Góp nhặt lá bồ đề - Thích Tịnh Nghiêm

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Góp Nhặt Lá Bồ Đề

    TU VIỆN KIM SƠN ẤN HÀNH



    Thích Tịnh Nghiêm





    Lời Tựa


    Tập truyện Phật giáo này, gồm trên 70 câu truyện, rút từ các kinh, luật và luận, hoặc những chuyện mắt thấy tai nghe, có liên quan đến Phật giáo, cũng đem vào.

    Tập truyện này viết theo ký ức, nên không nhớ nhân danh, địa danh và thời gian. Mong chự vị độc giả thông cảm cho.

    Những câu truyện trong đây viết bằng lối văn bình dân, mộc mạc, để người đọc dễ hiểu. Viết không thêm bớt và cũng không phê bình. Nếu có, cũng chỉ bình giải nhẹ thôi, mục đích để độc giả suy tư, phê phán và rút ra một bài học rồi áp dụng trong cuộc sống của mình.

    Phải chẳng đời hay đạo cũng chỉ là những chuyện lặp đi lặp lại mà thôi. Nhân quả báo ứng, thưởng thiện phạt ác. Chủ đích khuyên răn mọi ngưiờ, dù đời hay đạo cũng phải tu nhân tích đức, ăn hiền ở lành thì cuộc sống mới được hạnh phúc, an vui, hiện tại thân tâm thường an lạc và tương lai hướng đến Niết Bàn giải thoát.

    Kính thưa các vị thiện tri thức, trong các câu truyện này có gì thiếu sót, xin quý vị từ bi chỉ giáo cho tôi. Tôi thành thật tri ân.

    Nhân chuyến viếng thăm Tu viện Kim Sơn, miền bắc California, Hoa Kỳ, trong Mùa An Cư năm 2003. Bắt đầu viết ngày 1-7-2003 và hoàn tất cuối tháng 8-2003

    Kính đề,

    Thích Tịnh Nghiêm

    tại Tu viện Kim Sơn





    Tình Thiêng


    Thầy chúng tôi qua đời, để lại một số tác phẩm đậm nét tình thiêng – tình người, tình quê hương, tình thầy trò, tình cha mẹ sinh dưỡng con yêu, tình nuôi lớn chí phụng sự và những Đức Phật tương lai.

    Với tôi, hai tác phẩm quý nhất và lớn nhất cũng là quan trọng nhất, đó là sư huynh Tịnh Nghiêm và sư đệ Tịnh Diệu. Thầy tôi không còn nữa, nhưng cái tình thiêng liêng của thầy tôi còn thênh thang cả đó, còn hiện hữu đầy ắp trong con người của sư huynh và sư đệ của tôi.

    Thầy Tịnh Nghiêm, giới đức thanh tịnh, tâm trí sáng rực, lời nói hiền hòa, nụ cười tươi mát. Thầy Tịnh Diệu, giới đức và trí tuệ cũng vượt xa con ngựa gầy như tôi, lại có đức tính cần mẫn, nhẫn nại, trực tiếp đảm đang mọi sinh hoạt của Tu viện Tổ đình Giác Hải, trước và sau khi thầy chúng tôi vắng bóng. Nhờ tình thương rộng lớn của sư huynh Tịnh Nghiêm và sư đệ Tịnh Diệu mà cá nhân tôi được du phương hoằng hóa, học tập và xây dựng một vài Phật sự khiêm tốn nơi vùng đất Hoa Kỳ.

    Thầy Tịnh Nghiêm “quyền huynh thế phụ” không dạy và không quở trách tôi bằng lời, mà bằng cách sống từ hòa, vững chải, khiêm tốn, kính yêu, thương mến đàn em hết mực, như ruột gan của Thầy. Trong hoàn cảnh “gạo châu củi quế”, ngày ngày thầy tích cực cuốc đất trồng rau, trồng cây ăn trái, gieo mùa để huynh đệ không vì đói mà thối chí trên đường tu.

    Thầy Tịnh Diệu thì như cái cột chính, gắn liền trong căn nhà lớn năm gian, không thể rời chùa, rời chúng tôi, rời bổn đạo và Phật tử nửa bước để chùa thênh thang như đám mây trời. Thầy dành dụm từng miếng vải, từng bát gạo, từng lọ tương, từng hũ muối, từng chiếc mền cũ rách, để làm no, làm ấm cho một đại gia đình đông con trong cảnh nghèo khó. Thầy dấu kỹ từng tờ giấy bạc nhàu nát bị thay đổi nhiều lần bởi quốc biến, để đổi từng thẻ vàng, dành dụm mua gỗ, mua ngói dựng lại ngôi chùa nhỏ mà thầy chúng tôi xây dựng lâu năm đã bị mối mọt đục khoét. Thầy lại phải can tâm chia sớt cho tôi phần tài chánh thiêng liêng như những giọt máu, giúp tôi sống dậy trong những năm tháng đầu du học tại Mỹ.

    Tâm sự mấy dòng nầy nơi đầu tác phẩm của sư huynh Tịnh Nghiêm tôi, là để lưu một chút tích xưa có dính líu tới cái tình của người tu bây giờ và về sau. Tình thầy trò, tình huynh đệ và tình người mà được tưới tẩm, chăm bón cẩn thận, đầy đủ rồi, chuyện làm Hiền, làm Thánh, làm Phật không phải là chuyện khó làm. Năm ngoái, 2002, có sư đệ Tịnh Diệu qua Tu viện Kim Sơn thăm sáu tháng, và năm nay, 2003, lại có sư huynh Tịnh Nghiêm sang thăm sáu tháng nữa. Đó là thời gian vui nhất, hạnh phúc nhất và quý báu nhất cho thầy trò, tăng ni, Phật tử chúng tôi tại tu viện Kim Sơn.

    TÌNH KHÔNG BẾN



    Tình ta gởi tận muôn phương

    Cho hoa nở khắp trên đường nhân gian

    Mắt em là cửa thiên đàng

    Mắt anh sáng dậy thênh thang mấy tầng.

    Thuyền qua biển sóng mênh mông

    Chở trăng và những giọt không giữa dòng

    Bao giờ bến đục chưa trong

    Ta còn có mặt bên giòng tử sinh.

    Trầm luân dẫu có vô tình

    Đâu đây hiện dáng chân hình ngàn xưa

    Thu về hạt nắng đong đưa

    Ngồi nghe vàng xuống lưa thưa ráng chiều.

    Tình không bến rộng bao nhiêu

    Ta còn ở đấy bấy nhiêu đợi chờ

    Tận cùng cuộc lữ bơ vơ

    Nụ hôn từ thuở ban sơ rạng ngời.



