Truyện ngắn Phật giáo - Tâm Không Vĩnh Hữu

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Chuông vọng đêm trường
    Kẻ hèn mọn
    Chữ hiếu
    Nhân lành quả ngọt
    Những người lặng lẽ sạ gieo
    Quà ngày Vu Lan
    Thật như mùa xuân
    Trăng trên áo
    Quạt nở ngàn hoa
    Cao Xanh Bỡn Cợt
    Chết cũng mang theo
    Con Thầy Hiệu Trưởng
    Cuộc Sống Nhiệm Mầu
    Đất Lành Chim Đậu
    Gieo Một Niềm Tin
    Hương Thơm Từ Bạc Mốc






    CHUÔNG VỌNG ĐÊM TRƯỜNG



    Chiều ngày hai mươi ba tháng Chạp năm Giáp Thân, thằng Cầu lấm la lấm lét thập thò trước sân nhà thằng Kính, vào không dám vào mà đi cũng chẳng dám đi. Anh Tư của thằng Kính từ đồng về nhà tình cờ bắt gặp, túm ngay cổ áo nó, gằn giọng:
    - Rình mò cái gì ở đây hở mày?
    Xanh như tàu lá chuối non, thằng Cầu ấp a ấp úng:
    - Em… em tìm… thằng Kính… Đâu có rình gì?
    - Tìm nó, sao không kêu lên?
    - Em… sợ bị… má anh la. Má anh không cho thằng Kính chơi với em… nhưng mà… em nhớ nó quá trời!
    Anh Tư cười, buông bàn tay hộ pháp ra:
    - Tội nghiệp ghê hén. Ai biểu mày ưa ăn cắp vặt, rủ rê bày vẽ cho thằng em tao chôm chỉa của hàng xóm, nên má tao mới cấm cản.
    - Em tu rồi mà!
    Bật cười, xoa đầu tóc thằng Cầu cho rối bời lên, anh Tư nói:
    - Tu rồi hả? Mày mà tu rồi thì cả xóm này đêm ngủ khỏi cần đóng cửa cài then làm gì! Thôi được rồi, nếu mày đã biết ăn năn tu sửa thì không ai ngăn cản gì nữa đâu. Đứng đây chờ tao, tao vô nhà kêu thằng Kính ra cho!
    … Đứng chờ chừng năm phút, từ trong nhà thằng Kính lấm la lấm lét chạy ra. Thằng Cầu mừng rỡ, túm tay thằng bạn chí cốt nói:
    - Có chuyện quan trọng cần bàn với mày, nói ở đây luôn nhé?
    Thằng Kính đảo mắt nhìn quanh dò xét, gật đầu:
    - Nói luôn đi. Chuyện gì vậy?
    Hạ giọng xuống, mặt mày lộ vẻ nghiêm trọng, thằng Cầu nói:
    - Ba tao bệnh nặng quá, ho suốt ngày đêm, chiều hôm kia ho ra cả một cục máu thấy bắt ghê. Còn anh Hai tao thì… nằm liệt luôn trên giường từ ngày quyết tâm cai nghiện xì ke ma tuý, giờ đang ngáp ngáp gần tiêu luôn rồi… Vậy mà nhà không có một xu cạo gió, chị Ba Hân bồ anh Hai có giúp ít tiền nhưng chỉ như gió vào gà trống thôi!
    - Gió vào nhà trống. Chớ gà trống gì? Nhà trống, hiểu chưa?
    - Vậy hả? Ờ… ờ… gió vào nhà trống. Bây giờ mày giúp tao đi!
    - Giúp mày hả? Giúp đi chôm chỉa như mọi lần hả?
    - Suỵt… nói nhỏ nhỏ. Giúp tao một lần này nữa thôi. Xong vụ này rồi, tao hứa với mày, thề độc với mày là tao tu luôn!
    - Trời trời… má tao đã hăm rồi, anh Tư tao cũng dọa rồi, vậy mà mày không sợ, bây giờ còn rủ tao đi chôm chỉa nữa sao?
    - Nhưng mà… tao không rủ mày đi chôm chỉa đồ nhà hàng xóm đâu, cũng không "chà đồ nhôm, chôm đồ nhà" như mấy bữa…
    - Vậy chớ chôm chỉa ở đâu?
    - Ở chùa.
    - Ở chùa? - Thằng Kính trợn mắt ếch-Vô chùa ăn trộm hả?
    - Không còn chỗ nào khác. Tao nghiên cứu kỹ rồi. chỉ còn cửa đó là ngon ăn thôi, rất dễ dàng thò tay bốc lủm!
    - Dễ dàng hả? Dễ dàng thì mày đi một mình đi, rủ thêm tao làm gì?
    - Không, ý tao muốn nói… dễ dàng khi có hai đứa cùng làm. Có một mình tao thì vô cùng khó khăn gian khổ…
    - Nhưng mà… mày tính ăn trộm chùa nào? Chùa thầy Thiện Giác ở mé sông, hay là chùa của sư bà Diệu Linh?
    - À ừm… hai cái chùa đó có nuôi chó, nuôi ngỗng, sư thầy ở trỏng rất đông, rất khó xâm nhập, rất dễ lộ tẩy…
    - Chớ mày định vào chùa nào nữa? Xã mình có hai cái chùa đó chớ mấy? Bộ mày tính… mày tính… qua bên kia sông hả?
    - Đúng rồi. Qua bên kia sông. Chùa Linh Thứu đó mà!
    - Ôi mẹ ơi… không được đâu. Hết chỗ chơi lại nhè ngay cái chùa của sư Kiến Tánh… coi chừng bị hộ pháp long thần vặn cho quẹo cổ, bẻ cho quặt cẳng què giò đó!
    - Tầm bậy. Long thần hộ pháp chốn thiền môn đâu có ác vậy!?
    - Bộ mày không nghe người ta đồn ầm lên về những điều linh thiêng ở chùa này sao? Mới tháng trước có thằng ăn trộm vào chùa lúc nửa đêm, sư thầy ngủ say không biết gì nữa, nó lẻn lên chánh điện, không bợ gì quý báu, lại bợ nguyên một chồng kinh đến mười cuốn dầy cộm khổ lớn, rồi cứ đi lòng vòng quanh chánh điện từ khuya cho tới mờ sáng, đến giờ sư thầy công phu thì bị phát giác. Hỏi mày, ai dắt thằng đó đi vậy?
    - Tao có nghe kể chuyện này rồi, chỉ là đồn đại thôi, làm gì có chuyện hoang đường thần thoại đó mà mày tin? Chẳng qua vì… chùa quá rộng, mà chỉ có một mình sư thầy với bà già nấu bếp, coi ngó không xuể nên sư thầy mới phao tin lên để hù ma nhát khỉ mấy thằng nào yếu bóng vía đó mà!
    - Ờ hén, mày nói cũng có lý. Chắc là tin đồn xạo rồi. Nhưng mà, mày định vào chùa Linh Thứu để chôm chỉa thứ gì?
    - Chậu cảnh. Nhiều lắm, toàn là chậu cảnh quý hếm, đẹp cực kỳ, và rất đắt tiền, lại để ở ngoài sân rất dễ lấy. Chỉ cần một đứa nhảy vào trong, bưng ra hàng rào, chuyền cho đứa đứng ngoài ôm mà chạy đi giấu. Sau đó quay lại làm tiếp chậu thứ hai, ba…
    - Tao… tao nghe mày nói sao dễ dàng trơn tru quá. Thôi được, bây giờ tao giao ước trước với mày, tao chỉ giúp mày di chuyển chậu cảnh đi giấu thôi. Còn chuyện đem đi bán là chuyện của mày, tao không biết tới, có gì mày không được khai tên tao ra…
    - Được, tao hứa. Tao chỉ cần mày giúp một tay nhiêu đó thôi.
    - Tao sẽ vào trong cùng mày cho vui, đỡ sợ. Đồng ý không?
    - Tuyệt cú mèo. Mày đúng là bạn tốt của tao. Vậy thì… tối nay hẹn gặp nhau ở ngoài sân banh, lúc 10 giờ, được không?
    - Được. Nhưng mà… mày đã thăm dò tình hình trong chùa chưa?
    - Rồi. Hồi hôm kia tao có vào chùa chơi, giả bộ xin cơm ăn, thấy chùa cũng chỉ có hai người, sư thầy trụ trì và bà già nấu bếp dì ruột của thầy. Tao đã nhắm trước mấy chậu hoa sứ, xương rồng đang trổ hoa rồi, hỏi giá ở gian hàng hoa Tết của lão Tộ dưới thị trấn luôn rồi, lão chịu mua ngay với giá cao…
    - Vậy thì xong. Mày về đi, tối gặp lại!
    Thằng Cầu mừng rỡ, tung tăng bước về nhà, trong đầu nó đang tính toán sẵn chuyện mang tiền về cho cha, cho anh nó trị bệnh để kịp khỏe mạnh mà đón năm mới…
    … Khuya. Tối đen như mực. Tiếng côn trùng rỉ rả hòa cùng tiếng lá khô xào xạc trong gió lùa từng cơn qua vườn cây chốn già lam thanh tịnh. Hai thằng nhóc ngồi bên nhau ngoài hàng rào râm bụt um tùm, nín thở ngó nhau hội ý qua ánh sáng mập mờ của ngọn đèn từ trong điện Quán Thế Âm chiếu hắt ra yếu ớt. Cả hai đứa đều không lộ vẻ sợ sệt mà còn hứng thú ra phết, chúng cảm thấy như mình đang được đóng phim trinh thám, hay kinh dị nghẹt thở. Thằng Cầu hỏi thật nhỏ bên tai bạn đồng sự:
    - Tao leo tường nhảy vào, mày ở ngoài chờ nghen?
    - Ờ. Tường cao quá, chỉ có thể leo lên để vào trong vườn một đứa thôi. Tao sẽ làm thang cho mày trèo. Nghe rõ chưa?
    - Nhưng vào một mình thì sao tao chuyển chậu qua bức tường này cho mày được?
    - Mình không đem dây thừng theo, ngu quá. Nhổ lấy cây, bỏ lại chậu thôi…
    - Lỡ chết cây thì bán ai mua cho?
    - Không chết đâu. Mày bứng lấy cả đất quăng ra ngoài này cho tao gom lại, rồi hai đứa ôm hết mà về, tìm miếng đất sau nhà mày chôn đỡ xuống, tưới nước nhiều vào, rồi từ từ tính chuyện đem đi bán cho lão Tộ. Làm vậy mới ổn, nghe rõ chưa?
    - Rõ rồi. Tao phục mày sát đất luôn. Mày đúng là Khổng Minh giúp Lưu Bị, không có mày tao chẳng làm nên đại sự gì!
    - Khổng Minh với Lưu Bị đâu có đi ăn trộm của chùa mà mày ví von, đồ ngốc?
    Hai thằng nhóc cười khúc khích, bắt tay nhau thật chặt. Thằng Kính bước lại đứng sát tường rong rêu, khum lưng lại, lấy gồng, dồn sức xuống hai chân cho trụ vững, để thằng bạn đồng sự nhảy phóc lên, bám tường mà trèo lên. Im ắng đến lạ thường. Đưa mắt nhìn xuyên qua bóng tối mịt mờ quanh vườn, thằng Cầu hít một hơi thật sâu, rồi nhảy xuống vườn bên trong chùa nghe cái "phịch". Nó vừa mới lồm cồm đứng dậy, bỗng một luồng sáng của đèn pin chiếu thẳng vào mặt nó. Toàn thân bủn rủn, thằng Cầu cảm thấy như đất vừa lún, trời vừa sập dưới chân và trên đầu mình, nó đứng cứng đờ như khúc cây khô vô hồn thất vía. Người đang cầm đèn pin rọi vào nó đang bước lại từng bước thật nhẹ nhàng, cứ như lướt hỏng trên mặt đất vậy. Thằng Cầu kêu trời trong bụng khi nhận ra đó là sư thầy trụ trì. Gần sát bên nó, sư Kiến Tánh bật đèn pin lên một lần nữa, rọi từ đầu tới chân vị khách không mời mà đến lúc khuya hôm, rồi cười lên ha hả:
    - Tuyệt vời. Rõ ràng là hộ pháp linh thiêng phái người đến chùa đúng lúc để giúp đỡ cho ta một tay đây!
    Rồi không đợi thằng Cầu nói năng thưa thốt gì, sư thầy nắm lấy cánh tay nó mà dắt đi vào giữa sân, đứng lại trước điện Quán Thế Âm trắng toát uy nghi. Thằng Cầu định mở miệng van xin, chợt nghe sư thầy nói nhỏ nhẹ:
    - Ta đang mất ngủ, không biết làm gì, bèn ra đây định xê dịch bài trí lại mấy chậu cây cảnh, nhưng cái chậu mai này quá nặng làm ta nhích đi cũng chẳng được, đang không biết phải làm sao thì có con như trên trời rơi xuống, thiệt là may mắn!
    Ngơ ngơ ngác ngác không biết nói sao, thằng Cầu chỉ còn nước "dạ dạ" lí nhí trong miệng. Sư thầy vỗ tay một cái, hô:
    - Nào, ta cùng xê cái chậu mai tứ quý này qua bên kia. Rồi chuyển cái chậu bách tùng diệp qua lại bên này, vậy là xong!
    Thằng Cầu cùng sư Kiến Tánh khum lưng gồng sức di dời mấy chậu cây kiểng, chỉ trong chớp nhoáng đã xong việc. Sư phủi tay, vỗ vào lưng nó, nói:
    - Vào trong uống nước, thầy thưởng cho lộc Phật về ăn!
    - …
    Dứt lời, sư nắm tay dắt nó đi te te vào dãy nhà bên hông chánh điện. Sư rót nước mời nó uống, đem cả rổ trái cây to đùng ra mời nó ăn, gói cho nó một cái túi nhựa đựng đầy bánh tét, bánh in, mì gói, sữa đường… rồi lẳng lặng ngồi xuống ghế đối diện nhìn nó ăn chuối một cách trìu mến. Chờ nó ăn uống no cành xong, sư mới lên tiếng:
    - Kể cho ta nghe hoàn cảnh gia đình của con đi!
    Thằng Cầu quên béng thằng bạn đồng sự đang còn ở phía ngoài tường bên cổng tam quan, huyên thuyên kể hết chuyện mẹ mất, cha bệnh, anh nghiện ma túy đang thời kỳ cai bỏ… Sư nghe xong, thở dài một hơi thậm thượt, thò tay lục trong túi áo lôi ra một xấp tiền. Không đếm lại làm gì, sư trao hết qua cho nó, bảo:
    - Sư thưởng cho con lộc của Tam Bảo, mang về mà phụ giúp cho cha, cho anh trong những ngày cuối năm này. Cầm lấy đi!
    Thằng Cầu ứa nước mắt, run run đôi tay non nhận lấy quà tặng của sư trụ trì. Sư tiễn nó ra, mở cổng cho nó bước khỏi chốn già lam một cách đường hoàng, còn dặn dò:
    - Giỏ xách hơi nặng, ráng xách về, đừng liệng giữa dòng lúc lội qua sông thì mang tội nghen con. Nếu có gì nguy cấp, con cứ lội sông qua đây, ta giúp được gì sẽ giúp cho!
    Thằng Cầu dạ liên hồi, bước ra khỏi cổng tam quan, nhìn quanh quất chẳng thấy bóng dáng ai.Nó đi băng băng trong bóng tối về phía bờ sông, mới thấy thằng Kính từ trong lùm cây chạy ra. Chưa kịp nói gì, đã nghe "bạn vàng" cười một tràng khoái trá, hỏi:
    - Gặp sư thầy Kiến Tánh phải không mày?
    - Sao mày biết?
    - Trúng mánh rồi phải không mày?
    - Sao mày biết hay vậy?
    - Khỏi cần ăn trộm cũng có tiền phải không mày?
    - Í trời, sao… sao mày đoán ra hay vậy?
    - Khi nào kẹt thì qua gặp sư cho nữa phải không mày?
    - A… cái thằng này… bộ mày cũng lẻn vào trong chùa, nên nghe lén nhìn trộm được mọi việc xảy ra sao?
    - Mày ngốc quá. Bộ mày không đoán ra được là chính tao đã qua đây báo hết mọi chuyện cho sư thầy biết trước rồi sao?
    - Hả? Cái gì? Mày… mày…
    - Tao muốn giúp mày khỏi mang tội ăn trộm, mà vẫn có tiền lo cho gia đình…
    - Trời đất ạ… Hết biết mày luôn!
    - Còn muốn ăn trộm ăn cắp nữa không?
    - Không. Cạch tới già. Xin chừa, xin chừa!
    Hai thằng nhóc ôm nhau, vừa cười vừa khóc bên bờ sông gió mát. Từ xa, tiếng đại hồng chung ngân vang vọng đến, thằng Cầu nghe như tiếng khuyên dạy nhắc nhở của sư thầy về ngũ giới tam quy…



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày khoảng 1 10 năm trước với 3 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • KẺ HÈN MỌN



    Tối hôm ấy, một buổi tối mưa gió bão bùng cách đây năm năm, gia đình ông Hoàng tề tựu đông đủ, trên dưới hai mươi người già trẻ lớn bé của ba thế hệ.

    Họ mở một cuộc họp quan trọng, nói cho đúng hơn là một toà án gói gọn trong phạm vi gia đình, tuyệt nhiên không cho một người ngoài tham dự hoặc hay biết một chút thông tin nào. Chỉ trừ một người không hề chung huyết thống, đó chính là dì Sen, người giúp việc trung thành đã nhiều năm qua cho gia đình ông Hoàng đại phú gia, chủ một tiệm vàng lớn nhất nhì thành phố. Đó là một buổi tối mà dì Sen không bao giờ quên được, chết cũng mang theo…

    Như một bị cáo ra trước vành móng ngựa, dì Sen quỳ dưới nền gạch hoa giữa đại sảnh, chung quanh là những người gia chủ kẻ đứng ngồi đều mang gương mặt lạnh lùng và não nề thất vọng. Dì bị kết tội ăn cắp vàng, đến hai mươi lượng “Rồng Vàng”, sau khi gia chủ lục soát rương hòm riêng của dì thấy được số vàng ấy. Đúng ra là mất đến hai mươi hai lượng. Hai lượng còn lại bay đi đâu, hiện cất giấu ở đâu chính là điều cả gia đình ông Hoàng muốn biết. Họ bắt dì khai, nhưng dì chỉ biết khóc kêu oan. Dì cho rằng ai đó đã ám hại dì, chơi trò ném đá giấu tay. Gia đình ông Hoàng chia làm hai phe. Một nửa bênh vực cho dì, kể công lao và đề cao tính thật thà chất phác của dì bao năm qua. Nửa còn lại nhất định kết tội và đòi tống khứ người đầy tớ gian manh ra khỏi nhà. Cuộc tranh cãi diễn ra gay gắt. Sau cùng, ông Hoàng với tư cách chủ gia đình quyết định: không khai báo cho công an, xử lý nội bộ để tránh phiền phức, và không đòi lại dì Sen hai lượng vàng còn thiếu, xem như cho dì, cấp thêm cho dì một triệu đồng để làm vốn trở về quê, không bao giờ được quay trở lại nơi mà dì gắn bó cuộc đời suốt hai mươi năm với thân phận gia nhân tôi tớ…

    Dì Sen quệt nước mắt ra đi, nhất quyết không nhận một xu hào nào lận túi, chỉ biết nhắn gửi lại một điều: dì mong có ngày được trời cao soi xét, chư Phật và Bồ tát linh thiêng từ bi gia hộ hóa giải cho dì mối oan khuất còn kia, để khi dì có xuôi tay cũng được nhắm mắt yên lòng. Dì luôn luôn và luôn luôn tin rằng có chư Phật, chư thánh chư thiên, như chính dì đã tin vào “Phật Tại Tâm” của mình.

    Khi dì rời khỏi nhà chủ, có người đứng tiễn rơi nước mắt, cũng có kẻ bĩu môi khinh bỉ rồi chửi với theo mấy câu độc địa phũ phàng…

    Dì Sen mang thân phận hèn mọn lang thang đây đó kiếm kế sinh nhai qua ngày, khi thì ngủ co ro ở chợ, khi thì nằm nghỉ ở công viên, lúc thì chui vào nhà trù của các chùa làm công quả kiếm bát cơm ly nước, không dám về quê nhà ở chốn xa xăm, dù nơi ấy có những tháng ngày yên tĩnh và có bao người thương quý mong chờ mình.

    Dì gặp được một quý nhân trong một lần đi bán máu, đó là chị Thư-bác sĩ khoa Truyền máu và Huyết học. Dì được mời về giúp việc cho bác sĩ Thư, quán xuyến mọi việc trong nhà như một quản gia vậy. Dì muốn chứng tỏ cho bác sĩ Thư biết là bác sĩ đã không tin dùng lầm người. Một sợi chỉ cây kim bé xíu dì cũng không màng thâm lạm. Chuyện oan khuất xưa kia, dì kể hết cho vợ chồng bác sĩ nghe. Nhằm người chồng của bác sĩ Thư là một cảnh sát điều tra, nên anh ta nổi máu nghề nghiệp muốn đích thân giải oan cho dì…

    Chuyện giải oan cho dì chưa biết được tiến hành tới đâu thì cái duyên nợ oái oăm đã ập đến thật ngẫu nhiên, nhưng mãi sau này dì Sen mới nghiệm ra đó là một chuyện có sự sắp xếp hữu ý của duyên nghiệp. Chân lý nhân quả luân hồi của đức Phật Thích Ca Mâu Ni không bao giờ suy suyển sai lệch. Còn nói nôm na như người đời, thì dì sẽ ngước mắt nhìn lên vùng mây trắng tít tận cao cao mà thốt: “Trời cao có mắt mà!”ø.

    Nửa khuya hôm ấy, bác sĩ Thư nhận được một cuộc điện thoại của bệnh viện. Bệnh viện đang cần máu. Máu thuộc nhóm quý hiếm. Trong danh sách những người mang nhóm máu quý hiếm mà Trung tâm Truyền Máu và Huyết học cung cấp cho bệnh viện có tên… dì Sen. Bác sĩ Thư biết được điều này sau lần dì Sen đến Trung tâm bán máu lần đầu tiên. Từ khi trở thành người thân của gia đình bác sĩ Thư, dì Sen được mở rộng tầm mắt, hiểu biết thêm nhiều về những giọt máu cứu người, nên luôn luôn gìn giữ sức khoẻ của mình phòng khi hữu dụng. Dì được bác sĩ Thư chở đi ngay vào bệnh viện để cứu một mạng người đang trong tình trạng mành chỉ treo chuông. Oái oăm thay, người nhận máu của dì Sen hiến cho lại chính là… ông Hoàng. Dù đang là một đại phú gia, vàng chất cả rương, tiền chứa cả bồ, nhưng ông Hoàng vẫn không tài nào mua được vài giọt máu quý hiếm để cứu thân mạng mình sau một ca đại phẫu bị xuất huyết. Và dù gia quyến vợ con đông đảo, ông chủ tiệm vàng cũng không xin ai được một vài giọt máu cùng nhóm máu với mình, đừng nói chi đến bốn đơn vị máu quý hiếm! Sự đời oái oăm đến như vậy, ai mà dám nghĩ đến, ai mà tài nghĩ ra?

    … Ông Hoàng tai qua nạn khỏi.
    Khi ông đại phú gia được xuất viện trở về lại ngôi biệt thự khổng lồ khang trang hoành tráng của mình, ông quyết định cử những người thân uy tín nhất, đánh xe con đếùn tận nhà của bác sĩ Thư vào một chiều thứ bảy đẹp trời, để xin thỉnh rước dì Sen về lại với đại gia đình của ông.

    Ban đầu, dì Sen không chịu về, dứt khoát đòi ở lại với gia đình bác sĩ Thư. Dì vui mừng thì có vui mừng khi đã được cả nhà chủ cũ nhớ đến mình, còn tin dùng mình. Nhưng bấy nhiêu đó thôi thì chưa đủ làm cho dì được thanh thản sống nốt những năm tháng còn lại của đời người. Vụ mất cắp vàng xưa kia vẫn chưa được làm sáng tỏ. Dì vẫn còn là một nghi phạm, nghi phạm số một, nghi phạm duy nhất, vậy thì mặt mũi nào mà sống với những người nghi ngờ nghi nan mình, không hiểu mình, đánh giá mình quá thấp? Không thể sống với một nghi án chưa được phá giải.

    Nhưng. do hai vợ chồng bác sĩ Thư đã luân phiên nhau năn nỉ, thuyết phục, và thậm chí còn làm bộ giận lẫy đòi đuổi dì, không muốn chứa chấp dì trong nhà nữa, xem như hợp đồng thuê người giúp việc bị cắt đứt. Dì Sen biết là vợ chồng bác sĩ Thư không hề có ác ý ác cảm gì, mà chỉ muốn điều tốt đẹp an lành đến với mình sau một thời gian dài gặp sóng gió đắng cay. Họ quý dì lắm, bụng đâu có muốn dì đi, mà phải làm bộ “đoạn tình đoạn nghĩa” để đưa dì cái thế không còn đường chọn lựa. Rốt cuộc, dì phải mỉm cười đồng ý, cuốn hành trang giã biệt vợ chồng bác sĩ Thư, để quay trở về nơi cũ đầy kỷ niệm vui buồn… Chuyện tới đâu hay tới đó. Dì chợt nhớ đến mấy câu thơ trong bài phú “Cư trần lạc đạo” của Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông mà dì đã từng được nghe Thượng tọa Thích Thông Giải thuyết giảng trong mấy kỳ pháp thoại tại Hải Pháp Ni Tự, nơi dì được nương náu mười ngày để làm công quả phục vụ cho khóa tu Phật Thất của những cư sĩ áo lam.

