Địa ngục du ký - Dịch giả: Đào Mộng Nam; Minh giải: Lương Sĩ Hằng

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước


  • ĐỊA NGỤC DU KÝ

    Dịch Giả: Đào Mộng Nam
    Minh Giải: Lương Sĩ Hằng



    Thánh Hiền Đường ở Đài Trung thuộc Đài Loan



    Thiền Sư Lương Sĩ Hằng và Dương Thiện Sinh




    Mục Lục



    Tiểu Sử Phật Sống Tế Công ............................................ 19

    Lời Ông Tám Giảng
    Trước Khi Đọc Địa Ngục Du Kí...................................... 24

    Ngọc Chỉ - Lệnh của Ngọc Hoàng.................................. 26
    Thái Thượng Vô Cực Hỗn Nguyên
    Giáo Chủ Nguyên Thủy Thiên Tôn ................................ 29

    Giáo Chủ Cõi U Minh
    Bồ Tát Địa Tạng Vương................................................... 33

    Chủ Tịch Của Bản Đường
    Là Họ Quan Đăng Đài ..................................................... 35

    Chủ Bí Kim Khuyết Là Họ Lạc ........................................ 37

    Đồng Tử Ngọc Hư Đăng Đài .......................................... 39

    Hồi 1:
    Tới Núi Tâm Đầu Xem Hang Địa Ngục ....................... 44

    Hồi 2:
    Chơi Ao Thanh Tâm Dạo Cõi Âm Dương ................... 49

    Hồi 3:
    Dạo Cõi Âm Dương Thăm Giao Bộ Sảnh..................... 55

    Hồi 4:
    Qua Quỷ Môn Quan
    Nghe Pháp Của Vạn Pháp Tông Môn.......................... 61

    Hồi 5:
    Tới Đệ Nhất Điện Luận Bàn Cùng Minh Vương.......... 71

    Hồi 6:
    Dạo Đài Gương Soi Ác Nghiệp
    Xem Tội Hồn Hiện Nguyên Hình ................................77

    Hồi 7:
    Dạo Sở Bổ Túc Kinh Điển.............................................86

    Hồi 8:
    Dạo Thành Thác Oan ...................................................94

    Hồi 9:
    Lại Dạo Thành Thác Oan............................................103

    Hồi 10:
    Dạo Đệ Nhị Điện Bàn Bạc Với Sở Giang Vương
    Cùng Thăm Nơi Giảng Đạo........................................116

    Hồi 11:
    Dạo Địa Ngục Bùn Phân Nước Tiểu ...........................129

    Hồi 12:
    Dạo Địa Ngục Đói Khát..............................................138

    Hồi 13:
    Dạo Cầu Nại Hà Thăm Ngục Vũ Trì ..........................147

    Hồi 14:
    Dạo Địa Ngục Giá Lạnh..............................................155

    Hồi 15:
    Dạo Đệ Tam Điện Gặp Tống Đế Vương....................169

    Hồi 16:
    Dạo Địa Ngục Móc Mắt..............................................175

    Hồi 17:
    Dạo Địa Ngục Dao Sắt,
    Dao Đồng Lóc Da Mặt ................................................183

    Hồi 18:
    Dạo Địa Ngục Treo Ngược......................................... 193

    Hồi 19:
    Dạo Phủ Hoàn Hồn Bốn Loài Sinh Vật...................... 200

    Hồi 20:
    Lại Dạo Phủ Hoàn Hồn Bốn Loài Sinh Vật................ 216

    Hồi 21:
    Dạo Phủ Hoàn Hồn
    Bốn Loài Sinh Vật Lần Thứ Ba .................................... 224

    Hồi 22:
    Dạo Đệ Tứ Điện Gặp Gỡ Ngũ Quan Vương.............. 233

    Hồi 23:
    Dạo Địa Ngục Đổ Thuốc............................................ 240

    Hồi 24:
    Dạo Địa Ngục Nước Sôi Luộc Tay............................. 248

    Hồi 25:
    Dạo Địa Ngục Đâm Họng .......................................... 265

    Hồi 26:
    Dạo Địa Ngục Cắt Gân Chặt Xương.......................... 273

    Hồi 27:
    Dạo Địa Ngục Ong Độc ............................................. 281

    Hồi 28:
    Lại Dạo Địa Ngục Ong Độc ....................................... 288

    Hồi 29:
    Dạo Địa Ngục Ong Độc Lần Thứ Ba.......................... 301

    Hồi 30:
    Dạo Đệ Ngũ Điện Thăm Vọng Hương Đài
    Gặp Gỡ Sâm La Vương ............................................... 308

    Hồi 31:
    Dạo Đệ Ngũ Điện Nghe Diêm Vương
    Luận Về Mổ Ngực Moi Tim........................................317

    Hồi 32:
    Dạo Địa Ngục Moi Tim...............................................323

    Hồi 33:
    Dạo Địa Ngục Moi Tim Lần Thứ Hai.........................329

    Hồi 34:
    Dạo Địa Ngục Moi Tim Lần Thứ Ba
    Vào Tháng Bảy Cửa Quỷ Mở......................................336

    Hồi 35:
    Dạo Địa Ngục Moi Tim Lần Thứ Tư ..........................343

    Hồi 36:
    Dạo Đệ Lục Điện Bàn Bạc
    Với Biện Thành Vương................................................357

    Hồi 37:
    Dạo Địa Ngục CắtThận Cho Chuột Gặm..................363

    Hồi 38:
    Dạo Địa Ngục Dạy Lái Xe...........................................370

    Hồi 39:
    Dạo Địa Ngục Dùng Kìm Kẹp Miệng,
    Dùng Hàm Thiết Đóng Vào Răng ..............................377

    Hồi 40:
    Dạo Địa Ngục Lưới Thép Gai,
    Đỉa Đói Và Châu Chấu ...............................................385

    Hồi 41:
    Dạo Miếu Thành Hoàng
    Xem Người Chết Qua Đời ..........................................392

    Hồi 42:
    Dạo Đệ Thất Điện Gặp Gỡ Thái Sơn Vương,
    Thăm Ngục Nóng Bỏng Não Nề ................................ 405

    Hồi 43:
    Dạo Địa Ngục Nướng Tay.......................................... 414

    Hồi 44:
    Dạo Địa Ngục Rút Ruột .............................................. 422

    Hồi 45:
    Dạo Địa Ngục Oằn Lưng Đội Đá ............................... 430

    Hồi 46:
    Dạo Địa Ngục Vạc Dầu Sôi ........................................ 438

    Hồi 47:
    Dạo Địa Ngục Cắt Lưỡi Rạch Mép............................. 450

    Hồi 48:
    Dạo Đệ Bát Điện
    Luận Bàn Cùng Bình Đẳng Vương.............................. 460

    Hồi 49:
    Dạo Địa Ngục Xe Cán ................................................ 467

    Hồi 50:
    Dạo Địa Ngục Chặt Chân Chặt Tay .......................... 473

    Hồi 51:
    Dạo Đệ Cửu Điện Gặp Gỡ Đô Thị Vương................. 478

    Hồi 52:
    Dạo Địa Ngục Dầu Sôi Tưới Thân Mình ................... 487

    Hồi 53:
    Dạo Địa Ngục Rắn Đỏ Tía Cắn Nhoi......................... 499

    Hồi 54:
    Dạo Địa Ngục A Tì ..................................................... 503

    Hồi 55:
    Dạo Đệ Thập Điện
    Gặp Gỡ Chuyển Luân Vương......................................512

    Hồi 56:
    Dạo Đệ Thập Điện
    Thăm Hỏi Sở Chuyển Kiếp.........................................518

    Hồi 57:
    Dạo Đệ Thập Điện Thăm Quán Bà Mạnh ..................527

    Hồi 58:
    Dạo Đệ Thập Điện Thăm Sáu Nẻo Luân Hồi.............534

    Hồi 59:
    Dạo Khu Bình Dân Ở Âm Phủ ....................................543

    Hồi 60:
    Dạo Sở Tụ Thiện
    Ti Thưởng Thiện Và Ti Phạt Ác .................................551

    Hồi 61:
    Dạo Ao Máu Nhơ Cùng Điện Đông Nhạc .................559

    Hồi 62:
    Lạy Gặp Bồ Tát Địa Tạng Vương,
    Viết Xong Du Kí Mở Hội Lớn.....................................567

    Ngọc Chiếu - Lệnh của Ngọc Hoàng ............................577

    Đề Bạt................................................................. .............580




    Thiên Đường Hữu Lộ Vô Nhân Vấn
    Địa Ngục Vô Môn Hữu Khách Tầm

    Thiên Đường có lối không ai hỏi,
    Địa Ngục cửa cài lắm khách thăm



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 2:17 am với 10 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước



  • Tiểu Sử
    PHẬT SỐNG TẾ CÔNG



    Phật Sống Tế Công người đời Nam Tống (1150-1209) nguyên quán thuộc huyện Thiên Thai, tỉnh Triết Giang, họ Lí tên Tu Duyên quy y tại chùa Linh Ẩn ở Tây Hồ thuộc Hàng Châu, pháp danh Đạo Tế, vì thường dùng kế giả điên để cứu đời nên thế nhân thường gọi đùa là Tế Điên. Thân Phật Sống là Kim Thân La Hán hóa thân, là Giáng Long Tôn Giả, thông hiểu sâu xa tam muội, tức là chính định, điều tâm tĩnh tọa để đạt trạng thái trực giác vô tư lự hầu thấu triệt cùng liễu ngộ Phật pháp, ý là: “Muôn pháp vốn xuất hiện bởi tâm” (Vạn pháp duy tâm sở hiện). Và tu thẳng tâm Phật không nhờ phương tiện, nên nói: “Tu tâm không tu miệng để trở thành Phật sống” (Tu tâm bất tu khẩu, tố cá tự tại Phật) vì lẽ các tăng ni thời đó chỉ “giới khẩu” không “giới tâm” cho nên Phật Sống nói lên tiếng cảnh tỉnh để giúp họ giác ngộ. Ngài thần thông quảng đại, cứu nhân độ thế, trượng nghĩa phò nguy, đối với bọn giả thiện chuyên làm điều ác ngài thường giễu cợt để khiến bọn đó giác ngộ. Nhưng riêng đối với lũ làm ác không biết hối cải ngài thẳng tay đả kích không ngần ngại, khiến người đời rất ư khoái trá, bởi vậy mọi người gọi ngài là thánh tăng, tôn ngài là Phật Sống hẳn chẳng phải do sự ngẫu nhiên.

    Phật Sống từng ở chùa Tịnh Từ, chùa gặp hỏa hoạn, cần gỗ để trùng tu, Phật Sống hành hóa tới Nghiêm Lăng, dùng áo cà sa trùm các núi, nhổ trụi cây đem thả sông cho trôi về Hàng Châu. Ngài về báo cho chúng tăng trong chùa là “gỗ ở trong giếng Hương Tích” chúng tăng chạy ra coi thì quả nhiên có thực, những chuyện lạ như vậy đời truyền tụng rất nhiều.

    Khoảng năm Gia Định (1209) ngài viên tịch, an táng tại tháp Hổ Bào, phút lâm chung có làm một bài hát:

    Ca viết

    Lục thập niên lai lang tạ
    Đông bích đả đảo tây bích
    Ư kim thu thập quy lai
    Y cựu thủy liên thiên bích.

    Hát rằng

    Sáu mươi năm đời ta tan tác
    Tường phía đông xô tường phía tây
    Góp nhặt mãi vẫn về tay trắng
    Nước liền trời biếc một màu mây.

    Sau khi nhập diệt, có vị tăng gặp Phật Sống dưới chân
    tháp Lục Hòa, trong thư gởi về có đính kèm một bài thơ
    như sau:

    Thơ

    Ức tích diện tiền đương nhất tiễn
    Chí kim do giác cốt mao hàn
    Chỉ nhân diện mục vô nhân thức
    Hựu vãng Thiên Thai tẩu nhất phiên.

    Dịch

    Nhớ xưa trước mắt chắn tên bay
    Xương thịt cớ sao lạnh lúc này
    Mặt mũi hỏi ai còn nhớ nổi
    Thiên Thai ta lại tới vui vầy.

    Như vậy là Bồ Tát đã hứa hẹn sẽ trở lại trần gian. Phật Sống suốt đời cứu độ hành hóa, dạo cõi nhân gian để chọc tức chọc cười, không lo lắng ngại ngùng tu “hạnh đầu đà” tức là tu khổ hạnh, hành đạo Bồ Tát, một manh áo cà sa rách rưới, vui cảnh đời thoát tục. Đôi giày rách sũng nước ngập bùn, tay cầm quạt Bồ chẳng sợ trên cao dưới thấp, đỉnh đầu sáng chói hào quang, gió chẳng dập, mưa chẳng vùi há còn cần nón lá? Chân không, lạnh nóng chẳng xâm phạm, cần chi áo mặc? Không khất thực vì chẳng đói khát. Lười trang nghiêm vì thiếu da lông, khôi hài cười cợt, kết thiện duyên rộng rãi, trần thế chẳng lánh mặt, tìm tiếng cứu khổ, trăm họ giành nhau tôn kính, từ bi vô lượng, thánh đức tuyệt vời, không một tăng sĩ lánh đời ẩn tu nơi chốn thâm sơn cùng cốc nào sánh nổi. Mỗi lời mỗi tiếng như gai nhọn dao sắc châm chọc, lìa nhà từ miền Ngũ Nhạc tri thức vốn khoan dung, cho nên đời sau chốn cửa Phật nào tự cho mình là thanh cao ắt tránh né không bàn tới. Vì vậy mà một bực cao tăng thánh đức bị mai một không hiển lộ nổi, may mà Phật tôi từ bi không than oán, không chán nản, sống siêu thoát ngoài vòng tục lụy, thể hiện pháp thiền khắp chốn, thực hành Phật pháp mang đầy sắc thái vui tươi, cho nên đại danh “thiền sư” vang dội khắp nơi. Tinh thần xuất thế vĩ đại chuyển thành công lao nhập thế tích cực, thực quả là gương sáng cho những ai ngày nay học Phật tu đạo, cho nên khi được đời tặng thánh danh “Phật Sống” kể cũng hữu lí lắm vậy. Nay gặp thời mạt pháp, chúng sinh bị lửa dục thiêu đốt, đắm chìm biển khổ, Phật Sống quyết tâm cứu độ người đời cho nên diệu pháp thần thông ngày trước lại tỏ ngời, phát nguyện hiện thân trở lại, giáng lâm Thánh Hiền Đường, hướng dẫn nguyên linh Dương Sinh dạo thăm âm phủ, sưu tầm những bằng chứng xác thực để răn đời. Từ đấy những điều bí mật tại địa ngục được tiết lộ, tạo thuyền từ để cứu độ chúng sinh. Những ai có phước được tắm mưa pháp, vĩnh viễn xa lìa đường ác. Vĩ đại thay, tác phẩm lớn lao đã hoàn thành, còn lưu lại muôn đời, ghi nhớ hoài đức lớn.

    TỤNG VIẾT

    Đương đầu hát bổng, hoán hồi thế thượng mê đồ
    Nhất tiếu niêm hoa, bản thuộc thiền môn diệu quyết
    Nhân sinh như hí, diễn đắc xuất thần nhập hóa
    Vạn pháp quy tâm, biến du địa ngục thiên đường.

