Truyện ngắn Phật giáo - Tâm Không Vĩnh Hữu

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Hương Thơm Từ Bạc Mốc
    Món Nợ Cuối Năm
    Nụ Cười Độ Lượng
    Rể Quý Của Mẹ
    Sân Trước Một Dáng mai
    Trút Bỏ Oán Thù
    Ván Cờ Bên Hiên Chùa
    Vết thương tiền kiếp
    Con chó và chiếc áo da
    Sợi dây chuyền
    Ôn
    Tuệ Trí







    HƯƠNG THƠM TỪ BẠC MỐC




    Tối hôm qua là một tối đáng nhớ trong đời. Một buổi tối thật vui, đầy tiếng cười và cả nước mắt. Chú Bình đột ngột trở về từ một phương trời xa xôi cách nửa vòng trái đất, sau mười lăm năm sống tha hương nơi đất khách quê người. Chú rời xa quê hương khi Thuý Loan còn là một hạt bụi nhỏ nhoi bay lơ lững ở một khoảng không mênh mông nào đó. Hai chú cháu chỉ biết mặt nhau qua mấy tấm ảnh kèm theo trong những lá thư đầy tình thương nhớ mà thi thoảng chú gửi về, cũng như bố mẹ gửi đi… Giờ thì chú Bình đã hiện ra bằng xương bằng thịt để ôm đứa cháu duy nhất vào lòng mà hôn những nụ thật mạnh, thật kêu trong nước mắt ràn rụa. Chú cũng hôn lên trán người chị dâu của chú-mẹ của Thuý Loan- với sự kính trọng và lịch sự có thừa như người phương Tây. Chú Bình về mà không hề báo trước cho biết điều gì, làm cho mẹ phải bất ngờ, lúng túng và vui mừng khôn xiết. Chỉ tiếc rằng bố đi công tác vắng nhà, không có mặt trong giờ phút hội ngộ thiêng liêng ấy, làm chú Bình cũng thoáng buồn, vẻ thất vọng hiện lên rõ trên gương mặt hồng hào đầy đặn. Mẹ phải gọi điện thoại ngay để báo tin, gọi bố xin phép tranh thủ về nhà để trùng phùng cùng người em trai ruột rà đã xa cách chừng ấy năm. Nếu không có gì trở ngại thì bố sẽ có mặt tại nhà sau hai mươi tư giờ đi đường bằng xe đò tốc hành đúng nghĩa tốc hành. Chú Bình khăng khăng không chịu đến ở khách sạn, nên mẹ phải lo thu xếp một chỗ cho chú nghỉ ngơi tạm thời. Điều làm cho Thuý Loan vui nhất đó là những gói kẹo, những thanh sô-cô-la, và những cây bút đắt tiền mà chú Bình mang từ nước Mỹ về tặng cho đứa cháu gái. Hơn thế nữa, chú còn cho riêng Thuý Loan hai tờ giấy bạc mệnh giá 100 đô-la. Trước khi cho tiền, chú xoa đầu Thuý Loan, nói:
    - Chú vụng về lắm. Muốn mua cho cháu áo quần, nhưng lại không dám mua vì sợ mua không đúng kích cỡ của cháu, cháu sẽ mặc không vừa. Tiền này để cháu tự quyền mua sắm theo ý thích!
    Thuý Loan đưa mắt nhìn chừng về phía mẹ. Nét mặt của mẹ thật nghiêm nghị. Chú Bình hiểu ý, liền cười nói:
    - Cháu đừng lo. Chú có nhiều tiền lắm. Chú về đây, không mang hành lý nhiều, nhưng tiền thì rất nhiều. Bố mẹ có phần của bố mẹ, còn phần của chú cho riêng cháu thì cháu cứ xài thoải mái, mua những gì mình thích, sắm những gì mình thiếu, và ăn ăn uống uống những gì mà mình thèm khát bao lâu nay…
    Thấy mẹ chỉ nhếch môi cười, không nói gì, Thuý Loan mới dám cầm và cất ngay vào túi áo hai tờ giấy bạc mà lần đầu tiên trong đời mình mới được sờ đến, nắm bắt được trong tay. Rồi mặc cho mẹ và chú Bình ngồi trò chuyện thân mật, rôm rả suốt đêm, Thuý Loan chìm vào một giấc ngủ với giấc mơ thật dài có đầy tiếng cười rộn rã và nhạc du dương thánh thót…
    Sáng nay nhằm thứ bảy nghỉ học, Thuý Loan dậy trễ, mẹ phải gọi dậy để ăn sáng cùng chú Bình cho chú vui. Sau bữa điểm tâm, chú Bình đi đến đồn công an Phường để khai báo tạm trú, rồi sau đó sẽ đi thăm một số bạn bè cũ trong thành phố. Chương trình của chú là vậy, còn chương trình của Thuý Loan là… đi ra phố sắm áo quần, sắm mọi thứ mình thích sau khi ghé vào tiệm vàng đổi hai tờ giấy bạc 100 đô- la. Sướng thật. Mình giàu thật. Mình có cả tiền triệu trong túi. Triệu phú rồi còn gì? Vừa tung tăng từng bước chân trên hè phố, Thuý Loan vừa ngẫm nghĩ và vừa cười một mình. Tha hồ mà mua sắm nhé. Thoải mái mà chọn lựa nhé. Vô tư mà xách mang về nhà nhé. Tiền của chú Bình mang từ Mỹ về cho riêng mình mà. Chú đã bật đèn xanh cho mình vọt xe lên rồi thì không có gì phải đắn đo nghĩ ngợi nữa. Mẹ sẽ có phần tiền chú cho mẹ. Bố cũng sẽ có phần tiền chú cho bố. Mình sẽ tự sắm sửa những món ngon vật lạ mà không cần phải hỏi xin tiền bố hay mẹ, vậy là “ngon” rồi!
    Thuý Loan mạnh dạn bước vào siêu thị. Vào siêu thị mua sắm, đó chính là niềm mong ước bao lâu nay của Thuý Loan. Mua sắm đàng hoàng, chứ không phải vào chỉ để dạo quanh đưa mắt ngắm nghía với cái bụng thèm thuồng như bao lần “đi cho biết siêu thị là gì” với mẹ. Trước tiên là thẳng đến gian hàng áo quần may mặc sẵn.
    Ô là la… toàn là những bộ đồ mình thích. Thật là hợp thời trang, đúng mốt, dễ thương, xinh xắn, độc đáo, lạ lẫm. Mấy đứa bạn sẽ lé mắt nếu thấy mình diện những chiếc áo, chiếc váy, chiếc quần đắt tiền này. Nhất là con nhỏ Thuỳ Hương, con nhà giàu nhất lớp nhất trường, nó sẽ trố mắt lên kinh ngạc khi không hiểu nổi tại sao con nhỏ Thuý Loan nhà nghèo này lại có được những bộ đồ “sang trọng quý phái”, trong khi lâu nay quanh năm suốt tháng chỉ thấy nó mặc những chiếc áo trắng đã ngã màu vàng ố mặc dù đã nhiều lần cầu cứu đến các loại xà phòng quảng cáo rầm rộ om sòm trên truyền hình là “đã tốt nay còn tốt hơn”; hay những chiếc quần tây xanh đã bạc sờn, hai ống ngắn khoe cả mắt cá chân đến nổi “chó nhảy táp bảy ngày không tới”. Nhỏ Thuỳ Hương, cũng như một vài dứa bạn nhà giàu khác, cũng sẽ thèm nhỏ dãi khi thấy mấy cây bút máy hiệu Pilot, hiệu Paker chính hiệu hàng ngoại mà có tiền chưa chắc đi mua đã có lại đang thuộc quyền sở hữu của con nhỏ Thuý Loan “quê mùa lạc hậu” nhất lớp. Thú vị thật. Càng tưởng tượng ra trong đầu những cảnh chưa từng xảy ra, Thuý Loan càng thấy thích thú khi đứng chọn lựa thoải mái những món đồ đắt tiền có niêm giá sẵn. Càng thú vị hơn khi Thuý Loan chợt nhớ đến tiệc sinh nhật của nhỏ Hồng Hạnh mời vào chiều chủ nhật ngày mai tại nhà nó. Năm ngoái, Thuý Loan cũng đi dự tiệc sinh nhật này rồi, vì nhằm lúc mẹ không có tiền, bố chưa kịp lãnh lương, nên Thuý Loan chỉ tặng cho bạn món quà tinh thần là một bài thơ lục bát kèm trong hộp đựng bút trị giá 10 nghìn đồng, quà giá trị tuy nhỏ nhưng cũng đủ làm đứt ruột của mẹ vì đó là tiền mẹ dành dụm phòng chuyện ốm đau, nay phải xuất chi cho con gái được vui vẻ với chúng bạn. Sau buổi tiệc sinh nhật ấy, tụi bạn cùng lớp có vài đứa nói bóng nói gió hàm ý chê bai, khinh khi Thuý Loan về chuyện “đi quà cho bạn mà keo kiệt, trong khi ăn tiệc thì ăn cho ních bụng đã mồm”. Nghe được, Thuý Loan buồn mấy ngày chưa nguôi, nếu không có lời an ủi động viên của chính nhỏ Hồng Hạnh thì không biết đến bao giờ nỗi buồn tủi ấy mới tiên tan trong lòng. Bây giờ chợt nhơ lại, Thuý Loan không thấy buồn tủi nữa, mà lại đang hân hoan phấn khích hơn bao giờ, lòng nôn nao háo hức mong cho mau đến chiều mai để mình đi dự tiệc sinh nhật nhỏ Hồng Hạnh. Năm nay mình đi quà cho biết mặt nhé. Đã có đứa nào từng dám tặng quà sinh nhật cho bạn trị giá đến 200 nghìn đồng chưa? Chắc chắn là chưa rồi. Nhưng bây giờ sẽ có. Sẽ có một người dám “chơi mát luôn”, và người ấy chính là con nhỏ Thuý Loan “quê mùa lạc hậu” này đây. Một chiếc áo đầm xoè thật đẹp, vải ngoại mềm mại, hoa văn độc đáo, màu sắc hài hoà, được đặt trong một chiếc hộp giấy kính trong suốt sang trọng, sẽ là món quà mừng sinh nhật dành cho nhỏ Hồng Hạnh. Chắc chắn nhỏ Hồng Hạnh sẽ rất thích với chiếc áo đầm vừa vặn này, vì Thuý Loan đã mặc thử thấy rất vừa vặn, hai đứa lại có tầm vóc kích cỡ ngang nhau. Xách hai túi xách căng phồng đầy áo quần rời khỏi siêu thị, Thuý Loan trèo lên ngay một chiếc xích lô trở về nhà với lòng rộn ràng niềm vui. Ngắm nghĩa chiếc đồng hồ hiệu Rado mới keng trị giá 700 nghìn đồng đeo trên tay, Thuý Loan cảm thấy như mình vừa được lột xác hoàn toàn. Mình không còn là mình nữa rồi sao? Không còn là con nhỏ Thuý Loan hồi hôm qua, và xưa kia nữa rồi. Có thật vậy không, hay chỉ là chiêm bao mộng mị? Không, chuyện có thật mà. Thật như vầng thái dương đang sáng rực chói chan trên bầu trời trong xanh quang đãng kia để xua đi những màn đêm mịt mờ ám chướng. Thật như nụ cười khoái chí của chú đạp xích lô khi được mình đưa luôn cả tờ giấy bạc 10 nghìn đồng với lời dặn đầy nhã nhặn: “Chú khỏi phải thối tiền lại. Cháu tặng chú uống nước!”. Và thật như dáng mẹ đang ngồi nơi ghế sa-lông thẻ đã bay hết lớp vẹc -ni với nét mặt trầm tư nhìn về phía cửa, nơi mà mình vừa bước qua để vào trong căn nhà dường như đã trở nên ấm cúng hơn bao giờ hết…
    Thuý Loan định reo lên để bày tỏ tâm trạng đang hạnh phúc tràn trề của mình với hai túi xách to đùng nặng trĩu trên hai tay, nhưng bất chợt phải khựng người lại, chôn chân xuống dưới nền gạch hoa đã hoen ố cũ kỹ. Mẹ đang ngồi nơi ấy, bất động, chỉ có đôi mắt là đang sống động lung linh với cái nhìn xuyên suốt vào bất cứ vật thể gì. Khó mà đoán được mẹ đang vui hay buồn, đang giận hay thương, nên Thuý Loan vẫn đứng yên một chỗ cất tiếng nủng nịu gọi lên để thăm dò:
    - Mẹ!
    Mẹ đưa mắt nhìn hiền từ, miệng cười nhẹ nhàng, rồi gật đầu:
    - Con đi sắm đồ về rồi đó à?
    Chỉ chờ nghe được bấy nhiêu, Thuý Loan đã đoán được mẹ không hề buồn giận gì mình đâu, vội xách hai túi xách sà đến bên mẹ. Đăït hai túi xách lên trên chiếc bàn nhỏ trước mặt, Thuý Loan ngắm nhìn mẹ trong thoáng chốc, bỗng chạnh lòng trong sự ngạc nhiên tột cùng. Trước mắt, cận kề bên, mẹ đang ngồi im lặng với một chiếc áo bà ba màu nâu đã bạc thếch cũ càng trông thật… lạ lùng. Một chiếc áo quá cũ, quá xấu qua cái nhìn của Thuý Loan. Không kềm được nỗi kinh ngạc, Thuý Loan buột miệng:
    - Trời đất, mẹ lôi đâu ra cái áo gì mà thấy…“ghê” vậy?
    Người mẹ mỉm cười, cúi nhìn chiếc áo mình đang mặc trên người, nhìn hai vạt áo, rồi nhìn hai vai áo, đưa tay vuốt khẽ khàng lên hai miếng vá, giọng trầm xuống hỏi:
    - Ghê lắm hở con?
    - Dạ… con thấy ghê quá. Áo ở đâu vậy mẹ?
    - Áo của mẹ đó con.
    - Sao mẹ mặc làm gì cho xấu vậy?
    - Với con thì nó xấu xí, nó ghê ghê. Nhưng với mẹ thì nó luôn là một kỷ vật đẹp đẽ.
    - Vậy chiếc áo này mẹ giữ để … nhớ một kỷ niệm gì sao?
    - Đúng vậy. Chiếc áo này mẹ đã mặc trong suốt ba năm trời, rồi sau đó đem cất giữ đã mười lăm năm qua, từ khi con còn chưa chào đời, và đúng vào năm mà chú Bình chia tay với bố con trong nước mắt để đi thật xa…
    - Nhưng vì sao mẹ phải giữ nó kỹ như vậy?
    - Mẹ giữ để lâu lâu nhìn ngắm nó. Nó luôn nhắc nhở mẹ đừng quên những tháng ngày đói khổ nhọc nhằn, nhưng cũng rất thơ mộng vui tươi…
    - Sao lại thơ mộng vui tươi hở mẹ?
    - Hồi đó, mẹ thường mặc chiếc áo này, hằng ngày đạp xe trên hai mươi cây số đi và về trên con đường gập ghềnh, từ công trường thuỷ lợi ra đến chợ thị trấn, để lo cơm nước cho anh em công nhân. Và rồi mẹ gặp bố của con. Mẹ mặc chiếc áo này dường như là thường xuyên vì khi ấy mẹ chỉ có hai chiếc áo, mà chiếc áo còn lại kia thì đã quá rách, quá mỏng, mẹ chỉ mặc khi ngủ ban đêm. Vậy mà bố của con vẫn thương yêu mẹ, bố đâu có màng đến chuyện áo xấu áo đẹp, hay áo lành áo rách, mà bố chỉ quan tâm đến cái tính cái tình của mẹ thôi. Rồi bố và mẹ cùng vượt qua nhiều trở ngại thử thách về tôn giáo tín ngưỡng, về quan điểm chính trị, để nên duyên vợ chồng. Nhờ trời, từ ngày nên vợ nên chồng, cuộc sống trở nên dễ thở hơn, bố có công ăn việc làm ổn định, mẹ không còn phải đội nắng mưa quanh năm làm chị nuôi ở công trường thuỷ lợi nữa, mà chỉ lo bán quán tạp hoá để kiếm tiền xoay sở chi tiêu trong gia đình. Từ khi con chào đời, cuộc sống gia đình mình tuy không khá giả, nhưng cũng không đến nỗi bần cùng túng đói, nhờ bố mẹ luôn biết thiểu dục tri túc, biết cần kiệm để nuôi con ăn học lâu dài …
    - “Thiểu dục tri túc” là gì vậy mẹ?
    - Thiểu dục là ít muốn, nghĩa là mình đừng có ham muốn nhiều, đừng tham vọng quá khả năng của mình đẻ rồi phải thất vọng, phải đau khổ khi không đạt được điều mình ao ước. Thí dụ như mình đang đi bộ, sau đó sắm được chiếc xe đạp là sướng rồi, nhưng mình lại chán xe đạp, lại ham muốn một chiếc xe máy, rồi không có khả năng sắm xe máy nên mình lo lắng, buồn tủi, đau khổ. Còn tri túc là biết đủ, nghĩa là nên hài lòng với những gì mình đã có được, không thèm ao ước thêm nữa. Thí dụ như cái quán nhỏ nhà mình đã đủ giúp cho mẹ có khoản thu nhập để lo chợ búa chi tiêu hằng ngày, và tháng lương của bố thì đủ để dành dụm, hay sắm sửa những thứ cần thiết… Được như vậy là hạnh phúc lắm rồi, vì quanh mình có biết bao người nghèo khổ bần hàn chỉ ao ước được như bố mẹ. Con hiểu chứ? Thiểu dục là vậy, tri túc là vậy. Và nhờ học giáo lý nhà Phật mà biết vậy, nên bố mẹ mới sống được thanh thản nhiều năm qua…
    Im lặng. Thuý Loan chau mày ngẫm nghĩ. Mẹ cất giọng nhỏ nhẹ:
    - Hôm nay, mẹ lôi chiếc áo này ra để mặc là có ý gì con biết không?
    Thuý Loan lắc đầu nguầy nguậy, nhỏng nhẻo:
    - Con… con đang còn thắc mắc đây. Mẹ nói cho con biết đi!
    - Con người không thể sống mãi với quá khứ, nhưng cũng không nên quên dĩ vãng để gìn giữ cho hôm nay, và ngày mai cứ được mãi hương thơm và vị ngọt. Hôm nay, mẹ lôi chiếc áo ngày xưa ra mặc là để cho mẹ tự ngắm mình lại trước gương, và để cho tối nay khi bố con trở về nhà, bố sẽ được ngắm lại hình bóng thân thương ngày nào. Nhưng điều quan trọng nhất là để cho con ngay bây giờ được ngắm mẹ mình, mà tự rút ra một bài học tuy nhỏ nhoi nhưng rất quý báu cho mình…
    Nhướng mắt lên nhìn mẹ, Thuý Loan im lặng không biết phải nói gì. Chợt, mẹ hỏi:
    - Con hãy ngắm kỹ mẹ đi, mẹ có xấu xí đi vì chiếc áo cũ xì mốc meo này không?
    Thuý Loan bàng hoàng, quỳ xuống trước mẹ, nghẹn ngào:
    - Không… không… Con thấy mẹ đẹp lắm. Mẹ đẹp tuyệt trần!
    Mẹ nhoẻn miệng cười, âu yếm xoa đầu con gái, hỏi:
    - Con đi sắm sửa hết tiền của chú Bình cho rồi, phải không?
    Nghe mẹ hỏi, Thuý Loan ngước mặt lên thưa:
    - Con lỡ đổi hết cả hai trăm đô-la… nhưng con chỉ mua sắm hết khoảng một nửa…
    Vừa nói, Thuý Loan vừa móc hết xấp tiền trong túi đưa cho mẹ. Người mẹ đẩy tiền ra, hiền từ:
    - Mẹ hỏi, không phải để lấy tiền của con. Chú Bình cho riêng con thì con cứ cất lấy. Nhưng con đừng chi tiêu hoang phí, mà hãy để dùng cho việc có ích, nhất là chuyện học hành của con.
    Đưa tay chỉ hai túi xách trên bàn, mẹ trầm giọng nói tiếp:
    - Mẹ muốn con hiểu ra một điều: Tuy rằng chú Bình có nhiều tiền khi về thăm quê hương, nhưng đó là tiền được đánh đổi bằng mồ hôi, nước mắt, và có khi bằng cả máu. Chú con bao năm phải lao động cật lực khổ nhọc, phải thức khuya dậy sớm đầu tắt mặt tối làm thuê làm mước cho người ta mới có tiền mà sống. Chú Bình tuy đã có nhà, có xe hơi riêng, nhưng mọi thứ đều là mua trả góp, phải thiếu nợ, phải cày còn hơn con trâu trên ruộng để trả nợ dần dần đâu phải ngồi phè phởn một chỗ để hưởng phú quý vinh hoa?! Khi con cầm đồng tiền của chú Bình cho để chi xài, thì hãy nhớ rằng chú rất khổ cực làm việc, chú phải chịu hi sinh rất nhiều để có được tiền mang về giúp bố của con. Con không thấy đến giờ này, tuy chú Bình đã trên 35 tuổi mà vẫn không dám lập gia đình hay sao? Và con không thấy chú của con đi làm ăn xa thâït xa đến mười lăm năm mới dành dụm được một số tiền để trở về cố hương sao?
    Thuý Loan sững sờ. Làm sao mà mình nghĩ ra được những điều ấy với một đầu óc còn non nớt được? Nếu mẹ không nói ra thì mình cứ tưởng chú Bình là một Việt Kiều giàu có bảnh bao sang trọng, tiền chú cho là tiền để tiêu xài cho sướng tay sướng bụng. Lòng ăn năn day dứt, Thuý Loan gục đầu, nói với giọng ngắt quãng:
    - Con có lỗi… con sai rồi… Con không biết…
    Rồi cô con gái sà vào lòng mẹ, úp mặt vào ngực mẹ mà khóc tấm tức, ngửi được hương thơm lạ lùng từ chiếc áo bạc mốc xa xưa của người mẹ yêu kính …





    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày khoảng 1 10 năm trước với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • MÓN NỢ CUỐI NĂM




