Nhân gian du ký - Dịch giả: Đào Mộng Nam

  • Lòng Trắc Ẩn

    February 5th 2010, 10:48 am
  • HỒI HAI MƯƠI BỐN

    BÀN TU THANH RÕ LẼ TU HÀNH

    LUẬN THÀNH HOÀNG LO BỀ THIỆN ÁC

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 6 tháng 10 năm Nhâm Tuất (1982)


    Thơ

    Vạn lại câu tịch tĩnh tâm kì
    Nhân Gian Du Kí trước thích thì
    Vân du lai khứ hư không giới
    Ngộ tại tự kỉ mạc tham si.

    Dịch

    Náo nhiệt vắng tanh dạ nguyện cầu
    Nhân Gian Du kí tiện đào sâu
    Xe mây qua lại miền tiên cảnh
    Tự giác tham sân hết khổ đau.

    Tế Phật: Đêm nay mọi sự ồn ào đều im vắng, người qua lại thưa thớt, chỉ thấy chư đệ tử của Thánh Hiền Đường tâm linh thanh tịnh chờ đón thần linh giáng lâm, nét mặt mọi người thấy đều đầy vẻ từ bi hỉ xả, lạc đạo an nhiên, lãnh phước không cầu trả ơn, lòng ta cảm thấy vô cùng sung sướng. Thế mới biết không phân biệt người đã giác ngộ hay kẻ không tu, tất cả đều hoàn toàn tiến bộ, mong rằng chư sinh Thánh Hiền Đường giữ mãi được tinh thần này trên đường hoằng dương đạo pháp để hoàn thành sứ mệnh lớn lao độ mình và độ người.

    Thái Sinh: Thưa ân sư vừa đề cập tới phương diện chăm chỉ lo công phu và hăng hái lo công quả của toàn thể bạn đạo thuộc Thánh Hiền Đường, song vừa rồi có một nữ bạn đạo hỏi về việc hôn nhân của con, và nếu con không lầm thì vị đó có ý đặt vấn đề tu thanh tịnh, vậy kính xin ân sư ban lời chỉ giáo cho.

    Tế Phật: Vấn đề này rất ư quan trọng, và tin rằng hầu hết các hành giả hiện diện nơi đây đều ít nhiều thắc mắc, có hành giả đã phát đại nguyện tu thanh tịnh, có kẻ còn đang trong vòng mê hoặc, không biết đi đâu, theo đâu; bữa nay nhân con đề cập đến vấn đề này thì cũng thử tạm bàn luận sơ qua. Kẻ phát nguyện tu thanh tịnh cần có mấy điểm trọng yếu sau đây:

    1. Trước tiên phải được sự thỏa thuận của cha mẹ.
    2. Không được tự ý hoặc miễn cưỡng tuân theo.
    3. Phải có minh sư và bạn đồng tu thanh tịnh hướng dẫn để tránh đi lạc vào đường tà đạo, cùng không bị sự lẻ loi làm nản lòng, thối chí; có như vậy tu thanh tịnh trước sau mới dễ dàng có kết quả, còn không sẽ bỏ dở nửa chừng.

    Thái Sinh: Thưa ân sư, nguyên nhân tại sao lại bỏ dở nửa chừng?

    Tế Phật: Lí do bỏ dở nửa chừng vì tâm không kiên định nên đã sinh dạ hoài nghi.

    Thái Sinh: Kính xin ân sư giảng giải thêm để con được hiểu rõ nghĩa của câu “kiến tư hoặc”.

    Tế Phật: “Kiến tư hoặc” có nghĩa là kẻ tu đạo nửa chừng gặp trở ngại phiền hà đã sinh lòng hoài nghi tăm tối, cho nên những gì nhìn thấy, nghe thấy đều có chỗ mê hoặc không thể trừ diệt thì đó là “kiến hoặc”. Cũng có thể tâm não của kẻ tu đạo bị nhiễm tà ý, vọng niệm không trừ diệt nổi thì đó gọi là “tư hoặc”. Hai “hoặc” trên đều là những chướng ngại lớn lao của kẻ tu đạo. Còn nếu như có bạn cùng tu, có minh sư hướng dẫn kĩ càng thì khi “kiến tư hoặc” mới phát sinh, thầy và bạn cũng dùng chính kiến, chính niệm, chính định, cùng chính tư duy giải cho, ngược lại sẽ dễ dàng đi sai đạo lớn, hiểu sai người khác.

    Thái Sinh: Thưa ân sư con đã hiểu rõ được rằng tu thanh tịnh chẳng dễ dàng như người ta tưởng.

    Tế Phật: Biết dễ làm khó “Tri dị hành nan” do đó kẻ có chí tu thanh tịnh phải dứt bỏ ý niệm vinh hoa, bỏ tâm tính chìm nổi mới có thể nói tới tu pháp môn này, còn không kẻ phát nguyện tu thanh tịnh sẽ bị rơi vào tình trạng động loạn. Nếu như không có minh sư hướng dẫn và bạn cùng tu an ủi, khuyến khích cuối cùng sẽ nản lòng thối chí, bỏ dở nửa chừng.

    Thái Sinh: Thưa lời dạy của ân sư rất hợp với đạo trung dung, hi vọng những ai muốn tu thanh tịnh nhờ kinh nghiệm này sẽ đầu đi đuôi lọt không bị trở ngại giữa đường, bỏ quên đạo lớn... Còn như có người đã phát nguyện tu thanh tịnh lại còn muốn xây dựng gia thất cùng sự nghiệp ở đời thì sao?

    Tế Phật: Loại người này chỉ có tâm mà không có chí, nếu như đã sẵn có gia đình sự nghiệp thì cũng chớ vì vậy mà buồn phiền, phải cam chịu đọa đày mới có thể đối phó với thực tế, bình tĩnh đi trên đất thực, điềm nhiên chăm chỉ cày bừa, làm lành lánh dữ, chấp nhận nửa thánh nửa phàm thì cũng có thể thành tựu đạo lớn.

    Thái Sinh: Ha ha, vấn đề nan giải này, con thiết nghĩ rất nhiều người cảm thấy vô cùng khó khăn, song nhờ ân sư chỉ dạy, tin rằng đối với bất cứ ai dù đã hay chưa phát nguyện tu thanh tịnh đều có được kinh nghiệm vô cùng quý báu.

    Tế Phật: Thôi thầy trò mình hãy lo thực hiện công tác.

    Thái Sinh: Thưa vâng, con đã lên đài sen, kính mời ân sư khởi hành.

    Tế Phật: Đêm nay thầy hướng dẫn con tới phỏng vấn thần Thành Hoàng, sắp tới nơi rồi, trò ngoan hãy sửa soạn y phục cho thật ngay ngắn, chúng ta chuẩn bị vào thăm. (Tướng quân canh cửa thấy Tế Phật và Thái Sinh tới vội vàng chạy vô thông báo, lát sao thần Thành Hoàng, thần nghi lễ, và một số tướng quân ra tận cửa nghênh đón).

    Thành Hoàng: Hoan nghênh đức Tế Phật tới thăm, bản ti xin ngài tha thứ cho sự chậm trễ.

    Tế Phật: Chớ quá giữ lễ, hôm nay chúng tôi vì việc viết sách Nhân Gian Du Kí nên phải tới đây nhờ sự giúp đỡ của quý ti.

    Thành Hoàng: A thì ra nguyên nhân là như vậy. (Thần nghi lễ dâng trà thơm trái ngọt). ... Thưa mời dùng.

    Thái Sinh: Cảm tạ Thành Hoàng đã tiếp đãi nồng hậu, thưa xin hỏi phía trong sao có tiếng khóc của vong hồn.

    Thành Hoàng: Vong hồn bị giam giữ ở căn nhà phía bên trái, vì quá thương nhớ người thân, không cầm nổi sự xúc động nên than khóc, đợi một lát, tôi sẽ hướng dẫn qua coi sẽ rõ.

    Tế Phật: Thôi cứ tới xem thử như thế nào.

    Thành Hoàng: Vâng được.

    Thái Sinh: Thưa chưa được rõ nhiệm vụ của Thành Hoàng ở đây như thế nào, tại sao trong miếu lại có các tướng quân và vong hồn lương thiện qua lại?

    Thành Hoàng: Nhiệm vụ của tôi như cảnh sát ở dương gian, vì giữ phần vụ thông tin giữa hai cõi âm dương, cho nên những linh hồn sau khi hồn lìa khỏi xác đều phải tới đây trình diện, rồi sao đó mới chuyển tới nơi khác.

    Thái Sinh: À thì ra nguyên nhân là như vậy.

    Thành Hoàng: Tiếng khóc Thái Sinh nghe vừa rồi phát ra từ căn nhà này.

    Thái Sinh: Tại sao chân của các vong hồn lại bị xiềng xích như thế kia?

    Thành Hoàng: Đây là nhà giam các vong hồn lúc sống làm lắm điều tàn ác bất nhân, do đó bị giam giữ tại đây để bản ti điều tra các hành vi tội ác song mới áp giải xuống địa ngục để trừng phạt.

    Thái Sinh: Thanh niên này tuổi còn nhỏ cớ sao đã phải tới đây trình diện, có thể đề nghị thanh niên đó thuật lại nguyên nhân làm tài liệu khuyên đời.

    Thành Hoàng: Thái Sinh cứ lại gần phỏng vấn tự nhiên.

    Thái Sinh: Xin hỏi cớ sao lại bị giam cầm tại đây? (Thanh niên cúi gầm đầu chẳng dám ngửa mặt nhìn lên).

    Thành Hoàng: Này Vương... Đây là vị ngồi đàn cơ thuộc Thánh Hiền Đường ở dương gian, bữa nay tới đây phỏng vấn để thu thập tài liệu, vậy hãy mau thuật lại việc đã làm lúc còn tại thế để cảnh tỉnh người đời, bản ti sẽ tường trình với địa phủ, hi vọng sẽ làm giảm khinh hình phạt. (Thành Hoàng sai tướng quân Hắc Bạch mở khóa tay, mở còng chân cho linh hồn).

    Vong Hồn: Đa tạ thần Thành Hoàng đã ban ân. Vì thể diện của cha mẹ, xin chớ tiết lộ tên tuổi cùng địa chỉ của tôi.

    Thành Hoàng: Được.

    Vong Hồn: Nhớ lại những việc tôi đã làm lúc còn tại thế thật xấu hổ vô cùng, bỏ học bỏ hành, tập tính hút sách, rượu chè cờ bạc được một năm cha mẹ mới khám phá ra, tôi đã không chịu hối cải lại còn oán trách song thân là tại sao đã sinh ra tôi, tại sao để tôi sống trên đời, tại sao hai người lại là cha là mẹ. Những ý tưởng đen tối vừa kể trên cứ dằn vặt tâm hồn tôi, từ đó trở đi tôi bắt đầu sống cuộc đời phóng đãng, bỏ cửa bỏ nhà giao du cùng bọn bất lương. Tính tôi vốn hèn nhát xong luôn luôn làm như vẻ ta đây là tay anh chị nên thường gây gổ hiếp đáp những người lương thiện, dùng khí giới hăm dọa người già cả thật thà. Với vẻ mặt hung hãn đầy sát khí khiến người hiền lương sợ hãi, tôi lại tự cho mình rất mực oai phong, vì không ai dám nhìn ngó đụng chạm tới tôi, nên nhân cơ hội này tôi đã trở thành dân anh chị thứ thiệt tại các sòng bài, nhà hàng và khiêu vũ trường, từ đó tôi muốn gì được nấy, ăn nhậu say sưa tối ngày, vì càng lúc tôi càng ngang tàng ngược ngạo, hành hạ ngay cả các tay em, do đó có lần lợi dụng lúc tôi quá say, chúng đã ra tay thanh toán tôi, vết thương quá nặng thuốc nào cũng không chữa nổi đành chịu thác. Tới lúc tỉnh lại thấy mọi thứ chung quanh hoàn toàn xa lạ, và cuối cùng bị áp giải tới đây, giờ nhớ lại những hành động đã làm lúc còn tại thế mới thấy tội ác ngập đầu, không những đã không nghe lời khuyên nhủ của các bậc trưởng thượng mà lại còn nhạo báng chê cười, cho những lời dạy đó là những điều ngu xuẩn, nên đã từng mạ lị lại như sau: “Thời đại khoa học làm gì có nhân quả, linh hồn chẳng còn tồn tại sau khi chết”. Đến giờ mới rõ là khoa học và đạo đức đều quan trọng, chẳng thể phản bội lương tâm, phá hoại công trình xây dựng... Hiện thời rất đỗi tưởng nhớ công ơn dưỡng dục của cha mẹ. (Nói tới đây oan hồn không cầm nổi nước mắt khóc òa, sau phút trầm lặng oan hồn gạt nước mắt nói tiếp). Thiết tưởng rằng người ta hễ sống trên đời là có nửa phúc để hưởng nửa nghiệp để giải, đức lớn phúc lớn, đức nhỏ phúc nhỏ, song tôi đã đem nửa phần phúc đó tiêu hoang phá hại.

    Thái Sinh: Thật không ngờ rằng vong hồn lại có thể nói ra đạo lí thức tỉnh được người đời.

    Vong Hồn: Cũng nhờ khi bị giam ở trong ngục mới có dịp tĩnh tâm nên tỉnh ngộ, song hiện nay theo như lời các tướng quân coi ngục thì kiếp sau tôi không thể làm người, sau khi chịu hình phạt ở dưới địa ngục tôi sẽ bị luân hồi làm súc vật, nghĩ tới đây không lạnh mà run, trước kia mỗi lần thấy gà, vịt, chó bị giết đau đớn rên siết tôi lại thấy sung sướng reo cười thật là tán tận lương tâm, khi đó tôi đâu có ngờ rằng gió nước luân lưu, nếu như kiếp tới tôi phải đầu thai làm chó, hi vọng người đời chớ quá hành hạ xử tệ với tôi... Sau hết tôi thiết tha khuyên người đời chớ có làm những gì tôi đã làm, như không nghe lời cha mẹ, khinh rẻ người khác để rồi có ngày bị đày ải như tôi hiện tại.

    Thái Sinh: Nghe lời vong hồn trình bày, lại nghĩ tới một số người chuyên làm ác, bị cảnh sát bắt tại trận, những lời phạm nhân khai ra đều là những bài học cảnh tỉnh người đời, sau khi suy nghĩ lại mới quay về nẻo thiện, sự kiện này quả đã chứng minh cho lời nói: “Chim sắp chết tiếng kêu mới buồn, người sắp thác lời nói mới thiện” (Điểu chi tương tử, kì minh dã ai; nhân chi tương vong, kì ngôn dã thiện). Vong hồn trí não cực kì thông minh, song phản tỉnh thì đã quá muộn, thật quả đáng tiếc.

    Vong Hồn: Kính xin quý vị giúp đỡ, lạy chào, lạy chào.

    Thành Hoàng: Bữa nay vong hồn đã thuật lại tất cả những hành vi xác thực lúc còn tại thế, lại có tâm hối cải nên những lời nói vừa rồi có công dụng cảnh tỉnh người đời, tôi sẽ tường trình đầy đủ mọi chi tiết với Minh Vương để vong hồn được giảm khinh hình phạt.

    Thái Sinh: Thưa ân sư, nếu như kẻ phạm tội sau khi coi Nhân Gian Du Kí mà thức tâm quay đầu về nẻo thiện thì liệu có thể giải được nghiệp quả ác báo chăng?

    Tế Phật: Vấn đề con vừa đề cập tới rất đúng, cho nên sách có nói: “Người chẳng phải Thánh nên có sai lầm, song biết sửa đổi đức thiện hẳn lớn lắm thay” (Nhân phi thánh hiền, thục năng vô quá, tri quá tất cải, thiện mạc đại yên). Vì thanh thiếu niên sinh vào thời mạt thế, trái đất đảo điên con người mê loạn, một chút lỡ lầm bị sóng lớn cuốn xuống biển sâu, mãi mãi bị chôn vùi, song nếu có dịp gần gũi các bậc trí thức hiền lương, hay được may mắn xem sách Nhân Gian Du Kí này, mà biết được dĩ vãng đã làm những tội cực ác thì tức khắc phải thức tỉnh quay đầu về nẻo thiện, vĩnh viễn dứt tuyệt căn ác, làm người đường đường chính chính, hướng về đạo lớn quang minh để đền ơn cha mẹ nuôi dưỡng, nỗ lực làm việc để xây dựng sự nghiệp chính đáng, sám hối quá khứ, giúp đỡ kẻ được hạnh phúc, hẳn là sau này tránh được hình phạt khổ đau tại địa ngục, có thể siêu thăng thiên đàng, thoát khỏi luân hồi.

