Thiên Đường du ký - Dịch giả: Đào Mộng Nam

  • Lòng Trắc Ẩn

    January 28th 2010, 12:50 pm
  • HỒI CHÍN

    DẠO CUNG NGỌC HƯ NGHE NGUYÊN THỦY THIÊN TÔN THUYẾT PHÁP

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 3 tháng 8 năm Kỉ Mùi (1979)


    Thơ

    Nguyên thủy hư không hiệu lí thiên
    Nguyên linh tụ khí pháp luân viên
    Thiên Thần vạn Phật xuất vô cực
    Nghịch lữ hồi đầu tạ tục duyên.

    Dịch

    Nguồn cội vô vi vốn tính trời (1)
    Pháp luân linh khí luyện không ngơi
    Muôn Thần ngàn Phật từ vô cực
    Quán trọ hồi tâm mặc chuyện đời. (2)

    Tế Phật: Người đời chỉ vì một chút lỡ trớn mà bị sẩy chân rớt xuống biển sâu hố thẳm khổ đau, khi ấy mới tha thiết muốn bay lên cõi trời, song thực tế khi vươn mình nhảy chỉ cao được một vài thước, sở dĩ như thế là bởi sức hút của quả đất không cho phép vậy. Người đời tu đạo muốn thoát li luân hồi ắt phải lìa bỏ lòng ham muốn vật chất ở cõi đời hình danh sắc tướng không thực này, bởi kẻ bị dòng đời ô trược cuốn hút, tâm họ si mê ngụp lặn trong đó. Khí trược giáng xuống ngưng đọng thành đất, nên dưới đất tự nhiên xuất hiện cảnh địa ngục khổ đau, còn cảnh dạo thăm của thầy trò mình ngược lại là cảnh thanh nhẹ cõi trời, vậy Dương Sinh phải mau vứt bỏ tất cả các thứ còn dính dấp đi mới mong bay tới chốn thần tiên cõi Vô Cực được.

    Dương Sinh: Ân sư dạy con phải “vứt bỏ” nhưng thưa con không rõ “vứt bỏ” gì?

    Tế Phật: Vứt bỏ cái túi con đeo sau lưng cùng nỗi lo lắng gặp trở ngại trong lòng mình, phải quên hết những thứ đó, ngay cả thân mình cũng ném đại vào không trung, tuyệt đối không được đeo mang một chút gì, có như vậy thể xác mới thanh thoát nhẹ nhàng bay lên tới cõi trời.

    Dương Sinh: Ân sư dạy như vậy nhưng người đời làm sao vứt bỏ nổi những thứ đó?

    Tế Phật: Mắt nhìn không ghi, tai nghe không chép thì tâm mới ngay thẳng không cong quẹo. Túi vứt bỏ, trở ngại vượt qua thì “huyết tâm” hóa thành “đạo tâm”, người ta mới mọc được đôi cánh, giống như mũi tên để có thể xông thẳng lên trời. Còn nếu tâm cong như lưỡi câu, khi ném vào bể khổ lưỡi câu mắc phải gỗ chìm nổi ắt là nghiệp chướng tới, dầu Tiên Phật có muốn cứu vớt cũng chẳng được.

    Dương Sinh: Cảm tạ ân sư đã dùng búa bổ để biến cải “tâm phàm” của con hóa “tâm thánh” hầu theo nổi gót ân sư bay tới cõi thiên đường, lạy mừng ra mắt các đấng thánh thượng cao siêu.

    Tế Phật: Ha ha, quả nhiên con đã hồi tâm đổi ý, giữ lòng ngay dạ thẳng thăng tiến thiên đường. Mau lên đài sen, thầy trò mình sẽ cùng thưởng thức phong cảnh tươi sáng chốn thiên đường để tiêu sầu giải muộn.

    Dương Sinh: Thưa ân sư, quả đúng như vậy. Con đã sửa soạn xong, mời thầy lên đường.

    Tế Phật: Dẫn trò ngoan cỡi đài sen lên cõi Đại La Thiên, càng tới chốn cao vời càng cảm thấy thân tâm phơi phới, việc đời có quan trọng mấy cũng gác bỏ qua bên, cắt đứt mọi ràng buộc lòng chẳng chút âu lo, tự nhiên về tới cõi trời xưa. Bữa nay thầy trò mình tới cung Ngọc Hư lạy chào ra mắt đức Nguyên Thủy Thiên Tôn... Đã tới nơi, Dương Sinh mau xuống đài sen.

    Dương Sinh: Bạch thầy nhìn ánh hào quang lấp lánh, hai mắt mở không được, có lẽ con chịu không nổi.

    Tế Phật: Cảnh thần tiên nơi cung Ngọc Thanh trừ những vị đắc đạo thánh thượng cao siêu, còn phàm nhân cùng thần linh bậc trung khó bề lên tới nổi. Bởi Ngọc Hư là suối nguồn đạo lớn, đạo khí vô biên vô tận, mạnh mẽ khó bề địch được, còn con là người trần, tuy có đạo lực song “lư hỏa” tức lò điển còn đục, nên tới thăm cảnh thần tiên Vô Cực hẳn là gặp nhiều trở ngại, thầy ban cho con viên thuốc linh đan này, uống mau đi để trợ giúp cho sức đạo mạnh lên.

    Dương Sinh: Đa tạ ân sư, con uống xong linh đan lập tức nguyên thần tăng gấp bội, thân mình có thể tỏa sáng và con cảm thấy vừa tới đây ánh sáng mạnh biết là bao nhiêu thế mà biến thành êm dịu được ngay.

    Tế Phật: Đó là phép dùng ánh sáng hòa cùng ánh sáng, dùng thần hợp với thần, kẻ tu tới mức phát được ánh sáng ắt là có thể cùng Tiên Phật dung hóa đạo lực.

    Dương Sinh: Ngôi điện lớn đằng trước, phía trên có đề ba chữ “Ngọc Hư Cung” tức cung Ngọc Hư, hào quang lóa cả mắt, lầu gác lớn rộng, mây ngũ sắc phất phới bay, khí chính trực chất ngất, không biết có phải đây là điện của đức Thiên Tôn ngự không?

    Tế Phật: Cung Ngọc Hư này còn gọi là cung Ngọc Thanh tức nơi đức Thiên Tôn ngự, chúng ta mau vào trong vái lạy ra mắt ngài, không thể thất lễ.

    Dương Sinh: Kính lạy ra mắt đức Nguyên Thủy Thiên Tôn, đệ tử là thánh bút Dương Thiện Sinh, phụng chỉ viết sách, bữa nay theo thầy tới cung Ngọc Hư vái lạy ngài. Từ lâu con vốn ngưỡng mộ danh thánh Thiên Tôn, giờ đây được chiêm ngưỡng dung nhan đức thánh, quả thực là ba kiếp mới có được vinh hạnh này, kính xin đức Thiên Tôn ban lời vàng ngọc để chỉ rõ bến mê.

    Nguyên Thủy Thiên Tôn: Tốt lành lắm thay, suối đạo Thánh Hiền Đường do tôi khai nguồn ánh sáng, ngày nay có được sự nghiệp huy hoàng tôi rất quý mến. Đạo lớn hóa sinh dùng lời chẳng diễn tả nổi nên tôi không nói, hãy nhìn theo hướng ngón tay tôi chỉ.

    Dương Sinh: Con quá ngu si nên không hiểu nổi lời dạy của đức Thiên Tôn.

    Thiên Tôn: Ngả đường phía trước dẫn thẳng tới căn nhà cũ của con, nhìn theo tay thánh chỉ con có thấy? Có hiểu nổi không?

    Dương Sinh: (Mỉm cười gật đầu). Thưa con hiểu, con hiểu.

    Thiên Tôn: Chỉ cho con rõ bản tính chân thực của con. Đạo ở ngay trong đó, kẻ giác ngộ tự biết, kẻ mê muội dù có đuốc soi đường cũng chẳng thấy, bởi vì lòng khỉ ý ngựa nghiêng bên nọ ngã bên kia, cuối cùng bị rớt xuống âm phủ. Đạo lớn nguyên thủy tiên thiên ý nghĩa chỉ bao gồm có bấy nhiêu thôi, bấy nhiêu nhưng cũng đủ làm điên đầu người đời khiến chẳng thấu tỏ, thật đáng tiếc! Đáng tiếc!

    Dương Sinh: Cảm tạ những điều đức Thiên Tôn vừa chỉ dạy, con xin ghi nhớ.

    Thiên Tôn: Khí duy nhứt của Vô Cực Hỗn Nguyên vốn là chân bản tính của chín mươi sáu nguyên linh, song vì chúng sinh mê muội chẳng biết quay đầu hồi quang phản chiếu nhìn rõ chính mình, lại đi dòm ngó sự xấu tốt của kẻ khác từng giây từng phút, vì tâm thần hướng ngoại cho nên đã lìa xa đạo lớn Tiên Thiên Vô Cực. Bữa nay vì Dương Sinh mà truyền trao, vậy phải giữ kĩ lấy gốc tâm, gốc tính, gốc linh, có chuyên chú vào đó mới nắm được cái duy nhứt, về được nguồn cội, có thể tự thâu khí trời đất nuôi dưỡng hạt mầm, trồng cây sinh quả. Tu đạo chẳng có chi là khó cả, chỉ cần ghi nhớ một câu này: “Hãy tự trách hỏi mình, khoan xét nét người” (Đa vấn tự kỉ, thiểu quản tha nhân) nếu được như vậy, bảo đảm đắc đạo, chắc chắn nên người, thành Tiên, thành Phật.