    Chiều một ngày cuối năm, mặc cho ngoài đường kia đang chộn rộân hối hả, thầy Trường ngồi lặng lẽ trong căn hộ vuông vắn chật chội nhưng ngăn nắp của mình, trầm tư cắn bút trước những trang thơ đầy cảm xúc còn chưa ráo mực, hồn thả về một vùng ký ức xa xăm đầy vui buồn nhung nhớ… Già bạc tóc cả rồi, thầy đâu còn muốn chen chân theo nhịp tất bật cùng thiên hạ. Hơn nữa, thầy sống độc thân bao năm nay, không viêïc gì phải bận rộn lo toan muốn sút cả vó như bao người có cặp có đôi, có tổ ấm đoàn tụ, có gia đình đông vui đầy đủ…
    Thầy đã sống trên mười năm như vậy rồi, kể từ ngày người bạn đời yêu quý của thầy qua đời sau một cơn bệnh nặng hiểm nghèo, để cho thầy phải chịu cảnh gà trống chăn hai đứa con. May mà lúc ấy con thầy đã khôn lớn, đứa đang học năm cuối cấp 3, đứa đã ngồi ở giảng đường đại học được ba năm rồi, nên thầy khôâng phải vất vả. Rồi chúng trưởng thành, công thành danh toại, lần lượt rời xa vòng tay ôm ấp vuốt ve của thầy để xây tổ uyên ương, bỏ thầy ở lại cô thân lẻ bóng nơi căn hộ nhỏ nhắn nằm trong hẻm cụt của một khu dân cư bát nháo hỗn độn.
    Dù gì, thầy vẫn yêu căn hộ đầy kỷ niệm khóc cười trầm thăng mà thầy đã gắn cuộc đời mình vào nó trên hai mươi năm qua. Thầy không muốn rời khỏi nơi thầy yêu thương và cả sự tôn kính, mặc dù con cái thầy đã bao lần nài nỉ van xin thầy dời sang ở một căn hộ mới rộng rãi khang trang hơn ở một khu yên tĩnh mà chúng có khả năng mua ngay cho thầy. Thầy thích sống một mình hơn. Tự do. Thoải mái. Không lệ thuộc bất cứ ai. Tiện nghi đầy đủ. Tiền bạc của hai đứa con cung cấp cho thầy hằng tháng, thêm khoản lương hưu, đủ cho thầy sống thư thả, nếu không muốn nói là thừa dư. Vậy thì hà cớ gì phải đi đâu cho mệt? Đi để tìm gì? Có một điều chỉ có thầy hiểu mình: thầy chôn kín trong sâu lắng tận đáy lòng một tình cảm đặc biệt dành cho cái xóm lao động phức tạp mà thầy đã sống được nhiều tháng năm đi đi về về gắn bó. Xóm nhỏ đông dân, có đủ thành phần của xã hội, có đủ thất tình lục dục, sinh tử thất tồn, hỉ nộ ái ố, vậy mới là cuộc sống, vậy mới sinh động, để cho một người yêu văn chương thi phú, yêu báo chí, mê sách kinh nhà Phật như thầy phải cảm thấy hứng thú, thấy vui mừng vì không sợ thiếu cảm xúc, thiếu ý tưởng, thiếu vốn sống, để cầm bút gieo ngôn từ trải lòng trên giấy. Thứ tình cảm đặc biệt ấy như một sợi dây thừng vô hình trói xiết đôi chân lẫn trái tim của thầy lại, không cho thầy rời bỏ cái nơi mà nhiều người lương thiện chân chính nghe nhắc đến phải sợ hãi đến rùng mình lạnh gáy.Vậy mà thầy ở được, sống được mới là hảo hớn trượng phu!
    Đang mải mê bay bổng trên chín tầng mây với ý tưởng ngôn từ, chợt thầy Trường nghe một mùi hương lạ thoang thoảng đâu đây gần kề bên mình. Thầy giật mình, quay đầu lại nhìn sau. Đứng sát sau lưng thầy là một người phụ nữ tuổi trạc bốn mươi, ăn mặc hở hang, trang điểm mặt mày kỹ lưỡng, miệng đang nở một nụ cười tình tứ cùng với ánh mắt rực lên một sự trìu mến yêu thương. Thầy Trường lúng túng, chạy trốn đôi mắt của vị khách không mời, hỏi:
    - Ủa … có chuyện gì vậy?
    Người phụ nứ vẫn đắm đuối đăm đăm nhìn thầy Trường, không nói không rằng, khẽ đưa tay vuốt lấy đôi vai thầy, rồi đặt nhẹ nhàng lên ấy. Thầy lật đật đứng dậy, lịch sự gỡ tay vị khách đường đột kia, kéo ghế mời khách, cất giọng hơi bực bội:
    - Cuối năm kẹt tiền lo cho hai thằng nhóc ăn Tết phải không?
    Khách cười tỏn tẻn. Thầy Trường chép miệng, xoay qua bên trái kéo ngăn hộc bàn. Người phụ nữ vội chồm tới, nắm lấy cánh tay thầy lại, giọng run run:
    - Anh đã giúp đỡ em nhiều lần rồi. Em đã làm phiền anh cũng đã quá nhiều. Hai năm qua, trong những lúc bế tắt, những lần túng ngặt, không ai đoái hoài giúp đỡ, nếu không có anh thì … không biết bây giờ mẹ con em sống chết ra sao …
    - Thôi đi, đừng nói nữa!- Thầy Trường ngắt ngang- Tôi đã nói bao nhiêu lần rồi, đừng có nhắc gì đến chuyện đó mà!
    - Em mắc nợ anh nhiều quá…
    - Bây giờ cô cần bao nhiê?
    Người phụ nữ mím môi, im lặng một lát, rồi dường như khó khăn lắm mới nói nên được lời:
    - Anh à… Em qua đây lần này không phải để xin, hay vay tiền mượn gạo của anh như bao lần trước…
    - Vậy chớ qua làm gì? Trả nợ cho tôi chắc?
    - Dạ… đúng là em qua để… trả nợ.
    - Trả nợ? –Thầy Trường trố mắt lên, nửa kinh ngạc nửa vui mừng – Ngon vậy à? Mới có lộc gì lớn lắm sao?
    - Dạ không ạ! Em đâu có tiền…
    - Ủa… lạ kìa, vậy chứ cô trả nợ cho tôi bằng gì? Cô trả bằng đồ đạc, hay giấy tờ nhà cửa? Nhưng ai nhắc đến nợ, ai bắt cô phải nợ kia chứ?
    Miệng thì hỏi lung tung mấy câu như vậy, nhưng trong đầu thầy đã chợt lóe lên ý nghĩ “phải cảnh giác, có chuyện rồi đây”, bụng thầy rộn lên lo lắng, vì thầy vừa nắm bắt được ý đồ của người phụ nữ hàng xóm qua cử chỉ điệu bộ lẳng lơ mà đầy tình cảm nồng nàn chân thật của chị ta. Người phụ nữ nở nụ cười chua chát:
    - Em làm gì có đồ đạc quý giá để gán nợ? Nhà thì ở nhờ ở đậu, làm gì có giấy tờ sở hữu mà đem cấn trừ trả nợ cho anh?
    - Vậy chứ cô muốn sao?
    - Em chỉ có một tấm lòng biết ơn sâu xa, và một thân xác héo úa của gái làng chơi về vườn này… Em nuốn dâng hiến cho anh, dâng hiến hết mình …
    Thầy Trường sững sờ. Đúng như thầy tiên đoán, nhưng vẫn thấy quá bất ngờ. Cặp mắt thầy long lên, tràn ngập nỗi thất vọng tức tối. Thầy xua tay, thả thân hình xuống ghế thật nặng nề, nhìn thẳng vào mắt vị khách mà nói:
    - Cô tưởng tôi chờ đợi điều ấy lâu nay sao? Cô xem tôi là hạng người gì mà tính trả nợ cho tôi bằng thứ đáng khiếp sợ ấy?
    Người phụ nữ bối rối, nói lắp bắp:
    - Em… em… em thấy anh sống khô khan, cứ làm gà trống nuôi con ăn học bao năm trời… nghĩ là chắc anh… thiếu thốn đàn bà lắm. Dương thịnh dương tồn mà âm thì suy hụt… Đó là chuyện thường tình mà anh… Đó là chuyện bản năng cơ bản mà tạo hoá đã ban cho con người…
    Thầy Trường cười khẩy:
    - Hay quá nhỉ? Chắc cô mới học được sau khi xem bộ phim khiêu dâm “Bản năng gốc”, rồi mang qua đây dạy đời cho tôi phải không?
    Người phụ nữ lộ vẻ hốt hoảng:
    - Không đâu … không đâu. Em không dám … em đời nào dám…
    Phẩy tay, mặt giận hờn, thầy Trường nói:
    - Vậy, cô còn muốn nói gì thì nói hết ra đi, trút ra đi. Sau đó, đến lượt tôi nói!
    - Em… em nghĩ … anh không dám nói lên … lời đề nghị với em… Em nghĩ… đâu phải bỗng dưng mà… bỗng dưng mà…
    - Bỗng dưng mà sao?
    - Bỗng dưng mà anh đem tiền cho không em hết đợt này đến đợt khác. Thường thì… sống ở đời… người ta quan niệm… có qua phải có lại chứ, phải không anh?
    - Cô im đi!
    Thầy Trường không còn kềm được lòng mình, quát lên giận dữ. Thầy quên hết mọi lời vàng trong kinh thư, quên hết muôn câu pháp cú trong chánh pháp, quên hết những điều cơ bản nhất của giáo lý nhà Phật mà bao năm qua chính thầy nghiền ngẫm, học và hành với niềm đam mê thích thú…. Rồi thầy đứng lên, lại ngồi phịch xuống, thở phì phò như vừa chạy vượt qua một ngọn đồi cao. Thầy nhắm nghiền mắt lại, hít thở từng hơi thật sâu, một chặp lâu mới mở mắt ra nhìn khách, nhìn một cách đờ đẫn vô hồn. Khẽ lắc đầu mấy cái lộ chán ngán, thầy chậm rãi buông từng tiếng:
    - Nghe tôi nói đây… Tôi không còn giận cô nữa đâu, mà tôi giận chính mình. Tôi giận mình bao nhiêu thì thương xót cho cô bấy nhiêu. Tôi cần cô hiểu cho một điều: không phải lòng tốt nào cũng đáng bị nghi ngờ. Nghe và nghiền ngẫm lại cho kỹ đi!
    Thầy chấp hai tay sau lưng, bước lòng vòng quanh khoảng trống nhỏ hẹp còn lại trong nhà, rồi dừng lại, mắt đăm chiêu hướng về một phương trời xa hun hút bên ngoài cửa sổ… Giọng thầy thâït buồn nặng trĩu:
    - Sở dĩ lâu nay tôi giúp đỡ cô, san sẻ cho cô những đồng lương hưu và ít tiền nhuận bút viết báo, là vì… tôi khâm phục cô, tôi nghiêng mình bái phục khi thấy cô tuy là một phụ nữ mang lắm tiếng xấu nhất cái xóm này, nhưng cô vẫn cố gắng nuôi dạy hai đứa con không cha, cho chúng ăn học đàng hoàng, không chơi bời lêu lổng … Tôi giúp cô, tức là giúp cho hai cháu được tiếp tục học hành. Vậy nên, cô lo cho hai cháu đến trường là đã trả nợ cho tôi rồi đó!
    Im lặng. Nghe cả tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ treo tường, và cả tiếng của mấy con thằn lằn đang tặt lưỡi … Thầy trầm giọng:
    - Mà thật ra thì … tôi mới là người thiếu nợ đây!
    Người phụ nữ nhướng mắt lên nhìn thầy chăm chăm. Thầy Trường cười nửa miệng, một nụ cười trông thật thảm hại:
    - Tôi thiếu nợ tất cả những học sinh lâm vào cảnh nghèo khổ. Món nợ này quá lớn, mà sức khoẻ và tuổi tác của tôi đã không cho phép tôi làm gì được nữa… Nợ lớn lắm, tôi là một con nợ bị nợ ngập đầu, trả suốt cuộc đời cũng không xong …
    Nước mắt thầy Trường chảy tràn ra hai hàng. Nợ. Đúng là một mối nợ. Nợ nần nghiệp dĩ mà mình phải trả đây rồi. Thầy quay lưng, nhìn vào vách tường vô tri vô giác đang có treo một tấm lịch bằng gỗ sơn mài vẽ hình một chiếc đò trôi giữa dòng sông. Một mảnh trăng tròn vành vạnh lơ lững trên bầu trời soi rọi xuống nước óng ánh sắc vàng. Trên thuyền là hình bóng nhỏ nhoi của một người lái đò đơn độc. Một bức tranh lấp lánh, lấp lánh… Trăng kia. Bóng kia. Ngón tay chỉ trăng đâu rồi? Thầy biết mình đã vừa trải qua một khoảnh khắc vô cùng trọng đại giữa giác và mê, mà chính thầy đã quá tối tăm quên mất đi ngón tay chỉ trăng…
    Ngay những giây phút tĩnh lặng với những giọt nước mắt thương xót cho nghiệp duyên của mình, thật buồn cười, không hiểu sao thầy Trường lại bỗng nhớ đến chuyện thiền sư Huyền Quang, vị đệ tam tổ rất “phiêu bồng nghệ sĩ” của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, với bài thơ “vu oan giá họa” của cô nàng Cung phi Điểm Bích tài sắc vẹn toàn mang về tấu trình lên vua Trần Minh Tông để lợi mình hại người:
    Vằng vặc trăng mai ánh nước
    Hiu hiu gió trúc ngâm sênh
    Người hòa tươi tốt cảnh hòa lạ
    Mâu Thích Ca nào thử hữu tình.
    Thầy hực lên một tiếng cười khô khốc, rồi tuôn liền ngay sau đó một tràng cười khanh khách thật sảng khoái chưa từng, hốt nhiên nhẹ tênh thân xác, trống rỗng cả đầu óc và cõi lòng…
    Người phụ nữ cúi gập người xuống, quỳ dưới đất, bật lên tiếng khóc đầy ray rứt hối hận, nghe thật xao lòng.
    Chính vào lúc ấy, đôi mắt nhập nhoà của thầy Trường liếc nhìn ra cửa sổ, thầy dường như vừa trông thấy một bóng người vừa thoáng qua thật nhanh. Chắc chắn rằng có một bóng vừa thoáng nhanh qua như điện xẹt, không phải là bóng câu của thời gian, cũng không là bóng của nàng Xuân rực rỡ hoa hoè, mà thầy đinh ninh đó chính là hình bóng của nàng Thơ.
    Nàng Thơ có lẽ đang muốn ghé đến để đòi nợ thầy cuối năm. Chắc vậy rồi.



  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • NỤ CƯỜI ĐỘ LƯỢNG



    Mẹ ưu sầu suốt một tháng qua. Có lẽ giữa mẹ và cha có bất đồng xích mích về chuyện gì đó, mà tôi không được rõ. Cha mất việc làm, nói đúng là bị đuổi việc, bởi một sự trù dập trả đũa về chuyện cha viết bài báo tố cáo những hành vi tiêu cực của Ban Giám Đốc cơ quan. Bài báo của cha không đủ chứng cớ tối cần thiết, bị quật ngược, phản tác dụng, cha về nhà nằm dài trăn trở ôm giấy quyết định sa thải đã nữa năm trời. Nhưng chắc chắn không vì chuyện đó mà mẹ buồn rầu. Mẹ không hề cằn nhằn gây gổ với cha chuyện đấu tranh cho lẽ phải, mà còn là người bạn cổ vũ đồng tình với cha hết mực. Mẹ và cha đều là phật tử thuần thành, luôn tin và ghi nhớ giáo pháp của nhà Phật để áp dụng trong cuộc sống hằng ngày. Với chuyện cha đứng ra chống tiêu cực, mẹ đồng ý cho rằng đó là tư duy và hành động “chống lại cái ác, cái xấu, cái sai” để bảo vệ cái thiện và sự an lành cho mọi người. Vậy, mẹ buồn khổ về chuyện gì? Pháp Phật nhiệm mầu có đến tám vạn bốn ngàn pháp, từ cao siêu rườm rà cho đến bình dị đơn giản, từ bác học công phu cho đến bình dân tiện dụng, sao mẹ không áp dụng như đã từng áp dụng để tiêu trừ khổ đau triền phược trong cuộc sống, mà lại phải chịu mang nỗi buồn nặng nề cho mệt thân rối trí?
    Từ ngày cha thất nghiệp, nằm nhà, cha thắp nhang trước bàn thờ Tam Bảo với lời thệ nguyện bỏ hẳn thuốc lá, bỏ rượu chè, bỏ luôn cả thối quen uống cà phê buổi sáng. Cha chỉ cần dùng hai bữa cơm hằng ngày, buổi sáng uống trà khan. Mẹ không biết vui hay buồn, đồng ý hay không tán thành, chỉ thấy mẹ vẫn chu cấp tiền đều đặn cho cha tiêu xài. Mẹ buôn bán ngoài chợ, sạp vải nằm trúng nơi đắc địa nên thu nhập kha khá, đủ để bảo bọc cho cha nghỉ ngơi nếu cha muốn. Nhưng cha không muốn ở nhà, cha thường đi vắng, nói là gặp bạn bè để tìm việc làm mới. Mẹ không muốn tìm hiểu, có muốn cũng không có thời giờ theo dõi cha. Tiền mẹ đưa cho cha dằn túi, đưa bao nhiêu hết bấy nhiêu, đưa nhiều hết nhiều, đưa ít hết ít, không hề nghe cha phàn nàn đòi hỏi gì thêm. Cha cứ lặng lẽ sáng đi, trưa về ăn cơm, nghỉ một giấc, rồi lại đi đến tối, ăn tối xong lại đi đến khuya, cả mấy tháng trời như vậy mà vẫn chưa nghe cha báo tin vui có việc mới, dù là việc tạm thời. Mẹ bảo nhỏ tôi:
    - Mẹ không có thời giờ để theo dõi cha con làm gì. Mẹ giao nhiệm vụ cho con từ ngày hôm nay. Mẹ nghi cha đã có người tình, đang lén lút đi lại với người đàn bà khác. Bao nhiêu tiền mẹ đưa hết sạch, chắc là cho người ta ăn hết rồi. Con hãy tìm hiểu thay mẹ, có tin gì báo cho mẹ biết ngay. Đừng để nước tới chân mới nhảy thì… sự đã rồi!
    Tôi đau thắt cả tim gan. Thì ra là vậy. Ghê gớm quá. Nghiêm trọng quá. Không ngờ cha lại quá tệ đến thế. Tôi khóc một mình, thương mẹ, giận cha. Rồi quyết tâm tìm cho ra sự thật, quyết bắt quả tang cuộc ngoại tình…
    Ăn tối xong, cha lại đi.
    Tôi lén vào phòng riêng của cha, lục lọi hết các ngăn tủ, hộc bàn, dưới nệm, trong gối để tìm cho ra một manh mối nào đó của cuộc tình lén lút mà có thể cha giấu kín.
    Có một ngăn kéo khoá kỹ. Tôi tìm chìa khoá không ra, biết chắc cha đã mang theo mình. Tôi không dám cạy phá khoá. Tôi vội chạy qua nhà thím Tư để gọi mẹ về. Mẹ có chìa khoá ngăn kéo đó.
    Đang tính toán sổ sách tiền nong với thím Tư, nghe tôi bỏ nhỏ, mẹ vội vàng theo tôi về nhà ngay.
    Hai mẹ con hồi hộp mở ngăn kéo. Ngăn kéo được mở ra.
    Bên trong là một con heo đất to đùng.
    Mẹ bưng heo lên rơm rớm nước mắt.
    Tôi đọc thấy dòng chữ ghi dưới bụng heo đất:
    “Thiểu dục tri túc. Phòng khi ốm đau. Tôi không xứng đáng được sử dụng!”.
    Tôi bưng heo thử. Heo nặng tay. Tôi xốc thử. Không sột soạt, vậy tức là bên trong đang có tiền nghẹt chật. Tôi nhìn mẹ. Mẹ đang khóc. Tôi cũng không kềm được nước mắt.
    Đúng lúc ấy, lúc mà hai mẹ con tôi còn đang bàng hoàng day dứt, cha bước vào phòng. Mẹ con tôi hốt hoảng, đứng chôn chân tại chỗ, chỉ còn biết trố mắt nhìn cha.
    Cha mỉm cười.
    Một nụ cười thường thấy nở trên đôi môi, trên khóe miệng của các tượng Bồ Tát ở trong các chùa chiền tự viện.
    Một nụ cười độ lượng, nhưng sao trông lại tội nghiệp biết dường nào!



  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • RỂ QÚY CỦA MẸ



    Sau một thời gian làm thuê cuốc mướn đất ở Long Thành – Đồng Nai, chịu khổ về vật chất thì nổi, nhưng khổ về tinh thần suốt ngày này qua tháng nọ thì tôi đã không còn đủ kiên nhẫn để sống chung trong nhà của chủ, buộc lòng tôi phải cuốn gói từ biệt để trở về quê cũ tìm kế mưu sinh khác. Trước khi về Nha Trang, tôi ghé lại tá túc ở nhà anh chị Tư tại Sài Gòn hoa lệ …
    Ở đến ngày thứ hai, vào buổi trưa, lúc anh Tư từ cơ quan về đến nhà, tôi đang nằm đọc sách trong phòng, nghe giọng chị Tư hỏi chồng:
    - Anh có lấy mớ tiền em để trên đầu tủ không?
    - Tủ nào?
    - Tủ có gương soi.
    - À … à … anh có lấy. Anh lấy đó, nhưng quên nói với em1
    Giọng chị Tư đay nghiến:
    - Lấy hoài. Tiền đưa anh bao nhiêu cũng không đủ …
    - Anh đâu có xài. Anh cho thằng bạn mượn, con nó bệnh…
    - Con bạn bệnh, rồi cháu hàng xóm đói, rồi vợ của đồng gnhiệp đau nhập viện, rồi bố của láng giềng hết gạo, đủ thứ chuyện trên đời mà anh cứ tự gánh lấy chuốc lấy, tiền nào mà chịu nổi? Nhà mình đâu phải ngân hàng cho vay “xóa đói giảm nghèo” mà anh cứ làm từ thiện hoài vậy?
    - Suỵt… bài ca đó cũ mèm, sao em cứ ca lại hoài. Còn đó chớ có mất mát đi đâu mà em xót với tiếc?
    Chị Tư tôi im lặng ngay, chắc là chị đã giật mình biết mình nói bậy, còn chồng mình thì luôn luôn nói hay nói đúng, một lúc sau mới nói:
    - Lần sau có lấy thì nhớ nói em một tiếng, đừng để gây hiểu lầm … vì trong nhà đang có thằng Hồng, em ruột của em!
    - Suỵt … nói nhỏ nhỏ.
    Tôi đặt sách xuống, giả vờ ngủ say. Tôi nghe tiếng chân người anh rễ tiến về phía phòng tôi đang nằm, rồi tiếng chân bước đi khỏi nhẹ nhàng.
    Anh rể tôi là một người đàn ông trầm lặng, hiền lành, có chút ít máu nghệ sĩ. Có lẽ nhờ trước kia đã từng trải qua mười năm xuất gia đầu Phật, đã thọ giới Tỳ Kheo đàng hoàng, nên anh mới trở thành một bậc đại trượng phu như vậy. Gia đình tôi quý anh ấy lắm. Nhất là mẹ tôi. Tôi nhớ hồi đó bà phản đối kịch liệt chuyện chị Tư tôi đến chùa lễ Phật mà lại lôi kéo một người tu hành phải hoàn tục để xây tổ uyên ương. Bà nghiêm khắc thường mắng chị Tư tôi “con ma nữ, con Mạn-Đà-La”. Nhưng sau, mẹ tôi nói “do cái nghiệp nặng quá”, rốt cuộc phải giơ tay đầu hàng, miễn cưỡng đồng ý cho con gái lập gia đình với một người trong đông đảo người khoác áo cà sa mà bà rất kính trọng mỗi khi ra vào cửa Từ Bi- Hỷ Xả. Chuyện hôn nhân của chị Tư tôi đã làm mẹ tôi lâm bệnh hơn cả tháng, rồi sinh ra bị trầm uất trầm cảm cũng cả năm sau mới khỏi, kể từ khi chị Tư tôi sinh ra hai đứa con sinh đôi đầu lòng kháu khỉnh đẹp xinh. Rồi thời gian đã làm cho mẹ tôi nguôi ngoai, bà rất yêu quý người con rể ở xa của bà, đôi khi nhìn thấy còn quý thương còn hơn cái đám “con trai ruột báo đời” của bà.
    … Một tuần sau, vào buổi tối, tôi đang thu xếp hành trang chuẩn bị sáng sớm ngày mai lên tàu về quê, bên ngoài phòng khách có tiếng anh rể tôi hỏi vợ:
    - Em có lấy xấp bạc trong bóp anh không?
    - Bóp anh để đâu?
    - Trong túi quần tây đen. Bóp thì còn mà bạc thì mất …
    - Trời đất, em không có lấy. Đời nào em lục lọi túi anh, anh thử nhớ lại xem … Mất bao nhiêu tiền?
    - …
    - Mất nhiều lắm à? Có thật là mất rồi không?
    - À à … anh nhớ ra rồi. Anh đã đưa số tiền đó cho chị Ba Toại, nhờ chị Ba trả tiền điện nước tháng rồi …
    - Xì … anh thật quá tệ. Có vậy mà không nhớ, chưa gì đã ầm lên mất tiền với mất bạc!
    - Anh đâu có la ầm lên, anh chỉ hỏi em nhỏ nhẹ mà …
    - Nhà có thằng em đang ở nhờ, mai nó về Nha Trang, anh cứ hô mất kiểu đó …
    - Suỵt … thôi mà. Nói nho nhỏ, coi chừng nó nghe mà tội nghiệp. Mai nó về, em nhớ cho nó ít tiền đi đường, anh hết nhẵn túi rồi …
    - Khỏi lo. Đợi anh nhắc, đợi anh cho, chắc nó … chết khô!
    Tôi ngồi lặng người bên chiếc ba-lô đang căng cứng áo quần, tư trang … Hai bàn tay bỗng run lên nhè nhẹ, và nước mắt chực trào ra. Anh Tư bước vào phòng tôi. Tôi nhìn người anh rể. Anh Tư đang mỉm cười, rồi lắc đầu, lè lưỡi, tay chỉ ra phía phòng ngoài ý muốn nói gì đó về vợ mình. Rồi anh bước lại bên tôi, ngồi xuống cạnh, giọng trầm trầm:
    - Để mai anh chở em đến nhà ga. Ngủ sớm đi cho khỏe!
    Tôi nắm tay anh Tư, xúc động:
    - Anh Tư à … em … em muốn nói là …
    Đưa ngón tay chặn nơi môi tôi, anh Tư ngắt lời:
    - Không nói gì hết, ngủ một giấc đi, mai lên tàu, chiều là đã có mặt ở Nha Trang rồi. Về đó, ráng kiếm việc làm, kiếm không có thì tìm đến mấy chùa của mấy ni, xin làm công quả những công việc nặng nhọc mà mấy ni làm không nổi, để kiếm mấy chén cơm no bụng, được thọ hưởng cái lộc của Tam Bảo cũng quý báu lắm, đừng ăn ở không mà sinh chán chường lắm em trai à!
    Anh Tư đứng dậy, bước ra khỏi phòng. Tôi nằm xuống, tay vắt lên trán suy nghĩ miên man. Đêm đó tôi ngủ không yên giấc vì cứ thấy ác mộng …
    Sáng sớm, chị Tư dậy chiên cơm trứng gà cho tôi ăn lót bụng, rồi dúi vào tay tôi mấy tờ bạc, nói sát vào tai tôi:
    - Chuyện tế nhị đừng cho anh Tư mày biết là tao cho nhiều. Ổng có hỏi thì nói cho một tờ thôi, nhớ chưa?
    Tôi cười mếu máo, gật đầu. Anh Tư chở tôi đến nhà ga. Xe dừng lại trước cổng, anh móc túi đưa cho tôi mấy tờ bạc được cuộn tròn lại, dặn dò:
    - Chuyện chuyện tế nhị, nếu chị Tư em có hỏi thì nói anh không cho đồng nào hết, nghe chưa!
    Tôi rơm rớm nước mắt, gật đầu. Chia tay anh Tư nói:
    - Có gì thì quên hết đi, bỏ qua hết đi, đừng để bụng mà buồn rầu áy náy làm gì cho mệt óc mệt tim, nghe em!
    … Ngồi trên tàu, nhìn cảnh vật vụt qua bên cửa sổ, tôi thầm chửi rủa mình thậm tệ. Tôi xấu hổ với gió. Tôi thẹn thùng với cây. Tôi tuổi nhục với mọi người. Tôi càng căm thù, khinh bỉ tôi bao nhiêu thì càng kính phục người anh rể của mình bấy nhiêu. Tôi tỉnh ngộ, khóc trong khuây khoả. Chỉ có nước mắt mới làm cho tôi vơi bớt nỗi tủi thẹn giấu kín trong lòng không ai hay. Không một ai hay, chỉ trừ một người biết rõ, biết chắc chắn rằng tôi chính là thủ phạm ăn cắp số tiền của chị Tư để trên đầu tủ có gương soi, và cuỗm hết mớ giấy bạc trong bóp để trong túi quần tây đen của người anh rể. Người đó chính là anh Tư. Những tờ giấy bạc đó đang nằm dưới đấy ba-lô của tôi từ mấy ngày qua, và mới tối hôm trước.
    Tàu chạy một quãng dài, bay giờ tôi mới buột miệng thốt lên: “Hèn chi mà mẹ yêu quý anh rể hơn những đứa con trai của mình!”. Bà già ngồi ghế kề bên tôi nghe được, liền trợn mắt lên nhìn tôi như nhìn… một vật thể lạ.
    Từ đó về sau tôi không bao giờ làm một kẻ trộm cắp nữa. Cảm ơn anh Tư, người anh rể đáng quý của tôi.


