Góp nhặt lá bồ đề - Thích Tịnh Nghiêm

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quả Báo Giết Anh



    Ngày xưa ở Ấn Độ có một gia đình có hai anh em, cha mẹ chết sớm, rất thương yêu nhau. Khi lớn lên người anh cưới vợ xinh đẹp, làm ăn giàu có, sống êm đềm hạnh phúc. Nhưng người anh, một hôm nghe Phật thuyết pháp, biết ân ái là rang buộc, gia đình là khổ đau, gặp Phật ra đời là khó, cho nên anh từ giã vợ và em để xuất gia theo Phật.

    Theo phong tục bấy giờ, người anh chết hoặc đi tu thì người em phải cưới chị dâu và quản lý gia nghiệp. Nhưng khi người em ở với chị dâu thì chị dâu thấy em trai thô lỗ, cộc cằn, còn chồng cô ngày trước thì thuần lương, hiền hậu. Thấy thế nên cô buồn tủi không vui. Người em biết chị dâu còn thương anh mình, hơn nữa sợ anh mình hối hận, thôi tu, bỏ về thì mất gia nghiệp giàu có. Vì thế người em mướn người giết anh mình để dứt hậu hoạn.

    Các người lãnh tiền mướn giết, đi tìm thầy tỳ kheo. Khi các người giết mướn thấy thầy tỳ kheo hiền hậu thì không nỡ giết. Nhưng không giết thì làm sao nhận tiền, các người giết mướn mới đem việc đó nói với thầy tỳ kheo. Thầy tỳ kheo nói, “Tôi thật chưa chứng đạo. Đợi tôi gặp Phật và tu trong 7 ngày rồi hãy giết.” Các người giết mướn đồng ý chờ đợi.

    Thầy tỳ kheo đến ra mắt đức Phật, xin Phật chỉ pháp môn tu rồi thầy tìm chỗ vắng tinh tấn thiền quán và đắc A La Hán. Các người giết mướn liền giết và chặt lấy một cánh tay đem về làm tin và lấy tiền mướn.

    Khi người chị dâu thấy cánh tay, hỏi ra mới biết người em ác độc đã nhẫn tâm giết chết anh. Cô vào triều tâu vua. Vua sai quân lính bắt người em trị tội theo pháp luật hiện hành, tức phải xử tử.

    Ngài A Nan bạch Phật, “Thầy tỳ kheo đó đã chứng thánh quả mà còn bị chặt tay. Đó là do ác nghiệp gì?”

    Phật dạy: Về kiếp xa xưa, có vị vua đi săn bắn, gặp một vị Bích Chi Phật đang ngồi tu. Vua hỏi có thấy con nai chạy qua đấy không. Vị Bích chi Phật vì đau tay nên lấy chân chỉ hướng khác. Nhà vua nổi giận, chặt đứt cánh tay của vị Bích Chi Phật. Sau vua ăn năn sám hối, đem vị Bích Chi Phật về băng bó vết thương, tứ sự cúng dường và phát nguyện rằng nhờ công đức này sau được gặp Phật, nghe pháp và chứng thánh quả.

    Phật kết luận: Tiền thân thầy tỳ kheo bị chặt tay là nhà vua đã chặt tay Bích Chi Phật nên nhiều đời bị ác báo chặt tay.

    Tâm người thật ác độc

    Giết anh để giàu sang

    Liền bị quả báo ác

    Án tử hình phải mang


  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quan Âm Linh Cảm



    Ở bờ biển Nha Trang, gần hòn đá chồng, có một hòn đảo bằng đá, trên có đất bằng độ ba sào đất. Đảo cách bờ biển khoảng 500 mét. Khi nước xuống thì lội nước đến ngực. Nhưng khi nước lên thì nước cao ngập đầu, phải đi ghe. Người ta gọi hòn đảo đó là Hòn Đỏ.

    Hòn Đỏ có một vị thầy về đấy lập thất tu. Lâu năm đã trở thành một ngôi chùa nhỏ. Thầy trụ trì ngôi chùa đó hiệu là Thiện Ngộ. Thầy khoảng trên 50 tuổi, người ốm yếu mảnh khảnh, thường vô đất liền để làm Phật sự. Thầy có nuôi một chú Sa di, nhưng cho vào đất liền để đi học. Còn chùa có một mình thầy rất đơn chiếc.

    Một hôm, vào mùa đông, thầy vào đất liền để mua sắm vài thứ cần thiết, định chiều ngày mai sẽ trở về chùa. Nhưng đêm đó trời đổ mưa lớn, nước nguồn về nhiều, nước biển dâng cao, gió sóng mạnh. Thuyền đánh cá của ngư dân họ kéo lên bờ hết. Thầy nóng lòng muốn về chùa nhưng không có thuyền ghe, sợ đi lâu có người lên đảo vào chùa ăn trộm.

    Vì thế thầy mạo hiểm, xin một miếng xốp cứng lớn độ hai chiếc chiếu. Thầy thả trên đầu nước, dự định nước sẽ đưa miếng xốp tắp vào đảo. Nhưng không ngờ miếng xốp đã trôi thẳng ra biển khơi, mỗi lúc một xa và mỗi lúc lại gần đến tử thần. Gió lạnh, trời tối đen như mực. Bây giờ thì hết hy vọng.

    Thầy mới suy nghĩ, “Chỉ có cách niệm danh hiệu đức Bồ Tát Quán Thế Âm, cầu mong sự cứu khổ cứu nạn của ngài.” Thế rồi thầy niệm danh hiệu Bồ Tát một cách chí thành tha thiết.

    Ngày thứ hai, sáng ra, thầy tiếp tục bềnh bồng trên mặt nước. Quần áo đã bị sóng đánh ướt hết. Phần đói khát, phần gió rét lạnh cóng nhưng thầy vẫn một lòng niệm danh hiệu Bồ Tát một cách tha thiết.

    Rồi màn đêm phủ xuống. Miếng xốp lại trôi càng xa hơn ra ngoài khơi. Hình như có đèn của thủy quân. Thầy cất tiếng kêu to nhưng không ai nghe. Thôi thì đành phó mặc cho số phận.

