của Quân lực Hung bắn ra và trúng người cảnh sát viên thứ nhì. Bị thương nặng ở bụng, anh ta lăn về phía tôi. Hai sĩ quan Hung đang đi dạo chạy đến, súng lục cầm tay, bắt đầu nhả đạn. Tôi chỉ kịp chạy ra nấp sau xe, một lát sau, một tràng tiểu liên thứ hai nhắm bắn vào cánh cửa chiếc Mercédès còn mở của tôi. Hiện tại diễn biến đã đến hồi sôi nổi. Người tài xế và viên hạ sĩ quan đã nhào tới, khi loạt đạn đầu tiên nổ, để che chở tôi, tài xế bị một viên vào đùi nhưng anh ta còn đứng vững. Bằng một tiếng còi, tôi báo hiệu cho đại đội bắt đầu hành sự và với các khẩu súng lục, chúng tôi cố sức trả đũa các khẩu tiểu liên. Tình thế của chúng tôi không có vẻ gì là trò đùa cả, chiếc xe của tôi dần dần biến thành một cái rổ. Chung quanh chúng tôi đạn dội trên lề đường và phát ra tiếng rít bên tai chúng tôi. Thỉnh thoảng chúng tôi nhô đầu lên một giây để ngắm kỹ, ít ra là cũng gần mục tiêu để giữ cho địch không tiến tới sát quá – nói như vậy chứ khoảng cách hiện tại giữa chúng tôi và địch quân chỉ có từ 10 đến 15 thước. May thay trận chiến bất bình đẳng này chỉ kéo dài có 3 hay 4 phút. Rồi tôi nghe tiếng bước chân của đại đội binh sĩ của tôi đằng sau lưng. Tiểu đội đầu tiên đã đến đầu công trường và lập tức bố trí ở góc đường. Những toán khác chiếm giữ mau lẹ toàn thể công trường và các ngôi nhà kế cận. Sau vài cuộc trao đổi hoả lực đầu tiên, địch quân rút về phía vòm cửa của ngôi nhà kế cận, trong đó hình như có một số quân trừ bị Hung-gia-lợi. Ngay khi cơn đọ súng chấm dứt, chúng tôi kéo hai người bị thương vào tầng thứ nhất của toà nhà, nơi đang có cuộc thương thuyết giữa Nicky Horthy và những người Nam-Tư. Vừa chạy vào chỗ nấp, chúng tôi biết là đối thủ đang sửa soạn đánh mở đường thoát ra ngoài. Chúng tôi phản ứng thật nhanh: một quả lựu đạn được ném một cách khéo léo đã làm bật tung hai cánh cửa và vài tảng đá cẩm thạch, khiến cho cả một đống hỗn độn đó bít mất lối ra. Tiếng nổ này làm chấm dứt cuộc nổ súng kéo dài chỉ có hơn 5 phút.
    Hiện tại, các cảnh sát Đức từ lầu một đi xuống áp tải theo bốn tù nhân. Chúng tôi đưa hai người Hung – Nicklas Horthy và bạn của hắn ta, Bornemisza – lên một quân xa; để khỏi bị chú ý, các cảnh sát viên đã nghĩ ra cách gói hai tù nhân bằng hai tấm thảm lớn, theo chỗ tôi thấy thì mưu kế này không mấy thành công. Hai kẻ âm mưu vùng vẫy dữ dội, các cảnh sát viên phải nặng tay đưa họ lên xe và nổ máy khởi hành tức khắc. Tôi ra lệnh cho đại đội rút lui. Thật vậy, tôi cố tránh các rắc rối mới có thể xảy ra nếu quân Hung sau khi lấy lại được bình tĩnh, tập trung lại để tấn công chúng tôi.
    Linh tính thúc đẩy tôi đi theo chiếc quân xa bằng một chiếc xe khác do Foelkersam phái đến. Cách công trường chừng 100 thước, tôi thấy ba đại đội Quân lực Hung tiến tới gần như bằng cách chạy việt dã. Nếu toán quân này tới công trường, chắc lại có cuộc chạm súng mới - biến cố mà chúng tôi không muốn để xảy ra. Phải làm sao đây? Làm sao kiếm được vài phút để cho binh sĩ của tôi có thì giờ rút lui? Chỉ có một trò bịp táo bạo mới giúp chúng tôi khỏi bị rắc rối. Tôi ra lệnh tài xế ngừng xe lại, nhảy xuống xe và tiến mau đến gặp viên sĩ quan, mà do vị thế đi trước đại đội đầu tiên, chắc phải là cấp chỉ huy của đoàn quân.
    - Bảo binh sĩ của anh đợi đi – trên kia lộn xộn không thể tả. Lên đó chắc không gặp được ai đâu. Hãy ở nguyên tại chỗ, theo tôi anh nên đến đó trước coi chuyện gì đang xảy ra.
    Trò bịp thành công. May thay anh ta nói được đôi chút tiếng Đức. Anh ta ra lệnh “Dừng lại” và nhìn tôi với vẻ phân vân thấy rõ. Có thể là anh ta chẳng hiểu gì cả, nhưng tôi bất cần. Điều quan trọng đối với tôi lúc ấy là một sự trì hoãn ngắn ngủi. Hiện tại chắc binh sĩ của tôi đã lên xe rồi. Một phút nữa, họ sẽ di chuyển. Tôi phán cho viên sĩ quan hãy còn do dự một câu “Tôi bận lắm” rồi tiến về phía xe và chạy về khu vực phi trường. Khi đến nơi, hai tù nhân của chúng tôi đã được đưa vào phi cơ, một lát sau, phi cơ cất cánh bay về Vienne.
    Tôi bèn đến Bộ Tham mưu Quân đoàn đóng trong một khách sạn dựng trên đỉnh của một trong vô số ngọn đồi tại Budapest. Tướng Wench tiếp tôi ngay, và chúng tôi nôn nóng pha lẫn tò mò chờ đợi các biến cố. Chúng tôi biết rằng trên đồi Mout du Château người Hung đã cho áp dụng một vài biện pháp quân sự. Trại binh đã được tăng cường, các con đường chính dẫn lên đồi hình như đã được ngăn chặn bằng mìn chôn dưới đất. Đến trưa, chúng tôi được toà Đại sứ toạ lạc trên đồi gọi điện thoại. Tuỳ viên quân sự của chúng tôi cho biết rằng toàn diện khu vực trên đồi chính thức bị đặt trong tình trạng giới nghiêm, và tất cả mọi sự di chuyển trên các lối dẫn lên đồi đều bị cấm chỉ. Cách vài phút trước, ông ta thử dùng xe xuống đồi nhưng đâu đâu cũng gặp các trạm gác và quân Hung yêu cầu ông trở lui ngay. Một lát sau, liên lạc điện thoại bị cắt đứt – chúng tôi đoán như vậy bởi vì chúng tôi không được gọi một lần nào nữa. Như vậy là các cơ sở Đức còn ở trên đồi thật sự đã bị cô lập.
    Điều này rõ ràng là đã cấu thành “hành vi bất thân thiện” đầu tiên, như ngôn ngữ ngoại giao vẫn thường nói. Chúng tôi tự hỏi không biết còn hành động nào trầm trọng sắp xảy ra không. Không còn gì nghi ngờ nữa, tình hình hiện tại không thể kéo dài mãi, trong hai hay ba giờ nữa, quyết định sau cùng sẽ đến hoặc theo chiều hướng này hay chiều hướng kia. Hiện tại chúng tôi chỉ có thể chờ đợi, đối phương vẫn giữ thế chủ động. Vào lúc 14 giờ sự ngờ vực đã bị tàn bạo đánh tan bởi một bản tuyên bố của Horthy được đài phát thanh Hung loan đi.
    “Hung-gia-lợi vừa ký kết hiệp ước hoà bình riêng rẽ với Nga sô!”
    Lúc này, ngọn lao đã phóng đi. Tình hình đã rõ rệt, chúng tôi phải phát động các “phản biện pháp” đã dự liệu ngay. Ông Tướng lập tức ra lệnh bố trí các đơn vị theo kế hoạch báo động đã được chuẩn bị trước, trong thành phố Budapest.
    Cùng lúc đó, ông yêu cầu tôi khởi động cuộc tấn công lên đồi Mont du Château. Tôi ước tính rằng, chưa phải lúc thuận tiện và khuyên ông chờ thêm vài ngày nữa. Để đối phó với quân Hung, tôi đề nghị vận dụng các đơn vị Đức, thiết lập một vòng đai bên ngoài bao quanh đồi. Sư đoàn 22 SS sẽ phụ trách công tác này. Việc chiếm các nhà ga và các công ốc quan trọng nhất đã được thực hiện êm đẹp mà không gây ra một hậu quả nào trong suốt buổi chiều.
    Mặt khác, chúng tôi gởi gấp một tướng lãnh đến Bộ Tư lệnh Tối cao Hung-gia-lợi tại mặt trận Carpathes, nếu tình thế bắt buộc, ông ta có nhiệm vụ phải bắt giữ ông Tướng Hung, Tư lệnh đạo quân này. Nhưng, vị Tướng lãnh phái viên của chúng tôi đến quá chậm. Viên Tướng Hung, cùng với vài sĩ quan và thư ký đã chạy trốn qua hàng ngũ quân Nga sô. Chúng tôi rất ngạc nhiên thấy bản tuyên cáo thoả hiệp hoà bình riêng với Nga lẫn cuộc chạy trốn của viên Tư lệnh đã không tạo ảnh hưởng nào đối với thái độ của binh sĩ Hung-gia-lợi. Gần như khắp nơi, các đơn vị Hung vẫn giữ nguyên vị trí. Đại đa số các sĩ quan từ chối bắt chước Tư lệnh của họ. Ở lại bên cạnh binh sĩ, họ tiếp tục chiến đấu. Tuy nhiên, chúng tôi phải hành động thật nhanh để ngăn không cho Bộ Tổng Tham mưu Quân lực Hung, trụ sở ở sát lâu đài, ban ra các mệnh lệnh đầu hàng mới nữa.
    Trong một phiên họp vào buổi chiều, chúng tôi quyết định sẽ tấn công lên đồi vào sáng ngày hôm sau. Tôi định giờ H là 6 giờ, nghĩa là lúc rạng đông, vì tôi cho rằng đó là lúc thuận tiện nhất để tạo tình trạng bất ngờ toàn diện - một yếu tố chủ yếu, nếu tôi không muốn dàn trận đánh nhau. Suốt đêm tôi và Foelkersam nghiên cứu lại bản đồ khu đồi. Dần dần, kế hoạch của chúng tôi được chính xác hoá. Chúng tôi dự trù một cuộc tấn công tập trung, gồm nhiều đơn vị tham dự. Trong khi họ xung phong, tôi sẽ tìm cách chọc thẳng vào trung tâm, dọc theo đại lộ Vienne. Chính tại đó, tôi hy vọng tạo được sự bất ngờ vì tôi tin rằng sẽ chiếm được cổng thành Vienne mà không cần nổ súng, càng yên lặng càng tốt, để có thể đột ngột xuất hiện cùng với binh sĩ của tôi trước công viên của lâu đài.
    Sau đó là phải thu đạt được kết quả sau cùng thật nhanh. Chúng tôi phải xâm nhập tức khắc và lâu đài có lẽ sẽ là trung tâm đề kháng, hành động chỉ kéo dài nhiều lắm là vài phút, nhờ đó tránh cho phía Hung cũng như phía chúng tôi cuộc đổ máu vô ích.
    Vì vậy, chúng tôi giao cho mỗi đơn vị một nhiệm vụ chính xác, chúng tôi lại vừa được tăng cường một đại đội chiến xa Panthère và một đại đội chiến xa Goliath. Loại sau là một chiến cụ mới, xe bọc thép, điều khiển từ xa, chạy bằng xích, rất thấp và dễ điều khiển và phía trước mũi có chứa một khối chất nổ cực mạnh vì thế nó còn có tên là thiết giáp lùn, chắc chúng tôi phải dùng loại này để phá các chướng ngại vật cản đường hay tung các cửa chắn lối tiến quân.
    Tiểu đoàn sinh viên sĩ quan của Trường Chiến tranh sẽ tấn công khu vườn nằm trên sườn mạn nam. Nhiệm vụ khó khăn vì chúng tôi biết nơi sườn đồi rất dốc này, quân Hung thiết trí rất nhiều ổ đại liên. Nhiệm vụ của tiểu đoàn là vô hiệu hoá địch và chiếm phần phía Nam của Lâu Đài.
    Một bộ phận thuộc đơn vị đặc biệt của tôi có một chiến xa yểm trợ, sẽ tấn công mặt tây của bức tường để chiếm một cánh cửa hông của Lâu Đài. Một đơn vị thuộc tiểu đoàn dù 600 SS, sẽ chui qua đường hầm đào dưới chân cầu treo thâm nhập vào trong lòng ngọn đồi. Đơn vị này phải chiếm các lối vào chằng chịt dưới đất và đột nhập vào các toà nhà dùng làm trụ sở của Bộ Chiến tranh và Bộ Nội vụ.
    Phần còn lại của đơn vị đặc biệt, đa số tiểu đoàn dù SS, 4 chiến xa Panthère và các thiết giáp lùn Goliath, sẽ do tôi chỉ huy để đánh thốc vào cổng thành Vienne và Lâu Đài. Riêng tiểu đoàn dù của không quân, được giữ làm đơn vị trừ bị, đề phòng các diễn biến rắc rối bất khả dự trù.
    Vào nửa đêm, khi ấn định các chi tiết cho mỗi một hành động, các đơn vị của tôi đã bố trí sẵn sàng sau vòng đai do sư đoàn 22 SS thiết lập.
    Một lát sau, một sĩ quan cao cấp của Bộ Chiến tranh Hung-gia-lợi tìm đến Bộ Tham mưu của quân đoàn chúng tôi. Ông ta đi thẳng từ đồi Mont du Château bằng một con đường bí mật để nhân danh Bộ này mở cuộc thương thuyết với chúng tôi. Chúng tôi bảo rằng không có lý do gì để bắt đầu thương thuyết khi viên Nhiếp chính chưa huỷ bỏ tuyên cáo ký kết hoà bình riêng rẽ với Nga sô. Mặt khác chúng tôi nhấn mạnh rằng việc cô lập hoá, nếu không nói là việc giam giữ nhân viên toà Đại sứ rõ ràng là một hành vi bất thân thiện. Do khuyến cáo của tôi, phía chúng tôi quyết định dành cho Quốc hội Hung-gia-lợi một thời gian để lập lại tình trạng bình thường hơn. Với ngôn ngữ của một tối hậu thư, chúng tôi bắt buộc đến 6 giờ sáng là chậm nhất, tất cả mìn và cổng chặn ngăn cản lưu thông trên con đường Vienne - nơi tòa Đại sứ tọa lạc - phải được gỡ bỏ. Làm như vậy, chúng tôi có cơ hội bằng vàng để tấn công Lâu đài một cách chớp nhoáng với tổn thất tối thiểu.
    Thái độ của ông khách hình như cũng phản ánh thái độ của đa số đồng sự trong Bộ Chiến tranh Hung, ông ta tỏ vẻ lo âu trước sự trở mặt phản phúc của Hung-gia-lợi đối với Đức quốc. Cuộc tiếp xúc giữa chúng tôi kéo dài chừng 2 giờ trong vòng thân mật, rồi ông ta xin cáo biệt.
    Đến 3 giờ sáng, tôi đến vị trí tiến quân dưới chân đồi gần địa điểm điều quân. Cho tập họp các sĩ quan, tôi trải bản đồ, và dưới ánh sáng yếu ớt của các đèn bấm, vừa nhấm nháp ly cà phê mà người cận vệ mới đưa cho, tôi giải thích và xác định các chi tiết cuối cùng. Kế hoạch hành động đã sẵn sàng. Tôi sẽ cùng đơn vị, thử tiến lên đồi một cách êm lặng cho đến tận Lâu Đài, làm như “cuộc du ngoạn” này là chuyện tự nhiên nhaất trần đời. Các đơn vị phải ngồi nguyên trên xe, làm ra vẻ chỉ chuyển quân đi ngang qua các con đường một cách tình cờ. Tôi biết rằng hành động như vậy, tôi gặp phải nguy hiểm bởi vì nếu các xe bị đánh, binh sĩ không trở tay kịp. Nhưng tôi phải chấp nhận mối đe dọa đó nếu muốn đến Lâu Đài thật nhanh mà khỏi phải đánh nhau.