    LỜI TỤNG

    Đem đạo vào đời, kêu gọi mọi người tỉnh ngộ
    Cầm hoa mỉm cười, cửa thiền diệu pháp bí truyền
    Một vở tuồng đời, đóng vai vào Thần ra Phật
    Nhập tâm muôn pháp, dạo khắp địa ngục thiên đường.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 2:19 am với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • LỜI ÔNG TÁM GIẢNG
    TRƯỚC KHI ĐỌC ĐỊA NGỤC DU KÍ



    Thưa các bạn,
    Nhân dịp tôi đến đây thăm các bạn, chúng ta những dịp thường hay sưu tìm đạo, ẩn tàng trong chơn tâm của mọi người, tại sao chúng ta phải tầm đạo? Đến ngày hôm nay chúng ta đã thấy rõ tội lỗi của ta và nhìn nhận rõ ràng có Tiên, có Phật, có Trời, có nhơn gian, có một tổ chức quy mô đang nuôi dưỡng chúng ta ngày qua ngày, giờ qua giờ, phút qua phút nhưng mà tấm lòng tăm tối phản trắc của mọi người đều có, cho nên chúng ta mới nghi ngờ cái bản chất đó để tìm đường khai tâm mở trí bước tới con đường chơn chất trở về với chính mình, thấy rõ tội trạng của mình và ăn năn hối cải và thấy rõ chơn lí của Trời Phật hơn, và để tìm trở về nguồn cội. Chúng ta cứ nghe theo những lời không đẹp để chê mà không biết rõ cái cõi phàm trần, cõi địa ngục ô trược là nơi dẫn tiến tâm hồn của chính chúng ta mà chúng ta lại càng đẹp đẽ hơn. Cho nên ngày hôm nay, chúng ta có âm dương Bề Trên ân độ cho chúng ta, cho chúng ta đầy đủ tài liệu học hỏi. Mỗi người bận rộn vì tiền bạc, vì sự tranh chấp, vì sự bất chánh, lo âu mà hủy diệt cơ cấu của Thượng Đế và bản thân của mình, tin vào cái đồng tiền để mà tranh chấp. Cho nên nhiều khi tạo cái bực tức và cảm thấy trì trệ. Nói tôi có tu nhưng mà không đi đến đâu và giận nghiệp duyên của chính mình mà không chịu ăn năn hối cải thì nghiệp duyên chừng nào mới tháo gỡ được. Cho nên chúng ta muốn tu, muốn đắc đạo, muốn thì chịu được nhưng mà học không có bao nhiêu, cho nên tôi thấy các bạn cũng đã bỏ công lo tập, lo học, một phần lo tranh chấp một phần lo kiếm ăn. Đó, nó làm cho các bạn mất sự quân bình của nội tâm mà quên đi nguyên lí của Trời Phật đã ân ban cho chúng ta đầy đủ không thiếu cái gì chỉ chờ sự tiến hóa của tâm linh cho chính chúng ta mà thôi.
    Nhân dịp tôi đến đây, chúng ta cùng chung bàn bạc nghiên cứu qua Địa Ngục Du Kí, tu tập cho nhiều. Vì sao có Địa Ngục Du Kí? Tại sao ông Thượng Đế tạo ra địa ngục để làm gì? Đó có phải là cái cơ hội cuối cùng cho tâm linh có cơ hội thức tâm mà để trở về với chính họ không? Chúng ta thiền, chúng ta thiền chúng ta biết: ai đã tạo ra cái Địa Ngục Du Kí, lí do gì mà những lời nói trong này, những sự ghi chép trong cuốn sách này mà công ơn làm cho tâm hồn chúng ta từ tê tái, sợ sệt, chúng ta cũng có phần tội nào đó, khi chúng ta thấy rằng sự tê tái đó nó khai triển và nó sẽ dẫn tiến tâm linh của chúng ta, ăn năn hối cải thì chúng ta mới có cơ hội tiến, thức giác khi chúng ta nghe được và khi chúng ta cảm nhận được sự thật trong sự thật của chính mình mà lo tu lo tiến.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 2:20 am với 1 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • LỆNH CỦA NGỌC HOÀNG


    Chủ tịch của bản đường là họ Quan đăng đài.

    Đức Thánh dạy: Ngọc chỉ ban xuống, lệnh cho Thành Hoàng trong vòng 5 dặm, Phước Thần trong vòng 10 dặm tới nghênh đón, chư sinh hãy nghiêm chỉnh hầu tiếp giá chỉ.

    Kim Khuyết Nội Tướng là họ Từ giáng bút

    Thơ

    Duy Hoàng thiết thiết niệm nguyên linh
    Thánh Phật thinh thinh cứu khổ kinh
    Ngọc chỉ Trung Thu ban trực hạt
    Nhất luân minh nguyệt chiếu u minh

    Dịch

    Tiên cầu tha thiết cõi huyền linh
    Phật tụng vang vang cứu khổ kinh
    Ngọc Đế Trung Thu vừa giáng lệnh
    Vầng trăng ngời tỏa chốn u minh.

    Đức Thánh dạy: Ta mang sắc chỉ của Ngọc hoàng xuống đây, đêm nay tuyên đọc. Thần nhân cúi lạy.

    Kính vâng.

    Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn, Thượng Đế u linh cao cả dạy rằng:

    “Trẫm ở điện Linh Tiêu, lòng lo thế đạo, mắt nhìn bụi đỏ cát đen bay ngợp Trời, chốn nhân gian luân thường đảo lộn, nam không trung hiếu, nữ thiếu tiết trinh, cho Tiên Phật là hão huyền, cho Thần Thánh là chẳng thiêng liêng, phong tục tập quán xã hội thì đồi bại, nhân tình nghĩa lí tiêu tan, lòng Trẫm đau buồn quá đỗi, không nỡ ngồi yên nhìn chúng sinh đọa đày chốn tối tăm mà không cứu. Thấy rằng Thánh Hiền Đường ở Đài Trung thuộc cõi Nam Thiên cai quản có mở trường dạy dỗ chúng sinh phải tốn hao nhiều sức lực của thần nhân mới phổ biến được đạo, nay lại mượn tạp chí Thánh Hiền quảng độ bến mê, nghiệp cơ bút thăng tiến, nghiệp thánh huy hoàng. Nay Trẫm đặc biệt ban lệnh khai mở kho báu kinh điển, mà tên sách là Địa Ngục Du Kí ra lệnh cho Phật Sống Tế Công chỉ dẫn cặn kẽ cho thuật giả thánh bút Dương Sinh dạo mười điện địa ngục rồi về kể lại tỉ mỉ sự tình cho người đời rõ những thảm cảnh của các linh hồn tội lỗi hầu gặt hái công phu khuyên can giáo hóa. Do đó sách này là sách phi phàm, nhưng cảm động vì các vị thuộc Thánh Hiền Đường quyết chí không ngừng nên mới được phú cho mệnh lớn tới mức đó, hi vọng chư vị giữ bền được lòng tin, thay Trời giáo hóa. Đồng thời ra lệnh cho các cửa điện chốn u minh, nếu như mỗi khi có Dương Sinh tới phải mở cửa nghênh tiếp, cùng hợp tác để tiện hoàn thành cuốn sách vàng ngọc này, nếu như cãi lệnh chắc chắn sẽ bị nghiêm trị chẳng tha. Kể từ ngày ban lệnh này, cứ mỗi kì ngồi đồng là dạo địa ngục viết sách cho tới khi nào xong mới thôi, chư vị đã thay Trời thi hành mệnh lệnh. Ngày nào sách viết xong sẽ luận công tưởng thưởng cho, chớ có trái lời. Đó là lệnh của Trẫm”.

    Kính vâng không sao nhãng.
    Cúi đầu tạ ơn.

    Vận Trời ngày rằm tháng 8 năm Bính Thìn (1976)

    THÁI THƯỢNG VÔ CỰC HỖN NGUYÊN GIÁO CHỦ NGUYÊN THỦY THIÊN TÔN


    Giáng Thơ

    Nhân sinh như mộng độ quang âm
    Uổng tự bồi tài dữ tích câm
    Thanh sắc dĩ tường thiên địa tính
    Tinh thần hựu trục lợi danh tâm
    Ái hà phiêu lãng đầu nan xuất
    Hỏa trạch tiên ngao nghiệp tiệm thâm
    Mạc khả nhất sinh hư quá liễu
    Hung dung ưng cải tự Quan Âm.

    Dịch

    Kiếp người mộng ảo tựa thời gian
    Uổng cả vàng tham lẫn bạc ham
    Thanh sắc vùi chôn Trời Đất tánh
    Tinh thần đeo đuổi lợi danh tâm
    Sông yêu ngụp lặn đầu khôn cất
    Nhà lửa nấu nung nghiệp khó an
    Chớ để đời mình lầm lỗi mãi
    Xấu xa sửa đổi giống Quan Âm.(1)

    ĐỀ TỰA

    Nhớ thuở hỗn mang Trời Đất chưa chia, vũ trụ còn chung một khí, ban đầu hút khí từ vô cực, tiêu dao tự tại. Tới khi Trời Đất mở mang, nhờ chân khí của trung ương con người giáng sinh. Ban đầu tính nó thiện nên lúc chết dễ trở về nơi chất phác ban đầu. Nhưng rồi bụi đất ngày càng phủ dầy nên tính thiện đã bị thay thế bằng tính ác, bởi vậy Trời bèn thiết lập địa ngục để làm chốn hối cải cho thanh tịnh lại. Bởi căn tính của chúng sinh bị ô nhiễm biến chất nên ngày càng trụy lạc, gần đây trở thành quá bại hoại, khiến địa ngục đông nghẹt chúng sinh. Ngọc Hoàng Thượng Đế thấy vậy không nỡ để cho loài người đọa trầm hơn nữa, mới tỏa ánh linh quang cho tiết lộ những hình phạt ghê gớm dưới địa ngục để cảnh cáo người đời hầu tránh không đạp lên vết bánh xe đó nữa mới mong trở về được nguồn cội, dứt nghiệp khổ đau luân hồi. Vì Thánh Hiền Đường ở Đài Trung trong những năm qua đã vâng theo lòng Trời phát huy cơ bút siển dương đạo giáo, có công khuyên đời dạy người, tôn chỉ chính đáng hòa nhã, ra công hoằng đạo nên nay được nhận sắc chỉ của Ngọc Hoàng Thượng Đế đảm nhiệm trọng trách nặng nề dạo chốn địa ngục viết sách. Ra lệnh cho Phật Sống Tế Công hướng dẫn hồn phách Dương Thiện Sinh thân hành xuống âm phủ, vào ngục thăm dò để nắm vững bằng chứng, và do đồng tử của Ngọc Hoàng Thái Hư phò bút, dùng mắt pháp chân truyền chụp lấy các cảnh tượng ở cõi âm ti rồi đem những hình ảnh đó vào trong sách để tạo thành cuốn Địa Ngục Du Kí bày tỏ hết những bí mật của âm ti, những sự thần kì thế gian không thấy được, không tưởng tượng nổi, phí mất hai năm, tới nay sách xong, người đời nếu chăm đọc sách này, mau tỉnh thức hồi tâm, bỏ ác làm thiện, khuyên đi theo ngã thiên đường, người người như vậy hẳn là địa ngục trống không, hết thảy về với cực lạc, nội dung sách này mang nhiều ấn chứng, phù hợp với phép tắc trần gian, là một thánh điển cứu đời, thần thánh chẳng thể xâm phạm, hi vọng người đọc phát tâm truyền bá rộng rãi để giáo hóa, cùng phiên dịch phát hành sâu rộng, phàm có sự yêu cầu nên hưởng ứng tích cực, những ai có lòng hẳn rõ điều tốt lành là như vậy. Đồng thời cũng là lời tựa. Nguyên Thủy Thiên Tôn giáng cơ bài tựa này tại Thánh Hiền Đường ở Đài Trung.

    Vận Trời ngày 13 tháng 4 năm Mậu Ngọ (1978).

    LỜI ÔNG TÁM GIẢNG

    (1) Mấy câu thơ này cho chúng ta thấy rằng: “Kiếp người mộng ảo tựa thời gian,” mới đó trôi theo đó, nay tắt bặt mất lần thời gian.“Uổng cả vàng tham lẫn bạc ham”. Chúng ta ham tiền, ham bạc, đầy đủ hết nhưng mà rốt cuộc rồi cũng không có đạt được cái gì. “Thanh sắc vùi chôn Trời Ðất tánh”. Đó, cái thanh sắc ngày ngày đi theo dõi sự động bên ngoài vùi chôn Trời Đất tánh, không mất thanh tịnh. “Tinh thần đeo đuổi lợi danh tâm”. Cái tinh thần đeo đuổi cái sự lợi danh trong tâm thôi, chớ không có biết mình là ai. “Sông yêu ngụp lặn đầu khôn cất”. Sông yêu ngụp lặn, lo cho đứa này, lo cho đứa kia, tình cảm việc này việc nọ rồi ngụp lặn vậy thôi, cái tàu không có cất nổi, không có phát triển nổi, tu rồi mới biết. “Nhà lửa nấu nung nghiệp khó an”. Có nhà có lửa nấu ăn rồi kia kia nọ, nhà cửa cũng như người ta mà cái nghiệp tâm không có an. Trong tâm lúc nào cũng động loạn, không an. “Chớ để đời mình lầm lỗi mãi”. Cho nên không có nên tiếp tục làm sự lầm lỗi nữa. “Xấu xa sửa đổi giống Quan Âm”. Những cái mà xấu chúng ta chừa được thì chúng ta trở nên một vị Phật tại thế.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 2:21 am với 1 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • GIÁO CHỦ CÕI U MINH
    BỒ TÁT ĐỊA TẠNG VƯƠNG


    Giáng

    ĐỀ TỰA


    Ôi! Thiên Đường có lối, người tới vắng vẻ; địa ngục không cửa người đến đông nghẹt. Người đời không kham vắng lặng, khó khứng yên tịnh, theo nóng dựa mạnh, chìm đắm trong chốn tửu sắc, nước xoáy, biển khổ mênh mông, biết bao kẻ trượt chân té sấp, khiến địa ngục đầy người, tiếng khóc than rung chuyển Trời xanh! Ta chủ cai quản mười điện địa ngục, mắt thấy tai nghe lời than vang dội khắp động, lòng nào chịu thấu! Ba giới chúng sinh, nguyên khí chung dòng, từ vô thủy tới nay đều do lòng dục tham cầu không dứt mà sinh tử nối nhau. Than vòng luân hồi khổ hải, nhà lửa thiêu đốt! Nguyện dẹp địa ngục nhưng tiếc không một ngày nào độ hết chúng sinh. Ngọc Đế lòng từ vô lượng, thương xót hài nhi, nên ban sắc lệnh cho Thánh Hiền Đường ở Đài Trung viết sách Địa Ngục Du Kí, Tế Phật hướng dẫn Dương Thiện Sinh dạo âm phủ. Chốn nào đi tới các ti ở cõi âm đều phải nghênh tiếp khoản đãi, Minh Vương và các Ngục Quan phải đàm đạo trình bày, trải khắp nẻo tối mênh mang mới đủ kinh nghiệm viết thành thiên du kí, quý như vàng ngọc, giáo huấn mẫu mực. Phàm bọn tâm ngu lí tối coi thường coi khinh, quả báo như bóng theo hình. Ấn chứng trong sách dồi dào dễ dàng khảo sát chứng nghiệm, kẻ nghiên cứu sách này giải tỏa hoài nghi, sợ hãi bừng tỉnh canh thâu, sám hối, hành động quang minh, sau khi chết được miễn đày xuống địa ngục để cho âm binh nhục mạ trừng phạt. Nếu kẻ nào coi lời nói của ta như gió xuân thổi qua tai ngựa khi đó vô phương kêu cứu, chớ oán Tiên Phật vô tình. Đúng lúc sách Địa Ngục Du Kí lên khuôn thì ta có mặt ở Thánh Hiền Đường nên thuật ít lời, mong sách này lúc chào đời độ được hết thảy chúng sinh, địa ngục sớm trống không, cõi ta bà biến thành vườn lạc thú, mong lắm thay.

    Bồ Tát Địa Tạng Vương giáng cơ bút tại Thánh Hiền Đường Đài Trung.

    Vận Trời ngày 13 tháng 4 năm Mậu Ngọ (1978)





    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 2:27 am với 1 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • CHỦ TỊCH CỦA BẢN ĐƯỜNG LÀ HỌ QUAN ĐĂNG ĐÀI


    ĐỀ TỰA

    Bản đường thành lập Thánh Hiền Đường là để mở mang đạo giáo phát huy cơ bút, phát hành kinh sách dạy điều thiện đã gặt hái được nhiều kết quả lớn lao trong việc giáo dục chúng sinh, chận đứng làn sóng dữ, ngăn xã hội đồi phong bại tục đang đà xuống dốc. Tuy một năm qua đã in nhiều sách thiện khuyên răn hướng dẫn lòng người, nhưng hiềm nỗi còn nhiều kẻ vẫn sống sa đọa, ngoan cố không chịu cải tà quy chánh. Ngọc Hoàng Thượng Đế rất xúc động trước cảnh tượng này nên cho mở hội nghị Linh Tiêu, và hội nghị đã đồng thanh quyết định chọn một đàn trường tinh thuần chân chính, có cơ duyên tốt đẹp cùng Thần Thánh, có nhân duyên hòa hảo cùng chúng sinh, nhất là đàn cơ ấy đã từng có nhiều dịp ứng nghiệm thiêng liêng để tiện cho việc xuất hồn dạo cõi âm ti viết sách đem chuyện thực của âm phủ mà tiết lộ ở thế gian để cảnh tỉnh giáo hóa người đời. May mắn được lựa chọn, bản đường rất lấy làm vinh dự với chức vụ này, ngay lúc đó tôi lo lắng muôn phần, vì việc dạo âm phủ không thể so sánh với việc thờ phượng cơ bút cùng siển dương đạo giáo, muôn một nếu như việc phụ đồng có sự sai trật, tâm trí Dương Sinh bị thác loạn thì quả là một sớm đem chuyện đại sự phá hủy đi, tội nghịch quá nặng, Trời người đều khiếp hãi. Tuy nhiên lệnh Trời khó cưỡng, kính cẩn vâng lời thánh dạy ngày rằm tháng tám năm Bính Thìn (1976) toàn thể môn đệ của Thánh Hiền Đường kính cẩn nghinh đón sắc chỉ. Mỗi kì hầu bóng xuất hồn đều tĩnh tâm họp mặt đông đủ tại bản đường, Dương Sinh ăn chay giữ gìn trai giới đợi chờ... Khi Tế Phật tới, ngài liền hướng dẫn linh hồn Dương Sinh dạo địa ngục quan sát. Đồng tử Ngọc Hư giữ điện truyền chân, đối đáp với Phật và người, đàm thoại với âm ti, nhất là vung bút viết tài liệu để làm sách Địa Ngục Du Kí. Sau hai năm như vậy mới dạo hết các cửa địa ngục và thảo xong sách, giờ đây nhìn lại lòng tôi vô cùng kinh hãi. Kể từ khi bản đường phát huy cơ bút siển dương đạo giáo tới nay đã phí rất nhiều thời gian, giờ đây mới thực hiện nổi cuốn sách phi phàm này, nội dung của nó hết sức trung thực, quả là sách khuyến thiện thế gian rất linh nghiệm, rất quý giá. Sách này vừa ra đời, địa ngục tối tăm liền phóng hào quang nguyện phổ độ chúng sinh dưới gầm trời, có duyên đọc được sách này đều thoát khỏi bể khổ mà lên Thiên Đường.