    Bỗng miếng xốp đụng cái gì nghe một tiếng cộp, rồi có nhiều ánh đèn pin rọi xuống. Họ thấy thầy, học nói, “Vi xi” (Việt cộng).

    Thầy nói, “Không phải, tôi là người tu gặp nạn, xin các ông cứu hộ dùm tôi.”

    Một lần nữa, họ nhìn kỹ và đưa thang dây xuống cho thầy leo vào, vịn chặt. Họ kéo thầy lên tàu thủy. Họ lấy quần áo, bảo thầy thay và liệng quần áo ướt đã lên nhớt xuống biển. Họ nấu súp cho thầy ăn. Qua hai ngày sau, họ chở vào và giao cho Hải Quân Việt Nam. Thầy được đưa lên bờ và trở lại chùa.

    Thầy đến bàn thờ Quan Thế Âm quỳ lạy, “Bồ Tát đã cứu độ con. Từ nay con càng tinh tấn tu tập hơn để tạ ơn Bồ Tát.”

    Chuyện này tôi được nghe kể trực tiếp thầy Thiện Ngộ, trụ trì chùa Hòn Đỏ. Thầy cho biết thuyền vớt thầy chính là Hải Quân Mỹ.

    Đức Bồ Tát Quan Thế Âm linh thiêng nhiệm mầu. Nếu khi gặp nạn, chí thành niệm danh hiệu Ngài thì sẽ được cảm ứng, cứu độ. Cổ đức làm bài tán:

    Quan Âm Bồ Tát rất nhiệm mầu

    Thanh tịnh trang nghiêm nhiều kiếp tu

    Ngàn xứ kêu cầu đều cảm ứng

    Là thuyền tế độ chốn khổ đau.


  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Sa Di Châu-Na



    Sa Di Châu Na là em ruột của ngài Xá Lợi Phất. Mẹ thầy không cho xuất gia, muốn cưới vợ cho chú để có cháu nối dòng. Ngài Xá Lợi Phất biết em mình sẽ xuất gia nên nói với chư tăng, “Nếu em tôi xin xuất gia thì chư tăng cứ nhận, không cần có sự đồng ý của cha mẹ.”

    Một hôm, mẹ ngài Xá Lợi Phất cưới vợ cho Châu Na. Khi làm lễ chủ hôn trao nhẫn cho hai người cô dâu chú rể. Bà ngoại của chú đứng ra trao nhẫn, Châu Na thấy vợ mình thì mỹ miều xinh đẹp, còn bà ngoại thì da nhăn miệng móm, tóc bạc lưng còm, không còn đẹp đẽ tí nào. Chàng nghĩ thầm, “Vợ mình sau này già đi thì cũng sẽ xấu xa như thế. Đời vô thường, cuộc sống là khổ đau, gặp Phật ra đời là khó. Thôi, mình trốn đi tu là hơn.”

    Thế rồi, đến lúc rước dâu về nhà, Châu Na giả đò đau bụng đi cầu liên tiếp. Bà mẹ đợi không được nên đưa dâu về trước, rồi Châu Na sẽ về sau. Bà không ngờ là Châu Na đợi lúc không có ai để ý đến mình thì chuồn êm, đến tịnh xá xin xuất gia. Vì ngài Xá Lợi Phất đã dặn trước nên chư tăng liền thâu nhận.

    Thời gian không lâu, nghe Phật thuyết pháp, sai di Châu Na chứng quả A La Hán.

    Dù cho xinh đẹp như tiên

    Đến khi già bệnh xấu liền hiện ra

    Dù cho trẻ đẹp mặn mà

    Bên trong máu thịt thật là tanh hôi.

    .


  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Sa Di Cứu Kiến



    Ngày xưa, có một vị tỳ kheo nuôi một chú sa di nhỏ tuổi. Vị tỳ kheo nhập định, biết là chú sa di sau bảy ngày thọ mạng không còn nên sai chú về thăm nhà, sau bảy ngày sẽ trở về.

    Qua bảy ngày, chú sa di trở về. Thầy tỳ kheo lấy làm lạ bèn nhập định và biết chú vừa mới tạo một phước đức lớn nên tăng tuổi thọ..

    Thầy tỳ kheo hỏi chú sa di, “Con về nhà làm được công đức gì?”

    Chú sa di đáp, “Con không có làm công đức gì. Chỉ khi đi đường, con thấy bầy kiến bị trôi nổi bập bềnh trên mặt nước, sắp bị chết đuối. Do đó con khởi tâm thương xót, cởi áo vớt bầy kiến để lên chỗ khô ráo rồi giặt áo, rửa tay chân, tiếp tục đi. Hết bảy ngày thăm nhà, con lại trở về.”

    Thầy tỳ kheo dạy, “Do phước đức cứu bầy kiến nên con được tăng thọ mạng.”

    Vậy nên biết phóng sanh được phước đức rất lớn.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Sa Di Giữ Tiền



    Thuở xưa, có thầy tỳ kheo nuôi một chú sa di tuổi độ mười một, mười hai. Một hôm thầy có việc xuống nhân gian làm pháp sự, dẫn chú sa di đi theo.

    Khi pháp sự xong, chú sa di ghé vềnhà thăm mẹ. Bà mẹ thương con, cho chú 50 đồng, chú cầm nơi tay đi theo sau thầy. Được một đoạn đường, có con rồng xuất hiện, đi nhiễu bên tả và tung bụi, nói, “Sa di mà cầm tiền, thật đáng xấu hổ lắm!”

    Chú Sa di sợ quá, khóc òa lên, thầy tỳ kheo ngó lại, biết hết việc liền bảo, “Con hãy ném tiền đi.”

    Chú sa di nghe theo, liền ném tiền. Con rồng lại nhiễu bên mặt ca ngợi tán dương. Chú sa di không còn sợ nữa.

    Nên biết, tiền bạc làm hại người tu, không biết là bao nhiêu!