    Cư trần lạc đạo thả tùy duyên (Ở đời vui đạo hãy tùy duyên)
    Cơ tắc xan hề, khốn tắc miên (Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền)
    Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch (Ngọc báu trong nhà thôi tìm kiếm)
    Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền (Đối cảnh không tâm hỏi chi thiền”

    Hãy tùy duyên thôi. Dì chỉ biết có vậy, những điều khác còn cao siêu quá, dì không hội đủ trí tuệ để hiểu hết thâm ý. Cứ tùy duyên mà sống, tùy cơ ứng biến, chuyện đến ta tiếp đón, chuyện đi ta tiễn đưa đi, tới đâu hay tới đó, vậy cũng là bản lĩnh rồi, cần chi phải thiền nhập với thiền xuất nữa!

    Khi dì Sen vừa đặt chân vào lại ngôi đại sảnh của chủ cũ, người thân của ông Hoàng, trên dưới hai mươi người đã chực chờ sẵn từ trước, đồng loạt quỳ sụp xuống mà lạy trước người tôi tớ hèn mọn mà xưa kia họ đã đuổi đi sau một vụ mất cắp chưa được làm sáng tỏ. Họ sụp lạy một cách chân thành, không chút tuồng kịch giả tạo, khiến cho dì phải bật khóc mà quỳ xuống lạy trả. Một cảnh tượng hiếm hoi, có chút kỳ quặc, có lẽ xưa nay trong phim ảnh cũng chưa từng có diễn ra…

    Bấy giờ, người con trai út của ông Hoàng vì ray rứt ăn năn bao năm, nay lại biết ơn cứu tử của dì Sen dành cho cha mình, nên đã thú nhận mọi tội lỗi. Chính anh chàng út ham chơi bời phóng túng này đã cạy tủ lấy vàng, nhưng không dám lấy hết đến hai mươi hai lượng, mà chỉ lấy hai lượng để đi vui chơi Vũng Tàu với lũ bạn choai choai học đòi…Vì vậy anh chàng mới nghĩ ra cách mang số vàng còn lại giấu vào rương của dì Sen để phủi tay chạy tội. Khi dì Sen bị ra trước “toà án gia đình” của mình, chàng út đã lên tiếng bênh vực cho dì, và cũng chính anh chàng là một trong những người ra đứng trước cửa tiễn dì ra đi với nước mắt chảy ngược vào trong…

    Vậy là một kết cục có hậu: Dì Sen đã được giải oan, và được trở lại sống thoải mái an nhiên trong ngôi nhà mà trước kia dì bị tống khứ ra khỏi như một con hủi hèn mọn.

    Dì đã trở về như một vị nữ anh hùng.

    Và, dì nhớ không lầm, khi cuốn hành trang chia tay giã biệt lần vừa rồi với nơi nương náu gần một năm trời, cũng có người đứng phía sau tiễn dì với nước mắt lưng tròng. Những giọt nước mắt của bác sĩ Thư chất chứa đầy niềm vui và nỗi lưu luyến khôn nguôi

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • CHỮ HIẾU


    Lâu lắm, tôi mới có dịp về quê thăm mẹ. Tôi mua cho mẹ đủ thứ quà đắt tiền, bày sắp ra đầy bàn.Mẹ vui lắm, nâng niu rờ rẫm từng món lạ vật quý, làm tôi sướng bụng.Tôi thật tình nói:

    - Mẹ thiếu thốn nhiều thứ, sao không nói thằng Ba một tiếng, nó làm ăn nên ra, mỗi tháng thu nhập mấy cây vàng, vậy mà chỉ lo cho vợ con, không biết quà cho mẹ là gì. Nó phải có bổn phận phụng dưỡng mẹ lúc tuổi già chứ!?

    Mẹ tôi trầm tư, lắc đầu khẽ khàng, từ tốn nói:

    - Chữ Hiếu có đến năm, bảy đường con à! Không phải cứ mua quà này quà kia, mang tiền này tiền nọ về trao cho mẹ nhiều là mẹ vui, là hiếu tử. Thằng Ba tuy không hề biết mua quà cho mẹ, chưa hề trao mẹ một tờ giấy bạc nào, nhưng mấy năm qua… nó lặng lẽ giúp mấy đứa em nghèo khổ của nó, lại giúp đỡ bạn bè hoạn nạn, cũng như hàng xóm láng giềng ngặt túng.Nó làm được những điều hay lẽ phải, chùi sáng cái Tâm Ðạo, làm mẹ thơm lây, có khác nào nó đã tặng cho mẹ quà quý lễ báu? Hơn nữa, mẹ tuổi già sức yếu, không còn khả năng lo cho con Sáu với thằng Út tiếp tục ăn học đại học.Thằng Ba đã thay cho mẹ làm chuyện ấy, chu cấp cho hai đứa em đầy đủ để họcï hành, tức là nó đã và đang báo hiếu cho cha mẹ đấy thôi. Con đừng suy nghĩ cạn cợt, nhìn ngó thiển cận mà trách móc em, tội nghiệp cho nó…

    Tôi ngồi thừ ra, vẫn còn nghe lời mẹ bên tai.Mẹ tôi luôn như thế.Khi tôi giã từ mẹ, về lại thành phố, tuy không tận mắt nhìn thấy, nhưng tôi vẫn đoán chắc rằng những món quà tôi trao tặng mẹ sẽ được mẹ đem chia sớt ra đều cho những người khác, trong đó có mấy đứa em của tôi. Chắc vậy.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • NHÂN LÀNH QUẢ NGỌT


    Chị Phượng thở dài thõng thượt, uể oải đứng dậy, rồi như sợ hãi phải chạm mặt đương đầu với điều gì đó thật khủng khiếp khi mình bước ra khỏi nhà, nên ủ rũ ngồi xuống lại trên chiếc ghế què quặt lung lay đặt sát tấm vách bằng cót chắp nối. Chán ngán. Nặng nề. Chị tưởng chừng như mình đã sức cùng lực kiệt khi mà muôn nơi ngoài kia, ngoài căn nhà ọp ẹp vá víu của chị, ngàn hoa đang rộ nở đón chào một mùa xuâân mới. Ðúng là năm cùng tháng tận. Trước mặt, sau lưng, chung quanh chị đều đã như cùng tận bế tắt, không còn một ngõ ngách nào dù là nhỏ hẹp cho chị len lỏi luồn lách qua. Nhưng mà dòng đời vẫn chuyển rung trôi chảy không một giây phút nghỉ ngơi, thì chị làm sao ngồi yên một chỗ, nằm dài một nơi cho thanh thản nhàn hạ được. Ðã bao lần chị đã tuyên bố đầu hàng rồi mà chị có hề buông xuôi chịu chết đâu? Chị đã té đau, đã quỵ ngã và đứng lên bước tiếp một cách hiên ngang vào cuộc sống đầy cam go thử thách, đầy bạc bẽo dối gian, nhiều khi tự thấy mình chai lì sắt đá, và lắm lúc lại thấy mình nhão nhoẹt, mỏng manh, yếu mềm ẻo lả để rồi vẫn còn hít thở bụi khói trần gian cho đến bây giờ…

    Không muốn sống cũng phải sống thôi. Cuộc sống quý lắm. Dù rằng trên hai mươi năm qua chị Phượng hầu như chỉ được nếm cay nuốt đắng, cam chịu biết bao đau đớn khổ nhọc cả thể xác lẫn tinh thần, phận hồng nhan ướt đẫm nước mắt, mồ hôi và máu huyết, chưa khi nào cười được một trận cho hể hả hân hoan, nhưng chị vẫn quyến luyến mến yêu cuộc sống này. Mỗi sớm mai thức dậy, chị luôn tự nhắc mình phải gieo hạt hi vọng, có hi vọng mới có được nghị lực để mà bước ra khỏi nhà, lặn hụp vào dòng sống đa đoan cay nghiệt. Chị tin vào nhân quả, theo kinh sách nhà Phật, rất tin, gieo gì gặt nấy, dù có trễ tràng đi nữa thì cái quả khi hội đủ cơ duyên cũng sẽ đến, có trốn chạy né tránh cũng không thoát, cũng phải nhận lấy tròn trịa bởi đó là phần của mình. Cay xè, đắng ngắt cũng phải nuốt. Ngọt lịm, thơm lừng có ớn thấu não cũng phải ngửi nhai. Chị tin vậy, nên chị đã sống với hi vọng và thất vọng, lấy hai thứ ấy để trộn chúng vào nhau thành một món ăn hằng ngày với đầy đủ gia vị buồn vui sướng khổ, ngọt đắng cay bùi, và mỗi ngày trôi qua nhìn lại thấy mình vẫn sống phây phây thì chị thở phào mừng, khen mình phi thường quả cảm. Chị biết, nếu như sống không tin vào nhân quả, không tin Pháp Phật nhiệm mầu, không biết phân biệt thiện ác giác mê, thì chị đã không dám liều lĩnh nhặt một đứa bé bị bỏ rơi dưới hàng dương bên bãi biển về nuôi nấng. Chị cũng đã không dám nhận một đứa trẻ bụi đời nằm co ro trên ghế đá chiều đông về cưu mang dạy dỗ xem như con đẻ của mình. Hai đứa nhỏ, một đứa được chị đặt tên Nhặt, một đứa tên Lượm, đã về sống với chị chung một cái tổ rách nát tiêu điều nhưng cũng rất ấm cúng, đỡ lạc lõng chơ vơ. Nhân quả, duyên nghiệp, luân hồi trả vay, đó là những điều nằm lòng, cũøng như luôn vương bám trong trí óc của chị. Chị đã tin, và đã sẵn sàng chấp nhận, rồi đương đầu vượt qua…

    Ngoãnh nhìn lại quãng đời đằng sau lưng, chị không khỏi rùng mình, cái đau xé lòng đan xen cùng niềm tự hào trong chị, chị không ngờ mình lại sống sót được, tồn tại được sau hơn hai mươi lăm năm thăng trầm lận đận. Hơn hai mươi lăm năm rồi, kể từ ngày đất nước hợp nhất, kể từ ngày chị bỏ nghề y tá, kể từ ngày chị bán căn nhà nhỏ của cha mẹ để lại mà theo sống dong duổi đường dài với người đàn ông bội bạc… Số phận của một phụ nữ chân yếu tay mềm như chị phải gánh chịu bao nỗi đoạn trường bi ai. Người chồng đầu tiên hất hủi, xa lánh chị khi biết vợ mình vô sinh. Chia tay. Con thuyền không bến trôi dạt lên vùng kinh tế mới, gá nghĩa kết duyên với một người đàn ông cục mịch khác, chị nếm được mùi của bạo hành, chết đi sống lại bao lần sau những trận đòn thô bạo của người chồng thứ hai vũ phu và be bét rượu chè. Lại chia tay. Chị bỏ vùng về lại thành phố xa hoa, sống lây lất trên vỉa hè, nằm đầu chợ cuối bãi, hằng ngày làm thuê gánh mướn kiếm chén cơm manh vải. Chính trong thời gian sống bụi đời gió sương, kiếm sống không đủ nuôi mình, chị lại nhắm mắt làm liều nhặt một đứa bé về nuôi, con bé Nhặt bây giờ đã tuổi trăng tròn, lớn mà không khôn, vì chưa hề được đến trường, chỉ biết lỏm bỏm mấy chữ chị dạy cho làm vốn. Trong đợt vận động những người vô gia cư sống quanh chợ trung tâm về khai hoang lập ấp tại vùng đất cằn khô ngập mặn, chị ôm đứa con nuôi tự nguyện leo lên xe của chính quyền địa phương về miền đất hứa, với hi vọng được hưởng một tương lai sáng sủa. Người đàn ông thứ ba bước vào cuộc đời chị ngay trên vùng đất đìu hiu quanh quẽ ấy. Chỉ là chung gạo nấu ăn, ngủ với nhau cho đỡ trống vắng lạnh lẽo, hợp sức nhau mà biến bốn sào đất xám ngoét trở thành ao vườn sinh động. Ba năm chung sống, tưởng đã yên bề gia thất, ai ngờ một sáng bừng mắt lên, tìm hoài không thấy bóng dáng người bạn đời của mình đâu nữa. Sau mấy tháng trời bặt vô âm tín, chị mới dám tin rằng người ta lại bỏ rơi mình, một mình ở lại với đứa con thơ trên mảnh đất đã đầu tư rất nhiều công sức nhưng chưa hề thu hoạch được mảy may hoa màu gì… Chị muốn ngã quỵ, nhưng quyết chuệnh choạng đứng lên, không thể chịu thua một keo nào nữa, vì chị cần có một mái nhà, một chỗ nương náu đi đi về về, cho dù nơi ấy chỉ là túp lều xiêu vẹo tả tơi. Chị thề không tin vào một người đàn ông nào nữa, cố quên đi những kẻ bạc tình, ôm chặt đứa con nuôi vào lòng để tìm nguồn vui sống. Quên bằng cách nào? Chị quán thân bất tịnh hằng ngày, rồi nghiền ngẫm về “oán tắng hội khổ” hay “ái biệt ly khổ”, đủ thứ khổ khổ, để điểm mặt chỉ tên từng loại khổ mà vận dụng những điều học được trong kinh sách để chế ngự, khắc phục, xua đuổi, tránh xa những cái thứ khổ đó. Thôi thì, chị tự an ủi, tất cả nhừng chuyện đau khổ hận buồn đến với đời mình bao năm qua, đó là những cái nghiệp báo mà mình phải gánh chịu trong cái kiếp hiện tiền này. Thiếu nợ thì phải trả cho sòng phẳng thôi. Ai biểu kiếp trước không tu hành cho giỏi vô. Tu cho tinh tấn thì kiếp này đã sướng rồi, biết đâu giờ này chị đang là một ni cô trong một ngôi chùa yên tịnh thanh khiết nào đó ở một miền quê êm ả. Chấp nhận, không than oán nữa làm gì. Và, chị được những người hàng xóm nghèo xung quanh giúp đỡ, có chút vốn nhỏ nhoi để hằng ngày đi bán dạo dọc theo bãi biển đầy dẫy khách du lịch…

    Những tháng ngày vất vả mưu sinh, chắt bóp từng đồng, hôn hít trân trọng từng tờ giấy bạc ướt đẫm nước mắt và mồ hôi, chị đã nuôi được bé Nhặt lớn dần, tập tễnh theo gót chân chị suốt ngày trên bãi biển nắng nóng, rồi mỗi đêm trở về cái tổ lụp xụp giữa đồng không mông quạnh với toàn thân rã rời… Ai cũng lắc đầu ngao ngán khi hay tin, khi thấy tận mắt chị mang thêm một thằng bé lem luốc gầy guộc về nuôi trong nhà. "Bà Phượng điên rồi!", người ta kháo với nhau như vậy. Chị mỉm cười, nghĩ mình điên thật, nhưng thà điên chứ không thể làm ngơ bỏ mặc thằng nhỏ lang thang cơ nhỡ nằm co quắp vì đói khát mà chẳng được ai màng cứu giúp. Chị muốn điên, điên với lương tâm không day dứt mà lại được an ổn thong dong, điên vì nỗi vui sướng khi thấy hai đứa trẻ cười đùa với nhau, chia cho nhau miếng ăn nhỏ bé, và tối tối nằm rúc vào người chị tìm hơi ấm. Chị chấp nhận điên như vậy, vì chị tin vào nhân quả. Hằng ngày, chị cùng hai con lặn lội dưới nắng, bươn chải dưới mưa để bán thuốc lá, kẹo chewinggum, bưu thiếp, vé số và báo chí cho khách dọc theo bãi biển dài ngoằng mang hình lưỡi liềm. Sẽ là đủ ăn trong ngày, nếu như bán đắt. Nhưng cuộc mưu sinh lắm cạnh tranh, hiền từ nhút nhát là thua thiệt, chị và hai đứa con luôn luôn thua kém đồng nghiệp nên chưa có ngày nào được no nê thỏa thích. Không đói là mừng lắm rồi. Chị chỉ cảm thấy ngột ngạt khó thở, thấy bế tắt hoang mang khi năm hết Tết đến. Những ngày cuối năm đối với chị thật nặng nề khủng khiếp. Với trăm mối lo lắng, trăm nỗi tủi nhục vây bám réo gào, chị không thể bình thản như mọi khi được. Năm này, con bé Nhặt đến tuổi dậy thì, đã biết tự làm đẹp, biết mắc cỡ đủ thứ chuyện, mới là mối lo nhất đối với một người mẹ như chị. Nuôi thì dễ, dạy mới khó, chị không được sơ suất, lơ đễnh, mà phải chăm nom gần gũi con gái hơn bao giờ hết. Lung tung chuyện nghĩ ngợi trong đầu, rối bung, làm cho chị sợ hãi khi bước ra khỏi căn nhà, về thành phố để chứng kiến cảnh thiên hạ tưng bừng chuẩn bị đón tân niên. Chị sợ lắm, nhưng biết chạy trốn đi đâu, và chạy trốn thì có giải quyết được gì? Hai đứa con đã đi trước chị hơn cả giờ đồng hồ rồi, mà chị vẫn còn nấn ná dùng dằng một nơi thật khổ sở. Chị đứng dậy, đội nón, bưng cái hộp gỗ đựng thuốc lá và kẹo chewinggum nhẹ tênh, bước đi như vùng vằng về hướng Ðông có bãi biển đã ngập tràn nắng mai…

    Ðã trưa nắng. Cát nóng rang, bỏng rát đôi bàn chân non của hai đứa trẻ. Chị Phượng xót lòng, bảo: "Hai đứa lên nghỉ dưới mấy cây dừa kia, chờ má đi mua bánh mình ăn trưa!”. Chị nuốt nghẹn, giao cái hộp gỗ "hàng hóa di động" cho thằng Lượm bê, bước đi thất thểu dưới hàng dương xanh um, vừa đi vừa đếm xấp tiền nhàu nhò rút ra từ túi áo bà ba, nắm chặt từng tờ giấy bạc mà đếm như sợ chúng bay đi mất trước gió biển lồng lộng… Cả buổi sáng chẳng bán được gì nhiều, con nhỏ Nhặt lại nhăn nhó cáu kỉnh vì đang ngày "có chuyện", thằng Lượm cứ rên rát chân, thật là chẳng có chút gì làm vui. Chị mua ba ổ bánh mì chan nước thịt, xin thêm ít cọng hành, lát dưa leo cho có chút xanh tươi ngon miệng. Ba mẹ con ngồi lặng thinh, ăn ngấu nghiến cho xong bữa trưa, rồi trải tấm nhựa bạc màu ra mà nằm nghỉ lưng chợp mắt… Ngồi nhìn ra khơi xa tít tắp khi hai đứa con đã nằm ngủ ngon lành bên nhau vì mệt mỏi, chị không nghĩ ngợi được gì, đầu óc rỗng tuếch đến lạ kỳ. Bất chợt, chị nhìn thấy dưới bãi biển đang có một du khách bước ung dung trên cát nóng. Chị nhổm dậy, nhìn chăm chăm. Người khách kia đã ghé vào nằm dài trên chiếc ghế bố đặt dưới một cây dù ngũ sắc bắt nắng chói chan. Ðó là một phụ nữ, ăn mặc rất… Tây. Khách "xịn" rồi, không thể bỏ qua, chị chộp lấy cái hộp gỗ đựng kẹo chewinggum và thuốc lá, lôi luôn xấp báo của thằng Lượm, bưng trên tay rồi lật đật lưởi đưởi chạy xuống bãi biển. Khách đang nằm với tư thế thư giãn, kính đen che hết đôi mắt, nên chị không dám khinh động sỗ sàng, mời nhỏ nhẹ:

    - Chị Hai mua giùm em ít cây kẹo…

    Khách lắc đầu. Chị chìa mấy tờ báo, dịu dàng:

    - Thôi, chị Hai đọc báo đi. Báo Công An nè…

    Khách bỗng ngồi bật lên, tháo vội kính đeo mắt, nhìn chị đăm đăm không chớp. Chị hơi hoảng, không biết mình thất thố điều gì mà vị khách trước mặt có phản ứng như vậy. Chị ngây người ra trong chốc lát. Khách như chồm tới gần sát mặt chị, đôi mắt đen láy vẫn chưa chớp đang hiện lên vẻ sửng sốt bàng hoàng. Chị giật mình, lùi ngay một bước, đề phòng gặp phải một khách điên loạn. Người phụ nữ kia vẫn chưa hết ngẩn ngơ, ngắm mặt chị thật lâu, rồi nước mắt lưng tròng long lanh, long lanh… Chị định thần nhìn kỹ lại gương mặt kiêu sa mỹ miều của vị khách xa lạ, tìm thấy được một chút nét gì đó quen quen, gần gũi nhưng lại mơ hồ. Khách lên tiếng:

    - Có phải là… chị đó không? Phải chị đó không, chị Phượng?

    Chị giật bắn mình, mắt trố lên. Khách lắc đầu:

    - Không lẽ là chị? Không lẽ không phải là chị sao?

    Chị lúng túng, cố gắng nở nụ cười xả giao:

    - Tui… đúng là Phượng đây. Xin lỗi… chị là ai mà biết tên tui?

    Người phụ nữ kia chồm lên, bước lại ôm lấy chị mà xiết thật mạnh. Chị vùng vằng, buông rơi cái hộp gỗ, xấp báo xuống dưới chân, hoảng hốt la lên:
    - Chị… chị là ai? Là ai mà tui nhận không ra?

    Người phụ nữ kia tuôn trào nước mắt, nức nở:
    - Trời ơi… vậy là đúng chị rồi. Em đã tìm được ra chị rồi… Chị ơi, em tìm chị bao năm nay… đã năm lần về nước, không lần nào em không đi tìm tông tích của chị…
    Chị ngơ ngơ ngác ngác, đẩy khách lui ra một chút để nhìn ngắm lại gương mặt đẹp mặn mà kia, mếu máo:
    - Hơi quen quen… nhưng không nhận ra được là ai…

    Khách ôm chầm lấy chị, khóc rưng rức:

    - Em là Vương Như Hoa đây. Chị đã nhớ ra chưa?

    Chị bỗng thấy người nhẹ tênh bay bổng. Như Hoa. Nhớ rồi. Nước mắt chị đầm đìa ngay sau khi nhận ra cố nhân hơn ba mươi lăm về trước. Hơn một phần tư thế kỷ xa nhau, đường ai nấy đi, không liên lạc, thì làm gì mà chị nhớ được người đã được chị ra tay cưu mang giúp đỡ những ngày tháng ngặt nghèo bi thảm. Hồi ấy, chị còn là y tá, nhà ở ngay trong khu dân cư tạp nhạp gần sở Mỹ, cô gái Như Hoa là một cô gái hành nghề “buôn hương bán phấn” tha hương lưu lạc. Những khi ốm đau, túng thiếu, đói khát, túi rỗng bụng không, thì Như Hoa và một vài cô gái làng chơi khác nữa, hay đến cầu cứu nơi chị. Chị rất nặng tình với Như Hoa, mến thương như một người em gái ruột rà, nâng đỡ cứu giúp cô ta cả về vật chất lẫn tinh thần. Biến động mùa xuân năm 1975, Như Hoa lên tàu đi cùng người chồng ngoại quốc bay ra nước ngoài. Hai người không còn gặp lại nhau từ khi ấy. Chị không ngờ có ngày hôm nay, một kiều nữ sang trọng ôm lấy một hình hài còm cỏi và dung nhan héo úa nhăn nheo của chị mà khóc trong niềm vui sướng mênh mông. Như Hoa đưa những ngón tay mum múp trắng trẻo rờ rẫm từng nếp nhăn trên gương mặt khắc khổ xạm đen của ân nhân ngày xa xưa, nói trong tiếng nấc nghe đến xao lòng:

    - Tội nghiệp chị quá. Em tìm gặp chị muộn quá… Bao năm rồi em cứ mất ngủ khi nghĩ nhớ về chị… Ơn chị đối đãi ngày xưa, em chẳng bao giờ quên, và đền đáp bao nhiêu cũng không đủ!

