Nhân gian du ký - Dịch giả: Đào Mộng Nam

  • Lòng Trắc Ẩn

    January 26th 2010, 12:04 am
  • HỒI CHÍN

    LẼ ĐẠO NHƯ KIM CHỈ NAM, DẪN ĐƯỜNG CHÚNG SINH KHỎI MÊ ĐẮM

    CÔNG XƯỞNG GIỐNG GIA ĐÌNH, PHỤC VỤ TINH THẦN LẪN TU THÂN

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 13 tháng 11 năm Tân Dậu (1981)


    Thơ

    Lí đạo phổ hóa nhược chỉ nam
    Khải địch chúng sinh giác lộ tham
    Dẫn nhân hành thiện bất vi ác
    Lỗ mãng hồ hành khổ quả thường.

    Dịch

    Lí đạo phổ truyền kim chỉ nam
    Dẫn đường nhân loại khỏi lầm than
    Khuyên răn bỏ ác chuyên làm thiện
    Hành động ngang tàng chỉ khổ thân.

    Tế Phật: Lí đạo giống như kim chỉ nam, định rõ đường lối cho ta, còn không ta giống con thuyền vượt biển, thiếu chiếc địa bàn, sẽ lạc lõng giữa trời nước mênh mông, chẳng thể tìm ra phương hướng. Lí đạo cũng giống như đài khí tượng, sẽ cho ta biết trước về sự biến đổi của thời tiết, một nhà thám hiểm nếu như chưa theo dõi tin tức khí tượng trên đài ắt chẳng dám leo lên đỉnh núi cao, vì nếu trời lạnh bất chợt, sương tuyết đột nhiên phủ ngập, gặp tai nạn sẽ vô cùng hối tiếc. Hiện nay chúng sinh đang bơ vơ trên khắp nẻo đường đời, khác nào thuyền lạc giữa trùng khơi, người lạc giữa núi rừng. Thường thường vì tính kiêu ngạo tự mãn không chịu nghe lời khuyên bảo, tới khi lạc hướng lọt xuống vực sâu mới tự trách mình là ngu xuẩn thì đã quá muộn rồi. Do đó, ta hi vọng chúng sinh phải luôn luôn đề cao cảnh giác, lắng nghe tin tức thông báo của đài khí tượng, cùng mang theo địa bàn để bảo đảm tối đa cho sự an toàn.

    Thái Sinh: Thưa, lời dạy của ân sư quả là siêu diệu, những ví dụ đưa ra cốt để làm sáng tỏ ý nghĩa của đạo cực kì thích hợp. Chúng sinh hiện đang chìm nổi giữa biển cả mênh mông, lí do tại vì không nghe lời tiên tri hướng dẫn, cho nên mới lạc hướng không về tới bến, cũng chỉ bởi không biết mà thôi, thật quả đáng tiếc! Một sớm đọa lạc, một kiếp lầm than.

    Tế Phật: Ngày nay khuynh hướng tải đạo của tạp chí Thánh Hiền Đường cũng có tác dụng chỉ dẫn cùng tiên đoán tương lai, nếu như chịu nghiên cứu học hỏi, sẽ tránh trở thành kẻ lỗ mãng ngu si, chẳng kể gì tới hậu quả sau này. Đem những hành động liễu ngõ hoa tường, say sưa trụy lạc, gái đẹp lầu son, bạc bài hút sách, trộm cướp lừa đảo, gian dâm giết chóc thường xảy ra này so sánh với hành vi vượt biển không mang theo hải bàn, trèo non không theo dõi tin tức thời tiết của đài khí tượng nào có khác chi? Do đó, kẻ mắt sáng báo trước rằng, nếu hành động như trên sẽ có ngày gặp khốn quẩn cùng quả báo, khi đó ắt phải bồi hoàn tất cả những tội lỗi đã gây ra, thì hẳn là có hối cũng không kịp. Ý nghĩa của đạo giúp tâm trí ta sáng suốt để lựa chọn thật chính xác một con đường sống giữa vạn nẻo đường dẫn tới tương lai.

    Thái Sinh: Xã hội ngày nay băng hoại rã rời, đôi khi có cảm tưởng như lạc vào mê hồn trận, tiến thoái lưỡng nan.

    Tế Phật: Không khó, không khó, chỉ cần có cái địa đồ mê hồn trận, rồi theo đó tìm lối thoát thân, há chẳng dễ dàng sao?

    Thái Sinh: Thưa, kiếm đâu ra địa đồ?

    Tế Phật: Ha ha, ta sẽ cung cấp cho.

    Thái Sinh: Vâng vâng, làm sao vẽ ngay được địa đồ.

    Tế Phật: Trò ngoan trả lời rất đúng, bây giờ bắt đầu dạo cõi nhân gian ngay, mau lên tòa sen.

    Thái Sinh: Thưa, con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Đời mạt kiếp, buôn bán phát tài, mọi người làm lụng vất vả nhưng chẳng được vui, có kẻ làm việc để cho khuây khỏa, có kẻ làm việc vẫn cảm thấy chán nản. Bữa nay lấy sự làm việc để làm đề tài phỏng vấn.

    Thái Sinh: Thưa, phỏng vấn sự làm việc như thế nào?

    Tế Phật: Tới lúc đó con sẽ rõ.

    Thái Sinh: Thưa vâng.

    Tế Phật: Đã tới nơi, con có thể mở mắt ra.

    Thái Sinh: Công xưởng phía trước đèn bật sáng choang, giống như đang hoạt động.

    Tế Phật: Đó là xưởng may quần áo, đêm nay tới đó phỏng vấn.

    Thái Sinh: Phòng bên trái của xưởng có bốn thanh niên, giống như đang cắt vải, bên cạnh bàn cắt may có ba bốn phụ nữ đang thử đồ, phòng phía phải của xưởng, kể cả hai bên trái phải, có hàng trăm công nhân, phần lớn đang ngồi trước máy chăm chỉ may đồ, có một vài người lo kiểm soát về phẩm chất. Tiếng người nói ồn ào, tiếng máy chạy ầm ĩ, lại còn có vài nữ nhân viên giảng giải, đôn đốc công việc, tiếng nói nghe lanh lảnh hoài, không biết có ai nghe rõ chăng, hay là có nghe mà nghe chẳng nổi.

    Tế Phật: Ha ha, “Lời của tâm chuyển tiếng, tiếng của tâm chuyển lời” (Tâm ngữ truyền thanh, tâm thanh truyền ngữ) ngại người nghe nổi hay không nổi là sai, chỉ cần lễ độ gật đầu bày tỏ nỗi hân hoan, người nghe hẳn hài lòng, cả hai đều rất vui vẻ, như vậy, há chẳng hay sao?

    Thái Sinh: Ha ha lời dạy của ân sư quá siêu diệu, đó chính là công phu của đạo, tai thanh tịnh không nghe những lời thị phi, nói này nói nọ cũng không thanh tịnh... (Thái Sinh vẻ nghĩ ngợi). Ân sư bữa nay đưa con tới đây, dường như có điểm khó khăn không thuận lợi.

    Tế Phật: Không vào hang cọp, làm sao bắt nổi cọp, không tới nơi đây, làm sao viết nổi sách Nhân Gian Du Kí. Chúng ta chỉ muốn mình rõ chân thể bên trong, chớ không ngó giả thể bên ngoài, giả thể là sắc tướng, chân thể mới vô sắc tướng.

    Thái Sinh: Cô gái ngồi hàng thứ... phía trước chăm chỉ làm việc tâm hồn lại thơ thới hân hoan, không rõ tại sao?

    Tế Phật: Cô theo đạo Gia-Tô, tính tình hòa nhã lẳng lặng làm việc, không tranh giành với một ai.

    Thái Sinh: Cô gái ngồi hàng thứ... tính tình nóng nảy, không rõ tại sao?

    Tế Phật: Cô ta trước đây làm việc tại một xưởng khác, vốn “Dạ thì nhỏ mà miệng lớn” (Tâm lượng tiểu, khẩu lượng đại), đã xuyên tạc là người điều hành phân phối công việc bất công, để kiếm cớ bỏ sở, khi tới hãng này muốn giở thói trước đây, bèn luôn luôn làm mặt giận dữ, bất mãn.

    Thái Sinh: Thì ra nguyên nhân là như vậy. Thưa theo ý của ân sư, tâm tính như thế mà đi làm tại các hãng xưởng thì có thích hợp không?

    Tế Phật: Làm việc phải có tinh thần phục vụ xã hội, còn nếu xử sự như vậy thì sẽ vô cùng tai hại. Thế mới biết người ta cũng có kẻ giống hệt chim bồ câu, sống ở nhà nào thì cũng chỉ ăn những thứ như là lúa, gạo, đậu mà thôi, khi đó mới tỉnh ngộ.

    Thái Sinh: Ha ha, ân sư nói rất đúng, người ta phải chạy đây chạy đó, lo tìm việc này bỏ việc nọ chung quy cũng chỉ vì miếng cơm manh áo mà thôi. A, cô gái phía bên trái kia, khí chất coi tốt lành là cớ tại sao?

    Tế Phật: Cô ta là độc giả của tạp chí Thánh Hiền Đường, căn lành sâu dày, tuy làm việc tại xưởng này lương thấp, song mỗi tháng cố để dành một trăm đồng giúp tạp chí Thánh Hiền một cách đều đặn từ bốn năm nay, trong hãng lại cư xử hòa nhã thân ái với mọi người, tận tình giúp đỡ bất cứ ai gặp chuyện khó khăn mà không sợ thiệt thòi.

    Thái Sinh: Tinh thần vì đạo cao cả khiến mọi người tôn kính, đều đặn đóng góp mỗi tháng một trăm, thật quả rất ít người làm nổi, hành động này là tấm gương sáng cho nhiều kẻ noi theo.

    Tế Phật: Theo nhận xét của độc giả thì tạp chí Thánh Hiền là một tác phẩm tinh thần hiếm có, bởi vậy trách nhiệm của trò ngoan vô cùng trọng đại.

    Thái Sinh: Thưa vâng, con sẽ dốc tâm hi sinh để báo đền ơn Trời Phật đã rủ lòng thương.

    Tế Phật: Ha ha, trò ngoan quả là phi phàm, mong con chịu đựng nổi mọi khổ cực để thành người siêu việt.

    Thái Sinh: Phòng cắt đồ phía trước có một vị thanh niên, ác khí đằng đằng, không rõ nguyên nhân tại sao?

    Tế Phật: Thần Tam Thi đã ghi rõ, y là đứa con bất hiếu trong nhà, đi làm kiếm được nhiều tiền mà chẳng bao giờ mang về cho gia đình, thường kết giao với loại bạn ác ôn chuyên nhậu nhẹt, đĩ điếm bài bạc, thanh niên này nếu như không mau thức tỉnh quay về nẻo thiện, tương lai chắc chắn sẽ bị đền tội.

    Thái Sinh: Thưa ân sư, đã tới giờ nghỉ trưa của các công nhân.

    Tế Phật: Thầy trò mình tới thăm nơi khác.

    Thái Sinh: Công nhân hãng này tại sao thưa thớt.

    Tế Phật: Sự quản lí của hãng này kém cỏi, nên giữa chủ và thợ không có tinh thần hợp tác chung, nên không đạt được năng suất cao, hiện thời công nhân lại đang đình công.

    Thái Sinh: Theo tôn ý của ân sư thì nên giải quyết cách sao để có được sự thông cảm giữa chủ và thợ.

    Tế Phật: Nếu như mọi công nhân đều coi hãng là gia đình lớn của mình, coi giám đốc, quản lí như cha mẹ, coi giám thị, chủ nhiệm như anh chị, ngược lại các vị kia cũng phải coi công nhân như con cái, em út, luôn luôn thông cảm thương yêu. Hai bên đều phải tôn trọng lập trường của nhau, để tạo hòa khí chung, được như vậy tin rằng sẽ thành công.

    Thái Sinh: Thưa đúng lắm, nếu công nhân coi hãng xưởng là nhà, tự nhiên mọi người tâm hòa khí bình, còn nếu như chỉ lo cái lợi riêng tư của mình, chắc chắn công việc gặp trở ngại, tâm hồn buồn bã bất an.

    Tế Phật: Làm việc chung trong một hãng, nếu tự kiêu, tự đắc sẽ dẫn tới tình trạng đả kích lẫn nhau, nguyên nhân chỉ tại không biết giữ hòa khí. Bữa nay vân du viết sách tới đây tạm ngưng. Trò ngoan mau lên đài sen, chuẩn bị trở lại Thánh Hiền Đường.

    Thái Sinh: Thưa con đã lên đài sen, kính mời ân sư khởi hành.

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Thái Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 3:32 pm với 3 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    January 26th 2010, 3:27 pm
  • HỒI MƯỜI

    ĐẠO LÍ TRỊ GỐC, PHÁP LÍ TRỊ NGỌN GỐC NGỌN CÙNG GIÚP ĐỠ CÙNG THÀNH TỰU

    TÂM HUỆ TU TRONG, TÂM YÊU TU NGOÀI TRONG NGOÀI CÙNG THÍCH ỨNG CÙNG HỢP LÚC

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 23 tháng 11 năm Tân Dậu (1981)


    Thơ

    Đạo lí tự mẫu phú ái tâm
    Khổ khẩu trung ngôn khuyến mê tân
    Dương luật âm ti như nghiêm phụ
    Cảnh giới trừng ác hình bất nhân.

    Dịch

    Đạo mầu giống mẹ sẵn từ tâm
    Mỏi miệng khuyên con chớ lỗi lầm
    Luật đất, luật trời như cha khó
    Trừng trị nghiêm minh chẳng vị thân.

    Tế Phật: Đạo lí giống như người mẹ hiền, thường dùng vẻ mặt hiền từ cùng tấm lòng thương yêu bao la đối xử với mọi người. Còn pháp luật giống như người cha nghiêm khắc, sẵn sàng trừng trị tội lỗi, nên cả hai đã bỗ túc lẫn cho nhau một cách vi diệu.

    Thái Sinh: Thưa, ân sư đã đưa những thí dụ về “đạo lí” và “pháp luật” một cách quá siêu tuyệt nên con chưa hiểu nổi, xin ân sư giảng giải dùm con đi.

    Tế Phật: Đạo lí cần có giáo dục phụ giúp, cũng như luật pháp cần hình phạt tiếp tay. Giáo dục và trừng phạt vốn là một, nếu như mọi người được hướng dẫn rành rẽ về luật pháp, biết tôn trọng trật tự chung, thì pháp luật chỉ còn là hình thức mà thôi, chẳng trói buộc nổi một ai. Luận tới thì vậy, song bàn lại ta thấy nếu như gặp kẻ phóng đãng vượt ra ngoài khuôn khổ phép tắc, ngoan cố chẳng chịu hoán cải, ắt hẳn giáo dục cũng trở thành vô dụng. Pháp luật chỉ dùng để ngăn ngừa những kẻ làm quấy, do đó chẳng thể giữ cái này bỏ cái kia.

    Thái Sinh: Thưa, ân sư dạy rất phải, đạo lí và pháp luật đều quan trọng vô cùng, song làm cách nào để hợp nhất hai quan điểm bất đồng đó lại làm một được?

    Tế Phật: Hiện nay, người ta có hai quan điểm :

    1. Kẻ ích kỉ, tàn bạo chuyên sống đời xa xỉ hoang dâm, không tuân theo đạo lí, coi đạo lí là thứ dây trói buộc, là chướng ngại vật. Họ đã lao đầu vào cuộc sống tranh đua, vật lộn không phút giây ngừng nghỉ, kẻ mạnh đạp kẻ yếu xuống tới đất đen, kẻ mạnh hãnh diện vì mình đã thắng cuộc, kẻ yếu thất bại rên siết, tính linh tu dưỡng tán loạn lo làm giàu thì đành mất lòng nhân (Vi phú bất nhân) tự tìm cảnh sống bất an, lửa tham sân ngoài xã hội bốc cháy ngút trời, đạo tặc hoành hành, lòng người tan nát. Thời xưa cuộc sống thanh bình “Đêm ngủ nhà không bị gõ cửa, của rớt ngoài đường không ai lượm” (Dạ bất sao môn, lộ bất tháp di), câu tục ngữ trên đây đã ghi lại lịch sử đời sống thái hòa của những thời đại xa xưa.

    2. Kẻ hiểu rõ mọi khía cạnh của vấn đề, đều nhận chân được sự trường cửu của đạo lí, quảng bá đạo lí là hành động cứu nhân độ thế, là khơi nguồn mạch yêu thương, phải tích cực phát huy đạo lí để tạo đời sống hạnh phúc vĩnh viễn trường tồn cho nhân quần xã hội.

    Thái Sinh: Không lạ gì vấn đề đạo lí, từ cổ tới nay luôn luôn bị phê phán, song vẫn mặc nhiên tồn tại.

    Tế Phật: Người ta vốn ai ai cũng sẵn có tính thiện trong mình, song tính thiện tự nhiên đó sớm bị thất tình lục dục mê hoặc, làm cho điên đảo, giống như đứa trẻ thơ bướng bỉnh ham chơi, trốn khỏi nhà lạc mất lối về, do đó cần phải có các bậc chính nhân quân tử mở trí, hoặc người giàu lòng nhân ái hướng dẫn. Bữa nay thầy trò mình hãy đem tình thương ra cảm hóa đứa trẻ bướng bỉnh này xem sao?

    Thái Sinh: Thưa, được vậy thì hay lắm.

    Tế Phật: Đêm nay thầy trò mình thử phỏng vấn một vị có lòng nhiệt thành đối với đạo lí, thường đem lòng thương yêu cảm hóa người khác xem sao. Kìa, vị cư sĩ đó đang tĩnh tọa trong phòng, đêm nay có nhiều thời giờ, con có thể đem vấn đề tình thương ra làm đề tài thảo luận, chắc chắn vị đó sẽ đóng góp một cách hết sức thành thật.

    Thái Sinh: Thưa vâng, phát huy tình thương là cách phổ biến đạo lí có căn bản và đúng đắn đẹp đẽ nhất.

    Tế Phật: Trò ngoan, mau lên đài sen chuẩn bị khởi hành.

    Thái Sinh: Thưa, con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Đã tới nơi, con có thể mở mắt ra.

    Thái Sinh: Hai bên đường này là nhà lầu bốn tầng, treo đầy bảng hiệu, nào như tiệm thuốc bắc, khách sạn, văn phòng phẩm, tiệm thuốc tây, hãng bán dụng cụ máy móc, hiệu may âu phục, hiệu buôn đồ sắt, v.v...

    Tế Phật: Bữa nay chúng ta phỏng vấn vị cư sĩ trong tòa cao ốc phía trước kia.

    Thái Sinh: Thưa, con đã nhìn thấy tòa cao ốc đó, trong phòng có một vị trung niên đại đức đã xả thiền và đang tập thể dục trợ luân.

    Tế Phật: Đợi thầy niệm chân ngôn, để vị đó xuất hồn đàm đạo với con.

    Thái Sinh: Thưa vâng. Sau khi ân sư niệm xong, nguyên linh vị tu sĩ đó bay lại hướng này liền.

    Cư Sĩ: Xin hỏi, hiền sinh từ đâu tới? (Tế Phật chợt xuất hiện trên không trung, hào quang tỏa chiếu sáng ngời, cư sĩ liền rõ đó là Phật Sống tới, vội khấu đầu lạy chào).

    Thái Sinh: Thưa kẻ hậu học này là thiên bút Thái Sinh, thuộc Thánh Hiền Đường ở Đài Trung, kính xin Cư Sĩ chỉ giáo nhiều cho. Tiểu đệ từng được ân sư Tế Phật cho biết Cư Sĩ là người giàu đức nhân ái, giờ đây xin Cư Sĩ chỉ giáo cho kẻ hậu học này được rõ là Cư Sĩ đã tu trì cách sao, mà dung mạo lại sáng rỡ thanh quang điển lành?

    Cư Sĩ: Người ta nếu luôn luôn yêu kẻ khác như yêu mình, tự nhiên tâm mở rộng, chẳng gì cản trở. Còn lòng dạ hẹp hòi, tâm hồn ắt sẽ đau khổ khiến những kẻ chung quanh cũng bị khổ sở lây.

    Thái Sinh: Thưa lời dạy của bậc tiền bối quả là chí lí, tâm hẹp hòi nếu như mở rộng tự cảm thấy sung sướng người khác cũng hạnh phúc lây, mình sân hận, kẻ khác mất vui, thành mình cũng đau khổ.

    Cư Sĩ: Quả đúng như vậy, ngày nay nếu như muốn cải thiện đời sống xã hội tất nhiên phải cải tâm trước, đổi tâm phẫn nộ thành tâm hoan hỉ.

    Thái Sinh: Xin Cư Sĩ thuật lại cho một câu chuyện về tình thương yêu, chứa đựng ý nghĩa nhân ái sâu xa cảm động để ghi vào sách Nhân Gian Du Kí.

    Cư Sĩ: Được, tôi xin kể lại hai câu chuyện thật của hai vị hiền nhân có lòng thương yêu vô cùng rộng lớn.

    Thái Sinh: Thưa, kẻ hậu học xin lắng tai nghe.

    Cư Sĩ: Ít năm trước đây có một thanh niên, mồ côi mẹ từ lúc còn nhỏ, cha lại lấy vợ bé, cho nên không những đã thiếu tình thương của mẹ hiền ấp ủ, lại còn mất đi tình yêu mến của cha đùm bọc, cùng sự dạy dỗ tới nơi tới chốn. Sau khi học xong trường làng bèn bỏ nhà ra sống bụi đời giữa chốn phồn hoa đô thị. Bởi vậy, lòng dạ thanh niên đó chất ngập bao nỗi bất bình, uất hận để rồi đọa lạc xuống đáy vực sâu. Y kết giao với bọn bất lương, lập bè lập đảng, phá hoại an ninh trật tự của xã hội. Có một ngày nọ vì bị sự túng quẫn đói khổ dày vò, y đã nổi máu tham sân điên khùng, giấu dao nhọn trong mình lên xe buýt toan tính cướp tiền của của ông già tài xế, nhưng may mắn thay lại gặp ông già lái xe giàu lòng nhân đức. Người thanh niên đó đợi tới lúc xe chạy ra ngoài ngoại ô vắng vẻ, liền rút dao ra dí vào hông ông già, hét lớn: “Đưa tiền đây mau, cưỡng lại sẽ chết liền”. Ông già là kẻ tu hành, trọn đời cứu người giúp đời, nên thần trí vững vàng, do đó hoàn toàn bình tĩnh trả lời: “Này cậu, hãy buông dao ngay đi”. Thanh niên đáp: “Không câm mồm tao giết ngay tức khắc”. Ông già nói: “Cậu chớ ngại, tôi sẽ không thưa cảnh sát, tôi chỉ có một ngàn đồng, nếu như cậu thật tình ăn năn hối cải, tôi có thể giúp đỡ cậu ngay, cậu hãy tin tôi đi”. Người thanh niên nghe vậy không những không uy hiếp ông già mà còn rất đỗi ngạc nhiên, nói chẳng nên lời. Ông già lại tiếp: “Cậu ơi, tuổi tôi đã già, nếu như cậu giết tôi, tôi không tiếc thân đâu, song tuổi cậu còn quá trẻ, quốc gia đã hun đúc tinh thần cậu, gia đình đã nuôi dưỡng cậu, việc đền ơn nhà trả nợ nước chưa xong đã vội chôn vùi tương lai, mang tội bất hiếu với cha mẹ, bất trung cùng tổ quốc, bị người đời khinh khi, bị tù tội chẳng có ngày ra, người thân bị tai họa lây oan uổng, nỗi đau khổ phẫn uất nếu như cậu chịu đựng nổi há lại không gọi đó là hành động thông minh được hay sao... (Ông già chân thành khuyên nhủ lại cậu thanh niên mãi). Tới khi cảm thấy người thanh niên đã thật tình hối hận về tội lỗi của mình, ông già hỏi: “Cậu cần bao nhiêu tiền tôi sẵn sàng giúp cậu ngay?”. Người thanh niên đáp: “Xin ông chớ bận tâm, cháu không cần tiền nữa, cháu xuống xe, chào ông”. Ông già tiếp: “Nếu như cậu không chê ít, tôi xin tặng cậu một ngàn đồng này”. Rồi trong lúc chào từ giã nhau, ông già cầm một ngàn đồng, vừa nhét vào túi người thanh niên, vừa ngỏ lời cầu chúc: “Hi vọng lần tới gặp lại cậu, cậu đã trở thành người trung hiếu vẹn toàn”. Người thanh niên vừa cảm động vừa ngạc nhiên lúc nhận tiền và bước xuống xe. Từ đó trở đi người thanh niên này chăm chỉ làm việc, âm thầm lo việc nghĩa, giống như được Tiên Phật cải tử hoàn sinh vậy. Chừng hơn nửa năm sau, người thanh niên đó viết thư, tha thiết cám ơn sự hướng dẫn của vị ân nhân giàu đức hi sinh, giàu tình bác ái, đã hướng dẫn cậu quay về được nẻo quang minh chính đại. Ngoài việc trả lại ông già một ngàn đồng, còn hứa sẽ quyết định cải tà quy chính để báo đền ơn nhân từ của ông già và nguyện giữ vẹn lời hứa. Thế mới hay “Định, Huệ, Đức” đã cảm hóa nổi người thanh niên này. Đức cảm hóa chân thành quả là công hiệu chỉ một niệm nhân khiến cải tà quy chính, ác tâm thoát biến thành thiện tâm, hắc ám trở nên quang minh, thối lui chuyển thành tiến tới, hung hãn trở lại hiền hòa. Do đó, người nhân đức không ẩn giấu vũ khí nên có thể đi lại không mất tự do, không bị ngăn trở, được người tôn kính. Kẻ thất đức, thủ sẵn khí giới trong mình, thân thể lại bầm dập, mang đầy thương tích.

    Thái Sinh: Lấy đức báo oán (Dĩ đức báo oán) quả khiến người kính phục nghe theo. Xã hội vốn có sẵn căn thiện, nếu như mọi người biết phát huy nó, tâm hồn sẽ cảm thấy vô cùng ấm áp, mọi hành động tội ác làm mất trị an đều được diệt trừ tận gốc. Còn nếu căn thiện không được phát huy, mọi người sẽ sống ích kỉ, tranh giành, gian manh, lừa đảo, khí tà niệm ác xấu này nổi lên, trở thành bạn của ma quỷ, tự lãnh hậu quả đau khổ, diệt vong.

    Cư Sĩ: Quả đúng vậy, nếu như muốn toàn thể xã hội được êm ấm, chỉ cần mọi người có tinh thần đùm bọc lẫn nhau, lòng nhân ái ban trải rộng rãi, xã hội sẽ trở thành mảnh vườn hoa tình thương nở đẹp bốn mùa.

    Thái Sinh: Xin Tiên sinh kể nốt sự tích thứ hai.

    Cư Sĩ: Câu chuyện thứ hai này đã từng được đăng trên các báo, làm dư luận xôn xao một thời, khiến quần chúng xúc động sâu xa, gây ảnh hưởng lớn lao về ý thức tình nhân đạo bao la. Tôi xin tóm lược câu chuyện này như sau: Có một nữ học sinh giàu lòng nhân ái, bữa nọ đang đi đường thình lình bị một thiếu niên cướp giật đồ, sau khi tóm được định kêu cảnh sát, song nữ sinh đó lại động lòng trắc ẩn, vì thầm nghĩ rằng thiếu niên đó còn nhỏ, nếu như bị tù tội, cha mẹ sẽ đau khổ sinh bệnh mà thác, bèn vội nói khác đi là: “Em có thể giỡn với chị như thế được sao? Nếu em hành động như vậy với người khác họ sẽ hiểu lầm”. Thiếu niên đó nghe nói xong, tâm linh từ lâu ngủ vùi chợt thức tỉnh, cảm động hết sức nói không nổi, tuy bên ngoài cầm được nước mắt, song trong lòng không ngớt bùi ngùi, tâm yêu thương rộng lớn hòa cảm cùng sự sám hối chân thành đã khiến nữ sinh đó chẳng quản nhọc nhằn, vừa đi học vừa kiếm việc làm thêm để ngầm giúp đỡ hoàn cảnh khốn quẫn của gia đình thiếu niên này.

    Thái Sinh: Tình thương loại này thế gian quả là hiếm có, vì lòng dạ cô nữ sinh đó chỉ có ân mà không có oán.

    Cư Sĩ: Nếu như trong mảnh vườn xã hội gieo rắc được nhiều chủng tử tình thương, ắt sẽ gặt hái được nhiều bông trái bình an. Vừa rồi tôi đã trình bày trường hợp của hai cá nhân biết đem lòng nhân ái ra âm thầm giúp đỡ thanh thiếu niên, và đã minh chứng một cách hùng hồn rằng, oan chỉ có thể giải chứ không thể cột. (Oan khả giải bất khả kết). Chỉ đem lòng nhân từ cảm hóa người đời mới bảo đảm được sự hòa ái đẹp đẽ.

    Tế Phật: Hay lắm, đêm nay thời giờ đã trễ.

    Cư Sĩ: Kính chào tạm biệt... (Tế Phật miệng niệm chân ngôn, vị cư sĩ đang nghỉ ngơi, nguyên linh chợt hội nhập bản thể).

    Tế Phật: Trò ngoan mau lên đài sen, chuẩn bị trở lại Thánh Hiền Đường.

    Thái Sinh: Thưa, con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư khởi hành.

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Thái Sinh hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 3:36 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    January 27th 2010, 10:46 am
  • HỒI MƯỜI MỘT

    TẾ PHẬT LUẬN VỀ SỰ BỐ THÍ BỎ CHẤP TƯỚNG GIỮ TÂM THÀNH NHIỀU ỨNG NGHIỆM

    THÁNH MẪU BÀN VỀ LUẬT NHÂN QUẢ THIỆN ÁC BÁO ỨNG ĐỀU DO TÂM

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 16 tháng 12 năm Tân Dậu (1981)


    Thơ

    Nhân quả luân hồi chuyển bất tức
    Chân ngã diện mục mỗi thường nghi
    Tiền thế bố thí đa phùng vận
    Tác nghiệt chi đồ vĩnh trường thê.

    Dịch

    Nhân quả luân hồi chuyển chẳng ngưng
    Chân tâm diện mục phải coi chừng
    Ban ơn lúc sống nhiều ơn phước
    Gây nghiệp trọn đời chịu thảm thương.

    Tế Phật: Nhân quả vô hình, định luật luân hồi chuyển biến hoài không ngừng nghỉ, chúng sinh thường tự hỏi, cái ta chân thật và cái ta giả dối từ đâu tới? Kiếp này sao ta phải nhiều nỗi gian truân khổ cực thế này? Làm cách nào để thay đổi được đây? Người hiền bố thí để cầu được nhiều ơn phước, kẻ dữ gây tội ác tự tạo oan nghiệp. Song thiện và ác cùng tồn tại, một đàng hạnh phúc đời đời, một đàng hủy diệt tương lai, một đàng ngày một hưng thịnh, một đàng ngày một đọa lạc.

    Thái Sinh: Có nhiều kẻ nghèo khổ tự oán trách mình, sinh lòng bạo ngược đố kị người, thưa ân sư có phương cách nào để giải quyết vấn đề nghèo khổ không?

    Tế Phật: Đem sự nghèo khổ bán đi há chẳng giải quyết được sao?

    Thái Sinh: A, thầy dạy thật lạ lùng, há lại có người bỏ tiền ra mua sự nghèo khổ sao?

    Tế Phật: Hãy đem sự nghèo khổ bán cho ta.

