Thiên Đường du ký - Dịch giả: Đào Mộng Nam

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • THIÊN ĐƯỜNG DU KÝ

    Dịch Giả: Đào Mộng Nam




    Thánh Hiền Đường ở Đài Trung thuộc Đài Loan



    Thiền Sư Lương Sĩ Hằng và Dương Thiện Sinh




    Mục Lục



    Tiểu Sử Phật Sống Tế Công ............................................ 19
    Lời Ông Tám Giảng

    Trước Khi Đọc Thiên Đường Du Kí ............................... 25

    Ý Chỉ
    Tiên Cô Nguyên Quân ................................................. 28

    Ngọc Chỉ
    Kim Khuyết Nội Tướng họ Từ ..................................... 34

    Thái Thượng Vô Cực Hỗn Nguyên ............................. 38

    Giáo Chủ Nguyên Thủy Thiên Tôn ............................. 38

    Vô Cực Dao Trì Kim Mẫu ............................................ 44

    Quán Âm Đại Sĩ ............................................................ 48

    Hồi 1:
    Dạo Cửa Nam Thiên..................................................... 53

    Nghe Đại Thánh Thuyết Pháp ..................................... 53

    Hồi 2:
    Dạo Cửa Nam Thiên Ngọc Khuyết
    Lạy Chào Ra Mắt Văn Hành Thánh Đế ....................... 72

    Hồi 3:
    Lại Dạo Nam Thiên Ngọc Khuyết
    Nghe Thánh Đế Khuyên Nhủ ...................................... 82

    Hồi 4:
    Dạo Cung Thái Thanh
    Nghe Thái Thượng Đạo Tổ Thuyết Pháp .................... 90

    Hồi 5:
    Lại Dạo Cung Thái Thanh
    Nghe Thái Thượng Đạo Tổ Thuyết Pháp .................. 109

    Hồi 6:
    Dạo Cung Thương Thanh
    Nghe Linh Bảo Thiên Tôn Thuyết Pháp..................... 124

    Hồi 7:
    Dạo Sông Tam Thanh
    Nghe Hà Thượng Công Thuyết Pháp ........................ 156

    Hồi 8:
    Lại Dạo Cung Thượng Thanh
    Nghe Linh Bảo Thiên Tôn Thuyết Pháp...................... 169

    Hồi 9:
    Dạo Cung Ngọc Hư
    Nghe Nguyên Thủy Thiên Tôn Thuyết Pháp ............ 205

    Hồi 10:
    Lại Dạo Cung Ngọc Hư
    Nghe Nguyên Thủy Thiên Tôn Thuyết Pháp ............ 227

    Hồi 11:
    Dạo Cung Ngọc Hư Lần Thứ Ba
    Nghe Đức Nguyên Thủy Thiên Tôn Thuyết Pháp
    Cùng Lạy Chào Đức Huyền Huyền Thượng Nhân.... 247

    Hồi 12:
    Dạo Cung Đông Hoa
    Lắng Nghe Đông Hoa Đế Quân Thuyết Pháp ........... 319

    Hồi 13:
    Lại Dạo Cung Đông Hoa
    Lắng Nghe Đông Hoa Đế Quân Thuyết Pháp ........... 355

    Hồi 14:
    Dạo Cung Đông Hoa Lần Thứ Ba
    Thăm Hoa Nguyên Linh Của Chúng Sinh................. 382

    Hồi 15:
    Dạo Cung Đông Hoa Lần Thứ Tư
    Thăm Cây Nguyên Linh Của Chúng Sinh ................. 391

    Hồi 16:
    Dạo Cung Nam Hoa
    Lắng Nghe Đức Nam Hoa Đế Quân Thuyết Pháp .... 420

    Hồi 17:
    Lại Dạo Cung Nam Hoa
    Lắng Nghe Đức Nam Hoa Đế Quân Thuyết Pháp .... 435

    Hồi 18:
    Dạo Cung Tây Hoa
    Nghe Dao Trì Kim Mẫu Thuyết Pháp ........................ 462

    Hồi 19:
    Lại Dạo Cung Tây Hoa
    Lắng Nghe Dao Trì Kim Mẫu Thuyết Pháp ............... 478

    Hồi 20:
    Dạo Cung Tây Hoa Lần Thứ Ba
    Lắng Nghe Dao Trì Kim Mẫu Thuyết Pháp ............... 487

    Hồi 21:
    Dạo Cung Bắc Hoa
    Lắng Nghe Bắc Hoa Đế Quân Thuyết Pháp............... 498

    Hồi 22:
    Lại Dạo Cung Bắc Hoa
    Lắng Nghe Bắc Hoa Đế Quân Thuyết Pháp............... 510

    Hồi 23:
    Dạo Cung Trung Hoa
    Lắng Nghe Trung Hoa Đế Quân Thuyết Pháp........... 521

    Hồi 24:
    Lại Dạo Cung Trung Hoa
    Lắng Nghe Trung Hoa Đế Quân Thuyết Pháp........... 534

    Hồi 25:
    Dạo Động Đào Nguyên Vùng Núi Cửu Tiên
    Hỏi Đạo Đại Tiên Quảng Thành Tử .......................... 543

    Hồi 26:
    Dạo Điện Đại Thánh
    Bái Hội Chí Thánh Tiên Sư......................................... 562

    Hồi 27:
    Dạo Bảo Điện Đại Hùng Tây Thiên
    Bái Hội Thích Ca Mâu Ni Phật ................................... 571

    Hồi 28:
    Dạo Núi Phổ Đà Ở Nam Hải
    Lắng Nghe Đức Quán Thế Âm Thuyết Pháp ............. 587

    Hồi 29:
    Dạo Thế Giới Cực Lạc Tây Phương
    Lắng Nghe Đức Phật A Di Đà Thuyết Pháp............... 600

    Hồi 30:
    Dạo Điện Tam Quan
    Bái Hội Đức Thiên Quan Đại Đế................................ 619

    Hồi 31:
    Dạo Điện Tam Quan
    Bái Yết Địa Quan Đại Đế ............................................ 631

    Hồi 32:
    Dạo Điện Tam Quan
    Bái Hội Thủy Quan Đại Đế ........................................ 647

    Hồi 33:
    Dạo Điện Trung Nghĩa Và Điện Hiếu Thảo .............. 657

    Hồi 34:
    Dạo Cõi Biên Giới Âm Dương
    Xem Cảnh Những Người Được Trở Về Trời ............. 672

    Hồi 35:
    Dạo Tam Giới Gặp Bát Tiên Quán Diệu Pháp ........... 683

    Hồi 36:
    Cung Dao Trì Mở Tiệc Lớn Tạ Ơn Chư Tiên Phật,
    Đức Lão Mẫu Khen Thưởng Dương Sinh
    Cùng Chúc Mừng Sự Thành Công............................. 700

    Ngọc Chỉ
    Kim Khuyết Nội Tướng họ Từ ................................... 714



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:24 pm với 3 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước



  • Tiểu Sử
    PHẬT SỐNG TẾ CÔNG



    Phật Sống Tế Công người đời Nam Tống (1150-1209) nguyên quán thuộc huyện Thiên Thai, tỉnh Triết Giang, họ Lí tên Tu Duyên quy y tại chùa Linh Ẩn ở Tây Hồ thuộc Hàng Châu, pháp danh Đạo Tế, vì thường dùng kế giả điên để cứu đời nên thế nhân thường gọi đùa là Tế Điên. Thân Phật Sống là Kim Thân La Hán hóa thân, là Giáng Long Tôn Giả, thông hiểu sâu xa tam muội, tức là chính định, điều tâm tĩnh tọa để đạt trạng thái trực giác vô tư lự hầu thấu triệt cùng liễu ngộ Phật pháp, ý là: “Muôn pháp vốn xuất hiện bởi tâm” (Vạn pháp duy tâm sở hiện). Và tu thẳng tâm Phật không nhờ phương tiện, nên nói: “Tu tâm không tu miệng để trở thành Phật sống” (Tu tâm bất tu khẩu, tố cá tự tại Phật) vì lẽ các tăng ni thời đó chỉ “giới khẩu” không “giới tâm” cho nên Phật Sống nói lên tiếng cảnh tỉnh để giúp họ giác ngộ. Ngài thần thông quảng đại, cứu nhân độ thế, trượng nghĩa phò nguy, đối với bọn giả thiện chuyên làm điều ác ngài thường giễu cợt để khiến bọn đó giác ngộ. Nhưng riêng đối với lũ làm ác không biết hối cải ngài thẳng tay đả kích không ngần ngại, khiến người đời rất ư khoái trá, bởi vậy mọi người gọi ngài là thánh tăng, tôn ngài là Phật Sống hẳn chẳng phải do sự ngẫu nhiên.

    Phật Sống từng ở chùa Tịnh Từ, chùa gặp hỏa hoạn, cần gỗ để trùng tu, Phật Sống hành hóa tới Nghiêm Lăng, dùng áo cà sa trùm các núi, nhổ trụi cây đem thả sông cho trôi về Hàng Châu. Ngài về báo cho chúng tăng trong chùa là “gỗ ở trong giếng Hương Tích” chúng tăng chạy ra coi thì quả nhiên có thực, những chuyện lạ như vậy đời truyền tụng rất nhiều. Khoảng năm Gia Định (1209) ngài viên tịch, an táng tại tháp Hổ Bào, phút lâm chung có làm một bài hát:

    Ca viết

    Lục thập niên lai lang tạ
    Đông bích đả đảo tây bích
    Ư kim thu thập quy lai
    Y cựu thủy liên thiên bích.

    Hát rằng

    Sáu mươi năm đời ta tan tác
    Tường phía đông xô tường phía tây
    Góp nhặt mãi vẫn về tay trắng
    Nước liền trời biếc một màu mây.

    Sau khi nhập diệt, có vị tăng gặp Phật Sống dưới chân tháp Lục Hòa, trong thư gởi về có đính kèm một bài thơ như sau:

    Thơ

    Ức tích diện tiền đương nhất tiễn
    Chí kim do giác cốt mao hàn
    Chỉ nhân diện mục vô nhân thức
    Hựu vãng Thiên Thai tẩu nhất phiên.

    Dịch

    Nhớ xưa trước mắt chắn tên bay
    Xương thịt cớ sao lạnh lúc này
    Mặt mũi hỏi ai còn nhớ nổi
    Thiên Thai ta lại tới vui vầy.

    Như vậy là Bồ Tát đã hứa hẹn sẽ trở lại trần gian. Phật Sống suốt đời cứu độ hành hóa, dạo cõi nhân gian để chọc tức chọc cười, không lo lắng ngại ngùng tu “hạnh đầu đà” tức là tu khổ hạnh, hành đạo Bồ Tát, một manh áo cà sa rách rưới, vui cảnh đời thoát tục. Đôi giày rách sũng nước ngập bùn, tay cầm quạt Bồ chẳng sợ trên cao dưới thấp, đỉnh đầu sáng chói hào quang, gió chẳng dập, mưa chẳng vùi há còn cần nón lá? Chân không, lạnh nóng chẳng xâm phạm, cần chi áo mặc? Không khất thực vì chẳng đói khát. Lười trang nghiêm vì thiếu da lông, khôi hài cười cợt, kết thiện duyên rộng rãi, trần thế chẳng lánh mặt, tìm tiếng cứu khổ, trăm họ giành nhau tôn kính, từ bi vô lượng, thánh đức tuyệt vời, không một tăng sĩ lánh đời ẩn tu nơi chốn thâm sơn cùng cốc nào sánh nổi. Mỗi lời mỗi tiếng như gai nhọn dao sắc châm chọc, lìa nhà từ miền Ngũ Nhạc tri thức vốn khoan dung, cho nên đời sau chốn cửa Phật nào tự cho mình là thanh cao ắt tránh né không bàn tới. Vì vậy mà một bực cao tăng thánh đức bị mai một không hiển lộ nổi, may mà Phật tôi từ bi không than oán, không chán nản, sống siêu thoát ngoài vòng tục lụy, thể hiện pháp thiền khắp chốn, thực hành Phật pháp mang đầy sắc thái vui tươi, cho nên đại danh “thiền sư” vang dội khắp nơi. Tinh thần xuất thế vĩ đại chuyển thành công lao nhập thế tích cực, thực quả là gương sáng cho những ai ngày nay học Phật tu đạo, cho nên khi được đời tặng thánh danh “Phật Sống” kể cũng hữu lí lắm vậy. Nay gặp thời mạt pháp, chúng sinh bị lửa dục thiêu đốt, đắm chìm biển khổ, Phật Sống quyết tâm cứu độ người đời cho nên diệu pháp thần thông ngày trước lại tỏ ngời, phát nguyện hiện thân trở lại, giáng lâm Thánh Hiền Đường, hướng dẫn nguyên linh Dương Sinh dạo thăm âm phủ, sưu tầm những bằng chứng xác thực để răn đời. Từ đấy những điều bí mật tại địa ngục được tiết lộ, tạo thuyền từ để cứu độ chúng sinh. Những ai có phước được tắm mưa pháp, vĩnh viễn xa lìa đường ác. Vĩ đại thay, tác phẩm lớn lao đã hoàn thành, còn lưu lại muôn đời, ghi nhớ hoài đức lớn.

    TỤNG VIẾT

    Đương đầu hát bổng, hoán hồi thế thượng mê đồ
    Nhất tiếu niêm hoa, bản thuộc thiền môn diệu quyết
    Nhân sinh như hí, diễn đắc xuất thần nhập hóa
    Vạn pháp quy tâm, biến du địa ngục thiên đường.

    LỜI TỤNG

    Đem đạo vào đời, kêu gọi mọi người tỉnh ngộ
    Cầm hoa mỉm cười, cửa thiền diệu pháp bí truyền
    Một vở tuồng đời, đóng vai vào Thần ra Phật
    Nhập tâm muôn pháp, dạo khắp địa ngục thiên đường.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày February 28th 2010, 5:50 pm với 1 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Ý CHỈ

    Tiên Cô Nguyên Quân


    Giáng

    Thơ


    Đại Đạo vô tư giáng Thánh Hiền
    Nguyên linh thiết phán tảo hồi thiên
    Huyền cơ tự cổ bất khinh tiết
    Ứng vận giai kì tứ bảo thiên.

    Dịch

    Đạo lớn vô tư giáng Thánh Hiền (1)
    Nguyên linh trời thẳm ngóng triền miên
    Huyền cơ tự cổ khôn bày tỏ
    Đợi gặp ngày lành mới chép biên.

    Đức Thánh dạy

    Đêm nay ta phụng mệnh Lão Mẫu Vô Cực mang Ý Chỉ xuống tuyên đọc, thần nhân phủ phục. Cung kính vâng lệnh chiếu chỉ của Lão Mẫu Vô Cực truyền răn:

    “Nhớ thuở sơ khai mênh mang mờ mịt, rồi nhất khí hóa tam thanh, tức ba tầng thanh quang điển lành, tiếp đến tam thanh hóa thành Mộc Công ở phương đông, Kim Mẫu ở phương tây, Hoàng Lão ở trung ương, Hỏa Tinh ở phương nam, Thủy Tinh ở phương bắc. Năm Lão đã thành, đạo trời vận chuyển (2), hai khí Mộc Công và Kim Mẫu hòa hợp mà sinh đẻ cùng nuôi nấng chín mươi sáu nguyên linh mà lập thành thế giới. Đến nay, thế đạo tiêu tan, luân lí đạo đức của người đời bại hoại khiến cho lòng Mẫu xót xa đau đớn (3). Nhưng rất may được thấy Thánh Hiền Đường ở Đài Trung đã phụng mệnh lập đền khai giáo khuyến hóa bến mê, toàn thể bạn đạo dốc chí phát tâm, khí đạo lòa sáng trăng sao. Lại thêm trước tác sách Địa Ngục Du Kí in tặng khắp năm châu để hóa độ anh em bốn biển, văn chương trác tuyệt, lí đạo cao thâm, người người tranh nhau đọc đã khiến biết bao kẻ thức tâm tu đạo, công đức phổ độ nguyên linh thực quả lớn lao thay! (4) Tưởng nghĩ tới cảnh con đỏ đọa đày trần gian, trải gió sương đau khổ, tạo nghiệp triền miên thực quả Mẫu không đặng cầm lòng (5), cho nên vận trời vừa tới ngày mồng 1 tháng 5 năm Kỉ Mùi (1979) liền mở Thánh Hội tại cung Vô Cực để họp bàn cùng Tam Tào. Sau đó hội nghị đã đi đến quyết định phải tiết lộ thiên cơ là các chuyện thực xảy ra ở dưới địa ngục để người đời thấu tỏ, cho nên công đức khuyến hóa thực đã lớn lao vượt bực. Người đời nếu như lìa bỏ được ngả địa ngục ắt leo thang mây lên cõi Thiên Đường (6). Bởi vậy, giờ đây phong cảnh thiên đường tươi sáng lại được tiết lộ cùng thế gian để dẫn đạo các nguyên linh trở lại thiên đường, cảnh hỗn mang nếu như hòa hợp được làm một khí thì hẳn hưởng đặng đạo trời cực lạc. (7) Nay Mẫu ban Ý Chỉ, ra lệnh trao phó trách nhiệm trước tác sách thánh, ngày lệnh tới, mỗi lần gặp kì cơ bút do Phật Tế Công hướng dẫn thánh bút Dương Sinh dạo thiên đường, nếu như gặp Dương Sinh tới phải mở cửa nghênh đón, không được trái lệnh. Ngược lại, kẻ nào phản bội ý Trời nhất luật nghiêm trị chẳng tha, hi vọng toàn thể đệ tử Thánh Hiền Đường nhất chí trung thành một dạ trước sau, ngày sách hoàn thành sẽ luận công thăng thưởng”.

    Kính mong không xao nhãng, cúi đầu tạ ơn.

    Vận trời ngày mồng 1 tháng 5 năm Kỉ Mùi (1979)



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:21 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • NGỌC CHỈ

    Kim Khuyết Nội Tướng họ Từ


    Giáng

    Thơ


    Loan môn phụng mệnh trước thiên thư
    Phổ hóa tam tào đạo bất hư
    Địa ngục du hoàn khai giác lộ
    Thánh vân thánh vực liệt tiên cư.

    Dịch

    Phụng mệnh sách trời cửa Thánh biên
    Tam tào phổ độ đạo chân truyền
    Dạo xong địa ngục đường mê ngộ
    Đất thánh mây xanh sống với Tiên. (1)

    Đức Thánh dạy

    Đêm nay ta phụng mệnh mang sắc chỉ xuống tuyên đọc, thần nhân phủ phục. Cung kính vâng lệnh chiếu chỉ của Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn Huyền Linh Cao Thượng Đế:

    “Trẫm ngự tại điện Linh Tiêu, lòng hằng ôm ấp thế đạo, vì từ lâu thấy trần gian đạo đức suy đồi, luân thường trụy lạc, địa ngục xây mãi mà vẫn không chứa hết lũ ác nhân (2), chốn ở mới nơi thiên đường lại vắng vẻ không người tới. Nay gặp lúc Tam Tào phổ độ, thiên đạo giáng thế, nhân luân chấn hưng trở lại, cùng nhờ có Thánh Hiền Đường ở Đài Trung trực thuộc sự cai quản cõi Nam Thiên đã ra công phát huy cơ bút khuyên đời, chăm lo in tặng kinh sách quảng độ bến mê. Từ khi Địa Ngục Du Kí được ban truyền ra nhân gian tới nay, đạo lí xum xuê, thuyền từ quảng độ, kẻ nhận sự khuyến hóa mà bỏ ác theo thiện, cầu chân chính tu đạo đức thực là vô số kể, khiến lòng Trẫm vui mừng khôn xiết. Tình hình địa ngục đã phơi bày thế gian, cảnh tiên nơi thiên đường giờ đây tiết lộ không còn trở ngại. Ngày mồng 1 tháng 5, Tam Tào kêu gọi mở Thánh hội họp bàn, có chư Tiên, Bồ Tát tham dự để lo việc phổ độ quần sanh đã đồng thanh nghị quyết cử Tam Tào chủ trương cai quản, gấp rút bày tỏ cho nhân gian thấy lại cảnh trí thiên đường tươi sáng, hầu sớm thiết lập nhân loại đại đồng. Do đó, đã tìm người linh ứng thoát tục để có thể lãnh nhiệm vụ dạo thiên đường thì thấy chỉ có thánh bút, bởi vậy hội nghị đã ban sắc lệnh cho Thánh Hiền Đường đảm nhiệm việc hoàn thành sách Thiên Đường Du Kí. Ngày Sắc Chỉ tới ra lệnh cho Phật Sống Tế Công hướng dẫn thánh bút Dương Thiện Sinh dạo cõi Trời để thấy rõ phong cảnh sáng tươi, cùng hỏi đạo cho rõ ngọn ngành hầu khuyên đời răn người; để sách thánh sớm hoàn thành cho nhân gian dưới gầm trời hiểu thấu cái khổ của địa ngục, cái sướng của thiên đường mà đi vào ngả thiện, lên thang Trời thẳng tới thánh địa mây xanh hưởng lạc thú tiêu dao vậy! Khi giáng cơ bút trước tác Thiên Đường Du Kí, ra lệnh cho các cửa ngõ ba cõi Tam Tào gồm Đất Trời Người mỗi khi gặp Dương Sinh tới phải mở cửa nghênh tiếp, cùng hiệp tác soạn sách cho tới khi hoàn tất mới ngưng. Nếu như có kẻ trái lệnh, nhất luật nghiêm phạt chẳng tha, mong chư sinh một mực trung thành giúp đạo, ức vạn huân công từ đây có thể nhận được”.

    Kính mong không xao nhãng, cúi đầu tạ ơn.

    Vận trời ngày mồng 5 tháng 5 năm Kỉ Mùi (1979)



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:21 pm với 3 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Thái Thượng Vô Cực Hỗn Nguyên

    Giáo Chủ Nguyên Thủy Thiên Tôn


    Giáng

    Thơ


    Vô cực hỗn nguyên nhất khí sinh
    Nhân luân tạo hóa đạo hàm anh
    Tiêu diêu thánh cảnh nguyên lai địa
    Cực lạc thiên đường ngọc điện thanh.
    Dục đoạn luân hồi trảm lục căn
    Tội nha khô diệt lễ thiên tôn
    Hồng lô luyện tửu kim tiên khách
    Thế đạo kham tu bát nhã môn.

    Dịch

    Vô cực hỗn nguyên một khí sinh
    Chan hòa vũ trụ đạo tinh anh
    Tiêu dao tiên cảnh nơi nguồn cội
    Cực lạc cung Trời ngọc biếc xanh.
    Muốn dứt luân hồi chém lục căn
    Tiêu trừ mầm tội lạy thiên tôn
    Luyện xong lò lớn thành Tiên Phật
    Thế đạo gắng tu diệu pháp môn. (1)

    ĐỀ TỰA

    Sách nói: “Vật có gốc ngọn, việc có đầu đuôi, biết chỗ trước sau, ắt gần đạo vậy” (Vật hữu bản mạt, sự hữu chung thủy, tri sở tiên hậu, tắc cận đạo hỉ). Con người từ đâu tới, chết rồi đi về đâu? Các bậc thánh triết xưa nay đức trùm trời đất, đạo quán cổ kim hẳn là biết rõ việc trời đất quỷ thần, cho nên mới thay trời truyền đạo diệt trừ nghi hoặc, giải rõ mê lầm để cho nhân loại thấu tỏ lẽ sống chết. Tôn giáo hẳn thông suốt cái lí: “sinh là đến, chết là đi” bởi vậy chốn trần thế ngập tràn vật dục này nếu như không có tôn giáo hướng dẫn, hẳn là tâm linh nhân loại chẳng thể lắng trong mà trở về nguồn cội chân chính, cùng sáng lẽ đạo mà trở lại cảnh giới ban đầu. Căn cứ vào giáo lí của các tôn giáo, vào các vị đại giáo chủ đã qua đời, vào kinh điển luận bàn giải thích, vào các ấn chứng của các hành giả hẳn đều rõ ràng: “động vắng chẳng thể bắt nắm”, cảnh thế gian vật chất thì thừa mứa, nhưng tinh thần lại trống rỗng không nơi nương tựa, cho nên những hành vi sống hoang đàng phạm vào tội lỗi tự nhiên gia tăng mau lẹ. Dao Trì Lão Mẫu và Ngọc Đế nhìn thấy cảnh này, đặc biệt ban Ý Chỉ cùng Ngọc Chỉ ra lệnh cho Phật Sống Tế Công trước đây đã hướng dẫn thánh bút Dương Sinh thuộc Thánh Hiền Đường dạo địa ngục, nhìn tận mắt những cảnh thảm khốc của các kẻ bị quả báo mà viết thành sách Địa Ngục Du Kí để ngăn ngừa tội ác lan tràn cùng khuyến khích mọi người làm điều thiện hầu khi thang mây buông, được đón lên cõi trời tiêu dao ngoài trần thế. Nay lại du lịch thiên đường mong tường thuật cảnh tượng những người làm lành được tiêu dao nơi cõi trời. Thái Thượng truyền dạy: “Họa phước không có cửa, chỉ do người tự chuốc; thiện ác báo ứng như bóng theo hình” (Họa phước vô môn, duy nhân tự chiêu; thiện ác chi báo, như ảnh tùy hình). Trong hai bản Du Kí thực viết đã quá rõ ràng. Người do Trời sinh đương nhiên về Trời, nên mới xây đường đạo ngay ngắn, bằng phẳng để cho những linh hồn đức độ cuối cùng về đây an nghỉ đời đời, đó là mong mọi người một mực nhắm đường đạo khang trang đi tới. Trong sách, ngoài việc tả chân phong cảnh thiên đường tươi sáng ra, còn có các vị Tiên Phật khắp mọi từng trời ứng thiên thuyết pháp, hoa thơm đầy trời, sen vàng ngập đất, đại đạo huyền cơ tiết lộ không chút giấu giếm. Chúng sinh có phước gặp được sách này mong tĩnh tâm nghiên cứu học hỏi, gột rửa tính linh quay về nẻo sáng, thiên đường có lối, mau đi nẻo đạo thiện lành. Hi vọng chúng sinh hiểu rõ cội nguồn mà về Vô Cực, đó là tất cả ý hướng mong cầu. Nguyên Thủy Thiên Tôn giáng cơ bút.