    Tôi thông báo kế hoạch cho sĩ quan chỉ huy các cánh quân và dặn dò thật kỹ là cho lệnh khai hỏa khi tình hình nguy cấp đến mức chót. Họ cũng khôg được trả đũa các cuộc tấn công của những toán địch quân lẻ tẻ, mục đích là phải đưa được đoàn xe vào các vị trí chiến đấu đã được chỉ định mà không cần nổ súng. “Người Hung không phải là kẻ thù của ta”, đó là khẩu hiệu, ít ra cũng là trong lúc này.
    Sau đó, tôi ấn định thứ tự di chuyển của cánh quân do tôi chỉ huy, đi đầu là chiếc xe nhỏ có tôi trên đó, liền sau xe tôi là bốn chiến xa, rồi đến toán xe Goliath, sau cùng là binh sĩ, mỗi tiểu đội ngồi trên một xe. Tất cả vũ khí cá nhân đều được khóa an toàn. Phần đông binh sĩ của tôi, những quân nhân già kinh nghiệm, không phải là lần đầu tham dự một chiến dịch kiểu này, đã lợi dụng cả những phút còn lại trước khi khởi hành để tiếp tục giấc ngủ. Ngay khi vượt qua cổng thành Vienne, đến khu bằng phẳng trên đỉnh đồi, cánh quân sẽ chia làm hai và xông thật nhanh đến Lâu Đài.
    5 giờ 30 - 5 giờ 40, trong xe đầu tiên có năm quân nhân, bạn chiến đấu vong niên của tôi, năm Hạ sĩ quan từng tham dự vào vụ Gran Sasso. Mỗi người mang một súng lục và nhiều lựu đạn ở hông và cầm tay một khí giới chống chiến xa mới, khẩu “Bazooka”. Chúng tôi rất tò mò muốn thấy thái độ của quân Hung trên đồi sẽ như thế nào. Nếu cần chúng tôi sẽ bắt họ im lặng hoặc bằng các quả đạn từ các chiến xa, hoặc bằng các khẩu bazooka này.
    Một lần nữa, tôi nhìn đồng hồ tay: 5 giờ 59. Cánh tay mặt tôi xoay vòng làm hiệu: nổ máy xe. Rồi đứng trên chiếc xe nhỏ, tôi đưa thẳng tay lên nhiều lần: Tiến! Chúng tôi lăn bánh từ từ, vì dốc đồi rất nghiêng. Miễn là không có chiếc nào cán phải mìn, con đường sẽ bị cản trở và như thế là làm cho kế hoạch của tôi đến phút chót, bị tan tành. Như do linh tính, tôi nghiêng tai lo âu nghe ngóng phía sau, tốt đẹp cả, không có tiếng nổ nào cắt đứt tiếng động cơ xe. Đây rồi, cổng thành Vienne. Giữa rào cản có một lối đi, vài binh sĩ Hung nhìn chúng tôi với vẻ tò mò thấy rõ. Một phút sau, chúng tôi đến khu vực bằng phẳng trên đỉnh đồi. Hạ thấp giọng, tôi ra lệnh cho tài xế từ từ nhấn mạnh ga.
    Bên phải tôi là một trại binh Hung, trước cổng có hai đại liên đặt sau hai đống bao cát.
    - Bị bắn bên hông là chuyện không hay tí nào. - Foelkersam thì thầm bên tai tôi.
    May thay, cả bên trong, lẫn trước trại binh chẳng ai động dụng gì cả, chỉ có tiếng chiến xa của chúng tôi là nghe rõ mồn một. Tôi đi vào lối bên phải, tức là phía tòa Đại sứ, hiện tại, đoàn xe di chuyển với tốc độ khá nhanh, sau tôi, một chiến xa xả tốc lực đến 40 cây số/giờ tạo nên tiếng động như sấm. Còn 1 cây số nữa là đến Lâu Đài. Phần đầu của kế hoạch đã thành công hoàn toàn, chúng tôi đã lên đến đỉnh đồi mà không một tiếng súng nổ. Bên trái tôi, tòa nhà vĩ đại của Bộ Chiến tranh đã xuất hiện. Xa xa, một, hai, ba tiếng nổ mạnh. Chắc chắn là cánh quân dưới hầm đã bít lối đi dưới hệ thống đường hầm chằng chịt. Giây phút quyết định sắp điểm. Chúng tôi vượt qua Bộ Chiến tranh, lúc này, công trường mênh mông của Lâu Đài trải rộng trước chúng tôi. Ba chiến xa lớn trấn giữ nơi đó, khi thấy chúng tôi xuất hiện, chúng hướng mũi súng lên trời tỏ dấu không chống cự. Trước cửa Lâu Đài, quân Hung xây một bức tường chắn bằng đá tảng cao nhiều thước. Xe tôi tránh tạt ngang và tôi ra hiệu bằng tay cho chiếc chiến xa đi kế ủi mạnh vào chướng ngại vật. Trong khi quái vật khổng lồ húc vào, chúng tôi nhảy xuống xe, bức tường chắn ngang không chịu nổi sức mạnh 30 tấn chạm vào nên đã đổ sụp, chiếc chiến xa tiến lên vượt qua đống đá, vào đến sân Lâu Đài - và đối diện với sáu súng chống chiến xa trước mặt.
    Chạy bên phải và bên trái các chiến xa Panthère, chúng tôi vượt qua rào cản bị sụp và tiến vào vòm cổng chính. Một Đại Tá phòng vệ Lâu Đài, súng lục cầm tay, cố ngăn chúng tôi lại, nhưng Foelkersam đã dùng vai hích ông ta dội lui. Bên phải chúng tôi hình như là lối chính đi vào Lâu đài. Chúng tôi nhào đến bậc cấp đầu tiên. Vừa thấy một sĩ quan hấp tấp chạy về phía chúng tôi, tôi hét:
    - Đưa tôi đến vị chỉ huy Lâu Đài ngay lập tức.
    Ngoan ngoãn, anh ta đưa tôi lên cầu thang danh dự rộng thênh thang. Đến tầng thứ nhất, chúng tôi đi vào một hành lang. Tôi ra hiệu cho một binh sĩ đứng lại ở đầu cầu thang để khi cần, che chở chúng tôi. Viên sĩ quan chỉ cho tôi cánh cửa đi vào một phòng nhỏ. Trên một bàn giấy đặt gần cửa sổ mở rộng, một binh sĩ Hung đang nằm sau một trung liên và vừa nhắm bắn vào quân tôi đang đứng dưới sân. Hạ sĩ quan Holzer, một quân nhân đầu trọc và mập ù, tiến tới nhắc khẩu trung liên ném qua cửa sổ. Xạ thủ kinh hoàng rơi xuống bàn và lăn quay xuống nền.
    Thấy bên phải có cánh cửa, tôi gõ mấy tiếng và bước vào. Một Trung Tướng tiến về phía tôi. Tôi không để cho ông ta kịp nói một lời nào.
    - Ông là Chỉ huy trưởng Lâu Đài? Tôi yêu cầu ông đầu hàng tức khắc. Nếu ông từ chối buông khí giới, máu sẽ đổ một cách vô ích và ông phải chịu trách nhiệm. Xin ông quyết định ngay.
    Tôi cần phải kết thúc nhanh, vì từ dưới công trường đã có tiếng súng và vài loạt đại liên. Tôi nhấn mạnh và cố gắng dùng giọng thuyết phục.
    - Ông đã thấy, mọi sự chống đối lúc này là điên rồ. Binh sĩ của tôi đã chiếm cả lâu đài.
    Đây không phải là một khẳng định vô bằng nhằm mục đích gây cho viên Tướng Hung sự kinh ngạc. Tôi tin chắc là đơn vị đặc biệt do Trung úy Hunke chỉ huy đã bình tĩnh chiếm giữ các điểm chiến lược trong tòa Lâu Đài mênh mông này. Thật vậy, viên Tướng Hung chưa kịp lấy lại bình tĩnh thì Hunke đã mở cửa phòng bước vào báo cáo rằng sân và các hành lang chính đã bị chiếm đóng mà không xảy ra giao tranh, và xin lệnh của tôi.
    Hiện tại, viên tướng lãnh đã có quyết định, tất nhiên là chẳng vui vẻ gì.
    - Tôi đầu hàng, - ông ta tuyên bố bằng một giọng nói long trọng. - Tôi sẽ ra lệnh cho binh sĩ thuộc quyền ngừng bắn ngay.
    Chúng tôi xiết tay nhau và thỏa thuận thông báo tin tức cho các đơn vị đôi bên còn đánh nhau bằng một sĩ quan Hung và một sĩ quan thuộc cánh quân của tôi. Trong khi viên Tướng Hung sắp xếp việc đầu hàng, tôi bước ra hành lang và đi một vòng để thanh sát tình hình. Tôi yêu cầu và được hai sĩ quan Hung-gia-lợi tháp tùng và làm sĩ quan liên lạc. Tôi ngạc nhiên khi thấy các phòng dành cho viên Nhiếp chính trống rỗng. Tôi được biết ngay là ông ta đã rời khỏi Lâu Đài vài phút trước 6 giờ để xin tướng SS Pleffer - Wildenbruch bảo vệ, còn gia đình ông ta thì đến xin tị nạn tại nhà vị đại diện Tòa thánh La-Mã từ đêm qua. Dầu sao, sự hiện diện của Đô Đốc Horthy tại Lâu Đài cũng không làm thay đổi được gì cả, kế hoạch của tôi không nhắm vào đích thân ông ta mà là khu vực cơ quan chính quyền Hung-gia-lợi.
    Khi ló đầu nhìn ra một cửa sổ, nhiều viên đạn rít bên tai tôi. Vội vàng tôi thối lui. Một lúc sau Hunke báo cáo là không thể nào mang lệnh ngưng bắn cho các đơn vị bố trí sau vườn của Lâu Đài hướng về bờ sông Danube. Tuy nhiên hai phát bazooka bắn đi từ trên Lâu Đài, đủ để cho quân Hung tại các nơi đó hiểu rằng tốt hơn là nên đầu hàng.
    Tổng quát chiến dịch kéo dài chừng nửa giờ, và bây giờ yên tĩnh trở lại trên toàn diện khu đồi. Dân chúng ở khu lân cận có thể yên tâm tiếp tục ngủ. Bằng điện thoại, tôi báo cáo kết quả thành công cho Bộ Tư Lệnh Quân đoàn và tôi nghe tiếng thở dài khoan khoái của viên sĩ quan bên kia đầu dây. Chắc chắn là quí ông này chỉ tin tưởng phần nào thôi về kế hoạch tấn công chớp nhoáng của tôi mà nền tảng là sự bất ngờ.
    Ít lâu sau, tôi nhận được báo cáo của hai toán quân chiếm Trụ sở của Bộ Tổng Tham Mưu Quân lực Hung - nơi đây có thể xẩy ra đụng độ ngắn - và Bộ Nội Vụ, cơ quan này đầu hàng tức khắc, và rồi báo cáo của các cánh quân khác. Tổn thất của chúng tôi rất nhẹ, bốn tử thương và mười hai bị thương. Trận đánh thật sự đã diễn ra trong vườn sau Lâu Đài. Phía Hung-gia-lợi tổn thất ba chết, mười lăm bị thương.
    Tất cả quân Hung đồn trú trên đồi phải nộp vũ khí và chúng được chất đống trong sân. Ngược lại tôi cho phép sĩ quan giữ lại vũ khí cá nhân. Rồi tôi yêu cầu họ cho tập họp trong một phòng lớn ở tầng dưới đất để ứng khẩu một bài diễn văn mà nội dung đại khái như sau:
    - Tôi cần lưu ý các anh là từ nhiều thế kỷ nay, không có cuộc xung đột nào làm sứt mẻ mối giao hảo tốt đẹp giữa Hung-gia-lợi và Đức-quốc, bao giờ hai dân tộc ta cũng chiến đấu cạnh nhau để chống kẻ thù chung. Ngay cả hôm nay nữa, chúng ta không có lý do gì để gây gổ nhau. Mục tiêu của cuộc chiến tranh hiện nay là để lập một Âu Châu mới, mà mục tiêu đó chỉ có thể đạt được nếu Đức-quốc thoát khỏi sự tàn phá do đối phương đe dọa.
    Giọng Áo của tôi đã làm nổi bật tính cách hòa hoãn và thân hữu của lời tôi nói, vì không có sĩ quan nào từ chối bắt tay tôi. Vào đầu buổi chiều, họ cùng với binh sĩ rút về các trại quân tại Budapest. Sáng hôm sau, tất cả đều đến trình diện Bộ Chiến tranh để thề trung thành với chính quyền mới.
    Theo lệnh, tôi và đơn vị vẫn chiếm Lâu Đài và cho canh giữ các điểm chính trên đồi. Thật ra, tôi không bao giờ tin rằng có một ngày nào đó tôi được bơm lên làm chủ nhân ông Biệt điện của Hoàng gia Hung-Gia-lợi. Người hầu phòng lớn tuổi của Nhiếp chính vương đã biểu diễn bộ mặt buồn rượi khiến cho Foelkersam không từ chối nổi ý định phải gọi một bữa ăn trưa đích đáng. Trong thực tế, chúng tôi đều đói meo. Bất mãn ra mặt, nhưng người hầu phòng già đời trong nghề sau cùng cũng dọn cho chúng tôi một bữa ăn chấp nhận được mặc dù rõ rệt là không ngon bổ bằng các lần hầu tiệc xa xưa trong Lâu Đài, vào thời đại Nữ hoàng Elisabeth của triều đình vương quốc Áo-Hung. Buổi tối, bữa ăn tập họp tất cả sĩ quan của tôi trong căn phòng ăn rộng lớn, chúng tôi cực kỳ vui vẻ và phấn khởi, nhất là các tin sau cùng từ mặt trận cho thấy tình hình có vẻ khá hơn. Vậy chúng tôi có thể vui vẻ ăn mừng chiến công của chúng tôi: nhờ chúng tôi mà tai họa thật sự đe dọa đạo quân Đức tại Hung đã tránh được vào phút chót.
    Sáng hôm sau, tân Bộ Trưởng Chiến tranh, Bereghfy đã tuyên bố nhân danh tân chính phủ cám ơn tôi. Tôi trả lời là đã rất sung sướng đạt được mục tiêu sau một cuộc đụng độ rất ngắn và nhất là đã có thể ngăn cản không gây sự thiệt hại nào cho tòa lâu đài đẹp đẽ. Thật vậy, tôi thật lo sợ khi nghĩ đến các đổ vỡ không sửa chữa được nếu như khẩu súng cối 65 ly của ông Tướng cục súc Bach-Zelewski được đem ra sử dụng. Chúng tôi cũng thỏa thuận làm lễ an táng chung cho các quân nhân Hung và Đức. Chính phủ Magyare đích thân đứng ra tổ chức với nghi lễ chính thức, như vậy vết tích sau cùng của một cuộc trả thù có thể xẩy ra chắc chắn đã được xóa sổ.
    Buổi tối, một mệnh lệnh từ Tổng Hành Dinh của Fuhrer giao cho tôi nhiệm vụ đưa Nhiếp chính vương Hung-gia-lợi đến lâu đài Hirshberg tại Haute-Bavière. Đô đốc Horthy phải được coi là khách của Fuhrer nên được sử dụng chiếc xe hỏa đặc biệt dành riêng. Lẽ tất nhiên tôi phải chịu trách nhiệm về sự an toàn của ông ta trong suốt lộ trình. Đến đây là chấm dứt cuộc sống vương giả của chúng tôi.
    Sáng hôm sau, Tướng Pleffer-Wildenbruch giới thiệu tôi một cách hết sức long trọng với Đô đốc Horthy. Sau vài phút nói chuyện mưa nắng, chúng tôi lên xe đến nhà ga. Các con đường vắng ngắt, những bộ hành hiếm hoi không thèm chú ý đến chúng tôi. Trước nhà ga, tuy vậy cũng có một đám đông tụ họp, nhưng chỉ có ít người trong số họ đưa tay phác một cử chỉ từ biệt sau cùng.
    Thật là một cuộc ra đi buồn thảm đối với ông già mà trong bao năm qua cầm vận mạng của Hung-gia-lợi.