    Thái Sinh: Thật kì lạ, sự nghèo khổ cũng có kẻ bán người mua, trò ngu chưa từng bao giờ nghe nói như vậy.

    Tế Phật: Giả sử không thể mua hay bán thì trên đời há lại có kẻ nghèo khổ người sung sướng sao? Phải hiểu là sự giàu nghèo của kiếp này đều do nhân duyên kiếp trước, kiếp trước bán nghèo, đời này được giàu có; kiếp trước bán giàu đời này nghèo khổ.

    Thái Sinh: Lời dạy của ân sư quá siêu diệu, song thưa con vẫn chưa rõ làm cách nào để bán được sự nghèo khổ?

    Tế Phật: “Bố thí” là cách bán cái nghèo đi.

    Thái Sinh: Kẻ nghèo ngày kiếm ba bữa ăn còn khó, thì lấy của đâu mà bố thí?

    Tế Phật: Không cần phải có nhiều tiền mới làm được việc bố thí, mà chỉ cần có quyết tâm làm công việc bố thí. Sự bố thí chân thành thì vật tuy nhỏ mọn, song lượng lại rất lớn.

    Thái Sinh: À, thì ra đó là phương cách tuyệt diệu để bán sự nghèo, những ai còn oán hận sự nghèo khổ hãy đem sự nghèo khổ bán đi, chớ để tâm oán trách mỗi ngày, nghèo nàn vật chất, càng nghèo nàn tâm linh.

    Tế Phật: Ha ha, phải giải trừ mê hoặc, người đời hiện nay chỉ ham thích giàu có. Thôi, thầy trò mình hãy bắt đầu cuộc vân du nhân gian của bữa nay.

    Thái Sinh: Thưa con đã lên đài sen, kính mời ân sư khởi hành.

    Tế Phật: Đã tới nơi.

    Thái Sinh: Tới khu phố này, xe cộ đông nghẹt vô cùng náo nhiệt, phía trước có một ngôi đền lớn, không rõ đó là đền gì?

    Tế Phật: Đó là đền Phong Nguyên Từ Tế.

    Thái Sinh: Không ngờ bữa nay lại tới được đây, tiền đường đang chiếu phim, người xem đông đúc, chuyện phim hấp dẫn, rất lôi cuốn khán giả, nữ diễn viên đóng vai chính là...

    Tế Phật: Trò ngoan có thể làm tài tử đóng phim được đấy, còn thầy ngược lại chẳng thể làm được công việc này.

    Thái Sinh: Thưa ân sư, quả đúng như vậy, người đời đã coi chiếu bóng đương nhiên phải hiểu biết hơn người chưa coi chiếu bóng, còn trường hợp của ân sư lại chưa từng coi bao giờ.

    Tế Phật: Ha ha, hiện thời thầy cũng đang coi chiếu bóng đấy chứ.

    Thái Sinh: Thưa phải, thưa phải.

    Tế Phật: Năm hết tết đến nơi, muôn nghề phát đạt, các xe quảng cáo rao hàng qua lại.

    Thái Sinh: Ha ha, những xe quảng cáo đó đều không phải là xe quảng cáo mĩ phẩm, mà là quảng cáo nhân phẩm.

    Tế Phật: Thật không tưởng tượng nổi, việc tuyển cử ở nhân gian lại phải cần quảng cáo để cạnh tranh, thấy cảnh này rồi, nếu phải đầu thai làm kiếp con người lần nữa, có ra tranh cử chắc cũng khó đắc cử nổi.

    Thái Sinh: Trò ngu sẽ bỏ cho ân sư một phiếu.

    Tế Phật: Ha ha, đó là lá phiếu thần, lá phiếu thánh.

    Thái Sinh: Tiếng la cổ động la hét ầm ĩ song vẫn khó lọt tai dân thành thị.

    Tế Phật: Đúng như vậy, những cổ động viên trên xe la lớn những khẩu hiệu vì dân, hiện tại họ đang còn vận động chứ đã đắc cử đâu mà đã la to những khẩu hiệu hết lòng vì dân.

    Thái Sinh: Ha ha, Đó chỉ là cách bày tỏ quan điểm, song có nhiều lúc vì tiếng loa kêu quá lớn khiến chói tai dân chúng, thành ra thay vì gây được cảm tình lại khiến dân chúng ghét. Thưa, còn tôn ý của ân sư như thế nào?

    Tế Phật: Theo thầy nghĩ, vì mong được đắc cử nên đã mị dân ngoài miệng lưỡi, thì đương nhiên bị dân khinh bỉ.

    Thái Sinh: Ngôi đền này xây cất đã quá lâu, coi vẻ thật là cổ kính, trang nghiêm, diễm lệ, thiện nam tín nữ tới chiêm bái rất đông. (Ông Từ giữ đền tiến ra nghênh tiếp, đức Thánh Mẫu cũng từ trên ngai bước xuống hàn huyên cùng Tế phật, Thái Sinh vội vàng lạy chào Thánh Mẫu, ông Từ mang trà thơm ra mời).

    Thánh Mẫu: Miễn lễ, Thái Sinh hãy đứng lên, Thánh Hiền Đường vì sứ mệnh phổ hóa chúng sinh đã ra sức hi sinh, Mẫu vô cùng cảm kích. Mẫu cũng hi vọng Thái Sinh lo tròn được phận sự.

    Thái Sinh: Thưa, đức Mẫu quá khen ngợi, con tài hèn sức kém, kính mong đức Mẫu gia ân chỉ giáo cho... Kính thưa đức Mẫu có nhiều quý Thần, quý Thánh ngự tại đền này, xin đức Mẫu giới thiệu sơ qua để con được thấu tỏ.

    Thánh Mẫu: Được lắm, điện Hương Lúa phía trước là nơi thờ đức thần Nông Đại Đế, kế tiếp là bàn thờ ngài Văn Xương Đế Quân, ngài giữ chức vụ xét công tội các văn nhân, thi sĩ để thưởng phạt. Thứ đến là điện thờ đức Tam Sơn Quốc Vương, sau cùng là điện thờ đức Quán Âm Đại Sĩ, điện Già Lam thờ các vị Thành Hoàng, thần Phúc Đức, ngoài ra còn có điện thờ tiên cô Nương Nương, đức Văn Hành Thánh Đế ngự tại điện Hán Thọ, vị nào vị nấy chăm lo cai quản theo đúng chức vị của mình.

    Thái Sinh: Thưa, còn hai bên là tướng quân Thiên Lí Nhãn và tướng quân Thuận Phong Nhĩ coi vẻ uy vũ, dũng lược vô cùng kể, khiến phàm nhân nhìn thấy ai cũng đem lòng kính sợ... A, đúng rồi, lúc này có nhiều thiện nam tín nữ đang khấn khứa kêu cầu, thưa liệu đức Mẫu có ban ân đúng như lời cầu xin của mọi người không?

    Thánh Mẫu: Chúng sinh đau khổ, Mẫu đang lo tận tình cứu giúp. Song “Họa phước không có cửa, do người tự chuốc” (Họa phúc vô môn, duy nhân tự chiêu). Chúng sinh luôn luôn u mê, khi hạnh phúc sung sướng lại chẳng biết giữ gìn quý trọng, không lo làm việc phước thiện, tới khi gặp hoạn nạn mới tới cầu xin Mẫu, Mẫu phải xét xem sự thành tâm sám hối nhiều hay ít, xét công và tội xem bên nào nặng bên nào nhẹ, sau đó mới quyết định. Nên biết, chúng sinh đắm chìm trong chốn trần ai ô trược, đương nhiên phải chịu nhiều nỗi bất bình, song trong họa có phúc, trong phúc có họa, nếu biết dốc tâm vun bồi cội phúc, thì dầu có bị đày đọa cách mấy cũng được ban ân cứu rỗi.

    Thái Sinh: Thưa lời đức Mẫu dạy vô cùng hữu lí, thuở sinh thời công đức tu trì của đức Mẫu cao dày bậc nhất, kính xin đức Mẫu thuật lại quá trình tu đạo của đức Mẫu, hầu giúp chúng sinh học hỏi được tinh thần cứu nhân độ thế.

    Thánh Mẫu: Được lắm, để giúp việc phổ hóa chúng sinh, Mẫu tạm kể sơ lược về thân thế của Mẫu như sau: Mẫu sinh vào đời Minh, niên hiệu Gia Tĩnh, phụ thân sống bằng nghề buôn đồ sứ, trên Mẫu có hai người chị, lúc sinh tiền tên của Mẫu là Cửu Hoa, lúc chưa xuất gia, sau khi cha mẹ sinh hạ người chị cả và người chị thứ hai xong, liên tiếp sinh thêm ba người em trai nữa, song chẳng bao lâu cả ba em trai đều mất. Và không hiểu tại sau thân phụ lại nghi là vía của chị thứ hai đã là nguyên nhân chính gây nên sự chẳng lành này, do đó thường ghét bỏ chị, nên cũng kể từ đó gia đình không được yên ấm. Sau khi gả chồng cho chị cả và cho người chồng đó ở rể, chị thứ hai thường kết giao với những thứ bạn bất lương, chuyên hành động gian manh, mặc dù người trong nhà hết sức khuyên nhủ nhưng chẳng hề nghe, vẫn chứng nào tật đó. Ngày nọ, phụ thân vì bận việc kinh doanh phải xa nhà, được dịp may hiếm có, chị thứ hai liền dẫn cướp về nhà vơ vét tiền của, khi đó chồng chị cả cũng đi khỏi do đó không lấy được vàng bạc, nên phá phách nhà cửa, bắt cả chó cả gà, rồi bỏ đi.

    Ít bữa sau thân phụ và chồng chị cả trở về, chị thứ hai liền báo cho bọn cướp biết, chúng liền trở lại tra khảo để cướp tiền và vàng, chồng chị cả nhất định không chịu dâng nộp, chúng đánh đập tàn nhẫn khiến bị trọng thương, thấy chị thứ hai hành động như vậy, phụ thân vô cùng uất hận, hỏa khí bốc lên, té lăn ra đất, hồn lìa khỏi xác. Gia đình khi ấy bèn lâm vào cảnh thảm sầu, chồng chị cả bị những vết thương quá nặng nên mặc dù hết sức thuốc thang chạy chữa, nhưng cũng không tránh khỏi lưỡi hái tử thần. Mẫu thân nước mắt đầm đìa khóc thương hết ngày này qua ngày nọ, cuối cùng cũng lâm trọng bệnh, lìa bỏ cõi đời.

    Thái Sinh: Ôi! Thật quả là tai họa dập dồn.

    Thánh Mẫu: Từ đó trong nhà chỉ còn chị cả, cháu Chí Khanh và tôi chung sống nương tựa, giúp đỡ lẫn nhau, cùng tiếp tục xây dựng lại cơ nghiệp. Tới năm tôi hai mươi ba tuổi, chị cả nghĩ tới việc gả chồng cho tôi, song vì tôi đã có lời nguyền từ trước, do đó quyết tâm ở vậy trai tịnh tu hành. Chị thứ hai vì tội ác chồng chất, bị quả báo nhãn tiền, trải muôn phần khổ cực, mặc dù đã ăn năn hối cải những tội lỗi xưa kia, song chưa biết tới bao giờ mới giải được nghiệp, đã vậy lại còn phải nuôi một đứa con hoang, chịu đựng nhiều nỗi đắng cay, cho nên đã có lần nhảy xuống sông tự vẫn, mong rũ sạch mọi ác nghiệp trần gian. Song may mắn được một vị tiều phu cứu thoát, cùng chỉ dẫn cách nương náo ở trong núi, kiếm củi bán để tạm sống qua ngày.

    Có một bữa đi lượm củi mang con gái theo, con lại ham đuổi bắt khỉ, nên mẹ con lạc nhau, gặp lúc tôi đi lễ chùa về, tới giữa đường nghe trẻ lạc khóc, tôi liền kiếm quanh và đã tìm ra đứa nhỏ dẫn về nhà. Tôi cũng dặn lại sư trụ trì rằng, nếu như có ai tìm kiếm đứa trẻ lạc này, thì nhờ ngài cho họ hay, để họ tới nhà tôi lãnh đứa nhỏ về. Chẳng bao lâu, chị thứ hai tìm tới chùa và được rõ là con mình đang được tôi chăm sóc dùm, chị thứ hai liền hết lo, xong sau đó lại tự thấy xấu hổ không dám tới gặp thẳng tôi, mà chỉ lén nhìn trộm con.

    Thời gian qua mau, cháu Chí Khanh, chị cả và tôi cùng lo nuôi nấng chăm nom Hạnh Nữ đã được hơn mười năm vì gần gũi nhau nên quen hơi bén nết, chị cả và tôi đã tác thành duyên đôi lứa cho hai trẻ. Chị thứ hai một mình vẫn tiếp tục kiếm củi sinh sống trong núi, một bữa nọ té bị thương, đau đớn rên siết, được sư trưởng đem về chùa thuốc thang nuôi nấng, song bệnh tình cứ mỗi ngày một thêm trầm trọng, trong phút hấp hối, tự khai ra chính mình là người trước đây đã tới chùa tìm đứa con gái lạc, giờ đây xin sư trụ trì giúp cách gặp lại con gái, sư trưởng khi đó mới chợt nhớ ra, liền hoan hỉ giúp đỡ ngay bằng cách báo tin cho tôi hay liền, tôi liền đưa cháu Hạnh Nữ tới chùa để mẹ con gặp lại nhau, phút giây tương ngộ hai mẹ con ôm nhau khóc nức nở. Còn riêng chị thứ hai khi gặp tôi lại che mặt vì quá mắc cở, khiến tôi càng áy náy, lúc ấy Hạnh Nữ yên chí là sau khi lo liệu cho thân mẫu xong, ắt sẽ gặp tôi để bày tỏ sự cảm tạ. Chị thứ hai với tôi vốn cùng chung máu mủ, tôi cũng dần dần nhận ra điều đó, lúc đó nước mắt chị thứ hai chảy ròng ròng như suối tuôn trào, lớn tiếng khóc than, kể lể lại sự lỗi lầm khi trước, chị em nghẹn ngào ôm nhau. Chị thứ hai lần lượt thuật lại hết những nỗi đắng cay gian khổ đã trải qua, cùng ngỏ lời nhờ tôi trông nom tương lai của Hạnh Nữ dùm, sau đó nghẹn ngào nấc lên mấy tiếng rồi trút hơi thở cuối cùng...

    Tới đây Hạnh Nữ mới rõ tôi là dì ruột, sau khi lo việc an táng chị thứ hai xong, Chí Khanh và Hạnh Nữ cũng lập gia đình. Tôi thấy trách nhiệm của mình đã hoàn tất, bèn dốc tâm công phu, cùng ra sức công quả, tới năm năm mươi sáu tuổi không bệnh mà thác. Nhờ Tiên Phật dẫn độ, nguyên linh của tôi được tới tu luyện tại cung Thánh Mẫu sáu mươi năm, sau đó lại được chuyển tới cung Thiên Mẫu thuộc Chương Uyên Huệ Môn giữ chức Chủ Thần. Tôi cũng từng giữ chức Phó Tể tại phủ Phùng Tiên thuộc huyện Liên Giang, thấm thoát mấy chục năm trời trôi qua, tới ngày 13 tháng 2 năm Dân Quốc thứ III (1914) tôi mới được cử tới đền này giữ chức Chủ Thần từ đó tới nay.

    Thái Sinh: Thưa được hiểu rõ về thân thế của đức Mẫu, lúc sống trải đủ cảnh đời đau thương, vô cùng cảm động lòng người, mong thế nhân học được tinh thần quảng đại, vị tha của đức Mẫu.

    Tế Phật: Đêm nay thời giờ đã trễ, Thái Sinh hãy lạy chào từ biệt Thánh Mẫu để còn mau mau trở lại Thánh Hiền Đường (Thái Sinh vội vàng bái từ Thánh Mẫu).

    Thánh Mẫu: Miễn lễ, rất lấy làm hân hạnh được Tế Phật cùng Thái Sinh tới thăm, tiếc rằng sự tiếp đãi không được hoàn hảo, xin lượng thứ cho.

    Tế Phật: Thưa, Thánh Mẫu chớ quá khiêm nhường, bữa nay tạm ngưng cuộc viếng thăm ở đây (Tế Phật và Thánh Mẫu cùng kính cẩn làm lễ chia tay), Thái Sinh mau lên đài sen, chuẩn bị trở lại Thánh Hiền Đường.

    Thái Sinh: Con đã sửa soạn xong. Kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Đã về tới Thánh Hiền Đường, Thái Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 3:37 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    January 28th 2010, 12:49 am
  • HỒI MƯỜI HAI

    BÁC ÁI TỪ BI, GIÓ XUÂN MƯA HOA KHẮP CHỐN

    TU TÂM DƯỠNG TÍNH, NHƯ CON NHƯ CHÁU MUÔN NƠI

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 19 tháng 1 năm Nhâm Tuất (1982)


    Thơ

    Nhất niên dung dị hựu phùng xuân
    Bút huy tứ phương khai tân vận
    Nhâm Tuất siển giáo hựu y thủy
    Chư sinh lập chí nữu càn khôn.

    Dịch

    Một năm qua lẹ gặp xuân mừng
    Vận mới bốn phương bút vẫy vùng
    Nhâm Tuất pháp truyền y hệt trước
    Nứu trời bạn đạo chẳng xiêu lòng.

    Tế Phật: Thời gian như bóng ngựa qua sông, chớp mắt năm cũ qua đi năm mới sắp đến, năm nay chính là năm con chó, do đó ta hi vọng chúng sinh đều một dạ trung thành là bởi lẽ chó không chê chủ nghèo (Cẩu vô hiềm chủ bần).

    Thái Sinh: Thưa ân sư, con thấy lòng người đời nay còn kém xa loài chó, cho nên tinh thần trung nghĩa của bao kẻ không thể nào sánh kịp với loài gia súc này.

    Tế Phật: Ha ha, trò ngoan của ta nói rất đúng, giống chó thật đúng là loại người chất phác, không hề tham muốn lợi lộc, cho nên không bị chửi mắng về tội gian dối, bị rầy la về tội coi sóc cửa nhà không chu đáo. Còn con người thời nay nếu như bị cấp trên khiển trách hoặc cha mẹ mắng mỏ mấy câu liền oán trách mãi không thôi, bởi vậy giống chó là loại gia súc được người đời quý nhất.

    Thái Sinh: Thưa, con trộm nghĩ người đời nay đã không có thì giờ nuôi súc vật.

    Tế Phật: Tại sao không?

    Thái Sinh: Vì mọi người bận rộn sinh đẻ nuôi nấng con cái, để phòng tới lúc tuổi già.

    Tế Phật: Ha... ha... Nuôi nấng dạy dỗ con cái đó là trách nhiệm, giả sử không hoàn tất nổi trách nhiệm, mà lại còn lợi dụng danh nghĩa ấy để đề phòng tới lúc tuổi già có nơi nương tựa, thì đó là sự ỷ lại, sự vị kỉ. Nếu giữ mãi tâm địa này vô hình trung đã đè ép tâm linh trẻ thơ, bắt chúng phải gánh cái gánh nặng ỷ lại và vị kỉ của cha mẹ chúng suốt một đời sao. Nuôi dưỡng con cái chẳng qua chỉ là vấn đề đã sinh con thì phải nuôi, phải dạy, cho nên trách nhiệm đó chỉ có thể quy về chính mình chứ không được đổ lên đầu con trẻ.

    Thái Sinh: Ân sư lí luận thật quả là cao minh, các bậc làm cha, làm mẹ trước hết phải có cái nhìn sáng suốt này, nếu được như vậy, thiết nghĩ gia đình sẽ hạnh phúc, xã hội sẽ thái hòa.

    Tế Phật: Đó là cách tạo dựng nhân duyên loài người của tạo hóa, là cách vận chuyển của pháp lí hữu vi, là chân lí của cuộc đời, nên mới hàm chứa ý nghĩa về trách nhiệm giáo hóa sâu xa đến như vậy.

    Thái Sinh: Song, còn một số người sinh con đàn con đống, theo tôn ý của ân sư họ nên xử sự như thế nào?

    Tế Phật: Sách có câu: “Trời khó tin, mệnh khó bền” (Thiên nan kham, mệnh mi thường). Ý nói vận mệnh của con người khó mà toan tính nổi, cho nên trước hết phải biết luật nhân quả là trách nhiệm của cái ta nhỏ bé, chúng sinh là trách nhiệm của cái ta to lớn. Dĩ nhiên luật nhân quả ràng buộc con người rất nhiều, song vẫn có thể lấy “đức” biến hóa nhân quả, không cho luật nhân quả khống chế đời sống của ta. Còn nếu như ta cứ chịu khuất phục nhân quả, thì chẳng hóa ra là ta cam phận làm chúng sinh muôn đời muôn kiếp, vĩnh viễn không thể trở thành kẻ giác ngộ nổi hay sao? Mê và giác vốn chia hai ngả, kẻ giác ngộ có thể thay đổi được luật nhân quả của tạo hóa, kẻ mê lầm mãi mãi nhận chịu sự chi phối của luật nhân quả đã an bài sẵn. Kẻ si mê nuôi con hi vọng lúc về già được chúng phụng dưỡng là mắc vào vòng nhân quả luân hồi; người giác ngộ nuôi dưỡng đạo để minh tâm kiến tính hầu vượt thoát khỏi vòng luân hồi nhân quả về cõi niết bàn.

    Thái Sinh: Thưa, bữa nay trong Nhân Gian Du Kí ân sư đã đột nhiên đạp tung được chướng ngại mà bấy lâu tôn giáo không dám đề cập tới, song đối với nhân gian nó lại là vấn đề thiết yếu... Ngày nay người xuất gia đông, nhưng ngày xưa ngài Mạnh Tử lại dạy: “Có ba tội bất hiếu, tội không nối dõi là tội lớn nhất” (Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại) như vậy thì hai quan điểm trên quả là trái ngược nhau, xin được rõ tôn ý của ân sư.

    Tế Phật: “Vô hậu” là không có sau, không có con nối dõi; còn hiểu rộng hơn thì trên không có chú bác, dưới không có anh em, nhưng các bậc anh hùng liệt nữ từ xưa tới nay rất nhiều vị tuy không có con nối dõi, song anh linh lại sáng ngời như hai vầng nhật nguyệt, nghĩa khí lại xuyên thấu đất trời, vượt cả tổ tông ngàn trước lẫn con cháu ngàn sau, bởi vậy đức hiếu nhỏ nhoi có thể đem so sánh nổi sao? Nguyên nhân chỉ tại người đời coi mình quá trọng, chấp trước cái ta quá nặng, nên đã quên rằng kẻ học đạo vì mắc bận công phu, công quả, cứu đời, giúp người, phải hi sinh, phải quên mình, do đó việc có con hay không, không còn quan trọng nữa, điều cốt yếu là phải gắng, vun bồi đức thiện sao cho thật sâu dày mà thôi, kẻ xuất gia xuất thế tu đạo cần phải giác ngộ bản tính chân như để rồi lại nhập thế giáo hóa chúng sinh, phục vụ xã hội, hi sinh đời sống hạnh phúc riêng tư của cá nhân mình, một lòng vì mọi người hiến dâng tất cả. Do đó sợi dây luyến ái gia đình phải không còn ràng buộc, mới có thể dễ dàng xây dựng nghiệp thánh lớn lao. Sau khi lìa bỏ cõi trần trở lại cõi trời được muôn dân thờ kính, lễ lạy thì thiết nghĩ sự cúng giỗ của con cháu không thể nào so sánh nổi.

    Thái Sinh: Thưa, một số giáo lí dạy rằng, dưới âm phủ có nhiều vong linh đang chờ đợi để được đầu thai làm kiếp người, xin ân sư chỉ giáo cho về cách tu đạo trong trường hợp này như thế nào?

    Tế Phật: Giữa hai vấn đề “Thân người khó được” (Nhân thân nan đắc) và “Kiếp người khổ hải” (Nhân sinh khổ hải) phải giải quyết cách sao? Thì như con đã biết “Pháp” do tâm sinh ra, có chúng sinh mới có cái tên gọi là “Phật”, không có chúng sinh không có cái tên gọi đó, có chúng sinh mới có “Pháp”, không có chúng sinh không có “Pháp”. Trong kinh “Thái Thượng Vô Cực Hỗn Nguyên” có dạy rõ ràng rằng: “Đường lớn thiên đàng mở rộng, muốn trở về cõi Vô Cực, chỉ cần một mực giữ tâm thuần túy chân chất, là phá được cửa địa ngục ngay, hồn dù tán loạn, phách dù đọa lạc, người dù chết, thân dù tan, tu tiên vẫn còn hi vọng, nếu theo đúng kinh này mà tu hồn phách sẽ phục hồi, Thần và người không khác biệt, tái tạo âm đức thiện duyên, có thể đạt được hồn Tiên. Cứ theo đúng như kinh chỉ dạy mà gắng tu trì, chắc chắn sẽ đắc quả vị Thần Tiên, địa ngục tu thiên cũng giống trần gian tu đạo, lí đạo này giáo lí nào cũng đều đề cập... để giúp những linh hồn chìm đắm thức tỉnh trở về nguồn cội, thoát li nghiệp quả luân hồi. Do đó, lời dạy của nhà truyền giáo ở trên đã khích lệ những kẻ tu đạo rất nhiều.

    Thái Sinh: A a, lời dạy của ân sư vô cùng chí lí, chắc chắn sẽ cải hóa được lòng dạ tối tăm của chúng sinh.

    Tế Phật: Đã tới giờ vân du cõi thế gian, trò ngoan lên đài sen, chuẩn bị khởi hành.

    Thái Sinh: Thưa, con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Đã tới nơi, trò ngoan có thể mở mắt ra.

    Thái Sinh: Căn nhà nhỏ phía trước, có tiếng trẻ khóc, hình như người mẹ chưa nghe thấy tiếng con khóc, vì còn đang mắc bận giặt áo quần.

    Tế Phật: Những đứa trẻ này là con không có cha, vì cha chúng đã sớm qua đời, chỉ còn một mình người mẹ nuôi nấng chăm nom chúng.

    Thái Sinh: Thưa, nguyên nhân tại sao?

    Tế Phật: Nhân quả, nhân quả, người mẹ này sau khi sanh bốn đứa con gái, không biết làm việc nghĩa để vun bồi phước đức, trọng nam khinh nữ, nghĩ là “Chỉ một con trai cũng gọi là có con” (Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô). Bởi vậy đã cố sinh thêm liên tiếp hai đứa con trai, song chẳng bao lâu qua đời, rồi kế tiếp tới chồng cũng sớm lìa bỏ cõi trần.

    Thái Sinh: Thưa ân sư, cớ sao lại gặp sự bất hạnh như vậy?

    Tế Phật: Sự bất hạnh mà người phụ nữ gặp phải kiếp này là do “nhân” kiếp trước tạo thành!

    Thái Sinh: Thưa ân sư, kiếp trước của vị đó như thế nào?

    Tế Phật: Kiếp trước của phụ nữ này là nam nhi, vì lúc tuổi còn trẻ bỏ học bỏ hành, chơi bời lêu lỏng, không chịu chăm chỉ làm lụng, cha mẹ bèn cưới vợ sớm cho y, hi vọng rằng y sẽ sửa đổi tính tình. Song không ngờ y vẫn chứng nào tật nấy, ngược ngạo với cha mẹ, đánh chửi vợ con, bài bạc rượu chè gây gổ, nên phải chịu nhân quả tuần hoàn báo ứng, kiếp này đầu thai làm phận gái để trả nợ kiếp trước, vì nghiệp chướng tiền kiếp mà gia đình tan nát, phải làm nghề giặt mướn, lãnh đồng lương rẻ mạt để sống qua ngày.

    Thái Sinh: Thưa, không thể tưởng tượng nổi luật nhân quả vô hình báo ứng lại có thể hiệu nghiệm hơn luật tạo hóa hữu hình, cứ nghĩ rằng tránh thoát nổi, song cuối cùng lại hoàn toàn bất lực.

    Tế Phật: Có câu: “Bồ tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả” (Bồ tát phạ nhân, chúng sinh phạ quả). Nhân quả tuy vô hình, song lại hoàn toàn chi phối vạn vật hữu hình, cùng biến hóa tạo dựng muôn loài. Chỉ có kẻ giác ngộ, chuyên thí ân bố đức, mới mong thoát khỏi luật nhân quả báo ứng mà thôi. Còn kẻ mê lầm, đương nhiên sẽ bị trầm luân trong vòng nhân quả tuần hoàn.

    Thái Sinh: Thưa ân sư, tại sao bà mẹ này vẫn còn tiếp tục chịu đựng sự cực khổ?

    Tế Phật: Vì còn phải đợi cho những đứa con gái trưởng thành, phải ngậm đắng nuốt cay để giữ tròn đạo làm mẹ, sau này mới mong được các con báo hiếu, khi đó số mệnh tự nhiên được cải biến.

    Thái Sinh: Nguyên nhân đã thấy rõ, ước mong chúng sinh mau lìa bỏ nghiệp trần khổ hải, sớm thức tâm chứng quả bồ đề.

    Tế Phật: Không ngờ trò ngoan động lòng trắc ẩn, thầy trò mình qua nhà khác phỏng vấn.

    Thái Sinh: Thưa vâng... Ôi! Gia đình này cớ sao lại khổ sở tới nỗi này, hình như thân nhân họ gặp điều chi bất hạnh. Kìa! Một thanh niên đang nằm trên chiếc ghế dài, hình như là bị thương.

    Tế Phật: Thanh niên đó là kẻ hung hăng dữ tợn, chuyên hành động bất lương, gây đau khổ cho gia đình, tạo bất an cho xã hội, không chịu làm ăn lương thiện, chỉ ham lập bè lập đảng với bọn lưu manh, trở thành những tay anh chị ở các chốn lầu xanh, tửu điếm.

    Thái Sinh: Chắc thanh niên này vừa trải qua một cuộc thanh toán nào đây?

    Tế Phật: Thanh niên ấy giống như con nhặng trong nhà, rõ ràng là có cửa kính che, song vì ỷ vào sức mạnh của mình một cách ngu đần, rồ dại nên đã không nhìn thấy vật chướng ngại, cứ ngang ngược phóng qua, chẳng khác nào chúng sinh ngày nay, mặc dù Tiên Phật đã dạy rằng: “Có luật nhân quả của tạo hóa” song bọn bất lương bạo ngược vẫn hoành hành chẳng khác nào đám nhặng ngu si cứ đâm đầu vào cửa kính, cuối cùng bể đầu chảy máu mới thức tỉnh, thanh niên đó chẳng giống hệt loài nhặng sao?

    Thái Sinh: Lời dạy của ân sư quả là siêu diệu, có lẽ đợi tới khi thanh niên đó tỉnh ngộ mới từ bỏ tính lỗ mãng đó được.

    Tế Phật: Cũng bởi thanh niên ấy từ bé lớn lên giữa một gia đình không yên ấm hòa thuận, cho nên lòng luôn luôn nuôi nấng sự bất mãn, khiến trở thành kẻ bất lương, do đó việc nuôi nấng dạy dỗ con cái trong nhà phải luôn luôn để tâm lo lắng. Phải thực hành tình yêu thương rộng lớn, sự chịu đựng vô biên để vun bồi hạnh phúc gia đình, còn không nuôi con sẽ chẳng thể thành rồng mà thành cọp dữ, chúng sẽ gây đau khổ cho gia đình, tan nát cho đoàn thể và bất hạnh cho quốc gia.

    Thái Sinh: Thưa ân sư, con từng biết một gia đình chỉ có một đứa con trai, song vô phước khi bơi lội bị chết đuối, do đó cha mẹ nó vô cùng đau khổ.