    Dương Sinh: Lí đạo siêu diệu của đức Thiên Tôn quả độ được muôn loài chúng sinh.

    Thiên Tôn: Cũng bởi tại muôn loài vạn vật mà một gốc chia ra muôn ngàn cái khác biệt.

    Dương Sinh: Kính xin đức Thiên Tôn giảng dạy nhiều cho về lí đạo cao siêu.

    Thiên Tôn: Để phát huy đạo lớn hầu phổ độ chúng sinh nên bữa nay tôi mới đặc biệt thuyết giảng, giờ xin lược thuật về lẽ thiên cơ huyền nhiệm như sau: Nhớ lại từ Nguyên Thủy Thiên Vương (Huyền Huyền Thượng Nhân, Lão Mẫu, Đại Đạo, Chân Phật, Chân Chúa) một khí hóa sinh, trong nhẹ nổi, trược nặng chìm trở thành trời đất. Hình thể trời bao bên ngoài trái đất chẳng khác nào lòng quả trứng cũng “trắng” bọc “vàng”, rồi nhờ đất mà có loài người sinh ra, bởi vậy cho là trên trời dưới đất tức là chưa biết chỗ đứng của đất, bởi vì trên dưới và bốn phía xung quanh đều là trời cả. Trời tự nhiên như đồng hồ mười hai giờ nọ xoay tiếp mười hai giờ kia, như mười hai tầng lầu trong cơ thể con người, phía trên mười hai tầng đó là vô cùng vô tận, nên còn gọi là mười ba tầng trời. Đất ở dưới nặng chìm tới mức cùng cực thì trở lại lúc ban đầu mà hòa với trời, vì vậy mới lấy tiếng “cửu trùng” tức là tới cuối của chín thì trở lại mức khởi đầu (cửu cực hựu hoàn nguyên dã). Thứ nhất lấy đất làm tối cao, tối trọng vì là nơi tú khí tựu hợp, ngưng đọng khô cứng lại mà thành đá, đứng cao chót vót thành đỉnh núi. Thứ nhì cao hơn mặt đất một chút gọi là gò, cao hơn nữa gọi là đồi. Thứ ba là “cảo nhưỡng” tức khô cứng, hướng tây bắc thế đất khô se, cát cuốn bụi bay, cây cằn cỗi. Thứ tư là “ti thấp” tức thấp trũng, hướng đông nam đất thấp nước nông hình thế rất trũng cạn. Thứ năm là “xuyên trạch” tức sông trằm, phàm sông lớn, trằm rộng ắt đất trũng phải be bờ đắp đê để giữ nước. Thứ sáu là “lưu sa” tức là cát chảy, dưới lớp đất đó có cát di chuyển qua lại theo mạch nước ngầm. Thứ bảy là “hoàng tuyền” tức suối vàng vì đất vốn màu vàng nên nước trong đất vừa vàng vừa dơ là suối thuần âm. Thứ tám là “trầm uyên” tức giếng chìm, sâu xa khôn lường, rồng thần ẩn náu, nguồn mạch của nó ăn thông tới “thái không”. Thứ chín là “bạc khái” tức bảng lảng mỏng manh như sương, bọt nước, nước lớn đều cận kề hư vô vậy. Sau cửu trùng là thuần thanh khí, trên đạt cửu trùng thiên gọi là cực tĩnh sinh động, âm hết dương trùm, vì vậy mà quả đất giống trái trứng tròn, cho nên phải biết trên đất, dưới đất, xung quanh đất đều là trời vậy.

    THẬP NHỊ TRÙNG THIÊN (Mười hai từng Trời)

    1. Thái Hư Thiên: Khoảng bên ngoài trái đất mênh mang mờ mịt.

    2. Thi Hóa Thiên: Khoảng mây mưa, sương gió, tuyết giá, sấm sét điện chớp nảy sinh kết tụ rồi tan biến.

    3. Nguyệt Luân Thiên: Còn gọi là Thủy Tinh Thiên. Âm tinh chứa nước cho nên phía ngoài trong suốt nửa sáng nửa tối, sáng là do mặt trời chiếu, tối là vì khuất bóng mặt trời. Chiếu rồi lại khuất, xa gần tăng giảm do đó mới có sự phân biệt giữa trăng thượng huyền và trăng hạ huyền.

    4. Du Đạo Thiên: Mặt trời mặt trăng di chuyển bốn lần trên chín đường. Mùa xuân ngả về hướng đông là “thanh đạo” tức đường xanh, mùa hạ ngả về hướng nam là “châu đạo” tức đường đỏ, mùa thu ngả về hướng tây là “bạch đạo” tức đường trắng, mùa đông ngả về hướng bắc là “hắc đạo” tức đường đen. Trong bốn đường xanh, đỏ, trắng, đen, mỗi đường có thêm một đường phụ thành tám đường cộng với đường xích đạo ở phương nam gồm cả thảy là chín đường. Riêng hai tiết xuân phân và thu phân có nhật thực và nguyệt thực, bốn phương soi chiếu lẫn nhau tạo thêm đường “hoàng đạo” tức là đường vàng.

    5. Dương Minh Thiên: Mặt trời thuộc dương thể, dương tinh tích lửa do đó bên trong và khắp mình đều sáng, âm thua dương nên ban ngày mặt trăng chẳng thể cùng chiếu sáng. Đêm đến, gần xa lần lần xoay chuyển hình thể bị lu mờ nên mặt trời và trái đất ngang nhau, tia sáng tỏa khắp tám phương gọi là trời sao lửa.

    6. Liệt Tú Thiên: Tinh hoa số một của vạn vật là các sao trời cho nên mới gọi là vật tinh anh. Sự vinh hoa của khí dương đều nhờ cậy ở nhị thập bát tú tức hai mươi tám vì sao.

    7. Đẩu Xu Thiên: Các vì sao sống bềnh bồng giữa hư không, ngang dọc trong lòng trời, di động hay ngừng nghỉ đều nhờ ở sức của khí, như trái khinh khí cầu bơm hơi vào thì bay lên, xì hơi ra thì rớt xuống, do đó nhờ sức hấp dẫn kềm chế của khí vô cực này mà các tinh cầu tránh khỏi va chạm tan vỡ. Chòm sao bắc đẩu ở giữa gồm bốn sao đầu là “khôi” ta quen gọi là sao khuê, ba sao cuối là “tiêu” ta quen gọi là “chuôi sao bắc đẩu”. Ban đầu sao “tiêu” là sao bắc đẩu sau là sao diêu quang, sao bắc đẩu khi hết nhiệm vụ thành sao “nam mữu” tức là sao “xu” ở một chỗ ngưng di chuyển, các sao khác theo sao “xu” xoay chuyển như bánh xe quay theo trục xe nên còn gọi là “tôn động thiên” tức các từng trời tôn kính thi hành theo sao “xu”. Sách có nói: “Sao bắc đẩu điều hành để cho mặt trời mặt trăng và năm sao kim mộc thủy hỏa thổ không lấn áp nhau đó là cầm nắm phép trời vậy” (Tuyền ki ngọc hoành, dĩ tề thất chính, pháp hồ thiên dã).

    8. Bất Động Thiên: Trời và mặt trăng mặt trời nhất cử nhất động đều tuân theo đúng quy luật, không mau không chậm, ngày đêm qua lại chia làm bốn mùa, đều xoay chuyển theo đúng nhịp của sao “đẩu tiêu” trong khi đó thì sao “đẩu xu” hoàn toàn bất động, ngừng nghỉ im lìm nên còn gọi là “thường tĩnh thiên” tức vòng trời hoàn toàn tĩnh mịch. Do đó mới nói cùng cực của “hư vô” chuyển thành “thực hữu”.

    9. Khung Lung Thiên: Tầng trời này giống như đất chia thành chín phần, mỗi phần đều có giới hạn, căn cứ vào khí tượng hình sắc để gọi tên. Chính đông gọi là “thanh thiên”, đông nam gọi là “thương thiên”. Chính nam gọi là “dương thiên”, tây nam gọi là “châu thiên”. Chính tây gọi là “mân thiên”, tây bắc gọi là “u thiên”. Chính bắc gọi là “huyền thiên”, đông bắc gọi là “hạo thiên”. Chính giữa gọi là “quân thiên” cũng còn gọi là “hoàng thiên”.

    10. Diễm Ma Thiên: Chia sao làm ba khu vực, chính giữa là khu vực của sao “tử vi”, phía trên là chốn đức Ngọc Hoàng ngự, phía dưới là nơi đức Kim Khuyết ở, đằng trước là khu vực của Thiên Đình, có cung điện thiên đế. Vì vùng trời này lửa thiêu đốt dữ dội nên gọi là Diễm Ma Thiên tức từng trời lửa chà xát nóng bỏng.