    Bài thơ Tình Không Bến trên đây, tôi làm để tưởng niệm bổn sư chúng tôi, trọn đời sống vì đạo, vì tình thương không bờ bến trong việc giáo dưỡng đồ chúng. Bài thơ này cũng để thương tặng sư huynh Tịnh Nghiêm và sư đệ Tịnh Diệu, vốn là hai đệ tử tâm đắc của thầy tôi. Hai thầy là hai “tác phẩm tâm linh lớn, sống động, diệu kỳ” mà thầy tôi để lại cho đời, đạo pháp và quê hương.

    Bây giờ đến thế hệ chúng tôi, mỗi vị đang đem hết tâm tư săn sóc từ mười, hai mươi, đến năm mươi đệ tử xuất gia và hàng ngàn đệ tử tại gia. Chúng tôi ước mong trong số các học trò của chúng tôi cũng có “vài tác phẩm tâm linh lớn”, có chí cả, tiếp nối sự nghiệp của chư Phật và thầy tổ. Chí cả ấy, trước hết là có nghĩa thầy trò, có tình huynh đệ, có sự nỗ lực học tập để dấn thân trong thời đại mới. Chí cả ấy, là sự thể hiện tích cực của việc hành trì giới luật và công phu thiền định trong mỗi giây phút. Chí cả ấy, là sự thao thức trực diện nỗi khổ trầm luân vì thiếu tuệ giác của con người. Chí cả ấy bao hàm trong sự pháp Bồ đề tâm - hướng đến trí tuệ vượt thoát sanh tử, cùng lập nguyện hoằng dương Phật pháp và giáo dưỡng các thế hệ Phật tử trong tương lai.

    Thích Tịnh Từ

    Viện trưởng Tu viện Kim Sơn




    Đôi nét về tác giả:
    Hòa thượng Thích Tịnh Nghiêm, thế danh là Mạc Văn Khoa, sinh năm 1941. Thọ đại giới, 1964. Tốt nghiệp trung đẳng Phật học viện Huệ Nghiêm, 1967. Tốt nghiệp Cử nhân Phật học, Đại học Vạn Hạnh, 1971. Giám học Phật học viện Giác Nguyên, 1972-1975. Viện trưởng Tu viện Giác Hải, Vạn Ninh, Khánh Hòa. Viện chủ Chùa Vạn Hạnh, Cam Ranh, Khánh Hòa. Chánh đại diện Phật giáo, thị xã Cam Ranh.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Ăn Lỗi Lầm



    Một hôm, đại chúng ăn cơm phát hiện trong nồi canh có đầu rắn, kêu vị đầu bếp lại hỏi, “Canh hôm nay sao có đầu rắn:”

    Vị đầu bếp liền lấy đầu rắn bỏ vào miệng nhai, nuốt tỉnh bơ. Đại chúng thấy vậy không còn nói năng gì nữa.

    Thế mới biết, người biết nhận lỗi thì ai cũng có thể tha thứ được.

    Lỗi lầm sám hối ăn năn

    Lấy làm hổ thẹn nguyện hằng sửa sai.

    Tâm trong mỉm nụ sen đài

    Sống bằng tỉnh thức tương lai rạng ngời.

    Khổ đau biển lệ đầy vơi

    Nghiệp căn tệ ác bao đời trầm luân

    Nơi đâu cũng thấy mùa xuân đơm đầy.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Bà-La-Môn Cúng Dường Phân Biệt



    Khi Phật còn tại thế, có ông Bà La Môn ưa bố thí cúng dường. Nhà ông tổ chức lễ cúng trai tăng, nhưng ông chỉ thỉnh các vị tỳ kheo già, càng già càng tốt. Vì già là tu hành nhiều năm, đạo cao đức trọng, cúng dường mới được nhiều phước. Còn những thầy tỳ kheo nhỏ tuổi, mới xuất gia, đạo đức chưa có là bao, nếu cúng dường thì được ít phước. Nhất là các chú sa di tuổi nhỏ, lắc xắc, không có oai nghi, ưa chơi giỡn cười t hì có phước đâu bồi đắp cho thí chủ.

    Một hôm, nhà ông Bà La Môn thiết trai. Để phá quan niệm sai lầm của ông, các vị sa di đã chứng quả A La Hán, hóa làm các vị tỳ kheo già, chân đi không vững, phải chống gậy, râu tóc bạc phơ. Ông Bà La Môn thấy, ra tận ngõ mời vào, lễ bái trông rất cung kính. Chặp sau, các tỳ kheo già đó bỗng biến ra trẻ, ông Bà La Môn giựt mình đến hỏi, “Vì sao quý Ngài trước thấy già mà bây giờ lại trẻ?”

    Các vị sa di nói, “Trưởng lão không phải tóc bạc, mặt nhăn là trưởng lão. Trưởng lão là những người đã chứng thánh quả mới gọi là trưởng lão.” Ông Bà La Môn xin sám hối. Và khi dọn thức ăn lên thì chư vị sa di không ăn vì đã thuyết pháp trước khi ăn, cho nên thức ăn trở nên bất tịnh. Ông Bà La Môn thưa, “Bây giờ thức ăn này nên xử trí làm sao?”

    Chư vị sa di nói, “Nên đổ chỗ nào không có côn trùng. Không có ai ăn mà tiêu được, vi thức ăn này của các bực thánh.”

    Ông Bà La Môn làm theo. Khi đổ cơm, ông thấy bốc lửa phực cháy. Từ đó, ông bỏ quan niệm cúng dường mà còn phân biệt.

    Cúng dường cầu phước đức

    Không nên có phân biệt.

    Bình đẳng mà bố thí

    Công đức thật vô biên.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Bánh Ít Nhân Thịt Chó



    Vua Lương Võ Đế ở Trung Hoa là ông vua Phật tử. Trong thời gian ông làm vua, ông đã xây cất 72 ngôi chùa, cúng dường hơn 3000 tỳ kheo tăng. Nhưng ông lại có bà ái phi rất độc ác, không tin ngôi Tam Bảo, tên là Hy Thị.

    Vào thời đó, có Hòa thượng Chí Công là người đắc đạo. Nhà vua rất cung kính, quý mến Hòa thượng Chí Công. Một hôm, nhà vua lên chùa thăm Hòa thượng và thỉnh Hòa thượng nói kiếp trước của mình. Hòa thượng từ chối, nhưng nhà vua cố thỉnh. Hòa thượng Chí Công phải nói nhưng dặn đừng về nói với ái phi. Nhà vua hứa sẽ không nói.

    Hòa thượng Chí công kể như sau: Ngày xưa, có một ông tiều phu đốn củi. Một hôm, ông vào rừng tìm củi để đốn. Tình cờ, ông gặp một ngôi chùa bỏ hoang. Vách chùa vẫn còn, nhưng mái thì hư, không còn nữa. Trên bàn thờ còn bảy Đức Phật lớn và hai đức Phật nhỏ. Ông thấy Phật ngồi bị nắng mưa rất tội nghiệp. Ông phát tâm mua bảy cái nón để đội cho bảy Đức Phật lớn. Còn hai Đức Phật nhỏ thì làm nón nhỏ bằng bẹ cau. Nhờ phước đức này, ông tiều phu kiếp sau sẽ được làm vua.