    Thành Hoàng: Còn oan hồn ở trong phòng giam kia chẳng thể phỏng vấn, chúng ta qua phòng bên phải là chốn của các vong hồn lương thiện.

    Thái Sinh: Các vong hồn ở phòng này tính tình coi có vẻ thoải mái. Xin hỏi vong hồn có thể kể lại đời sống ở trên dương thế đã trải qua không.

    Thiện Hồn: Thú thật lúc sống ở dương gian tôi chẳng làm được việc đại thiện, song cũng không bao giờ dám làm điều sái quấy, giữ hòa ái cùng hàng xóm láng giềng nên khi sống được thanh nhàn, sau khi chết được phúc thần dẫn độ tới đây nghỉ ngơi.

    Thái Sinh: Quả là rất may mắn, làm người không bỏ mất cương thường, nhân đạo còn mãi, gia đạo còn hoài.

    Tế Phật: Vì thời giờ eo hẹp, chúng tôi xin tạm ngưng cuộc phỏng vấn tại đây.

    Thành Hoàng: Thưa vâng, tạm biệt Tế Phật cùng Thái Sinh, ước mong sớm gặp lại.

    Tế Phật: Trò ngoan hãy mau chuẩn bị trở lại Thánh Hiền Đường.

    Thái Sinh: Thưa ân sư con đã sửa soạn xong, kính mời thầy lên đường.

    Tế Phật: Đã về tới Thánh Hiền Đường, Thái Sinh xuống đài sen.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:11 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    February 5th 2010, 8:55 pm
  • HỒI HAI MƯƠI LĂM

    SẮC KHÔNG MÊ NGƯỜI, NGƯỜI TỰ MÊ

    NGỘ TƯỚNG VỐN KHÔNG, KHÔNG SẮC TƯỚNG

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 3 thánh 7 năm Nhâm Tuất (1982)


    Thơ

    Sắc tướng bản không ngộ chân tông
    Lục trần phi hữu kiến tính vương
    Tam tâm tảo khứ quy chính giác
    Ngũ uẩn tận trừ khả thần thông.

    Dịch

    Xé màn sắc tướng giác chân thường
    Vứt bỏ lục trần ngộ tính không
    Quét sạch tam tâm quy chính giác
    Tẩy trừ ngũ uẩn đạt thần thông.

    Tế Phật: Từ khi khoa học kĩ thuật phát triển tới nay, sự kiện bạo lực ngày một gia tăng bởi bọn người mê muội chạy theo tiền bạc, địa vị, vinh hoa, sắc đẹp. Song những kẻ chạy theo sắc để rồi bị sa đọa vẫn chiếm số đông. Tuy nhiên vẫn còn một số ít sáng suốt, sớm lo tu đạo, bỏ đời tìm tới động Đào Nguyên, nên giác ngộ được lẽ sắc tướng vốn không, lục trần chẳng có, bữa nay thầy hướng dẫn con tới phỏng vấn các vị đạo sĩ thuộc loại này.

    Thái Sinh: Thưa, quả là con có được nhiều may mắn, con cũng tin tưởng rằng hiện tại người đời bị sắc tướng mê hoặc ngày càng trầm trọng khiến nổi khổ đau không thể nào tả xiết, những kẻ không vượt thoát nổi hẳn là đang thiết tha mong được cứu chữa.

    Tế Phật: Trò ngoan nói rất đúng, phải là chim đậu trên cao coi xét cảnh mê hồn trận mới thấy rõ được vấn đề, còn đứng dưới thấp mà tuyên bố này nọ chỉ làm lòng người thêm mê hoặc mà thôi.

    Thái Sinh: Thưa, bữa nay ân sư hướng dẫn con tới phỏng vấn các vị đại sĩ chân tu, như vậy là con được may mắn đứng ở chỗ cao, đứng ở chốn đạo tâm chăng?

    Tế Phật: Đại khái là như vậy, người ta ai cũng có lúc mê loạn, song nếu trừ khử được tâm mê loạn đó thì trí tuệ sáng suốt vốn sẵn có hiển lộ ngay, hãy phân tích nhìn nhận rõ các tướng sẽ thấy được bản tính.

    Thái Sinh: Thưa ân sư quả đúng như vậy, con xin theo thầy tới phỏng vấn đại đức có pháp hiệu là “Đại Viên Kính Trí”.

    Tế Phật: Hãy chuẩn bị khởi hành, trò ngoan mau lên đài sen.

    Thái Sinh: Thưa con đã sẵn sàng, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Vùng ngoại ô này yên tĩnh một cách lạ thường, phần đông dân cư đã yên giấc, chỉ còn một số ít người qua lại trên đường, gia đình đông người ở trong căn biệt thự cổ kính kia cũng đều yên giấc cả rồi.

    Thái Sinh: Thưa, người ta đã ngủ yên giấc, ân sư lại còn dẫn con tới đánh thức dậy thì có làm phiền họ lắm không?

    Tế Phật: Trò ngoan còn có chỗ chưa rõ, gia đình này có một vị thanh niên ít năm trước đây vì thân thể suy nhược nên đã làm khổ cha mẹ rất nhiều.

    Thái Sinh: Thưa lí do tại sao?

    Tế Phật: Tại trên đầu chữ sắc có chữ đao, và chữ đao tức con dao này đã cắt hết thịt cùng tinh, khí, thần của thanh niên nọ nên thân thể trở thành suy nhược.

    Thái Sinh: Thưa sau này thanh niên đó ra sao?

    Tế Phật: Đương nhiên là khổ cha mẹ rất nhiều, vì phải chạy chữa thuốc thang cho con, song căn bệnh không hề thuyên giảm, khiến cha mẹ khốn quẩn trăm chiều, cuối cùng thanh niên này gặp được cơ hội tốt một cách tự nhiên, vì bữa nọ thanh niên đó tình cờ đi tới Thánh Hiền Đường thấy sách đạo phát không liền thỉnh về đọc rồi phát tâm công phu, công quả thật là chăm, nên đã đuổi được con ma sắc dục ra ngoài bản thể, do đó bệnh không cần thuốc chữa mà khỏi.

    Thái Sinh: Ha ha, bệnh tâm phải có thuốc tâm mới trị nổi, thật quả là siêu diệu.

    Tế Phật: Hiện thanh niên đó đang ngủ say sưa để thầy niệm chân ngôn mật chú để hồn thanh niên đó xuất ra cho con phỏng vấn.

    Thái Sinh: Thưa vâng. (Tế Phật niệm chân ngôn mật ngữ, hồn thanh niên đó xuất ra).

    Duyên Sinh: Thưa ân sư mạnh khỏe, trò ngu xin lạy chào.

    Tế Phật: Miễn lễ, thầy giới thiệu với con đây là thánh bút Thái Sinh thuộc Thánh Hiền Đường.

    Duyên Sinh: A, nguyên lai là như vậy, vốn đã kính phục từ lâu.

    Thái Sinh: Thưa sư huynh được mạnh giỏi, bữa nay đệ tới đây mong huynh chỉ giáo nhiều cho.

    Duyên Sinh: Thái Sinh quá khách sáo, tôi học đạo chưa được bao lâu, quá khứ lại mắc nhiều lầm lỗi, song may nhờ từ khi được đọc Thánh Hiền tạp chí nên đã tự sám hối ăn năn, nếu không chẳng rõ hiện giờ đang luân lạc tại phương nào?

    Thái Sinh: Xin giải thích thêm.

    Duyên Sinh: Nói ra càng thêm mắc cở, chi bằng không nói hay hơn.

    Tế Phật: Trò ngoan bữa nay Thái Sinh đến đây là để phỏng vấn về quá khứ của trò, nếu như bữa nay trò không tường thuật lại thì lấy gì làm bằng chứng khuyên răn người đời, để họ cũng có thể tự ăn năn hối cải như trò?

    Duyên Sinh: Thưa lời dạy của ân sư rất phải, song không lẽ trò ngu lại tiết lộ bí mật của đời mình để cho thiên hạ bàn tán trong lúc trà dư tửu hậu được sao?

    Tế Phật: Trò ngoan, điều đó chớ quan tâm vì họ tên và địa chỉ của trò được giấu kín.

    Duyên Sinh: Ân sư đã dạy như vậy thì trò ngoan xin vâng lời, song không rõ là nên bắt đầu câu chuyện từ khoảng thời gian nào?

    Tế Phật: Nên thuật lại khoảng thời gian trò trụy lạc.

    Duyên Sinh: Thưa vâng, khi còn trẻ vì có tật ham chơi và tính hiếu kì nên thường lén mua sách báo khiêu dâm về coi, do đó mắc chứng ưa dâm dục quá nặng, sau đó lại còn theo kẻ khác đi coi phim con heo, nên càng bị con ma dâm dục ám ảnh, thường mơ tưởng tới những hình ảnh phụ nữ lõa thể, khiến tinh thần suy nhược không thể tự chủ, đã vô tình phá tán ba báu vật tinh, khí, thần. Tới khi cha mẹ hay được thuốc thang chạy chữa nhưng vô hiệu quả, đang khi tôi vô cùng thống khổ vì căn bệnh càng lúc càng ngặt nghèo thì có một bữa nọ tình cờ tôi đi tới một ngôi đền nọ, thỉnh được một số sách đạo đem về đọc nên hiểu được cái lẽ tu tâm dưỡng tính, tránh được sự quấy nhiễu của ngoại duyên. Cuối cùng nửa năm trước đây tôi đọc sách Nhân Gian Du Kí tới hồi thứ sáu, được ân sư Tế Phật giảng giải và phân tích rõ về sắc đẹp, đã giúp tôi tỉnh ngộ rất mau lẹ, từ đó tôi mới hiểu rõ về nữ sắc, không còn bị sắc đẹp ma quái chi phối nữa.

    Thái Sinh: Thưa sư huynh đã tu và tự đạt giải thoát, huynh quả là một đấng trượng phu, vượt thắng trăm ngàn kẻ khác đang đắm chìm trong biển ái dục, song xin hỏi, huynh đã cắt lìa những dây tình trói buộc của nữ sắc đó như thế nào?

    Duyên Sinh: Nếu tôi trình bày cặn kẽ e quá dài, tôi cũng không biết bắt đầu từ đâu. Tôi trước kia vốn thấy sắc đẹp là say mê ham muốn, có lẽ vì xem quá nhiều sách báo khiêu dâm in hình lõa thể nên tính dâm dục bị kích thích quá mạnh khiến tâm thần mê loạn. Về sau, nhờ trầm tư quán tưởng tôi trấn tĩnh được tinh thần, cuối cùng nữ sắc có gì đáng mê say đâu mà khiến con người phải điên đảo quay cuồng như vậy, và tôi cứ tiếp tục thâm cứu sự quan hệ vi diệu đó mãi, cuối cùng tôi mới khám phá ra rằng nữ sắc vốn không.

    Thái Sinh: Sự khám phá của huynh rất ơn ích cho người đời vậy xin huynh phân tích lại cho được tỏ tường hơn.

    Duyên Sinh: Thưa được, tôi xin phân tích sự kết quả đó như sau: Nữ sắc vốn tự nó không có gì là quan trọng cả bởi lẽ các tướng của nữ sắc, đều do người ta tô điểm, cộng thêm tính mê say vốn có trong mình nam giới tạo nên. Ví như gặp một thiếu nữ xinh đẹp nào đó trên đường phố, nàng mặc đồ mỏng hở hang, đầu xức nước bông, má môi đánh phấn thoa son, cặp giò mang vớ mỏng, chỉ có vậy mà trở thành một bức hình mĩ nhân nõn nà khiến nam giới thèm khát đến nỗi có thể ăn tươi nuốt sống, thành ra những thứ đồ trang sức, đã là lí do chính làm thanh niên chú ý, thậm chí có một số kẻ chỉ vì say mê vẻ đẹp bề ngoài này mà tâm lí biến thái sinh bệnh nặng, thân xác khô héo gầy mòn. Có nhiều trường hợp cũng chỉ vì ham mê sắc đẹp mà trở thành kẻ cuồng bạo sát nhân, xây nhà vàng chứa vợ bé, bỏ vợ lớn gây sóng gió cho gia đình, phá hoại luân thường đạo đức của xã hội, thật quả là vấn đề nan giải. Vẻ đẹp bề ngoài của nữ giới làm mê mẩn lòng người, chẳng khác nào nhện giăng lưới mê hồn, dẫn dụ một số ruồi nhặng hiếu kì tự lao đầu vào bẫy. Nếu như muốn bài trừ thứ sắc tướng đó, chỉ cần sử dụng phương pháp quán tưởng để mở trí quan sát, sẽ thấy được rõ mọi khía cạnh và sau đó sẽ hiểu được rằng mình mê say phái nữ là chỉ mê say cái vẻ đẹp trang sức bề ngoài cùng thân xác ngọc ngà, phấn son của họ. Nếu say mê cái vẻ trang điểm bề ngoài như áo quần hở hang họ mặc do tơ sợi dệt thành thì tại sao nhìn tơ sợi lại không mê? Mê vì đôi vớ mỏng thì tại sao khi vớ còn là tơ sợi tại xưởng dệt lại không mê? Mê vì phấn son nhưng phấn son chỉ là hóa chất pha chế, thì tại sao lại không mê hóa chất? Mê vì thân xác ngọc ngà thì thân xác đó cũng bằng da bằng thịt, ngoài ra chẳng còn sức quyến rũ nào khác hơn, thành ra thân xác đó cũng giống tựa đồ sứ chén kiểu, thân thể dẫu mềm mại cũng chưa chắc mềm mại hơn nổi lụa the. Cho nên “Sắc không mê người, người tự mê” (Sắc bất mê nhân, nhân tự mê). Sắc đẹp sở dĩ có chẳng qua là do cảm giác sai lầm của ý thức chính mình tạo ra mà thôi.

    Thái Sinh: Ha ha, bởi vậy trong sách Tây Du Kí nổi danh có cảnh Trư Bát Giới vì tham sắc chịu phiền não, là cốt để làm gương cho đời hầu cảnh tỉnh những kẻ hiếu sắc khỏi bị ngoại vật giả tạo cám dỗ, làm lu mờ mất bản tính chân thật, khiến tự chuốc đau khổ vào mình.

    Duyên Sinh: Có một số kẻ mù quáng, mê mẩn lao đầu vào các động để hưởng thụ được khoái lạc, song nếu biết suy ngẫm tìm hiểu kĩ càng, sẽ nhận chân ra rằng những cảnh sắc mê li đó vốn giả tạm nên chẳng thể tồn tại.

    Thái Sinh: Sư huynh phân tích về sắc tướng quả là cao minh, tin rằng những điều vừa trình bày có thể giải cứu được rất nhiều kẻ mê lầm.

    Duyên Sinh: Thái Sinh chớ quá khen, sở dĩ tôi mở được trí là nhờ cố gắng nghiên cứu học hỏi lí đạo cao sâu. Cũng xin tỏ lòng kính mến chư tín hữu Thánh Hiền Đường đã dốc tâm vì đạo pháp.

    Thái Sinh: Thưa bản đường chỉ mới có chút cố gắng vì xã hội mà thôi, tin rằng chỉ những bậc Thánh đạo cao đức rộng vô tiền khoáng hậu mới có đủ tài để người đời kính phục.