    Tế Phật: Hai mươi năm trước có một gia đình sinh được một đứa con, năm mười tuổi đứa trẻ đó qua đời, cha mẹ nó vô cùng đau đớn, thất vọng, vì bao nhiêu ước vọng đặt ở nơi đứa trẻ đều tan vỡ cả đời sống trở thành vô nghĩa, mất hết lạc thú. Do đó cha mẹ nó quẩn trí quyết định tự vẫn bằng cách leo lên núi cao nhảy xuống vực sâu để mong gởi tấm linh hồn cùng núi xanh, nước biếc. Nhưng khi họ vào tới chân núi có một ngôi chùa thờ Phật, trong chùa có một vị tì kheo an nhiên tự tại, lâng lâng thoát tục, khiến họ hồi tâm, đổi ý, bàn tính lại với nhau rằng: “Chúng mình lại có thể u mê tới mức này được sao? Vị tì khưu đó chẳng có con cái, đời sống vẫn bình an thơ thới, giống hệt ngày xưa mình từng sống trải qua, chỉ có chấp trước, không chịu xả bỏ ý tưởng bị mất mát ám ảnh, nên mới đi tìm cái chết. Giờ đây ta chuyển tâm chấp trước thành ra tâm cứu giúp kẻ khác, há lại chẳng đạt được hạnh phúc vĩnh cửu hay sao? Sau khi cặp vợ chồng thức tâm liền vất bỏ tính ngã chấp, mặc dù không con song chuyên lo cứu giúp các cô nhi viện, lấy việc giúp đỡ mọi người làm điều hạnh phúc, lại còn nhận nuôi con nuôi, chăm làm điều phước thiện, để lại tiếng thơm muôn đời tại cõi thế gian. So sánh với đời sống trước đây, thấy rằng rất là hạnh phúc ấm êm, vợ chồng sau này đều sống tới tuổi bát tuần, khi lìa đời hồn phách bay lên cõi vô cực, sống tiêu dao mãi mãi.

    Thái Sinh: Được nghe ân sư kể lại chuyện xưa tích cũ, quả là tinh thần được nâng cao, người ta nếu mở rộng được lòng yêu thương, đức từ bi quảng đại, chỉ nghĩ làm lợi cho người, ra sức xây dựng cõi trần khổ hải thành chốn thiên đàng cực lạc, thì chẳng đẹp đẽ tốt lành lắm sao? Há lại cam chịu buộc trói, chôn vùi tâm linh, để rồi toàn chuốc lấy sự khổ đau.

    Tế Phật: Đúng vậy, bữa nay tạm ngưng cuộc vân du tại đây, mau lên đài sen, trở lại Thánh Hiền Đường.

    Thái Sinh: Thưa, con đã lên đài sen, kính mời ân sư khởihành.

    Tế Phật: Đã về tới Thánh Hiền Đường, Thái Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 3:37 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    January 28th 2010, 4:15 pm
  • HỒI MƯỜI BA

    LUẬN HƯ KHÔNG, TẾ PHẬT THUYẾT PHÁP

    BÀN CHÂN LÍ BỒ TÁT GIẢNG ĐẠO

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 9 tháng 2 năm Nhâm Tuất (1982)


    Thơ

    Tĩnh tâm lập đàn đạo khí sung
    Nghiên lí thể ngộ thiên văn thông
    Khai hoài độ chúng thường tự tỉnh
    Vô vi thanh tĩnh nhược hư không.

    Dịch

    Tâm tĩnh lập đàn đạo khí thông
    Thiện duyên giác ngộ thuộc nằm lòng
    Chúng sinh cứu độ hằng nuôi chí
    Vắng lặng vô vi vượt sắc không.

    Tế Phật: Kẻ thô bạo lấy sự đánh bại người làm tự mãn, dùng bạo lực đàn áp người để chứng tỏ mình mạnh, dùng sự xảo trá lừa gạt người để chứng tỏ mình khôn. Phải biết rằng dùng sự thô bạo đàn áp kẻ khác là hành động xấu xa bỉ ổi, dùng bạo lực tiêu diệt người khác là hành động vô cùng ngu xuẩn, dùng sự gian xảo cướp đoạt tiền bạc của người khác là hành động hết sức vô liêm sỉ. Giờ ta thử lấy hư không làm tỉ dụ, hư không lớn rộng song không tự cho là mình lớn rộng nên chẳng ai có thể so sánh nổi. Hư không cao vời song không tự cho là mình cao vời nên chẳng ai có thể so sánh nổi. Hư không sâu dày song không tự cho là mình sâu dày nên chẳng ai so sánh nổi. Hư không hùng vĩ song không tự cho là mình hùng vĩ nên chẳng ai so sánh nổi. Nhờ vậy hư không mới có thể chuyên chở vạn vật, bao trùm vạn vật, dung chứa vạn vật. Kẻ đạt đức giống tựa hư không, ngó trước mắt lại thấy sau lưng, nhìn lên cao lại thấy tỏa rộng, do đó đạo gia muốn người đời học hỏi về “không”, lẽ đó rất dễ hiểu, vì có lấy “hư không” làm gương mẫu, kẻ học đạo mới có thể giống tựa “hư không” mới có thể hòa hợp cùng “hư không” làm một thể. Đại Đạo Vô Cực dễ như móc túi lấy vật, lấy mãi còn hoài, con người cũng có thể là thánh nhân, là vĩ nhân, là kẻ mạnh, là vô cùng cao siêu, không có năng lực nào thắng nổi, sức mạnh nào đàn áp nổi, bản lĩnh nào tranh giành nổi, khi đó mới được coi là đạt đạo giải thoát chân chính, còn không sẽ hèn hạ ngu si, tranh thắng tranh mạnh, tranh giàu tranh cao. Kẻ tranh mạnh tâm rất yếu, tranh giàu tâm rất nghèo, tranh thắng tâm thường thua, tranh quyền tâm thường khốn. Do đó, trò ngoan phải gắng học hư không, không tranh không cướp, không thừa không thiếu, không mạnh không yếu để trở thành thánh nhân bình thường vì có bình thường mới hiển lộ sự quý báu, phải dẹp bỏ ý tưởng xưng tụng mình, còn không sẽ rớt vào cảnh khốn cùng.

    Thái Sinh: Thưa ân sư quả đúng như vậy, sách có câu: “Người sợ nổi tiếng, heo sợ mập” vì vậy, con muốn mãi mãi là “heo gầy vô danh” chứ không muốn là “heo mập nổi danh”. Chúng sinh như mình, mình như chúng sinh, hoàn toàn bình đẳng, không chênh lệch, không hơn kém.

    Tế Phật: Ha ha, trò ngoan quả đã giác ngộ, kẻ tu đạo phải ưa trăng thanh gió mát, không ham danh lợi, thầy hi vọng con giữ mãi được đức tính này, để lên được thuyền từ qua bến giác, thay trời hành đạo.

    Thái Sinh: Thưa ân sư, đã tới giờ khởi hành chưa?

    Tế Phật: Tới rồi, tới rồi! Mau lên đài sen kẻo trễ.

    Thái Sinh: Thưa con đã lên đài sen, kính mời ân sư khởi hành.

    Tế Phật: Đã tới nơi, trò ngoan có thể mở mắt ra.

    Thái Sinh: A, nơi đây đồng ruộng mênh mông, cây cối mọc xum xuê nhìn hút mắt, núi xanh trùng điệp nhấp nhô mấy chục dặm không dứt; vẻ xanh tươi của hoa cỏ giúp người ta dễ dàng rũ sạch bụi trần. Ngôi chùa phía trước sừng sững bên sườn núi cao, Phật đài bên cạnh vẻ uy nghi hùng tráng, đường đi lên khúc khuỷu quanh co, vẻ lớn lao, trang nghiêm, đẹp đẽ của ngôi chùa khiến mọi người kính nể. Cảnh trí u tịch, xa lánh hẳn những âm thanh ồn ào, náo nhiệt đầy phiền não của phàm trần thân tâm cảm thấy vô cùng thư thái, nhẹ nhàng.

    Tế Phật: Hiện thời Bồ Tát Chính Quan đã xuất hiện, chúng ta đến lạy chào cùng vấn đạo ngài.

    Thái Sinh: A, thưa con đã nhìn thấy Bồ Tát Chính Quan, hào quang tỏa chiếu sáng ngời đang ngồi ngay ngắn trong nhà vàng, nét mặt từ bi khiến mọi người kính nể.

    Tế Phật: Này trò ngoan, con hãy thỉnh giáo Bồ Tát về trường hợp đắc đạo của ngài.

    Thái Sinh: Thưa, bữa nay lần đầu tiên được ân sư hướng dẫn tới đây, bụng con trống rỗng, tâm con bàng hoàng, con biết mở lời cách sao?

    Tế Phật: Tâm yên thần linh ứng, khi đối đáp đối tự nhiên lưu loát như nước chảy.

    Thái Sinh: Thưa vâng, con xin tuân lệnh ân sư thử thực hành xem. (Bồ Tát Tĩnh Quang vừa hàn huyên với Phật Sống Tế Công xong thì Thái Sinh liền lạy chào ngài).

    Bồ Tát: Miễn lễ, bữa nay Tế Phật và Thái Sinh vì việc trước tác sách Du Kí, nên đã thân hành tới đây, khiến tôi rất vui mừng, thiện căn của Thái Sinh quả là lớn lao mới có diễm phúc được Tế Phật hướng dẫn tới đây.

    Thái Sinh: Thưa Bồ Tát quá khen ngợi, bữa nay đệ tử được tới đây thật vô cùng vinh hạnh, kính xin Bồ Tát chỉ giáo nhiều cho.

    Bồ Tát: Được, Thái Sinh có những vấn đề gì cần thảo luận xin cứ đặt câu hỏi.

    Thái Sinh: Kính xin Bồ Tát khai ngộ Phật pháp nhiệm mầu cho đệ tử.

    Bồ Tát: Ha ha, ngộ cảnh khai ngộ, khai ngộ ngộ cảnh, vấn đề này hay lắm, kẻ ngộ cảnh là loại chúng sinh chưa vào cửa đạo, hãy còn mơ mơ màng màng, do đó chẳng rõ đạo lớn có thể tu, còn người đã vào được đạo lớn thì hành trình ngộ đạo của họ trước tiên: “Thấy núi là núi, thấy nước là nước” (Khán sơn thị sơn, khán thủy thị thủy) là bởi tính bị nhiễm vật, chấp tướng quá sâu, tâm bị ngoại cảnh cuốn hút quá nặng. Tới khi tiến cao hơn, ngộ được đạo lớn thì: “Coi núi không là núi, coi nước không là nước” (Khán sơn bất thị sơn, khán thủy bất thị thủy) mới chỉ giác ngộ được cảnh phàm trần là hư ảo, giả tạm, nên tâm còn dục niệm. Khi công phu tiến cao thêm một bậc nữa thì lại: “Thấy núi vẫn là núi, thấy nước vẫn là nước” (Khán sơn nhưng thị sơn, khán thủy nhưng thị thủy). Nhìn cảnh hư ảo phàm trần tâm không bị cuốn hút, tính không bị động loạn, lí do bởi tại định lực công phu đã đủ, không còn bị nhiễm ngoại duyên, nói không mà chẳng không, đó chính là tròn đầy thông suốt vậy.

    Thái Sinh: Lời dạy của Bồ Tát thật quả là thâm diệu, và như vậy thì khác hẳn với “chỉ niệm”.

    Bồ Tát: Chỉ niệm là một pháp môn, song không phải là pháp môn đạt cứu cánh giải thoát, phải biết rằng tự tính thanh tĩnh vốn chẳng sinh chẳng diệt, chẳng thêm chẳng bớt, đó là pháp tính chân như. Người ta ai cũng có tính này, song chỉ vì tâm mê, tâm này không dùng, tính này chẳng bền, tâm chạy theo giả tính, do đó vọng niệm nghiệp sinh, vọng niệm ngoại duyên, sinh sinh, diệt diệt, đều là nhân duyên nổi dậy, không phải là vật vốn có mà chỉ nhân duyên cùng tụ ắt sinh, nhân duyên khác biệt chia lìa ắt tan, chẳng phải là tính nguồn cội chỉ có bản tính thanh tịnh, yên tĩnh vắng lặng, siêu việt pháp tính nhân duyên. Xin lấy một thí dụ, bản tính thanh tịnh như kim cang, nhân duyên vọng niệm như đồ vật chế bằng kim cang, vật có thành, trụ, hoại, không song tính kim cang lại tùy duyên bất biến bất hoại. Người ta nếu giữ được chân tính kim cang này thì mới đạt tới trạng thái tâm hồn gặp cảnh không sinh tình, không luyến ái, coi hình tướng là ảo ảnh biến hóa giả tạm, chỉ chớp mắt đã mất; còn tự tính không nhiễm, vốn thanh tịnh, như mặt trời mặt trăng chiếu rọi hư không luôn luôn trong sáng.

    Thái Sinh: Ha ha, nghe lời dạy của Bồ Tát quả là được khai mở rất nhiều, song tại sao lại nói tính Phật và tính chúng sinh không tăng không giảm?

    Bồ Tát: Tính Phật như nước, cong thẳng vuông tròn, luôn luôn hòa hợp thích ứng, không tranh giành, làm lợi cho muôn loài mà không cậy là mình có công, không làm một cách giả dối, không cầu đền ơn, không khoe tài, không ỷ mạnh, đúng như lời Thánh dạy, tùy nơi tùy chốn thích hợp, chí công vô tư, thiện lành như trời đất. Còn tính của chúng sinh giống tựa băng, lạnh giá thì đông cứng, có góc có cạnh, băng vốn là nước ngưng đọng thành, như đạo gia thường nói, tính người từ một khí nguyên thủy sinh ra. Do đó mới hay nước kết thành băng, băng tan thành nước đều là giống nhau, không thêm không bớt, như vậy chẳng phải là nguyên lí không tăng không giảm sao?

    Thái Sinh: Thì ra nguyên nhân là như vậy, Bồ Tát đã khai mở trí tuệ thật là huyền diệu, những điều nêu ra để thí dụ về đạo đều đầy đủ ý nghĩa. Chúng sinh chấp trước hình tướng giống như băng cứng ngắc, song nếu phá bỏ được tính ngưng đọng ngoan cố, tính Phật chân như liền hiện ra, tính trí tuệ bình đẳng không trụ hẳn một nơi nào.

    Bồ Tát: Đúng vậy, tính chúng sinh bị nhiễm duyên trần thế, mắt nhìn hình tướng vật chất, tâm bị vật cuốn hút, mũi thấy mùi thơm, tâm liền muốn thưởng thức đều do lẽ ấy vậy.

    Thái Sinh: Thưa, theo ý Bồ Tát làm cách nào chế phục được tâm vọng niệm để giữ bền được tâm Bồ Đề.

    Bồ Tát: Muốn rũ bỏ phàm tâm phải xa rời bốn tướng là: “Ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ tướng” phải diệt trừ ngũ uẩn là “Sắc, thụ, tưởng, hành, thức” ắt chúng sinh có được tâm Bồ Đề, về được nơi thanh tịnh.

    Thái Sinh: Bữa nay được Bồ Tát khai đạo để mở trí, ơn ích rất nhiều, kính xin Bồ Tát giảng giải thêm về ý nghĩa của hai chữ “trí huệ”.

    Bồ Tát: Trí huệ có thể chia làm ba loại :

    1. Bát nhã trí huệ, có thể thấy được ngũ uẩn đều là không, kẻ ấy giác ngộ được kinh, hiểu rõ được đạo.
    2. Trung trí huệ là nghiên cứu học hỏi, phần lớn đều là những người thuộc các giới trí thức trong xã hội.
    3. Hạ trí huệ là những kẻ thuộc loại thiếu thông minh đã gây nên sự nhầm lẫn.

    Thái Sinh: Thưa Bồ Tát thế nào là “vô tướng”.

    Bồ Tát: Phàm có hình tướng đều là hư ảo sẽ tan biến chẳng thể tồn tại nên gọi là “vô tướng”. Chúng sinh chấp hình tướng rất sâu; chúng sinh bố thí chấp tướng bố thí; chúng sinh nhìn Phật, chấp tướng nhìn Phật; nếu không chấp tướng bố thí thì công đức càng lớn; không chấp tướng nhìn Phật, trí tuệ càng sâu. Do đó, người tu cần phải đạt được cứu cánh của ba đức vô tướng bố thí.

    Thái Sinh: Ba đức vô tướng bố thí là “bố thí tiền, bố thí pháp, bố thí dũng”. Vô tướng nghĩa là không chấp tướng, hành đạo, tu đạo không được giữ niệm tham vọng, giữ tâm mong cầu báo đáp, mà tâm lượng phải quảng đại, mới đạt được ba đức vô tướng bố thí.

    Bồ Tát: Đúng vậy, như việc Thánh Hiền Đường phổ hóa lẽ đạo tam tào, chư đệ tử vì đạo công phu, công quả lập đức mà không chấp công đức vậy.

    Thái Sinh: Thưa lời Phật dạy: “Tất cả pháp hữu vi như mộng ảo, như bọt nước, như giọt sương, như ánh chớp” là sao? Làm thế nào để khỏi rớt vào tình trạng chấp “không”.

    Bồ Tát: Mười cõi muôn pháp vốn không không, ứng dụng không trở ngại, không thể đem “tướng hư vọng” gặp Như Lai, phải giác ngộ “tính thể không” để thấy tự tính Như Lai mới là chẳng chấp không.

    Thái Sinh: Không thể chấp tướng, không thể lìa tướng, chấp tướng là hư vọng, lìa tướng là chấp không, thấy tướng không trụ, thấy không chẳng chấp, chẳng giữ chẳng bỏ đó là thực tướng.

    Bồ Tát: Ha ha, Thái Sinh đã ngộ Phật pháp, vừa nói xong đã ngộ liền, thật chẳng uổng công trời xanh trông cậy.

    Thái Sinh: Bồ Tát quả siêu phàm, dốc lòng lo cho chúng sinh xong vẫn một dạ khiêm nhường. Kính xin Bồ Tát dạy thêm về ý nghĩa của chữ “thức”.

    Bồ Tát: “Thức” đại khái có thể phân chia làm chín loại, tiền ngũ thức gồm có: mắt (sắc), tai (thanh), mũi (hương), lưỡi (vị), thân (xúc). Thứ sáu là ý thức cũng là thức tâm vọng tưởng. Thức thứ bảy gọi là “mạt na thức” cũng là “thức truyền đạt” thức thứ tám là “ý thức tiềm tàng” (a lại da thức) cũng là nghiệp thức tức những chủng tử do chúng sinh nhiễm trần một đời tích tụ. Công phu học đạo đốn ngộ, cũng là pháp thấu triệt từ căn bản, không là pháp nhất thời tạm bợ rỗng tuếch phải đạt tới thức thứ chín gọi là nguyên thần, thức bạch tĩnh, cảnh giới vô ý thức, cũng là tự tính, Phật tính nguồn cội.

    Thái Sinh: A ha, chỉ một lát nghe lời dạy của Bồ Tát hơn cả mười năm đọc sách, chúng sinh nếu như hiểu gốc biết rễ, ắt hẳn là lợi ích vô cùng.

    Tế Phật: Bữa nay tạm kết thúc việc đàm luận lí đạo tại đây, trò ngoan mau bái từ Bồ Tát.

    Thái Sinh: Thưa vâng. (Tế Phật cùng Bồ Tát Tĩnh Quan chào tạm biệt nhau xong, Thái Sinh vội quỳ xuống làm lễ từ giã Bồ Tát, Bồ Tát cùng gật đầu đáp lễ).

    Tế Phật: Trò ngoan, bữa nay thời giờ đã trễ, chúng ta chuẩn bị trở lại Thánh Hiền Đường, mau lên đài sen.

    Thái Sinh: Thưa vâng, con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Thái Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 3:37 pm với 3 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    January 29th 2010, 12:26 am
  • HỒI MƯỜI BỐN

    CON CHÁU HIỀN LƯƠNG TIÊN TỔ ĐƯỢC NHỜ

    CHA ÔNG ÁC ĐỨC DI HỌA CHÁU CON

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 23 tháng 2 năm Nhâm Tuất (1982)


    Thơ

    Nhân tính bản thiện lạc đào nhiên
    Nại trầm nghiệt hải thụ khổ tiên
    Như tư nhân duyên kỉ nhân thức
    Năng sám chân hối thoát khổ uyên.

    Dịch

    Tâm hiền tính tốt sướng vui thay
    Biển khổ trầm luân khỏi đọa đày
    Nghiệp chướng nhân duyên lo cởi gỡ
    Chân thành sám hối thoát trùng vây.

    Tế Phật: Cầm thú chỉ có bản tính trực giác, tâm không chứa sự gian tà xảo trá; văn minh lí trí đều phản lại tính tự nhiên của trời ban phát, cho nên tham muốn không chán, luôn gian tà xảo trá, khiến đạo đức tiêu tan, tính tình mê loạn, chính khí bại hoại, đau khổ ngập tràn. Do đó, con người nếu như không sống theo bản tính thiện tự nhiên của trời phú cho thì sẽ tệ hại hơn cả loài cầm thú, chỉ thấy văn minh đẹp đẽ bên ngoài còn nội tâm bên trong kém xa loài thú.

    Thái Sinh: Thưa lời dạy của ân sư cảm hóa lòng người rất sâu xa, người đời hiện nay chỉ mưu cầu sự lợi lộc cho riêng mình mà không nghĩ đến sự tai hại của kẻ khác, hành động như vậy há chẳng khiến đời sống mỗi ngày một sa đọa sao?

    Tế Phật: Chúng sinh chỉ vì không tin nhân quả, không hiểu luật nhân quả thuộc cõi vô hình, hoàn toàn chi phối cõi hữu hình. Bởi vậy, những kẻ làm điều bất lương bất nghĩa cuối cùng sẽ hối chẳng kịp. Bữa nay, thầy trò mình tới phỏng vấn một kẻ chuyên làm điều bất nhân ác đức, âm dương tuy cách biệt hai đường, song thân nhân cũng không tránh khỏi đọa đày thống khổ.

    Thái Sinh: Lời dạy của ân sư quả là có cầu cũng khó được, hi vọng những kẻ làm điều ác thấy gương đó kinh sợ mà thức tâm.

    Tế Phật: Mau lên đài sen, chúng ta chuẩn bị khởi hành.

    Thái Sinh: Thưa con đã sửa soạn xong, mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Đã tới nơi, trò ngoan mở mắt ra.

    Thái Sinh: Phía trước gia đình này âm khí quá nặng nề, khiến cảm thấy kinh hãi không rõ nguyên nhân tại sao?

    Tế Phật: Trong chương sách Thái Thượng Cảm Ứng có nói: “Thiện ác quả báo như bóng theo hình” (Thiện ác chi báo như ảnh tùy hình). Long mạch nhà này bị một lớp âm khí dày đặc bao phủ, đó là hậu quả của việc làm ác đức nghiệp báo.

    Thái Sinh: A thì nguyên nhân là như vậy, kính xin ân sư chỉ dạy thêm để được rõ gia đình này đã phạm vào những tội ác nào?

    Tế Phật: Được, con hãy nhìn vị thanh niên đang ngồi hút thuốc trên sô-pha kia, trước đây ít năm vì ham mê bài bạc nên đã buôn bán gian lận, sau đó lại còn lòng ma dạ quỷ, lập hội thâu tiền rồi bỏ trốn, tưởng rằng quỷ thần không hay, nào ngờ chỉ trừ không làm mới không biết, nên mặc dù đã trốn về miền nam tìm nơi kín đáo ẩn mình song vẫn không tránh khỏi mắt phép của Tiên Phật theo dõi.

    Thái Sinh: Quả là thất đức, trước sau gia đình này cũng bị ác nghiệp quả báo.

    Tế Phật: Kẻ làm ác, chỉ có thể trốn lánh được một thời gian ngắn, chứ không thể thoát được cả đời, lại càng không tránh nổi kiếp sau, trò ngoan nhìn kĩ vị trung niên này sẽ thấy thần hồn điên đảo, vì hàng ngày say sưa trụy lạc, thân hình tiều tụy như xác ma, đời sống của con người sa đọa tới mức đó thì còn ý nghĩa gì?

    Thái Sinh: Thưa vâng, vị đó coi bộ thật là bất thường, tâm bị rối loạn, luôn hoang mang kinh hãi.

    Tế Phật: Tục ngữ có câu: “Tâm yên lí đạt” (Tâm an lí đắc) hàng đêm được ngủ ngon; còn: “Tâm không yên lí không đạt” (Tâm bất an lí bất đắc) đêm đêm thường mất ngủ. Hiện tại nguyên linh của vị đó đang bị luật nhân quả siêu hình trừng phạt đày đọa.

    Thái Sinh: Thưa đêm nay ân sư có hướng dẫn trò ngu dạo thăm âm phủ không?

    Tế Phật: Thật không ngờ kí ức của trò ngoan lại rất tốt như vậy, những chuyện nói trước đây còn nhớ rõ. Theo thầy thì bản Nhân Gian Du Kí này chính là bản Tam Giới Du Kí tức cuộc dạo thăm để ghi chép những sự việc của ba cõi Đất, Trời, Người.

    Thái Sinh: Thưa đa tạ tấm lòng ưu ái trò ngu của ân sư, vì nhờ đó mà trong cuộc du hành để viết sách Nhân Gian Du Kí trò ngoan lại có thể thăm khắp ba cõi, ơn này quả là ba kiếp mới có được.

    Tế Phật: A, thầy trò mình phải chuẩn bị mau, đã tới giờ khởi hành.

    Thái Sinh: Thưa ân sư con đã sửa soạn xong. (Đường xuống âm phủ, gió lạnh thổi ào ào, tiếng kêu than nghe não ruột, khiến chẳng ai dám mở mắt nhìn, lát sau Tế Phật và Thái Sinh đã tới khu bình dân).

    Tế Phật: Đã tới nơi, có thể xuống đài sen quan sát.

    Thái Sinh: Chốn này là nơi canh tác đồng ruộng, phía trước có hai lính coi ngục, đang dẫn một âm hồn lương thiện ra khỏi cửa lớn, chẳng rõ lí do tại sao?

    Tế Phật: Thời gian giam giữ âm hồn lương thiện tại khu bình dân này đã mãn, do đó lính coi ngục dẫn âm hồn này tới nơi khác để lo liệu tiếp.

    Thái Sinh: A thì ra nguyên nhân là như vậy, bữa nay được ân sư hướng dẫn tới đây con chẳng rõ phải phỏng vấn như thế nào đây?

    Tế Phật: Trước hết thầy trò mình phải vào bên trong đã rồi sau sẽ liệu.

    Tướng Quân Giữ Cửa: Thưa có phải đây là Phật Sống Tế Công không?

    Tế Phật: Đúng.

    Tướng Quân Giữ Cửa: Lạy chào ngài Tế Phật, con thật quả vô lễ, vô lễ! Bởi lẽ con mới được đổi tới khu này ít tháng nay, cho nên không nhận ra ngài, kính xin đại Phật xá tội.

    Tế Phật: Miễn lễ, bữa nay tôi hướng dẫn một vị phàm nhân lo việc viết sách tới đây để phỏng vấn, mong quý ngục giúp đỡ phương tiện cho.

    Tướng Quân Giữ Cửa: Thưa vâng, xin ngài nán đợi để con vào trình với trưởng khu. (Sau khi trình báo xong, thấy Tế Phật tới vội vã nghênh tiếp, không dám lơ là).

    Trưởng Khu: Ngài Tế Phật thân hành tới tệ khu trải biết bao cực khổ, thật là vinh hạnh vô cùng, tiếc rằng sự tiếp đãi không được chu toàn, kính xin ngài lượng thứ cho.

    Tế Phật: Xin Trưởng Khu chớ quá quan trọng, bữa nay tôi tình cờ tới đây là bởi tại viết sách. Tôi muốn được phỏng vấn lại quý khu bình dân để có bằng chứng khuyến thiện, mong Trưởng Khu giúp đỡ phương tiện để cho con cháu chuyên làm ác ở thế gian của một số âm hồn thấy rõ cảnh đày đọa tại đây.

    Trưởng Khu: Thưa vâng, kính mời Tế Phật cùng Thái Sinh vô trong đợi một chút. (Trưởng khu vội ra lệnh cho thuộc cấp lo liệu, chuẩn bị các tài liệu cùng áp giải các âm hồn tới. Tế Phật và Thái Sinh tiến vào nhà khách của Trưởng Khu được tiếp đãi nồng hậu, lính hầu dâng trà thơm trái ngọt, lát sau âm binh áp giải ba âm hồn tới).

    Trưởng Khu: Các âm hồn đã được áp giải tới, mời Tế Phật định liệu.

    Tế Phật: Trò ngoan, hãy phỏng vấn các âm hồn đó đi.

    Thái Sinh: Xin tuân lệnh, xin hỏi vị âm hồn lương thiện, cớ sao vị lại cúi đầu sợ hãi như vậy?

    Thiện Hồn: Thưa, nếu nói ra thì không biết bao nhiêu mà kể, tôi vốn đang tu luyện thần thức tại sở tu thiện, song năm qua vì con cái trên dương thế hấp thụ văn minh vật chất tây phương, tham tiền đến nỗi lén sang phim con heo, đem bán hoặc cho mướn kiếm lời, do đó đã khiến Minh Vương nổi giận bèn đày tôi xuống khu bình dân.

    Thái Sinh: À, thì ra nguyên nhân là như vậy, quả là đáng tiếc... Xin hỏi Trưởng Khu, con cái trên trần làm điều ác cũng ảnh hưởng tới âm phúc của cha mẹ há không công bằng sao?

    Trưởng Khu: Câu hỏi của Thái Sinh rất có lí, song phải biết rằng tình thân huyết nhục có liên hệ, tinh thần nòi giống có ràng buộc, âm dương tương quan, do đó “Một con thành đạo, cửu huyền thất tổ thảy đều được siêu thăng” (Nhất tử thành đạo, cửu huyền thất tổ tận siêu thăng). Nay lấy lẽ đó mà suy, đương nhiên “Một người làm ác, cửu huyền thất tổ đều bị xấu, bị nhục lây” (Nhất nhân tố ác, cửu huyền thất tổ đồng mong kì tu, đồng mong kì nhục). Ngoài lẽ đó ra, tội dâm là đầu muôn tội, vậy mà dám buôn bán loại phim dâm để kiếm lợi thì tội đó âm phủ chẳng thể tha thứ.

    Thái Sinh: Trưởng Khu nói rất đúng, thật là kì quái, người đời nay tại sao lại chẳng thể thanh tịnh thức tâm để tránh làm điều ác?

    Tế Phật: Này trò ngoan, con đã từng nằm mơ bao giờ chưa?

    Thái Sinh: Thưa có.

    Tế Phật: Vậy thì trong lúc đang nằm mơ con có thể biết được là con nằm mơ không?

    Thái Sinh: Không thể nào biết được, ngoại trừ khi đã tỉnh thức.

    Tế Phật: Đúng vậy, trong khi đang nằm mơ không thể hiểu rằng mình đang nằm mơ. Chúng sinh phàm trần ngày nay đang đi sâu vào con đường mê lầm, giống hệt kẻ nằm mơ vậy, cho mọi thứ đều thật, kì thực chỉ mặc một bộ áo bằng thịt mà thôi, tới khi bộ áo bằng thịt đó không còn sử dụng được nữa thì người phàm gọi là “chết”, Tiên Phật coi là “tỉnh ngủ”. Sự khác biệt giữa hai cảnh giới này là một đàng cõi Tiên Phật vô hình, một đàng là cõi hữu hình bị hình thể không gian trói buộc mà thôi. Do đó, người phàm thường nói: “Cảnh mộng là không” (Mộng cảnh giai không), Tiên Phật thường nói: “Cảnh đời là không” (Nhân sinh giai không) chẳng khác nhau.