    Có một lần, ông tiều phu vào núi đốn củi. Ông đến một hòn đá lớn, có bóng cây râm mát bên dòng suối, ông để gói cơm, và vào rừng chặt củi. Trưa, gánh củi ra, ăn cơm, rửa tay chân, và nghỉ trưa. Xế chiều, gánh củi về nhà.

    Một hôm khác, ông cũng để gói cơm trên cây nơi hòn đá, rồi vào trong rừng chặt củi. Nhưng khi gánh củi ra thì gói cơm biến mất. Ông lại thấy cơm vung vãi. Ông đi theo dấu cơm rơi bắt gặp bầy khỉ đang ăn cơm của ông. Ông đói bụng, giận quá, rượt theo bầy khỉ. Bầy khỉ túng cùng, chạy vào hang đá, và ông lấy đá lấp miệng hang. Bầy khỉ không đi ra được, bị chết đói.

    Hòa thượng Chí Công kết luận: Tiền thân của bệ hạ là tiều phu, nhờ phước cúng nón cho Phật mà được làm vua. Như vì hại bầy khỉ chết đói nên sau phải bị quả báo. Nhà vua nghe nói không vui nhưng lại thỉnh Hòa thượng nói tiền thân của ái phi Hy Thị.

    Hòa thượng Chí Công lại kể: Về thuở xưa, có một ngôi chùa ở trên núi. Trụ trì ngôi chùa này là một vị Hòa thượng đắc đạo. Tăng chúng trong chùa vài ba chục người. Có thầy thủ tọa là lớn hơn hết.

    Một hôm, Hòa thượng phải xuống nhân gian làm Phật sự, ở lại đêm. Thầy thủ tọa và chư tăng thức khuya nên ngủ trễ. Gần bên áng nước nhà phương trượng có con dế, tu ở chùa lâu năm nên có tánh linh. Mỗi buổi khuya, lúc 3 giờ rưỡi, nó gáy. Tăng chúng dậy công phu khuya.

    Hôm đó, đúng giờ nó cũng gáy. Thầy thủ tọa không chịu dậy. Nó gáy đến lần thứ ba, thầy thủ tọa dậy, cầm dao ra chặt nó đứt làm hai, rồi vào tiếp tục ngủ nữa.

    Sáng hôm sau, Hòa thượng ra áng nước thấy con dế bị chặt làm hai, kêu thị giả lấy bẹ chuối làm hòm, lấy lụa đỏ quấn con dế lại và đem nó đi chôn, chú nguyện. Hòa thượng dạy, “Con dế ở chùa lâu năm, biết gáy, đã có tánh linh. Ai giết nó phải bị quả báo.



    Hòa thượng Chí Công kết luận: Tiền thân của tôi là thầy thủ tọa. Vì vậy ái phi rất ghét tôi.

    Nhà vua nói, “Hèn chi, ái phi thường hay đau lưng và lúc nào cũng quấn miếng lụa đỏ ở quanh lưng.”

    Hòa thượng Chí Công nói, “Xin Hoàng thượng đừng nói cho ái phi biết chuyện này. Nếu biết thì oan trái sẽ tăng thêm.”

    Chiều đó, vua Lương Võ Đế về, có vẻ không vui. Ái phi Hy Thị hỏi chuyện thì nhà vua nói tránh việc khác. Ái phi lại tiếp tục hỏi chuyện. Nhà vua không dấu được, phải nói thật lại câu chuyện tiền thân của nhà vua và ái phi. Ái phi nghe nhưng cũng không nói gì.

    Thời gian sau, ái phi phát tâm cúng trai tăng tại cung vua, thỉnh Hòa thượng Chí Công chứng trai và chư tăng của chùa Ngài đều tham dự. Ái phi Hy Thị bí mật làm bánh ít nhân thịt chó để cúng trai tăng.

    Hòa thượng Chí Công đã chứng đạo nên biết việc này, cũng cho làm 100 bánh ít chay, mỗi thầy thủ một cái. Đợi khi ăn cơm xong khéo léo đổi bánh để ăn. Lúc ăn cơm xong, trời hiện năm sắc mây lành, mọi người ra coi. Không ai để ý, quý thầy thừa cơ lấy bánh ít chay trong tay áo ra đổi rồi ăn.

    Sau lễ trai tăng, ái phi Hy Thị nói với vua Lương Võ Đế, “Nhà vua bị gạt. Hòa thượng Chí Công đã dựng chuyện lên, nói chuyện tiền thân để mắng xéo bệ hạ là hạ tiện tiều phu, còn thiếp là súc sanh. Hòa thượng Chí Công đâu có đắc đạo mà biết được tiền kiếp.”

    Nhà vua hỏi, “Tại sao ái khanh biết?”

    Hy Thị đáp, “Lễ trai tăng vừa rồi, thiếp cho làm bánh ít nhân thịt chó. Chư tăng và Hòa thượng Chí Công đã ăn hết. Như thế là phàm tăng. Nếu là thánh tăng thì biết, đã không ăn. Như vậy, truyện tiền kiếp chỉ là bịa đặt, dối gạt mà thôi.”

    Nhà vua nghe nói nổi trận lôi đình, liền kéo một đội quân tinh nhuệ lên giết hết chư tăng ở trong chùa.

    Hòa thượng Chí Công biết trước, nên ra đứng trước cổng tam quan. Nhà vua hầm hầm kéo quân lên, thấy Hòa thượng đứng chắn. Vua hỏi, “Hòa thượng làm gì đứng đây?”

    Hòa thượng đáp, “Tôi biết bệ hạ lên giết tôi, cho nên tôi đứng đây để cho bệ hạ giết, khỏi ô uế chốn già lam, cho nhẹ bớt tội.”

    Nhà vua nói, “Nếu Hòa thượng biết được như thế, tại sao lại ăn bánh ít nhân thịt chó?”

    Hòa thượng đáp, “Chúng tôi không có ăn. Bệ hạ vô chùa rồi sẽ biết.”

    Nhà vua cho quân lính đứng bên ngoài, còn nhà vua theo Hòa thượng Chí Công vào chùa, đi ra sau vườn. Hòa thượng bảo ông điệu lấy cuốc đào lên thì bánh ít nhân thịt chó vẫn còn. Nhà vua biết được sự thật, xin sám hối Hòa thượng Chí Công rồi lui về.

    Ái phi Hy Thị hại Hòa thượng Chí Công không được, đâm ra giận hờn bực tức, lại càng ác độc hơn. Sau bà mắc bạo bệnh rồi chết, chịu quả báo làm rắn mãng xà và bị các loài kiến cắn rút đau đớn suôt đêm ngày.