    Tế Phật: Bữa nay thời giờ đã trễ, đối với vấn đề sắc tướng chúng ta đã nghiên cứu rất sâu xa, bởi vậy khuyên nữ giới nước nhà, về phương diện trang điểm phải làm cách nào phù hợp với đức tính đoan trang hiền thục của truyền thống dân ta, chớ nên phấn son lòe loẹt, quần áo ăn bận hở hang để mê hoặc nam giới, phải biết phòng ngừa sự nguy hại, trước là đối với bản thân mình sau là đối với người xung quanh và xã hội, hi vọng thanh niên đang đắm say sắc đẹp hãy dùng kiếm trí tuệ cắt đứt tơ tình, hầu tránh mọi sự tai hại do sắc đẹp gây nên, để khỏi thân bại danh liệt. (Tế Phật an thần định phách cho Duyên Sinh, Duyên Sinh trở lại giấc ngủ bình thường, Tế Phật và Thái Sinh sửa soạn kết thúc cuộc hành trình).

    Tế Phật: Thái Sinh chuẩn bị trở lại Thánh Hiền Đường.

    Thái Sinh: Thưa vâng, con đã lên đài sen, kính mời ân sư khởi hành.

    Tế Phật: Đã về tới Thánh Hiền Đường, Thái Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:11 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    February 6th 2010, 6:27 pm
  • HỒI HAI MƯƠI SÁU

    THÁNH ĐẢN VƯƠNG MẪU, NHÂN GIAN HỘI HỌP MỪNG TUỔI THỌ

    NGÀY LÀNH PHỔ ĐỘ, ĐỊA NGỤC THIỆN HỒN HƯỞNG TỰ DO

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 19 tháng 7 năm Nhâm Tuất (1982)


    Thơ

    Quỷ môn đại khái đăng phổ độ
    Trung nguyên khải tán hồn bất cô
    Vu Lan Bồn hội xứ xứ hữu
    Kinh sám tế điển bạt khổ đồ.

    Dịch

    Mở cửa âm ti độ quỷ hồn
    Mừng rằng tháng bảy hết cô đơn
    Vu Lan lễ lớn nơi nơi có
    Sám hối nguyện cầu sạch khổ oan.

    Tế Phật: Thời gian quá mau, chớp mắt trò ngoan đã công phu công quả tại Thánh Hiền Đường được sáu năm rồi, trong sáu năm qua đó, giữa trạng huống nửa Thánh nửa phàm, trò đã hi sinh phục vụ quá nhiều, có thể nói là tinh thần đó rất đáng khen ngợi. Nhìn lại các bạn đạo hiện nay, không phải là thiếu đức tin song vì sức không đủ nên thường thường công phu công quả được khoảng nửa năm đành phải tạm ngưng, do đó ta rất đỗi buồn lòng, cũng có thể bởi đạo khó hành khiến người đời sinh nản chí.

    Thái Sinh: Thưa ân sư vì vậy mà sách có câu: “Đạo lớn bao la, cửa Thánh chật hẹp” (Đại đạo khoan hoạt, Thánh môn lộ trách).

    Tế Phật: Đúng lắm, song bữa nay khoan bàn chuyện đó, trò ngoan có rõ tháng này gặp lễ lớn nào không?

    Thái Sinh: Thưa lễ rằm tháng bảy.

    Tế Phật: Đúng rồi, hàng năm cứ tới ngày này mỗi nhà đều vô cùng bận rộn, các cửa tiệm buôn nhờ vậy mà phát tài, sự phổ độ đã tạo thành cảnh náo nhiệt này thì há chẳng vui lắm sao. Chắc chắn cả hai cõi âm dương đều vậy cả.

    Thái Sinh: Thưa ân sư dạy không đúng, con không tin người trần cũng muốn phổ độ.

    Tế Phật: Ha ha, hồn cõi âm thưởng thức hương vị, người cõi trần ăn các thức sau khi cúng lễ há chẳng phải cả hai cõi đều độ sao?

    Thái Sinh: A , nguyên nhân là như vậy, trong tháng bảy này tin rằng miệng phúc chúng sinh đều no nê.

    Tế Phật: Tháng này là đại lễ phổ độ, tuy cửa quỷ mở lớn song những âm hồn bị tội nặng ở địa ngục vẫn chẳng được phép trở lại dương gian hưởng lộc. Còn ngoài ra rất nhiều hồn quỷ được lên cõi trần hưởng phước.

    Thái Sinh: Thưa ân sư, bữa nay là ngày rằm tháng bảy có thể phỏng vấn một số hồn được không?

    Tế Phật: Được, rằm tháng bảy này khắp nơi tổ chức lễ lớn, ngoài ra cũng là ngày thánh đản của đức Vương Mẫu Nương Nương, do đó thầy nhân cơ hội này hướng dẫn trò ngoan tới cung Vương Mẫu phỏng vấn một số cô hồn.

    Thái Sinh: Đa tạ ân sư, quả là không cầu mà được.

    Tế Phật: Mau lên đài sen, chuẩn bị khởi hành.

    Thái Sinh: Thưa con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư khởi hành.

    Tế Phật: Đã tới nơi, trò ngoan xuống đài sen.

    Thái Sinh: Nơi đây tiếng cầu kinh vang rền, cô hồn tới tới lui lui, đồ cúng bày biện đầy bàn, tạo thành cảnh tượng vô cùng náo nhiệt, trên đài có pháp sư đang tụng kinh sám hối, có một số cô hồn đang tập trung tinh thần lắng nghe lời giảng kinh thuyết pháp, tuy nhiên vẫn còn một số cô hồn khi nghe tiếng kinh không cảm thấy có hứng thú.

    Tế Phật: Đây là cung..., hiện tại các tín đồ đang lễ lạy để mừng thánh đản của đức Vương Mẫu Nương Nương, lễ này tổ chức ba ngày liền, bữa nay là ngày thứ hai, vị chủ trì đã ra nghênh đón, con sửa y phục cho ngay ngắn để chuẩn bị vô trong nhận lễ tiếp đãi.

    Thái Sinh: Thưa vâng. (Có ba vị thần ra khỏi cung nghênh đón Tế Phật cùng Thái Sinh vào, Vương Mẫu Nương Nương1 ra lệnh cho kẻ hầu hai bên chuẩn bị trà thơm trái ngon tiếp đãi).

    Tế Phật: Quả là làm phiền quý vị quá nhiều, bữa nay chính gặp ngày thánh đản của đức Mẫu Nương, do đó tôi hướng dẫn trò ngu Thái Sinh tới đây để chúc mừng, cùng tham quan để viết sách Nhân Gian Du Kí.

    Vương Mẫu: Hết sức hoan nghênh, Thánh Hiền Đường vì nhiệm vụ phổ hóa đạo pháp đã không quản gian khổ khiến mọi người khâm phục, Tế Phật cùng Thái Sinh cũng rất nhọc nhằn.

    Tế Phật: Không sao, không sao, mỗi người một nhiệm vụ, há lại quản nhọc nhằn.

    Vương Mẫu: Tế Phật chớ quá khiêm nhường

    Tế Phật: Trò ngoan, vì thời giờ quý báu, con hãy mau theo hai vị tướng quân ra ngoài tham quan cùng phỏng vấn, còn thầy ở lại đây với Vương Mẫu Nương Nương nghỉ ngơi ít phút.

    Thái Sinh: Thưa vâng. (Thái Sinh theo chân hai vị tướng quân ra ngoài).

    Tướng Quân: Để tôi kêu mấy cô hồn tới cho Thái Sinh phỏng vấn.

    Thái Sinh: Thưa vâng. 1 Vị Vương Mẫu Nương Nương này do người đời đảm trách để đại biểu cho đức thánh Vương Mẫu Nương Nương chính thức tại cõi trời. (Tướng Quân đã kêu được mấy cô hồn tới). ... Cô hồn trẻ thơ phía trước, bữa nay được dự lễ, tâm hồn cảm thấy vô cùng sung sướng.

    Cô Hồn: Thưa đúng vậy, tôi bị giam tại thành Uổng Tử, nay nhờ dịp lễ phổ độ này những vong hồn nào tội không quá nặng đều được trở lại dương gian tham dự lễ rằm tháng bảy.

    Thái Sinh: Cô Hồn tuổi còn quá nhỏ, vì nguyên nhân nào đã sớm thác?

    Cô Hồn: Có lần chơi trên sông vì không cẩn thận nên bị chết đuối, bởi tuổi thọ trên dương thế chưa hết nên chỉ bị tạm giam tại thành Uổng Tử, bữa nay nhân dịp lễ thánh đản đức Vương Mẫu Nương Nương tôi mới được phép tới đây tham dự. Tuy nhiên để tránh cảnh chuột loạn chạy khắp nơi xảy ra, Tướng quân âm ti giám hộ chúng tôi kĩ càng, chúng tôi không được vượt ra ngoài phạm vi đã ấn định, kẻ nào không tuân lệnh bị trừng phạt ngay tức khắc.

    Thái Sinh: Còn vong hồn thứ hai kia cũng tới đây dự lễ phải không?

    Vong Hồn: Thưa phải, kể từ mồng một tháng bảy trở đi, chúng tôi được phép trở lại dương gian.

    Thái Sinh: Tại sao vong hồn đặc biệt tự do như vậy?

    Vong Hồn: Bởi vì lúc còn tại thế vô công vô đức, cuộc sống bình thường do đó sau khi chết bị đưa tới khu bình dân lo công tác, tháng này gặp kì rằm tháng bảy nên chúng tôi được thả tự do một tháng.

    Thái Sinh: Thật không ngờ vong hồn cũng được nghỉ một tháng thư thả như người trần ở dương thế.

    Vong Hồn: Thưa trong suốt một tháng này, tôi được tham dự rất nhiều cuộc lễ.

    Thái Sinh: Khi các vong hồn sinh hoạt tại dương gian, bá tính có bị nhiễu loạn không?

    Vong Hồn: Thưa không, bởi lẽ trong tháng bảy, ngày đêm các Thần đi tuần khắp nơi, vả lại lúc còn sống tại dương thế, cũng như sau khi chết tại âm phủ lúc nào vong hồn cũng phải tỏ ra lương thiện mới có được sự tự do đặc biệt và vinh hạnh này. Nếu như khi tới cõi dương không biết giữ gìn phạm phải lỗi lầm, lúc trở lại cõi âm chắc chắn sẽ bị xử phạt nặng nề.

    Thái Sinh: À thì ra nguyên nhân là như vậy, cám ơn vong hồn đã giúp tôi thực hiện cuộc phỏng vấn vừa rồi. (Thái Sinh lại phỏng vấn tiếp một vong hồn trẻ thơ khác).

    Thái Sinh: Em bé này, tại sao toàn thân em lại mang đầy sẹo?

    Vong Hồn: Khi còn sống, nhà tôi bị hỏa hoạn do đó tôi bị chết cháy, hiện thời tuổi thọ của tôi chưa hết nên tôi còn được ở lại thành Uổng Tử.

    Thái Sinh: Em sống ở thành Uổng Tử có khổ lắm không?

    Vong Hồn: Những vong hồn bị chết vì tai nạn được tạm giam tại khu nhà lớn có vườn rộng giống như thành Uổng Tử để đợi Minh Vương phán quyết. Lúc mới bắt đầu bị giam tại thành Uổng Tử, vì xa cách người thân nên rất đỗi đau khổ, song hiện nay đã kết giao được với vài người bạn tri kỉ bởi vậy có thể tạm thích ứng được với hoàn cảnh, do đó cũng bớt đau khổ.

    Thái Sinh: À thì ra nguyên nhân là như vậy, xin chúc gặp nhiều may mắn. Còn nữ vong hồn kia coi vẻ rất đói khát.

    Tướng Quân: Nữ vong hồn này lúc sống tham sân quá độ, không tiết kiệm ngũ cốc, hoang phí đồ ăn quá nhiều, sau khi chết bị giam tại ngục đói khát, song cũng nhờ có con gái ở dương gian đầu cửa Thánh chăm lo học đạo, do đó mà vong hồn này mới được may mắn tham dự lễ mừng thọ đức Vương Mẫu Nương Nương.

    Thái Sinh: A thì ra nguyên nhân là như vậy. (Hai vị tướng quân lại hướng dẫn Thái Sinh trở lại sảnh đường).

    Tế Phật: Trò ngoan sau khi phỏng vấn, cảm tưởng ra sao?

    Thái Sinh: Thưa ân sư con cảm thấy nhân quả, thiện ác, báo ứng hoàn toàn có thật, trời hoàn toàn không thiên vị một ai, cho nên nói: “Làm phúc được phúc, làm ác bị ác, chứ nghĩ trời không có mắt, kì thực thiện ác phản ảnh, điều lí rất phân minh, một chút không sai chệch, cho nên kẻ lúc sống làm ác, chớ giữ ý niệm cầu may mắn thoát nghiệp, người làm thiện chớ để tâm lo sợ không được phước báo”.

    Tế Phật: Đúng vậy, bữa nay sau khi trò ngoan có được một số nhận thức mới mẻ, hi vọng trò sẽ có thể dùng nó để khuyên người đời bỏ ác theo thiện, đó cũng là ý nghĩa đẹp đẽ nhất của việc viết sách Nhân Gian Du Kí, cuộc vân du của thầy trò mình đêm nay tạm ngưng tại đây. Trò ngoan hãy lạy chào từ biệt Vương Mẫu Nương Nương. (Vương Mẫu Nương Nương cùng chư vị Thánh Thần tiễn đưa Tế Phật cùng Thái Sinh rời khỏi cung).

    Tế Phật: Trò ngoan hãy lên đài sen, chuẩn bị trở lại Thánh Hiền Đường.

    Thái Sinh: Thưa ân sư con đã sẵn sàng, kính mời ân sư khởi hành.

    Tế Phật: Đã về tới Thánh Hiền Đường, Thái Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:11 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    February 7th 2010, 12:42 am
  • HỒI HAI MƯƠI BẢY

    VIỆN SÁM HỐI NAM THIÊN TU THÊM CÔNG ĐỨC

    VIỆN THANH THIẾU NIÊN THUẬT RÕ NHÂN QUẢ

    Phật Sống Tế Công


    Giáng

    Thơ


    Thanh niên học đạo chính tương đương
    Đại đạo hỏa trạch luyện tính vương
    Tam triêu phùng hiển tu tảo ngộ
    Mạc đãi niết bàn quái tự manh.
    Đạo chấn phát dương bố thế gian
    Chân lí phổ hóa lại thánh đàn
    Thần Tiên giáng loan truyền chân pháp
    Hữu duyên tham ngộ giai bất phàm.

    Dịch

    Học đạo thanh niên chính hợp thời
    Pháp mầu nhà lửa tính rèn trui
    Thăng hoa ít bữa tu mau ngộ
    Chớ đợi niết bàn sợ mắt đui.
    Chấn hưng đạo lớn giúp nhân gian
    Chân lí truyền trao có thánh đàn
    Giáng bút Phật Trời ban diệu pháp
    Cơ duyên gặp gỡ quả thần tiên.

    Tế Phật: Đêm nay có khoảng mười thanh thiếu niên ham thích đạo từ các nơi tới lễ Thánh và học đạo, khiến lòng ta vô cùng khoan khoái, ha ha, kẻ học đạo nếu như biết dùng tuổi trẻ để nghiên cứu tu tiến, tương lai chắc chắn vô cùng ơn ích. Ngược lại nếu như không biết quý tuổi thanh niên mà lỡ hoang phí thời gian vàng ngọc sau này mới biết đại đạo là quý báo thì e rằng quá trễ, cho nên đêm nay thanh niên các nơi gắng gỏi tới Thánh Hiền Đường tham dự đàn cơ, hi vọng trong kiếp này họ biết quý trọng cơ duyên tốt, việc tu hành ắt sẽ tinh tiến.

    Thái Sinh: Ân sư đêm nay cũng đột nhiên cố gắng tới Thánh Hiền Đường xem thanh niên tham dự đàn cơ, hình như ân sư đặc biệt lo lắng đối với thanh niên tu đạo, song kể từ khi bắt đầu thời gian mạt thế tới nay, có một số thanh niên sợ tội ác của mình quá nặng, do đó nói tới việc tu đạo họ rất sợ, vậy kính mong ân sư vì họ giải quyết sự hoài nghi này.