    Tiền bạc là rắn độc

    Hại người khổ đến cùng

    Người tu không giữ nó

    Sống cuộc đời ung dung.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Sa Di La-Hầu-La



    Hay tin Phật thành đạo, vua Tịnh Phạn lần lượt sai chín sứ giả ra đi, thỉnh Phật về thành Ca Tỳ La Vệ. Nhưng chin sứ giả ra đi biền biệt. Cuối cùng vua sai Ưu Đà Di ra đi. Ưu Đà Di đến chốn Phật, đảnh lễ, quỳ thưa một mạch, Phật nhận lời. Sở dĩ chin sứ giả ra đi không trở về vì họ nghe Phật thuyết pháp hay quá nên xin xuất gia mà quên sứ mạng của mình.

    Sau đó, Phật và giáo đoàn của Ngài lần lượt về thành Ca Tỳ La Vệ. Vua Tịnh Phạn chuẩn bị đón Phật một cách trang nghiêm, nhưng đức Phật đi ghé từng nhà khất thực. Điều đó làm cho vua Tịnh Phạn nổi giận, liền ra giữa đường trách cứ đức Phật. Đức Phật giải thích, “Hôm nay Phật không nhân danh là hoàng tử mà nhân danh là chư Phật giáo hóa chúng sanh. Khất thực là một phương pháp hóa duyên của chư Phật.”

    Vua nghe nói vậy, hết giận và rước Phật về hoàng cung. Dòng họ Thích đón Phật và rước Phật một cách trọng thể, không vắng mặt ai, chỉ vắng mặt Gia Du Đà La. Nàng Gia Du Đà La tự nghĩ, lâu nay nàng đau khổ quá nhiều, Phật sẽ hiểu lòng nàng và đến thăm nàng. Phật biết được điều đó nên Phật đến cung điện của nàng. Gia Du Đà La ra đón Phật. Vì quá nhớ thương Phật nên nàng ôm chân Phật và Phật để cho nàng ôm. Sợ thế gian hiểu lầm, Phật liền giải thích, chỉ vì lòng từ bi Phật để cho nàng ôm chân. Nếu Phật rút chân nàng có thể chết mất.

    Chuyến về thăm hoàng cung lần này, Phật thuyết pháp và có đến bảy hoàng tử xuất gia theo Phật. Gia Du Đà La sai La Hầu La dâng bát cơm cho Phật. Lúc ấy Phật dùng thần thông biến 500 vị La Hán giống như Phật, nhưng La Hầu La bước đến ngay đức Phật dâng bát cơm. Điều đó nói lên tình cảm cha con có sự cảm thông.

    Mỗi ngày, Phật thọ trai xong liền lên rừng Ni Câu Đà tọa thiền. Gia Du Đà La sai La đi theo xin gia tài của Phật. Phật dạy, “Ta có hai gia tài; một là ngai vàng điện ngọc, giang sơn xã tắc, đầy máu và nước mắt. Còn gia tài thứ hai là giới, định, huệ, giải thoát và giải thoát tri kiến. Ta sẽ cho con gia tài thứ hai.”

    Giáo hóa dòng họ Thích xong, Phật về nước Xá Vệ, nơi tinh xá Kỳ Hoàn. Khi La Hầu La đúng chín tuổi, Phật sai tôn giả Mục Kiền Liên về nói Gia Du Đà La cho La Hầu La xuất gia vì ân ái là ràng buộc, gia đình là khổ não, gặp Phật ra đời là khó. Khi Ngài Mục Kiền Liên về, đi dưới đường, Gia Du Đà La thấy được liền đem La Hầu La lên trên lầu đóng cửa lại. Ngài Mục Kiền Liên bay lên, khiến cửa mở tung. Gia Du Đà La ra đảnh lễ, thưa, “Chẳng hay đức Thế Tôn có gì dạy bảo?”

    Ngài Mục Kiền Liên nói, “Đức Thế Tôn sai tôi về thưa với lệnh bà cho La Hầu La xuất gia vì ân ái là ràng buộc, gia đình là khổ não, gặp Phật ra đời là khó.”

    Bà Gia Du thưa, “Thưa, Tôn giả nghĩ xem, thuở trước tôi là một công chúa tuyệt đẹp, công dung, ngôn hạnh đều đủ. Các hoàng tử đều muốn cưới tôi, nhưng cha tôi chỉ gả cho thái tử Tất Đạt Đa. Tưởng rằng sống trăm năm hạnh phúc bên nhau, không ngờ nửa chừng thái tử đã bỏ tôi đi tu. Tôi đau khổ muốn chết đi, nhưng may nhờ còn La Hầu La an ủi. Hôm nay đức Thế Tôn lại sai Tôn giả bắt La Hầu La nữa, chắc tôi chết mất. Phật gọi là đấng đại từ bi, sao nỡ để tôi đau khổ đến thế! Tôi không cho La Hầu La đi tu đâu, thưa Tôn giả.”

    Ngài Mục Kiền Liên làm thinh, quay về thưa vua Tịnh Phạn sai di mẫu Ma Ha Ba Xà Ba Đề đi nói với cung nữ đến thuyết phục Gia Du Đà La. Khi đến nơi, Gia Du Đà La cũng nói như trên, di mẫu cũng không nói được.

    Đức Phật liền sai hóa nhân đứng trên hư không nói rằng, “Này công chúa Gia Du Đà La, nàng nên nhớ lại về thời quá khứ xa xưa. Khi đức Phật Tỳ Bà Thi ra đời, nàng là cô gái bán hoa, tôi là người mua cúng Phật. Cô gởi thêm hai cành cúng Phật và phát nguyện đời đời sẽ làm vợ tôi, dù lịch sự, dù xấu xí. Tôi từ chối, nói rằng, “Tôi đã phát tâm Bồ Đề, tu hạnh Bồ Tát, bố thí tất cả, cho đến có thể bố thí cả vợ con. Chừng đó, nàng sẽ vì tình cảm mà ngăn cản, tốt hơn là đừng phát nguyện. Lúc đó, nàng hứa nàng sẽ tùy thuận tất cả, cho đến bán nàng cũng không từ chối. Tại sao hôm nay chỉ muốn cho La Hầu La xuất gia để chứng quả giải thoát, nàng lại vì tình cảm mà ngăn trở không cho La Hầu La xuất gia?”