    Kính cẩn đề tựa.

    Vận trời ngày 16 tháng 12 năm Canh Thân (1980)



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:22 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Vô Cực Dao Trì Kim Mẫu


    Giáng

    Thơ


    Dao Trì Thánh Mẫu tiên thiên thân
    Biến thực bàn đào đãi thiện nhân
    Tằng hiện Quán Âm cần độ thế
    Từ bi cứu khổ khuyến tu chân.
    Thiên đường tĩnh địa yếu tầm căn
    Triệt ngộ bản lai bất nhị môn
    Du Kí thiên nhiên truyền thánh tích
    Đức phong truyền văn mãn càn khôn.

    Dịch

    Dao Trì Thánh Mẫu cõi trời thân
    Trồng lắm đào tiên đãi thiện nhân
    Từng hiện Quán Âm lo độ thế
    Từ bi cứu khổ khuyến tu chân.
    Thiên đường đất tĩnh tới nơi này
    Nguồn cội nhớ cho lối chẳng hai
    Du Kí từng chương ghi dấu Thánh
    Đất trời gió đức thổi đêm ngày. (1)

    ĐỀ TỰA

    Lành thay! Vô Cực thai nghén muôn vàn nguyên linh, thuở mờ mịt giáng phàm mang lấy kiếp người, ban đầu tánh trời thuần hậu, chất phác không quên nguồn cội, lúc sống ở đời, khi chết về trời. Song vì cõi trần khí thanh mỗi ngày một giảm, khí trược gia tăng, tánh linh sáng sủa mất dần, lâu trở thành quên làng cũ là nơi nguồn cội cõi Trời, mê đắm bể dục sông yêu, nhận cõi hồng trần là chốn quê hương hoan lạc mới. Cho nên càng ngày càng bị chìm sâu, hành vi tội lỗi kết tụ nhiều khiến thân xác mang đầy tội ác, do đó không thể không thiết lập địa ngục mà gạn đục khơi trong, hầu phục hồi lại tánh Trời thuở ban đầu. Để quảng độ bến mê, Mẫu từng hiện thân làm Quán Âm và các Thánh, tìm tiếng kêu cứu khổ mà tùy duyên hóa độ. Ngày nay khoa học kĩ thuật tiến bộ người ta lại càng ỷ vào tài năng toan tính đoạt mệnh Trời, cho nên phải biết tiếc đạo đức bị coi nhẹ mà lo khôi phục pháp thức xưa. Vì tính linh ngày một chạy theo tính vật nên tội lỗi chép hàng kho sách không hết cùng địa ngục chứa đầy người thực quả khó kêu than. Mẫu nguyện muôn vật trở lại nguồn, vạn nẻo quy về một, vì không nỡ để bản tính chúng sinh mê muội, lầm đường lạc lối gây nhiều tội ác, cho nên trước sai Tế Phật hướng dẫn Dương Sinh thuộc Thánh Hiền Đường dạo địa ngục dò tìm, thâu thập chứng cớ, rồi đem những hình phạt khổ đau của các tội hồn công khai tiết lộ cho người đời rõ, hầu ngăn ngừa các hành vi tội lỗi từ trong trứng nước cùng thanh lọc lòng dục. Nay, lại ban Ý Chỉ ra lệnh viết sách Thiên Đường Du Kí, Tế Phật hướng dẫn Dương Sinh dạo xem cõi Trời, rồi đem phong cảnh thực sáng tươi đẹp đẽ chốn thiên đường tiết lộ cùng nhân gian, hầu kêu gọi lòng người hướng về nẻo thiện cho tâm linh thăng hoa, nhân cách cao thượng, biết rõ nẻo sáng mà hướng tới, để sau khi qua đời, tánh linh được vãng sinh cõi vô cực thiên đường, tiêu dao tự tại không còn bị luân hồi. Sau gần hai năm, Dương Sinh trải mọi gian lao nguy khốn, bàn chân lưu dấu khắp các từng trời sách mới hoàn thành, Mẫu được yên lòng. Đào tiên vườn Dao Trì vừa đúng lúc chín, đợi chư vị duyệt lãm xong sách Du Kí, hiểu rõ nguyên căn nguồn cội, dốc lực thi hành thánh đức để tu đạo lớn hẳn là: sống, ở nơi thế giới vô ưu; thác, về chốn cực lạc thiên đường, muôn vàn không phụ Mẫu là nhờ ở tấm lòng trông mong vậy. Đấy là lời tựa. (2) Vô Cực Dao Trì Kim Mẫu giáng cơ bút.

    Kính cẩn đề tựa.

    Vận trời ngày 16 tháng 12 năm Canh Thân (1980)



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:22 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Quán Âm Đại Sĩ


    Giáng

    Thơ


    Như Lai tái thế thuyết chân kinh
    Phật pháp vô biên tẩy nhĩ thinh
    Thánh bút huy loan thành bảo điển
    Dương Sinh thao cô đức thanh hinh.
    Phổ sái cam lâm liễu độ dương
    Thân khinh nghiệp tĩnh tức thiên đường
    Phong quang tuyệt thế tâm khai lượng
    Tây phương cực lạc bản cố hương.

    Dịch

    Đức Phật tái sanh giảng chính kinh
    Rửa tai diệu pháp lắng nghe tinh
    Giáng cơ sách quý Dương Sinh viết
    Thánh bút vung tay nghiệp đức thành.
    Mưa pháp thấm nhuần khắp bốn phương
    Nghiệp yên thân nhẹ tức thiên đường
    Sáng bừng tâm đạo nơi trần thế
    Cực lạc Tây phương vốn cố hương. (1)

    ĐỀ TỰA

    Đức Phật lấy từ bi lập giáo, pháp môn mở rộng vô cùng, cửa Thánh lấy nhân ái làm hoài bão phổ độ chúng sanh dưới gầm trời, hình thức giáo lí tuy có chỗ dị biệt, song nội dung hiệu năng công quả như nhau, đó là nhờ tùy hoàn cảnh mà thích nghi, tùy phương tiện độ chúng sanh mà truyền pháp. Nếu như ta không độ hết chúng sanh thì chẳng thể thực hành được hạnh nguyện lớn lao của Phật, và muốn độ hết chúng sanh phải sử dụng sức mạnh của vô lượng pháp môn. Bởi vậy ngay từ thời xa xưa kinh sách đã lắm như rừng, nhiều vô số kể nên cần phải biết dùng tri thức và pháp thức mới. Kim sắc nhọn xưa nay cùn nhụt thì phải biết dùng kim thuốc mới có thể trị dứt tận gốc căn bệnh của nhân loại hiện thời, muôn bệnh có lui mùa xuân mới hồi phục. Tự cổ chí kim, thuyết thiên đường địa ngục đã hằng in sâu vào tâm khảm mỗi người, chỉ tiếc rằng kinh điển chuyên chở, nhân gian truyền tụng thảy đều không rõ ràng, thiếu liên tục nên chưa thể thấy được đầy đủ các khía cạnh của vấn đề, khiếm khuyết hẳn loại kinh sách thiêng liêng tôn kính để độ chúng sinh, khiến người đời lờ mờ chẳng rõ được đâu là mục đích, trầm luân ba đường sáu ngã luân hồi mãi mãi. Chư Tiên Phật cõi Trời nhìn cảnh tượng này liền mở Thánh Hội Tam Tào họp bàn cùng đồng thanh quyết nghị là phải đem phong cảnh tươi sáng cõi thiên đường để tiết lộ cùng thế gian, để phấn chấn tâm đạo mọi người hưng khởi, thông suốt, tôn kính đạo Trời, hầu được siêu thăng mỗi khi ngưỡng vọng thiên đường là cõi tiêu dao tĩnh lặng vô cùng. Sách có nói: “Muốn tận dụng vật gì, trước phải lo bồi đắp sửa sang cho nó”. Muốn tuyển chọn người phàm để dạo ba cõi chẳng dễ dàng, ngoại trừ kẻ có hạnh nguyện cứu đời lớn lao, còn không phải có thiện căn, trí tuệ cùng tính linh trong sáng mới có thể đảm đương trọng trách của Thần Thánh trao cho. Cuối cùng, kết quả của cuộc tuyển chọn người thích hợp nhất để đóng vai trò là thánh bút Dương Sinh thuộc Thánh Hiền Đường. Và hội nghị đã ra lệnh đúng ngày mồng 5 tháng 5 năm Kỉ Mùi (1979) Tế Phật phải hướng dẫn Dương Thiện Sinh dạo ba cõi cùng học hỏi kinh nghiệm du hành thỉnh kinh của Đường Tăng Tam Tạng đã tìm pháp hỏi đạo để giáo hóa đời sau. Trải qua biết bao thăng trầm, bữa nay sách mới hoàn thành, thiên hạ lại có thêm cuốn kinh quý để phổ độ chúng sinh. Chư Tiên Phật thuộc các tầng Trời đều tán tụng không ngớt, khắp nơi giành nhau loan báo tin mừng, ngã luân hồi mở lẹ cửa giác ngộ, biển khổ mênh mang, mờ mịt hân hoan thắp sáng đèn từ đuốc tuệ, chúng sinh trải qua vô lượng kiếp, bữa nay duyên đến được đọc sách này, Tam giáo được chứng, Nho gia thành Thánh, Đạo gia thành Tiên, Thích gia thành Phật, mọi người thuộc cõi Trời đều rất hân hoan, đua nhau đọc tụng không ngừng. Báo cáo sách Du Kí đã hoàn thành, Tam Tào đại phóng hào quang rực rỡ, sen vàng cùng cỏ Thiên Linh Chi bừng nở khắp nơi, lòng ta vui mừng khôn tả, vì Biển Nam từ nay lại có thêm một chiếc thuyền từ to lớn để độ hết thảy chúng sinh dốc tâm phát nguyện. Sách quý đã in xong, cẩn trọng nói vài lời tán tụng thánh đức. Nam Hải Quán Âm Đại Sĩ giáng cơ bút. Cẩn tự.

    Vận Trời ngày 16 tháng 12 năm Canh Thân (1980)



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:22 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • Hồi Một

    DẠO CỬA NAM THIÊN

    NGHE ĐẠI THÁNH THUYẾT PHÁP

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 9 tháng giêng năm Kỉ Mùi (1979)


    Thơ

    Linh du thiên giới thưởng phong quang
    Thoát khứ trần lao tục lự vong
    Phỏng đạo triều sơn khai giác lộ
    Loan môn thánh địa giá từ hàng.

    Dịch

    Phong cảnh thiên đường thử dạo chơi
    Trần gian lao khổ đã xa rời
    Lên non hỏi đạo đường mê thoát
    Đất Thánh thuyền tâm cửa Phật bơi.

    Tế Phật: Hà hà, thăm xong các điện ở dưới địa ngục trở về, cảm giác còn nhớ rõ hung khí cõi âm dày đặc khiến nghẹt thở, nếu ngã bệnh hẳn là không thầy thuốc nào chữa nổi, chốn khủng khiếp này chắc chắn không một ai dám tới thăm lần thứ hai. Sau khi dẫn Dương Sinh dạo địa ngục về, đã giúp nhiều hồn quỷ siêu thăng, người đời cũng bỏ ác theo thiện, giảm thiểu được biết bao chủng tử khỏi tái đầu thai địa ngục. Địa ngục dĩ nhiên không được hoan nghênh, mọi người đều chùn chân không dám tới, chỉ hăm hở muốn lên cửa thiên đường hồi hộp thăm dò để được tỏ tường. Sau khi tìm hiểu kĩ các hang cùng ngõ hẻm xem thử có nổi cơ duyên thì nay thấy quả những nơi đó chúng sinh đều quay đầu hướng về nẻo đạo, mong leo thang mây vào cửa nhà trời. Thật là điều ước đã được chiều lòng, bữa nay dịp may đã đến, quyết đẩy then cài, xô cửa thiên đường, đón tiếp kẻ thiện vào. Ha ha, cửa nhà trời đã bị ta phá khóa vạn năng, chẳng còn ai dám ngăn đường cản lối, này Dương Sinh, từ giờ về sau con với ta có thể lui tới thiên đường, mở rộng tầm mắt ngắm phong cảnh đẹp thỏa thuê. Sách Địa Ngục Du Kí từ khi xuất bản, phát hành tới nay, công đức giáo hóa vô lượng, vì đọc xong sách mọi người đều biểu lộ thiện tâm, hào quang xông thẳng cõi linh thiêng. Thượng Hoàng Ngọc Đế không thể không mở cửa thiên đường xem xét, chúng ta cũng nên nhân cơ hội này tiến vào coi cho biết, dám đảm nhận việc lớn lao là vì thầy hi vọng con vững tinh thần, nuôi chân khí hầu dễ bề cùng thầy dạo chơi thiên đường. Hẳn con đã thấy đài sen này to lớn thêm lên, hào quang sáng chói lòa cả mắt người, có thiện tâm, có đại nguyện mới có nổi vinh hạnh nhận lãnh trách nhiệm viết sách Thiên Đường Du Kí. Giờ đây thầy xin vâng lệnh Đấng Tối Cao đưa con lên dạo thiên đường, mau lên đài sen.

    Dương Sinh: Thưa ân sư, đã lâu không được cùng ân sư đàm đạo, biết bao tưởng nhớ, hôm nay vâng lệnh dạo chơi thiên đường để viết pho sách báu, con thấy trách nhiệm vô cùng nặng nề, nếu như con không đương nổi, xin ân sư rộng lòng tha thứ.

    Tế Phật: Tình thầy trò như nghĩa cha con, vì con đã dốc lòng nghe lời thầy, nên thầy cũng thường âm thầm chuẩn bị linh quang. Hôm nay chúng ta cùng chung lo trách nhiệm này, chỉ cần một mực chân thành tin tưởng đường ta đi sẽ thuận buồm xuôi gió, con đừng đắn đo, ta đã chuẩn bị sẵn một bình nước trời, con uống trước đi để tẩy ruột, rửa bao tử, trừ sạch bụi nhơ mới có thể lên thiên giới, con uống mau đi.

    Dương Sinh: Đa tạ ân sư đã ban cho con nước phép, uống vào liền thấy tâm thân trong mát tinh thần mạnh mẽ, thanh thoát muốn thành tiên.

    Tế Phật: Con thật là có phước, nếu như không uống nước này, thân phàm quá nặng, đài sen bay không nổi. Thôi, lên đài sen mau, chúng ta bắt đầu mở cuộc hành trình.

    Dương Sinh: Con đã chuẩn bị xong, có cần nhắm mắt nữa không thưa thầy?

    Tế Phật: Không cần, thiên đường khác xa địa ngục, dọc đường con có thể nhìn ngắm phong cảnh một cách tự nhiên, trừ phi gặp sức gió quá mạnh, con có thể nhắm mắt dưỡng thần.

    Dương Sinh: Dạ dạ, con đã sửa soạn xong, mời ân sư lên đường... Trôi nổi giữa không trung nhìn xuống dưới mây thấy lấp lánh hằng hà sa số ánh đèn, cảnh đêm trần thế thật là tuyệt diệu, ánh kim quang ngôi Thánh Hiền Đường ngời chiếu hư không như mặt trời tỏa bóng cầu vồng, tựa ánh đèn pha chiếu sáng. Trước mặt, mây xanh trùng điệp, thần tiên thong dong qua lại, gặp chúng tôi đều chắp tay vái chào cùng gật đầu nở nụ cười tươi.

    Tế Phật: Đây là những vị thánh thần quá vãng trên không, thế giới huyền diệu này người đời nhìn không tới.

    Dương Sinh: Tiếng gió vi vu, chớp mắt đã tới chốn này. Cớ sao khối đỏ phía trước, khí nóng thiêu người lại có lắm thần tiên, bồ tát qua lại mà không hề cảm thấy nóng là gì.

    Tế Phật: Chỗ này giáp giới cửa Nam Thiên, phương vị của trời, do ngũ hành định chốn, cửa Nam Thiên thuộc cửa lửa, tất cả thần linh đều phải qua cửa này, nếu như không đủ công lực, không cách chi qua nổi. Trời chia “đông, tây, nam, bắc, trung” cùng năm cửa, bốn cửa đóng chặt chỉ trừ cửa này đi lọt, cho nên những kẻ công lao tu đạo không đủ, khó qua khỏi lò luyện lửa của cửa Nam Thiên. Còn con nhờ đã uống nước trời nên hi vọng chống đỡ nổi sức nóng này, chớ có sợ hãi, chúng ta mau rời đài sen, tới cưỡi mây để vào cửa.

    Dương Sinh: Thưa thầy, kẻ giữ cửa đằng trước kia giống hệt Tôn Hành Giả tả trong Tây Du Kí, tay cầm gậy Kim Cô múa máy, nhảy nhót không ngừng, y như cản đường ngăn lối.

    Tế Phật: Không phải, kẻ đó chỉ biểu diễn công phu đấy thôi.

    Dương Sinh: Chắc người đó là Tôn Hành Giả?

    Tế Phật: Đúng đấy.

    Dương Sinh: Tôn Ngộ Không vốn là nhân vật bịa đặt của tiểu thuyết, giờ đây tại sao lại xuất hiện thực ở cửa Nam Thiên?

    Tế Phật: Sự thực người đời hiểu sai ý, sở dĩ Tôn Ngộ Không bị Tam Tạng pháp sư thâu phục đi theo là bởi lẽ một đằng là một con khỉ trong núi, một đằng là một người tu đạo muốn vượt đường qua phương tây. Tâm Phật nhất định đi theo tâm khỉ (tâm phàm) nhảy nhót khiến phải trải qua nhiều quỷ nạn thử thách như tiền tài, sắc đẹp mới có thể chế ngự được cái tâm khỉ ý ngựa đó, vì chỉ khi nào thâu lại được sự phóng tâm của nó mới có thể quy tâm nó về với sự thanh tịnh mà thôi. Cái tâm khỉ động loạn này rất khó khắc phục mà một sớm ngộ được sắc tức không, không tức sắc, đường tây du mười tám ngàn dặm chỉ một sát na đã ở ngay trước mắt. Sự việc Tôn Ngộ Không theo thánh tăng Đường Tam Tạng ngụ ý là: “Nói thì có vật mà nhìn chẳng thấy hình” người đời chớ khinh thị.

    Dương Sinh: Nguyên lai sự việc như sau... Đại Thánh cười ha hả bước ra nói...

    Đại Thánh: Hoan nghênh Tế Phật cùng thánh bút Dương Thiện Sinh đã tới, hai vị phụng mệnh Thánh Thượng lên xem phong cảnh thiên đường để viết kinh báu khuyên đời. Cửa Nam Thiên cũng đã nhận được sắc lệnh của Vô Cực và Kim Khuyết từ ngày mồng 5 tháng 5 nên đã chuẩn bị nghênh tiếp hai vị lên thăm viếng cõi trời. Sự đón tiếp bữa nay có phần thiếu long trọng, mong lượng thứ cho.

    Tế Phật: Xin Đại Thánh chớ quá bận tâm, hôm nay thầy trò chúng tôi phụng mệnh lên xem cảnh cõi trời, phỏng vấn ba giới Thánh Thần, Tiên, Phật để mong sáng tỏ được đường lối tu đạo huyền bí quan trọng, hầu khai hóa chúng sinh hạ giới sớm trở lại bản vị thiên đường. Sau này sẽ còn luôn lui tới cửa Nam Thiên hỏi đạo chư thiên, hẳn sẽ còn quấy rầy nhiều, xin Đại Thánh hoan hỉ mở cửa ban cho phương tiện.

    Đại Thánh: Thiên đường vốn không cửa, chỉ có lửa bốc cháy cao phía trước, nếu như kẻ không ngộ chân lí hư không, thân còn mang nặng nghiệp đến chốn này ắt bị thiêu đốt, toàn thân bốc cháy như cây đuốc, lại còn bị ném xuống phàm trần hay địa ngục.

    Dương Sinh: Kính xin Đại Thánh cho biết về nhiệm vụ trấn giữ cửa Nam Thiên của ngài gồm những gì?

    Đại Thánh: Hàng ngày ba giới đạo cao tâm thành vào ra rất nhiều kể không hết. Như thượng giới cao chân nhờ đạo quả tròn đầy, tới lui tự do, không bị hạn chế. Trung hạ giới thần thánh vì đạo quả chưa đạt mức viên thông tiêu dao cảnh giới ra vào ắt phải trưng bằng cớ chẳng thể lộn xộn, bởi lẽ gậy sắt của tôi đây lợi hại vô cùng, cho dù tiên phật thấy gậy này cũng phải tháo lui, vì thế nó còn được gọi là gậy Kim Cô, hoặc gậy kim cương không gẫy. Ngoài việc canh giữ cửa trời tôi còn nhiệm vụ coi xét hạ giới hồng trần, nhân loại gây tội ngợp trời. Gần đây rất hiếm những vị tâm thành đạo cao, chỉ giống như Ngộ Không thuở xưa lúc chưa ngộ đạo, nên chẳng có được chút hi vọng như ý mong cầu.

    Dương Sinh: Thầy trò chúng tôi hôm nay phụng mệnh viết sách Thiên Đường Du Kí, đưa bước tới cửa Nam Thiên, mọi việc xin Đại Thánh chỉ dạy cho, kể cả thuật tu đạo một cách tổng quát và chính yếu.

    Đại Thánh: Nếu sách Thiên Đường Du Kí viết xong, khả năng giác ngộ về “không” của tôi có thể làm cho yêu ma đau buồn mà chết khiến nhiều người hưởng ứng, vãng cảnh thiên đường, nhận chân tu đạo, một sớm một chiều có biết bao người tu thành chính quả muốn lên thiên đường.

    Dương Sinh: Được vậy thì may lắm, cõi trời sẽ có thêm nhiều bằng hữu, há còn sợ chi phiền muộn nữa.

    Đại Thánh: Xin chớ cho là gặp quái, người thấy tôi giống chi? Chắc hẳn người đã gặp quái phải không?

    Dương Sinh: Gặp thánh, gặp thánh.

    Đại Thánh: Ha ha, bàn hai chữ tu đạo, một lời khó hết, nếu như tôi có bảy mươi hai phép thuật biến hóa, đều khó vượt qua núi ngũ chỉ của Phật Tổ. Tu đạo dưới trần hẳn là người cũng có bản lãnh thông thiên chi đó. Nếu như không thực tế giữ giềng mối ngũ thường nhân, nghĩa, lễ, trí, tín của thế gian hẳn khó thoát khỏi quyền hạn của khí số ngũ hành, cũng sẽ vô phương tu thành chính quả. Trong tâm mỗi người đời có nuôi sẵn một con khỉ, suốt ngày nhảy nhót, không chịu giữ quy củ, chỉ tưởng nhìn, tưởng ăn, tưởng sờ, tưởng trộm, nghĩ bậy, nghĩ bạ, không có lấy một khắc yên tịnh. Chỉ thích ở tại gốc cây nhún nhảy đánh đu, vô phương lên được mây xanh, tiến thẳng vào cửa nhà trời. Sở dĩ tên tôi là Ngộ Không cũng có ý kêu gọi lòng người phóng lên không, chẳng nên chấp chước mê lầm hầu tránh được “lòng khỉ ý ngựa”, khỏi bị lôi cuốn vào vòng tội lỗi oan khiên lúc chết ma quỷ ám thân đeo theo bụi trần, thể xác ô uế chợt tới cửa Nam Thiên gặp lửa Bính Đinh phương Nam thiêu đốt tiêu tan chẳng thể thâu hoàn, trừ khi thân là thân kim cương mới còn để mà lăn trở lại trần. Chẳng phải Ngộ Không đây vô tình xô xuống. Cho nên kẻ nào vào cửa Nam Thiên hãy lo tu để bảo tồn thể tính thanh tĩnh mới có thể tiến vào. Thượng giới cao sáng chân thực, nên thân thanh tịnh là thân huyền diệu của không trung, đã đắc đạo “ngộ không”, ta không có quyền cấm cản cũng không hề xua đuổi nên mặc sức tự do ra vào. Giới trung hạ giữ phẩm vị thần linh, vì thân còn là thân huyễn giác nên không thể tới cảnh ngộ không nên phải trình bằng chứng khi ra vào. Người đời tu đạo cũng chẳng khó khăn cho lắm, chỉ cần không mỏi mệt vì tình dục cùng vọng niệm, đều là có thể tự mình vượt qua sự kiểm soát này.