    Tế Phật: Vấn đề trò ngoan vừa trình bày rất hay, nếu như các thanh niên này đã có công tu đạo, thì chớ sợ đường đạo gập ghềnh khó đi, chỉ cần giữ vững lòng tin, tự mình đạp chân lên đất thực, tuần tự mà tiến, tương lai dĩ nhiên có thể học thông đạo lớn. Hiện tại thầy có giải đáp vấn đề này cặn kẽ cách mấy đi nữa cũng không bằng hướng dẫn trò ngoan đi quan sát sự thật hiển nhiên, hi vọng sẽ khiến được phần đông thanh niên lập chí học đạo, lập tâm hành pháp.

    Thái Sinh: Thưa đêm nay ân sư hướng dẫn con đi thăm chốn nào?

    Tế Phật: Thầy hướng dẫn con tới thăm viện sám hối, bởi vì trong viện này có rất nhiều vong hồn trước kia tội nặng, song sau này lại có tâm học đạo, nên đã tu thành quả vị, đêm nay thầy giúp con cơ hội được phỏng vấn các vị tu sĩ trong viện để con được rõ tại sao lúc sống các vị đó lại có thể đột phá hoàn cảnh khó khăn mà tu tới quả vị khí tiên thiên.

    Thái Sinh: Quả là may mắn, như vậy con có thể học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm của các vị tu sĩ đó.

    Tế Phật: Con có đức khiêm tốn, quả là thật hay lắm, con hãy lên đài sen, thầy trò mình bắt đầu khởi hành. (Tế Phật và Thái sinh ngồi trên đài sen, vun vút bay lên, lát sau bềnh bồng giữa không trung, hướng phía Nam Thiên bay tới).

    Tế Phật: Đã tới viện Sám Hối Nam Thiên, trò ngoan hãy xuống đài sen.

    Thái Sinh: Chốn này phong cảnh tuyệt đẹp, chim tiên, cây tiên đầy vườn, mây lành bay lượn khắp chốn kì hoa dị thảo mọc đầy, tất cả đã tạo thành cảnh tượng thanh bình an lạc, cực kì đẹp đẽ.

    Tế Phật: Trò ngoan, con chớ tham lam quyến luyến cảnh này, bởi vì phong cảnh nơi đây tuy đẹp song không đẹp bằng cảnh con đắc quả vị tương lai.

    Thái Sinh: Thưa, trò ngu chẳng dám mong cầu nhiều, con cũng không thể tưởng tượng được là cảnh sắc Nam Thiên lại có thể đẹp đẽ tới mức này, những người tu đạo hiện tại quả là có phước, chỉ mất mấy chục năm tu hành mà đổi được cả hàng vạn, hàng ngàn năm phúc báo tại cõi trời thì quả là xứng đáng lắm.

    Tế Phật: Đúng vậy, thôi tạm ngưng cuộc đàm thoại, Thần Thánh trong viện đang đi tới đây để tiếp đón thầy trò ta, mình hãy theo quý vị đó vào trong viện.

    Thái Sinh: Thưa vâng. (Tế Phật và Thái Sinh được mấy vị thần đón vào trong viện Sám Hối, Thái Sinh thấy các vị tu sĩ, người nào người nấy khí lành sung mãn, không lộ chút tà khí, Thái Sinh cảm thấy rất vui mừng, tâm hồn muôn phần khoan khoái, lúc này viện trưởng đang hàn huyên cùng Tế Phật).

    Viện Trưởng: Tế Phật hạ cố tới đây, không rõ gió nào thổi tới, quả là khách quý hiếm có... Còn thưa vị người phàm tháp tùng Tế Phật này là ai?

    Tế Phật: Ha ha, bữa nay tôi hướng dẫn người trần gian này tới thăm quý viện là cốt để viết sách Nhân Gian Du Kí.

    Viện Trưởng: À thì ra nguyên nhân là như vậy, và thưa có phải vị này chính là thiên bút của Thánh Hiền Đường phải không?

    Tế Phật: Chính phải.

    Viện Trưởng: Xin mời hai vị vào phòng khánh tiết của viện để nghỉ ngơi.

    Thái Sinh: Đa tạ sự tiếp đãi nồng hậu của Viện Trưởng, thưa không dám làm phiền.

    Tế Phật: A, tôi thiết nghĩ thời giờ eo hẹp, nên xin viện trưởng cho mời vài vị tu sĩ của quý viện ra đây để Thái Sinh được dịp may, trước kết mối đạo duyên, sau được rõ về kinh nghiệm lúc còn tại thế của mấy vị đó.

    Viện Trưởng: Thưa được, tôi sẽ truyền lệnh cho thuộc cấp lo liệu việc này ngay. (Viện Trưởng vừa ra lệnh xong, thấy có ngay ba vị tu sĩ từ trong đi ra gặp Tế Phật).

    Thái Sinh: Thưa, chào mừng Đại Đức, kính xin Đại Đức cho biết sơ qua về hạnh tu đạt được quả vị Nam Thiên của Đại Đức.

    Đại Đức: Thưa được, hiện thời là lúc cuối mùa của việc phổ truyền đạo lớn xuống cõi nhân gian do đó tôi được may mắn có người hướng dẫn tu đại đạo, nên ngày nay tôi mới có thể lên cõi trời này tu tiến tiếp.

    Thái Sinh: Thưa không rõ lúc còn tại thế Đại Đức đã tu theo pháp môn nào?

    Đại Đức: Tôi lúc sống vì nghiệp quá nặng, có một lần thân thể bị yếu đau, thuốc thang chẳng khỏi, đang khi khốn đốn không biết giải quyết cách nào, thì may mắn gặp bạn quý tới nói cho tôi hay rằng đó là bệnh nhân của nghiệp báo, song tôi vẫn bán tín bán nghi. Mãi về sau, một bữa tình cờ gặp được duyên may, tôi tới tham dự đàn cơ ở Thiện Đức Đường Sơn Đông để rồi sau đó đầu cửa Thánh tu Thánh Đạo, thân thể dần dần khỏe mạnh, song vì trách nhiệm gia đình còn quá nặng, do đó tôi không thể một sớm một chiều hiến dâng tất cả cho Thánh giáo, nên tôi phải kiên trì đời đạo song tu và chăm lo công quả tại Thánh Đường ròng rã suốt mười năm trời. Tới lúc lìa khỏi dương gian may nhờ ân chủ Thiện Đức Đường đề bạt, tôi được tới viện sám hối để tiếp tục tu tiến, nghiên cứu y lí cùng đạo pháp để sau này khi trở lại trần gian nhậm chức thần tôi sẽ đem ra sử dụng để cứu nhân độ thế.

    Thái Sinh: Cho nên có câu nói: “Trời không phụ người”. Lúc còn tại thế Đại Đức đã lo công phu công quả tại Thánh Đường ròng rã suốt mười năm thì công đức quả là siêu việt, xin chúc mừng Đại Đức. (Thái Sinh lại phỏng vấn tiếp vị tu sĩ thứ hai).

    Đại Đức: Nói ra quả là mắc cở, lúc còn tại thế, tôi vốn là một kẻ quá hư hỏng, ngày nào như ngày nấy chỉ nhậu nhẹt du hí, chẳng biết học đạo là gì, may nhờ ngẫu nhiên gặp cơ hội tốt, được vợ tôi cảm hóa, giúp tôi tỉnh ngộ và tu đạo lớn, vì vậy ngày nay tôi mới có thể tới được nơi này.

    Thái Sinh: Sự may mắn này có thể giải thích rõ được lí do không?

    Đại Đức: Việc này có quan hệ nhân quả ba kiếp, lúc sống vợ hiền của tôi chính là người tu đạo, chỉ có mình tôi hư hỏng, tôi thường phá phách sự tu hành và danh dự của vợ tôi, để mong vợ tôi bỏ ngang việc tu đạo, song vợ tôi càng kiên trì nên sáu năm sau, tôi bị đức từ bi, tính khoan dung cùng ý chí kiên trì của vợ tôi cảm hóa, từ đó về sau tôi không những tôi không còn nuôi ý chí phá hoại sự tu hành của vợ tôi, mà trái lại tôi càng khuyến khích giúp đỡ thêm cho đến trọn đời. Nhờ vậy sau khi từ giã cõi trần tôi không thể ngờ rằng lại được chư Thánh Thần gia hộ hướng dẫn tới nơi này tiếp tục sự nghiệp tu hành.

    Thái Sinh: Thật quả là diễm phúc, lúc sống có được người vợ hiền đã giúp đỡ lòng khuyến khích tu thành quả vị Thần chân chính.

    Viện trưởng: Khuyên người đời nên cố gắng tới cửa Thánh học đạo để thành kẻ đường đường chính chính, đầu đội trời chân đạp đất.

    Thái Sinh: Thưa rất phải. (Thái Sinh lại phỏng vấn tiếp vị tu sĩ thứ ba). Xin Đại Đức cho biết lúc còn tại thế đã tu hành như thế nào?

    Đại Đức: Thưa lúc sống tôi giữ chức thủ quỹ của một ngôi đền, hàng ngày tiền cúng dường của thập phương bá tính thu được rất nhiều, song tôi không hề tham lạm một đồng một cắc, rất mực thanh liêm. Bởi giữ lòng trong sạch, dốc tâm vì đạo cho nên tôi tuy học vấn nông cạn song Thần Chủ vẫn đề bạt, do đó tôi mới được ân phước tới nơi đây tiếp tục học đạo.

    Thái Sinh: Hạnh tu này thật quả khó đạt, kẻ tu đạo giữ được thân tâm trong sạch là việc làm cực kì khó khăn, song Đại Đức thực hiện nổi thì đương nhiên hiển Thánh.

    Tế Phật: Trò ngoan hãy tạm kết thúc công cuộc phỏng vấn bữa nay tại đây, dịp khác có cơ hội sẽ tiếp tục.

    Thái Sinh: Thưa vâng. (Tế Phật cùng Thái Sinh chào từ biệt ngài Viện Trưởng cùng chư vị tu sĩ).

    Tế Phật: Trò ngoan hãy mau lên đài sen, chuẩn bị trở lại Thanh Hiền Đường.

    Thái Sinh: Thưa con đã sẵn sàng, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Đã về tới Thánh Hiền Đường, Thái Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:11 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    February 7th 2010, 11:58 am
  • HỒI HAI MƯƠI TÁM

    LUẬN TU ĐẠO, CÁC ĐẠO TỰ NHIÊN CÙNG MỘT TÂM

    BÀN HỌC PHÁP, CÁC PHÁP TRÒN ĐẦY KHÔNG HAI Ý

    Phật Sống Tế Công


    Giáng

    Thơ


    Thiên ý nhân tính thuận tự nhiên
    Tôn giáo ý nghĩa bất vi yên
    Giả sức bất trang chân quân tử
    Thực tướng thế giới khả kết duyên.

    Dịch

    Thiên lí nhân tình hợp tự nhiên
    Nhiệm mầu ý đạo gắng trao truyền
    Giả nhân giả nghĩa phi quân tử
    Thế giới chân tâm hẳn kết duyên.

    Tế Phật: Lí đạo bao giờ cũng hợp tự nhiên, cũng muốn con người sống thuận theo lẽ trời, do đó trong sách trung dung có nói: “Mệnh trời gọi là tính, tính đó khi phát lộ ra gọi là đạo, tu đạo gọi là giáo. Đạo một giây một khắc chẳng thể xa lìa; còn xa lìa được chẳng phải đạo” (Thiên mệnh chi vị tính, suất tính chi vị đạo, tu đạo chi vị giáo. Đạo đã giả, bất khả tu du li dã; khả li, phi đạo dã). Do đó nếu như hiểu được rằng người ta ai cũng có tính trời tự nhiên, hành động hợp với lẽ trời thì gọi là hữu đạo. Còn nếu như nghịch ý trời, làm điều vô nhân thất đức thì gọi là vô đạo. Thánh Thần Tiên Phật không nỡ nhìn cảnh nhân tính bị đọa lạc, bởi vậy các ngài đã ban truyền đạo lí để làm khuôn mẫu giúp người đời tu tâm sửa tính. Ví dụ như những kẻ làm ác, kẻ chuyên phá hoại, hoặc âm mưu làm điều bất lương, nghĩa là tất cả những gì họ toan tính thì khi chết đều trở thành không. Phải biết được rằng người ta khi chết là chỉ chết phần thể xác, còn phần linh hồn vẫn tồn tại và xuất hiện lại ở thế giới siêu hình bên kia cõi thế. Kiếp sống của con người chẳng qua chỉ là để đeo mang thân xác nặng nề mà thôi, những kẻ bài xích tôn giáo tức là chối bỏ luật lệ tự nhiên, họ sẽ chẳng hề kính nể cứ mặc tình mặc sức tạo nghiệp chướng, do đó mà sang giàu khốn khổ, vinh nhục được thua, nhân quả luân hồi không dứt, gây đau khổ cho tâm hồn. Có một số người coi thường việc học đạo, chỉ ham thích tranh đua, mỗi khi nghe nói tới đạo là họ sợ hãi như nói tới cọp quả là sợ đạo như sợ cọp. Con người ta ai cũng sống trong đạo, đi trên đường đạo, ví dụ như luật tồn vong của cơ thể con người, luật vũ trụ vận chuyển làm mà không làm, làm ở cõi vô sinh sinh hóa hóa không ngừng, đều là sản sinh biến hóa từ cõi hư không vô cực.

    Thái Sinh: Sự vận hành của trời đất vạn vật, đúng như lời dạy của đức Lão Tử về đạo Vô Vi.

    Tế Phật: Đạo của đức Lão Tử siêu việt hẳn cả hai phương diện tích cực lẫn tiêu cực, quan niệm bình thường thì cho rằng tích cực là thắng, tiêu cực là bại, còn Lão Tử đạt tới cảnh giới tối cao của tư tưởng, còn tất cả nhân loại đều hướng tới mục tiêu duy nhất là dục vọng, để rồi sinh vì dục vọng mà tử cũng vì dục vọng, còn nếu như thiếu dục vọng thì là tiêu cực là thống khổ. Bởi vậy đã vì tiêu cực mà sinh, vì tiêu cực mà tử, đó cũng là căn bệnh là nỗi thống khổ chung của nhân loại, vì đánh mất ý nghĩa thâm sâu, đích cao vời nên bị thất tình, lục dục gây phiền nhiễu, tâm linh nhân loại bị hố thẳm sinh lão bệnh tử chôn vùi, hư vinh danh lợi là huyệt táng chúng sinh, vậy thì thứ gì mất đi là có giá trị và ý nghĩa của nhân sinh? Đạo của Đức Lão Tử là đạo thuần phác không xa hoa, thanh tâm diệt dục để đạt tới cảnh giới siêu diệu vô vi, tuy vậy chỉ cần một vài câu là có thể bao quát được toàn thể, song cũng chẳng cần phải thực hành công phu chân chính mới có thể đạt tới cảnh giới ngộ đạo.

    Thái Sinh: Thưa lời dạy của ân sư thấu triệt cơ trời siêu diệu, bày tỏ được hết lí đạo của đức Lão Tử, con tin rằng những ai ưa thích đạo thì trình độ nhận thức đều được nâng cao lên một bậc.

    Tế Phật: Trò ngoan, thời giờ đã trễ, thầy trò mình phải mau khởi hành.

    Thái Sinh: Thưa lời dạy của ân sư vô cùng hữu lí, con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Đã tới nơi, trò ngoan mau xuống đài sen.

    Thái Sinh: Cảnh trí nơi đây hoàn toàn u tịch, phía trước ngoài chùa Phật còn là nơi cư ngụ của đức Bồ Tát. Xin lạy chào ra mắt đức Bồ Tát. (Thái Sinh gặp đức Bồ Tát Diệu Năng hóa thân, hào quang tỏa ngời).

    Bồ Tát: Miễn lễ.

    Thái Sinh: Thưa ngu sinh bất tài, bữa nay được ân phước diện kiến đức Bồ Tát, kính xin ngài chỉ giáo nhiều cho.

    Bồ Tát: Thái Sinh đã vì nhiệm vụ phổ hóa đạo lí mà gia công gia sức quả thật là phi phàm.

    Thái Sinh: Thưa nói càng thêm thẹn, tuy có thiện tâm phổ hóa đạo lí song người đời vẫn còn quá tham dục nên khó bề thức ngộ.