    Nghe lời nói này, Gia Du Đà La nhớ lại kiếp trước và tình thương con cũng giảm bớt. Nàng giao La Hầu La cho Tôn giả Mục Kiền Liên và nhờ tôn giả bạch lên đức Phật rằng, “Khi chư tăng độ các trẻ em nhỏ tuổi, phải được sự đồng ý của cha mẹ, vì tình cha mẹ thương con rất là sâu nặng.”

    La Hầu La đến quỳ thưa mẹ, “Con đến gặp đức Thế Tôn và lâu lâu con sẽ về thăm mẹ.”

    Đức Phật giao La Hầu La cho ngài Xá Lợi Phất làm giáo thọ hòa thượng và ngài Mục Kiền Liên làm a xà lê, truyền mười giới sa di cho La Hầu La. Phật không truyền, mà nhường cho hai tôn giả truyền là vì muốn Tam Bảo có ba ngôi riêng biệt. La Hầu La là sa di đầu tiên trong giáo đoàn của Phật.

    La Hầu La sau khi xuất gia nhưng còn quen tập quán con cháu vua chúa nên thường chơi nghịch. Các Phật tử từ xa đến thăm Phật, La Hầu La lại chỉ sang tịnh xá khác. Mỗi tịnh xá cách nhau hàng trăm cây số. Điều đó đã làm cho Phật tử than phiền và thấu đến tai đức Phật.

    Một hôm, Phật đến chỗ của La Hầu La, La Hầu La ra nghinh chỉnh đón Phật, lễ bái và múc nước rửa chân Phật. Rửa xong, Phật bảo đổ nước đi. Phật hỏi La Hầu La, “Cái chậu này đựng thức ăn có được không?”

    La Hầu La thưa, “Không đựng thức ăn được vì nó đã bất tịnh.”

    Phật liền lấy chân hất chậu, chạy vài vòng rồi ngã xuống nứt bể. Phật hỏi La Hầu La, “Con có tiếc cái chậu đó không?”

    La Hầu La trả lời, “Thưa, con không tiếc vì nó đã rửa chân bất tịnh rồi.”

    Phật dạy, “Người xuất gia cũng như thế. Nếu không chịu tu hành thì ba nghiệp thân, khẩu, ý tạo tội lỗi, bị đọa địa ngục. Các bực thánh rất xót thương, nhưng không thể cứu vớt được. Tại sao con không theo gương các vị tôn đức để trở nên người tốt?”

    La Hầu La trả lời, “Thưa đức Thế Tôn, con còn nhỏ làm sao học theo các vị cao đức được?”

    Phật dạy, “Các vị là bậc đại trượng phu, con cũng như vậy, không nên tự khinh mà thối lui.”

    La Hầu La sám hối Phật và từ đó chuyên tu tinh tấn. Thời gian sau, đắc quả A La Hán. Phật dạy: La Hầu La là người tu mật hạnh đệ nhất.

    Một khi Chánh pháp thấm nhuần

    Tươi vui cuộc sống bình an tâm hồn.

    Cho nên người trí người khôn

    Hân hoan nghe Pháp thánh nhân giảng truyền.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Sa Di Mê Cọp



    Thuở xưa, có thầy tỳ kheo tu hành trong tịnh thất nhỏ trên núi, nơi xa xôi hẻo lánh, ít người lai vãng. Nếu có ai, cũng chỉ có các vị thọ rừng, thợ săn và tiều phu mà thôi.

    Một hôm, thầy tỳ kheo xuống làng khất thực, lượm được một đứa bé trai kháu khỉnh dễ thương, bị người ta bỏ. Thầy đem về, xin sữa nuôi con cho đến lớn. Rồi thầy dạy tụng kinh, bái sám, công phu và cho thọ giới sa di.

    Năm ấy, chú sa di được hai mươi tuổi, ngây thơ, hồn nhiên và chưa lần nào xuống nhân gian. Một hôm, thầy tỳ kheo có pháp sự cần có chú đi theo. Khi xuống làng xóm, chú thấy cái gì cũng lạ, chú liền đưa mắt nhìn say mê, tuy nhiên chú cũng phải đi theo thầy.

    Khi pháp sự xong, hai thầy trò trở về tịnh thất. Trên đường tình cờ chú gặp một cô gái độ mười bảy, mười tám tuổi, thân thể dịu dàng, vẻ mặt xinh đẹp. Chú trân người mà nhìn, không chịu đi. Thầy tỳ kheo ngó lại biết việc nên nói, “Đi mau chớ cọp đồng nó bắt nó ăn mất hồn xác đó!”

    Chú sa di miễn cưỡng ra đi. Nhưng khi về tới tịnh thất thì quên ăn, biếng ngủ, vẻ mặt bơ phờ như người mất hồn. Thầy tỳ kheo thấy thế, hỏi, “Sa di, con sao như thế?”

    Chú sa di nước mắt ràn rụa nói rằng, “Con nhớ thương con cọp đồng quá! Thà con xuống núi cho cọp đồng nuốt xác, ăn hồn con cũng được chớ sống thế này khổ lắm thầy ơi!”

    Thầy tỳ kheo biết sa di này nghiệp ái quá nặng không thể tu được, thầy an ủi vỗ về và cho chú xuống núi.

    Thế mới biết, nghiệp ái của con người rất là nặng. Người tu hành muốn thoát khỏi nghiệp này cũng thiên nan, vạn nan.

    Kinh dạy: Người tu hành thoát khỏi ái dục, giới hạnh thanh tịnh, cho đến mãn tuổi thọ là vị xuất trần La Hán.

    Tổ cũng dạy: “Ái bất trọng bất sanh Ta Bà. Niệm bất nhất bất sanh tịnh độ.” Nghĩa là: Ái không nặng nghiệp thì không sanh vào cõi Ta Bà. Niệm Phật không nhất tâm thì không sanh về Tịnh Độ.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Sa Di Quân-Đề



    Khi Phật còn tại thế, lúc bấy giờ có một đoàn người lái buôn chở hàng hóa từ Miến Điện sang Ấn Độ để bán. Họ mang theo một con chó trắng. Một hôm, họ xuống sông tắm giặt, khi lên bờ họ phát giác con chó đã ăn hết thức ăn của họ. Họ nổi giận bắt chó chặt bốn chân, cắt tai, cắt mũi và ném xuống hầm rồi bỏ ra đi.