  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • SÂN TRƯỚC MỘT DÁNG MAI



    Gia đình tôi dọn về nhà mới vào lúc gần Tết, cách đây ba năm, ba mùa Xuân vui tươi ở chốn phù hoa đô hội. Hồi đó, khi mới đặt chân vào ngôi nhà mới, gia đình tôi ai cũng reo mừng khi thấy bên cửa ngõ ra vào có sẵn một cây mai cao chừng hai thước, nhánh cành nụ lá xum xuê. Tôi được cha tôi giao việc lặt lá cho cây mai, để kịp đâm nụ nẩy chồi nở hoa đón cái Tết đầu tiên ở nhà mới. Đến ngày lặt lá, tôi chưa kịp làm gì thì cây mai đã tự rụng lá cả rồi. Cả nhà tôi ai cũng tưởng tôi lặt. Cha tôi khen, hỏi:
    – Mới chiều tối hôm qua, ba còn thấy cây mai đầy lá. Vậy ra con đã một mình lặng lẽ lặt lá cho nó vào hồi khuya, phải không?
    Tôi định phủ nhận, nhưng không hiểu sao tôi lại mỉm cười gật đầu. Được khen, được thưởng công, dại gì mà từ chối kia chứ?! Tết năm đó, cây mai trổ hoa vàng rực cửa ngõ, ai cũng trầm trồ trước vẻ đẹp sang trọng của cây hoàng mai chốn sơn lâm xa vắng. Riêng tôi, tôi cứ băn khoăn trước câu hỏi chưa được giải đáp: “Ai chính là người lặt lá cho cây hoàng mai?”. Xuân qua, Tết tàn. Thời gian trôi đi mang theo nỗi băn khoăn khắc khoải trong tôi vào lãng quên… Mùa Xuân thứ hai đến. Một sáng thức dậy sớm, tôi kinh ngạc đứng chôn chân trố mắt nhìn cây mai trước ngõ khi thấy lá của nó đã tự rụng hết xuống quanh gốc. Tôi ngơ ngẫn đứng nhìn cây mai trơ trụi những nhánh chi mảnh khảnh. Chỉ qua một đêm mà cây mai đã trút bỏ được xiêm áo cũ để chuẩn bị khoác lên mình chiếc áo vàng rực mới mẻ! Ai đã lặt lá cho nó, nếu không phải là tôi? Tôi im lặng. Cả nhà lại tưởng tôi đã lặt lá mai, lại khen, không ai trong nhà tôi tự nhận mình làm công việc đó, vì đó là việc của tôi phải làm. Tôi bắt đầu khổ sở vì dấu hỏi to tướng cứ lởn vởn chập chờn trong đầu, trước mắt. Không lẽ cây mai này thuộc một giống mai rừng có đặc điểm… tự rụng lá? Tôi ngây thơ đi tìm tòi trong sách thư viện, hỏi thăm những bậc cao niên chuyên gia về cây cảnh, nhưng tuyệt đối không được một thông tin nào xác nhận có một loại mai rừng tự rụng lá. Mấy bác ở câu lạc bộ chim cây cá cảnh cười khề khà gọi tôi là thằng nhỏ “mát dây”. Tôi quả thật muốn “mát”vì chuyện lá mai rụng. Tôi ghi vào sổ nhật ký để nhớ ngày tự rụng lá của cây hoàng mai bí hiểm. Ghi để mùa xuân năm sau, tôi sẽ theo dõi. Tôi quyết phải khám phá bí mật… Mùa xuân lại về, về đến cổng nhà tôi, bên ngõ ra vào cây mai đang đứng đó chờ tôi lặt lá. Tôi xem lại sổ, đã đến ngày cây mai tự rụng lá. Tôi bồn chồn nôn nóng suốt từ sáng tới chiều, mong cho mau đến tối để âm thầm theo dõi cây mai. Tối đến, mọi người đều đã yên giấc cùng với phố xá tĩnh mịch. Tôi ngồi lặng lẽ giữa sân, nhìn chăm chăm về phía cây mai với nỗi phập phồng chờ đợi. Đã hơi 10 giờ đêm rồi, cây mai vẫn đứng đó lặng câm, không hề động đậy. Tôi chán nản định bỏ cuộc, nhưng rồi sự ấm ức khó chịu đã bắt tôi phải kiên nhẫn. Tôi tự nghĩ: “Ai dám bảo cây cỏ vô tình vô tri? Phải chăng cây mai kia cũng biết xấu hổ thẹn thùng khi đang cởi bỏ xiêm áo mà có tôi ngồi sờ sờ ra đó ngắm nghía?”. Nghĩ vậy, tôi đi vào nhà, đóng cửa và làm ra vẻ như đang đi ngủ. Tôi nín thở đứng sau cửa, nhìn qua khe ra sân trước, tập trung nhãn lực vào cây mai. Im ắng. Tôi nghe rõ tiếng tim mình đập thom thóp. Nghe cả tiếng muỗi bay vo ve. Muỗi bâu vào cắn tay chân tôi, tôi cắn răng chịu đựng, không dám đập đuổi vì sợ khinh động. Chờ khoảng nửa giờ, khi lũ muỗi chắc đã no nê, tôi ngứa ngáy và mờ cay cả hai mắt, định đầu hàng phứt, đi ngủ một giấc cho khỏe thân nhàn trí. Bất chợt, tôi giật mình lạnh gáy khi kịp nhìn thấy một bóng người xuất hiện thấp thoáng ngoài cửa ngõ. Tôi nín thở, mở trừng hai mắt lên, trừng hết cỡ trừng, nhìn ra không chớp mắt. Một bóng người nhỏ nhắn vừa leo qua tường nhảy vào nhà tôi, nhảy xuống sân, bước lại đứng bên cây mai. Người lạ có mái tóc dài. Con gái. Ma hay người? Ma ư? Tôi không dám nói là mình không tin vào chuyện ma quỷ, cũng không dám nói là tin, vì xưa nay tôi chỉ được nghe và đọc chuyện ma, chứ chưa bao giừo thấy ma. Tôi lại rất tin vào Phật. Không phải tôi tin vào những tượng Phật, mà tin vào giáo pháp nhiệm mầu của bậc Chánh đẳng Chánh giác. Học pháp Phật để áp dụng vào cuộc sống là những điều mà tôi đã và đang làm. Những kinh chú của Mật tông tôi cũng đã thuộc nhiều, thuộc để phòng thân, sẽ mang ra dùng khi lâm vào những tình huống, hoàn cảnh nguy nan bối rối. Vậy mà tôi vẫn không sao bình tĩnh được khi thấy tận mắt một bóng ma đang lẻn vào sân nhà mình. Tôi không nhớ gì đến chú Chuẩn đề, chú Dược Sư, hay chú niệm cầu đức Bồ tát Quan Thế Âm. Tôi kinh hãi đến trợn tròng, há hốc mồm. Người con gái đang đứng bên cây mai, miệng nói lẩm bẩm, lâm râm những lời gì không rõ. Rồi, người ấy bước lại sát bên cây mai, bắt đầu… lặt lá. Tôi nhìn chăm chăm vào hai chân người con gái lạ, nhìn để xem thử có hổng đất hay không. Tôi thường nghe nói ma quỷ đi chân không chạm đất. Nhưng, trước mặt tôi là con người. Tôi hít một hơi thật sâu để lấy được bình tĩnh, niệm lâm râm “Án ma ni bát mê hồng” mấy lần, rồi mở nhẹ cửa, bước nhanh ra, băng qua sân, tiến về phía cây mai. Nghe động, người con gái giật mình quay phắt lại. Qua ánh sáng từ ngọn đèn đường hắt xuống sân nhà, tôi nhận ra trước mặt mình là một người con gái trạc khoảng mười lăm, mười sáu tuổi có dung nhan xấu xí. Tôi hơi chột dạ, đứng khựng lại. Hai đứa tôi nhìn nhau thật lâu, không thốt một lời. Sau cùng, tôi phá tan bầu không khí im ắng đến rợn người, hỏi:
    – Bạn làm gì ở đây vậy? Bạn là ai?
    Người con gái ngập ngừng, rồi hỏi với giọng yếu ớt:
    – Anh có thật sự nhận tôi làm bạn hay không?
    – Ừ, bạn thì bạn. Có thêm bạn thì tốt chứ sao đâu!
    – Cảm ơn anh. Anh đừng có đuổi em nghen!
    – Tại sao phải đuổi?
    – Vì em đã tự tiện vào đây, lặt lá cho cây mai, mà không hỏi ý kiến của chủ nhà!
    – Lặt lá mai là nhiệm vụ của tôi, cha tôi đã giao cho tôi. Nếu bạn lặt giùm, tức là đã giúp đỡ tôi, tôi phải cảm ơn và mời bạn vào nhà chơi, chứ sao lại đuổi đi được!
    – Anh tốt quá, cảm ơn anh rất nhiều.
    – Nhưng bạn chưa nói tên cho tôi biết. Tôi là Hưng.
    – Em là Hoàng Mai, bằng tuổi với cây mai vàng này, thua nó năm tháng!
    – Ủa? Vậy ra...
    – Đây là nhà cũ của gia đình em. Cha em mất đi, anh Hai bê tha rượu chè cờ bạc đến đổ nợ, buộc mẹ em phải bán nhà để chia gia tài…
    – À, thì ra là vậy. Nhưng… tại sao Mai lại đến đây lặt lá mai?
    – Chuyện dài lắm anh ơi. Em không thể quên những kỷ niệm ở ngôi nhà này. Bây giờ, gia đình em đã xa nó, sống ở một vùng quê yên tĩnh cách đây trên 30 cây số, hàng năm cứ đến ngày này, em phải đón chuyến xe đầu tiên trong ngày, về tá túc ở nhà một người bạn của anh Hai em, chờ đến giờ này, em lại lặt lá cho mai, xong việc, em về ngủ, mai sáng lại đón chuyến xe sớm nhất về nhà…
    – Tại sao Mai lặn lội cực khổ như vậy?
    Giọng Hoàng Mai trầm buồn, kể:
    – Cây mai này do cha em trồng, trồng khi em đang còn nằm trong bụng mẹ, sau này khi em chào đời, cha em đã đặt tên cho em trùng với tên cây mai. Nó thuộc mai rừng, ở chốn rừng thiêng nước độc, học trò của cha em đã tặng cho ông trong thời gian ông dạy học ở một trường miền núi. Cha em xuất thân từ một gia đình bần cùng ở thôn quê, bà con trong dòng họ đều dốt chữ, nên ông càng quyết tâm ăn học… Em rất thương quý cha, nhớ cha rất nhiều, nhất là mỗi độ xuân về, nhìn cây mai là nghĩ tới cha…
    Tôi lặng người vì xúc động. Giọng nghẹn ngào của Hoàng Mai giữa đêm khuya chầm chậm như một khúc nhạc u buồn.
    – Em nhớ cha nên hàng năm phải về đây lặt lá cây mai. Nó đã thuộc về quyền sở hữu của nhà anh, nên em phải lén lút như vậy. Những năm cha em còn sống, ông thường gọi em ra phụ một tay lặt lá mai, khi Tết đến, hai cha con cùng đứng ngắm cây mai với lòng vui sướng tưởng không gì bằng…
    Hoàng Mai khóc thút thít. Tôi cũng nghẹn ngào trước tâm sự của cô gái xấu xí nhưng bên trong có một tâm hồn cao đẹp, một trái tim trong sáng đến tuyệt vời. Hai đứa tôi cùng lặt lá cho cây mai giữa đêm hôm khuya khoắt. Tôi hỏi:
    – Mai còn đi học chứ?
    – Học chứ, anh, em đang học lớp 10 ở trường ngoại thành. Cha em trong những ngày cuối đời nằm liệt giường vì chứng ho lao tai ác, đã căn dặn em không biết bao nhiêu lần: “Đừng bao giờ làm một người dốt. Và phải luôn luôn giúp đỡ cho người khác đừng bao giờ dốt!”. Em ghi nhớ lời cha răn dạy, đó cũng đúng là lời trăn trối quý báu, nên em quyết tâm học đến nơi đến chốn, sau này em sẽ theo học ngành sư phạm, mai sau nối nghiệp cha lãnh nhận thiên chức “trồng người”. Nếu khó khăn quá, em sẽ chọn con đường… xuất gia, vào chùa vừa được đi tu vừa được học, sau này thế nào cũng có dịp phụng sự chúng sanh bằng kiến thức và tình thương của mình, đó cũng là một ý nguyện của ba má em. Nhất quyết em sẽ không đầu hàng, em sẽ đi theo đến cùng dù cuộc sống gian truân vất vả!
    – Mai có thể sẽ trở thành nhà văn, hay thi sĩ không chừng, đừng có đi tu mà … uổng. Vì khi Mai nói chuyện, nghe rất văn chương, có câu cú, có vần điệu chẳng thua gì thi sĩ!
    Hoàng Mai tươi cười. Một nụ cười sáng rực trong đêm Xuân. Có lẽ Mai cười vì tôi đã nói một câu ngớ ngẩn “đi tu mà uổng”. Mà thiệt, tôi ngớ ngẩn quá, không hiểu con ma nào nhập mà khiến tôi buộc miệng nói ra cái câu vô duyên ngu muội đó, khi chính mình rất tôn kính những người đi theo con đường tu học chánh đạo. Mà đi tu cùng có thể trở thành nhà văn, nhà thơ được vậy, chứ có ai cấm cản? Hai đứa tôi chia tay nhau khi cây mai vàng trước ngõ không còn một chiếc lá trên thân…
    … Mùa xuân lại về. Tôi nôn nóng đến tối để gặp lại Hoàng Mai sau một năm trời không hề nhận một tin tức gì về cô bạn gái. Tôi ray rứt, tự trách mình đã vô tình không hỏi nơi ở của Hoàng Mai, để khi cần sẽ liên hệ. Đã đến ngày lặt lá cho cây mai rồi, tôi bỗng dưng nhớ Hoàng Mai kỳ lạ. Tối đến, tôi kê một chiếc bàn con trước thềm hiên, đặt hai chiếc ghế mây song song với nhau, trên bàn là bánh mức và hạt dưa, trà thơm và bánh mì thịt để ăn khuya. Tôi mở toang cửa để Hoàng Mai đi vào, khỏi phải leo trèo tường như mọi năm. Tất cả đang chờ Hoàng Mai đến. Tôi chờ, cây mai vàng đang chờ.
    Nhưng Hoàng Mai đã không đến.
    Thôi thì, cứ tin vào nhân duyên. Mọi sự trên đời đều do nhân quả cơ duyên, mà giáo lý của Phật đã nói có đến “thập nhị nhân duyên” lận kìa! Khi duyên lành hội đủ, ắt có ngày mình cũng gặp lại cô gái mang tên loài hoa mai vàng của rừng xa… tôi tự nhủ lòng mình như vậy cho đỡ tủi buồn. Một chút hi vọng sáng lên vẫn hay hơn là tối thui tối mò vô vọng và thất vọng.
    Đến mười hai giờ khuya, tôi buồn bã lê bước nặng nề đến bên cây mai. Tôi thở dài một hơi đánh sượt vào khuya vắng lặng. Và, một mình tôi bắt đầu lặt lá cho cây mai. Chỉ một mình tôi. Sương đẫm trên những chiếc lá nhỏ nhắn. Sương lạnh ngắt. Lòng tôi cũng lạnh buồn, lạnh đến tê buốt, buồn đến bần thần rã rượi. Có những giọt sương khuya từ đâu rơi xuống mặt tôi lại nóng hổi. Tôi đưa tay rờ rẫm, và biết rằng đó là những giọt nước mắt của chính mình. Tôi đã khóc. Kệ, khóc đuọc cứ việc khóc. Trong “thập nhị nhân duyên” có vô minh, có thọ, có xúc, có thỷu, có hữu, có ái, có gì gì nữa không nhớ hết nổi, bấy giờ tôi chỉ biết là tôi đang bị vô minh che lấp, đang thọ cái sự “ái biệt ly khổ” thì phải khóc chứ biết làm sao?
    Tôi khóc thật lặng lẽ. Và cây mai vàng cũng lặng lẽ như tự bao giờ…


  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • TRÚT BỎ OÁN THÙ



    Tôi và Huyền, đứa em gái thua tôi bốn tuổi, cùng lớn dần lên mang theo trong đầu những lời nhắc nhở răn đe của cha về một mối thù mà ông cho là không đội trời chung. Cho dù anh em tôi có cố gắng hết sức lục lọi, moi tìm trong ký ức của tuổi thơ nhạt nhòa xa xăm vẫn không sao nhớ, không sao thấy được một chút đỉnh manh mối, duyên cớ nào về mối hận thù giữa gia đình mình với gia đình chú thím Bằng.
    Trong cái trí nhớ tồi tệ của tôi chỉ hiện ra mơ hồ, mang máng cảnh chú Bằng đùng đùng cùng vợ con dọn gom đồ đạc rời khỏi ngôi nhà Từ đường mà cha tôi đang là trưởng nam, cháu đích tôn của ông nội, được hưởng cái quyền trông nom hương hỏa. Chỉ nhớ được bấy nhiêu, tôi không còn nhớ gì thêm được, vậy mà phải luôn luôn ghi nhớ trong đầu, ôm khư khư lấy trong lòng một mối hận thù ghê gớm và vô duyên thái thậm, đã vậy còn phải có nhiệm vụ nhắc nhở đứa em gái không được quên thù hằn như mình. Có như vậy thì cha mẹ mới vui lòng thỏa dạ. Phận làm con, ai không muốn làm cho cha mẹ vui, anh em tôi cũng vậy, bao giờ cũng tuân lệnh cha mẹ từ chuyện học đến chuyện chơi, và đến chuyện ứng xử với đời với người. Nhưng trong sâu lắng tận ngóc ngách của trái tim, tôi vẫn âm thầm nuôi dưỡng một sự bất bình, phản đối trước mối thù không đội trời chung mà mình mà phải miễn cưỡng ôm khiêng bao năm ròng… Nhiều khi hỏi dò, tôi cũng biết được cái tâm, cái bụng của Huyền rất giống mình, nó chẳng thích thú gì, chẳng hăm hở gì với cái trò hận thù căm ghét của cha mẹ đã huấn luyện, áp đặt cho cả hai anh em tôi từ thuở còn đủng đỉnh đi học cấp I phổ thông. Không thích, không ưa, nhưng không dám biểu lộ ra ngoài, hai anh em tôi đành chịu để cho mối hận thù an nhiên trú ngụ trong lòng mình, cứ như phải gách chịu một của nợ oái oăm bất đắc dĩ, hay một căn bệnh nan y tai ác luôn làm cho thân tâm bức rứt khó chịu. Một ao ước tầm thường nhất mà anh em tôi vẫn thường ngồi thủ thỉ với nhau, đó là vào một ngày trời tuyệt đẹp, trời êm ả, gia đình tôi cùng gia đình chú thím Bằng đoàn tụ, quây quần bên nhau với tiếng cười rộn rã, với những cái vỗ vai nắm tay thân thiết, cũng có thể là cùng khóc với nhau bằng sự cảm thông chia sẻ cay đắng... Nhưng, đó vẫn cứ là mộng mị chiêm bao, đôi khi còn là hoang tưởng.
    Đã nhiều lần tôi dò hỏi nơi mẹ về mối thù ghê gờm kia, nhưng chưa bao giờ tôi được nghe giải thích rõ ràng, đầy đủ từ đầu đến đuôi câu chuyện. Mẹ chỉ cho hay là đôi bên có xích mích cãi vã, chiến tranh lạnh kéo dài một thời gian, rồi đến ngày bùng nổ ẩu đả. Cha tôi còn đánh thím Thúy, vợ chú Bằng, trong cơn tức giận không còn tự chủ được. Chú Bằng bênh vợ, đánh lại anh trai, tức cha tôi. Rồi mẹ bênh cha, xách cây rượt đánh em chồng, để cho thím Thúy phải bênh chồng nhảy vô vào đánh cản người chị em bạn dâu... nhờ có hàng xóm can gián khuyên răn kịp thời nên không đổ máu, chỉ bầm mắt bầm thịt và vỡ hư vài vật dụng. Nhưng cái tình anh em huyết thống thì tan tành nát vụn ngay cuộc chiến. Chú thím Bằng phải dọn đi sống ở một căn nhà cho thuê, cũng ở chung đường, cách nhà Từ đường chừng trăm thước, sau này chú thím làm ăn khá giả nên mua luôn căn nhà ấy ở cho đến nay... Hỏi về lỗi, mẹ tôi ầm ừ cho hay “Anh em máu mủ, bà con ruột thịt mà để xảy ra đánh nhau thì không ai không có lỗi!”. Sau, tôi dò hỏi nơi cha mới biết đôi bên gây nhau chỉ vì “những chuyện vặt vãnh cỏn con của đàn bà”. Cái sai lầm lớn nhất của cha là đã không kềm chế được nóng giận trong khi tranh cãi, nên vung tay đánh em dâu để “trị tội hỗn hào”. Từ hành động vũ phu ấy, thay vì phải ứng đối với nhau bằng lời hay lẽ phải, bằng tình lý rạch ròi, một mối hận thù nở bung lên, vùng vẫy, và loang thấm vào tận máu xương. Trước khi cuốn gói rời khỏi ngôi nhà từ đường mà mình đã từng được sinh ra, lớn lên, hít thở chung một bầu không khí an lành với anh trai suốt mấy mươi năm trời, chú Bằng đã đập một cái chén kiểu vỡ tan ngay cổng ngõ, rồi buông lời thề độc địa cắt đứt tình huynh đệ, chỉ bước vào nhà từ đường lại khi cái chén lành lặn như cũ. Từ hôm ấy, chú Bằng cùng vợ con tuyệt giao với gia đình tôi. Hai bên đã không tìm cách giảng hòa, xóa bỏ chuyện cũ, mà càng ngày càng đào sâu thêm hố ngăn cách, luân phiên nhau bón phân tưới nước cho mối hận thù nẩy nở bung to lên, và rể ăn sâu bám chặt chằng chịt trong lòng người…
    Anh em tôi được nghe cha, rồi mẹ kể lại nhiều tình tiết thật xót xa, nhưng cũng thật buồn cười, trong chuyện hai nhà đối xử với nhau suốt mười năm qua. Một lần, nghe người trong xóm báo cho hay “vợ thằng Bằng lâm cơn bệnh thập tử nhất sinh, ảnh hưởng đến cái thai sáu tháng trong bụng mà không đủ tiền chạy chữa”, cha tôi đau cắt ruột, bèn hỏi ý mẹ, mẹ tôi phán một câu chắc nịch “cho mẹ con nó chết luôn, đâu có quan hệ huyết thống gì ?”. Cha ngủ không yên, giữa khuya lén mẹ đi thẳng đến nhà em trai, với xấp tiền mấy triệu đồng mới rút từ quỹ tiết kiệm khi chiều. Đứng trước cửa nhà em, cha tôi lưỡng lự thật lâu, sau cùng mới dám gõ cửa. Cửa mở. Và đóng sầm lại ngay trước mặt cha. Bên trong còn vang tiếng chửi thề quát đuổi của chú Bằng. Cha về kể thật cho mẹ nghe, mẹ đùng đùng đi băng trong đêm sương rét buốt, đến trước cửa nhà em chồng mà tru tréo mạt sát gần cả giờ đồng hồ. Vậy mà bên trong nhà im lìm, cửa đóng then cài kín bưng, không hề có một mảy may phản ứng. Cha tôi phải năn nỉ khản cả giọng, mẹ mới chịu buông tha, về nhà, ngủ một giấc đến sáng quên hết mọi chuyện vì cả cha lẫn mẹ chẳng ai muốn nhắc lại cái chuyện “vô duyên thúi” xảy ra hồi hôm. Lần khác, mẹ tôi bị xe tông té nặng, nằm viện trong trạng thái hôn mê cả tuần lễ, một mình cha tôi chạy đôn chạy đáo, loay hoay lo cho con cái, chăm sóc cho vợ đến phờ phạc hốc hác… Thím Thúy lò dò vào bệnh viện với một giỏ đầy sữa đầy cam, nhưng cứ đứng lặng lẽ trước cửa phòng không dám vào, mắt thì nhìn chăm chăm xuống… đất để chạy trốn cái nhìn rực lửa căm hờn của người anh chồng. Rồi thím phải lặng lẽ về như khi lặng lẽ đến, sau hơn nửa giờ chờ đợi được nghe tiếng mời của ông anh chồng. Hôm sau, thím lại vào bệnh viện, lần này có chồng đi kè kè một bên với hai giỏ xách nặng trĩu. Nhưng, cha tôi đã gầm lên, đuổi thẳng tay chửi thẳng miệng, hùng hổ hung hăng, làm cho vợ chồng chú Bằng quay lưng chạy ra khỏi bệnh viện như bị ma đuổi quỷ rượt…
    Cứ vậy, oán thù không được cởi, mà càng ngày bị buộc chặt thêm nhiều gút rối răm. Bên nào cũng có cục tự ái to đùng như trái đất. Trái đất đè bẹp cái tình thương, đè bẹp lòng nhân hậu tốt lành, đôi lúc tình thương và lòng nhân hậu đã cố ngoi lên, trồi lên được một cách khổ sở, yếu mềm, thoi thóp, rồi cũng phải tan biến vào hư vô. Nhiều người lớn tuổi trong xóm, cũng như bạn bè thân thiết của cả hai bên gia đình, đã nhiều lần đứng ra khuyên giải giảng hòa nhưng đều chào thua. Mối hận thù cứ vậy mà tăng trưởng, oán mới chồng lên oán cũ, thù sau đè lên thù trước, tưởng như không bao giờ được giải mở tiêu tan.
    Hai anh em tôi bất đắc dĩ phải “nối tiếp và phát huy truyền thống hận thù của cha mẹ”, chưa bao giờ dám đặt chân đến đứng trước của nhà chú tím Bằng, chứ đừng nói đến chi chuyện bước qua cửa để vào trong. Nhiều khi tình cờ giáp mặt với chú, với thím, ở giữa đường giữa chợ, anh em tôi cũng nào đâu dám ngó, cứ tìm lối né tránh cho yên. Có nhiều lần chú Bằng gặp tôi trên phố, khi thì đang dứng trước một sạp báo, khi thì vào chung một tiệm tạp hóa, tôi phải làm bộ không thấy chú để khỏi rắc rối, chú cũng chẳng nói năng hỏi han gì, chỉ bước lại đưa tay xoa đầu tôi thật mạnh, làm rối tung cả tóc, rồi… thôi. Những lần như vậy, tôi chờ chú đi thật xa, mới dám đứng nhìn theo với nước mắt lưng tròng. Nhỏ Huyền kể cho tôi nghe nó cũng được chú bằng xoa đầu, bẹo má mấy lần giữa chợ mà không nói nửa lời, làm nó sợ đến run cầm cập, rồi nó ứa nước mắt. Anh em tôi đều biết rằng chú Bằng chẳng thù ghét gì hai đứa cháu, mà còn thương là đằng khác, nhưng mối hận thù khủng khiếp lại hiện ra sừng sửng, che mờ phủ khuất mọi thứ tình cảm trên đời, nên anh em tôi không dám làm gì hơn ngoài sự lặng thinh không kể lại cho cha mẹ hay. Còn thím Thúy thì đã đôi lần níu áo kéo tay tôi ngoài chợ, kêu tôi vào ngồi ăn chè, uống nước với thím… cho vui, nhưng lần nào tôi cũng giảy nảy từ chối, nên những lần sau có lỡ gặp tôi, thím không còn níu kéo mời mọc gì nữa. Nhỏ Huyền kể rằng thím Thúy cũng thường hay cho nó khi thì kem, khi thì bánh mỗi lần gặp nó trước cổng trường giờ tan học. Con của thím, nhỏ Ngọc, bằng tuổi Huyền, cũng học chung trường nhưng khác lớp. Thím mua cho Ngọc thứ gì, thì mua mời Huyền ăn thứ ấy. Huyền lần đầu từ chối, nhưng sau vì thấy thím thật tình năn nỉ mình, nên phải nhận. Nhận cho thím vui, và nhận cho nhỏ Ngọc vui, vì Huyền nhìn thấy trong ánh mắt người em chú bác với mình luôn đầy ắp nỗi buồn, và rực lên hi vọng khi nhìn đăm đăm vào mắt Huyền. Nhận rồi, nhỏ Huyền lại không dám ăn, không phải vì sợ bị trúng độc, mà chỉ vì một duyên cớ mơ hồ không thể xác định được, nó đem trao cho đứa bạn khác ăn giùm mình, dĩ nhiên không cho thím Thúy thấy…
    Rồi, niên học mới, trời run rủi cho Huyền và Ngọc vào ngồi học chung lớp, ngồi bên nhau cùng bàn, trước còn giữ khoảng cách bằng giới hạn tình bạn bè, nhưng sau thì tình chị em con bác con chú đã vùng dậy dữ dội, mãnh liệt, quật ngã và xóa nhòa đi mọi thứ cấm kỵ khô khốc đã bao năm dựng thành rào chắn lạnh lùng giữa những con người có mang bên trong một trái tim rạo rực cùng một dòng máu. Hai đứa quấn quít, chung vai thích cánh bên nhau từ nhà đến trường, từ sân vào lớp, từ lớp về nhà… bất chấp những lời nhắc nhở răn đe của những người lớn cố chấp. Đã mấy lần nhỏ Huyền bị mẹ mắng rủa rát mặt bỏng mũi, đã mấy lần bị cha bộp tai thấy trăng sao nhảy múa, vì cái tội cả gan đi chung, gần gũi thân thiện với “con nhỏ con nhà mấy dạy” hoặc “cái con người dưng nước lã vô giáo dục bên nhà vợ chồng thằng cà chớn”. Nhưng nhỏ Huyền không ngán sợ, nó chấp nhận đòn roi và mắng chửi để đổi lấy những giờ phút vui tươi ấm áp bên người bạn thân thiết, và cũng là người em con chú con bác, có lẽ vì nó đã cảm nhận được, biết chắc được thứ nào quý hóa hơn, đáng giữ gìn hơn thứ nào… Thấy em gái mình chứng tỏ bản lĩnh, tôi nghiêng mình bái phục, và rồi cũng ăn theo, nhiều lần tạt qua trường em gái vào giờ chơi, để được trò chuyện thăm hỏi đứa em con ông chú. Chúng tôi đã gần gũi bên nhau, động viên khích lệ nhau đừng nhớ nghĩ đến mối hận thù của hai gia đình, mà phải dần hồi tìm mọi cách nối lại tình bà con huyết mạch đã đứt đoạn bao năm bởi những người lớn khư khư ôm cục tự ái to ầm. Anh em tôi đã lén cùng với nhỏ Ngọc đến nhà trẻ để thăm thằng Bính, em của Ngọc, cho nó biết anh em, nhận bà con. Thật là vui, thật là sướng và hào hứng, cứ như chúng tôi là những nhà thám hiểm đi tìm kiếm khám phá những điều mới mẻ, và cả những điều cũ kỹ vốn đã bị vùi lấp bởi bụi bặm rêu rong có tên gọi đáng ghét là Hận Thù. Chú Bằng bắt gặp chúng tôi vui vẻ bên nhau, ban đầu chú trợn mắt bĩu môi, nhưng những lần sau chú mỉm cười. Thím Thúy thì mừng ra mặt, hỏi han đủ chuyện, nhưng tuyệt đối không hề nhắc đến cha mẹ tôi bao giờ. Chú thím Bằng không có ý kiến gì, hình như cùng muốn “có sao cứ để vậy, tới đâu thì tới”, nên chúng tôi mạnh dạn tìm đến với nhau nhiều hơn trước…
    Cho đến một ngày, ngày mà tôi sẽ nhớ suốt đời không quên, chuyện như được ông Trời sắp đặt bài bố đã xảy đến. Vào buổi chiều tan học, Huyền và Ngọc sánh vai đi ra khỏi cổng trường, đến khúc cua vắng, bị hai thằng con trai chận lại để “xin đểu”, chúng dí dao hăm dọa, lột chiếc đồng hồ của nhỏ Ngọc, giật sợi dây chuyền của nhỏ Huyền, bứt luôn chiếc lắc vàng mà mẹ tôi đã làm quà cho nhỏ Huyền hôm sinh nhật của nó. Chưa hết, một thằng lục cặp lấy hết tiền của nhỏ Ngọc, lại giở trò sàm sở đòi hun với hít… Nhỏ Ngọc sợ đến phát run, cứ đứng ì ra không dám phản ứng. Nhưng nhỏ Huyền thì không nhẫn nhịn được nữa, dù con dao Thái Lan cán vàng của thằng kia đang còn dí vào bên hông mình, nó bất thần vung cái cặp táp nặng trịch vào mặt thằng dí dao, nhanh như cắt lại đập qua đầu thằng sàm sở đang uy hiếp nhỏ Ngọc. Rồi nó la toáng lên, kéo ta nhỏ Ngọc chạy băng ra giữa đường, nhằm lúc một chiếc xe gắn máy vừa ôm cua phóng vụt tới, nhỏ Ngọc vội ôm người Huyền kéo lại, hai đứa cũng ngã nhào xuống đất phía sát lề, tránh được một tai nạn hiểm nghèo. Chiếc xe thắng kít rợn người, người điều khiển xe nhảy vội xuống khi chưa biết rõ có chuyện gì đang xảy ra với hai cô nữ sinh. Nhỏ Ngọc chỉ về phía hai thằng lưu manh, thét lên “chú ơi… ăn cướp kìa! Mấy thằng đó…” hai thằng cô hồn lật đật co giò phóng chạy, mang theo luôn những thứ chúng “xin đểu”, chẳng ai chận bắt được. Khi hoàn hồn rồi, nhỏ Ngọc mới nhớ ra “em biết mặt một thằng, cái thằng dí dao vào chị, nó là anh ruột của thằng Tuấn lớp 9B”. Chuyện đến tai cha mẹ tôi, và đương nhiên bên chú thím Bằng cũng được rõ. Cha mẹ tôi bảo: “Mất của được người là quý rồi, thôi bỏ đi!”. Còn nhỏ Ngọc kể lại, chú thím Bằng bảo con: “Thí cô hồn cho tụi nó đi, đừng đụng tới cái lũ lưu manh đó, chúng có băng bè dữ tợn lắm, chúng mà trả thù thì… mệt!”. Người lớn hai bên nghe chuyện xong chỉ phát biểu bấy nhiêu, tuyệt nhiên không bàn luận gì về chuyện nhỏ Huyền bênh vực em, nhỏ Ngọc cứu nạn chị, chẳng khen cũng chẳng trách, nhưng chúng tôi biết tỏng bên trong của họ đều đang rúng động, ray rứt dữ dội lắm mà cố ghìm nén giấu che đi. Tôi nổi máu anh hùng, qua hôm sau, rủ thêm sáu đứa bạn cùng lớp cũng “mang máu anh hùng”, chuẩn bị đầy đủ khí giới phòng thân, kéo nhau đến lớp 9B để kéo cổ thằng Tuấn ra tra hỏi về anh nó. Thằng Tuấn sợ quá, ngoan ngỗn dẫn đám chúng tôi đi tìm thằng anh tên Ngọt, cùng đi theo “những anh hùng” còn có cả hai nhỏ Huyền và Ngọc. Thời may gặp hai thằng “xin đểu” đang ngồi uống cà phê ở quán cóc bên đường, trước một quán Bi-Da, đám “anh hùng” chúng tôi vây lại, đòi lại những gì đã mất hôm qua. Hai thằng lưu manh chửi thề, hỏi bằng chứng, nhân chứng với giọng xấc láo. Tôi sùng gan đấm vào mặt thằng Ngọt một cú thôi sơn bạt hải, nó bật ngửa ra sau, loạng choạng xém té. Ngay lập tức, đám bạn tôi nhập trận, hai thằng lưu manh ăn no đòn, chạy không kịp, vừa lết vừa la, vừa van xin vừa khóc lóc đến thảm hại. Khi các anh lớn bên trong quán Bi–da túa ra can gián, đám anh hùng chúng tôi mới buông tha kéo quân về với lòng hả hê thỏa mãn. Tưởng vậy là xong, không ngờ đến chạng vạng, tụi thằng Ngọt dò hỏi ra nhà tôi, kéo nguyên băng du đãng hung tợn với mã tấu dao lê, xích sắt, côn nhị khúc như trong phim võ Hồng Kông, vây trước nhà, réo rống lên đòi “trả nợ máu”, làm náo động cả xóm. Cha mẹ tôi run bần bật, đóng chặt cửa sắt, rút vào nhà trong. Bọn du đãng chửi rủa vang trời, đập cửa rầm rầm. Một hồi, bỗng nghe lao nhao bên ngoài, rồi tiếng nhảy tiếng chạy lịch bịch. Chừng năm phút sau, có người đập cửa, gọi: “Xong rồi, tụi nó biến hết rồi. Không sao đâu mở cửa đi… anh Hai ơi!”. Tôi và nhỏ Huyền trố mắt nhìn nhau, rồi cùng vụt chạy đến mở cửa. Không lầm vào đâu được nữa, chính là tiếng gọi của chú Bằng. Hai anh em chúng tôi mở toang hai cánh cửa sắt sang hai bên. Trước nhà, đứng thẳng và uy nghiêm như pho tượng, mắt đăm đăm nhìn vào bên trong nhà tôi là người em ruột của cha tôi. Cha tôi từ nhà trong bước ra, tiến về phía cửa, rồi đứng lại, bất động. Duy đôi mắt ông sáng quắc lên, long lanh, rực chiếu một niềm vui mừng xúc động. Chú Bằng vẫn đứng im, mắt nhìn anh ruột không chớp. Phía sau lưng chú là bà con lối xóm chen lấn nhau, xì xầm bàn tán, và rồi dường như cùng nín thở để chứng kiến “sự kiện lịch sử trong đời”. Chú Bằng tằng hắng một tiếng, rồi kêu lên: “Anh Hai! Tha lỗi cho em…”. Cha tôi chỉ chờ bấy nhiêu, bước liền ra khỏi cửa. Hai người ôm nhau, xiết nhau. Hận thù đã được trút bỏ ngay dưới chân họ, dưới chân hai anh em tôi, và kia, phía sau lưng chú Bằng đã thấy thím Thúy cùng hai đứa con hiện diện với tấm thân đều nhẹ tênh vì cũng vừa trút bỏ được hận thù. Mẹ tôi từ bên trong cũng bước ra, cất giọng rổn rảng: “Mời chú thím với mấy cháu vào nhà, sao còn đứng chi ngoài đó?”. Tôi cùng nhỏ Huyền nhảy ào ra đón hai đứa em trong nước mắt nghẹn ngào…
    Chú Bằng nghe người trong xóm báo tin có băng du đãng vây nhà tôi, chú vội chụp ngay cây rựa chẻ củi, một thân một mình hiên ngang đi giải vây cho “Kẻ thù không đội trời chung”. Bọn du đãng miệng hùm gan sứa gặp phải một ông trinh sát thứ thiệt, tuy đã xuất ngũ về vườn từ lâu nhưng vẫn còn phong độ, nên mới giao tranh thử mấy đòn đã hè nhau chạy thục mạng. Ghê gớm hơn nữa là phía sau chú Bằng còn có một đám bà con hậu thuẫn bằng gậy gộc lăm lăm, sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ an ninh xóm làng. Ai nấy đều vui vui mừng hả hê. Nhưng cái vui “đánh đuổi thắng giặc” cũng không bằng cái vui nhìn thấy tận mắt cảnh anh em trùng phùng, hận thù xóa bỏ, tình máu mủ ruột thịt giữa hai gia đình được gắn bó lành lặn lại sau nhiều năm nát tan dai dẳng. Cha tôi cười nói với chú thím Bằng: “Mấy năm qua, nhờ đi chùa nghe pháp Phật, nghiền ngẫm về Mười Điều Tâm Niệm trong kinh Luận Bảo Vương Tam Muội, anh mới ray rứt ăn năn sám hối, biết mình đã quá u mê. Oán thù nên cởi chớ không nên buộc. Cởi được thì nhẹ nhàng thanh thoát. Với người dưng ta còn phải vậy, huống chi là anh em máu mủ!”. Chú Bằng thẹn thùng: “Anh nói chí phải… Phật dạy biết bao điều hay lẽ phải, quan trọng là mình có chịu nghe nhớ và thực hành hay không thôi!”. Cha tôi gật gù, cười hiền hòa: “Nè, chén bể thì bỏ, mình chơi chén khác chớ hơi sức nào phải lượm nhặt và ghép từng mẫu vụn mảnh nát?”. Chú Bằng mắc cỡ đỏ mặt, đánh trống lãng: “Phải cảm ơn mấy đứa nhỏ, anh Hai à!”.
    Trong nhà chợt nghe mấy tiếng chuông ngân lên. Mẹ tôi đánh chuông đó.