    Bản đường Chủ tịch Quan Hưng Phu Tử
    Kính cẩn đề tựa.
    Vận Trời ngày 13 tháng 4 năm Mậu Ngọ (1978)





    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 10:40 am với 1 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • CHỦ BÍ KIM KHUYẾT LÀ HỌ LẠC


    Giáng
    PHÀM LỆ


    1. Sách này phụng sắc chỉ của Ngọc Hoàng mà sáng tác, văn tuy thô thiển nhưng hàm chứa chân lí sâu xa, quả là pho sách quý để tu thân ngộ đạo, cùng cảm hóa người đời.

    2. Trong sách nếu như chữ nghĩa không được văn hoa là bởi chỉ cốt diễn tả sự việc sao cho trung thực, xin đọc giả chớ coi thường.

    3. Sách này đã vắt cạn tâm huyết của Thần và người sau hai năm mới thành được tác phẩm lớn, nội dung toàn thể cuốn sách đã tiết lộ hết những bí mật, làm sáng tỏ luật lệ cùng hình phạt ở cõi âm, để dóng những hồi chuông cảnh tỉnh cứu đời, vạn thuở khó gặp được một lần, mong người đời đọc nó, quý nó, ngộ nó, tu nó.

    4. Sách này lại do các ti Thiên Tào, Địa Tào, Nhân Tào hợp tác mà thành nên cũng được huân công, bởi vậy in tặng một bản thì cả Tam Tào đều cảm kích.

    5. Kim Khuyết Thánh dạy: Phàm những ai in tặng sách này để cứu nhân độ thế, chẳng kể tự in, giúp in, khuyên in, giảng giải, phổ biến đều được giảm bớt tội ở thế gian, nếu như công đức sâu dày sẽ được thăng Thiên tiêu dao tiên cảnh.

    6. Phàm cầu thọ, cầu công danh, cầu khỏi bệnh, mong tiêu oan nghiệp, cầu công quả để chuộc tội tình, cầu tổ tiên để được siêu thăng, cầu được phước sâu dày, nếu phát nguyện in tặng sách này thì đều được như ý. Phàm cầu xin điều gì thì nên thắp nhang van vái Táo Quân ở trong nhà, bàn ông Thiên ở ngoài sân, Thần Thánh ở chốn miếu đình, chư thần sẽ tức khắc tâu về Trời được báo ứng liền, Thánh ý chắc chắn có thật.

    7. Vì có Thần Thánh mười phương bảo hộ pháp cho nên chốn để sách phải cẩn thận, khi xem xong nên cất nơi thanh tịnh, không được làm ô uế, phàm những kẻ phỉ báng khinh khi, gây trở ngại cho việc phổ biến sách này sẽ vĩnh viễn đọa địa ngục, tội ác sẽ chẳng thể tha. Hi vọng chúng sinh quay về đường thiện, suy nghĩ chín chắn rồi thi hành.


    ĐỒNG TỬ NGỌC HƯ ĐĂNG ĐÀI

    Thơ

    Thiên giáng kì thư tác chỉ nam
    Âm ti thảm cảnh khởi hư đàm
    Hồi đầu địa ngục nguyên vô lộ
    Sám hối do như thanh xuất lam.

    Dịch

    Sách lạ Trời ban hướng dẫn đường
    Âm ti thảm cảnh há bàn suông
    Ăn năn âm phủ đâu còn ngả
    Sám hối thiên đường hẳn được thăng.

    ĐỀ TỰA

    Người đời mải mê hưởng thụ vật chất hữu hình mới nhận ra rằng tinh thần tu dưỡng đạo đức giáo dục hiện bị sa đọa, khiến những tội ác như trộm cướp, giết chóc, gian dâm ngày một gia tăng. Muốn chặn đứng mối họa lớn lao, khai mở con đường giáo dục đạo đức, thuyết minh nhân quả báo ứng là có thực, linh hồn bất diệt chẳng sai, họa phước vốn không có cửa nó đều do thiện ác. Người ta nếu như lúc sống tạo nghiệp, sau khi chết linh hồn sẽ bị phiền lụy, đày đọa nẻo ác, nhồi trui luân hồi, đó là lí do tại sao có địa ngục. Linh khí ta thuần thanh cho nên đắc pháp giới tiêu dao, nay Thánh Hiền Đường Đài Trung lãnh sắc mệnh của Ngọc Hoàng Thượng Đế viết sách Địa Ngục Du Kí, ta may mắn được lãnh chức vụ “Pháp nhãn truyền chân”, không dám nghịch ý, mỗi khi gặp giá đông trong đêm vắng, Tế Phật giáng lâm hướng dẫn hồn phách Dương Sinh dạo cõi u minh tham quan phỏng vấn các ngục, trong lúc Dương Sinh hỏi han các tội hồn, tức thì ta dùng pháp nhãn tiếp thâu thanh âm, hình ảnh truyền chân, nhập vào thể xác Dương Sinh, tay cầm bút giáng cơ, tả rõ cảnh thực chốn âm ti, ghi chép thành sách để cảnh tỉnh giáo hóa người đời (2). Sự việc này thật là ảo diệu, bên cạnh có thiện nam tín nữ vây quanh xem xét, hưởng ứng xác nhận có thần thánh linh thiêng. Những kẻ mắt chưa nhìn thấy cảnh này thì làm sao tin nổi? Do đó ta thành thực mong chúng sinh hiểu rõ thiên đường, địa ngục đều ở tại tâm, nếu như bỏ mất lương tri của mình hẳn tâm chẳng an sống tại thiên đường. Kẻ tâm chết mỗi khi tâm sống lại đều tự thống trách mình, lúc đó cảnh tượng địa ngục hiện rõ. Do đó địa ngục là nơi giam giữ kẻ phạm tội, chúng sinh không thể tham luyến, nhận lầm mình là quê quán, người do Trời sinh ra, thiên đường mới là chốn nhà xưa. Tha thiết mong tránh khỏi chìm nổi giữa sóng tử sinh luân hồi mãi mãi. Nay nhân sách Địa Ngục Du Kí đem ban bố khuyên đời, ta mượn ngọn bút giáng cơ nói ít lời. Những điều mắt thấy một năm gần đây, cảnh địa ngục thảm thiết vô cùng khiến hết còn muốn nhìn, hi vọng những ai xem xong sách này, từ nay về sau, nhất cử nhất động đều phải thanh bạch không được nhơ bẩn để tránh tiếp tục trở thành chủng tử của địa ngục mới khỏi phụ lòng ta đau đớn khổ não.

    Cung Ngọc Hư đồng tử Ngọc Hư kính đề
    Vận Trời ngày 13 tháng 4 năm Mậu Ngọ (1978).

    LỜI ÔNG TÁM GIẢNG

    (1) Cho nên ở thế gian, chúng ta có tội mà biết ăn năn hối cải, sửa lại, giải được nghiệp tâm thì đâu còn có cái cảnh địa ngục nữa, cứ việc thăng hoa đi lên thiên đàng mà thôi. Cho nên chúng ta không có ngừng ngần ngại mà đọc, và nghe Địa Ngục Du Kí.

    (2) Chúng ta thấy bây giờ ti vi cũng là phương pháp truyền chân đã thu được chúng ta ngồi thiền mà nhắm mắt thấy ra cái phần điển của chúng ta càng ngày càng đi xa thừa tiếp với thanh điển Bên Trên. Những người được ngồi đồng xuất hồn đi cũng vậy, cũng thừa tiếp cái thanh điển ở Bên Trên, rồi thì nhận thức cái gì ở bên trên đó, rồi truyền chân xuống ở dưới. Cơ bút ở dưới này mới viết ra và ghi chép cái cảnh. Ngày hôm nay chúng ta văn minh có truyền hình thì chúng ta thấy rõ ràng cái chuyện đó đã có từ lâu, đã có từ bao nhiêu triệu năm trước mà phần hồn đã tiếp thu được, để chứng minh rõ ràng phần hồn bất diệt và bên trên đó thu thập bất cứ những tài liệu chơn tà và càn khôn vũ trụ, chớ không phải là cái chuyện đó là chuyện hư ảo, sự thật nó có như vậy. Từ thậm chí những người nằm chiêm bao, tối nay tôi nằm chiêm bao tôi thu hình, tôi thấy cái cảnh như vậy, rồi một tuần sau đó, nó xảy ra công việc trong gia đình tôi cũng y như vậy mà không sai. Đó, cái phương pháp truyền chân, cái pháp nhãn truyền chân đó, nó ghi chép ở trong nội thức của mọi người. Cho nên ngày hôm nay chúng ta tu Thiền và chúng ta nghe lại cái đoạn này của Địa Ngục Du Kí, chúng ta thấy rằng cái huyền vi Trời Phật có. Nó ẩn tàng trong tâm thức của chúng ta. Ngày hôm nay chúng ta nhận cái pháp Soi Hồn, Pháp Luân Thường Chuyển để khai thông, lập lại trật tự là cái pháp nhãn truyền chân của ta bên trong để truyền cảm trong cái chơn thức. Cho nên các bạn ngồi thiền thấy ánh sáng, thấy sáng rực rỡ, rồi đem lại trong tâm hồn và ghi nhớ mãi mãi. Đó là cái pháp nhãn truyền chân của bạn. Cho nên mọi người chúng ta đều có, tại vì chúng ta ham mê, hững hờ, đã biết qua sắc dục, nó làm cho chúng ta càng ngày càng lu mờ và không thấy dược. Cho nên chúng ta không thấy được cái quyền pháp của mọi người, đều có, chớ không phải là Dương Thiện Sinh có mà chúng ta không có, nếu chúng ta tu, chúng ta cũng đi tới được.






    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 10:44 am với 1 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Hồi Một

    TỚI NÚI TÂM ĐẦU XEM HANG ĐỊA NGỤC

    Phật Sống Tế Công
    Giáng ngày 16 tháng 08 năm Bính Thìn (1976)


    Thơ

    Thiên đường địa ngục tại tâm đầu
    Thiện ác toàn bằng nhất niệm tu
    Tế Phật kim tiêu sung dẫn đạo
    Dương Sinh tùy ngã giá liên du

    Dịch

    Thiên đường địa ngục ở tâm ta
    Thiện ác thảy nhờ quyết chí tu
    Tế Phật đêm nay nguyền dẫn lối
    Dương Sinh theo gót cưỡi sen đi.

    Tế Phật: Này Dương Sinh, đêm nay con cùng ta xuống địa ngục dạo chơi, con nghĩ sao?

    Dương Sinh: Xin cúi đầu lạy tạ ơn Trời Phật đã ban cho con dịp may xuống thăm âm phủ, lòng con tràn đầy hứng khởi.

    Tế Phật: Thánh Hiền Đường thuộc cõi Nam Thiên, các đệ tử phải chăm tu đức nghiệp, quảng độ bến mê, phát hành nhiều kinh sách dạy điều thiện để người đời học hỏi cho đạo khí ngập tràn vũ trụ. Ngọc Hoàng đã đặc biệt ban sắc lệnh trước tác sách Địa Ngục Du Kí để nói rõ về âm phủ. Nhưng chốn quan trọng này Dương Sinh lại chưa từng đi đến. Vậy sau khi tỏ đường rõ lối, con phải thuật lại cặn kẽ cho người đời thấu hiểu. Trong thời gian con trau dồi ngọn bút giáng cơ, thầy đã chỉ dạy cho con rất nhiều, nhờ vậy mối duyên thầy trò giờ đây thật là bền chặt. Hôm nay chốn cao xanh lại sắp xếp cho chúng ta dạo xem địa ngục để viết sách, thầy rất lấy làm mừng, vì nhờ dịp may này mình mới bày tỏ được hết tấm lòng chân thành nồng nhiệt đối với việc cảnh tỉnh, giáo hóa người đời. Chắc chắn tâm lí hướng thượng rồi đây sẽ sống dậy mạnh mẽ trong lòng họ. Thôi chúng ta đi.

    Dương Sinh: Cảm tạ những điều thầy vừa chỉ giáo. Con thường nghe người ta nói, dạo địa ngục đều phải cưỡi ngựa thần hoặc ngự đài sen. Sao thầy lại bảo con đi?

    Tế Phật: Này Dương Sinh, con quá thiệt thà, đường địa ngục làm sao đi bộ! Há con nghĩ đè mây lướt khói được nữa hay sao? Xã hội khoa học tiến bộ ngày nay, ra ngoài có xe hơi, xe máy dầu thay cho đi bộ, con cũng tưởng dùng được những phương tiện đó nữa chăng? Sự thực thì địa ngục không có cửa, mọi người phải tự mình đi tới, ngoài ra chỉ là mộng đó thôi. Kiên nhẫn đi hết đường đạo gian nan, mới mong tới được thiên đường (1).

    Dương Sinh: Con thấy hình như đêm nay ân sư uống rượu?

    Tế Phật: Đúng, ta có uống vài chén, nhân vì thấy rõ tình đời, lòng người thật đáng sợ, độ họ khó quá. Nghĩ vậy lòng ta đau buồn nên chỉ còn cách mượn rượu để giải sầu. Thầy biết con cũng thích rượu, hãy uống một chén cho say luôn tới âm ti.

    Dương Sinh: Con không biết uống rượu. Ân sư thật khéo chọc cười.

    Tế Phật: Hay quá, thời giờ gấp gáp, thầy hóa phép cho một bông sen nở, để thầy trò mình cùng cưỡi nha.

    Dương Sinh: Phật pháp của ân sư thật quả vô biên, miệng niệm chân ngôn, tức thì một đóa sen trắng hiện ra. Nhưng bạch thầy chân con không sạch, con không dám bước lên đài sen.

    Tế Phật: Tâm con cũng như lời con vừa nói đều tinh khiết, nên dầu chân con không sạch cũng chẳng quan hệ gì. Tục ngữ có nói về hoa sen “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.

    Dương Sinh: Thầy dạy như vậy con mới dám thử, con đã sẵn sàng rồi, nhưng thưa đi hướng nào?

    Tế Phật: Con nhắm mắt lại, ta chỉ đường cho, là đi tới ngay.

    Dương Sinh: Xin vâng lệnh.

    Tế Phật: Con có thể mở mắt ra.

    Dương Sinh: Thưa thầy đây là chốn nào? Tại sao trước mắt lại có một tòa núi cao, trên vách đá con thấy đề ba chữ “Tâm Đầu Sơn”, ánh vàng chiếu loà cả mắt con.

    Tế Phật: Núi này tên là núi “Tâm Đầu”, leo tới đỉnh là cửa lên thiên đường, nhìn xuống sườn núi thấy một cái động đen ngòm, không đáy, đó là hang “Địa Ngục”. Sau khi chết, kẻ hành động quang minh chính đại tới đỉnh núi lên thiên đường, kẻ làm chuyện tối tăm mờ ám, đi đến đây nhìn thấy ba chữ “Núi Tâm Đầu” hoa mắt, chóng mặt rồi bất tỉnh rớt xuống hố sâu địa ngục. Bởi vậy thánh hiền thời xưa, đã căn cứ vào đó mà chỉ dạy rằng: “Tâm khả tố thiên đường, tâm khả tố địa ngục” (Tâm có thể tạo thiên đường, tâm có thể tạo địa ngục).

    Dương Sinh: Như vậy thiên đường hay địa ngục là bởi người tạo ra, tiên do người làm nên, ma quỷ cũng do người làm nên.

    Tế Phật: Đêm nay thời gian eo hẹp, tạm ngừng lại ở đây. Chuẩn bị trở lại Thánh Hiền Đường, mau lên đài sen.

    Dương Sinh: Thưa vâng.

    Tế Phật: Mau nhắm mắt lại, nếu mở, gặp gió âm lùa thổi mắt trần khó chống cự nổi.

    Dương Sinh: Thưa đúng, thưa đúng, sức gió quá mạnh, con chịu không nổi.....

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.

    LỜI ÔNG TÁM GIẢNG

    (1) Lời dạy chí lí của Tế Công thấy con đường đạo của ta tu, mọi người đi tới con đường đạo, bỗng lên tới thiên đường phải qua con đường đạo, mà qua con đường đạo phải qua biết bao nhiêu chông gai kích động và phản động cho nên phải trì chí mới đi đến chớ đừng đi nửa chừng rồi bỏ cuộc.