    Dương Sinh: Đại Thánh nói thật là chí lí, nhìn trên đầu người thấy còn buộc một cái khuyên vàng của Phật Tổ ban cho. Không trấn lòng khỉ ý ngựa ắt sẽ bị cụt cẳng trước cửa Nam Thiên, dù có gãi tới gãi lui cũng không thoát được. Tu đạo như trèo thang mây, không lay không động, từng bước từng bước hướng thượng, tự nhiên đạt tới thiên đường. Lòng khỉ ý ngựa trừ diệt khó quá, vùng vẫy như ngựa trói ở trên thang, trông thấy ai dám lên. Người đời ngộ chăng, mới tới ngả lên thiên đường, trước rửa sạch hai chân, an định tâm thần, mở rộng mắt huệ, nước pháp ngập tràn thánh thể, dầu Tôn Ngộ Không đứng gác ở cửa Nam Thiên cũng chẳng còn giở được phép gì ra ngăn cản, phải không?

    Đại Thánh: Phải, phải, những bậc đạo hạnh cao siêu như vậy tôi sẽ đích thân làm lễ nghinh tiếp như bữa nay tôi mừng đón hai vị vậy.

    Tế Phật: Ha ha, bữa nay dạo chơi thiên đường, họp mặt cùng Đại Thánh được Đại Thánh ban cho quá nhiều lời chỉ giáo. Tiếc rằng giờ chúng tôi phải trở lại Thánh Hiền Đường, hi vọng sau này còn nhiều dịp tái ngộ, chúng tôi sẽ được vào cửa thăm cùng tìm hiểu những điều muốn biết. Dương Sinh hãy mau bái từ Đại Thánh.

    Dương Sinh: Thần giáp sắt ngoài cửa Nam Thiên lớp lớp vây tứ phía, kính cẩn trang nghiêm song vẻ mặt lạnh lùng khiến con sợ quá.

    Đại Thánh: Đó là binh tướng nhà trời có chi mà sợ.

    Tế Phật: Cảm tạ Đại Thánh đã ban những lời chỉ giáo quý báu, xin bái từ.

    Dương Sinh: À thế ra binh tướng nhà trời xếp hàng kia là để đưa tiễn thầy trò ta.

    Tế Phật: Dương Sinh mau lên đài sen.

    Dương Sinh: Con lên rồi, xin ân sư trở lại Thánh Hiền Đường.

    Tế Phật: Vừa mở mắt huệ, đã thấy tất cả vẻ mĩ lệ của phong cảnh thiên đường, quả thực không giống cảnh trần gian. Dương Sinh chớ mềm lòng nản chí, phải gắng gỏi theo đuổi đạo xa, thúc ngựa ra roi mạnh tiến ngã đường dẫn tới cõi trời, chớ đòi hỏi phải có bạn đồng hành cùng đi ta mới đi. Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:23 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • HỒI HAI

    DẠO CỬA NAM THIÊN NGỌC KHUYẾT

    LẠY CHÀO RA MẮT VĂN HÀNH THÁNH ĐẾ

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 16 tháng 5 năm Kỉ Mùi (1979)


    Thơ

    Vạn pháp quy tông bất nhị môn (1)
    Linh sơn tháp hạ nhất Đào Nguyên
    Dục siêu tam giới tam tâm tận
    Lục đạo vô thời đoạn lục căn.

    Dịch

    Vạn pháp gồm thâu một cửa trời
    Linh Sơn chân tháp suối không hai
    Muốn thăng ba cõi ba lòng dứt (2)
    Muôn thuở sáu căn sáu ngả rời. (3)

    Tế Phật: Muôn pháp quy về một mối, tại nơi một mực thuần chân, nếu như trừ khử nổi ba tâm, tức tâm không tưởng tới quá khứ, tâm không giữ hiện tại, tâm không khởi tương lai, ắt có thể vượt qua ba giới là dục giới, sắc giới, vô sắc giới mà thành chính quả. Muốn thoát sáu ngả luân hồi hẳn trước phải đoạn tuyệt sáu giới là sáu cội rễ của sự ác gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. (4) Sáu cội rễ cắt lìa rồi, sáu mối dây cột thắt không có chỗ trói buộc nữa thì sáu ngả luân hồi cũng từ đó dứt. Người đời tu đạo đều do ba tâm, hai ý, sáu thần không có chủ, mặc cho ma dẫn lối, quỷ đưa đường kéo mình xuống biển, chìm nổi ba đường sáu ngả không thể siêu sinh, bữa nay ngộ rồi phải lên cõi trời. Cần sạch nợ cho thân mình nhẹ nhõm mới có thể nương theo thanh khí lâng lâng tự nhiên bay vút. (5) Bữa nay đã tới giờ dạo thiên đường, Dương Sinh mau lên đài sen, chuẩn bị khởi hành.

    Dương Sinh: Thưa con đã chuẩn bị xong, xin mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Đài sen trôi trên không mang theo hai thầy trò dần dần xa lìa bụi đỏ nhớp nhơ, núi xanh mây trắng, hào quang sương ngọc ngập tràn, chớp mắt đã tới cửa Nam Thiên. (6)

    Dương Sinh: Bữa nay tại sao cửa Nam Thiên lại có muôn binh vạn mã thế kia, giống như bày trận đợi chờ, Đại Thánh lại đang cười ha hả tiến tới.

    Tế Phật: Quân lính của trời vừa mới tập dượt xong, hiện đang nghỉ ngơi cho nên ở đây lính trời tướng trời mới đông như vậy, con cứ yên tâm, chớ vì cảnh tượng trước mắt mà sinh lòng khỉ ý ngựa.

    Dương Sinh: Thưa vâng, nhưng lòng khỉ dấy động thì ý ngựa lại lặng yên, con biết tính sao đây?

    Tế Phật: Cố giữ đừng để nó quấy phá.

    Dương Sinh: Dạ dạ, ngựa tới khỉ lại chạy.

    Tế Phật: Hãy buông bỏ nó. (7)

    Đại Thánh: Hoan nghênh Tế Phật cùng Dương Thiện Sinh đã tới, xin mời vào thăm cửa Nam Thiên.

    Tế Phật: Đa tạ Đại Thánh, bữa nay chúng tôi muốn vào cửa Nam Thiên Ngọc Khuyết để lạy chào ra mắt Nam Thiên Chủ Tể Văn Hành Thánh Đế, xin Đại Thánh hướng dẫn cho.

    Đại Thánh: Dĩ nhiên như vậy, mau theo tôi.

    Dương Sinh: Đại Thánh vừa rướn mình đã cỡi mây lành bay đi, chúng tôi liền theo sau. Cõi trời thật là có nhiều phương tiện, dưới chân mây tỏa lui tới tự do. Con muốn học phép này quá, chẳng rõ ân sư có ban ân đức dạy con không?

    Tế Phật: Đó là ý hướng tốt, nên học Ngộ Không loại công phu này, thầy chỉ dạy ngay cho con vài chiêu pháp, hãy lắng nghe đây: “Ngộ Không đầu đội kim khuyên nên gọi là đầu kim cương, tay cầm gậy kim cô, phóng ra ắt tỏa ngợp vũ trụ, cuốn lại ắt lui về ẩn nơi u mật, quả là tay nắm đạo lớn thâu mở dễ dàng. Trong lò Thái Thượng Lão Quân luyện được mắt lửa cùng con ngươi vàng mới trấn giữ nổi cửa lửa Trời Nam nên tơ tóc không mất. Muốn bay chỉ khẽ chuyển mình là chân phun mây, và sau khi vận dụng vẫn giữ trọn được ba thứ quý là tinh khí thần. Như bình nước gia tăng độ nóng, hơi nhiệt phun ra, huyệt suối chảy dưới cẳng, chân khí vọt mạnh chẳng khác nào nhiên liệu bùng cháy, đẩy hỏa tiễn bay vút lên không, thần chân chính ở nê hoàn cung nơi đỉnh đầu thăng cao, tay chân tự do lái thân mình, chỉ vụt thoáng đã bay xa ba ngàn dặm. (8) Người đời nếu như chịu trì chí công phu luyện phép, kiên nhẫn giữ tinh khí, trừ khử dục bảo vệ thần khí, như nước trong bình trên bếp bỏ thêm than củi, chút dương khí phát động ắt có thể rung trời chuyển đất. Còn nếu ngày ngày đắm chìm trong chốn trược khí tửu sắc, của cải cuối cùng sẽ như trái bong bóng đang bay bỗng xì hơi, xẹp lép, rớt xuống đất, khí công tan tành, chẳng thể bay lên cõi trời Đại La”. Điểm công phu này con cần ghi nhớ kĩ lưỡng, thân thể tinh luyện song thể hỗn nguyên, dễ dàng vận khí ba cõi, gồm thâu trời đất núi sông. (9)

    Dương Sinh: Thì ra phải trải qua giai đoạn khổ luyện công phu như vậy mới có thể vỗ cánh lượn bay.

    Tế Phật: Đã tới chốn Nam Thiên Ngọc Khuyết của Văn Hành Thánh Đế, Dương Sinh hãy kính cẩn chuẩn bị vái chào ra mắt Ngài. Đa tạ Đại Thánh đã dẫn đường.

    Đại Thánh: Không có chi, xin cáo từ.

    Dương Sinh: Lạy chào ra mắt Ân Chủ Văn Hành Thánh Đế Nam Thiên, đệ tử Dương Sinh bữa nay theo ân sư Tế Phật tới chốn này để cầu xin Thánh Đế khai sáng cho.

    Thánh Đế: Miễn lễ, mời hai vị ngồi. Tiên Lại mau dâng thanh trà.

    Tiên Lại (Lính cõi Tiên): Xin tuân lệnh... Đã dâng lên.

    Thánh Đế: Hai vị chớ khách sáo.

    Tế Phật: Dương Sinh đừng e ngại, Thánh Đế ban trà tiên, con uống đi rất bổ ích.

    Dương Sinh: Cảm tạ Ân Chủ Thánh Đế đã ban trà tiên, thứ trà này trong xanh, tinh khiết và ngọt mát, quả là kì diệu, kì diệu.

    Tế Phật: Đây là trà chính khí thanh bạch cõi Nam Thiên uống vào thông cổ. Bữa nay thầy trò chúng tôi phụng chỉ viết sách, đặc biệt tới lạy mừng ra mắt Thánh Đế, xin Thánh Đế ân ban lời vàng ngọc chỉ giáo cho.

    Thánh Đế: Hai vị gian lao khổ cực, sau khi viết xong Địa Ngục Du Kí, công phổ độ chúng sinh cao dày cho nên được Vô Cực Lão Mẫu cùng Thượng Hoàng Ngọc Đế từ tâm chiếu cố, lại ban sắc chỉ trước tác Thiên Đường Du Kí. Vinh hạnh này do Tam Tào ban phát, Tam Tào Thánh Thần Tiên Phật bận rộn lạ thường. Vô Cực Lão Mẫu cùng Ngọc Đế chỉ phổ độ chúng sinh có cơ duyên trong thiên hạ, đặc ban sắc mệnh cho Thánh Thần Tiên Phật ba cõi giáng phàm cứu độ thế nhân, cho phép thiết lập sa bàn tại đàn giáng cơ của Thánh Hiền Đường hầu mở rộng cửa phương tiện, canh tân chánh pháp để sự trao truyền ứng hợp với chân lí nhiệm mầu, độ được nguyên linh trở về nguồn cội. Ta hiện cai quản đàn tràng của các đền giáng cơ bút thuộc cõi Nam Thiên, phàm những ai lập đền để phát huy đạo giáo ta có đầy đủ hồ sơ viết rõ tên tuổi địa chỉ, công và tội đều ghi rõ trong sớ, mong người đời lập đền tu đạo phải nhớ kĩ điều này. Phàm những ai tới đền tuyên thệ tu đạo, Nam Thiên cũng đều có tên, nếu như trước sau chịu gian lao khổ cực để tu nhân tích đức, khi chết được ân sư độ về Nam Thiên ban thưởng công đức, được căn cứ vào nhân duyên, quả vị hưởng lạc thú tại thiên đường. Còn nếu như sau khi tuyên thệ lại phản bội đạo đức cùng lời thề ắt bị đày xuống địa ngục để chịu tội. Tóm lại có đạo đức lên thiên đường, không đạo đức xuống địa ngục, đó là lẽ đương nhiên. Người đời nếu như không giữ trọn đạo vua tôi, cha con, chồng vợ cùng nhân nghĩa lễ trí tín, không được siêu thăng miền cực lạc thì lòng ta đau buồn lắm lắm! Hi vọng sau khi Thiên Đường Du Kí viết xong, tiết lộ cảnh sống nơi cõi trời, người đời sẽ cố tu thân để được lên sống tại thiên đường. Nếu như sau này thế nhân mọi người đều cố gắng di cư lên sống tại đây thì lòng ta sung sướng biết là bao.

    Tế Phật: Đa tạ điều Thánh Đế vừa chỉ giáo. Thật là may mắn được tới thăm nơi đây, xin cáo từ.

    Dương Sinh: Cảm tạ Thánh Đế ân ban lời vàng ngọc, vì thời giờ eo hẹp, xin bái biệt.

    Thánh Đế: Lệnh chư Tiên Quan hàng ngũ chỉnh tề đưa tiễn.

    Tiên Lại: Xin tuân lệnh phụng tiễn Tế Phật cùng Dương Thiện Sinh trở lại Thánh Hiền Đường.

    Tế Phật: Dương Sinh mau lên đài sen, chuẩn bị trở lại Thánh Hiền Đường.

    Dương Sinh: Xin tuân lệnh, con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư khởi hành.

    Tế Phật: Phong cảnh thiên đường sáng tươi vô hạn đã bù đắp lại sự gian lao khổ cực suốt dọc lộ trình, chúng ta đang dần dần tiến vào quỹ đạo, khắp nơi đều là chốn tràn ngập phúc lộc cõi trời. Dạo thiên đường hưởng biết bao nhiêu sung sướng, người đời cớ sao lại không nghĩ tới. Đã về đến Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:23 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • HỒI BA

    LẠI DẠO NAM THIÊN NGỌC KHUYẾT NGHE THÁNH ĐẾ KHUYÊN NHỦ

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 23 tháng 5 năm Kỉ Mùi (1979)


    Thơ

    Bồ phiến khinh dao đạo khí lai
    Hồ trung mĩ tửu tẩy dương ai
    Thế nhân học ngã thường hoài lạc
    Linh Ẩn tự tiền Hoạt Phật tài.

    Dịch

    Nhẹ phẩy quạt bồ đạo khí lan
    Rượu ngon đầy hủ tẩy dương gian
    Học ta bao kẻ đời hoan lạc
    Phật Sống chùa thiêng đã cấy mầm.

    Tế Phật: Tay ta phe phẩy quạt Bồ, bầu rượu ngon rót chảy tràn môi, mỗi bước ta đi khác nào la hán, người đời mấy ai học được phong độ an nhiên tự tại này? Có kẻ thấy ta thích thịt chó, ham nhậu rượu, ngất nga ngất ngưỡng vội cho là ta không phải bậc chân tu, kì thực bọn họ đã sai lầm. Thế gian có hòa thượng ăn thịt, trên trời không có la hán uống rượu. Nhớ thuở xưa ta từ trên trời nhìn thấy lắm kẻ xuất gia tu hành, miệng ăn đồ chay mà lòng chứa dạ quỷ, rất ít kẻ thiện trí thức giác ngộ Phật pháp, phần đông đều là những kẻ ăn xổng uống càn, cho nên ta không nỡ đoạn tuyệt với tuệ duyên nhà Phật mới đầu thai xuống trần đổi tên là Tu Duyên để phổ độ quần sinh, giả điên giả khùng châm chọc người đời, chuyên nhắm một số hòa thượng gây chuyện quái đản, hễ họ bảo phải kiêng cữ thì ta lại ăn nhiều, họ bảo không được đi ta cứ đi, hành động ngược hẳn pháp như vậy là cốt để độ người chính trực. Sở dĩ một số kẻ tuệ mỏng trí nông cho ta là thứ tăng điên dại, là ma quỷ nơi cửa Phật, bởi họ không hiểu rằng thân ta điên nhưng tâm chẳng điên, ta tụng “chân chính kinh” chẳng thể so sánh với bọn họ chuyên niệm “giả chính kinh”. Thực ra họ chỉ là những kẻ “giả từ bi” cho nên mới giả ăn, giả uống để cầu được sống cho qua ngày, nên Tế điên ta mới đến đập bể chén cơm của họ; bởi vậy tăng lữ đương thời khi ta, chửi ta, hận ta, thậm chí tới nay cửa Phật vẫn còn nhiều thiên kiến đối với ta, cho ta là hòa thượng không thanh tịnh, đâu ngờ ta lại là la hán hóa thân, là ánh sáng mặt trời nhưng giấu kín tam muội chân đạo, cho nên khi ăn thịt uống rượu chỉ cần nuốt tới cuống họng là tiêu hóa sạch trơn, nên bao tử, ruột non, ruột già vẫn trống không. Sở dĩ ta vờ nuốt vào bụng là cốt để chọc ghẹo tăng lữ cùng tu đấy thôi, cho nên mới nói: “ăn nhiều, uống nhiều mà vẫn chẳng hưởng được mùi vị chi”. Người đời gặp ta ai nấy đều cười ha hả, khen ta là “Phật như ý” “Phật hoan hỉ” “Phật sống Tế Công”, ha ha cớ sao còn lắm kẻ chẳng lạy “Phật sống” lại đi lạy “Phật chết” thực sự đáng thương! Đáng thương! Gặp thời mạt pháp ta càng cần đùa bỡn một phen, chẳng đến chùa Phật lại đến nhà tục mà muốn mọi nhà thành chùa Phật, mọi gia đình sinh ra Phật. Bữa nay tới chốn này hướng dẫn thánh bút Dương Sinh dạo thiên đường thực quả là bận rộn. Đi thôi Dương Sinh.

    Dương Sinh: Thưa ân sư! Những điều thầy vừa dạy toàn là các ý tưởng chân chính tự cõi trời ban xuống, nhưng con sợ rằng người đời không hiểu lại nghĩ là thầy khoe khoang phách lối.

    Tế Phật: Chớ có sợ, ta vốn từ chối chùa to miếu lớn, cam phận sống trong chốn bình dân nghèo hèn là bởi vì ta không thích ngụy trang, mong sử dụng tính đó làm phương tiện cho pháp môn để hóa độ kẻ tục, người đời cười ta điên thật chẳng đáng thương thay cho họ lắm sao? Mau lên đài sen.

    Dương Sinh: Con đã sẵn sàng, mời thầy lên đường... Bữa nay tại sao lại tới chốn này? Vì đây chính là ngã ba biên giới Âm Dương.

    Tế Phật: Bữa trước đã tới Nam Thiên Môn, bữa nay ta lại dẫn con tới chốn này là vì chúng ta phải tới thăm Nam Thiên Môn lần nữa.

    Dương Sinh: Trước đây dạo địa ngục con đã được thấy biên giới Âm Dương, song bữa nay nhìn con đường lớn hào quang lấp lánh dẫn thẳng lên khoảng không trung mờ mịt mây trời, trên đường người đi đông nghẹt, có kẻ ngồi kiệu, có kẻ cưỡi mây, có kẻ thả bộ, họ đều được các tiên lại, sa di hoặc thiên sứ dẫn đường là bởi lẽ gì?

    Tế Phật: Sau khi chết những ai có phước quả đều được tới Âm Dương giới, một số trong đám người này không cần phải qua cửa âm phủ để sưu tra công và tội; do đó tới khúc rẽ của ngã ba biên giới Âm Dương này cứ việc đi thẳng lên núi Tâm Đầu. Những người con vừa thấy lúc còn tại thế họ đều sống có đạo đức, công quả lớn lao, sau khi chết được các sứ giả trực thuộc đón lên thiên đường trình diện. Nếu như là người đắc đạo hẳn là không như vậy vì họ “Biết sống chết, rõ đường đi” (Tri sinh tử minh khứ lộ), lúc sống quen đi đại lộ thiên đường, sau khi chết như ngựa già biết rõ đường quen, an nhiên tự tại mà nguyên linh vẫn nhẹ nhàng bay thẳng tới thiên đường sống thảnh thơi, người đời chỉ những ai về được thiên đường mới thấu tỏ hết sự tình. Bữa khác ta sẽ hướng dẫn con tới dạo cảnh này, còn bữa nay chúng ta phải tới thăm Nam Thiên Ngọc Khuyết bái hội cùng Văn Hành Thánh Đế thêm lần nữa để nghe Ngài chỉ dạy.

    Dương Sinh: Hay quá, những người được về cõi trời đầu họ đều tỏa những vòng hào quang, nét mặt lộ vẻ vui mừng, an nhiên tự tại, trái ngược hẳn những vong hồn bị lùa xuống địa ngục kêu khóc thảm thương, quả là khác nhau nhiều quá.

    Tế Phật: Lẽ đương nhiên là như vậy, lên thiên đường về cực lạc; xuống địa ngục chịu hình phạt, hai loại cảnh huống giống nhau sao được! Kẻ muốn lên đài lãnh thưởng còn phải quỳ gối chịu đá chịu đấm nữa là. Thôi, chúng ta mau tới cửa Nam Thiên.

    Dương Sinh: Đài sen bay mau, con đường lớn rực rỡ hào quang hiện ra trước mắt, chỉ một sát na là tới cửa Nam Thiên, đã thấy Đại Thánh ở đó, tay cầm gậy kim cô múa may, miệng vui cười không ngớt.

    Tế Phật: Vì không thể ngừng lại, nên chúng ta chỉ có thể cất tiếng chào để giữ lễ mà thôi... Đã tới Nam Thiên Ngọc Khuyết, Dương Sinh mau ra mắt Thánh Đế.

    Dương Sinh: Xin vâng lệnh... Lạy chào ân chủ Văn Hành Thánh Đế, bữa nay chúng tôi lại tới thăm Ngọc Khuyết, xin ân chủ ban lời chỉ giáo.

    Thánh Đế: Miễn lễ. Mời hai vị ngồi; Tiên Lại, mau dâng trà ngon.

    Tiên Lại: Xin tuân lệnh. Đã dâng lên.

    Thánh Đế: Nhị vị gian lao khổ cực, còn Tế Phật, ngài đã lãnh trọng trách phổ độ chúng sinh quá lớn lao, bữa nay lại còn hướng dẫn thánh bút Dương Sinh bôn tẩu khắp ba cõi viết sách khuyên đời, phải chịu nhiều khổ cực nhưng có công to. Cõi Trời lần này ban sắc chỉ trước tác sách Thiên Đường Du Kí công trình thực quả phi phàm vì đã tiết lộ thiên cơ hẳn là sẽ thâu được hiệu quả khuyên đời còn không sẽ cực khổ mà vô ích. Nhân vì Thánh Hiền Đường viết kinh sách dạy điều thiện cho nên toàn thể bạn đạo đã dốc tâm in tặng số lượng lớn để giáo hóa phổ độ chúng sinh, giống như giọt cam lồ nhuần thấm khắp vạn vật, ví thử sách này giáng ở cõi khác, sợ rằng công hiệu khuyến hóa chưa chắc đã mau lẹ, rộng lớn như quý Hiền Đường. Bởi vậy, sách Thiên Đường Du Kí hẳn là đã chọn nơi thiện lành đẹp đẽ nhất trong ba cõi Đất, Trời, Người là Thánh Hiền Đường mà giáng. Trường hợp này nếu trời xanh không thiên vị, đạo trời chẳng quen biết thì hẳn là chỉ nhờ tu nhân tích đức mới được vậy. Mong các đệ tử nhận lấy vinh quang mà hi sinh thêm cho sự nghiệp khuyên đời để đền đáp ơn Trời.

    Dương Sinh: Cảm tạ ơn sâu của Thánh Đế, toàn thể bạn đạo chúng tôi dốc lực phục hưng văn hóa cùng đạo đức cổ truyền Á Đông, có thể nói là cho tới khi nào sức cùng lực kiệt mới thôi. Kính mong Trời xanh thấu hiểu, toàn thể bạn đạo cảm kích khôn nguôi, khi nào về tới Hiền Đường tôi sẽ thuật lại nguyên văn những lời chỉ giáo của ân chủ Thánh Đế.

    Thánh Đế: Phạm vi dạo thiên đường rộng lắm, nếu như mỗi nơi đều tới sợ rằng sẽ vĩnh viễn đi không trở lại, nên theo ý tôi chỉ tuyển chọn một số vùng có liên quan đến thế đạo tới thăm hỏi mới có thể xong được mà thôi. Tới ngày hoàn thành sách Thánh để tặng đời độ người, Tế Phật sẽ được an ủi vì đã quá nhọc nhằn hướng dẫn.

    Tế Phật: Đó là trách nhiệm, xin Thánh Đế mở rộng cửa phương tiện.

    Thánh Đế: Chớ khách sáo. Hiện thời được Tam Tào phổ độ, khắp cõi Trời, địa ngục, nhân gian đều có người cùng quỷ thần hỏi đạo tu đức, viết Thiên Đường Du Kí lần này rất ứng hợp với phương diện vừa nêu trên, cùng khuyến thế thật là đúng lúc. Bắt mạch bốc thuốc mới mong khuyên nhủ lòng người. Từ nay về sau có thể căn cứ theo đồ án đã vẽ này mà xây dựng một tòa “Thiên Đường Lạc Thú” tròn đầy, chỉ có ít lời này khuyên nhủ.

    Tế Phật: Xin ghi tâm khắc cốt những điều Thánh Đế vừa chỉ dạy, giờ đây xin cáo từ.

    Dương Sinh: Cảm tạ Thánh Đế đã ban lời vàng ngọc, xin bái từ.

    Thánh Đế: Có gì khó khăn, cứ trở lại đây bày tỏ, tôi sẽ sẵn sàng giải đáp.