    Thái Sinh: Ha ha, người đời chịu phận vinh nhục, được thua, muôn cảnh đều không.

    Tế Phật: Đúng vậy, thôi con mau phỏng vấn vị thiện hồn thứ hai đi.

    Thái Sinh: Thưa vâng... Xin hỏi vị đại đức nhìn dung nhan vị thật là hiền lương song cớ sao vị lại phải tới đây?

    Thiện Hồn: Tôi ngày trước tu đạo, chỉ vì tính cố chấp, tham lam tiền của lợi lộc, do đó công đức không đủ, cho nên không được về cõi trời, chỉ được ngụ tại sở tu thiện hưởng phúc lành, không ngờ ít năm trước đây, con trai ở chốn phàm gian say mê tửu sắc, làm tiêu tan cả sản nghiệp của tôi để lại, khi trắng tay lại còn cả gan lập hội thâu tiền được khoảng trăm vạn, nửa đêm lén ôm tiền trốn đi, chỉ một ý nghĩ sai lầm mà gây thành tội tày trời, do đó Minh Vương nổi giận, đuổi tôi ra khỏi sở tu thiện và đày xuống đây.

    Thái Sinh: Như vậy thì thực quả là đáng tiếc lắm thay.

    Trưởng Khu: Lập hội lừa người, lòng dạ gian trá khiến người khác bị cướp đoạt tiền bạc cùng khiến cho xã hội hoang mang, do đó phàm những kẻ phạm vào tội vờ lập hội để đoạt tiền đều bị Minh Vương nghiêm trị.

    Tế Phật: Trò ngoan hãy mau phỏng vấn vị thiện hồn thứ ba.

    Thái Sinh: Thưa vâng... Xin hỏi vị Thiện Hồn, cớ sao vị lại bị đày tại khu này?

    Thiện Hồn: Đứa con trai chó má của tôi vô cùng bất hiếu, không nghĩ tới ơn dưỡng dục, đã làm thuốc giả bán cho người, khiến người bệnh không biết mua về uống, không những bệnh không thuyên giảm mà còn bị nặng thêm. Vì tội ác của thứ con chó má đã gây nên khiến Minh Vương nổi giận đày tôi tới khu này.

    Thái Sinh: Chế thuốc giả bán cho người, hiện thời quả không thiếu.

    Tế Phật: Bữa nay thời giờ đã trễ, trò ngoan chuẩn bị trở lại Thánh Hiền Đường.

    Trưởng Khu: Lệnh cho các viên quan hàng ngũ chỉnh tề đưa tiễn. (Thái Sinh chào từ biệt Trưởng Khu cùng các thiện hồn).

    Tế Phật: Trò ngoan mau lên đài sen, chúng ta trở lại Thánh Hiền Đường.

    Thái Sinh: Thưa con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Thái Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 3:37 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    January 30th 2010, 5:38 pm
  • HỒI MƯỜI LĂM

    THÁI SINH HỎI ĐẠO, CÁC ĐẠO THÔNG SUỐT

    TẾ PHẬT HOẰNG PHÁP, CÁC PHÁP SÁNG TỎ

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 26 tháng 2 năm Nhâm Tuất (1982)


    Thơ

    Tôn giáo bố đạo hóa nhân quần
    Vạn giáo đồng tông cộng canh vân
    Tâm pháp diệu truyền không vô tướng
    Khế hợp chân cơ chủng thượng căn.

    Dịch

    Đạo ban giáo lí khắp muôn nơi
    Các phái cùng nhau gắng đắp bồi
    Diệu pháp tâm truyền không sắc tướng
    Thiên cơ hòa hợp hạt đâm chồi.

    Tế Phật: Nhân Gian Du Kí đã noi theo ý nghĩa của lẽ đạo, mở rộng tâm bác ái, phát huy các phần chính yếu của mọi tôn giáo, nhờ truyền giáo đạt giáo hóa, do giáo hóa đạt giáo hóa, do đạo hóa đạt chân hành, do chân hành đạt chân tu. Nhờ sự chân tu tâm lượng rộng mở, đạt tới thành quả phổ hóa chân chính, đó là thể hiện toàn bộ đạo lớn, còn ngược lại chỉ là bàn dông tán dài mà thôi.

    Thái Sinh: Thưa ân sư dạy rất phải, đại đạo chí công, đại đạo vô tư.

    Tế Phật: Bữa nay dùng phương thức viết sách, sẽ đem đạo luận đạo, đem tâm ứng tâm, để khảo về trí tuệ cùng sức học của trò ngoan.

    Thái Sinh: Bữa nay ân sư đột nhiên khảo sát trò ngu, trò ngu sợ rằng tâm pháp còn kém cỏi sẽ khiến ân sư phiền lòng thì thật là chẳng tốt chẳng lành.

    Tế Phật: Dùng tâm pháp luận đạo, há lại đem lòng phân biệt giữa thầy với trò sao, còn nếu như không thực hành cách này ắt là trò ngoan khó có thể phát huy trí tuệ siêu diệu tiềm tàng trong nội thức, và biết đâu kiếp này ta là thầy của trò ngoan, nhưng muôn ngàn kiếp trước trò ngoan chẳng đã từng là thầy ta, hơn nữa kẻ giác ngộ là thầy, kẻ mê lầm là trò. Tôn chỉ của tâm pháp bữa nay là phá chấp.

    Thái Sinh: Thưa ân sư quả nhiên là như vậy, song nếu như có điểm nào thất lễ cùng ân sư, kính xin ân sư tha tội cho.

    Tế Phật: Phật vốn không giận, không trách, há lại còn bắt lỗi sao.

    Thái Sinh: Thưa phải, thưa phải. Cám ơn ân sư đã ban lời chỉ giáo, kính xin ân sư răn dạy tiếp.

    Tế Phật: Thế nào gọi là “Đạo”.

    Thái Sinh: Đức Lão Tử dạy rằng: “Đạo lớn vô hình, sinh đẻ nuôi nấng trời đất; đạo lớn vô tình, xoay chuyển mặt trời mặt trăng; đạo lớn vô danh, nuôi dưỡng muôn loài, ta không biết gọi tên là gì, nên miễn cưỡng gọi là “Đạo” (Đại đạo vô hình, sinh dục thiên địa; đại đạo vô tình vận hành nhật nguyệt; đại đạo vô danh, trưởng dưỡng vạn vật, ngô bất tri kì danh, cưỡng danh viết: “Đạo”).

    Tế Phật: Tên của trò ngoan là gì?

    Thái Sinh: Thưa là Thái Sinh.

    Tế Phật: Không có tên tại sao còn gọi là Thái Sinh?

    Thái Sinh: Thưa ân sư bởi vì hậu thiên tức là cõi hữu có phân biệt, có danh hiệu do đó mới có tên gọi Thái Sinh. Tiên thiên tức cõi vô nên vô danh vô ngôn, vô hình, vô tướng do đó mới đơn giản gọi là: “Đạo”, miễn cưỡng gọi là “đạo” còn vốn không có cái tên gọi là “đạo”. Bởi lẽ đó tên gọi Thái Sinh bữa nay cũng là tên là họ miễn cưỡng, trò ngu vốn không tên không họ do một khí tiên thiên hóa thành.

    Tế Phật: Trò ngoan thực đã biết dùng việc một cách thức thần.

    Thái Sinh: Thức thần từ đâu tới, nguyên thần tới từ đâu, dùng việc thức thần ban đạo có lí, cũng là nguyên thần; nguyên thần dùng việc, nói đạo có lí, cũng là thức thần.

    Tế Phật: Hiện tại trò ngoan đứng ở phương nào?

    Thái Sinh: Thưa con không rõ là tại phương nào?

    Tế Phật: Tại sao lại không biết phương hướng?

    Thái Sinh: Hư không rộng lớn vô cùng, làm sao rõ được phương hướng, kẻ mê mong được sống bốn phương, kẻ giác ngộ cầu được “tự tính tây phương”.

    Tế Phật: Hiện tại người đứng trước mặt trò ngoan là ai?

    Thái Sinh: Thưa chẳng có ai.

    Tế Phật: Tại sao lại chẳng có?

    Thái Sinh: Thưa Phật dạy: “Toàn thể pháp hữu vi, như mộng ảo, như bọt nước, như giọt sương, như ánh chớp, phải coi tất cả là như vậy” (Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng ảo, như bào ảnh, như lộ diệc như điện, ưng tác như thị quan) do đó mà chẳng có.

    Tế Phật: Dĩ nhiên là chẳng có, chết chẳng có, muôn duyên đều giả, muôn sự đều không, há phải tu đạo?

    Thái Sinh: Hư không có một cách cao siêu, hư vô tồn tại một cách diệu kì, cái thanh bay lên, cái trược rớt xuống, cái thanh thành Phật, thành Tiên, thành Thần, thành Thánh; cái trược rớt xuống mắc vòng nhân quả luân hồi hấp dẫn, trói buộc nên thành người, thành vật, thành quỷ, nhân duyên tự mời gọi, nhân quả tự kết liễu. Do đó không mà chẳng không, tên gọi là thực không (chân không); thực không chẳng không, tên là thực tướng, thực tướng không tướng, bản thân nhiều oan nghiệt, sự mê muội bao trùm, bản tính bị lợi dục che phủ, trừ khử vật dục tham vọng, thấy được tất cả sự chân thiện mới rõ được cái sự quý giá của đại đạo ở tại đâu, mắt kẻ mê nhìn gần, tham lam mưu chiếm đoạt của cải lợi lộc trước mắt, tự đắm chìm biển khổ oan nghiệt, tự đày đọa luân hồi.

    Tế Phật: Thầy tặng thơ cho con, con hãy mau tu đạo.

    Thái Sinh: Thầy ban cho con mười bài thơ, song con không thấy cần thiết, bởi lẽ bản tính đã không chấp, thì thơ cũng không còn tác dụng. Cho nên, kẻ giác ngộ tự độ mình, kẻ mê thầy độ, kẻ mê cần thầy ban thơ để trợ đạo, kẻ mê bị động, kẻ giác tự động; kẻ mê vĩnh viễn là chúng sinh, không thể thành đạo, kẻ giác tu hành có thể thành đạo. Kẻ mê lấy mê nhập mê, lấy mê độ mê, cho mình là lớn, cho mình là cao; kẻ giác dùng lí giúp đạo, dùng lí hóa người, tự cho mình là nhỏ, là thấp. Kẻ cao chẳng cao, kẻ thấp chẳng thấp, kẻ lớn chẳng lớn, kẻ nhỏ chẳng nhỏ, kẻ lớn tự mê, kẻ nhỏ chẳng mê.

    Tế Phật: Hãy mau đem tiền của con ra bố thí hết đi.

    Thái Sinh: Hiện tại con đã đem hết tiền của ra rồi, công đức tuy quá lớn lao, có lúc thấy như giương cung bắn tên lên trời, vì không rõ chân lí, cuối cùng sẽ bị rơi rớt. Tiên Phật cần tâm của con chứ không cần tiền của con, phúc đức khác với công đức là ở điểm đó. Kẻ tu đạo cần phải có tâm đạo vĩnh cửu, chăm sóc thể xác, thành tâm bố thí, thành tâm lo cho đạo, tu tâm sửa tính, bỏ tật se sua, cần kiệm chăm sóc gia đình, dùng tiền của chúng sinh lo việc cho chúng sinh, lại còn phải thành tâm bố thí giúp đạo, phải tu cả tính lẫn mệnh mới gọi được là đầy đủ vậy.

    Tế Phật: Con có cần thầy giảng về bến mê không?

    Thái Sinh: Thưa, bến mê không cân chỉ, là đạo ắt tiến, không phải đạo ắt lùi; là đạo ắt giúp, không phải đạo không giúp; là ngay ắt theo, không ngay không theo; là lí ắt đọc, phi lí không đọc. Bởi vậy bến mê không cần hướng dẫn, chỉ những kẻ mê lầm mới cần dạy bảo.

    Tế Phật: Con có cần thầy giảng giải về nhân quả không?

    Thái Sinh: Thưa nhân quả cũng không cần giảng giải, kẻ đời này nhận là quả; kiếp này tạo là nhân. Bởi vậy nhân quả hoàn toàn do mình rõ, há phải nhờ người khác giảng giải.

    Tế Phật: Trò ngoan có cần thấy rõ sự hiển hóa của ta không?

    Thái Sinh: Ha ha, tu đạo không cần hiển hóa, hình tướng đều là không, há cần phải hiển hóa, chúng sinh tâm mê, nên cầu hiển hóa, sự cầu này là cầu mê chẳng phải cầu đạo. Tiên Phật tuy có hiển hóa, chịu biết bao khổ cực mới dẫn dắt nổi những kẻ mê lầm vào đường giác ngộ, chẳng phải dẫn mê vào mê.

    Tế Phật: Nếu nói như vậy thì thế nào là đốn ngộ?

    Thái Sinh: Đốn ngộ là khai mở tính Phật nguồn cội, giác ngộ được: “Bồ đề vốn không cây, gương sáng cũng không đài, mọi vật vốn đã không, lấy đâu nhuốm bụi trần” (Bồ đề bản vô thụ, minh kính diệu phi đài, bản lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai?).

    Tế Phật: Thế nào gọi là tùy người ban pháp?

    Thái Sinh: Sự giác ngộ của chúng sinh có nhiều trình độ, nhiều hoàn cảnh, chân đạo chỉ có một song lí đạo lại nhiều, nên cần phải tùy căn cơ mà truyền pháp lí mới tránh khỏi sự công kích, phỉ báng cùng đố kị.

    Tế Phật: Ngày nay trò ngoan vì trời mà ra sức gắng gỏi rất là khổ cực.

    Thái Sinh: Đã có tâm đại từ bi thì không còn đau khổ (Đại từ vô thống, đại bi vô khổ). Người đời tham tiền mê sắc, tự gieo nhân khổ nên lãnh quả khổ.

    Tế Phật: Ha ha, ngày nay có được Thái Sinh hoằng pháp, đạo Thánh có thể chấn hưng vậy.

    Thái Sinh: Thưa, chẳng thể chấn hưng, chẳng thể chấn hưng, chúng sinh tự tu tự độ, ý trời xử sự tự nhiên, cửa Thánh lúc này lại thấu triệt lớn, giác ngộ lớn, chẳng thể lại mê lầm.

    Tế Phật: Bữa nay tham khảo tới đây, thành tích là “không”.

    Thái Sinh: “Không” đại biểu “viên mãn” cũng đại biểu “vô”, không ở chính giữa viên mãn và vô, do đó tu đạo phải nắm giữ chữ “trung” vì có ở chính giữa mới thông suốt được tất cả.

    Tế Phật: Mi chỉ khéo già mồm, cắn răng co lưỡi lại.

    Thái Sinh: A, ân sư động loạn.

    Tế Phật: Chính mi loạn động.

    Thái Sinh: Ha ha, trò ngu chịu thua.

    Phụ chú :

    Phật vốn không sân, chỉ thử khảo sát định lực công phu của Thái Sinh mà thôi, do đó đã cố ý nói một câu nghe chói tai để thử Thái Sinh mà Thái Sinh lại cho là Tế Phật mất bình tĩnh, nổi cơn tức giận, cho nên Tế Phật mới bảo Thái Sinh là tâm còn động, bởi vậy công phu hàm dưỡng, công trình định thần của kẻ tu đạo vô cùng quan trọng, nên mới có bài kệ khuyên giải như sau :

    Đại đạo truyền thiên hạ
    Thiên sầu nhất chỉ khai
    Hoan nhan vô nễ ngã
    Các cá diện Như Lai.

    Đạo lớn truyền thiên hạ
    Muôn sầu tan biến ngay
    Ngàn vui không giới hạn
    Khắp chốn thấy Như Lai.

    Tế Phật: Ha ha, trò ngoan, trò ngoan, kẻ sinh sau quả là đáng sợ, thế mới biết người sinh trước chẳng bằng kẻ sinh sau. Hiện tại đã về tới nơi đặt cối giã của con,

    Thái Sinh: Lại phải bắt đầu giã gạo.

    Tế Phật: Chẳng phải giã gạo mà là chà cát.

    Thái Sinh: Đúng đúng, phò đàn cơ, phò đàn cơ. (Lúc này Tế Phật muốn Thái Sinh trở về với bổn tính nguyên lai để lãnh nhiệm vụ phò đàn cơ thay trời hoằng dương đạo pháp, tạm ngưng dùng tâm pháp luận đạo, còn sự phân biệt thấp cao là để giữ lễ thầy trò).

    Tế Phật: Bữa nay thầy trò mình diễn được màn tuồng hay ho chưa từng có.

    Thái Sinh: Diễn thì hay mà đạo môn tâm pháp chẳng thông thì cũng giống như đọc mà chẳng hiểu.

    Tế Phật: Đó là lẽ đương nhiên, mọi người đều phải tự giác ngộ, kể từ hồi thứ năm trong sách Nhân Gian Du Kí đến hồi này, trò ngoan đã được tôi luyện rất nhiều.

    Thái Sinh: Quả đúng như vậy, do đó trò ngu phải ngưng sự bỡn cợt, nên có ý định thay đổi cách nói để có thể giúp ích khắp ba cõi.

    Tế Phật: Chớ ngại, cách nói này có người khi nghe cảm như được ống thuốc tiên cùng nước cam lộ, có người cảm thấy phải ngậm đắng nuốt cay, khổ đau không nói hết, có kẻ mặt mày choáng váng, mắt hoa, mỗi người một căn cơ khác nhau nên sự lãnh hội chẳng giống nhau, sự tri giải, kiến giải khác nhau, kẻ đã giác ngộ được thì không phỉ báng, kẻ còn u mê chưa thức tỉnh thì lớn tiếng thóa mạ.

    Thái Sinh: Hi vọng các tín hữu nơi đàn cơ lãnh hội được đầy đủ, còn không người phổ biến tạp chí Thánh Hiền há chẳng uổng công phụng sự lắm ư? Hi vọng người thông hiểu giữ vững niềm tin, ra sức phát huy đạo giáo, thay trời hoằng pháp, kẻ chưa thông suốt chăm lo học đạo được tinh tiến, để đường đạo ngày một mở rộng thêm.

    Tế Phật: Nhưng cũng phải là người có tâm học đạo, bỏ được tâm tham lợi u tối mới thực hiện nổi công tác phổ hóa.

    Thái Sinh: Thưa đúng như vậy, song nguyện kẻ mê giác ngộ, chúng sinh lo tu, thương sinh thức tỉnh.

    Tế Phật: Con nói rất đúng, ngày nay các môn phái đạo giáo rất nhiều, người đời tu theo bất cứ pháp ngôn nào ta đều đồng ý, song vàng thật ít người biết, còn vàng giả lắm kẻ dại giành. Ngày nay độc giả cùng tín hữu của Thánh Hiền Đường muốn được vàng thật hay vàng giả là đều do mình lựa, thế mới biết là Phật không đến không đi. Có thơ rằng: Thiên hồng hữu thủy thiên hồng nguyệt Vạn lí vô vân vạn lí thiên. Muôn hồng có nước muôn hồng nguyệt Vạn lí không mây vạn lí thiên. Ngày nay chư tín hữu Thánh Hiền Đường, nước biếc xanh, không mây khói, mặt trăng mặt trời sáng tỏ, thiên tâm xuất hiện, tâm ấn trao truyền mầu nhiệm, muôn pháp khế hợp, mỗi câu đều xét thấu chân lí, người đời tự giác ngộ, chẳng thể tranh giành. Ngày nay Thánh Hiền Đường do trò ngoan giúp sức ổn định nhân tâm, công lao chẳng thể mai một.

    Thái Sinh: Thưa, xin ân sư ban cho con công đó đi, hai tay con hiện trống trơn đây.

    Tế Phật: Thầy tặng con đạo hiệu tiên thiên là “Đạo Hoằng” có nghĩa là phát huy đạo pháp.

    Thái Sinh: Xin cảm tạ ân sư, Đạo Hoằng, Đạo Hoằng, ha ha thâm diệu, thâm diệu.

    Tế Phật: Đây là lần tâm pháp truyền chân, kể từ sách Nhân Gian Du Kí về sau có thể đem phương thức viết sách này ra áp dụng, để có thể sử dụng được tâm pháp, theo ý của thầy phải tùy nghi thích ứng, chớ có thi hành một cách bừa bãi, giống như tuy có thuốc bổ hay, nhưng không thể uống được thật nhiều vậy.

    Thái Sinh: Thưa lời dạy của ân sư, trò ngu xuẩn ngốc bữa nay làm sao có thể giải đáp thông suốt nổi?

    Tế Phật: Ha ha, trò biết, thầy biết, chẳng thể nói chẳng thể nói, thôi ta trở về, Thái Sinh hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 3:37 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    January 31st 2010, 12:16 pm
  • HỒI MƯỜI SÁU

    BÁC ÁI, NHÂN ÁI, TỪ BI, TRUNG TRINH CẢM ỨNG CÙNG MỘT LẼ

    ĐƯỜNG ĐẠO, CHÂN LÍ, SINH MỆNH, CHÂN TÂM LINH TÍNH KHÔNG HAI NGHĨA

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 3 tháng 3 năm Nhâm Tuất (1982)


    Thơ

    Bác ái tồn tâm cứu thế nhân
    Vạn giáo hợp nhất cộng canh tân
    Nễ ngã vô phân thi đại giáo
    Hung khâm khai hoài tảo dục sân.

    Dịch

    Bác ái dốc lòng cứu thế nhân
    Hợp cùng muôn giáo quyết canh tân
    Ta người như một lo công quả
    Mở rộng từ tâm quét dục sân.

    Tế Phật: Bữa nay là ngày lành tháng tốt vì là dịp lễ thánh đản của đức Thượng Đế Huyền Thiên, khắp chốn vui mừng tấp nập cử hành lễ chúc thọ đấng thiêng liêng. Ha ha, quả là chẳng thể bàn luận, bởi vì tập tục các nơi khác nhau, nên mê lầm và giác ngộ không giống nhau, do đó lễ chúc thọ cũng khác hẳn nhau; có nơi mổ heo mổ dê dâng cúng; có nơi thịt cá đầy bàn, có chốn chay tịnh chỉ bày hoa quả, bông trái, bánh mứt; có nơi chỉ đốt ba cây nhang; có chốn chỉ có tấm lòng thành dâng hiến. Nhìn những cảnh tượng này khiến ta hoa cả mắt. Tôn giáo ngày nay cũng giống như vậy, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau rất là phức tạp, lí thuyết mông lung rối rắm, ai cũng nói mình đúng khiến người nghe càng phân vân, chẳng rõ sẽ về đâu, đi tới đâu. Ha ha “lễ phân”, “giáo chia”, lễ đã phân biệt, giáo còn chia rẽ hơn, chỉ có đạo là chẳng xa lìa, bởi lẽ đạo huyền vi với tự tính hoàn toàn bình đẳng, nguyên lai diện mục giống nhau, do đó đạo vô cùng cao sâu, chẳng hẹp hòi mà lớn rộng, mọi người có thể hành, chẳng phải người nọ hành được, người kia không hành được, nơi này thích hợp, nơi khác không thích hợp, nếu quan niệm lệch lạc thì chẳng thể gọi là đạo lớn. Cho nên ngày nay mỗi tôn giáo phải quan niệm lại nghĩa đạo cho thật đúng đắn, không thể không đem tinh thần bác ái quảng đại ra làm gương mẫu cho mọi người noi theo, phải bổ ưu khuyết điểm mới có thể tạo dựng được ý nghĩa chân thật của đạo. Bữa nay thầy trò mình lại tới phỏng vấn một vị chân tu thuộc Tin Lành giáo.

    Thái Sinh: Thưa ân sư, việc này quả là khó khăn lắm.

    Tế Phật: Vị tu sĩ này cũng là đọc giả của tạp chí Thánh Hiền.

    Thái Sinh: Thưa, con chẳng thể ngờ được vị tu sĩ này lại có được tấm lòng quảng đại sẵn sàng dung nạp tôn giáo khác.

    Tế Phật: Tạp chí Thánh Hiền có nhiều đọc giả thuộc các tôn giáo khác điều đó chẳng có gì là lạ bởi lẽ lập trường phổ hóa của tạp chí Thánh Hiền tuyệt nhiên không cao ngạo, khoe khoang cùng huyền hoặc mê tín do đó mới có thể thích ứng với mọi nhân tâm thời mạt thế, phù hợp với đạo đại đồng thế giới. Kẻ sáng lẽ đạo, thấy đạo là lớn; kẻ không sáng lẽ đạo, coi đạo là nhỏ; kẻ sáng lẽ đạo coi đạo là chính; không sáng lẽ đạo coi đạo là tà.

    Thái Sinh: Thưa, lời dạy của ân sư vô cùng siêu diệu, đạo như đường đi, không có phân biệt được giàu sang với nghèo hèn, biên giới với chủng tộc, hiền với ngu, nhỏ với lớn, phải mọi người có thể thực hành, ứng dụng được mới có thể gọi là đạo lớn, giáo lớn.

    Tế Phật: Trò ngoan, con nói rất đúng, có như vậy các tôn giáo mới không chia rẽ, thế giới mới thoát nổi cái họa phân tranh, nhân loại mới được sống thái hòa.

    Thái Sinh: Nhân loại có thái bình, tôn giáo có thái hòa, thế giới có đại đồng mới thực là hoàn toàn tốt đẹp... Vả lại Thánh Hiền Đường vốn đã chủ trương tôn giáo hợp nhất, bữa nay lại phỏng vấn một tôn giáo khác, liệu có tránh khỏi một số giáo sĩ tôn giáo bạn bài xích cùng phỉ báng chăng?

    Tế Phật: Ngày nay tinh thần phổ hóa đạo pháp của Thánh Hiền Đường chí công vô tư, ra sức hòa giải tôn giáo xã hội đồng thời cũng là phương thức phổ biến đạo lí của thầy trò ta. Do đó mình càng phải phát triển đường lối giáo hóa đầy ý nghĩa chân thật này, khi sứ mệnh thành công tự vấn lương tâm hẳn là không thẹn, gắng hết sức làm. Nếu như có một tôn giáo nào đó vì ích kỉ hẹp hòi không chịu dễ dàng dung nạp kẻ khác tiến vào mảnh vườn tu của mình thì làm sao gọi là bác ái rộng lượng được, há chẳng khẩu thiện mà tâm chẳng thiện sao, để rồi chỉ tự chuốc lấy sự thấp hèn xấu xa mà thôi vậy. Thế mới hay, thời xưa vì sự giao thông không thuận tiện nước này nước kia cách trở, ngày nay việc đi lại hết sức dễ dàng, việc truyền thông tin tức càng mau chóng tiện lợi. Do đó chỉ tại một số nhà truyền giáo, truyền pháp không giúp đệ tử hấp thụ nổi, nên họ chẳng chịu tu trì, cũng có một số nhỏ mưu đồ lợi lộc, hoặc dẫn dụ kẻ khác sùng thượng mình nên mới xảy ra tình trạng trên. Như hiện nay nhà Phật thường dẫn chứng: “Tức tâm tức Phật” “Thị tâm thị Phật” (Tâm là Phật) thế mới biết mỗi người đều có Phật tính, chứ chẳng phải chỉ có những người khoác áo thầy tu mới có Phật tính, không phải chỉ những ai được mặc áo tôn giáo mới được kính nể, bởi vậy chỉ cần có quyết tâm tin tưởng mà thôi. Kẻ đã tiêu cực thì cho dù có được khoác áo tôn giáo đi nữa họ cũng vẫn cứ tiêu cực vì thế tôn giáo có hay ho sáng láng cách mấy cũng trở thành vô nghĩa. Tôn giáo được sáng lập vốn là để thương yêu loài người, nếu như từ bỏ tôn chỉ đó tức là đẩy tôn giáo tới chỗ mông lung huyền hoặc, chắc chắn, sẽ bị người ta chỉ trích và xa lìa, cho nên tôn giáo phải tay liền tay, tâm liền tâm, nếu như quan niệm ngoài ta ra đều là ngoại đạo; ngoài tôn giáo của ta ra không có tôn giáo nào bằng, thì càng khiến người ta hoài nghi mất tin tưởng, hoặc càng đẩy người ta tới chỗ u mê cuồng tín mà thôi. Do đó, đức Khổng có dạy rằng: “Đạo không hành, ta đã biết rõ! Kẻ trí thì quá mức, kẻ ngu thì chẳng tới (Đạo chi bất hành dã, ngô tri chi hĩ! Tri giả quá chi, ngu giả bất cập dã. Đạo chi bất minh dã, ngô tri chi hĩ! Hiền dã quá chi, ngu giả bất cập dã). Và ngài còn dạy thêm song cũng cùng một ý như trên: “Biết thì cho là biết, không biết thì cho là không biết” (Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri) có hiểu được như thế mới thật là biết vậy. Việc học đạo là việc bình thường của mọi người, chớ tự cho đạo giáo của mình là cao hơn hết, nếu như có mặc cảm tự tôn như thế thì quả là bệnh hoạn quá rồi, phản bội hẳn tinh thần nguyên thủy của đấng giáo chủ lúc sinh thời răn dạy.

    Thái Sinh: Thưa ân sư dạy rất đúng, tinh thần cứu đời của đức Ki-Tô quả là tấm gương vĩ đại để loài người noi theo, tin tưởng rằng những tín đồ giàu đức tin nơi Chúa thì đều có lòng vị tha bác ái vô biên.

    Tế Phật: Trò ngoan đã giải trừ được hết những chướng ngại trong tâm, giờ đây thầy trò ta hãy bắt đầu cuộc hành trình.

    Thái Sinh: Thưa ân sư, con đã sửa soạn xong, kính mời thầy lên đường.

    Tế Phật: Đã tới nơi, Thái Sinh hãy tạm nán lại trên đài sen, đợi thầy niệm chân ngôn để vị tu sĩ ở trong chung cư cao bốn tầng kia xuất hồn luận đạo với con.

    Thái Sinh: Thưa vâng, có phải là vị trung niên đang đọc sách trong phòng kia không?

    Tế Phật: Đúng đấy.

    Thái Sinh: Thưa bên cạnh vị đó con thấy có một vị phụ nữ cùng một đứa nhỏ đang ngồi xem truyền hình, con sợ rằng sẽ quấy rầy họ.

    Tế Phật: Chỉ khiến tu sĩ đó gục đầu trên bàn nghỉ ngơi ít phút mà thôi.

    Thái Sinh: Thưa hay lắm, con làm sao hiểu rõ được pháp lực của ân sư. (Sau khi Tế Phật niệm chân ngôn, vị tu sĩ đang ngồi đọc sách tự nhiên như kẻ ngái ngủ, miệng ngáp mấy cái, rồi đầu gục trên bàn, hồn vía mê đi)... Pháp lực của ân sư quả là vi diệu vô biên. (Lúc này vị tu sĩ đó giống hệt như đang ngủ say, nguyên linh nhẹ nhàng bay tới trước Tế Phật).

    Thiện Sĩ: Thưa, thánh linh phía trước từ đâu tới?

    Tế Phật: Tôi là Phật Sống Tế Công, bữa nay vì trước tác sách Nhân Gian Du Kí nên đã niệm chân ngôn để vị xuất hồn tới đây trong giây lát.

    Thiện Sĩ: A, thì ra nguyên nhân là Phật Sống Tế Công tới. Xin kính chào ngài.

    Tế Phật: Miễn lễ, hi vọng vị có thể đem hết sở học của mình ra đóng góp vào sách Nhân Gian Du Kí.