    Con chó bị thương dở chết dở sống, quằn quại rên la, đau khổ. Ngài Xá Lợi Phất nhập định từ xa nghe tiếng kêu đau thương của chó. Ngài đi xin một bát cơm, dùng thần thông bay đến xuống hầm đem chó lên, bấy cơm cho ăn và quy y cho nó. Chó được ăn cơm, được quy y nghe Pháp, chó rất vui mừng. Sau đó chó xả thọ mạng. Nhờ phước đức quy y nghe pháp, nên đầu thai vào nhà ông trưởng giả.

    Lúc đứa bé lên bảy tuổi, ngài Xá Lợi Phất đi khất thực ngang qua nhà. Em bé thấy ngài vui mừng lễ bái, thỉnh vào nhà xin cha thiết trai cúng dường. Thọ trai xong, bé xin cha mẹ đi theo ngài Xá Lợi Phất xuất gia.

    Ngài Xá Lợi Phất dạy cách tọa thiền quán chiếu. Sa Di Quân Đề tinh tấn tu hành, chứng A La Hán. Sau khi chứng A La Hán, dùng đạo nhãn biết kiếp trước mình là chó được thầy cho ăn cơm và chú nguyện, cho nên kiếp này mới được người độ cho xuất gia, chứng quả giải thoát. Nghĩ nhớ ơn thầy, bèn nguyện trọn đời không thọ tỳ kheo để suốt đời được hầu hạ thầy đền ơn đáp nghĩa.

    Một hôm, sa di Quân Đề y bị rách nên thầy vào rừng thi lâm lượm một miếng vải quấn tử thi đầy máu, dùng thần thông bay lên núi tuyết đến ao A Nậu tắm giặt. Chư thiên trọng đức nên lấy nước đó tắm.

    Lát sau có một ngoại đạo dùng thần thông bưng cơm đến ngồi bờ hồ ăn. Bị chư thiên đuổi, ngoại đạo phân bì nói, “Tại sao Sa môn Thích tử giặt vải các vị không nói, còn tôi chỉ ngồi ăn cơm các vị đuổi? Các vị không bình đẳng!”

    Chư thiên nói, “Thánh đệ tử phước trí vô biên. Còn nhà ngươi, phước đức ở đâu mà dám phân bì? Mau đi khỏi chỗ này, nếu không, ta sẽ trừng phạt.”

    Tuy sa di Quân Đề tiền thân là chó nhưng nhờ gặp thánh đệ tử chú nguyện, quy y, được thoát kiết, làm người và tinh tấn tu hành, chứng được thánh quả. Còn người tu mà không tinh tấn, tu hành sẽ không được gì.

    Phật dạy: Chó này tiền thân là vị pháp sư vì ác khẩu nên phải đọa lạc. Nhưng cũng nhờ giữ giới tinh nghiêm nên được gặp Ngài Xá Lợi Phất và được độ.

    Hương thơm hoa quý vườn kia

    Ngược chiều gió thổi, dễ gì thoảng bay.

    Hương người đức hạnh thơm thay

    Dù cho ngược gió, tung bay khắp cùng.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Sa Di Tăng-Hộ



    Sa Di Tăng Hộ xuất gia, tu theo ông cậu ruột của mình. Một hôm sa di Tăng hộ xin được hai xấp vải, đem về cúng dường thầy. Nhưng thầy không nhận và nói, “Thầy có đủ y rồi. Con hãy may y cho con.”

    Một buổi trưa mùa hè nóng bức, sa di Tăng Hộ đứng quạt cho thầy ngồi thiền. Chú suy nghĩ, “Mình cúng dường mà thầy mình không nhận. Như thế, thầy mình không thương mình nữa. Vậy mình hãy về nhà. Nhưng về nhà lấy gì sống?

    “Mình sẽ bán hai xấp vải mua vài ba con gà để nuôi. Gà sẽ đẻ ra thành bầy. Mình bán gà mua heo. Nuôi heo lớn bán heo mua bò. Bò đẻ nhiều thành đàn rồi bán bò, cất nhà cưới vợ.”

    “Vợ mình sanh đứa con trai đầu lòng mũm mĩm dễ thương. Vợ chồng ẵm con lên thăm cậu, nhưng vợ mình ẵm con không nên dáng, để con rớt xuống đường khóc ré lên. Thế là đàn bà hư, phải đánh cho một trận mới được.”

    Chú cầm quạt đánh xuống nghe cái bốp, trúng đầu thầy. Thầy nói, “Con đánh vợ con mà không trúng, lại trúng đầu thầy đây.”

    Tăng Hộ nghe thầy nói vậy, sợ quá bỏ chạy. Các chú sa di thấy vậy cũng chạy theo.

    Chư tăng chạy theo bắt lại, hỏi, “Lý do tại sao trời nắng chang chang mà quý chú chạy?”

    Các sa di trả lời, “Chúng con thấy chú Tăng Hộ chạy nên chúng con chạy theo.” Quý thầy đem sa di Tăng Hộ đến chốn Phật.

    Sa di Tăng Hộ kể lại câu chuyện rồi xin sám hối Phật. Phật dạy, “Phàm phu không biết giữ tâm, để tâm chạy lăng xăng. Chỉ có trong giây lát, mà con nghĩ tới gần nửa đời người.”

    Kế đến Phật dạy, “Chú hãy nhiếp ý, giữ tâm, thiền quán, lâu ngày sẽ chứng được thánh quả.”

    Những người đệ tử Phật Đà,

    Ngày đêm tỉnh giác để mà tu duy.

    Nghĩ về đức Phật từ bi,

    Một lòng tưởng niệm, sớm khuya chuyên cần.



  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Sa Di Tham Thực



    Ngày xưa, có ông sa di mới tu nên thường tham thực. Bữa nào có thức ăn ngon thì ông vui mừng thích thú, tha hồ mà ăn. Bữa nào thức ăn dở thì ông sụi mặt thảm não.