    Dương Sinh: Đa tạ ân chủ Thánh Đế đã để tâm lo lắng cho.

    Thánh Đế: Lệnh cho các Tiên Lại hàng ngũ chỉnh tề đưa tiễn.

    Tế Phật: Dương Sinh mau lên đài sen, chúng ta chuẩn bị trở lại Thánh Hiền Đường.

    Dương Sinh: Thưa con đã sẵn sàng...

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:23 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    January 24th 2010, 10:53 pm
  • HỒI BỐN

    DẠO CUNG THÁI THANH NGHE THÁI THƯỢNG ĐẠO TỔ THUYẾT PHÁP

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày mồng 6 tháng 6 năm Kỉ Mùi (1979)


    Thơ

    Lão Quân tây hóa giá thanh ngưu
    Ngô Phật đông lai phiếm thánh châu
    Khổng Tử chu du thôi thất mã
    Du Hồi sa mạc lạc đà tu.

    Dịch

    Lão cưỡi trâu xanh phổ đạo trời
    Phật chèo thuyền pháp độ không ngơi
    Khổng tung vó ngựa thầy muôn thuở
    Chúa ruổi lạc đà cứu khắp nơi.

    Tế Phật: Trời đất vốn từ một khí sanh, các vị giáo chủ của năm tôn giáo khởi sự giảng đạo dạy người, phương tiện truyền bá tuy không giống nhau nhưng kho kinh điển hàng ngàn vạn chữ chứa trong bụng đó đều hàm ngụ các pháp chỉ dẫn lối lên thiên đường. Chỉ tiếc rằng ngày nay những kinh sách ấy bị chữa chỗ này sửa chỗ nọ, chẳng khác nào vẽ rắn thêm chân, như bức danh họa cổ thời rách nát, khiến kẻ tu đạo muốn kiếm báu vật phải lặn lội tìm tòi tận chốn thâm sơn cùng cốc. Lại thêm không rõ đặng lẽ đạo của các tôn giáo chẳng khác nhau nên mới quên đi lí tưởng vì sự sống chung lo xây đắp thái hòa, vì chính nghĩa gắng thức tỉnh lòng người, cứu vãn cảnh trầm luân nơi cõi thế hầu giúp nhân loại xum họp một nhà. Phật tôi đây tại cõi Trời không phân biệt chúng sinh, vì lẽ loài người đều do đức hiếu sinh của trời mà ra, ý hướng truyền bá lẽ đạo là muôn đời sống hòa bình hạnh phúc của nhân loại ngày một thăng tiến, chấm dứt tình trạng coi rẻ, bài xích, phỉ báng lẫn nhau. Loài người trên mặt đất vốn từ trời xuống, song vì phân chia đi các nẻo để kiếm miếng ăn duy trì sự sống, lâu ngày quên mất cõi thiên đường là chốn nhà xưa. Ngày nay, cần phải thức tỉnh nhân tâm hướng về cõi trời, nhận rõ đâu là nguồn cội, ai là tổ tiên, nên mới đặc biệt ra lệnh cho Thánh Hiền Đường trước tác sách Địa Ngục Du Kí, tiết lộ thiên cơ để chúng sinh hiểu rõ nguyên lí của tạo hóa, ngõ hầu các sinh linh trở về được cõi thiên đường. Nếu như không sớm tu tâm sửa tính hẳn là càng chìm đắm càng bị chôn sâu, cuối cùng rớt vào sáu nẻo luân hồi, muôn vạn thuở không thể trở lại lúc ban đầu được nữa. Dương Sinh mau lên đài sen, chuẩn bị khởi hành.

    Dương Sinh: Thưa, con đã sẵn sàng, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Cưỡi đóa sen rực rỡ này rong ruổi vạn dặm giữa chốn không trung để tới thiên đường sáng chói, quả là được nhẹ nhõm siêu thoát, phơi phới muốn thành tiên, có cảm tưởng giống như mọc cánh vút bay, tấm thân nhẹ hẫng, tinh thần hoàn toàn tiêu dao tự tại. Đệ tử hiền ngoan của ta ơi! Cớ sao không nói lên cảm giác lúc này?

    Dương Sinh: Thưa, con cảm thấy tâm thần sảng khoái, hào quang tỏa ngời, mây mùa thu tan biến, muôn hoa đua nở khắp nơi, các loài chim quý lượn bay miệng ríu rít hát khúc mừng tiên. Các giống muông thú kì lạ chưa từng thấy nô đùa nhảy nhót trong đám mây xanh cỏ biếc, mùi thơm của nhụy hoa xông làm con ngây ngất, nơi này không vương mảy may khí tục trần, phong cảnh thiên đường sáng tươi hiện thời làm mê đắm lòng người, chẳng còn muốn trở lại trần gian.

    Tế Phật: Cảnh tiên này chốn trần gian quả chưa từng nhìn thấy, chỉ cõi Trời mới có, hiện thời duyên trần của con chưa dứt, chẳng thể ở đây lâu, phải lo hóa độ thật nhiều chúng sinh, họp bạn cùng tu lo công quả, ngày sau tự nhiên tới được nơi đây du sơn ngoạn thủy, ở mãi núi tiên làm khách của tiên.

    Dương Sinh: Cảm tạ những lời ân sư vừa chỉ giáo. Các tòa lầu cao phía trước sừng sững giữa mây, ngời tỏa ánh vàng lấp lánh, lại thấy có con trâu xanh một sừng đang tiến về hướng thầy trò mình, cõi Trời cớ sao lại nuôi trâu?

    Tế Phật: Đó là sức mạnh của đôi cẳng Thái Thượng Lão Quân, trâu xanh một sừng là loại thú đặc biệt ở cõi tiên chớ chẳng phải trâu rừng thế gian; con chớ sợ hãi, trâu tới nghinh tiếp chúng ta đấy mà. Trâu bò cõi thế gian thật là đáng thương, non cày ruộng, già kéo xe, thân làm thịt ăn, sữa nuôi trẻ... trâu bò cống hiến nhu cầu cho người thật quá lớn lao. Còn con trâu xanh của Lão Tử nuôi này là trâu trời, thủy tổ của các loại trâu bò trần gian. Trâu bò trần gian có đủ màu lông nào như vàng, trắng, đen, đỏ. v.v... nhưng tuyệt nhiên không có màu xanh.

    Dương Sinh: Cung điện phía trước nguy nga tráng lệ phi thường, giống như mây lành kết tụ, như nạm bạc dát vàng, khí hạo nhiên vây bọc khiến ai nhìn thấy cũng phải kính nể, ba chữ Thái Thanh Cung chợt hiện ra, hào quang lòa cả mắt.

    Tế Phật: Đây là Tam Thanh Điện Phủ, chốn cư ngụ của Thái Thượng Lão Quân, cũng còn gọi là Đâu Suất Cung ở cõi Đại Xích Thiên. Bữa nay lần đầu tiên chúng tôi tới đây, xin Đạo Tổ chỉ giáo cho về nguyên lí trời đất hóa công để người đời được rõ, để kẻ tu đạo về trời bằng con đường ngắn nhất. Viết sách Thiên Đường Du Kí trước tiên phải bày tỏ cơ biến hóa vận chuyển của trời đất, Đạo Tổ lại là bậc thánh “Thượng Chân Kim Tiên Khai Nguyên” cho nên cầu mong ngài chỉ dạy về lẽ huyền vi tạo hóa.

    Dương Sinh: Thưa, thì ra là như vậy.

    Tế Phật: Các đồng tử tu đạo đã hàng ngũ chỉnh tề để nghinh tiếp chúng ta.

    Dương Sinh: Cúi đầu chào ra mắt chư vị tiên đồng, tôi là kẻ phàm nhân, đệ tử của Thánh Đế ở Đài Trung Thánh Hiền Đường, bữa nay phụng chỉ theo thầy dạo thiên đường hỏi đạo, kính mong tiên đồng chỉ dẫn cho.

    Đạo Đồng: Hoan nghênh Tế Phật cùng Dương Thiện Sinh tới thăm, giáo chủ ngỏ lời mời hai vị, xin hai vị đi theo chúng tôi vào lạy chào ra mắt Đạo Tổ.

    Dương Sinh: Xin đa tạ. Theo tiên đồng vào cung Thái Thanh, chánh điện tôn nghiêm, vắng lặng, một vị đạo sĩ vẻ mặt hài đồng, mái tóc bạch hạc ngồi trên bệ cao giữa điện, phía trước có đặt một lư hương, khói nhang nghi ngút bốc lên, toàn thân Đạo Tổ hào quang tỏa ngời. Lạy chào Thái Thượng Đạo Tổ, nay con phụng chỉ theo thầy lên thăm cõi trời để viết sách, giờ đây xin vào Thái Thanh Cung lạy mừng ra mắt Đạo Tổ, kính mong Đạo Tổ mở lòng từ bi chỉ giáo cho con về lẽ đạo để ghi vào sách Thiên Đường Du Kí hầu khuyên răn người đời.

    Đạo Tổ: Miễn lễ, Dương Sinh mau đứng dậy, Tế Phật cũng chịu nhiều gian lao khổ cực. Mời hai vị ngồi, Dương Sinh xác phàm chưa hóa, linh nhãn lại mới mở nên đạo lực còn kém, nay tới cõi Đại Xích Thiên này tâm linh khó bề chịu đựng nổi, do đó ta đặc biệt ban thuốc Kim Đan này để củng cố nguyên thần đạo thể, hãy cầm lấy đi.

    Dương Sinh: Cảm tạ sự ân ban của Đạo Tổ. Tinh thần con hiện thời hơi khó chịu, phong cảnh thiên đường tuy đẹp đẽ, song tâm hồn con cảm thấy không yên.

    Đạo Tổ: Chỉ vì công lực chưa đủ, cõi Đại Xích Thiên này ở bên ngoài ba mươi ba từng trời, nếu không phải là những bậc thượng thánh cao nhân không thể tới đây. Con may nhờ được hưởng phước nên mới phụng chỉ tới thăm nơi đây, ta giúp con một cánh tay để thêm sức, mau cúi xuống.

    Dương Sinh: Xin vâng lệnh... Con đã sẵn sàng. Đột nhiên lửa cháy bùng bùng trong tâm, một luồng chân khí bay vút lên cao, hai mắt mở lớn, chợt cảm thấy cơ thể thích ứng nổi với hoàn cảnh nơi đây. Cảm tạ Đạo Tổ.

    Đạo Tổ: Đó là thuốc “cửu chuyển kim đơn” được luyện trong lò vàng tám mươi mốt năm, đợi ban cho kẻ có duyên, bữa nay Dương Thiện Sinh tới đây kể như là người có được duyên ấy.

    Tế Phật: Cảm tạ Đạo Tổ đã ban thuốc kim đơn trợ giúp phần linh quang cho đệ tử của tôi một cách lớn lao. Mục đích bữa nay chúng tôi tới đây là mong được chỉ giáo, vậy kính xin Đạo Tổ khai mở lẽ huyền vi của trời đất hóa công để thế gian giác ngộ đạo lớn mà tu luyện tính tình hồi hướng lẽ thiện chân.

    Đạo Tổ: Sự huyền diệu của trời đất hóa công ngoại trừ những bậc đắc đạo không kể, còn hầu hết người đời đều chẳng thấu tỏ. Cõi thế hiện thời lại quá cơ tâm xảo trí, cần phải rộng lượng cứu giúp, chu kì khí trời đất vận hành cực kì huyền diệu, cho nên Trời ban sách huyền bí Thiên Đường Du Kí xuống thế gian lúc này cực kì đúng thời, lòng ta hằng lo chúng sanh dưới gầm trời không thấu tỏ lẽ đạo sẽ khó bề hướng thiện, bởi vậy giờ đây cần phải thuyết giảng một chương về nguyên lí cao thâm của trời đất hóa công, đem thiên cơ tiết lậu cùng thế gian để cứu độ chúng sinh. Ô hô! Trời cao đất thấp, chúng sinh ở giữa, ba cõi lập, thế giới thành. Kể từ thuở mênh mông mờ mịt chưa chia, trời đất còn là một khối hỗn độn, mặt trời mặt trăng chưa phân, lúc đó khí tiên thiên vô tận, Thánh Phật Tiên hòa hợp chung cùng một thể, tỏa chiếu vô lượng hào quang xoay chuyển hư không được gọi là: “Người trên cõi mịt mờ” (Huyền huyền thượng nhân), hay “Vua Trời thuở ban sơ” (Nguyên Thủy Thiên Vương). Bởi địa vị tối cao đó nên còn được kêu là “Thượng Đế”, là thủy tổ muôn loài vạn vật, hoặc cha Trời mẹ Đất. Vì không biết tên nên mới gọi là “huyền huyền” (mờ mịt), không rõ gốc rễ nên gọi là “nguyên thủy” (ban đầu) tức là gốc của đạo lớn, cõi của không tên. Vận chuyển tới mức tròn đầy thì khí tự nhiên phân hóa thành “tam thanh” gồm: Ngọc thanh Nguyên Thủy Thiên Tôn, Thượng Thanh Linh Bảo Thiên Tôn, Thái Thanh Đạo Đức Thiên Tôn. Ba nhân tố “Huyên, Nguyên, Thủy” cùng chung một thể, ba cấp bậc khi đã nên sự thì “tam thanh” phân chia biến hóa sang hữu hình, khí thanh nhẹ bay lên cao hội hợp làm trời, mặt trời, mặt trăng và sự xuất hiện này đã hoàn thành tam bảo. Thiên Tôn vị ở tam thanh lại biến hóa Ngũ Lão: đông hoa Mộc Công, tây hoa Kim Mẫu, nam hoa Hỏa Tinh, bắc hoa Thủy Tinh, trung hoa Hoàng Lão; năm lão đã thành, ngũ hành lập xong, khí trược nặng lắng xuống ngưng tụ thành đất. Trời đất đã làm nên nhưng còn thiếu loài người. Vua trời thuở ban sơ sinh ra trời đất hóa công, cố gắng vận dụng chân khí một cách âm thầm để phân lập năm phương thành hình thế giới, nhưng nếu không có con người thì không thể nối liền tam tài cho nên ngài mới ra lệnh cho Ngũ Lão đem các nguyên linh gieo trồng. Ngũ Lão sau khi nhận lãnh trách nhiệm liền thúc đẩy Kim Mẫu, Mộc Công lo việc thai nghén các nguyên linh. Hoàng Lão còn tuyển chọn vùng đất Đơn Khâu thuộc núi Tu Di mà kiếm hang động để Hoàng Thổ làm chỗ thụ thai. Thế là việc chế lọng tròn (trời) đệm vuông (đất) hay trời che đất chở xong xuôi, Mộc Công bèn nấu “ngũ kim” lọc lấy tinh chất đúc đỉnh ba chân, Kim Mẫu nung “ngũ thổ” lọc lấy thần khí nặn lư Yển Nguyệt. Sau khi núi nứt nẻ, tinh chất của nước đá Huyền Anh rỉ ra ứ đọng trong lư, liền bỏ chõ đất vào trong, úp đỉnh vàng lên mặt rồi kiếm củi dâu phương nam cùng vận dụng chân hỏa nung nấu, lát sau hơi nước ở giữa chốn thái hòa trong đỉnh ngưng đọng biến thành nước rớt xuống đáy, khí thoát ra từ dưới bụng chõ lại bay lên, do đó mà nước luôn luôn thăng giáng, đầy ắp cả trong ngoài. Năm Lão có thể lặng lẽ mở đóng cửa huyền vi, ngưng kết đơn đầu chuyển đỉnh ấp chõ, ánh sáng tỏa ngập tứ phương bảy ngày mới thâu hồi. Hoàng Lão, Xích Tinh, Thủy Tinh tại chốn cao vời trầm mặc đưa mắt thần theo dõi. Kim Mẫu, Mộc Công lại tái lập bếp, đặt chõ lên trên đuổi khí lạnh giá đi, tỏa khí ấm áp xuống. Để thi hành cái tinh túy của Thái Ất, Mộc Công, Kim Mẫu dùng đạo “Kim Dịch luyện hình” để gìn giữ tĩnh dưỡng tinh thần, quên lo toan, bỏ tính toán sống hòa hài, phân định kì hạn của các tiết và mùa trong mỗi năm xong thì mây ngũ sắc phủ đỉnh đầu, sương ngọt tưới ướt đẫm mình núi Tu Di. Chợt nghe tiếng động cựa trong đỉnh, Mộc Công, Kim Mẫu biết là đơn đã chín, mở nắp xem thấy có hai vật ấp nhau liền đưa tay nhấc một vật lên xem thì ra là tượng một hài nhi nam, Mộc Công nhấc vật còn lại lên coi thì ra là một hài nhi nữ, hai người mỉm cười ra khỏi đỉnh luyện ngũ hành. Hai con đỏ đó là họ Bàn Cổ và Thái Huyền Ngọc Nữ cũng gọi là Á Dương hoặc Hạ Giai ở vào giai đoạn diễn hội giáng trần. Lúc chính khí của ngũ hành sinh ra người, khí của nó tiết ra ngoài phân tán khắp gầm trời mà sinh ra các loài sinh, động, thực vật cùng các giống bay, lặn. Còn như ngũ kim, thảo mộc, nước sông biển, điện quang thạch hỏa, các loại động vật, bụi đất đó đều là nguyên do sự tích nặn đất thổi khí thành người. Con người vốn từ đất làm nên, đất nuôi đất dưỡng, cho nên khi chết lại trở về nguồn cội đất. Tạo lập cõi trần xong, anh nhi hài nữ giáng phàm thân thể vốn thanh tịnh, song vì ăn phải trái cấm tính dục phàm trần kích động, âm dương giao hợp cho nên loài người từ đấy sinh sản không ngừng. Lí do Vô Cực Nguyên Thủy chỉ nhất động mà sinh ra Thái Cực, Thái Cực bao hàm lưỡng nghi âm dương rồi biến thành tam tài, tứ tượng, ngũ hành, v.v... Nhất bản tán vạn thù (một gốc sinh ra muôn vạn cái khác biệt) cho nên gọi là chúng sinh, cũng còn kêu là chín mươi sáu nguyên linh ý nói trời chín đất sáu bao la vô cùng vô tận không chỉ giới hạn có chín mươi sáu ức mà thôi. Ngũ Lão thai nghén sinh sản ra các nguyên linh cùng vận chuyển chân khí thành ra người đầy đủ ngũ tạng, ngũ khí thịnh được là nhờ công của Ngũ Lão. Loài người trên trái đất màu da không giống nhau là do ảnh hưởng bởi năm sắc của năm phương: đông sắc xanh, tây sắc trắng, nam sắc đỏ, giữa sắc vàng, bắc sắc đen. Cho nên màu sắc giống như đất nung trong lò, vì lửa không đều mới sinh ra các màu khác nhau. Nguyên linh giáng phàm, ban đầu tính tình thuần phác, lấy lá cây che mình, tâm hồn nhiên như lúc ban đầu, không thắc mắc, không ham sống sợ chết cho nên lúc chết dễ dàng siêu thăng cõi trời. Sau chỉ vì nguyên linh chủng tử sống với đất lâu ngày thay chất đổi giống, từ thời trung cổ tính linh bắt đầu bị ô nhiễm nặng cho nên có nhiều kẻ chết không được về trời, khí ô trọc nặng nề chìm xuống nên địa ngục được tạo lập từ đây. Ngũ Lão ở cõi trời thấy vậy quá đau lòng muốn phế bỏ, liền triệu tập hội nghị để họp bàn phương cách thâu hồi kế họach đã đem ra thi hành một cách bất đắc dĩ. Ngũ Lão mới phân thân giáng phàm đầu thai đủ năm phương làm năm vị giáo chủ của năm tôn giáo, bắt đầu truyền pháp thâu nhận môn đồ, tới lúc các giáo chủ ngưng phổ độ rời bỏ trần gian trở về trời, đa số giáo đồ bỏ kinh bỏ đạo khiến cho nguyên linh phân tán đạo tâm, sinh linh tương tàn làm thương tổn hỏa khí của trời đất. Kim Mẫu tại cõi trời Ngũ Lão xót thương các nguyên linh chủng tử một đi không trở lại cho nên nay ban lệnh phổ giáng chân đạo quảng độ những người có phước duyên. Để cho việc khuyến hóa được hiệu nghiệm mau chóng bèn mượn hình thức giáng cơ để phát huy đạo giáo, ban truyền lệnh trời để khuyên răn những kẻ ngang ngược. Vì phải cấp thiết độ chúng sinh cho nên Tam Tài đồng thanh lập thánh hội để họp bàn và đã đi đến quyết nghị chung là phải đem phong cảnh thiên đường sáng tươi tiết lộ cùng thế gian để khuyên nhủ và hướng dẫn nguyên linh trở về chốn cực lạc, giúp Kim Mẫu độ nguyên linh trở về nguồn cội. Hi vọng chúng sinh dưới gầm trời xem xong sách này đều hồi tâm hướng thiện, quy y đại đạo, trở lại thiên đường, nguyên linh được siêu thăng cõi tam thanh hợp làm một khí hưởng thú tiêu dao.

    Tế Phật: Cảm tạ Đạo Tổ đã tiết lậu hết thiên cơ để cảm hóa chúng sinh. Vì thời giờ eo hẹp, tôi còn phải đem Dương Sinh trở về Hiền Đường, ngày khác lại xin tới thỉnh giáo.

    Đạo Tổ: Tốt lắm. Ra lệnh cho các đạo đồng hàng ngũ chỉnh tề tiễn đưa hai vị trở lại Hiền Đường.

    Đạo Đồng: Xin tuân lệnh. Kính tiễn Tế Phật cùng Dương Thiện Sinh trở về Hiền Đường. Mong sớm tới thăm lại chốn này.

    Dương Sinh: Cảm tạ Đạo Tổ đã ban lời chỉ giáo ngọc vàng siêu diệu, xin bái từ. Thưa, con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:23 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    January 25th 2010, 6:41 pm
  • HỒI NĂM

    LẠI DẠO CUNG THÁI THANH NGHE THÁI THƯỢNG ĐẠO TỔ THUYẾT PHÁP

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 29 tháng 6 năm Kỉ Mùi (1979)


    Thơ

    Phật tại Linh Sơn mạc viễn cầu
    Linh Sơn chỉ tại nễ tâm đầu
    Nhân nhân hữu cá Linh Sơn tháp
    Hảo hướng Linh Sơn tháp hạ tu.

    Dịch

    Phật ở Linh Sơn chớ kiếm xa
    Linh Sơn ở tại đáy tim ta
    Linh Sơn tháp báu người người có
    Mau tới Linh Sơn tháp đó tu. (1)

    Tế Phật: Bài thơ đạo trên đây tin rằng nhiều người hiểu thấu được ý nghĩa sâu xa của nó, cùng chân nhận rằng nếu như miệng lưỡi chỉ ê a tụng niệm mà mong đắc đạo thì chẳng thể được nào, bởi lẽ từ khẩu tới tâm còn cách quá xa. Trong thơ nói Linh Sơn vốn là Tâm Đầu Sơn, tức ngả rẽ của nẻo lên thiên đường và ngả xuống địa ngục, các linh hồn sau khi chết phải tái đầu thai làm kiếp người, hay chịu hình phạt đọa địa ngục, hoặc có phước được lên thiên đường; hết thảy các linh hồn đó đều bắt đầu từ ngã ba này. Chúng sinh dưới gầm trời muốn tu tâm hỏi đạo hẳn là chẳng cầu đâu xa, chỉ cần cầm mảnh gương tròn mà soi, rồi tìm hiểu cho kĩ bộ mặt thật của mình xem là đẹp đẽ hay xấu xa? Tự vấn lương tâm xem là thiện lành hay hư đốn, khi ấy chắc chắn sẽ tìm thấy Linh Sơn ở ngay chính giữa tâm ta, quả là một sớm lên non đột nhiên thấy Phật cùng tìm ra ngả lên được thiên đường rồi vậy. Bữa nay ta lại hướng dẫn hồn phách thánh bút Dương Sinh dạo thăm cõi trời viết sách. Dương Sinh mau lên đài sen. (2)

    Dương Sinh: Con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường...

    Tế Phật: Bữa nay lại tới cung Thái Thanh để lạy mừng cùng xin thọ giáo Thái Thượng Đạo Tổ, hai thầy trò mình ngồi trên tòa sen phơi phới bay lên cõi trời tới nơi tới chốn bình yên vô sự.

    Dương Sinh: Hình như bữa nay rất nóng?

    Tế Phật: Đã gần tới Nam Thiên Môn thực quá mau lẹ, đây là ranh giới của tầng đại khí nên chẳng còn không khí, và vì tốc độ bay của chúng ta quá nhanh cho nên con mới có cảm giác nóng bỏng như vậy.

    Dương Sinh: Thưa, khi lên tới cõi trời có còn không khí chăng?