    Bồ Tát: Thái Sinh chớ vì vậy mà sinh lòng chán nản vì lẽ chốn phàm trần cũng ở trong vòng thái cực, thái cực là bao gồm âm dương, do đó thiện ác nhân quả đối đãi tuần hoàn, nên công lao phổ hóa không giới hạn.

    Thái Sinh: Đa tạ đức Bồ Tát đã mở trí... Tại cõi thanh tịnh này, nếu như có thể xuất gia ở lại đây quả là ơn phước, xin đức Bồ Tát chỉ dạy cho sự quan hệ giữa thành đạo và xuất gia?

    Bồ Tát: Thân tuy xuất gia song tâm chưa nhập đạo thì chưa phải là thật xuất gia; tâm đã nhập đạo mà thân chưa xuất gia cũng là thật xuất gia; nếu thân xuất gia, tâm lại nhập đạo tức là cả thân lẫn tâm đều xuất gia. Cho nên, thân xuất gia chỉ là giả tướng, không phải là thực tướng. Hình tướng là giả, thực tướng mới là chân, cho nên việc thành đạo không có liên quan với hình tướng mà chỉ liên quan với thực tướng.

    Thái Sinh: Kính xin đức Bồ Tát chỉ dạy cho. Thế Giới Tây Phương Cực Lạc ở tại chốn nào?

    Bồ Tát: Nơi đây là Thế Giới Tây Phương Cực Lạc.

    Thái Sinh: Thưa vậy thì không còn gì để nói.

    Bồ Tát: Tâm tĩnh ắt cõi Phật tĩnh cũng cùng một nghĩa.

    Thái Sinh: Theo như lời dạy của đức Bồ Tát thì Tây Phương Cực Lạc Thế Giới chỉ là một danh xưng mà thôi, còn ngoài ra không có nơi nào là Thế Giới Tây Phương Cực Lạc?

    Bồ Tát: Tất nhiên phải có cảnh Thế Giới Tây Phương Cực Lạc, song con người vọng động tâm không tĩnh thì chẳng thể tới được, cho nên khi nói đây là Thế Giới Tây Phương Cực Lạc là muốn biểu thị ý nghĩa: “Phải có tâm Tây Phương trước rồi sau mới có cõi Tây Phương”.

    Thái Sinh: Ha ha, lời dạy của đức Bồ Tát quả thật là siêu diệu, sẽ giúp người đời thức tỉnh sâu xa, và hiểu được rằng phải thực hành như thế nào mới có thể siêu sinh cõi Phật

    Bồ Tát: Muốn siêu sinh cõi Phật Tây Phương không khó, chỉ cần tẩy trừ sạch căn duyên tửu sắc, tài khí, ái ố dục liền thành Tiên tiêu dao tự tại.

    Thái Sinh: Thưa đúng vậy, đúng vậy, tất cả chúng sinh đều có Phật tính, nhưng những tội hồn bị đày tại địa ngục có Phật tính không?

    Bồ Tát: Đương nhiên cũng có Phật tính.

    Thái Sinh: Thưa nếu có Phật tính thì Phật tính có cùng chịu hình phạt không?

    Bồ Tát: Phật tính không bị hủy hoại, không tướng, không trụ do đó không bị tội.

    Thái Sinh: Thưa, tại sao lại không cùng chịu tội?

    Bồ Tát: Phật tính vô hình vô tướng, chân không diệu hữu. Còn tính chúng sinh chấp trước phiền não, tham dục không cùng, hồn phách không rời, do đó Phật tính có thể ví với “không”, chúng sinh tính có thể ví với “hữu” bởi vậy mà Phật tính không cùng chịu tội.

    Thái Sinh: Thưa đức Bồ Tát có thể nói rõ về quá khứ lúc còn tại thế không?

    Bồ Tát: Đã gọi là Bồ Tát thì không còn có tâm quá khứ, hiện tại, vị lai vậy mà Thái Sinh lại còn muốn biết về quá khứ của tôi sao?

    Thái Sinh: Ha ha, đa tạ Bồ Tát đã mở trí cho, lời dạy của Bồ Tát quả là siêu diệu. Kính xin đức Bồ Tát giảng giải về ý nghĩa của tiếng “Phật”.

    Bồ Tát: Phật tức chẳng phải là loại người tam tâm tứ tướng, thất tình lục dục. Phật không chấp, không nhiễm, không phân biệt, không đến không đi, cho nên gọi là Phật.

    Thái Sinh: Thưa còn phàm tâm chết, Thánh tâm sống ý nghĩa là như thế nào?

    Bồ Tát: Phàm tâm tức là tâm người trần, tâm phiền não, cũng là tâm khỉ ý ngựa, thường trói buộc cùng thất tình lục dục cho nên người phàm không giữ hồn yên tịnh nổi một ngày, tâm thanh tĩnh nổi một phút, thứ tâm này là phàm tâm, do đó chỉ người tu đạo mới có thể chế phục nổi tâm này, để cho tâm trong sáng giác linh hiển lộ, tâm trong sáng giác linh là tâm thánh, tâm siêu phàm.

    Thái Sinh: Thưa tại sao thiền tông lại phân chia thành ba bậc: thượng, trung, hạ?

    Bồ Tát: Vì chúng sinh phân biệt nên mới có sự phân chia thành ba cấp thượng, trung, hạ còn theo như sự tri kiến của Phật thì không có phân biệt thượng, trung, hạ.

    Thái Sinh: Thưa vậy thì còn gì để nói.

    Bồ Tát: Bởi vì chúng sinh phân chia thành ba bậc thượng, trung, hạ, cho nên Tiên Phật mới thiết lập ba bậc pháp thượng, trung, hạ. Chúng sinh nếu như không có tâm phân chia ba bậc thượng, trung, hạ thì Tiên Phật cũng chẳng thiết lập ba bậc pháp thượng, trung, hạ, đó là tất cả nguyên nhân.

    Thái Sinh: Thưa có phải giữ được tâm Như Lai là đắc pháp thượng thừa?

    Bồ Tát: Ha ha, Thái Sinh nói rất đúng, pháp Như Lai chỉ có một pháp, giữ một tâm duy nhất sao cho giống hệt tâm sơ nguyên bản lai thì là tâm Như Lai, là tâm Phật vậy.

    Thái Sinh: Thưa thế nào là đốn ngộ?

    Bồ Tát: Đốn là từ bỏ tâm tư vọng tưởng, ngộ là thấy tính đạo đức là pháp môn đốn ngộ.

    Tế Phật: Lời dạy của huynh Diệu Năng quả là thuộc trí huệ siêu việt, giúp kẻ học đạo thấy được cảnh giới mới mẻ, thật quả phi phàm.

    Bồ Tát: Đạo huynh chớ quá khen, ai mà không rõ đạo huynh có thể phân thân thành muôn vạn ức, không trói không buộc, độ được rất nhiều Phật tử có duyên.

    Tế Phật: Huynh Diệu Năng chớ quá ca ngợi. Bữa nay thời giờ đã trễ, xin tạm ngừng cuộc đàm đạo tại đây, hi vọng còn có dịp gặp lại, chào tạm biệt.

    Thái Sinh: Xin lạy chào từ giã cùng đa tạ đức Bồ Tát đã ban lời chỉ giáo vàng ngọc.

    Tế Phật: Trò ngoan hãy lên đài sen, chuẩn bị trở lại Thánh Hiền Đường.

    Thái Sinh: Thưa con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư khởi hành.

    Tế Phật: Đã về tới Thánh Hiền Đường, Thái Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:11 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    February 7th 2010, 4:17 pm
  • HỒI HAI MƯƠI CHÍN

    LUẬN ĐẠO PHÁP, VIÊN THÔNG TÙY DUYÊN HIỂN LỘ

    HỎI TỘI HỒN ÂM PHỦ THẸN TẢ QUÁ KHỨ

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 23 tháng 8 năm Nhâm Tuất (1982)


    Thơ

    Thuyết pháp vô định pháp
    Dĩ chúng sinh tâm vi pháp
    Đàm đạo vô định đạo
    Dĩ chúng sinh tâm vi đạo.

    Dịch

    Thuyết pháp không chấp pháp
    Coi tâm chúng sinh là pháp
    Luận đạo không chấp đạo
    Coi tâm chúng sinh là đạo.

    Tế Phật: Kể từ khi Thánh Hiền Đường phổ hóa đạo pháp tới nay, đã giảng giải rất nhiều về đạo pháp, lại tới trung pháp rồi tiểu pháp, có khi lại thuyết cả về vô thượng pháp, khiến lắm lúc chúng sinh chẳng biết chọn lựa pháp nào, nên ta nay chi bằng chỉ nói một lời là thâu hết lẽ đạo, đó cũng là cách thuyết pháp mà không chấp pháp, giảng đạo mà không chấp đạo. Cảnh ngộ nội tâm trong mọi chúng sinh khác biệt hẳn nhau, do đó sự trình bày chân lí của Thánh Thần Tiên Phật cũng không thể theo một phương thức nhất định nào mà phải uyển chuyển nương theo từng căn cơ của mọi chúng sinh để dìu dắt từ thấp lên cao. Bởi vậy điểm quan trọng của việc tạo ra pháp này pháp nọ là bởi chúng sinh, còn nếu như không có chúng sinh ắt hẳn chẳng cần thuyết pháp giảng đạo. Do đó, đạo pháp hoàn toàn vì loài người mà giảng giải luận bàn, cũng không hề phân biệt kẻ trí người ngu.

    Thái Sinh: Lời dạy của ân sư vô cùng chí lí, đối với người thuộc giới hạ thừa giảng pháp hạ thừa, đối với người trung thừa giải pháp trung thừa, đối với người thượng thừa giảng pháp thượng thừa, thiết tưởng đó là tất cả ý nghĩa quan trọng.

    Tế Phật: Trò ngoan, căn cứ theo điều con vừa trình bày thì chỉ cần đạt được sự ứng hợp hòa hài mà thôi, khó có thể giúp kẻ học đạo tiến bộ nhanh chóng, còn nếu như đối với giới hạ thừa giảng pháp trung thừa, đối với trung thừa giảng pháp thượng thừa, đối với thượng thừa giảng pháp vô thượng thì hẳn là sẽ giúp người học đạo tiến bộ lẹ hơn, cao hơn. Các bậc thánh hiền từ xưa tới nay đều theo phương thức này mà hướng dẫn kẻ hậu học, nên sự cố gắng tìm ra phương pháp của các ngài cực kì gian khổ.

    Thái Sinh: Lời dạy của ân sư con càng nghe càng thấy vô cùng hữu lí, trí tuệ của con còn nông cạn nên rất cần sự khai thị của thầy.

    Tế Phật: Con nói đúng, bởi lẽ đối với một kẻ có thành kiến và cố chấp, luôn luôn co mình, thâu trí, nên đạo họ theo chỉ là đạo giới hạn, chỉ biết có pháp mình mà thôi, huống nữa lại còn có một số người chỉ biết người khác cung kính vâng lời mình còn chẳng chịu nghe ai cả, do đó rất khó mở trí cho họ.

    Thái Sinh: Thưa ân sư, tình trạng này rất nhiều, do đó: “Đạo không chung chẳng thể cùng lo toan” (Đạo bất đồng bất tương vi mưu). Nghĩ kĩ thì nguyên nhân chỉ tại vậy thôi.

    Tế Phật: Ha ha, thời gian vô cùng quý báu, tạm ngưng cuộc đàm đạo chiều nay tại đây, trò ngoan mau lên đài sen, chuẩn bị khởi hành.

    Thái Sinh: Thưa con đã sẵn sàng, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Trò ngoan, phía trước là nơi về của kiếp người.

    Thái Sinh: Thưa, phía trước là nhà quan, tại sao ân sư lại kêu là nơi về của kiếp người.

    Tế Phật: Đó không những là nơi về của kiếp người mà còn là nơi tạm nghỉ của thể xác chúng sinh.

    Thái Sinh: Thưa lời dạy của ân sư vô cùng chí lí, tới chốn này còn có kẻ thống khổ, quả thật là đáng thương.

    Tế Phật: Sinh li tử biệt là vấn đề không thể tránh nổi của con người, song kiếp người chẳng phải là kiếp thật, sự chết chẳng phải là thật chết. Chớ nên cho cõi sống là vui, cõi chết là buồn, đến làm sao thì đi làm vậy, bởi lẽ sống chết chỉ là sự tự nhiên của kiếp người, kẻ trí tuệ chỉ yêu quý cái ta chân thật (linh hồn), chứ nên chấp trước cái ta giả dối (thân xác)... Thầy trò mình hãy vô trong phỏng vấn.

    Thái Sinh: Thưa vâng. (Khi Tế Phật và Thái Sinh vô trong thấy Tướng Quân áp giải các vong hồn, Thái Sinh thắc mắc hỏi Tế Phật). Thưa ân sư Tướng Quân phía trước do đâu phái tới?

    Tế Phật: A, họ được Thành Hoàng phái đến. (Tướng Quân từ trong nhà quàn thấy Tế Phật tới vội vàng cung kính lạy chào).

    Tế Phật: Quý Tướng Quân chịu nhiều gian khổ.

    Tướng Quân: Thưa vâng.

    Tế Phật: Trò ngoan hãy phỏng vấn quý Tướng Quân.

    Thái Sinh: Thưa tuân lệnh... Xin hỏi quý Tướng Quân từ đâu tới, và tại sao lại quá bận rộn đến như vậy.

    Tướng Quân: Chúng tôi phụng mệnh Thành Hoàng tới đây.

    Thái Sinh: À thì ra nguyên nhân là như vậy, còn ân sư Tế Phật và tôi đêm nay tới đây vì lí do viết sách Nhân Gian Du Kí, ước mong Tướng Quân giúp đỡ để tôi được phép phỏng vấn vài vong hồn?

    Tướng Quân: Được, Thái Sinh cứ tự nhiên.

    Thái Sinh: Cảm ơn Tướng Quân nhiều… (Thái Sinh phỏng vấn vong hồn thứ nhất, nhưng vong hồn lại bưng miệng không nói).

    Tướng Quân: Vong hồn... hãy mau thành thật thuật lại những hành động còn tại thế, để sau này xuống địa ngục, ta trình với Minh Vương, vong hồn sẽ được giảm khinh hình phạt. (Sau khi nghe tướng quân giải thích, vong hồn có ý hối hận).

    Vong Hồn: Nhớ lại những hành vi lúc sống, tôi vô cùng mắc cở, thì làm sao tôi có thể tường thuật lại? Thưa khó khăn cho tôi quá, chi bằng sớm đưa tôi xuống địa ngục cho rồi.

    Thái Sinh: Này Vong Hồn, đêm nay chúng tôi tới đây với mục đích viết sách khuyên đời, nên sự thẹn thùng hối hận của vong hồn rất hữu ích, hi vọng vong hồn thuật lại tất cả những hành vi lúc sống để viết vào sách khuyên răng người đời, khi ấy quả là công lao của vong hồn chẳng nhỏ, hơn nữa lại hứa sẽ dấu kín danh tính cùng địa chỉ để vong hồn được yên tâm.

    Vong Hồn: Hai anh em vong hồn kia ra vẻ vô cùng lương thiện, khiến tôi càng mắc cở, thật không thể tưởng tượng được rằng trên đời lại có người lương thiện tới mức đó, nhìn thấy tấm gương này khiến tôi càng hối hận là tại sao lúc còn tại thế tôi không cố gắng sống đời lương thiện.

    Thái Sinh: ... (Thái Sinh sau khi nghe vong hồn trình bày chẳng biết nói sao hơn).