    LỜI GIẢNG CHUNG

    Chúng ta mới đọc hết hồi nhứt thôi, chúng ta thấy khoa học huyền bí rất tinh vi: sự đi đứng, sự nhẹ nhàng, sự nặng trược phân minh, nhứt cử nhứt động lúc nào cũng cho chúng ta thấy, phần nhẹ lúc nào cũng được dễ dãi còn phần nặng lúc nào cũng bị khó khăn.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 3:17 pm với 1 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Hồi Hai

    CHƠI AO THANH TÂM DẠO CÕI ÂM DƯƠNG

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 19 tháng 8 năm Bính Thìn (1976)


    Thơ

    Tiên Thiên nhất lạp hảo quang châu
    Trụy lạc hồng trần nê ố đồ
    Khán phá phàm khu thành Phật thể
    Thuần khai pháp nhãn chiếu chân ngô.

    Dịch

    Tiền thân ngọc sáng quý vô vàn
    Rớt xuống bùn nhơ cõi thế gian
    Thấy được thân phàm ra thân Phật (1)
    Thẩy nhờ mắt huệ ngó chân tâm. (2)

    Tế Phật: Này Dương Sinh, sửa soạn dạo địa ngục.

    Dương Sinh: Bạch thầy để bữa khác, bữa nay con mới vừa đi Chương Hóa về, tinh thần quá mỏi mệt, con chỉ muốn ngủ một giấc cho khoẻ.

    Tế Phật: Con lười biếng quá, là kẻ tu đạo mà vừa mới trải chút phong sương đã sợ khổ, thì làm sao con có đại khí nổi!

    Dương Sinh: Bạch thầy, con quả có lỗi lớn, xin thầy tha thứ, con nguyện theo thầy.

    Tế Phật: Mau lên đài sen, hai mắt nhắm lại... rồi, mở mắt, xuống.

    Dương Sinh: Bạch thầy, tại sao bữa nay thầy đem con tới chốn đây, trước mặt ao lớn nước trong suốt, phẳng như gương, phản chiếu bầu Trời xanh biếc. Chợt ba chữ “Ao Thanh Tâm” từ đáy nước hiện ra.

    Tế Phật: Hôm trước con dạo cõi âm, vì thân phàm, mắt tục, do đó không nhìn thấy hết mọi vật. Bữa nay, thầy đưa con đến đây để con có dịp xuống ao này tắm gội cho sạch bụi nhơ, tự nhiên mắt trần sẽ hóa thành mắt tuệ, con mới có thể cùng thầy ngắm cảnh âm ti.

    Dương Sinh: Bạch thầy con không dám xuống, vì bây giờ là mùa thu, nước ao này giá buốt vô cùng, lỡ con cảm lạnh thì nguy lắm.

    Tế Phật: Muốn dạo cõi âm còn sợ lạnh, ta đẩy mi cho té xuống.

    Dương Sinh: Cứu con, cứu con... con không biết lội... thầy nỡ giết con sao... ối, ối, ối, ối, ối...

    Tế Phật: Ta dìm con vài phút cho tỉnh táo.

    Thủ Trì Tướng Quân (Tướng Quân giữ ao): Bái lạy Phật Sống Tế Công, tôi thực vô lễ vì đã không chuẩn bị châu đáo để nghênh tiếp ngài, xin ngài thứ lỗi. Vừa rồi Phật Sống đẩy một kẻ phàm xuống ao, không rõ ngài có dụng ý gì?

    Tế Phật: Tướng Quân, người chưa rõ, thế nhân hiện giờ đang sống mê chết muội, bụi bám đầy mình, chôn vùi mất cái tính linh sáng suốt của thuở chưa đầu thai. Ta bữa nay đẩy kẻ phàm này xuống ao, là muốn rửa sạch viên ngọc quý Mâu Ni bị bao phủ đất bùn, để cho nó lại tỏa chiếu sáng ngời.

    Tướng Quân: Hay lắm, nhưng ngài hãy cho phép tôi vớt hắn lên, sợ để lâu hết cứu nổi.

    Tế Phật: Lẹ lẹ, kẻo hắn chìm xuống đáy hồ thì phiền lắm đó.

    Tướng Quân: Lôi được lên rồi, nhưng hắn ngưng thở, Phật Sống cứu hắn cách nào?

    Tế Phật: Không sao, đã rửa sạch đất bùn, tự nhiên được cải tử hoàn sinh, ta dùng quạt bồ, quạt một cái là tỉnh lại ngay, hãy nhìn ta hóa phép...

    Tướng Quân: Hắn tỉnh rồi, hai mắt đã mở.

    Dương Sinh: Bạch thầy, cớ sao thầy lại đẩy con xuống ao?

    Tế Phật: Người đời có tính thụ động lại thêm khách sáo. Ngọc của con còn nguyên khối lớn, thầy không nỡ để yên như vậy nên mới đem tẩy rửa.

    Dương Sinh: Cảm tạ thầy đã chỉ dạy điều hay, giờ đây thân thể con mát mẻ khoẻ khoắn, cùng sảng khoái vô chừng. Còn thưa, vị mặc đồ võ tướng này là ai?

    Tế Phật: Tướng Quân phụ trách việc giữ ao, nếu như kẻ không có sắc lệnh, không được phép xuống ao này tắm rửa. Nó cũng còn được gọi là ao tiên, nên chỉ có ba giới chân tiên mới được phép tắm ao này, dân thường không thể tới đây. Còn con bữa nay thật là có phước.

    Tướng Quân: Bẩm Phật Sống, bữa nay ngài đưa kẻ phàm này tới đây là Ngài có cao ý chi?

    Tế Phật: Nhân vì Thánh Hiền Đường phụng mệnh trước tác sách Địa Ngục Du Kí, do đó ta mới đưa Dương Thiện Sinh đi coi âm phủ, song vì kẻ phàm trần chưa sạch tục khí, nên khó nhìn thấu cõi âm ti, bởi vậy ta phải đem hắn tới ao Thanh Tâm này rửa mắt, hầu lợi cho việc dạo xem địa ngục của hắn.

    Tướng Quân: À ra thế, kinh quá, kinh quá.

    Tế Phật: Từ giã tướng quân, thầy trò ta đi dạo âm ti, thì giờ quá eo hẹp, Dương Sinh mau lên đài sen.

    Dương Sinh: Bạch thầy, bây giờ mình đi đâu?

    Tế Phật: Chẳng cần hỏi, lúc đến nơi sẽ rõ, mau khép hai mắt lại... Mở mắt ra được rồi... Rời đài sen.

    Dương Sinh: Con đường này tại sao không tráng nhựa, gió tung bụi mù trời, đi té lên té xuống.

    Tế Phật: Đây chính là cửa ải nối biên giới giữa quỷ và người.

    Dương Sinh: Ô, phía bên kia có nhiều người đang đi tới, miệng kêu khóc rên la.

    Tế Phật: Đó là những linh hồn người chết, vừa mới đến cõi âm.

    Dương Sinh: Bạch thầy, trước mắt có một tấm bảng trên đề ba chữ “Âm Dương Giới”. Vậy thưa thầy đây là đâu?

    Tế Phật: Đây là biên giới của hai cõi âm và dương.

    Dương Sinh: Phía trước có hai tòa lầu cao, mời thầy tới coi.

    Tế Phật: Ừ ừ, mình đi mau.

    Dương Sinh: Trên các cửa của hai tòa lầu này đều thấy đề Giao Bộ Sảnh, đệ nhất khóa, đệ nhị khóa... và có tất cả vào khoảng hơn mười phòng.

    Tế Phật: Mình thử vào trong hỏi xem sao.

    Giao Bộ Quan: Hoan nghênh Tế Phật cùng Dương Thiện Sinh, chủ đàn cơ Thánh Hiền Đường ở Ðài Trung tới thăm. Bản sảnh đã nhận được sắc chỉ của Ngọc Hoàng từ ngày rằm tháng tám, nên được rõ quý Thánh Hiền Đường vì nhu cầu trước tác sách Địa Ngục Du Kí, sẽ xuống âm ti quan sát tình hình.

    Tế Phật: Thưa thời giờ đã trễ, bữa khác chúng tôi xin trở lại hầu chuyện.

    Giao Bộ Quan: Thưa được, kính chào.

    Tế Phật: Này Dương Sinh, chúng ta chuẩn bị trở lại Thánh Hiền Đường, mau rời sảnh lầu lên đài sen. Nhắm chặt hai mắt lại.

    Dương Sinh: Tuân lệnh ân sư.

    Tế Phật: Đã về tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    LỜI ÔNG TÁM GIẢNG
    (1) “Thấy được thân phàm ra thân Phật” Dùng cái thân phàm này tu mà quán thông được. Pháp lí của chúng ta biến thành thân Phật mới quy không, quán thông ta mới là quy không.

    (2) Thấy cái xác phàm nhưng mà chúng ta tu trở về cái huệ nhãn là quán thông cái chơn tâm của chúng ta, chơn tâm nằm ở đâu? Chơn tâm là trung tim bộ đầu liên hệ cả ba cõi, chơn tâm hòa giải với Phật.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 3:17 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Hồi Ba

    DẠO CÕI ÂM DƯƠNG THĂM GIAO BỘ SẢNH

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 30 tháng 8 năm Bính Thìn (1979)


    Thơ

    Phật hải vô ba tuyệt điểm trần
    Tiên sơn hữu lộ vấn tâm lân
    Kim Ô Ngọc Thố như hào chuyển
    Lục đạo phân phân cảm khái thân.

    Dịch

    Biển Phật bình yên nước lắng trong
    Non tiên sẵn lối hỏi ngay lòng
    Vầng Ô bóng nguyệt như giao hảo
    Sáu mối tơ vò hẳn gỡ xong.

    Tế Phật: Này Dương Sinh, hãy chuẩn bị đi dạo âm ti.

    Dương Sinh: Xin vâng lệnh, con đã lên đài sen, mắt nhắm lại rồi.

    Tế Phật: Lên đường... hay quá, xuống đài sen.

    Dương Sinh: Thưa thầy, ngã đường này tại sao lại có một đám đông ồn ào náo nhiệt thế kia, là người dương thế họ xuống đây làm gì?

    Tế Phật: Đây là biên giới giữa âm phủ với dương gian, đám đông đó đều là những vong hồn vừa mới xuống âm ti nên đang trình báo. Chớ có hỏi nhiều, để ta đưa người tới thăm Giao Bộ Sảnh, xem xét Giao Bộ Quan. Những gì thắc mắc ngươi hỏi cho kĩ, đừng có ngại ngùng.

    Giao Bộ Quan: Hoan nghênh Tế Phật và Dương Thiện sinh tới thăm, xin mời vào sảnh đường. Bữa trước đón tiếp không được nồng hậu, xin thứ lỗi cho. Mời ngồi, vì thời giờ eo hẹp, nên chưa báo cáo với các viên chức của bản sảnh được, không rõ Dương Thiện Sinh có chi thắc mắc không?

    Dương Sinh: Xin cho biết biên giới giữa cõi âm và cõi dương là chỗ nào?

    Giao Bộ Quan: Biên giới của cõi âm và cõi dương là chỗ dương gian và âm phủ tiếp giáp nhau, nhưng đây gần âm phủ hơn. Người đời sau khi chết phải tới đây trình sở hộ tịch với bản sảnh đường. Sau khi đăng kí đàng hoàng rồi, kẻ thiện đức được phúc thần dẫn xuống âm phủ tham quan, kẻ ác đức bị thần quỷ Hắc Bạch dẫn tới quỷ môn quan, giao cho đệ nhất tòa xử trị.

    Dương Sinh: Có bao nhiêu sở hộ tịch ghi tên tuổi người trần thế?

    Giao Bộ Quan: Thế nhân có ba cuốn sổ hộ tịch. Nguyên tịch là sổ đầu tiên ở thiên đường, ghi chép những linh hồn thuở mới đầu thai, gọi là sổ gốc. Kí tịch là sổ ghi lúc còn tại thế. Phân tịch là sổ ghi ở âm phủ. Kẻ không làm điều phước ở thế gian, khi chết về cõi âm không được lên cõi Trời. Địa ngục cũng giống như nhà giam ở cõi trần, là chỗ để trừng phạt kẻ phạm tội. Chốn đó không phải là chốn quê cha. Chỉ khi nào ở cõi thế chăm lo tu đạo, chết mới có thể trở lại thiên đường là chốn nhà cũ quê xưa đích thực.

    Dương Sinh: Người dương thế khi chết, bên chân họ thường thấy con cháu đốt giấy tiền, gọi là đốt giấy cước vĩ, thắp đèn dầu gọi là đốt đèn cước vĩ không hiểu có dụng ý gì?

    Giao Bộ Quan: Người trần thế khi chết hồn phách thoát li nhục thể, ban đầu tuy có âm binh dẫn đường song vẫn mơ mơ, hồ hồ, lửng lơ, lãng đãng, khó có thể tự chủ. Cho nên người thân ở cõi trần sợ đường đi của tổ tiên ở cõi âm tối tăm mờ mịt, do đó muốn cầu cho đường đi của tiền nhân thuận lợi, nên đốt giấy tiền là nghĩ rằng tiền nhân có thể dùng làm lộ phí, đốt đèn dầu nghĩ rằng đèn chiếu sáng được đường tối tăm. Việc làm này do lòng hiếu thảo của con cháu đối với người trên thật là chu đáo, đáng khen ngợi. Nhưng đường âm phủ chẳng thể hối lộ, qua được hay không đều tự mình thôi. Lúc sống nếu như tâm địa đen tối, chỉ ỷ vào vài chén dầu, dăm ngọn bấc chắc chắn sẽ không cứu chuộc nổi.

    Dương Sinh: Hiện thời dương gian khoa học phát đạt, cuộc sống được đề cao đúng mức, tổ tiên tạ thế, con cháu đời sau dùng giấy và hồ làm thành nhà cao, ti vi màu, quạt máy, xe hơi, xa lông, giường nệm mút hảo hạng cung cấp cho tổ tiên xài. Chẳng hiểu những món đó có tới được âm phủ để kẻ chết dùng không?

    Giao Bộ Quan: Người trần thế quá ngây ngô, nghĩ ngợi thật thà chân chất, lúc sống không dùng những phương tiện đó cho thoả thích, xuống âm phủ đường xá nhỏ hẹp quanh co, đường đi có lắm vấn đề, nếu đi xe nhất định gây ra tai nạn, vả lại âm phủ không có trạm xăng, dùng xe hơi không thích dụng. Đến như mấy thứ quạt máy, giường nệm mút, sử dụng ở dương gian rất tốt, còn ở âm phủ đã chuẩn bị sẵn ván kê dưới đất để đón tiếp tội hồn khi lâm ngục. Ví bằng cầu cho được bình yên còn khó, huống nữa lại còn cầu hưởng thụ. Lúc sống cờ bạc rượu chè, không ác nghiệp nào là không phạm, khi xuống âm phủ đã bị nhốt vào ngục để thọ hình, lại còn muốn có những thứ đó để tiêu khiển, thì quả thực người đời hiện tại mộng hão quá nhiều.

    Dương Sinh: Thưa ân sư, hôm trước thầy dẫn con dạo địa ngục, thoạt tiên thấy núi Tâm Đầu, sao bây giờ lại là biên giới Âm Dương, con thấy quá mơ hồ?

    Tế Phật: Con đi theo thầy, thầy chỉ cho con sẽ rõ. Này Giao Bộ Quan, thầy trò chúng tôi xin cáo từ.

    Giao Bộ Quan: Thưa có điều chi sơ xuất, xin lượng thứ cho.

    Tế Phật: Chớ khách sáo.

    Dương Sinh: Cảm tạ Giao Bộ Quan đã chỉ dạy rõ bến mê, chúng tôi xin cáo biệt. Thưa ân sư, xin thầy chỉ dạy ngay cho con được rõ về núi Tâm Đầu cùng biên giới Âm Phủ, Dương Gian như thầy đã hứa.

    Tế Phật: Hôm trước thầy đã đưa con tới chốn này.

    Dương Sinh: A, ba chữ Tâm Đầu Sơn hiện ra sáng rõ, cảnh sắc Âm Dương Giới tự nhiên biến mất.

    Tế Phật: Núi Tâm đầu cũng như biên giới Âm Phủ, Dương Gian. Người cõi thế nếu như lúc sống chuyên làm điều ác, một sớm chết đi, bị âm binh áp giải tới đây, nhân vì tinh thần cũ không trong sạch, thấy ánh sáng chói ngời trên đỉnh núi, hai mắt khó mở, khụy chân rớt xuống hang không đáy nơi sườn núi Tâm Đầu. Hang không đáy ăn thông với Âm Dương Giới dưới âm phủ. Nếu là người tu đạo có đức lớn, nhờ công quả tròn đầy, linh hồn đi tới chốn này gặp được luồng sáng huy hoàng rực rỡ xuất hiện từ trên đỉnh núi đưa thẳng tới đường lớn nhà Trời. Rồi được tiên đồng, ngọc nữ nghênh đón vào cửa nhà Trời. Nếu là hạng đức thiện ở bực trung và tiểu thì gặp được con đường rộng hai trượng, do phúc thần dẫn tới Âm Dương Giới trình diện, rồi sau đem vào địa ngục giao cho Minh Vương điều tra. Lúc sống công đức nhiều được dẫn vào Chúng Thiện Sở hoặc nhờ có duyên Tiên Phật độ, được đem về các từng Trời tu luyện lại. Hôm nay thời giờ đã trễ, chúng ta trở lại Thánh Hiền Đường.