    11. Khối Xuyên Thiên: Cũng còn gọi là “Đâu Suất Thiên” cực kì trong sáng thanh tịnh luôn luôn vắng lặng, chốn cư ngụ của đức Đạo Tổ cùng các vị di lặc và bồ tát.

    12. Đại La Thiên: Nơi các đức Huyền Huyền Thượng Nhân, Tam Thanh và Ngũ Lão ngự. Tại nơi cực cao vời, bên trên mười hai từng trời này là chốn đức Huyền Huyền Thượng Nhân cư ngụ và ngài nhìn thẳng xuống cõi phàm trần, nơi đây vô cùng sáng chói, dày đặc muôn vẻ.

    Dương Sinh: Bẩm, con thường nghe nói đức Ngọc Đế, trên cai quản ba mươi sáu từng trời, dưới trông nom bảy mươi hai tầng đất, thưa ý nghĩa như thế nào?

    Thiên Tôn: Trời có quá nhiều phép nhiều từng, người đời thường nói chín từng, mười hai từng, ba mươi ba từng, ba mươi sáu từng... Giờ tôi xin giảng rõ như sau: Trời vốn vô cùng vô tận, trên dưới đều là trời. Thuở trời mới tạo thành, chi chít những tinh cầu, phải tới được nơi thánh cảnh vô cực mới tách lìa khỏi khí chất của các tinh cầu. Trời lấy ba mươi sáu độ tròn là một vòng cho nên nói ba mươi sáu từng trời. Trên trời dưới đất như bóng râm và cây, bội số của ba mươi sáu từng trời là bảy mươi hai từng đất. Từ vòng tròn ở giữa chia vạch thành chín, mười hai, hai mươi tám, ba mươi hai, ba mươi ba, ba mươi sáu. Như người xây cất nhà cửa, trước phải dựng sườn rồi sau mới chia từng và ngăn phòng, còn phân biệt phương hướng thì có đông tây chính giữa và bắc nam gồm cả thảy năm phía. Trời ban đầu là vô cực được biểu thị là một vòng tròn, rồi đạo sinh ra một, một sinh ra hai, hai sinh ba, ba sinh muôn loài, cho nên trời có vô số trời, lấy trời sáng, trời dương làm tốt; trời tối, trời âm làm xấu. Tu đạo chớ quan trọng ở con số nhiều ít, các con số vốn do từ 0, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 biến hóa thành, không lìa xa lẽ một của đạo lớn. Nay lấy con số mười hai quan trọng để nói sơ lược về trời, tiếp tới bội số của mười hai là ba mươi sáu trời, vì các con số về trời thêm bớt gia giảm biến hóa vô cùng tận. Kẻ lo tu đạo bao gồm được cả ba cõi trời, đất, người hẳn là có thể giác ngộ thông suốt được ngay. Nay thuật sơ lược như vậy để người đời tạm rõ.

    ĐẠO GIÁO TAM THẬP LỤC THIÊN (Ba mươi sáu từng trời theo Lão giáo)

    1) Đại la thiên.
    2) Thanh vi thiên.
    3) Vũ dư thiên.
    4) Đại xích thiên.
    5) Cổ tiêm thiên.
    6) Phạm độ thiên.
    7) Ngọc long thiên.
    8) Thường dung thiên.
    9) Tú lạc cấm thượng thiên.
    10) Hàn sưng diệu thành thiên.
    11) Uyên thông nguyên động thiên.
    12) Hạo đình tiêu độ thiên.
    13) Vô cực đàm thệ thiên.
    14) Thượng thiện nguyễn lạc thiên.
    15) Vô tư giang điền thiên.
    16) Thái hoàng ông trọng thiên.
    17) Thủy hoàng hiếu mang thiên.
    18) Hiến định cực phong thiên.
    19) Thái an hoàng nhai thiên.
    20) Nguyệt tải khổng thăng thiên.
    21) Thái hoán cực dao thiên.
    22) Huyền minh cung khánh thiên.
    23) Quán minh đoan tĩnh thiên.
    24) Hư minh đường diệu thiên.
    25) Trúc lạc hoàng gia thiên.
    26) Diệu minh tông phiêu thiên.
    27) Huyền minh cung hoa thiên.
    28) Xích minh hòa dương thiên.
    29) Thái cực mông ế thiên.
    30) Hư vô bình dục thiên.
    31) Thất diệu ma di thiên.
    32) Quang minh văn học thiên.
    33) Huyền thai bình dục thiên.
    34) Thanh minh hà động thiên.
    35) Thái minh ngọc hoàn thiên.
    36) Thái hoàng hoàng tăng thiên. (3)


    PHẬT GIÁO TAM GIỚI NHỊ THẬP BÁT THIÊN (Hai mươi tám tầng trời theo tam giới Phật giáo)

    1) Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiên.
    2) Vô sở hữu xứ thiên.
    3) Thức vô biên xứ thiên.
    4) Không vô biên xứ thiên.
    5) Sắc cứu cánh thiên.
    6) Thiện hiện thiên.
    7) Thiện kiến thiên.
    8) Vô nhiệt thiên.
    9) Vô phiền thiên.
    10) Vô tưởng thiên.
    11) Quang quả thiên.
    12) Phúc sinh thiên.
    13) Vô vân thiên.
    14) Biến thanh thiên.
    15) Vô lượng tĩnh thiên.
    16) Thiểu tĩnh thiên.
    17) Quang âm thiên.
    18) Vô lượng quang thiên.
    19) Thiểu quang thiên.
    20) Thái phạm thiên.
    21) Phạm phụ thiên.
    22) Phạm chúng thiên.
    23) Tha hóa tự tại thiên.
    24) Hóa lạc thiên.
    25) Đâu suất thiên.
    26) Dạ ma thiên.
    27) Lợi hữu thiên.
    28) Tứ thiên vương thiên.


    Dương Sinh: Đức Thiên Tôn dạy chân lí siêu diệu, song con còn nghe tu đạo thì ắt vượt thoát khỏi tam giới thưa là thế nào?

    Thiên Tôn: Tam giới gồm: Vô sắc giới, sắc giới, dục giới. Ngoài ba giới là các cảnh giới khác như Đại La Kim Tiên, Đại Thành Chí Thánh, Đại Giác Như Lai Phật. Tôi tạm vẽ sơ đồ chỉ rõ như sau:



    Thiên Tôn: Tu trì đạo lớn nếu tới được cõi vô sắc giới tức đạt mức thượng thừa Vô Cực là cảnh giới tối cao. Tuy nhiên không được để cho hư không trói buộc, như người đeo vàng ở cổ chủ ý giấu mặt song vẫn có sự ngăn che, cho nên phải vượt thoát lên trên giống như nhà không lợp mái mới có thể thông suốt tròn đầy (12), không mảy may ngăn mé, chẳng chút chi cản trở, đó gọi là siêu tam giới. Người đời rất nhiều kẻ truyền dạy sai chân lí nên cho là chỉ có Phật mới có thể vượt thoát được tam giới, chẳng hiểu rằng Tiên Thánh Vô Cực cũng ở ngoài tam giới. Cho nên kinh sách có nói: “Phàm những gì thuộc về hình tướng đều hư ảo” (Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng), không màu sắc hình tướng tức là vô cực vậy. Nếu như thoát xác tự do, từ bỏ thân “kim” vượt lên cõi không vô sắc, cõi không vô cực gọi là mục đích tối hậu niết bàn. Chúng sinh dưới gầm trời đều là chín mươi sáu nguyên linh, cho nên bất cứ quy y tôn giáo nào, đầu tiên ắt phải diệt chấp trừ tướng, bỏ thói phỉ báng tôn giáo khác, không được phân biệt, oán ghét, nếu cưỡng lại ắt là tâm có chứa vật, tuy có công đức nhưng tâm vẫn chẳng thể trống không được, như đồ hình biểu thị nửa âm nửa dương (xem hình tròn vẽ nửa đen nửa trắng ở trên) chỉ mới tới được quả vị cõi thái cực sắc (sắc quá mức) chưa đạt được đạo quả siêu thăng cõi vô sắc. Mong rằng sau khi nghe tôi thuyết pháp, mau mau sửa đổi sai lầm, bỏ chấp tướng, nếu trái lời ắt sẽ uổng phí một đời khổ tu mà pháp chẳng thông cuối cùng lại bị đày đọa chốn a tu la địa ngục. (13)

    Dương Sinh: Đức Thiên Tôn đạo cao đức dày, những lời dạy đạo quả là cổ kim chưa từng nghe, tiết lậu lẽ huyền bí của đạo lớn, xin cúi đầu lạy tạ những lời khuyên nhủ.

    Tế Phật: Thiên Tôn là bậc thầy của cõi trời, cho nên đã bày tỏ lẽ huyền vi để cho người đời có thể hiểu biết sâu xa sửa chữa những điều sai lầm của các nhà truyền giáo giảng pháp, cùng bài bác tà thuyết, cấm chỉ dị đoan, mong rằng chúng sinh dưới gầm trời có duyên, chăm đọc sách này để tâm trí quán thông hầu tự mình giác ngộ đạo, khôi phục lại được bản tính nguyên thủy.