    Vong Hồn: Thưa, tôi xin thuật lại những hành vi lúc sống của tôi, vốn là kẻ thông minh song chỉ vì một phút lỗi lầm mà đi lạc vào đường tối tăm, cũng bởi tại tôi có tính hung hăng hiếu thắng. Lúc còn đi học, đã kết giao với loại bạn bất lương, thường hiếp đáp các học trò hiền lành nên hồi đó tôi là tên du đãng nổi danh, luôn luôn gây ra các trận ẩu đả, phạm những lỗi lầm quá lớn, thành sớm bỏ học hành, trốn khỏi gia đình tới Đài Bắc kiếm sống. Khi mới tới Bắc Bộ, xin được học sửa xe hơi một thời gian, song ngựa quen đường cũ lại kết giao cùng bọn lưu manh hành động bất lương, gây sóng gió lớn lao. Sau một thời gian, vì muốn có thật nhiều tiền, tôi lại đi theo băng chuyên nghề cạy khóa, ban đầu đánh cắp xe đạp, về sau liều mạng đánh cắp cả xe gắn máy, xe hơi để bán lấy tiền. Tuy ngón nghề rất giỏi, song tôi cũng từng bị bắt và bị ngồi tù ít năm. Sau khi ra tù tôi đã không chịu giác ngộ lại còn tiếp tục lập bè kết đảng, hàng ngày tính chuyện ăn hàng. Bữa nay sau khi cùng đồng đảng nhậu nhẹt say sưa lái xe về nhà tới nửa đường vì suốt ngày tâm thần bất ổn, kết quả chỉ một chút sơ ý, xe lao vào đầu cầu, hồn lìa khỏi xác. Thật không ngờ... A, cũng bởi tại lúc sống không lo làm người lương thiện khi thác xuống âm phủ mới biết là chỉ chết phần thể xác còn linh hồn vẫn còn tồn tại.

    Thái Sinh: Vong hồn đã thuật lại những điều từng làm khi còn tại thế, không hề giấu diếm mảy may, quả là hết sức thành thật. Hi vọng những điều hiếm có đó sẽ là tấm gương tốt cho người đời soi chung, tin rằng những kẻ bất nhân đang âm thầm tác yêu tác quái trong bóng tối được đọc những điều vong hồn vừa thuật lại chắc chắn sẽ sớm hồi tâm, quay về đường quang minh chính đại... Xin vong hồn thứ hai thuật rõ lại những hành động đã làm lúc còn tại thế?

    Vong Hồn: Lúc sống tôi ham mê cờ bạc, bây giờ tôi kể lại hi vọng sẽ không bị chê cười.

    Thái Sinh: Vong hồn, không có chuyện đó đâu, xin cứ an tâm.

    Vong Hồn: Kể lại những hành động của đám người ham mê cờ bạc, chắc chắn sẽ có kẻ nghiến răng trợn mắt, vì tại nơi chiếu bạc người ta đối xử với nhau chẳng khác gì phường giác đấu. Bề ngoài thì anh anh tôi tôi, song trong bụng giấu cả bồ dao găm, tình bạn chân thật rất hiếm có, dù là đôi bạn thân đi nữa, song khi ngồi vào chiếu bạc thường thường tình bạn cũng bị tổn thương, hoặc có khi còn biến thành kẻ thù của nhau.

    Thái Sinh: Lời nói của vong hồn chắc chắc sẽ giúp nhiều người tỉnh ngộ, quả là liều thuốc thần diệu, tuy nhiên tôi cũng còn hoài nghi không thể tin tưởng được rằng những kẻ ham mê cờ bạc lại thay lòng đổi dạ mau đến như vậy.

    Vong Hồn: Được, tôi vốn là một nông dân nhưng lại mưu cầu vinh hoa phú quý, nên mới dời tới Bắc Bộ để mong thực hiện ý đồ, ban đầu làm thợ nề, trong giờ nghỉ bày trò đánh bài chơi, sau đó trở thành ham thích, liền rủ nhau tới sòng bạc, càng đánh càng say mê. Thời gian sau tôi mới khám phá ra rằng nơi các sòng bài thường có các mánh khóe gian lận, do đó nắm chắc được phần thắng. Bởi vậy tôi đã học cách xảo trá của họ, rồi lợi dụng cơ hội rủ rê bạn bè hoặc làm quen với các thương gia giàu có để đưa họ vào tròng, bất kể thân sơ tôi đều lập kế lừa họ, thậm chí đến cả anh em tôi cũng không từ. Lúc mới bắt đầu đánh tôi đều vờ thua để làm kế đưa mồi nhử cá, cho tới khi cá cắn câu tôi mới giật.

    Thái Sinh: Vong hồn giật như thế nào?

    Vong Hồn: Các con bạc càng ăn càng đánh lớn, cho tới lúc họ hoa mắt vì tiền tôi mới ra tay, như vậy thì không phải là kẻ chuyên sống bằng nghề cờ gian bạc lận thì làm sao biết nổi? Nên có rất nhiều người đã bị tôi làm cho tán gia bại sản, giờ đây nghĩ lại tôi quả là kẻ vô cùng bất nhân.

    Thái Sinh: Đúng hành động như vậy là phản lại luân thường đạo lí.

    Tế Phật: A, đêm nay thời giờ đã trễ, trò ngoan mau lên đài sen chuẩn bị trở lại Thánh Hiền Đường.

    Thái Sinh: Thưa con đã sẵn sàng, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Đã về tới Thánh Hiền Đường, Thái Sinh mau xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:11 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    February 7th 2010, 9:10 pm
  • HỒI BA MƯƠI

    TỚI CÔNG VIÊN XEM LÒNG NGƯỜI DẠO CẢNH

    BÀN NHÂN QUẢ THẤY THIỆN ÁC RÕ RÀNG

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 29 tháng 8 năm Nhâm Tuất (1982)


    Thơ

    Thành trụ hoại không vật thủy chung
    Sinh lão bệnh tử nhân sở thống
    Thanh tâm quả dục siêu phàm giới
    An bần lạc đạo tự khinh túng.

    Dịch

    Muôn vật trước sau có lại không
    Bệnh già sống thác đớn đau lòng
    Tâm trong bớt dục siêu phàm giới
    Vui đạo cam nghèo chẳng ước mong.

    Tế Phật: Thành trụ hoại không là quá trình sinh hóa tự nhiên của vạn vật, và kể cả loài người cũng cùng chung số phận, thân xác có sống ắt có chết. Ngoại trừ số ít người bớt dục giữ tâm thanh tịnh mới có thể sống được cuộc đời an bần lạc đạo, còn ngược lại phần đông thân tâm khổ nhọc, tinh thần sa sút, bởi lẽ loại người này đã không lo vun bồi nội lực, lại còn phung phí sức quá nhiều. So sánh hai hạng này thì thấy ngay rằng loại trên cầu hưởng ân phước, loại dưới cầu thương thân hại mệnh. Cho nên trong khoảng sống chết, kẻ chân thành giải trừ phiền muộn, chịu an dưỡng tính mệnh quả là hiếm hoi, song cũng chính nhờ lo công phu thực hành pháp lí họ đã hiểu được đạo sống chết, vượt thoát được giả tưởng sinh tử ràng buộc mà đạt tới cảnh giới tự tại giải thoát. Do đó chỉ những ai giác ngộ được mới có thể thoát tục mà thôi.

    Thái Sinh: Loại người trên hẳn đã hiểu được chân bản ngã chẳng sinh cũng chẳng tử.

    Tế Phật: Trò ngoan nhận xét rất đúng, loại người đó sống chẳng vui, chết chẳng buồn, vượt khỏi vòng sinh tử. Thôi bữa nay tạm ngưng cuộc đàm đạo tai đây, thầy trò mình còn phải lo việc viết sách.

    Thái Sinh: Thưa vâng, con đã chuẩn bị sẵn sàng, kính mời ân sư khởi hành.

    Tế Phật: Đã tới nơi, trò ngoan xuống đài sen.

    Thái Sinh: Thưa ân sư đêm nay con cảm thấy vô cùng nhẹ nhàng thoải mái. Tế Phật: Tại sao?

    Thái Sinh: Thưa vì được ân sư hướng dẫn tới công viên.

    Tế Phật: Ha ha, suốt ngày suốt đêm được nhẹ nhàng thoải mái là bởi tại dốc lòng lo độ chúng sinh.

    Thái Sinh: Kính xin ân sư giảng rõ về lẽ thiền cơ.

    Tế Phật: Ha ha, trò ngoan tin là thầy hiểu rõ thiền cơ sao?

    Thái Sinh: Thưa tại sao đêm nay ân sư lại hướng dẫn con tới công viên?

    Tế Phật: Để con phỏng vấn một người đang “Rảnh rang ngoạn cảnh đêm thư thái. Tâm tình hỗn loạn ý mang mang”.

    Thái Sinh: Tâm huyết ân sư như sóng trào, lời nói ngụ ý quá sâu xa nên trò ngu không hiểu nổi.

    Tế Phật: Trò ngoan hãy nhìn những người tản bộ kia, bề ngoài thì có vẻ thảnh thơi, song bên trong tâm hồn băn khoăn nhiều nỗi, nên sự thoải mái giả tạo đó không thể che giấu nổi những khoắc khoải hoang mang tận đáy lòng. Cũng bởi tại họ đang hồi tưởng lại dĩ vãng u ẩn nên tâm hồn mới héo hắt, bàng hoàng. Đêm nay đám người già trẻ đó tới đây với mục đích để cho khuây khỏa được tất cả những sự băn khoăn lo lắng.

    Thái Sinh: Lời dạy của ân sư quả là siêu diệu, con thấy những người đó cứ thở ngắn than dài, tâm trí họ dường như vô cùng bấn loạn, chắc hẳn thâm tâm họ có điều chi thắc mắc cần phải giải quyết mà giải quyết không xong.

    Tế Phật: Trò ngoan, người kia bữa nay thất thần, lạc phách trông thật đáng thương, chẳng một ai, có thể ngờ rằng trước đây ba chục năm, trong giới giang hồ y đã từng hét ra lửa.

    Thái Sinh: Quả là người trước sau đã đi cả ngàn vạn dặm.

    Tế Phật: Thời thế đổi thay, gió nước luân lưu biến chuyển, khi xưa thân thể y cường tráng, tâm ôm ấp bao mộng lớn, ngày nay sau khi trải qua nhiều năm tháng dãi dầu, lênh đênh gian khổ, áo mỏng chiếc thân, phách lạc hồn siêu, đầu đường xó chợ, cũng bởi tại họa báo do y tự chuốc.

    Thái Sinh: À thì ra nguyên nhân là như vậy.

    Tế Phật: Ông già tật nguyền kia vốn là một quân nhân giải ngũ, lúc còn là thanh niên gặp thời tao loạn đã tòng chinh, hiện giờ được xuất ngũ, xét về tư cách là người chính trực vô tư, tương lai chắc chắn được phúc báo.

    Thái Sinh: Là người dốc lòng đền ơn nước, rất được dân chúng kính phục, xin cầu chúc gặp được phước lành, an hưởng lộc trời vô lượng.

    Tế Phật: Còn người ngồi trên kia thân thế siêu phàm, song lúc sống không rõ nhân quả, không tin Thần Phật, do đó việc thiện không làm, tính tốt không tu, phước lộc tiêu tan, cuối cùng sự nghiệp bị nghịch cảnh trái ngang, năm trước vợ chết vì bệnh ung thư, hiện thời chỉ ngồi thương tiếc dĩ vãng vàng son.

    Thái Sinh: Người đời thất vọng có đến tám chín phần mười, hi vọng vị đó cũng thấu hiểu điều đó.

    Tế Phật: Còn ông già nằm trên sập kia, con có nhìn thấy không?

    Thái Sinh: Thưa ân sư con có thấy, vị đó hình như cũng bị tán thần lạc phách không rõ bởi nguyên nhân gì?

    Tế Phật: Hoàn cảnh hiện giờ ra sao đều hoàn toàn tùy thuộc ở kết quả của những việc làm ngày trước.

    Thái Sinh: Thưa ân sư vậy thì còn biết nói sao?

    Tế Phật: Vị đó lúc còn là thanh niên, có gia đình sống cuộc đời sung túc, song không biết an phận, buôn bán chuyên đầu cơ. Gặp lúc kinh tế khó khăn, sinh lòng gian xảo, giả đò tuyên bố công ti phá sản, ngầm chuyển hết tiền bạc của công ti cho vợ giữ, sau đó vờ li dị vợ để cướp nợ bằng cách che mắt pháp luật. Hành động này đương nhiên không thể lọt qua lưới pháp luật nên bị chế tài và bị nhốt tù. Tưởng rằng sau đó ít năm lúc được thả ra sẽ sống cuộc đời sang giàu sung sướng với vợ đến trọn đời. Nào ngờ nhân định không bằng trời định nên lúc ra khỏi nhà tù, không gặp lại được người vợ vì y thị đã cuốn gói theo người tình không rõ tại phương nào, thành lâm cảnh khốn cùng, chỉ còn biết ôm hận mà thôi.

    Thái Sinh: Quả là trời chẳng chiều kẻ lòng tham vô đáy.

    Tế Phật: Đúng là kẻ ác sẽ bị kẻ ác hơn trừng trị, gian trá sẽ bị kẻ gian trá hơn lừa đảo, thiết tưởng đen hòa đen, kết quả tự làm tự chịu. Do đó người này phải đối xử với kẻ nọ ra sao, kẻ nọ phải đối xử với người này như thế nào, chắc chắn không ngoài lẽ đạo. Còn sự gian tà xảo trá chẳng thể qua mắt nổi người khác, thành ra kẻ gian manh lừa đảo cuối cùng chỉ tự chuốc lấy sự thất bại mà thôi.

    Thái Sinh: Thưa lời dạy của ân sư quả là chí lí.

    Tế Phật: Ông già kia thân thể suy nhược, đầu tóc bù xù mặt mày dơ bẩn...

    Thái Sinh: Thưa con đã nhìn thấy, song con không rõ quá khứ của vị đó như thế nào?

    Tế Phật: Người ấy có tật nghiện rượu, đã đau yếu lại còn nhậu nhẹt liên miên, đó là thói quen vô cùng tai hại.

    Thái Sinh: Nguyên nhân vì đâu mà ngày nay tới nông nỗi này?

    Tế Phật: Đây cũng là tự làm tự chịu vậy, người đó vốn lấy được vợ hiền lành, song vì phước mỏng, nên sau đó mắc tật nghiện rượu, suốt ngày ra ngoài nhậu nhẹt say mèm, tối về nhà gây gổ, đánh đập chửi mắng vợ con, vì vậy mà vợ không chịu nổi sự đau khổ, liền bỏ nhà đi. Từ đó về sau, thân thế sự nghiệp ngày càng xuống dốc, phải làm những việc tay chân nặng nhọc để sống qua ngày, hiện giờ thân thể suy nhược đau yếu thường xuyên, tất cả đều do cái hại của rượu gây nên.

    Thái Sinh: Thưa ân sư, có phải tại số kiếp của người đó như vậy không?

    Tế Phật: Kinh sách có nói: “Trời khó tin, mệnh chẳng thường” (Thiên nan kham mệnh mi thường). Ý là trời không hoàn toàn nắm giữ vận mệnh của mọi con người. Trong Thanh Tịnh Kinh, Thiên Cảm Ứng cũng có nói: “Họa phước không có cửa, chỉ do người tự chuốc” (Họa phước vô môn, duy nhân tự chiêu). Số mệnh của con người là do nhân quả nhiều kiếp tích lũy, đường rộng an nhiên tự tại thênh thang mở sẵn, người ta chẳng chịu đi, lại thích đi ngả quanh co, sái quấy, như vậy hẳn là họ đã bỏ mất đường về nguồn cội để rồi gặp nhiều gian nan trắc trở?

    Thái Sinh: Thưa lời dạy của ân sư vô cùng hữu lí, có loại người mặt mày coi phúc hậu, song chưa thấy thành công; còn lắm bộ mặt coi hắc ám nhưng lại giàu sang nhiều tiền bạc.

    Tế Phật: Những kẻ được may mắn đó là chỉ tạm nhờ phước báo mà thôi, còn đạo đức vô hình mới là phước báo chân chính, phước báo hữu hình đôi khi chưa chắc hẳn đã là phước báo. Bởi lẽ thời đại này, kẻ xảo trá quá nhiều, nên sự hưởng phúc bất chính cũng không ít, những kẻ đó không thể cho là họ có phước đức được, mà chỉ là có danh lợi hão mà thôi. Cho nên theo mắt phàm thì đó là phúc, nhưng theo mắt Phật mắt Tiên thì đó là họa.

    Thái Sinh: Thưa lời dạy của ân sư quả là siêu diệu.

    Tế Phật: A, việc phỏng vấn sưu tầm tài liệu để viết sách bữa nay cũng đã khá đủ, thôi thầy trò mình chuẩn bị trở lại Thánh Hiền Đường.