  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • VÁN CỜ BÊN HIÊN CHÙA

    Anh Ba rủ tôi đi theo chơi, xem anh đánh cờ độ kiếm tiền về nhậu một trận xả láng với bạn bè ngày tất niên. Biết anh Ba nổi danh là kỳ thủû, bất khả chiến bại, đánh cờ lúc nào cũng chấp đối phương, khi thì chấp phaó mã, khi thì chấp ba nước tiên, khi chấp cả cặp xe, vậy mà vẫn thắng… Nhưng tôi từ chối không đi vì việc nhà quá bề bộn. Sau lại nghe anh cho biết, trận thư hùng trưa nay cá độ đến một triệu đồng, và địch thủ của anh là một tay cao cơ ø, vô địch xóm Cây Me, nên trận đấu sẽ rất gay cấn, chưa biết mèo nào cắn mĩu nào, tôi không thể bỏ qua cơ hội hy hữu này, phải trốn nhà mà đi theo anh…
    Trận thư hùng diễn ra bên vỉa hè của chùa sư nữ im ắng. Thỉnh thoảng nghe ngân vang một hồi chuông công phu trầm trầm, làm cho không khí như lắng chùng đi trong khoảnh khắc… Ngồi xem chung quanh có hơn mười người, cũng đều là dân mê ghiền cờ tướng, cá độ có máu mặt, nên rất biết tuân luật lệ, không ai dám mở miệng động môi. Hai đối thủ đánh đồng. Bốc thăm, anh Ba đi sau. Kỳ thủ vô địch xóm Cây Me, tên Sáu Mạt, đi trước khai cuộc với thế pháo đầu mã đội chằm hăm cung tướng đối phương. Căng thẳng. Sẽ đánh ba ván, ai thắng hai xem như bỏ túi một triệu đồng. Anh Ba thắng ván đầu chật vật. Ván thứ hai, Sáu Mạt tập trung ở chính diện, chơi liên hoàn ngoạ tâm pháo cực kỳ lợi hại, tấn công ào ạt và ráo riết. Anh Ba chống đỡ, phòng thủ mệt muốn đứt hơi, và sau cùng bị tan nát một cánh sĩ tượng, thế thủ tan vỡ, tướng xính vính phải nhờ hai xe rút về yểm trợ, lại phải đổi xe lấy pháo mã đối phương, bị mã tiền pháo hậu cánh bên kia chiếu bí. Hoà. Ván thứ ba gay cấn hơn lên. Anh Ba nổi máu quân tử Tàu, hùng hồn tuyên bố:
    - Nhất ngôn ký xuất tứ mã nan truy. Nếu ván này mà hoà thì xem như tui thua anh!
    - Được! -Sáu Mạt mừng rỡ – Có anh em làm chứng nhé. Đi đi!
    Anh Ba thua, được đi trước, không công mà thủ, rất cẩn trọng từng nước, không sơ hở, sẵn sàng mạng đổi mạng nếu đối phương xua quân qua sông. Trận ác chiến xảy ra, tiếng cờ gõ đầu nhau kêu cộp cộp liên hồi, chừng nửa giờ trôi qua, trên chiến địa ván gỗ sọc dọc kẽ ngang thấy chỉ còn lại năm quân cờ. Bên anh Ba còn một xe, pháo và tướng. Bên Sáu Mạt còn tướng với xe. Sáu Mạt cười, hô:
    - Hoà rồi. Lấy gì mà ăn nữa?
    Anh Ba mỉm cười:
    - Thiệt không?
    Sáu Mạt chắc nịch:
    - Hoà. Thua đi, cha nội!
    Đám chầu rìa chúng tôi ngậm câm như hến, nhưng bụng đều quyết chắc là anh Ba sẽ đâm xe chiếu cho tướng địch lên, đẩy pháo chui vào nằm dưới đít tướng, đuổi không cho xe giữ mặt tướng, rút xe về để chiếu bí. Thế cờ tàn “độc” này anh Ba chơi thắng nhiều lần, ai cũng kinh phục và ghi nhớ vào bộ não. Nhưng, anh Ba chưa kịp cầm cờ đi, chợt nghe một giọng con nít kêu lên:
    - Ba ơi… Má biểu con đi kêu ba về. Đem tiền về cho má lo mua gạo, mua mắm, trả nợ quán cho bà Năm Cú, chớ bả qua nhà chửi quá xá…
    Ai nấy đều ngước nhìn lên. Một thằng bé tuổi chừng mười hai, ăn mặc rách rưới, mặt mày lấm lem đang rơm rớm nhìn Sáu Mạt. Cuộc chơi đang hứng bỗng bị cắt ngang, cả tôi lẫn những người chầu rìa đều sừng sộ, trợn trừng lên ngó thằng bé. Sáu Mạt giận dữ:
    - Cút về đi! Để tao xong ván này đã. Đứng đó coi chừng tao vặn cổ chết cha mày bây giờ! Biến, biến ngay!
    Thằng bé hoảng sợ, lật đật cắm cổ chạy vù đi. Sáu Mạt nhìn anh Ba, hỏi:
    - Sao rồi? Chưa chịu hoà à? Hoà là thua. Thua thì chung đây cho rồi chớ còn nghĩ ngợi gì nữa kìa? Tui gia hạn cho anh đi mười nước nữa thôi đó!
    Anh Ba thở dài thậm thượt, đưa mắt nhìn tôi và những người khác, thoáng nhìn vào sân chùa, tay bóp những quân cờ, rồi ném cái xào xuống bàn ván gỗ, hô thật to dõng dạc:
    - Hoà rồi. Thua!
    Trước sự ngỡ ngàng sửng sốt của đám chầu rìa chúng tôi, anh Ba móc túi lấy ra xấp bạc một triệu đồng, trao cho Sáu Mạt, rồi đứng dậy ngay. Sáu Mạt không kịp cảm ơn, không kịp đếm lại tiền, nhét cả xấp vào túi quần, rồi hớn hở leo lên xe đạp phóng đi… Anh Ba cũng phủi đít, xoa hai bàn tay, rồi bỏ đi một lèo không nói một lời. Tôi chạy theo anh Ba, tức tối:
    - Ván đó sao hoà được, anh Ba?
    - Được chớ sao không? Thì hoà rồi đó!
    - Nhưng…
    Anh Ba vỗ vai tôi, cười khề khà, nói:
    - Đừng nói. Có nói thì tiền cũng đã vào túi người ta rồi…
    - Anh Ba chấp nhận hoà, chịu chung độ là vì…?
    - Nếu thắng, anh em tụi mình đi nhậu nhẹt cũng hết .Chi bằng cho mang về lo cho vợ con ba ngày Tết. Nếu thắng, ăn đồng tiền của nó cũng chẳng sướng ích gì, thôi thì chịu thua một keo, tối về ngủ ngon khỏi ác mộng. Ra Giêng sẽ tái đấu, lúc đó sẽ không nương tay nữa đâu. Thôi, cứ xem như mình đãi gia đình nó một chầu nhậu vậy. Đừng ấm ức nữa, chú em!
    Tôi bàng hoàng xúc động, đi bên anh mà cứ tưởng như đang song hành với một ngọn núi hùng vĩ, và cảm thấy mình nhỏ nhoi bé xíu bởi cái lòng dạ hẹp hòi của tục tử phàm phu. Anh Ba chợt phì cười, nói:
    - Còn một điều khiến tao tĩnh tâm lại chỉ trong một thời khắc chớp nhoáng, chắc là chú em cũng như những thằng ngồi quanh không ai hay biết…
    Tôi ngạc nhiên, tò mò:
    - Chuyện gì vậy anh Ba?
    - Đang lúc chuẩn bị kết thúc cuộc chiến, tao chợt linh cảm có ai đó đang nhìn mình chăm chăm, ngó vào sân chùa, tao thấy có… ni sư trụ trì đứng sát nơi cổng sắt từ khi nào, nhìn tao bằng ánh mắt hiền từ, và hình như đôi mắt đang nói lời thỉnh cầu tao tha cho đối thủ tội nghiệp kia. Vậy là sự hiếu thắng ngạo mạn trong tao bỗng tan biến đi, tao quyết định … nhường bước phen này!
    Tôi buột miệng:
    - Anh bao giờ cũng thắng. Thắng cả trong khi thua!
    Tôi tưởng tượng ra ngay được cảnh gia đình Sáu Mạt đang hí hửng vui mừng với số tiền thắng độ. Xài một triệu đồng của kỳ thủ vô địch, một đại cao thủ của làng cờ tướng, thì đúng là sướng thật. Quá sướng.


  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • VẾT THƯƠNG TIỀN KIẾP
    Thuý Lâm Synh


    Một buổi trưa, ánh nắng vàng chan hòa trải trên cánh đồng lúa xanh mơn mởn hai bên khúc đường mới nối từ phía nam Liên Sơn lên ngã ba Thành. Chiếc xe đò Thuận Thành đang bon bon thì có hai xe Jeep mui trần, chở đầy cảnh sát vừa mặc sắc phục, vừa xơ-vin rượt theo. Khi vừa qua mặt, bằng loa khuếch đại cảnh sát ra lệnh:

    “Tấp vào lề, tấp vào lề ngay”

    Khi chiếc xe đò dừng hẳn, các viên cảnh sát, tay cầm súng ngắn phóng xuống. Họ cùng nhào lên xe đò một cách vội vã, làm như thể tội phạm sẽ mọc cánh bay mất. Những gương mặt nghiêm trọng, gắn theo những đôi mắt sát khí. Một cảnh sát viên hỏi:

    “Trên xe nầy, có ai tên Dậu... Trần Dậu?”

    Trần Dậu tái mặt như người trúng gió, ấp úng:

    “Dạ! tờ..tờ.. tôi...”

    Cảnh sát đưa súng về hướng Trần Dậu ngoắc ra lệnh.

    “Mời anh xuống xe.”

    Trần Dậu run lên, dù chưa biết mình bị bắt về tội gì. Trong một thoáng rất nhanh, anh nghĩ ngay đến tấm chứng chỉ hoãn dịch vì lý do gia cảnh đang sử dụng - con một của gia đình có mẹ già trên 60 tuổi. Giấy thì là giấy thật, do Phòng Trưng Binh tiểu khu Quảng Nam cấp, được gia hạn mỗi năm. Chỉ có hoàn cảnh Trần Dậu dĩ nhiên không phải là con một mà gia đình có tới năm anh em trai, không mấy hòa thuận; khiến mỗi khi có việc cãi cọ, to tiếng với nhau hàng xóm có kẻ xấu mồm còn gọi là ngũ quỷ. Trần Dậu lạng quạng đi xuống xe, anh vấp phải gói hành lý suýt té vì hai tay đã bị còng phía sau. Một viên cảnh sát choàng tay vào nách đẩy Trần Dậu lên xe Jeep đang nổ máy.

    “Còn hành lý của tôi nữa ạ” – Trần Dậu nói.

    “Không mất đâu!” – Viên cảnh sát lớn tiếng.

    Một người trong nhóm cảnh sát nói với lơ xe:

    “Mầy leo lên mui tìm hành lý cho ông nầy”

    Lơ xe phóng lên mui, đưa mắt về chiếc xe Jeep có Trần Dậu, hắn giơ cao cái xách màu đỏ lên hỏi trổng:

    “Phải xách nầy không?”

    “Không phải” – Trần Dậu đáp.

    Lơ xe càm ràm một mình:

    “Mẹ...cả đống như thế nầy biết cái nào của thằng chả.”

    Thấy loay hoay mãi, Trần Dậu hướng mồm về cậu lơ xe nói lớn:

    “Cái xách màu xanh nước biển, bên ngoài có chữ trắng.”

    “Cái nầy chứ gì?”

    “Đúng rồi“

    Chuyền tay cho cái xách Trần Dậu xuống đất. Viên cảnh sát vội vã mở dây kéo, trong xách tay không thấy gì ngoài quần áo. Cảnh sát mò tay vào các túi áo quần, họ lấy ra tất cả trong đó có gói bạc ràng dây thun từ túi áo pilot mà Trần Dậu tin là Ngọc Loan đã nhét vào xách cho anh trước khi đi. Viên cảnh sát gục gật đầu như hài lòng với tang vật tìm thấy.

    Trần Dậu sau đó được đưa về ty cảnh sát Khánh Hòa để lấy khẩu cung và tạm giam. Cuộc điều tra được phối hợp chặt chẽ giữa ba cơ quan tư pháp cấp tỉnh, Quảng Nam - Bình Định và Khánh Hòa. Một bản cáo trạng được thành lập. ‘Trong phòng nạn nhân, dấu tay Trần Dậu được tìm thấy trên cuốn album có hình những ngôi nhà. Tay nắm cánh cửa chính, vẫn thấy dấu tay in trên ấy”. Tóm lại: Theo cuộc điều tra của cuộc cảnh sát Qui Nhơn và sở tư pháp Bình Ðịnh, thì Trần Dậu là người cùng đi ăn khuya với nạn nhân và cũng chính trong đêm ấy, Trần Dậu đã mưu sát để cướp của. Xấp tiền 500 ngàn có đính một vết máu của nạn nhân được lấy ra từ túi áo pilot Trần Dậu. Vì những tang vật và dấu vềt tại hiện trường, Trần Dậu trước vành móng ngựa đã không đường nào chối cãi. Ba tội trạng hi hữu là cái gai trong mắt trung tá chánh án Phan Duy Toàn, năm phụ thẩm nhìn nhau đều kết luận chính Trần Dậu là hung thủ. Bản án tử hình đang treo lơ lửng chờ ngày đưa cuộc đời Trần Dậu xuống tận đáy mồ.

    Trong quân lao Nha Trang, Trần Dậu được biết nơi đây có nhiều tay cô hồn các đẳng – đàn anh giới giang hồ, đâm thuê, chém mướn; nhưng có lẽ chẳng ai buồn tìm hiểu về gốc gác Trần Dậu. Một người sinh trưởng ở làng nhỏ nằm ở ngoại ô thành phố Đà Nẵng, Trần Dậu một thầu khoán có tài, năng động, bảnh trai. Không theo hết chương trình cao đẳng sư phạm, bỏ học, la cà, chè chén, đôi lúc còn gây phiền lòng cho 'hàng xóm cần sự yên tịnh nghỉ ngơi'. Thế nhưng, sau khi bị bắt lính mấy năm, đào ngũ, man khai công chứng thư, lấy vợ... Như chuột sa hũ nếp, vợ Trần Dậu là con nhà giàu, nhan sắc dưới trung bình nên học giỏi, thông minh. Của hồi môn đã tạo cho Trần Dậu một cơ ngơi bề thế, anh đã biết cách xoay xở, để trở nên một thầu khoán có tên tuổi sau những công trình xây cất. Mái ấm gia đình Trần Dậu gồm hai đứa con; một trai, một gái và người vợ ngoan, hiền, hết mực thương con, yêu chồng.

    Một ngày mùa thu chưa có chiếc lá vàng nào rụng năm 1973. Trần Dậu từ giã vợ con để về Sài Gòn thầu xây cất một cây cầu bắc ngang sông Biên Hòa trên Quốc Lộ Một; theo cáo thị đấu thầu của chính phủ mà anh đã nhận trước đó. Ngọc Loan, vợ Trần Dậu ưu tư đến bên chồng, thỏ thẻ:

    “Không hiểu tại sao, đêm qua em nằm mơ thấy anh trở về với mái tóc bạc phếu, em lo quá!”

    “Em lại đi tin những chuyện nhảm nhí ấy rồi”

    Mắt Ngọc Loan chớp nhanh, hai giọt lệ lăn xuống.

    “Quả tình em rất lo.”

    “Em an tâm. Ở nhà trông coi các con chu đáo, nhớ tưới mấy chậu phong lan cho đúng thời khóa biểu, xong việc anh về ngay. Nếu trúng thầu, anh sẽ đưa em và các con về Sài Gòn hoặc Thủ Đức ở.

    Sự lo âu vẫn bám theo trí Ngọc Loan, nàng tiếp:

    “Không những em chiêm bao một lần mà sau khi tỉnh giấc, em thấy còn sớm quá nên ngủ lại và vẫn thấy khi trở về, anh đưa tay dở mũ, đầu tóc anh bạc không còn sợi nào đen nữa”.

    “Thôi mà, hãy xếp đồ vào xách tay cho anh.”

    Ngọc Loan biết không ngăn cản được chồng, những gì Trần Dậu quyết định thường được coi là tối hậu. Nàng riu ríu vào trong xếp hành trang cho chồng.


    Chuyến xe đò Thuận Thành chật ních hành khách khởi hành rất sớm. Trần Dậu định sẽ nghỉ qua đêm tại Qui Nhơn nên chỉ mua vé đến đó. Lâu lắm rồi, từ khi bỏ cao đẳng sư phạm, trở về quê, vào lính, anh chưa hề trở lại nơi đây. Trần Dậu định bụng, thể nào khi đến Qui nhơn, anh cũng rủ vài người bạn cũ đi thưởng thức lại những món ăn bình dân, vốn một thời đã lôi kéo đám học sinh xa nhà. Anh nhớ bánh xèo Tăng Bạt Hổ, bún bò Bà Cam, quán cơm Bà Lâm Huế, Cafe Tùng, đặc biệt nhất là quán Chè Sư Phạm - nơi có cô Quý, chủ quán với cái răng khểnh thật cao ngạo đã một thời làm anh mê tít thò lò.