    Thiện Sĩ: Thưa hay lắm, song tiếc rằng công trình nghiên cứu Thánh kinh chưa thật sâu xa, nhưng cũng may là được thấm nhuần tinh thần cứu đời của Chúa Ki-Tô từ tấm bé, nên bữa nay nếu như được hỏi về căn bản giáo lí cũng xin tận tâm trình bày.

    Tế Phật: Hiện thời nguyên linh của con đang được thầy gia hộ, con hãy cứ bắt đầu cuộc vấn đạo đi.

    Thái Sinh: Xin vâng lệnh... Thưa, Ki-Tô giáo là nổi danh về tinh thần bác ái cứu đời, hẳn là ngài thấu tỏ hơn ai hết về vấn đề này, vậy kính xin ngài chỉ dạy thêm cho.

    Thiện Sĩ: Được lắm, Ki Tô giáo lấy tinh thần bác ái khoan dung làm tôn chỉ, tôi thiết nghĩ vấn đề quan trọng nhất của con người là đức tin và sự bình đẳng, nếu có được hai đức tính trên thì mọi sự bất bình đều giải quyết dễ dàng. Chỉ cần con người cảm ứng được với đấng thiêng liêng, tâm linh tự nhiên đạt tới trạng thái ấm áp yên vui, hết mọi phiền muộn khô héo. Sẽ không còn tính gian tham, giận dữ, khổ sở cúi đầu, mà tìm lại được cảnh đời hạnh phúc nơi vườn lạc thú sẵn có của chính mình, do đó sẵn sàng đem sinh mệnh ra dâng hiến không một mảy may nuối tiếc, để bảo vệ tín ngưỡng cho dù phải “tuẫn đạo” nghĩa là chết vì đạo mà lòng vẫn chẳng hề đau khổ oán hờn. Bởi vậy mỗi hơi thở người ta đều cảm nhận được trọn vẹn dũng khí thiêng liêng cùng đức tin cao cả. Bề trên luôn luôn muốn chúng ta dũng cảm đứng lên, ngọn lửa thiêng đốt cháy sinh mệnh sẽ thắp sáng cùng sưởi ấm cõi đời tối tăm giá lạnh. Đấng thiêng liêng còn muốn chúng ta đem trái tim hồng của mình ra tưới mát cho những tâm hồn đọa lạc héo úa, để họ cũng được an hưởng niềm vui như chúng ta. Cho nên, kẻ có tình yêu thương, có Phật tính trong tâm, sẽ chẳng quá vì cái ta riêng tư mà đánh mất hồn tính cùng thần trí, có thể cảm thông được với đấng trọn lành. Chớ vì ham hưởng thụ mà giam hãm tâm linh của mình bởi vậy đoạn đường tương lai sáng sủa ở ngay trước mắt chúng ta, đang chờ đón chúng ta, đợi chúng ta đi trên đó bằng đôi chân mạnh mẽ hiên ngang, bằng thần trí vững vàng, ắt hẳn chúng ta sẽ vĩnh viễn được ơn trên che chở. Tôi hi vọng những ai còn hoang mang hãy mau mở từng cánh cửa hoài nghi đang khép kín, để bước đi trên nẻo đường đức tin rộng mở, bao nhiêu tội lỗi trần gian sẽ được bề trên rửa sạch, bao nhiêu sai lầm sẽ được ơn trên tha thứ hết.

    Thái Sinh: Lời dạy của ngài rung động tơ tình cảm kích lòng người quá đỗi, như nguồn nước ấm chảy vào hồ băng giá, như làn ánh sáng tuôn tràn mặt đất, xua tan bóng tối cùng âm khí nặng nề, khói mây tan loãng. Tin rằng những lời chỉ dạy chân thành đích xác vừa rồi chắc chắn sẽ giúp mọi người cảm nhận được đức tin và dũng khí chân thật, khiến mọi kẻ tuyệt vọng đang thoi thóp được sống lại cuộc đời tin yêu hạnh phúc, giúp kẻ học đạo có được tinh thần can đảm hăng say đạt được mục đích mong cầu, cùng thiết tha phát huy sức mạnh thiêng liêng của tình thương và bác ái.

    Thiện Sĩ: Như quý đường đã trình bày trong Duyên Cách là chủ tịch của quý đường là ngài Khưu tiên sinh đã phải trải qua biết bao khó khăn gian khổ mới xây dựng nổi tòa Thánh Hiền Đường há chẳng phải là nhờ tinh thần can đảm vô biên hay sao.

    Thái Sinh: Quả đúng như vậy, trước đây mấy hôm tờ nhật báo Trung Hoa đã đăng tải để phổ biến và khích lệ.

    Thiện Sĩ: Thật đáng tiếc, tôi không theo dõi nhật báo Trung Hoa, nên không được rõ nội dung, song tôi cũng nghe nói vị xã trưởng của quý xã đã hoàn thành được trách nhiệm phục vụ xã hội với kết quả vô cùng tốt đẹp, công đức hết sức lớn lao, quả là khiến mọi người khâm phục. (Lúc này có một vị thiếu nhi, chạy tới bên Thiện Sĩ gọi “ba, ba” liền bị một phụ nữ trạc tuổi trung niên nắm lấy tay kéo lại và nói “Ba con mệt nhọc để ba nghỉ một chút, con không được tới quấy rầy”. Tế Phật đã muốn an thần định phách cho Thiện Sĩ song lại thôi).

    Thái Sinh: Tôi có nhận được một bức thư hỏi thăm sức khỏe của một người cháu ngoại, trong thư có một câu chúc lành là “Dĩ mã nội lợi”. Vậy xin hỏi ý nghĩa thế nào?

    Thiện Sĩ: “Dĩ mã nội lợi” có nghĩa là “Chúa ở cùng con”.

    Thái Sinh: Xin giải thích thêm.

    Thiện Sĩ: Bởi lẽ khi đức bà Maria hoài thai, nhà tiên tri dự đoán rằng bào thai đó là đức Thánh Linh giáng thế, là Chúa Ki-Tô cứu đời, nên họ tôn vinh ngài là “Dĩ mã nội lợi” nghĩa là Chúa ở cùng con, và cũng có thể hiểu là mọi người đều được ở cùng ngài, được chia sẻ Thánh Linh Thượng Đế, bởi vậy mọi người phải luôn luôn giữ gìn tâm linh sao cho được trọn lành để được ở chung cùng ngài mãi mãi.

    Thái Sinh: Thưa thì ra nguyên lai là như vậy... Bẩm còn trên biểu ngữ thường treo có thấy đề rằng: “Ta là đường đi, là chân lí, là sự sống; nếu tin ta ắt được cứu chuộc”. Vậy thưa có phải những lời Chúa dạy đó rất thâm sâu không? Những kẻ nông cạn chắc hẳn sẽ chẳng hiểu nổi.

    Thiện Sĩ: Cho ý nghĩa của câu nói đó thâm sâu là bởi đã đem sự khôn ngoan của lí trí ra phân tích.

    Thái Sinh: Thưa thật là mắc cở, song vì đã mạo muội viết sách để phổ truyền mà lại giảng lí đạo chẳng thông, vậy kính xin mục sư chỉ giáo.

    Thiện Sĩ: A ha, Thái Sinh chớ quá khiêm nhường.

    Thái Sinh: Thưa có phải Chúa nói: “Chỉ có một con đường” cũng giống như Phật nói: “Chẳng có hai pháp môn”; “tự ngã” chẳng có hai, mỗi người chỉ có một “chân ngã” (là tính Phật); noi theo “chân ngã” tức Phật tính thì đó cũng là “con đường” vậy.

    Thiện Sĩ: Ha ha, quả là siêu việt quả là huyền diệu, huyền diệu, thật chẳng thẹn với danh nghĩa Thánh Hiền Đường.

    Thái Sinh: Xin cảm tạ Chúa đã ban ân, nên mới được vinh hạnh lãnh hội được chân lí cao siêu... Thưa, còn câu Chúa dạy: “Phải thương yêu kẻ thù của ta” ý nghĩa thế nào?

    Thiện Sĩ: Thượng Đế dạy chúng ta: “Nếu bị người hành hạ con không được báo thù, giả sử có kẻ tát má này, con hãy chìa má kia cho họ. Có kẻ đang muốn đoạt áo con, con hãy khẳng khái cởi áo ra và đưa cho họ. Nếu như có kẻ bắt con phải đi một dặm đường con hãy vui vẻ đi hai dặm”.

    Thái Sinh: Dẫn chứng cũng đã tạm đủ, nếu như mọi người đều tuân theo lời dạy của Thượng Đế thì trần gian ắt hẳn sẽ trở thành thiên đàng. Các tôn giáo sẽ không phỉ báng, khinh khi nhau, lòng người cũng chẳng ghét bỏ nhau.

    Thiện Sĩ: Sở dĩ con người không làm theo lời Thượng Đế dạy là bởi lẽ vốn sống tại thiên đàng, song vì bị ngoại duyên dụ dỗ mê hoặc nên đã đem tấm nguyên linh của mình mà chôn vùi nơi địa ngục, cho nên con người phải nghĩ tới việc trở về sống bên Thượng Đế, vậy hãy mau xưng tội cùng cầu xin ơn trên tha thứ để linh hồn chóng được cứu chuộc.

    Thái Sinh: Thưa cách xưng tội cùng cầu xin ơn trên tha thứ phải theo hình thức như thế nào?

    Thiện Sĩ: Cầu xin ơn trên tha thứ không bó buộc phải theo đúng một hình thức lễ lạy nào nhất định hết, chỉ cần đem tấc dạ chí thành, cùng trái tim chất chứa những điều muốn nói thật tình dâng hiến Thượng Đế, thì đó cũng là một cách đảnh lễ bề trên rồi vậy. Thái Sinh: Thưa, nếu như muốn cầu xin thì lời nguyện sẽ như thế nào?

    Thiện Sĩ: Có thể đọc lời nguyện như sau: “Kính lạy đấng Cha Trời, xin tha thứ cho con, rửa sạch lỗi lầm của con, con sẽ dốc tâm thành kính theo Ngài, vượt bụi bặm tới nguồn ánh sáng, con sẽ đem tình thương cảm hóa tha nhân, đem lòng nhân cứu giúp người đời. Lạy Chúa, con nguyện cầu được mãi mãi gần ngài. A men”.

    Thái Sinh: Thưa hay lắm, ánh sáng của đức Thánh linh đã chiếu ngời tâm linh kẻ hèn ngu này. Song còn hai tiếng A men ý nghĩa ra sao?

    Thiện Sĩ: Có nghĩa là “Lòng xin nguyện như vậy”.

    Tế Phật: Hay lắm, đêm nay đã khuya, có lẽ nên kết thúc cuộc vấn đạo tại đây, hãy đợi tôi niệm chân ngôn để vị được an hồn định phách. (Lúc này gặp pháp lực của Tế Phật, Thiện Sĩ dần dần tỉnh thức). Tạm ngưng cuộc vân du, Thái Sinh mau lên đài sen.

    Thái Sinh: Thưa vâng, con đã sẵn sàng, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Thái Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 3:37 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    January 31st 2010, 7:17 pm
  • HỒI MƯỜI BẢY

    DO ĐÀN CƠ HỎI ĐÀN CƠ THUẬT RÕ LẼ TRỜI

    CÀNG CẦU LÍ CÀNG TỐI LÍ SỰ THẬT ĐÁNG BUỒN

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 23 tháng 3, năm Nhâm Tuất (1982)


    Thơ

    Giáo hóa chúng sinh như sơn đăng
    Ngũ phân nhiệt độ nam cứu chừng
    Đảo giá từ hàng phi nhị hí
    Nhất mạch vĩnh trường quý hữu hằng.

    Dịch

    Dạy người khó tựa vượt non cao
    Chẳng dám hi sinh cứu được nào
    Thuyền Phật há đem cho trẻ giỡn
    Thả dòng trường cửu quý là bao.

    Tế Phật: Kẻ truyền pháp, dạy đạo phải có đức tin tuyệt đối, cùng tinh thần phục vụ hi sinh cao độ, mới mong giúp hành giả ban pháp cứu đời thành công, còn nếu như thiếu lòng nhiệt thành thì làm sao có thể hướng dẫn được lòng người hướng về đường chính? Thậm chí có lắm kẻ hàng ngày lớn tiếng bàn về việc tu đạo, đóng cửa tạo xe, miệng nói tâm chẳng hành, lòng dạ hẹp hòi mở miệng nói đại từ bi, theo như ta thấy thì toàn là nói dối mà thôi, họ chẳng rõ tinh thần nhập cửa Thánh, tu Thánh đạo; hàng ngày họ chỉ cầu Thần Thánh ban thơ, chỉ rõ bến mê, hoặc hỏi về nhân quả, nếu tu đạo như vậy, đương nhiên một kẻ phàm phu, đối với tâm linh của mình hoàn toàn vô ích, bỏ hình bắt bóng, tự mình đi lạc đường để rồi lìa xa đạo lớn. Thế mới biết tu đạo là việc vĩnh cửu, nếu như lấy sự huyền hoặc mong lung mê hoặc lòng người đều là đạo nhất thời, chẳng phải đạo trường cửu. Ngày nay Thánh Hiền Đường giữ sứ mệnh phổ hóa thế đạo song thế gian biến đổi quá nhiều nên phải giải quyết vấn đề từ căn bản, để giúp mọi người tu tâm sửa tính có hiệu quả một cách mau lẹ, và sớm minh tâm kiến tính cùng tự tu tự độ. Do đó, việc hoằng dương đạo pháp của Thánh Hiền Đường hiện nay được Thánh Thần Tiên Phật tận tình giúp đỡ, chư vị không ngại khó khăn gian khổ quyết tâm nâng cao trí tuệ giác ngộ của người tu đạo. Nếu như kẻ tu đạo mà không tu, không giác ngộ thì đạo hóa ra vô ích, chỉ say mê cái vỏ bề ngoài, còn đối với việc tu đạo chỉ là giả dối mà thôi.

    Thái Sinh: Thưa, tấc lòng tha thiết của ân sư thật quả đúng, cách tu đạo ngày nay có kẻ thích tìm hiểu về cơ tạo hóa, có kẻ ưa hiển hóa, tới nổi đạo tràng ồn ào náo nhiệt như cảnh chợ đêm, theo như con nghĩ người ta sẽ mỉa mai là: “Khói nhang nghi ngút lắm đấy”.

    Tế Phật: Trò ngoan nhận xét rất đúng, song liệu con có thể biến đạo tràng thành cảnh chợ đêm như vậy không?

    Thái Sinh: Ha ha, là khách đạo chân tu sợ rằng sẽ như chim én, cố gắng bay cũng sẽ phí sức mà thôi.

    Tế Phật: Ha ha, quả nhiên trí tuệ trò ngoan sáng suốt, chúng ta không chỉ bàn luận suông, mà còn phải lo viết sách.

    Thái Sinh: Thưa vâng, con đã lên đài sen, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Đã tới nơi.

    Thái Sinh: Thưa ân sư, phía trước có một luồng hào quang, xung phá chín tầng trời, ô! Nguyên lai vì đàn cơ làm cách nào mà có thể hòa hợp một cách khéo đến như thế, trong Thánh Hiền Đường đang bày đàn cơ để phát huy đạo giáo. A, a! Bình thời trò ngu thường ngồi đàn cơ để nhiều người khác quan sát, bữa nay lại được quan sát người khác ngồi đàn cơ, người trên đàn trở thành kẻ dưới đàn thật là vi diệu.

    Tế Phật: Hiện tại có Thần Thánh tới nghênh tiếp, trò ngoan hãy mau chỉnh tề y phục, chẳng thể thất lễ.

    Thái Sinh: Xin tuân lệnh. (Lúc này vị phó chủ tịch Thánh Đường Huyền Thiên Thượng Đế đã tới nghênh tiếp).

    Phó Chủ Tịch: Hoan nghênh Tế Phật đã hướng dẫn Thái Sinh tới thăm, xin mời vào khách đường ngồi nghỉ.

    Tế Phật: Quý đường đang cầu đàn cơ giáng bút vô cùng bận rộn, xin đạo huynh chớ quá hậu lễ đối với chúng tôi như vậy.

    Phó Chủ Tịch: Nhưng thưa, Tế Phật và Thái Sinh vì viết sách Nhân Gian Du Kí, ngàn dặm bôn ba không quản gian lao, tinh thần hi sinh đó quả là đáng khâm phục bội phần, bữa nay lại hướng dẫn Thái Sinh tới đây quả là vinh hạnh cho tệ đường lắm lắm.

    Thái Sinh: Cảm tạ Ân Chủ đã quá thương, xong quả là đảm đương không nổi, trách nhiệm hiện tại của kẻ hậu sinh gian khổ thật chẳng thể nào tả hết, bữa nay được mục kích cách quý đường thực hiện đàn cơ mới rõ Thần Thánh độ chúng sinh còn gian khổ hơn.

    Phó Chủ Tịch: Ha ha, đó là trách nhiệm của bản đường.

    Tế Phật: Này trò ngoan, thầy trò mình hãy vào trong khách đường. (Lúc này Tế Phật cùng Thái Sinh tiến vào trong khách đường, được các Thần Thánh trong thánh đường nhiệt liệt hoan nghênh. Vị giữ việc ghi lễ trong Thánh Đường cũng vội vàng dâng hoa quả, trà ngon thiết đãi, Tế Phật cùng chư Thần Thánh hàn huyên vui vẻ với nhau).

    Thái Sinh: Được gặp tu sĩ của quý đường phần lớn là những vị cao niên tiền bối, đạo căn chắc hẳn là thâm hậu.

    Phó Chủ Tịch: Ha ha, chỉ là “lão tu sĩ”, chẳng phải là “lão tiền bối”.

    Thái Sinh: Ân chủ thật quá khiêm nhường, rõ ràng là “lão tiền bối” nhưng lại chỉ nhận là “lão tu sĩ”.

    Phó Chủ Tịch: Chư vị trẻ tuổi của Thánh Hiền Đường tích cực phổ biến đạo lí, đã lập được kì công mới được người đời khâm phục.

    Thái Sinh: Tuổi trẻ đạo căn nông, chẳng thể bằng tuổi cao đạo căn sâu vì kiên định trì chí tu đạo.

    Phó Chủ Tịch: Việc này chẳng thể bàn luận suông, nếu như Thái Sinh không tin, tôi xin mời đi thăm các đạo sinh của tệ đường để rõ sự tu hành của họ.

    Thái Sinh: Thưa, được như vậy thì hay quá, xin mời đi thăm. (Huyền Thiên Thượng Đế và Thái Sinh cùng cưỡi xe mây rời Thánh Đường).

    Phó Chủ Tịch: Thái Sinh, hãy nhìn vị trung niên bị chỉnh huấn, trước đây vị đó hết sức có đạo tâm, thường xuất tiền, xuất lực cúng dường cửa Thánh song năm ngoái đây sự nghiệp đổ vỡ vì bị khách hàng kí nhiều chi phiếu không tiền bảo chứng liền oán Thần oán Thánh không thiêng. Hiện tại không những không khuyến khích kẻ khác tu thiện, lại còn lớn tiếng tuyên bố: “Thời đại khoa học, không có Thần Thánh không có ma quỷ”. Ngay cả cha mẹ cũng không kính nể, tạo nghiệp quá nhiều.

    Thái Sinh: Ôi! Quả là chẳng minh lẽ đạo.

    Phó Chủ Tịch: Sở dĩ người tu đạo cầu hiển hóa, hoặc cầu huyền cơ, tâm tính phần lớn còn u mê không thể tự tu tự độ, bữa nay vị trung niên này chính là người không tự tin, tự lập được.

    Thái Sinh: Thưa ân chủ dạy rất phải.

    Phó Chủ Tịch: Thái Sinh thấy bữa nay khắp nơi ồn ào náo nhiệt có nhớ là lễ chúc mừng ai không?

    Thái Sinh: Chắc là lễ chúc mừng thánh đản Thánh Mẫu trên trời.

    Phó Chủ Tịch: Đúng, hiện nay người đời kính thờ Thánh Mẫu trên trời bằng cách không lấy hành động cứu đời chân thật mà lại lấy sự rượu thịt ê hề, ăn nhậu no nê để bày tỏ sự tôn kính quả sai một li đi một dặm, chẳng hiểu ngày nào chúng sinh mới tỉnh ngộ... (Phó chủ tịch Huyền Thiên Thượng Đế lại phát hiện ra một người).

    Phó Chủ Tịch: Vị trung niên bận đồ trắng ngồi trước bàn ăn có tính ham uống rượu, thân thể vốn không được khỏe mạnh hiện tại lại không biết tiết chế, một sớm hủy hoại thân tâm nên tới Thánh Hiền Đường cầu thuốc chữa.

    Thái Sinh: Ha ha, một mặt uống thuốc độc, một mặt uống thuốc giải, chẳng uống thuốc độc, chẳng cần thuốc giải.

    Phó Chủ Tịch: Chúng sinh ngu si, lao đầu xuống hố thẳm vực sâu, Thần Thánh cũng khó cứu nổi, trừ khi tự giác ngộ mới tránh khỏi mà thôi.

    Thái Sinh: Thưa quả đúng như vậy. (Phó Chủ Tịch lại hướng dẫn Thái Sinh tới thăm một khu khác).

    Phó Chủ Tịch: Phía trước là nhà của một giám đốc công ti thương mại, người này vốn giàu tâm đạo, song vì công việc làm ăn phát đạt, kiếm được quá nhiều tiền, liền lấy vợ bé mua nhà đẹp cho ở, lại còn thường lui tới cao lâu tửu điếm cùng vũ trường.

    Thái Sinh: Ha ha, tửu gia coi là đạo tràng, vũ trường xem như đàn cơ, có lẽ vị đó đang bị khảo đảo vì đạo chăng?

    Phó Chủ Tịch: Việc đó đều do cơ trời, chẳng thể tìm hiểu nổi, chỉ biết chắc chắn bị họa phước nhân quả báo ứng. Còn như hoàn cảnh vừa rồi, có thể là bị học bài, và nếu như vậy thì hẳn sẽ còn bị khảo đảo hoài hoài, nghịch cảnh khảo đảo, tiền của khảo đảo, một lời chẳng thể kể hết, song nếu như một kẻ tu đạo thì chỉ cần kiên định tín tâm, nhiệt thành tinh tiến không mỏi mệt, tự nhiên Thánh Thần sẽ ngầm giúp đỡ, nhất định sẽ phá bỏ được tất cả chướng ngại vật.

    Thái Sinh: Trong lúc bị trả bài, bị khảo đảo Thần Thánh có ngầm giúp đỡ không?

    Phó Chủ Tịch: Có chứ, song Thần Thánh khó cứu độ kẻ nghiệp quả quá nặng, kẻ tu đạo nếu như không phải là người chân thành thực hành pháp, thì Tiên Phật chẳng thể giúp đỡ nổi.

    Thái Sinh: Người tu đạo có tiền duyên nghiệp chướng chăng?

    Phó Chủ Tịch: Đúng vậy, người tu đạo, phần lớn bị chi phối nhân quả kiếp trước, nếu như ngày xưa gieo nhân tốt, như một kẻ chưa bước vào cửa đạo, chưa tu Thánh đạo, song ngẫu nhiên gặp cơ hội tốt như bắt gặp sách hay, gặp cửa đạo, gặp đàn cơ liền chợt cảm thấy ngay là mình đã được trở lại làng xưa chốn cũ vô cùng thân thiết. Còn nếu như không có nhân duyên tốt, tự nhiên nhân lực hướng về tu đạo rất yếu ớt, nên kinh Phật có nói: “Mưa trời tuy lớn, song cỏ không rễ chẳng thể thấm nhuần; pháp Phật tuy rộng mà khó độ kẻ vô duyên” (Thiên vũ tuy đại, bất nhuận vô căn chi thảo; Phật pháp tuy quảng, nan độ vô duyên chi nhân) đã chứng thực quá rõ ràng.

    Thái Sinh: Nhưng chúng sinh đều có Phật tính.

    Phó Chủ Tịch: Đúng vậy, song Phật tính của chúng sinh có kẻ rễ sâu, có kẻ rễ nông, vì thế nếu là người nghiệp chướng oan khiên nhiều thì rất khó được độ đời này.

    Thái Sinh: Thưa đích xác lắm.

    Phó Chủ Tịch: Thôi tạm ngưng cuộc đàm đạo tại đây, chúng ta chuẩn bị trở về.

    Thái Sinh: Thưa vâng. (Phó Chủ Tịch và Thái Sinh cùng cưỡi xe mây trở về... lúc này Thái Sinh đang xuống xe).

    Tế Phật: Cảm tưởng của trò ngoan lúc đi thăm viếng thế nào?

    Thái Sinh: A, tửu sắc tiền của khiến người ta tham, khiến trí u mê, che mờ bản tính, trở thành kẻ bất nhân vô nghĩa.

    Tế Phật: Sở dĩ trò ngoan hiện giờ nghèo, song nghèo mà vẫn biết đủ mới còn đạo tâm, nếu như không biết đủ tức là mê tâm. Hơn nữa lại là người được ngồi trên đàn cơ thì chắc chắn lúc bình thường phải có tiết tháo, không tự cao tự đại, bởi vì danh vọng, địa vị, tiền tài, tâm dục như sóng to biển lớn, luôn luôn muốn nhận chìm bản tính của người tu, cho nên trò ngoan phải luôn luôn bảo trì đức tính sẵn có đó.

    Thái Sinh: Thưa lời dạy của ân sư con xin ghi lòng tạc dạ trọn đời.

    Tế Phật: Hay, bữa nay tạm ngưng việc viết sách tại đây, thầy trò mình chuẩn bị trở lại Thánh Hiền Đường. (Tế Phật chào từ biệt, Chủ Tịch cùng Thần Thánh đưa tiễn, Tế Phật cùng Thái Sinh lên đài sen bay mau).

    Tế Phật: Đã về tới Thánh Hiền Đường, Thái Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 3:37 pm với 3 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    February 1st 2010, 6:23 pm
  • HỒI MƯỜI TÁM

    CHÍN ĐÁNH MƯỜI THUA, KHÔNG ĐÁNH KHÔNG THUA LÀ TỐT NHẤT

    SỬA TÍNH TU THÂN, GIỮ MÌNH CẨN THẬN ĐỂ PHÒNG NGỪA

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 6 tháng 4 năm Nhâm Tuất (1982)


    Thơ

    Tài bảo chi quý chú tính trung
    Mê trục ngoại vật chân nhân thường
    Luân hồi bất diệt tượng cực giới
    Tái hối khủng trì đạo nan phùng.

    Dịch

    Lòng tham tiền bạc mãi không nguôi
    Vật chất chạy theo tính mọi người
    Muôn kiếp luân hồi không thể dứt
    Hồi tâm chậm trễ đạo xa rời.

    Tế Phật: Của cải tiền bạc người người đều tham, người người đều tranh song chỉ là tham lam, tranh giành cái giả. Họ chẳng hề biết tới của cải châu báu thật có của chính mình ở tại trong tâm mới có thể tìm thấy và chiếm hữu nổi mà thôi. Người đời nay, của cải châu báu quý giá thật của chính mình không biết quý trọng nên dần dần đánh mất đi, để rồi lấy của cải châu báu giả là tạo thêm tội, mang thêm nghiệp, chịu trầm luân khổ hải, đã không hiểu biết, không giác ngộ mà còn lấy làm sung sướng hãnh diện. Ôi! Chúng sinh, chúng sinh, đợi tới phút nhắm mắt tắt hơi có đem bạc vàng tiền của ra cũng khó đổi được chân thân quý báu, có hối cũng chậm rồi. Do đó, lúc sống phải biết mở rộng cửa lòng tiếp nhận lời dạy của chư Tiên Thánh Phật, không được tự mãn là mình đã thông suốt lẽ trời, để rồi che mờ mất bản tính, tuệ căn, bỏ mất đạo lớn.

    Thái Sinh: Thưa lời dạy của ân sư, trò ngu tai nghe, lòng cảm kích vô biên, người đời nay tranh sống giành chết, chiếm đoạt lợi lộc, chỉ có kẻ giác ngộ vượt được sinh tử mới có thể sáng lẽ đạo mà hóa độ được chúng sinh thôi.

    Tế Phật: Do đó, kẻ mê tham tài tham vật, giành hưởng vinh hoa, há chẳng rõ kẻ bị nhiễm tính phù hoa, cuối cùng sẽ bị phù hoa làm cho điêu đứng khổ sở, người giác ngộ đổ mồ hôi, máu mủ để tẩy rửa tội lỗi của chúng sinh, cuối cùng rửa sạch tội mình, tự tính thanh tĩnh, tiêu dao cõi Phật. Hai bên khác nhau tại đó.

    Thái Sinh: Thật là chí lí, do đó chúng sinh cho tu đạo là khổ, là ngu; người giác ngộ cho chúng sinh không tu đạo là khổ, là ngu.

    Tế Phật: Trò ngoan nhận xét rất đúng, thôi thầy trò mình hãy bắt đầu cuộc dạo thăm cõi nhân gian.

    Thái Sinh: Thưa vâng, con đã lên đài sen, kính mời ân sư khởi hành.

    Tế Phật: Đã tới nơi.

    Thái Sinh: Phía trước là cả một vùng độc khí, nguyên do tại đó có sòng bài, ha ha, xin ân sư hướng dẫn con tới đó để con học đánh bài.

    Tế Phật: Thầy không tin rằng con sẽ học nổi.

    Thái Sinh: Xin ân sư chỉ dẫn cho con.

    Tế Phật: Ha ha, làm sao thầy có thể dạy con đánh bạc đánh bài nổi. Tục ngữ nói: “Mười đánh chín mất” song kì thực phải nói: “Chín đánh mười mất” mới chính xác, nghĩa là đánh bài đánh bạc cuối cùng chỉ có một kẻ thắng nên họ mới mở sòng bài, kẻ chứa bài chứa bạc, tuy được tiền được bạc song mất đạo đức, bị pháp luật bắt bớ tù đày. Do đó, chứ nghĩ đánh bài đánh bạc chỉ mất tiền, hay không đánh không mất, mà là mất luôn cả pháp bảo tốt lành.

    Thái Sinh: Ha ha, chẳng lạ gì chúng sinh xưng tụng ân sư là Phật Sống, không đánh không thua, đó là thuật thắng vô cùng cao minh. Huống nữa tiền bạc là tiền bất nghĩa, nên chỉ để hoang phí nơi chốn lầu xanh tửu điếm, do đó thất nhân, thất nghĩa, cuối cùng người và của đều mất cả hai.

    Tế Phật: Vậy con có muốn học hay không?

    Thái Sinh: Đương nhiên con không học.

    Tế Phật: Ha ha, con đã từng thắng bài rồi vậy.

    Thái Sinh: Ha ha, thầy dạy rất phải... Nhìn cảnh sòng bài lộng lẫy, có gái đẹp rót rượu, châm thuốc dâng cho khách, khách nhâm nhi hít hà sung sướng mê tơi, con bạc cứ vậy mà say sưa dốc túi, kẻ cầm cái lại luôn luôn mỉm cười vui vẻ mời mọc.

    Tế Phật: Kẻ đánh bài gian lận mỉm cười như vậy để cho người ta cảm tưởng y là kẻ hiền lành chân thật như hoa, không còn để ý đến mánh khóe xảo trá của hắn, song làm sao có thể so sánh nổi vẻ chân thật đẹp đẽ của hoa.

    Thái Sinh: Sự tỉ dụ của ân sư thật là siêu diệu, con nghĩ xã hội ngày nay suy đồi, án mạng cướp bóc ngày mỗi nhiều, sự kiện này có quan hệ gì tới việc đánh bài đánh bạc không?