    Dương Sinh: Thưa tuân mệnh, con đã lên đài sen. Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập vào thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 3:17 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Hồi Bốn

    QUA QUỶ MÔN QUAN NGHE PHÁP CỦA VẠN PHÁP TÔNG MÔN

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 26 tháng 8 năm Bính Thìn (1976)


    Thơ

    Nhất phiến tiên tâm độ hữu tình
    Bồ đoàn vị tọa hạ bồng doanh
    Thu phong bất giác đơn y lãnh
    Viêm nhiệt từ hoài vị chúng sinh.

    Dịch

    Một tấm lòng tiên chan chứa tình
    Giờ thiền chưa tọa đã băng mình
    Gió thu áo mỏng quên thân lạnh
    Sưởi ấm niềm thương bởi chúng sinh.

    Tế Phật: Bữa nay chuẩn bị dạo âm phủ, Dương Sinh mau lên đài sen.


    Dương Sinh: Thưa vâng, con đã sẵn sàng, xin thầy khởi hành...

    Tế Phật: Đã tới nơi, mau xuống đài sen.


    Dương Sinh: Phía trước có một cái thành, trên cửa đề ba chữ Quỷ Môn Quan, cửa ải quỷ là đây rồi, cớ sao cửa thành lại không mở, chỉ nghe tiếng động của nhiều thứ khí cụ va chạm nhau ở bên trong.

    Tế Phật: Cửa quỷ vốn không mở, người đời đều tự nhiên bước vào, ta dùng quạt bồ quạt một cái, tự nhiên nó mở liền.

    Dương Sinh: Thật hay quá, thầy phất nhẹ quạt Phật, cửa quỷ mở lớn ngay. Nếu như kẻ mới chết, không có quạt Phật, làm sao vào được cửa ải quỷ này.

    Tế Phật: Người chết làm quỷ, đi hết đường trần đến nơi đây, cửa ải quỷ tự nhiên khai thông. Cửa trần đóng, cửa quỷ mở, đó là lẽ kì diệu của tạo hóa âm dương. Đi lẹ lên, thầy đưa con tới coi nơi này. Đừng lo nghĩ vẩn vơ nữa.

    Dương Sinh: Xin vâng. Nhưng trong cửa ải quỷ tại sao lại đông đúc người ta quá vậy, y như một cái chợ, không rõ họ còn muốn đi đâu nữa đây?

    Tế Phật: Đó là các hồn quỷ đi thụ án ở mười cửa điện, âm binh đều làm nhiệm vụ dẫn đường, chúng ta hôm nay không cần xem xét kĩ việc này. Hãy mau theo ta.

    Dương Sinh: Dạ dạ, nhưng sao con đường này trắc trở chông chênh quá, và cuối cùng dẫn tới đâu đây?

    Tế Phật: Con đi thêm hai dặm nữa thì rõ liền.

    Dương Sinh: Phía trước có một người đang bị âm binh dẫn đi như thế kia là tại sao vậy?

    Tế Phật: Người đó lúc còn sống là đạo sĩ của phái tu đồng thiếp, nhân vì chưa ngộ được chân lí, hủy báng các tôn giáo khác, cho nên bây giờ chết xuống âm ti phải chịu hình phạt.

    Dương Sinh: Phía trước có một tòa lầu, đề bốn chữ “Vạn Pháp Quy Tông” vậy đây là đâu?

    Tế Phật: Bởi nơi đây, hiện thời ngàn “môn” vạn “giáo” mọc lên như nấm, tín đồ không rõ chân lí, công kích lẫn nhau, làm mất ý nghĩa của đạo, nên phạm vào khẩu nghiệp, khi chết phải vào “Vạn Pháp Quy Tông” để tu luyện lại. Phía trước có các thầy dạy đạo tới kìa. Dương sinh, mau đến vái lạy đi con.

    Dương Sinh: Xin cúi lạy quý thầy.

    Tông Chủ: Hoan nghênh Phật Sống Tế Công và thánh bút Dương Thiện Sinh từ Thánh Hiền Đường tới thăm. Chúng tôi đã sớm nhận được lệnh phải tiếp đón quý vị. Miễn lễ, mời đứng dậy.

    Tế Phật: Hôm nay tôi dẫn Dương Sinh tới đây, nhờ Tông Chủ đưa đi thăm các nơi cùng giảng giải cho y hiểu.

    Tông Chủ: Xin chớ khách sáo, mời nhị vị vào trong sảnh. Mời ngồi.

    Dương Sinh: “Vạn Giáo Quy Tông” thật là có ý nghĩa, nhưng tôi chưa hiểu tường tận, mong Tông Chủ giảng rõ nghĩa cho.

    Tông Chủ: Thế giới ngày nay có năm tôn giáo lớn: Nho, Đạo, Thích, Gia, Hồi có thể nói đó là các chính giáo nổi tiếng, nhưng nguồn gốc sâu xa của năm tôn giáo đó cũng xuất phát từ “Đạo”. Từ thượng cổ vốn không có danh xưng “tôn giáo”. Về sau Trời giáng xuống những bậc thánh triết, chia ra ở các nước, thay Trời mà lập ngôn, dạy người hành đạo theo phép của Trời, nhân loại vốn có cùng một tôn giáo, không hề chia rẽ. Nhân các giáo chủ về Trời, môn đồ hiểu sai, phân chia nhiều ngả khác biệt, tạo ra cảnh các phe phái chống đối nhau. Họ không hiểu rằng trăm sông đổ về một biển, ngàn cửa đều thuộc một nhà, nên mới tranh giành không tương nhượng nhau, lập môn phái riêng, tự khen là tôn giáo mình là cao siêu, dám nói là tôn giáo khác thấp kém. Do đó sau khi chết, linh hồn không thoát khỏi được khí số, rơi hết xuống đây. Ngọc Hoàng vì không nỡ để chúng sinh trụy lạc, do đó mới mở pháp môn “Vạn Giáo Quy Tông” tại đây để dạy dỗ các tu sĩ u tối giác ngộ chân lí, rồi sau mới được siêu thăng.

    Tế Phật: Thưa, Tông Chủ nói rất có lí, nhưng Dương Sinh chưa rõ hết được điều kì diệu, chi bằng đưa hắn xem xét tại chỗ, đó chính là trăm nghe không bằng một thấy.

    Tông Chủ: Phải đấy, đi theo tôi.

    Dương Sinh: Phòng này rộng hàng mấy mẫu, bên trong giống như nhà giảng, ngồi đây mấy vạn người, có đủ nhân sĩ các nước, hình như họ đang chuẩn bị nghe giảng.

    Tông Chủ: Chính phải, họ đang sửa soạn nghe giảng. Mời hai vị theo tôi ngồi nơi chiếu dành riêng cho quý khách ở phía trước để dự thính.

    Dương Sinh: Phòng học quá lớn, thật ít thấy ở cõi dương gian, bảng đen phía trước đề bốn chữ “Vạn Giáo Quy Tông”, một vị giáo sư đầu trọc lóc bước lên bục giảng, hình như là một vị tì kheo, tất cả đứng dậy thi lễ xong bèn ngồi xuống.

    Giáo Sư: Hôm nay có ngài Dương Thiện Sinh từ Thánh Hiền Đường ở Đài Trung trên dương thế xuống đây tham dự cuộc hội thảo với chúng ta, xin mọi người vỗ tay hoan nghênh.

    Dương Sinh: Bạch thầy, các nhân sĩ ở đây thuộc nhiều chủng tộc, làm cách nào họ có thể nghe hiểu được tiếng Trung Quốc.

    Tế Phật: Thế giới lớn rộng, tuy có nhiều giọng khác nhau, nhưng tín ngưỡng của họ không ngoài mục đích kí thác tinh thần. Do cùng một “tâm” tín ngưỡng này, mà sau khi chết bản tính của linh hồn sẽ thông suốt, không thể vì cớ chủng tộc mà cái “tâm” chung đó phân chia, giống như nghe một tiếng sấm nổ, nhân sĩ các nước đều hiểu là Trời sắp đổ mưa. Nay chỉ cần nghe tiếng của giáo sư hẳn rõ được hết ý nghĩa. Y hệt Phật dùng một tiếng điển giảng pháp, chúng sinh tùy loại đều giải được hết ý pháp của ngài. Thôi đừng hỏi nhiều, hãy nghe giáo sư giảng đạo.(1)

    Giáo Sư: Người tuy vạn loài, nhưng tánh cùng một lẽ, sống thì khác đường, chết cùng quay về một chốn. Thế giới loài người có nhiều màu da khác nhau, nhưng đói thì biết ăn, tối thì biết ngủ, Trời che đất chở, mặt trời mặt trăng cùng chiếu, mưa pháp thấm nhuần, đều được hưởng ơn Trời Đất. Có thể nói là cùng một “tâm” sống chỉ vì khác tín ngưỡng tôn giáo mà thành bài bác, công kích nhau. Cho đạo ta mới có thể lên thiên đàng, còn đạo khác thì xuống địa ngục, đem cái nguồn cội thông suốt tròn đầy, tự do, tự tại của thiên đường xây thành lầu son gác tía ở giữa không trung, rồi tự giam hãm mình trong đó, chẳng khác nào chui vào lồng chim treo lơ lửng giữa trời, tự cho là cao thượng không gì sánh nổi, mừng mừng rỡ rỡ, đắc chí hót vang, đó là thứ địa ngục ở thiên đường, tội nhân ở cõi Trời, tất cả đều là những con chiên chờ cứu rỗi, là những kẻ không được cứu chuộc. Các vị lúc còn tại thế đều nói lên thiên đường, nhưng hôm nay lại rớt xuống địa ngục, các vị đến âm phủ với nhục thể đây phải không? Xác thân có các giống đen, trắng, vàng; áo mặc có in hoa các màu đỏ, vàng, xanh. Duy có cái “tâm” ban sơ chẳng thể nhuộm màu, nếu nuôi ý bài xích thì thiếu cái tâm cùng tu và những tiếng từ bi, bác ái từ lời nói nào mà ra? Mặt trời, mặt trăng từng chiếu người thiện lẫn kẻ ác khắp cổ kim, không sinh “tâm” phân biệt, đối đãi nên mặt trời mặt trăng luôn sáng mãi, lưu mùi thơm vạn thuở. Các vị phải giác ngộ, tự chiếu sáng bản tính mình, đừng sinh lòng oán ghét, vì hiện giờ đang là thời kì phổ hóa “Vạn Giáo Quy Tông”, mà quy tông tức quy tâm. Kết hợp tâm của chúng sinh, lấy nhân ái đối xử với nhau, phát huy giúp đỡ lẫn nhau, tốt lành với nhau. Các tôn giáo phải mở lớn cửa, tùy duyên mà độ người, mặc dù không cùng giáo chủ, nhưng tâm nguyện và mục tiêu lại cùng đường, hi vọng toàn nhân loại đồng quy thiên đạo, đem thế giới ta bà biến thành nước hoa sen hoan lạc. Giáo chủ vốn chỉ cứu được tâm tính và linh hồn, chẳng thể cứu nổi xác thân. Do đó phát hiện được thực tướng của nội tâm mới có thể giải thoát sống đời tự tại. Chỉ có như vậy mới mong hoàn thành được thế giới đại đồng, để mỗi người có thể trở thành Tiên Phật, khả dĩ làm thánh hiền. Còn như phản bội đường lối này, ắt trở lại kiếp luân hồi...


    Tế Phật: Đã tới giờ, hướng về phía vị Tông Chủ từ giã, có duyên còn gặp lại. Dương sinh mau mau bái tạ để trở về.

    Dương Sinh: Thưa Tông Chủ, thật là khiếm khuyết, vì thời giờ đã trễ, phải mau trở về Thánh Hiền Đường, bỏ dở cuộc họp nửa chừng thật quả là thất lễ, xin rộng lòng tha thứ.

    Tông Chủ: Không sao, chúng tôi xin đưa tiễn.

    Tế Phật: Dương Sinh mau lên đài sen, hôm nay nghe thuyết pháp cảm tưởng của con ra sao?

    Dương Sinh: Vị giáo sư đó giảng rất rõ lẽ đạo, hiện tại các tôn giáo chỉ trích lẫn nhau, giống kẻ bán dưa nói dưa mình ngọt. Nếu như đúng, người đời có thể rủ nhau tới ăn thử xem, như người uống nước, lạnh ấm tự biết, do sự cảm nhận từ trong lòng mới chân thực, ngon dở do khách chiếu cố phê bình, con cảm thấy so sánh như vậy mới khách quan.

    Tế Phật: Thế nhân cố chấp không thông, do đó khó lên được Thiên Đường. Tiên Phật, thánh hiền, đều thay Trời lập ngôn, đạo Trời chí công. Như chuyện con giáng trần, đầu thai nơi nước ngoài, con tin rằng đại khái tôn giáo ở đó cũng như đây, vì vậy mà ta sẽ không độ con chăng? Nếu thế ta không còn xứng đáng là “Phật”, và cuộc đi này chỉ là “tiểu đạo vị tư” (đạo nhỏ cho riêng mình). Hi vọng người đời thi thố được công tâm, vất bỏ được tư niệm, còn không thiên đường của con chỉ rộng có năm thước, không thể dung nạp thiên hạ chúng sinh. Hay quá, đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    LỜI ÔNG TÁM GIẢNG

    (1) Cho nên nhiều người đọc Địa Ngục Du Kí, đọc Thiên Đàng Du Kí đã thấy rõ... Ôi chao! Tại sao mặc áo Tiên, áo Tàu không, mà không bận đồ Tây, vì mỗi người mà tu xuất ra rồi thấy cái gì? Phần nhẹ thì được đi lên cao, phần nặng thì xuống ở phàm trược. Thì cái phần nhẹ đó thì ăn bận những đồ thảnh thơi, nhẹ nhàng chứ không có bận đồ nặng trược như là đồ Tây, đồ nặng như ở thế gian. Nhưng mà Tây, Tàu, Việt, Mĩ cũng là một thức mà thôi. Tất cả sống trong một thức, hiểu biết và xây dựng. Cho nên nhiều người nói: Ôi! Sách này là sách Tàu chớ không phải sách Tây. Đó, cho nên cái chuyện đó là chuyện quá sai, không hiểu. Khi mà thực hành về cái pháp môn Pháp Lí Vô Vi Khoa Học Huyền Bí để cảm thức được luồng điển quang đó, là biết được vô hình vô tướng thì tất cả đều là một chớ không có phải là Tây Việt gì hết, chỉ có một cái thức để tiến hóa mà thôi.


    LỜI GIẢNG CHUNG

    Chúng ta đã đọc qua đoạn này, chúng ta thấy rằng lấy chỗ nào mà để chứng minh rõ tất cả là một. Nếu chúng ta còn ôm hình tướng, không thế nào là một, chúng ta còn ôm tổ chức cũng không thế nào là một. Nhưng mà chúng ta mở thức hòa đồng đóng góp cho chung, của thiên trả địa ở thế gian, tiền bạc của thiên trả địa. Tiền bạc chúng ta có, chúng ta đóng góp để xây dựng cơ cấu tâm linh. Đó là của Trời chúng ta trả lại Trời. Chúng ta không có nghĩ về tiền, không nghĩ tới nghĩ lui vấn đề đó thì tâm chúng ta mới quy nhứt được, tâm chúng ta mới không có sự dị biệt, trong tâm chúng ta cũng không có sự chê khen, chúng ta một lòng một dạ tu trong sự phát tâm, trước sau như một mới là thất tàng lục tứ. Chớ còn so đo, tính toán chưa phải tu. Nhưng mà các bạn đã nghe qua thấy rõ là tự mình tạo kẹt cho mình thêm, có cơ hội phát tâm, phát tâm đi rồi tiến tới rồi học nữa, học trong khổ tùy tâm phát triển thì chúng ta mới ngộ đạo. Cuốn Địa Ngục Du Kí này đầy đủ ý nghĩa không thiếu sót về đạo pháp, mở đường cho người tu và cho người tu tự thức và thấy rõ sự sai lầm của chính mình và thấy rõ quyền năng tối hậu của Thượng Đế chớ không phải của người phàm.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 3:17 pm với 1 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Hồi Năm

    TỚI ĐỆ NHẤT ĐIỆN LUẬN BÀN CÙNG MINH VƯƠNG

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 29 tháng 8 năm Bính Thìn (1976)


    Thơ

    Lục dục thất tình ngộ nhất sinh
    Kế đề kim bảng diệc phù danh
    Đào Nguyên tối hảo tu thân địa
    Ẩn sĩ tiêu dao bộ Ngọc kinh.