    Thiên Tôn: Ba ngàn đại thiên thế giới đều do Thượng Đế sinh ra, kẻ truyền giáo tự đóng cửa gây chiến tranh hoài, khí ghen ghét lên cao mãi, cứ cố chấp không giải tỏa cho nên chưa thể vượt thoát khỏi ngũ hành của ba cõi, thực đáng tiếc lắm thay! Kể từ cõi Ngọc Thanh trở xuống thì cảnh giới cõi Thượng Thanh là tầng thượng khí ban sơ của Thượng Đế trực tiếp ân ban. Cảnh giới Thái Thanh là tầng trung khí của Thượng Đế, xuống tới cảnh giới nhân gian là dư khí của Thượng Đế, cho nên cõi thượng giới của chư Tiên chư Phật nhận trực tiếp nguyên tánh của vũ trụ, bởi vậy được thừa hưởng tầng khí rất sâu dày. Cõi trung giới các tinh cầu của chư thần lại thừa hưởng khí ở thượng giới của chư Tiên Phật biến thông nên khí này đã bị loãng tạp. Loài người tuy thiếu mất dư khí của Thượng Đế để thành thân, nhưng lại có thể tiếp thâu tính quang của tiên thiên để thành tựu vạn đức vạn hạnh nên vẫn có thể trở về trời. Nếu phản bội ắt tự đem thân thừa hưởng dư khí của Thượng Đế nhận chìm xuống hố vật dục ô trược mà làm cho tan loãng hết vậy, tính quang nếu như bị mất hết tức là tự tạo địa ngục. Mong thế gian hãy nhận chân lòng trời cùng lời tôi nói, giữ gìn thiện tâm hầu dốc hết lực cứu vớt chúng sinh, giúp đỡ đồng bào vượt sông mê tới bến đạo, gọi là có ít lời dặn bảo.

    Dương Sinh: Xin kính vâng lẽ đạo của đức Thiên Tôn ban truyền, quỳ lạy tạ ơn...

    Tế Phật: Nay nhờ đức Thiên Tôn chỉ dạy rõ cơ huyền nhiệm, chúng sinh dưới gầm trời quả là có phước. Vì thời giờ eo hẹp, tôi phải đưa Dương Sinh trở lại Thánh Hiền Đường.

    Thiên Tôn: Lí đạo siêu diệu nói không hết, chân tâm tự lo tròn.

    Dương Sinh: Đa tạ đức Thiên Tôn, thầy trò con xin cáo từ.

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.

    (13) Tu cũng vẫn bị đày, chớ không phải nói tu mà không bị đày, phải coi chừng.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:26 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    January 28th 2010, 8:42 pm
  • HỒI MƯỜI

    LẠI DẠO CUNG NGỌC HƯ NGHE NGUYÊN THỦY THIÊN TÔN THUYẾT PHÁP

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 26 tháng 8 năm Kỉ Mùi (1979)


    Thơ

    Vinh hoa phú quý bản vô thường
    Mộng lí tương tư dạ thiên trường
    Hỉ duyệt tâm tình nhân bất lão
    Ưu phiền quái ngại khí thần thương.

    Dịch

    Phú quý vinh hoa chẳng được lâu
    Đêm dài tỉnh mộng dạ thêm sầu
    Tâm hồn thơ thới sao già nổi
    Thần khí tiêu hao bởi khổ đau.

    Tế Phật: Cảnh vui tươi sung sướng ở chốn thiên đường bao la bát ngát, quốc gia này không phân biệt tôn giáo, chủng tộc; chuyên thâu nạp lưu giữ những người hiền đức, có đạo tâm, gồm các phẩm trật như sau: Đệ nhất phẩm được tới cõi thiên đường thượng giới, đệ nhị phẩm được tới cõi thiên đường trung giới, đệ tam phẩm được tới cõi thiên đường hạ giới; đệ tứ, ngũ, lục phẩm, v.v... dành cho phàm nhân, ma quỷ cùng bốn loài sinh vật hạ đẳng trong sáu ngả luân hồi. Ngay đài sen cũng có tới chín phẩm trật nên tùy theo công đức lớn hay nhỏ mà phân loại thấp cao. Mỗi người đều có Phật tính, ai nấy đều được trời ban phát đạo căn, nếu tu thân dưỡng tính, không vùi dập nguyên linh, sau khi lìa đời, chắc chắn trở về được nguồn cội là chốn đất Phật, đất đạo đó là phản bổn hoàn nguyên hay chứng đạo thành đạo. Trời ban cho người quả vị chân linh tròn đầy, nếu như một đời lo vun bồi gìn giữ được hẳn của báu vẫn là của báu. Lúc sống cũng như sau khi chết khối nguyên linh quý giá không chút suy suyển, cho nên Kinh Thanh Tĩnh nói: “Gọi là đắc đạo nhưng thực ra thì chẳng được gì cả” (Duy danh đắc đạo, thực vô sở đắc). Tu đạo là để khôi phục lại tính trời đã phú cho buổi ban đầu chứ chẳng phải để sử dụng phép thần thông huyền bí. Bữa nay lại dẫn Dương Sinh dạo cung Ngọc Hư bái yết Nguyên Thủy Thiên Tôn, Dương Sinh mau lên đài sen để thầy trò mình cùng đi.

    Dương Sinh: Con đã sẵn sàng, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: ...Đã tới cung Ngọc Hư thuộc cõi trời trong xanh mầu nhiệm, Dương Sinh mau xuống đài sen, tới lạy chào ra mắt đức Nguyên Thủy Thiên Tôn.

    Dương Sinh: Thưa vâng... Thánh cảnh Ngọc Hư quả khác hẳn trần gian, một khối ánh sáng như bóng mặt trời ở cõi dương gian, hào quang tỏa ngời. Phía bên cung điện Tiên Đồng tựu họp đông đảo chắc là để đón tiếp ân sư và con.

    Tế Phật: Ngọc Hư tức là Ngọc Kinh Huyền Đô, ở bên ngoài ba mươi ba tầng trời là nơi đức Nguyên Thủy Thiên Tôn ngự, người phàm chỉ những bậc đắc đạo cùng công đức sâu dày mới được tới đây. Bữa nay phụng chỉ viết Thiên Đường Du Kí được trời ban ân phước lớn thầy mới dẫn con tới đây nổi, có thể nói là ba kiếp mới được vinh hạnh này vì duyên may ngàn năm khó gặp (Tam sinh hữu hạnh, thiên cổ nan phùng). Bởi Ngọc Hư là cội nguồn đạo lớn của ba cõi nên mới được tôn vinh là Nguyên Thủy Thiên Tôn, nay tới bái yết ngài là để thỉnh ý về nguyên do lí đạo, vậy Dương Sinh mau tới lạy chào ra mắt đức Thiên Tôn.

    Dương Sinh: Thưa vâng... Trong cung Ngọc Hư đạo khí tràn đầy, lại còn thấy đức Thiên Tôn đôi mắt huệ dào dạt vẻ từ bi, toàn thân tỏa sáng ngũ sắc, những vòng hào quang xoay chuyển không ngừng, khiến con choáng váng muốn té nhào...

    Tế Phật: Phải cố trấn tĩnh, đức Thiên Tôn đang dùng ánh sáng đạo nhất khí thiên tiên gia hộ cho nguyên linh của con nên con mới có cảm giác đó.

    Dương Sinh: Hiện giờ con đã cảm thấy tinh thần phấn chấn, ánh sáng nguyên linh đầy ắp. Kính lạy đức Nguyên Thủy Thiên Tôn, bữa nay đệ tử theo thầy lên cung Ngọc Hư để xin đức Thiên Tôn ban truyền đạo lí cùng giáo pháp.

    Thiên Tôn: Hai vị trải gian lao khổ cực, xin mời ngồi. Thế đạo tan nát, nhân tâm suy đồi, đến cả linh khí tiên thiên hỗn nguyên do trời ban phát cũng lụi tàn dần. Khoa học phát đạt, đời sống vật chất thương tổn quá mức, khiến chân tính bị chìm đắm đọa đày, đạo đức không tu, cho nên linh khí của chúng sinh tan tác, nổi trôi trong vòng sinh tử, không hi vọng có ngày trở về trời. Lòng trời vốn nhân từ, không nỡ để cho nguyên linh phân tán, do đó đã sai các vị giáo chủ của năm tôn giáo lớn giáng phàm, mỗi ngài lo cứu độ một phương, dốc tâm chỉ dẫn chúng sinh lối lên thiên đường. Nhưng sau khi các ngài qua đời, có biết bao kinh sách bị tín đồ vẽ rắn thêm chân, đánh mất đi sự chân truyền, nay tuy có những người cầu mong học đạo nhưng lại ham thích cao xa không chịu bước trên đất thực, gốc đạo chẳng nghiên cứu tận tường, chỉ tự mãn với cái vỏ da và lông mà thôi, tuy có dốc chí vì đạo, song toàn là nhai đi nhai lại cái xác khô của đạo thực quả là nhạt nhẽo vô vị. Vì thế nay lại giáng chỉ viết thêm cuốn sách thứ hai là Thiên Đường Du Kí để mở vận hội mới, tiết lậu chân lí để trao truyền, sửa đổi những điều mà thế gian bấy lâu nhầm lẫn tuân theo. Phàm những kẻ tu đạo trong thiên hạ, hẳn là phải dụng tâm nghiên cứu sách này, và nếu như muốn thông suốt được ý nghĩa của sách tức phải chăm lo tu tập không ngừng, được như vậy tôi bảo đảm nguyên linh chắc chắn trở về nguồn cội, vì đây là pháp môn “bất nhị” tức là chỉ có một mà không hai, xa rời nó ắt là chẳng có đạo để mà tu vậy.