    ---------------------------------------------------------------------- ----------



    (1) Một giống người ở Hung – gia – lợi.
    hết: Chương XIX

  • Út Mót

    khoảng 1 10 năm trước
  • Chương XX

    Tổng phản công tại Ardennes



    Ngày 20 tháng 10 năm 1944, tôi trở lại Tổng Hành Dinh của Fuhrer, hiện đang ở gần mặt trận kinh khủng bởi vì quân Nga đã vào thật sâu trong vùng Đông Phổ. Lần này Hitler chỉ tiếp có mình tôi. Như thường lệ, ông tỏ ra rất dễ thương; vả lại tôi có cảm giác ông có vẻ tươi hơn, khỏe hơn là trong lần gặp gỡ trước. Sau khi cho biết là ông đã ân thưởng cho tôi huy chương Thập Tự Vàng, ông yêu cầu tôi kể chi tiết cuộc bắt người con trai của Horthy và cuộc tấn công lên đồi Mont du Château. Khi chấm dứt báo cáo, tôi đứng dậy, tưởng rằng cuộc tiếp xúc đã chấm dứt, Fuhrer giữ tôi lại.
    - Ở lại đó đã, Skorzeny. Tôi sắp giao nhiệm vụ mới cho anh đây - Có lẽ là nhiệm vụ quan trọng nhất đời anh. Cho đến nay, rất ít người được biết rằng chúng ta đang chuẩn bị trong vòng tối mật, một chiến dịch trong đó anh sẽ đóng vai trò quan trọng hàng đầu. Trong tháng 12, quân lực Đức sẽ phát động cuộc Tổng phản công có tầm quan trọng quyết định vận mạng của xứ sở.
    Và rồi thì Fuhrer trình bày với tôi thật lâu quan niệm chiến lượt của đợt Tổng phản công về phía Tây, mà các sử gia sau này gọi là cuộc “Tổng phản công tại Ardennes”(1) hay “the Battle of the Bulge” nói theo ngôn ngữ Anh Mỹ. Trong nhiều tháng qua Bộ Tổng Tư lệnh Đức đã rất vừa ý vì đẩy lui và cầm chân được quân địch. Đó là thời kỳ tình thế đổi thay liên tục, tại mặt trận phía Đông cũng như phía Tây, nhiều khu vực lần lượt rơi vào tay địch. Vả chăng, hệ thống tuyên truyền của Đồng minh đã coi Đức quốc như một thây ma mà việc chôn cất vĩnh viễn chỉ còn là vấn đề thời gian; căn cứ theo các diễn văn được các đài phát thanh Anh-Mỹ truyền đi, Đồng minh có thể chọn giờ để mai táng theo ý muốn.
    - Họ không thấy rằng Đức quốc chiến đấu là vì Âu châu, hy sinh vì Âu châu, để ngăn chặn Á châu tiến trên con đường đến phương Tây, - Hitler nhận định một cách chua chát.
    Theo ông, dân Anh cũng như dân Mỹ đều không muốn tiếp tục chiến tranh nữa. Do đó, nếu “thây ma Đức quốc” đứng dậy và dáng một đòn nặng về phía Tây, thì dưới áp lực của công luận giận dữ cho rằng họ bị lừa phỉnh, Đồng minh sẽ phải chuẩn bị ký kết đình chiến với xác chết còn rất mạnh khỏe này. Lúc đó, chúng ta sẽ có thể tung tất cả các Sư đoàn, tất cả quân lực vào mặt trận Miền Đông và thanh toán trong vài tháng mối đe dọa khủng khiếp đang đè nặng trên Âu châu. Vả chăng, từ cả ngàn năm nay, Đức quốc đã chứng tỏ là kẻ chăn dắt bầy người ô hợp Á châu và không bao giờ Quốc gia này lại thất bại trong sứ mạng thiêng liêng đó.
    Từ nhiều tuần qua, vài nhân vật của Bộ Tổng Tham mưu đã soạn thảo một kế hoạch Tổng phản công. Chúng tôi phải lấy lại thế chủ động mà địch quân nắm giữ bấy lâu nay. Ngay từ khi cuộc đổ bộ ở Normandie bắt đầu cho đến khi quân Đồng minh tiến tới biên thùy Quốc xã, Hitler đã suy nghĩ về một trận Tổng phản công mạnh mẽ. Tuy nhiên tình hình các đạo quân nguy kịch đến nỗi không thể nào thi hành được kế hoạch đó.
    Vậy mà từ ba tuần nay, quân Đồng minh không tiến nữa. Một mặt, đường giao thông đã kéo dài quá xa, mặt khác, tiếp liệu cho đạo quân cơ giới đã cạn sạch sau bốn tháng chiến đấu không ngừng. Nhờ hai yếu tố đó, mặt trận phía Tây của chúng tôi có lúc tưởng đã tan vỡ, lại được ổn định.
    Theo ý Fuhrer, sở dĩ Đồng minh thắng được tại Pháp và Bỉ, đó là nhờ ưu thế không quân. Nhưng có thể hy vọng rằng thời tiết xấu trong những tháng cuối năm sẽ làm giảm thiểu, dù là tạm thời, hoạt động của Không quân Anh Mỹ. Hơn nữa, không quân Đức sẽ có thể mang ra sử dụng 2000 phản lực cơ chiến đấu mới vẫn để dành riêng cho chiến dịch.
    Sau cùng, một cuộc Tổng phản công chớp nhoáng sẽ ngăn không cho Pháp tổ chức quân lực mạnh. Hiện tại Đồng minh có 70 đại đơn vị, số này không đủ cho cả một mặt trận dài 700 cây số. Do đó, rất có thể tập trung quân Đức để chọc thủng một điểm phòng vệ yếu, trước khi Đồng minh kịp củng cố phòng tuyến bằng các Sư đoàn mới do Pháp thành lập.
    - Riêng phần chọn lựa địa điểm, - Fuhrer nói tiếp, - chúng tôi đã thảo luận mấy tuần liền. Có năm kế hoạch được đem ra bàn cãi: Tổng phản công tại Hòa-Lan khởi đầu từ vùng Venloo hướng về phía Tây, phía hải cảng Anvers; - Một cuộc Tổng phản công khởi đi từ phía bắc Lục-Xâm-Bảo, hướng về phía tây bắc trước rồi hướng về bắc, được hậu thuẫn bởi cánh quân khởi đi từ phía bắc Aix-la-Chapelle; - Một cuộc phản công bằng hai cánh: một từ trung tâm Lục-Xâm-Bảo, cánh kia từ Metz và hẹn gặp tại Longwy: song song với hành động đó, hai cánh quân khác khởi đi từ Metz và từ Baccarat, điểm tái ngộ là Nancy; - và sau cùng, chiến dịch “Alsace” với hai cánh quân, một tiến từ Epinal, cánh kia từ Montbéliard và sẽ gặp nhau tại Vesoul.
    “Sau khi cân nhắc thật lâu ưu và khuyết điểm của mỗi kế hoạch, chúng tôi loại bỏ ba kế hoạch đầu. Chiến dịch “Hollande” có vẻ hay nhưng nhiều nguy hiểm quá. Sau cùng, chúng tôi đã quyết định lập kế hoạch phản công từ bắc Lục-Xâm-Bảo và được hậu thuẫn bởi cánh quân xuất phát từ Aix-la-Chapelle. Đấy cũng chính là vùng mà trong lần tấn công nước Pháp đầu tiên, hồi năm 1940, chúng ta đã chọc thủng được phòng tuyến địch.
    “Phần anh và các đơn vị thuộc quyền, chúng tôi giao cho một trong những nhiệm vụ quan yếu nhất trong khung cảnh cuộc Tổng phản công. Trong vai trò đơn vị tiền đạo, anh phải chiếm một hay nhiều cây cầu trên sông Meuse giữa Liège và Namur. Anh sẽ thi hành nhiệm vụ nhờ mưu kế này: binh sĩ của anh sẽ mặc quân phục Anh-Mỹ. Nhờ mưu kế này địch đã cho ta nhiều vố nặng, trong các cuộc hành quân cảm tử. Ví dụ cách đây mấy hôm khi tiến chiếm Aix-la-Chapelle, một bộ phận quân Mỹ mặc quân phục Đức đã xâm nhập vào phòng tuyến của ta. Ngoài ra, những toán nhỏ được hóa trang như vậy, đằng sau phòng tuyến địch, có thể ra lệnh giả, phá rối hệ thống truyền tin, và nói tổng quát, có thể gieo rắc hỗn loạn trong hàng ngũ Đồng minh. Công cuộc chuẩn bị của anh phải hoàn tất trước ngày 1 tháng 12. Về phần chi tiết anh hãy đến gặp Đại Tướng Jodl.
    “Tôi biết rằng thời hạn này quá ngắn, tuy nhiên tôi tin anh có thể làm chuyện thiên nan vạn nan. Lẽ tất nhiên, anh cũng sẽ ở ngoài tiền tuyến khi binh sĩ thuộc quyền bắt đầu hành động. Nhưng tôi cấm anh mạo hiểm đi qua phòng tuyến địch; chúng tôi không được phép để mất anh”.
    Vài giờ sau, Đại Tướng Jodl tiếp tôi và nhờ một bản đồ, ông giải thích cho tôi vài chi tiết của chiến dịch. Cuộc tổng phản công sẽ bắt đầu từ vùng nằm giữa Aix-la-Chapelle và Lục-Xâm-Bảo, hướng về phía hải cảng Anvers và làm như vậy là cắt ngang đạo quân thứ hai của Anh và các thành phần quân đội Mỹ chiến đấu trong vùng Aix. Cùng lúc đó, Bộ Tổng Tư lệnh Tối cao dự liệu một tuyến che chở ở phía Nam (Lục-Xâm-Bảo – Namur-Louvain) và một tuyến ở phía Bắc (Eupen – Liege – Longeren – Hasselt cho đến kinh Albert).
    Trong các điều kiện tối hảo, Anvers sẽ bị tái chiếm trong vòng 7 hôm. Mục tiêu tối hậu của chiến dịch là tiêu diệt lực lượng địch phía Bắc phòng tuyến Anvers – Bỉ, và trong vùng Bastogne.
    Toàn bộ các đơn vị tham dự cuộc Tổng phản công, mang danh hiệu Đạo quân B, được đặt dưới quyền Thống chế Model. Đạo quân gồm có quân đoàn 6 thiết kỵ (Tướng Waffen SS Dietrich), quân đoàn 5 Thiết kỵ (Tướng Von Manteuffel) và quân đoàn 7, được sắp xếp như vậy từ Bắc xuống Nam. Sau một đợt pháo kích dữ dội, nhưng ngắn thôi (tôi nghĩ đến 6.000 khẩu mà Fuhrer vừa nói với tôi) các cánh quân phải chọc thủng phòng tuyến địch tại nhiều điểm chọn lựa theo quan niệm chiến thuật.
    - Phần anh, Skorzeny, anh sẽ hành động trong khu vực trách nhiệm của Quân đoàn 6 Thiết kỵ. Đây là một bảng nghiên cứu có thể làm anh thích: nó trình bày tình hình sẽ diễn biến 24 giờ sau khi cuộc Tổng phản công bắt đầu.
    Trên tấm bảng đồ mà Đại Tướng Jodl trải ra trước mặt, chúng tôi thấy Bộ Tổng Tư Lệnh Tối cao tin có thể tấn công, vào lúc đó, trên phòng tuyến Eupen-Verviers-Liege, và nghĩ rằng có thể thành công trong việc thiết lập ở trung tâm, hai đầu cầu bên kia bờ sông Meuse. Mặt khác, người ta đã tiên liệu các cuộc tấn công dữ dội, do các đơn vị trừ bị của Đồng minh, vào mạn sườn phía Bắc của hướng Tổng phản công của chúng tôi.
    Trước khi cho tôi rút lui, Đại Tướng Jodl yêu cầu tôi trình ông trong thời hạn ngắn nhất bảng liệt kê nhân sự và vật liệu cần thiết. Ông cũng cho tôi biết là Bộ Tổng Tham mưu đã ra lệnh cho tất cả các đơn vị biệt phái cho tôi tất cả quân nhân nào biết nói tiếng Anh. Lệnh này về sau tượng trưng cho lầm lỗi điển hình của việc tiết lộ tin tức hành quân – một lầm lẫn do chính cơ cấu lãnh đạo tối cao của quân lực Đức phạm phải.
    Vài ngày sau tôi nhận được bảng sao của mệnh lệnh này. Đọc xong mệnh lệnh, tôi đã thấy cuộc tấn công thất bại. Lệnh do một ông lớn ký, đóng dấu “mật” có nội dung tương tự như sau:
    “Lệnh cho tất cả các đơn vị Lục quân: báo cáo chậm nhất là ngày… tháng 10 năm 1944, các sĩ quan và binh sĩ nói tiếng Anh, tình nguyện tham dự một sứ mạng đặc biệt… Lên đường đến Friedenthal, gần Bá-linh để gia nhập các đơn vị cảm tử của Trung tá Skorzeny”.
    Tôi đùng đùng nổi giận. Các cơ quan tình báo Đồng minh đánh hơi được vụ này rồi, không còn chối cãi được nữa. Sau chiến tranh, tôi được biết rằng chưa đầy 8 ngày sau đó, người Mỹ đã có trong tay bảng văn mệnh lệnh đó. Tôi không hiểu tại sao họ không rút ra được kết luận nào và áp dụng các biện pháp đề phòng.
    Theo ý tôi, kế hoạch hành quân đã bị chôn vùi trước khi thấy ánh mặt trời. Tôi gởi về Tổng Hành Dinh lời phản kháng mạnh mẽ và “lễ phép” xin hủy bỏ sứ mạng của tôi. Lẽ tất nhiên, đơn của tôi được chuyển theo hệ thống. Vì thế Tướng SS Fegelein, anh em bạn rể của Fuhrer đã trả lời tôi như thế này: Vụ đó thật khó tin và khó hiểu, nhưng đó lại là một lý do nữa để đừng nói gì với Fuhrer. Do đó việc hủy bỏ nhiệm vụ không thể được.
    Cũng trong thời kỳ đó, tôi được dịp tiếp xúc thích thú với một sĩ quan tham mưu của Tướng Winter. Viên sĩ quan này đã trình bày với tôi khía cạnh pháp lý của công tác. Theo ông, các cảm tử quân sẽ bị bắt, khi bị bắt, đối xử như các gián điệp và chịu hậu quả nặng. Riêng đối với toàn thể đơn vị của tôi, luật quốc tế nghiêm cấm một quân nhân sử dụng vũ khí của mình trong khi trên người khoác bộ quân phục của địch. Ông ta khuyến cáo tôi như sau: binh sĩ của tôi sẽ mặc bên trong bộ quân phục địch, bộ đồng phục Đức. Đến khi bước qua giai đoạn tấn công thật sự, họ sẽ cởi bỏ quân phục Anh hoặc Mỹ. Tất nhiên là tôi nghe theo khuyến cáo này.
    *