    Vua Lương Võ Đế nằm mộng biết được Hy Thị bị đọa làm rắn, nên đến thỉnh Hòa thượng Chí Công soạn văn sám hối và lập đàn sám hối, thỉnh 100 vị cao tăng, đại đức tụng kinh sám hối trong hai tuần. Đến cuốn thứ năm thì bà Hy Thị thoát khỏi thân rắn, sanh lên cung trời Đao Lợi, đứng trên hư không từ tạ mọi người.

    Thế nên biết, Lương Hoàng Bảo Sám công đức nhiệm mầu, người thường sám hối thì tội gì cũng tiêu, chướng gì cũng dứt, hiện tại sống được an lạc, khi quá vãng được sanh về cõi Tịnh Độ, hết khổ được vui, chứng đạo bồ đề.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Biết Trước Giờ Chết



    Hòa thượng Hải Đức trụ trì chùa Hải Đức ở Huế và cũng là người thừa kế chùa Hải Đức tại Nha Trang. Sau, Ngài cúng chùa Hải Đức Nha Trang cho Giáo hội Phật giáo Trung phần. Ngài mở Phật học viện Trung phần và cử Thượng tọa Trí Thủ vào làm giám đốc Phật học viện.

    Năm ấy, Ngài trên 80 tuổi, Ngài không đau ốm chi. Biết mình sắp về Tây Phương nên sáng ngày 8 tháng 4 Âm lịch, Ngài bảo bà cô nấu ăn, “Hôm nay cô đi chợ mua hoa trái về cúng vía Phật. Trưa nay thầy về Tây Phương đó.”

    Bà cô nói, “Bạch Hòa thượng, năm nay giáo hội làm lễ Phật Đản vào ngày rằm chớ không làm ngày mùng 8 nữa.”

    Hòa thượng nói, “Thế à? Thôi, để đến rằm cũng được.”

    Thế rồi đến ngày rằm, bà cô đi chợ mua hoa trái để cúng lễ Phật đản. Hòa thượng bảo thầy tri sự quét chùa sạch, chưng hoa quả, và khi đúng ngọ, lên hương đèn cúng vía.

    Nửa buổi, Hòa thượng bảo thị giả hái các bông hoa, nấu nước cho Ngài tắm, thay đồ mới và bảo bà cô khuấy một chén bột mình tinh để Ngài dùng. Đến gần trưa, Ngài hỏi thầy tri sự, “Đúng ngọ chưa?”

    Thầy tri sự nói, “Đã gần đúng giờ ngọ rồi.”

    Hòa thượng bảo thầy tri sự, “Mặc áo, lên chùa, đốt hương đèn, đánh trống Bát Nhã. Thầy sẽ đi đó.”

    Thầy tri sự lên chùa đốt đèn nhang xong, đánh trống Bát Nhã, rồi xuống nhà tổ, thấy Hòa thượng ngồi tư thế thiền định. Thầy đến đưa tay trước mũi, thì Hòa thượng đã đi rồi.

    Thầy liền qua chùa Từ Đàm báo cho giáo hội biết. Giáo hội cũng vừa làm lễ Phật Đản xong. Chư Thượng tọa, Đại đức, tăng ni liền qua chùa Hải Đức tiếp tục hộ niệm. Một giờ sau, đỡ Hòa thượng nằm xuống và lo tang lễ.

    Như vậy, Hòa thượng đã biết trước giờ chết và hẹn lại một tuần. Ngài ra đi một cách ung dung, tự tại.

    Nên biết pháp môn Tịnh Độ là một pháp môn mầu nhiệm, đường tắt trong đường tắt, ngàn kinh muôn luận đều chỉ quy. Cổ đức dạy:

    Mấy trùng cửa pháp ngó mơ màng

    Có cửa Tây Phương rất mở mang

    Đã dễ tu hành mau chứng quả

    Xin người niệm Phật chớ nghi nan.

    Tu về Tịnh Độ sướng hơn tiên

    Ít nhọc công phu khỏi tốn tiền

    Sáu chữ Di Đà tiêu nghiệp chướng

    Một câu niệm Phật giải oan khiên.



    Cõi trần mới phát ba lời nguyện

    Ao báu đà lên chin phẩm sen

    Khuyên khách Ta Bà mau tiến bộ

    Tu về Tịnh Độ sướng hơn tiên.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Bố Thí Không Từ Chối



    Ông trưởng giả Cấp Cô Độc có một lúc bị sa sút, nhà nghèo đến nỗi chỉ còn ăn cháo. Nhưng khi các tỳ kheo đến khất thực thì không nhịn ăn mà cúng dường.

    Trên nhà lầu của ông, về phía nam, có một nữ thiên thần phải lánh đi. Lánh đi nhiều lần, bà đâm ra phiền muộn, mới đến thưa với ông trưởng giả Cấp Cô Độc rằng, “Từ nay, ông không nên cúng dường Phật và chúng tăng. Ông ham cúng dường mà đến nghèo khổ như thế, tôi rất thương tâm.”

    Ông trưởng giả Cấp Cô Độc hỏi, “Bà là ai, ở đâu, mà đến khuyên tôi như thế?”

    Nữ thiên thần nói, “Tôi là thiên thần ở nhờ trên nhà lầu phía nam của ông.”

    Ông Cấp Cô Độc nói, “Vậy thì bà đi khỏi nhà tôi tức tốc.”

    Bà có con nhỏ, ra đi không có chỗ ở, lang thang rất là khổ sở. Bà mới lên nhờ Thiên Đế Thích giúp dùm. Thiên Đế Thích nói, “Ta cũng chịu thua. Ông Cấp Cô Độc là người Phật tử chánh tín kiên cố, khó nói lắm. Nhưng ta có cách giúp ngươi được ở lại chỗ cũ. Ông Cấp Cô Độc có nhiều chủ nợ không chịu trả. Ngươi lấy giấy nợ trong kho và dẫn quỷ dạ xoa nên sợ mà trả, ngươi đem để trong kho. Của chôn dấu của ông Cấp Cô Độc gần bờ sông Hằng bị lụt cuốn trôi, ngươi cùng quỷ dạ xoa vớt lên để trong kho. Rồi ngươi đến xin lỗi ông, trình hai công tác ngươi làm được, thì ông Cấp Cô Độc sẽ cho ngươi ở.”

    Nữ thiên thần cảm ơn Thiên Đế Thích, rồi làm y như lời chỉ dạy. Sau đó đến sám hối ông trưởng giả Cấp Cô Độc.

    Ông Cấp Cô Độc thấy nữ thiên thần thành tâm nhất ý, nhất là đã đoái công chuộc tội, nên ông đồng ý cho ở lại, nhưng phải đến sám hối với Đức Phật vì đã nói xúc phạm đến Đức Phật.

    Ông Cấp Cô Độc cùng nữ thiên thần đến nơi Đức Phật. Ông trình bày câu chuyện như trên và xin cho nữ thiên thần sám hối.