    Dương Sinh: Kính xin đức Thiên Tôn chỉ dạy cho thế nào là “chân đạo”?

    Thiên Tôn: Người đời tu đạo đều có học Phật, Khổng, Lão, Chúa, Hồi, v.v... Cả trăm ngàn cửa giáo đều xưng là độc nhứt vô nhị, chí cao chí thượng, song chẳng rõ “cao thượng” là tới cảnh giới nào? Đạo vốn không có tên, nên miễn cưỡng gọi nó là đạo, bởi vậy đạo lấy vòng tròn trong không để biểu thị, kẻ đắc đạo trên đầu họ có hào quang tức là ánh sáng của nguyên linh, nguyên linh nếu tối tăm tất nhiên mất sắc thì gọi là “tàn linh” hay “chúng sinh”, thứ linh này gọi là chủng tử luân hồi. Nếu như nguyên linh sinh hào quang thì “chủng tử” không tà, đường luân hồi dứt tuyệt, “linh chủng” trở về nguồn cội tức là nơi đất cũ quê xưa, cho nên Hỗn Nguyên Chân Kinh có nói: “Phàm bên ngoài có hình có chất ắt bên trong có sắc có tướng, nếu quay về được nguồn cội thì đều không còn dấu vết” (Phàm ngoại cầu hữu hình, hữu chất chi thể giả, kì nội trước hữu sắc, hữu tướng chi tích giả, hợp hoàn bản phản nguyên, quân một vi ô hữu). Tiên Phật Thánh đều là những bậc tu tới mức trở về được nguồn cội, cho nên phải hiểu tu đạo là không phân chia môn phái vì hình tướng bên ngoài đều giả dối, chỉ có nội tâm bên trong mới chân thực, chăm lo tu tập vượt trở ngại về được nơi nguồn cội. Thấy rõ được lẽ tu chân chính tức là chân đạo vậy.

    Dương Sinh: Kính thưa đức Thiên Tôn có nhiều người nói về đại đạo nhưng con không được rõ?

    Thiên Tôn: Kẻ đạt lẽ “một” là bậc thánh vì “một” là “nguyên thủy nhất khí” tức là khí ban sơ còn nguyên vẹn chưa phân chia, chưa lẫn lộn. Nay Dao Trì Kim Mẫu phụng mệnh “thâu viên” tức chuyển hóa điều hợp khí đó sao cho thông suốt tròn đầy, vì chúng sinh dưới gầm trời hiện giờ phần đông bỏ quên chân lí. Còn nếu tự thâu phục được tâm linh, đức tính của chính mình để cho nó tròn đầy không còn khiếm khuyết gọi là “thâu viên”. Vì vậy muốn có hào quang thì mọi người, mọi nhà, mọi tôn giáo đều có thể tu, khi thu hồi được thành quả, lại đem nộp về kho chứa “nguyên linh” của nguồn cội ban đầu. Đạo Đức Kinh nói: “KHÔNG là tên gọi nguồn cội của trời đất, CÓ là tên gọi mẹ của muôn loài. Hai cái đó xuất hiện cùng một lượt song mang tên khác nhau, nhưng đều gọi là “huyền” tức mịt mờ, mịt mờ rồi lại mịt mờ vì là cửa ra vào của mọi sự huyền diệu” (VÔ, danh thiên địa chi thủy; HỮU, danh vạn vật chi mẫu... Thử lưỡng giả đồng xuất nhi dị danh, đồng vị chi huyền, huyền chi hựu huyền chúng diệu chi môn). Kim Mẫu là lẽ “MỘT” của Ngũ Lão, và là mẹ của chín mươi sáu nguyên linh cho nên gọi là “mẫu” là “vô danh” tức không tên là “đạo”, cho nên Kim Mẫu sau khi thâu tròn nguyên linh vào trong cơ thể mình rồi, lại còn phải biến đổi sao cho “tam thanh” trong lắng, sau đó đem nguyên linh tẩy rửa cho sạch sẽ để thành “hỗn nguyên nhất thể” tức là thành một thể duy nhứt ban sơ, có như thế sự thâu tròn mới được kể là “tròn đầy” vậy.

    Dương Sinh: Phải cung kính vâng theo lời chỉ dạy ngọc vàng của đức Thiên Tôn mới hoàn thành nổi sứ mệnh, vì đường đạo là cây thang trời giống hình kim tự tháp, có leo nổi lên tới chóp đỉnh mới kể là đạt mục đích.

    Tế Phật: Lão Mẫu Vô Cực cưu mang chín mươi sáu con đỏ trời đất, bà dạy “leo thang trời” là muốn loài người trở về chốn cũ, đôi mắt bà trông ngóng trong suốt nước mùa thu, bà kêu gào cháy cổ bỏng họng là mong mẹ con một lòng, nhưng có mấy kẻ nghe rõ tiếng hồi tâm thức tỉnh? Nghĩ tới cha mẹ, của cái thuở chưa sinh, con người ở chốn nào? Bỏ qua ít chục năm tạm trú nơi căn nhà trần thế làm bằng gỗ đá, con người liệu nhớ nổi rằng nơi cõi trời đất có một căn nhà vàng, nước, lửa, gió đất không xâm phạm, trải nhiều kiếp không đổ nát? Hãy mau tu thành thân kim cương không gì tiêu hủy nổi, mau tới cư ngụ tại thiên đường, nơi bốn mùa đều là xuân.

    Dương Sinh: Thưa nghe lời dạy tâm huyết của ân sư lòng con vô cùng chua xót.

    Thiên Tôn: Mắt huệ của con chưa mở hết, muốn tạo nổi tài năng phải đợi viết xong sách Thiên Đường Du Kí, không những căn nhà vàng của con xây thêm một tầng lầu mà còn cất thêm ngôi biệt thự thiên đường cho ức vạn đồng bào con dưới gầm trời. Thiết tha mong cầu người đời sớm có ngày chăm lo tu đạo lớn, ra sức lập đức, tích cát thành tháp, một sớm thoát khỏi xác thân giả tạm bay thẳng lên chốn cảnh đẹp Đại La Thiên, có tòa biệt thự ngọc vàng chất ngất, sống an nhàn thảnh thơi.

    Dương Sinh: Đa tạ lời khuyên dạy của đức Thiên Tôn, con từng nghe nói người đời tu đạo được về với Lão Mẫu Vô Cực, chẳng rõ như vậy đã được kể là thành đạo hay chưa?

    Thiên Tôn: “Không” là tên của cội nguồn trời đất, “Có” là tên của mẹ đẻ muôn loài, cho nên Nguyên Thủy cùng Lão Mẫu có thể nói là “nhất thể lưỡng diện” tức bên trong cùng chung một thể tính nhưng bề ngoài mang hai bộ mặt khác nhau. Lão Mẫu là “nguyên thủy” tức nguồn cội, sở dĩ chúng sinh kêu là “Lão Mẫu” hay mẹ già vì ngụ ý trời với người tình thân gắn bó. Mẫu thân coi chúng sinh là con đỏ, thương nó, yêu nó cho nên khuôn mặt hiền từ của Lão Mẫu ở trên trời được coi là hiện thân của sự cứu độ chúng sinh. Lão Mẫu ngụ tại trời Ngũ Lão, tựa cửa cung Dao Trì trông ngóng, thệ nguyền độ hết thảy nguyên linh, do đó nếu chúng sinh hết lòng đeo đuổi việc tìm mẹ để trở về nguồn cội tức kể như là đắc đạo vậy. Đã biết rằng con từ mẹ mà ra, và nguyên linh của nó là do trời ban phát, đấng “Huyền Huyền Thượng Nhân” tức người trên cõi mịt mờ hẳn là vị chúa tể chân chính của muôn loài nguyên linh, và cũng là Thượng Đế, nên vái lạy Lão Mẫu tức là vái chào đức Thiên Tôn, Thượng Đế. Bởi vậy phải nhớ nghĩ tới vạn linh đồng bào, tất cả các thần thánh đều từ một nguồn cội mà ra, tuyệt đối tâm không được phân biệt để rồi sinh ra kiêu ngạo, khiến cho đạo khí nguyên linh bất hòa, nếu nghĩ rằng chỉ có mình là cao nhất, rồi khinh khi hết thảy chùa miễu, thánh thần và cho những thứ thuộc cõi hậu thiên thấp kém thì tâm đạo của mình liền xuất hiện bóng tối ngay lập tức, bài xích kẻ khác thì bản thân mình cũng bị lãnh đạn bay ngược lại mà trở thành đọa lạc. Thế mới biết thần ở tại tâm ta, khinh khi thần thánh tức là khinh khi chính mình, những kẻ không tu đạo thường hay có thái độ này. Nếu như cố chấp phần hình tướng của mình, sau khi chết không cách chi hòa hợp với Đại Đạo Vô Cực cùng nhập vào thân thể mẹ mà thành chính quả nổi. Chúng sinh dưới gầm trời đều hít thở chung cùng một bầu khí, bởi vậy khí hết ắt thân chẳng còn, cho nên nói chúng sinh vốn từ một khí mà ra quả là chí lí. Cho nên nếu tu đạo, nguyên linh sẽ trở về cõi trời Ngũ Lão, hội kiến cùng Lão Mẫu, sau khi ngũ khí triều nguyên, nguyên linh cùng bay lên cõi tam thanh, tam hoa tụ đỉnh, rồi lại tiếp tục bay lên cõi Đại La hợp cùng Đại Đạo Vô Cực. Lúc còn tại thế mà giác ngộ thông suốt được Đại Đạo Vô Cực, dứt bỏ hình tướng, chăm lo tu tập, công đức viên mãn, một sớm vượt thoát được xác thân tù ngục ắt là một bước có thể bay thẳng tới cõi Đại La. Bởi vậy ước mong người đời cởi bỏ được mê lầm, gắng tranh đấu lìa xa sắc tướng ắt có thể tự chứng được Đại Đạo Vô Cực. Nay tạm trình bày đồ hình “thâu viên” tức hình vẽ bầu khí chuyển hóa tròn đầy dưới đây để người đời cùng rõ:

    THU VIÊN ĐỒ (Đồ hình bầu khí quyển chuyển hóa tròn đầy)


    1. Cảnh giới không tu thiêng liêng (chốn phàm tục).
    2. Không khí (linh khí) ô nhiễm.
    3. Tư dục, vật dục sung mãn.
    4. Tâm đen tối, thuần âm.
    5. Cảnh tượng địa ngục.(1)


    1. Cảnh tu thiêng liêng mới bắt đầu.(2)
    2. Không khí (linh khí) hơi trong.
    3. Có chút sương, thiên lí sáng sủa.
    4. Bóng tối trong tâm tan dần, ánh dương chớm ló rạng.
    5. Quả vị hạ giới (bên bờ địa ngục).(3)


    1. Cảnh tu thiêng liêng tiếp tục xuất hiện.
    2. Không khí (linh khí) nửa thanh nửa trược.
    3. Âm dương cùng giúp đỡ lẫn nhau.
    4. Giữ vững đạo lớn, khí chất chưa biến hóa.
    5. Quả vị trung giới.(4)


    1. Cảnh tu thiêng liêng tiến cao.
    2. Không khí (linh khí) trong nhiều trược ít.
    3. Dương lớn lên, âm tiêu đi (thường cố chấp hình tướng).
    4. Tư dục thoái bộ, thiên lí mạnh tiến.
    5. Quả vị trung thượng giới.(5)


    1. Cảnh tu thiêng liêng cao vời nhất.
    2. Không khí (linh khí) thanh tịnh.
    3. Thuần thiên lí, thuần dương sáng sủa.
    4. Cửa huyền xuất hiện (thực tướng của chân nguồn cội, vòng tròn hư linh, không nam không nữ).
    5. Quả vị thượng giới (vô hình vô tướng quảng đại viên thông).(6)

    Tế Phật: Lời dạy của Thiên Tôn quả là chí lí, chân đạo vô hình, chân Phật vô tướng, chúng sinh tu đạo bắt buộc phải diệt tướng phá chấp mới có thể chứng đạo quả vô cực. Hãy nhìn hình vẽ vòng tròn vô cực (số 5) trống không ở giữa, chẳng mảy may vật gì bám víu, cho nên tâm ta phải rỗng như hang mới có thể về được cõi hư vô, còn không công đức dù có nhiều mấy đi nữa thì cũng chỉ đạt được quả vị trung thượng giới mà thôi. Bởi vì Ngũ Lão, Tam Thanh, Nhất Khí đều ở trong cảnh giới vô cực, kẻ siêng năng hết lòng tu đạo lớn ắt về được cõi trời Ngũ Lão, cũng còn gọi là về cõi trời Đại La, chúng sinh tu tới được mức đó, đều là do chính mình tự lựa chọn vậy.

    Dương Sinh: Xin hỏi đức Thiên Tôn bên cạnh ngài có một vị đạo đồng nhìn con mỉm cười, con không rõ người đó là ai?

    Thiên Tôn: Ha ha, đệ tử không nhận ra được người đó là ai sao?

    Dương Sinh: Con chỉ cảm thấy hơi quen quen.

    Thiên Tôn: Người đó là đồng tử Ngọc Hư.

    Dương Sinh: A thì ra là như vậy. Hướng đồng tử Ngọc Hư kính chào.

    Thiên Tôn: Đồng tử này là “phân linh” tức nguyên linh chia ra để xuống phàm trần cứu độ chúng sinh.

    Dương Sinh: Xin hỏi đức Thiên Tôn con chẳng rõ cách tiên đồng “phân linh” là như thế nào?

    Thiên Tôn: Phàm tu thành chính quả Tiên Chân, Phật Thánh đều có thể hóa thân phân linh. Vì đạo quả tròn đầy, nước phép tựa suối, có thể tưới ngập nhân gian, phân thân thành ngàn vạn ức, biến hóa vô cùng. Như nước trong chén chỉ vẩy một giọt thành được một vì tiên, hóa được một người, do đó Tiên Phật có thể phân linh giáng thế, đợi tới khi công đức tu hành viên mãn trở về bản vị, nước cũ trở lại chén xưa, đạo quả càng cao. Nay gặp kì phổ độ, Thánh Phật cao chân lớp lớp phát nguyện “phân linh” giáng phàm cứu đời, bởi vậy ngày nay trên trần chẳng thiếu gì thanh niên nam nữ, tuổi còn nhỏ mà đã có nhiều thiện căn, tu đạo chẳng mỏi mệt, khắp nơi độ người đều là các vị Tiên Phật phân linh hóa thân vậy, do đó mà tự tính thiên chân không bị lu mờ.

    Dương Sinh: À thì ra nguyên nhân là như vậy. Khẩn cầu đức Thiên Tôn mở lượng từ bi, đệ tử ở chốn thế gian, mỗi khi gặp người tu đạo cùng các thiện tín, gặp lúc bệnh hoạn nguy khốn, tuy có danh y thần dược nhưng bệnh cũ lui, thì bệnh mới lại tới, tình cảnh triền miên thống khổ, khiến bất cứ ai trông thấy cũng động lòng trắc ẩn xót thương. Đức Thiên Tôn là thủy tổ của các nguyên linh, một khí một nguồn, xin ân ban một phương pháp để giải nguy hầu cứu độ chúng sinh, không rõ ý của đức Thiên Tôn như thế nào?

    Thiên Tôn: Lành thay, lành thay, chúng sinh nhiều bệnh là do tội lỗi kiếp trước gây nên, ma bệnh buộc thân, thống khổ không dứt, đó là hình phạt sống vậy. Vì mong chúng sinh nối liền một khí, nay đặc biệt truyền lệnh “Hỗn Nguyên Nhất Khí trị bệnh linh chú” nghĩa là một khí Hỗn Nguyên trị bệnh linh diệu để giải trừ những căn bệnh nguy ngập. Phàm chúng sinh bị mắc tai ương bệnh tật, thuốc thang không còn linh diệu cùng linh khí tiên thiên bạc nhược, cho nên những bệnh ma quỷ mới xâm nhập nổi. Muốn sớm khỏi bệnh, phải luôn luôn thanh tĩnh thân tâm, nơi nhà vắng đốt hương khấn như sau:

    “Kính bẩm đức Vạn Linh Nguyên Thủy Thiên Tôn, đệ tử (tín nữ) tên là... hiện mắc phải bệnh... bữa nay trước mặt thánh xin phát nguyện sám hối nghiệp ba kiếp, in tặng sách Thiên Đường Du Kí số lượng là... cuốn, để tu công đức cùng kiên nhẫn tụng lời cầu nguyện linh thiêng Hỗn Nguyên Nhất Khí trị bệnh. Kính xin đức Thiên Tôn lãm giám, diệt trừ bệnh tật tai ương”.

    Khấn xong liền tụng “linh chú” tức lời cầu khẩn linh thiêng, mỗi lần có thể đọc từ: chín, bốn mươi chín, chín mươi chín lần tùy ý mà tụng ắt Hỗn Nguyên linh khí lập tức giáng lâm, cứ kiên nhẫn tuần tự làm như vậy mãi, linh khí sẽ phủ ngập toàn thân, bệnh tật gì cũng sẽ tiêu tan hết, dẫu chín phần chết một phần sống cũng qua khỏi. Còn kẻ không phát nguyện chớ có tụng lời chú để tránh xúc phạm tới thần thánh. Mong chúng sinh chớ có khinh thị vậy.