    Họ ôm nhau đứng trước biển nắng chói ban trưa. Gió thổi tung bay những tờ nhật trình. Chị đưa mắt ngắm nhìn cảnh vật chung quanh, thấy rõ ràng một mùa xuân tươi vui đang ập đến với đời chị, và hai đứa con đang còn ngủ say sưa dưới bóng mát hàng dừa. Chị tin chắc rằng đã đến lúc mình được quyền đưa thẳng cánh tay xanh xao xương xẩu ra để hái lấy quả ngọt. Quả ngọt ấy, không phải bỗng dưng mà có, và nó đã đủ độ chín cho chị ăn vào để đổi thịt thay da…

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • NHỮNG NGƯỜI LẶNG LẼ SẠ GIEO



    Tôi đang bị theo dõi. Chắc chắn vậy. Ai đó đang dòm ngó tôi suốt một tuần lễ qua, tôi chưa rõ được, và cũng chẳng cần phải rõ. Mặc dù cứ mãi cắm mắt, cắm mũi vào bữa ăn ở giữa quán cơm bình dân lúc nào cũng ồn ào chộn rộn, nhưng tôi vẫn linh cảm có ai đó đang nhìn trộm mình. Tôi lấy làm khó chịu, nhiều lần dõi mắt quanh quán để tìm cho ra kẻ tò mò, vậy rồi lại thôi, cứ phớt tỉnh như không biết, và thận trọng khi đi đứng, điềm đạm khi làm cái công việc đệ nhất khoái.
    Xong bữa ăn trưa hôm ấy, tôi trả tiền, chị Yến chủ quán đẩy tay tôi ra, nhỏ nhẹ:
    _ Em khỏi trả. Có người trả giùm em rồi.
    _ Ủa, ai vậy chị?
    _ Một người bạn. Bạn yêu cần giấu tên!
    _ Em không nhận tiền quà của người không quen bao giờ! – Tôi vừa dúi tiền vào tay chị Yến vừa cương quyết nói – Cơm em ăn, tiền em trả, không mượn ai trả giùm, thêm nợ nần nghiệp báo kiếp này nữa thì phiền và mệt lắm!
    _ Gì mà nói ghê vậy. Em đừng phụ lòng tốt của người ta, đáng sá gì bữa cơm?
    _ Em nhận, với điều kiện phải biết người trả tiền cơm cho em là ai. Giấu tên giấu mặt là người không trung thực. Không đường đường chính chính, tất có mưu đồ mờ ám nào đó. Chị hãy trả lại số tiền ấy cho người ta đi!
    Tôi làm mặt chùng bùng, bước vội ra khỏi quán.
    Đến chiều, khi tôi ăn xong và trả tiền bữa cơm chiều, chị Yến lại cười nói:
    _ Người ta lại trả tiền cơm cho em rồi…
    _ Em đã nói là không nhận mà!
    _ Nhưng người ta đã chịu xưng tên rồi. Nhận không?
    _ Tên gì vậy chị?
    _ Nguyễn Hoàng Kinh Thi. Bạn của em mà!
    _ Nguyễn Hoàng Kinh Thi? – Tôi nhíu mày, cố lục lại trí nhớ, nhưng không tài nào nhớ ra nổi – Một cái tên lạ hoắc đối với em, chị ạ. Chắc là tên giả, không hợp lệ!
    _ Người ta nói là chỗ oan gia quen biết hồi xưa. Người ta mắc nợ em nhiều lắm, trả hoài không hết, nay phải xin “trả góp”…
    _ Không ai thiếu nợ em hết. Chị đừng tin lời người ta, hãy trả tiền lại cho kẻ bày chuyệ1
    _ Em khó tính quá. Có cả khối người đang mong ước được ăn cơm có người khác trả tiền giùm đó. Đừng có gây khó khăn như vậy. Nè, người ta hứa sẽ trả tiền cơm cho em đến khi mãn khoá trở thành cô giáo lận kìa. Hãy nhận đi, tội dại gì …?
    Tôi sửng sốt. Phải thận trọng. Tôi quét mắt nhìn quanh quán. Những gương mặt quen thuộc của thực khách quán cơm bình dân đều đang quan tâm hướng về những món ăn trên bàn, chẳng ai thèm để ý đến tôi. Tôi hỏi chị Yến thật nhỏ:
    _ Người bạn tên Kinh Thi của em … hiện giờ đang có mặt ở trong quán chớ?
    _ Có hay không cũng vậy. Em hỏi làm gì?
    _ Em nhận sự giúp đỡ của bạn ấy, nếu bạn ấy cho em rõ mặt mũi. Chỉ cần nói “có” hoặc “ không” thôi, khỏi chỉ ai!
    _ Vậy thì … có!
    Tôi làm mặt nghiêm, ném mắt nhìn dò xét từng người trong quán. Những người này, tôi còn lạ gì, họ cũng đều là sinh viên ở xa, từ những ký túc xá quanh khu vực đến ăn cơm tháng như tôi. Ở góc phải kia là bàn của bốn anh công nhân xí nghiệp in bữa nào cũng gặp mặt bắt ớn. Góc nọ là bàn của thầy cô giáo, thầy Minh trẻ trung và nghiêm nghị, cô Thoa bình dị và điềm đạm, bữa ăn nào cũng bắt tôi chào khi gặp, chào khi ăn xong. Vậy, ai trong số các thực khách này là Nguyễn Hoàng Kinh Thi? Chịu.
    _ Đoán ra được chưa?
    _ Chưa. Khỏi đoán luôn!
    Tôi trả tiền, bước đi. Và, đột ngột quay phắt lại nhìn vào quán. Tôi bắt gặp ngay một gương mặt ngớ ngẩn, với đôi mắt mở tròn xoe đầy u buồn, đang nhìn theo tôi. Đôi mắt ấy chạy trốn vội vàng vào bàn thức ăn khi thấy tôi quay đầu ngó lại. Tôi hơi kinh ngạc vì nhận ra đó chính là thầy Minh của trường mình. Tôi bước đi với những dấu hỏi mang theo, lòng rối như tơ vò …
    … Tôi trả tiền bữa cơm trưa ngày hôm sau bằng một động tác thật chậm rãi. Tôi chờ nghe thông tin mới từ chị Yến. Chị Yến nhận lấy tiền tôi trả một cách tự nhiên như xưa. Vậy tức là trò chơi đã kết thúc. Người ta đã rút lui. Tôi hỏi:
    _ Ủa, bữa nay không ai giành trả tiền cơm cho em nữa à?
    _ Em từ chối, người ta đâu dám ép.
    _ Sao người ta không dám ra mặt, nói chuyện đàng hoàng?
    _ Vì người ta không thích quan trọng hoá vấn đề tiền bạc cơm nước. Người ta chỉ chú trọng tình cảm, ơn nghĩa với nhau!
    _ Nếu tình cảm ơn nghĩa thì không việc gì phải giúp trong bóng tối mù mờ. Em nghĩ người ta có mưu tính sâu xa, muốn mua chuộc lòng người bằng đồng tiền dư dả của họ. Gặp con nhỏ nào khác thì được, gặp em thì đừng hòng!
    _ Em đừng đoán già đoán non. Cũng khoan vội đánh giá người ta xấu xa, nhiều khi oan ức thì tội nghiệp!
    Tôi bỏ đi, lòng còn ấm ức. Kẻ giấu mặt đã làm tôi mất ngủ nhiều đêm. Quả thật, tôi rât đang cần được một ai đó giúp đỡ về mặt tài chính để ăn học. Mẹ tôi đã qua đời vì chứng lao phổi sau hai mươi năm theo nghề dạy học của bà ngoại tôi. Tôi theo nghề mẹ, giữ truyền thống gia đình khi không còn mẹ, và cha thì già yếu cứ mãi loay hoay với cái nghề sửa xe đạp kiếm đủ gạo cơm cho bốn miệng ăn. Sự giúp đỡ của dì Tư, em ruột mẹ tôi, quá khiêm tốn, chỉ đủ lo sách vở và học phí. Tôi cần ai đó giúp đỡ trong tình cảnh ngặt nghèo lắm chứ. Nếu được trả tiền cơm suốt mấy năm liền theo học Cao đẳng Sư phạm thì tôi sẽ như được chấp thêm cánh, thêm vây để yên tâm theo đuổi con đường dài mình chọn. Kẻ giấu mặt phải là kẻ hiểu rõ hoàn cảnh của tôi, biết tôi thiếu và cần được giúp đỡ mặt nào đó. Nhưng sao lại giấu mặt nhỉ? Một nghĩa cử cao đẹp. Thi ân bất cầu báo. Đáng trân trọng biết bao, tôi nào dám xem thường coi nhẹ? Tôi sẽ sẵn sàng quỳ xuống mà khóc và lạy tạ ơn ai đã giúp đỡ tôi ăn học, như tôi đã từng quỳ lạy dì Tư. Nay đã có người giúp đỡ, và tôi lại từ chối. Một cơ hội hiếm hoi, đáng giá, đã trôi vụt đi mất. Tôi thật tình quay đầu nhìn theo hối tiếc. Một chút hối tiếc, rồi cũng … thôi.
    Một tuần đi qua. Tôi đến trả tiền bữa cơm trưa ngon miệng. Chị Yến tủm tỉm cười, hỏi:
    _ Ăn ngon miệng chứ?
    _ Dạ ngon. Cả tuần nay ăn ngon miệng lắm!
    _ Bữa nay là ngày thứ tám em được ăn ngon hơn lúc trước. Em không nhận ra điều khác thường trong bữa cơm à?
    _ Chị … chị thêm thức ăn ngon cho em?
    _ Đúng. Thêm thức ăn, nhưng tiền của em vẫn vậy!
    _ Người ta trả tiền thức ăn thêm?
    _ Chứ sao nữa? Người ta quyết giúp đỡ em mà. Thêm thức ăn bổ dưỡng vào, em mới có sức khỏe để học chứ!
    Tôi thẫn thờ vài giây. Thì ra tôi đã thọ ơn người ta cả tuần qua mà không biết. Tôi vùng vằng nói:
    _ Chị tính tiền lại cho đúng, em trả lại cho người ta!
    _ Không đời nào. Em ăn nuốt trong bụng rồi, biết đâu mà tính với toán hử? Thôi đi, khó tính quá trời em nhỏ ơi, coi chừng già trước tuổi đó!
    _ Nếu vậy … từ nay em sẽ đi ăn quán khác. Em thề …
    _ Thôi, đừng có nóng giận. Người ta chịu ra mặt rồi đó. Chị nói muốn gãy lưỡi người ta mới chịu nghe. Em muốn gặp chứ?
    _ Gặp ai? Gặp người ta à?
    _ Chứ không lẽ đi gặp ma? Có muốn gặp thì chiều nay gặp.
    _ Gặp ở đâu?
    _ Ở quán này. Chiều đến ăn cơm như thường lệ, khi nào thấy có ai đến ngồi chung bàn, tặng mình một cánh hoa hồng, thì biết là ai!
    … Cuối cùng thì bữa cơm chiều đã đến như tôi đã háo hức trông đợi. Cơm đã dọn ra, tôi làm bộ cắm đầu cúi mặt ăn. Chỉ ít phút sau, có người đến kéo ghế ngồi xuống kế bên. Một cánh hoa hồng tươi rói chìa ra. Tôi ngước mắt nhìn. Cơm còn trong miệng tôi xém chút nữa văng vọt ra ngoài. Thầy Minh đang mỉm cười. Một nụ cười đôn hậu làm tăng thêm ánh sáng trên gương mặt sáng láng của thầy. Tôi lúng túng nhận lấy hoa, không biết nói gì, vì miệng lưỡi cứng đơ. Thầy Minh trầm giọng:
    _ Hương đừng hoảng sợ như vậy. Cứ dùng cơm tự nhiên đi, rồi tôi cũng có phần mà!
    Chị Yến bưng cơm của thầy đến, cười tươi tắn, nheo mắt nhìn tôi, rồi tủm tỉm bước nhanh đi. Thầy Minh vừa múc cơm vừa nói:
    _ Tôi là học trò của cô Mỹ. Mười lăm năm về trước, nhà tôi rất nghèo, tôi đi học thiếu thốn trăm thứ, biết bao lần muốn bỏ học. Cô Mỹ rất thương tôi, vì tôi có năng khiếu văn thơ và hội hoạ, cô đã động viên tinh thần, giúp đỡ vật chất cho tôi tiếp tục học hành. Cô lo cho tôi như người mẹ lo cho con, suốt hai niên khoá, không chút vụ lợi, không chút đòi hỏi gì ngoài việc mong muốn cho tôi được học tới nơi tới chốn, trở thành một nhà mô phạm gánh mang trách nhiệm trồng người. Sau này, tuy không còn được học với cô, nhưng tôi mãi ghi nhớ công ơn cũng như những lời khuyên dạy của cô, những khi thất chí nản lòng, nhớ đến cô Mỹ thì tôi vươn vai vững bước tiến tới. Bao năm vật đổi sao dời, tôi lưu lạc chốn xa, trở về đây thì … cô không còn nữa …
    Giọng thầy nghẹn đi cùng lúc với cổ họng đang thắt co lại của tôi. Tôi không làm sao kềm được những giọt nước mắt đua nhau chảy ra, rơi xuống dĩa cơm trước mặt mình. Thầy trầm giọng:
    - Tôi không còn cơ hội nào để gặp lại cô để cúi lạy tạ ơn cô, điều đó khiến tôi ray rứt liên miên, và hụt hẩng vô cùng. Không được gặp cô bằng xương bằng thịt, nhưng tôi luôn tin rằng, nếu quả thật là có cõi giới trang nghiêm thanh tịnh của chư Phật và Bồ Tát đang ở đâu đó ở một tầng trời xa xăm hun hút ảo mờ huyền diệu, thì chắc chắc nơi ấy đang có cô hiển hiện cùng với những tháng ngày thanh thản an nhiên… Tôi đoan chắc như vậy!
    Im lặng. Tôi nấc lên, nước mắt tuôn trào. Thầy Minh cũng nghẹn lời. Một chặp sau, thầy mới cố gắng nói như rặn từng tiếng:
    - Tôi tình cờ biết được Hồng là con gái của cô Mỹ. Cô Thoa đã bảo cho tôi hay. Tôi muốn trả ơn cho cô Mỹ, nhưng không có cách nào, ngoài cách …
    Tôi lặng người trước bữa ăn. Tôi nhớ về mẹ. Hình bóng người mẹ hiền hiện về trong nhập nhoà nước mắt. Mẹ đã gieo những quả ngọt trái thơm, cho tôi hôm nay được thọ hưởng. Mẹ đã âm thầm gieo sạ, lặng lẽ vun bón những nhân lành giống đẹp, không cần phải có ai biết. Học trò của mẹ nay cũng vậy, đã theo gương mẹ làm những nghĩa cử cao đẹp trong lặng lẽ. Tôi đã ăn hết cơm có chan chứa nước mắt của bữa cơm chiều hôm ấy thật ngon lành. Sau bữa cơm, tôi bỗng dưng thấy đôi chân mình vững vàng hơn trước, mang theo hình bóng người mẹ hiền, và sau lưng tôi luôn luôn có hình bóng người thầy lảng vảng.
    Trong tim tôi còn có một tình bạn tuyệt đẹp, nhưng lặng lẽ như những con người lặng lẽ giữa dòng đời chôn rộn nhôn nhao …

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • QUÀ NGÀY VU LAN


    Tôi còn nhớ, hôm tôi tặng Kim xấp vải trắng hoa văn chìm dài tám thước, Kim xúc động đến ngẩn ngơ. Thấy vậy, tôi nắm lấy tay bạn, chân tình nói:
    - Kim đừng suy nghĩ gì cho mệt óc. Hoa được cái may mắn sinh ra trong gia đình sung túc, quà này chỉ là sự san sẻ cho nhau vì tụi mình là bạn thân như bóng với hình mà!
    Kim vuốt ve xấp vải, giọng lạc đi:
    - Kim thấy ái ngại quá. Nhưng không nhận thì Hoa buồn…
    - Đúng, không nhận thì Hoa sẽ buồn đến… héo gan nẫu ruột. Và, chính Hoa mới là người ái ngại khi mà mình có đến ba chiếc áo dài trắng, còn Kim thì…
    Mắt Kim ngấn lệ long lanh. Tôi bối rối:
    - Kim sao vậy? Sao lại khóc?
    Cố gắng nhoẻn cười, Kim chớp chớp đôi mi cong, trầm giọng:
    - Nếu không khóc nước mắt dùng để làm gì, hở Hoa?
    Tôi ngẩn ra, cau mày, rồi cười:
    - Kim tìm ở đâu được câu ấy vậy? Câu hay quá!
    Kim cười một nụ cười thật đẹp và tội nghiệp:
    - Trích trong bài thơ dịch, Kim không nhớ mình đã đọc ở đâu, và đọc khi nào nữa…
    Tôi không muốn kéo dài câu chuyện, tìm cách chia tay để Kim được thoải mái với xấp vải cầm trong tay. Trên đường về tôi không sao xua được câu nói cứ lảng vãng bên tai, một câu như trong một bản Thiền Ca giữa đời ba động:
    - Nếu không khóc nước mắt dùng để làm gì? Nếu không khóc nước mắt dùng để làm gì? Nếu không khóc thì nước mất dùng để làm gì?…
    Tôi nhập tâm câu ấy, xem như một món quà mà Kim vừa trao tặng cho tôi.
    Một tuần sau, gặp Kim ở trường, tôi hỏi ngay:
    - May chưa?
    - Mốt mới xong, Hoa à!
    Hai hôm sau, gặp Kim tôi lại hỏi chừng:
    - Chưa lấy áo quần về à?
    Lần này Kim ấp úng:
    - Họ hẹn mốt mới xong…
    - Tiệm may nào cà chớn vậy? – Tôi bực – Chỉ cho biết, Hoa sạt cho một trận!
    - Thôi, đừng nóng. Từ từ chớ gấp gáp gì đâu?
    Cái “mốt” lại đến, vẫn thấy Kim đến trường với quần tây, áo trắng bạc thếch, tôi không chỉ buồn mà còn tức, nói:
    - Kim nói thật đi. Tại sao Kim không may đồ?
    Kim lẫn tránh cái nhìn chăm chăm của tôi, lúng búng:
    - Hoa chờ… một thời gian nữa đi. Thế nào… Kim cũng hóa “bồ câu trắng” như các bạn mà!
    Không tự chủ được, tôi nguýt mắt gằn giọng:
    - Kim không hiểu được mình rất nôn nóng được ngắm nghía bạn trong y phục áo dài trắng hay sao? Mình rất sung sướng, rất hạnh phúc trong giờ phút chiêm ngưỡng đó…
    Kim cúi đầu im lặng, thẹn thùng. Mặt tôi nóng lên, hỏi:
    - Hay là… Kim tự ái, không thích mặt đồ của bạn mình tặng?
    Giật mình, Kim vội xua tay:
    - Ồ không, Hoa đừng nghĩ vậy. Nếu tự ái thì Kim không nhận vải. Nhận thì phải may, mặc cho bạn vui. Kim tất nhiên là vui hơn gấp trăm lần bạn. Có điều… có điều…
    - Điều gì? - Nóng lòng tôi hỏi ngay.
    Kim đưa mắt nhìn tôi một cách yếu ớt. Đôi mắt Kim tràn đầy sợ sệt. Tôi không thể ngờ Kim thú thật:
    - Kim đã… bán rồi.
    Tôi xoe tròn đôi mắt, dường như đất vừa lún dưới chân mình. Tôi lạc cả giọng:
    - Bán rồi? Bạn bán hết xấp vải rồi?
    Kim cúi gầm mặt xuống, nuốt nghẹn không nói một lời. Tôi không làm chủ được lòng mình:
    - À, thôi được. Không nói nhiều nữa. Bạn có quyền làm chuyện ấy. Nhưng bạn nhớ giùm rằng: Bạn đã bán món quà nhỏ nhoi ấy, tức là đan tâm bán đi một tình bạn không nhỏ nhoi chút nào. Chào bạn!
    Tôi bước ngay. Kim níu tôi lại, nói trong nước mắt:
    - Hoa… nghe mình nói đã…
    Tôi giật phắt tay, giận dữ:
    - Không cần phải nói gì nữa. Cũng đừng có khóc lóc làm gì. Và cũng đừng nói nếu không khóc thì nước mắt dùng để làm gì? Nước mắt có nhiều loại nước mắt. Loại nước mắt của giống cá sấu dùng để cười mà thôi!
    Dứt lời, tôi đùng đùng bỏ đi, mặc cho người bạn gái thân nhất đứng lại ở góc sân trường vắng lặng với nước mắt đầm đìa… Qua một tuần, hai đứa tôi không còn đi chung với nhau, không trò chuyện, cũng chẳng chào hỏi, ngó mặt nhau dù chỉ một lời hay một giây ngắn ngủi. Tôi nhớ có ít nhất là ba lần, Kim đã đến tìm cách bắt chuyện làm hòa, nhưng tôi đã nguýt mắt bỏ đi nơi khác. Còn gì để nói với nhau nữa, khi mà tình bạn đã đem đi bán ở chợ đời? Nói thì nói vậy, bề ngoài thì thấy vậy, thật sự tôi rất muốn làm hòa lại với Kim. Tôi thường nhìn lén Kim, vừa giận vừa thương. Đôi ba lần, nhìn thấy Kim ngồi ủ rũ, mặt buồn rười rượi, cô đơn nơi thềm hiên lạnh lẽo, hay trơ trọi giữa sân trường mưa bay lất phất, thì lòng tôi lại chạnh đau, tự nhiên muốn quên đi tất cả để rồi đến ngồi bên bạn. Nhưng nghĩ lại, lại thôi…
    Sau một đêm mất ngủ, sáng chủ nhật, tôi quyết định đi mua xấp vải khác, cùng một giỏ quà gồm nhiều món thực phẩm bổ dưỡng để biếu mẹ của Kim, vì tôi nhớ hôm nay nhằm ngày Rằm tháng Bảy, lễ Vu Lan, mình sẽ thay mặt bạn làm cho mẹ bạn vui trong cái ngày lễ báo hiếu này. Mẹ bạn sẽ bất ngờ lắm, và bạn cũng sẽ vui như mình đang vui. Từ chợ ra, tôi thẳng đến nhà Kim. Biết chắc sáng chủ nhật sẽ không có Kim ở nhà, vì Kim phải đi bán vé số kiếm tiền, tôi mới mạnh dạn vào thẳng nhà bạn. Mẹ Kim đang ngồi may vá, thấy tôi vào bà reo lên:
    - A … cháu Hoa. Sao bữa giờ không thấy cháu lại chơi với Kim?
    - Chào bác ạ. Cháu dạo này bận quá. Bác có khỏe không?
    - Cảm ơn cháu. Ôi chao, mới vừa qua một cơn đau tim thật nặng đây. Nhờ trời, bữa nay khỏe lắm. Cháu đến chơi với Kim à? Nó đi bán vé số chưa về, chắc khoảng trưa mới lọt tọt về ăn cơm…
    - Bác vừa khỏi bệnh sao?
    - Ừ! Tội nghiệp con Kim, không có nó chắc giờ này bác đã… đi theo ông bà rồi… Hễ khen nó là nó cứ cười, giẩy nẩy nhỏng nhẻo nói “Phụ mẫu tại đường tức chư Phật tại thế mà mẹ. Con chăm sóc mẹ là để báo hiếu, là chăm sóc Phật của riêng con, mẹ đừng khen ngợi làm gì!”. Nói như nó thì bác… “bó tay” thôi!
    Tôi ngồi lặng người trong giây lát, rồi mới sực nhớ chuyện trao giỏ quà biếu mẹ Kim với đôi lời ngắn gọn về ngày Vu Lan báo hiếu, bà cảm động rưng rưng nước mắt, không nói nên lời. Một chặp lâu, mẹ Kim hỏi:
    - Con Kim nó học hành ra sao vậy cháu? Có giỏi không?
    -Dạ giỏi lắm, bác đừng lo. Hoàn cảnh gia đình khó khăn mà bạn ấy học siêng chăm, không chịu thua kém ai, thì đáng khâm phục, bác ạ!
    Mẹ Kim mỉm cười hài lòng. Chần chừ một lát, tôi đứng dậy thưa:
    - Thưa bác, cháu có quà tặng Kim. Đây là xấp vải may được một áo dài, và một quần nữa. Bác chuyển hộ cháu, bác nhớ bắt nó phải đi may le lẹ nhé, cháu cũng xin gởi đây tiền công may, bác cất giùm cho Kim…
    - Cháu tốt với bạn quá. Nó mừng lắm đây. Cháu biết không… hôm bác đau tim đột ngột, nhà không còn đồng xu, tội nghiệp cho Kim, nó dành dụm được không biết từ hồi nào mua được xấp vải trắng đến tám thước, phải bấm bụng cắn răng mà mang đi bán, lấy tiền chạy thuốc cho mẹ. Nay cháu cho nó xấp vải này thật đúng lúc, đúng thứ nó cần…
    Tôi hoàng lạnh ngắt toàn thân, không còn nghe được gì ngoài tiếng đập rộn ràng của tim mình. Nước mắt tôi rơi rơi…
    - Mẹ ơi… con bỏ quên sổ kết quả xổ số ở nhà…
    Vừa bước vào vừa nói oang oang, Kim bỗng tắt tiếng, đứng khựng lại nơi cửa. Hai đứa tôi nhìn nhau không chớp mắt. Sững sờ. Kim bật lên tiếng kêu trước:
    - Hoa!
    - Kim, Kim ơi! - Tôi kêu tên bạn trong trạng thái dật dờ.
    Hai đứa nhào tới ôm nhau. Kim hỏi:
    - Còn giận mình không?
    - Không. Bạn có giận mình không?
    - Không bao giờ. Nhưng sao bạn khóc?
    - Vì… Nếu không khóc thì nước mắt để làm gì, hở Kim?
    Mẹ Kim lặng lẽ ngồi đó đưa mắt nhìn chăm chăm hai đứa tôi. Tôi biết bà đang vui, rất vui, nhưng chắc chắn bà sẽ chẳng hiểu chuyện gì đã và đang xảy ra với hai đứa con gái học lớp 12 này. Có lẽ bà sẽ nghĩ thầm “hai cái con nhỏ khùng khùng, tự nhiên ôm nhau, hỏi nhau giận với thương, rồi còn khóc nữa!”.
    Không biết mẹ Kim có trả lời được câu hỏi “Nếu không khóc thì nước mắt để làm gì?” không nhỉ? Hay là bà lại … “bó tay” chào thua luôn?