    Tế Phật: Con chẳng từng nghe phi hành gia lái phi thuyền vượt ra khỏi tầng khí quyển, toàn thân họ phải bọc kín, cùng mang theo bình dưỡng khí để hít thở còn không chẳng thể sống nổi. Hiện thời người trần còn bất lực trong việc đem thân xương thịt lên sống tại cõi trời, cần phải tu tới mức thân trở thành kim cương mới mong thích ứng nổi, còn thân trần thế tới đây hẳn biến thành xác chết cứng đơ. Do đó hi vọng người đời nghĩ tới việc tu đạo để khi thành đạt dời được chỗ ở của mình lên chốn hư vô, có đem tâm phóng vào cõi thái hư mới có thể nhẹ nhàng tiêu dao và tồn tại ở nơi đó được. Con từng biết chỉ trong nháy mắt là lên tới mặt trăng, tư thái phơi phới sống đời hồn nhiên tự tại của các vị Tiên Phật đã chứng minh nguyên lí chỉ có khí thanh mới lên cao nổi mà thôi. Vì vậy Tiên Phật đã luyện tinh hóa khí, khí hóa thần, thần trở về hư không đại định, luyện thân xác thành thân pháp, nhìn sắc như không cho nên khi tới đây mới dễ dàng thích ứng với hoàn cảnh sống ở tại thiên đường. Mong người đời ghi nhớ rõ điểm này. (3)

    Dương Sinh: Thưa ân sư, vũ trụ tạo hóa cớ sao lại kì diệu đến như vậy được?

    Tế Phật: Tạo hóa đã đem các tinh cầu sắp xếp có trật tự trong vũ trụ, cho nên cứ theo đường quỹ đạo mà vận hành, hấp lực của lòng đất sinh ra các luồng đại từ trường, từ trường phát ra sóng điện để giữ cho các tinh cầu luôn luôn vận chuyển đúng đường, không va chạm cọ xát lẫn nhau. Đó là sự sắp xếp vô cùng khéo léo và vĩ đại của đấng thần linh chủ tạo vật. Thế giới ngày nay nhờ khoa học kĩ thuật tiến bộ đã chế tạo được phi thuyền thám hiểm các hành tinh, có thể nói là đã đoạt mệnh trời vì giống như kẻ không tu tâm sửa tính lại được mở huệ nhãn nhìn thấu thế giới khác một cách tỏ tường. Dựa vào phương tiện của khoa học để tìm hiểu không gian, bất quá chỉ thấy được cái hình chất thấp kém bề ngoài, còn cái hồn sống cao siêu của các cõi trời lại bất lực, vô phương tìm hiểu, chẳng khác nào kẻ nhìn mặt đại dương bao la chỉ thấy một màu xanh biếc, sâu thẳm, còn đáy biển chất chứa biết bao điều bí ẩn của trời đất thử hỏi làm sao nhìn thấy được hết?

    Dương Sinh: Thưa, ân sư vừa tiết lậu những điều cực bí ẩn của vũ trụ, con mới được nghe lần đầu, nếu như đem công bố cho cả thế gian đều biết hẳn là ngàn đời còn mãi lưu truyền.

    Tế Phật: Nói về thiên cơ thì vô cùng, những điểm tiết lộ vừa rồi chỉ mới là một chút đấy thôi, còn biết bao nhiêu điều bí ẩn khác có thể cung cấp cho người đời thấu tỏ. Hai thầy trò mải mê bàn luận lẽ đạo, thoáng giây đã tới trước cửa cung Thái Thanh. Bữa nay chốn này yên lặng vắng vẻ vô cùng, bên gốc cây, trong nhà mát nơi nơi các đạo sĩ hài đồng nét mặt ân đức từ bi đều ngồi nhắm mắt dưỡng thần, không vương tà khí, ngời sáng vẻ thiên chân.

    Dương Sinh: Thưa ân sư, toàn thân các vị đó đều tỏa sáng, không rõ họ tu luyện theo pháp môn nào?

    Tế Phật: Họ đang vận chuyển “huyền công” tâm rỗng tựa hư không, đó là cách sử dụng đạo hạnh tối thượng thừa, hết sức tự nhiên như viên ngọc quý không vương chút bụi trần, chỉ tỏa chiếu hào quang sáng ngời. Chúng ta không thể ở tại đây lâu phải mau vào cung thỉnh giáo Đạo Tổ.

    Dương Sinh: Thưa hay lắm, con trâu xanh một sừng thảnh thơi bên gốc cây coi vẻ rất an nhiên tự tại.

    Tế Phật: Trâu này không phải là trâu phàm, vì mỗi cử chỉ đều biểu lộ phong thái chân tu. Chúng ta phải vào trong điện lắng nghe Đạo Tổ thuyết pháp để mở trí.

    Dương Sinh: Thưa vâng... Ngu sinh xin cúi lạy Đạo Tổ, bữa nay theo ân sư tới đây để kính xin Đạo Tổ ban lời chỉ giáo.

    Đạo Tổ: Miễn lễ, hai vị trải bao gian lao khổ cực mới tới được nơi đây, xin mời ngồi. Đạo đồng mau dâng rượu ngọc Quỳnh Tương.

    Đạo Đồng: Xin tuân lệnh... Đã dâng lên, kính mời Tế Phật cùng Dương Thiện Sinh dùng.

    Dương Sinh: Cảm tạ Đạo Tổ đã quá ưu ái và hậu đãi.

    Đạo Tổ: Chớ khách sáo, hai vị bữa nay lại quá bộ tới thăm nơi này tôi rất đỗi vui mừng. Tuy sống tiêu dao nơi cõi trời song lòng tôi lúc nào cũng nghĩ ngợi về thế đạo và chúng sinh, thấy người đời hiện nay kẻ giữ đạo đức rất hiếm nên tôi luôn luôn ráng sức cứu độ các sinh linh trở về nguồn cội. Nay nhờ Thánh Hội do Tam Tào triệu tập đã quyết định tiết lộ phong cảnh thiên đường tươi sáng hầu hướng dẫn chúng sinh trở về trời thực quả là may mắn. Tôi càng vui mừng hơn nữa khi thấy hai vị có được cái vinh dự lãnh trách nhiệm viết sách Thiên Đường Du Kí, hiện tại nhiệm vụ kể cũng khá nặng nề vì đường đi tới mục đích quá xa. Tôi tiết lậu cơ huyền vi của thiên địa tạo hóa là cốt giúp chúng sinh tỏ rõ ngả về trời, vậy xin hứa hết lòng bày giải cùng người đời để khỏi phụ lòng trời xanh trông cậy.

    Dương Sinh: Hiện tại người đời phần lớn vật chất dư thừa nhưng tinh thần lại trống rỗng, do đó việc tu dưỡng tính tình để tâm thần được yên ổn rất là cần thiết, nhưng khổ nỗi chẳng rõ cái lí của đạo ra sao để mà tu luyện cho có kết quả. Vậy kính mong Đạo Tổ chỉ giáo cho.

    Đạo Tổ: Đường lối tu đạo tuy có hàng ngàn vạn pháp môn nhưng cuối cùng không thể không nghĩ tới thiên đường cực lạc. Do đó, muốn tu đạo trước phải lo hiểu rõ lẽ đạo mới mong tránh khỏi tu luyện một cách mù quáng (yêu tu đạo tiên tu liêu giải đại đạo nguyên do phương miễn manh tu hạt luyện) tốn hao nhiều mồ hôi mà lại lầm đường lạc lối thì thật quả là đáng tiếc. Điểm quan trọng hàng đầu của việc tu đạo là phải có duyên, kẻ vô duyên chẳng thể thức tỉnh đạo tâm, không thức đạo tâm chắc chắn rớt vào cõi mênh mang mờ mịt, chẳng thể tìm được chốn nghỉ. Chưa kể cái thế vận hành của đạo mỗi thời đại lại đổi khác, kẻ không rõ được sự vận hành của trời thì tuy có duyên song cũng vô phương đắc nổi đạo. (4) Giống như kẻ hỏi đường nhưng không rõ giờ xe khởi hành, tới lúc đến được trạm xe thì xe đã rời bến từ lâu. Thế mới biết tuy có duyên nhưng vì không rõ được thời vận thành ra uổng phí rất nhiều công phu mà vẫn chẳng thể đi vào đường đạo, do đó cần phải hiểu rõ vận trời để còn biết đường mà tiến thoái. Tu đạo không khó nhưng cần phải thận trọng từng bước, vì chỉ cần lơ đễnh một chút là có thể gặp hiểm họa. Kẻ đi vào đường đạo phải kĩ lưỡng từng chút, nếu như phản quy tắc, không những bị câu lưu xử tội mà còn nguy hiểm tới tính mạng. Người tu đạo tuân theo lí đạo giống như kẻ đi đường càng đi càng thêm can đảm, cuối cùng đạt mục đích hồi nào không hay; còn như phản đạo giống kẻ đi đường càng đi càng sợ hãi, chẳng thể gặp được sinh lộ mà gặp ngay tử lộ, bởi vậy người tu đạo phải hết sức thận trọng vậy.

    Dương Sinh: Thưa con không được rõ tu tới cảnh giới tối cao “Tam Hoa Tụ Đỉnh, Ngũ Khí Triều Nguyên” đạt đạo quả “Kim Tiên” là như thế nào?

    Đạo Tổ: Đạo Tiên lấy Kim Tiên là cực phẩm, tức là Vô Cực Kim Tiên, tới được mức này không còn sống chết, vĩnh viễn thoát vòng luân hồi. Tam Hoa Tụ Đỉnh, Ngũ Khí Triều Nguyên là công phu đạt tới mức tối thượng thừa của đạo gia, nếu không tu được tới mức đó hẳn là vô phương vào được cảnh giới Kim Tiên và Vòng Tròn Vô Cực. Xin tạm giảng giải ý nghĩa siêu diệu của Tam Hoa Tụ Đỉnh và Ngũ Khí Triều Nguyên như sau:

    I. TAM HOA TỤ ĐỈNH

    1) Nhân hoa (hoa người)
    : Luyện tinh hóa khí. Người vốn do sự hòa hợp của tinh mà sinh sản, cho nên tinh là chủng tử của luân hồi. Kẻ tu đạo, tâm phải lìa được “hạ tiêu” (tức là đường dẫn khí nằm ở phía trên bàng quang chủ về phân biệt thanh trược, chỉ ra mà không vào), có diệt trừ được dâm dục thì tinh mới không xuất, có quên được chuyện dâm dục thì tinh mới đầy và “hoa chì” mới nở.

    2) Địa hoa (hoa đất): Luyện khí hóa thần. Người ta sống được là nhờ ở khí, kẻ tu đạo tâm phải lìa được “trung tiêu” (tức mạch dẫn khí nằm ở lằn trong bao tử) thì không kinh không sợ, không oán không giận, ắt khí hòa thuận bình yên, đạo thông suốt, trung khí đủ thì không nghĩ tới ăn, “hoa bạc” mới nở.

    3) Thiên hoa (hoa trời): Luyện thần hoàn hư. Tinh khí tuy đủ song không có thần ắt thân thể không có ánh sáng thì kể như chết cho nên thần là chủ tể. Kẻ tu đạo, tâm lìa được “thượng tiêu” (tức mạch dẫn khí nằm ở phía trên bao tử) mới không chấp trước, thần mãn túc thì không còn nghĩ tới ngủ, hồn trong lắng tỉnh táo ắt thoát xác trở về hư vô, vào cảnh giới hư không và “hoa vàng” bừng nở. (5)

    II. NGŨ KHÍ TRIỀU NGUYÊN

    1) Tâm (tim)
    : Chứa thần, hậu thiên là thần thức, tiên thiên là “lễ” (phép tắc), không buồn thương ắt thần định là Xích đế (vua đỏ hay lửa) ở phương nam là hỏa khí triều nguyên.

    2) Can (gan): Chứa hồn, hậu thiên là du hồn, tiên thiên là “nhân” (lòng thương), không vui sướng ắt thần định là Thanh đế (vua xanh) ở phương đông vì mộc khí triều nguyên. (6)

    3) Tì (lá lách): Chứa ý, hậu thiên là vong ý (quên ý tưởng), tiên thiên là “tin” (tin tưởng), không tham dục ắt ý định là trung ương hoàng đế vì thổ khí triều nguyên.

    4) Phế (phổi): Chứa phách, hậu thiên là quỷ phách, tiên thiên là “nghĩa”, không giận ắt phách định là Bạch đế ở phương tây vì kim khí triều nguyên. (7)

    5) Thận (cật): Chứa tinh, hậu thiên là trược tinh, tiên thiên là “trí”, không vui sướng ắt tinh định là Hắc đế ở phương bắc vì thủy khí triều nguyên. (8)

    Trên đây là cái lẽ Tam Hoa Tụ Đỉnh và Ngũ Khí Triều Nguyên. Nói khác đi người tu đạo thì ngũ hành trở về ngũ lão, tam hoa hóa tam thanh, quy hoàn bản thể Vô Cực (9), đạt cứu cánh viên thông. Tu pháp quả không khó, giữ tinh khí thần, tôn nhân nghĩa lễ trí tín, không đau buồn vui sướng dâm dục giận hờn, ắt bản tính tự tại thành tựu được quả vị Kim Tiên. Do đó mới nói người ta có thể tu tâm dưỡng tính để thân tâm mình không còn một chút khuyết điểm, có thể tự do qua lại ở chốn thế gian mặc dù có muôn ngàn luật lệ đặt ra vẫn không trói buộc được mình, tự nhiên siêu thoát ba cõi, ra khỏi ngũ hành. Đó chính là cái lí của Tam Hoa Tụ Đỉnh và Ngũ Khí Triều Nguyên. Tam Hoa Ngũ Khí là một loại thần khí thăng hoa, khi kết tụ làm một có thể rung trời chuyển đất hết sức dễ dàng, thần thánh cũng không ngăn nổi, tự nhiên thành tựu được quả vị tối cao là Đại La Kim Tiên.

    Dương Sinh: Cảm tạ Đạo Tổ đã khai sáng trí huệ cho ngu sinh, thưa còn con trâu xanh ở bên ngoài cung Thái Thanh lai lịch của nó thế nào? Ngài có thể giới thiệu qua về nó được không?

    Đạo Tổ: Dương Sinh muốn biết rõ lai lịch tôi có thể trình bày sơ qua vài điểm như sau: Sự tích Lão Tử cưỡi trâu xanh qua cửa ải Hàm Cốc thì tiền thân của trâu chính là Mộc Công Thanh Đế ở phương đông hóa thành. Còn tôi hóa thân làm Lão Tử ở Á Đông, lãnh sứ mạng phổ độ chúng sinh khắp cõi này. Các nước Á Đông vốn lấy nghề nông làm nền tảng duy trì và phát triển quốc gia, vì hầu hết dùng trâu canh tác cho nên việc tôi cưỡi trâu xanh tượng trưng cho sự giúp đời. Tôi hóa làm Lão Tử truyền đạo để giáo hóa chúng sinh và đã cưỡi trâu xanh qua ải Hàm Cốc trao lại cho ông lão canh ải tên là Y Hỉ cuốn Đạo Đức Kinh gồm năm ngàn chữ. Rồi sau đó tôi lại hóa thân qua Ấn Độ khai mở trí huệ cho dân tộc này khiến họ thờ bò, coi bò là thánh. Đó là nguyên nhân sâu xa của sự thần hóa từ bao ngàn năm trước mà người đời giờ đây mới rõ. Nhân loại hiện thời đa số được trâu bò nuôi lớn, như sữa trẻ con bú là chất tiết ra từ cơ thể bò, vả lại lượng thực phẩm nuôi nhân loại mỗi ngày một sút giảm nên phải dùng sữa bò thay thế trong nhiều trường hợp, và cũng bởi ăn uống lâu ngày nên nhiều kẻ nhiễm tính trâu bò. Loài người rớt xuống hậu thiên sinh trưởng trên mặt đất là do trâu bò hóa kiếp cho nên không lấy làm ngạc nhiên ở điểm đạo tâm khác nhau, tính tình ngày một đổi khác. Mong rằng sau khi nghe tôi thuyết pháp sẽ đội ơn trâu bò, lần lần biết giữ đạo tâm mới không phụ việc tôi hóa thân cứu độ chúng sinh. Còn tại sao trâu lại một sừng? Đó là vì đạo của tôi có một không hai, trên trời dưới đất chỉ có mỗi đạo là độc tôn thôi.

    Tế Phật: Xin cảm tạ những lời Đạo Tổ vừa chỉ giáo. Vì thời giờ eo hẹp, tôi phải đem Dương Sinh trở lại Thánh Hiền Đường, xin bái từ.

    Dương Sinh: Lạy tạ Đạo Tổ đã ban lời vàng ngọc, vì thời giờ gấp gáp, con phải theo ân sư Tế Phật trở về Thánh Hiền Đường, xin bái biệt.

    Đạo Tổ: Mong hai vị còn có cơ hội trở lại nơi đây.

    Tế Phật: Còn duyên còn gặp lại.

    Đạo Tổ: Ra lệnh cho các đạo đồng hàng ngũ chỉnh tề đưa tiễn.

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:23 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    January 26th 2010, 1:16 am
  • HỒI SÁU

    DẠO CUNG THƯỢNG THANH NGHE LINH BẢO THIÊN TÔN THUYẾT PHÁP

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày mồng 6 tháng 6 năm Kỉ Mùi (1979)


    Thơ

    Thiên hoa pháp vũ chấn mê trầm
    Tĩnh thổ tiêu dao lạc đạo thâm
    Thánh Phật tây thiên quan tự tại
    Tiên chân ngọc điện thính dao cầm.

    Dịch

    Hoa trời mưa pháp tỉnh mê lầm
    Chốn vắng tiêu dao vui đạo tâm
    Thánh Phật trời tây xem tự tại
    Thần tiên điện ngọc lắng nghe đàn.

    Tế Phật: Người đời đều yêu hoa vì hương sắc của hoa diễm lệ nhưng tiếc một điều hoa hạ giới mau tàn. Ngược lại trên trời hoa tiên nữ cúng dâng chư Tiên Phật bốn mùa không héo úa, tám tiết chẳng rụng rơi, mãi mãi tươi thắm sắc màu, thơm ngát nhụy hương. Người trần ai cũng thích không khí trong lành nhưng trược khí thế gian mỗi ngày một dày đặc mà vẫn phải hít thở, ngàn năm một thuở gặp mưa pháp đổ xuống, mùa xuân bừng nở khắp nơi trên mặt đất khiến tâm hồn tươi mát, ý tưởng trong lành. Hai loại khí thanh trược quả đã phân biệt rõ ràng, cái khí thanh nhẹ bốc lên cao làm trời, khí nặng trược đọng xuống làm đất. Mong thế nhân lo giữ gìn tinh thần sao cho thật thanh nhẹ, trừ bỏ phiền não tục tình, mới có thể siêu thăng cõi thái hư cực lạc, tránh khỏi cái ngày bị đọa chốn tối tăm. Dương Sinh chuẩn bị lên đường, bữa nay mình lại dạo xem phong cảnh Thiên Cung để “quan quang” (xem ánh sáng).

    Dương Sinh: Xin tuân lệnh... Con đã sửa soạn xong, mời ân sư lên đường. Thưa ân sư vừa nhắc tới hai tiếng “quan quang” (xem ánh sáng) song con chưa lãnh hội được hết ý nghĩa, vậy kính mong ân sư giảng giải thêm để cho con được tận tường.

    Tế Phật: Ha ha, con vừa nói dứt hai tiếng “quan quang” (xem ánh sáng) điện trong Thánh Hiền Đường tắt ngấm, mọi người trở thành “quan âm” (xem bóng tối) thì quả thực hàm ngụ quá nhiều ý nghĩa. (1)

    Dương Sinh: Thưa ân sư, lí do tại sao?

    Tế Phật: Con hỏi vậy là bởi tâm con còn động vì Phật pháp vừa rồi tạm thời cúp điện mười lăm giây là cốt để mở trí cho các đệ tử của Thánh Hiền Đường nên sự kiện này ngụ ý rất sâu xa. Và mặc dù ở trên không trung thầy đã thấy rõ được các đệ tử trong Thánh Hiền Đường ngơ ngác kiếm tìm ánh sáng nên đã đốt nến soi la bàn, vì tưởng rằng soi như vậy sẽ thấy được ngọn bút giáng cơ viết gì, bởi vậy thầy gọi hành động đó là “quan quang” (coi ánh sáng). Nhưng thật ra hai tiếng đó có nghĩa là hướng tới chỗ sáng sủa để nhìn cho rõ cảnh tượng sáng tươi của đại tự nhiên. Hiện thời thế giới khoa học kĩ thuật phát đạt, gần thì trong nước, xa thì ngoài nước, khắp nơi mọi người đều lợi dụng cơ hội này để “quan quang” (coi ánh sáng), như vậy chẳng đã lìa bỏ ánh sáng của chân tâm đi tìm ánh sáng từ bên ngoài đó sao? Ha ha, những kẻ ham tới chốn ăn chơi, lao mình vào phòng tối mong tìm ánh sáng, ta đều gọi họ là những kẻ “quan âm” (tìm coi bóng tối). Người đời bây giờ chỉ mong xem ánh sáng của muôn ngàn thứ hình danh sắc tướng ở cõi nhân gian là bởi họ không biết rằng phong quang nơi cõi trời còn đẹp đẽ tươi sáng gấp vạn lần hơn, nên chẳng nghĩ đến việc lên trên đó thưởng lãm. Bữa nay thầy lại hướng dẫn con tới cung điện nhà trời mới chính thức là không cần dùng lửa đèn cầy soi rọi để “quan quang”.

    Dương Sinh: Thưa, con quả là có phước nên mới may mắn được là khách “quan quang”.

    Tế Phật: Đúng đó, sau này con còn có thể hướng dẫn muôn ngàn người tới đây, khi đó mới thật sự khám phá ra một lục địa mới cực kì vĩ đại.

    Dương Sinh: Cảm tạ ân sư.

    Tế Phật: Chúng ta mau tới Linh Sơn để tỏ Trời rõ Phật, còn người đời cũng vậy, muốn lên được thiên đường, chỉ cần có lòng tu đạo lớn ắt là được thỏa mãn vậy. Hiện thời đã tới cung Thượng Thanh tại cõi trời, bữa nay thầy trò mình sẽ bái kiến đức Linh Bảo Thiên Tôn. Dương Sinh hãy mau chuẩn bị lạy chào ra mắt ngài.

    Dương Sinh: Xin vâng lệnh... Tới nơi này lòng con tự nhiên khoan khoái nhẹ nhàng, không còn vương chút bụi trần, phía trước có một tòa cung điện nguy nga sừng sững trong mây, chung quanh hàng hàng lớp lớp lầu gác bao bọc, ánh vàng tỏa chiếu bốn phương. Các cung điện thảy đều phủ bạc, dát vàng, nạm ngọc khác hẳn nhà cửa chốn dương gian làm bằng gạch ngói gỗ tre, mắt nhìn lòng hân hoan vô kể, chẳng thể nào tả hết vẻ trang nghiêm tráng lệ. Hoa trời ngào ngạt, mưa pháp thấm đượm tùng bách biếc xanh không vướng chút khổ não trần gian, hạc trắng đậu trên cây ngô đồng, cá vàng bơi dưới ao trời, phong cảnh sáng tươi kì ảo khiến khách lưu luyến quên về. Xin hỏi ân sư tại sao cung Thượng Thanh muôn vàn ánh hào quang lại ngời chiếu bất tuyệt thế kia?

    Tế Phật: Vì đức Linh Bảo Thiên Tôn thuyết pháp để cho con hấp thụ “pháp quang” của ba mươi sáu sao Thiên Cương (Bắc Đẩu) và bảy mươi hai sao Địa Sát chuyên giữ nhiệm vụ vận chuyển ba ngàn đại thiên thế giới. Chúng ta mau vào cung lạy chào ra mắt đức Thiên Tôn.

    Dương Sinh: Đạo Đồng hàng ngũ chỉnh tề hai bên giống như nghênh đón chúng ta.

    Đạo Đồng: Hoan nghênh Tế Phật cùng Dương Thiện Sinh tới thăm, đức Thiên Tôn ban lệnh đón rước hai vị.

    Dương Sinh: Vào trong thấy một vị đạo trưởng ngồi giữa chính điện, toàn thân ngời tỏa hào quang vẻ mặt hiền từ nhân đức, mỉm cười nhìn chúng tôi. Lạy chào ra mắt đức Thiên Tôn, ngu sinh phụng chỉ theo thầy dạo cõi thiên đường viết sách, bữa nay được tới thăm phong cảnh tiên thánh Tam Thanh, kính xin đức Thiên Tôn ban ân chỉ giáo.

    Thiên Tôn: Miễn lễ... Mời hai vị ngồi, Tiên Đồng mau đem rượu ngọc Quỳnh Tương dâng hai vị.

    Dương Sinh: Cảm tạ đức Thiên Tôn đã quá ban ân, lòng con thật cảm kích.

    Tế Phật: Thưa bữa nay tôi hướng dẫn đồ đệ tới cung Thượng Thanh kính xin đức Thiên Tôn ban lời giáo huấn để chỉ rõ bến mê cho.