    Dịch

    Sáu dục bảy tình đã ngộ xong
    Bảng vàng chẳng thiết được ghi công
    Đào Nguyên chốn ấy tu thân dễ
    Ẩn sĩ thảnh thơi dạo suối trong.

    Tế Phật: Bữa nay chuẩn bị dạo âm ti, này Dương Sinh tại sao tâm thần con lại không được yên tịnh?

    Dương Sinh: Bạch thầy, tâm thần việc đời trói buộc, tấc lòng lo nghĩ miên man, do đó tinh thần con tán loạn.

    Tế Phật: Dạo cõi âm ti không phải trò chơi con nít. Tâm nếu không tịnh, linh hồn khó vào âm phủ. Nếu như bữa nay không dạo âm ti, việc viết sách ắt bị trễ nãi. Ta cho con một viên thuốc định thần, uống mau đi, chuẩn bị lên đường.

    Dương Sinh: Cảm tạ ân sư, con đã uống rồi, cảm thấy tinh thần sảng khoái, nỗi buồn tan biến hết.

    Tế Phật: Mau lên đài sen, khởi hành... đã tới nơi.

    Dương Sinh: Thưa thầy, đây là chốn nào? Phía trước có một ngôi điện lớn, người đông lố nhố, nhìn không được rõ.

    Tế Phật: Phía trước là Đệ Nhất Điện của âm phủ. Chúng ta mau tới gặp Tần Quảng Vương (Vua cõi âm ti).

    Tần Quảng Vương (Minh Vương, vua âm phủ): Nghinh tiếp Phật Sống Tế Công cùng thánh bút Dương Thiện Sinh từ Thánh Hiền Đường ở Đài Trung tới thăm tệ điện.

    Dương Sinh: Xin tham kiến Minh Vương, bữa nay tôi theo Tế Phật đến làm rộn quý điện, có điều chi lầm lỗi, xin rộng lòng tha thứ.

    Minh Vương: Chớ khách sáo, xin theo tôi vào điện. Mời an tọa tại Nhà khách. Này Tướng Quân mau dâng trà tiên.

    Tướng Quân: Xin tuân lệnh.

    Minh Vương: Kính mời Tế Phật, Dương Thiện Sinh dùng trà.

    Tế Phật: Dương Sinh, chẳng có gì quan trọng cả, uống đi, cớ sao lại trù trừ?

    Dương Sinh: Con không dám uống vì nghe người ta nói, nếu kẻ phàm tới âm phủ ăn uống bất cứ thứ gì, ắt chẳng thể về lại dương gian. Vậy xin mời thầy và Minh Vương cứ dùng đi.

    Minh Vương: Dương Thiện Sinh nói sai rồi. Thế tục tương truyền người cõi trần không thể ăn các món ở âm phủ, đó là nói chung cho mọi người. Âm dương mỗi nơi đều có chủ, đương nhiên không thể rối loạn kỉ cương. Nhưng còn trường hợp người vâng lệnh Ngọc Hoàng xuống đây thuộc hàng quý khách, vả lại còn có Tế Phật hướng dẫn, há không trở lại được cõi trần sao?

    Tế Phật: Dương Sinh, con cứ yên tâm, có sắc chỉ của Ngọc Hoàng trong mình. Đứa quỷ con nào còn dám chận đường, nếu có đứa dám cả gan phạm sắc chỉ, nhất định sẽ bị trừng phạt chẳng tha. Đừng sợ, cứ uống!

    Minh Vương: Người thế gian đều ham sống sợ chết. Đến như Dương Sinh sợ chết, không dám uống nước trà còn có lí do. Chứ ở dương gian có một loại người đã hiểu rõ được rằng, làm điều sái quấy, ám muội, chỉ có một con đường chết, nhưng vẫn chẳng chịu quay đầu, cứ xông miết tới trước, lao thẳng xuống mồ chôn. Thật quả đáng thương.

    Dương Sinh: Tôi đã uống xong trà, miệng cũng khát quá. Xin hỏi ngài, bên ngoài có nhiều người xếp hàng đi tới là bởi lẽ gì?

    Minh Vương: Tôi trông coi Đệ Nhất Điện, người phàm sau khi chết, trước tiên phải đến Giao Bộ Sảnh thuộc Âm Dương Giới khai báo. Sau đó âm binh áp giải vong hồn tới bản điện. Bản điện lại chuyển hồ sơ lí lịch và đương sự tới tòa án âm phủ, để tôi tra xét cho rõ thiện ác. Kẻ làm điều thiện được dẫn đi xem các điện ở âm phủ. Hay tùy theo cơ duyên với vị ân sư nào đó thì được đi về để tu luyện lại. Cũng có trường hợp được đưa tới Ti Thượng Thiên hoặc Sở Tu Thiện. Kẻ phạm nhiều tội lỗi bị giải tới Đệ Nhị Điện hoặc Ti Tội Ác. Nếu phạm tội quá nặng, trước tiên bị áp giải lên Nghiệt Cảnh Đài, chiếu cho hiện nguyên hình để tội nhân phải tự cúi đầu chịu tội. Sau đó mới giải trở lại Đệ Nhị Điện.

    Dương Sinh: Bên ngoài có tiếng khóc than đau đớn, thê lương không ngớt của các vong hồn. Chẳng hiểu tại sao mà tất cả trẻ già, lớn bé lại đều thảm thương như vậy?

    Minh Vương: Người trần tới bản điện mới biết rõ rằng mình đã từ bỏ cõi thế, lúc còn sống họ không tin có quỷ thần và báo ứng nhân quả. Lúc tới đây mới vỡ lẽ rằng khi chết không phải là mọi sự, mọi vật tiêu tan hết. Do đó có câu: “Nhất đán vô thường vạn sự không, âm lộ chỉ hữu nghiệt tùy thân” (một sớm đổi thay muôn sự chẳng còn chi, chỉ còn cái nhân xấu đeo theo mình nơi ngả đường âm phủ). Vong hồn biết rõ sẽ bị luật âm phủ xử và phải chịu hình phạt. Nên có nhiều kẻ lòng lạnh buốt, thân run rẩy, vừa khóc lóc, vừa hỏi han. Họ phải từ bỏ người thân ở chốn dương gian, như vợ đẹp con khôn, nhà cao cửa rộng, ngọc ngà, ở chốn suối vàng. Mỗi lần nhớ tới dĩ vãng không cầm nổi những giọt nước mắt bi ai.

    Dương Sinh: Tại sao các âm binh không tôn trọng những vong hồn, lại dùng binh khí, hoặc dùng roi đánh đập khiến các vong hồn nức nở như ve sầu mùa đông, thực đáng thương quá!

    Minh Vương: Những vong hồn nầy ăn ở không có đạo đức ở thế gian, do đó các âm binh không những không giữ lễ mà lại còn xử tệ tùy theo tội của họ, quả là “Ác nhân tự hữu ác nhân ma. Kiểu hãnh đầu cơ độ nại hà” (Kẻ ác có ngày người ác dạy. Đầu cơ trục lợi độ sao đây). Nếu như ở cõi thế họ biết để lòng thương xót cứu đời, lúc chết đi hẳn là âm binh thần phục đối xử tốt với họ gấp bội lần. Chẳng cần phải bênh vực họ.

    Dương Sinh: Khi sống nếu như không tu tâm dưỡng tính, sau khi chết thật đáng thương hết sức. Đời sau con cháu nếu như biết được là tổ tiên mình lúc chết đi bị coi ngang hàng với tội phạm, bị âm binh khinh khi đánh đập, chắc chắn sẽ chẳng thể cam lòng. Cách đền ơn của người đời đối với tổ tiên là tu đạo hành thiện lấy công đức siêu độ linh hồn tổ tiên sớm có ngày thoát khỏi sự khổ đau.

    Tế Phật: Người đời nếu như không giữ gìn được khuôn phép của gia cang, hành động bừa bãi thì tổ tiên họ ắt sẽ bị liên lụy. Cho nên nói “Cửu Huyền Thất Tổ” huyết mạch tương quan, nhân quả tuần hoàn mật thiết, do đó phải hết sức thận trọng. Bữa nay đã cận giờ, sửa soạn trở lại Thánh Hiền Đường.

    Minh Vương: Kính tiễn.

    Tế Phật: Dương Sinh mau lên đài sen sửa soạn trở về.....Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập xác thân.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 3:18 pm với 1 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Hồi Sáu

    DẠO ĐÀI GƯƠNG SOI ÁC NGHIỆP XEM TỘI HỒN HIỆN NGUYÊN HÌNH

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày mồng 6 tháng 8 nhuận năm Bính Thìn (1976)


    Thơ

    Hồn đăng Nghiệt Kính hiện nguyên hình
    Giảm tự thâu văn ám bổ kinh
    Âm luật vô tư thực phán đoán
    Dương nhân tác ác hiện nguyên hình.

    Dịch

    Hồn soi gương ác hiện nguyên hình
    Bớt chữ gom văn ngầm sửa kinh
    Luật xử công minh nơi địa ngục
    Người đời tạo ác chịu nghiêm hình.

    Tế Phật: Đã tới giờ dạo địa ngục của bữa nay, Dương Sinh chuẩn bị lên đường.

    Dương Sinh: Thưa, con đã sửa soạn xong, xin thầy khởi hành...

    Tế Phật: Đã tới nơi, mau xuống đài sen.

    Dương Sinh: Thưa đây là đâu? Còn đám người đông đúc kia, cớ sao lại bị âm binh áp giải lên đài?

    Tế Phật: Đây là Nghiệt Kính Đài (Đài gương soi ác nghiệp). Còn đám đông là những kẻ không giữ đạo đức, chuyên làm việc phi nghĩa, xấu xa ở chốn dương gian, giờ đây đều là quỷ phạm tội. Sau khi chết họ phải đến khai báo ở Đệ Nhất Điện, rồi bị áp giải lên đài, để gương soi ác nghiệp chiếu hiện nguyên hình tất cả những tội ác mà họ đã làm khi còn ở cõi dương gian. Một khi những tội lỗi ở thế gian đã bị phanh phui thì tội hồn chẳng còn che mắt được hình luật ở cõi âm. Hầu hết những quỷ hồn này, lúc bị đem lên đài, tâm can run rẩy vì họ sợ những tật xấu của họ lộ ra sẽ làm trò cười cho bao kẻ. Mình hãy theo họ lên đài xem.

    Dương Sinh: Thưa phải lắm, có coi rõ mới hiểu hết sự tình.

    Thủ Đài Tướng Quân (Tướng Quân giữ đài): Hoan nghênh Phật Sống Tế Công cùng Dương Thiện Sinh thuộc Thánh Hiền Đường ở Đài Trung tới thăm.

    Tế Phật: Xin thứ lỗi cho, thầy trò chúng tôi phụng mệnh dạo âm ti để viết sách, hôm nay tới đây, xin Tướng Quân đưa Dương Thiện Sinh lên đài để tham quan.

    Dương Sinh: Mời ân sư cùng lên với con, kẻo không con lạ cảnh lạ người, chẳng dám tự tiện một mình xử trí.

    Tế Phật: Được, chúng ta theo Tướng Quân lên đài.. Trước hết, mình đứng ở một bên để quan sát.

    Dương Sinh: Ồ! Ông lão kia bị âm binh áp giải tới trước gương. Tại sao thân hình già nua vừa rồi lại biến thành chàng thanh niên, đang đêm leo tường vào nhà kẻ khác. Anh ta khom lưng cậy cửa sổ, nhảy vô phòng của một cặp vợ chồng đứng tuổi, trong lúc họ đang ngủ say. Chàng thanh niên chuyên bẻ khóa, cậy rương đó còn đang loay hoay kiếm vật gì, chợt người chồng tỉnh giấc, thất kinh la lớn. Chàng liền rút dao, nhào tới đâm khổ chủ. Ôi! Máu tươi phọt ra, tôi chẳng dám nhìn.

    Tướng Quân: Đừng sợ hãi, đây chỉ là ảo ảnh Đài Gương Soi Ác nghiệp. Ông già lúc còn là thanh niên, có lần leo tường vào nhà người trộm đồ vật, bị phát giác, liền rút dao đâm chết chủ nhà. Bây giờ phải đến soi mình trước Đài Gương Soi Ác Nghiệp, cho hiện rõ những hình ảnh lúc thi hành tội ác.

    Dương Sinh: Đài Gương soi Ác Nghiệp này chế tạo cách nào mà ảo diệu quá vậy?

    Tế Phật: Đài Gương soi Ác Nghiệp, do khí thiêng Trời Đất kết tụ thành. Linh hồn phạm nhân tới đây, bản chất thực của họ bị chiếu rọi ra hết. Sự thực thì cũng chẳng kì ảo gì, người ta từ nhỏ tới lớn, trải qua một kiếp, ác nghiệp trùng trùng. Con người có linh tính, nên những việc mình làm, tự mình biết rõ. Tâm linh của mình như một cái máy chụp hình, có thể thâu hết những hành vi ở cõi thế vào trong ống kính, không sót mảy may, nên nó chính là “Tâm kính”. Kẻ phạm lỗi trong bóng tối, người ngoài không biết. Nhưng trước khi hành động, đã tự vấn, cân nhắc kĩ càng rồi mới ra tay, thì hẳn là có sự chỉ dạy của “Tâm”. Do đó, thần thức âm thầm ghi lại hết những hành vi lớn nhỏ. Nghiệt Kính Đài ở âm phủ do hai khí âm dương kết hợp, khi gặp hai khí hồn phách của người, lập tức hai luồng điển giao nhau, đem hết những hình ảnh của cả một kiếp người đã ghi chép được chiếu rọi rõ ra. Cho nên, kẻ làm ác đến trước Nghiệt Kính Đài thì những điều sâu kín lộ ra hết, không dấu diếm nổi. Kinh Phật có nói “Vạn pháp do tâm sở sanh” (mọi pháp do tâm đẻ ra) đó cũng là dựa theo nguyên lí này vậy.

    Dương Sinh: A, thì ra thế đấy, nhưng hồn kẻ lương thiện tới đây, Nghiệt Kính Đài chắc chẳng còn tác dụng?

    Tướng Quân: Hồn người lương thiện không cần phải hiện nguyên hình trên Nghiệt Kính Đài. Trên Đài có viết “không có người lương thiện trên Nghiệt Kính Đài” mà nhà ngươi không nhìn. Người lương thiện khi chết đi, tính linh của họ trong sáng trước Nghiệt Kính Đài, nên chỉ thấy một màu trắng toát, như lúc chụp hình bị ánh sáng chói lòa. Lòng họ không cất dấu bóng tối, do đó không thấy được nguyên hình. Quang tuyến của linh hồn người lương thiện nếu như cực kì trong sáng thì hẳn là công đức quá lớn, họ sẽ hướng thiên đường đi tới. Hoặc được giao thẳng tới các điện để điều tra riêng về công lao lẫn lỗi lầm nên không phải tới đây. Nghiệt Kính Đài còn gọi là “Nghiệp Kính”, phàm khi ở cõi trần mà phạm vào “ác nghiệp” đến đây lập tức hiện rõ nguyên hình. Dương Thiện Sinh, người thử xét lại thêm một lần nữa xem sao.

    Dương Sinh: Còn thiếu nữ đang bị âm binh áp giải lên Nghiệt Kính Đài, cô ta quá sợ hãi không dám bước tới, cứ than gào thảm thiết, tình cảnh thật đáng thương, đau lòng hết sức. Âm binh tại sao không thương hoa tiếc ngọc, lại dùng chĩa sắt đẩy lên đài, cách đối xử chẳng khác nào với một phạm nhân... A! Còn chỗ kia có khá nhiều đàn ông ra ra vào vào, trong nhà đèn hồng cửa lục, giống hệt cảnh ở dương gian quen gọi là chốn ăn chơi.

    Tướng Quân: Đúng là chốn ăn chơi ở cõi dương gian, nhà ngươi xem xét kĩ càng coi.

    Dương Sinh: Mỗi phòng trong nhà yến oanh ríu rít, đúng là chốn mê đắm lòng người, chẳng dám nhìn lâu, thưa ân sư mình về thôi.

    Tế Phật: Nhìn lâu con cảm thấy khó chịu, là con có cái lòng "lễ, nghĩa, liêm, sĩ" quả không thẹn là một môn sinh đắc ý của thầy. Còn cô gái giang hồ, buôn linh hồn, bán xác thân, gạt gẫm người để lấy tiền, lời nói thô lỗ cọc cằn, mất hết nữ tính, quả đắc tội quá lớn. Cô ta vì mắc bệnh hoa liễu nên sớm thác, vì thế hồn đến âm phủ khó thoát khỏi thảm hình. Khuyên phái nữ ở cõi thế gian nên kính trọng, giữ gìn tấm thân, tuyệt đối không được trụy lạc ở chốn yên hoa, không được buôn sắc bán hương, để tới nỗi đôi tay ngọc trăm ngàn kẻ gối, còn bị phường tục tử sỉ nhục. Chỉ vì tham tiền bạc, đã tạo biết bao tội lỗi. Đàn ông ham chơi bời cũng phạm tội dâm ô, hi vọng mau sửa đổi tật xấu đó. Dương Sinh! Thôi mình sửa soạn trở lại Thánh Hiền Đường.