    Một hôm, có thí chủ cúng sữa cho chư tăng. Sữa vừa dọn lên còn nóng hổi bốc hơi, ông sa di vừa thổi vừa húp.

    Hòa Thượng thấy vậy bảo, “Sữa tuy đã nguội mà tâm ông thì rất nóng.”

    Khi ăn gần xong, gặp nhằm ruồi, ông sa di liền mửa ra cũng đầy tô. Hòa Thượng bảo ông ăn trở lại. Ông nói, “Đồ mửa ra bất tịnh làm sao ăn?”

    Hòa Thượng dạy, “Chỉ vừa nuốt khỏi cổ, chảy ra thì đã nhờm tởm, không ăn được rồi. Tất cả thức ăn dù ngon đến đâu khi ăn rồi qua ngày trở thành đồ dơ bất tịnh, nhơ uế. Chủ nhân cũng không muốn nhìn.

    Người quán được như thế thì lòng tham thực từ từ liền mất. Đây là cách đối trị lòng tham thực hữu hiệu nhất.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Sự Tích Bài Tán Chiên Đàn



    Khi vua Tịnh Phạn hay tin Phật thành đạo, nhà vua và dòng họ Thích rất vui mừng. Lúc ấy, em trai vua vừa sanh hoàng tử và xin vua Tịnh Phạn đặt tên. Vua liền đặt tên Khánh Hỷ (Vui Mừng), tức là tên của ngài A Nan.

    Sau đó, lại nghe tin báo Gia Du Đà La vừa sanh La Hầu La, vua Tịnh Phạn vừa buồn vừa giận, cho đánh trống vàng, tập trung dòng họ Thích để xét tội công chúa. Khi mọi người đã tập họp đông đủ, vua Tịnh Phạn cho mời Gia Du Đà La ra. Công chúa ôm con bước ra đứng trước mọi người. Nhà vua hỏi, “La Hầu La là con ai?”

    Gia Du Đà La trả lời, “La Hầu La là con của thái tử Tất Đạt Đa.”

    Nhà vua phán, “Thái tử đã đi tu sáu năm rồi, làm gì có con. Theo luật dòng họ Thích, hễ cô gái nào ngoại tình thì mẹ con phải nhảy vào hầm lửa để rửa sự ô nhục của dòng họ.”

    Nàng Gia Du Đà La liền ôm La Hầu La đến trước hầm lửa và phát nguyện, “Kính xin mười phương chư Phật chứng minh, nếu La Hầu La là con của thái tử Tất Đạt Đa thì xin cho hầm lửa biến thành ao sen.”

    Phát nguyện xong, nàng liền ôm con nhảy xuống hầm lửa. Nhiệm mầu thay, hầm lửa biến thành ao sen trước sự chứng kiến của mọi người. Nhà vua hết nghi ngờ liền ẵm cháu, đem công chúa Gia Du Đà La lên và nuôi dưỡng tử tế.

    Phật dạy: La Hầu La ở tiền kiếp chơi nghịch, nhét hang chuột sáu ngày, sau nhớ mới mở ra. Do quả báo đó, phải ở trong bào thai sáu năm.



    Bài Tán Chiên Đàn



    Chiên Đàn hải ngạn

    Lư nhiệt thanh hương.

    Gia Du tử mẫu lưỡng vô ương

    Hỏa nội đắc thanh lương

    Chí tâm kim tương

    Nhất chú biến thập phương.



    Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát.



    Dịch nghĩa:



    Cây chiên đàn đứng bên bờ biển

    Đốt hương trong lư báu.

    Mẹ con nàng Gia Du hết tai họa

    Trong lửa nóng được mát mẻ.

    Tâm thành chí kính

    Một chút biến khắp mười phương.



    Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Sự Tích Cái Mõ



    Ngày xưa, có một Hòa Thượng đi qua sông, khi thuyền đến giữa dòng thì có sóng to gió lớn, sắp chìm thuyền. Mọi người thất kinh đều chắp tay niệm Phật cầu mong qua khỏi tai nạn. Trước mũi thuyền, một con cá lớn nổi lên và nói rằng: “Mọi người muốn yên ổn qua tai nạn thì hãy bắt ông Hòa Thượng liệng xuống sông, nếu không thì cả thuyền bị chìm.”

    Mọi người chắp tay nói, “Hòa Thượng tu hành từ thuở bé, đạo cao đức trọng, tại sao lại liệng xuống sông?”

    Cá nói, “Vì ông mà tôi phải bị đọa làm cá khổ sở lắm. Ông là thầy của tôi, nuôi mà không dạy, để tôi phá trai phạm giới nên phải bị đọa, tôi thù ổng lắm.”

    Hòa Thượng nói, “Cũng tại nhà ngươi không nghe lời dạy bảo, làm theo ý của mình nên bị đọa lại đổ thừa cho ta. Kinh dạy, “Phạm Phật thì có tăng sám hối, còn phạm tăng thì không có ai sám hối.” Vậy ngươi phải ăn năn, hối cải, niệm Phật. Ta sẽ về lập đàn siêu độ cho nhà ngươi.”

    Hòa Thượng về chùa lập đàn tràng sám hối siêu độ ba ngày ba đêm. Đến ngày thứ ba, cá nhảy lên bờ bò vào sân chùa nói, “Nhờ Hòa Thượng sám hối siêu độ, con đã thoát kiếp sanh làm người. Con nguyện tinh tấn tu hành cho đến khi nào chứng đạo quả. Để nhắc nhở cho người sau, xin để thân con làm mõ đánh lên, chúng tăng ăn cơm, tụng niệm, tọa thiền, làm lao tác.”

    Do sự tích này nên các chùa thường chạm hình con cá nằm dài làm hiệu đánh ở trong nhà chùa. Cái mõ tụng kinh trong chùa cũng là tích này nhưng cũng có ý nghĩa là các loài cá rất ít ngủ, thường tỉnh thức. Ý muốn cho người tụng tỉnh thức không bị hôn trầm. Tâm tỉnh thức để vừa tụng vừa quán chiếu cho tiêu nghiệp phiền não, mau chứng đạo Bồ đề.



    Ở thế đã nhiều duyên nghiệp quá

    Quyết lòng nương tựa chốn am không.