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • THẬT NHƯ MÙA XUÂN


    Nhà Tuấn là nhà mặt tiền khang trang, ở ngay góc ngã tư gần chợ Trung tâm thành phố, rất thuận lợi để buôn bán kinh doanh, nhưng cha mẹ Tuấn nhất định không mở tiệm, mở quán, cũng không cho ai thuê mặt bằng dù đã có rất nhiều người đến nài nỉ. Cha Tuấn thì quá bận bịu vơi công việc ở cơ quan, còn mẹ Tuấn ngày đêm bù đầu với công tác từ thiện ở Hội Chữ Thập Đỏ, và các đạo tràng ở chùa. Cha mẹ Tuấn rất cần sự yên tĩnh sau những giờ làm việc căng thẳng, và sự yên tĩnh ấy cũng rất cần thiết cho việc học tập của những đứa con trong nhà. Cho nên, nhà Tuấn cứ suốt ngày đóng cửa im ỉm, mặc cho bên ngoài người xe chộn rộn xôn xao, mặc cho cuộc sống cuồn cuộn đi qua với đủ thứ mưu mô tính toán…

    Từ dạo sau mùa bão lũ hằng năm, ngoài hiên trước nhà Tuấn bỗng xuất hiện một người đàn ông mù lòa, không biết từ đâu trôi dạt đến, ngồi sát bên lề đường, cả ngày hứng nắng chói chang, hít lấy bụi bặm, để mong nhận được tờ giấy bạc từ những người hảo tâm thả rơi vào chiếc nón cũ đặt dưới đất. Người hành khất mù ngồi nơi ấy, miệng không thốt một lời van xin kể lể như bao người ăn xin khác, ai động lòng thì bố thí, ai có đi qua với sự thờ ơ khinh bỉ cũng chẳng sao. Chính điều này làm cho Tuấn tò mò lưu ý. Mỗi buổi sáng khi nhà mở cửa, cha mẹ Tuấn đến cơ quan, chị em Tuấn đến trường, đã thấy người hành ngất mù ngồi trước hiên tự bao giờ rồi. Đến trưa đứng bóng, người hành khất mù biến đi đâu đó chừng một tiếng đồng hồ, rồi trở lại ngồi lặng thinh dươiù cái nắng nóng bỏng hung hăng. Trời chạng vạng, mới thấy một người đến nắm một đầu gậy dắt người hành khất mù băng qua đường, rồi đi mất hút giữa phố chợ vừa lên đèn.

    Tuấn để ý theo dõi từ nửa tháng qua, thấy biết nhất cử nhất động của người hành khất mù, nhưng chưa hề nói cho ai nghe. Điều làm cho Tuấn cứ băn khoăn, tò mò và áy náy là người đến nắm gậy dắt người hành khất mù đi đâu đó vào lúc chạng vạng mỗi ngày là một cô bé trong y phục học sinh tiểu học. Cô bé trạc bằng tuổi của Tuấn, dáng vóc mảnh khảnh xanh xao gương mặt luôn đượm nét ưu buồn, nhưng Tuấn thấy chiếc cặp to kềønh mang sau lưng dường như không làm cho cô bé mệt nhọc, khó chịu. Mỗi khi đến dắt người hành khất mù đi, cô bé đều nói huyên thuyên những chuyện ở lớp ở trường với vẻ hào hứng. Người hành khất mù gật gù, gật gù, nét mặt tươi vui hài lòng. Tuấn rất muốn biết đích xác mối quan hệ giữa cô bé, và người hành khất mù kia, bao lần ra đứng trước cửa để ngóng tai nghe lén mà vẫn chưa biết đựơc. Tuấn nghĩ chỉ còn một cách là… làm quen với họ.

    Một buổi sáng chủ nhật, Tuấn mua một ổ bánh mì thịt đem lại mời người hành khất mù, ông ta nhận lấy và cám ơn.

    – Ủa, bác… nói được sao?

    – Sao lại không?


    – Sao lâu nay cháu không nghe bác nói lời nào?

    – Nói gì ở chỗ này hở cháu? Bác chỉ nói đúng lúc đúng nơi, đúng chuyện. Cháu ở đâu?

    Khi biết nhà Tuấn ở sau lưng mình, người hành khất mù mới lộ vẻ tươi vui, trò chuyện thân mật cởi mở. Qua cuộc chuyện trò, người hành khất mù khốn khổ đã dẫn Tuấn đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Tuấn xúc động khi biết cô bé kia chính là cháu ngoại của người hành khất mù. Cha là một thuỷ thủ gan dạ nhưng đã mất trong chuyến đi biển gặp cơn bão số 5, không bao giờ trở về đất liền. Mẹ trở thành người thất tình lảm nhảm, suốt ngày lang thang dọc bãi biển, mắt cứ nhìn chừng ra khơi xa trông ngóng một hình bóng thân thương, để cô bé phải chơi vơi giữa cuộc sống khó ngặt. Ông ngoại mù lòa phải buộc lòng đứng lên trong bóng tối, dang rộng vòng tay để ôm cháu vào lòng, quyết tâm bằng mọi githu sẽ nuôi cháu ăn học nên người…

    Người hành khất mù rưng rưng nước mắt, giọng trầm trầm:

    – Bác vui lắm, quên hết mọi tủi nhục khổ buồn, vì con nhỏ Linh cháu bác học giỏi, học chăm lắm. Bây giờ, cứ lo được ngày nào hay ngày ấy, miễn là con Linh được đến trường, được ăn no mặc lành. Còn sau này thì… có trời biết cháu à!

    Tuấn đem hết câu chuyện kể cho cha mẹ nghe trong một bữa cơm gia đình, kể thì kể cho biết vậy thôi, không ngờ câu chuyện của ông cháu người hành khất mù làm cho cha mẹ phải nuốt nghẹn, mẹ phải đặt chén xuống bàn mà ngồi thẩn thờ. Tuấn nhớ, mẹ đã từng nhắc đi nhắc lại nhiều lần những lời Phật dạy, như “Món nợ lớn nhất của đời người là tình cảm”, hay “Thi ân không cầu đáp trả, vì đáp trả là mất đạo nghĩa”. Còn cha Tuấn thì thích dõng dạc tuyên bố câu “Coi sự thi ân như đôi dép bỏ!” bằng một giọng chắc nịch, dứt khoát. Vì vậy mà ngay hôm sau, cha mẹ của Tuấn đã mời người hành khất mù vào nhà để hỏi thăm tỉ mỉ, và sau nhiều giờ bàn bạc giữa người lớn với nhau, một tin vui đã đến với không chỉ riêng Tuấn, mà đến với mọi người: Cha mẹ Tuấn đã nhận đỡ đầu cho cô bé Linh, bảo bọc nuôi nấng cho cô bé ăn học thành tài, đồng thời sẽ trợ cấp một số tiền hàng tháng cho ông ngoại Linh không phải ra chợ hành khất nữa.

    Kể từ hôm ấy, Tuấn có thêm một người em gái, một người bạn hiếu học rất đáng quý. Nhưng đáng quý hơn hết, đó chính là một bài học về tình người rất thật, rất sống động, thật và sống động như mùa xuân đang đến khắp mọi miền. Bài học ấy luôn chói sáng giữa cuộc đời đầy chông gai trắc trở, mà Tuấn ghi tâm để nhớ suốt đời…

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • TRĂNG TRÊN ÁO


    Dừng chân trước cửa một căn nhà, người khách lạ tần ngần đưa mắt nhìn dò xét chung quanh. Nắng. Nắng chói chan làm khô đi mọi vật. Nhưng lại làm ướt thêm chiếc áo mỏng manh đẫm mồ hôi bằng những giọt mồ hôi khác cứ đua nhau tươm rơi nhễ nhại từ trán, cổ, mình mẩy của khách lạ. Từ trong nhà, Kim Thuỷ lặng lẽ nhìn theo dõi, rồi rời góc học tập, bước từng bướt ngập ngừng ra đón khách. Đôi mắt khách lạ sáng lên cùng lúc với nụ cười mỉm nhẹ, giọng thật thân thiện theo âm thổ miền Bắc cất cao:
    _ Chào cô bé, cho tôi hỏi thăm, đây có phải là nhà của cô Tôn Nữ Kim Thuỷ không nhỉ?
    Kim Thuỷ hơi bối rối, ngạc nhiên nhìn khách, rồi ấp úng?
    _ Dạ … dạ đúng rồi. Cháu là Kim Thuỷ đây ạ!
    _ Là em đấy à? – Khách lạ reo lên – Hay quá, rót cuộc thì tôi đã tìm tới nơi tôi muốn tìm. Hân hạnh được gặp em, nữ thi sĩ mà tôi mến mộ!
    Khách lạ chìa tay ra. Kim Thuỷ lúng túng đưa bàn tay ra bắt. Khách lạ tỏ vẻ thân mật:
    _ Xin giới thiệu với em, tôi là nhạc sĩ Bảo Thanh, ở Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh. Em không cho phép khách vào nhà sao?
    Không đợi chủ mời, khách đã cười ha hả bước ào vào bên trong nhà cứ y như đã từng đến đây cả triệu lần rồi vậy. Kim Thuỷ lẽo đẽo theo sau, nhất thời không biết phải ứng xử ra sao với vị khách đường đột mà lần đầu tiên mình được gặp mặt, biết tên. Nhạc sĩ thản nhiên kéo ghế ngồi, đặt túi xách lên trên bàn, nhìn quanh nhà bằng đôi mắt của một … nhân viên công lực. Kim Thuỷ tự dưng cảm thấy mình không còn là người giữ vị trí gia chủ, mà đã hoá ra khách, cứ thẹn thùng đứng khép nép ngóng chờ ông nhạc sĩ lạ mặt kia mở đầu câu chuyện. Nhạc sĩ chỉ vào ghế trống, tự nhiên như một chủ nhà mời khách, cởi mở:
    _ Ô kìa, mời em ngồi. Tôi rất muốn làm quen, và tìm hiểu về em. Nếu em cứ ngại ngùng như vậy, e rằng … công tôi lặn lội tìm kiếm sẽ quăng cả xuống sông trôi ra biển tất tần tật mất!
    Kim Thuỷ ngoan ngoản ngồi xuống, hai tròng đen lay láy cứ đảo quanh trong đôi mắt đầy ngơ ngác, lo âu. Nhìn chăm chăm vào gương mặt của cô bé chủ nhà, nhạc sĩ gục gặc đầu rồi hỏi:
    _ Em vẫn còn làm thơ đấy chứ?
    _ Dạ … thỉnh thoảng thôi ạ. Em còn đang học …
    _ Em học đến lớp mấy rồi?
    _ Lớp 11 ạ.
    _ Thế mẹ em đâu rồi?
    _ Thưa … mẹ em … đi bán rồi ạ.
    _ Mẹ buôn bán hàng gì thế?
    _ Tại sao chú hỏi kỹ về mẹ cháu như vậy?
    Nhạc sĩ phì cười:
    _ Mới vừa xưng anh anh em em đấy mà đã thay đổi chú cháu rồi. Cứ anh em cho thân mật đi nào, anh còn trẻ lắm, và luôn mong ước được trẻ mãi không già.
    Kim Thuỷ cười ngượng. Nhạc sĩ gõ nhịp trên bàn bằng những ngón tay xương xương, nói:
    _ Sở dĩ anh hỏi kỹ về mẹ em, vì anh đã đọc và rất thích … những bài thơ em viết về người mẹ đã đăng trên các báo. Rất thích, bởi những ý thơ đầy xúc cảm, tứ thơ rung động, và lời thơ mộc mạc chân tình. Em rất có triển vọng, cứ như thế, cứ giữ cái hồn thơ như thế, rồi em sẽ tìm được một vị trí vững vàng trên thi đàn. Anh tin như thế, nên mới có mặt ở đây!
    _ Em … em … không dám nhận những lời khen ngợi của anh …
    _ Đừng, đứng khách sáo, đừng bắt chước những kiểu khiêm tốn theo thủ tục của những người lớn già dặn kinh nghiệm. Anh thấy trong thơ của em sự trong trắng trung thực, và chân thực. Anh chưa thấy thơ em những từ sáo rỗng, những ý tứ viễn vông xa vời, vậy thì với cuộc sống đời thường em nên giữ một tâm hồn như trong thơ của mình. Nhé?
    Kim Thuỷ trố mắt nhìn người khách lạ lùng như nhìn một vật thể kỳ dị từ hành tinh khác mới xuống. Nhạc sĩ từ tốn tiếp:
    _ Anh muốn cộng tác với em. Em đồng ý chứ?
    _ Cộng tác gì ạ?
    _ Anh dự định làm một tập nhạc, trong đó gồm những nhạc phẩm ca ngợi hình tượng người mẹ. Nhạc của anh, lời sẽ là những bài thơ viết về mẹ của chính em!
    _ Em. Những bài thơ của … em?
    _ Như những bài “ Vai gầy”, “ Lung linh bóng mẹ”, bài “ Vòng tay ấm”, bài “ Mẹ là tất cả” … anh đã đọc được và dường như đã thuộc làu từ trên các báo. Những bài thơ này phổ nhạc thì thật là tuyệt vời. Em đồng ý phối hợp với anh cho những bài này sống bất tử chứ?
    _ Ồ … em rất sung sướng. Em đồng ý ạ!
    Nhạc sĩ Bảo Thanh bật cười khoái trá, rồi đưa mắt nhìn vào phía tủ thờ, trầm ngâm.
    _ Cha em mất rồi à?
    _ Dạ. Mất đã năm năm rồi. Tụi em sống với mẹ …
    _ Nhà có mấy anh em?
    _ Bốn ạ. Em là chị đầu. Ba đứa sau còn đi học.
    _ Một mình mẹ gánh vác cả sao?
    _ Chỉ một mình mẹ, cho nên …
    _ Mẹ buôn bán gì thế?
    _ Dạ … than củi.
    Nhạc sĩ nhíu mày trầm ngâm thật lâu. Cuộc sống ngày càng đi lên, nhà nhà dường như đều dùng bếp gas bếp điện, hay ít nhất là bếp dầu lửa, vậy mà … hình ảnh người đàn bà mặt mũi lấm lem, mồ hôi nhễ nhãi đang khiêng từng bó củi, kéo từng bao than qua từng tháng ngày lặng lẽ cứ chập chờn trước mắt nhạc sĩ. Những cục than hồng, những thanh củi khô cứng đang reo vui với ngọn lửa đỏ rực trong bếp mọi nhà, có phải chăng là những bài thơ ngập tràm sức sống mà người nghệ sĩ bao năm rong ruổi cõi hồng trần để tìm kiếm? Những tiếng nổ lách tách của than, tiếng trở mình của củi, có phải chăng là những nốt nhạc thăng trầm du dương của một nhạc phẩm bất hủ, mà người nghệ sĩ bao năm tháng đã cất công lặn lội lục lội khắp trần gian thơ mộng? Nhạc sĩ thở dài một hơi, nhìn cô bé chủ nhà, khẽ hỏi:
    _ Mấy chị em có phụ giúp mẹ phần nào chuyện tiền nong cơm áo chứ?
    Kim Thuỷ ngập ngừng, lộ vẻ khó chịu trước câu hỏi, đáp:
    _ Da … chút ít thôi. Đứa nào rảnh thì bán vé số. Nhưng … thường thì mẹ không bắt buộc, mẹ bắt phải chăm học, mọi việc mẹ lo hết. Mẹ buôn bán cũng được lắm, anh ạ!
    Nhạc sĩ lại thở dài gật gù:
    _ Thôi được rồi, anh sẽ lưu tâm chuyện này. Nếu chuyện hợp tác giữa hai ta tiến triển tốt đẹp như ý muốn, chuyện tác quyền của những bài thơ của em, anh sẽ không quên, sẽ không chậm trễ …
    Nhạc sĩ đứng dậy. Hai người bắt tay nhau. Cái bắt tay hứa hẹn một ngày mai gần gũi, và vui tươi hơn.
    o0o
    _ Em làm thất vọng vô cùng!
    Nhạc sĩ buôn câu ấy đầu tiên trước khi bước vào nhà. Kim Thuỷ ngỡ ngàng đưa mắt nhìn khách. Nhạc sĩ nói với giọng trách móc:
    _ Em đã sống một đang, làm thơ một nẻo. Thơ của em thật hay nhưng không thật, vì em không trung thực!
    Kim Thuỷ trố mắt kinh hoảng. Trước mắt cô bé hình như là một người thầy, người anh trưởng, hoặc người cha nghiêm khắc của mình vậy. Nỗi thất vọng đang chiếm lĩnh lấy gương mặt của nhạc sĩ, giọng buồn bực tuôn ra:
    _ Hãy nghe tôi nói hết bằng cả chân tình. Tôi rất buồn,. Buồn như vừa bị ai đó tước đoạt đi một cái gì quý báu của mình, vốn được mình gìn giữ ôm ấp. Đáng lý là tôi đi luôn, không bao giờ quay trở lại nơi này để gặp em làm chi nữa. Nhưng không, tôi phải quay lại và ngồi đây, để tuôn ra hết những gì muốn nói. Phủi tay, làm lơ cho qua là hèn nhát. Và, tôi thì không muốn làm một đứa hèn nhát trên cuộc đời đáng yêu này!
    Kim Thuỷ trố mắt sửng sốt. Nhạc sĩ xua tay:
    _ Em đừng ngắt lời. Tôi đã hết sức quan tâm, tin tưởng em, và rất muốn chia sớt những lo toan phiền muộn trong cuộc sống hằng ngày của em. Nhưng em đã không trung thực, trước tiên là với chính mình, sau đến là mọi người, trong đó có tôi!
    Kim Thuỷ ngồi bất động im thin thít. Nhạc sĩ tiếp:
    _ Tôi đã tìm gặp cô giáo chủ nhiệm, và các bạn cùng lớp của em, với thiện ý tìm hiểu thêm con người làm ra những bài thơ mà tôi yêu thích. Tôi đã được biết gì? Em không hề phụ giúp mẹ trong công việc buôn bán tảo tần, và cả những việc thông thường nhỏ nhặt trong nhà. Em lại học hành chẳng ra gì cả. Trong khi ấy, mẹ em chật vật với đống than củi cả ngày ngoài chợ, và lũ em sau giừo học đều tranh thủ túa đi bán báo, vé số kiếm tiền góp lại đưa mẹ. Em còn thích rong chơi với bạn bè, ngắm cảnh thưởng hoa, hết ở biển xanh lại đến dã ngoại, cùng những tiệc tùng phù phiếm se sua … Tôi thử hỏi: ý thơ em lấy được từ đâu? Lấy từ đâu mà gây xúc động người đọc? Em không lấy từ hồn tâm của mình. Chắc chắn vậy. Những bài thơ có cái hồn giả tạo như thế, dẫu có được khen nức nở, rồi tự nó giãy chết giữa dòng thi ca chân thực. Đừng làm thơ kiểu ấy nữa. Hãy sống đúng, sống đẹp, thì thơ của mình tự nhiên đẹp, và nó có thể sống bất tử!
    Dứt lời, nhạc sĩ đứng phắt dậy, bước nhanh đi, vụt mất như một cơn lốc. Kim Thuỷ ngồi lại thẫn thờ một mình, để yên cho hai hàng nước mắt chảy tuôn theo nhịp thổn thức của trái tim vừa bị những nốt nhạc nhọn như dao, đâm qua thật ngọt, thật lạnh lùng, nhưng lại rất chân tình xúc cảm …
    o0o
    … Nhạc sĩ bước nhanh vào nhà với cay đàn trong tay. Kim Thuỷ vui mừng ra mặt đứng bật lên nhìn chăm chăm về phía khách. Nhạc sĩ thản nhiên kéo ghế ngồi, mỉm cười hài lòng, nói:
    _ Đã hơn bốn tháng rồi, anh em mình mới gặp lại nhau.
    _ Dạ, một trăm hai mươi lăm ngày, em tính từng giờ trôi qua, kể từ hôm anh giận dữ ào đến, rồi giận dữ ào đi!
    _ Anh xin lỗi. Anh thường không kiềm chế được cảm xúc của mình. Hôm ấy anh quá giận, quên mình là ai, em là gì, nên có nặng lời …
    _ Em mới là người phải xin lỗi. Em cảm ơn anh thật nhiều. Không gặp được anh, em cứ mãi là một đứa sống an nhiên với giả dối, làm ra những bài thơ giả dối. Lời thật của anh đúng là rất dễ mất lòng. Em mất lòng, nhưng tỉnh giấc mê muội …
    _ Em khỏi phải phân trần. Anh đã biết những thay đổi nơi em hơn bốn tháng qua. Em biết sai, và đã tu sửa. Cô giáo chủ nhiệm cùng các bạn của em đều công nhận nơi em có sự chuyển biến. Và anh đã gặp mẹ em ngoài chợ, ít nhất là năm lần, để được nghe … những lời khen ngợi của một người mẹ đang sung sướng tự hào về người con gái đầu lòng!
    Kim Thuỷ thẹn thùng với nụ cười chúm chím. Nhạc sĩ cũng cười:
    _ Hôm nay em được khen ngợi, gương mặt em, ánh mắt em, tất cả nơi em đều khác hản so với lần đầu tiên gặp mặt được anh khen đấy. Hồn thơ nằm trong chính sự khác biệt này, Thuỷ à!
    Kim Thuỷ cười, nói:
    _ Anh đã cho em hiểu rốt ráo câu nói của Victo Huygo: “ Nghệ thuật chỉ làm ra được những vần thơ khéo léo. Còn trái tim mới tạo nên các tác phẩm thi ca”. Em rất tâm đắc câu này …
    _ Tuyệt vời. Và tuyệt vời hơn là người nhớ và hiểu câu ấy!
    _ Nhưng, sao hôm nay anh đến với cây đàn?
    _ Vì anh muốn ngâm thơ, phổ nhạc, và hát cùng em!
    _ Hát về mẹ chứ?
    _ Ừ, về mẹ. Anh đã học bài thơ “Trăng trên áo” mới nhất của em, vừa đăng trên số tạp chí của Hội Văn học nghệ thuật tỉnh. Em đã không gởi các báo khác, mà gởi ngay tạp chí của hội, anh nghĩ chắc là … Em có ý gởi anh đọc được. Phải vậy không?
    Kim Thuỷ mỉm cười không đáp. Nhạc sĩ cười, nói:
    _ Theo anh, ấy là một tuyệt tác. Tuyệt tác vì là thơ của em, thơ thật có hồn, không phải thơ giả. Hình ảnh của người mẹ trong bài thơ đã ám ảnh anh nhiều đêm ngày, và anh đã bừng sáng đầu óc khi hiểu ra rằng… Mẹ chính là Phật. Phật chẳng ở đâu xa, mà ở ngay trong cuộc sống này, khỏi kiếm tìm chi cho nhọc sức. Anh muốn phổ nhạc bài thơ này, em không chịu, anh cũng làm theo ý mình đến cùng!
    _ Em sẽ kiện đến Hội Nhạc sĩ Việt Nam!
    _ Hội gì cũng sẽ xử huề.
    _ Vậy thì chia đôi quyền lợi em mới chịu!
    _ Thì chia đây: hai đứa cùng phổ nhạc, cùng hát. Đứa nào yếu giọng, ngắn hơi, mất quyền lợi ráng chịu!
    Họ cười vang vui vẻ. Rồi ngồi bên nhau với cây đàn, những dòng nhạc trên giấy, và không khí yên ắng của vùng ven đô chiều tà … Đội bạn, một già một trẻ, say mê theo nhịp nhạc lời ca:
    Đêm mơ tôi hái được trăng
    Đặt vào ngực áo một vầng vàng hoe
    Mang trăng trên áo tôi về
    Ghim nơi áo trắng miền quê học trò
    Chập chờn bừng mắt giữ mơ
    Mẹ ngồi bên ánh đèn mờ cắt may
    Aùo dài con gái trong tay
    Lo cho con có ngày mai đến trường
    Rưng rưng nước mắt rưng rưng
    Hiểu ra lòng mẹ: một vầng trăng khuya
    Dạt dào vằn vặc miền quê
    Mẹ ơi, con có trăng khoe bạn mình …
    Đôi bạn mãi mê hát. Họ không hề biết ngoài kia bên hiên hè chập choạng tối sáng, có một người mẹ đứng ôm vầng ngực lặng thinh cùng với nước mắt rưng rưng, rưng rưng …