    Thái Sinh: Xin tuân lệnh, thưa con đã lên đài sen, kính mời ân sư khởi hành.

    Tế Phật: Đã về tới Thánh Hiền Đường, Thái Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:12 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    February 7th 2010, 9:11 pm
  • HỒI BA MƯƠI MỐT

    ĐẠO LÍ CƯƠNG THƯỜNG TU SỬA GIỮ BỀN

    TẤM LÒNG CÔNG ĐỨC THỰC HÀNH PHẢI LO

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 16 tháng 9 năm Nhâm Tuất (1982)


    Thơ

    Nhân Gian Du Kí Phật Thần Nhân
    Tam cương ngũ thường tả lịch trình
    Tứ duy bát đức diệc kí tải
    Công cộng đạo đức tu để thăng.

    Dịch

    Nhân Gian Du Kí Phật Tiên Người
    Luân lí cương thường trải khắp nơi
    Đức độ nêu cao đà kể rõ
    Đem đời lên đạo chí không dời.

    Tế Phật: Bộ sách trời cuối cùng trong ba bộ sách nói về ba cõi Trời, Đất, Người sắp viết xong, suốt một năm nay, chư đệ tử Thánh Hiền Đường đã hết lòng tán thưởng việc soạn thảo bộ sách này, tinh thần đó mỗi lúc một lên cao. Giờ đây bộ sách sắp hoàn thành, ta nhớ lại trước kia trong sách Du Kí không chương nào là không đề cao tinh thần đạo đức truyền thống từ ngàn xưa còn để lại, thiết tưởng chẳng ngoài ý muốn người tu đạo trước tiên phải khởi từ nhân đạo đi lên. Ngạn ngữ có câu: “Đạo người thấu, đạo trời gần” (Nhân đạo tận, thiên đạo cận) đây cũng là câu để cho kẻ tu đạo ghi xương khắc cốt. Trong phạm trù sinh hoạt hiện thời, ngoài nhân, nghĩa, lễ, trí, tín tức “ngũ thường” ra, dân ta còn phải tích cực về phương diện “tâm công đức” tức “lục thường”. Nếu như thực hiện nổi thì hẳn là sẽ giúp mọi người tôn trọng, giữ gìn được đạo đức xã hội, trật tự công cộng, thiết lập được đời sống an hòa ổn định nơi các cộng đồng, hỗ trợ các sinh hoạt xã hội lành mạnh thăng tiến. Đó là mục tiêu phấn đấu để thực hiện của toàn dân.

    Thái Sinh: Thưa, đêm nay ân sư đột nhiên đề cập tới vấn đề “lục luân” tức tâm đức đối với xã hội để bổ túc cho “ngũ luân” là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín con rất hoan nghênh, vì đó là điều con hằng mong ước, nghĩ ngợi. Con cũng không rõ tại sao ý của con lại trùng hợp như cùng một tâm phát ra, thật quả là kì diệu.

    Tế Phật: Thầy trò mình không cùng thân nhưng cùng tâm, tâm tâm tương ứng, bởi lẽ tâm trong trẻo linh ứng là tâm Phật, Phật Phật tâm tương ứng, tâm tâm tương ứng, thầy trò một tâm, há sai chệch được sao?

    Thái Sinh: Thưa ân sư quả đúng như vậy, tâm Phật không hai, Phật tâm duy nhất, song tại sao thánh hiền đời trước lại không đề xướng “lục luân” tức tâm đức xã hội như ân sư ngày nay?

    Tế Phật: Trò ngoan, đời xưa không đặt ra luật lệ giao thông, vì khách bộ hành không gặp trở ngại, còn ngày nay nếu không có luật đi đường hẳn là giao thông sẽ bị tắt nghẽn.

    Thái Sinh: Ha ha, quả đúng như vậy, luật lệ đời sống của người dân tùy thuộc thời đại mà thay đổi, cũng như thời xưa chẳng có Tiên Phật giáng cơ dạy đạo mà mọi người vẫn sống đạo đức. Nhưng ngày nay trí tuệ người ta ngày một tối tăm, tâm nghi ngờ ngày một nặng nề, nên cần phải có phương thức hiển hóa để thức tỉnh những tâm hồn mê muội, còn không họ sẽ chẳng chịu tu nhân tích đức. Việc làm mờ ám của ta đôi khi chỉ che dấu nổi pháp luật, còn chẳng thể che dấu nổi mọi người, nhất là đối với lương tâm của chính ta.

    Tế Phật: Trò ngoan, lời nói vừa rồi của con quả là sâu sắc.

    Thái Sinh: Thưa đó cũng là nhờ ân sư và con có sự đồng tâm.

    Tế Phật: Như vậy rất hay, hi vọng con có thể tâm tâm tương ứng cùng chư Phật để thầy trò mãi mãi một lòng.

    Thái Sinh: Thưa vâng, thưa vâng.

    Tế Phật: Bữa nay hãy sử dụng phương pháp đàn cơ nói về “lục luân” tức “công đức tâm” để giúp mọi người tự thức tỉnh cùng giác ngộ.

    Thái Sinh: Thưa ân sư bữa nay thầy hướng dẫn con dạo thăm những nơi nào để viết sách?

    Tế Phật: Thầy hướng dẫn con xuất ngoại dạo thăm một quốc gia văn minh tiên tiến, để con có dịp nhận xét về khía cạnh tôn trọng và giữ gìn “công đức tâm” của người dân xứ họ.

    Thái Sinh: A ha, đêm nay ân sư mới cho con rõ, kì thực trò ngu đã từ lâu mong ước được thầy chỉ giáo về sự việc này. Kể từ bữa bắt đầu viết sách Nhân Gian Du Kí tới nay, tại sao chỉ trình bày những sự việc không có liên quan nhiều tới sinh hoạt của xã hội hiện thời?

    Tế Phật: Việc này cũng không có gì đáng thắc mắc nhiều, bởi lẽ tôn giáo không muốn can thiệp vào guồng máy của chính quyền hiện hữu huống nữa việc giáng cơ bút là một pháp môn do thánh hiền nước ta thuở trước sáng lập, lại dùng chữ nghĩa ghi chép thành sách, do đó người xem sách này đều là dân trong một nước, nên khi viết sách thầy không hướng dẫn con đi hết các nơi trong nước để luận bàn về đạo lí cũng không quan trọng.

    Thái Sinh: Thưa sự giải thích của ân sư rất hữu lí, con cũng nghĩ sau khi viết xong sách Nhân Gian Du Kí tầm nhìn của con sẽ được mở rộng.

    Tế Phật: Thôi, thầy trò mình hãy ngưng cuộc đàm đạo tại đây, chúng ta hãy khởi hành.

    Thái Sinh: Thưa vâng, con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường. Bữa nay trình bày vấn đề này không rõ dân chúng trong nước có nghĩ rằng: “Đề cao ưu điểm của người là tự giảm uy tín của mình chăng?”.

    Tế Phật: Nếu như có người nghĩ vậy mong họ hãy giảm bớt tính tự tôn để hiểu câu nói như sau: “Lấy đá núi người mài sáng ngọc mình” cùng “Lấy ưu điểm của người bổ khuyết nhược điểm của mình”.

    Thái Sinh: Thưa đúng như vậy, phải bớt phê bình kẻ khác và hãy tự phê bình mình nhiều hơn và hãy giảm bớt sự dạy dỗ của kẻ khác.

    Tế Phật: Như vậy mới xứng đáng và mới giảm bớt được khẩu nghiệp, điều con vừa trình bày là điểm rất hay trong sách này, nếu mọi người đều thực hành ắt sẽ cách mạng nổi bản thân.

    Thái Sinh: Thưa con cũng hi vọng mọi người làm được như vậy.

    Tế Phật: Trò ngoan, hãy quan sát “công đức tâm” của dân chúng nước ta, hiện tại thầy trò mình đang ở giữa ngã tư, nên con có thể dễ dàng theo dõi, và sẽ thấy mọi người có tôn trọng luật lệ giao thông hay không?

    Thái Sinh: Thưa ở đây không có trạm cảnh sát đứng canh, con thấy một chiếc xe hơi gặp đèn đỏ mà vẫn cứ rồ ga chạy, làm tiếng xe máy rú lên rung trời chuyển đất, ầm ầm phóng qua đã thế trên xe lại còn chất nặng quá mức luật lệ giao thông ấn định, coi như ta đây được phép làm như vậy và dưới mắt kể như ngoài mình không còn ai nữa.

    Tế Phật: Nhất là những người cỡi xe gắn máy, họ chỉ cần nhìn xem có cảnh sát công lộ hay không. Cho nên nếu như khắp nơi và khắp các ngả tư đều phải có cảnh sát đứng canh thì thử hỏi chính phủ sẽ tiêu hết bao nhiêu tiền mồ hôi nước mắt của dân. Còn như kẻ không tuân theo luật lệ vừa rồi chỉ sợ mình bị phạt tiền, song không biết tiết kiệm tiền thuế mồ hôi nước mắt cũng của chính mình, thành ra cuối cùng cũng vì cái nhỏ mà bỏ mất cái lớn. Nếu như toàn dân biết tuân theo và giữ gìn “công đức tâm” thì hẳn là tiết kiệm được tiền mồ hôi nước mắt.

    Thái Sinh: Thưa ân sư nói rất chí lí, vừa rồi con nhìn thấy mấy người không chịu đi trên lối dành riêng cho người đi bộ.

    Tế Phậ: Nếu như mọi người không tuân theo luật lệ giao thông thì luật lệ giao thông sẽ chẳng còn ý nghĩa gì hết... Bây giờ thầy lại hướng dẫn con tới một nơi khác.

    Thái Sinh: Thưa vâng.

    Tế Phật: Đây là nơi dạo chơi ngoài ngoại ô, con chỉ cần nhìn xuống là thấy rõ ngay cảnh đó như thế nào?

    Thái Sinh: Cảnh này có núi có nước, nước suối chảy lờ đờ, khí núi âm u, bên bờ suối bày cảnh nấu nướng khắp nơi mùi thịt chiên nướng bay đầy, giấy, lon, vỏ trái cây vứt bừa bãi, rác rưới nghẽn cả suối, nước suối vô cùng dơ bẩn, hết vẻ thẩm mĩ.

    Tế Phật: Những nơi công cộng dân ta không hề biết giữ vệ sinh chung, quả là chẳng có chút “công đức tâm” nào hết.

    Thái Sinh: Thưa ân sư chắc những người đó nghĩ rằng lần này họ tới lần sau sẽ không tới nữa nên mới có thái độ như vậy.

    Tế Phật: Đúng, nếu như mọi người đều nghĩ và làm như vậy thì kẻ ích kỉ kia đâu có trở lại nơi này.

    Thái Sinh: Thưa tại sao?

    Tế Phật: Vì nơi đây sớm biến thành bãi rác, nên kẻ ích kỉ đó há còn trở lại đây nữa sao?

    Thái Sinh: Thưa đúng, đúng.

    Tế Phật: Mỗi cá nhân chỉ cần nghĩ tới người khác một chút thì chốn này há chẳng trở thành nơi sạch sẽ sao? Phải nhớ rằng người trước trồng cây, người sau dạo mát thì mọi người mới được hưởng hạnh phúc yên vui. Bây giờ thầy hướng dẫn con ra ngoại quốc để thấy những ưu điểm của những người nước ngoài.

    Thái Sinh: Thưa vâng, tại ngã tư không hề thấy cảnh tranh giành qua lại làm mất trật tự lưu thông.

    Tế Phật: Đúng vậy, về phương diện nhân luân thân thiết tây phương không bằng chúng ta nhưng ngược lại vì ý thức giữ gìn trật tự nơi công cộng thì họ hơn hẳn chúng ta. Bây giờ thầy lại hướng dẫn trò ngoan dạo thăm nơi khác.

    Thái Sinh: Thưa vâng.

    Tế Phật: Con có thấy một công viên vô cùng rộng lớn, có hồ nước phun, có chim bồ câu, thảnh thơi bay lượn, nhơn nhởn đi tới đi lui, chẳng một ai dám đụng chạm tới sự tự do của chúng.

    Thái Sinh: Thưa nếu như đàn chim đó mà ở tại nước ta chắc hẳn đã bị người mình bắt giết, làm món bồ câu quay, chẳng thể sống đời tự do giữa chốn công viên.

    Tế Phật: Đúng, dân mình và dân người khác nhau ở điểm đó, bởi vậy sau khi viết sách Nhân Gian Du Kí này viết xong hi vọng dân mình sẽ tỉnh ngộ và tự giác, mỗi người lo vun bồi “công đức tâm” mới có thể kiến lập được một xã hội an hòa thịnh trị.

    Thái Sinh: Thưa, muốn rõ trình độ người dân một nước về phương diện “công đức tâm” thì cứ tới quan sát một nơi sinh hoạt công cộng nào đó ắt sẽ thấy rõ ngay.

    Tế Phật: Mỗi cá nhân chỉ cần tự nghĩ lại nơi sinh hoạt công cộng chỗ mình ở có sạch sẽ vệ sinh hay không thì sẽ hiểu được vấn đề.

    Thái Sinh: Thưa ân sư bữa nay ân sư tự hạ mình, không giảng về tính lí tâm pháp, không luận về lẽ đạo cao sâu, không thuyết về chân lí vi diệu mà lại sửa chữa những hành động sai lầm của xã hội, cùng khuyến khích mọi người giữ gìn đạo đức công cộng, song con trộm nghĩ rất có thể một số đạo sĩ khác sẽ cười chê.

    Tế Phật: Đức Khổng Tử dạy “Biết đạo tâm không còn phân biệt” chắc hẳn trò ngoan cũng thấy là thầy luôn luôn tôn trọng lời khuyên trên.

    Thái Sinh: Thưa con không có được ý thức đó.

    Tế Phật: Chúng ta chớ tự cho mình thanh cao hơn người khác, muôn pháp vốn bình đẳng, con phải luôn nhớ kĩ như vậy.

    Thái Sinh: Thưa, quả đúng như thế, con xin ghi nhớ.

    Tế Phật: Ha ha, con đã hiểu ý của thầy, hay lắm, đề tài “công đức tâm” bữa nay tạm kết thúc ở đây.

    Thái Sinh: Thưa con đã lên đài sen, kính mời ân sư khởi hành.

    Tế Phật: Đã về tới Thánh Hiền Đường, Thái Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:12 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    February 7th 2010, 9:12 pm
  • HỒI BA MƯƠI HAI

    NHÂN GIAN GỒM VẠN NHÀ NHẤT LÍ QUÁN THÔNG

    DU KÍ THUẬT SỬ TÍCH NGÀN VẺ BAO LA

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 26 tháng 10 năm Nhâm Tuất (1982)


    Thơ

    Quang Âm tự thủy thường thệ lưu
    Nhân Gian Du Kí phiếm Thánh châu
    Tam thập nhị hồi chung hoàn mãn
    Vọng kì quan duyệt chí lập tu.

    Dịch

    Thời gian như nước mãi trôi mau
    Du Kí thuyền tiên chở pháp mầu
    Ba chục lẻ hai hồi viết đủ
    Mong người gắng đọc dốc tâm tu.

    Tế Phật: Thời gian qua rất mau, việc viết sách Nhân Gian Du kí, cũng tùy thuộc vào sự chuyển dịch của thời gian qua mau lẹ, bữa nay tới hồi chót, cảm tưởng của trò ngoan thấy thế nào?

    Thái Sinh: Có ngày bắt đầu thì có buổi kết thúc, con cảm thấy vô cùng sảng khoái, song con chưa hiểu tại sao không để tới hồi ba mươi sáu hãy ngưng mà lại kết thúc tại hồi ba mươi hai này?

    Tế Phật: Ba mươi sáu hồi là con số ba mươi sáu Thiên Cương. Nhân gian thì có con số tứ duy bát đức, tứ quý bát tiết, tứ tượng bát quái, vả lại Phật Đà lấy ba mươi hai tướng tốt xuất hiện ở nhân gian, thì tại sao sách Nhân Gian Du Kí xuất hiện ở nước ta lại không lấy ba mươi hai hồi.