    HỖN NGUYÊN NHẤT KHÍ
    TRỊ BỆNH LINH CHÚ

    (Lời cầu nguyện linh thiêng để trị bệnh bằng khí nguồn cội duy nhất)


    Khấn: Kính bẩm đức “Hỗn Nguyên Nhất Khí” mở lượng từ bi cao cả ban phước cho đệ tử (tín nữ) thoát khỏi bệnh hoạn, cầu xin chính khí năm phương ân giáng xuống thể xác bệnh hoạn này. Kính mời chư thần cùng có công lớn chiếu cố ban “phước khí” điều trị cho đệ tử (tín nữ). Thiên y đại thánh cầu khẩn giáng ngay, mời mọc tới liền, có khấn vái là có linh nghiệm, nếu như trái lệnh sẽ lãnh hình phạt sấm sét trừng trị, xin nghiêm chỉnh tuân theo hình luật.

    Tụng: Tiên thiên, tiên địa, nguyên thủy tổ khí, tước tử thượng sinh, trường sinh tại thế, Ngọc Hoàng tâm ấn, quỷ thần giai ti, khuông duy tam giới, thống nhiếp vạn linh, Nguyên Thủy tổng ấn, vạn thần phụng hành. Tổ khí nguồn cội tiên thiên, tiên địa, tha chết cho sống, sống mãi ở đời, tâm mang hình bóng Ngọc Hoàng quỷ thần đều tránh, giữ trọn tam giới, nắm hết vạn linh, nguồn cội chỉ huy, vạn linh thi hành.

    Tế Phật: Đức Thiên Tôn quá từ bi nên đã đặc biệt ban “linh chú” tức lời khẩn cầu linh nghiệm để trị bệnh cứu mạng, chúng sinh quả là có phước. Mong rằng sẽ hết sức quý trọng bài thần chú thiêng liêng này, tâm thành thì linh ứng, chỉ cần tĩnh tâm sám hối, mọi tội lỗi ắt được các vì sao tốt giáng xuống giúp đỡ, nghiệp chướng sẽ tiêu tan, việc không như ý tự nhiên được như ý mong cầu. Bệnh ma quỷ không hết chỉ có thần thánh mới có thể diệt trừ nổi mà thôi, kẻ chữa bệnh bằng thuốc thang mãi mà không khỏi, đều có thể kiên nhẫn tụng niệm bài thần chú linh thiêng trên, sẽ linh nghiệm vô kể.

    Dương Sinh: Đức Thiên Tôn vì chúng sinh thả một sợi dây hỗ trợ sinh mệnh huyền diệu, ân ban bài thần chú linh thiêng, nhân gian đời đời đội ân. Kính thưa đức Thiên Tôn, thế gian hiện giờ con trai con gái của nhiều gia đình không hiếu thảo với cha mẹ, sự kiện này có quan hệ như thế nào đối với linh khí của trời đất? Đức Thiên Tôn đã thâm hiểu bản tính của chúng sinh, xin chỉ giáo dùm cho.

    Thiên Tôn: Lành thay, Dương Thiện Sinh quả là người có lòng lắm vậy. Trăm đức thiện, đức hiếu đứng hàng đầu, song thế gian ngày nay lại phản bội lại, nên mới có nhiều kẻ bất hiếu. Luận về nguyên nhân của sự kiện bất hiếu này mới thấy rõ được cái lí nhân quả của nó. Việc sinh đẻ nuôi nấng con cái, đó là giềng mối của nhân luân, và cũng là trách nhiệm của các bậc làm cha làm mẹ mà tình nghĩa đối với con cái lại coi nhẹ, làm mẹ không dám cho con bú sữa mình, vì sợ bộ ngực xấu đi nên đã dùng sữa bò thay thế. Do đó trên đời mới có lắm thanh niên nam nữ bị nhiễm tính súc sinh, trẻ con lúc còn ở cái tuổi bú mớm mà không được nuôi nấng bằng sữa mẹ ắt trong cơ thể mất đi yếu tố tinh thần nghĩ tới cha mẹ, lúc lớn lên càng có cơ hội giảm tình thân đối với cha mẹ, nhất là lại cho con trẻ chơi các đồ chơi máy móc thiếu nhân tính, gởi trẻ con nơi các nhà giữ trẻ thiếu tinh thần đầm ấm vỗ về. Làm như vậy các bậc phụ huynh vô hình trung đã tiêu diệt mầm tình của trẻ thơ từ lúc còn trứng nước, khiến nó lớn lên không có lòng hiếu thảo đối với cha mẹ. Cho nên khuyên người đời nuôi nấng dạy dỗ con cái phải dùng chân tâm, chớ có nhằm lợi ích bản thân mà sử dụng những phương thức máy móc trong việc tài bồi con trẻ, nếu như nghịch ý hẳn đó sẽ là hố ngăn cách giữa hai đời đào sâu thêm mãi sự vong tình chẳng thể nói hết được. Thiên đạo vô tư, chỉ có căn cứ vào thiên lí nhân luân để xây dựng nuôi dưỡng vạn vật mới hợp với đạo lớn mà thôi, nếu như hết thảy đều dùng phương thức khoa học hẳn là nhân loại sẽ đi vào cảnh giới “vật hóa” tức là người hóa thành vật, sức mạnh tinh thần sẽ ngày một yếu ớt, nhân tính sẽ chẳng còn. Con cái ở tuổi còn đi học, chớ có gieo rắc cái tinh thần học để mưu cầu lợi lộc mà phản lại thiên đạo. Cho nên ước mong thế nhân hãy xả thân hi sinh cho con cái một cách vô tư, chớ có đòi hỏi chúng thương yêu lại mình ngay, hãy kiên nhẫn chờ đợi tới lúc chúng trưởng thành tự nhiên chúng sẽ không phản bội lại đạo hiếu, sống ngược nhân luân.

    Dương Sinh: Lời dạy của đức Thiên Tôn quả là hữu lí, thế nhân chỉ nghĩ đến cái lợi trước mắt của riêng mình, cho nên thường nhận lãnh sự quả báo đau thương do con cái gây nên vậy.

    Tế Phật: Vì thời giờ eo hẹp, xin cáo từ, khi khác lại xin tới bái yết đức Thiên Tôn.

    Thiên Tôn: Tiễn hai vị trở lại Thánh Hiền Đường.

    Dương Sinh: Không dám. Thưa ân sư, con đã sửa soạn xong, cảm tạ đức Thiên Tôn đã chỉ dạy nhiều điều tốt lành.

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:26 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    January 29th 2010, 8:34 pm
  • HỒI MƯỜI MỘT

    DẠO CUNG NGỌC HƯ LẦN THỨ BA NGHE ĐỨC NGUYÊN THỦY THIÊN TÔN THUYẾT PHÁP CÙNG

    LẠY CHÀO ĐỨC HUYỀN HUYỀN THƯỢNG NHÂN

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 13 tháng 9 năm Kỉ Mùi (1979)


    Thơ

    Hoa hoa thế giới sắc mê nhân
    Trí sĩ hồi đầu bán Phật lân
    Ảo cảnh hư hoa như thủy nguyệt
    Không tâm khử chấp luyện thành chân.

    Dịch

    Màu hoa trần thế đẹp mê hồn
    Phật pháp người tu dạ kính tôn
    Cảnh tượng hão huyền trăng đáy nước
    Hư không diệt chấp luyện chân tâm.(1)

    Tế Phật: Cõi trần hoa lệ, muôn màu muôn vẻ bủa vây con người, muốn tìm đường thoát cũng chẳng dễ nào! Có biết bao anh hùng hảo hán chí lớn ngút trời nhưng rồi khí đoản. Nhi nữ trường tính cuối cùng đều đổ vỡ, hoàn cảnh thực tế nghĩ thật đáng thương. Ta hi vọng rằng thế nhân sẽ không còn bị cảnh xa hoa phù phiếm nhất thời mê hoặc nữa, bởi khi cảnh phồn hoa giả tạm đó tan tác theo gió cuốn bay đi, con người còn nắm giữ được gì? Trái lại cảnh sắc trên trời, bốn mùa đều là xuân, được ngắm cảnh suối trong hoa đào nở tâm thần sảng khoái tươi vui. Ta nhắc nhở cho những kẻ hiếu sắc hiểu là vẻ đẹp chân thực ở trên trời, còn sắc đẹp tại cõi thế gian này đều huyền ảo, đợi tới lúc trút hơi thở cuối cùng hóa thành cái thây ma bất động thì dầu đẹp đẽ cách mấy nhưng thử hỏi còn ai ham thích nổi? Sao không như ta đây sống tiêu dao tự tại, chẳng hề thắc mắc băn khoăn là người có yêu ta, có kính trọng ta hay không? Ta hoàn toàn tự do, chẳng lệ thuộc ai, chẳng ai lệ thuộc ta, có như vậy ta mới thực sự an nhiên tự tại. Dương Sinh chuẩn bị lên đường, bữa nay thầy trò mình lại dạo thăm cõi trời Đại La.

    Dương Sinh: Thưa con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Qua các lần thầy hướng dẫn con dạo thăm cảnh đẹp thiên đường, trong những thoáng giây đó con có cảm giác ra sao?

    Dương Sinh: Khi đó con cảm thấy được giải thoát khỏi cảnh trần gian khổ hải, hoàn toàn nhẹ nhàng thanh thản, cứ tưởng là từ đấy được ở tại thiên đường không phải trở lại trần gian nữa.

    Tế Phật: Tuy con có chí lìa bỏ cõi trần, song duyên trần của con chưa dứt, con còn phải cứu độ nhân gian, một sớm công quả tròn đầy, khi đó trở lại thiên đường cũng chưa muộn.