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • QUẠT NỞ NGÀN HOA


    Từ ngày Trinh buôn bán gặp thời, trúng nơi đắc địa làm ăn nên ra, nàng bắt buộc chồng mình hứa phải gác bút, dẹp hết chuyện viết với lách, sáng tác với tối tác quá nhiều công sức lại rước thêm nhiều phiền phức. Nàng đã quá ớn, quá chán ngấy mấy cái chuyện cặm cụi khuya sớm tuôn thơ nhả ý bay bổng bổng bay, hay trầm tư hí hoáy viết những truyện ngắn yêu đương éo le gay cấn để cộng tác với gần cả trăm tờ báo-tạp chí khắp mọi miền đất nước của chồng mình. Nàng ớn, chán ngấy, vì mấy năm trước, khi nàng chưa có công ăn việc làm, chỉ biết lo bếp núc chợ búa, trông con, anh vẫn thường bắt nàng phải phụ giúp những việc vặt vãnh như dán tem bì thư, viết tên báo lên phong bì theo danh sách anh kê, đánh lại các bản thảo bằng vi tính, đi mua báo, ghi chép những tin tức thời sự đáng nhớ trong năm, chép lại những số liệu trên báo cần lưu ý mà anh đã dùng bút dạ gạch lên nhấn mạnh. Tính cũng khoảng gần mười năm trời, quanh năm suốt tháng Trinh phụ giúp cho chồng những việc nhỏ nhặt đó, nhất là dịp làm báo Xuân báo Tết luôn luôn phải bù đầu bù cổ tăng năng suất gấp năm lần, ban đầu nàng thấy thích thú, thấy hay hay, một công việc nhàn nhã ở trong mát, không đòi hỏi gì về trí tuệ cho nhức đầu, chỉ cần chịu khó và siêng chăm, chỉ là những thao tác nhẹ nhàng gọn gàng, lại giúp cho mình thoát được những giờ phút ở không rỗng tuếch trong căn hộ chật chội, tù túng, bề bộn những sách báo bút mực… Nhưng dần dần, nàng cảm thấy chán nhàm buồn tẻ, nhận ra những công việc của mình chỉ là việc phụ, và mình là diễn viên quần chúng không ai biết đến của một bộ phim hoành tráng nhiều tập. Không lẽ suốt đời nàng cứ phải bị trói buộc vào những việc vặt vãnh nhỏ nhặt đó? Nói cho cùng, trong thâm tâm nàng cũng còn thích thích phụ một tay cho chồng nhẹ vơi gánh nặng với công việc viết lách kiếm sống bề bộn, khả dĩ mang về khoản thu nhập đủ sống cầm hơi cho gia đình bốn nhân khẩu. Nhưng phải chi công việc của anh ngày càng phát triển lên, tên tuổi anh ngày càng nổi tiếng, những sáng tác của anh được các báo-tạp chí đua nhau đăng tải, nhuận bút chạy về trong tay tăng nhiều lên, thì nàng còn bấm bụng làm việc cho hăng say. Đằng này, vì anh chỉ là một cộng tác viên tỉnh lẻ, là một nhà báo tự do không có thẻ, không phải là nhà báo thực thụ, nên đâu có được người ta dành cho sự ưu đãi đặc biệt nào. Anh sáng tác nhiều thể loại, số lượng tác phẩm nhiều, gửi đến nhiều tòa soạn, đều đặn và thường xuyên, được đăng thì có tiền, không đăng thì trống túi trơ tay, y như một canh bạc may rủi chứ chẳng có gì là chắc chắn, là vững vàng. Anh yêu nghề, say mê và kiên trì theo đuổi nghiệp viết lách, làm nhiều ăn ít, lại có thói quen thức khuya dậy sớm để sáng tạo trong không khí yên tịnh, lâu năm thành quen, dẫn đến sa sút sức khỏe, và rồi đổ bệnh. Một lần ngã bệnh của anh là một lần tổ ấm gia đình xính vính nghiêng chao. Các căn bệnh viêm phổi, suy tim, đau thận đã cướp đi nhiều sinh lực trong anh, vẫn còn ẩn nấp đâu đó trong cơ thể chứ chưa chịu biến đi, khiến cho anh không còn sung sức trong sáng tạo, giảm năng suất một cách tệ hại, đương nhiên nguồn thu nhập từ cái nghề “cộng tác viên báo chí từ xa” của anh ngày càng giảm sút đến dưới mức báo động. Kinh tế gia đình lung lay. Cơm áo gạo tiền bấp bênh. Vậy thì hỏi sao nàng còn hứng thú mê thích gì nữa với việc phụ giúp của một trợ thủ? Lâm vào thế kẹt ngõ cùng, “cùng tắc biến, biến tắc thông”, nàng đã vùng dậy, chạy đôn chạy đáo, vay mượn tứ phía, tìm được một công việc mới cho gia đình mình. Quyền làm chủ một ki-ốt bán đĩa CD nằm ngay đường chính dẫn vào ngôi chợ lớn của thành phố đã nằm trong tay, nàng trở thành bà chủ của hai nhân viên lanh lợi xông xáo, đủ để đảo lộn tình thế, mang về cho tổ ấm luồng sinh khí mới với doanh thu nhảy vọt từng ngày… Vậy là nàng nghiễm nhiên chiếm lĩnh vị trí diễn viên chính, có triển vọng trở thành gạo cội. Còn anh, anh buộc phải xuống thủ vai phụ nếu như bộ phim nhiều tập mang cái tên “Đổi đời” cần đến, mà thường thì không cần, nên chuyện viết lách của anh xem như không còn trong kịch bản của đạo diễn, biến khỏi đời sống hằng ngày của gia đình. Có chăng, là do anh ngứa nghề, nhớ bút mực, nhớ vần điệu của thi ca nên buồn buồn ngồi chơi mà hí lộng ngôn ngữ, thi thoảng gửi một vài tác phẩm mới đến dăm ba tờ báo mà anh có quan hệ lâu năm thân tình, chứ nàng đâu có bắt anh phải động não vắt óc như trước kia nữa!

    Nhiệm vụ chính của anh trong năm vừa qua là chăm nom dạy dỗ con cái, ngày hai buổi lo đưa đón hai đứa nhỏ đến trường, và đến nhà thầy cô để học thêm. Anh có dư thời giờ để ngồi nhâm nhi ly cà phê bên vỉa hè tán dóc cùng bè bạn mỗi sáng, hay dự những “tửu hội văn chương” cùng đám tao nhân mặc khách ở các quán nhậu mỗi chiều, nếu muốn thì anh cũng có thời gian rãnh rỗi thư thái để lên chùa ngồi đàm đạo với mấy vị tăng mà anh thường kính trọng. Vì trước kia anh có thời gian hai năm xuất gia tu học trong một ngôi chùa ở vùng Bảy Núi An Giang, sau vì hoàn cảnh phải về lại với đời tục, nên khi lập gia đình anh đã từng có ước muốn dành nhiều thời gian ra vào chốn thiền môn để học hỏi, để huân tập thêm giáo pháp của đạo Bụt, mà không được. Thơ văn của anh chịu ảnh hưởng nhiều giáo lý của Bụt, lúc nào cũng phảng phất, hoặc cũng thấm đẫm đạo từ bi hỷ xả, tạo cho anh một phong cách riêng dễ nhận biết giữa một rừng cây bút sáng tác thơ văn. Chính nàng cũng đã từng nể phục, kính trọng, và yêu anh từ ngôn ngữ giọng điệu và cách sống theo chánh pháp, chứ đâu phải vì anh đẹp trai hay tốt tướng. Nàng làm sao quên được một bài thơ đẫm chất Thiền mà anh đã làm nhân kỷ niệm sinh nhật lần thứ 40 của anh, nó đã được một tờ báo lớn đăng vào dịp Tết Nguyên đán, cũng là dịp mừng Xuân Di Lặc, sau đó có hai báo khác xin đăng lại vẫn trả nhuận bút rất cao. Đó là bài thơ “Lên chùa”, đối với Trinh là tuyệt tác thi ca, nên nàng đã thuộc làu không vấp một nhịp:“Nắng nghiêng chênh chếch sau chùa/Dừng chân miệng đếm chuông vừa ngân vang/Khói nhà trù toả xanh lam/Chúng sinh chợt nhớ chưa ăn nửa ngày/Già lam tịch mịch đứng đây/Xác còn nặng nợ, hồn bay phiêu bồng/Mây còn lững thững trời đông/Tà dương đang trốn vào lòng núi Tây/Nhớ xưa văng vẳng lời thầy/Yêu là đau khổ, Đời đầy bi ai/Mà sao dại cứ yêu hoài/Để con tim nhỏ đâm chồi nẩy hoa?/Dùng dằng bậc cấp bước qua/Tiếng chuông vọng cõi Ta Bà gọi tên/Tan bay trăn trở kim tiền/Chập chờn khoảnh khắc nhớ quên nợ trần/Hướng về chánh điện phân vân/Phải mình chới với đang cần dựa nương?/Đã quen với lẽ vô thường/Thì thôi gánh chịu vui buồn ghét yêu/Giỡn đùa chi với cao siêu/Trở về phố thị mà liều cuộc chơi/Chuông ngân tiễn khách xa rồi/Hồi đầu thấy một nụ cười nhẹ tênh !”. Bây giờ anh đã được như ý, có được thời gian ra vào chốn già lam, tìm được những giờ phút thanh thản tĩnh lặng, thì cứ thoải mái vô tư đi đi về về bất cứ khi nào anh thấy thích hợp. Sướng rồi còn gì hơn? Chuyện cơm nước hằng ngày, đến giờ thì anh chỉ việc vo gạo bỏ vào nồi cơm điện, bấm nút, khi cơm cạn thì bấm thêm lần nữa, là xong. Gần trưa, nàng từ chợ về nhà đã có đầy thức ăn trong giỏ, vợ chồng cùng ráp tay vô tí xíu là có bữa ăn thịnh soạn lành lành ngọt ngọt. Cứ như vậy, Trinh yên tâm với công việc ngày càng hái ra tiền, nợ nần trang trải thanh toán sạch bong, vốn liếng dôi dư có gửi vào quỹ tiết kiệm, mua được bảo hiểm an sinh giáo dục cho hai đứa nhỏ, tiện nghi máy móc trong nhà không thiếu thứ gì. Ngay cả việc “chạy hàng”, nàng cũng đâu có bắt anh nhúng tay vào, vì đã có “lính” lo. Những đĩa VCD-DVD phim truyện, ca nhạc quốc tế-hải ngoại-nội địa, và cả những “phim đen ngoài luồng” thuộc loại “hot” được chuyển tải từ mạng Internet, được sao chép lậu đều đặn tuồn về cửa hàng của nàng từ nhiều nguồn, đều do nhân viên năng nổ của nàng chạy một cách thông suốt, êm thắm. Còn việc tìm “bảo kê”â cho cửa hàng thì nàng đã lo liệu xong đâu vào đó, không bắt anh phải dính líu vào cho nhơ nhuốc tâm thân. Nhờ quen biết rộng trong giới văn nghệ sĩ, trong đó có nhiều nhà báo, và cả công an văn hóa, anh cũng có cái công móc nối với các người bạn đang công tác ở Sở Văn hóa Thông tin để nắm được thông tin những đợt truy quét kiểm tra đột xuất, báo cho nàng biết trước một ngày mà liệu bề “ém hàng”, giữ cho cửa hàng được tiếng trong sạch lành mạnh. Công của anh đóng góp cho cửa hàng chỉ chút xíu đó thôi, vậy mà anh cũng đã giẩy nẩy nhăn nhó, nhận việc một cách chán chường miễn cưỡng. Khi đã lo ổn từ trong ra ngoài, Trinh đã thật sự gắn bó với ki-ốt, một năm qua nàng đang hăng say với công việc buôn bán thuận buồm xuôi gió, quên sạch hết chuyện viết lách của chồng luôn rồi, thoát khỏi mấy cái việc vặt vãnh nhàm chán xưa kia rồi, thật là nhẹ nhàng sảng khoái, và thật là đắc chí bình sinh!

    … Xuân đã về. Cửa hàng vào mùa hốt bạc. Trinh bận túi bụi tất bật, nhưng không biết mệt mỏi, không thấy chán ngán, nhờ doanh thu cao ngút thay những liều doping. Nhưng nàng cũng không quên lo chu tất việc nhà để chuẩn bị đón thêm một cái Tết huy hoàng sung túc, hết sắm sửa trang bị thêm tiện nghi máy móc, rồi dọn dẹp nhà cửa đồ đạc. Phần việc còn lại là của chồng nàng, anh lo trang hoàng bài trí lại bàn thờ, phòng khách cho ngăn nắp chỉnh tề và mang chút ít nghệ thuật. Anh đâu có gác bút treo nghiên được vào dịp Xuân sang Tết đến, cũng ngứa tay hí hoáy chừng mươi bài thơ, dăm ba truyện ngắn để góp mặt trên các giai phẩm mừng năm mới cho đỡ buồn, đỡ tủi. Nàng biết, rất thông cảm, nên đâu có ý kiến phàn nàn trách móc gì, miễn là anh đừng có quá chú trọng chuyện viết lách, đừng ngộ nhận đó là chuyện sinh tử tồn vong của cuộc sống gia đình, là được rồi. Nàng vẫn tôn trọng anh, như xưa kia nàng đã từng mê say, luôn nể nang và đôi lúc kính phục sát đất cái tính nghệ sĩ trong anh. Nhưng cuộc mưu sinh căng thẳng vốn đầy những trắc trở, những thủ đoạn, những cạnh tranh gay gắt, những tính toán sòng phẳng, những mánh lới lạnh lùng, những mưu toan giảo hoạt, đã buộc nàng phải gạt bỏ chuyện văn chương của chồng sang một bên, tạm quên chúng đi, chỉ nhắc đến, bàn đến khi vợ chồng thật sự thanh thản nằm bên nhau tâm tình, quên béng đi chốn thương trường rộn rịp…

    Trưa ngày hai mươi ba tháng Chạp, trong lúc dọn dẹp nhà cửa, anh tình cờ thấy trong sọt rác để ở góc nhà bếp gạch men lạnh tanh một chiếc quạt giấy cũ kỹ nhàu nhèo rất thân quen. Anh nhặt lại, ôm quạt vào lòng mà rưng rưng nước mắt. Chiếc quạt giấy đã không rời khỏi anh từ lúc đó cho đến khi chiều tối Trinh từ cửa hàng về nhà. Nhìn thấy chiếc quạt giấy trên tay anh, nàng bực bội, nhằn:

    - Em dọn dẹp, tống khứ ba cái đồ cũ rách cho sạch sẽ thơm tho nhà mình, đã quăng chiếc quạt đó vào sọt rác rồi, anh còn luyến tiếc chi mà nhặt lại cho dơ nhà dơ tủ?

    Anh nói như thều thào:

    - Vật kỷ niệm mà em. Em không nhớ trên quạt này có bài thơ anh đề tặng em hồi mình mới sống chung sao?

    Trinh chép miệng, lắc đầu nói:

    - Nhớ chứ. Nhưng bây giờ… nhà mình có máy lạnh, có đến bốn chiếc quạt máy, thì anh còn giữ nó chi nữa? Bài thơ của anh chép trên quạt không mất đi đâu, vì em đã thuộc nằm lòng rồi kia mà. Để mai mốt rảnh rang, em nhờ mấy anh bên Câu lạc bộ Thư pháp viết lại bài thơ này, rồi treo ở trên đầu giường ngủ tụi mình cho đẹp!

    Nàng bỏ đi xuống nhà dưới để lo tắm rửa, rồi còn dọn bày bữa cơm tối. Anh im lặng, mỉm cười mếu máo nhìn theo, nhún vai lắc đầu. Qua sáng hôm sau, Trinh ngã bệnh. Nàng ngồi dậy không nổi nữa. Suy nhược, sốt cao, một mình anh phải cáng đáng việc lo cho hai đứa con đi học, chạy đi kêu y tá đến tiêm thuốc, truyền đạm cho vợ, rồi ngồi túc trực bên giường chăm sóc cho nàng từng li từng chút. Sau một cơn ngủ mê mệt, Trinh từ từ mở mắt, thấy anh đang ngồi bên, tay anh cầm chiếc quạt giấy cũ mèm quạt cho nàng thật khẽ khàng. Nàng nhướng mắt nhìn đăm đăm chiếc quạt, rồi nhìn chăm chăm vào mắt anh. Anh mỉm cười:

    - Cúp điện rồi, em ơi. Em chịu khó chịu đựng chiếc quạt giấy dễ ghét này cho đến khi có điện lại nhé!

    Nàng rơm rớm nước mắt, nghẹn ngào:

    - Không. Anh quạt đi. Anh cứ quạt đi, quạt suốt đời cũng được… em xin lỗi anh…

    Anh trầm tư, không ngưng tay quạt. Một lúc sau, anh khe khẽ ngâm lên bài thơ mà anh đã chép tặng nàng trên chiếc quạt giấy khi đôi lứa vừa nên vợ nên chồng:

    - Ngàn hoa xuân đã trở mình…
    Nhịp đều nồng ấm ru tình trăm năm
    Năm mươi năm nữa còn chăng
    Bóng hình khắn khít, nồng nàn lời yêu?
    Cùng trời cuối bãi mang theo
    Nụ hôn thanh thoát phiêu diêu cõi tình…

    Nước mắt của Trinh đua chảy hai hàng. Mọi vật nhập nhòa nhập nhòa, nhưng nàng vẫn thấy được rõ nét những đóa hoa tươi thắm và rực rỡ đang nở rộ, đang bung xòe khắp trong căn nhà có anh ngồi một bên mình phẩy nhẹ chiếc quạt giấy cũ kỹ trên tay…


  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • CAO XANH BỠN CỢT

    Tôi và chị chưa hề một lần gây thù chuốc oán với nhau. Vậy mà không hiểu sao ngay từ ngày chạm mặt đầu tiên ở trụ sở Hội Văn Học Nghệ Thuật Tỉnh, bỗng dưng tôi thấy ghét chị thậm tệ. Và nhìn ánh mắt, vầng trán nhăn nhíu, điệu bộ của chị khi đứng gần tôi vào lúc cuộc họp chuẩn bị khai mạc, tôi cảm nhận, thấy biết được chắc chắn rằng chị cũng chẳng ưa gì tôi, có thể là ghét cay ghét đắng tôi, còn hơn cái mức mà tôi ghét chị. Sao kỳ vậy? Đố kỵ tài năng sao? Không phải.
    Kiểm soát được trái tim mình, tôi xin thề bán mạng là tôi không những không hề đố kỵ cái tài nhả thơ trữ tình của chị, mà còn nghiêng mình khâm phục sát đất. Tôi đâu biết làm thơ, nên tôi không thể ganh ghét, mặc cảm tự ti gì với một thi nhân nào. Nếu có đố kỵ thì tôi đã nhằm vào những văn nhân kìa, bởi tôi chỉ chuyên viết văn, viết báo chớ đâu đụng chạm gì đến lĩnh vực thi ca? Nhưng bản tính tôi từ bé đến lớn chưa hề biết ganh ghét ai, chưa hề có ác cảm với bất cứ ai chỉ vì tài năng của mình thua kém họ. Vậy thì lý do gì khiến cho tôi và chị, hai cây bút nữ triển vọng của tỉnh nhà, lại căm ghét nhau ngay từ ngày “nghe danh đã lâu nay mới biết mặt”? Tôi không hiểu. Chính tôi còn chưa hiểu nổi thì đừng hỏi có ai hiểu hay không. Còn chị có hiểu hay không thì tôi không tài biết được. Càng cố nghĩ tìm cho ra nguyên nhân tôi càng đi lạc vào khu rừng âm u mịt mờ. Tôi chỉ còn mỗi một cách là cho rằng: vì tôi và chị có duyên nợ oán thù với nhau từ muôn kiếp trước, nên kiếp này phải oán ghét nhau thôi!
    Khổ một điều, khi đã ghét nhau rồi lại cứ gặp nhau hoài. Càng ghét nhau càng phải thấy mặt nhau nhiều hơn trước. Kể từ khi biết mặt nhau qua lần ông Tổâng Thư Ký Hội giới thiệu từng hội viên trong cuộc họp, tôi và chị ta cứ đụng đầu nhau liên hồi kỳ trận, không ai buồn mỉm cười với nhau một nụ, không hề có một câu chào hỏi xả giao thốt lên dẫu là mấy câu đãi bôi khách sáo, cũng không hề nguýt háy nhau một chút cho ra ghét, chỉ là liếc trộm nhau thôi; khi thì ở bưu điện, khi thì vào chợ, khi thì vào hiệu sách, khi ghé sạp báo, thậm chí khi chui vào rạp chiếu bóng tối đen như đêm ba mươi cũng thấy rõ mặt nhau mới thật là… siêu quái lạ!
    … Thời gian trôi đi, nỗi căm ghét vẫn cứ âm ỉ lục đục trong lòng, vẫn sống khoẻ mạnh, không teo tóp mà cũng không tăng trưởng thêm, chỉ ở một chừng mực nhất định, cũng đủ làm cho tôi khó chịu như phải cưu mang một món nợ vô duyên lãng nhách. Đôi lần, tôi muốn tự tìm lại trước chị để đưa ra lời đề nghị cả hai cùng xả hết những gì chất chứa bên trong ra một trận thật hả hê, để rồi mạnh ai nấy trở về với lòng nhẹ tênh thanh thản. Nhưng tôi không đủ can đảm, và cứ vái trời cho chị có được sự can đảm ấy. Vậy mà chị cũng không tìm đến với tôi để làm cái điều mà tôi mong đợi. Ghét nhau cứ phải ghét. Liếc nhau cứ phải tiếp tục liếc. Tôi thấy chẳng ích lợi gì cho cả hai, trừ một điều: kể từ khi biết mặt nhau để căm ghét nhau, cả tôi lẫn chị đều sáng tác dữ dội hơn, hăng say hơn, và nói theo kiểu tiêu chuẩn đo lường thì những sáng tác của cả hai ngày càng chất lượng hơn. Nếu tôi được giải nhì trong cuộc thi viết truyện ngắn trên một tờ báo có uy tín khắp nước, thì chị được giải nhất cuộc thi thơ cho thiếu nhi mang tầm cỡ quốc gia. Tôi đỗ đầu danh sách những truyện ngắn hay viết về “Phật giáo và cuộc sống”, thì tên chị cũng leo lên ngồi vị trí chót vót trên kim bảng một cuộc thi thơ tứ tuyệt do một tạp chí Hội Văn Nghệ tỉnh bạn tổ chức với một chùm thơ bốn bài thật … quá tuyệt! Tôi khâm phục và mê thơ của chị lắm chứ! Nhưng phục thì cứ phục, mê thì cứ mê, mà ghét thì vẫn cứ ghét. Tôi đoán rằng chị cũng ghét tôi, mà không đoán được chị có thích đọc những sáng tác của tôi hay không? Tôi mong có ngày cả hai sẽ ngồi lại với nhau, nhưng ngày ấy cứ vẫn còn là trong giấc mơ, trong ác mộng sau trận ngủ vùi vì thức khuya cắn bút trước những trang giấy chi chít chữ…
    Ngày ấy rồi cũng đến… Tôi bị tai nạn giao thông trên đường từ nhà đến trụ sở Hội, bất tỉnh mê man không biết trời đất trăng sao gì nữa. Sau này, khi qua cơn hiểm nghèo, hồi tỉnh lại, tôi mới được nhiều người kể cho hay chuyện tôi được chính chị bồng lên xe tắc-xi chở đến bệnh viện cấp cứu. Chị không chở tôi đi thì cũng sẽ có người khác chở, nhưng chị đã cứu giúp tôi nhiều hơn thế gấp nghìn lần. Bệnh viện không còn nhóm máu quý hiếm mà tôi mang trong nhục thể để truyền cấp cứu sau tai nạn mất quá nhiều máu. Máu của tôi là nhóm máu hiếm. Những người thân ruột rà của tôi cũng không một ai có cùng nhóm máu này.
    Thật trớ trêu, trên cao xanh hun hút kia, ông Trời đang nổi hứng muốn bỡn cợt thư giãn với người dưới cõi bụi bặm, hoặc cũng có khi là chư Long Thần Hộ Pháp hay Bồ Tát Thánh Chúng ngẫu hứng muốn thử cái Tâm của chúng sinh ở cuộc đời ô trọc, khi lại đưa đẩy đến bên tôi một người dưng xa lạ nhưng mang cùng nhóm máu hiếm với tôi. Chính là chị. Chị và tôi mang cùng một nhóm máu. Người mang nhóm máu này hiến cho người khác nhóm máu thì được, nhưng nếu nhận thì chỉ nhận đúng nhóm máu mình mang… Và chị đã không ngần ngại cho tôi những giọt máu quý hiếm để giành giật sinh mệnh của tôi lại từ trên tay tử thần… Khi tôi xuất viện, quanh tôi có đông đủ cha mẹ anh em, bà con quyến thuộc, bạn bè đồng nghiệp, hàng xóm láng giềng… ai nấy đều hớn hở vui mừng cho ngày tôi được hồi sinh. Chỉ thiếu mỗi mình chị. Chưa bao giờ tôi thèm khát được nhìn ngắm dung nhan của chị đến thế, đến độ cháy khô cả cổ và rát đỏ đôi mắt mình, nhưng chị mất hút ở đâu rồi…
    Từ bệnh viện, tôi không chịu về ngay nhà, mà yêu cầu mọi người đưa thẳng đến nhà của ân nhân cứu mạng. Ở đó, tôi được khóc một trận tầm tã đầm đìa trong vòng tay sưởi ấm của chị, của người mà tôi căm ghét bao tháng ngày qua…