    Hiện tại, chúng tôi đã có thể bắt tay vào công cuộc chuẩn bị. Các đơn vị của tôi sẽ họp thành Lữ đoàn 150 Thiết kỵ. Căn bản kế hoạch của tôi rõ ràng là thời biểu do Bộ Tổng Tư Lệnh Tối cao ấn định cho toàn thể cuộc Tổng phản công. Theo thời biểu này, đạo quân của chúng tôi phải chọc thủng phòng tuyến địch ngay trong ngày đầu tiên. Ngày thứ hai, chúng tôi phải tới và vướt qua sông Meuse. Vậy chúng tôi có quyền ước tính rằng đến cuối ngày thứ nhất, các mảnh vụn của các lực lượng Đồng minh sẽ tháo chạy lui.
    Trong giả định đó, chúng tôi biết rằng phải ứng biến để tự xoay trở lấy. Vì cuộc Tổng phản công được ấn định vào đầu tháng 12, chúng tôi chỉ còn có một tháng mấy ngày – Thời hạn rõ rệt không đủ để tổ chức và huấn luyện cả một đơn vị tân lập, nhất là đơn vị này lại được giao phó cho một sứ mạng đặc biệt. Đó gần như một chuyện không thể thực hiện được, chúng tôi ý thức rõ rệt điều đó. Nhưng vì Fuhrer đã lưu ý đến sự thiếu sót này, nên tôi cũng an tâm.
    Để nắm vững tất cả những gì bất ngờ có thể xảy ra, chúng tôi ấn định ba mục tiêu chính yếu: các cây cầu bắt ngang sông Meuse tại Engis, Amay và Huy. Do đó chúng tôi sẽ cắt khu vực trách nhiệm của Quân đoàn VI Thiết kỵ ra thành ba dãy đất mỗi phần bắt đầu từ các cây cầu kể trên. Theo kế hoạch này, chúng tôi tổ chức ba đơn vị chiến đấu mang các danh hiệu nên thơ là X, Y và Z.
    Trên nguyên tắc chúng tôi được xem là Lữ đoàn Thiết kỵ. Tuy nhiên sự chỉ danh đại ngôn này chỉ là một trò bịp. Chúng tôi đã sớm biết điều này. Ngay lúc thiết lập danh sách dụng cụ đầu tiên, chúng tôi được trả lời là không thể nào cung cấp các chiến xa bắt được của địch cho nguyên cả một Trung đoàn. Có lẽ người ta chỉ cung cấp cho chúng tôi một số chiến xa Anh, Mỹ đủ cho một Tiểu đoàn, và còn… Thật là một khởi điểm xấu!
    Tuy nhiên, yêu cầu của chúng tôi rất khiêm nhường. Để tiết kiệm nhân lực, chúng tôi không tổ chức các cơ quan phụ, theo đó, Lữ đoàn của chúng tôi gồm có, theo đề nghị của tôi:
    2 Đại đội thiết kỵ, mỗi đại đội 10 chiến xa.
    3 Đại đội thám sát, mội đại đội có 10 thiết vận xa.
    3 tiểu đoàn bộ binh cơ giới.
    1 liên đội phòng không D.C.A. nhẹ.
    2 liên đội “săn chiến xa”.
    1 trung đội phóng lựu.
    1 liên đội truyền tin.
    1 bộ tham mưu, rất hạn chế, cho Lữ đoàn.
    3 ban tham mưu, cũng rất hạn chế, cho 3 Tiểu đoàn.
    1 đại đội chỉ huy.
    Tổng quát, vào khoản 3.300 người.
    Nhưng thêm vào đó, còn có các bảng liệt kê vô tận, liên quan đến vũ khí, đạn dược, xe cộ, quân phục, vật dụng trang bị. Chính chúng tôi cũng bắt đầu sợ hãi khi nghĩ đến việc phải có từng ấy thứ trong vòng có vài tuần. Bởi vì, từ chiến xa hạng nặng cho đến đồng phục, mọi thứ đều phát xuất từ chiến lợi phẩm bắt được của địch. Thế mà, kho dự trữ dụng cụ bắt được của Đồng minh hiện nay của chúng tôi, không quan trọng lắm. Trong những tháng gần đây, quân Đức chỉ có thối lưi, không tổ chức được cuộc tấn công quan trọng nào; cho nên chúng tôi không thể chiếm đoạt thêm một món nào cả.
    Ngày 26 tháng 10 năm 1944, khi tôi trình lên Đại Tướng Jodl kế hoạch thành lập “Lữ đoàn thiết kỵ” của tôi cũng như bảng liệt kê nhu cầu vật liệu, một lần nữa được lưu ý là vì thiếu thì giờ, chúng tôi phải tự ứng biến. Ngoài ra, tôi nói với ông rằng theo ý tôi chiến dịch – mang tên chiến dịch Con Rồng – chỉ có thể thành công với điều kiện được phát động trong đêm kế sau khi cuộc Tổng phản công bắt đầu, nhờ đó chúng tôi có thể lợi dụng yếu tố bất ngờ và sự hỗn loạn trong hàng ngũ đối phương. Để được như vậy, các Sư đoàn của tuyến đầu phải đạt các mục tiêu ngay trong đêm đầu tiên, nghĩa là trong khu vực liên hệ đến chúng tôi, các sư đoàn ấy phải vượt qua đỉnh một ngọn núi có tên là Haut Venn. Nếu tình hình xảy ra khác đi, tôi bắt buộc phải từ chối sứ mạng giao phó. Hơn nữa tôi yêu cầu cung cấp các không ảnh về ba cây cầu mà các đơn vị tôi phải chiếm giữ.
    Tôi nhận được sự chấp thuận thành lập Lữ đoàn một cách dễ dàng, cũng như Bộ Tổng Tư lệnh đã hứa hậu thuẫn hết mình cho tôi trong việc xin cung cấp vật liệu. Tôi liền lợi dụng ngay sự dễ dãi để yêu cầu bổ nhiệm ba Tiểu đoàn trưởng dày kinh nghiệm và sự biệt phái, ngoài số quân tình nguyện, các đơn vị thuần nhứt của Lục quân, các đơn vị này sẽ là khung sườn của Lữ đoàn được thành lập vội vã. Quả nhiên, người ta bổ nhiệm ba Trung Tá giàu khả năng, và ít lâu sau, hai Tiểu đoàn dù của Không quân, hai Đại đội thiết kỵ của Lục quân và một Đại đội truyền tin. Các toán quân này sẽ tăng cường cho hai Đại đội thuộc “đơn vị đặc biệt” và Tiểu đoàn dù của tôi.
    Chỉ còn lại vấn đề các quân nhân tình nguyện “biết nói tiếng Anh”. Tám ngày sau khi phổ biến – danh từ còn nhẹ quá – “mệnh lệnh mật” trứ danh, khi 100 quân nhân tình nguyện đầu tiên đến Friedenthal, tôi bị một cơn phiền muộn thật sự hành hạ. Tôi muốn đem bắn bỏ luôn cả đám. Nhiều giáo sư cố gắng phân họ ra làm ba loại. Loại thứ nhất gồm các quân nhân nói lưu loát, dùng giọng Anh hay giọng đặc biệt Mỹ, số quân nhân này tuyệt đối không tăng thêm chút nào. Trong khi tôi cần hàng trăm, chúng tôi chỉ thấy có một hai người xứng đáng được liệt vào loại này.
    Vả chăng, phải thú nhận rằng chính tôi cũng đang còn yếu Anh văn. Tội nghiệp thay, tôi cứ lợi dụng các giờ học Anh ngữ để “quấy rầy” vị giáo sư đáng thương của chúng tôi! Nhưng tôi đang cố gắng bắt kịp thời gian bị mất và đôi khi đặt được một câu thật khá. Một hôm, tôi làm quen với một sĩ quan phi công tự cho là thuộc loại thứ nhất. Tôi bèn hỏi anh ta một cách tự nhiên:
    - Give me your story about last your duty, please (2).
    Cậu ta bối rối, ngập ngừng, và rồi nói đại:
    - Yes, Herr Oberstleutnant, I “became” my last order “before” five month… (3) - lại do dự nữa, và rồi hấp tấp nói thêm bằng tiếng Đức: - Nếu Trung Tá cho phép, tôi sẽ trình bày chuyện đó bằng tiếng mẹ đẻ…
    Thế đó! Và tôi phải bằng lòng chấp nhận vậy. Người ta không thể làm nhục một quân nhân tình nguyện có vẻ rất hăng say. Nhưng với thành tích như vậy, anh ta chắc chắn sẽ không lừa được một người Mỹ nào. Có hoạ là anh Mỹ này điếc!
    Sau hai tuần, khi sự lựa chọn những người tình nguyện chấm dứt, chúng tôi đứng trước một kết quả đáng sợ: loại thứ nhất gồm tất cả là 12 người đa số là các cựu thuỷ thủ; loại hai, gồm những người nói khá trôi chảy, tổng cộng chừng 30, 40 người, phần lớn cũng là cựu thủy thủ. Loại thứ ba, chừng 150 người biết cách ứng phó bằng Anh ngữ. Loại thứ tư, các binh sĩ không hẳn đã quên hết các bài học ở trường - gồm chừng 200. Phần còn lại, chỉ biết nói độc có “Yes” và “No”. Thế cho nên tôi bắt buộc phải lập một Lữ đoàn câm điếc, vì sau khi bổ nhiệm 120 quân nhân trong số các “nhà ngôn ngữ” xuất sắc nhứt cho Đại đội chỉ huy, tôi chẳng còn ai nữa cả. Vậy thì chúng tôi sẽ tìm nhập vào các cánh quân Mỹ đang chém vè, cùng chạy trốn với họ, răng nghiến chặt, làm như tai hoạ rộng lớn đã khiến chúng tôi bị á khẩu. Để làm cho tình trạng thê thảm ấy khá hơn, chúng tôi gởi các quân nhân loại hai vào một trường thông dịch viên và đến một trại tù binh Mỹ. Tuy nhiên vì các khoá huấn luyện này chỉ kéo dài có tám ngày nên kết quả không đáng kể.
    Đối với đa số quân nhân của đơn vị - những người không biết một tiếng Anh nào – chúng tôi chỉ nhét vào họ một vài tiếng chửi thề thông dụng của các chú G.I (lính Mỹ), cũng như ý nghĩa của vài tiếng “yes, no, O.K”. Ngoài ra chúng tôi lập đi lập lại với họ suốt ngày các ước hiệu chỉ huy chính yếu đang được sử dụng trong quân đội Mỹ. Và đấy là tất cả những gì chúng tôi làm được về phương diện ngôn ngữ để ngụy trang cả Lữ đoàn.
    Nhưng tất cả các sự tệ hại đó cũng còn chưa thấm gì. Tình trạng trang bị cho đơn vị mới thật là tai hại vô cùng tận. Chúng tôi phải nhìn nhận ngay là chẳng bao giờ chúng tôi có đủ chiến xa kiểu Mỹ. Sau cùng, đến ngày dự liệu khởi sự tổng phản công, chúng tôi sung sướng nhận được hai chiến xa Sherman. Tôi xin nói lại: hai chiến xa mà một chiếc tuyên bố bỏ cuộc ngay sau khi chạy được vài cây số. Để thay vào chỗ chiến xa Mỹ bị thiếu, đơn vị thanh tra thiết kỵ cấp cho chúng tôi 12 chiếc Panther của Đức. Chúng tôi ra sức nguỵ trang chúng bằng cách lấy tôle bọc các khẩu súng và pháo tháp để ít ra là tạo được hình thù giống như chiếc Sherman. Kết quả không mấy khả quan, chiến xa của chúng tôi không lừa được ai ngoại trừ mấy chú tân binh - vả lại còn phải thêm điều kiện là cho xuất hiện từ xa, lúc hoàng hôn mới được.
    Mặt khác chúng tôi nhận được mười xe bọc sắt của Anh và Mỹ. Chúng tôi moi óc tìm cách sử dụng kiểu xe của Anh, điều này thật nan giải, vì chúng tôi phải chiến đấu trong khu vực thuộc trách nhiệm của các đơn vị Mỹ. Sau cùng các chiến xa này không còn làm chúng tôi lo âu nữa, bởi vì, ngay trong các lần thực tập đầu tiên, chúng đã bị hư hỏng hoàn toàn không sửa chữa được. Chỉ còn lại bốn chiếc kiểu Mỹ và như vậy là chúng tôi phải bổ túc bằng cách sử dụng các xe bọc sắt của Đức.
    Cơ quan tiếp liệu còn gởi cho chúng tôi chừng ba mươi chiếc Jeep. Nhưng mà tôi vẫn hy vọng các đơn vị bạn ở mặt trận Miền Tây có được một số đáng kể loại xe này. Khốn thay các sở hữu chủ loại xe thích hợp cho mọi thế đất đó lại tỏ ra khó khăn không muốn chia xẻ chúng cho chúng tôi. Do đó họ quyết định làm như không biết lệnh cung cấp các xe này cho đơn vị của tôi. Sau cùng, chúng tôi tự an ủi bằng cách hy vọng sẽ tự kiếm được vài chiếc ngoài mặt trận khi cuộc tổng phản công khởi sự. Chính niềm hy vọng mơ hồ và lừa phỉnh này đã ảnh hưởng đến Bộ Tổng Tư lệnh tối cao khi hoạch định cuộc Tổng phản công: Trên đó người ta tin rằng địch quân sẽ bị bắt buộc bỏ lại rất nhiều xăng. Lại một ảo tưởng nguy hiểm và thảm hại nữa!
    Riêng phần xe chuyển vận, họ cấp cho chúng tôi mười lăm chiếc kiểu Mỹ và các xe Ford sản xuất tại Đức được sơn lại màu xanh. Còn vũ khí thì quá tệ hại. Chúng tôi có đúng 50% súng Mỹ cần thiết và vài khẩu súng chống chiến xa, tuy nhiên lại không có một viên đạn nào! Một hôm, chúng tôi nhận được nhiều toa xe chở đạn Mỹ, nhưng hôm sau đó, chúng lại bị nổ tung. Ngoại trừ Đại đội chỉ huy, tất cả các đơn vị khác của chúng tôi phải sử dụng vũ khí Đức.
    Nhưng điều cốt yếu là quân phục. Đó là điều kiện không có không được, vì nếu quân phục không đúng qui tắc sẽ lôi kéo lập tức sự chú ý của M.P. (quân cảnh) Mỹ. Một hôm, họ gửi cho chúng tôi một khối lượng quân phục khổng lồ để hàng đống lộn xộn - Khốn thay, đó lại là quân phục Anh. Tiếp theo đó, người ta lại chở đến cả một toa xe lửa toàn là loại áo mưa có nón trùm đầu – nhưng chúng lại mang hình tam giác, dấu hiệu của tù binh chiến tranh! Phần tôi, Tư Lệnh Lữ đoàn, người ta kiếm đâu ra được một chiếc áo pull-over Mỹ. Một chiếc pull-over thôi, ngoài ra không còn gì nữa. Sau cùng nhờ mưu mẹo, chúng tôi cũng lo cho binh sĩ ăn mặc thích hợp, nhất là Đại đội chỉ huy. Cái gì còn thiếu sẽ bổ túc sau, trong khi tiến quân, nhờ các kho quần áo mà lúc trốn chạy, địch quân phải để lại cho chúng tôi.