    Tế Phật: Một người chỉ nghĩ tới việc cướp đoạt thì tàn nhẫn chẳng khác gì kẻ cầm dao giết cha mẹ.

    Thái Sinh: Thưa, như vậy nghĩa là thế nào?

    Tế Phật: Kẻ cướp đoạt phải lãnh hình phạt rất nặng ở cả cõi dương lẫn cõi âm, cha mẹ khi hay được đau đớn như bị dao cắt, sống không nổi.

    Thái Sinh: Thưa ân sư, quả đúng như vậy, nhưng tại sao người ta đã biết cái hại của sự bài bạc là như thế nào, mà người ta vẫn lao đầu vào để cuộc đời bị chôn vùi.

    Tế Phật: Nguyên nhân của sự đánh bài đánh bạc đều do lòng tham dục mà ra, tham mãi không chán đến nỗi trở thành kẻ tham lam vô liêm sỉ. Khi thiếu tiền, ban đầu ăn trộm tiền và đồ vật của người thân trong nhà, hoặc vay chằng vay bừa tiền của bè bạn, tính xấu đó cứ ngày một tăng thêm tới lúc cao như núi, chủ nợ đòi gắt, con nợ dần dần quẫn trí giống như tên đồ tể say máu súc vật, để rồi trở thành phạm tội tày trời.

    Thái Sinh: Quả là đáng sợ, lỗi nhỏ không tránh, tới lúc tội lớn khó cải, nên phải rất mực đề phòng, kẽ nứt không chít, để rồi nước càng rỉ càng lớn, trở thành đê vỡ gây nạn thủy tai, chẳng thể cứu vãn.

    Tế Phật: Người ta lúc nhỏ thường giống như trang giấy trắng, khi bị ô nhiễm uế tạp, những bậc làm cha làm mẹ phải mau tẩy trừ, có một số cha mẹ đã không chịu dạy dỗ uốn nắn con mình đàng hoàng, lại còn dung túng những tính hư tật xấu của chúng để đến nỗi gây ra nhiều tội ác. Đời nhà Thanh, có một kẻ bị kết án tử hình vì tội trộm cướp, lúc bị chém đầu, cố xin được uống một hớp sữa mẹ, lời yêu cầu được chấp thuận, song thật không thể tưởng tượng được là, tội phạm lại có thể cắn đứt đầu vú mẹ. Khi bị tra tấn để tìm hiểu lí do, tên cướp trả lời là: “Lúc còn nhỏ tôi có đi ăn trộm mang đồ vật về nhà, mẹ tôi biết song không những không can ngăn dạy dỗ tôi mà lại còn a tòng đem đồ đó giấu đi, gián tiếp khuyến khích tôi ngày càng đi sâu vào con đường tội lỗi”. Tên cướp nói xong, người mẹ khóc nức, những ai chứng kiến cảnh đó lúc bấy giờ đều đau đớn vô cùng.

    Thái Sinh: Quả là bất hạnh, song con thiết tưởng, nhiều thiếu niên hiện đang bắt đầu ham mê bài bạc, thì thân nhân hẳn là ước mong con mình sẽ sớm từ bỏ ham mê đó.

    Tế Phật: Đúng vậy, vị trung niên đang ngồi ở xó tường kia, theo như sổ số mệnh ghi thì đã có gia đình làm ăn khá giả, chỉ vì năm rồi giao du với bạn bè không cẩn thận, nên đã bị quyến rũ vào đường bài bạc, từ đó trở đi không thể bỏ được, cha mẹ thấy vậy lòng lo lắng khôn cùng, đứt ruột héo gan, vợ hiền trong nhà tha thiết ước mong chồng mình sớm hồi tâm đổi ý.

    Thái Sinh: Thưa pháp của ân sư vô cùng siêu diệu, tại sao không cứu kẻ đó.

    Tế Phật: Tự gây nghiệp phải tự giải nghiệp, chỉ có tự cứu mình mới được thôi, còn không tự cứu thì chẳng ai có thể cứu mình được, tu đạo cũng giống hệt như vậy, tự mình không tu làm sao thành đạo nổi, do đó người ta sau khi trả quả rồi mới có thể tỉnh ngộ nổi mà thôi. Những kẻ ngơ ngáo không nơi nương tựa kia đều bị ma lực mê hoặc nên mới như vậy, ta rất đỗi đau lòng thấy họ như thế.

    Thái Sinh: Thưa, nghiệp chướng quả báo có quan hệ mật thiết với nhau không?

    Tế Phật: Con nói về nhân quả báo ứng, song có nói bằng tiếng nói của trái tim không?

    Thái Sinh: Thưa có, giả dụ như kẻ uống rượu hút á phiện, một sớm phát giác thấy rằng mình vô cùng ham thích, kẻ ham thích đánh bạc cũng vậy, một sớm khám phá ra rằng mình vô cùng ham thích thì đó chẳng phải là nhân duyên đưa tới sao?

    Tế Phật: Trò ngoan nói rất có lí, linh cảm thiêng liêng thật là vi diệu, sở dĩ một kẻ nghĩ rằng biến đổi được tật nghiện của người như các tật tứ đổ tường, họ phải có công “định tĩnh” và “cách vật”, như Thần Tú nói: “Thân như cây bồ đề, tâm như đài gương sáng, luôn luôn cần lau chùi, chớ để bụi phủ mờ” (Thân như bồ đề thụ, tâm như minh kính đài, thời thời cần phất thức, vật sử nhạ trần ai). Đó là tâm tính kẻ bị nhiễm vật dục trước khi lo tu, bởi vậy phải luôn luôn lau chùi bụi trần mà mình bị nhiễm để cho tâm được trong trẻo sáng ngời. Còn Lục Tổ Huệ Năng, bản tính thanh tịnh, chẳng thể bị nhiễm thường sinh trí tuệ, nên nói: “Bồ đề vốn không cây, gương sáng cũng không đài, vốn chẳng có mảy may, lấy đâu nhiễm bụi trần” (Bồ đề bản vô thụ, minh kính diệc phi đài, bản lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai). Sở dĩ không bị nhiễm là “không mảy may” nên “vốn thanh tĩnh” do đó “không nhiễm trần”. Kẻ mắc chứng tham dục mới cần diệt chứng tham, cần công phu định tĩnh, kẻ không có lòng tham dục lại càng cần phải công phu định tĩnh nhiều hơn để chế phục tâm vọng niệm.

    Thái Sinh: Công phu định tĩnh để phòng ngừa, hậu họa có thể xảy ra, ví như những ai chưa từng ham bài bạc rượu chè hút sách, có gặp rượu ngon, gái đẹp, sòng bài cũng không mảy may ảnh hưởng.

    Tế Phật: Nhưng trong thế giới ống kính vạn hoa, giống như một cái ang bị nhiễm, ai có thể nhìn thấy sự trống không chẳng có “tửu, sắc, tài, khí, ái, ố, dục”? Giữ cho tâm không bị nhiễm trược, đương nhiên phải đạt tới bản tính thanh tịnh, song kẻ đạt tới tâm cảnh này quả là quá hiếm ngoại trừ số ít người đại trí, đại huệ còn thực khó hành nổi, ngộ nổi.

    Thái Sinh: Thưa ân sư quả đúng như vậy... Một số người ham mê tứ đổ tường hiện nay, con thiết nghĩ họ nên sớm trở về đường ngay, vì gia đình vì sự nghiệp, vì quốc gia hết lòng lo bổn phận.

    Tế Phật: Tiền của không thể giúp con người đạt được mọi thứ, chiếm hữu được tất cả, lại càng không thể ôm mang được hết, con người tuy phân biệt thấp cao, không có sự bình đẳng song tại nơi tâm linh sâu thẳm lại có một loại bình đẳng chân chính đó là: “Tự tính bình đẳng”, bởi vậy con người phải truy tầm bình đẳng, chẳng cần truy cầu ngoại vật, phải hướng vào nội tâm để lãnh hội sự bình đẳng của tâm linh, mới có thể đạt tới sự hạnh phúc cùng bình đẳng chân chính.

    Thái Sinh: Lời dạy của ân sư thể hiện đúng Phật pháp tam muội, người đời phải chú tâm thể hội, không được coi thường bỏ phế, tự cam chịu đọa lạc.

    Tế Phật: Phải lắm, đêm nay tạm ngưng viết sách tại đây, chuẩn bị lên đài sen trở lại Thánh Hiền Đường.

    Thái Sinh: Thưa con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Thái Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác .



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 3:38 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    February 2nd 2010, 5:31 pm
  • HỒI MƯỜI CHÍN

    LUẬN VỀ NGUYÊN LÍ BA KIẾP LUÂN HỒI

    CHỨNG ĐƯỢC NGUYÊN TẮC NHÂN QUẢ BÁO ỨNG

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 26 tháng 4 năm Nhâm Tuất (1982)


    Thơ

    Khoa kĩ phát đạt thần luận phi
    Hồ tác vong vi đa ngật khuy
    Nhân quả do lai minh minh báo
    Mạc thuyết mê tín tính mệnh nguy.

    Dịch

    Kĩ thuật cơ tâm thật bất lương
    Văn minh nguy hiểm biết đâu lường
    Nguyên nhân quả báo thường sâu kín
    Chớ sống dị đoan nghiệp khổ vương

    Tế Phật: Gần đây khoa học kĩ thuật dần dần phát đạt, do đó bọn gây nghiệp chuyên lớn tiếng hô hào những thuyết vô thần, tuyên truyền không tin về nhân quả. Song không thể vì người ta không tin nhân quả mà không có nhân quả báo ứng. Có một số kẻ làm ác bị báo ứng nhãn tiền, có một số kẻ làm ác lại ung dung sống ngoài vòng pháp luật, những kẻ làm ác đó, sở dĩ chưa bị báo ứng nhân quả ngay lập tức, là vì kiếp trước tu nhân tích đức, hoặc được hưởng phúc đức ông bà để lại, do đó không bị trừng phạt ngay. Nếu như không rõ lẽ này mà phủ nhận nhân quả, tiếp tục làm ác, thì làm sao tránh khỏi tai ương, đợi tới lúc bị nhân quả báo ứng, trừng phạt hẳn là chẳng thể thoát khỏi. Giống như kẻ giết người chỉ có thể tạm thời trốn lánh cảnh sát và pháp luật, song chẳng thể vĩnh viễn trốn khỏi sự ám ảnh của lương tâm trừng phạt. Bọn làm ác đại đa số tâm trí rối loạn, xung động nhất thời mà bản tính bị đánh mất, tuy nhiên có một số đang bị luật pháp giam cầm, một số đang sống khơi khơi ngoài vòng pháp luật, song kẻ sống ngoài vòng pháp luật chớ tưởng là người chẳng hay, quỷ chẳng rõ mà cố tình tái phạm, nếu như còn giữ ý niệm này, chắc chắn sẽ gặp cảnh vô cùng bi thương.

    Giờ thầy giảng cho con một chuyện cũ : Ngày xưa có một kẻ cường đạo gặp một vị hòa thượng tính cướp tiền, vị hòa thượng liền nhỏ lệ khiến tên cường đạo cười ha hả, nói: “Chẳng thể ngờ rằng được một kẻ xuất gia tu hành khi mất của lại có thể khóc được”. Khi đó vị hòa thượng nói với vẻ từ bi: “Đến ngay thân xác này tôi cũng chẳng hề quý trọng nữa là của cải, tôi sở dĩ khóc là bởi vì thương anh, chẳng rõ kiếp trước anh gieo nhân gì khiến kiếp này anh trở thành kẻ cướp, đã vậy ngày nay lại gieo nhân đại ác, tương lai hẳn là sẽ càng phải nhận quả ác báo ứng, do đó tôi không thể cầm lòng nên nhỏ lệ”, tên cướp nghe xong bàng hoàng tỉnh ngộ, từ đó cải tà quy chánh.

    Thái Sinh: Thưa ân sư nói rất phải, xong có kẻ hỏi con rằng, làm việc thiện kiếp này chưa được thiện báo, bọn làm ác chưa thấy ác báo, thưa xin ân sư giảng giải cho con được thấu triệt.

    Tế Phật: Trò ngoan hỏi rất đúng, nhân quả có thể chia ra làm hai loại là: “nhân quả ẩn tàng” và “nhân quả hiển lộ”. Nhân quả ẩn tàng là vì chúng sinh mắt bị che mờ nên phần đông không thấy được vì quan hệ của căn tính bị đắm chìm. Cho nên ngoài những bậc đại trí tuệ, chẳng thể liễu ngộ, tu tâm dưỡng tính, bồi đắp công đức, ẩn tàng trở thành hiển hóa, đạt được sự cải tạo tính mệnh khí bẩm, thoát thai hoán cốt, căn tính ẩn tàng của sinh mệnh mới này có thể chú định trăm năm, ngàn năm, vạn năm trong mọi hoàn cảnh sinh hoạt, (tiêu dao cõi thiên đàng) do đó căn tính nhân quả quyết định vậy, như kẻ trồng đậu được đậu, trồng dưa được dưa, trồng đậu chẳng thể được dưa, đó là hạnh âm chất, nhân quả của sự âm thầm hành thiền. Nhân quả của tính nông hiển minh cũng bất đồng, người ta thường thường trong sự sinh hoạt hàng ngày cũng thể nghiệm được về phương diện thiện, như ngày nay mình cứu giúp kẻ khác, mình cũng được kẻ khác tôn kính, được người ủng hộ, đó cũng là phúc đức. Về phương diện ác, như ngày nay đánh người, giết người, ngày khác mình sẽ bị đánh bị giết. Ngày nay làm ác giết chóc, chẳng tôn trọng luật pháp quốc gia, ngày khác sẽ bị tai nạn lao tù. Ngày nay giận dữ phẫn nộ, ngày khác ắt thân tâm sẽ bị đau đớn. Thiên Cảm Ứng trong sách Thái Thượng có nói: “Tâm khởi từ thiện, thiện tuy chưa làm, song cát thần (thân tốt) đã theo; tâm khởi từ ác, ác tuy chưa làm, hung thần đã theo. Cho nên người tốt nói thiện, nhìn thiện, hành thiện, một ngày có ba thiện, ba năm trời ắt được giáng phúc; kẻ bất thiện nói ác, nhìn ác, làm ác, mỗi ngày có ba ác, ba năm trời ắt bị giáng họa. Cổ Đức có nói: ‘Làm thiện ắt sáng sủa, làm thiện không sáng sủa, tổ tiên ắt có dư tai ương, tai ương hết ắt sáng sủa; làm ác gặp tai ương, làm ác không gặp tai ương, tổ tiên ắt có dư đức, đức hết ắt gặp tai ương’ ”.

    Thái Sinh: Thưa, theo như lời dạy của ân sư, báo ứng nhân quả chỉ là vấn đề thời gian tính?

    Tế Phật: Đúng vậy, chỉ là tới sớm hay trễ mà thôi, như trồng cây tùng phải mất mấy chục năm mới nở hoa kết trái, trồng lúa chỉ cần ít tháng là có thể gặt hái, trồng rau chỉ ít chục ngày là có thể thu hoạch. Vì thời gian gieo giống khác nhau, có người mấy chục ngày, có người ít tháng ít năm mà quả báo đã đến sớm hay trễ. Như chư đệ tử Thánh Hiền Đường cùng chư vị ấn tống Thánh Hiền tạp chí công đức thật là vô lượng, đã vì sứ mệnh phổ hóa đại đạo, không kể tư lợi hi sinh nhẫn nhục, trồng được nhân thiện lớn lao, song loại nhân thiện lớn lao này đang ở giai đoạn manh nha, quả lại cũng do nhân duyên kiếp trước mà đạt thành quả ở kiếp này, do đó người hành thiện dần dần tiêu được nghiệp là nhờ công quả. Như vậy nếu kẻ phàm phu tục tử làm thiện mà đòi được thiện báo ngay thì quả là chưa ngộ đạo lớn tinh vi. Thế mới biết việc người tu đạo tương lai sẽ công thành nghiệp giải, chứng quả thành chân, kẻ phàm phu tục tử chẳng thể nào hiểu nổi.

    Thái Sinh: Thưa đúng vậy, lời dạy của ân sư, người tu đạo ở trên đời đương nhiên phải thể hội thâm sâu, chẳng thể lơ là nhìn bề ngoài, nếu thấy người khác chân thành tu đạo, tự mình mới đi được một bước thì khi thấy người tu đạo thoái chí ắt là mình cũng thoái chí theo họ. Càng có những kẻ mê muội, nếu nhìn người khác hành thiện mà được thiện báo, mình mới thực hành đạo thiện, nếu nhìn người khác làm thiện, chưa được thiện báo liền chẳng tiếp tục làm thiện nữa, và chẳng rõ thiện ác nhân quả vốn mờ mịt nên cần phải chú định lâu thì phàm phu tục tử mắt mờ làm sao nhìn rõ được .

    Tế Phật: Trò ngoan nói rất đúng, nếu như người tu đạo hành đạo một cách a dua thì loại người này quả là ngu si lắm, chẳng biết nắm vận mệnh mình ở ngay trong tâm mình, người khác làm thiện làm ác, đối với mình chẳng hề có quan hệ.

    Thái Sinh: Thưa phải, chúng sinh nếu như giác ngộ được lẽ này, hẳn chẳng còn là chúng sinh nữa, vả lại còn một số người hoài nghi, ngơ ngác ngoài cửa đạo, thật là đáng thương.

    Tế Phật: Đúng lắm, đêm nay thời giờ đã muộn, hai thầy trò mình chuẩn bị dạo cõi nhân gian, trò ngoan hãy mau lên đài sen.

    Thái Sinh: Thưa con đã sẵn sàng, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Đã tới nơi.

    Thái Sinh: Thưa tại sao mau quá?

    Tế Phật: Tại vì tài giỏi.

    Thái Sinh: Gia đình này hòa khí tràn đầy, bàn thờ Phật trong nhà có trưng hình đức cổ Phật Nam Hải, tướng mạo trang nghiêm, hào quang ngời tỏa, cùng ba vị khác là đức Quan Thánh Đế Quân, Phật Sống Tế Công, Lã Tiên Tổ, nên biết ngay là gia đình tu đạo.

    Tế Phật: Đúng vậy, hiện tại có rất nhiều gia đình tu đạo, nhà nhà sinh Phật.

    Thái Sinh: Ha ha, nhà nhà sinh Phật, cho nên phòng khách ở dưới lầu có một vị sư tỉ đang bồng một hài nhi là “con Phật”

    Tế Phật: Người đời nay rất dễ xúc động, giác ngộ không giống nhau, tâm phân biệt nặng nề, do đó chúng ta không nên nhắc tới hai tiếng con Phật, chỉ biết chắc chắn rằng đạo căn phi thường thiện lành và linh ứng.

    Thái Sinh: Quả đúng như vậy, con trông thấy hài nhi này tuệ tính khá cao, đạo căn sâu dày, xin thỉnh ý ân sư có phải những người trong gia đình của hài nhi này đạo căn đều thâm sâu cả phải không?

    Tế Phật: Chẳng nhất định như vậy, nếu xét về nhân duyên, căn cơ, tổ đức, gia đình này tu đạo đã được ít chục năm, do đó ân đức tổ tông sâu dày, nên có cơ duyên đắc đạo, còn nếu như tiến vào cửa đạo, đạo căn không sâu, tự nhiên cơ duyên tự khó đạt.

    Thái Sinh: Thưa, ân sư dạy rất đúng, có một số gia đình tu đạo, bị khảo đảo hoài, lời than oán rền vang, nên càng oán càng phiền.

    Tế Phật: Chúng ta hãy tới một gia đình khác... Con hãy nhìn tòa biệt thự kia, là nơi ở của một đại xí nghiệp gia, bên trong có một đại công tử, hiện đang theo học ở một trường đại học, kiếp trước là một đại thiện nhân triều nhà Thanh, lúc sống ban nhiều phước cho làng, xây cầu đắp đường, nên kiếp này hưởng trọn phú quý công danh lại còn phát tâm nguyện đời này tiếp tục làm việc thiện, tích lũy công đức, tương lai hưởng thụ phước trời, siêu sinh cực lạc.

    Thái Sinh: A thì ra nguyên nhân là như vậy, quả là phước đức, do đó cũng chẳng lạ là kiếp này đã phò trợ cho sự nghiệp của cha thành tựu.

    Tế Phật: Gia đình khác ở ven núi, đang bị gió cát phủ mờ, hai thầy trò mình hãy tới đó tham quan... Nguyên lai gia đình này kiếp trước mắc oán với người, con có nhìn thấy đứa nhỏ ngồi trên xe lăn không?

    Thái Sinh: Thưa con nhìn thấy.

    Tế Phật: Đứa nhỏ này ba kiếp trước là dân lưu manh, ham ăn mà chẳng ham làm, hai kiếp sau từng bị luân hồi làm súc vật, trong thời gian đó linh hồn chịu mọi khổ đau. Tới nay đầu thai vào gia đình này, lại là gia đình không có đức, chuyên kể chuyện thị phi của người, không tin nhân quả, phá hoại danh tiết của người, không kính trọng bậc trưởng thượng, do đó trong chốn tối tăm đã bị nghiệp quả báo ứng.

    Thái Sinh: Đúng là nhân quả nghiệp chướng, báo ứng một li chẳng sai, người đời gặp phải nghiệp chướng này khó mà thay đổi thì làm cách nào để tiêu nghiệp được?

    Tế Phật: Có thể trước bàn thờ, hoặc ngửa mặt lên trời, hoặc hướng nội, phát nguyện ấn tống sách Nhân Gian Du Kí, thực tâm sám hối, hoặc âm thầm thực hành lập công đức, giúp đỡ kẻ nghèo khổ. Thần linh sẽ ngầm giúp đỡ, tự nhiên oan nghiệp dần dần trở thành hòa thuận tốt lành.

    Thái Sinh: Thưa ân sư phát tâm ấn tống kinh sách lại có thể giải nghiệp, chuyển kiếp được hay sao?

    Tế Phật: Được lắm, song cũng không thể phát tâm ấn tống kinh sách vài ba lần mà có thể hoàn toàn giải trừ hết được nghiệp chướng. Giúp in kinh sách, tốt nhất là hướng tới mục tiêu phát nguyện trường kì, giúp ấn tống hàng tháng, hoặc ba tháng một lần, hoặc nửa năm một lần, như vậy phát nguyện mới giúp cho thiện tâm khỏi đọa lạc, tu cả trong lẫn ngoài, việc giải nghiệp chuyển kiếp suy nghĩ so sánh thấy ứng nghiệm, tương lai sẽ chứng đạo tiêu dao. Thế mới biết trách nhiệm phổ hóa đạo lí của Thánh Hiền Đường so với trước quả là khác quá nhiều, đề cao việc ấn tống kinh sách ắt hiệu nghiệm. Hay lắm, hai thầy trò mình tiếp tục dạo thăm nơi khác.

    Thái Sinh: Thưa hay lắm.

    Tế Phật: Phía trước là phủ quan tướng.

    Thái Sinh: Có lẽ vì vậy khiến con cảm thấy một luồng chính khí hạo nhiên bao trùm.

    Tế Phật: Phía trong có một vị công tử đang chăm chỉ đọc kinh sách, kiếp trước là vị tướng của triều đại nhà Nguyên, chỉ vì lúc sống tận trung báo quốc, vị quốc vong thân, nhờ vậy sau khi rời cõi trần, được ban phước lộc hưởng thụ tại cõi trời ít trăm năm, tới nay phước hết, do đó được tái sinh nơi đất lành. Nếu như kiếp này vẫn tiếp tục tận trung báo quốc sẽ lại được hưởng phước lộc vô biên; còn nếu như ô uế gian tà, bán nước cầu vinh không biết quý chuộng thân trong sạch, thì cuối cùng sẽ mất thân, muôn kiếp khó phục hồi.

    Thái Sinh: Quả là đáng sợ muôn phần, siêu thăng và đọa lạc chỉ cách nhau có một li, hoàn toàn do mình lựa chọn, người đời được có thân, nếu như không hành Tam Cương Ngũ Thường Tứ Duy Bát Đức quả là đáng tiếc.

    Tế Phật: Thầy trò mình tới thăm một gia đình khác.

    Thái Sinh: Trò ngu thấy gia đình phía trước có một vị anh nhi khóc mãi không ngưng.

    Tế Phật: Vị anh nhi này trí tuệ thông minh, ngày sau sẽ làm được nhiều việc lớn lao; gia đình này vốn không có con, song chỉ vì cha mẹ lại ao ước có con nên một mặt phát tâm ấn tống kinh sách, một mặt cầu xin ơn trên, cuối cùng đấng thiêng liêng cảm động ban ân. Tuy sung sướng được có con song vợ chồng gia đình này đã phải trải qua sáu năm khảo đảo đầy khổ đau, cho nên hiện tại đứa con thường ốm đau bệnh hoạn, nếu như lại nguyện cùng Thần Thánh làm điều ơn phước có thể giải trừ được nghiệp... Này trò ngoan, đêm nay thời giờ đã trễ, hãy tạm ngưng tại đây, chuẩn bị trở lại Thánh Hiền Đường.

    Thái Sinh: Thưa con đã lên đài sen, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Thái Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 3:38 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    February 2nd 2010, 8:31 pm
  • HỒI HAI MƯƠI

    THIÊN LÍ CHIẾU RỌI, BÁO ỨNG KHÔNG SÓT MỘT MẢY MAY

    NHÂN QUẢ QUA LẠI, OAN NGHIỆP ĐƯƠNG NHIÊN ĐƯỢC GIẢI TRỪ

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 9 tháng 4 năm Nhâm Tuất (1982)


    Thơ

    Cái quan luận định bình hằng tu
    Hữu thủy vô chung khốn khổ nhân
    Hoạt hình chiêu chiêu vọng nhãn khán
    Hậu báo lâm thân thán tâm đầu.

    Dịch

    Muốn rõ công tu đợi cuối đời
    Trước tu sau bỏ tội cùng trời
    Rõ ràng trừng phạt mà không thấy
    Họa đến kêu than đã muộn rồi.

    Tế Phật: Đức tin là nguồn cội của sức mạnh, vì thế đến ngay kẻ sắp chết, chỉ cần có chút đức tin cũng cảm thấy vô cùng ấm áp, ngược lại thanh niên đang tuổi cường tráng thiếu đức tin mà lại đem của cải giàu sang đến cho họ hẳn là họ sẽ bàng hoàng khó hiểu. Bữa nay ta nói vậy, chúng sinh có thể hỏi tại sao hai kẻ lại có sự cách biệt quá xa như vậy? Bởi kẻ thứ nhất giống như chiếc thuyền nhỏ bình thường, nhưng lại có địa bàn hướng dẫn, nên tâm hồn dễ trở về với đức tin, cuối cùng có thể tới bờ. Kẻ thứ hai tuy là chiếc thuyền đẹp đẽ, nhưng không có địa bàn hướng dẫn hay là sức mạnh của đức tin, sẽ ngỡ ngàng không biết hướng về đâu, bềnh bồng trôi giạt. Ta tha thiết mong cầu chúng sinh có được đức tin mạnh mẽ, để đề phòng lúc gặp nghịch cảnh như là li tán, hoạn nạn, khổ đau, đày đọa, có được đức tin sẽ đương cự nổi, bởi vậy chúng sinh chưa từng thiếu một thứ gì, mà chỉ thiếu đức tin thôi.

    Thái Sinh: Lời dạy của ân sư hay quá, con thiết nghĩ đức tin giống tựa luồng ánh sáng chiếu rọi đường tăm tối, nếu như thiếu luồng ánh sáng này, chắc chắn kẻ bộ hành sẽ đui mù quờ quạng chẳng biết lối mà đi.

    Tế Phật: Chân lí luôn luôn tồn tại và ngầm soi sáng cho chúng sinh, song chúng sinh lại thường cho chân lí là không hiện hữu, chẳng khác nào kẻ có đôi mắt sáng nhìn được rất xa nhưng nhãn tuyền lại bị che lấp, nên cứ đi mãi trên đường tội lỗi. Ngược lại những kẻ mắt mù bị sự tối tăm vây phủ, nhưng trong tâm họ lại có ngọn đèn tuệ sáng ngời. Do đó những kẻ được phước mà không biết là mình có phước, cứ mãi tham lam không chán, đó là bệnh lớn của chúng sinh, thuốc tim vô hình chúng sinh lại không có, bởi vậy muốn chiến thắng gian tà, phải phát huy thiện lành thì hẳn là rất công hiệu.

    Thái Sinh: Lời dạy của ân sư vô cùng quan trọng, vô cùng tha thiết, trò ngu hết sức cảm kích, con nguyện truyền bá tâm linh vô tận của thầy, song chỉ ngại rằng lòng nhiệt thành thì có dư nhưng sức lại chẳng đủ.

    Tế Phật: Chỉ cần có ngọn đèn vô tận, một sẽ truyền mười, mười sẽ truyền trăm, vả lại cùng sinh hoạt với người sáng suốt nhiệt thành trong một lĩnh vực, con có dịp gom tất cả lại để tạo thành sức mạnh của chính con.

    Thái Sinh: Thưa lời dạy của ân sư rất đúng, con hi vọng ngọn đèn vô tận sẽ bất diệt.

    Tế Phật: Song con phải luôn luôn châm dầu để nó không bao giờ tắt.

    Thái Sinh: Thưa ân sư, con ráng cố gắng thực hành như vậy.

    Tế Phật: Bữa nay tạm ngưng tại đây để con bắt đầu cuộc hành trình.

    Thái Sinh: Thưa con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Tục ngữ nói: “Đậy nắp hòm hãy bàn luận” (Cái quan luận định) nghĩa là, bản tính thiện hay ác của người chẳng thể phê phán lúc người đó còn sống, phải đợi tới sau khi họ chết mới có thể phẩm bình, giống như chạy đua đường trường không thể có nhận xét lúc mới bắt đầu chạy hoặc mới chạy được nửa phần đường, thắng hay bại chỉ hoàn toàn quyết định ở mức cuối cùng. Từ ngàn xưa tới nay, nhân hào nghĩa sĩ, trung thần hiếu tử danh tiếng để lại muôn đời, là đều do một đời giữ tiết tháo, dù chết cũng không bỏ, do đó mới được mọi người tôn thờ.

    Thái Sinh: Lời dạy của ân sư vô cùng hữu lí, trò ngu thường thấy một số người tu đạo, lúc ban đầu nhiệt thành, sau này gặp trở ngại liền nản lòng thối chí.

    Tế Phật: Phật với chúng sinh khác nhau chỗ đó, có một số nửa đường bỏ dở là vì chưa sáng lẽ đạo, chưa tỏ chân lí, ta rất lấy làm tiếc cho họ. Tuy hiện nay người tu đạo rất nhiều nhưng có trước có sau, tới chết không bỏ lại chẳng có được là bao.

    Thái Sinh: Theo như lời dạy của ân sư, tu đạo giống như chạy đường trường, nếu như không có lòng tin tuyệt đối, hẳn là sẽ sớm bỏ dở nửa chừng.

    Tế Phật: Đúng vậy, chúng ta cũng phải giữa đường ngừng nghỉ.

    Thái Sinh: Thưa tại sao vậy?

    Tế Phật: Chẳng tại sao cả, vì chúng ta đã tới được mục đích.

    Thái Sinh: A, thì ra nguyên nhân là như vậy.

    Tế Phật: Phía trước là nơi giúp tiêu tan nghiệp chướng, tức chốn thi hành hình phạt lúc còn sống.

    Thái Sinh: Thưa ân sư, nơi đó là một y viện.

    Tế Phật: Đúng, thầy trò mình mau tới phỏng vấn.