    Đức Phật thấy ông trưởng giả Cấp Cô Độc lòng tin kiên cố đối với Tam Bảo và sự cúng dường cũng kiên cố, nên Phật dạy, “Ta ngày xưa cũng cúng dường kiên cố không từ chối, nên mau thành Phật.”

    Ông trưởng giả Cấp Cô Độc bạch Phật, “Bạch đức Thế Tôn, Ngài cúng dường kiên cố như thế nào, xin đức Thế Tôn chỉ dạy.”

    Phật dạy: Vào thời quá khứ xa xưa, ta là một chủ nhân giàu có và ưa bố thí cúng dường. Một hôm, có vị Phật Bích Chi từ núi tuyết bay xuống đến trước cửa nhà ta khất thực. Ta sai gia nhân đem cơm và thức ăn cúng dường. Nhưng thiên ma Ba Tuần muốn vị Phật Bích Chi chết đói nên ngăn cản ta. Phật Bích Chi nhịn đói đã nhiều ngày, nếu hôm nay không được ăn sẽ chết đói.

    Thiên ma Ba Tuần hóa hầm lửa đỏ cháy hừng hực. Người nhà bưng cơm ra, thấy hầm lửa, không dám bước tới, đành mang cơm trở vô nói với ta. Ta liền bưng bát cơm bước ra và cũng thấy như vậy.

    Ta phát nguyện, “Nam mô Bích Chi Phật Thế Tôn. Con nguyện bưng bát cơm này dâng Thế Tôn. Con nguyện bưng bát cơm này dâng Thế Tôn. Dù thân con có rớt xuống hầm lửa, cũng không từ chối.” Ta phát nguyện xong, liền bước tới, và thiên ma đành rút lui. Vị Phật Bích Chi chú nguyện và bay lên núi tuyết thọ thực.

    Phật kết luận: Ngày xưa, ta đã cúng dường quên cả thân mạng, nên mới mau thành Phật như hôm nay.

    Ông Cấp Cô Độc cùng nữ thiên thần kính tín, đảnh lễ và lui ra.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Chấp Trước



    Một hôm, có hai vị thiền sinh đi đường gặp một thiếu nữ mặc bộ đồ kimono mới đẹp. Khi đến đoạn đường sình lầy, cô có vẻ ái ngại, đi qua sợ lấm đồ.

    Một thiền sinh hiểu ý, liền đến nói, “Tôi sẽ giúp cô qua đoạn sình lầy.

    Thiền sinh đưa hai tay bế cô ta đi qua khỏi đoạn sình lầy rồi để cô xuống, bỏ đi. Thiền sinh cùng đi thấy vậy bất bình, trong lòng bực dọc, không vui. Khi về đến chùa, thiền sinh ấy nói, “Tại sao thầy dám ẳm một thiếu nữ xinh đẹp như vậy? Giới luật chỗ nào?”

    Thiền sinh kia trả lời, “Tôi đã bỏ cô ấy bên đường, còn thầy mang cô ấy về đến chùa.”

    Thế thì người làm mà không chấp, còn người không làm thì lại chấp. Vậy ai hơn ai, quý vị nói thử coi?

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Chiến Thắng Tự Tâm Mình



    Ngày xưa, có một chàng thanh niên, tuổi vừa hai mươi, cha mẹ lần lượt qua đời, để lại cho cậu một căn nhà nhỏ bằng tranh và một khu vườn độ vài sào, một giếng nước trong và một cái cuốc còn tốt.

    Với tài sản ấy, anh siêng năng làm vườn trồng rau bán đủ ăn qua ngày. Một hôm, anh suy nghĩ, “Phật dạy đời vô thường, cuộc sống khổ đau. Ta nên xuất gia, học đạo là hơn.”

    Anh đến chùa cầu xin xuất gia, thời gian sau được thọ giới tỳ kheo. Nhưng khi làm tỳ kheo phải thức khuya dậy sớm, tụng kinh, niệm Phật, tọa thiền, chấp tác, anh đâm ra buồn chán. Anh xin xả giới, trở về tiếp tục làm vườn để sống.

    Làm vườn một thời gian, anh lại đâm ra chán, anh bỏ nhà đi xuất gia trở lại, cũng thọ giới tỳ kheo, nhưng thời gian sau, anh lại xin xả giới về nhà. Đến lần thứ ba, anh suy nghĩ, “Nếu như thế này thì sẽ không được gì. Cũng chỉ vì căn nhà, miếng vường và cái cuốc mà nó làm hại mình đến thế. Hôm nay, ta quyết định chỉ đi tu thì phải xả bỏ những thứ này.” Căn nhà và miếng vườn, anh cho người hàng xóm. Còn cái cuốc thì anh đem ra sông ném. Anh đến bờ sông, nhắm mắt lại, dùng hết sức bình sanh ném thật xa. Một chặp, hết sóng, anh mới mở mắt ra. Anh hô to, “Ta đã chiến thắng, ta đã chiến thắng.”

    Vừa lúc đó, nhà vua cũng vừa chiến thắng quân thù, ra sông tắm. Nhà vua kêu chàng thanh niên nói, “Ta mới là người chiến thắng, còn nhà ngươi làm gì có chiến thắng.”

    Chàng thanh niên kể lại câu chuyện xuất gia - chỉ vì căn nhà, miếng vườn và lưỡi cuốc mà phải trở về đến hai lần. Lần này quyết tâm dứt bỏ, nên đã chiến thắng lòng tham của mình. Nhà vua nghe qua, rất khâm phục, phát nguyện tứ sự cúng dường anh, để anh trở lại con đường học đạo.

    Thế mới biết, chiến thắng lòng mình mới là chiến công oanh liệt nhất. Kinh Pháp Cú, Phật dạy:

    Thắng ngàn quân địch không bằng chiến thắng tâm mình.

    Chiến thắng tâm mình mới là chiến công oanh liệt nhất.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Cho Tiền Đi Nghe Pháp



    Ông trưởng giả Cấp Cô Độc có một người con trai đã lớn khôn, ham ăn chơi, đánh bạc, không biết gì về Phật pháp.

    Ông Cấp Cô Độc liền dùng phương tiện đưa con ông vào đạo. Một hôm, ông kêu con trai nói rằng, “Hôm nay cha bận công việc, con đi nghe pháp thế cha, cha sẽ cho con 100 ngàn đồng.”

    Cậu con trai không muốn nghe pháp, nhưng muốn có 100 ngàn đồng nên chịu đi. Khi đến chốn Phật, lễ Phật xong, cậu tìm một chỗ vắng đánh một giấc. Chiều về lãnh 100 ngàn đồng.

    Tuần lễ sau, ông trưởng giả Cấp Cô Độc lại nói, “Hôm nay cha cũng bận. Con đi nghe pháp thế cha. Lần này con cố nhớ một bài kệ về nói lại với cha. Cha sẽ cho con 200 ngàn đồng.”