    Tướng Quân: Rất tiếc hai vị không thể lưu lại đây lâu hơn nữa.

    Dương Sinh: Nghiệt Kính Đài đã thấu hiểu kĩ càng, không dám ngó thêm. Các tội hồn đã bị lộ hết những tật xấu xa, tôi hiện còn là kẻ phàm nhân, ở lại càng tăng thêm sự xấu hổ của họ, bởi vậy tôi xin cáo biệt.

    Tế Phật: Đa tạ Tướng Quân đã chỉ dẫn cho, chúng tôi phải sửa soạn trở lại Thánh Hiền Đường, ngày khác sẽ tới thăm viếng “Bổ Kinh Sở” (Sở Bổ Túc Kinh Điển), đi thôi Dương Sinh, mau lên đài sen, sửa soạn trở về Thánh Hiền Đường.

    Dương Sinh: Con sợ hãi quá!

    Tế Phật: Sợ chi? Gắng làm người lương thiện sẽ tránh khỏi phải tới đây để lộ bộ mặt xấu xa... Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh mau xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.


    LỜI ÔNG TÁM GIẢNG

    Chúng ta thấy rằng, càng ngày càng tu càng lộ tánh xấu, chớ không phải Nghiệt Ác Đài mới lộ tánh xấu. Các bạn tu về Pháp Lí Vô Vi Khoa Học Huyền Bí thì các bạn thấy, thấy rõ tánh xấu của các bạn, tánh đố kị, tị hiềm, gieo họa cho người khác, đủ chuyện ở trong tâm. Thiền mới thấy, thiền mới thấy tội, mà càng thấy tội thì càng đạt được phước. Càng thấy tội thì càng từ chối và không tái phạm, cho nên cái phương pháp công phu này cho các bạn thấy, cho các bạn khinh khi các bạn, cho các bạn thấy rõ bạn là một tội hồn chưa hoàn tất, bạn là một con người đáng tội nhất tại thế gian này. Bây giờ phải ăn năn hối cải mà lo tu, lo tiến, thì mới gỡ rối được chính mình, chớ không cần người ta khen. Hành động của chúng ta cho mọi người thấy, thực hành để mở tâm mở trí và khai triển cái thức hòa đồng ở các giới. Cho nên, các bạn cũng có sẵn cái khí giới Nam Mô A Di Đà Phật để mở cái thức hòa đồng. Càng hòa đồng càng thấy rõ sự sai lầm của chính mình, mà càng bóp chặt vun bồi cái tánh xấu, đố kị, kì thị người khác là càng eo hẹp. Cho nên Địa Ngục Du Kí giải thích rất rõ ràng, rất trật tự để cho chúng ta hiểu, chúng ta học và chúng ta hành. Hành cái pháp này lại càng thấy tánh điên cuồng của chúng ta từ nhiều kiếp chớ không phải một kiếp. Các bạn mong thấy kiếp này sẽ thấy rất dễ. Còn nhiều kiếp, nhiều kiếp các bạn làm ác lắm, sẽ thấy hiển hiện trong tâm thức các bạn những hành động bất chánh đó rồi nó cứ phạm rồi tái phạm, phạm rồi tái phạm, nó thúc đẩy các bạn, nó đưa đẩy các bạn trở về cái đường xưa lối cũ. Tại sao lắm lúc các bạn cũng than vãn, tôi tu mà sao tôi vẫn còn phàm tánh, tôi vẫn còn động loạn. Thấy chưa? Từ tiền kiếp nó dồn dập như sóng nhồi, nó tới một bên chiếc thuyền của các bạn, nó đập lên chiếc thuyền của các bạn, và nếu các bạn không vững tin, mà không chịu đi tới nữa là nó sẽ đập chìm. Chúng ta tu cái Pháp Thiền này chỉ có đi tới chớ không bao giờ rút lui, không có bao giờ rút lui trước bất cứ một nghịch cảnh nào. Có ăn cũng tu, không ăn cũng tu, thực hành bất cứ một phương tiện nàọ các bạn cũng thực hành, khai thông liên hệ với đại tự nhiên trong cái Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định, hòa cảm tam giới, thức tâm, sửa chữa tội trạng của chúng ta, sống thật với chính mình và ghi nhận sự sai lầm của chính mình, đừng biện hộ trong sự sai lầm của chính mình mà chôn vùi cái tâm thức sáng suốt. Cho nên các bạn có duyên lành nắm được cuốn sách Địa Ngục Du Kí, sống ở trong những cái hoàn cảnh ác độc mà các bạn thấy trước mắt các bạn, tai nghe mắt thấy trong cái xã hội của chúng ta, đã làm những điều sái quấy rất nhiều thì nhìn lại trong cái hành động của ta quá khứ cũng rất ác độc chứ không có hiền lành, mà hiện tại chúng ta cũng vẫn ác độc. Ăn cho nhiều, ngủ cho sướng, mặc cho đẹp cũng là ác. Nhưng mà không thấy cái hạnh Bồ Tát của vạn linh đang độ chúng ta, cho nên chúng ta thấy rõ cái hạnh Bồ Tát của vạn linh đang độ thì chúng ta ăn một trả mười, chúng ta phải làm điều thiện, đừng có xảo trá, đừng có vu oan cho người khác, sửa mình để tiến hóa đi trong sự thật, không có lỗ, không có mất cơ hội cầu tiến để học sự thật và thực hành trong thật, là giải toả tất cả những sự phiền muộn sái quấy trong nội tâm. Cho nên các bạn đã thực hành cái pháp môn Vô Vi này và phối hợp những cái tài liệu này, quý vô cùng. Càng đọc Địa Ngục Du Kí càng thấm thía, càng đọc càng hiểu từ chữ, từ nguyên lí, nguyên ý, nó nằm trong tâm các bạn, không ngoài.


    Cho nên nhân dịp tôi đến đây bỏ thì giờ đàm đạo cùng các bạn trong thâm tình của chúng ta, tương hành chung với nhau để học và để gỡ rối cho nhau. Chúng ta có tội chúng ta phải bình thản lo tu, để gỡ rối cho nhau, chịu tu, chịu gỡ rối. Chúng ta không dám khinh thường bất cứ một tôn giáo nào hết ở thế gian, chính ta là một tội nhân, chúng ta phải tu. Một cọng cỏ cũng hay, cũng quý hơn chúng ta, chúng ta chưa làm được việc gì, cho nên ráng tu.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 3:18 pm với 1 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Hồi Bảy

    DẠO SỞ BỔ TÚC KINH ĐIỂN

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày mồng 9 tháng 8 nhuận năm Bính Thìn (1976)


    Thơ

    Ám thất vi đăng bổ khổ kinh
    Tăng ni đạo sĩ quyện khu hình
    Đồng linh dao động kim tiền hưởng
    Địa ngục thân ngâm tử tế thinh.

    Dịch

    Phòng tối đèn mờ học lại kinh
    Tăng ni đạo sĩ cực thân mình
    Chuông đồng lay chuyển tiền vàng động
    Địa ngục nghe than rõ sự tình.

    Tế Phật: Bữa nay sắp dạo địa ngục, Dương Sinh lên đài sen, tâm không được hoang mang.

    Dương Sinh: Dạ dạ, nhưng thưa ân sư, thảm cảnh ở địa ngục hiện thời con không dám ngó.

    Tế Phật: Những tội hồn đó đều đắc tội, con chẳng thể về hùa bênh vực họ. Lên đường ngay..... đã tới, mau xuống đài sen.

    Dương Sinh: Những phòng ốc sao đen ngòm ngòm thế kia, bên trong hình như lại có cả tiếng khóc than?

    Tế Phật: Đó là “Bổ Kinh Sở” (Sở Bổ Túc Kinh Điển) mình có thể tới thăm cho biết.

    Dương Sinh: Xin theo... trên cửa phòng thấy đề ba chữ “Bổ Kinh Sở”, có hai vị tướng quân từ ngoài tiến vào, không rõ họ là ai?

    Tế Phật: Đây là Tướng Quân giữ cửa.

    Tướng Quân: Hoan nghênh Tế Phật cùng Dương Thiện Sinh từ Thánh Hiền Đường ở Đài Trung đã tới.

    Tế Phật: Miễn lễ, bữa nay ta đưa thánh bút Dương Sinh tới thăm Sở Bổ Túc Kinh Điển, mong được Tướng Quân hướng dẫn.

    Tướng Quân: Dạ dạ, mời theo tôi, hai vị có thể vào cửa bên hông, vì cửa lớn chỉ mở vào hai ngày mồng một và ngày rằm. Trong hai ngày này, Sở Bổ Túc Kinh Điển đều có Phật Tổ cùng Đạo Tổ Tiên Thánh cao minh từ Tây Phương giáng lâm, dạy pháp cho các đạo sĩ, tăng ni.

    Dương Sinh: Được tới đây là vinh hạnh lắm, còn các cửa khác đều không quan trọng. Sở Bổ Túc Kinh Điển ảm đạm tối tăm, tôi đứng đây quan sát cũng đủ rồi, khỏi cần vô trong.

    Tướng Quân: Chớ ngại, để tôi dẫn đường, đừng sợ chi cả.

    Dương Sinh: Hay quá, gian phòng này đều làm bằng gỗ, có lẽ đã quá lâu đời, nên nhiều chỗ mục nát, vách lủng lỗ chỗ đó đây. Trong phòng có hàng ngàn người phục sức đúng vẻ tăng ni, đạo sĩ. Dưới ánh đèn leo lét, họ đang lật kinh mở sách, miệng ê a tụng, coi vẻ rất khổ sở.

    Tế Phật: Những tăng ni, đạo sĩ này lúc còn tại thế, chuyên tụng kinh siêu độ hầu giúp người ta tai qua nạn khỏi để lấy tiền nuôi thân. Nhưng vì họ thiếu lương tâm, nên chỉ một mực lí tài, nên lén bỏ bớt kinh, không hề căn cứ theo sách, hoặc tụng sai chữ trong kinh. Sau khi chết đều bị đày xuống Sở Bổ Túc Kinh Điển để học lại kinh. Hàng đêm họ nhờ ánh sáng của con đom đóm tụng lại kinh sách, hễ cứ bỏ sót một chữ phải tụng lại một trăm lần, bổ túc xong mới căn cứ vào công lao đó mà phán xét.

    Dương Sinh: Tướng Quân nói như vậy thì Kinh Thánh Ngọc Hoàng Phổ Độ cùng Chân Kinh Thái Thượng Vô Cực Hỗn Nguyên của bản Thánh Hiền Đường làm ra ai còn dám tụng? Có rất nhiều người thành tâm tụng niệm, nhưng âm chữ không đúng, liệu tương lai có bị đày xuống Sở Bổ Túc Kinh Điển này không?

    Tướng Quân: Không, chỉ những kẻ lúc còn tại thế, lấy việc tụng kinh lễ bái làm kế sinh nhai mới phải tới Sở Bổ Túc Kinh Điển mà thôi. Lấy tiền của người để giúp người trừ tai họa, nhưng lại không tụng đủ kinh của đạo Phật đạo Thánh nên phải tới đây. Nếu như tụng kinh cho mình hoặc phục vụ cho người khác, sự phát tâm tuy không đồng đều nhưng không thủ lợi, không giả dối để lấy tiền, lỡ đọc sai, luật Trời sẽ đặc biệt khoan thứ.

    Dương Sinh: Ngọn đèn tù mù, nhỏ bằng con đom đóm, còn bị gió cõi âm lùa thổi chập chờn như muốn tắt. Các tăng ni đạo sĩ tuổi cao, mắt lòa, đọc kinh sách chữ nhỏ bằng đầu của con ruồi. Người nào người nấy dáng vẻ tiều tụy khổ đau, thực quả đáng thương.

    Tướng Quân: Nhận tiền thì phải trao hàng, vậy mà lấy tiền của chủ nhân lại không lo giải quyết công việc của người ta cho thỏa đáng, đương nhiên bị quả báo.

    Tế Phật: Các tăng ni, đạo sĩ khuyến hóa thế gian, tụng kinh có thể giác ngộ được đạo. Còn kẻ dựa vào sự tụng niệm để kiếm cơm ăn áo mặc, thì phải hết sức cẩn trọng. Một chữ một câu không được thâu ngắn, giảm bớt hoặc niệm sai. Dối trá, không làm tiêu tan được tai họa cho người thì mình phải gánh thế tai ương của họ.

    Tướng Quân: Cứ vào ngày mồng một, ngày rằm lại có hai vị giáo chủ đạo Phật và đạo Lão tới đây kiểm soát kinh điển, cùng chỉ dạy cách phát âm trong kinh sách cho thật chính xác. Chúng sinh tạo ra nguyên nhân làm liên lụy đến Tiên Phật, khiến các ngài phải đích thân đến tận địa ngục để cứu khổ cho. Tiên Phật thực quả từ bi, thiên hạ chúng sinh phải tự giác ngộ, vì mỗi hành vi cử chỉ nhỏ nhặt đều không tránh khỏi được luật pháp của cõi âm trừng trị.

    Dương Sinh: Tôi đã tỏ tường, xin đa tạ sự chỉ giáo của Tướng Quân.

    Tế Phật: Dương Sinh, con hãy đến thỉnh giáo vị đạo sĩ để tìm hiểu vì sao ông ta phải tới đây?

    Dương Sinh: Thưa vâng, xin đạo trưởng cho biết tại sao mà ông phải tới đây?

    Đạo Sĩ: Xin đừng kêu tôi là Đạo Trưởng, vì lúc còn tại thế, tôi chỉ là Đạo Sĩ Đỏ Đầu (Hồng Đầu Đạo Sĩ) chuyên lo việc lễ bái, cầu siêu để tế độ cho người chết. Song vì học thức kém cỏi, không có căn bản, thuộc lõm bõm chút kinh kệ, chỉ ê a theo tiếng chuông, tiếng mõ mà tụng cho qua, gia chủ cũng chẳng hiểu tôi niệm những gì. Để ăn gian thời giờ, hai trang kinh tôi thường chỉ đọc có một còn bỏ một, cốt sao lấy được tiền bỏ túi thôi, còn người chết có tới được Tây Phương cực lạc hay không mặc họ. Sau khi chết tôi bị âm binh áp giải tới Đệ Nhất Điện rồi chuyển giao qua Bổ Kinh Sở. Tôi tới đây đã được một năm, hai tháng ngoài, khi sống thâu kinh giảm tụng quá nhiều, cho nên phải chịu khổ sở tới giờ mà vẫn chưa bổ túc xong kinh điển, lại thêm đôi tròng mắt sưng đỏ, đau nhức không chịu nổi. Hoàn tất việc bổ túc kinh điển, có thể tôi bị tống hoàn Đệ Nhị Điện, để quan tòa ở đây xét tội bởi lẽ lúc sống tôi cũng phù phép hại người. Hiện giờ tôi rất hối hận, nhưng đã quá muộn, chỉ mong sự thành tâm hối cải của tôi được chuyển tới các pháp sư, đạo sĩ ở dương gian, để nhắc nhở họ phải luôn luôn hành sự cho có lương tâm, nếu không sẽ giống như tôi, hiện thời chỉ còn biết trông mong ở người khác siêu độ.

    Dương Sinh: Vị đạo sĩ này thật đáng thương, xin ân sư độ dùm cho họ thoát cảnh khổ này.

    Tế Phật: Tội của hắn là tội báo ứng, tự làm tự lãnh. Ở dương gian hắn quá sung sướng, khiến hiện tại phải chịu khổ, chịu sở. Chớ có lo lắng chuyện không đâu, chúng ta chỉ là kẻ phụng chỉ dạo cõi âm, ngoài ra chớ có để tâm thắc mắc về chuyện can thiệp. Việc này thuộc về luật pháp của âm phủ. Thời giờ đã trễ, chuẩn bị trở lại Thánh Hiền Đường, cảm tạ Tướng Quân.

    Dương Sinh: Đa tạ tướng quân, các vị đạo trưởng, sư phụ đều cố gắng tu luyện lại, thực quá tốt.

    Tế Phật: Mau lên đài sen… đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.