    Thái Sinh: Mũi ngửi thấy mùi hóa chất nồng nặc, mắt nhìn thấy những phòng bệnh vắng vẻ thê lương, giống như chốn địa ngục ở cõi nhân gian... Phía trước bác sĩ, y tá chạy tán loạn, bởi vì họ bị bệnh nhân đang cầm dao rượt.

    Tế Phật: Người có là cầm thú mới có ngày bị đồ tể mổ bụng, và nếu đúng vậy thì con người thời nay có khác chi, cho nên thường bị mổ xẻ đau đớn.

    Thái Sinh: Thưa đúng là như vậy, con người bị đau ốm và cần có thuốc thang cũng có lí do.

    Tế Phật: Phần lớn những người tới đây là để nghiệp chướng của họ tiêu tan.

    Thái Sinh: Thưa, ân sư dạy rất có lí... Vị trung niên phía trước, nhìn vẻ mặt bề ngoài cũng thấy có thiện tâm, nhưng tại sao còn bị tới nơi đây xẻ thịt cắt da đau đớn?

    Tế Phật: Theo như Thần Tam Thi ghi chép, vị đó kiếp này tuy hiền lương, song kiếp trước là một y sĩ, trong khi hành nghề, có một kẻ nhà quê nghèo hèn mắt chứng bệnh ngặt nghèo cần cấp cứu, nhưng khi tới bệnh viện vì không có tiền đóng, vị y sĩ này bèn làm ngơ, không chữa trị, đợi tới lúc đưa tới bệnh viện khác thì quá trễ, mới đi nửa đường vì cơn bệnh hành hạ không chịu nổi đành phải thác. Sau khi bệnh nhân đó chết, lòng oán hận không tiêu ngưng kết thành nghiệp quả ác báo, do đó mà vị y sĩ đó ngày nay phải tới đây giải phẫu ruột và bao tử để cho nghiệp chướng tiêu tan.

    Thái Sinh: Là y sĩ phải tôn sùng đề cao y đức, y đạo mới được người tôn kính, còn như chỉ nghĩ tới tiền của, không đem tinh thần cứu thế ra để giúp đời há chẳng bất hạnh lắm sao.

    Tế Phật: Người đời nay được làm y sĩ, kẻ thiển kiến nhìn thấy vậy tưởng là nhờ thành quả nỗ lực nên không ngờ rằng kiếp trước có tu, cùng được trời đất sắp xếp mới thành tựu nổi. Nếu như đời nay không biết tu thân, đánh mất lương tâm của người thầy thuốc, tương lai hẳn là chẳng tránh khỏi sự trừng phạt của nghiệp quả.

    Thái Sinh: Còn vị thanh niên kia hình như cũng phải tới đây trả nghiệp.

    Tế Phật: Vị thanh niên đó không biết quý trọng mạng sống, phóng xe gắn máy như bay giống như hỏa tiễn, đã gây nên thảm kịch: “Chí lớn chưa đến thân đã thác, khiến cho cha mẹ lệ đầm khăn” (Tráng chí vị thù thân tiên tử, thường sử phụ mẫu lệ sái khâm). Quả là uổng phí tâm huyết vun bồi của gia đình lẫn quốc gia.

    Thái Sinh: Thưa đúng là như vậy, “dục tốc tất bất đạt” (muốn mau ắt chẳng tới) chỉ phút lỡ tay thành ôm hận ngàn đời... Cách tường có một vị thanh niên mắt lờ đờ, tinh thần hoàn toàn suy sụp.

    Tế Phật: Mắc nghiệp quả báo nên bị nhiều oan hồn vây bủa.

    Thái Sinh: Thưa ân sư tại sao con không nhìn thấy.

    Tế Phật: Con hãy dùng quạt Phật, quạt một cái oan hồn sẽ hiện ra ngay.

    Thái Sinh: A, quả nhiên có một người con gái xuất hiện.

    Tế Phật: Người con gái này cứ theo sát thanh niên đó để đòi trả nghiệp đã lâu.

    Thái Sinh: Thưa, có thể phỏng vấn người con gái này được không?

    Tế Phật: Được, hãy yêu cầu người con gái đó nói rõ nguyên nhân.

    Thái Sinh: Oan hồn có được mạnh giỏi không? Nhờ gặp được chúng tôi nên chúng tôi đã giúp hiện ra, vậy có thể trả lời ít câu hỏi của chúng tôi không? (Oan hồn không hiểu cách xưng hô của Thái Sinh, cho nên Tế Phật đã làm phép khiến cho oan hồn vô cùng đau đớn).

    Nữ Oan Hồn: Tôi với quý vị không thù không oán, cớ sao lại bắt tôi phải gặp quý vị?

    Tế Phật: Oan chỉ có thể giải, không thể buộc, tại sao oan hồn lại muốn hại đời người thanh niên?

    Nữ Oan Hồn: Oan hồn này được lệnh từ cõi âm lên hãm hại kẻ đó, hai vị là Thần Thánh cõi nào mà lại muốn ngăn cản tôi? (Vị nữ oan hồn không tuân lệnh, Tế Phật liền rút cây Lục Trượng Kim Thân hào quang tỏa ngời, nữ oan hồn chống cự không nổi, đau đớn khóc òa)... Cớ sao lại muốn lăng nhục tôi?

    Thái Sinh: Không phải vậy đâu, chúng tôi vì viết sách Nhân Gian Du Kí cho nên muốn được rõ một số chi tiết để làm tài liệu hầu thức tỉnh người đời, tôi mong nữ oan hồn hãy hợp tác với chúng tôi, nói rõ nguyên nhân đau khổ.

    Nữ Oan Hồn: A...

    Thái Sinh: Chớ quá đau lòng, hãy kể rõ đi, còn nếu như gặp khó khăn ân sư Tế Phật sẽ giải quyết cho, vả lại chúng tôi không có nhiều thì giờ.

    Nữ Oan Hồn: Người thanh niên đó không có lương tâm, hai mươi năm trước tôi làm việc tại một xưởng giầy, thì có một thanh niên thuộc họ Trần tên là... giữ chức ngoại vụ của một công ti, thấy tôi là người có nhan sắc nên thường đem lời ong bướm dụ dỗ tôi rồi một hôm hẹn đưa tôi đi chơi, tôi không ngờ đêm đó đã bị chàng phá hoại tiết trinh, rồi suốt thời gian sau chàng bảo gì tôi cũng nghe, nên đã đem hết tiền của dâng cho chàng để chàng tiêu pha hoang phí. Một ngày nọ, khi tôi báo tin cho chàng biết là tôi đã có mang được bốn tháng, chàng nhẫn tâm cao chạy xa bay. Khiến tôi mất người mất của, quá phẫn uất vì tội bất nhân bất nghĩa của chàng, lại thêm quá xấu hổ, không còn mặt mũi nào nhìn người thân cùng bạn bè, nên đã quyết định uống độc dược quyên sinh, sau khi oan hồn về tới âm phủ, khối oan khí không tiêu, do đó Minh Vương cho phép tôi vào lúc đêm khuya được trở lại dương gian trả oán tình địch.

    Thái Sinh: A thì ra nguyên nhân là như vậy, nhưng làm cách nào oan hồn lại có thể tìm được người tình cũ?

    Nữ Oan Hồn: Kể lại thì câu chuyện quá dài, vì tôi tìm chàng rất lâu nên việc tìm thấy chàng chẳng dễ dàng gì.

    Thái Sinh: Có thể kể lại mọi chi tiết cho tôi nghe không?

    Nữ Oan Hồn: Được, vì tôi biết chàng có máu say mê cờ bạc, chắc chắn sẽ la cà tại các sòng bài, mười lăm năm trước, mỗi buổi chiều tôi đều tìm tới sòng bài, nhưng cách mấy năm sau tôi mới tìm thấy chàng vào một buổi tối ở một sòng bài, tôi liền theo sát bên chàng, nhưng dương khí của chàng quá mạnh, và tôi không tìm ra phương cách nên chỉ còn biết kiên nhẫn chờ đợi cơ hội.

    Thái Sinh: Cơ hội như thế nào?

    Nữ Oan Hồn: Đại khái là có quan hệ với phúc đức tổ tiên... Cho đến năm năm trước đây, có một bữa chàng uống rượu say, chếnh choáng cỡi xe gắn máy, tôi thừa cơ nhập xác khiến chàng ốm đau thuốc thang mãi chẳng khỏi, cuối cùng chàng được người nhà đưa tới bệnh viện này chữa trị, tôi không ngờ rằng hai vị lại phát giác ra được.

    Thái Sinh: Oan hồn trả oán như thế nào?

    Nữ Oan Hồn: Tôi đã tận dụng tất cả sức mạnh của âm linh để đè mạnh lên hồn phách của chàng khiến tâm linh chàng cảm thấy vô cùng đau đớn.

    Thái Sinh: Làm như vậy không đúng, người ta ai cũng có lòng thương xót, cớ sao lại nhẫn tâm làm như vậy?

    Nữ Oan Hồn: Không hành động như vậy tôi sẽ chẳng còn cơ hội nào khác.

    Tế Phật: Nữ oan hồn họ Lâm này, thiện có thiện báo, ác có ác báo, ân có ân báo, ân ân oán oán bao giờ dứt, hi vọng oan hồn có thể bỏ lòng oán giận, vì linh hồn chàng thanh niên đó đã bị đày xuống hàng cầm thú, tương lai tự nhận lãnh ác nghiệp quả báo, oan hồn chẳng cần ôm nỗi bất bình, hi vọng oan hồn sớm nghĩ tới tương lai của mình, thức tâm làm việc thiện, giúp kẻ khác được hạnh phúc mới đúng.

    Nữ Oan Hồn: A... cảm ơn đức Đại Phật đã mở trí, khi còn sống vì không lo tu nhân tích đức, bữa nay nghe đức Đại Phật thuyết pháp, quả là mắc cở vô cùng.

    Tế Phật: Nữ oan hồn họ Lâm này, bữa nay nhờ duyên viết sách Nhân Gian Du Kí, oan hồn có thể thuật lại rành mạch về những nổi khổ đau đã trải qua, nếu như có tâm học đạo, hẳn là chẳng còn nghĩ tới sự báo thù, nếu như bỏ được nỗi oán ân hận của quá khứ, ta sẽ vì oan hồn mà thuyết pháp và nhận làm đệ tử, có muốn được như vậy không?

    Nữ Oan Hồn: Cảm tạ Đại Phật, cảm tạ Đại Phật. (Nữ oan hồn liền quỳ gối cúi đầu vái lạy tạ ân và nghe Tế Phật thuyết pháp).

    Tế Phật: Hay lắm, này nhé con phải cố gắng tu trì, phải biết là tất cả thiện duyên, ác duyên đều có kiếp trước gieo nhân, chỉ cần nhìn rõ mọi việc, bị ghét bỏ không oán giận, phải có tinh thần hi sinh nhẫn nhục sẽ có ngày công thành quả mãn, chứng được Cửu Phẩm Liên Đài.

    Nữ Oan Hồn: Cảm tạ ân sư đã mở trí cho con, đứa gái nhỏ ngu si này sợ rằng khó thành tựu nổi.

    Tế Phật: Trò nữ họ Lâm, con hãy nghe cho rõ, mọi người đều có Phật tính, cho nên việc tu đạo lớn không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, chỉ cần có lòng chân thành là có thể khắc phục được mọi khó khăn, không được tự mình khinh mình, phải biết rõ là con người thấp hèn nhưng có tâm tinh tiến vẫn có thể thành đạo, ngược lại có kẻ cao sang mà tâm tính ngạo mạn thì chẳng thể thành đạo. Sách có nói: “Giàu sang học đạo khó, nghèo hèn tu đạo chăm” (Phú quý học đạo nan, bần ngu tu đạo kiên) hi vọng con gắng gỏi thực hành. (Oan hồn bất chợt cảm kích ân sâu, nghẹn ngào nức nở).

    Thái Sinh: Hỏi sư tỉ họ Lâm, Thánh Hiền Đường có rất nhiều bạn đạo nữ tu, tuy chưa đọc nhiều sách, trong tấm lòng vì đạo hơn hẳn các bạn đạo nam, hi vọng sư tỉ học được tinh thần cao quý của họ, bữa nay tự nhiên sư tỉ và đức ân sư Tế Phật đã kết được mối duyên thầy trò, quả là sư tỉ đã được cái may mắn ba đời mới có nổi.

    Tế Phật: Điều đó rất đúng bữa nay thời giờ đã trễ, trò nữ họ Lâm này, thầy và Thái Sinh trở lại Thánh Hiền Đường, con phải lo giữ gìn cẩn thận, Thái Sinh mau lên đài sen, chuẩn bị trở về. (Oan hồn động lòng trắc ẩn, quyến luyến khôn cùng, cầm tay Tế Phật và Thái Sinh nghẹn ngào ngỏ lời từ giã. Thái Sinh cầu chúc phước lành cùng nguyện sẽ phổ biến với chúng sinh dưới gầm trời câu chuyện này để mọi người có thể bỏ ác theo thiện cùng tin Phật đạo. Sau đó chỉ một sát na đã thấy Thánh Hiền Đường hiện ra trước mắt).

    Tế Phật: Đã về tới Thánh Hiền đường, Thái Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 3:38 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    February 3rd 2010, 12:29 am
  • HỒI HAI MƯƠI MỐT

    TU CHÍNH ĐẠO ĐẠI TIÊN GIẢI BÀY DUYÊN CỚ

    BỊ QUẢ BÁO ÂM HỒN HIỂU RÕ LÍ DO

    Phật Sống Tế công

    Giáng ngày 3 tháng 5 năm Nhâm Tuất (1982)


    Thơ

    Vô vi luyện đạo vạn chướng phách
    Phù hoa hư vọng trở đạo cơ
    Thành tâm hành đạo chung thành quả
    Bán đồ nhi phế như đoạn cơ.

    Dịch

    Luyện đạo vô vi chướng ngại tan
    Phù hoa càn rỡ pháp không còn
    Dốc tâm chung cuộc tu thành đạo
    Bỏ dở nửa đường chớ có nên.

    Tế Phật: Học đạo, học đạo; tu đạo, tu đạo; hành đạo, hành đạo; năm năm có đạo, ngày ngày có đạo, đạo suốt cả hai mươi bốn giờ, phải luôn giữ tâm đạo, vừa niệm vừa hành. Nếu như giả dối, bỏ dở nửa đường thì thật quả là đáng tiếc. Bởi vậy kẻ hành đạo, kiến thức về đạo bắt buộc phải nghiên cứu sâu xa mới tránh được cái cảnh trèo lên non báu mà xuống tay không.

    Thái Sinh: Lời dạy của ân sư quả là chí lí, đạo khó hành thì thực khó hành, đạo dễ hành thì thực dễ hành, kẻ tâm thành, ý kiên định thì dễ hành, còn kẻ không có chút lòng thành, có tham gia chăng nữa cũng chỉ là nhòm ngó tham khảo thôi; vì vậy việc tu đại đạo đối với họ nhất định vô cùng khó khăn, song cái khó đó do chính họ tạo nên, tự họ ngăn trở đường vào cửa đạo.

    Tế Phật: Trò ngoan nói rất đúng, các tín hữu của Thánh Hiền Đường tu đạo thấy rất dễ dàng, nhưng kẻ đứng ngoài cửa nhìn vào lại thấy vô cùng khó khăn. Bởi vậy dễ hay khó đều tùy thuộc ở sự quyết tâm của chính mình mà thôi. Còn nếu như hăng hái mạnh mẽ bước thẳng vào cửa đạo thì việc tu đạo hẳn chẳng còn thấy khó khăn.

    Thái Sinh: Họ chẳng dám bước thẳng ngay vào cửa đạo là vì thiếu can đảm.

    Tế Phật: Con nói vậy chưa hẳn là đúng, bởi lẽ người ta đã trót tham danh, tham lợi quá nhiều rồi, một sớm thấy việc thiện sinh lòng sợ hãi. Còn nếu như gặp danh lợi tiền tài liền ùa nhau chạy theo, giữ chặt chẳng buông.

    Thái Sinh: Ân sư dạy rất đúng, không phải họ hoàn toàn thiếu can đảm mà vì cái nhìn còn thiển cận mà thôi.

    Tế Phật: Đạo kinh nói: “Bậc thượng sĩ nghe đạo liền chăm chỉ thực hành; hàng trung sĩ nghe đạo nửa nhớ nửa quên; hàng hạ sĩ nghe đạo phát cười lớn; không cười, không đủ cho là đạo” (Thượng sĩ văn đạo, cần nhi hành chi; Trung sĩ văn đạo, nhược tôn nhược vong; hạ sĩ văn đạo đại tiếu chi, bất tiếu, bất túc dĩ vi đạo). Cho nên chỗ quý báu của đạo khó mà nói được, khó mà hình dung được, chỉ những bậc thượng sĩ, thượng căn, thượng thiện, thượng trí mới có thể hội nhập được một cách trang trọng quý báu mà thôi. Còn hàng hạ căn, hạ trí chỉ để cho gông cùm xiềng xích lợi danh trói buộc, thất tình lục dục đốt cháy, bánh xe luân hồi nghiền nát.

    Thái Sinh: Lời dạy của ân sư quả là vô cùng hay đẹp, nếu kẻ đọc sách thiện mà còn nghi hoặc thì hẳn là quá ngu si, quá vô duyên cùng Phật.

    Tế Phật: Đúng vậy, đêm nay thầy trò mình tạm ngưng cuộc đàm đạo ở đây, hãy chuẩn bị lên đường.

    Thái Sinh: Thưa vâng... Con đã lên đài sen, kính mời ân sư khởi hành.

    Tế Phật: Trò ngoan, đã tới nơi, vì chúng ta còn ở trên đài sen cho nên thấy được một tòa Phật Đường, bên trong mọi người đang nghiên cứu học hỏi đạo pháp.

    Thái Sinh: Thời mạt thế đã tới, các tông phái quá nhiều, quả là kiểm điểm không hết, song những ai lo việc đạo, đều là tìm con đường giải thoát khổ đau cho chúng sinh bằng tâm từ bi vô lượng.

    Tế Phật: Cửa đạo lớn vào thời mạt pháp đã mở rộng để cứu độ, dẫn dắt các đệ tử có duyên. Nếu như sinh nhằm thời này mà còn chưa tìm tới cửa đạo tức là kiếp này có cũng như không.

    Thái Sinh: Thưa rất đúng, gian niệm Phật đường này giống như niệm Phật đường công cộng bên trong có khoảng hai ba chục người đang ngồi trụ điển, lắng nghe minh sư thuyết pháp. Nơi tấm bảng treo trên tường thấy viết những dòng chữ :

    Tín vi đạo nguyên công đức mẫu
    Tín năng viễn li sinh tử khổ
    Tín năng trưởng dưỡng chư thiện căn
    Tín vi bồ đề tác cơ sở.

    Đức tin là mẹ công đức suối nguồn đạo lớn
    Đức tin có thể xa rời nỗi khổ tử sinh
    Đức tin có thể nuôi lớn muôn mầm thiện
    Đức tin là nền tảng xây dựng tâm giác ngộ.

    Ha ha, tu đạo đúng là cần phải có lòng tin tuyệt đối.

    Tế Phật: Hiện tại chư vị Thần Thánh đã tới tiếp đón, chúng ta mau lạy chào ra mắt.

    Thái Sinh: Thưa vâng. (Một vị đại tiên rảo bước tới trước tiếp đón Tế Phật và Thái Sinh). Kính chào đức Đại Tiên.

    Hạo Nhiên Đại Tiên: Miễn lễ Thái Sinh, bữa nay may mắn được kết duyên tại đây, tôi cảm thấy vô cùng vinh hạnh. Quý đường đang dốc tâm phổ hóa đạo pháp để cứu độ chúng sinh, thần và người luôn luôn tận dụng tâm huyết, quả đã khiến mọi người vô cùng cảm kích.

    Thái Sinh: Đại Tiên quá khen ngợi, chỉ sợ rằng sức không đảm đương nổi, nên ước mong Đại Tiên rời bỏ cuộc sống tiêu dao lạc thú cõi thiên đường, giáng phàm ban đạo hành pháp bốn phương, hẳn là khiến chúng sinh cảm động vô biên.

    Hạo Nhiên Đại Tiên: Không dám, không dám, hiện thời cõi trời không được rảnh rang, Tiên Phật khắp nơi rộn rịp giúp đỡ đạo, chẳng phải chỉ một mình tôi đâu mà ngay khắp cả Nam Thiềm Bộ Châu đều như vậy hết.

    Thái Sinh: Đại Tiên tuổi còn trẻ mà đã chứng đắc quả vị quá lớn lao, vậy xin chỉ giáo cho kinh nghiệm tu trì mau thành đạt đó của Đại Tiên?

    Hạo Nhiên Đại Tiên: Kể lại thì thấy thẹn vì có vẻ tự khoe, ngày nay tôi được thụ phong Hạo Nhiên Đại Tiên là bởi lúc sống, suốt đời vì đạo bôn ba, chí cả chẳng hề nao núng nên cuối cùng đã vì đạo tuẫn tiết, còn ngoài ra không có công đức lớn lao nào đáng kể cả.

    Thái Sinh: A, tinh thần đó khiến càng kính trọng, song Đại Tiên đã hành đạo như thế nào?

    Hạo Nhiên Đại Tiên: Câu chuyện kể lại sẽ dài lắm, khoảng hai mươi năm trước đây, nhân đạo lớn phổ biến, bởi vậy tôi cũng có duyên đạt được sự chân truyền, nên biết rõ là đạo lớn quý báu, từ đó tôi đi khắp nơi bốn phương lấy việc khuyên mọi người làm thiện, giúp đỡ người cùng khốn làm vui. Có một hôm song thân lâm trọng bệnh, thuốc thang chạy chữa không thuyên giảm, tôi phát nguyện giảm thiểu tuổi thọ của mình để cha mẹ được sống lâu hơn. Từ đó những tội lỗi trong gia tộc tôi gánh chịu thay hết mọi người. Tuy thân thể không được yên song đạo tâm càng thêm kiên định nên không hề sợ khảo đảo, vẫn đi khắp chốn truyền pháp giảng đạo. Có ai mời tôi chẳng bao giờ chối từ, trường kì bôn ba, tích chứa nhọc nhằn thành đau ốm, nên ít năm trước đây tuổi thọ của tôi tới giai đoạn phải về cõi vô, tính hạo nhiên liền xung phá chín tầng trời, khiến Lão Mẫu cảm động, phong cho tôi là Hạo Nhiên Đại Tiên, song tôi hiểu rõ chính tôi công quả cho đạo chưa đủ, để báo đáp ơn trời sâu dày, tôi nguyện giáng phàm hi sinh vì đạo.

    Thái Sinh: Thật là cảm động, còn đêm nay Đại Tiên giáng phàm vì nhiệm vụ gì?

    Hạo Nhiên Đại Tiên: Tôi đi khắp bốn phương hoàn toàn vì đạo như ngài Lâm Tế, dốc lực công phu bình định, các nơi được an lành, giúp các đạo tràng bị ma quỷ nhiễu loạn trở nên thanh tịnh.

    Thái Sinh: À thì ra nguyên nhân là như vậy, cảm tạ Đại Tiên đã chỉ giáo cho.

    Hạo Nhiên Đại Tiên: Xin Thái Sinh chớ khách sáo, thôi chúng ta tạm từ giã, mong sớm có dịp gặp lại. (Hạo Nhiên Đại Tiên từ giã Tế Phật, Thái sinh cảm ơn tạ lễ Hạo Nhiên Đại Tiên).

    Thái Sinh: Thưa ân sư, lời dạy của Đại Tiên vừa rồi, những thiện nam tín nữ vào cửa Thánh nghe đạo, những oan hồn đòi trả nghiệp chẳng thể vào trong đòi nợ, như vậy hiện những oan hồn đó ẩn núp tại đâu?

    Tế Phật: Trò ngoan quả là không rõ, vì hào quang của Phật tỏa chiếu, vì điển chư Tiên Thánh Thần hội tụ cho nên những oan hồn không dám xâm nhập cửa đạo mà chỉ lảng vảng bên ngoài.

    Thái Sinh: Thưa việc này có thật được sao?

    Tế Phật: Nếu con không tin đợi ta phất quạt Phật, con sẽ thấy ngay.

    Thái Sinh: Chắc gì cầu mà được. (Tế Phật lấy quạt ra quạt, hào quang tỏa chiếu, hồn quỷ hiện nguyên hình, run rẩy sợ sệt kiếm chỗ núp, những gì khi trước Thái Sinh không thấy, thì giờ đây chứng kiến thật rõ ràng, nên kinh hoàng thất sắc). ...Thưa ân sư những oan hồn chờ ngoài cửa, tại sao trước đây con không nhìn thấy?

    Tế Phật: Vì con chưa đạt tới cảnh giới mắt Phật, cho nên những nơi tối ám, đương nhiên chẳng thể nhìn thấy.

    Thái Sinh: Thưa ân sư, có thể gọi một oan hồn tới phỏng vấn không?

    Tế Phật: Có thể được, để thầy kêu một oan hồn tới. (Quả nhiên có một nữ oan hồn chạy trốn không nổi phải tới trình diện trước mặt Tế Phật).

    Thái Sinh: Nữ oan hồn chớ sợ hãi, hãy thuật lại ý định tìm tới đây làm gì?

    Nữ Oan Hồn: ... Thưa tôi không... (Vì quá sợ hãi, chỉ run rẩy, chẳng nói nên lời).

    Thái Sinh: Đừng sợ hãi, hãy chầm chậm thuật rõ lại.

    Tế Phật: Vì thời giờ đã trễ, để ta ban cho một viên thuốc định thần. (Nữ oan hồn nhận viên thuốc và uống).

    Nữ Oan Hồn: Kính xin Thần Phật xá tội, oan hồn tới đây tuyệt nhiên không có ý đồ gì hết.

    Thái Sinh: Đúng không, vậy thì oan hồn tới đây làm chi?

    Nữ Oan Hồn: Thưa, vì tôi được lệnh từ cõi âm trở lại cõi dương tìm kẻ thù để trả oán song không ngờ lại may mắn được tới đây nghe pháp, học đạo, tu thân quả là không thể ngờ được.

    Tế Phật: Nợ oan khiên chẳng phải là chuyện thường nên không thể nói dăm ba lời mà giải quyết được dễ dàng.

    Thái Sinh: Vậy nữ oan hồn báo thù bằng cách nào?

    Nữ Oan Hồn: Vì bọn oan hồn chúng tôi không có thân xác bằng xương bằng thịt, mà chỉ bằng luồng khí âm linh, luồng âm khí này theo xác hồn phách một số người đời, vì những người này tinh thần bất ổn, thân xác yếu đuối nên dễ dàng nóng giận đọa lạc và bất an, gia đình dễ xào xáo bất hòa, sự nghiệp khó thành tựu. Do đó Trần... nghe thuyết pháp nơi cửa đạo năm sáu năm trước đây, thâm tâm thường bị tôi nhiễu loạn, song nhờ hiểu được lẽ đạo, mỗi lần bị tôi báo thù, gia đình gặp phong ba bão táp tới đâu, họ Trần vẫn nhẫn nhục chịu đựng không than oán. Cho tới gần đây, khi bị tôi theo sát, nên thường tới đạo tràng nghe pháp, lâu ngày chày tháng, tôi được cảm hóa, nên bỏ ý tưởng báo thù.

    Thái Sinh: Đúng như vậy nên chẳng lạ gì có một số người tu đạo, sau khi vào được cửa thánh, thân thể dần dần khỏe mạnh, gia đình dần dần hòa thuận, sự nghiệp dần dần thuận lợi, tới nỗi ngày nay không thể ngờ được, chính oan hồn trong lúc đi tìm kẻ thù để báo oán lại tìm ra cửa đạo, lòng oán hận đổi thành lòng tin pháp, lòng ơn Phật. Ha ha, đạo quả là diệu dụng thâm sâu... Như vậy thì có thể kết luận là kẻ thù đã cứu chuộc được tính linh của oan hồn.

    Nữ Oan Hồn: Đúng vậy, hiện tại nhờ mỗi ngày được nghe kinh, tâm oán giận dần tiêu, tâm linh dần sáng, sau này trở lại cõi âm, hi vọng có thể được tiếp tục học đạo với giác linh đức Cổ Phật Địa Tạng.

    Thái Sinh: Nếu được vậy thì quả là oan hồn gặp được kì duyên.

    Nữ Oan Hồn: A, vì lúc sống không biết cho việc tu đạo là phước báu, tới khi bị đọa xuống âm phủ thì việc tu đạo vô cùng khó khăn.

    Thái Sinh: Đúng như thế, song nguyên nhân tại sao?

    Nữ Oan Hồn: Vì sống ở cõi dương không những việc tu đạo dễ dàng, mà còn chóng đạt thành quả vị, nhưng khi đã bị đày xuống cõi âm tu rất chậm, việc chứng quả phải từ từ, vì bị khảo đảo nhiều hơn mới có thể qua cửa, đó là tất cả nguyên nhân.

    Thái Sinh: Có chí thì nên, oan hồn phải cố gắng kiên nhẫn, thế nào cũng thành công.

    Nữ Oan Hồn: Cảm ơn sự khuyến khích chân thành.

    Tế Phật: A, thời gian đã trễ, cuối cùng ta tặng oan hồn mấy câu sau đây: “Ai tu người ấy đắc, ai ăn kẻ đó no” (Các nhân tu đạo các nhân đắc, các nhân ngật phạn các nhân bão). Oan hồn Lí Sinh được vinh hạnh gần cửa đạo, tương lai sẽ sáng sủa, hãy cố gắng đi. Thái Sinh, thầy trò mình chuẩn bị trở lại Thánh Hiền Đường.

    Thái Sinh: Thưa, con đã lên đài sen, kính mời ân sư khởi hành. (Nữ oan hồn vô cùng cảm kích, giây lát sau hồn biến mất giữa bóng đêm mịt mùng. Thoáng sau đài sen chở Tế Phật và Thái Sinh cũng về tới Thánh Hiền Đường).

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Thái Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 3:38 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    February 4th 2010, 2:18 am
  • HỒI HAI MƯƠI HAI

    CẦU PHÚC ĐỨC MỖI NHÀ LO NHÂN QUẢ

    LUẬN BÁO ỨNG LÒNG NGƯỜI TẠO PHÚC HỌA

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 23 tháng 5 năm Nhâm Tuất (1982)


    Thơ

    Nhân luân thường thủ gia hòa tán
    Tứ duy tuân hành đôn thân nhân
    Tam tỉnh ngộ thân khiết kỉ ý
    Cường đức tứ hải lạc đạo cần.

    Dịch

    Gia đạo nhân luân lo giữ bền
    Tuân hành giới luật người thân nên
    Tâm thời thức tỉnh thân tinh khiết
    Bốn biển đức sâu pháp lí chuyên.

    Tế Phật: Tục ngữ nói: “Không nhìn thấy quan tài không rơi lệ” (Bất kiến quan tài bất lưu lệ), câu nói trên bao hàm ý nghĩa tính cố chấp của con người khó bỏ được, kẻ mê muội nếu như trong đời họ không có phúc lâm chung, đương nhiên sẽ hiu hiu tự đắc, coi như không có chuyện luân hồi, do đó sẽ sống đam mê cuồng nhiệt, bị lợi danh trói buộc, cuốn lôi... Chợt tới giờ phút lâm chung sắp sửa lìa đời mới than là kiếp người như mộng, nhưng đã muộn rồi. Từ xưa tới nay, dù giàu sang phú quý tới đâu, đến lúc sắp sửa về chầu diêm vương đều buông lời than như vậy cả. Bởi lúc sống luôn luôn tham danh trục lợi, cho nên có câu nói: “Sống không tu nhân tích đức, sắp chết mới nói điều thiện” thì chẳng hóa ra là lúc sống tâm có dư mà thiếu sức sao?. Hay là sức có dư mà tâm không đủ. Theo như ta thấy, những kẻ lực dư mà tâm thiếu thì nhiều, còn tâm dư mà lực thiếu thì ít, đó là căn bệnh của chúng sinh.