    Trong khi phải vật lộn với các khó khăn kể trên, Trung Tá Hardieck đã bắt đầu lo huấn luyện binh sĩ. Để giữ bí mật, khu vực huấn luyện bị cấm lai vãng, chúng tôi còn cấm cả thư từ đi lại. Lẽ tất nhiên, những tin đồn khó tin nhất về mục tiêu của công cuộc chuẩn bị bí mật được loan truyền trong đơn vị. Các binh sĩ biết rằng tôi sẽ chỉ huy Lữ đoàn, nên họ chờ đợi một hoạt động đồng loại với việc giải cứu Mussolini. Tóm tắt, Trung Tá Hardieck không ngăn chặn được sự tò mò của mọi người, mặc dù ông đã cho áp dụng các biện pháp nghiêm khắc để cắt ngang các luồng dư luận điên rồ đó. Lập tức người ta bàn luận thật nhiều trong các doanh trại rằng ông ta lo sợ vì sự bí mật của chiến dịch. Ông ta đành phải báo cáo tình hình với tôi.
    Trong văn phòng tại Friedenthal, tôi dựng tóc gáy khi biết các câu chuyện tưởng tượng mà binh sĩ của đơn vị đồn đãi. Dầu sao họ cũng không thiếu trí tưởng tượng! Một số cho rằng, do nguồn tin chắc chắn, Lữ đoàn sẽ đi ngang qua nước Pháp để giải phóng một đồn binh còn bị kẹt tại Brest. Các tác giả cho rằng sẽ có việc giải thoát những quân nhân Đức đang trấn giữ thị trấn Lorient. Họ đã thấy tận mắt kế hoạch giúp chúng tôi tiến vào pháo đài. Và còn có cả tá giả thuyết nữa. Điều này không làm trở ngại gì cho chúng tôi, nếu chúng tôi không sợ các tin đồn ấy thì phản gián địch cũng sẽ không thèm chú ý mấy đến công cuộc chuẩn bị của chúng tôi. Làm sao có thể dập tắt được cơn bịnh truyền nhiễm đấu láo được? Theo ý tôi, phương pháp đơn giản nhất lại hữu hiệu nhất: từ nay chúng tôi sẽ không cải chính bất cứ tin đồn nào nữa và thêm vào đó vừa giả vờ ngạc nhiên khi thấy binh sĩ thạo tin quá! Làm như vậy, chúng tôi hy vọng gieo được sự rối trí cho các cơ quan tình báo Đồng minh.
    Cùng với thời gian trôi qua - thời gian trôi nhanh quá – chúng tôi đẩy mạnh công cuộc huấn luyện. Chúng tôi lập đi lập lại dưới nhiều hình thức chủ đề huấn luyện chính: Vùng đầu cầu. Trong một lãnh vực khác, chúng tôi cố làm cho binh sĩ từ bỏ tác phong quá cứng nhắc, kết quả của việc đào tạo quân nhân của Đức với các biện pháp kỷ luật quá đáng và vô ích. Cuối cùng, họ được tập quen cả việc nhai kẹo cao su và cách mở bao thuốc lá đặc biệt kiểu Mỹ.
    Thật ra, đơn vị duy nhất của Lữ đoàn được nguỵ trang hoàn hảo nhất là đại đội chỉ huy. Do đó chúng tôi quyết định sẽ rất hà tiện người thuộc đại đội này. Vả lại chúng tôi cũng không thể chỉ thị trước cho họ các mục tiêu chính xác. Công cuộc huấn luyện được hướng theo chiều để cho binh sĩ quyền tự do rộng rãi trong khi hành động. Vì họ là các tiền sát viên mặt trận, họ sẽ cung cấp các dịch vụ vô giá cho toàn thể Binh đoàn. Họ cũng phải góp phần tạo thêm sự hỗn loạn trong hàng ngũ địch bằng cách loan truyền các tin tức giả, phóng đại kết quả đầu tiên của các Sư đoàn Đức, thay đổi các bảng chỉ đường, ra các mệnh lệnh tưởng tượng, cắt đường dây điện thoại, và phá huỷ các kho dự trữ đạn dược.
    Một hôm, tôi đến thanh tra đơn vị, một sĩ quan của đại đội chỉ huy xin gặp riêng tôi. Hết sức long trọng, anh ta nói với tôi:
    - Thưa Đại Tá, bây giờ em biết mục tiêu của chiến dịch mà chúng ta đang chuẩn bị rồi.
    Trong thoáng chốc, tôi lộ vẻ bối rối. Phải chăng Foelkersam hay Hardieck - những người duy nhất hiểu nhiệm vụ bí mật – đã vô tình tiết lộ bí mật của chiến dịch rồi? Nhưng rõ ràng là rất bằng lòng về những lời nói giáo đầu của mình, viên sĩ quan thì thầm tiếp:
    - Lữ đoàn sẽ đến thẳng Ba-lê để bắt Bộ Tham Mưu Đồng minh.
    Thật quá sá! Tôi phải kiềm chế để khỏi cười phá lên. Tôi chỉ phát biểu mấy tiếng: hừm… hừm… không có gì biểu đồng tình lắm.
    Nhưng như thế cũng đủ để kéo dài thêm niềm phấn khởi của anh ta:
    - Vì biết rõ Ba-lê như túi áo, xin Đại tá cho phép em được hợp tác.
    Tất nhiên là tôi im lặng.
    Khi tôi hỏi anh ta đề nghị gì, anh ta trình bày với tôi cả một kế hoạch chi tiết. Một toán tù binh giả được bao bọc bởi các quân nhân nói tiếng Anh giỏi sẽ đi thẳng đến Ba-lê. Ngay cả các chiến xa Đức cũng có thể tham dự cuộc hành trình như là chiến lợi phẩm đem về trình Tổng Hành Dinh Đồng Minh.
    Tôi ngăn dòng suối chữ do anh ta tuôn ra, một cách khó nhọc. Sau cùng, tôi cho anh ta lui và bảo ráng nghiên cứu kế hoạch thật chi tiết rồi đến gặp tôi sau… và nhất là phải im lặng. Sau đó tôi biết là anh ta không để tâm đến điểm lưu ý sau cùng. Trong nhiều tuần lễ liền, phản gián địch đã canh chừng quán café de la Paix, mà tôi có đề cập đến trong câu chuyện với anh ta.
    *
    Vào khoảng giữa tháng 11, Bộ Tổng Tư Lệnh dời ngày khởi sự Tổng phản công, thay vì ngày 1 tháng 12, nay được định là ngày 10, rồi ngày 16 tháng 12. Công việc sắp xếp các đơn vị chưa hoàn tất, trang cụ còn thiếu sót. Việc dời ngày liên tiếp đó cho thấy rằng chính lực lượng nhân sự và phương tiện trừ bị sau cùng được tung ra trong đợt Tổng phản công này.
    Điều này cũng đã gây tranh luận hàng ngày tại Tổng Hành Dinh của Fuhrer, tôi được gọi tham dự ba lần vào các cuộc bàn cãi đó. Mỗi lần, tôi đều nghe Sư đoàn này thiếu chiến xa, Sư đoàn kia thiếu súng, thiếu xe vận tải. Tôi được biết rằng Tướng Guderian Tư lệnh mặt trận Miền Đông (4) từ chối từng chiếc chiến xa, từng Tiểu đoàn mà người ta muốn rút để tăng cường cho mặt trận Miền Tây. Tổng quát khả năng hiện tại của chúng tôi cũng tương tự như một tấm “ra” quá nhỏ đối với chiếc giường quá lớn. Khi muốn che đằng chân, nghĩa là Miền Tây, bắt buộc phải để hở đằng đầu, nghĩa là Miền Đông.
    Một hôm, phúc trình của Không quân cho thấy rằng ngay cả sự can đảm vô bờ của phi công Đức cũng không thể nào bù trừ được với ưu thế về số lượng của Đồng minh. Đột nhiên, tôi nghe kể một con số: “250 phản lực cơ sẽ tham dự cuộc Tổng phản công tại Ardennes”. Tôi không tin ở tai mình nữa. Đấy có phải là tất cả những gì còn lại của số 2.000 phản lực cơ mà Fuhrer đã nói với tôi hôm 22 tháng 10 không? Nhưng Hitler hình như cũng chẳng thèm nghe nữa. Rõ ràng là ông đã từ khước sự thất bại của Không lực.
    Cuối cuộc bàn cãi, Fuhrer nhắc tôi một lần nữa lệnh cấm tôi đi qua phòng tuyến địch. Tôi phải chấp nhận điều binh bằng radio vậy. Lệnh cấm này, được ban hành bằng giọng nghiêm khắc, làm cho tôi hết sức khổ tâm vì tôi hy vọng rằng Fuhrer không còn nghĩ tới nó nữa. Liệu tôi có bị lên án là đã ở lại phía sau, trong khi các bằng hữu xông pha trong trận chiến tuyệt vọng không? Đó là lần đầu tiên có chuyện như vậy! Tôi quyết định sẽ cho các Tiểu đoàn trưởng biết lệnh này - một công việc không lấy gì làm thoải mái cho tôi – và thêm rằng tôi sẽ đến với họ khi tình hình nguy cấp. Dầu sao, tôi cũng không chịu ngồi bó chân trong văn phòng Bộ Tham mưu, tôi sẽ tìm đến một chỗ nào đó gần tiền tuyến.
    Hình như cho đến nay, công cuộc chuẩn bị của chúng tôi thoát khỏi sự rình rập của Đồng Minh. Phòng tuyến địch vẫn êm lặng và không có thêm lực lượng tăng cường nào. Quân Mỹ dường như chờ đợi một thời gian nghỉ ngơi dài. Tôi tin rằng họ sẽ không được hưởng thụ lâu nữa.
    *
    Trong các đêm 13, 14 tháng 12, chúng tôi sẵn sàng vào vị trí khởi hành. Ngày 14, tôi chính thức nắm quyền chỉ huy Lữ đoàn thiết kỵ. Trong một căn nhà gỗ của người giữ rừng, tôi ra các chỉ thị cuối cùng cho các Tiểu đoàn trưởng. Trước hết phải giữ liên lạc thường xuyên. Sau đó, tôi nhấn mạnh phải tránh nổ súng bằng mọi giá. Một tiếng súng nổ có thể làm hỏng cả chiến dịch, các đơn vị phải tiến, tiến mãi và đừng để bất cứ chuyện gì ảnh hưởng đến. Phải xem tận chỗ để biết phải chiếm các cây cầu bằng cách nào. Trong tất cả mọi trường hợp, không được tham dự vào một trận đánh thật sự vì lực lượng yếu quá. Vả chăng kế hoạch chỉ có thể thành công với hai điều kiện: phòng tuyến địch phải tan vỡ, và đơn vị phải đi sâu vào phòng tuyến địch ngay trong ngày đầu tiền.
    Trong đêm 15 rạng ngày 16 tháng 12, không ai chợp mắt được. Chúng tôi chờ lên đường vài giờ sau khi cuộc Tổng phản công bắt đầu. Ba bộ phận truyền tin của tôi được đặt ở ven rừng. Chúng tôi chuyển các mệnh lệnh đầu tiên của tôi cho ba Tiểu đoàn chiến đấu: các Tiểu đoàn phải bố trí sau đơn vị thiết kỵ. Họ phải chờ lệnh tôi để mặc quân phục, ngụy trang vào và tiến theo các chỗ hở của phòng tuyến địch. Hiện tại, tất cả chúng tôi đều chờ đợi trong một trạng thái tinh thần căng thẳng tột độ. Rất chậm, thật chậm, bình minh ngày 16 tháng 12 năm 1944 ló dạng.
    Đồng loạt, hàng ngàn đại bác nổ vang, phóng một màn lưới đạn vào vị trí địch. Lập tức dàn đại pháo tiến lên, tầm bắn nới rộng dần, pháo binh của Đức đã khởi sự tấn công. Không thể ngồi tại chỗ, tôi tìm đến Bộ Tham mưu Quân đoàn.
    Đến 7 giờ sáng, các báo cáo đầu tiên được gởi về. Không có gì sáng sủa lắm, nhưng ngày còn dài. Hỏa lực pháo binh cực mạnh của Đức, hình như không làm các đơn vị Mỹ gần Loosheim nao núng. Địch quân chống trả với sự táo bạo không ngờ, cuộc tấn công của chúng tôi dậm chân tại chỗ. Chúng tôi chờ đợi, răng nghiến chặt. Đến trưa, báo cáo cho biết đã đụng độ ác liệt, chiếm được vài phần đất – nhưng chắc chắn đó không phải là chọc thủng phòng tuyến như dự trù.
    Tôi tự hỏi tại sao Bộ Tư lệnh chưa tung chiến xa ra. Chúng đã tiến được vài cây số - đúng phần đất vừa chiếm được – và hiện tại chúng tạo thành tuyến hỏa lực của pháo binh. Các đơn vị chiến đấu của tôi vẫn ở sau các đơn vị chiến xa.
    Một lát sau, radio báo cáo cho tôi cái chết của Trung tá Hardieck. Đại úy Foelkersam lên nắm quyền chỉ huy Tiểu đoàn.
    Ngày 16 trôi qua và Quân đoàn 6 thiết kỵ chưa thu đạt được kết quả quyết định. Ngay từ đầu buổi chiều, ai cũng biết là phải gọi chiến xa, nếu vẫn còn muốn chọc thủng phòng tuyến địch. Để có thể có một cái nhìn tổng quát, tôi thử lái xe đến tận Loosheim. Trên đường đủ mọi loại xe tạo thành cảnh kẹt cứng. Để tới được thành phố nhỏ bé kia, tôi phải xuống xe không ngừng la hét, chửi thề, ra lệnh cho tài xế các xe vận tải làm kẹt đường và như vậy là tôi đã đi bộ 10 cây số. Tại Loosheim, người ta có thể nghe rất rõ tiếng súng. Trong các cánh rừng bao quanh thành phố, quân dù ra mặt trận từ sáng đang khó nhọc tiến lên, xế về phía Nam, tình hình có vẻ khá hơn.
    Tại Loosheim tôi gặp một bộ phận thuộc Đại đội chỉ huy của tôi, nghĩa là đơn vị mà tôi giữ lại để đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp. Tức khắc tôi phải lấy một quyết định cực kỳ quan trọng: rõ ràng là các đơn vị của tôi hôm nay không đến được các mục tiêu phải chiếm nội trong ngày đầu. Theo lý mà nói, tôi phải hủy bỏ “chiến dịch con Rồng” – chiến dịch do tôi trách nhiệm thực hiện, và được soạn thảo công phu biết bao! Tuy nhiên tôi không phải là người bỏ cuộc dễ dàng. Vả chăng tôi vẫn còn một hy vọng nếu các chiến xa tấn công đêm nay, cuộc Tổng phản công vẫn còn có thể thành công. Vậy tôi sẽ đợi 24 giờ nữa. Nếu ngày mai chúng tôi vượt qua được đỉnh núi Haut Venn, quân lực chúng tôi có hy vọng đến được sông Meuse, lúc đó việc chiếm giữ trước các cây cầu bởi các đơn vị thuộc Lữ đoàn của tôi, sẽ quyết định số phận của trận chiến.