    Lần này, vì muốn lãnh 200 ngàn đồng nên cậu cố gắng nghe và nhớ được bài kệ Phật dạy:

    Các hành vô thường

    Là pháp sanh diệt

    Sanh diệt hết rồi

    Tịch diệt là vui



    Cậu về nói lại với cha và lãnh tiền thưởng.

    Tuần lễ sau nữa, ông trưởng giả Cấp Cô Độc lại kêu cậu con trai và nói, “Hôm nay cha cũng bận việc, con đi nghe pháp thế cha. Nhưng lần này con cố gắng nghe trọn bài pháp về nói lại với cha, cha cho con 300 ngàn đồng.”

    Lần này cậu con trai ông Cấp Cô Độc muốn được 300 ngàn đồng nên cố gắng nghe. Nhưng càng nghe lại càng hay, càng nghe lại càng thích thú và cậu đã giác ngộ nên lần này cậu về nhà không lấy tiền nữa mà cậu cảm ơn cha, nhờ cha mà cậu được nếm pháp vị cam lồ.

    Cậu nói, “Ngày mai, nhà vua thỉnh Phật và thánh chúng vào cung cúng dường. Con xin được phép đi rước Phật và hầu Phật.”

    Hôm sau, ông Cấp Cô Độc thấy con ông đứng hầu sau Phật, có vẻ cung kính và trang nghiêm. Đức Phật biết ý, kêu ông Cấp Cô Độc nói rằng, “Con trai ông đã là đệ tử thuần thành của ta.”

    Ông Cấp Cô Độc nghe lời ấy, hoan hỷ, vui mừng, không ngờ con ông được chuyển hóa mau như thế.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Đề Bà Đạt Đa Hại Phật



    Đề Bà Đạt Đa là em con ông chú của Phật. Sau khi xuất gia làm đệ tử Phật, vì ham danh lợi, muốn nắm giáo đoàn, xin Phật không cho. Ông đâm ra thù Phật, muốn hại Phật.

    Một hôm, ông đặt ra năm giới khổ hạnh. Một là không uống sữa; hai là không ăn muối; ba là đi khất thực, ăn một bữa; bốn là mặc y phấn tảo; năm là ngồi ngoài trời. Ông đem lên trình với Phật, yêu cầu Phật ban hành cho các tỳ kheo.

    Phật dạy, “Giới luật ta chế ra đều có nhân duyên, chớ không phải điều gì cũng cấm.”

    Phật không chấp nhận, ông vẫn đem công bố cho các vị tỳ kheo, nói rằng giới luật của ông cao nghiêm hơn của Đức Phật. Một số tỳ kheo 500 người nhẹ dạ, nghe theo ông. Ông dẫn họ về trụ xứ ông.

    Phật sai Ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên đến thuyết pháp. Đem các tỳ kheo đó về về. Khi thấy Ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên đến, Đề Bà Đạt Đa nói, “Ta mỏi mệt, để ta an nghỉ. Hai tôn giả hãy giáo hóa chúng tỳ kheo.”

    Hai tôn giả thuyết pháp, làm cho các vị tỳ kheo được chánh kiến, liền theo hai tôn giả về với Đức Phật, khiến cho Đề Bà Đạt Đa giận tức, buồn phiền.

    Sau, ông Đề Bà Đạt Đa chỉ còn có năm tỳ kheo. Tiếng xấu của ông đồn xa. Mọi người không ai chịu cúng dường cho nhóm ông nữa. Ông phải chịu đói khổ. Ông lại mướn người bắn tên tẩm thuốc độc để hại Phật. Những mũi tên bắn ra đều hóa thành hoa sen rơi xuống. Muốn bắn Phật, lại trở thành tán hoa cúng Phật.

    Phật đang ngồi thiền dưới chân núi. Ông leo lên trên, lăn đá xuống để đè Phật. Nhưng đá cứ chạy hai bên không trúng Phật. Một mảnh đá vỡ ra trúng vào ngón chân út Phật chảy máu. Phật dạy, “Này, Đề Bà Đạt Đa làm thân Phật ra máu, phải bị đọa vào địa ngục vô gián muôn kiếp.”

    Đề Bà Đạt Đa cố tình hại Phật, nên tiếng dữ đồn xa, đi khất thực không ai cúng dường. Ông bèn trở về thành Ca Tỳ La Vệ, quê hương của ông. Nhưng ở đây, giòng họ Thích cũng nghe được tiếng xấu của ông nên không ai cúng dường. Ông phải chịu nhiều vất vả, khổ cực.

    Rồi ông trở về chốn Phật, tỏ ra ăn năn, sám hối. Khi ông lễ dưới chân Phật, hai tay ông đưa ra, mười ngón tay nhọn có tẩm thuốc độ, cố bấu vào chân Phật, Phật liền rút chân lại. Đất nứt ra và ông rớt xuống địa ngục vô gián, bị lửa thiêu đốt không gián đoạn, chịu khổ lâu dài.

    Trong các Pháp do tâm làm chủ

    Tâm dẫn đầu, tạo đủ các duyên.

    Tâm nhơ tạo nghiệp chẳng hiền

    Như xe lăn bánh, khổ liền theo sau.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Đòi Nợ Phật



    Một hôm, Phật đi du hành, có một ông vua Bà La Môn đến nhìn mặt Phật và vẽ một vòng tròn xung quanh Phật. Vẽ xong, ông nói, “Này, Sa môn Cù Đàm, hãy trả năm lượng vàng rồi mới được đi.”

    Các hàng đệ tử rất ngạc nhiên, nhưng Phật vẫn đứng trong vòng tròn và bảo Ngài A na, “Hãy đến ông Cấp Cô Độc bảo ông trả năm lượng vàng cho ông Bà La Môn này. Chính ông mắc nợ chớ không phải ta.”

    Phật dạy: Quá khứ vô lượng kiếp về trước có một ông vua. Rảnh rỗi, vua du ngoạn buổi trưa, thấy hai ông quan đánh cờ ăn tiền. Nhà vua cũng ngồi coi và một người bị thua năm lượng vàng nhưng không có tiền trả. Vì nể vua nên quan đại thần không dám đòi, nhưng ông nhớ mãi đến nay mới đòi.

    Phật kết luận: Quan đại thần mắc nợ là tiền thân ông Cấp Cô Độc, ông quan chủ nợ là tiền thân ông Bà La Môn này và ông vua là tiền thân của ta.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Gả Con Gái Cho Phật



    Khi Phật còn tại thế, có ông Bà La Môn sanh một cô con gái.Lớn lên, cô đẹp tuyệt trần, như trong Cung Oán Ngâm Khúc diễn tả:

    Chìm đáy nức cá lờ đờ lặn

    Lửng da trời nhạn ngẩn ngơ sa

    Hương trời đắm nguyệt say hoa

    Tây Thi mất vía Hằng Nga giựt mình.