    Thái Sinh: Thưa ân sư, tại sao chúng sinh lại mắc phải chứng bệnh này, và nguyên nhân vì đâu?

    Tế Phật: Đó gọi là “Tâm không nhất định” (Tâm chi vô thường) tức là những kẻ tu đạo khi thấy kẻ khác ngoài đời hưởng phú vinh hoa, tâm liền nẩy sinh dục vọng rồi bỏ chạy theo, hoặc khi nhìn thấy cái chết của kẻ khác liền nói: “Kiếp người qua mau như giấc mộng”. Vậy thì tâm đó là tâm luôn luôn điên đảo vì vọng tưởng, khi thì coi danh lợi dục vọng là trọng, khi thì coi danh lợi dục vọng là nhẹ, bởi vậy có câu: “Tu đạo dễ, hành đạo khó” (Tu đạo dị, hành đạo nan).

    Thái Sinh: Quả đúng như vậy, sách có nói: “Tu đạo một ngày, Phật ở trước mắt; tu đạo một tháng, Phật ở cuối trời; tu đạo một năm, Phật liền chẳng thấy” (Tu đạo nhất nhật, Phật tại nhãn tiền; tu đạo nhất nguyệt, Phật tại thiên biên; tu đạo nhất niên, Phật tựu bất kiến). Kẻ mới phát tâm tu đạo khí tiết mãnh liệt, song một thời gian sau đạo tâm đánh mất.

    Tế Phật: Sở dĩ tu đạo khó là bởi lẽ đó, còn nếu như tu đạo dễ thì ngày nay Tiên Phật hẳn là chẳng phải khổ sở vì chúng sinh. Thôi chúng ta chuẩn bị vì chúng sinh, đi kiểm soát dân cư xem sao.

    Thái Sinh: Thưa ân sư, thầy và con không phải là cảnh sát, làm sao kiểm soát dân cư được?

    Tế Phật: Sự kiểm soát dân cư của thầy trò mình khác với sự kiểm soát của cảnh sát. Ở thế gian cảnh sát kiểm soát dân cư chỉ là đối chiếu hộ tịch không mà thôi, còn chúng ta kiểm soát dân cư với thiện ý nên ý nghĩa khác nhau.

    Thái Sinh: Thưa ân sư dạy rất đúng, con xin thi hành theo ý thầy.

    Tế Phật: Mau lên đài sen, thầy trò mình khởi hành.

    Thái Sinh: Thưa con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Muốn kiểm tra dân số phải tìm gặp Thổ Công, Thổ Địa mới dễ dàng có tài liệu để tìm hiểu, so sánh và làm sáng tỏ vấn đề.

    Thái Sinh: Thưa thầy dạy rất có lí, Thổ Công và dân cư trong vùng có quan hệ với nhau, do đó muốn biết tỏ tường phải tìm gặp Thổ Công.

    Tế Phật: Muốn gặp Thổ Công không khó, bên sườn núi kia có một vị. (Tế Phật giảm tốc độ đài sen đáp xuống, bên sườn núi Thổ Công đang ngồi uống rượu và đàm luận say sưa với mấy vong hồn lương thiện, không ngờ rằng có Tế Phật tới bàng hoàng chẳng biết xử trí ra sao vội vã đứng lên đón chào hỏi han).

    Phúc Thần: Hoan nghênh Tế Phật tới thăm, tiếc rằng tiểu thần đón tiếp không được chu toàn xin rộng lòng tha thứ.

    Tế Phật: Không ngờ Trần... (Phúc Thần) còn thích hơi men.

    Phúc Thần: Quả thật là xấu hổ, xấu hổ, bữa nay may mắn hẹn gặp được mấy bạn hiền tại đây, nên chỉ uống vài chén để vui vầy mà thôi, kính mời Tế Phật ngồi... Còn thưa không rõ đại danh của vị được Tế Phật dẫn đi theo?

    Tế Phật: Đó là thiên bút Thái Sinh thuộc Thánh Hiền Đường.

    Phúc Thần: A thì ra người ngồi đàn cơ của Thánh Hiền Đường đã được kính phục từ lâu.

    Tế Phật: Phúc Thần vẫn được mạnh giỏi chứ? Bữa nay chúng tôi tới đây làm rộn, thật quả là áy náy vô cùng.

    Phúc Thần: Thưa không phải vậy, được hân hạnh Tế Phật tới thăm tôi rất lấy làm vinh dự.

    Tế Phật: Trần... (Phúc Thần), bữa nay chúng tôi tới đây là muốn tìm hiểu về những điều lành dữ của dân cư trong vùng, để làm tài liệu cho bộ sách trời Nhân Gian Du Kí là cuốn cuối cùng trong ba cuốn nói về ba cõi Thiên Địa Nhân, mong được Phúc Thần hướng dẫn chúng tôi đi dạo thăm quý vùng để biết rõ sự tình.

    Phúc Thần: À thì ra nguyên nhân là như vậy, nhưng xin quý vị nghỉ chân một lát, sau đó tôi xin hướng dẫn đi coi xét mọi việc.

    Tế Phật: Việc công quá gấp, không thể trì hoãn.

    Phúc Thần: Nếu vậy thì chúng ta phải đi ngay. (Tế Phật và Thái Sinh cùng Phúc Thần đi tới khu dân cư).

    Phúc Thần: Tôi xin trình bày hoàn cảnh của gia đình này. Vợ chồng họ hòa hợp, con cái thông minh khỏe mạnh, chồng là giám đốc một công ti bán thực phẩm, nên phải điều hành mọi việc của công ti. Người vợ kiếp trước sống hiền lương, luôn luôn giúp đỡ kẻ nghèo khổ, do đó đã gây được nhân tốt cho kiếp này, hiện giờ lại đang tu theo pháp môn “Phật Giáo Tĩnh Thổ” (Đất Phật yên lành).

    Thái Sinh: Phước huệ song tu quả là rất hay, đúng là tiêu chuẩn hạnh phúc gia đình.

    Phúc Thần: Tiếp theo tôi xin giới thiệu một gia đình bình thường không thiện không ác, chẳng cần nghĩ ngợi nhiều về họ.

    Thái Sinh: Hay lắm.

    Phúc Thần: Gia đình thứ ba này vốn được phúc báo nhưng nữ chủ nhân từ nhỏ vốn sống cuộc đời xa hoa, không hề biết tiết kiệm là gì, khi lập gia đình, chồng đi làm ở nhà một mình buồn bã vì không có việc gì làm nên đã la cà hàng xóm láng giềng, ngồi lê đôi mách, khẩu đức không tu, tạo nhiều khẩu nghiệp, tiêu diệt phúc đức, đánh mất hòa khí trong gia đình, tương lai con cái sẽ bị ảnh hưởng, người vợ sẽ bị họa. Vợ chồng của gia đình thứ tám này, kiếp trước oan nghiệp chưa giải, kiếp này vợ chồng gặp nhau, do đó gia đình xào xáo, trung bình mỗi ngày cãi lộn nhau đến ba lần, nguyên do đều tại người vợ trong gia đình này lòng dạ quá cay nghiệt, hẹp hòi gây đau khổ nhiều cho người thân. Còn mấy gia đình phía trước không thiện không ác, chẳng cần lấy tài liệu, chúng ta hãy đi về hướng kia để phỏng vấn một số gia đình khác.

    Thái Sinh: Vâng, song thưa có phiền lắm không.

    Phúc Thần: Không sao, không sao. Cha mẹ trong gia đình này lúc trẻ bần hàn nhưng lại quyết chí nuôi nấng dạy dỗ đàn con nên người, bởi vậy các con hiện thời đều thành thân, gia đình êm ấm hòa thuận và sống rất hạnh phúc. (Thổ Công còn chỉ một gia đình khác). Người chồng của gia đình này là một người tu đạo, hiện tại ăn chay trường, song còn người vợ vẫn chưa chịu tu, vì để tai nghe quá nhiều những lời dèm pha phá hoại đức tin, vả lại chính người vợ trí tuệ chưa đủ nên không phân biệt nổi phải quấy. Tương lai người chồng có thể tu tới quả vị thiên tiên, còn người vợ sẽ bị luân hồi quả báo.

    Thái Sinh: Vị tu đạo đó có thường lễ vái Phúc Thần không?

    Phúc Thần: Chăm lắm, mỗi lần đi qua miếu thờ, đều có vào thắp nhang khấn khứa.

    Thái Sinh: Đó là đức tính của người tu đạo.

    Phúc Thần: Có một số người đã tu đạo song vẫn coi thường tôi vì họ tự cho mình là cao, quá duy ngã độc tôn.

    Thái Sinh: Cao tăng đắc đạo!

    Phúc Thần: Nếu là người cao tăng hoặc người đức lớn qua đây, tôi có nhiệm vụ bảo vệ hộ tống ngay, song tiếc rằng họ chỉ là người có được chút đức mà đã tự cho mình đắc đạo nên mới như vậy.

    Thái Sinh: Quả là người thông bác thì luôn luôn khiêm nhường, kẻ dốt nát lại thích tự cao tự đại.

    Phúc Thần: Ha ha, đúng lắm, không ngờ Thái Sinh lại có thể lấy một ví dụ chí lí đến như vậy thật đáng kính phục thay.

    Thái Sinh: Phúc Thần quá khen, kẻ hạ ngu này còn phải học hỏi nhiều hơn nữa.

    Phúc Thần: Thái Sinh quá hạ mình... Chúng ta đi về hướng kia... Gia đình này có một vị kiếp trước là người tu nhân tích đức, kiếp này giáng sinh đất phúc, do đó từ bé được sống sung sướng, đã có sẵn sản nghiệp lại cố gắng kinh doanh nên rất thành công. Gần đây, vì kết giao với một số bạn cờ bạc, nếu như không sớm hồi tỉnh, sự nghiệp sẽ tiêu tan.

    Thái Sinh: Hi vọng vị ấy có đủ đức dũng để bỏ tật đó.

    Phúc Thần: Nhà này sống chung không hòa thuận nên thường gây gổ với nhau.

    Thái Sinh: Như vậy là lỗi tại người nào trong gia đình?

    Phúc Thần: Theo tôi thì nàng dâu trong gia đình phải nhẫn nhục chịu đựng, ngược lại mẹ chồng phải coi con dâu như con gái đẻ, rộng lòng tha thứ những lỗi lầm, tự nhiên sẽ san bằng được hố chia rẽ cách biệt, còn không cả hai rất đau khổ. Hiện tại mẹ chồng thường hay nóng giận, áp huyết tăng cao, ngũ tạng suy nhược. Nàng dâu thần kinh não bộ luôn luôn căng thẳng, đưa đến chứng bệnh mất ngủ, từ tâm bệnh đã ảnh hưởng đến thân bệnh, đó là hiện tượng rất tự nhiên.

    Thái Sinh: Đó là nghiệp chướng của nhiều kiếp trước.

    Phúc Thần: Điều đó kính xin Tế Phật giảng giải giùm cho.

    Tế Phật: Tuy là nghiệp chướng, song nếu biết nghe lời của những vị chân tu khuyên giải tự nhiên có thể đổi tính nóng giận thành tính hiền hòa. Nàng dâu nếu biết chân thành sám hối, hiểu đó là nghiệp chướng của nhiều kiếp trước tích lũy sẽ giải được uất khí ở tâm, không còn thù hận mẹ chồng, tính tình trở nên hiền thục, chứng bệnh mất ngủ không cần thuốc cũng chữa khỏi. Còn mẹ chồng nếu như lúc tuổi còn trẻ mà biết tu tâm dưỡng tính hẳn là tới lúc tuổi già không có tật cố chấp cùng tâm phân biệt để đến nỗi gia đình mất hòa khí.

    Phúc Thần: Lời dạy của Tế Phật vô cùng hữu lí, bây giờ chúng ta tới phỏng vấn một gia đình khác.

    Thái Sinh: Thưa hay lắm.

    Phúc Thần: Gia đình này hiện giờ sự nghiệp đang lên như diều gặp gió, vì có cả một công xưởng lớn đang trên đà phát triển mạnh mẽ. Chẳng rõ vị chủ nhân này kiếp trước có tu hay không mà kiếp này được sinh nơi phúc địa, chỉ tiếc rằng trong lúc sự nghiệp đang lên lại bắt đầu sống cuộc đời ăn chơi hoang phí, lấy vợ bé giấu kín một nơi, theo tôi thấy chẳng bao lâu nữa sẽ nếm mùi đau khổ.

    Thái Sinh: Xin hỏi, dân cư quanh vùng thường lễ bái cầu xin Thổ Công, Thổ Công có gia hộ cho họ không?

    Phúc Thần: “Họa phúc không có cửa, do người tự chuốc” (Họa phúc vô môn, duy nhân tự chiêu) họ lễ bái tôi mới chỉ là bày tỏ sự thành tâm mà thôi, còn nếu như không tự mình tu nhân tích đức, chỉ ỷ lại vào sự gia hộ của tôi thì đó là sự tự hại mình; còn nếu giữ được trung hiếu tiết nghĩa, tôi sẽ trình lên cõi Nam Thiên, khi đó hẳn là được tưởng thưởng.

    Thái Sinh: À thì ra nguyên nhân là như vậy. Xin hỏi kiếp trước của Thổ Công như thế nào?

    Phúc Thần: Ha ha, muốn biết về gia thế của tôi sao? Được, để khuyên răn người đời, tôi xin tường thuật lại. Kiếp trước tôi sống tại Bành Hồ, lúc còn trẻ đã thích làm việc nghĩa, do đó mỗi khi thấy người hoạn nạn cần cứu giúp tôi liền phát tâm ngay, bởi vậy sau khi lìa trần được Minh Vương tưởng thưởng cho ở tại sở Tu Thiện để tu luyện thần thức, rồi được cử tới phục vụ tại đây.

    Thái Sinh: Chức vụ của Thổ Công như thế nào?

    Phúc Thần: Chức vụ của tôi như cảnh sát ở thế gian, nên trong khu vực này những điều thiện ác xảy ra tôi đều ghi chép đầy đủ rồi trình với Thành Hoàng địa phương, âm phủ và cõi Nam Thiên. Tương lai họ sẽ nhận được sự báo ứng rất là thực tế. Như vậy người đời chớ nghĩ là thiện ác không báo ứng, mà chỉ là chưa tới lúc, còn tới lúc rồi thì chẳng thể tránh thoát nổi.

    Thái Sinh: Đa tạ sự chỉ dẫn của Thổ Công tối nay.

    Phúc Thần: Không có chi, không có chi, quý đường vì sứ mệnh khuyên răn người đời đã phát tâm viết sách Nhân Gian Du Kí, nên mới cần tìm hỏi những tài liệu thật, việc làm đó rất tốt, tôi rất lấy làm hân hạnh được giúp đỡ quý đường.

    Tế Phật: Bữa nay thời giờ đã trễ, hãy tạm kết thúc tại đây.

    Thái Sinh: Tạm biệt Phúc Thần.

    Phúc Thần: Hi vọng sớm gặp lại.

    Tế Phật: Trò ngoan hãy chuẩn bị trở lại Thánh Hiền Đường.

    Thái Sinh: Thưa, con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư khởi hành.

    Tế Phật: Đã về tới Thánh Hiền Đường, Thái Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 3:38 pm với 3 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    February 4th 2010, 3:15 pm
  • HỒI HAI MƯƠI BA

    THÔNG MINH GIAN XẢO, NGỤC TỐI ĐỌA ĐÀY KHỔ SỞ TẤM THÂN

    AN PHẬN GIỮ MÌNH, CUỘC ĐỜI TỰ DO GIỮA CHỐN NHÂN GIAN

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 3 tháng 6 năm Nhâm Tuất (1982)


    Thơ

    Nhân sinh phù du chuyển nhãn cận
    Tạo nghiệp tội chướng nan tiêu trừ
    Hữu triêu nhất nhật lam lao cấm
    Bi thán tự sầu dĩ thái trì.

    Dịch

    Kiếp sống phù du chớp mắt qua
    Tạo nhiều nghiệp chướng khó tiêu trừ
    Tới ngày ngục tối thân giam cấm
    Hẳn quá muộn rồi biết trách ai.

    Tế Phật: Ha ha, kiếp người quá ngắn ngủi và tạm bợ, đeo mang thân xác chẳng qua chỉ ít chục năm, do đó cần phải tu sửa, song chúng sinh thường không thực hiện nổi, nên càng sống càng nhiễm bụi trần tanh hôi để rồi đau khổ triền miên. Có nhiều kẻ lại còn tán tận lương tâm làm mọi điều ác độc hại người tới khi gặp họa lao tù mới hối thì chẳng kịp nào. Do đó chỉ một chút sai lầm mà phải lâm vòng địa ngục thì thật quá ngu.

    Thái Sinh: Thưa đúng vậy, không chỉ thanh thiếu niên mà cả người đứng tuổi, chỉ vì thiếu suy nghĩ nên thường có những hành động hoang đàng, quả là thiên đàng có lối không ai tới, địa ngục cửa cài lắm kẻ thăm.

    Tế Phật: Trò ngoan từng dạo địa ngục nhưng còn cảnh lao tù ở chốn thế gian trò đã tới thăm bao giờ chưa?

    Thái Sinh: Thưa ân sư con chưa từng.

    Tế Phật: Vậy thì bữa nay thầy dẫn con đi thăm cảnh địa ngục trần gian.

    Thái Sinh: Việc đi thăm các cửa ngục trần gian để tìm hiểu quả là khó khăn.

    Tế Phật: Hãy tạm ngưng cuộc bàn luận, đã tới giờ khởi hành, mau lên đài sen.

    Thái Sinh: Thưa, con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Phía trước là ngục Quy Sơn, tọa lạc giữa một vùng đất rộng, cảnh trí xanh tươi đẹp đẽ hơn cả cảnh địa ngục dưới âm phủ.

    Thái Sinh: Quả đúng như vậy, phúc báo của đạo ở trần gian còn nhiều hơn phúc báo của đạo ở địa ngục. À, trên tường phía trước có treo một bức bích họa tả cảnh tiết thanh minh bên sông thật trứ danh.

    Tế Phật: Người ta khi làm điều sái quấy không phải hoàn toàn do kẻ đó chủ động gây nên mà còn do hoàn cảnh đưa đẩy, họ cũng có khối óc thông minh và đôi tay khéo léo nhưng tiếc rằng đã sử dụng không đúng chỗ để đến nỗi mắc phải cạm bẫy, đó cũng là hậu quả sai lầm do sự phản tác dụng của óc thông minh gây nên. Phải chi những người đó biết đem trí não và sức lực của mình phục vụ cho đường ngay, lẽ thẳng thì hẳn là giúp ích được rất nhiều cho tương lai.

    Thái Sinh: Thưa lời dạy của ân sư quả là chí lí, sẽ giúp một số kẻ bị xã hội loại bỏ có được cơ hội tốt để xây dựng lại cuộc đời, chớ tưởng rằng họ bị đui con mắt, cụt đôi tay, què hai cẳng, là hoàn toàn vô dụng, bởi lẽ nếu như họ còn có đủ ý chí kiên cường để tiến tới thì vẫn có thể thành công. Bất kể ai cứ không còn mặc cảm thân thể bị tàn phế chắc chắn sẽ được kẻ khác mến phục.

    Tế Phật: Tuy thân thể họ bị tàn phế song tâm linh vẫn còn nguyên vẹn, ngược lại những kẻ tội phạm trong chốn nhà lao tuy thân thể còn nguyên song tâm linh lại khiếm khuyết, cho nên ngục Quy Sơn này chỉ là một “dưỡng tâm viện” để mọi người ở đó có dịp tu tâm sửa tính, sau khi xuất viện đương nhiên là một người đường đường chính chính.

    Thái Sinh: Bên trong có rất nhiều trường sở công tác, có phòng điện cơ, xưởng in, xưởng cắt may, lại còn có cả phòng chỉ huy phân chia công tác, cùng giúp bệnh nhân có việc làm. Ngoài ra còn thấy có cả khu đồng ruộng xanh tươi do bệnh nhân vun xới trồng trọt.

    Tế Phật: Tay làm hàm nhai, tự lực cánh sinh đó là mục đích của đời sống nhân loại, trước kia họ được hưởng nhiều phúc lộc hiện tại phải tới đây lao động để đền bù cũng đáng lắm. Nhiều người đuổi theo cuộc sống hoang đàng xa hoa, ít ai biết tìm cuộc sống thanh nhàn đạm bạc, thiếu quan niệm bình đẳng lợi người lợi mình, làm mất đi hoàn cảnh thuận tiện chung quanh, không tạo nổi cuộc sống hạnh phúc khang an, mà chỉ đẩy đời sống cá nhân, gia đình, xã hội đến chốn sa đọa, tất cả đều thảm bại. Hiện nay chính phủ không những thiết lập công xưởng kĩ nghệ để dân chúng học tập kĩ thuật mà lại còn mở mang các trường học nữa.

    Thái Sinh: Thưa mở tại đâu?

    Tế Phật: Để thầy dẫn con tới thăm.

    Thái Sinh: Thưa vâng. (Tế Phật hướng dẫn Thái Sinh tới quận Tân Trúc để thăm trại thiếu niên trừng giới). Quả nhiên phía trước có một trường dạy về đạo đức, những học viên ở đây hoàn toàn là thanh thiếu niên, thật không ngờ được rằng tuổi còn quá trẻ mà đã bị lãnh án tù đày. Cũng thấy có rất nhiều công xưởng để cho các thiếu niên phạm pháp học về kĩ thuật.

    Tế Phật: Thật đáng tiếc nếu như trong hoàn cảnh tốt đẹp này mà không rèn luyện thì quả là đánh mất cơ hội quá may mắn.

    Thái Sinh: Thưa ân sư, con thấy có nhiều đứa trẻ ngỗ ngược không chịu nghe lời giáo huấn là tại nguyên nhân nào?

    Tế Phật: Trẻ con phần lớn chịu ảnh hưởng tính tình cha mẹ, bởi lẽ bẩm sinh chúng trực tiếp bị chi phối bởi sự hướng dẫn của người dạy dỗ nuôi nấng chúng, do đó nếu như cha mẹ chúng có đời sống tinh thần bình an vui vẻ thì chúng cũng hiền lành ngoan ngoãn. Còn nếu như cha mẹ hay nóng giận, gây gổ thì con cái cũng bướng bỉnh khó dạy, do đó cá tính của mỗi đứa trẻ bị ảnh hưởng bởi cha mẹ chúng, nên cách dạy dỗ hay nhất là người lớn phải làm gương.

    Thái Sinh: Thưa, nếu cha mẹ tính tình hiền hòa, song con cái lại ngỗ nghịch thì sao?

    Tế Phật: Trường hợp đó không thể nói được vì có quan hệ với vấn đề nhân quả, nên cần phải hết sức nhẫn nại và kiên trì giáo hóa dần dần, không được hành động vội vã nóng nảy, bởi lẽ muốn chuyển hóa được loại nhân quả này phải mất từ ba tới sáu năm, thì tính đứa trẻ mới từ từ thay đổi được, ngoài ra trong thời gian này cũng phải tập cho đứa trẻ quen với tính vị tha. Trường hợp bị nhân quả khảo đảo thì đó là nghiệp chướng vì kiếp trước không tu, nếu như gặp phải cảnh này chớ có oán than mà hãy thành tâm nhẫn nại hướng dẫn chắc chắn sẽ thành công.

    Thái Sinh: Thưa phải hướng dẫn như thế nào?

    Tế Phật: Người ta khi mới sinh ra tính vốn lành (Nhân chi sơ tính bản thiện), tâm trẻ thơ giống như hạt giống, hãy đem hạt giống đó gieo xuống mảnh đất tốt rồi nhẫn nại cùng để tâm khuyến khích, nó sẽ mọc xanh tươi. Còn đã làm cha mà lại quá bận rộn với công việc khiến bỏ bê con cái chẳng ngó ngàng, làm mẹ lại thường hay nóng giận, cố chấp có thành kiến, quá nghiêm khắc hoặc quá nuông chiều hay chẳng quan tâm để mặc chúng sống cảnh tự sinh tự diệt. Nuôi con cách trên đều là chưa thể hiện đạo trung hòa, nên mới sinh ra các vấn đề của gia đình. Do đó, nếu như cha mẹ có những hành vi này đều là không biết yêu con mà là hại con. Một số cha mẹ đã không sống gương mẫu lại còn có những hành vi bất chính có ảnh hưởng tai hại tới con cái, tâm hồn chúng luôn luôn như trang giấy trắng, tai mắt bị nhiễm những thói quen bất lương khó sửa đổi, cho nên phải nuôi con trai thành rồng, con gái thành phượng (Dưỡng tử thành long, dưỡng nữ thành phượng). Đó là tâm nguyện số một của cha mẹ, song cũng cần phải chính bản thân mình làm gương cho con cái noi theo.

    Thái Sinh: Thưa ân sư quả đúng như vậy, cầu ở mình thì được mà cầu ở người thì chẳng thành... Những người đó hiện giờ họ đang nằm mộng, hoặc trằn trọc không ngủ nổi vì tâm hồn luôn luôn xao động, họ cũng thường hồi tưởng lại đời sống tự do hạnh phúc trước đây.

    Tế Phật: Chỉ những kẻ đã đánh mất tự do mới hiểu được tự do là quý giá; chỉ những ai chịu nhiều đau khổ mới hiểu được hương vị hạnh phúc đậm đà. Cho nên nếu như hiện tại đang được hưởng hạnh phúc tự do mà không tự cho như thế là đủ, còn dùng mọi thủ đoạn để mong hưởng thụ nhiều hơn cho dù phải làm hại người khác hay phá hại luân thường đạo lí thì chớ có nên.

    Thái Sinh: Thưa ân sư, trò ngu nghĩ rằng có nhiều người hiếu thắng, tự cao tự đại nên không nhìn thấy sự yếu hèn của mình, do đó đã lập bè kết đảng, trang bị vũ khí cố chứng tỏ là mình mạnh mẽ oai phong là chỉ cốt để che giấu sự yếu hèn.

    Tế Phật: Trò ngoan nhận xét rất đúng, sách cũng có nói: “Tưởng thắng được trời, song hại chính mình” (Tưởng thắng thiên khước thâu kỉ). Thiết nghĩ đó là bệnh của chúng sinh cho nên cuối cùng đều tự chuốc lấy sự khổ đau do dục vọng gây nên. Xét tới cùng để tìm hiểu nguyên nhân thì chỉ tại lòng mình còn quá yếu hèn. Thôi, thầy trò mình tới nơi khác phỏng vấn tiếp. (Tế Phật lại hướng dẫn Thái Sinh qua Đài Bắc).

    Thái Sinh: A, khu này coi rất rộng lớn, phía trong có nữ phạm nhân.

    Tế Phật: Có một số nữ phạm nhân không tự mình phạm pháp mà bị liên lụy bởi chồng, vì đã đứng tên mở trương mục tại ngân hàng, tới khi sự nghiệp kinh doanh phá sản, chi phiếu kí ra không tiền bảo chứng, nên đã vô phúc đáo tụng đình lãnh án ngồi tù, quả là vì tiền bị khốn, vì chồng bị khổ.

    Thái Sinh: Nữ phạm nhân phía trước đang khóc lóc thật đáng thương.

    Tế Phật: Lí do vì quá thương con, cũng tại kiếp trước không tu nên kiếp này thiếu phước, bởi vậy được tới đây để giải nghiệp là rất tốt. Sau khi xuất ngục hẳn là có kinh nghiệm sống nhiều hơn còn không nếu chỉ sống hạnh phúc thì chẳng thể hiểu được thế nào là đau khổ.

    Thái Sinh: Thưa ân sư dạy rằng kiếp trước thiếu tu nên kiếp này bị tội, song có một số kẻ làm ác mà vẫn sống nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật như vậy quả là thiếu sự công bình.

    Tế Phật: Đức Phật dạy: “Ba kiếp nhân quả” nên chẳng thể căn cứ vào họa phúc của một kiếp, bởi vậy không thể nói rằng kẻ phạm tội vẫn sống tự do là may mắn, kẻ phạm tội bị giam cầm là không may mắn. Trái lại có một số kẻ nhân bị tù tội mà được cứu, hiểu được đạo sống, ngộ được chân lí, đạt được phúc âm; còn kẻ vui sướng sống ngoài vòng pháp luật lại càng lãnh thêm nghiệp chướng đọa đày, xa lìa đạo thiện, làm mất đạo duyên.

    Thái Sinh: Thưa ân sư dạy rất đúng... Còn nam tù nhân bị biệt giam tại một căn phòng riêng kia, chân bị xiềng vào góc tường trong thật đáng thương.

    Tế Phật: Người đó phạm tội quá nặng nên bị giam riêng.

    Thái Sinh: Người đời có lắm kẻ rất dễ sân hận nên nhiều khi chỉ vì một lời nói kích bác nào đó mà nhẫn tâm cầm dao hành hung kẻ khác để tỏ ra là ta đây oai hơn người.

    Tế Phật: Những kẻ đó cực kì ngu si, giết người tức là tự giết mình, bởi vậy không được cầm vũ khí hành hung người khác, sự hơn thua đó chỉ là hơn thua tạm bợ, vì khi có cơ hội đối phương tức khắc trả thù. Nên thay vì thắng người bằng lời thì hãy thắng bằng tâm, như chư Tiên Thánh Phật xưa, các ngài không lấy sự nóng giận, sử dụng khí giới để thắng kẻ khác nên lưu danh muôn thuở, đó mới là sự chiến thắng chân chính vậy.

    Thái Sinh: Thưa lời dạy của ân sư quả là tuyệt diệu... Thanh niên phía trước vừa tỉnh giấc, mồ hôi chảy ướt đẫm giống như vừa trải qua cơn ác mộng.

    Tế Phật: Có kẻ thoạt mới nhìn tưởng là rất dũng cảm, song nếu nhận xét kĩ càng hơn sẽ thấy là nhu nhược, nên cái thứ dũng đó chỉ là dũng bề ngoài của kẻ thất phu mà thôi. Thanh niên thức giấc mình đẫm mồ hôi vừa rồi gây thù chuốc oán với nhiều người, do đó bị ám ảnh tâm lí hoang mang lo sợ triền miên không làm cách nào rũ bỏ nổi, nên trong giấc ngủ mới thường gặp cảnh chém giết, cạy cửa, chạy trốn, sự dày vò tâm thức này còn khổ hơn cảnh lao tù.

    Thái Sinh: Đó là cảnh địa ngục giam giữ tâm linh thật quả đáng thương, chỉ một lần lầm lỡ mà mang hận muôn đời (Nhất thất túc thành thiên cổ hận) lời dạy từ ngàn xưa vẫn còn nhắc nhở, thiết tưởng thanh thiếu niên hiện nay nên quý trọng nghe theo.

    Tế Phật: Xin cầu chúc cho họ sớm thoát vòng khổ hải. Tạm ngừng việc viết sách đêm nay tại đây, trò ngoan sửa soạn lên đài sen.

    Thái Sinh: Thưa con đã chuẩn bị xong, kính mời ân sư khởi hành.

    Tế Phật: Đã về tới Thánh Hiền Đường, Thái Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 3:38 pm với 2 lần trong tổng số.

Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group