    Chiến trường bắc Bình Định lúc bấy giờ bắt đầu sôi động mạnh. Quãng đường Sa Huỳnh, Tam Quan, Bồng Sơn lở lói và nguy hiểm vì mìn nổ mỗi ngày. Xe đò thường thường bò theo những vết bánh xe nhà binh chạy mở đường trước. Sau gần cả ngày lúc mau lúc chậm, Trần Dậu tới bến Qui Nhơn trời đã tối, anh ta kêu xích lô chở thẳng đến khách sạn Thái Bình. Sau khi tắm rửa, Trần Dậu thấy đói nên xuống đường kiếm gì ăn khuya trước khi đi ngủ.

    Tại tiệm phở, Trần Dậu lại được làm quen với Lê Quốc Lâm, một tay thầu khoán khác đang hành nghề tại Hội An. Trần Dậu được biết Lâm đã đi cùng chuyến xe đò từ Đà Nẵng vào, lại cùng ở chung khách sạn, đối diện phòng Trần Dậu. Hai người mới quen, ngồi trao đổi với nhau về kinh nghiệm làm ăn cho đến khi quán phở đóng cửa. Họ cùng trở về khách sạn. Lâm mời Trần Dậu vào phòng, cho xem hình chụp những công trình đã hoàn tất, và một số công trình đang thực hiện. Sau đó Trần Dậu chia tay về phòng. Ðường xa mệt mỏi, Trần Dậu liệng mình lên giường là ngáy khò. Ngày hôm sau, Trần Dậu đón xích lô đi thăm mấy người bạn cũ. Họ mừng rỡ sau nhiều năm không gặp, không thư từ. Nhưng rồi nỗi buồn dấy lên khi Trần Dậu biết được một số bạn hữu sống ở Qui Nhơn vào quân ngũ và tử trận. Chiến tranh đã tàn phá dữ dội cả hai miền đất nước, biết bao người ra đi, đi mãi, không về. Buồn vui nào cũng qua, Trần Dậu chia tay các bạn, về lại khách sạn để sáng hôm sau lên đường sớm về Sài gòn.

    Tiếng kêu khô khan đâu đó của bản lề cửa sắt kéo Trần Dậu về thực tại. Bản án của Tòa Quân Sự vùng II đã kết tội trạng giết người cướp của mà Trần Dậu không hề biết đến. Hơn ai hết, anh biết mình bị hàm oan, nhưng không thể chối cãi bởi tang vật nằm trong xách tay của mình. Có một điều anh không hiểu được là xấp tiền Ngọc Loan nhét thêm vào xách tay cho anh, anh lấy bọc vào túi áo pilot lại có vết máu khô là thế nào? Tại Qui Nhơn anh không hề có ân oán giang hồ với ai, thì tại sao lại có người muốn hãm hại.


    Sau khi nghe tin chồng bị bắt, dù chưa rõ nguyên do nào, Ngọc Loan tức tốc dẫn hai con vào quân lao Nha Trang để thăm và tìm hiểu sự thật. Nơi đây, Ngọc Loan được biết, sở dĩ Trần Dậu bị chuyển từ Tòa Sơ Thẩm Khánh Hòa qua Tòa Án Quân Sự Vùng II vì Trần Dậu là một quân nhân đào ngũ. Không bỏ cuộc, Ngọc Loan đưa đến phòng tạm giam một luật sư tài giỏi của thành phố Nha Trang mà nàng đã tìm hiểu mấy ngày nay. Sau khi trao đổi với thân chủ và nghiên cứu tình huống, luật sư Bùi Văn Thụ lắc đầu, ông chép miệng nói với Ngọc Loan:

    “Tôi chỉ có thể cố gắng, trường hợp ông nhà, tôi không lấy gì bảo đảm.

    “Luật sư ráng giúp nhà tôi, tốn kém ra sao, ông cho tôi biết, tiền nong không thành vấn đề, tôi nghĩ chồng tôi không thể là kẻ giết người.”

    Luật sư Bùi Văn Thụ gật đầu chào nghi can, bắt tay Ngọc Loan, ông khuyên bà về nhà chờ ngày ra tòa.

    Quả nhiên danh bất hư truyền. Không biết bằng cách nào, ở giờ phút cuối cùng trong phiên xử, bên phía nạn nhân không có luật sư biện hộ, không ai chống án, chỉ có công tố viên mà thôi. Với kinh nghiệm cả nửa cuộc đời trong nghề luật sư, Bùi Văn Thụ xem các công tố viên không phải là đối thủ. Tài biện hộ của ông không phải chỉ nổi tiếng ở Nha Trang mà còn vang danh khắp Miền nam Việt Nam thời bấy giờ. Tội danh được thành lập, từ bản án tử hình xuống còn 25 năm tù giam. Trong đó có bao gồm các tội danh khác - man khai hộ tịch, quân nhân đào ngũ, sử dụng công chứng thư giã v.v...

    Quân Lao Nha Trang bỗng nhiên được cắt ổ khóa. Tù nhân tháo chạy tán loạn như ong vỡ tổ. Trần Dậu ngơ ngác hay tin thành phố đang bỏ ngõ mời đón địch quân tiến chiếm. “Lạ nhỉ. Quân đội hùng mạnh như thế, vũ khí tối tân như thế mà bỏ chạy trước khi giặc tới là thế nào?” – Trần Dậu tự hỏi như vậy. Thôi thì “vận nước đã đến rồi”. Đối với Trần Dậu thì đây là một điều may, bản án 25 năm mới thi hành hơn một năm. Lúc đầu Trần Dậu định bụng về quê tìm vợ và con, nhưng một cuộc nam tiến vĩ đại, những tuần lễ cuối tháng tư năm 1975 tại miền Trung là đường một chiều, tìm chiếc xe chạy ngược ra là chuyện lông rùa, sừng thỏ.

    Thế rồi Trần Dậu cũng chạy theo đám tù binh từ Quân Lao Nha Trang, đi bộ suốt đêm với hành trình ngót 60 cây số tới Đá Bạc Cam Ranh. Nơi đây, anh lại cũng theo sự lèo lái của các tay tổ băng Năm Vĩnh, lấy ghe dân chài chạy ra chiếc tàu hàng Pioneer Contender do Thủy Quân Lục Chiến Mỹ mướn đang neo ngoài khơi đón người tỵ nạn dự trù đưa vào Vũng Tàu.

    Thế nhưng, vì lý do an ninh, tàu Pioneer Contender và tất cả các tàu từ miền trung về không được cập bến Vũng Tàu mà trực chỉ đảo Phú Quốc theo lệnh của chính phủ Trần Thiện Khiêm. Vào trại tạm cư Phú quốc, Trần Dậu ra sức tìm manh mối người thân. Loa phóng thanh của trại ra rả cả ngày, những tụ điểm giấy dán kín mít. Có người may mắn tìm được thân nhân, mặt mày rạng rỡ, có người xuýt xoa thở vắn than dài, mặt hốc hác buồn xo như hoàn cảnh Trần Dậu.

    Nhưng chịu đựng không được bao lâu, Trần Dậu nhớ vợ con, chàng chui ra khỏi trại tạm cư An Thới, qua Dương Đông mướn tàu máy để về Rạch Giá. Lặn lội về tới Sài Gòn thì đã nghe tình hình chiến sự càng phức tạp. Cộng quân đã vây hãm thủ đô, những chống trả lấy lệ của Sài Gòn không đủ cản ngăn được khí thế tiến quân của bắc phương. Chính phủ Dương Văn Minh phải ra một thông cáo thừa thãi “Yêu cầu những người Mỹ phục vụ trong cơ quan DAO (Defence Attached Office) phải lập tức ra khỏi lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa trong vòng 24 giờ”. Thật ra, người Mỹ đã có ý rút ra khỏi cuộc chiến từ thỏa ước 27 tháng 1 năm 1973. Thỏa ước nầy VNCH coi như hoàn toàn thất thế, chiến cụ chỉ được thay thế khi bị hư hỏng hoàn toàn (piece by piece program). Và với làn sóng phản chiến cao độ của nhân dân, quốc hội Mỹ không thuận chi thêm 300 triệu, khiến VNCH rơi nhanh xuống triền như viên đá cuội.

    Khi Miền Nam hoàn toàn đổi chủ, giao thông còn khó khăn, thế mà Trần Dậu vẫn tìm về tới Đà Nẵng. Xa xa, ngôi biệt thự ẩn hiện dưới cơn nắng như đổ lửa mùa hè; mồ hôi, bụi đường đã làm cho chiếc áo trắng trên người Trần Dậu trở nên màu huyết, toát mùi chua loét. ‘Về mái nhà xưa’ nay đã biến thành văn phòng hành chánh lâm thời xã. Hỏi thăm láng giềng, người ta cho biết Ngọc Loan cùng hai con đã đi đâu từ tháng ba không hề trở lại. Trần Dậu uể oải lội bộ về thăm mẹ, và người anh kế, hai anh em tay bắt mặt mừng, nhưng người anh thở dài xụi mặt:

    “Nghe chú mầy ở tù, mấy anh em định làm một chuyến vào thăm, nhưng hẹn mãi vì hoàn cảnh đứa nào cũng gặp khó khăn. Thím cũng tệ, nó có cho ai hay đâu. Cho đến khi bà già ngã bệnh, thím mới nói thì lúc đó đi lại đã khó khăn rồi. Má cũng mãn phần chôn kế bên mộ ông già.”

    Trần Dậu đến thắp nhang trước bàn thờ mẹ, cùng các anh đi viếng mộ phần. Sau bữa cơm thanh đạm, Trần Dậu chia tay các anh, chàng quyết định lao cuộc đời vào nơi vô định. Thật ra chuyến xuôi nam lần nầy, Trần Dậu hoàn toàn không biết chủ đích.

    Khi xe đi ngang ngã ba Phú Tài, anh chợt nhớ đến Qui Nhơn, nhớ rất rõ việc mình bị hàm oan giết người. Tại sao lại có những oan khiên như thế? Thủ phạm là ai? Luật công bằng đang nằm ở đâu? Nhưng giá như miền nam không đổi chủ thì Trần Dậu có lẽ phải ngồi bóc thêm hơn 23 cuốn lịch. Với anh thì đây là dịp may hiếm có, nhưng may mắn đó không đánh đổi hoàn cảnh khi được tự do về đến nhà mà vợ con không tìm thấy. Nhất là vợ anh, Ngọc Loan có thể còn nghĩ anh là kẻ giết người. Bằng chứng là khi Ngọc Loan vào thăm nuôi, những giải thích của Trần Dậu đã không hề tìm được sự thông cảm nào trên gương mặt của nàng mà trái lại trong đôi mắt ấy vẫn toát ra vẻ nghi ngờ, khinh miệt. Đó chính là động cơ thúc đẩy anh la cà nơi thành phố mới đổi tên để hi vọng một ngày nào đó tìm được vợ và con và một lời giải thích.

    Ngày ngày đạp xích lô, ăn uống qua loa ngoài đường, đêm về Trần Dậu tá túc tại chùa Thiên Sơn ở quận Bình Thạnh. Thầy Thích Tâm Tựu trụ trì ngôi chùa thỉnh thoảng lại có khóa giảng kinh, pháp cho thính chúng. Cả ngày đạp xe mỏi mệt, khi về Trần Dậu chỉ có đủ giờ tắm rửa và leo lên giường. Thế nhưng chỗ nằm của Trần Dậu lại sát vách với chánh điện nên lâu dần tai chàng cũng nghe được lời kinh tiếng kệ, những gì thầy giảng; do đó cũng xâm nhập ít nhiều. Dần dần, Trần Dậu tìm ra sự an lạc trong tinh thần. So với trước kia anh không hề để tâm đến tôn giáo, quan niệm lễ lạy, thờ cúng theo Trần Dậu là một cái gì phảng phất mê tín.

    Những lúc không có khách, Trần Dậu thường đẩy chiếc xích lô đến dưới bóng của tàng cây bàng, nằm trên ghế đọc những bài kinh đơn giản, ngắn mà chàng mượn trong tủ sách nhà chùa. Đặc biệt quyển sách nhỏ “Đạo Phật Đi Vào Cuộc Đời” đã làm cho Trần Dậu thay đổi tư duy. Té ra đạo Phật nó len lỏi trong công việc hàng ngày, nó tìm ẩn trong sinh hoạt bình thường như đi, đứng, nằm, ngồi, nói năng, suy nghĩ...Tâm an lạc thường gắn liền với lòng vị tha. Thân an lạc đi đôi với sự hạn chế đua đòi, tập buông xả... Đang nằm lim dim, Trần Dậu giật bắn người choàng tỉnh, một ông khách hơ hải, máu chảy thấm xuống ướt hai ống quần, xuống tới bàn chân.

    “Đi bệnh viện hả?”- Trần Dậu hỏi.

    “Ừ, ông chở tôi tới bệnh viện để may vết thương, đ.m. nó lụi tui bằng cây sắt, đau quá...”

    “Lên xe mau đi, máu me ra ướt nhẹp, coi chừng ông qua đời bây giờ.”

    Sực nhớ tới bệnh viện Nguyễn Văn Học, Trần Dậu rướn người đạp thục mạng đưa nạn nhân đến đó. Đẩy thẳng xích lô vào sân, leo xuống, thấy người kia quẹo đầu qua một bên, làm Trần Dậu hốt hoảng kêu:

    “Ông ơi! Ông có sao không?”

    Không nghe trả lời, Trần Dậu choàng tay sau lưng ôm xốc người kia chạy vào đặt ngồi trên chiếc ghế ở phòng cấp cứu, gọi lớn:

    “Có bác sĩ không, mau ra cứu người“

    Từ trong phòng nào đó có tiếng vọng.

    “Chờ chút”

    “Người ta sắp chết, còn chờ”

    Đến lượt cô y tá há mồm:

    “Sao vậy?”

    “Bị đâm”

    Cô y tá phóng vô trong rồi đẩy ra chiếc giường có bánh xe. Cô ra dấu cho Trần Dậu ôm nạn nhân đặt lên giường. Đoạn cô đẩy vào phòng cấp cứu có kéo tấm màn vải màu xanh lơ. Trong phòng cấp cứu, hai vị bác sĩ và mấy người y tá loay hoay làm việc. Nghe nói không có tiền trước hoặc biết không có tiền, bệnh viện không chịu cứu, có lẽ chỉ đúng một phần. Có tiếng vọng ra ‘Ông nầy không băng bó, chắc tiêu’

    Khoảng gần nửa giờ sau, Trần Dậu thấy nạn nhân được chuyền nước và đẩy đi. Khi ngang chỗ Trần Dậu ngồi, cô y tá lúc nãy ghé tai Trần Dậu:

    “Đưa người nhà ông đi chụp hình, bác sĩ nói thận có thể bị thương”

    Trần Dậu ngồi thừ người nhìn theo, bụng đang đói cồn cào vì từ sáng đến giờ anh chỉ có gói xôi lót dạ. Trần Dậu đang nhón người đứng dậy định chạy ra ngoài kiếm gì ăn thì một vị bác sĩ ngoắt anh đến hỏi:

    “Anh máu gì?”

    “Không nhớ rõ” – Trần Dậu nhún vai trả lời.

    Bác sĩ nói:

    Anh phải giúp người nhà anh, hai quả thận anh ấy bị nát bấy, không chữa được.

    “Bao nhiêu tiền?” – Trần Dậu hỏi.

    “Tiền không giải quyết gì được, anh phải cho một trái thận”

    Trần Dậu như người trúng gió, ấp úng hỏi một câu vô nghĩa:

    “Rồi tôi còn sống không?”

    Vị bác sĩ mỉm cười đáp:

    “Con người chỉ cần một trái thận là đủ, nếu anh đồng ý cho đi một trái thì chúng tôi xét nghiệm xem máu anh có cùng loại với người nhà anh hay không và dĩ nhiên cũng phải biết anh có mắc bệnh gì không đã.”

    Sau vài giây suy nghĩ, Tiếng nói trầm ấm của thầy Tâm Tựu chợt vọng về trong trí Trần Dậu ‘Làm được việc gì cho người khác cứ làm, đừng bao giờ hỏi người đó là ai, đừng mong cầu sự trả công vì, mong như thế mất đi ý nghĩa bố thí’.

    “Được, tôi đồng ý, các ông cứ lấy máu tôi mà xét”

    Bác sĩ ra lệnh cho y tá dẫn Trần Dậu đến phòng thí nghiệm. Sau khi lấy mấy ống máu đem đi. Trần Dậu nghĩ lại sự quyết định vội vã của mình, anh muốn chạy theo xin hủy bỏ, nhưng đít anh vẫn như có keo không chịu rời khỏi ghế, tư tưởng lúc nầy giằng co dữ dội. Mấy phút sau, y tá trở lại cho hay Trần Dậu có loại máu O, cùng loại với nạn nhân. Trần Dậu nhắm mắt ‘âu đó cũng là dịp đầu tiên trong đời anh làm phúc giúp người’.

    Thế là hai cuộc giải phẫu xảy ra cùng lúc. Một toán bác sĩ giỏi trước năm 75 của bệnh viện Vì Dân được điều động đến trợ giúp. Một trái thận của Trần Dậu được cắt sẵn sàn thay vào vị trí sau khi hai trái thận hư của nạn nhân vứt đi. Trước khi đánh thuốc mê, Trần Dậu không quên nhờ y tá báo về chùa cho thầy Tâm Tựu hay là anh ta không về được vì phải ở bệnh viện săn sóc một người bạn, đồng thời nhờ nhân viên bảo vệ bệnh viện đẩy chiếc xích lô vào trong cất giùm.

    Ánh nắng ban mai sáng trưng đã lùa vào phòng, hai chiếc giường kê sát nhau chỉ cách một người đi. Cô y tá chừng 20 tuổi, mặc blouse trắng đến bên giường hỏi:

    “Các anh có người nuôi không? Hôm qua nay chẳng thấy ai vào thăm?”

    Trần Dậu lắc đầu, nói giọng yếu ớt:

    “Tôi thì không có ai nuôi, không biết anh ấy có ai không?”

    “Hai người là bạn nhau mà, sao không biết!”

    “Ảnh bị thương, máu me đầy người, tôi đạp xích lô chở ảnh vào bệnh viện, ảnh bị nát hai trái thận, bác sĩ đề nghị tôi cho bớt một trái, tôi đồng ý.”

    Cô y tá đưa tay đỡ ngực buột miệng:

    “Mô Phật, hai người không quen biết nhau, sao ông lại tử tế quá vậy”

    “Tôi không biết” – Trần Dậu nhún vai.

    “Bệnh viện phí ai chịu?”

    Thay vì trả lời, Trần Dậu hỏi lại cô y tá:

    “Bệnh viện phí có đắt lắm không cô?”

    Người kia nãy giờ nghe tất cả, thuốc mê giảm dần tác dụng. Anh ta cảm động vô cùng bởi nghĩa cử cao đẹp của anh phu xích lô, người đã ra tay cứu anh thoát chết.

    Khi y tá ra khỏi phòng, người nhận thận nói:

    “Anh ơi! Tôi Trương Vịnh, anh là ân nhân đã cứu tôi thoát chết, anh cho tôi trái thận, suốt đời nầy tôi nguyện làm bất cứ điều gì để tạ ơn anh”.

    “Anh làm gì mà người ta lụi anh như thế?”

    “Tôi bán chiếc xe gắn máy triệu hai, tụi nó vừa xem thẻ chủ quyền, thử xe và cướp luôn không chồng tiền. Tôi rượt theo đòi lại, hai thằng khác trong hẻm nhào ra đánh tôi. Một thằng dùng cây sắt có đầu nhọn lụi vào người tôi lủng ruột, đau quá tôi chạy tới cầu cứu với anh, rồi sau đó xỉu luôn, đâu còn biết gì.’

    Không biết thật hư, Trần Dậu nói đưa theo:

    “Ở đời, đôi lúc tai bay họa gởi. Nhiều khi gió mình đã gieo từ lúc nào, bây giờ bão nó đến đành phải gặt.”

    “Anh đang đi tu phải không?”

    “Tu mẹ gì được, tá túc bên hiên chùa, nghe mấy thầy giảng, nhai lại vài điều cho có mùi tương chao.”

    Trương Vịnh kéo tấm chăn đắp phủ mặt vì hình như hắn đang bị sốt, giọng nói run run:

    “Có thể đúng như thế anh ạ. Từ năm 74 cho đến nay, đời tôi luôn luôn bị ám ảnh bởi hành động sát nhân. Dù tôi sống ngoài vòng pháp luật, nhưng lương tâm tôi không phút nào yên ổn. Tôi cố đi tìm người đã lãnh án thế cho tôi để chuộc lại tội lỗi và giải oan cho người đó.”

    “Chuyện đã mười năm, hơi đâu anh bận tâm”

    “Đồng ý là chuyện cũ, nhưng việc đổ oan cho người ta lòng tôi không chịu được.”

    “Anh có biết người đó hiện ở đâu không?”

    “Trước năm 1975, nghe anh ấy bị tù, nhưng sau đó 'quân cách mạng' mở thả hết tù, anh ấy đi về đâu không biết.”

    “Làm sao anh có thể đổ tội cho người khác dễ dàng như vậy mà cảnh sát không điều tra được.”

    “Câu chuyện dài dòng lắm. Lùi lại mười năm trước, chuyện tôi còn nhớ rõ như in thế nầy. Lúc ấy tôi còn trẻ, lại cần tiền để cung phụng cô bạn gái vốn là một ca sĩ. Từ Hội An, tôi theo dõi một nhà thầu khoán mới rút tiền ra từ Việt Nam Thương Tín. Trên xe đò, tôi ngồi sát bên hắn nhưng không làm gì được. Hắn vào trọ tại phòng 216 khách sạn Thái Bình ở Qui Nhơn. Khi hắn xuống đường ăn tối, tôi vào văn phòng quản lý giả làm người mướn bỏ quên bóp giấy tờ bên trong. Người quản lý cho thằng bé lên mở cửa. Vào trong tôi tròng đôi găng tay, ra sức lục lạo trong tủ áo, dưới nệm giường nhưng chẳng thấy tiền nong đâu. Tôi đoán ông ấy đang giữ tiền trong người nên nấp dưới gầm giường chờ về. Khi hắn về, không thay đồ ngủ, hắn gieo người lên giường một lát là ngáy khò. Đến khuya, tôi nhẹ nhàng trườn mình ra, định uy hiếp lấy ít tiền, không ngờ hắn chống cự mãnh liệt, tôi hoảng quá đâm túi bụi, hắn ngã quỵ xuống sàn. Khóa trái cửa bước ra, tôi nghe tiếng động ở những phòng cuối dãy, lại thấy cửa phòng đối diện chỉ khép hờ tôi nghiêng mình lẻn vào. Ánh đèn ngủ mờ mờ, nhưng vẫn đủ sáng để cho tôi nhét xấp bạc lẻ vào túi xách tay. Tôi tính lẻn ra về, nhưng cửa chính khách sạn đã khóa, tôi đi ngược lên phía hành lang ngồi run lập cập chờ qua đêm. Thấy trời hừng sáng, dưới lề đường, tiếng chổi lao công quét sột soạt, tôi lặng lẽ ra bến xe, đi tài nhất về lại Hội An. Ngồi trên xe, tôi hí hửng vì đã thực hiện việc dự định nhưng cùng lúc tôi rất hối hận vì sợ ông ấy chết luôn.”

    Trần Dậu không đủ can đảm nghe hết những câu cuối của Trương Vịnh, hai tai anh lùng bùng, vết thương nơi bụng đau lên, dường như nó đang bắt đầu rướm máu; anh cố ngồi dậy để nhào qua bóp cổ tên vô lại. Mặt Trần Dậu nóng bừng như lửa đốt, gan sôi lên, cổ họng nghẹn cứng, anh tung chăn xoay người toan ngồi dậy, vết thương một lần nữa bỗng đau nhéo lên từng hồi như cố ghì thân hình anh lại. Cùng lúc đó tai anh lại nghe vọng về âm thanh của Thầy Tâm Tựu ‘Nhân quả là một định luật bất biến, cái quả ta nhận hôm nay có thể là nhân đã tạo từ kiếp nào. Người không rõ luật nhân quả sẽ dễ dàng gây nên nên tội ác’. Trần Dậu bàng hoàng, mồ hôi tuôn ra như tắm, anh nhìn qua giường bên cạnh, Trương Vịnh nằm phủ đầu bằng tấm ra trắng úa màu như một tử thi, tiếng rên khe khẽ của hắn vang lên.


    Thủy Lâm Synh
    Mar. 9, 2007

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • CON CHÓ VÀ CHIẾC ÁO DA
    Thủy lâm Synh


    Khi về đến nhà, trời nhá nhem tối. Ánh đèn tự động ngoài hiên đã bật lên lúc nào rồi. Một đống máu khô, đen sậm trước cửa dội vào mắt làm tôi giật bắn người. Vết máu kéo lê đến cửa garage, hình như vào tận bên trong thì phải? “Quái, như vậy nhà chứa xe của tôi có người chết đang nằm trong ấy ư?”

    Người tôi run lên, phản ứng ban đầu là một án mạng mà tôi là người liên đới chịu trách nhiệm, hoặc ít nhất cũng đang xảy ra ngay trong căn hộ của tôi. Tôi không có can đảm vào garage mà gọi ngay số 911. Không đầy 10 phút, tiếng còi xe cảnh sát, xe cứu thương, xe chữa lửa đã ré lên đâu đó mỗi lúc một gần. Những chiếc đèn xanh, đỏ nhấp nháy làm sáng rực cả một góc đường, tắt nghẽn lối đi. Những người hàng xóm hiếu kỳ cũng ra trước sân cặp tay sau đít đưa mắt về hướng nhà tôi xem thử. Trước và nhanh nhất là hai người cảnh sát mở cửa xe lao về sân garage - nơi tôi đang đứng xớ rớ chờ đợi những câu hỏi đơn giản - Ông là ai? Chuyện gì xảy ra? Tại đâu? v.v...

    Lúc bây giờ cánh cửa garage đã đẩy lên, đồ đạt ngổn ngang từ lúc dọn về đây chưa có dịp mở ra, chúng đã che khuất một phần ánh sáng của bóng đèn 40W đang treo trên trần nơi có máy mở gagare tự động. Tôi từng nghe chỉ có khoảng 7% cảnh sát viên ở Mỹ có thiện chí làm việc, còn 93% khác rất sợ chết và làm việc lấy lệ để lãnh lương nay tôi mới chứng kiến. Tướng người nào cũng oai vệ ra phết. Ngoài chiếc súng ngắn sệ xuống một bên trái dây nịt, còn những dùi cui và huy hiệu bằng kẽm sáng rực nhưng lại cứ đứng ngoài cửa rọi đèn pin, chẳng chịu vào trong. Tôi đưa mắt theo ánh đèn pin quét lần theo vết máu từ cửa garage đến góc. Con chó nhà tôi nằm chết dưới chân chiếc áo lạnh đen lông gấu mà vợ chồng tôi đã mua tặng má tôi nhân sinh nhật Người năm ngoái. Tôi nhào tới đưa tay sờ vào người con chó mà nước mắt tự dưng tuôn trào. Tôi chỉ thốt lên được một câu:

    “Noah! Sao mi chết tức tưởi như thế nầy?”