    LỜI ÔNG TÁM GIẢNG

    Chúng ta đọc qua để thấy rõ chúng ta là một phần hồn bất diệt không thể giấu giếm được, từ hành động một của chúng ta đều có ghi chép mà chính ta làm chúng ta chịu chớ không có người nào chịu thế cho chính chúng ta. Cho nên chúng ta phải nhớ rằng phải kiểm soát tứ quan của chính mình không có nên nghĩ sai, không có nên nhìn sai, nhìn sai phải ăn năn hối cải và tưởng sai cũng ăn năn hối cải thì nó mau tiến bộ. Sự sai lầm của mình nó tạo thành tự ái rồi nó dồn cục, chính cái đó là cửa sắt nó giam chúng ta, ta không có lối thoát và không thể ra được. Cho nên chúng ta tu để làm gì? Tu để mở tâm mở trí, mở cái cửa ngục giam thức của chúng ta, càng ngày các bạn tu các bạn thấy rằng, tôi thấy tôi xấu, tôi thấy tôi có tội với chồng con, tôi thấy tôi có tội với vợ con, tôi thấy tôi độc tài rõ ràng mà trước kia họ nói tôi độc tài là tôi giận. Bây giờ tôi thích, tôi thích người nào chỉ trích sự độc tài của tôi để tôi sửa. Tôi thấy cái tánh xấu của tôi, thấy được tánh xấu là đại phước mới có cơ hội sửa, sửa ngay ở nhân gian trong mấy chục năm này sửa được; thì lúc đó xuống địa ngục chúng ta khỏi phải cần sửa nữa là chúng ta đã học qua một khóa thăng hoa, nhẹ hơn, tiến lên nhẹ hơn. Cho nên những người chỉ thấy tiền là quan trọng, thấy tánh là quan trọng, thấy tánh của tôi như vậy là như vậy. Cái tánh cũng như tiền, nó che, che lấp cái mức tiến của mình. Mình phải tìm cái tánh của mình, mình phải khám phá cái tánh của mình, cái tánh sân si bất chánh của mính, mình phải ăn năn hối cải, sửa nó và dẫn tiến nó. Đó là trách nhiệm của phần hồn. Cho nên ngày hôm nay chúng ta tu Thiền, nhiều người tu thấy ngồi thông suốt nhẹ nhàng mà có người è ạch tu không được vì cái tánh nặng trược, cái tánh cố chấp, si mê động loạn. Cho nên chúng ta tu mục đích để sửa tâm sửa tánh rồi mới minh tâm kiến tánh được, lúc đó chúng ta mới thiền được. Cho nên các bạn đừng có vội nói: “Chu cha tôi cũng bắt chước soi hồn, pháp luân, thiền định mà tại sao không được?” Tại cái tánh tôi không sửa. Cho nên ngày hôm nay các bạn có cơ hội được nghe qua tôi trì niệm Nam Mô A Di Đà Phật để các bạn thấy rằng đây là cái phương châm tự trị và tự sửa mình, và cố gắng niệm Phật để khai mở cái thức hòa đồng trong nội thức, rồi lúc đó các bạn mới thấy rõ rằng mình phải mượn cây gậy của chư Tiên chư Phật mình mới đi tới được chớ mình không có khả năng. Thấy chưa? Khi mà các bạn niệm Phật, càng ngày càng niệm Phật, càng minh tâm kiến tánh càng thấy rõ thức hòa đồng mở, càng thấy cơ quy nhứt của tam giới là một, huynh đệ là một, tất cả mọi người là một. Chúng ta không có nuôi dưỡng sự cố chấp nữa, chúng ta phải biết tha thứ và thương yêu. Đó, lui về thanh tịnh được, chớ còn các bạn đọc kinh thanh tịnh mà tâm các bạn không sửa. Các bạn đọc kinh Phật, hiểu lí Phật, viết lí Phật nhưng mà tâm các bạn không sửa làm sao các bạn tiến. Phải sửa, mà muốn sửa thì phải có cái gì? Muốn sửa là phải bị đụng chạm mới sửa được. Đụng phải đi, chúng ta thấy lỗi lầm của chúng ta, chúng ta thấy sự đen tối của chúng ta, chúng ta mới xây dựng cho đi tới chỗ sáng. Đó là sửa. Cho nên càng tu càng được thanh nhẹ, càng chấp nhận, càng chịu sửa, càng được mở mang là vậy.




    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 3:18 pm với 1 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Hồi Tám

    DẠO THÀNH THÁC OAN

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 16 tháng 8 nhuận năm Bính Thìn (1976)


    Thơ

    Lưỡng độ Trung Thu khánh nguyệt viên
    Hồn tù địa ngục hữu thùy liên
    Tự tầm đoản kiến nan như ý
    Hoành họa phi lai khốc cửu tuyền.

    Dịch

    Rằm nhuận trăng thu mấy lượt mừng
    Vong hồn địa ngục có ai thương
    Tự tìm cái chết không như ý (1)
    Vạ gió tai bay khóc suối vàng.(2)

    Tế Phật: Năm nay nhuận, hai rằm Trung Thu, kể từ lúc lãnh sắc chỉ viết sách Địa Ngục Du Kí tới giờ, thấm thoát đã tròn một tháng. Thời gian như nước chảy, mong người đời giác ngộ mê lầm, tỉnh thức mộng ảo. Trăng sáng đã mấy lần tròn? Tuổi nào mới gặp lại được năm nhuận hai rằm Trung Thu? Người đời tản bộ chuyện phiếm dưới trăng, có chi sung sướng, nhìn lại địa ngục chỉ thấy tối tăm, hồn quỷ khóc than thê thảm, khiến mọi người chẳng dám ngó. Dương Sinh, chuẩn bị dạo địa ngục.

    Dương Sinh: Xin vâng lệnh, thời gian qua mau quá, đã tròn một tháng mà chưa hoàn tất nổi một phần mười việc dạo địa ngục để viết sách. Con sợ trách nhiệm lớn lao này khó đạt thành.

    Tế Phật: Chỉ cần giữ vững niềm tin, vì người xưa có nói: “Tinh thành sở chí, kim thạch vi khai.” (Có công mài sắt có ngày nên kim). Tâm đạo của con kiên định, mười cửa điện của địa ngục tự mở, con chỉ nhìn một lượt là tỏ tường hết cả, chớ quá lo âu. Mau lên đài sen.

    Dương Sinh: Con đã sửa soạn xong, mời ân sư khởi hành...

    Tế Phật: Đã tới, mau xuống đài sen.

    Dương Sinh: Thưa chốn này có phải là “Uổng Tử Thành” (Thành Thác Oan) không? Phía trước có cửa thành khép kín, trên đề ba chữ “Uổng Tử Thành” có nên vào trong thăm không?

    Tế Phật: Đúng, hôm nay mình thăm Thành Thác Oan, con hãy theo thầy vào trong thành.

    Dương Sinh: Thưa cửa thành tại sao lại khép chặt, làm cách nào vào được?

    Tế Phật: Cửa thành này là cửa tự động, giống cửa siêu thị ở thế gian. Phàm những linh hồn thác oan, vì chết một cách không bình thường chính đáng, oan khí không tiêu. Khi quỷ vô thường dẫn tới đây, oán khí tương xung, cảm ứng với nhau, cửa này tự nhiên mở rộng. Mọi vật ở cõi âm đều do hai khí âm dương của tạo hóa làm nên, tùy tâm ứng biến, ta dùng quạt bồ quạt một quạt, cửa tự nhiên mở lớn.(3)

    Dương Sinh: Thưa ân sư, công phu của thầy quả mãnh liệt, thầy có thể cho con mượn chiếc quạt này mang về dương gian, biểu diễn phép thần thông một lần cho thiên hạ lé mắt.

    Tế Phật: Con chớ vọng niệm, vọng niệm dễ bị ma nhập, tu đạo chẳng cần phép thần thông biến hóa, chỉ cần luôn luôn tâm an lí đắc, một ngày vô sự, tinh thần thanh sảng cũng đủ là một “Tiểu Thần Tiên”. Cần gì phải cầu mong có được quạt bồ này, để gây thêm phiền não.(4)

    Dương Sinh: Thưa đúng, xin đa tạ ân sư đã khai thị cho con, con thật đáng hổ thẹn. Phía trước có một toán người đi tới, họ là ai vậy?

    Tế Phật: Đó là Tướng Quân cùng quan viên của Thành Uổng Tử, hãy chuẩn bị chào đón họ.

    Thành Quan: Cung kính nghinh tiếp Phật Sống Tế Công cùng thánh bút Dương Thiện Sinh từ Thánh Hiền Đường tới, xin mời theo chúng tôi vào trong thành tham quan.

    Tướng Quân: Hoan nghênh Tế Phật cùng Dương Thiện Sinh đã tới. Chúng tôi đã nhận được sắc lệnh phải sửa soạn nghênh đón quý ngài từ lâu. Rất hân hoan được biết các ngài đi thăm các ngục để viết sách khuyên đời.

    Dương Sinh: Theo gót các vị Tiên Trưởng, hôm nay tôi cùng ân sư tới thăm quý bản địa, xin chỉ giáo nhiều cho.

    Thành Quan: Thưa không dám, mời đứng dậy, xin theo chúng tôi vào trong thành.

    Dương Sinh: Đây y hệt một nhà ngục lớn, rộng rãi vô cùng. Trong thành thác oan này có chừng bao nhiêu người?

    Thành Quan: Hàng ngày đều có người thác oan tới đây, xin theo tôi tuần tự đi thăm từ gian đầu của nhà giam.

    Dương Sinh: Gian này có hàng bầy con nít, máu me đầy mặt, kêu gào luôn miệng, có đứa lăn lộn trên sàn đất thật là thê thảm, đáng thương hết sức. Tại sao không thả chúng ra?

    Tướng Quân: Những hài nhi này là kết quả của sự trụy thai của người đời, vì người đời không chịu nuôi nấng, hoặc kết tinh không chính đáng. Chúng đã thành hình, không diệt được thiên tính, nên sau khi chết đều phải tới đây. Mỗi người là một sinh mệnh, vậy mà đời sống của những hài nhi này lại bị vứt bỏ, không cho chào đời. Do đó lòng chúng oán hận không nguôi, luôn ngấm ngầm hại lại cha mẹ, khiến cha mẹ phải tan nhà nát cửa, chờ cho tới khi cha mẹ chết chúng níu kéo, đeo theo không dứt. Bởi vậy, khuyên người đời không được tùy tiện phá thai. Hành động này không những tổn đức mà còn tạo thành thói dâm đảng quá mức... Phàm kẻ đã lỡ phá thai làm chết oan hài nhi, phải lo tạo nhiều công đức để chuộc lỗi lầm, thì luật cõi âm cũng có thể chiếu theo đó mà giảm khinh cho.

    Dương Sinh: À thì ra là vậy. Nhưng xin hỏi Tướng Quân, những kẻ bất đắc kì tử cũng đều phải tới Thành Thác Oan này cả hay sao?

    Tướng Quân: Không phải. Như quân lính, tướng sĩ vị quốc vong thân, vì bảo vệ giang sơn mà hi sinh tính mệnh, có thể nói họ đã hi sinh tiểu ngã để hoàn thành đại ngã. Chẳng những họ không bị giam ở Thành Thác Oan này mà trái lại các anh hồn trung liệt đó còn được đặc biệt chiếu cố. Các vị đó được lên cõi Trời tiêu dao, có vị vì còn mắc vòng nhân quả mới phải về cõi Thần, hoặc tái đầu thai nơi phước địa làm người. Ở dương gian còn thiết lập đền thờ các vị trung liệt đó, có cả hàng vạn người tới chiêm bái để tỏ lòng biết ơn. Tự cổ tới giờ, phàm những vị tận trung báo quốc, đều tiếng thơm lưu vạn thuở, được người đời sau sùng bái, ngưỡng mộ không ngớt.

    Dương Sinh: Tướng Quân nói rất đúng.

    Tế Phật: Trời Đất rất thương kẻ hiền lương trung nghĩa. Từ xưa tới giờ, các vị ái quốc, liều mình hi sinh cho chính nghĩa đều khiến Trời Đất sợ, quỷ thần khóc. Do đó có nhiều ngưới chỉ dốc lòng vì chữ trung mà thành được đạo. Bữa nay thời giờ đã cận, Dương Sinh mau sửa soạn trở lại Thánh Hiền Đường, ngày khác sẽ trở lại tìm hiểu thêm. Hướng Tướng Quân, Thành Quan cáo từ.

    Dương Sinh: Đa tạ Tướng Quân, Thành Quan đã chỉ giáo cho, xin cáo biệt.

    Thành Quan: Có điều chi thất thố, xin Tế Phật cùng Dương Thiện Sinh lượng thứ cho.

    Tế Phật: Xin chớ khách sáo. Thầy trò chúng tôi xin phép trở lại Thánh Hiền Đường.

    Dương Sinh: Thưa ân sư, con đã lên đài sen.

    Tế Phật: Than ôi! Người đời vì mê lầm, chỉ biết tắm sông yêu, coi rẻ máu thịt nên đã phá thai, quăng bỏ hài nhi, thê thảm biết là bao? Đến Tiên Phật cũng chẳng dám nhìn. Khuyên chúng sinh phải sửa đổi, lên thuyền từ, vâng ý Trời, xây dựng đạo vợ chồng để nối dõi tông đường, điều hòa hạnh phúc gia đình êm ấm. Sung sướng tinh thần còn hơn sảng khoái tính dục, quý trọng gìn giữ tinh khí, máu huyết không được quá phung phí, vì nó chỉ có hạn. Hãy cố gắng trở thành người hữu ích cho nhân quần xã hội quốc gia. Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    LỜI ÔNG TÁM GIẢNG

    (1) Tự tìm cái chết mà không như ý, mình lỡ ở thế gian nói một câu tôi ghét người đó, tôi giận người đó rồi giận luôn, nó không phải là cái ý của mình mà cái tánh nó buộc không như ý.

    (2) Đó, lúc đó cái họa nó đi tới rồi chúng ta ở suối vàng mà còn phải khóc than mới sửa chữa được.

    (3) Đọc tới đây, các bạn thấy cái siêu khoa học của điển quang mà ngày hôm nay các bạn tu cái pháp Vô Vi này là các bạn đi vào điển giới. Làm pháp luân thường chuyển để điều hòa cái nguyên khí âm dương, vừa hít thở, thu phóng hàng ngày, hàng đêm, đem cái lửa thiêng vô rửa sạch trần tâm, ngũ tạng của các bạn thì cái của nó mở, nó hướng thẳng về bên trên thanh nhẹ, thì nó tự nhiên nó mở được đi lên, còn nếu mà không thì nó bị đóng lại, là nó nghẹt thì tánh khí sân si làm sao mà tiến hóa giải thoát được. Cho nên cái Pháp các bạn đang tu đây và các bạn đi cho đúng những lời chỉ dạy, thực hành cho đúng, mở ra mà biết bạn là luồng điển và không bao giờ diệt được, chính bạn là người tự diệt mà thôi. Cho nên tu mà khai mở rồi thì tự nhiên các bạn sẽ đắc.

    (4) Đó, có nhiều người nói đọc Địa Ngục Du Kí thấy sợ quá, có cái gì là sợ. Địa Ngục Du Kí đã cho chúng ta thấy sự văn minh của Trời Đất đã có từ lâu chớ không phải mới đây, mà thấy rõ ràng nguyên lí luồng điển của chúng ta, rồi chúng ta đọc rồi chúng ta luận xét thấy cái lời nói của chúng ta, cái nguyên lí thanh điển của chúng ta bày tỏ những cảnh trong tâm thức của chúng ta thấy rõ ràng, thì cái cảnh bên ngoài cũng là do sự phối hợp của âm dương ở thế gian. Không có âm, không có dương thì không có người ta, và không có cái cảnh vật mà cho chúng ta thấy đây, thì nó gom lại về ngôn điển thì nó là chủ của vật thể cho nên chúng ta tu về điển là đúng đường không có sai.



    LỜI GIẢNG CHUNG

    Chúng ta thấy cái đời văn minh hiện tại. Ta chỉ biết tình dục rồi uống thuốc hay phá thai mà không chấp nhận hoàn trả cái nợ của tiền kiếp. Có vay thì phải có trả, luật hẳn hòi mà chúng ta chối cãi là chúng ta bị nạn. Khi mà thành hình thì bề trên đã chuyển rồi, đã sắp đặt thứ tự người đó sẽ làm cái gì ở tương lai, ở khu vực nào, mà bây giờ chúng ta đi quăng bỏ là chúng ta phá hủy thiên cơ. Cho nên, con người có vợ có chồng luôn luôn đều giới hạn. Còn đi làm tình là luôn luôn vô giới hạn. Đó, loạn dâm là vô giới hạn, nguy hại cho cơ thể mà nguy hại cho tâm linh. Cho nên những người tu phải thức tâm đừng có thấy tôi tu một thời gian tôi ngộ nghĩnh, tôi khỏe mạnh, người ta yêu tôi, tôi thích cái đó rồi tôi sẽ chết, tôi sẽ chết vì cái đó, tôi sẽ khổ vì cái đó. Tôi mất cả tâm lẫn thân của tôi. Cho nên cái gìn giữ tinh khí là cái điều quan trọng nhứt để tiến hóa theo luật Trời. Nhiều người không hiểu mà làm bậy, rồi bày ra những chuyện kêu bằng... phải có tình dục mới tu được, cái đó còn đáng tội nữa. Càng ngày càng trói buộc mình trong cái chỗ ô trược và những cái hình phạt vô cùng nặng nề ở tương lai, càng ngày chỉ càng tăm tối thôi. Mượn danh Phật, mượn danh Tiên, mượn danh Thánh mà để phổ đạo một cách mờ ám, lường gạt chúng sanh và lường gạt lấy mình. Đó là tội rất nặng.




    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 3:19 pm với 2 lần trong tổng số.

Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group