    Thiên Tôn: Đúng vậy, thần và người thuộc quý Hiền Đường đã nhận chân công tác, ra sức truyền bá đạo Thái Thượng, ban bố Khổng Giáo, dạy pháp Như Lai, công cứu độ chúng sinh đã sâu dày, bữa nay lại còn lặn lội tới chốn Thượng Thanh cầu mong tôi ban truyền Linh Bảo chánh pháp thật quả là hết lòng vì đạo. Tôi ngự tại điện Tam Thanh chuyên gìn giữ đạo pháp nên thấy rõ muôn pháp ở thế gian chẳng thể vượt khỏi pháp của ba mươi sáu sao Thiên Cương cùng thuật của bảy mươi hai sao Địa Sát. Và tôi dám chắc trên đời chẳng một ai có thể hiểu rõ được hết pháp thuật này, vả lại hiện thời thế đạo nhân tâm sa sút, giả sử như có kẻ thông suốt được thì chắc chắn cũng sẽ đem sử dụng vào các việc bất chính. Bởi không tuân hành giới luật của Thiên Tôn nên dẫu có tu đạo đức của Thái Thượng và hành pháp thuật cứu thế của Linh Bảo chăng nữa cũng chỉ trọng đạo mà không trọng pháp. Kẻ nắm pháp thuật lần lần đi vào đường tà đạo, không chịu tu tâm sửa tính, gần đây pháp thuật bị thất truyền ở thế gian là vì tôi đã thâu hồi về cung Thái Thượng. Pháp thuật ba mươi sáu sao Thiên Cương và bảy mươi hai sao Địa Sát là pháp thuật bao la Vô Cực, gồm thâu các pháp về một mối cũng như phổ cập tới khắp mọi con tim. Bữa nay Dương Sinh được ban truyền tâm pháp này thì có thể đem ứng dụng trong mọi hoàn cảnh. Tôi vì muốn độ các nguyên linh về trời nên mới đặc biệt ban pháp này, trong ba cõi đất trời người chỉ có đạo là độc tôn, trong sáu hướng đông tây nam bắc và trên dưới chỉ có pháp là không hai. Bởi con người thời nay tán tận lương tâm, chôn vùi đạo pháp nên sợ kẻ tâm thuật bất chính đem dùng để hại người cho nên tôi mới thâu hồi đạo pháp, chỉ truyền cho pháp thuật khoa học để bổ túc đạo học còn khiếm khuyết mà thôi. Pháp của ba mươi sáu sao Thiên Cương và thuật của bảy mươi hai sao Địa Sát đại lược như sau:

    I. PHÁP CỦA BA MƯƠI SÁU SAO THIÊN CƯƠNG

    1) Tạo hóa xoay vần
    2) Âm dương điên đảo
    3) Thay đổi sao trời
    4) Xoay chuyển mặt đất
    5) Gọi gió kêu mưa
    6) Lay núi rung đất
    7) Cưỡi gió đè mây
    8) Lấp sông thành bãi
    9) Hào quang ngập đất
    10) Biển sông nổi sóng
    11) Chỉ đất thành gang
    12) Ngũ hành chuyển biến
    13) Sáu phép cửa lạ
    14) Lén biết tương lai
    15) Phá non dời đá
    16) Chết rồi sống lại
    17) Bay mình lưu dấu
    18) Chín thở thâu khí
    19) Từ gốc bung ra
    20) Rồng giáng hổ quỳ
    21) Vá trời chứa mặt trời
    22) Dời non lấp biển
    23) Trỏ đá thành vàng
    24) Đứng không thấy bóng
    25) Thai hóa thành hình
    26) Lớn nhỏ đồng lòng
    27) Hoa nở khoảnh khắc
    28) Thần khí dạo chơi
    29) Cách tường nhìn thấu
    30) Hồi gió phản lửa
    31) Nắm giữ năm sấm
    32) Lặn giếng chui đất
    33) Tung cát quăng đá
    34) Nhổ núi dựng biển
    35) Tung đậu biến thành quân
    36) Cây đinh hóa bảy mũi tên (2)

    II. THUẬT CỦA BẢY MƯƠI HAI SAO ĐỊA SÁT

    1) Tỏ tối tăm (3)
    2) Đoạt hồn
    3) Gánh núi
    4) Ngăn nước
    5) Mượn gió (4)
    6) Trải sương
    7) Cầu nắng
    8) Cầu mưa
    9) Ngồi trên lửa
    10) Lặn dưới nước
    11) Che mặt trời
    12) Cưỡi gió (5)
    13) Nấu đá
    14) Phun lửa
    15) Nuốt dao
    16) Chứa trời đất trong bầu
    17) Đi như gió
    18) Đi trên nước
    19) Tung gậy
    20) Phân thân
    21) Tàng hình
    22) Mọc đầu khác
    23) Định thần
    24) Chém yêu quái
    25) Mời mọc tiên
    26) Truy hồn
    27) Bắt hồn
    28) Vời mây
    29) Bắt trăng
    30) Chuyển dời
    31) Nằm mộng
    32) Lìa xa
    33) Gởi gậy
    34) Ngăn nước
    35) Giải tai ương
    36) Cứu nguy khốn
    37) Vàng trắng
    38) Kiếm thuật
    39) Phản xạ
    40) Đi dưới đất
    41) Thuật tính sao (6)
    42) Bày biện
    43) Trá hình
    44) Phun hoa
    45) Trổ hoa
    46) Quật mồ
    47) Di bóng
    48) Dụ tới
    49) Dấu tích
    50) Gom thú
    51) Chia chim
    52) Cấm khí
    53) Sức lớn
    54) Xẻ đá
    55) Tạo ánh sáng
    56) Màn mùng y phục
    57) Hướng dẫn
    58) Ăn mặc
    59) Khám phá
    60) Băng núi
    61) Lú mầm
    62) Lên cao
    63) Uống nước
    64) Nằm tuyết
    65) Phơi nắng
    66) Tung vật
    67) Phù thủy
    68) Y dược
    69) Biết thời
    70) Rõ đất
    71) Trừ lửa
    72) Dẹp khẩn cầu (7)

    Giờ dẫn pháp của ba mươi sáu sao Thiên Cương để thấy rõ sự tương đồng xưa và nay như sau:

    1. Người xưa có phép làm điên đảo âm dương; người nay từ khi có đèn điện, đêm đen có thể biến thành ngày sáng, đem so sánh sự náo nhiệt sáng sủa của đêm thành thị với ban ngày thì quả đêm tối hơn hẳn.

    2. Người xưa có phép cưỡi gió đè mây; người nay ngồi phi cơ vượt tầng mây, đó là sự biến hóa pháp của khoa học kĩ thuật.

    3. Người xưa có phép đổi vật dời sao; người nay có thể thay tim thay thận. Lại còn có thể thay đổi ngũ tạng giữa người và chó khỉ.

    4. Người xưa có phép ẩn trốn trong ngũ hành là kim mộc thủy hỏa thổ; người nay ẩn trong nước có tiềm thủy đỉnh, trong sắt có phản lực cơ, trong đất có đường hầm.

    5. Người xưa có phép tiên đoán để biết trước tương lai; người nay có đủ các thứ máy móc tối tân nên có thể trắc nghiệm tương lai thời tiết cùng khí hậu.

    6. Người xưa có phép tàng hình; người nay có máy bay xe lửa, chỉ trong khoảnh khắc có thể băng mình tới địa điểm khác.

    7. Người xưa có phép dời non lấp biển; người nay có thể dùng các thứ chất nổ cùng máy móc tối tân để đào núi lấp sông.

    8. Người xưa có phép khuất phục rồng cọp vâng lời; người nay có roi điện để dạy dỗ chúng làm theo ý muốn.

    9. Người xưa có phép gây sấm sét; người nay chỉ cần gài bom rồi nhấn nút là long trời lở đất.

    10. Người xưa có phép nhìn xuyên tường vách; người nay có máy truyền hình, truyền thanh nên các hình ảnh và tiếng nói cách xa hàng ngàn dặm vẫn có thể nhìn tận mắt nghe tận tai.

    11. Người xưa có phép ném đậu thành quân; người nay dùng trái nổ thiệt nhỏ như hạt đậu mà có thể thay thế một người lính để giết quân thù.

    Trên đây là bảng lược thuật pháp của ba mươi sáu sao Thiên Cương xưa và nay. Còn dưới đây xin dẫn chứng thêm về thuật của bảy mươi hai sao Địa Sát như sau:

    1. Mượn gió - Máy điều hòa không khí, quạt máy.
    2. Trải móc - Máy đông lạnh.
    3. Gây mưa - Làm mưa nhân tạo.
    4. Đi dưới nước - Thợ lặn.
    5. Đi trên nước - Trượt nước, trượt tuyết.
    6. Đàm đạo với Tiên - Giáng cơ bút.
    7. Khiến trăng hiện trên vách - Nhiếp ảnh, điện ảnh.
    8. Chuyển dời - Cầu thang máy, cầu chuyển đồ tự động.
    9. Ngăn nước - Đắp đê, xây đập.
    10. Giả hình - Chỉnh hình, hóa trang.
    11. Cảnh vật - Quay phim, chiếu bóng.
    12. Dùng pháp thuật điều khiển tới lui - Nhấn nút điện điều khiển.
    13. Sức lớn mạnh - Người máy.
    14. Xuyên đá - Khoan điện, trái phá.
    15. Ánh sáng - Đèn điện.
    16. Y dược - Đông Tây y cùng thuật giải phẫu.
    17. Biết thời - Đồng hồ.
    18. Rõ đất - Bản đồ, bảng chỉ đường.

    Trên là bản lược thuật các phép của bảy mươi hai sao Địa Sát xưa và nay. Ba mươi sáu sao Thiên Cương và bảy mươi hai sao Địa Sát vốn do khí chính tà của trời đất sinh ra, ngày nay các khoa học gia phụng mệnh trời giáng phàm để đổi đời, nếu như biết đem khoa học phụng sự hòa bình thì sẽ mang lại hạnh phúc cho loài người, còn nếu như cam phận làm đầy tớ cho chiến tranh thì hẳn là nhân loại sẽ bị tận diệt. Giả sử thuốc nổ đem phá núi để lấy đá làm đường xã hội sẽ được hưởng phước vô kể, còn nếu đem chế bom đạn để đánh nhau thì gieo tai họa chẳng thể lường. Hiện thời khoa học kĩ thuật tiến bộ đã chế tạo biết bao thứ vũ khí giết người như hỏa tiễn, bom nguyên tử, tia sáng, v.v... hiểm họa tàn sát sinh linh nhiều vô cùng kể này là do chính loài người tự rước tà khí, hay sao Địa Sát đầu thai để cảnh tỉnh thế nhân?

    Thế mới biết lòng người đời nay kém xa đời trước cho nên chốn thế gian mới tự chuốc tà khí của trời đất cùng các sao Địa Sát, song nhân loại vẫn có thể hưởng phúc lộc vô biên vô tận vì sự tồn vong của mọi sinh linh chỉ trong một sớm một chiều, nếu như trời cao không có lòng nhân thì quả thực là tính ác của con người tự chuốc lấy hiểm họa vậy. Hi vọng chúng sanh nghe ta thuyết pháp mau tỉnh thức, từ bỏ ý chém giết để tránh cho nhân loại khỏi bị tận diệt vì tà khí sao Địa Sát bộc phát, gây nên cuộc trời đất tan hoang. Người đời nếu như có lòng lo xây dựng cuộc sống hạnh phúc tồn tại lâu dài, vun bồi thanh khí hòa bình thì sự phát triển khoa học kĩ thuật tại cõi thế gian chính là cơ báo trước của trời xanh giúp cho thế giới đi tới đại đồng. Khoa học kĩ thuật phát triển, đời sống trần gian trở thành thiên đường, con người lui tới ngao du thế giới thảnh thơi, cơm ăn, áo mặc, chốn ở, nơi đi, hết thảy đều đầy đủ tiện nghi, đời sống của con người ở cõi thế gian có khác chi đời sống của chư Tiên Thánh Phật, đó là hiện tượng trời cao cứu độ chúng sinh.

    Dương Sinh: Lạy tạ những điều đức Thiên Tôn vừa khai tâm mở trí, ân đức quá sâu dày, được nghe đức Thiên Tôn chỉ dạy một lần hơn cả mười năm học sách. Tình hình thế gian hiện thời cũng đều do sự an bài tuyệt diệu của đức Thiên Tôn, quả là không thể nghĩ bàn nổi.

    Tế Phật: Quả là tuyệt diệu, tuyệt diệu. Chúng tôi xin cáo biệt.

    Dương Sinh: Xin bái từ đức Thiên Tôn.

    Thiên Tôn: Lệnh cho các Tiên Đồng hàng ngũ chỉnh tề đưa tiễn.

    Tiên Đồng: Kính tiễn hai vị trở lại Thánh Hiền Đường.

    Dương Sinh: Lạy tạ đức Thiên Tôn cùng chư vị Tiên Đồng. Thưa con đã sẵn sàng, kính mời ân sư trở lại Thánh Hiền Đường.

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.




    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:23 pm với 3 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    January 26th 2010, 4:22 pm
  • HỒI BẢY

    DẠO SÔNG TAM THANH NGHE HÀ THƯỢNG CÔNG THUYẾT PHÁP

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 23 tháng 6 năm Kỉ Mùi (1979)


    Thơ

    Tam thanh tứ chính pháp thông linh
    Ngũ khí triều nguyên chuyển đạo kinh
    Thủy hỏa tương giao hồi thánh giới.
    Tu tâm sửa tánh thượng thiên đường.

    Dịch

    Tam thanh tứ chính pháp làu thông
    Ngũ khí triều nguyên đạo tỏ tường
    Nước lửa giao hòa về cõi thánh
    Tu tâm sửa tính tới thiên đường. (1)

    Tế Phật: Tam Thanh là Ngọc Thanh, Thượng Thanh và Thái Thanh cũng còn gọi là Thiên Thanh, Địa Thanh cùng Nhân Thanh. Đạo Đức Kinh nói: “Trời gồm thâu về một ắt trong, đất gồm thâu về một ắt yên, người gồm thâu về một ắt thánh” (2) (Thiên đắc nhất tắc thanh, địa đắc nhất tắc minh, nhân đắc nhất tắc thanh). Thế mới biết Tam Thanh là sự sinh hóa của “Đại đạo nhất lí” tức là lẽ một của đạo lớn vậy. Bữa nay ta lại dẫn trò ngoan Dương Sinh dạo cõi trời để nghe giáo chủ Tam Thanh thuyết pháp. Tam Thanh là Thánh Cổ Hỗn Nguyên đạo pháp lớn vô cùng, cho nên người phàm học pháp ở thế gian muốn giao tiếp cùng quỷ thần ắt phải cung thỉnh Tam Thanh. Tứ chính là chính thân, chính tâm, chính ngôn, chính hành. Người ta phải lo giữ bốn chính này mới mong đắc đạo, cho nên có thể ví tứ chính là chiếc thang mây để leo lên cõi trời. Kẻ học pháp ở chốn thế gian thấy có mang phù hiệu chữ “Cương” (sao Bắc Đẩu) ý là giữ vẹn được bốn chính. “Kinh chân chính” không thiên lệch thì “thân chân chính” mới giáng rồi sau mới kể tới phù hiệu, sự hiển hách của sứ mạng linh thiêng chẳng thể đo lường được, nhưng tiếc rằng điểm này người đời phần đông không rõ. Sự diệu dụng của pháp, thầy chẳng thể nói nhiều được, con hãy nán đợi để xin Linh Bảo Thiên Tôn chỉ dạy tận tường cho. Dương Sinh mau lên đài sen, chuẩn bị dạo cõi trời viết sách.

    Dương Sinh: Xin tuân lệnh, kính mời ân sư lên đường...

    Tế Phật: Ngồi yên trên đài sen hoa tâm bừng nở. Chốn hồng trần khổ hải vì quá ham mê vui sướng nên sinh tai họa, ảo mộng phồn hoa biết ngày nào mới tỉnh? Đảo quý Bồng Lai thiết lập đài cơ bút, Tiên Phật cùng giáng, lí đạo siêu diệu chỉ dạy rành rẽ để cảnh tỉnh mê lầm, giáo hóa ngu muội, cứu độ thế nhân quả là tốt lành lắm thay.

    Dương Sinh: Thưa, mấy câu ân sư vừa chỉ giáo ý nghĩa thật thâm sâu.

    Tế Phật: Văn nông ý sâu, nước cạn đã dễ bắt cá lại không tốn sức cớ sao không vui vẻ làm theo?

    Dương Sinh: Thưa nước cạn chỉ bắt được cá nhỏ nên con sợ phí sức.

    Tế Phật: Ha ha, chỉ có chiếc cần câu nhỏ lại muốn câu cá lớn, e rằng không những chẳng bắt được cá mà còn bị cá lôi xuống biển, và vì nước càng sâu cá càng lặn xa nên việc làm không những vô ích mà còn nguy hại. (3)

    Dương Sinh: Thưa, lời thầy dạy quả là chí lí. A! Phía trước đột nhiên thấy xuất hiện một con sông lớn nước trong suốt, và không rõ tại sao trông giống như ba dòng nhập một.

    Tế Phật: Vì đây là sông Tam Thanh, ở ngoài ba mươi ba tầng trời, cho nên còn gọi là “Thiên Hà” tức sông trời, khúc này là đầu sông nên nước trong suốt, sáng ngời. Bữa trước vì chúng ta bay lướt qua do đó con không thấy rõ cảnh sắc, bữa nay đứng ở đây con mới được nhìn tận mắt.

    Dương Sinh: Bị sông này ngăn đường làm cách nào vượt qua?

    Tế Phật: Hoa sen mọc chốn bùn nhơ không nhiễm, bữa nay đem thả tòa sen này trên sông Tam Thanh sợ rằng nó không vượt qua nổi, bởi lẽ hoa sen ưa thích nước ô uế, nên chỉ ngại không thích ứng nổi nước trong sạch của sông này.

    Dương Sinh: Thưa con không được rõ nguyên nhân tại sao?

    Tế Phật: Vì thiếu chất dinh dưỡng, bởi lẽ hoa sen chuyên hút thở vật ô uế để nuôi lớn cơ thể tinh khiết, bữa nay sông Tam Thanh nước trong vắt tới đáy, thiếu tạp chất nên không thích hợp với hoa sen.

    Dương Sinh: Lí lẽ này con không hiểu nổi, hoa sen là vật trong trắng tinh khiết cớ sao lại chẳng thể thích hợp với nước sông trong sạch này?

    Tế Phật: Con phải hiểu là hoa sen tượng trưng cho Tiên Phật, Tiên Phật có thành được Tiên Phật hay không còn tùy thuộc ở sự cứu độ chúng sinh dưới gầm trời, bởi lẽ chúng sinh đều trầm luân trong cảnh tửu sắc, của cải, danh lợi, ái ân ô uế trần gian, tới hồi đổ nát tan hoang Tiên Phật ắt phải thả thuyền từ cứu độ. Cho nên hoa sen sinh ở bùn nhơ khác nào Tiên Phật sống giữa chúng sinh, vả lại nếu như không có chúng sinh làm sao có Tiên Phật nổi, còn nếu như khi không có chúng sinh ắt cũng phải kêu Tiên Phật là chúng sinh vậy. Cho nên hoa sen ở giữa chốn gió bụi nhơ bẩn nhưng vẫn bảo vệ được phẩm tính thanh bạch của mình, nếu không vậy thì hoa sen đã bị thối nát vì nước đục bùn nhơ mất rồi, chẳng còn mọc nổi cuống lá xanh tươi và nụ hoa thanh bạch. Giả sử phàm tính của chúng sinh đều giống như nước trong sạch của sông Tam Thanh này ắt là hoa sen cũng sẽ héo tàn rơi rụng! Sở dĩ người đời chỉ muốn tính tình trong sạch phẩm giá thanh khiết, bước một bước tới được sông Tam Thanh, cùng đi lại trên mặt nước dễ dàng như đi trên đất, tự mình hóa thân thành đóa sen là bởi kẻ hợp được Tam Thanh làm một ắt là thánh vậy.

    Dương Sinh: Những điều ân sư vừa chỉ dạy thật là chí lí.

    Tế Phật: Trời gồm thâu làm một được thì sinh nước, nước đó chính là nước sông Tam Thanh rớt xuống núi Côn Lôn, chảy tràn thế gian biến thành nước đục là nước sông Hoàng Hà, cho nên có câu: “Ngày nào nước sông Hoàng Hà trong lắng thì có thánh nhân ra đời” (Hoàng Hà trừng thanh chi nhật, thánh nhân xuất yên). Ý nói nước sông Tam Thanh nếu như chảy thẳng xuống trần gian ắt là thần thánh trên trời theo nước đầu thai giáng phàm.

    Dương Sinh: Phía trước đột nhiên xuất hiện một vị lão ông, đang đi trên mặt nước tới, không rõ người đó là ai?

    Tế Phật: Đó là Hà Thượng Công (ông đi trên sông), Dương Sinh mau tiến tới lạy chào ra mắt.

    Dương Sinh: Lạy mừng ra mắt Hà Thượng Công.

    Hà Thượng Công: Miễn lễ, a a người phàm tới sông trời, đã lén đến đây phải không?

    Dương Sinh: Thưa không, đệ tử vốn theo ân sư phụng chỉ dạo cõi trời viết sách, bữa nay tới chốn này vừa được nghe ân sư thuyết pháp, như vậy đệ tử đã đến một cách công khai đâu phải lén lút.

    Hà Thượng Công: Đệ tử không có ý lẻn tới, tôi cũng không ngại đệ tử đến lén, song nếu bàn chân đệ tử không sạch mà bước lên mặt sông Tam Thanh ắt bị nhận chìm ngay, thì thử hỏi khi đó sẽ ra sao? Giờ tôi có ý muốn cứu độ đệ tử, đệ tử nghĩ sao?

    Dương Sinh: Xin đa tạ, đệ tử cầu mong mãi mà không được, giờ tự nhiên Thượng Công giúp bè cứu độ, quả là đệ tử có phước lớn.

    Hà Thượng Công: Tốt lắm, nhớ xưa Hán Văn Đế tính ngài đã khiêm cung cần kiệm, nhân ái, hiếu để lại còn dốc tâm tu “huyền mặc”, đêm ngày chăm chỉ đọc Đạo Đức Kinh, nhưng khổ nỗi ý nghĩa thâm sâu của kinh vẫn không giải nổi, tôi bèn hạ giáng kết bè lau trên sông, xưng là Hà Thượng Công để truyền đạo lớn cứu Văn Đế, Văn Đế lãnh hội xong liền sai sứ giả đến mời tôi tới giải nghĩa những chỗ khó hiểu trong Đạo Đức Kinh. Tôi trả lời: “Đạo kính trọng, đức tôn quý, thường nhân không thể hỏi”. Sứ giả trở về tâu lại với Văn Đế, Văn Đế liền thân hành tới lạy quỳ hỏi đạo, tôi ngồi nhắm mắt lặng thinh, giả bộ không nhìn thấy. Văn Đế lòng buồn rầu nhủ thầm “kẻ đó tuy có đạo, song chỉ vào hàng bề tôi của ta, cớ sao lại cao ngạo tới mức này?”. Đọc được ý nghĩ đó của Văn Đế tôi bèn đứng phắt dậy, bỏ ra ngoài lều tranh, bay vút lên không, cao cách mặt đất cả trăm trượng, nói dội xuống: “Ta nay trên không thuộc trời, dưới không thuộc đất, há còn là thần dân sao?”. Tiếng nói như chuông vang, chuyển động cả đất trời. Văn Đế nghe xong trong lòng liền hối hận tự giác ngộ, cúi rạp đầu xuống đất tạ tội. Tấc lòng chân thành cầu đạo của Văn Đế làm tôi cảm động khiến tôi lại giáng phàm cứu độ Văn Đế. Bởi vậy tôi khuyên người đời nếu như có chí cầu đạo thì phải lo sao cho tâm mình trống rỗng còn không sẽ khó gặp được bậc chân nhân. Bữa nay Dương Thiện Sinh tới chốn này, tôi hết lòng hóa độ cho, khỏi cần thắc mắc là bàn chân còn dính bụi hay không?

    Dương Sinh: Thẹn nỗi chân đệ tử còn dính bụi quá nhiều.

    Hà Thượng Công: Tự hậu muốn tới đây phải rửa chân trước tại sông Hoàng Hà, không được rửa ở khoảng sông Tam Thanh này.

    Dương Sinh: Sợ rằng nước sông Hoàng Hà rửa không sạch?

    Hà Thượng Công: Không tới sông Hoàng Hà tâm không chết, tới được sông Hoàng Hà tâm chết lại hồi sinh. (Bất đáo Hoàng Hà tâm bất tử, nhất đáo Hoàng Hà tử hựu sinh).

    Tế Phật: Này trò ngoan Dương Sinh, thầy sẽ chỉ dạy cho con phép tẩy rửa đôi bàn chân nhơ nhớp ấy sạch sẽ nhẹ nhàng, như vậy hẳn là con được yên lòng.

    Hà Thượng Công: Sự nhớp nhơ để không lợi, làm cho sạch đi được thì hay lắm, nhưng phải bằng cách sạch được chất dơ mà vẫn bảo tồn được vẻ sáng, còn không sợ rằng rửa không sạch mà còn bị tổn hại thêm, phải cẩn trọng điểm đó.

    Dương Sinh: A! Chất dơ đó con đã rửa sạch được rồi.

    Tế Phật: Đó! Hà Thượng Công thấy nước sông trời này diệu dụng chưa?