  • Út Mót

    khoảng 1 10 năm trước
  • Với những quân nhân hăng say nhất của Đại đội chỉ huy, tôi tổ chức ba toán phụ trách gây rối loạn sau hậu tuyến địch. Tôi ra lệnh cho họ tìm cách xâm nhập vào sau phòng tuyến địch xa về phía Nam, để cố sức thi hành các nhiệm vụ phức tạp được giao phó. Tôi yêu cầu họ đặc biệt nhắm khai thác ba con đường mà ba Tiểu đoàn chiến đấu bạn sẽ đi qua nếu tình hình diễn tiến tốt đẹp.
    Sau đó tôi trở lại Bộ Tư lệnh Quân đoàn. Vào nửa đêm, chiến xa khởi sự tấn công. Những tin tức đầu tiên về cuộc tiến quân của chiến xa đến với chúng tôi có lẽ vào lúc hừng đông. Sau 36 giờ không nghỉ ngơi, tôi hoàn toàn mệt mỏi, tôi nằm dài trên một tấm đệm và đắm chìm tức khắc vào một giấc ngủ mê mệt.
    Ít lâu sau tôi được đánh thức và được báo cho biết toán quân thứ nhất đã trở lại. Các tin tức được mang về chắc sẽ làm Bộ Tổng Tư lệnh hài lòng. Đến 5 giờ sáng, Bộ Tham mưu nhận được điện văn đầu tiên của Đơn vị chiến xa: “vừa chiếm được làng Honsfeld, địch quân chống trả mạnh mẽ”. Có thể là cuộc Tổng phản công tiến triển được, chúng tôi nghĩ thầm. Ngay sau đó, đơn vị chiến xa xung trận ở phía Nam cũng loan báo tiến chiếm được đất đai đáng kể.
    Sáng sớm, Bộ Tham mưu phải di chuyển dần về phía Tây, trong vùng Manderfeld. Tôi quyết định đến đó trước để dò đường. Đường xá bị kẹt còn hơn cả hôm qua. Một dọc xe nối đuôi nhau nhích từng bước một – từng 50 thước – 100 thước – và 50 thước nữa. Tôi mất bình tĩnh, quay trở lại và tìm các lối đi mới mở, xe chạy được. Nhưng khi vừa đến một làng khác tôi lại rơi vào tình trạng kẹt xe. Tôi phải bỏ xe để đi bộ. Đôi khi, nhờ kiên nhẫn, tôi giải tỏa được cả một đống xe dồn cục. Mỗi khi thấy một sĩ quan ngồi nghỉ mệt thong thả nơi ghế đệm trên xe, tôi yêu cầu ông ta xuống xe và thử điều khiển tình trạng lưu thông quá sức tưởng tượng này.
    Trên một con đường gần Stadtkyll, một xe rờ mọc khổng lồ của Không quân đã đụng nhiều xe khác và bít luôn con lộ. Chừng 30 người cố gắng đẩy chiếc xe khổng lồ này nhưng vô ích. Khi tôi hỏi xe chở gì, tôi hết sức ngạc nhiên được biết đó là các bộ phận rời của hỏa tiễn V1 (5). Có lẽ người ta đưa thứ này thật xa về phía tiền tuyến với hy vọng rằng trong ngày đầu tiên, phòng tuyến sẽ được đẩy lui thật sâu về phía Tây, hiện tại mệnh lệnh này không còn giá trị nữa tuy nhiên tên ngu ngốc nào đó đã quên hủy lệnh cũ đi.
    Thấy chiếc rờ mọc khốn nạn không muốn trở lại vị trí bình thường, tôi cho gọi tất cả những người có xe bị kẹt. Lập tức hàng trăm cánh tay làm công việc dỡ hàng, sau đó chiếc rờ mọc bị lật xuống một hồ nước bên lề đường. Trong 15 phút con đường được giải tỏa.
    Buổi tối, tại Manderfeld, tôi được tham dự một thứ hội đồng chiến tranh thật sự. Đơn vị chiến xa mạn Bắc của chúng tôi chỉ có thể tiến với giá thật đắt của các trận đụng độ gay go. Hiện tại, chúng đang chiến đấu trước Stavelot, nơi đây được quân Mỹ giữ vững. Tin tức ở các khu vực khác khả quan hơn nhưng chưa phải là được như ý. Rõ rệt là địch quân bị ngạc nhiên về đợt phản công bất ngờ, nhưng họ bám chặt lấy vị trí, trong khi chúng tôi hy vọng họ bỏ chạy, và cũng không bao giờ có chuyện địch quân rút lui hấp tấp để có thể thi hành chiến dịch con Rồng một cách thành công nữa. Chúng tôi cũng không còn nghĩ đến việc quân đội Đức có thể tiến đến sông Meuse vào ngày mai hay ngày mốt. Các lực lượng trừ bị của địch đã can thiệp mạnh mẽ vào trận chiến rồi.
    Trơng những điều kiện đó, tôi phải từ bỏ chiến dịch, tất cả mọi ý định làm thử đều là điên rồ. Chắc chắn là tôi không vui gì khi quyết định như vậy, nhưng sau khi suy nghĩ chín chắn, tôi thấy không thể nào làm khác hơn. Tôi báo cho Bộ Tham mưu Quân đoàn 6-Thiết kỵ biết quyết định và được chấp thuận. Mặt khác, tôi báo cho các đơn vị chiến đấu của tôi và cho lệnh phân tán mỏng tại chỗ để chờ chỉ thị khác. Sau cùng, tôi đặt Lữ đoàn thuộc quyền sử dụng của đệ nhất Thiết đoàn SS – trong đơn vị này, may ra chúng tôi còn làm được một cái gì – và yêu cầu người ta giao cho một nhiệm vụ bộ binh phù hợp với khả năng của chúng tôi.
    Tuy nhiên đến ngày 18 tháng 12, cuộc tiến quân của đơn vị mà chúng tôi gia nhập đã thình lình bị dừng lại. Tại Troisponts nơi đơn vị vừa mới chiếm lúc 11 giờ sáng, các cây cầu bị giựt sập, buổi chiều, đơn vị này, may ra chúng tôi còn làm được một cái gì – và yêu cầu người ta giao cho một nhiệm vụ bộ binh phù hợp với khả năng của chúng tôi.
    Tuy nhiên đến ngày 18 tháng 12, cuộc tiến quân của đơn vị mà chúng tôi gia nhập đã thình lình bị đứng lại. Tại Troisponts nơi đơn vị vừa mới chiếm lúc 11 giờ sáng, các cây cầu bị giựt sập, buổi chiều, đơn vị còn chiếm được Gleize và Staumont. Tuy nhiên tất cả điện văn từ tuyến đầu gởi về đều yêu cầu tiếp tế xăng và đạn. Vì cả hai nhu cầu đều không được thỏa mãn, đơn vị dậm chân tại chỗ. Và mặc dù cố gắng hết sức, các xe chuyên chở tiếp liệu không làm sao đến được với chúng tôi. Hiện tại không ai còn nghĩ đến tiến quân nữa.
    Sáng hôm sau lại một mối lo âu mới xuất hiện. Gần như cả mạn sườn phía Bắc của hướng Tổng phản công bị bỏ ngỏ. Nhất là từ Malmédy, một giao điểm lưu thông quan trọng, địch quân cứ đổ quân trừ bị về phía Nam để cắt đứt căn cứ xuất quân của chúng tôi. Ngươi ta hỏi tôi có thể đảm trách tấn công thành phố ấy để trám chỗ hở của phòng tuyến không, nếu Malmedy lọt vào tay chúng tôi, các đợt phản công của địch sẽ không còn đáng sợ nữa.
    Tất nhiên tôi nhận lời và ra lệnh cho 3 tiểu đoàn chiến đấu tập trung chung quanh làng Engelsdorf ngày 20 tháng 12. Tại đó tôi trình diện Bộ Tham mưu Sư đoàn 1 Thiết kỵ SS để hỏi tin tức và ước tính một cuộc tấn công ngay lập tức.
    Vì không có trọng pháo, tôi quyết định đánh Malmédy cả hai mặt cùng một lúc vào sáng ngày 21 tháng 12. Mục tiêu là một dãy đồi phía Bắc thành phố, tại đó chúng tôi sẽ lại tập trung và đánh thẳng vào thành phố. Lúc đó hai con đường từ hướng Bắc gặp nhau ở Engelsdorf chỉ được bảo vệ bởi hai toán mỗi toán chín người – theo ý tôi hỏa lực che chở như vậy không đủ.
    Ngày 20 tháng 12 một đơn vị tiền thám được phái đến Malmédy trở về báo cáo là thành phố được một lực lượng địch tương đối yếu gìn giữ. Trưởng toán tiền thám này là một Đại úy hải quân, ông ta báo cáo với tôi là đã thực hiện một cuộc vượt qua khu vực địch vừa đáng khen vừa đáng ngạc nhiên. Thật ra ông ta không có ý định đó nhưng vì đã đi lạc. Thình lình, trong khi không hề chờ đợi như thế, ông ta thấy mình đứng gần các ngôi nhà đầu tiên của thành phố. Vài người qua đường còn hỏi là quân Đức có đến không. Hiểu rằng đã lọt vào thành phố Malmédy hãy còn do quân Mỹ chiếm đóng, ông ta vội trở lui và quay về Engelsdorf.
    Tóm lại chúng tôi gặp may kinh khủng, ông ta kết luận và nhăn răng cười.
    Tôi suy luận từ cuộc phiêu lưu này là thành phố không được canh phòng. Có thể chúng tôi chiếm được nó mà không cần sửa soạn bằng pháo binh trước. Dầu sao tôi cũng còn mười chiến xa – những chiếc khác đã bị hư hỏng.
    Trong khi chờ đợi tôi nhận được các tin tức do các toán được gửi ra hậu tuyến địch để phá rối. Trong số chín toán nhận lệnh, có sáu hay nhiều nhất là tám toán đã vượt qua được tuyến lửa. Cho đến hôm nay, tôi cũng không thể kể một con số chính xác. Tôi được biết là một vài quân nhân trẻ đã từ chối không chịu xâm nhập vào hàng ngũ Đồng minh vì thiếu can đảm. Ngược lại, hai toán đã bị bắt làm tù binh. Bốn toán khác báo cáo về rất rõ và chính xác là không thể nào làm cho quân Mỹ ngờ được. Do tính cách ly kỳ của sự kiện, tôi muốn kể vắn tắt vài mẩu chuyện lý thú:
    “Ngay hôm đầu tiên, một nhóm đã thành công vượt qua kẽ hở của phòng tuyến địch và tiến cho đến Huy, gần bờ sông Meuse. Tại đó, họ lặng lẽ dừng lại trên một giao điểm lưu thông để quan sát việc chuyển quân của địch. Trưởng nhóm – team leader, nói thạo Anh ngữ, táo bạo đến nỗi dám đi dạo quanh vùng, “để nắm vững tình hình”.
    Sau vài giờ, một Trung đoàn thiết giáp địch chạy ngang và viên chỉ huy đến hỏi thăm đường. Với tài ứng biến mau lẹ, trưởng toán liền trả lời hết sức bay bướm. Anh ta nói rằng “bầy heo Đức” vừa cắt đứt nhiều con đường. Chính anh ta cũng vừa mới nhận lệnh đưa binh sĩ đi vòng trở lại. Sung sướng vì được báo trước kịp thời, các chiến xa Mỹ quả nhiên đã chạy theo hướng mà viên sĩ quan của tôi chỉ cho.
    Khi trở về, toán này lại cắt nhiều đường dây điện thoại và vứt bỏ nhiều bảng chỉ đường do quân Mỹ dựng lên. Hai mươi bốn giờ sau, họ trở lại phòng tuyến bạn, báo cáo nhiều điểm lý thú về tình trạng rối loạn sau lưng phòng tuyến địch.
    Một toán cảm tử khác lại tiến được đến sông Meuse. Họ quan sát thấy rằng dường như Đồng minh không làm gì cả để giữ mấy cây cầu trong vùng. Lúc trở về, họ chặn ngang ba con đường dẫn tới tiền tuyến bằng cách treo những dây vải mầu vẫn được quân Mỹ dùng để chỉ bãi mìn. Sau đó quả nhiên chúng tôi thấy lực lượng trừ bị của địch đến tăng cường phải đi vòng qua ngõ khác.
    Một toán thứ ba đã khám phá ra một kho đạn. Họ ẩn nấp cho đến tối và phá hủy kho đạn này. Sau đó họ tìm thấy một đường dây điện thoại tập trung, và họ đã cắt đường dây này ở ba nơi khác nhau.
    Nhưng ly kỳ nhất phải là câu chuyện của một toán vào ngày 16 tháng 12, tự dưng bỗng thấy đối diện với một vị trí chiến đấu Mỹ. Chừng hai Đại đội G.I hình như đang bảo vệ một khu vực thật dài, đang dựng các rào chắn và đặt các đại liên. Người của tôi phải một phen quá sợ, nhất là khi một sĩ quan Mỹ đến hỏi thăm tin sau cùng về tình hình mặt trận.
    Sau khi hơi tỉnh trí lại đôi chút, Trưởng toán cảm tử - mặc một bộ quân phục mới và mang lon Trung sĩ Mỹ - đã kể lại cho viên Đại úy Yankee cả một câu chuyện dựng đứng hay ho. Chắc chắn là quân Mỹ đã bắt đầu sợ vì họ đọc thấy trên nét mặt các cảm tử quân của tôi nét sợ hãi mà họ cho rằng là hậu quả của việc gặp gỡ tụi “Damned Germans”. Bởi vì, theo lời viên Trưởng toán, anh ta tin rằng tụi Đức đã vượt qua vị trí này rồi, cả bên phải lẫn bên trái, khiến cho vị trí này gần như đã bị bao vây. Rất ngạc nhiên, viên Đại úy lập tức cho lệnh rút lui.
    Tổng quát, trong các trường hợp, sự thành công của cảm tử quân vượt xa điều mong ước. Vả chăng, vài ngày sau, đài phát thanh Mỹ ở Calais (6) loan tin khám phá một hệ thống gián điệp và nhân viên phá hoại đằng sau phòng tuyến Đồng minh – các hoạt động đó đặt dưới quyền Đại tá Skorzeny, người “chiếm đoạt” được Mussolini. Quân Mỹ còn tuyên bố bắt được hơn 250 người của đơn vị tôi – con số phóng đại quá. Về sau, tôi được biết rằng phản gián Đồng minh, bị khích động bởi lòng hăng say quá mức, đã bắt luôn một số binh sĩ hay sĩ quan Mỹ chính cống.
    Các câu chuyện tức cười mà tôi được nghe các sĩ quan Mỹ kể lại khi chiến tranh chấm dứt, nếu đem in cũng phải cả một cuốn sách. Đại úy X. chẳng hạn, lúc đến một thành phố ở Pháp và đi vào một câu lạc bộ của Đức cũ, trông thấy một đôi giày cao cổ. Tình cờ cỡ giầy vừa với chân ông, ông ta bèn lấy mang suốt ngày. Nhưng các M.P. được tung ra để bắt gián điệp, trông thấy và suy đoán rằng Đại úy X. là một gián điệp Đức. Do đó, ông ta bị bắt và bị giải đi một cách không mấy êm ái. Ông ta bảo đảm với tôi rằng không bao giờ quên được tám ngày bị giam trong một nhà lao quân sự kém tiện nghi.
    Hai Thiếu uý trẻ mới đến Pháp tháng 12 năm 1944, một hôm được viên chỉ huy một đơn vị đã từng quen với đời sống khổ nhọc tại mặt trận mời ăn. Lễ phép và dễ thương, hai sĩ quan trẻ tuổi tin rằng cần phải kín đáo ca tụng bữa ăn vốn chỉ gồm toàn đồ hộp. Lời ca ngợi và thêm vào đó là quân phục tinh khiết mới toanh làm họ bị nghi ngờ đến nỗi các M.P. được gọi đến đã lôi họ từ chiếc ghế nơi bàn ăn và đem nhốt lập tức. Nguyên nhân là vì binh sĩ Mỹ, vốn chán loại đồ hộp ăn hoài ăn mãi, không thể chấp nhận một người Mỹ chính cống lại có thể đi ca tụng một thứ thức ăn đáng buồn nôn như vậy.