    Máu từ mồm con chó tuôn ra đã khô, toàn thân không thấy vết thương gì cả. Cảnh sát bảo tôi dang ra cho họ làm việc. Vâng, thì tôi dang ra cho mấy ông trời nầy đưa ngay con chó lên xe cấp cứu. Vấn đề là tôi đã giết con chó thân yêu của tôi, rồi lôi vào garage trước khi gọi cảnh sát. Đó là nghi vấn đầu tiên của cảnh sát, nên họ đã không ngần ngại hỏi tôi đủ thứ chuyện. Cho đến khi sự xét nghiệm căn bản chứng tỏ vết máu chưa thật sự khô quánh cho tạm một kết quả - con Noah tôi chết khoảng trưa, nghĩa là lúc ấy tôi còn đang tại sở làm. Nhưng ai biết tôi đi làm thì đó là chuyện khác.

    “Ai đã giết con chó thân yêu của tôi?” Chưa nói đến những chi tiết rắc rối về tiêu chuẩn dành cho súc vật, trẻ con và đàn bà ở cái xứ nầy khiến cho ‘người di tản buồn’ như tôi phải đối diện trong một tương lai rất gần. Mỹ có thể đem hàng chục tấn bom rải lên đầu thường dân vô tội ở các nước nhược tiểu họ xâm lăng thì không sao, nhưng giết một con vật, dù là vật ăn thịt cũng không thể chặt đầu, mổ bụng khơi khơi trước sân nhà mình bởi như thế nó tàn nhẫn lắm. Qua trận bão Katrina tại New Orlean, chúng ta thấy đậm nét hơn chính sách kỳ thị người da màu của Mỹ. Tuy được cải thiện, nhưng họ vẫn sống nghèo nàn đến độ không có phương tiện di chuyển theo làn sóng di dân. Tóm lại dân da màu như tôi hẳn nhiên sẽ bị những hệ lụy về vụ ‘chó chết’ là cái chắc.

    Nhưng đó là chuyện không cần bàn tới bây giờ. Ai là thủ phạm giết con Noah nhà tôi? giết để làm gì? tại sao lôi vào trong garage? Ai có chìa khóa? Tất cả những câu hỏi thường thức ấy đã đẩy tôi vào khám một ngày với tiền thế chân tại ngoại 500 đô vì cái tội không biết bảo quản súc vật. Chẳng lẽ tôi phải mướn một cô vú để trông coi con chó? Hừm. Tôi đâu có giàu sang như thế! Điều thương tiếc nhất là con Noah không còn trên cõi đời nầy đã làm nhiều đêm tôi không ngủ được. Về tình cảm thì Noah chết, tôi như mất đi một người bạn thân thiết trong nhà. Tôi sống một mình, và có thói quen ngồi nửa giờ trước khi đi ngủ. Nếu ai bảo đó là thiền hoặc tĩnh tâm thì tôi cũng không cãi lại bởi tôi không rõ ý nghĩa việc tôi ngồi theo dõi hơi thở như thế gọi là gì cho đúng. Tôi là một tín đồ Tin Lành, thường nghe những vị mục sư giảng rằng bất cứ phương pháp tu hành nào của tôn giáo khác đều là tà đạo cả. Tuy thế, nhìn những người theo Thiền Sư Nhất Hạnh, tôi không nghĩ là lời phát biểu của mục sư Phạm là chính xác bởi trong tăng đoàn có đến gần một phần ba nguyên không phải là tín đồ Phật Giáo. Không cần biết các ông ấy nói cái gì, tôi chỉ biết trong thời gian nửa giờ ngồi yên lặng ấy tinh thần tôi rất phấn chấn, đầu óc tôi minh mẫn lạ thường. Đó là chưa kể đến những bệnh lặt vặt tôi thường có trước đây cũng hết, hoặc ít nhất không xuất hiện nữa. Nhưng chuyện của tôi không phải nằm ở vấn đề đó mà là chuyện con Noah ngoan hiền đã về bên kia thế giới.

    Nhớ lại những khi tôi ngồi yên lặng, con Noah ngoan ngỗn đến nằm ngay ngắn, đầu nó gối lên hai chân trước và cũng yên lặng như tôi, nó không lăng xăng như những ngày đầu. Từ ngày nó được ba tháng tuổi, tôi xin nó về từ nhà của người bạn. Tôi đặt tên cho nó là Noah cho dễ kêu. Tôi có thói quen ăn rau nhiều hơn ăn thịt. Noah của tôi cũng thế, nó làm biếng ăn đồ hộp mà lại thích ăn cơm trắng và đồ tươi rau cải do tôi nấu. Nó không nói nhưng tôi nghĩ rằng nó hiểu tôi rất nhiều, hiểu hơn tôi nghĩ về nó. Ngoài thời gian đi làm, tôi và Noah thường đi chơi, nói huyên thuyên dù rất một chiều. Tôi đã tập cho Noah dùng nhà cầu một cách thành công, lẽ dĩ nhiên sau khi dùng, bổn phận tôi phải giội nước. Thông lệ trước khi đi làm, tôi uống một ly cà phê nhạt. Tôi không bao giờ quên sang cho Noah một tí vào đĩa. Lúc đầu, tôi thấy Noah liếm vài cái rồi ngừng nhìn tôi như thầm bảo rằng: ‘cái gì đắng thế?’ Nhưng dần dần, dường như nó sợ tôi phật ý nên lại liếm cho hết. Ít ngày sau, Noah quen dần hương vị và tôi thấy nó cũng liếm với vẻ khoan khoái bởi cái đuôi vẫy liên tục suốt thời gian thưởng thức. Và cũng từ suy nghĩ ấy nên bất cứ khi tôi ăn món gì tôi cũng chia cho Noah một tí, ngoại trừ trưa tôi ăn tại chỗ làm thì tôi chuẩn bị cho Noah đĩa thức ăn nấu ngày hôm trước. Tôi cũng có thói quen ngồi trước computer để viết lăng nhăng thì Noah của tôi ngoan ngỗn ngồi trên một chiếc ghế kế bên say sưa nhìn tôi ve vẫy đuôi. Noah có thói quen khi nghe tiếng ai bấm chuông là sủa một tiếng rồi phóng ngay tới cửa nhìn ra, làm như nó có thể mở cửa cho khách. Khi đi làm, Noah tiễn tôi tại cửa rồi sau đó phóng lên lầu, tung người lên chiếc sofa đứng nhìn ra cửa sổ cho đến khi xe tôi ra khỏi cổng. Chiều về, khi vào cổng là tôi đã thấy Noah nhìn ra cửa sổ đón mừng. Khi tôi cho xe vào garage, nó mới chạy đón tôi ngay cửa ra vào. Noah quả là người thân, một bạn tốt của cuộc sống tôi.

    Điều làm cho tôi thương Noah nhất có lẽ là chuyện xảy ra cuối tháng mười hai năm ngoái. Lúc đó ngoài trời nhiệt độ không lạnh lắm, và không lạnh lắm thì thường có tuyết rơi. Theo dự báo của băng tầng khí tượng thì, tuyết sẽ rơi xuống phía North Chicago khoảng 12 inches trong ngày ấy.

    Khi tan sở, ra bãi đậu, tuyết đã phủ lên một màu trắng xóa. Những ngày tuyết xuống như thế không có gió nên rất đẹp. Hoa tuyết đậu trên cành lá, đậu trên vai người đi bộ, chỉ quét sơ là xe có thể đi được. Về đến ngõ, Noah vẫn đứng nhìn chờ tôi như mỗi ngày, nhưng chỉ trong nháy mắt, nó biến mất. Sau khi cho xe vào garage, tôi đến cửa hông tra chìa khóa mở, vừa mở Noah lách mình phóng ra ngoài sủa inh ỏi. Nó chạy đi một cách vội vã rồi quay đầu lại gọi tôi. Chưa hiểu Noah muốn gì, nhưng tôi có cảm tưởng nó có lý do riêng. Tôi rượt theo nó, khi gần tới thì nó chạy nhanh lên, rồi quay đầu lại. Cứ như thế, chúng tôi băng qua công viên đến sân nhà một người hàng xóm. Noah sủa vang, lấy chân và mỏ đào vào một đống tuyết trắng. Tôi cũng giúp Noah lấy tay moi tuyết thì phát hiện bà lão bị tuyết chôn. Tôi gọi ngay xe cấp cứu, rất may khi đưa vào bệnh viện bà ta được cứu sống. Có lẽ khi đứng trên lầu hai đợi tôi đi làm về. Noah đã nhìn thấy bà hàng xóm trượt chân té, rồi tuyết cứ rơi và phủ lên. Tôi không thể hình dung tâm trạng của chú chó đang bị nhốt trong nhà và nhìn thấy cảnh tượng một người té xuống rồi bị tuyết chôn mà không cứu được, nó nôn nóng đợi tôi về để nhờ tôi giúp. So với những con người, chỉ cần 25 đô la mà nỡ giết để cướp. Cái ranh giới thú tính trong con người và nhân tính trong con thú lúc nầy dễ dàng nhận thấy. Noah tôi được một tờ báo Anh ngữ đăng với tựa đề ‘ Một con chó đã cứu sống cụ già’.

    Vì thế nên Noah chết, tôi như mất đi một người bạn hiền, mất đi những kinh nghiệm đối với loài vật khôn ngoan mà tôi đã chứng kiến. Nhưng câu hỏi lớn nhất trong tôi là ai đã giết nó, ai đã cướp Noah của tôi. Nhiều đêm tĩnh tọa đầu óc tôi cứ bị phân tán bởi cái chết của Noah. Tôi cố xua đuổi nó ra để chăm chú vào hơi thở và nhận định việc sống, chết là lẽ thường của cuộc đời. Nhưng chỉ được đôi phút rồi hình ảnh Noah vẫn trở lại. Một lần tôi ngồi trong hôn mê, tôi thấy bà hàng xóm bên kia công viên - người đã từng xém chết vì lạnh, dắt một con chó. Khi con chó thấy con chồn có bộ lông đen nhánh, nó vụt khỏi tay bà già rượt bắt. Con chồn chạy thục mạng, nhưng đến một bờ thành, nó không còn đường nào chạy nữa. Con chồn quay mặt về phía con chó, đứng bằng hai chân sau, hai chân trước nó như chấp lại van xin:

    “Anh tha cho tôi, tôi còn mấy đứa con phải nuôi nấng, tôi nguyện kiếp khác sẽ trả nợ”

    “Không! Mấy ngày nay tôi chẳng có gì ăn cả, tôi rượt chị đến lả người, chị phải để tôi ăn thịt”

    “Tôi biết anh không đói khát chi. Trên cổ anh vẫn còn sợi dây, chứng tỏ anh có người nuôi nấng đàng hoàng. Anh không tha thì cứ ăn tôi đi nhưng tôi cảnh cáo anh, món nợ nầy tôi phải đòi lại” - Chồn nói thế rồi lăn ra nhắm mắt. Con chó nhào tới ngoạm vào cổ khiến con chồn phải chết. Chó tha đi một đoạn “Vâng! Ta không đói, tại sao ta lại tàn nhẫn đến như vậy”. Chó bước đi mà lòng như hối hận, nó đứng lại quay đầu nhìn về chỗ con chồn đang nằm trên đống máu.

    Hai lần hôn mê, tôi đều thấy như thế, có điều lần nầy thay vì con chó bà hàng xóm, tôi lại thấy Noah của tôi. Làm tôi giật mình, ghê sợ.

    Hôm sau khi ra xe đi làm, tôi nhìn chiếc áo lông, nơi Noah chết. Tôi nhớ lại bộ lông đen nhánh của con chồn trong giấc mơ kỳ lạ. Tôi đến gần quan sát, trên hai tay áo còn dính vài vết máu khô, tôi tự hỏi: “Lẽ nào bộ lông con gấu nầy là hậu thân con chồn kia và tiền kiếp con Noah của tôi lại chính là con chó bà hàng xóm bên kia công viên.” Nếu như thế thì nghiệp báo không còn là chuyện mơ hồ, có điều không phải dễ dàng chứng minh vì bức màn vô minh luôn là trở lực chính yếu.

    Thủy lâm Synh
    Mùa đông 2005

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • SỢI DÂY CHUYỀN
    (Trích trong tập truyện ngắn Cơn giông, ngày về)
    Ninh Hạ Nguyễn Đức Tâm

    Thân tặng tuổi trẻ tị nạn Việt nam


    1.

    Trang về đến nhà chạy thẳng vào phòng riêng đóng chặt cửa nằm úp mặt xuống giường khóc nức nở. Trút theo giòng nước mắt tất cả uất ức thất vọng trước sự việc phũ phàng bất ngờ vừa xẩy ra mà Trang chẳng thể nào hiểu được.

    Nghe tiếng đập cửa và giọng hốt hoảng của mẹ:

    “Trang! Trang! con làm sao vậy?”

    Trang gào lên:

    “Mẹ để con yên. Mặc kệ con... mặc kệ con.”

    Bà Viên ngạc nhiên đến sững sờ. Lần đầu tiên Trang dám lớn tiềng trả lời cộc lốc vô lễ như thế với mẹ. Bà lẩm bẩm:

    “Thôi đúng rồi! Hèn gì người ta nói, ở đây tự do quá con cái riết trở thành mất dạy coi mẹ cha không ra gì cả.”

    Cố nén giận bà đập cửa nói với vào:

    “...Nhưng mày cũng phải nói cho tao biết chuyện gì đã xẩy ra chứ?”

    Trang đã ngưng khóc nhưng còn tức tưởi:

    “Con đã nói là mặc kệ con mà!”

    “Ừ. Thôi mặc kệ mày. Chút nữa ba mày về tao kể cho ông... rồi đừng trách.”

    Bà quay xuống bếp lo cơm chiều. Tuy dọa con nhưng bà sẽ chẳng bao giờ cho chồng biết. Tính ông nghiêm khắc nóng nẩy không chịu được thái độ của con, thế nào cũng ầm ĩ lên. Rồi thì cha con mặt lầm mày lì, chiến tranh lạnh hàng tuần. Không khí bữa cơm tối gia đình đông đủ trở nên nặng nề khó chịu.

    May mà chiều nay chồng vắng nhà. Ông theo bạn đi họp mặt tiệc tùng. Bà cũng mong có những dịp như thế để ông có nơi mà cười đùa hàn huyên giải tỏa phiền muộn lo âu. Bà thấy hình như đàn ông, bên cạnh vợ con, bạn bè là một nhu cầu không thể thiếu cho một cuộc sống bình thường.

    Bà và mấy con cũng có đi theo ông mấy lần, giờ thì bỏ cuộc ở nhà. Lúc đầu ông cằn nhằn, cuối cùng thấy vợ con cũng chẳng vui vẻ gì ở mấy chỗ đó, ông đành nhượng bộ đi một mình. Lý do rất đơn giản. Bà và mấy con nhất là đám con gái không chịu được mùi khói thuốc lá. Các ông ở nhà ngại vợ ngại con còn kiêng khem hạn chế, khi gặp nhau có một hai lon bia vào thì đua nhau hút liên tu bất tận nhả khói mịt mù ngột ngạt.

    Bà cũng lấy làm lạ. Khi còn ở bên nhà thì không đến nỗi, qua đây nghe mùi thuốc lá thấy choáng váng nhức đầu buồn nôn. Mấy đứa con giải thích rằng ở đây trời lạnh mà nhà cửa lại kín mít bịt bùng. Khổ hơn hết là tóc tai áo quần đầy mùi thuốc. Trời lạnh cách mấy, khuya bao nhiêu, làm biếng mệt mỏi cách nào, khi tan tiệc về nhà cũng phải vội vàng gội đầu tắm rửa ngay. AÔo lạnh khăn quàng cả tuần sau còn nặằng mùi.

    Một lần tan tiệc lên xe bus về nhà chen vào chỗ trống ngồi cạnh một bà hình như người Ðại Hàn. Thoáng thấy nét cười lịch sự gượng gạo cố che dấu một cái gì đó rất khó chịu. Hai cánh mũi người lạ phập phồng như đánh hơi, rồi khé né đứng dậy đi về phía cửa. Nghĩ là bà ta sắp xuống xe, nhưng qua mấy trạm vẫn đứng đấy để chịu người lên kẻ xuống xô đẩy. Giật mình, ngượng ngùng nhột nhạt, bà bỗng khám phá ra người lạ không chịu nổi mùi thuốc lá nồng nặc bốc ra từ áo quần tóc tai của mình. Kể từ hôm đó bà và các con không còn theo ông đến những nơi hội họp ăn uống đông người.

    2.

    Nồi nước trên bếp sôi rít lên làm bà giật mình quay về với nỗi bực dọc vì thái độ vô lễ khác thường của Trang, đứa con gái dễ thương biết điều nhất của bà.

    Tới Mỹ chưa đầy một năm, sáu con của bà học hành chăm chỉ. Mấy đứa lớn chịu khó chịu khổ vừa học vừa làm thêm, tiền bạc kiếm được bao nhiêu tiện tặn đem về giúp mẹ trang trải tiền nhà tiền nợ, tiền giúp thân nhân nội ngoại ở bên nhà.

    Thâm tâm bà vẫn canh cánh nỗi âu lo. Không biết cái hạnh phúc tưởng chừng đơn giản hiện nay sẽ còn được bao lâu.

    Hôm trước đem chuyện con cái ra khoe với chị bạn mới quen qua đây khá lâu, chị bĩu môi:

    “Ðể rồi coi chị ơi! Ðừng mừng vội. Mới qua gia đình nào cũng vậy. Con cái ngoan ngoãn. Vài ba năm sau quen nước quen cái, bạn bạn bè bè, quần quần áo áo mốt này mốt nọ, lo thân chúng nó chưa đủ. Ðừng hòng! Lo làm nuôi lấy thân. Dành dụm chút ít dưỡng thân già. Ở đó mà trông nhờ vào chúng nó. Còn khuya!”

    Hỏi ra mới biết chị ta là người trong cảnh nên chua chát.

    Mà quả thật ở đây việc dạy dỗ con cái khó khăn bội phần.

    Trong building đang ở có mấy gia đình con vừa mới lớn lên đã bỏ nhà đi hoang chỉ vì mẹ cha la rầy. Mới nứt mắt đã trốn theo bồ theo bịch, theo băng đảng bụi đời. Có khi chỉ vì xốc nổi muốn chứng tỏ mình có thể tự lập không cần nhờ cậy ai. Ăn mặc thì lố lăng quái dị. Nói năng lấc cấc. Ði đứng nhún nha nhún nhẩy cố bắt chước cho giống Mỹ đen.

    Bà tự trấn an. Vô phúc vô phận con hư thì bên nhà cũng hư chẳng cầu qua tới đây. Nhưng bà cũng phải nhận rằng ở xã hội này, bên cạnh sự đề cao hưởng thụ và thỏa mãn vật chất, mầm mống sự hư đốn của con cái đôi khi còn được bảo vệ nhân danh tự do. Việc một đứa con trai mười ba tuổi đầu ở Florida ra tòa từ cha mẹ ruột, rồi cười rạng rỡ đắc thắng khi được kiện, là một việc quá sức ngao ngán và chỉ có thể xẩy ra ở Mỹ.

    Bên cạnh sự miệt thị về chính trị, sự khó khăn bế tắc chạy ăn từng bữa, với bà đi Mỹ là để tránh cái chướng tai gai mắt hằng ngày đụng đầu với đám cán bộ cha cán bộ con và họ hàng dòng họ chúng nó. Nhà cao cửa lớn chúng chiếm ở. Hàng quán sang trọng chúng nó vào. Xe đẹp xe sang chúng nó đi. Công lao xương máu khó nhọc mấy đời thoáng chốc rơi về tay lũ đười ươi.

    Tuổi tác như vợ chồng bà qua Mỹ thì cũng đã quá muộn màng. Cái được nếu có cũng không thể nào đền bù được cái mất mát to lớn khi phải bỏ nước ra đi. Như hầu hết bạn bè cùng cảnh, ra đi nghĩ cho cùng đều vì tương lai của bầy con trẻ.

    Ở Việt nam đám con mất tương lai chỉ vì cái lý lịch ba đời của ông bà cha mẹ. Qua đến đây mới thấy lo. Không chừng học đòi theo cái xấu tệ nhất của tự do, cái tiêu cực nhất của đời sống gia đình Mỹ, chẳng được là Mỹ mà Việt cũng chẳng còn là Việt. Lai căng mất gốc, dở dở ương ương, nửa nạc nửa mỡ. Tương lai kỳ vọng không những tuột khỏi tầm tay của chúng, mà mẹ cha còn đau đớn mất luôn con.

    Thái độ của con gái chiều nay thật ra cũng chẳng đến nỗi nào, nhưng bị ám ảnh như thế nên bà đã bi thảm hóa.

    Nghe bước chân rón rén biết Trang xuống bếp bà làm ngơ tiếp tục xào nấu.

    “Mẹ! Con xin lỗi.”

    Thấy mẹ không quay mặt trả lời biết mẹ còn giận. Trang ấp úng:

    “Con... con biết lỗi”

    Bà Viên như được xoa dịu nhưng cố làm nư yên lặng.

    “Mẹ ơi con bị giựt mất sợi dây chuyền rồi!”

    Như vỡ lẽ lý do xui Trang có thái độ như thế, bà quay lại:

    “Ði học mà mang nữ trang vàng bạc làm gì. Diện cho cố vào! Hôm kia thằng gì trên lầu ba sáng đi học qua khu chợ Việt nam bị hai thằng Mỹ đen dộng cho mấy đấm bầm tím cả mắt rồi giựt dây chuyền ở chỗ đông người.”

    Nhìn mặt con bà thấy như còn đọng trong ánh mắt nét thảng thốt buồn bả lạ thường.

    “Mất mười sợi dây chuyền mẹ cũng không tiếc không buồn bằng cái thái độ của con vừa rồi.”

    Trang phụng phịu:

    “Thôi mà mẹ! Con đã biết lỗi rồi.”

    Bà Viên cười mãn nguyện:

    “Ði tắm rửa, đợi mấy anh chị về đủ ăn cơm. Của đi thay người. Ðừng tiếc nữa!”
    Nói thế nhưng bà biết Trang sẽ buồn lắm. Ðó là kỷ vật ông ngoại đã trao cho đứa cháu mà ông thương yêu và vừa lòng nhứt như nhắc nhở như gửi gắm một ước mơ một hoài bão.

    3.

    Thời gian chồng tù cải tạo mịt mù tận ngoài Bắc, Trang được mẹ gửi về sống với ngoại ở vùng quê miệt vườn Cần thơ.

    Ngoại là nguồn yêu thương tin cậy của Trang. Ngoại uyên thâm Phật pháp, tính tình sảng khoái tự tin, yêu đời yêu người. Ít khi thấy ngoại chê ai. Ai ngoại cũng thương yêu giúp đỡ. Họa hoằn có ai ngoại chê thì quả tình hết thuốc chữa.

    Có lần Trang thắc mắc:

    “Ngoại ơi, con thấy ai ngoại cũng quen cũng gần gũi được.”

    Ngoại xoa đầu cháu rồi giải thích:

    “Nhân vô thập toàn. Người nào cũng có cái tốt cái xấu. Nhằm vào cái tốt mà gần, biết cái xấu để răn mình. Có nhiều người thoạt đầu mới gặp thấy ghét không ưa, nhưng về sau mới thấy họ là người tốt, chơi được thân được. Ở lâu mới biết lòng người con ạ. Oán ghét hận thù có khi chỉ vì ngộ nhận.”

    Ngày tiễn vợ chồng con gái và lũ cháu qua Mỹ là lần đầu tiên Trang thấy ngoại buồn. Cả nhà đã vào khu vực cách ly với kẻ đưa người tiễn. Như sực nhớ, ông vội vàng xô đẩy chen qua đám đông, cố nài nỉ tên công an cởi vội sơiỳ dây chuyền quàng vào cổ Trang. Ôm cháu một lần cuối như chừng chẳng bao giờ gặp lại. Ông không ngăn được những giọt nước mắt hiếm hoi lăn dài trên má. Trang cũng sụt sùi.

    Xa quê hương với Trang đơn giản là xa ngoại. Sợi dây chuyền là vật bất ly thân, ông sắm khi lãnh tháng lương đầu tiên của đời quân ngũ.

    Mất kỷ vật của ngoại Trang buồn lắm, nhưng đau đớn hơn là niềm tin yêu vui sống trên mảnh đất mới thoáng chốc đã sụp đổ tan tành. Khác với mẹ cha thường than thở tiếc nuối kỷ niệm quê nhà. Nhiều bạn bè của cha mẹ suy sụp thất vọng bởi thực tế khác xa với ảo tưởng mong ước. Trang vui sướng hòa nhập vào cuộc sống mới.

    4.

    Trang dấu mẹ trường hợp bị mất của.

    Hôm nay trời đang độ thu. Nắng vương nhẹ trên hàng cây maple trở màu. Trời không trong mà như vẩn đục mù sương se lạnh. Trường học nửa ngày tan sớm. Trang và con bạn mới quen nhưng chóng thân rủ nhau tung tăng trên con đường ngập lá vàng. Mùa thu vàng rực rỡ. Cảnh đẹp như trong mấy tấm lịch Nhật màTrang đã thấy ở quê nhà.

    Không sợ lạc đường, hai đứa men theo con đường nhỏ song song với đường chính có tuyến xe bus đưa về tận nhà. Qua khỏi mấy block Trang đi dần vào một vùng nhà trệt. Thảm cỏ xanh rờn được chăm bón. Hoa và hoa muôn màu sặc sỡ. Hình như từng gốc cây ngọn cỏ, mọi ngõ ngách đều có bàn tay người chăm sóc. Ðây mới thật là Mỹ như sự mường tượng của Trang. Thỉnh thoảng đôi người ăn mặc lịch sự tản bộ trên đường cười chào niềm nở.

    Gặp hai người đàn ông đi ngược chiều, Trang lên tiếng chào hỏi với nụ cười hồn nhiên tự tin. Một trong hai người lạ đi qua nửa bước rồi kéo bạn quay phắt lại, nét mặt thoáng hung dữ lạ thường. Hoảng hốt lo sợ, linh tính báo cho Trang biết có chuyện chẳng lành. Cúi xuống nhìn thẳng vào sợi dây chuyền Trang đeo, nhanh như cắt người đàn ông túm lấy giựt mạnh, thô bạo đẩy Trang té xuống thảm cỏ, ném mạnh sợi dây chuyền vào bụi hoa. Con bạn đứng chết trân, Trang thì sợ đến kinh khiếp. Muốn kêu cứu nhưng khớp quá chẳng ra lời. Ðợi khi hai người Mỹ khuất sau góc đường, hai đứa mới hoàn hồn co giò chạy một mạch gần đứt hơi ra đến con đường chính đón xe bus về nhà.

    Trang mất của không phải vì kẻ chiếm đoạt tham tiền túng quẫn mà bởi một sự hận thù nào đó Trang chưa giải thích được. Kể từ hôm đó mỗi khi ra khỏi nhà hễ thấy người Mỹ, dù đen dù trắng, nhìn mình Trang có cảm giác bất an. Trang mất đi cái hồn nhiên yêu đời phát sinh từ tấm lòng yêu thương tin cậy mọi người.

    Lúc này Trang nhớ ngoại và cần có ngoại.

    5.

    Thời gian trôi thật nhanh.

    Lúc còn ở quê nhà Trang thấy sao ai cũng có quá nhiều nhàn rỗi mà ngày tháng lại ù lì chậm chạp. Ở đây cuộc sống tất bật, ngày tháng cũng vùn vụt trôi qua thật nhanh. Thấm thoát mà đã qua tám mùa tuyết lạnh. Chuyện xẩy đến với Trang rồi cũng rơi dần vào quên lãng chỉ còn để lại một thoáng kỷ niệm buồn và một thắc mắc không lời giải.