  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • CHẾT CŨNG MANG THEO


    Tôi quen anh khi hai đứa còn làm chung ở công trường thủy lợi huyện. Tôi làm cấp dưỡng. Anh đào kênh phá đá. Có lắm lời bàn tán, dị nghị quanh chuyện tôi và anh bắt cặp với nhau. Những anh trong ban lãnh đạo công trường khuyên nhắc tôi: “Thằng Bính dòng dõi hoàng tộc, con vua cháu chúa, nhà nó chắc nề nếp theo phong kiến lắm, em làm vợ làm dâu không nỗi đâu!”. Anh em lớn tuổi trong đám công nhân, những người gắn bó với tôi qua nhiều công trình thì can ngăn: Em coi chừng bị gạt. Thằng đó là dân thành phố, em lại quê mùa, hai đứa lại khác nhau tôn giáo, lẽ nào nó lại yêu em, dám kết duyên trăm năm với em?”. Có người lại nói thẳng: “Chắc nó chỉ muốn vui chơi qua đường. Hãy thận trọng!”. Tôi chao lòng. Tôi nghi ngờ anh. Tôi nhìn anh bằng đôi mắt khác, một đôi mắt dò xét nghi ngại của … công an hình sự.
    Nhưng những người bạn thân với anh thì chỉ nói tốt, nói vào “gười ta hiền lành, khiêm tốn, trước kia đã từng là tăng sĩ…”. Các chị cùng tổ cấp dưỡng với tôi thì khen nức nở: “Khó tìm được một người yêu như vậy. Sống lâu ở công trường với nhau rồi, chỉ thấy tính tốt, nếu giả dối thì đã lộ ra, chớ qua mắt ai được?. Đừng nghe lời dèm pha mà đánh mất đi một tình yêu quý hiếm!”. Tôi nghe vậy lại thương anh hơn, quý hơn, và tin mình đã không sai lầm. Tôi chỉ còn biết một điều: tôi yêu anh chân tình. Tôi gạt bỏ ngoài tai mọi lời khen chê, nói ra nói vào, để cho trái tim bé bỏng của mình nói lờ quyết định. Còn anh, anh chỉ mỉm cười, một nụ cười nhân hậu có thoáng chút lo lắng, băn khoăn. Anh luôn như vậy, ít nói, nói chắc, và thường cười. Và anh luôn lững thững, ung dung đi trên mọi nẻo đường khi người khác tất bật, hối hả. Tôi cũng là người luôn vội vàng, nôn nóng, đi theo anh mà vượt lên trước anh, phải mất công đứng lại chờ anh, rồi lại nôn nóng vượt lên, lại đứng chờ … Nhưng theo anh hằng ngày, tôi bắt đầu có được sự điềm nhiên, bình tâm trước mọi tình huống. Nhiều khi tôi làm lửa để thử tuổi vàng nơi anh, cũng lắm lúc tôi làm ma vương quỷ sứ để thử cái tâm trong sáng như gương mà anh thường lau chùi. Tuy vậy, anh thử thách tôi nhiều hơn là tôi thử anh, mà một lần thử là đáng một lần, nếu quả thật tôi không dành cho anh một mối tình chân thật, thì tôi đã bỏ cuộc, đưa tay đầu hàng khi không chịu đựng nổi những thử thách của anh… Vậy mà tôi đã vượt qua, vượt qua trong kiêu hãnh qua bao lần anh đưa tôi vào vòng vây của chông gai kỳ dị, đau khổ… để rồi trở về bình an cả thể xác và tâm hồn, kề cạnh bên anh như hình với bóng. Hai đứa tôi đã chiến thắng. Một chiến thắng không dễ khi tôi đã đến chùa làm lễ quy y Tam Bảo, ở lại một tháng học kinh, làm công quả, hằng ngày ra vào cõi già lam để nghe lời giáo huấn của Ni Sư trú trì và các sư cô. Tôi tự nguyện đi theo con đường Đạo mà mình thấy thích, thấy kính trọng, tuyệt nhiên không ai dẫn dụ lôi kéo mình. Tôi cũng tự nguyện đi theo anh, tin ở nơi anh, bằng trái tim luôn mách bảo những điều an lành.
    Và, nụ hôn đầu tiên mà tôi và anh đã trao nhau là nụ hôn mừng chiến thắng sau thời gian dài thử thách. Tôi nhớ nụ hôn ấy suốt đời …
    Tôi theo anh về nhà ở thành phố xô bồ, sẵn sàng đương đầu với những thử thách mới, thử thách làm dâu nhà người. Có anh một bên, tôi không sợ bất cứ điều gì trên đời, kể cả nhảy vào lửa bỏng dầu sôi.
    Không có thử thách gì cả ở cái chốn mà tôi lo ngại sẽ gặp lắm chuyện cay đắng, chát chua. Nhưng tôi cảm thấy lạc lõng, chơ vơ giữa lối sống ồn ả sôi động của một người dân thành thị, nhất là những khi không có anh bên mình. Một thôn nữ cục mịch ngốc nghếch như tôi đã không thể hoà nhập vào bữa tiệc chung vui đông dảo người thân bên gia đình chồng. Tôi cũng không thể hít thở cùng một không khí cởi mở của các cuộc trò chuyện rôm rả, huyên thiên với các chị em gái của chồng, cũng như các chị em bạn dâu khi nói về thời trang, về nghệ thuật nấu ăn, về văn thơ nhạc hoạ … Tôi đâu biết gì mà tham dự. Tôi mù tịt những chuyện thường tình nhất, cho nên tôi chỉ ngồi nín thinh, gật và lắc đầu. Nhà chồng ai cũng cho rằng tôi quá thật thà đến mức khờ khạo. Tôi không phủ nhận điều nhận xét chính xác ấy. Tôi là vậy. Và chồng tôi thích tôi ở điểm ấy. Anh cười khi nghe người khác đánh giá tôi như vậy. Anh thích tôi khờ khạo, bình dị, mộc mạc, vì có như vậy tôi mới là của chỉ riêng anh muôn đời. Anh sợ một người vợ se sua phù phiếm. Anh sợ một người đàn bà, một người bạn trăm năm rành rỏi, ranh mãnh, điêu ngoa, và dễ trở thành của người khác. Anh yên tâm hơn khi qua một thời gian tôi về sống chung với anh, ở chung với những người thân của anh, tôi không hề thay đổi tâm tính, vẫn như thuở hai đứa mới quen nhau. Anh thích vậy. Nhưng, đã có lờ dèm pha, đàm tiếu về nàng dâu quê mùa truyền tai nhau từ những phụ nữ trong nhà. Họ nói tôi đóng kịch. Họ bảo rằng tôi đang chôn giấu bên trong một lò lửa hung tợn có thể đốt cháy tam thiên đại thiên giới. Họ bảo rằng tôi đang từ từ nắm lấy quyền bính từ tay chồng. Họ thêu dệt, tưởng tượng ra nhiều thứ lắm. Tôi nghe được, tôi buồn đến bỏ cơm. Anh nghe đựơc, anh cười. Anh xem những lời bóng gió thêu dệt ấy không bằng một lạng nào. Anh trấn an tôi: “Những lời gièm pha thêu dệt, ác ngôn vọng ngữ của người đời, chỉ như những chiếc bambarang vũ khí của thổ dân Úc, chúng được ném đi và sẽ quay trở về lại nơi chúng xuất phát!”. Chồng tôi thường đem những điều hay điều đẹp trong giáo lý nhà Phật ra để nhắc nhở, dìu dắt tôi giữ vững bước chân của mình mỗi khi tôi gặp tình huống gay go, căng thẳng. Điều ấy đã an ủi tôi, giúp cho tôi thêm sức mạnh, sự nhẫn nhịn cần thiết để trụ lại cái chốn xa lạ đối với mình …
    Riêng mẹ chồng tôi, người mà người ta đồn đại là nghiêm khắc, là phong kiến số một, là một phụ nữ quý phái và tài hoa, đối với tôi là một hình tượng thiêng liêng ghê gớm, tôi sợ đến mức không dám lại gần. Trong khi đó các chị em bạn dâu của tôi luôn luôn săn đón, lấy lòng bà. Bà thỉnh thoảng hỏi thăm tôi, chỉ dạy cho tôi nấu các món ăn, không lạnh nhạt cũng không thân mật. Tôi nghe mọi người, những người trong giới tăng ni Phật tử, nói nhiều về bà mẹ chồng của mình. Bà rất nổi tiếng. Bà là một Phật tử thuần thành, một nữ thi sĩ đã tặng cho đời vài bài thơ bất hủ, một nhiếp ảnh gia của chùa chiền lễ hội. Người ta khen bà đạo hạnh, nghiêm trang, quý phái, tài hoa. Và người ta vì ghen ghét đố kỵ, nên cũng chê bà là hà khắc, là cổ hủ phong kiến, là kiêu ngạo khinh người. Tôi nghe hết, và nhớ lòng. Có một bà mẹ chồng như lời người ta đồn đại như vậy, hỏi một thôn nữ khờ khạo như tôi tránh sao không kinh sợ? Tôi sợ bà lắm.
    Khi tôi sinh được đứa con đầu lòng, đứa con mang họ hoàng phái, mẹ chồng tôi rất thương cả tôi lẫn cháu nội của bà. Bà gần gũi hơn, thân thiện hơn trước. Bà thường bảo ban, chỉ dạy cho tôi cách nuôi dạy con khoẻ, con ngoan. Từ ngày có con, chồng tôi làm việc hăng say hơn, thu nhặt nhiều thành công hơn trên văn đàn, trên làng báo. Tôi chỉ việc nuôi con, chăm lo cơm nước. Mẹ chồng tôi rất vui mừng khi thấy hai vợ chồng tôi sống êm ấm. Bà thường ghé lại tổ ấm của chúng tôi, động viên khích lệ, khuyên răng đủ điều, chăm lo từng chuyện nhỏ nhặt, chỉ cốt cho hai vợ chồng tôi được thêm sinh khí, được thêm lòng tin yêu cuộc sống. Khoảng cách giữa tôi và mẹ chồng, một khoảng cách mà trước nay chính tôi đã giữ lấy một cách thận trọng, đã dần dần được rút ngắn. Chắc chắn rằng ai đó trong gia đình, nếu có lòng ghen ghét tôi từ trước, sẽ phải nổi cơn ganh tức khi biết mẹ chồng tôi đã và đang gần gũi với người con dâu quê mùa cục mịch. Nhưng chẳng ai biết được điều ấy. Vì mẹ chồng tôi rất kín đáo, tế nhị. Chồng tôi giống rặt tính của bà, không nói nhiều mà lặng lẽ làm. Chỉ có tôi biết bà thương tôi đến mức nào. Chồng tôi cũng chẳng hay, anh chỉ biết được chuyện khi tôi kể lại vào những lúc nằm bên nhau …
    Tôi còn nhớ, sáng mồng một Tết năm ấy, hai vợ chồng tôi chưa kịp áo quần cho chỉnh tề để đi chúc thọ mẹ, thì mẹ chồng tôi đã bước vào phòng riêng của chúng tôi trong chiếc áo dài đơn giản mà sang trọng. Bà ghé trước khi đi lễ chùa đầu năm. Một cái nhìn âu yếm, một nụ cười nhân hậu, cũng đủ làm cho tổ ấm của chúng tôi như vừa được vuốt ve ấm áp. Bà không đợi dâu con chúc tụng, mà mở lời chúc trước. Chồng tôi ôm hôn mẹ. Bà quay sang tôi, đưa tay khẽ kéo đầu tôi về phía bà. Và, bà hôn một nụ hôn lên trán tôi. Bà bước đi, lặng lẽ, không nói thêm một lời nào. Tôi bàng hoàng, nghẹn ngào với hạnh phúc râm ran. Vâng, mẹ chồng tôi đã hôn tôi. Chỉ có chồng tôi tin, vì anh chứng kiến. Tôi kể, tôi khoe với hàng xóm quê tôi, một trăm người hết một trăm người không tin, và hết một trăm người đều trả lời là “chưa hề được mẹ chồng hôn bao giờ”. Họ cho là chuyện viễn tưởng, trong mơ cũng khó có được. Nhưng tôi đã được.
    Và, tôi mang nụ hôn này suốt đời, chết cũng mang theo …



  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • CON THẦY HIỆU TRƯỞNG



    Năm tôi học lớp 6, thi đậu vào trường công, thay vì học ở trường đó cho “le lói”, tôi lại theo học tại một trường tư vì không tốn một xu học phí và lệ phí nào. Trường tư thục Văn Hóa đối với tôi là trường nhà. Trường nhà vì ông hiệu trưởng chính là… cha tôi. Tôi được diễm phúc làm con trai một vị thầy tài đức song toàn, làm một quý tử hiệu trưởng nghiêm khắc, đường bệ. Nhưng thay vì tôi phải luôn luôn chứng tỏ, luôn luôn giữ gìn cho mọi người nhìn thấy tôi là một học sinh con nhà gia giáo, thì tôi lại dương dương tự đắc, kênh kiệu, ỷ dựa vào thế thần của cha mà muốn bắt mọi người phải nhìn tôi bằng đôi mắt đầy sự kiêng dè nể nang.
    Mà thiệt, suốt mấy năm học lớp 6 đến lớp 7, lớp 8… cả bạn bè cả thầy cô trong trường đều dành cho tôi một kiểu đối xử đặc biệt. Đối xử dành cho “con ông cháu cha”, dành cho kẻ có cái quyền lực vô hình”bất khả xâm phạm”. Chưa từng có một thầy hay cô giáo dám dùng roi vọt với tôi, thậm chí còn chưa dám dùng lời to tiếng nặng để khiển trách đưa học trò vốn là con trai ông hiệu trưởng. Thầy cô mà còn vậy, nói gì chúng bạn cùng lớp, và ngay cả học sinh lớp khác, lạng quạng là ra khỏi trường, từ giã học đường ngay. Có lẽ, ai cũng nghĩ vậy, sợ vậy, nên đã dung túng, đã vô tình khuyến khích cho tôi ngang bướng, nghịch ngợm láu cá… mà cha tôi chẳng bao giờ được nghe một lời tham phiền, trách móc, mắng vốn về cậu quý tử của ông. Cha tôi chỉ lưu ý đến việc học lực của con trai mà không nắm rõ về hạnh kiểm của nó. May mà tôi chưa đến nỗi nương dựa bóng râm của cha mà học hành nhếch nhác. Tôi học cũng khá lắm. Chưa hề có một điểm nào dưới 6. Về môn văn thì số một. Cho nên cha tôi rất lấy làm an tâm về cậu con. Khi ở nhà, ông thường gặp hỏi tôi về bài vở trước khi đến trường, và thường giao cho các anh chị của tôi dò bài, kiểm tra sách vở của tôi rất đều đặn, gắt gao. Học thì chẳng thua bạn nào, còn có nghịch ngợm, láu cá thì bạn nào cũng chịu thua xa. Tôi quen đến thành thói, đến nỗi các bạn đặt cho tôi biệt danh là Ý Lỳ. Được gọi bằng biệt danh ấy, tôi khoái chí lắm, khoái lắm.
    … Năm tôi học lớp 9, trường có thêm nhiều giáo sư về dạy. Hồi đó thầy cô bậc trung học được gọi bằng giáo sư. Còn giáo viên chủ nhiệm thì hồi đó gọi là giáo sư hướng dẫn. Giáo sư hướng dẫn lớp 9B, lớp tôi học, là cô giáo mới toanh đối với trường Văn Hóa, nhưng đối với ngành giáo dục trong thành phố thì trên tuổi của cô quá quen thuộc. Cô nổi tiếng dạy hay, dạy giỏi, dạy nghiêm. Nói về môn Toán thì phải nghĩ ngay đến cô Hương Diệu, tên của cô. Chính vì vậy mà cha tôi đã đích thân đến tận nhà cô, như Lưu Bị cầu Khổng Minh vậy, để thỉnh mời cô dành chút ít thời giờ vàng ngọc về gánh bớt trách nhiệm giảng dạy môn Toán dùm cho trường Văn Hóa. Chừng như có thêm tên cô trong danh sách những giáo sư giảng dạy ở trường, đã làm cho uy tín của trường tư thục mà cha tôi là “chủ nhân” được tăng lên một mức đáng kể.
    Ngay từ giây phút đầu nhìn thấy cô Hương Diệu, khi cô bước vào lớp 9B trong giờ học Toán đầu năm với nét mặt trầm tư, nghiêm nghị, tôi đã có một cảm giác lạ lùng. Tôi linh cảm mình sẽ gặp chuyện rắc rối với cô giáo mới toanh này. Tôi cho đó là “điều kỵ”, một thứ điện của giác quan thứ sáu đã báo cho biết sự xung khắc giữa tôi và cô giáo. Nhưng chỉ linh tính vậy thôi. Gì thì gì tôi vẫn là con trai của ông hiệu trưởng kia mà! Cô chân ướt chân ráo tới trường này, nên chưa biết rõ điều đó. Chưa biết, rồi sẽ biết.
    … Cô đang giảng bài say sưa. Cả lớp lắng nghe. Tôi cũng vậy, cũng lắng nghe. Chợt, thằng Hưng ngồi sau lưu tôi đã “đánh rắm công khai” một phát rõ to. Hơn nửa lớp làm bộ không nghe biết, cứ dán mắt lên bảng. Số còn lại, trong đó có tôi, đưa tay bịt mũi, bụm miệng cười khúc khích. Cái tật nghịch ngợm cố hữu trong tôi động đậy, đó là cái tật muốn “chơi nổi”, muốn thiên hạ phải chú ý tới mình, muốn bạn bè phải cười vì cái kiểu cù léc làm bộ ngây thơ của mình. Cô giáo vẫn thản nhiên tiếp tục bài giảng, chẳng để ý làm gì chuyện “bất lịch sự” vừa xảy ra. Sự cố kém tế nhị, thiếu văn minh đó đáng lý sẽ được cho qua luôn một cách dễ dàng. Nhưng, tôi xoay lưng, chồm người ra sau, đưa tay thụt nhẹ thằng Hưng một cái “dằn mặt”. Chưa hết, tôi đứng thẳng, vòng tay lại thưa:
    - Thưa cô, trò Hưng vừa chơi xấu trong lớp, thúi quá… chịu không nổi, cô cho em ra ngoài thở một chút ạ!
    Cả lớp đương nhiên không kềm được trận cười rần rần như… bãi rạpï hát. Cô Hương Diệu quay phắc lại. Ánh mắt cô rực lên giận dữ. Vẻ mặt cô nghiêm trang đến lạ lùng. Cô đang chăm chăm nhìn tôi, nhìn xoáy vào tôi, Tôi hơi sợ, nhưng làm bộ thản nhiên, vẫn cứ đứng vòng tay chờ đợi “cô cho phép ra ngoài”. Cả lớp bỗng im phăng phắc. Cô đã rời khỏi bục giảng, thủng thẳng bước xuống, tiến đến chỗ tôi. Cô chau rồi cất giọng trầm trầm:
    – Em vừa thưa gì? Lặp lại cho cô nghe, cho cả lớp nghe!
    Tôi tỏ ra “anh hùng”, cố giữ giọng bình thản lặp lại to”kiến nghị” khi nãy không sai, không thiếu một từ. Cô Hương Diệu nhìn thẳng vào mắt tôi rồi buông giọng sắc ngọt:
    – Em bước ngay ra khỏi lớp. Quỳ ngoài hiên cho đến hết giờ, rồi tôi sẽ tính sau!
    Tôi đỏ mặt tía tai. Tức lắm. Làm mặt lì, tôi đứng yên một chỗ, mắt đưa nhìn lên trần nhà. Cô giáo gằn giọng:
    – Có nghe hay không? Bước ra ngay!
    Tôi không kềm được lòng buột miệng:
    – Cô đụng tới em… sẽ “có chuyện” đó!
    Cô giáo sững sốt, hỏi:
    – Sao? Em em vừa nói gì? Hăm dọa tôi à?
    Tôi biết mình đã lỡ lời, bèn im miệng. Ai dè, thằng Hưng phía sau tôi ngứa miệng:
    – Bạn Ý là con của thầy hiệu trưởng đó cô ơi!
    Cô giáo nhìn xoáy vào mắt tôi:
    – Con thầy hiệu trưởng à? Hứ, con của ông tổng thống, tôi vẫn đuổi ra khỏi lớp vì tội vô lễ. Em bước ra ngay, hay chờ tôi mời thầy giám thị vào tận nơi đây?
    Nghe giọng cương quyết của cô, lần đầu tiên tôi biết sợ hãi lệnh của một vị giáo sư, bèn xìu mặt, hết lộ vẻ bướng lì. Mặt tôi chảy xệ xuống ngực, và… tôi dợm bước. Cô giáo đi sau lưng tôi, tôi đến cửa lớp, cô bảo:
    – Quỳ xuống đó đi, cho đến hết giờ!
    Tôi bắt đầu run hai tay, hai chân. Run, không biết vì sợ hãi nhiều hơn, hay vì tức giận nhiều hơn. Tôi mà quỳ ở đó, nếu cha tôi mà tình cờ thấy được chắc là… mệt. Chỉ còn cách cúi lạy mà xin cô giáo tha lỗi, cho vào ngồi lại trong lớp, hay quỳ trong lớp cho kín đáo một chút cũng được. Nhưng, tôi mà xin lỗi người khác à? Chuyện khó có. Tôi đang lưỡng lự, cô giáo lại giục:
    – Sao chưa chịu quỳ đi, hả? Đừng làm phí thời giờ của tôi, của các bạn mình!
    Tôi nóng mặt, buột miệng nói:
    – Còn khuya!
    Dứt lời, tôi bước te te thẳng đến Văn phòng Ban giám hiệu. Cha tôi đang ngồi xem sổ sách với cô thư ký. Tôi bước thẳng đến đứng trước ông, làm mặt buồn rười rượi, thưa:
    – Ba, xin cho con vào lớp lại đi. Cô giáo đuổi con, còn bắt con quỳ ngoài cửa lớp nữa!
    Cha tôi ngạc nhiên trong giây lát, trầm giọng:
    – Con chỉ có kể khúc đuôi mà không kể khúc đầu. Tại sao cô lại phạt kia chứ? Không làm bài? Hay không nghe giảng bài?
    Tôi lúng búng kể lại đầu đuôi tự sự với cái giọng yếu xìu. Dĩ nhiên là tôi không dám thuật lại những chi tiết, trong đó có những lời lẽ ngôn từ của tôi đã dùng đối đáp với cô. Nghe xong, cha tôi trợn mắt tức tối. Ông đứng bật dậy. Bốp, một cái tát nảy lửa vào mặt tôi. Tôi chuệnh choạng. Ông lại nắm lấy tai tôi mà vặt tréo, kéo tôi đi. Đi từ văn phòng giám thị băng qua sân, qua nhiều lớp học, đến lớp tôi. Cô Hương Diệu nhìn từ xa, thấy cảnh cha con tôi vội ngưng giảng bước ra đến cửa. Cha tôi khẽ chào cô giáo, nghiêm trang nói:
    – Nó mất dạy, cô tha lỗi cho. Tôi cảm ơn cô đã dạy cho nó biết lễ nghĩa, trước khi biết chữ nghĩa!
    Ông quay mặt nhìn tôi, giọng đanh thép:
    – Quỳ xuống ngay. Và xin lỗi cô giáo mau, đồ vô giáo dục!
    Tôi tái mét, run rẩy quỳ xuống như con cừu non ngoan ngỗn, rồi cất giọng nghèn nghẹn xin lỗi cô giáo. Cô Hương Diệu vẫn nghiêm nghị, nói:
    – Thôi được rồi, cho em đứng dậy và vào lớp học!
    Nhưng cha tôi lên tiếng:
    – Chưa được, cô cứ để cho nó quỳ đến hết giờ học, làm gương cho cả lớp và cả trường. Xin phép làm phiền cô năm phút nữa, cho tôi được nói vài lời với các em trong lớp!
    Tôi quỳ đó. Cô giáo đứng ngay cửa ra vào. Ông hiệu trưởng vào trong lớp. Ông mở đầu một bài giảng dạy về giáo dục công dân, bằng câu “Không thầy đố mày làm nên”, rồi lại “thuyết pháp” như một vị cao tăng giáo thọ nói về “Tứ Trọng Ân” theo kinh điển nhà Phật bằng một giọng hết sức nghiêm nghị và đầy cảm xúc… Cả lớp im thin thít lắng nghe. Tôi cũng lắng nghe, và tỉnh ngộ ngay trong giờ phút hai đầu gối của mình đang đụng đất, đầu thì đang hứng cái nắng gay gắt chói chang. Tôi đã từng rất nhiều lần nghe cha tôi thuyết giảng về giáo lý nhà Phật mà ông, cũng như mẹ tôi, đã thấm nhuần từ bao năm đến chùa tu học, tham gia sinh hoạt Phật sự. Nhưng đây là lần đầu tiên tôi mới biết lắng nghe, càng lắng nghe càng thấy quá hay, quá cảm động, và quá thuyết phục. Tôi hoát nhiên tỉnh ngộ, đầu óc sáng bừng lên trong niềm xúc động dạt dào. Sau này lớn khôn già dặn lên, khi nghiên cứu tìm hiểu kỹ và sâu vào giáo lý nhà Phật, tôi mới hồi tưởng và ngẫm thấy hồi đó, khoảnh khắc lạ lùng đó, mình y như một vị thiền sư vừa được ngộ đạo, vừa phá giải được một công án Thiền vi diệu.
    Tôi thấy tôi đáng đời, đáng phải quỳ suốt đến ba ngày vẫn chưa hết tội mình. Xong bài giảng, cha tôi chào cô giáo, đi về văn phòng. Khi ngang qua chỗ tôi đang quỳ, ông không liếc một chút chứ đừng nói là nhìn. Ông vừa khuất sau dãy hành lang, cô Hương Diệu đã bước lại đỡ tôi đứng dậy, hỏi:
    – Em đã chừa chưa?
    – Thưa cô… em biết lỗi. Em hứa sẽ không bao giờ tái phạm…
    – Em có oán hận cô chứ?
    Tôi ấp úng nói thật lòng:
    – Thưa … em không oán hận… mà có biết ơn cô!
    Cô mỉm cười tươi tắn, cho phép tôi vào lớp. Từ đó, tôi… “tu”, tu đến già.
    … Cha tôi qua đời cách đây đã hai mươi năm vì một căn bệnh người già. Còn cô Hương Diệu đã đi xa bởi chứng bệnh lao phổi tai ác cách đây mười tám năm. Đó là hai vị ân sư của tôi, luôn luôn còn sống trong tâm tưởng, trong tim tôi với tấm gương chói ngời một bài học quý giá vô ngần về tôn sư trọng đạo.