    Cửa thiền một đóng duyên trần dứt

    Quên hết người quen chốn bụi hồng.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Sự Tích Chày Kình



    Chày kình một tiếng tan niềm tục

    Hồn bướm mơ tiên lẫn sự đời.

    Trong Chùa, thường có đại hồng chung. Trên quai đại hồng người ta thường đúc con bồ lao giống như con rồng. Cái cày đánh chuông bằng gỗ chạm con cá kình. Bồ lao ở dưới nước và cũng ở trên khô. Bồ lao thấy cá kình thì nó sợ nó la lên, nhảy lên bờ cả bầy đều la. Cá kình thì muốn ăn bồ lao nhưng không lên đảo được. Hai loài này chống đối nhau.

    Lấy ý nghĩa là muốn cho tiếng chuông kêu to, vang xa để tỉnh thức mọi người và cũng để thức tỉnh những cô hồn, âm linh, nghe chuông mà mau niệm Phật để thoát kiếp luân hồi.

    Bài Kệ Hô Chuông



    Bồ lao chuyển hướng chung thinh

    Phạm sát kiền chùy phổ địa minh

    Lục thú tài văn đô tức khổ

    Địa ngục sạ thính khổ than đình.



    Tạm dịch:



    Bồ lao trở mình hướng nghe chuông

    Chuông chùa cảnh tỉnh vang xa mãi

    Sáu đường khổ thú nghe dứt khổ

    Địa ngục nghe rồi khổ tạm dừng

    Chuông trong nhà Phật có ba loại. Loại lớn nhất gọi là đại hồng chung. Đánh lên với trống sấm để làm lễ cúng Phật, cúng Pháp, cúng Tăng hoặc vào các ngày đại lễ.

    Loại thứ hai là chuông báo chúng. Đánh lên như hiệu lịnh để đại chúng thức dậy, tọa thiền, tụng kinh, niệm Phật, lễ sám hoặc ăn cơm, làm việc v.v… Loại này nhỏ hơn đại hồng chung.

    Loại thứ ba là chuông gia trì. Đánh lên cùng với tiếng mõ để hành lễ tụng kinh. Thầy Duy Na dùng chuông gia trì để điều khiển buổi lễ.

    Trăng sáng sau khi trời tạnh mưa,

    Hiên ngoài thoang thoảng gió hương đưa.

    Tiếng chuông ngân ngợi trong đêm vắng,

    Thử hỏi hồn ai đã tỉnh chưa?

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Tâm Xấu Bị Ác Báo



    Ngày xưa, có một làng ở ven biển sống bằng nghề đánh cá. Có một gia đình chài lưới. Chồng qua đời để lại hai đứa con và bà vợ bụng mang dạ chửa.

    Từ khi mang thai đứa con này thì người cha từ trần, gia đình sa sút. Trong làng làm ăn thất thoát, đánh không được cá, có một số nhà bị cháy. Các ông kỳ cựu trong làng tìm hiểu gia đình người thiếu phụ chồng chết, mang thai đứa con con bạc phước nên họ đuổi gia đình bà đi nơi khác.

    Bà chịu cảnh nghèo khổ, đói rách, nhưng cố gắng sanh và nuôi con cho đến 7 tuổi. Một hôm bà đưa cho nó một cái bát, bảo vào nhà hàng xóm xin cơm và bà bỏ trốn mất. Khi xin cơm ra tìm mẹ không được, nó khóc lóc khổ đau. Và từ đó nó trở thành không cha mẹ, không một người thân. Hằng ngày đi xin ăn để sống. Thân hình đứa bé đen đủi, ốm yếu trông rất đáng thương.

    Một hôm ngài Xá Lợi Phất đi khất thực gặp em bé, ngài thương xót hỏi, “Con là con ai?”

    Em bé trả lời, “Con mồ côi, không cha không mẹ.”

    Ngài Xá Lợi Phất hỏi, “Con có muốn đi tu không?”

    Em bé trả lời, “Con muốn lắm nhưng không có ai độ.”

    Ngài Xá Lợi Phất nói, “Ta sẽ độ con. Con chịu không?”

    Em bé nói, “Con mừng lắm.”

    Ngài Xá Lợi Phất cho nó một tấm vải làm y và một bình bát nhỏ. Nó đi theo sau thầy để khất thực. Ngài dạy cho nó cách tọa thiền quán chiếu. Đủ tuổi hai mươi, thọ giới tỳ kheo, tinh tấn tu hành, chứng quả A La Hán.

    Tuy đắc A La Hán nhưng do ác nghiệp nên đi khất thực cũng chỉ có ba muỗng cơm, vì thế thân hình ốm gầy.

    Phật từ bi, thương thầy nên cho quét phòng hương của Phật. Nhờ phước đức này, thầy được tạm no đủ. Nhưng sau đổi người khác, thầy tiếp tục nhịn đói.

    Đến khi thầy sắp bỏ báo thân, thầy đi phó trai đến thí chủ thì hai vợ chồng cãi lộn. Thầy đành nhịn đói, đi về. Và sau đó thầy không đi khất thực nữa.

    Ngài Mục Kiền Liên thương xót, khi thọ trai xong liền khất thực cho thầy một bình bát cơm, nhưng khi đi giữa đường, trâu báng lộn, bể bát cơm. Ngày hôm sau ngài Mục Kiền Liên cũng khất thực bát cơm cho thầy, sợ trâu báng lộn nên ngài bay lên hư không lại bị bầy quạ dành cơm, bình bát rơi xuống bể nát. Thế là Thầy nhịn đói đã ba ngày.

    Ngày thứ tư, ngài Xá Lợi Phất thương xót, ăn xong lại xin cho thầy một bát bánh đem về, hai tay nắm bát bảo thầy ăn. Nhưng thầy sợ, vì ngài Xá Lợi Phất là thầy lớn mà cầm bát cho thầy ăn, sợ có lỗi. Ngài Xá Lợi Phất nói, “Đại đức cứ ăn. Nếu thầy thả tay ra thì bánh sẽ không còn.”