    Thái Sinh: Thưa ân sư dạy rất đúng, tại sao đêm nay không tham dự lễ mừng sách viết xong?

    Tế Phật: Trò ngoan có ý muốn lãnh thưởng.

    Thái Sinh: Thưa không dám, không dám.

    Tế Phật: Tại sao?

    Thái Sinh: Thưa con không có công đức nào đáng nói cả, còn việc lãnh thưởng, phải nhường cho chúng sinh tới lãnh mới đúng.

    Tế Phật: Ha ha, quả là khiêm nhượng, thầy đã cho là con ước ao tới dự tiệc mừng, song trò ngoan lại không mong có ngày được lãnh thưởng khiến thầy rất an lòng. Việc mở tiệc mừng sự hoàn tất cuốn sách trời lần này được dời lại ngày 25 tháng 10 năm Quý Hợi (1983) mới cử hành lễ nhập sách.

    Thái Sinh: Thưa hay quá, đúng hợp ý con.

    Tế Phật: Lí do tại sao?

    Thái Sinh: Bởi lẽ bữa nay con không dự lễ phát thưởng, còn đọc giả chẳng thể tham gia được sao?

    Tế Phật: Ha ha, thầy trò mình phải dâng hiến chúng sinh lễ vật.

    Thái Sinh: Thưa dâng lễ vật gì?

    Tế Phật: Đương nhiên là loại lễ vật vô hình song vô cùng quý báu.

    Thái Sinh: A, thưa con biết rõ ý của ân sư rồi.

    Tế Phật: Hay lắm, song thầy hỏi con, con đã có đại nguyện quảng độ chúng sinh, song chúng sinh vô cùng, bao giờ con mới độ hết?

    Thái Sinh: Thưa trò ngu hi vọng sẽ sớm thực hiện được mục tiêu cùng lí tưởng như tâm đã phát nguyện, mặc dù: “Mưa trời tuy lớn song không thấm nhuần nổi cỏ không rễ, Pháp Phật tuy rộng, song khó độ kẻ vô duyên” (Thiên vũ tuy đại, bất nhuận vô căn chi thảo, Phật Pháp tuy quảng, nan độ vô duyên chi nhân). Trò ngu tuy tâm nguyện lớn lao, song chúng sinh khó độ, do đó ngu đồ cùng những ai có duyên, đều phải nhận chân là “Phải do tâm chúng sinh tự nguyện cứu độ” đó mới là thật độ, là thật nguyện, bởi lẽ tự tâm mình không độ, thì làm sao độ người, nên mỗi người tự độ, chẳng phải trò ngu độ, còn trông cậy người khác độ cho là giả độ. Mọi người phải tự độ lấy mình mới là thật độ, chỉ khi nào chúng sinh tỉnh thức giác ngộ thì khi đó mới là lúc độ hết được chúng sinh.

    Tế Phật: Trò ngoan giảng giải rất chí lí, bởi lẽ vạn pháp do tâm sinh, tâm làm lành gặp lành phải không?

    Thái Sinh: Thưa, tuy vạn pháp do tâm sinh, song giảng giải không được, vì là “không pháp” chứ chẳng phải “thật pháp”.

    Tế Phật: Đúng vậy, trên đời có nhiều loại người này, chỉ nói lí đầu môi, luận đạo chót lưỡi, còn hành động thì ngược lại cao ngạo kiêu căng, nên họ chỉ thiền cửa miệng, chỉ đạo bề ngoài chứ chưa tâm ngộ bên trong, do đó trò ngoan sẽ rất đỗi khổ tâm về phương diện này.

    Thái Sinh: Thưa ân sư quả đúng như vậy, cảm hóa phẩm tính của người từ trong cõi vô hình trò ngu chưa thể làm nổi.

    Tế Phật: Vậy thì tại sao con lại có thể thân cận kẻ nói câu: “Người chưa có thể đạt tới cảnh giới đó”.

    Thái Sinh: Thưa người đó là ai?

    Tế Phật: Trò ngoan thử hỏi lại mình coi.

    Thái Sinh: A ha, tâm con. (Thái Sinh nói: “Tâm con” kì thực cũng là mọi người, luôn luôn soi tâm, làm sáng tâm, là vì chân tâm, chân tính, mới là của báu không đến thì đi, còn các sắc tướng đều là vật có đến có đi. Chỉ cần thấy rõ bản tâm, tức là Phật tâm vậy).

    Tế Phật: Đúng rồi, song thấy “kiến tính” là thấy gì?

    Thái Sinh: Thấy “kiến tính” chẳng phải là thấy bằng mắt, mà là thấy bằng tâm cái vốn không thấy.

    Tế Phật: Thế nào là thấy bằng tâm cái vốn không thấy?

    Thái Sinh: Ví dụ như kẻ mắt sáng vào phòng tối chẳng trông thấy cái gì, khi có người bật đèn, đột nhiên trông thấy hết mọi vật, người đời gọi là thấy bằng mắt song nếu như không có đèn thì lại chẳng thấy gì, nên gọi là “đèn thấy” chẳng phải “mắt thấy”, cho nên mới lấy việc người đời đều thấy bằng mắt làm ví dụ. Thế mới biết thấy “kiến tính” chẳng phải là “mắt thấy” mà là “tâm thấy”.

    Tế Phật: Trò ngoan giảng giải về pháp, tuy siêu diệu song thời mạt pháp này, tâm linh chúng sinh ngu muội nên lời giảng giải đó chẳng thể phổ độ khắp hết chúng sinh.

    Thái Sinh: Kính xin ân sư cho con được rõ pháp môn dễ tu nhất.

    Tế Phật: Chính đức Phật đã nói: “Thời kì mạt pháp, chúng sinh nghiệp chướng quá nặng, chỉ có pháp môn tụng niệm là dễ độ chúng sinh”.

    Thái Sinh: Thưa ân sư theo con thì thầy không hoan hỉ nhìn nhận pháp môn Tĩnh Thổ. Nhưng trong một số hồi chót của sách Nhân Gian Du Kí con lại thấy ca ngợi pháp môn này huyền diệu là tại sao?

    Tế Phật: Pháp môn Tĩnh Thổ là pháp môn lớn, không thể bỏ qua được.

    Thái Sinh: Thưa quả đúng như vậy, song có một số thanh niên lại cho rằng ai mà chẳng niệm được bốn chữ “A Di Đà Phật”.

    Tế Phật: Trò ngoan, còn có chỗ con chưa rõ, bốn chữ A Di Đà Phật là tên lớn muôn ngàn vạn đức, hơn nữa A Di Đà Phật còn phát bốn mươi tám đại nguyện, chỉ cần chúng sinh cung kính giữ danh hiệu, nếu một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, bảy ngày tâm không loạn, phút hấp hối Phật A Di Đà đương nhiên sẽ cùng chư vị Bồ Tát hiện ra trước mắt, đón về Xứ Phật Tây Phương Cực Lạc do đó kẻ tu pháp môn này là tu “Tín, Nguyện, Hành”.

    Thái Sinh: Thưa thế nào là “Tín, Nguyện, Hành”?

    Tế Phật:

    1. Phải tin có Phật A Di Đà.
    2. Phải nguyện sống ở thế giới Tây Phương Cực lạc.
    3. Phải hàng ngày thành thực niệm Phật.
    4. Không làm ác, chỉ làm thiện.

    Thái Sinh: Thưa nếu như dùng lí luận mà giảng về pháp môn Tĩnh Thổ thì có được không?

    Tế Phật: Được lắm trò ngoan, như quốc sư Trung Phong nói: “Ngọc trong ném vào nước đục, nước đục phải trong, niệm Phật mà tâm loạn, tâm loạn phải tĩnh” (Thanh châu đầu ư, trọc thủy chi trung, trọc thủy bất đắc bất thanh, niệm Phật đầu nhập loạn tâm, loạn tâm bất đắc bất tĩnh). Tây phương cực lạc cùng A Di Đà Phật ví như “ngọc trong”; chúng sinh phiền não vọng tưởng, ví như “nước đục”. Chỉ cần chúng sinh luôn luôn chăm chỉ đem “ngọc trong” tây phương bỏ vào tâm “nước đục” của chính mình, bởi vì “ngọc trong” chìm sâu trong nước một tấc, “nước đục” tự trở nên trong một tấc; chìm sâu một thước, nước đục trở nên trong một thước, cho tới lúc tâm hoàn toàn thanh tịnh tức là lúc “ngọc trong” chìm tới đáy. Sự tĩnh tâm niệm phật này là để giải vọng tâm tạp loạn. Nếu người chăm chỉ niệm A Di Đà Phật ắt sự dốc tâm niệm này sẽ khắc phục được muôn ngàn vọng niệm đạt được chính niệm, niệm vô biệt niệm, thực hiện được giải thoát, tức là hào quang tỏa ngợp, độ được chúng sinh, phàm và thánh ở cùng một cõi. Đó là nhờ ngưỡng vọng ơn Phật gia hộ mà được giải thoát. Chỉ tại chúng sinh rễ nông trí mỏng nên không lãnh hội được pháp thiền tông để tự tu tự độ đạt cứu cánh niết bàn.

    Thái Sinh: Thưa thì ra nguyên nhân là như vậy.

    Tế Phật: Việc biên soạn sách này tới đây là xong một giai đoạn, bây giờ thầy trò mình phải xét lại toàn diện để rồi sau đó còn ngỏ lời chúc lành.

    Thái Sinh: Kính xin ân sư mở trí cho con.

    Tế Phật: Sách này phổ độ khắp ba cõi, nội dung bao hàm ý nghĩa tổng quát như sau: Dẫn chứng kinh điển tam giáo để phát huy tính lí tâm pháp, cùng luận về nhân quả báo ứng, nhân đạo luân thường, pháp môn niệm Phật, tu thân, thật là mọi mặt viên thông, mọi lẽ thấu suốt, chỉ còn cần chúng sinh tin tưởng tuân theo. Nếu được vậy thì việc vắt tim nặng óc viết sách Nhân Gian Du Kí cực kì gian khổ này mới được đền bù xứng đáng.

    Thái Sinh: Thưa con cũng ước mong công lao khó nhọc phi thường của ân sư sẽ được đức Lão Mẫu ban khen.

    Tế Phật: Thầy không thấy khổ cực, cũng không cảm phiền, công lao càng không đáng kể, thầy chỉ biết cố gắng hết mình mà thôi, tương lai nếu như được đức Lão Mẫu ban khen, thầy cũng tự thẹn chẳng dám nhận lãnh. Thầy thiết nghĩ công lao này là do toàn thể chư đệ tử thuộc Thánh Hiền Đường đóng góp cùng đọc giả tạp chí Thánh Hiền phát tâm ấn tống, còn nếu như viết rồi mà chẳng in thì cũng không quảng bá lưu truyền nổi, chỉ gây ồn ào để rồi cuối cùng chẳng gặt hái được chút kết quả thực tế nào. Bởi vậy công lao to lớn thuộc toàn thể bạn đạo Thánh Hiền Đường, nên thầy tin tưởng rằng đức Lão Mẫu sẽ ban ân phước cho tất cả mọi tín hữu cùng các đọc giả, còn như thầy có nhận được phần thưởng riêng thì cũng xin phép ơn trên chuyển tặng lại các bạn đạo cùng đọc giả, nếu chúng sinh nhờ đọc được sách này mà thức tâm tu thân tích đức để thầy sớm nhận được niềm an ủi ấy, vì đó là sự báo đền hay nhất.

    Thái Sinh: Thưa, lượng từ bi cùng đức khiêm nhường của ân sư vô cùng lớn lao.

    Tế Phật: Không dám, thầy chỉ mong sao mọi người theo đúng được lời khuyên, sự hướng dẫn của sách này, kẻ phạm lỗi chân thành sám hối, hồi tâm quay về nẻo thiện. Thánh nhân có dạy: “Người không phải Thánh ắt có lỗi lầm, song biết sửa đổi, đức thiện hẳn sẽ lớn lao” (Nhân phi Thánh hiền, thục năng vô quá, tố thác năng cải, thiện mặc đại yên) và “Lãng tử hồi tâm vàng chẳng khác, mất dê lo sửa chuồng chẳng muộn nào” (Lãng tử hồi đầu kim bất hoán, vong dương bổ lao do vị vãn). Thành tâm sám hối sửa đổi lỗi lầm ắt sẽ tránh khỏi địa ngục, trở thành quỷ đói, súc sinh ác độc. Nếu tâm còn chất chứa tham sân, mưu đồ hành động phi nhân bất nghĩa hãy mau mau hồi tâm sám hối ăn năn, còn không tới lúc lao xuống vực thẳm hẳn là có hối hận cũng chẳng kịp nào. Khi đó thân bại danh liệt, tính nhơ, nhẹ thì thân thể mang đầy thương tích, nặng thì tan thịt nát xương, hoặc muôn kiếp chẳng thể đầu thai. Người ta lúc thường phải tránh điều ác, lo làm điều thiện, bảo vệ đạo lí, gìn giữ luân thường, ngẩng mặt không thẹn với lời thánh hiền răng dạy, cúi đầu không sợ bàn dân thiên hạ, tự hỏi lòng thì thấy đã được yên vui. Nếu như chưa tu tính trời đạo lớn hẳn là cũng không thẹn là kẻ đầu đội trời chân đạp đất, đường đường chính chính, không thẹn là kẻ vô tư cách, vô liêm sỉ, để cuối cùng tính linh còn được siêu thăng cõi trời, tránh khỏi bị đọa đày địa ngục. Kẻ tiến bộ đương nhiên thành người hưởng đặng chính khí trời đất, đạt pháp xưa nay, nếu không minh tâm kiến tính thì cũng trở thành chính nhân quân tử, sống đời hiền lương, tương lai được làm thần phúc báo của ba cõi. Kẻ tu đạo phải tẩy trừ ba cái độc là: thói quen, bệnh hoạn và tình dục, tương lai mới tránh khỏi bị đọa lạc xuống địa ngục tu-la. Người đã lập được chân tâm, chân chí để tu đại đạo, đương nhiên phải truy cầu chân lí đạo đức chân tông để rồi thành thật tu luyện, thì hẳn là lúc sống ở đời không thẹn là Thánh Hiền Bồ Tát giả, để còn thay đời truyền đạo, tương lai được lên cõi trời, làm Thánh Hiền Tiên Phật muôn đời, đạt được quả vị “Thành đạo lên trời, danh để muôn đời, hương khói phụng thờ, ngàn thuở còn thơm”. Thầy chỉ ước mong người đời được như vậy thôi.

    Thái Sinh: Thưa con tin rằng những điều thầy kì vọng đều ghi sâu tận đáy lòng mọi chúng sinh.

    Tế Phật: Thầy cũng hi vọng như vậy, bữa nay thời giờ đã trễ, sách viết tới đây, con đã chịu nhiều gian khổ, bây giờ con được nghỉ ngơi, phục hồi sức khỏe.

    Thái Sinh: Cảm tạ những điều ân sư vừa khuyên nhủ.

    Tế Phật: Thầy cho con rõ một điều là bất cứ phương diện hành đạo hay phương diện hóa độ đều phải như hoa sen gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Nên dù bị chửi mắng hay được tôn thờ, bị làm nhục hay được khen thưởng, bị bạc đãi hay được lợi lộc tâm chẳng hề động, được chẳng mừng, mất chẳng buồn, phải có thái độ xử sự là chửi không nhục, khen chẳng kiêu, một hành giả truyền pháp mầu, truyền đạo lớn phải hàm dưỡng đức độ sâu dày, điều thầy trình bày với con bây giờ tương lai chắc chắn con sẽ gặp, chỉ sớm hay muộn mà thôi.

    Thái Sinh: Thưa trí tuệ của con còn nông cạn nên những điều ân sư vừa chỉ giáo con xin ghi lòng tạc dạ.

    Tế Phật: Hay lắm, công việc viết sách Nhân Gian Du Kí chấm dứt ở đây, thầy xin chúc toàn thể bạn đạo và đọc giả của Thánh Hiền Đường cùng tất cả chúng sinh, đường tương lai sáng lạng, trọn đời an nhiên tự tại. Thái Sinh hồn phách nhập thể xác.


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group