  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • CUỘC SỐNG NHIỆM MẦU

    “Một nhà chung chạ sớm trưa
    Gió trăng mát mặt, muối dưa chay lòng”
    (Truyện Kiều- Nguyễn Du)

    Tôi tìm được đến chùa. Chùa tranh vách đất hiền hoà nằm giữa bốn bề cây lá xanh tươi, hoa thơm cỏ lạ. Tôi gặp sư ỉtú trì. Ngay sau đó, một hợp đồng miệng đã được ký kết: tôi chính thức trở thành thầy giáo của trên ba mươi học sinh nghèo mù tịt chữ nghĩa của một vùng hẻo lánh đìu hiu...
    … Dạy học được một năm, một năm dài đăng đẳng mà thấm thoát, khổ sở mà an lạc, thiếu thốn mà no nê, tôi tin tưởng vào chính mình, tin tưởng vào kết quả đã gặt hái được khi hết thảy học trò của tôi đều biết đọc, biết viết thành thạo. Trong số những người đã biết viết đọc ấy, có một người đã biết viết và dám viết´ “Em yêu thầy” vào một mảnh giấy nhỏ, rồi lén lút vào tận phòng riêng của tôi để đặt dưới gối nằm. Dưới ba chữ viết rõ to, được nắn nót từng ly ấy, lại thấy ký cả tên đầy đủ: Lưu Thị Kim Hương. Tôi nhận được thư vào một đêm trăng sáng, ngẩn ngơ, rung động, trằn trọc suốt đêm với nỗi lo và niềm vui đan xen.
    Kim Hương là học trò xuất sắc nhất trong số ba mươi học trò của tôi. Thông minh, nhanh nhạy, mạnh dạn và chăm chỉ. Kim Hương đang tuổi đôi mươi, một đoá hoa chớm nở, trong trắng, tính tình hiền hậu và chân chất. Tôi cũng như bao thầy cô giáo khác thường cưng học trò ngoan trò giỏi nhất lớp, nên Kim Hương được sự lưu tâm đặc biệt của tôi. Và, tôi được đáp trả. Lắm khi tôi chột dạ khi Kim Hương tranh thủ những giờ rãnh rỗi vào phòng quét dọn, giặt giũ đồ đạc cho tôi. Nhìn trong ánh mắt tròng đen lay láy của Kim Hương, nhiều khi tôi đã đọc được những lời người con gái mộc mạc muốn nói. Nhưng tôi làm lơ, cố lãng quên đi, và tự nhũ mình suy đoán một chuyện còn mơ hồ. Lá thư tối hậu ngắn gọn của người con gái ấy đã khẳng định một tình cảm mà tôi từng cho là sản phẩm của trí tưởng tượng. Bắt đầu tôi run sợ, lo lắng. Tôi nghĩ đến thân phận tay trắng bấp bênh của mình. Tôi nghĩ đến hoàn cảnh nghèo của Kim Hương. Tôi nghĩ đến vị trí người thầy giáo miền quê vốn được học trò, bà con trong hai thôn ấp tôn sùng, kính trọng và yêu mến như một thần tượng. Tôi cũng nghĩ đến sự quan tâm tin tưởng của các sư sãi chốn già lam đã dành cho tôi suốt bao tháng ngày tôi sống ở chốn tu hành thanh tịnh. Thanh tịnh thật là thanh tịnh. Đó là những tháng ngày tôi mới được thấm thía niềm hạnh phúc an lạc qua từng giây phút sống với thực tại. Tôi cảm nhận, thấy và nắm bắt, sờ mó được sự mầu nhiệm của cuộc sống. Sự mầu nhiệm ấy không ở đâu xa, không phải ở trên trời cao xa vời huyền ảo, mà ở ngay nơi từng cơn gió trong lành thổi qua mặt mũi mình, hay ngay trong từng đêm trăng sáng vằng vặc soi rọi xuống những con đường đất ở vùng quê yên ả mình đang đi qua, và ngay nơi từng chén cơm chay của nhà chùa chỉ toàn là rau dưa, muối ớt, đậu hủ, tương chao… Bình dị nhưng đầy đủ, thanh đạm mà thanh tao, không lo lắng ưu phiền, không ham muốn khát vọng để rồi phải chật vật hối hả chạy theo cho kịp thiên hạ. Trăng thanh gió mát không tốn tiền, cơm chay thiểu dục tri túc, được làm việc đúng với sở trường của mình, sự mầu nhiệm của cuộc sống nằm những nới ấy. Chính vì vậy mà khi nghĩ đến chuyện Kim Hương, tôi lại sợ hãi, nhưng cũng bồi hồi xao xuyến. Những buổi dạy sau đó, sau khi nhận được bức thư chân tình kia, tôi bỗng ngượng ngùng, thấy như mình vừa phạm tội lỗi nào đó. Tôi lại rùng mình khi bất chợt bắt gặp cái nhìn đau đáu của cô học trò xoáy mạnh vào mắt tôi. Hạnh phúc, xao xuyến. Nhưng tôi phải miễn cưỡng chạy trốn ánh mắt đang mang nỗi khát khao, đang muốn hỏi và chờ đợi hồi âm, của người học trò miền quê chân chất.
    Đêm trăng mười sáu, sau buổi lể Phật, từng phật tử rời chùa về nhà, có một người nấn ná ngoài sân vườn sau, tìm vào tận nơi tôi đang nằm nghĩ mông lung. Tôi bàng hoàng như đi vào chiêm bao mộng mị với trái tim rạo rực, thổn thức …
    - Thầy có đọc thư em không?
    Cô thôn nữ thản nhiên hỏi. Giọng không chút ngượng ngùng.
    - Có.
    Tôi chỉ biết đáp vậy. Rồi nhìn. Bên ngoài im ắng lạ thường.
    - Thầy nghĩ sao?
    Lại một câu hỏi thản nhiên như hỏi một cộng một bằng mấy.
    - Chữ đẹp, không sai chính tả.
    - Không, em không hỏi về chữ nghĩa. Em hỏi về ý tứ.
    Tôi muốn giả nai nhưng không giả được. Giải đáp thật dễ dàng, nhưng tôi không thấy dễ. Cô gái đứng trước mặt tôi, mắt nhìn đâm thẳng vào mắt tôi với quyết tâm mãnh liệt, không nói và chờ đợi. Tôi nghe cả hơi thở, cả tiếng đập của trái tim người đối diện, lẫn cả của mình. Cô gái nắm lấy bàn tay tôi, xiết nhè nhẹ. Tôi cứ đứng thộn người ra đó mà tiếp nhận một cảm giác ấm cúng dào dạt đang chảy vào nhục thể. Trăng sáng lạ thường, và trái tim tôi cũng lạ thường hơn bao giờ hết. Lời tôi thốt ra cũng thật lạ thường:
    - Thầy cảm ơn em. Cảm ơn rất nhiều. Thầy vô cùng xúc động …
    Dường như cô gái chỉ chờ có bấy nhiêu đó, chờ từ bao thế kỷ qua, vội bóp lấy bàn tay tôi, giọng nhỏ nhẹ nhưng khát khao:
    - Thầy có hôn em không? Hôn em đi. Hôn xong, em về liền!
    Tôi run lên, choáng váng mặt mũi. Cô gái ghé đầu lại sát bên mặt tôi, mắt không hề chớp. Tôi ngửi được mùi hương của bồ kết. Mùi hương của hoa và cỏ ngạt ngào. Tinh khiết làm sao! Tôi vừa khám phá và xác định một điều: tôi yêu mến cô gái. Nhưng liệu có phải là tình yêu nhất thời? Đang còn băng khoăn giữa ngã ba của trái tim bao năm trời ngủ vùi nơi thâm sơn cùng cốc, nơi đồng không mông quạnh, bất chợt tôi giật nẩy mình. Tôi vừa nhìn thấy một bóng người vụt ra cửa ra vào. Bóng người lướt nhẹ băng ra sân vườn đầy ắp ánh trăng. Tôi gỡ tay cô gái ra một cách vụng về, trong lòng có chút tiếc nuối, nói khẽ:
    - Em đi về. Coi chừng thầy ỉtú trì thấy được thì … mệt!
    - Thầy thấy thì đã sao? Yêu đương là tội lỗi sao, thầy?
    - Ừ. Tội lỗi tày trời em à …
    - Em nghĩ, hận thù nhau mới là tội lỗi. Yêu là đem lại hạnh phúc cho nhau, làm phước cho nhau!
    Tôi phì cười, lắc đầu ngao ngán nói:
    - Thôi được rồi, bây giờ không phải là lúc đứng đây tranh cãi. Em hãy về đi. Chỉ cần nhớ là thầy ghi nhận tình cảm quý báu của em. Em hãy về, và nhớ chỉ lo học, và học cho thật giỏi. Chuyện kia … tính sau. Thầy thấy còn … quá sớm!
    - Thì thầy cứ hôn một cái đi, em về liền mà!
    - Hôn làm gì? Tưởng tượng cho đỡ đi. Chừng nào thầy chính thức trả lời, thầy sẽ trao đúng món mà em yêu cầu.
    Kim Hương ngần ngừ giây lát, rồi bất ngờ chụp lấy bàn tay tôi, hôn thật mạnh. Tôi nghe tiếng nụ hôn vang lên như tiếng sét giữa bầu trời đêm trăng vắng lặng. Cô gái biến mất. Đêm ấy tôi không ngủ. Tôi cười một mình cả đêm. Cười rồi lại lo, lại buồn khổ vì dằn vặt. Có một điều tôi chưa nói ra cho cô gái biết: bóng người thấp thoáng ngoài kia khi nãy, tôi đã kịp nhận ra là ai. Đó chính là Hưng, chàng nông dân hiền lành cùng ấp với Kim Hương. Tôi đã từng được nghe loáng thoáng về mối tình đơn phương của chàng trai cần mẫn này. Hưng rất nhút nhát, nên cứ ôm một tình yêu lặng lẽ, đã bao tháng ngày mơ tưởng đến người con gái từng đùa chơi, từng lớn lên với chàng nơi mảnh đất khỉ ho cò gáy buồn hiu. Dường như cha mẹ hai bên, hàng xóm láng giềng cũng đã có lời bóng gió muốn kết se cho đôi lứa. Nhưng, cô gái mộc mạc cứ mãi dửng dưng, xem Hưng luôn là một người bạn thân, cứ “mày tao” như thuở còn nhỏ. Tôi cũng đã từng được nghe nói rất nhiều về những trận ngã bệnh vì tương tư trầm trọng của chàng trai. Tôi cũng đã dò xem cử chỉ và thái độ của Hưng vào những giờ học. Hưng thường nhìn lén Kim Hương. Mỗi khi tan học, Kim Hương luôn luôn là người về sau, vì cô gái còn ở lại quét dọn phòng lớp. Nhưng Hưng còn về sau hơn nữa. Anh chờ đến khi cô gái đi về nhà, mới chịu lọt tọt đi sau, giữ khoảng cách dài chừng mười bước chân. Thật tội nghiệp. Tôi nhớ lại những câu chuyện ấy, trằn trọc thâu đêm, tự nguyện bước ra toà án của trái tim mình, và quyết định: rút lui.
    Rút lui, không phải dễ. Nhiệm vụ của tôi chưa hoàn thành, các học trò của tôi chưa ai viết thông suốt một bức thư dài, và điều quan trọng nhất là tôi rút lui về đâu? Nếu cuốn gối mà đi, tức là đã chấp nhận những tháng ngày lang thang tìm kế sinh nhai như thuở trước khi đến dạy nơi trường chùa này. Tôi đành phải ở lại nơi mà mình khổ công tìm được, dù nơi ấy đang xôn xao xì xầm những lời dị nghị quanh một “chuyện tình tay ba”. Dĩ nhiên lời dị nghị này cũng đến tai các sư sãi trong chùa. Sư ỉtú trì cũng đã hỏi tôi về chuyện ông nghe được, và tôi không giấu diếm một tình tiết, suy nghĩ nào. Tôi đã bao lần khuyên lơn cô gái hãy đón nhận và đáp trả tình yêu với chàng trai thật thà kia. Tôi tìm đủ mọi cách, kiếm cớ cho Hưng và Kim Hương gần gũi nhau, gặp gỡ, trao đổi với nhau chuyện bài vở ở lớp học. Đủ kiểu cách, nhưng đều thua. Cô gái vẫn khăng khăng: “Em không thể sống thiếu anh!”. Khổ vậy. Hơn ba năm vật lộn với cái khổ tinh thần, với tình cảnh nan giải ấy, tôi cũng quen dần, và chừng như cô gái cũng đã nhận ra sự dứt khoát chối từ nơi tôi, nên nàng cũng… xìu, xìu dần. Nàng thân thiện với Hưng hơn trước. Thân thiện nhưng cũng chưa gắn bó. Vẫn còn những là thư dài lén lút đặt dưới gối tôi nằm. Hưng cũng viết thư tâm sự nhỏ to với tôi, người thầy kiêm… tình địch của chàng. Dù chưa thật lòng muốn lắm, nhưng cuối cùng do nhiều nguyên nhân tôi cũng đành phải bí mật rút lui, chào tạm biệt ngôi chùa kính yêu, mái trường mái tranh vách đất thân thương, và vùng đất đầy kỷ niệm. Tôi đã không quên để lại bức thư cho học trò, thư riêng cho Kim Hương, và cho Hưng…
    Năm trước, tôi có viết thư liên lạc với thầy ỉtú trì, được biết một tin vui: Hưng và Kim Hương đã kết hôn. Cuộc sống sôi động trôi đi …
    Hôm nay, với tư cách là một thầy giáo ở thành phố xô bồ đi nghỉ ngơi thư giãn dịp hè, tôi trở về vùng đất kỷ niệm mà tôi thầm nhận làm quê hương thứ hai của mình. Tôi ghé vào thăm ngôi chùa xưa trước, vấn an các sư sãi, tham quan ngôi trường tường gạch ngói đỏ được xây dựng đã năm năm qua do chính quyền địa phương và phật tử trong vùng đóng góp. Trường nằm trong khuôn viên của chùa, ở phía sân sau, nơi trước kia có gian tịnh thất dành tôi trú thân một thời gian dài. Gian tịnh thất ấy không còn nữa, và cảnh vật chung quanh cũng đã thay đổi rất nhiều… Lòng tôi vui vui ngắm nhìn ngôi trường mới, mừng cho các em các cháu được học hành thuận lợi đầy đủ hơn xưa kia, nhưng trong sâu lắng tận đáy lòng lại buồn buồn khi thấy vắng bóng những cảnh cũ thân quen… Thôi, đã qua hết rồi thời khăn khó nghèo nàn, phải lật những trang sách mới, những trang vở mới để ngày càng thấy rõ sự nhiệm mầu của cuộc sống đi thôi!
    Cuối cùng, tôi tìm đến tổ ấm của các học trò xưa. Hưng nhảy cẩng lên, reo vui ôm chầm lấy tôi. Kim Hương cũng không chút ngượng ngùng, trao đứa con nhỏ đang bồng trên tay qua cho chồng, rồi sà vào lòng tôi trong nước mắt ràn rụa. Tôi cũng không kềm được tình cảm của mình, ôm cả hai vợ chồng vào lòng mà xiết chặt, nghẹn ngào không thốt nên lời. Kim Hương trách móc:
    - Sao thầy không đi luôn, còn quay lại đây làm gì?
    Tôi không biết nói sao, chỉ còn biết cười trừ.
    Ngoài kia, trời chuyển dông từ khi nào rồi. Một tiếng sét ầm vang giữa trời không mù mịt mây đen. Tôi lại nghe như tiếng kêu rõ to của nụ hôn của cô học trò lên bàn tay của thầy giáo năm xưa… Mưa đã đổ xuống ào ào như đón chào ngày trở lại của tôi ở vùng đất đã có nẩy sinh một tình yêu thật đẹp. Ôi… cuộc sống thật nhiệm mầu làm sao! Tôi mỉm cười. Không một ai hiểu được nụ cười của tôi. Không một ai trên thế gian này, ngoại trừ cô học trò dễ thương của tôi.