    Hà Thượng Công: Đúng vậy, nước sông Tam Thanh cực kì diệu dụng, chỉ tiếc rằng người đời không biết tới. Thuở ban sơ, tam thanh do một khí biến hóa ra, cho nên nước sông này là thứ nước nguyên linh tinh chất mới ra đời. Nước đó cũng như tinh huyết vì người ta thuở mới đầu thai, ai ai cũng do tinh khí của cha và máu huyết của mẹ hòa hợp nuôi lớn. Cha tức là Mộc Công, mẹ là Kim Mẫu, dục hỏa (lửa dục) là hỏa tinh, tinh huyết là thủy tinh, Hoàng Lão là bà, tương giao biến hóa thành bào thai rồi sinh ra người. Do đó, nước sông trời rớt xuống phàm trần, chảy tràn núi Côn Lôn, tuôn ngập sông Hoàng Hà, thấm nhuần khắp Tứ Đại Bộ Châu, cho nên đất có thể sinh ra nước là do công của Hoàng Lão và tạo hóa vậy. Tinh nước lúc mới thành hình giống như con nòng nọc, tính thuộc dương giao cảm cùng tính âm trong nước hóa thành loài ếch nhái. Cho nên sự tiến hóa của nhân loại cũng cùng một cái lí là: người do khí âm dương giao cảm mà sinh ra, đạo trời làm nên người nam, đạo đất làm thành người nữ, con ngài hóa thành con bướm, nòng nọc hóa thành ếch nhái, hạt giống thành rau thành cây, sự hóa sinh của vạn vật không ngoài ngũ hành là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ; do đó Ngũ Lão đã có công sinh ra loài người cùng vạn vật vậy. Nếu như còn có điểm hoài nghi thì có thể dùng phương tiện khoa học tìm hiểu thêm hẳn là sẽ rõ lời nói của tôi chẳng sai lệch vậy. Sở dĩ người đời tu đạo trước tiên phải lo thoát khỏi sự chi phối của ngũ hành giống như lìa bỏ mầm mống chủng tử ắt là vạn vật không sinh không diệt khi đó mới có thể trở về nguồn cội hư vô. Ngược lại nếu không thoát khỏi mầm mống này sẽ thành chủng tử luân hồi sinh sinh diệt diệt, như hạt mọc thành cây, cây lại kết hạt, hạt lại sinh cây, một hóa hai, hai hóa ba, ba hóa bốn, bốn hóa năm, một gốc chia thành muôn ngàn cái khác biệt, ý niệm dục cầu của người nẩy mầm tức thì thành chủng tử luân hồi, cho nên nói: “Lòng dục cầu nổi lên ắt sinh tử nối tiếp, ý niệm sinh ắt luân hồi sinh”. Chủng tử có thể trồng ở Trung Hoa, ở Hoa Kì, ở Ấn Độ, ở Phi Châu cùng muôn ngàn nước khác, song chỉ vì ngũ hành, khí hậu, thủy thổ cùng hình thái sinh trưởng khác biệt cho nên ngày nay mới không giống nhau về màu da và chủng tộc, bởi vậy kẻ tu đạo nên bỏ qua sự khác biệt bề ngoài mà tìm về nguồn gốc. Thế giới vạn vật vốn là một hạt giống của Thượng Đế ban đầu gieo xuống hóa thành, cho nên tu đạo là gom năm phương về tam thanh, thâu tam thanh về một khí, vượt sông Tam Thanh trở về nguồn cội ban sơ mà đạt thành đạo quả thượng thừa vô cực, siêu thoát khỏi tam giới, cởi bỏ được sự trói buộc của năm hình, có thể tiêu dao tự tại một cách an nhiên. Công năng sáng tạo vạn vật của Thượng Đế ảo diệu như vậy, người đời há chẳng kính trọng và bái phục sao? (4)

    Tế Phật: Cảm tạ Hà Thượng Công đã chỉ dạy rõ về thiên cơ.

    Dương Sinh: Phía trước có một vị đạo trưởng đi tới, dung mạo rất còn trẻ trung, qua sông không dùng thuyền, theo dòng nước đi tới, không rõ có nên nhờ vị này chỉ dạy cho biết rõ về “thiên cơ” chăng?

    Hà Thượng Công: Vị đó là Đạo Trưởng Thanh Vân. Dương Sinh có thể hỏi đạo.

    Dương Sinh: Xin hỏi Đạo Trưởng, ngài từ phương nào tới?

    Thanh Vân: Tôi từ cung Thượng Thanh tới, là đệ tử của Linh Bảo Thiên Tôn, bữa nay được rõ Tế Phật cùng Dương Thiện Sinh dạo cõi trời hỏi đạo, lòng tôi rất phấn khởi cho nên tìm tới sông Tam Thanh để mong họp mặt. Vừa rồi Hà Thượng Công đã trình bày về nguồn gốc của sông Tam Thanh để phổ độ thế nhân, nên đã đặc biệt giảng đi giảng lại cho Dương Thiện Sinh hiểu rõ. Người đời tu đạo, lần lần thiếu trí kiên trì thành luật mất nghiêm, mỗi mỗi đều lầm lẫn tới lầm lẫn lui, cuối cùng trở thành vô phương cứu vãn. Thượng Đế chỉ mong cứu vớt nguyên linh nên lại cho phép tiết lậu “thiên cơ” để chúng sinh thức tâm tu luyện hầu vượt sông Tam Thanh. Còn như tôi tu đạo này chỉ cần cố gắng kiên trì hành pháp một cách tuần tự theo ba tiêu chuẩn dưới đây:

    1. Thiên Thanh: Đầu người là “trời” có ẩn giấu “huyền quang linh khiếu” tức cửa ra vô mầu nhiệm linh thiêng. Bình thường cửa đó đóng kín mít nên cần phải tu luyện để mở bung cửa đó ra, dẹp bỏ tư tưởng tà dâm, trừ khử ý niệm tham dục ắt thần trí sáng ngời, đài linh thiêng thông với cõi trời, một sớm dứt bỏ “tam thốn khí” tức ba tấc khí ô trược để chân linh phơi phới bay thẳng tới thiên đường. Như thế gọi là “Thiên Thanh” tức trời trong vậy.

    2. Địa Thanh: Bụng của cơ thể người là “đất”, tì vị thuộc thổ, ăn ngũ cốc để nuôi sống, bỏ thịt cá để giữ vệ sinh trong bụng được sạch sẽ thanh tịnh, không chất chứa thịt cá thối tha, ba tấc trược khí dứt, thanh khí trở về lúc ban đầu, thần linh ắt về lại đất tĩnh. Như thế gọi là “Địa Thanh” tức đất trong vậy.

    3. Nhân Thanh: Hạ bộ của cơ thể là “người”, tình dục nam nữ phát động ắt tinh huyết của họ tiết ra. Không phải vợ chồng mà bày trò dâm dục gọi là “tà dâm”, tà dâm ắt loạn âm dương, chà đạp nhân luân, tinh huyết là gốc rễ của loài người đem sử dụng một cách hoang phí vô độ, làm điên đảo thác loạn cùng hủy diệt chủng tử thiêng liêng tức là sát hại sinh linh. Tinh huyết hỗn độn ắt nước sông vẩn đục, để chỉ kẻ hiếu sắc dâm dục có câu: “Chỉ thích chuyện lá gió cành chim, chẳng thích chuyện tiên”. Chính vì thế mà ý niệm về tu đạo tiêu tan, tánh dâm dục nẩy nở, thần phách nát nhàu, hồn ma xâm nhập. Gốc dâm của cá nhân phát sinh từ dưới đáy sâu biển cả loài người, vốn là chỗ chất chứa tất cả những cặn bã nhơ bẩn bài tiết ra, nên khi sống ngụp lặn ở đó, sau khi chết hẳn là bị đọa trầm dưới đáy biển sâu âm tào địa phủ. Ngược lại, nếu như thanh tẩy được dâm căn hóa thành thiện căn, gạn lọc được khổ hải hóa thành đạo hải ắt hẳn lòng dục dứt tuyệt, thiên lí lưu hành, ba tấc khí trược dứt tuyệt, nhân đạo tự nhiên nối tiếp với địa đạo mà về tới được thiên đạo. Tuy nhiên những kẻ tu hành trên đời ai nấy có chí tu đạo, tiếc rằng không lìa bỏ được tâm sắc dục, tự giam mình mãi trong chốn hang hốc ngòi lạch, cho nên sau khi chết bị sóng dục cuốn đi, nhận chìm dưới đáy sông ái dục, đày đọa chốn địa ngục để rồi lại đầu thai cõi thế, chịu luân hồi mãi mãi. Nay nhờ bề trên ban ơn cứu độ để chúng sinh tu đạo, nếu như trừ bỏ được sắc dục, vun bồi được thanh khí hẳn là ba bộ phận nơi cơ thể con người là “thượng, trung, hạ” bị bế tắc được khai thông tức thì vượt qua sông Tam Thanh chứng ngộ đạo quả vô cực về được nơi thánh cảnh Tam Thanh. Trái lại, công quả mặc dầu nhiều sau khi chết vẫn phải nhờ linh quang của Tiên Phật gia hộ cùng chịu sự nhồi nặn tinh luyện lại cho tới khi nào tâm tính đạt mức nhuần nhuyễn chân chất mới có thể cất bước đi lên nổi, mong ước chúng sinh dưới gầm trời hiểu rõ điểm này.

    Dương Sinh: Cảm tạ Đạo Trưởng Thanh Vân đã ban lời vàng ngọc, mỗi tiếng mỗi câu dư âm thánh thoát cần phải lắng nghe để thực hành nghiêm chỉnh.

    Tế Phật: Thời giờ đã trễ, tôi phải dẫn đệ tử trở lại Thánh Hiền Đường, xin cáo biệt nhị vị “thượng tiên”.

    Hà Thượng Công: Chớ quá khách sáo, mong gặp lại.

    Dương Sinh: Con đã lên đài sen, kính mời ân sư trở lại Hiền Đường...

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:23 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    January 27th 2010, 8:27 pm
  • HỒI TÁM

    LẠI DẠO CUNG THƯỢNG THANH NGHE LINH BẢO THIÊN TÔN THUYẾT PHÁP

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 16 tháng 7 năm Kỉ Mùi (1979)


    Thơ

    Thiên đường thắng cảnh dị thường gian
    Tuyệt hảo phong quang khí tượng hoàn
    Đạo tặc kí vô môn bất bế
    Tiên chân vấn đạo khấu thiền quan.

    Dịch

    Thắng cảnh thiên đường khác thế gian
    Phong quang tuyệt hảo vẻ khôn bàn
    Bởi không cướp trộm nhà thường ngỏ
    Hỏi đạo thánh tiên lạy cửa thiền.

    Tế Phật: Đời sống vật chất ở thế gian hiện được đề cao quá mức, nên có nhiều kẻ đã ở nhà gạch kiên cố, tường lại còn bọc thép để tự giam mình ở trong. Tuy cướp trộm không vào được nhưng mỗi đêm khó bề đóng nổi cửa “phòng tâm” vì bọn giặc tình dục phiền não luôn luôn rình rập! Trái lại các loại lầu gác ở chốn thiên đường cửa đều bỏ ngỏ mà trộm không lén vào, cướp không phá phách, do đó mà tâm thần an nhiên tự tại, phong cảnh thảnh thơi nhàn hạ, đời sống thư thái như vậy há chẳng ham thích lắm sao? Hãy tới đó đi, chớ có ngại ngùng. Dương Sinh mau lên đài sen, bữa nay thầy trò mình dạo cung Thượng Thanh, bái kiến Linh Bảo Thiên Tôn lần nữa.

    Dương Sinh: Thưa hay lắm. Con đã lên đài sen, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: ...Đã tới cung Thượng Thanh, Dương Sinh xuống đài sen.

    Dương Sinh: Chỉ trong thoáng giây cung Thượng Thanh quả nhiên đã hiện ra trước mắt, hào quang của ba mươi sáu sao Thiên Cương và bảy mươi hai sao Địa Sát xoay chuyển không ngừng, lóa cả mắt con.

    Tế Phật: Phải trấn tỉnh tinh thần, tâm không được hoang mang.

    Dương Sinh: Thưa vâng, hiện thời tâm con đã tạm yên ổn... Lạy mừng ra mắt đức Linh Bảo Thiên Tôn.

    Thiên Tôn: Miễn lễ, hai vị bữa nay lại tới cung Thượng Thanh, rất đỗi hoan nghênh, lần trước hai vị tới đây vì thời giờ eo hẹp, tôi chỉ mới dẫn chứng sơ lược về ba mươi sáu sao Thiên Cương cùng bảy mươi hai sao Địa Sát, chưa giảng rộng được về đạo pháp, bữa nay tôi xin tường thuật tỉ mỉ về Linh Bảo Đại Đạo để hóa độ thế nhân. Mời hai vị qua xem cung điện bên cạnh.

    Dương Sinh: Cảm tạ đức Thiên Tôn. Tới đại điện thấy bốn chữ lớn “Linh Bảo Hoàn Nguyên” ánh vàng tỏa chiếu sáng ngời, song không hiểu ý nghĩa ra sao?

    Thiên Tôn: Hãy nán đợi chút nữa sẽ rõ.

    Dương Sinh: Vào trong điện, thấy hoàn toàn trống rỗng, trong suốt tựa thủy tinh không vướng một mảy lông, vắng lặng vô cùng.

    Thiên Tôn: Vì thần của mắt Dương Sinh chưa được trong, còn mắt tôi chỉ cần liếc qua đã nhìn thấy rõ hết.

    Dương Sinh: Đức Thiên Tôn chỉ phủi nhẹ một cái mà cảnh vật trước mắt con biến sạch, chỉ còn thấy một viên ngọc trắng sáng bay lượn trước mắt tỏa chiếu rạng ngời, quay tít... không rõ vật đó là vật gì?

    Thiên Tôn: Ha ha, đó là nguyên linh của Dương Sinh. Ngay cả tam tài nếu như thiếu ba khí thiêng liêng của Thiên linh, Địa linh, Nhân linh ắt là trời sập, đất tan, người diệt. Chân linh vô cùng thiêng liêng quý báu cho nên gọi là “Linh Bảo”. Mặt trời, mặt trăng cùng muôn sao ở trên trời, nước lửa gió ở dưới đất, tinh khí thần ở trong con người, tất cả đều linh thiêng quý trọng đối với tam tài. Tuy tôi coi sóc đạo pháp tiên thiên song muôn pháp vốn do Thái Thượng Lão Quân ban hành. Ở thế gian kẻ dùng pháp phải bái thỉnh Tam Thanh, người chế pháp phải là người anh linh vì cần tập trung tinh thần, trời trong, đất yên và người phải linh ứng. Vì nếu không thế thì gặp lúc thiên tai, địa biến người làm sao an định nổi? Cho nên hạnh của pháp cứu độ quý ở tâm thần chí thành chí thiết. Tam Thanh có hợp Tứ Chính thì linh khí trời đất mới thông suốt vậy. Đạo pháp sở dĩ diệu dụng được là nhờ ở chỗ dám cả gan, lớn gan thì pháp mạnh, nhỏ gan thì pháp yếu, không gan thì pháp cũng không.

    Dương Sinh: Thưa có thể truyền được cách giúp cho có gan để sử dụng pháp chăng?

    Thiên Tôn: A ha! Điều đó xin miễn, sử dụng được gan tốt lành thì tâm tốt lành, sự giúp đỡ đó là lòng trung dạ nghĩa, gan mật lớn thì bao trùm được cả trời và diệu pháp của nó vô biên vô tận.

    Dương Sinh: Thì ra nguyên lai là như vậy, tâm pháp thực tại diệu dụng vô cùng.

    Thiên Tôn: Chúng sinh hiện thời không chịu bồi dưỡng tâm địa, kẻ học pháp phần lớn cống cao ngạo mạn, duy ngã độc tôn, bạn đạo có kẻ còn đố kị, ganh pháp tham của, hiếu dâm hiếu sắc chẳng chịu tuân theo pháp thức, thi hành pháp một cách bừa bãi, chuốc tà hại người, phản bội lời dạy của sư tổ. Loại người này sau khi chết ắt bị căn cứ theo lời nguyền mà chịu tội đày đọa địa ngục mắc lưới trời, lưới đất chịu khổ hình, hoặc bị luân hồi qua các kiếp sâu bọ, cá tôm, gà vịt, trâu bò cùng người ngợm để nhận các nghiệp quả ác báo. Còn nếu như theo pháp một cách nghiêm chỉnh, thi hành pháp để giúp đời cứu người thì phải giữ đúng mười điều giới cấm dưới đây:

    1. Không giết chóc, miệng và bao tử chớ tham.
    2. Không tà dâm xâm phạm vợ người.
    3. Không trộm cướp chiếm đoạt của phi nghĩa.
    4. Không lừa gạt, chẳng nói lời gian dối.
    5. Không say sưa, thường suy tư, lẳng lặng làm.
    6. Thân quyến họ hàng chẳng ghét bỏ một ai.
    7. Thấy việc thiện của người hết lòng giúp đỡ.
    8. Thấy mối lo của người làm phước giúp dùm.
    9. Bị người xử ác không để tâm báo thù.
    10. Lòng luôn luôn lo lắng rằng chúng sinh chưa đắc đạo thì đạo của mình chưa thành.

    Nếu như kiên trì giữ đúng được những điều luật răn cấm trên, người học đạo học pháp nào cũng được chứng quả thành đạo. Nay may mắn gặp kì phổ độ chúng sinh phải chăm lo nghe đạo, tu đạo, ngược lại nếu lỡ một dịp may, sau có hối hận thì đã muộn. Tôi đọc một bài thơ đạo để thân tặng như sau:

    Thơ

    Cửu u khảo đối vô nhàn nhật
    Trú dạ thường văn thụ khổ thanh
    Giai do tiền sinh bất niệm thiện
    Tử hậu tương khiên nhập thiết thành.
    Ngưu đầu bản tự vô tình giả
    Ngục tốt hà năng hữu từ hành
    Thiết hoàn viêm viêm sung cơ nỗi
    Đồng điểu phi lai chác nhãn tình.
    Oan gia trái chủ vô đầu sổ
    Nhất nhất thù hoàn nghiệp báo minh
    Sinh thời bất khắc thân tam bảo
    Tử hậu hà năng miễn cửu u.
    Nhất đọa vô minh trường dạ ngục
    Thiên niên bất ngộ tử sinh do
    Thiết sàng trú dạ thường như hỏa
    Kiếm thụ chi điều bất thức thu.
    Đề khốc chúng sinh tịnh ngạ quỷ
    Oán tăng ngục tốt dữ ngưu đầu
    Đao sơn lãnh lãnh thương thủ túc
    Lô thán viêm viêm thảm khốc nhân.
    Vạn bát thiên kiếp vô quy nhật
    Túng xuất hoàn sinh cẩu trư thân
    Vi nhân bất khẳng hành phương tiện
    Tác quý hà duyên hữu thiện nhân.
    Thử thị tam đồ bát nan xứ
    Ưu bi khổ não hướng thùy trần
    Nhất niệm ảo thân tịnh hư giả
    Tứ đại ngũ thể bản phi chân.
    Tam bách lục thập toái cốt tiết
    Bì nhục hợp thành nùng huyết thân
    Niệm niệm vô thường hằng bất trú
    Tiêu tịch phiền não loạn tâm thần.
    Phụ mẫu thê tử quyền tương kí
    Huynh đệ tỉ muội thiếu thời nhân
    Nhất chiêu khí đoạn quy không khứ
    Bách hài lạn hoại tổng thành trần.
    Túng hữu nam nữ đầu biên khốc
    Chung nan cứu bạt miễn trầm luân
    Các tự khuyến tu kim nhật thiện
    Thiện mạc lưu tài phó hậu nhân.

    Dịch

    Cõi âm phủ triền miên khảo đảo
    Suốt ngày đêm ảo não thở than
    Thay vì lúc sống gian tham
    Chết đi ngục sắt giam cầm khổ đau.
    Quỷ đầu trâu nào đâu thương xót
    Quân coi tù há tốt được sao
    Xích xiềng lửa đói thét gào
    Chim đồng bay tới mổ vào mắt sâu.
    Nợ oan gia đứng đầu sổ cái
    Bao oán thù nghiệp phải trả xong
    Sống không vì đạo hết lòng
    Chết nào tránh khỏi mắc tròng quỷ vương.
    Đọa tối tăm đêm trường tù ngục
    Chịu luân hồi cả ức triệu năm
    Tháng ngày giường lửa ngồi nằm
    Cành cây sắc nhọn kiếm đâm rã rời.
    Tiếng rên siết lũ người ma đói
    Lời oán than bọn quỷ đầu trâu
    Chân tay rơi rụng thảm sầu
    Lửa thiêu dao chém còn đâu thân mình.
    Muôn ngàn kiếp khổ hình đày đọa
    Được đầu thai cũng hóa chó heo
    Làm người chánh đạo chẳng theo
    Tới khi thành quỷ pháp nào độ cho.
    Chốn địa ngục nỗi lo đày đọa
    Nẻo luân hồi biết tả cùng ai
    Thân giả tạm sẽ xa rời
    Ngũ hành tứ đại tơi bời nát tan.
    Nắm xương khô tro tàn xác nọ
    Mớ thịt da máu mủ thân kia
    Phút giây tan tác chia lìa
    Hồn đau giọt lệ đầm đìa sớm hôm.
    Nghĩa đoàn tụ vợ con bố mẹ
    Tình sum vầy anh chị một nhà
    Sớm nao nhắm mắt cách xa
    Xác thân rữa nát thành tro hóa bùn.
    Dẫu con cái khóc than níu lại
    Song người thân vẫn phải đọa đày
    Trau dồi đạo pháp mỗi ngày
    Chớ vì danh lợi tiền tài bỏ quên.

    Tế Phật: Nghe lời dạy của Thiên Tôn, Dương Sinh xúc động lệ tuôn trào, người đời nếu như được nghe bài thơ đạo cảnh tỉnh thế gian này hẳn là những ai có tâm huyết sẽ rất cảm kích, theo gương đó lo tu đạo để sớm lên cõi thiên đường.

    Thiên Tôn: Tôi sẽ hướng dẫn nguyên linh của Dương Thiện Sinh trở về nguồn cội.

    Dương Sinh: Quả nhiên chẳng còn thấy viên ngọc chiếu sáng trước mắt nữa.

    Thiên Tôn: Đã có một đấng “Linh Bảo Thiên Tôn” ngụ tại tâm con, vì nguyên linh của mỗi người chính là bậc Thiên Tôn của mình, cho nên mới nói: “Muôn pháp do tâm đẻ ra” (Vạn pháp do tâm sở sanh). Muốn độ kẻ nguy nan, ắt phải tìm biện pháp giải quyết, bởi vậy pháp đã do tâm mà có, tâm chính ắt pháp chính, có thể đạt được kết quả tự phát triển đạo. Ngược lại tâm tà ắt pháp tà, chắc chắn sẽ hại người tổn đức. Người đời lần lần cầu pháp chẳng đắc pháp, cầu đạo không đạt đạo bởi vậy nói: “Đạo cao rồng cọp chầu, đức nặng quỷ thần phục” là cách diễn tả tượng trưng cho sự đắc pháp đạt đạo. Bởi vậy ta khuyên người đời chớ nên bỏ tu đạo đức để cầu giỏi pháp thuật thần thông, như những bậc vĩ nhân chẳng hạn, mặc dù bản thân các vị đó không có pháp thuật, nhưng lúc nào cũng được thần linh gia hộ, đó chính là được pháp bảo vệ. Học đạo cũng giống hệt vậy, chỉ cần kiên tâm tu đạo, nhẫn nại chịu sự hành hạ của ma quỷ, một sớm công đức sâu dày, điển quang sung túc tự nhiên ma quỷ lánh xa, hẳn là “dẫn hỏa quy nguyên”.

    Dương Sinh: Thưa tại sao gọi là “dẫn hỏa quy nguyên”?

    Thiên Tôn: Tu đạo nếu như chịu luyện hỏa khí tất nhiên khí nóng sục sôi bay thẳng lên cao, thanh nhẹ trở về nguồn cội. Còn nếu như tâm trí không kiên định, “hỏa khí” nguội ngắt, tất nhiên khí lạnh xuống thấp mà sinh ra đọa lạc. Vì muốn phổ độ chúng sinh, tôi đặc biệt lên đài giảng về kinh “Linh Bảo Định Quán” tức cuốn kinh chỉ dạy phép yên lặng để xét thấu chân tâm thiêng liêng quý báu.

    LINH BẢO ĐỊNH QUÁN KINH

    Phù dục tu đạo, tiên năng sả sự.

    Kẻ muốn tu đạo, trước phải dứt bỏ lòng trần.
    Giảng: Sửa đổi tâm tính gọi là “tu đạo”, không nhiễm trần trược gọi là “sả sự”.

    Ngoại sự đa tuyệt, vô dữ ngỗ tâm.

    Việc trần dứt hết, chẳng còn động tâm.
    Giảng: “Ngoại sự” là việc ngoài đời tức lục trần, cần phải tránh xa.

    Lục trần gồm: sắc, thanh (tiếng), hương, vị, xúc (đụng chạm), pháp (phép). Không được nhiễm sáu thứ nói trên gọi là “đa tuyệt” (dứt sạch). Quên được tâm ở trong và cảnh ở ngoài gọi là “vô dữ ngỗ tâm” tức không để cho tâm ngang ngược.

    Nhiên hậu an tọa, nội quán tâm khởi.

    Rồi sau mới ngồi yên xét thấu chân tâm.
    Giảng: Các nỗi buồn phiền đã hết ngồi mới được yên. Nếu thấy một ý niệm dấy lên ắt phải lo trừ diệt ngay để cho tâm được hoàn toàn yên tịnh. Tâm trí huệ bừng sáng trong nội giới gọi là “nội quán” tức xét thấu chân tâm. Ý niệm chưa diệt trừ được hết gọi là “tâm khởi” tức tâm dấy động. Ý niệm trước dấy lên, cảm giác sau theo liền, do đó nếu diệt được tâm, ắt cảm giác mất ngay nên gọi là “trừ diệt”. Phàm tâm không dấy là “an”, cảm tính không động là “tĩnh”, do đó gọi là an tĩnh.

    Kì thứ hữu tham trước, phù du, loạn tưởng diệc tận diệt trừ.