    Thầy tỳ kheo bất đắc dĩ ăn vài ba cái rồi thôi. Khi ngài Xá Lợi Phất thả tay ra thì bình bát liên biến mất. Sau đó, thầy tỳ kheo uống một bát nước no và nhập diệt.

    Thấy thế, ngài A Nan bạch Phật, “Thầy tỳ kheo này do tội gì mà phải chịu đói khát, cho đến chứng quả A La Hán còn phải nhịn đói, uống nước no mà nhập diệt? Và cũng do phước gì mà được xuất gia chứng quả giải thoát?”

    Phật dạy: Đây cũng do ác nghiệp gây ra. Vào thời quá khứ, trong giáo pháp của Phật Tỳ Bà Thi có một thí chủ giàu có, cất một tịnh thất trong vườn cây trái, mời một thầy tỳ kheo đến ở và tứ sự cúng dường.

    Một hôm, có một vị Bích Chi Phật từ núi tuyết xuống nhà thí chủ khất thực. Thí chủ thỉnh vô nhà, thiết trai cúng dường và thưa rằng trong vườn trái cây có tịnh thất, có một thầy tỳ kheo đang ở, xin trưởng lão lên đó nghỉ rồi ngày mai đi với thầy tỳ kheo đó xuống đây thọ trai.

    Vị trưởng lão lên tịnh thất, thầy tỳ kheo cung kính tiếp rước. Và hỏi ra, biết là thí chủ chỉ lên đây nghỉ đêm. Thầy tỳ kheo lại sanh ý nghĩ xấu là nếu vị trưởng lão ở đây, thí chủ sẽ cung kính ông mà quên mình đi.

    Sáng ra, thầy đến gõ cửa phòng trưởng lão nhưng không nghe trả lời, tưởng ngài đi xa mỏi mệt nên ngủ quên. Thầy ôm bát xuống nhà thí chủ. Thí chủ hỏi, “Ngài trưởng lão có lên tịnh thất không? Sao sáng nay không đi xuống với thầy?” Thầy tỳ kheo nói, “Chắc ngài đi xa mỏi mệt nên ngủ quên.”

    Khi thầy tỳ kheo ăn xong, thí chủ bới một bình bát cơm với thức ăn thượng vị, nhờ thầy mang về cho trưởng lão.

    Thầy tỳ kheo mang đi nửa đường, nghĩ rằng nếu trưởng lão được thức ăn ngon sẽ ở luôn. Mình nên đổ bát cơm này là xong. Nhưng đổ trên đất, chim ăn còn dư, thí chủ biết. Đổ dưới nước, cá ăn còn dư, thí chủ cũng biết. Chi bằng chôn dưới đất là tốt.Thầy làm theo ý định rồi rửa bát ra về. Khi đến tịnh thất, đẩy cửa phòng trưởng lão vào thì không thấy đâu.

    Bấy giờ thầy mới ăn năn, sợ sệt, khóc lóc, cầu xin sám hối chỉ vì miếng ăn mà ta đã đổ bát cơm của vị thánh.

    Phật kết luận: Thầy tỳ kheo đổ bát cơm là tiền thân của thầy tỳ kheo chứng quả A La Hán mà nhập diệt bị đói. Và cũng vì kiếp trước xuất gia giữ tịnh giới nên hôm nay gặp ta và chứng quả A La Hán.

    Khi mà nghiệp ác chưa thành

    Người làm điều ác tưởng mình vui thôi.

    Đến khi nghiệp ác tới rồi

    Người ta mới thấy cuộc đời khổ đau.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Thả Voi Say Hại Phật



    Đề Bà Đạt Đa là đệ tử Phật nhưng muốn nắm quyền giáo đoàn. Ông xin Phật giao giáo đoàn cho ông giáo huấn. Phật không giao. Phật dạy, “Những đệ tử nhiều trí huệ như tôn giả Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên ta còn chưa giao. Ông là người ngu si làm sao ta giao được?”

    Nghe lời ấy, Đề Bà Đạt Đa nổi sân tìm cách hại Phật để nắm giáo đoàn.

    Năm đó nhằm năm mất mùa, khất thực khó được nên các tỳ kheo đi nơi khác an cư. Chỉ còn có 500 vị A La Hán ở lại an cư với Phật. Đây là cơ hội tốt cho ông Đề Bà Đạt Đa rat ay.

    Ông đến xúi thái tử A Xà Thế thỉnh Phật cúng dường rồi thả voi say ra dậm chết Phật. Ông sẽ nắm giáo đoàn. Thái tử sẽ làm vua.

    Sáng hôm đó Phật cùng 500 vị A La Hán đi vào thành. Thái tử cho voi uống rượu say rồi thả ra. Voi dậm chết nhiều người, hăng máu nhắm vào giáo đoàn của Phật chạy tới. Dân chúng khóc lóc sợ đức Thế Tôn nhập diệt.

    Khi voi đến gần, 500 vị A La Hán bay lên hư không. Ngài A La Hán bám sát Phật, Phật vẫn thản nhiên. Phật đưa bàn tay ra, xẹt năm luồng hào quang, hóa năm sư tử vây quanh. Voi sợ quá, té phẩn quỳ xuống, quỳ xuống cầu xin Phật cứu mạng. Năm trăm vị A La Hán hạ xuống.

    Phật và thánh chúng từ từ tiến vào cung vua. Thái tử A Xa Thế nghinh đón Phật, thỉnh Phật và thánh chúng ngồi vào trai đường. Thái tử sám hối Phật, “Đây là lỗi của Đề Bà Đạt Đa, nhưng con cũng xin sám hối Phật tha tội cho con đã nghe theo lời xúi dục của Đề Bà Đạt Đa.”

    Thái tử bạch Phật, “Trong thức ăn này có thuốc độc. Xin đức Thế Tôn và thánh đệ tử đợi giây lát, nội thị sẽ nấu các món khác.”

    Phật dạy, “Không hề gì, cứ dọn lên.”

    Trước khi ăn, Phật dạy chư tăng tụng câu thần chú “Án tam bạc ra khư đa” bảy lần thì thuốc độc sẽ vô hiệu hóa. Phật và chư tăng ngồi ăn thản nhiên.


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group