  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • ĐẤT LÀNH CHIM ĐẬU



    Sau gần mười năm ở đậu ở nhờ, nay thì nhà mướn, mai thì nhà thục, cuối cùng ba mẹ Hưng đã mua được một căn nhà bằng số tiền dành dụm chắt chiu, tích tiểu thành đại. Một căn nhà riêng, một thế giới tự do, đó là mơ ước lớn lao của một đời người, của những người nghèo lương thiện làm ăn bằng đôi bàn tay trắng như ba mẹ của Hưng, và đó cũng là một giấc mơ khổng lồ đã trở thành trở thành hiện thực đối với Hưng, gần như là huyền hoặc không tưởng.
    Căn nhà có diện tích nhỏ thôi, nhưng nhờ có gian gác đúc tận dụng khoảng không, nên đối với một gia đình gồm ban người, ba, mẹ, Hưng và bé Hằng, thì thật là rộng rãi, thậm chí còn thấy thênh thanh, mênh mông, chứ không như bao năm cả gia đình phải chiu rúc co ro trong những căn phòng ẩm thấp tối tăm, chật chội đến nỗi không không có chỗ để bài trí một góc học tập cho Hưng và bé Hằng. Sướng nhất là bây giờ Hưng và bé Hằng có quyền nói lên ba tiếng “nhà của mình” mà xưa nay chưa từng được nói, hoặc có lỡ nói vậy thì sẽ bị người ta bắt bẻ “nhà nào là nhà của mày ?”. Chưa bao giờ Hưng thấy ba vĩ đại, thấy mẹ khổng lồ như hôm nay. Ba thật oai phong hùng dũng như một vị đại tướng quân vừa thắng trận trở về. Mẹ thật kiêu hùng thánh thiện như một nữ tướng vừa trở về trong khúc khải hoàn. Mua được căn nhà, đó chính là một chiến tích chói lọi và vang rền. Bởi, Hưng thừa biết, đủ thông minh để hiểu rằng ba mẹ phải chịu hi sinh biết bao mồ hôi, nước mắt, và cả máu suốt mười mấy năm trời tần tảo gian truân, nhịn ăn nhịn mặc, chắt bóp dè xẻn từng đồng chi tiêu trong gia đình, để gom góp tích lũy những giọt mồ hôi tạo thành một biển hồ mênh mang như ngày hôm nay. Điều làm cho Hưng kính phục nhất, đó là ba mẹ tiết kiệm, đôi lúc đến mức hà tiện để cho người ta chê cười là “đồ keo kiệt bủn xỉn”, nhưng với việc học tập của hai đứa con mình, hay chuyện giúp đỡ người hoạn nạn nghèo khó, thì cả hai người đều tỏ ra hào phóng, rộng rãi. Ba từng nói: “Với chuyện học thì đầu tư bao nhiêu cũng không đủ, và đầu tư bao nhiêu cũng chớ tiếc nuối. Còn chuyện nhường cơm sẻ áo với những người sống quanh ta, tuy là đem muối bỏ bể, nhưng đó là tấm lòng biết yêu thương của mình!”. Mẹ từng bảo: “Những đồng tiền được tiêu cho chuyện học hành thì không bao giờ là uổng phí và vô ích cả. Còn tiền đem chia sẻ cho ai khó khăn nghèo túng là những hạt giống bồ đề, sau này các con sẽ được hưởng bóng mát của cây bồ đề!”. Thế nên, Hưng và bé Hằng luôn được đầy đủ tươm tất khi đến trường, không thiếu thốn bất cứ thứ gì. Điều ấy đã động viên khích lệ hai anh em chăm chỉ, chuyên cần vào việc học tập, năm nào cũng gặt hái được kết quả tốt đẹp, làm ba mẹ hài lòng và vui sướng. Hưng đã học đến lớp 9, Hằng thì đã lớp 6, hai anh em luôn chiếm giữ những vị trí hàng đầu khi xếp loại học lực trong lớp. Thi luôn đỗ điểm cao. Ba mẹ rất tự hào. Những người bà con dòng tộc nghiêng mình khâm phục, khen ngợi ba mẹ Hưng hết lời. Ba khiêm tốn nói: “Phúc này là do ông bà tiên tổ ban cho đó thôi!”. Mẹ cũng khiêm nhường: “Nhờ ơn Trời Phật gia hộ nên mới có được hai đứa con ngoan ngỗn, thông minh ấy mà!”… Nghe thì nghe vậy, nhưng không một ai phủ nhận công lao dạy dỗ nuôi nấng con cái của ba mẹ Hưng. Đó là hai công trình vĩ đại, mà ba mẹ là những người vừa chỉ đạo, vừa trực tiếp thi công trong hoàn cảnh không lấy gì làm sáng sủa, suông sẻ, lại còn đầy trắc trở ngặt nghèo. Ít có ai cáng đáng đảm đương nổi những thú công trình như vậy khi mà kinh phí eo hẹp, vật tư nguyên liệu thiếu thốn, mặt bằng lại không ổn định. Ba mẹ Hưng đã và đang tiếp tục thực hiện thi công hai công trình dài dằng dặc ấy với quyết tâm mãnh liệt và ý chí vững vàng, dù rằng khoản kinh phí đầu vào chỉ trông nhờ vào những đồng nhuận bút viết báo của ba, cùng những đồng tiền công may gia công hàng chợ của mẹ. Ba đã giã từ bục giảng, phấn trắng bảng đen từ hơn năm năm qua sau khi mắc bệnh lao phổi phải chữa trị hao tiền tốn của trong thời gian dài, rồi chuyển qua làm thơ viết văn, đưa tin về ngành giáo dục cho các báo, trở thành một cộng tác viên thường xuyên, một thông tín viên tích cực của vài ba tờ báo có uy tín trong nước. Công việc buộc ba Hưng phải rong ruổi suốt ngày trên chiếc xe đạp cà tàng, tối về lại cặm cụi hí hoáy đến khuya, có khi thức đến gần sáng. Mẹ thì tất bật túi bụi với đống vải, cắt cắt may may, lại phải lo chợ búa nấu nướng cho cả nhà có được bữa ăn đúng giờ đúng giấc… Quanh năm suốt tháng ba mẹ Hưng luôn bận bịu, xoay như chong chóng, dường như không ngơi nghỉ mà chằng hề nghe tiếng kể lể than van. Âm thầm làm việc, lặng lẽ gieo sạ với cường độ đều đặn và thường xuyên trong suốt chừng ấy năm trời, vừa lại lo cho hai con đến trường đầy đủ, vậy mà ba mẹ Hưng đã mua được một căn nhà cho riêng mình, thử hỏi anh nghe thấy mà không tránh khỏi kinh ngạc kính nể ? Đã có nhiều người không dám tin khi nghe nói ba mẹ Hưng mua được nhà mới. Chỉ khi nhìn tận mắt thấy được cảnh cả gia đình Hưng dọn đồ đạc rời khỏi căn hộ thuê với hợp đồng năm năm, đến ở trong một căn nhà nho nhỏ ở Xóm Cháy với giấy tờ sở hữu hợp lệ thì họ mới ồ lên với lòng khâm phục, sửng sốt…
    Trước năm 1975, Xóm Cháy nguyên là một xóm dân cư hành nghề mộc, đóng các loại gia dụng bằng gỗ cung cấp cho cả thành phố. Trong một lúc bất cẩn, một chủ xưởng mộc để lửa ngún cháy giữa đêm hôm khuya khoắc, lan cháy cả xóm, thiêu rụi toàn bộ nhà cửa vốn liếng, cứu chữa chẳng kịp. Sau khi phân lô chia đất cất nhà làm lại từ đầu, nhiều nhà đã phải bỏ nghề mộc, nhiều nhà đã bán đất đi nơi khác làm ăn, dần dần xóm thợ mộc không còn nữa, và được đổi tên thành Xóm Cháy cho đến nay. Ba mẹ Hưng mua được căn nhà ở Xóm Cháy này với giá cả “rẻ đến bất ngờ”, như lời mẹ khoe với mọi người, vừa với túi tiền dành dụm chắt bóp bao năm trời mới có, nên rất mừng, mừng con hơn trúng số độc đắc cặp năm. Nhưng khi dọn đến ở, nhiều người quen biết đã khuyến cáo: “Xóm Cháy này nổi tiếng dữ dằn, phức tạp, phải thận trọng!”. Người khác còn nói cho biết với giọng hăm dọa: “Con nít xóm này phá còn hơn quỷ sứ ma vương, liệu mà lo giữ gìn, liệu mà ăn ở cho phải đạo phải phép!”. Lại có người rằng: “Xóm Cháy này có đủ mọi thành phần xấu xa của xã hội: xì ke chích choác có, đĩ điếm có, ăn cướp ăn trộm có, ma cô du đãng thì nhiều… nên nuôi dạy quản lý con cái cho chặt chẽ. Nhớ càng ít giao du càng tốt!”. Gia đình Hưng còn được nghe những người cao niên trong Xóm Cháy kể cho biết những chuyện rợn da gà về người chủ cũ của căn nhà mới được sang nhượng quyền sở hữu này. Nào là trong nhà có một hồn ma của người đàn bà thắt cổ tự tử vì vỡ nợ; nào là đứa con gái của người chủ cũ uống thuốc ngủ tự vận vì thất tình, được cứu chữa kịp thời, nhưng sống trong cơn điên loạn ; nào là chủ cũ là một cán bộ Nhà nước thuộc ngành Tư pháp, có uy quyền lẫm lẫm, hống hách khinh người, chẳng thèm giao tiếp với bất cứ ai trong xóm, kể cả hai nhà sát vách, và nhà đối diện, nên bị người ta căm ghét xa tránh, lũ con nít trong xóm cứ đến trước cửa nhà mà tiểu với đại tiện quanh năm, viết bậy lên tường, khiến cho gia chủ phải chịu nhiều phen khốn đốn ; nào là chủ nhà ỷ quyền ỷ thế coi trời bằng vung, cho thợ đến xây bức tường làm rào chắn lấn cả đường đi chung, bị cả xóm xúm lại đập cho tan tành chỉ trong chốc lát… Ba mẹ Hưng nghe rồi thì lo âu, hồi hộp, cảm thấy như đang ở ngay trên tổ ong vò vẽ, không biết tai họa sẽ ập đến vào lúc nào. Nhưng lỡ leo lên lưng cọp rồi, chỉ còn có nước phải cưỡi cọp mà đi, tối đâu hay tới đó. Hưng và bé Hằng cũng nơm nớp sợ sệt, cứ nghĩ đến hồn ma le lưỡi trợn mắt là rụt cổ, tôi không dám thức lâu, trưa không dám vào cầu tiêu một mình, sang lo đi đến trường thật sớm, học về là cứ kè kè theo ba mẹ cho yên tâm. Hai anh em cũng không dám ra khỏi cửa nhà, cứ ru rú như gián ngày, vì sợ lũ con nít bên ngoài kiếm chuyện gân hấn. Thời gian đầu đến ở Xóm Cháy, gia đình Hưng sống rất cẩn trọng, nhắc nhở nhau từng ly từng tý, động viên nhau suốt ngày, ai nấy cũng căng thẳng phập phồng và cảnh giác cao độ. Có mẹ Hưng là bình tĩnh nhất, luôn trấn an hai đứa con của mình: “Ở hiền gặp lành. Mình đừng sống quá ích kỷ, đừng làm điều xằng bậy. Sống trái với đạo lý, hoặc sống biệt lập xa lánh mọi người mới chính là điều không tốt, có thể dẫn đến những chuyện không lành. Hãy tin vào pháp Phật mà sống!”. Ba Hưng cũng đồng tình, nói: “Đúng vậy. Hãy cứ sống thật thản nhiên, sống bằng chân tình, dựa theo Thập Thiện của thiền tông Trúc Lâm Yên Tử mà sống, đừng cứ mà hành khổ mình bằng lối sống gượng ép gượng gạo, giả dối như đóng kịch đóng tuồng!”. Và, ba Hưng là người làm gương trước tiên.
    Trái với người chủ cũ trước của căn nhà, quanh năm suốt tháng cửa đóng then cài im ỉm trông thậät lạnh lùng và vô hồn, không một chút sinh khí, ba mẹ Hưng đã cho mở toang những cánh cửa ra. Buổi sáng, nhạc trong nhà đã vang lên rộn ràng tạo nên sự phấn khích cho mọi người trước khi bước vào một ngày làm việc, học tập mới. Buổi chiều, sau những ngày lao động mệt nhọc, học tập căng thẳng, Ba Hưng cho phép mở những cuốn băng, đĩa hoạt hình vui nhộn và bổ ích, lũ con nít được quyền tự do vào nhà ngồi xem. Ban đầu chúng còn dè dặt, có ý thăm dò chủ nhà, nhưng rồi khi thấy ba mẹ Hưng, và cả Hưng lẫn bé Hằng luôn vui tươi niềm nở thì chúng rủ nhau mạnh dạn vào nhà xem thỏa thích. Với đám trai thanh niên, thì ba Hưng mở những cuốn băng, đĩa nhạc trẻ theo yêu cầu, nên họ rất thích đến nhà chơi, khi thì đến nhà nhìn qua cửa sổ, khi thì vào nhà trò chuyện trao đổi với ba Hưng về âm nhạc. Thật ra, không phải ba Hưng đến bây giờ mới làm vậy, mà xưa nay đã làm theo sở thích của mình. Từ những năm tháng còn ở nhà thuê nhà thục, ba Hưng đã có thói quen đẫ mở nhạc nghe suốt ngày, ai vào nhà xem thì vào, và ai muốn mượn về nhà xem cũng được. Nay, đến Xóm Cháy, không ngờ cái đầu máy video cổ lỗ, và đầu đĩa VDC cũ càng lại đắc dụng hơn bao giờ hết, chính nhờ chúng mà gia đình Hưng mới trở nên thân thiện gần gũi với những người hàng xóm, từ già đến trẻ. Mẹ Hưng cũng đã bắt đầu làm quen với những phụ nữ trong xóm với tâm tình cởi mở chân thật, nên cũng rất được mọi người cởi mở chân tình. Vậy là mối âu lo khi mới đến đã tan biến, gia đình Hưng như cũng trút được một gánh nặng ra khỏi lồng ngực. Người trong Xóm Cháy khi biết được ba Hưng là nhà văn, là cộng tác viên báo chí, quen biết nhiều với giới ký giả phóng viên, liền lộ vẻ kính nể khâm phục, có người gặp chuyện bất bình uất ức đã tìm đến nhờ cậy ba Hưng giúp đỡ, chỉ cho đường đi nước bước. Mẹ Hưng nhận những mối hàng may gia công ngoài chợ, khi việc tồn đọng làm không xuể, không kịp giao hàng, đã không bo bo ích kỷ, sẵn lòng san sẻ bớt vài chị em phụ nữ trong xóm may để kiếm tiền lo gạo mắm, rồi cố gắng tìm thêm nhiều mối, nhiều hợp đồng khác để có việc cho những người vợ, người mẹ ăn không ngồi rồi… Gia đình Hưng trở nên một tụ điểm vui tươi nhộn nhịp của Xóm Cháy, và nghiễm nhiên trở nên một thành viên gắn bó không rời với cái xóm nổi tiếng là dữ dằn ô hợp…
    Riêng với Hưng và bé Hằng, đến ở trong Xóm Cháy, hai anh em đã có thêm nhiều bạn mới. Cái “lũ quỷ ma vương phá phách” mà hai anh em Hưng nghe tiếng té ra cũng… dễ thương, dễ mến chứ chẳng ghê gớm gì ! Chúng cũng ham học, cũng mê nhạc, cũng vẽ đẹp, cũng giỏi đá banh, ghiền truyện và trò chơi điện tử, như Hưng và bé Hằng chứ khác gì? Chúng ra vào nhà có phép tắt, nói năng cũng hồn nhiên, tấm lòng cũng trong trắng vô tư, và không ăn cắp ăn trộm dù chỉ cây kim sợi chỉ trong nhà Hưng. Chúng cũng biết giúp đỡ nhau, san sẻ cho nhau, chia sớt buồn vui bạn bè cùng lứa, nhường nhịn những đứa bé hơn mình. Chỉ có điều, chúng chưa bỏ được thói quen… văng tục chửi thề. Chính tiếng tục tĩu nhơ nhớp buông ra từ cửa miệng đã làm cho lũ trẻ Xóm Cháy phải mang danh là mất dạy, là quỷ xứ ma vương đó thôi.
    Rất nhiều lần ba Hưng đã lên tiếng nhỏ nhẹ khuyên dạy mấy đứa nhỏ ưa xổ tục khi chúng vào nhà ngồi xem phim hoạt hình, có một trong hai đưa ngoan ngỗn nghe lời, tự vả vào miệng mình mổi lần nói tục chửi thề, nhưng rồi… đâu lại vào đó. Lũ con nít Xóm Cháy dường như đã quen miệng, quên tật xấu xa đó, không cách nào bỏ được. Ba mẹ Hưng phải đã ra quy kỷ luật “đứa nào còn nói tục thì không cho vào nhà ngồi xem gì cả”. Biện pháp này xem ra có một chút hữu hiện trong nhất thời, vì lũ con nít rất ham vui, không đứa nào không dám vào nhà Hưng để ngồi xem phim, xem ca nhạc, xem những bàn thắng đẹp trên sân cỏ. Khi rủ nhau vào sàn nhà ngồi bệt dưới sàn gạch bông, đứa nào cũng tỏ ra hiền khô, nhắc nhau không xổ tục, đưa nào lỡ miệng là bị mấy dứa khác mét ngay với ba Hưng để chịu kỷ luật. Nhưng ba Hưng chưa hề kỷ luật đưa nào, chỉ trợn mắt hăm dọa thôi. Mẹ Hưng lại thường đem trái cây, bánh kẹo ra phát cho lũ con nít ăn cho vui, làm cho đứa nào đứa nấy điều khoái “nhà của chú nhà báo”. Nhà Hưng luôn mở cửa để đón khách, không chỉ là con nít, mà người lớn trong xóm lâu lâu nghé thăm trò chuyện, khi quen rồi thì bắt đầu nhờ cậy, cầu cứu ba mẹ Hưng giúp đỡ. Mẹ Hưng giúp nhiều người trong xóm khi họ đến kể lễ than van về cảnh ngặt nghèo, sự giúp đỡ không to lớn lắm, nhưng cũng đủ xoay trở được, và cái tình thì vô cùng đậm đà chân thật. Ba Hưng giúp hàng xóm theo cách khác, ai gặp oan ức, rắc rối, hay bất bình gì thì tìm đến, sẽ được hướng dẫn đường đi nước bước, viết giùm đơn từ khiếu nại, giới thiệu đến các văn phòng đại diện báo chí đóng trên điạ bàn thành phố để được can thiệp giúp đỡ… Xóm Cháy đã nhận lấy nhà Hưng, công nhận nhà Hưng là một thành viên của xóm, bảo bọc và che chở cho gia đình mới này bằng tình thương, lẫn sự mến mộ. Nhà Hưng đã nhận được nhiều sợ giúp đỡ của xóm, tuy nhỏ nhoi nhưng đầy tình cảm đáng trân trọng. Khi nhà có tiệc tùng, có cúng giỗ, hay lễ tiệc sinh nhật cưới hỏi, bao giờ nhà hàng xóm cũng bưng sang nhà Hưng một mâm tượng trưng “ăn lấy thảo”. Thỉnh thoảng có người đến nhắc nhở nhà Hưng đóng cửa, khóa xe để khỏi bị trộm cắp. Nhà bị dột vào mùa mưa, có người tự nguyện leo lên mái nhà để giúp ba Hưng mà không hề lấy công tính tiền. Khi mẹ Hưng bệnh, hay mắc công chuyện, có người tự động đi chợ nấu ăn giùm… Rất nhiều chuyện, kể ra không xuể. Còn lũ con nít có trên chục đứa xung phong làm “lính”cho ba Hưng sai vặt. Đứa thì xăng xái đi ra sạp mua báo, đứa thì mang bảng thảo đi photocopy, đứa chạy đi kêu cà phê, mua thuốc lá mỗi khi ba Hưng có khách đột xuất… Có đứa thì giành phần của Hưng đấm lưng cho “chú nhà báo” để được nghe ba Hưng kể chuyện tiếu lâm cười hả hê khoái trá. Với Hưng, và bé Hằng, lũ con nít Xóm Cháy luôn dành cho tình cảm đặc biệt, xếp hai anh em vào diện hưởng quyền ưu tiên. Hưng và bé Hằng chơi vơí chúng, luôn được nhường nhịn che chở bênh vực. Điều đó làm cho Hưng cảm động, nên Hưng sẳn sàng giúp đỡ bạn trong học tập, cũng như khi vui chơi trong giải trí, khi có bánh kẹo thì Hưng chia sớt ngay cho bạn không để bạn mở miệng xin xỏ. Bé Hằng bắt chước anh, cũng làm vậy với các bạn gái trong xóm.
    … Ngày mẹ Hưng ngã bệnh nặng vì làm việc quá sức kéo dài ngày này qua tháng nọ, ba Hưng phải gạt bỏ công việc viết lách sang một bên để xuống bệnh viện túc trực bên gường người vợ yêu quý. Việc nhà từ đi chợ nấu ăn, giặc rủ lau rửa, chăm sóc cho Hưng và bé Hằng, đều nhờ những người hàng xóm lo toan trợ giúp tất tần tật. Chính khi lâm vào hoàn cảnh hoạn nạn, gia đình Hưng mới thấy những tấm lòng thơm thảo chân thật của bà con hàng xóm dành cho mình. Ba mẹ Hưng chỉ còn biết một cách là khóc vì xúc động, chứ nói bao nhiêu cũng không đủ để bày tỏ lòng tri ân. Bất ngờ nhất là lũ con nít trong xóm cũng thay phiên nhau vào bệnh viện để ba Hưng sai vặt, có đứa còn đòi thay ca để ba Hưng về nhà tắm rửa nghỉ ngơi… Và, điều mà Hưng không thể ngờ tới, là những món quà sinh nhật của các bạn trong xóm mang đến tặng trao cho Hưng. Lũ con nít nhớ cả ngày sinh nhật của Hưng, vì năm ngoái ba mẹ có tổ chức, đãi cho chúng một tiệc vui tưng bừng. Năm nay, mẹ đang bệnh, ba có nhớ nhưng không tổ chức lễ mừng, vậy mà các bạn lại không bỏ qua, rủ nhau mua quà để tặng, không cần phải có tiệc tùng ăn uống gì cả. Hưng nhận những món quà nhỏ bé xinh xinh đầy bất ngờ đó với lòng dạt dào vui sướng và cảm động, rồi chạy ù vào bệnh viện khoe cho ba mẹ nghe. Chuyện những món quà sinh nhật của lũ con nít Xóm Cháy dường như làm cho mẹ Hưng khỏe hẳn, y như vừa uống được thang thuốc của “Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật” kỳ diệu vô song mà bà đã từng đọc được trong kinh. Mẹ Hưng ngồi dậy, mắt ướt đẫm lệ, cất giọng run run:
    - Mẹ sẽ khỏe, mẹ sẽ về nhà, sẽ tổ chức một tiệc sinh nhật muộn cho con. Khách được mời đến dự sẽ là tất cả bà con hàng xóm đã giúp đỡ gia đình mình trong lúc nguy nan này!
    Ba Hưng tiếp lời, xoa đầu Hưng:
    -Và những thượng khách đặc biệt, những là những đứa bạn con, và bé Hằng!
    Hưng mừng và sướng trong bụng, ôm chằm lấy mẹ mà rơm rớm nước mắt. Ba Hưng mỉm cười, đăm chiêu một hồi lâu rồi mới cất giọng từ tốn:
    - Ngẫm lại mới hay, ở đâu sống có tình người thì ở đó chắc chắn có nhiều niềm vui. Miền Cực Lạc an vui không phải ở đâu xa trên cõi trời cao vút đầy mây ngũ sắc, mà ở ngay trên trần gian này, tùy nơi tâm mình mà có hay không có. Quả là trời xui đất khiến cho gia đình mình đến ở với Xóm Cháy, đây chính là đất lành chim đậu…
    Đúng lúc đó, ngay ngoài cửa phòng xuất hiện một đám đông người lấp ló. Toàn là con nít. Con nít của Xóm Cháy.



  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • GIEO MỘT NIỀM TIN



    Năm 1980, tôi được người anh tăng sĩ đứng ra bảo lãnh vàø giới thiệu vào làm việc ở một lò bánh in có tiếng của thành phố. Chủ lò là một Phật tử thuần thành, vì nể nang tin tưởng anh tôi là một sư thầy nên nhận tôi vào làm việc tại lò một cách miễn cưỡng. Vì đang cần một việc làm, tìm một nghề cho tinh, tôi chấp nhận sống những ngày tủi nhục trong nhà của chủ, với bao nghi kỵ chê bai và những kiểu cách đối xử tệ bạc của những người trong nhà chủ. Kiên nhẫn. Một chử Nhẫn của mẹ tôi trao cho trước khi tôi lên đường tha phương cầu thực. Người anh tăng sĩ của tôi cũng chỉ dặn dò, nhắc nhở tôi một chữ Nhẫn ấy, không khác. Chữ Nhẫn luôn luôn hiện rõ ra trước mắt, vang dội trong đầu óc, sôi trào bên trong lòng, đã giúp tôi chịu đựng mọi cay đắng chát chua giữa thế thái nhân tình…
    Thời gian đầu, ông bà chủ không cho tôi bước vào phòng kín làm bánh. Tôi chỉ làm những chuyện vặt vãnh như xách nước, bửa củi, gói bánh, thắng đường … Cả chủ lẫn thợ đều sợ tôi học được nghề, rồi ăn cắp bí quyết để sau này tách riêng ra làm ăn. Tôi biết, nên cứ lặng thinh mà làm mọi chuyện, sai đâu đánh đó, bảo sao nghe vậy, không kêu ca phàn nàn một tiếng. Làm được chừng một tháng, cô con gái út của ông của ông bà chủ trở nên thân thiện và gần gũi với tôi. Cô nàng cứ theo trò chuyện, ngồi gần bên tôi mỗi khi gói bánh đóng hàng, và nhiều khi đưa mắt nhìn tôi đăm đăm đắm đuối như muốn báo cho tôi biết tình cảm đặc biệt của cô nàng dành cho tôi. Thoạt tiên, tôi nghĩ rằng mình tưởng tượng. Nhưng dần dà, những cử chỉ thân mật và lời nói ngọt ngào bóng gió của cô nàng đã khiến cho tôi chắc chắn được một điều: cô nàng yêu tôi.
    Tôi bắt đầu thủ thế. Tôi biết đó là một chuyện nguy hiểm, không được đùa cợt. Tôi hiểu rõ: sự giáo dục quá nghiêm khắc, sự quản lý quá nghiêm ngặt của ông bà chủ đối với con gái trong nhà đã biến cho họ khờ khạo, ngây ngô và luôn luôn muốn bứt phá để thoát khỏi sự kềm kẹp khô khốc của gia pháp, của cha me. Cô gái út chưa hề có bạn trai, quanh năm suốt tháng bị giữ rịt trong nhà, chỉ biết loay hoay với công việc gói bánh, nấu ăn… cho nên khi gặp tôi là một người lạ từ ngoài lọt vào, cô nàng quý mến tôi lắm. Nhưng tôi biết đó là sự bồng bột của một thiếu nữ dại khờ, tôi không muốn lợi dụng, dù rất dễ lợi dụng. Tôi cũng không hèn nhát đến độ phải chạy trốn, xa lánh cô nàng, mà tìm cách nói cho cô nàng hiểu về tình yêu và tình bạn. Tôi chỉ muốn làm một người bạn, hoặc hơn chút nữa là một người anh tinh thần của cô nàng. Điều này đã làm cho cô nàng nể trọng tôi, tin cậy tôi, có gì buồn bực phiền muộn đều tâm sự cho tôi nghe. Hai đứa tôi giữ một tình cảm đẹp, một khoảng cách cần thiết tối thiểu với nhau suốt mấy tháng trời, vậy mà vẫn có lời dị nghị từ đám thợ trong lò bánh. Ông bà chủ nghi ngại, gọi tôi hỏi chuyện. Tôi nói thật lòng, nói những suy nghĩ của mình, cũng như nói thẳng ra cái sai lầm của ông bà chủ về chuyện quá nghiêm khắc với con gái. Rõ ràng là tôi dại, có thể mất việc, rời khỏi lò bánh như chơi. Nhưng không ngờ, ông bà chủ đã hiểu được ý tôi, tỏ ra khâm phục và tin tưởng tôi. Tôi bắt đầu được hưởng những tình cảm ưu ái của những người trong gia đình chủ. Tôi thoải mái tự do hơn trước, được dạy kèm cho cô con gái út học vẽ và làm luận văn mỗi tối, tập cho cô nàng đi xe đạp vì chưa bao giờ cô nàng tập đi xe … Tôi được họ – những người chủ trong nhà – cho vào phòng kín tập đóng bánh, trộn bột đường, rồi chỉ hết những bí quyết của nghề bánh in chỉ trong một thời gian ngắn. Tôi đã được quyền tham gia ý kiến của mình vào chuyện sản xuất của lò bánh, được đóng góp những cải tiến cho mặt hàng của lò thêm phong phú, và ý kiến của tôi bao giờ cũng được nhà chủ tiếp nhận một cách trân trọng. Nhưng, tôi biết chắc một điều: nhà chủ vẫn còn một chút gì đó chưa tin tưởng tôi hoàn toàn, chưa dám xem tôi là một thành viên trong gia đình họ, nhất là chuyện tiền nong lãi lỗ thì họ luôn sợ tôi nghe biết. Tôi đâu màng chuyện đó. Tôi chỉ cần việc làm, có được nghề làm bánh in, có cơm ăn no, có quần áo mặc lành lặn, và lương thưởng bỏ túi là quá tuyệt rồi.
    Cho đến một hôm, tôi tình cờ nhặt được một chiếc khăn tay cuộn tròn ở giữa nhà bếp, bên trong là bốn lượng vàng và sáu chiếc nhẫn. Tôi đem trao lại cho ông bà chủ. Cả lò bánh xôn xao. Không ai mất vàng cả. Đến chiều, một người bạn hàng thường đến là lấy bánh đi buôn chuyến đường xa đã hớt hải bước vào lò, hỏi thăm với hi vọng thật mong manh về gói vàng bị đánh rơi. Ông bà chủ đã trả lại cho người bạn hàng đầy đủ số vàng, và cho biết chính tôi là người nhặt được của rơi. Khi tiễn người bạn hàng ra đến cửa, tôi nghe ông chủ nói một câu: “Gặp thằng khác thì tiêu rồi!”. Người bạn hàng quay lại nhìn tôi thật lâu trước khi hí hửng ra chợ. Ngay sáng hôm sau, ông chủ lò đích thân đứng chỉ cho tôi những “tuyệt chiêu” của nghề bánh in, chỉ hết cả những “độc chiêu” dùng để cứu bánh khi bị xổ bột vì đường nóng, bột nóng hoặc gặp trời gió chướng. Tôi nắm được hết những bí quyết của nghề, trở thành một thợ cả của lò, và làm việc say mê ở lòø bánh ấy suốt ba năm. Chính ông bà chủ đã gợi ý cho tôi về quê cũ lập nghiệp, cho tôi một số vốn để mở lò riêng tại quê nhà. Tôi chia tay với lò bánh, được mọi người đưa tiễn quyến luyến vào một ngày mưa sụt sùi. Cô con gái út cũng sụt sùi với đôi mắt đỏ hoe, tặng cho tôi một lá thư tình viết bằng thơ lục bát lục nồi, lại có tranh minh họa cho thơ, tôi đọc xem mà cười chảy nước mắt …
    Năm năm sau, vào năm 1988, khi tôi đóng cửa lò bánh in nhỏ của mình do làm ăn thua lỗ, cạnh tranh thất bại, đang có dự định đi làm công nhân cho tổ hợp xây dựng thủy lợi huyện, thì nhận tin từ chốn xa: cô gái út của ông bà chủ là bánh in đã lấy chồng và sinh được đứa con trai. Ông bà ngoại đã đặt tên cho cháu là Hồng, trùng tên với tôi. Tôi chỉ còn biết phì cười và sung sướng …




Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group