    Chưa hết. Tin rằng tôi có thể làm mọi chuyện kinh hồn và táo bạo nhất, phản gián Đồng minh cho là phải bắt buộc áp dụng các biện pháp đặc biệt để bảo vệ Bộ Tư Lệnh Tối cao Đồng minh. Do đó, Đại tướng Eisenhower bị cầm giữ nhiều ngày trong Bản doanh của ông. Ông phải ở trong một ngôi nhà được bảo vệ bằng nhiều vòng đai M.P. Đại Tướng thấy chán ngay và tìm mọi cách thoát khỏi vòng canh giữ đó. Phản gián Đồng minh bèn tìm được một người giống Đại Tướng như đúc. Đó là một sĩ quan tham mưu, và ông ta giống tướng Eisenhower quá sức tưởng tượng. Mỗi ngày ông Tư lệnh giả, mặc quân phục Đại tướng, leo lên xe của thượng cấp mình đi về Ba-lê, để lôi cuốn sự chú ý của “gián điệp Đức”.
    Ngay cả Thống chế Montgomery cũng suýt bị M.P. bắt giữ và tra hỏi nhiều lần trong suốt thời gian có cuộc Tổng phản công tại Ardennes. Một người đùa cợt dễ thương tung tin đồn rằng một tên trong nhóm Skozeny đã giả dạng viên Thống chế Anh để làm gián điệp. Do đó quân M.P. quan sát thật kỹ tất cả các tướng lãnh Anh đi lại ở Bỉ.
    *
    Sau một lúc thoải mái, chúng ta hãy trở lại Malmédy. Chiều ngày 20 tháng 12, hai trong số ba Tiểu đoàn của tôi đã đến Engelsdorf. Tiểu đoàn thứ ba vì ở quá xa, không đến kịp được. Vì quân số quá ít, nên chúng tôi không gây trở ngại cho nhau làm chi.
    Tôi quyết định khởi sự tấn công vào rạng đông ngày 21 tháng 12. Tiểu đoàn thứ nhất tấn công mặt Đông Nam, đơn vị kia do Foelkersam chỉ huy, tấn công mặt Tây Nam. Họ phải tấn công sâu vào phòng tuyến địch và tiến vào trung tâm thành phố. Trong trường hợp gặp sức kháng cự quá mạnh, chỉ cần để một ít quân số trước các vị trí quân Mỹ, lực lượng chính phải được điều động để chiếm các ngọn đồi phía Bắc Malmédy.
    Đúng 5 giờ sáng, các toán quân khởi sự tấn công. Vài phút sau, một loạt đại bác nổ kinh hồn chận hằn cánh thứ nhất ngay tức khắc và toán này mất liên lạc, phải rút lui về vị trí xuất phát. Về phần cánh thứ nhì, tôi tự hỏi không biết số phận ra sao. Từ một giờ qua, tôi chẳng có tin tức gì. Ngay khi trời vừa sáng, tôi đi bộ lên tuyến lửa. Từ trên đỉnh một ngọn đồi, tôi nhìn thấy thật rõ con đường hình vòng cung phía Tây Malmédy; ngay chính cả thành phố cũng được ẩn dưới một thế đất trũng sâu. Và trên ngọn đường này, tôi dùng ống dòm và thấy sáu chiến xa Panther của tôi đang chiến đấu trong tuyệt vọng với một lực lượng Thiết giáp địch mạnh hơn gấp bội. Trời đất! – Chính các chiến xa này phải bảo vệ mạn sườn phía trái hướng tấn công của chúng tôi.
    Rõ ràng là Foelkersam, hăng say và táo bạo, chưa muốn bỏ thành phố. Nhưng đã có vài binh sĩ thối lui về phía tôi. Họ cho biết là đã đụng với các pháo đài quá chắc và được bảo vệ mạnh mẽ, khó thể chiếm được nếu không có đại bác yểm trợ. Chiến xa của chúng tôi cố đánh trong tuyệt vọng để ít ra là cũng che chở được cho quân bạn rút lui. Tôi tập họp các đơn vị đằng sau đồi để hy vọng tung ra đợt tấn công khác. Tuy nhiên, hiện tại – tôi vẫn chưa thấy bóng dáng Foelkersam đâu cả.
    Các xe bọc sắt của chúng tôi đã mang các thương binh cuối cùng trở về. Mối lo lắng của tôi càng tăng, liệu trong vụ ngu si này tôi có bị mất người bạn thân, người cộng sự trung thành không? Sau cùng, hắn xuất hiện kia kìa và bắt đầu vạch cỏ tiến lên đồi. Tôi chú ý thấy hắn dựa một cách nặng nề vào viên bác sĩ. Đến gần tôi, hắn ngồi xuống thật thận trọng, trên mặt đất ẩm ướt. Với một nụ cười yếu ớt, hắn giải thích là đã bị lãnh một mảnh đạn vào đúng ngay chỗ nhiều thịt nhất trong thân thể.
    Dưới sự che chở của vài khẩu Bazooka chúng tôi mở một buổi họp ngắn. Viên Đại đội trưởng thiết giáp một lúc sau cũng tìm lại được chúng tôi – ai nấy tin rằng ông ta đã chết – và cho biết ông đã tiến được đến các vị trí pháo binh Mỹ và nghiền nát một khẩu, và đến khi bị phản công bởi lực lượng đông gấp hai, ông ta mới bị đẩy đến đoạn đường vòng cung. Tuy nhiên vì cố thủ ở một vị trí trống trải như thế để giúp quân bạn rút lui, ông mất tất cả các chiến xa.
    Chúng tôi bị bắt buộc phải giữ bình tĩnh ít ra cũng trong lúc này. Vào buổi chiều tôi rải các đơn vị trên đỉnh các ngọn đồi đang chiếm giữ, bằng một tuyến mỏng manh kinh khủng thành một phòng tuyến dài 10 cây số. Trong lúc đó pháo binh địch gia tăng mãi cường độ hoạt động gần như là cả một sự tận diệt, làm đổ nát toàn bộ làng Engelsdorf và các con đường chung quanh.
    Đến tối, tôi đến Bộ Tư Lệnh Sư đoàn để báo cáo. Sau khi trình bày tình hình của chúng tôi với Tham Mưu Trưởng, tôi đi về phía khách sạn độc nhất trong thị trấn. Còn cách lối vào chừng 30 thước, một tiếng rít mà tôi rất quen thuộc làm tôi nhảy một bước đến ngay vòm cửa chính. Một lát sau một đầu đạn khổng lồ rơi đúng vào chiếc rờ mọt dùng làm văn phòng của viên Tham mưu trưởng. Ông này gặp may mắn nhiều, khi kéo ông ra khỏi đống đổ nát chúng tôi nhận thấy ngoài một mảnh đạn ở lưng, ông ta không bị một vết trầy nào. Vì lẽ vùng này càng ngày càng bất ổn, tôi nhẩy lên xe – may thay xe tôi tránh khỏi cuộc pháo kích nhờ đậu sau khách sạn – tài xế mở máy và vọt chạy hết tốc lực. Đêm thật tối, và đèn xe của chúng tôi được che dấu cẩn thận. Chúng tôi mò mẫm tìm đường, chầm chậm. Ngay khi xe vừa qua khỏi một chiếc cầu nhỏ, ba quả đạn rơi nổ thật gần. Tôi cảm thấy trán bị chạm mạnh, do linh tính, tôi nhảy ra khỏi xe và nhào xuống một hố bên đường. Một lát sau, một chiếc xe vận tải chạy ngược chiều đụng mạnh vào xe tôi, (lúc đó đèn xe đã được tắt hết). Có cái gì nong nóng chảy trên mặt. Tôi thận trọng sờ tay lên má, mũi, bên trên mắt phải, ngón tay tôi chạm phải một mảnh thịt bầy nhầy. Tôi sợ hãi, giật nảy mình. Mắt tôi bị hỏng rồi chăng? Đó là điều tệ hại nhất có thể xảy đến cho tôi. Suốt đời, tôi thường ái ngại cho những người mù mà số phận cực kỳ ghê rợn đối với tôi. Không cần quan tâm đến cả cuộc pháo kích mà lúc này đạn rơi như mưa chung quanh, tôi khám xét nhẹ nhàng vùng nằm trên mảnh thịt bị rách. Lạy Trời! Tôi cảm thấy tròng mắt còn nguyên và nằm yên ổn trong hốc xương mắt.
    Tôi tỉnh trí lại ngay, tài xế của tôi không bị thương tích gì cả, chiếc xe đã chịu được sự đụng chạm và có thể chạy lại được. Chúng tôi quay xe lui - mặc kệ nắp xe – và vài phút sau chúng tôi đã trở lại Bộ Tư lệnh Sư đoàn.
    Nếu suy diễn dựa theo nét hốt hoảng của các sĩ quan, thì tôi phải được kể là gặp nhiều may mắn. Nhờ một chiếc gương soi tôi xem xét bộ mặt bằng con mắt trái. Chắc chắn là mặt tôi không đẹp đẽ gì. Khi tài xế khám phá nơi ống quần bên chân phải của tôi có bốn lỗ và tôi thấy trên da dấu vết của hai mảnh đạn xuyên qua, tính hài hước của tôi chợt ùa đến. Rõ rệt tôi là một tên gặp thời vận hên. Thời gian chờ bác sĩ rất dễ chịu nhờ một ly cô nhắc và một đĩa “goulash” (thịt bò nấu theo kiểu Hung-gia-lợi) do một xe rượu lăn đến. Đáng tiếc, tôi không thể hút thuốc được, máu làm ướt ngay điếu thuốc và tạo nên một mùi kỳ dị.
    Sau cùng viên bác sĩ đến, ông ta nhiếc mắng tôi không tiếc lời – thay vì tỏ ra mừng rỡ vì tôi không việc gì, và quyết định đưa tôi đến bệnh xá lập tức. Thật thà mà nói, tôi rất bằng lòng được rời khỏi thung lũng địa ngục này - rất có thể tôi sẽ bỏ thây tại đó.
    Mặc dù các bác sĩ muốn đưa tôi về hậu tuyến, tôi phát biểu ý định trở lại chỉ huy đơn vị càng sớm càng tốt. Tình hình nghiêm trọng quá không cho phép tôi nghĩ đến việc trở về Đức. Vả lại, tôi rất vững tâm, viên bác sĩ nhún vai, làm tê khu vực bị thương, gắp vài mảnh đạn và may miệng vết thương. Cuộn băng được xiết mạnh để giữ cho da nằm yên chỗ. Hôm sau, tôi trở lại vị trí chiến đấu.
    Tại đó, tôi thấy vị trí của chúng tôi có nguy cơ thất thủ. Pháo binh địch hình như tỏ vẻ ưu ái thật sự đến toán quân yếu ớt của tôi. Trong ngày, một trái phá đã làm cháy tiêu một chỗ rất thích hợp cho những người suy tưởng một mình, một trái khác ngang qua cửa chuồng bò và giết con bò cái già nua đáng thương của chúng tôi. Tái ông thất mã – chúng tôi lại có thịt tươi để ăn.
    Đêm kế, chúng tôi bị đánh thức bởi những tiếng động lạ tai. Trên đầu chúng tôi những hoả tiễn V.1 (7) vạch từng đạn đạo cháy sáng hướng về phía Liège. Điều ấy an ủi chúng tôi phần nào trước sự biệt tăm biệt tích của Không quân. Tuy nhiên một hai đêm sau, khi một chiếc bom bay ấy rơi xuống một ngọn đồi cách ngôi nhà chúng tôi đang chiếm đóng chừng 100 thước – may mà không nổ - chúng tôi lại tiếp tục có những cảm nghĩ không tốt đẹp đối với Không quân. Ai bảo đảm rằng chiếc V.1 kế tiếp sẽ không làm tai hại hơn? Không chừng dư luận đồn đại bấy lâu nay lại đúng sự thật: người ta nói rằng các công nhân phụ trách ngoại quốc ráp các bộ phận điều chỉnh phương hướng của bom bay V.1, càng ngày càng gia tăng phá hoại các khí cụ tinh vi ấy.
    Ngày 23 tháng 12, tôi đi Meyrode để thúc đẩy Bộ Tham mưu Quân đoàn 6 thiết kỵ. Thật vậy, trang bị và tiếp liệu của chúng tôi rất thê thảm, nhất là vì không chuẩn bị cho một cuộc chiến đấu lâu dài. Vì không có được một hoả đầu vụ lưu động, việc sửa soạn một bữa ăn nóng là một vấn đề đáng lo ngại. Chúng tôi thiếu quần áo mùa đông và nhất là thiếu trọng pháo.
    Cuộc hành trình rất sôi động. Thời tiết quang đãng trở lại và đã trả bầu trời lại cho không quân địch - chắc chắn không phải cho phi cơ Đức vì chẳng thấy chúng đâu cả. Chúng tôi luôn luôn bị bắt buộc phải dừng xe lại và nhảy xuống hồ. Đôi khi vì muốn tránh các giao lộ nguy hiểm, chúng tôi băng đồng và không tìm thấy chiếc hố nào sử dụng được, lúc đó chỉ còn cách nằm sát mặt đất, mũi cắm trong bùn. Trong một lần “thao diễn” ấy, đột nhiên tôi cảm thấy ớn lạnh, răng đánh bò cạp, mình mẩy ướt đẫm mồ hôi…. Chắc chắn là vì vết thương hành nên bị sốt, mặc dù được băng bó, vết thương đã phần nào bị nhiễm độc.
    Trong một nông trại bỏ hoang, tôi nằm trên giường của một nông dân, uống ngấu nghiến vài viên aspirine với một ly rượu “grog” gồm có rhum và nước chanh. Tài xế và sĩ quan tuỳ viên của tôi tiếp tục đi Meyrode. Vài giờ sau, khi họ trở lại, tôi thấy đỡ hơn và cố gắng “đi về nhà”, nghĩa là về vị trí chỉ huy.
    Ngày 24 tháng 12, sau cùng pháo binh bạn lâm trận, điều mà chúng tôi chờ đợi từ lâu. Lập tức, tôi chỉ cho viên sĩ quan chỉ huy pháo binh các địa điểm mà tôi đã chọn trước để đặt súng và các toạ độ phải rót đạn vào mà tôi đã chấm sẵn. Ông ta ngẩng đầu, nghe tôi mà không nói một lời. Nhưng khi tôi yêu cầu ông ta cho đặt các khẩu đại pháo ngay và thật nhanh, ông ta bảo:
    - Thưa Đại Tá, tôi phải trình bày rằng tôi chỉ còn vỏn vẹn có 16 quả đạn cho mỗi khẩu đại pháo và hiện tại tôi không thể trông chờ vào một sự tiếp tế đạn dược nào cả.
    Thoạt tiên, tôi lặng câm, quá sửng sốt đến nỗi không thốt ra được lời nào. Tôi tự hỏi không biết nên cười hay nên khóc. Đấy, lực lượng pháo binh được nóng lòng trông chờ bấy lâu nay – và nó đến ngay vào ngày Giáng sinh, gần như là món quà tặng - thế nhưng chúng tôi lại không có đạn. Rõ rệt là viên sĩ quan chỉ huy pháo binh không thể làm gì hơn – ông ta tỏ ra rất đau khổ - nhưng cuộc điện đàm của tôi với Bộ Tham Mưu Quân đoàn 6 lại rất sôi nổi. Tất nhiên cơn thịnh nộ của tôi không mang lại kết quả gì. Không bao giờ chúng tôi còn nhận được thêm đạn dược nữa.
    Một lần nữa, tôi nghĩ đến một cuộc tiếp xúc sau cùng với Fuhrer. Theo các lời tuyên bố của Ngài, tổ chức Todt đã cho áp dụng các biện pháp thích nghi để đảm bảo việc chuyển vận nhanh chóng xăng và đạn dược cho đến tuyến đầu, đặc biệt là với các xe bồn xăng. Để đạt được kết quả, dọc hai bên đường, tổ chức Todt sẽ đặt vô số bồn đậu to lớn bằng gỗ để tiếp tế cho các xe chở xăng. Thế mà, mặc dù tôi đã di chuyển không biết bao nhiêu lần trên các con đường trong toàn vùng hỏa tuyến, chẳng bao giờ tôi thấy được một bồn dự trữ trứ danh ấy cả. Có thánh mới hiểu được...
    Ngày 28 tháng 12 năm 1944, chúng tôi được một sư đoàn bộ binh thay thế. Ngày hôm sau chúng tôi tạm đóng quân trong những lều tạm trú phía Đông thành phố Saint-Vith. Chằng bao lâu sau cuộc rút lui toàn diện đã đưa chúng tôi trở về Đức.
    Đối với tôi cũng như đối với toàn thể Quân lực Đức, cuộc Tổng phản công tại Ardennes đã kết thúc bằng cuộc bại tẩu.