    Ông Bà La Môn thấy con gái ông xinh đẹp nên ông ước nguyện, “Ở trên đời này có chàng trai nào xinh đẹp như con ông thì ông mới gả. Không cần giàu nghèo.” Ông chờ đợi tìm kiếm thời gian lau mà không gặp chàng trai nào đẹp trai ông gả con gái.

    Một hôm, ông đi đường gặp Đức Phật. Ông thấy Đức Phật có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, da Phật vàng ánh như tượng vàng. Ông ngắm say sưa và về nói với bà vợ rằng con mình đã có người sánh đôi rồi. Bà hỏi là ai, ông trả lời, “Đức Phật Thế Tôn.” Bà vợ có tài coi dấu chân. Bà nói, “Theo dấu chân của Sa môn Cù Đàm thì Ngài là người đã ly dục, làm sao ông gả con gái?”

    Ông nói, “Cứ đem đến rồi sẽ hay.”

    Ông bảo bà và gia nhân trang điểm cô con gái thật là lộng lẫy, rồi dùng xe hoa đưa cô đến chốn Phật.

    Khi đến nơi, ông quỳ xuống thưa, “Bạch đức Thế Tôn, con có một đứa con gái tới tuổi trưởng thành, sắc đẹp tuyệt vời. Và con có nguyện, nếu có chàng trai nào xinh đẹp như con gái con thì con sẽ gả con gái cho cậu, không cần giàu nghèo. Đức Phật Thế Tôn có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, rất đáng được con gái hầu hạ, nâng khăn sửa túi.”

    Đức Phật dạy, “Con gái ông có thật sự xinh đẹp hoàn hảo không?”

    Ông Bà La Môn trả lời, “Dạ, thật sự xinh đẹp, hoàn hảo.”

    Phật dạy, “Dưới con mắt ông thì xinh đẹp, hoàn hảo. Nhưng dưới con mắt ta thì không xinh đẹp, hoàn hảo tý nào.

    “Cái đầu giống như cái sọ dừa. Trên đầu có tóc giống như đuôi ngựa. Hai mắt trong xanh nhưng nhặm đổ ghèn. Chiếc mũi dọc dừa khi cảm thì chảy nước. Cái miệng môi hồng, răng trắng, thì khạc ra đàm dãi. Thân hình nở nang, cân đối, xinh đẹp chỉ là máu thịt gân xương tanh hôi. Còn trong bụng, tim gan tỳ phổi cũng nhơ nhớp. Nhất là bao tử chứa một thùng phân và thận chứa một bô nước tiểu. Những thứ này ra ngoài, chủ nhân của nó cũng nhờm gớm, huống là người khác.

    Phật dạy, “Ông đem con gái về đi, ta không dùng đâu!”

    Ông Bà La Môn thưa, “Nếu Phật không nhận, con dâng cho vua Ưu Điền có được không?”

    Phật nói, “Cái đó thì tùy ông.”

    Ông liền chở con gái ông đến dâng cho vua Ưu Điền.

    Vua Ưu Điền sau khi nhận được người đẹp, đắm đuối yêu thương. Vua cất cung cho nàng ở, cung cấp nhiều cung nữ hầu hạ cô.

    Qua lời thuyết pháp của Đức Phật, nếu cô là người có trí tuệ thì cô đã giác ngộ thân bất tịnh, nhơ nhớp của mình. Nhưng cô ngu si, lại tưởng Phật mắng cô. Cô rất tức giận Phật. Cô nghĩ, với sắc đẹp của cô thì có nhiều chàng trai giàu có, công tử, thái tử quỳ dưới chân cô để cầu sự yêu thương của cô. Thế mà Phật lại mắng cô thậm tệ. Phen này cô quyết báo thù Phật.

    Khi cô được vua Ưu Điền sủng ái, đây là cơ hội tốt để cô trả thù Đức Phật. Cô mướn rất nhiều người đứng hai bên đường phố. Khi Phật và giáo đoàn của Phật đi khất thực, họ đã không cúng gì hết mà lại la mắng, chửi bới thậm tệ.

    Ngài A Nan chịu không nổi, bạch Phật, “Bạch đức Thế Tôn, xin đức Thế Tôn đi nơi khác. Ở đây chỉ nhận toàn những lời chửi mắng mà thôi, họ không cúng gì.”

    Phật dạy Ngài A Nan, “Nếu đi chỗ khác bị chửi mắng nữa thì sẽ đi đâu?”

    Ngài A Nan trả lời, “Chúng ta lại đi đến nơi khác nữa.”

    Phật dạy, “Phiền não sanh ở đâu thì phải diệt ngay ở đó. Nếu ta gặp khó, bỏ đi thì sẽ thì sẽ mất đất đứng. Việc này, một tuần lễ nữa sẽ hết.” Nghe lời Phật dạy, Ngài A Nan yên tâm.

    Quả thật, người gieo gió thì phải gặt bão, người làm ác thì phải bị quả báo xấu ác . Cô con gái ông Bà La Môn được vua yêu quý nên lộng hành, ganh ghét các cung nữ nên mướn người đốt cung điện giết chết cung nữ. Khi điều tra ra thủ phạm chính là nàng, nàng phải bị xử trị theo luật pháp hiện hành, tức là bị thiêu sống. Nhưng nhà vua còn thương tình nên đày ngày vào lãnh cung để sám hối tội lỗi.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Giả Chửa Hủy Báng Phật



    Sau khi Phật thành đạo, Phật thuyết pháp làm cho vua quan, các nhà giàu có và dân chúng đều theo quy y Phật. Các ngoại đạo lép vế, nên chúng tìm cách hạ uy tín Phật.

    Các người Bà La Môn đến nói với cô gái Chiến Già là tín đồ của họ.Hàng ngày cô trang điểm xinh đẹp, ôm bó hoa đi về hướng tịnh xá Kỳ Hoàn. Lúc Phật tử nghe pháp xong, trở về thấy cô xinh đẹp, có người hỏi cô đi đâu thì cô lặng thinh, mỉm cười, trông có vẻ bí mật.

    Một tháng sau nữa thì cô trả lời thẳng thừng rằng, “Tôi đến tịnh xá Kỳ Hoàn. Đức Thế Tôn là người yêu của tôi.” Khi cô đến trước cổng tịnh xá Kỳ Hoàn thì cô sẽ qua trụ xứ của ngoại đạo để nghỉ đêm.

    Rồi một hôm, Phật đang thuyết pháp. Cô với 500 ông Bà La Môn đến. Cô đứng lên cắt ngang lời Phật. Cô nói, “Lời đức Thế Tôn nói thì hay lắm, nhưng việc làm của Ngài không tốt chút nào. Hôm nay em đã bụng mang dạ chửa mà đức Thế Tôn không ngó nghĩ gì hết. Nếu Ngài không làm gì thì giao em cho ông Cấp Cô Độc hay bà Tỳ Xá Khư lo liệu. Ngài thật là người bạc tình bạc nghĩa.” Năm trăm ông Bà La Môn liền mắng chửi Phật thậm tệ.