    Năm ngoái ngoại mất. Trang khóc đến mấy ngày. Buồn bã cả tháng khôn nguôi. Trang chưa qua một mất mát nào lớn hơn sâu đậm hơn là mất ngoại. Ðang khỏe mạnh, sáng khăn gói đi thăm người bệnh bên sông, chiều về kêu choáng váng vào giường nằm một lúc sau thì mất. Ngoại sống thoải mái, chết cũng nhẹ nhàng. Sống thương yêu giúp đỡ mọi người, chết cũng chẳng phiền hà con cháu lấy một ngày.

    Ngoại ơi! Ngoại là Bồ tát, là Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật.

    Trang nhớ rất rõ như mới hôm nào gần đây thôi.

    Nhớ rõ ràng nét mặt hiền lành chòm râu dài phất phơ trong bộ áo bà ba nâu sồng bạc màu. Nhớ đôi bàn tay da mồi nhăn nheo vân vê quấn thuốc. Trang nhớ, nhớ rất rõ cả màu nắng đong đưa qua hàng cau một buổi xế chiều êm ả trên hàng hiên thềm nhà. Nhớ cả mùi hương hoa cau lẫn mùi hăng hắc của khói thuốc rê, mùi bùn non của ruộng vườn thoang thoảng. Tất cả như gần gũi như lẩn quất đâu đây. Thế mà ngoại đã mất, đã xa chẳng còn gặp lại. Kỷ vật ngoại cho cũng không còn.

    Hôm sau ngày ngoại mất, Trang ra khu chợ Việt nam làm một sợi chuyền vàng và tượng y hệt, đeo vào cổ để tưởng nhớ ngoại.

    Chiều hôm đó, Trang còn nhớ ngoại dặn dò đủ điều.

    Ngoại nói nhiều như muốn tận dụng khoảng thời gian quý báu còn được ông cháu bên nhau:

    “Qua bên gắng mà học cho có bằng có cấp. Ðất nước người ta phải có học có tài mới làm nên sự nghiệp. Không như mình đây mánh mung thời cơ, chó nhảy bàn độc. Vô học vô tài mà vẫn làm lãnh tụ, làm lớn làm giàu. Mai kia mốt nọ đất nước đổi thay không ưng ở thì về, về đây với ngoại. Cái bên đó là thừa là thường, thì bên mình là thiếu là quý. Ðừng đua đòi ham nhà ham xe ham có tiền cho sớm bỏ ngang thì phí đời, phí đi một dịp may ngàn năm một thuở. Trước kia dễ dầu gì mà được qua Mỹ học.”

    Ngoại nhìn mông lung ra vườn. Tiếng ngoại buồn buồn xa vắng. Thoảng xa tiếng chèo khua nước, tiếng nói tiếng hò âm vang từ dòng sông vọng lại. Trang hưởng những giây phút thật yên bình bên ngoại.

    “Ngoại đã từng tu nghiệp bên đó ngoại biết. Kỳ thị là điều luật pháp cấm kỵ, nhưng trong đời sống thì có mọi lúc mọi nơi. Bạn bè của ngoại thư về và rồi đây con sẽ thấy. Giờ không phải chỉ giữa Mỹ trắng Mỹ đen với mình, mà buồn là sự phân ly giữa những người cùng chung màu da huyết thống, tuy bỏ nước ra đi trong những điều kiện hoàn cảnh thời gian khác nhau nhưng cùng chung cảnh ngộ mất nước ly hương. Không phải toàn bộ nhưng điều đau lòng đó có thật. Sống qua chiến tranh và dưới nhiều chế độ chính trị gạt gẫm, muốn sống phải xoay xở luồn lách. Riết rồi người mình trở nên ích kỷ và nghi kỵ. Cố tìm cái khác nhau để khinh người và khen mình.”

    Thấy Trang tư lự, ngoại đứng phắt dậy dắt tay cháu ra vườn cải hoa vàng. Ông cháu lúi húi hái mớ rau nấu canh cho bữa cơm chiều.

    Ngoại cười ha hả tiếp tục nói như sợ rằng chẳng còn dịp nào để nói với cháu nữa:

    “Xưa kia thì không nói làm gì, giờ đây người Phi người Ðại hàn di dân đến Mỹ là mang theo được cả của cải sang bên đó làm giàu. Tội nghiệp người mình, trừ một số ít, hầu hết bỏ của chạy lấy người. Ðào đâu ra vốn liếng mà buôn với bán?. Nói rằng mẹ con tụi bây đi Mỹ chỉ còn cái quần xà lỏn, tưởng là nói quá mà thật ra phải nói là cả cái quần xà lỏn cũng không còn!”

    Trang cười:

    “Ngoại ơi là ngoại! Ngoại nói gì mà thảm quá vậy. Mẹ con mua áo quần đủ xài cả năm.”

    Trang khoe:

    “Ba con mới may một bộ đồ lớn sang lắm. Nói là mặc để xuống máy bay bà con ra đón khỏi khinh.”

    “Bày đặt cho tốn kém. Ðồ đó qua bên vất bỏ, chở gỗ về rừng. Tao nói đâu có trật. Mẹ mày kể. Ðể đủ tiền chạy lo dịch vụ giấy tờ xuất cảnh, mua sắm chi phíà phải muối mặt mượn nợ đến hai ngàn đô. Qua bên nai lưng cày mà trả. Cái quần xà lỏn cho đến cái rương nhôm đựng đồ của cha con bây cũng là của mượn nợ của thiên hạ. Có đúng không hả?”

    Ngoại đắc chí vuốt râu cười. Trang cũng gập người cười theo:

    “Chưa qua tới nơi, nghe ngoại hù con mất tinh thần chưa chừng xin ở lại.”

    “Nói cho mầy biết, không phải nói cho mầy sợ. Yên tâm! Ngoại đã có bùa trị.”

    “Ừ, ngoại trao cẩm nang để con xuống núi.”

    “Ðây là bùa thiêng ngoại trao cho tiểu tặc tử”

    Vừa nói vừa cười ngoại lấy ngón tay viết xuống đất. Trang chăm chú đọc lớn “Học!”

    Thấy tiểu tặc tử ngu si chưa nghĩ ra, ông đứng dậy vung tay hét lớn:

    “Học! Học! Học!”

    Giọng ông sang sảng:

    “Muốn ngửng mặt lên với thiên hạ, muốn xóa bỏ tị hiềm phân biệt giữa Mỹ và mình, giữa kẻ qua trước người tới sau, chỉ có một con đường là học. Học càng cao càng tốt. Học vấn là con đường tri thức đưa con đến tự tin và bình đẳng, đến tương lai sự nghiệp nơi quê người.”

    Cầm lấy tay cháu thân mật:

    “Trong đám con cháu, ngoại thấy ở con một tấm lòng vị tha biết thương yêu và giúp đở người. Ðây là điều rất quí và luôn đúng, vì nó sẽ làm cho đời mình có thêm giá trị và ý nghĩa, thêm cả niềm vui. Dặn cháu một điều sau cùng. Cháu của ngoại thông minh chịu khó, ngoại yên tâm. Có thua là thua cái tiếng Mỹ tiếng mẽo. Giỏi mấy thì giỏi mà tiếng Mỹ ú ớ là thua. Là thua đậm. Nhớ lời ngoại!”

    Dạ. Con nhớ lời ngoại. Con đã làm theo lời ngoại.

    Hẹn sang năm tốt nghiệp sẽ về thăm ngoại. Đem cái ước mơ ôm ấp, cái hoài bảo thiết tha đã trở thành hiện thực về dâng ngoại thì nay ngoại đã khuất núi.

    Ngoại ơi. Ngoại ơi!

    6.

    Trời đã vào xuân.

    Hoa tulíp nở đầy công viên, sân nhà.

    Xuân ở đây rất ngắn, chỉ đủ cho tulíp nở rồi tàn. Hôm nghe mẹ nói thế, Trang cười nhại theo câu thơ cũ. “Xuân đời chưa kịp hưởng. Nắng mùa hạ vội sang!”. Mẹ mắng yêu. “Con này độ rầy cũng đặt bày thơ với thẩn”. Xứ sở gì mà lạ lùng. Lạnh thì quá lạnh mà nóng thì cũng quá nóng. Quen rồi Trang thấy thà là mùa đông tuyết giá còn hơn cái hực lửa của ngày hè. Năm kia chỉ trong đợt nóng mấy ngày mà đã có hàng trăm người chết. Mùa đông có ngày nào lạnh đến nổi chết nhiều như thế đâu?

    Hôm nay xong giờ học, đuổi theo Jenny và David, Trang chạy ùa ra bải cỏ xanh sân trường. Cả bọn nằm ngửa dang tay soải chân nhìn trời xanh trong vắt. Thích thật! Hơn nửa năm nay mới trút bỏ được cái áo lạnh dầợy cộm nặng trịch, rồi hai ba lớp áo trong, cái khăn quàng vướng víu. Trong chiếc T-shirt quần jean, Trang thấy người nhẹ hẳn, khoan khoái lạ thường.

    Những năm gần đây Trang có nhiều bạn đủ mọi chủng tộc, đặc biệt chơi rất thân với chị em Jenny và David, những người Mỹ trắng rất dễ thương, cùng học cùng chơi, cùng hoạt động trong các club sinh viên và công tác thiện nguyện. Ðúng như lời ngoại, vượt qua rào cản ngôn ngữ và học vấn Trang tự tin, không còn tự ti lấn cấn trong tình bạn giữa những người khác màu da chủng tộc.

    Ngoài bửu bối của ngoại, Trang còn nhận ra rằng học vấn chỉ là một phần của hành trang. Ðiều kiện ắt có mà không đủ. Phải tháo vát năng nổ xông xáo mới đủ bản lĩnh hòa nhập thành công trên quê người. Việc này không phải nằm nhà mà có được, phải dấn thân. Có điều, những nơi như thế còn thiếu vắng các bạn bè đồng hương, Trang ít khi gặp họ.

    Trang nằm nghiêng người xoay về phía Jenny. Tay chống má, kéo sợi dây chuyền ngậm môi, tay mân mê chiếc tượng đeo.

    Jenny và David không hẹn cùng ngồi nhổm dậy ngạc nhiên. Chỉ vào chiếc tượng, David hỏi dồn:

    “Bạn... bạn đeo cái... cái này?”

    “Có chuyện gì thế?”

    Jenny bình tỉnh hơn em trai:

    “Sao Trang lại đeo dấu hiệu này?”

    “Ðây là mẫu kỷ vật của ông ngoại mình.”

    “Ông của Trang tôn sùng Hitler?”

    “Bậy! ở nước tao làm gì có Hitler. Bộ tụi mày điên sao hỏi tao những câu ngớ ngẩn. Ðây là dấu hiệu chữ Vạn của Phật. Tao tin Phật mà!”

    “Sao giống hệt chữ thập ngoặc swastika của Ðức quốc xã?”

    “Giống sao được. Ừ! Thoạt nhìn thì giống, nhìn kỹ sẽ thấy hai dấu hiệu ngược chiều nhau. Mààmà giống thế nào được! Hitler là tên sát nhân khủng khiếp của nhân loại. Ðức Phật là đấng từ bi, trân trọng sinh mạng mọi loài chúng sinh, không chỉ nhân loại, muôn thú mà đến cả côn trùng giun dế.”

    Một ý nghĩ thoáng nhanh, Trang phát hiện được nguyên nhân bị thô bạo giựt mất sợi dây chuyền tám năm về trước. Thuật lại câu chuyện cho hai bạn nghe.

    David chăm chú, Jenny trợn tròn mắt ngạc nhiên:

    “Sao có chuyện trùng hợp lạ lùng. Tụi mình ở ngay khu vực đó”

    Thì ra Trang đã đi vào khu ở của người Do thái, đúng tuần lễ họ đang đau đớn uất nghẹn tưởng niệm hàng triệu sinh mạng nạn nhân bi thảm đã bị Ðức quốc xã thiêu sống trong lò hơi Holocaust.

    Nằm sấp mặt trên thảm cỏ để dấu niềm xúc động bất chợt. Nắm chặc trong tay sợi dây chuyền. Trang run run thổn thức. Vẳng nghe giọng nói trầm buồn của ngoại. “Oán ghét hận thù có khi chỉ vì ngộ nhận”.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • ÔN
    Ninh Hạ Nguyễn Đức Tâm


    1.

    Giữa đêm khuya. Hàng ngàn tù cải tạo bị áp tải lùa nhốt nén chặt dưới đáy hầm tàu Sông Hương để đầy ải ra Bắc.

    Sau cuộc hành trình dài của con tàu địa ngục, những tù nhân của chế độ lại bị tống lên những toa xe lửa ngạt thở cũ kĩ lắc lư. Chặng cuối đường lưu đày đoàn xe tải Molotova bịt bùng tiếp nối xuyên qua những bản làng Tây Bắc heo hút.

    Cuối cùng. Trong đêm tối rừng âm u chập chờn ánh đuốc. Mấy ngàn người rã rượi lo âu, được phân phối giam giữ rải rác trong vùng thung lũng hẹp Mường Cơi Sơn la. Bốn bề núi rừng bao phủ. Sương mù và ám khí. Chỉ có vượn hú mà chẳng hề nghe tiếng chim gì kêu ngoài tiếng kêu não nuột của con chim “Bắt cô trói cột!”, mà những năm tháng sau này khi cơn đói đay nghiến hành hạ thì tiếng chim ai oán nghe rõ như tiếng người kêu vọng. “Cơm còn cho cục! Cơm còn cho cục!”

    Sáng sáng khi sương mù u uất gía lạnh còn phủ xám núi đồi thung lủng hay chiều chiều khi tia nắng cuối ngày khuất sau dẫy núi xám xịt mù ám nghẹt thở siết quanh thung lũng trại, những hồi kẻng âm vang rợn người dội lại từ vách núi, rờn rợn như tiếng chuông gọi hồn dóng lên từ cõi âm ti. Âm thanh đó vang vọng. Nhức nhối xuyên suốt ngõ ngách hồn xác những tù nhân khổ sai biệt xứ.

    2.

    Một buổi sáng Chúa nhật.
    Mùa đông và gió mùa đông bắc.
    Ðói lạnh. Tê cóng.

    Nhìn qua ô cửa sổ nhà giam, bên kia cách một hàng rào kẽm gai là một dãy nhà giam khác mới cất vội vã. Người bạn tù thân nhất của tôi biết nhau từ buổi sáng tinh mơ sắp hàng trình diện đi tù, qua bao đổi thay di chuyển từ Nam ra Bắc vẫn có bên nhau, vốn là sĩ quan báo chí, anh chỉ cho tôi mấy người già co ro đang yên lặng nhẫn nhục ngồi đan rổ rá bên hiên nhà. Mấy cha Tuyên úy Công giáo. Cha Huồn, cha Thuấn, cha Hùng...

    Chỉ một người ốm yếu tiều tụy ngồi cạnh mấy cha, anh hỏi tôi:

    “Cậu có biết ai đó không?”

    “Không!”

    Anh nhìn tôi ngạc nhiên.

    “Tôi thật không biết. Chưa hề thấy. Ai đó?”

    “Trời! Thượng tọa Thiên Lương, Nha Tuyên úy Phật giáo đó!”

    Có lẽ anh ngạc nhiên vì nghĩ tôi là một Phật tử chắc phải biết rành mấy thầy, cũng như anh biết hết thẩy mấy cha.

    Ðó là lần đầu tiên tôi thấy Thầy.

    Thấy một cách dửng dưng thờ ơ lãnh đạm. Thái độ của tôi thật cũng dễ hiểu. Sau hơn một năm giam giữ chung với mấy đại đức, tôi đã không còn giữ được điều thứ ba của tam quy. Quy y Tăng.

    Thời gian tù đầy là lúc cần đến sự hỗ trợ của đức tin tôn giáo. Ðối diện với khốn cùng và sự bất lực của bản thân trước những mất mát tang thương. Mất đất nước. Mất tự do. Mất cha mẹ vợ con và bạn bè thân thiết... con người chỉ còn biết vươn tới, cầu mong ở các đấng thiêng liêng cho một hy vọng mong manh. Vai trò của mấy thầy, mấy cha trong hoàn cảnh này thật cần thiết.

    Như trong bài Kinh Hòa Bình của Thánh Phanxicô mà tôi đã học thuộc những năm dài ở trường Dòng:

    “Ðem yêu thương vào nơi oán thù,
    Ðem thứ tha vào nơi lăng nhục
    Ðem an hòa vào nơi tranh chấp...
    Ðem niềm vui tới chốn âu sầu...”

    Tiếc thay! Một số lớn mấy thầy mà một thời các Phật tử, kể cả những người lớn tuổi, rập đầu xưng “con” vì lòng kính trọng bậc xuất gia, không giữ được tư cách bình thường chứ đừng nói chi đến đạo hạnh. Có lần tôi đã gặp và yêu cầu quý vị ráng giữ gìn để chúng tôi khỏi xấu hổ lây. Nhiều anh em đến than phiền. Ðể giữ niềm tin cho họ và cũng để tự an ủi, tôi cố giải thích rằng. Ðấy không phải là các bậc xuất gia đi tìm chân lý giải thoát cứu đời. Họ chẳng qua chỉ là các thanh niên vào chùa cạo đầu để trốn quân dịch!

    Ngày tháng chậm chạp ù lì trôi qua với những khổ đau vô tận.

    Thân xác mỏi mòn.
    Tinh thần rời rã!

    Không biết bao nhiêu lần chuyển trại âu lo căng thẳng. Rày đây mai đó. Bạn bè vừa kết thân, có thể chia sẻ với nhau những buồn vui, nương tựa nhau những lúc đau yếu suy sụp và nhất là có thể tin cậy được nhau vội vã chia tay.

    Hy vọng mong manh một ngày về theo chính sách của cộng sản cũng rã tan.

    Sau ba năm, toàn thể tù cải tạo được chuyển giao cho Cục Công an trại giam quản lý. Từ đây bắt đầu những ngày tù thật sự. Sáng mở cửa, điểm danh ra buồng. Tối đếm đầu, khóa cửa. Cả trăm người triền miên thiếu ăn thiếu tắm, chen chúc trong dãy buồng giam chật ních ngạt thở. Chẳng còn mấy ai chờ đợi một ngày về. Nhiều anh em bạn bè đã bỏ cuộc tù. Sinh Nam tử Bắc!

    3.

    Một ngày Tết ở trại Phù Yên Sơn la. Tôi gặp Thầy.

    Dãy nhà dài gọi là láng nơi thầy ở nằm song song với láng của tôi. Chỉ cách nhau một sân rộng. Ngăn chia bởi một hàng rào kẽm gai có cửa thông. Nhân ngày Tết, các láng được qua lại thăm nhau.

    Sáng Mồng một Tết. Trời thật đẹp. Nắng trong mà lạnh. Tôi thầm nghĩ. Nếu đất nước thanh bình gia đình đoàn tụ, ăn tết trong cái khí hậu này thì tuyệt vời. Sau bữa ăn sáng vui vẻ với anh em bạn thân, tôi quyết định sang thăm thầy.

    Như một tập tục bao đời của gia đình. Sáng Mồng một Tết sau lễ gia tiên, cả nhà đi chùa lễ Phật. Lấy lộc đầu xuân. Mạ tôi thì đi cho đủ mười chùa. Lúc còn ở Huế, sau giao thừa mạ tôi rước thầy về nhà khai kinh đầu năm. Trong giấc ngủ mơ màng, mùi trầm hương, tiếng mõ tiếng chuông. Tiếng kinh tụng trầm bổng rất hay của thầy là những kỷ niệm êm đềm khó quên.

    Thế nên những khi xa nhà xa quê, ngày Tết là ngày nhớ ray rứt. Nhớ lặng người. Hoài niệm những ngày tháng cũ.

    Ở tù không chùa, thôi thì sang thăm thầy vậy!

    Bước vào nơi thầy ở. Nhìn quanh. Vắng lặng. Lát đát mấy anh trùm chăn, chắc đang đau khổ khóc thầm vì nhớ vợ nhớ con. Mấy anh khác kéo nhau ra sân tụm năm tụm ba đấu láo.

    Gặp một trung tá tôi quen ngồi gần cửa, tôi hỏi nhỏ vừa đủ hai người nghe

    “Thưa trung tá, thượng tọa Thiên Lương nằm ở đâu?”

    Trong tù bọn cán bộ cấm ngặt gọi nhau bằng cấp bậc cũ. Thế nhưng chúng tôi vẫn gọi riêng với nhau, xưng hô đúng cấp bậc để chứng tỏ rằng trong hoàn cảnh mất nước tù đày chúng tôi vẫn tôn trọng các bậc đàn anh quân ngũ.

    Tuy nhiên, một thực tế đau lòng là càng cao cấp bậc thì số người làm ăng ten báo cáo mật cho cán bộ Việt cộng càng nhiều. Mặt khác, tư cách và sự đối xử giữa họ với nhau càng tệ. Tệ hơn lớp trẻ nhiều.

    Chỉ tay về phía cuối láng, ông nói

    “Ông ấy đang ngồi kia kìa!”

    Nán lại giây lát, tôi nói máy móc

    “Cám ơn trung tá. Nhân dịp năm mới chúc trung tá sức khoẻ để xum họp gia đình.”

    Tôi hạ giọng đùa

    “Happy New... York !”

    Ông cười gượng:

    “Cám ơn anh. Tôi chúc anh cũng như vậy. Nhưng với sức khoẻ như vầy, chắc tôi chết trong tù. Vợ con bên Mỹ cả rồi, ngày xum họp làm gì có được mà mong !”

    Mắt ông rưng rưng muốn khóc. Tôi lẩn tránh. Chào vội đi về phía thầy.

    Trước mặt tôi một ông già ốm yếu mệt mỏi gầy gò trong bộ đồ tù màu lam cổ nồi. Chiếc khăn mặt trắng vắt một bên vai. Ngồi một chân trên giường, một chân thòng xuống đất, tay xoa tới xoa lui chiếc đầu trọc mới cắt không đều. Một hình ảnh thật thân quen gần gũi như tôi đã từng thấy những lần lên thăm chùa Trà Am, Bảo Quốc... ở Huế.

    Tôi cất tiếng

    “Dạ thưa Ôn!”

    Thầy ngước mắt nhìn lên. Ðôi mắt sáng hiền lành đôn hậu. Ung dung đứng dậy, đưa hai tay nắm lấy tay tôi, nhỏ nhẹ

    “Chào anh!”

    “Thưa Ôn. Nhân dịp đầu năm con qua thăm Ôn. Cầu chư Phật gia hộ cho Ôn được sức khoẻ, thân tâm thường an lạc.”

    Nét mặt vẫn ung dung tự tại, nhưng trong đôi mắt, tôi thấy Ôn đang cười vui. Ấn nhẹ vai tôi ngồi xuống giường với Ôn. Với tay lấy mấy chiếc kẹo tiêu chuẩn tết trại phát và gô nước mời tôi.

    “Anh người Huế?”

    “Dạ. Thưa Ôn con sinh ở Huế, nhưng ở trong Nam lâu hơn.”

    Tôi chợt nhớ ra.

    Tuy giọng nói của tôi không còn trọ trẹ Huế chính gốc mà đã pha Nam, nhưng khi xưng hô thì tự nhiên gọi thầy bằng Ôn như hầu hết người Huế xưng hô với các vị tăng già.

    Chỉ sau ngày đấu tranh Phật giáo 1963, rồi sau đó lập ra nào là Viện Tăng Thống, Viện Hóa Ðạo mới gọi là Hòa Thượng, Ðại Ðức. Vừa xa lạ vừa kiểu cách. Lắm khi lại dùng danh xưng Ngài. Vừa phong kiến vừa xa thế gian.

    Trước đây chúng tôi gọi là Ôn Tường Vân, Ôn Linh Mụ, chẳng khi nào dám gọi đích danh là Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết, Hòa Thượng Thích Ðôn Hậu.

    Tiếng Ôn, nghe thân thiết gần gũi mà đâu có mất đi niềm tôn kính. Một lần tôi gọi “Thầy Ðôn Hậu”. Mạ tôi rầy. “Ðừng hỗn con. Gọi là Ôn Linh Mụ”. Tôi nhớ rõ, lúc còn làm cố vấn giáo lý cho các gia đình Phật tử, chúng tôi gọi là “chú Minh Châu, chú Thiên Ân...”. Mãi sau nầy mới đổi ra gọi là thầy, rồi thượng tọa khi các vị du học ở Ấn độ Nhật bản về làm Viện trưởng làm giáo sư đại học.

    Từ sự xưng hô này, thầy nhận ra tôi là người Huế.

    Thầy hỏi tôi:

    “Anh có nhận được tin nhà không? Vợ con thế nào?”

    Ý Ôn muốn hỏi thăm vợ con có đi lọt không.

    “Dạ cám ơn Ôn. Con có nhận được thư gia đình ở Saigòn tuần rồi”.

    Nhìn Ôn, tôi ái ngại:

    “Trông Ôn ốm yếu quá! Con lo Ôn không chịu đựng được.”

    Thầy cười, nụ cười Bồ Tát, nhìn tôi:

    “Tôi thì chỉ lo cho các anh không quen lao động cực khổ. Ăn uống lại quá thiếu thốn. Thương các anh chưa hề trải qua cái đói, cái lạnh. Riêng thầy xuất gia từ thuở nhỏ, dưa muối tương chao qua ngày, ruộng rẫy cũng đã làm. Thành thử thầy quen và chịu đựng được.”

    Ðôi mắt, giọng nói và nét mặt của thầy, trong phút chốc đã truyền qua cho tôi một sự an bình lạ thường. Không nói lời nào, Thầy đặt tay trên vai tôi xiết nhẹ...

    Kẻng báo giờ cơm. Ðám đông ồn ào từ ngoài sân ùa vào. Lặng người xúc động, tôi đứng dậy run run cầm tay Thầy từ giã. Ðôi tay gầy xương.

    4.

    Chúng tôi cùng mấy thầy mấy cha chuyển trại từ Sơn La về Vĩnh Phú sau đợt Trung cộng tràn qua biên giới phía Bắc. Tuy vẫn cùng ở chung một trại nhưng kỷ luật gắt gao, ăng ten chỉ điểm theo sát nên chẳng còn có dịp nào được gặp lại thầy.

    Một thời gian sau, người bạn kể cho biết thầy ngất xỉu ngoài hiện trường lao động phải đưa về bệnh xá cấp cứu. Ai cũng nghĩ thầy sẽ không qua khỏi. Trong lúc anh em buồn rầu lo lắng thì thầy hồi phục trở về tiếp tục lao động bình thường. Thầy chỉ bị kiệt sức. Ai hỏi thăm, thầy cười hiền lành:

    “Nhờ chư Phật gia hộ! Tôi còn sống và sống lâu nữa!”

    Thời gian ngắn sau đó thầy lại kiệt sức. Lại hồi phục. Có ai thăm hỏi, thầy lại cười hiền lành. “Nhờ chư Phật gia hộ! Tôi vẫn còn sống và sống lâu nữa.”

    Về sau anh em trong đội mới phát giác ra được nguyên nhân căn bệnh kiệt sức của thầy. Tổ lao động của thầy có mấy đại đức trước đây là đệ tử của thầy. Thường khi lao động về, mấy đại đức chia phiên lấy phần ăn cho thầy. Ðói cách mấy thầy cũng khoan thai ra giếng múc nước rửa mặt xong mới vào tọa thiền và thọ trai.