    ---------------------------------------------------------------------- ----------



    (1) Đọc "Những trận đánh lịch sử của Hitler".
    (2) Kể tôi nghe câu chuyện bổ nhiệm lần sau cùng của anh.
    (3) Vâng, thưa Trung Tá tôi “đã trở thành” lần bổ nhiệm sau cùng “trước” năm tháng.
    (4) Đọc “Hitler và Các Danh Tướng Quốc Xã”, bản dịch Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên, sách đang in – Sông Kiên xb.
    (5) Đọc "Hitler và Vũ Khí Bí Mật", Sông Kiên xb.
    (6) Pas de Calais: vùng duyên hải biển Manche, cực Bắc nước Pháp.
    (7) Đọc "Hitler và Vũ Khí Bí Mật", bản dịch Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên - Sông Kiên xb.
    hết: Chương XX

  • Út Mót

    khoảng 1 10 năm trước
  • Chương XXI

    Thế là hết



    Ngày 30 tháng giêng 1945 một mệnh lệnh do Himmler ký đã chấm dứt vai trò lãnh đạo cảm tử quân của tôi. Thật vậy, tôi được giao phó nhiệm vụ, cùng với các "đơn vị đặc biệt" lập một đồn đầu cầu phía Đông sông Oder, gần Schwedt, và cố thủ bằng mọi giá để giúp chuẩn bị một "cuộc phản công sắp đến, sẽ phải xuất từ vùng đầu cầu này".
    Sau nhiều khó khăn không tưởng tượng được, tôi tập họp thành công một số đơn vị khá dị dạng, để bố trí chặt chẽ địa điểm chỉ định, tôi cũng kiếm được một hỏa lực pháo binh tối thiểu và nhất là tái võ trang phần nào tinh thần binh sĩ. Đây chính là cả một sự sụp đổ chắc chắn, không thể cứu vãn được, không tránh được. Tất nhiên, phản công không còn là vấn đề nữa. Trở thành Tư lệnh Sư đoàn, tôi hết sức cố gắng trong vô vọng, tổ chức các cuộc tấn công hạn chế, nhưng liên tục, gây rối loạn sự sắp xếp, bố trí của các đơn vị Nga sô, chúng đang sắp sửa giáng cho chúng tôi đòn tối hậu. Chẳng bao lâu vùng đầu cầu của tôi trở thành một hòn đảo trong làn sóng hỗn độn gồm hằng triệu thường dân ty nạn và vô số đào binh. Tuy nhiên chúng tôi đứng vững cho đến ngày 28 tháng 2, ngày mà một công điện của Hitler, cho gọi tôi về Bá-linh. Lòng quặn đau, tôi giã biệt các "đơn vị đặc biệt" của tôi mà tôi không bao giờ còn được gặp lại.
    Trong những tháng kế tiếp, sự tan rã của sức đề kháng quân sự của Đức đã được xác nhận. Tôi trải qua sự bối rối, chán nản, những cảnh tàn bạo xảy ra khắp nơi - đó là những kỷ niệm đau lòng mà tôi không mấy khi thích gợi lại. Ngày 10 tháng 4 năm 1945, tôi đang ở Áo, tại kinh thành Vienne, lúc đó gần như đã bị bao vây. Sáng hôm đó, đài phát thanh Đức loan báo:
    - Bá-linh sẽ đứng vững mãi, Vienne sẽ được giải thoát!
    Vài phút sau, quả đại bác đầu tiên của Nga sô rơi vào một công viên ngay trung tâm Bá- linh. Tại Vienne, tôi thấy rõ là tình thế đã tuyệt vọng: thành phố nơi chôn nhau cắt rốn của tôi đã bị quân Nga chiếm đóng, ngoại trừ một vài khu vực vẫn còn cầm cự như phép lạ.
    Ngày 30 tháng 4 - lúc đang rút lui, cùng với một đơn vị nhỏ về phía dãy núi Alpes - tôi được tin Adolf Hitler đã chết. Thế là hết.
    Ngày 6 tháng 5, Thủy sư Đô Đốc Doenitz, lãnh đạo tân Chính phủ đọc tuyên cáo chấm dứt thù nghịch. Từ hôm đó, tất cả các cuộc chuyển quân đều bị cấm chỉ. Nhưng tôi quyết định rút vào vùng núi Alpes với số binh sĩ và sĩ quan còn lại, vào vùng "Tauern". Lẽ tất nhiên, chiến khu Bavière (1) pháo đài sau cùng của những kẻ trung kiên cuối cùng không hề có, nó chỉ có trên giấy tờ mà thôi.
    Và chúng tôi - Radl, Hunke, 3 binh sĩ và tôi - đang ở trong một căn nhà gỗ nhỏ bên trên thung lũng Radstalt. Chúng tôi biết một đơn vị Mỹ vừa chiếm đóng địa phương này. Vì tin rằng mình đang bị cơ quan tình báo Mỹ lùng kiếm, tôi báo cho đơn vị quân đội Mỹ biết là tôi sẽ đầu hàng tại đây trong vài ngày nữa. Hiện tại hãy tận hưởng không khí thanh bình đang tràn ngập cảnh vật. Không một tiếng trả lời . . .
    Nhưng tôi không thể ở mãi trong căn lều này. Tôi lại gởi một điệp văn cho đơn vị quân đội Mỹ, yêu cầu cung cấp một chiếc xe vào ngày 15 tháng 5, lúc 10 giờ sáng để tôi có thể đi đến Salzbourg. Thật vậy, tôi có ý định đến gặp Bộ Tham mưu Sư đoàn Mỹ đóng tại thành phố ấy để nộp mình làm tù binh chiến tranh.
    Trưa ngày 15 tháng 5, chúng tôi đến Salzbourg. Thoạt tiên chẳng ai thèm chú ý đến chúng tôi. Khi chúng tôi nhấn mạnh lời yêu cầu, người ta lại chuyển chúng tôi đến một địa phương kế cận, nơi đây, một Tiểu đoàn trưởng chấp nhận cho chúng tôi đầu hàng. Trước tiên, viên thông ngôn hỏi tên họ tôi. Kế đó, tôi phải nộp tất cả đồ vật trong các túi áo quần, người ta lục soát tôi...
    Hiện tại, chiến tranh đã thật sự chấm dứt đối với chúng tôi. Tôi tin rằng đã làm hết bổn phận, cũng như bao nhiêu người khác, binh sĩ của tôi đã lăn xả vào các trận chiến khốc liệt, trên tất cả các trận tuyến - tất cả điều đó để rồi đi đến chỗ bại trận. Hiện tại, dù xảy ra thế nào đi nữa cũng đành chịu - Thế Chiến quốc, thế Xuân thu; gặp thời thế, thế thời phải thế! - Tôi chỉ còn là một tù nhân.



    Hết






    ---------------------------------------------------------------------- ----------



    (1) Miền Tây nước Đức, dân số gần 10 triệu người, Thủ đô là Munich.
    hết: Chương XXI


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group