    Kế đến có tham lam, trôi nổi, nghĩ xằng thảy diệt trừ hết.
    Giảng: Tâm không dấy động, vọng niệm đã mất, vọng tưởng không sinh, không còn gì để mà tham nữa gọi là diệt trừ.

    Trú dạ cầm hành, tu du bất thế.

    Đêm ngày chăm lo công phu, phút giây không ngừng nghỉ.
    Giảng: Lời nói ban ngày trong, ban đêm đục, trong đục cả hai không còn, đêm ngày lo tu không có gián đoạn, nên gọi là “bất thế” tức không bỏ.

    Duy diệt động tâm, bất diệt chiếu tâm.

    Chỉ trừ tâm động, không trừ tâm sáng.
    Giảng: Nghĩ xằng phân biệt nọ kia là động tâm, nếu thức tâm đuổi được nó đi gọi là “diệt” tức dẹp bỏ. Tâm trí huệ luôn luôn chiếu sáng không chút gián đoạn nên gọi là “bất diệt chiếu tâm” tức tâm chiếu sáng đời đời.

    Đản ngưng không tâm, bất ngưng trụ tâm.

    Chỉ chuyên chú tâm không, chẳng chuyên chú tâm trụ.
    Giảng: “Ngưng” có nghĩa là chuyên chú, tâm chẳng dấy động gọi là “không tâm” tức tâm trống rỗng. Không chấp trước bất cứ điều gì gọi là “bất ngưng trụ tâm” tức không chuyên chú tâm trụ.

    Bất y nhất pháp, nhi tâm thường trụ.

    Không ỷ lại vào bất cứ một pháp nào, mới mong tâm đứng vững hoài hoài.
    Giảng: Nếu chỉ ôm riết một pháp là “trước tướng” tức giữ mãi cái xác chết mà bỏ mất cái hồn sống. Tâm phải không chấp pháp mới khỏi ỷ lại và tự đứng vững một mình. Hiện có mà vẫn lặng thinh coi như không có kêu là “thường trụ” tức mãi mãi còn đó.

    Nhiên tắc phàm tâm tháo cạnh, kì thứ sơ học tức tâm thậm nan, hoặc tức bất đắc, tạm đình hoàn thất.

    Phàm tâm luôn tranh giành, kẻ mới học đạo trừ nó rất khó hoặc trừ không nổi, nhưng nếu bỏ qua coi như không có ắt nó tự mất đi.
    Giảng: Tính quen phiền não tuy có thể diệt trừ, song kẻ mới học đạo sức định thần chưa có, nên trừ diệt nó rất khó. Nếu như biết tạm ngưng sự cố gắng diệt trừ nó thì tự nhiên nó mất đi.

    Khứ lưu giao chiến bách thể lưu hành.

    Tranh giành qua lại đẻ ra trăm cái xấu.
    Giảng: Tâm mới chớm nhiễm cảnh, cảnh đã nhào tới trói buộc tâm, thành ra tâm và cảnh cùng bị nhiễm. Ý niệm tham dục và đạo đức cả hai đều khó cắt đứt, khó ruồng bỏ, nên tánh đó luôn luôn giao chiến với nhau. Tánh vọng niệm nếu như không trừ được, tự nhiên nó đẻ ra hàng trăm ngàn tánh xấu khác, nên gọi là “bách thể lưu hành” muôn thứ tánh hoành hành.

    Cửu tinh tư, phương nãi điều thực, vật dĩ tạm thu bất đắc, toại phế thiên sinh chi nghiệp.

    Kiên nhẫn suy nghĩ kĩ càng mới có thể thuần thục chín chắn, chẳng thể vội vã thâu lượm kết quả để rồi ngàn muôn đời nghiệp đạo chẳng thành.
    Giảng: Định được tâm không để cho nó động ắt là khế hợp được nó với chân lí thường tại. Không dứt tuyệt được ý, sự nghiệp tu đạo có cả ngàn kiếp cũng phế bỏ. Tu đạo giống như xào rau, lửa thiếu, mắm muối không nêm ắt sẽ nhạt nhẽo, sống sượng tất nhiên phải làm lại một cách cẩn thận mùi vị mới thơm ngon. Nếu như không kiên nhẫn nổi tức là tự hủy hoại muôn ngàn đời nghiệp đạo chẳng thành.

    Thiểu đắc tĩnh kỉ.

    Mình còn thiếu thanh tĩnh.
    Giảng: Mới thanh tĩnh chưa phát được huệ cho nên gọi là “thiểu đắc tĩnh kỉ” tức mình thanh tĩnh chưa đủ mức.

    Tắc ư hành lập tọa ngọa chi thời.

    Vẻ uy nghi được biểu lộ vào những lúc đi đứng nằm ngồi.
    Giảng: Đi đứng nằm ngồi là những cử chỉ biểu lộ bốn tư thế của kẻ tu hành.

    Thiệp sự chi xứ, huyên náo chi sở.

    Chốn giao tiếp, nơi ồn ào.
    Giảng: Sự giao tiếp biểu lộ rõ các vẻ của tính. Mọi tâm đều dấy động gọi là chốn gây huyên náo.

    Giai tác ý an.

    Phải làm cho ý yên định.
    Giảng: Bỏ loạn theo yên gọi là “tác ý” tức dẹp “ý” vì “ý” là thức thứ bảy hay phân biệt nghĩ ngợi. Đạt được sự hòa nhã gọi là “an” tức yên tịnh.

    Hữu sự vô sự thường nhược vô tâm xứ. Xứ tĩnh xứ huyên, kì chí duy nhất.

    Cái có cái không đều trở về cõi hư vô. Chốn yên chốn động cuối cùng hợp làm một.
    Giảng: Có và không ràng rịt lẫn nhau, lặng thinh được thì cả hai đều tan biến, muôn pháp không hai duy chỉ một.

    Nhược thúc tâm thái cấp, tắc hữu thành bệnh, khí phát cuồng điên, thị kì hậu dã.

    Nếu như bó buộc tâm gắt quá ắt sinh bệnh, uất khí thành điên cuồng, đó là nguyên do.
    Giảng: Tâm thiên lệch thành chấp trước nên gọi là “thúc” tức bó buộc. Tâm hướng ngoại bị hình danh sắc tướng bên ngoài lôi cuốn riết sinh điên cuồng, bởi vậy kẻ tu đạo phải thâu tâm về, không được cố chấp tính nóng nảy, nếu làm sai ắt sinh bệnh.

    Tâm nhược bất động, hựu tu phóng nhiệm, khoan cấp đắc sở.

    Nếu tâm bất động, phải lo thả lỏng, mau chậm đúng lúc.
    Giảng: Theo định phát huệ gọi là “phóng nhiệm” tức thả lỏng. Định và huệ cùng hòa hợp gọi là đắc sở tức thấu đạt. Đạo tu tâm cần phải thâu mở tự nhiên.

    Tự hằng điều thích.

    Luôn luôn tự điều hợp thích nghi cùng hoàn cảnh.
    Giảng: Định nhiều tức ngu, huệ lắm tức điên. Định huệ được dùng đúng mức gọi là “điều thích” tức là tự mình điều hợp sao cho thích ứng được với mọi trạng huống.

    Chế nhi bất trước, phóng nhi bất động, xử huyên vô ố, thiệp sự vô não giả, thử thị chân định.

    Gò bó mà không trói buộc, buông thả mà không động loạn, ồn ào mà không đáng ghét, phiền phức mà không chán nản, đó là chân định.
    Giảng: Vắng lặng mà vẫn tỏa sáng, tỏa sáng mà vẫn vắng lặng, không dùng mà dùng luôn, dùng luôn mà không dùng tức là tới được ngọn nguồn của sự vắng lặng, đó mới là tính định chân thực.

    Bất dĩ thiệp sự vô não, cố cầu đa sự. Bất dĩ xử huyên ố, cưỡng cầu tựu huyên.

    Không khiến được sự giao tiếp vui vẻ nên sinh lắm chuyện, vì muốn một cách gượng ép nên sinh rối rắm.
    Giảng: Thói quen trần trược phải luôn luôn chế ngự nó, không được thả lỏng khiến sinh ra phiền phức.

    Dĩ vô sự vi chân trạch, hữu sự vi ứng tích.

    Lấy sự không phiền toái làm nơi trú ngụ đích thực, gặp trở ngại phải giải quyết một cách êm xuôi.
    Giảng: Thấy được bản tính hư không vắng lặng mới hết ồn ào phiền toái, và chỉ có nơi đó mới là căn nhà đích thực. Trí huệ sử dụng được hết mức thì gặp trở ngại nào cũng đều qua khỏi nên gọi là “ứng tích” tức ứng hợp đúng cách.

    Nhược thủy kính chi vi giám, tắc tùy vật nhi hiện hình.

    Nếu lấy gương nước để soi ắt mọi vật đều hiện rõ.
    Giảng: Bản tâm vắng lặng trong như gương nước, phản chiếu không cản trở, muôn vật đều lộ rõ gọi là hiện hình.

    Thiên xảo phương tiện, duy năng nhập định.

    Mọi phương cách muốn giỏi chỉ nhập định mới có thể.
    Giảng: Muôn pháp vốn trống rỗng, vắng lặng không chút lay động nên gọi là nhập định.

    Huệ phát trì tốc tắc bất do nhân, vật lệnh định trung cấp cấp cầu huệ, cấp tắc thương tính, thương tắc vô huệ.

    Huệ phát mau lẹ ắt chẳng bởi người, trong khi “định” chớ gấp gáp mong có huệ, gấp gáp ắt làm thương tổn tới “tính”, thương tổn ắt không có huệ.
    Giảng: Muốn biết rõ một cách gấp gáp chân định liền mất, ham liên lụy các hình tướng tâm tính bị thương tổn, nên nói “vô huệ” tức không có trí huệ. Do đó phải thể hiện đạo một cách tự nhiên, đạo mới tự sống còn vậy.

    Nhược định bất cầu huệ, nhi huệ tự sinh, thử danh chân huệ.

    Nếu như “định” mà không cầu huệ thì huệ mới sinh, đó gọi là chân huệ.
    Giảng: Tâm vốn vắng lặng diệu dụng vô cùng, nên rất dễ phát sinh chân trí huệ.

    Huệ nhi bất dụng, thực trí giả ngu.

    Có huệ mà không dùng tới, thực biết rõ mà như dốt.
    Giảng: Hiểu được “vô phân biệt” tức không so đo nên gọi là “bất dụng” tức không dùng tới; ẩn giấu tài năng nên gọi là “nhược ngu” tức coi giống như đần. Kẻ tu đạo phải đạt tới mức đại trí mà giống như ngu đần có thể đếm được.

    Ích tư định huệ, song mĩ vô cực.

    Định huệ gia tăng cùng đẹp vô vàn.
    Giảng: Im lìm và sáng tỏ cùng hòa hợp, lay động và tĩnh mịch đều giống nhau cho nên nói “song mĩ vô cực” tức cùng đẹp muôn vàn.

    Nhược định trung niệm tưởng, đa cảm chúng tà, yêu tinh bách mị, tùy tâm ứng kiến.

    Nếu như trong lúc định còn nghĩ ngợi vẩn vơ, quyến luyến tà khí, vấn vương trăm mối, yêu ma sẽ theo đó mà xuất hiện liền.
    Giảng: Nếu như đem tâm cầu hình tướng, các hình tướng liền ứng hiện, tà ma thảy đều giành nhau tới nhiễu loạn.

    Sở kiến Thiên Tôn, chư Tiên, chân nhân thị kì tường dã.

    Được thấy Thiên Tôn, chư tiên, chân nhân thì là điềm tốt lành vậy.
    Giảng: Nếu như thấy các đấng Thiên Tôn, Tiên chân, Thần tướng xuất hiện tuy là điềm tốt lành song không được hí hửng mon men tới gần.

    Duy lịnh định tâm chi thượng, khoát nhiên vô phú. Định tâm chi hạ, khoáng nhiên vô cơ.

    Trước khi định phải làm sao cho tâm trống vắng không gì che phủ. Sau khi định, tâm rỗng rang không gì ngăn cản. Giảng: Ý niệm trước không sinh gọi là “vô phú” tức không nảy nở, ý niệm sau không dấy gọi là “vô cơ” tức không mầm mống.

    Cựu nghiệp nhật tiêu, tân nghiệp bất tạo.

    Nghiệp cũ ngày một tiêu tan, nghiệp mới chẳng gây thêm.
    Giảng: Thói tật kiếp trước đều diệt trừ được hết gọi là nghiệp cũ ngày một tiêu tan. Tâm không còn động nên gọi là nghiệp mới không gây.

    Vô sở quái ngại, huýnh thoát trần lung.

    Không còn chỗ trở ngại, thoát xa cái lồng trần thế.
    Giảng: Nhất quyết không nhiễm nên nói là không còn chỗ trở ngại. Cởi gỡ mọi trói buộc nên gọi là thoát xa cái lồng trần thế giam giữ.

    Hành nhi cửu chi, tự nhiên đắc đạo.

    Chịu khó thực hành những điều vừa nói trên lâu tự nhiên đắc đạo.
    Giảng: Không ngừng để trí theo dõi cùng quyết tâm thực hành những điều đã chỉ dẫn gọi là “hành nhi cửu chi”. Đúng lẽ hợp chân lí gọi là “đắc đạo”.

    Phù đắc đạo chi nhân, phàm hữu thất hầu.

    Phàm những kẻ đắc đạo tất có được bảy điểm như sau
    Giảng: Phàm những kẻ đắc đạo, tâm lộ rõ bảy điểm tượng trưng như sau:

    1. Giả tâm đắc định, dị giác chư trần lậu.

    Kẻ tâm đạt định dễ thấy được các tính trần hiện ra.
    Giảng: Tâm đạt thanh tĩnh, thấy được hết các ý nghĩ phàm tục.

    2. Giả túc tật phổ tiêu, thân tâm khinh sảng.

    Kẻ trừ hết những thói tật kiếp trước, thân tâm nhẹ nhõm sảng khoái.
    Giảng: Chân khí thanh nhẹ được như chân khí của bào thai còn nằm trong bụng mẹ, tất cả những tật xấu vô phương sửa chữa từ trước tới giờ thảy đều diệt trọn, tâm đạo hợp chân lí, thân mình nhẹ nhõm không già.

    3. Giả điền yểu tổn, hoàn niên phục mệnh.

    Kẻ tự bồi bổ để khỏi chết sớm, sẽ hồi sinh trẻ lại.
    Giảng: Xương cứng cáp tủy tràn đầy là “điền bổ yểu tổn” giữ gìn dung nhan khiến cho khỏi già gọi là “hoàn niên phục mệnh”.

    4. Giả diên số vạn tuế, danh viết tiên nhân.

    Kẻ số mạng dài cả mười ngàn năm gọi là người tiên.
    Giảng: Sống lâu không chết, số mệnh kéo dài cả vạn năm, tên được ghi vào sổ tiên nên gọi là “tiên nhân” tức người cõi tiên.

    5. Giả luyện hình vi khí, danh viết chân nhân.

    Kẻ luyện hình chất thành khí lực gọi là “chân nhân” tức người thành đạo.
    Giảng: Đạt được nguyên khí ban đầu gọi là “luyện hình vi khí” tức luyện hình chất thành khí lực. Tính tình chân chính vô vi gọi là “chân nhân” tức người đắc đạo.

    6. Giả luyện khí thành thần, danh viết thần nhân.

    Kẻ luyện khí thành thần gọi là “thần nhân” tức người đạt đạo.
    Giảng: Chân khí thần thông, âm dương không thể đo lường, nên gọi là “thần nhân” tức người thông suốt đạo.

    7. Giả luyện thần hợp đạo, danh viết chí nhân.

    Kẻ luyện thần hợp làm một với đạo gọi là “chí nhân” tức người thành đạo.
    Giảng: Tinh thần chân chính hòa hợp được với đạo gọi là “chí nhân” tức người đắc đạo, còn gọi là Kim Tiên, Như Lai.

    Kì ư giám lực, tùy hậu ích minh.

    Sức đạo soi càng mạnh, hỏa khí càng sáng rỡ.
    Giảng: Cái sức soi rọi kêu là “giám lực” tức chiếu sáng hoài không dứt. Sự sáng gia tăng gọi là “ích minh” tức sáng mãi không ngừng. Tóm lại sức đạo càng mạnh, hỏa khí càng sáng rỡ vậy.

    Đắc chí đạo thành, huệ nãi viên bị.

    Tu tới mức thành đạo, trí huệ ắt tròn đầy.
    Giảng: Nếu như bổn tính đạt đạo, trí huệ sáng sủa tròn đầy, muôn pháp đều thông.

    Nhược nãi cửu học định tâm, thân vô nhất hậu, xúc linh uế chất, sắc tạ phương không, tự vân huệ giác, hựu xưng thành đạo giả, cầu đạo chi lí, thực sở vị nhiên.

    Nếu như học định tâm đã lâu mà không có được một chút thanh điển, tuổi tác thêm cao, thể chất suy nhược, sắc diện phai tàn mà còn tự cho là mình mở huệ giác cùng đắc đạo thì quả thực chẳng hợp lí chút nào.
    Giảng: Thần sáng suốt hợp với lẽ đạo ắt đạt được chân lí, tâm cảm thấy không còn thân xác, xa rời sống chết. Kinh Tây Thăng (về Tây Trúc tức cõi Phật) có nói: “Nếu như quên mất gốc rễ sinh thành làm sao có thể biết cội nguồn lí đạo?”. Bởi vậy kẻ học đạo mãi mà chẳng thấy có được chút thanh điển hẳn là công lực chưa tới mức, sự sáng đã mất tiêu, tuổi tác thêm cao, thân thể suy nhược còn tự cho là mình mở huệ và đắc đạo thì quả thực chẳng thể có được. Bởi vậy phải nắm lấy thời gian, dũng mãnh tinh tiến.

    Thơ

    Trí khởi sinh u cảnh
    Hỏa phát sinh ư duyên
    Các cụ chân chủng tính
    Thừa lưu thất đạo nguyên
    Khởi tâm dục tức tri
    Tâm khởi tri cánh phiền
    Liễu tri tính bản không
    Tri tắc chúng diệu môn.

    Dịch

    Trí sinh bởi tại cảnh
    Lửa bốc lại do duyên
    Khắp chốn tính gieo giống
    Tràn lan đạo mất nguồn
    Động tâm ắt muốn biết
    Tâm động biết thêm phiền
    Rõ đặng tính không thực
    Hiểu rành cửa diệu huyền.

    Dương Sinh: Cúi đầu lạy tạ đức Thiên Tôn đã ân ban kinh báu, tai nghe chân kinh nếu như những chỗ trí hiểu nổi tâm thần rất thanh tĩnh sảng khoái. Chúng sinh dưới gầm trời từ nay lại có thêm một cuốn chân kinh để có thể làm tấm gương soi sáng chung.

    Thiên Tôn: Mong những ai theo học đạo trong thiên hạ đều có thể học kinh “Định Quán” này. Những kẻ học tập thiền định cần phải tụng niệm để có thể tự nhập định thông chân lí, nếu như có điều không thể bàn bạc chứng nghiệm nổi cũng đừng nên khinh thường. Tôi lại dẫn Dương Thiện Sinh tới thăm điện Linh Tu nghe Linh Bảo Cao Chân thuyết pháp.

    Dương Sinh: Thưa hay quá. Cảm tạ sự hướng dẫn của đức Thiên Tôn. Điện Linh Tu lớn mênh mông, không vương mùi tục lụy, có rất nhiều bậc chân tu đạo cao đức rộng, vị nào vị nấy toàn thân hào quang tỏa chiếu sáng ngời, nét mặt đầy vẻ từ bi ân đức. Xin thỉnh vấn bậc cao chân, không rõ ngài đã tu luyện cách nào mà ngày nay đạt được quả vị này?

    Huyền Linh Kim Tiên: Lành thay, tôi thành đạo đã được hơn trăm năm rồi, vốn sinh trưởng tại Tứ Xuyên, song thân lại qua đời từ thuở tôi còn thơ ấu, cho nên phải lang thang khắp chốn xin ăn, song lòng dạ không tham lam, chỉ mới lưng lửng bụng đã ngưng. Có một bữa nằm nghỉ bên lề đường, đại sư Mông Thánh Đức thâu nạp tôi làm đệ tử, truyền đạo ban pháp, trải quá mười năm khổ luyện, gặp bao phen ma quỷ thử thách mà vẫn không thối chí nên mới đạt được thành quả như bữa nay.

    Dương Sinh: Thưa ngài có thể tường thuật lại quá trình tu đạo của ngài để làm gương cho thế nhân noi theo không?

    Kim Tiên: Việc hồng trần tôi chẳng còn thắc mắc, nên thiết nghĩ không cần bàn tới làm chi.

    Thiên Tôn: Để độ người cứu đời, mong Kim Tiên cứ bày tỏ.

    Kim Tiên: Thưa cũng được, không phải tôi thiếu lòng từ bi, song người đời khó độ. Nhớ lại quá khứ tu đạo của tôi thực là gian nan vất vả, chịu đủ mùi khổ cực đắng cay, uống nước lạnh, ngủ giường tre, khi tham thiền vận khí, nhập định xuất thần, trải hàng tháng hôn mê, bệnh mỗi ngày một tăng chứ không thuyên giảm, mình mẩy ghẻ lở cùi hủi, bị thầy đuổi ra khỏi cửa, cơ thể suy nhược nhưng chí đạo vẫn vững bền. Sau thầy ban linh đơn uống vào, những chỗ lở loét ăn da non, đóng vẩy khỏi dứt bệnh khỏe khoắn như xưa. Có một lần sử dụng thần lực chữa bệnh, bệnh nhân mỗi ngày một đông, có cả hàng ngàn người xin chữa bệnh, quan phủ cho là tôi dùng bùa ngải mê hoặc tụ tập dân chúng liền bắt tôi bỏ ngục. Ở trong ngục tôi liền tọa thiền nhập định và đã thấy được rằng đó là nghiệp báo của nhiều kiếp trước tích tụ, để tránh khỏi bị tù tội tại chốn âm ti sau này ắt phải nhờ gông cùm thế gian giải trừ, cho nên ở trong ngục không những lòng tôi chẳng chút oán hận, mà còn tĩnh tâm sám hối để mong được giải nghiệp, lấy việc tu hành để lập công chuộc tội. Sau nửa năm điều tra xong thấy tôi không có tội liền thả tôi ra. Một hôm vào buổi chiều trên đường về gặp một thiếu phụ nhan sắc tuyệt vời chắn đường tự nguyện vái lạy, tôn tôi làm thầy để cầu âm dương song tu, những lời nói ra đều là những lời dâm đãng thiết tha van nài, cử chỉ cực kì khiêu khích sự động tình, xác thân quá khiêu gợi dễ làm sa ngã lòng người. Tôi liền nghiêm giọng cự tuyệt, thấy tôi đứng yên không nhúc nhích, nàng ôm chầm lấy vuốt ve mơn trớn, nhưng tôi vẫn kiên định được đạo tâm. Cuối cùng nhắm không thể quyến rũ nổi tôi nàng mới bỏ đi. Sau này tôi được rõ nàng chính là ma nữ chuyên đem nhan sắc để thử lòng dạ kẻ tu hành. Quả thực là may mắn, vượt ải mà thoát nổi cảnh ngụp lặn trong biển tình ái ân dục lạc, cho nên kẻ tu đạo phải rất thận trọng trong vấn đề này, nếu gặp cảnh ngộ tương tự, phải nên tâm niệm ngay rằng xác thân huyền ảo, phấn trắng son hồng trang điểm đẹp đều cốt để làm mờ mắt mê đắm tâm hồn, quả là dao sắc giết người.

    Thơ

    Tu tâm tiên tác như thị quán
    Sắc tướng giai ảo hữu hà tham
    Tứ đại giả hợp vô thường hạn
    Khổ khổ liên thiên xuất thế nan.

    Dịch

    Tu tâm phải hiểu rõ căn nguyên
    Chớ có say mê cảnh hão huyền
    Thân xác nay còn mai đã mất
    Chán đời khổ ải muốn thành tiên.

    Chẳng đáng sợ lắm sao! Phàm những kẻ tu đạo ắt gặp nhiều hoạn nạn, vả lại để nghiệp chướng ba kiếp tiêu tan, cho nên ta phải sẵn sàng hân hoan chấp nhận để cho yêu ma khảo đảo. Khuyên người đời tu đạo, gặp nạn ma hành ốm đau khổ sở, hoặc thân thể cửa nhà đổi thay tan nát, chớ có nản lòng thối chí, một sớm ngã gục ắt là ma thắng đạo bại vậy. Tôi tu tới mức tiêu trừ được nghiệp chướng, phát hiện được tâm linh nguồn cội, thoát xác bay thẳng lên cõi Đại La Tiên Cảnh, muôn kiếp sống tiêu dao, cùng các Kim Tiên trao đổi ánh hào quang của đạo, vĩnh viễn thoát vòng luân hồi.

    Tế Phật: Vì thời giờ có hạn thầy trò tôi phải trở lại Thánh Hiền Đường. Cảm tạ đức Thiên Tôn cùng chư vị Kim Tiên đã ban ân chỉ giáo.

    Thiên Tôn: Tiễn hai vị trở lại Thánh Hiền Đường.

    Dương Sinh: Lạy tạ đức Thiên Tôn cùng chư vị Kim Tiên, xin cáo từ.

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.




    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:24 pm với 2 lần trong tổng số.

Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group