    Thời gian nầy, thức ăn cho tù vốn đã quá ít nay còn hạ xuống, vì khó khăn lương thực mất mùa. Phần ăn của thầy đã bị mấy vị trai trẻ lén lút xén gần hết. Thầy biết, nhưng tâm từ bi, chẳng than thở. Có chừng nào thì độ chừng đó. Cứ thế sức kiệt dần. Từ khi biết được nguyên nhân, anh em chia người canh giữ phần ăn cho thầy. Thầy cười!

    5.

    Thầy gượng khỏe cho đến ngày được tha.

    Mười mấy năm tù ngục đọa đày. Bao người trẻ tuổi khoẻ mạnh đã chôn xác tức tưởi góc núi, ven rừng. Ốm yếu như thầy vẫn thọ với đời. Thầy về được cho tạm trú trên căn gác thấp hẹp, trước cổng một ngôi chùa nhỏ nằm sâu trong hẻm cụt Saigon. Ngày vía, ngày lễ Phật, anh em tù cũ kéo đến thăm. Thầy liên lạc với ni cô đầu bếp, với mấy bà làm công quả để có mâm cơm chay tươm tất cho mọi người. Người tin Phật. Người tin Chúa. Người... Căn gác vui, rộn rã. Và ấm tình người.

    Tuổi quá tám mươi. Trên căn gác hẹp trước cổng ngôi cổ tự nghèo. Một sớm mùa xuân, Ôn viên tịch.

    “Tâm hương đảnh lễ”

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • TUỆ TRÍ
    Ninh Hạ Nguyễn Đức Tâm


    1.

    Trên bàn thờ Phật hương tàn đã lâu. Hai cây nến đỏ cháy cũng gần hết. Anh sáng lung linh mờ ảo trên mặt tượng Phật. Ẩn hiện nét cười hiền, siêu thoát. Ðiện Phật tĩnh lặng. Lẩn quất thanh thoát hương trầm, hương huệ trắng.

    Trời đã khuya.

    Sư Tuệ Trí tọa thiền bất động chừng đã lâu lắm. Hai hàng nước mắt lăn dài trên má. Những giọt nước mắt tưởng đã khô cạn từ lâu lắm. Trước ngày xuất gia, những nhục nhằn cay đắng, buồn đau khổ lụy của đời, chưa hề làm cho sư ứa lệ.

    Lần sau cùng sư khóc là ngày được tin mẹ mất. Và nay chỉ những khi nhớ đến me, với tất cả dạt dào thương cảm lẫn với niềm ray rứt ân hận, không được cận kề ngày mẹ bệnh, mẹ mất để săn sóc báo hiếu. Chỉ những khi nhớ đến những ngày mẹ con gần gũi bên nhau. Chỉ những lúc quỳ gối trước bàn thơ,ợ quán niệm danh hiệu Phật để cầu cho mẹ. Chỉ những lúc đó, Tuệ Trí mới rơm rớm khóc.

    Thế mà những ngày gần đây, một người phụ nữ khác đã làm Tuệ Trí ứa nước mắt dễ dàng mỗi khi hình dung đến. Những giọt nước mắt cưu mang nỗi đau đang cuồn cuộn trong lòng Tuệ Trí. Lồng ngực nặng nề như muốn vỡ tung. Tâm thần động loạn rã rời. Bao nhiêu công phu thiền tập giờ đã vô dụng. Những câu thiền chú và quán niệm trở thành nhạt nhẽo vô nghĩa. Tuệ Trí không theo dõi được hơi thở để tâm mình vắng lặng, trong sáng như trước đây .

    Cầm tà áo tràng nâu sồng lên lau khô nước mắt. Tuệ Trí sửa lại thế ngồi, thẳng lưng tập trung nhẩm tụng thiền chú. Thời gian lặng qua. Dù nhất tâm quán chỉ, Tuệ Trí vẫn bị vọng tưởng lôi kéo suy nghĩ miên man và khẽ gọi tên người thiếu phụ. Sư bỗng lại thấy mình ứa nước mắt. Tràn trề đau khổ. Gục đầu thổn thức. Nước mắt rơi ướt đẫm trang kinh. Tuệ Trí thờ thẩn đứng dậy. Vội vàng đảnh Phật. Nhìn dáo dát sợ có người bắt gặp.

    Chánh điện vẫn tĩnh lặng. Cây nến trên bàn thờ tắt ngấm từ lâu. Tượng Phật đã lẩn vào bóng tối dấu đi nét bao dung trên khuôn mặt đấng Từ bi.

    Cúi đầu đi thẳng vào hậu liêu. Cởi vội chiếc áo tràng. Tuệ Trí lên giường nằm, lâm râm niệm Phật, cố đi vào giấc ngủ. Nhưng nét mặt thiếu phụ nhất là ánh mắt nhìn, nụ cười, một cái gì đó mông lung bàng bạc cứ lãng vãng trong tâm trí. Sư không thể nào chợp mắt.

    Chuông chùa thong thả đổ báo thời công phu sáng. Tuệ Trí mệt mỏi gượng ngồi dậy lẩm nhẩm. “Lại một đêm mất ngủ!”


    Tám năm trời thanh thảng trôi qua. Từ ngày Tuệ Trí được sư cụ Tuệ Giác nhận làm đệ tử, vào chùa xuất gia tu học.

    Trình độ tri thức, phong cách chững chạc, những kinh nghiệm thực tế đau thương phi lý của cuộc đời và nhất là ý nguyện tu học đã giúp Tuệ Trí tiến nhanh trên đường tầm đạo. Tuệ Trí đã tìm được sự tĩnh lặng an trú, quên đi những phiền trượt của cuộc đờiợ sóng gió trước đây. Một đôi khi nếu có nhớ lại thì cũng thoáng qua mà không để lại bất cứ muộn phiền oán trách nào. Sư đã hiểu được cái nghiệp mình phải trả cho những điều dây dưa từ thuở kiếp nào.

    Tuệ Trí mãn nguyện đã tìm đi đúng đường. Ðúng lúc để được thỏa mãn những thao thức bẩm sinh về tâm linh, tri thức. Giờ đây Tuệ Trí lại có đủ điệu kiện lăn xả vào hạnh nguyện bố thí. Quên mình. Giúp người. Giúp đời.

    Sự việc hôm nay đến với Tuệ Trí căn nguyên từ một hạnh ngộ tình cờ.

    Cách đây mấy năm, một ngày cuối hạ. Tuệ Trí xuống làng để cùng dân chúng thu dọn một khu nhà đổ sập sau cơn bão rớt trái mùa. Dân làng thân quen gần gũi với sư, không những bởi tấm lòng từ bi xả thân vì mọi người, mà còn bởi tư chất thông minh hiểu rộng, lại rất hồn nhiên vui đùa dí dỏm. Ðiều này ít có ở giới tăng ni, thường đạo mạo, thích được cung kính hay được khúm núm vái chào. Tuệ Trí được người già tin cậy, người trẻ thân tình và trẻ con quấn quít.

    Hôm đó, vừa lui cui dọn dẹp, Tuệ Trí lại vừa pha trò làm cho lũ thanh niên cười ngặt nghẽo. Ai nấy hăng hái làm quên mệt. Ðang lúc ngước đầu chùi vội mồ hồi giỏ giọt trên trán, Tuệ Trí chợt thấy một thiếu phụ trung niên phúc hậu, đang vỗ về an ủi một gia đình buồn rầu vì cơ nghiệp bị thiên tai cuốn sạch.

    Thoáng nhìn khuôn mặt nàng, Tuệ Trí bỗng thấy xao động sững sờ. Tưởng như gặp một người thân yêu đã từ lâu xa vắng. Sư cũng thoáng thấy trong đôi mắt người lạ một thoáng xao xuyến kỳ lạ nào đó mà sư chỉ cảm nhận. Không giải thích được. Tất cả chừng như thoáng nhanh trong một sát na.

    Từ đó đến chiều Tuệ Trí ở trong một tình trạng mâu thuẫn. Khổ tâm. Một mặt muốn lẩn tránh điều mà sư linh cảm như một nghiệp chướng bất ngờ đưa đẩy đến. Mặt khác lại bị thôi thúc bởi một động lực vô hình mạnh mẽ. Muốn nhìn lại khuôn mặt, mới lần đầu gặp gỡ mà dường như đã thương yêu gần gũi lâu đời. Có lẻ thiếu phụ cũng ở trong cùng tâm trạng. Những lúc vô tình gặp nhau trong sân làng, cả hai lúng túng. Nhìn vội nhau. Ngoảnh mặt đi cố tránh.

    Chiều đến, lúc chia tay mọi người, Tuệ Trí gặp nàngỳ đầu hiên nhà. Nhìn nhau. Cả hai chẳng nói với nhau lời nào. Dù chỉ là lời từ biệt thường tình. Nhưng. Ánh mắt ! Như xuyên suốt tận cõi lòng âm u.

    Ðêm đó. Tuệ Trí đã thêm vào khóa kinh nhật tụng, lời sám hối những vọng tưởng si mê.

    Chống đỡ lẩn tránh. Hôm sau lấy cớ mệt, Tuệ Trí nhờ một sư đệ xuống làng thay mình. Quá trưa, sau giờ thọ trai của tăng chúng, Tuệ Trí bồn chồn thấp thỏm đứng ngồi không yên như có điều gì thôi thúc. Xế chiều, lòng nóng như lửa, Buông xuôi. Viện cớ phải xem xét công việc bỏ dở hôm qua, Tuệ Trí lấy nón vội vàng xuống núi.

    Thật ra chùa chỉ nằm trên ngọn đồi không cao lắm nhưng tách biệt với xóm làng. Sáng chiều, tiếng chuông chùa quen thuộc êm ả ngân vang lan tỏa tận cuối thôn. Tuệ Trí qua cửa tam quan ngôi cổ tự, lần theo mấy chục bậc cấp. Theo con đường sỏi đất đo, đến làng.

    Thấy sư, mọi người chào hỏi tíu tít thân tình. Công việc dọn dẹp cũng đã tạm xong. Tuệ Trí cố nhìn quanh tìm khuôn mặt người thiếu phụ hiền hậu. Tìm hoài chẳng thấy. Buồn bã. Thiếu vắng. Sư chậm bước, về chùa. Vừa đi vừa quán chỉ hành thiền. Cố xua đuổi phiền nảo chợt đến mà sao nặng nề.

    Kể từ hôm đó. Thỉnh thoảng trong giấc mơ, Tuệ Trí bất chợt thấy rõ khuôn mặt của người phụ nữ, dù chưa hề quen mà đã làm sư vấn vương khó giải thích. Tình cảm thương yêu và nhớ nhung vừa gây men hạnh phúc cho con tim ứa tràn sức sống, lại vừa làm cho sư mang một nỗi buồn cháy ruột. Sư chú tâm vào công phu tu tập. Dành thì giờ lăng xả vào công việc từ thiện. Công việc bận rộn đầu tắt mặt tối cũng giúp cho Tuệ Trí khuây khỏa. Tưởng chừng như đã quên được bóng dáng thương yêu.


    Mấy tháng nay chùa lập thêm một trạm xá cho dân chúng quanh làng.

    Tuệ Trí được sư phụ Tuệ Giác giao phó trông coi. Sư bàng hoàng. Vui mừng mà cũng thấy lo vu vơ, khi biết được trong những người làm công quả có Nhân Ai. Người thiếu phụ sư đã tìm cách quên đi. Chỉ sau một thời gian ngắn, Tuệ Trí nhận ra tên và người tưởng như là một. Như thực và ảnh trước tấm gương soi. Nhân hậu và đơn giản. Nhân hậu với mọi người và đơn giản khiêm tốn trong cung cách sống. Ðiều này chỉ có thể có với những người có một đời sống nội tâm phong phú, đã hiểu được giới hạn của những phù du và lẽ vô thường.

    Nhìn Nhân Ai săn sóc người bệnh, an ủi người già cả ốm yếu tật nguyền hay vỗ về vui đùa với trẻ nhỏ, Tuệ Trí xúc động thật sự và có một niềm thương phục. Một nguồn cảm thông chỉ có giữa những người đồng điệu, biết quên mình vì đồng loại, Những người nếu chưa vươn tới được cái tâm của Bồ Tát thì cũng đã vượt qua cái nhỏ nhen ích kỷ thường tình. Những người mà quanh họ dường như như tỏa trùm một không khí đầy tình thương, tạo được giữa người và người sự tin cậy, thân tình vui vẻ.

    Cái duyên hạnh ngộ đã đưa Tuệ Trí đến cái nghiệp yêu thương.

    Càng ngày Tuệ Trí càng thấy không thể cưởng chống lại một tình cảm sâu đậm nhớ thương cuồn cuộn dấy lên trong lòng mình. Một trạng thái tình cảm chưa hề kinh nghiệm dù đã trải qua đời sống chồng vợ trước khi vào chùa. Tuệ Trí bắt đâu cảm nhận những kỳ diệu của tình yêu và những xót xa của một nỗi buồn quay quắt lúc xa vắng. Sư cầu nguyện, trì tụng kinh chú và thiền định để tâm vắng lặng, trong sáng, thảnh thơi. Tất cả dường như bất lực.

    2.

    Sư cụ trụ trì Tuệ Giác gần đây nhận thấy có một sự bất an nào đó thể hiện qua thái độ bồn chồn và nét mặt đau khổ cố che đây của trưởng tử. Người mà sư cụ rất thương yêu tin cậy và có ý định truyền y bát trước khi viên tịch để kế tục cai quản chùa. Thay mình hướng dẫn tăng chúng tu học.

    Chiều nay, gặp Tuệ Trí trên hiên chùa, sư cụ nhỏ nhẹ. “Con theo ta.” Nói xong, lặng lẽ chống cây thiền trúc chậm rãi đi trước về phía sân chùa. Nơi có những cây thông lâu niên, hàng dương liễu vi vu trong gió chiều. Tuệ Trí thấp thỏm cúi đầu. Nặng nề bước theo chân thầy.

    Qua khỏi sân chùa, hai thầy trò đến khu bảo tháp nơi cất giữ nhục thân các vị trụ trì quá vãng. Khu tháp sạch sẽ và thoáng mát. Ngồi xuống trên tảng đá dưới gốc thông già, sư cụ chỉ tay cho đệ tử ngồi cạnh.

    Tuệ Trí linh cảm điều nghiêm trọng. Nhìn nét mặt, thấy thầy mình bình thản tự tại nên cũng vơi nỗi lo.

    “Tuệ Trí con. Ta thấy con có điều gì bất an nên âu sầu ủ rũ?”

    Cúi mặt xuống đất để tránh ánh mắt sư phụ. Biết không thể che dấu. Và thật lòng chẳng có điều gì muốn dấu sư phụ. Tuệ Trí ngập ngừng.

    “Dạ...Dạ thưa thầy có.”

    “Con nói cho ta nghe. May ra, ta có cách gì giúp được con hay không?”

    Ngẫng đầu, rụt rè nhìn sư phụ. Thấy người đang nhìn với ánh mắt đầy thương yêu, Tuệ Trí hết ngại ngùng. Kể lại cho sư phụ từ đầu mối tình vọng tưởng. Nỗi đau chất chứa và tâm thần động loạn bất trị hiện nay.

    Sư Tuệ Giác lắng nghe. Tiếng gió chiều và tiếng thông reo đã lấn tiếng thở dài nhẹ, buồn, của vị tăng già luống tuổi. Tuệ Trí hồi hộp chờ đợi.

    “Mô Phật. Ta hiểu và không trách mắng gì con.”

    “Cám ơn thầy. Con biết mình phạm tội và phụ lòng thầy nhưng con không thể nào kiểm soát con được nữa. Con...Con thật cố hiểu mà không thể hiểu được!”

    Tuệ Trí thổn thức.

    Ðặt tay bóp nhẹ vai đệ tử, như chuyền thêm nội lực và tình thương. Thông cảm. Sư Tuệ Giác trầm giọng

    “Ta hiểu được!”

    Tuệ Trí ngạc nhiên nhìn thầy.

    “Ta nghĩ. Ngay lần đầu gặp gở con đã bị động tâm. Chẳng qua vì Nhân Ai có nét mặt rất giống con. Thầy cũng đã tự hỏi phải chăng hai đứa này là anh em hay sao mà có những nét giống nhau ?”

    Tuệ Trí thoáng giật mình, xúc động. Việc này tưởng chỉ mình biết. Ðâu ngờ sư phụ cũng đã theo dõi và cố tìm cho ra một lời giải thích.

    Thấy đệ tử nhìn mình với đôi mắt mở lớn, Sư Tuệ Giác mĩm cười:

    “Này con! Chúng sinh dù nam hay nữ, may mắn được sinh ra với dung nhan đẹp đẽ tuấn tú hay không may có bộ mặt chẳng dễ coi, có khi tật nguyềnànhưng chẳng ai ghét được mặt mình. Ngày ngày nhìn ảnh mình trong gương soi, tất cả nét hình của mình dội vào tiềm thức ghi dấu và tích lũy âm thầm ở đó. Cho nên giữa đám đông người xa lạ lại có cảm tình quyến luyến đặc biệt với một người nào đó, cho dù người này không đẹp không duyên dáng bằng những người khác. Chẳng qua dưới tác động của tiềm thức, ta có khuynh hướng tìm về những nét thân quen. Con chỉ thấy Nhân Ái một lần rồi đem lòng thương yêu. Tưởng nhớ quay quắt. Bởi vì.. Bởi vì con đã gặp lại...chính mình!”

    Tuệ Trí im nghe sư phụ giải thích. Lắc đầu nhè nhe. Nghi ngờ

    “Thưa thầy! Ðiều nay cũng có lý phần nào. Con thấy nhiều cặp vợ chồng quả có khuôn mặt hao hao giống nhau. Nhưng...Nhưng...”

    Thấy đệ tử còn có vẻ nghi ngờ, sư cụ nói thêm

    “Cũng có thể trong một kiếp nào đo, con và Nhân Ai đã là anh em gần gũi thân thiết. Những kinh nghiệm và hành động trong quá khứ đã hằn sâu trên hành trình của tâm thức. Ðến kiếp này khi điều kiện cho phép, như sự gặp gỡ tình cờ của chúng con, thì một động lực chuyển vào tâm trí thúc dục con có tình cảm yêu thương và ước mong gần gũi.”

    Tuệ Trí trầm ngâm. Ngước nhìn thầy. Giọng man mác buồn

    “Thưa thầy. Nếu như con thương hình bóng con, đó là tình cảm giữa hai anh em và cùng lắm là hai anh em sinh đôi, đâu đến nổi si tình không chống đỡ được!”

    Sư cụ Tuệ Giác cười nhẹ khó hiểu. Chống gậy. Run run đứng lên. Tuệ Trí bật dậy đỡ thầy.

    “Cứ để mặc ta. Ta còn khỏe lắm, chỉ muốn đi một vòng cho dãn gân cốt.”

    “Hay con đưa thầy về chùa nghỉ?”

    “Không. Không. Thầy vẫn muốn vẫn thích nói chuyện với con. Con cứ nói hết ra đi. Chỉ khi nào nhận ra được nguyên nhân của khổ lụy thì mới đoạn trừ khổ lụy.”

    “Bạch sư phụ. Thầy cũng đã dạy cho con biết tâm thức vốn vô thủy vô chung. Không bắt đầu mà cũng không chấm dứt. Không được tạo ra hay hủy diệt mà chuyển hóa không ngừng. Thân xác con và Nhân Ái chỉ mang tâm thức được tái sinh của một ai đó trong tiền kiếp. Và nếu như vậy chúng con không thể là anh em hay bạn hữu vì kinh nghiệm của tâm thức về tình cảm anh em không thể giống như tình yêu trai gái. Mà thưa thầy...trường hợp của con...”

    Tuệ Trí ngập ngừng rồi ấp úng thú nhận:

    “Trường hợp của con...là một khao khác yêu đương. Mong nhớ nóng cháy tâm can.”

    Sư cụ Tuệ Giác quay người nhìn thẳng mặt đệ tư. Cười lớn:

    “Vậy thì kiếp trước hay một kiếp xa xôi nào đó các con đã là vợ chồng!”

    Tuệ Trí vẫn đăm chiêu. Nét mặt nhuốm khổ đau. Bị khơi lại một dĩ vãng, tưởng chừng đã quên lãng.

    “Có thể là vậy. Nhưng trong đời sống vợ chồng thế gian có bao nhiêu đôi lứa thương yêu nhau thật sự tận cuối đời để khao khát được gặp lại trong đời sau?”

    Sư Tuệ Giác lại cười lớn thú nhận.

    “Ðiều này thì thầy không kinh nghiệm. Ta đi tu từ thuở lên sáu.”

    Tuệ Trí xuống giọng. Tâm sự với thầy mà như nói cho riêng mình.

    “Nhiều gia đình trông vào, đôi vợ chồng vẫn chung sống với nhau. Ðằm thắm hạnh phúc con cháu. Nhưng thật ra. Hoặc vợ hoặc chồng. Có khi cả hai. Ðều mang một nỗi cô đơn trống vắng. Thiếu hẳn thương yêu thông cảm, sẻ chia của người bạn đường. Vì luân lý đạo đức. Vì những ràng buộc hệ lụy kết chằn. Họ đã nhẫn nhục. Kéo dài cuộc sống không hạnh phúc vì trách nhiệm, vì quyết định lựa chọn của mình.”

    Sư cụ hỏi chận:

    “Ý con nói những cặp vợ chồng đó sống với nhau vì nghĩa. Vì bổn phận. Không phải vì tình. Phải không? Nhưng theo ta. Ðó là cái cao quý nhất. Bởi vì nghĩa gắn liền với hy sinh. Chỉ cho, mà không nhận. Và cũng có thể do cái nghĩa vợ chồng ràng buộc đó từ kiếp nào mà giờ đây các con tìm đến nhau ?.”

    Tuệ Trí không trả lời. Biết thầy mình khó mà hiểu được rằng. Yêu mà chỉ nhận về cho mình không mà thôi, đó không phải là yêu mà chỉ sự hưởng thụ ích kỷ. Ngược lại yêu mà chỉ cho, chỉ hy sinh thì đó là một hình thức nô lệ được bào chữa và ca tụng nhân danh đạo lý. Tình yêu thực sự là một tặng phẩm rất tuyệt vời mà chúng sinh có được. Vừa nhận lại vừa cho. Tự nhiên không tính toán. Ðôi lứa cùng chia sẻ hạnh phúc. Không ai phải chịu đựng ai mà rất cần có nhau. Có được tình yêu, kinh nghiệm được sự kỳ diệu của nó. Lại được sống với tình yêu. Can đảm giữ được tình yêu. Trên đời này bao nhiêu người?

    Thấy Tuệ Trí không trả lời mà lặng thinh khó hiểu. Sư cụ kiên nhẫn chờ.

    Mặt trời đã gần khuất sau những ngọn tháp, chỉ còn thoi thóp những tia nắng xiêng khoai. Cũng sắp đến giờ cơm chiều mà câu chuyện giữa hai thầy trò vẫn còn dang dở.

    Tiếng chuông chiều thong thả vang dội. Phá tan cái tĩnh lặng của chiều hè và đưa Tuệ Trí ra khỏi dòng suy tư.

    “Thưa thầy. Nếu vì nghĩa thì có gặp nhau cũng chỉ là cái nợ phải lo lắng. Ðó thuộc về cái lý của cái đầu. Chứ đâu có cái nhớ thương ray rức của cái tình, thuộc về con tim.”

    Tuệ Trí dìu sư phụ trở lại chùa. Vừa đi vừa nói, lòng vẫn nặng nề trầm uẩn

    “Thưa thầy. Cơ duyên đưa đẩy để gặp lại người từ tiền kiếp đã là muôn một hiếm hoi. Vợ chồng thương yêu gắn bó như người bạn đường, vẫn mong hạnh ngộ trong kiếp sau, lại là một hiếm hoi khác. Hai cái hiếm hoi cùng xẩy ra thì không thể nào có được.”

    “Như vậy thì theo ta thì chắc chắn ở một kiếp nào đó con và Nhân Ai là hai kẻ đang yêu nhau ý hiệp tâm đầu. Do một ngang trái nào đo, có thể là tai nạn hay chiến tranh mà phải chia ly tức tưởi để lại trong nhau một niềm đau mất mát tận cùng. Kinh nghiệm đó đã ghi trên dòng tâm thức chuyển di. Qua bao đời bao kiếp các con đã đi tìm nhau trong vô minh. Vì...Vì chính các con cũng không biết. Trong mỗi các con hình như mang một nỗi cô đơn khắc khoải trống vắng. Một khát khao mơ hồ nào đó. Cơ duyên hiếm hoi diệu kỳ, Các con đã gặp nhau và bỗng phát hiện cái thiếu vắng mình đang kiếm tìm. Thế nên, mới thấy mà đã yêu nhau và tưởng chừng đã gần gũi quen nhau biết nhau, ràng buộc nhau từ lâuàlâu lắm.”

    Tuệ Trí chợt sững người trước cách lý giải của thầy. Thoáng mừng như có chỗ để bám víu:

    “Nếu như vậy con và Nhân Ai đâu có tội lỗi gì. Vì đây...Vì đây chỉ là cái nghiệp của chúng con.”

    Thấy Tuệ Trí hăng hái biện hộ, Sư cụ Tuệ Giác cười ra tiếng

    “Không! Nghiệp chỉ là động lực thúc đẩy. Nhưng hành động hay không là trách nhiệm do mình lựa chọn. Do trình độ tĩnh thức.”

    Tuệ Trí xuống giọng:

    “Thưa thầy. Tình cảm mà mức độ cao nhất là tình yêu miên man như sông như suối, chảy mãi không ngừng, tuôn tràn như thác đổ. Có thể nào,Thưa thầy! Có thể nào dùng sự tĩnh thức để ngăn thác nước ngừng chảy nửa chừng cao?”

    Chưa kịp trả lời cho Tuệ Trí, hai thầy trò đã về đến hiên chùa. Câu chuyện bỏ dở. Ðến giờ cơm chiều. Chúng tăng đã tề tựu đông đủ và đang chờ sư phụ ở trai phòng.

    Sáng tinh mơ hôm sau. Ngoài trời vẫn còn tối đen. Bên trong chánh diện, đèn nến sáng rực.

    Ðến giờ khoá kinh sáng thường lệ. Mọi người nghiêm trang trầm mặc vân tập quỳ gối tại điện Phật. Sư cụ Tuệ Giác vẫn chưa thấy bóng dáng Tuệ Trí đâu. Thường ngày Tuệ Trí đến sớm hơn hết để lên đèn thắp hương, điều khiền tăng chúng. Bao năm nay chưa hề sai trễ. Nghĩ rằng đệ tử mệt nhọc ngủ quên. Vẫy gọi chú tiểu. Sư cụ sai chạy vào hậu liêu đánh thức. Một lúc sau chú tiểu hốt hoảng chạy ra nói nhỏ điều gì với sư cụ. Người vội vả đi về phía sau chánh điện.

    Ðến trước cửa phòng của Tuệ Trí, sư cụ thoáng ngần ngại rồi đẩy mạnh cánh cửa gỗ vào phòng. Tiếng rít khô khan.

    Phòng vắng lạnh. Chiếc áo tràng nâu sồng Tuệ Trí thường mặc, treo trên cột nhà. Trên chiếc bàn nhỏ, chuổi tràng hạt, vật bất ly thân, được để ngay ngắn trên cuộn sách kinh đã gấp lại. Gối mền vẫn còn thẳng nếp trên khung giường nhỏ cuối phòng.

    Tuệ Trí đã bỏ chùa ra đi. Dễ chừng từ đầu hôm. Lúc trăng vừa mọc.


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group