    Đức Phật hỏi, “Này, Chiến Già, ngươi nói thật hay là vu khống? Chuyện này chỉ có ta và ngươi biết mà thôi.”

    Cô Chiến Già trả lời, “Việc này chỉ có em và Thế Tôn biết mà thôi.”

    Đế Thính thấy việc dối trá tráo trở của ngoại đạo liền hóa ra bốn con chuột, leo lên mình cô, cắn các dây chằng phía trong. Một khúc gỗ tròn và một cái gối rớt xuống trước mặt mọi người.

    Cô Chiến Già quá hổ thẹn, liền chạy, chạy mãi và rơi xuống hố mà chết. Năm trăm ông Bà La Môn cũng liền chuồn mất.

    Đau buồn ngay ở kiếp này

    Kiếp sau cũng lại tràn đầy buồn đau

    Người làm điều ác hay đâu

    Buồn xưa theo mãi dài lâu bên mình

    Quay nhìn việc ác tạo thành

    Chết mòn thân xác, héo nhanh tâm hồn.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Giết Người Vu Khống Cho Phật



    Các ngoại đạo, sau vụ Chiến Già độn bụng giả chửa vu khống cho Phật, đã bị thất bại. Chúng lại bày ra vụ khác.

    Ngoại đạo đến nói với cô gái Tôn Đà Lợi là đệ tử của họ, nên hy sinh vì đạo. Cô nhiệt tâm vì đạo, nên đồng ý nghe theo.

    Hằng ngày, cô thường trang điểm xinh đẹp, tay ôm một bó hoa đến cúng dường Phật và nghe pháp. Thời gian sau, ngoại đạo mướn người bí mật giết cô, rồi đem chôn trong vườn tịnh xá Kỳ Hoàn, gần đống hoa tàn.

    Sau đó, ngoại đạo đến báo vua Ba Tư Nặc rằng họ có một tín nữ, thường đến nghe pháp tại tịnh xá Kỳ Hoàn, không biết tại sao bị mất tích, xin nhà vua cho quân lính đi với họ để tìm kiếm. Nhà vua nghi họ có âm mưu ác độc, nhưng cũng cho quân lính đi theo.

    Ngoại đạo đi kiếm đông, kiếm tây, rồi vào vườn tịnh xá Kỳ Hoàn đào xác cô gái lên. Ngoại đạo la ó, hô hoán, khóc lóc. Họ đem xác cô gái để trên một chiếc xe, chở đi trên các đường phố, miệng rao nói, “Sa môn Thích tử gì mà hãm hiếp người, rồi giết chết đem chôn phi tang. Đạo gì mà hành động quá độc ác. Trời ơi là trời!”

    Các Phật tử khi nghe tin này, chưa biết thế nào, liền đi đến tịnh xá Kỳ Hoàn để hỏi Phật. Phật dạy, “Các Phật tử hãy bình tĩnh. Việc này sau 7 ngày sẽ hết.”

    Các Phật tử yên tâm ra về. Phật dạy chư tăng trong 7 ngày không đi khất thực.

    Nghe Phật dạy như thế, nên vua Ba Tư Nặc nghi ngờ bọn ngoại đạo. Nhà vua cho thám tử đi điều tra. Bấy giờ, mấy người giết mướn chia tiền. Người thuộc kinh được nhiều tiền. Người thuộc kinh thì ít tiền. Do đó, những người được ít tiền đã nói, “Đã cùng giết người, tại sao người ít người nhiều?” Họ tranh cãi với nhau và đi tố cáo với nhà vua.

    Nhà vua ra lệnh bắt hết đám ngoại đạo chủ mưu giết người, truy tố theo pháp luật hiện hành. Kẻ chủ mưu giết người thì phải bị đền mạng, còn những người tòng phạm thì bị phạt tù.

    Thế mới biết, người gieo gió thì phải gặt bão, ác lai thì ác báo. Nhân quả rõ ràng, há không tin sao?

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Giữ Giới Cao Hơn Thiền Định



    Ngày xưa, ở nước Kế Tân, có con rồng làm mưa, làm gió, phá hại mùa màng. Nhưng đức vua và dân chúng ở đây không làm gì nó được vì nó có thần thông biến hóa.

    Vì lòng từ bi, 500 đại đức tỳ kheo đến dùng thiền định để đuổi nónhưng nó không đi.

    Có một vị tỳ kheo đến nói với con rồng rằng, “Nhà ngươi hãy đi chỗ khác. Đừng ở đây phá hoại mùa màng làm khổ dân chúng, sẽ mắc tội phải đọa địa ngục chịu khổ lâu dài.” Con rồng nghe nói vậy liền bỏ đi. Dân chúng rất mừng rỡ và phát tâm kính tín Tam Bảo.

    Các thầy tỳ kheo thiền định mới hỏi thầy tỳ kheo đuổi được rồng rằng, “thầy dùng pháp gì mà đuổi được rồng?”

    Thầy tỳ kheo trả lời, “Tôi chỉ trì giới nghiêm túc. Giữ gìn cẩn mật từ giới trọng đến giới khinh một cách chu đáo thôi, không có gì khác lạ.”

    Vậy nên biết, công năng trì giới không thể nghĩ bàn. Trong kinh, Phật dạy: Trì một giới có năm vị thần hộ giới ủng hộ. Nếu thầy tỳ kheo giữ 250 giới chu đáo thì có rất nhiều vị thần hộ giới ủng hộ. Ngược lại, nếu không giữ giới sẽ bị các vị thần ấy quở trách, gặp nhiều sự không may. Vậy chư tỳ kheo, tỳ kheo ni, thiện nam, tín nữ phải nên giữ giới nghiêm túc, mới được nhiều lợi ích.

    Đời nhà Đường, có Ngài Tuyên Luật Sư giữ giới luật nghiêm túc và hoằng truyền giới luật rộng sâu. Được Tôn Giả Tân Đầu Lô Phả La Đọa thị hiện đến khen ngợi rằng, “Ngài là người xiển dương luật học đệ nhất.”

    Một hôm, Ngài Tuyên Luật Sư có nhân duyên leo núi. Bất cẩn Ngài rơi xuống hố, lúc ấy Ngài mê man bất tỉnh. Khi tỉnh dậy, thấy mình nằm dưới bóng cây râm mát. Có rất nhiều chư thần đứng xung quanh Ngài. Tuyên Luật Sư hỏi, “Quý Ngài là ai? Và tại sao tôi lại nằm chỗ này?”

    Chư thần trả lời, “Khi Hòa thượng gặp nạn, chúng con liền cứu Ngài. Thường ngày, chúng con vẫn thường hầu bên Ngài, nhưng không hiện hình nên Ngài không thấy. Hôm nay, Hòa thượng gặp nạn chúng con hiện thân cứu Ngài.”

    Thế mới biết, trì giới được công đức bất khả tư nghì, thậm thâm, vi diệu.


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group