    Dương Sinh: Tới khi ấy ân sư có còn hướng dẫn chúng sinh lên cõi trời nữa không?

    Tế Phật: Khi con trở lại thiên đường đã có vô số người đời nhờ đọc Thiên Đường Du Kí mà phát tâm tu luyện chân tính đạt thành chính quả, chẳng còn cần thầy dẫn đường, chớ lo sợ rằng họ không biết thuật phân thân. Còn riêng con, con đã rõ đường tỏ lối, chỉ việc tự mình mà đi thôi.

    Dương Sinh: Thưa lỡ con đi lầm phải đường mê thì sao?

    Tế Phật: Ha ha, con phải nhớ mang theo kim chỉ nam đạo lớn, rồi hướng cửa Nam Thiên tìm tới, há chẳng đến được sao? Thầy mong con thực hiện được hết những gì thầy đã hướng dẫn, chớ đừng giống như ai làm khách “quan quang” tức đứng ngoài mà ngó. Đường thiên đường giống hệt xa lộ trần gian, mỗi chặng đều có bảng chỉ dẫn, ví dụ như có các tên trạm Tam Cương, Ngũ Thường, Bát Đức. v.v... Chỉ cần minh tâm, thông suốt được ý đạo nhiệm mầu, tu càng viên mãn, quả vị càng cao, cùng tuân theo đúng sự hướng dẫn thì chẳng cần người chỉ đường cũng tới được thiên đường. Nay chẳng thể sánh với xưa, nhân loại bây giờ rất đề cao trí tuệ, người biết chữ mỗi ngày một nhiều, chỉ cần ghi nhớ kĩ phương châm hành đạo, bảo đảm mọi người đều có lối trở về trời, chẳng cần phiền tới ta hướng dẫn.

    Dương Sinh: Con đã tỏ tường, cảm tạ sự chỉ dạy của ân sư.

    Tế Phật: Suốt dọc đường thầy trò mải đàm đạo, thoáng giây đã tới trước cửa cung Ngọc Hư. Dương Sinh mau xuống đài sen, thầy trò mình cùng tới bái yết đức Nguyên Thủy Thiên Tôn.

    Dương Sinh: Xin tuân lệnh... Đệ tử là Dương Thiện Sinh xin lạy chào ra mắt đức Nguyên Thủy Thiên Tôn.

    Thiên Tôn: Hai vị bữa nay lại tới thăm thánh cảnh Ngọc Thanh, tôi rất lấy làm sung sướng, các vị vì độ chúng sinh mà phải chịu gian lao khổ cực muôn phần, bởi có cay đắng mới thành công, muốn gặt hái phải cày cấy, mong Dương Sinh kiên định tâm chí để hoàn thành sứ mệnh này, khi đó Dương Sinh có thể siêu thăng được hết Cửu Huyền Thất Tổ.

    Dương Sinh: Cảm tạ lời răn dạy của đức Thiên Tôn, con xin tuân hành cùng giữ đúng những điều đức Thiên Tôn vừa khuyên nhủ, nhận chịu gian lao để hoàn thành thiên du kí. Bữa nay tới cung Ngọc Hư là cốt xin đức Thiên Tôn chỉ dạy thêm về lẽ huyền diệu của Đạo Lớn.

    Thiên Tôn: Lẽ huyền diệu của Đại Đạo kì trước tôi đã tiết lậu một phần, bữa nay quý vị lại tới nơi đây, tôi đặc biệt vì người mà nói về pháp tu Đạo Lớn. Người đời thường nói: “Ba thước cao trên đầu có thần sáng suốt” (Đầu thượng tam xích hữu thần minh). Ba thước tức là ba cõi vậy, còn đầu người ta là chỗ thần cư ngụ, là chúa tể của thân xác cho nên mới nói: “đầu là đạo”. Đầu là gốc của trời; cho nên đầu đứt thì gốc rễ hủy hoại, người cũng diệt vong. Sự ra đời của con người là đầu đội trời chân đạp đất đi lại khắp chốn, cho nên nói: “thân người khó được” (nhân thân nan đắc) là bởi so sánh với loài vật thì con người khác xa, vì sau khi sinh loài vật vĩnh viễn khom vai, còng lưng không cách chi đội trời đạp đất nổi, sở dĩ chúng phải chịu như vậy là bởi kiếp trước chúng hoàn toàn phản bội lẽ trời, kiếp trước là “nhân”, kiếp này là “quả”, báo ứng không sai chệch một mảy may, cho nên kiếp này mới để lộ chân tướng như vậy. Nay muốn trở về nguồn cội, công phu phải thực là tôi luyện, không được đảo điên vì việc đời, nếu điên đảo ắt bất chính, một sớm điên đảo phản bội trời ắt lại một phen bị đày ải trong vòng luân hồi. Do đó con người phải học chí xung thiên của hỏa tiễn, tâm tính thật ngay thẳng, tính linh sẽ từ cửa huyền xuyên thấu cung nê hoàn trên đầu mà xuất thần xung phá tầng đại khí “thiên linh cái” tức lọng trời thiêng che phủ, tự nhiên có thể về được trời.

    Dương Sinh: Lời dạy của đức Thiên Tôn thật là chí lí, nhưng làm cách nào xung phá nổi lọng trời thiêng?

    Thiên Tôn: Lọng trời thiêng (thiên linh cái) là chỗ cửa trời hay cửa huyền ẩn dưới cung nê hoàn, tiếp giáp với linh sơn. Lọng đó che chở cho cơ thể con người. Lúc còn là hài nhi, trên đầu có cái “thóp” tức chỗ xương sọ còn hở, nhờ cửa ngõ này mà còn có được sự liên lạc với trời thiêng, nhưng càng lớn cửa đó càng đóng lại do đó mà ngăn cách hẳn với trời, chân bản tính của trời phú bị chôn vùi dần, ánh sáng thiêng liêng trở thành tối tăm. Người ta sau khi sinh ra, hai đường âm dương “địa hộ” hay cửa đất tức hai đường dẫn tinh khí ra ngoài cơ thể của người nam và người nữ tự mở, tới khi lớn lên tình dục phát động, máu huyết cùng tinh khí như nước sông không có đê điều ngăn giữ chảy tràn muôn dặm, thế chẳng thể cản, thành tạo nghiệp gây tai họa, từ đó kể như cửa trời đóng, đường quỷ mở. Cho nên kẻ tu đạo trước tiên phải đóng “cửa đất”, một sớm tinh đầy khí dư, như hơi nước sôi trong nồi nóng đẩy nắp đậy văng ra, thần thức bay lên. Người ta nếu như biết tiết dục, đóng được cửa đất, một sớm khí dư mở tung cửa trời, nguyên thần xung phá tầng đại khí bay thẳng lên thượng giới, thành Tiên thành Phật, tránh khỏi bị luân hồi khổ đau.

    Dương Sinh: Người đời bây giờ đều tu hành tại gia, có vợ có chồng, nếu như tu cách diệt dục tinh, sợ rằng rất khó khăn, không rõ có cách nào bổ khuyết được chăng?

    Thiên Tôn: Lúc này đương là thời kì phổ độ, tu tại gia là gốc, nên muốn tu thành chính quả chẳng khó, bữa nay tôi đặc biệt thuật về phép tu tại gia như sau: Từ muôn ngàn kiếp tới giờ, chúng sinh luân hồi không dứt, kịp tới đời nay Ngọ Mùi tương giao hội họp, Ngọ thời như mặt trời đứng bóng, cho nên thế giới vạn vật phát triển tới cực đỉnh, muốn có là có hết thảy, cơm ăn áo mặc, nhà ở đường đi tiện nghi thừa thãi, nhân loại vô cùng sung sướng như sống tại cõi thiên đường nhỏ. Đúng lúc đạo lớn giáng xuống trần gian cứu vớt chúng sinh, phàm những kẻ sinh ở thời này, đều được trời tha tội mới được ra đời, không được hưởng phúc thì cũng được hưởng huệ. Kẻ được phúc, hưởng thụ vô tận, kẻ được huệ có thể nghe thấu đạo lớn nơi nơi nên được tùy ý lựa chọn giữa hưởng thụ vật chất và tu dưỡng tinh thần. Con người thời đại này trí óc thông minh, nghe một biết mười, khí cụ ngày một tân tiến khác thường, giúp ích rất nhiều cho nhân quần xã hội, vì được giáng sinh vào lúc chính ngọ, thụ hưởng ánh sáng mặt trời chiếu diệu, cho nên thiên chân không bị lu mờ, “tinh khí thần” thịnh vượng, quả đã được trời phú cho cách “bán tiên” tức nửa tiên, gần tới bực tiên, cũng còn có thể gọi là “địa tiên” tức tiên ở cõi trần. Như nước trong chõ tuy không đốt thêm lửa, song vì có nắng mặt trời giữa trưa chiếu, độ nóng lên cao, vì lửa được nhen nhúm khoảnh khắc liền sôi, phút chốc tỉnh ngộ, cho nên thời nay tu đạo tại gia chỉ cần giữ vững luân thường đạo lí, chớ buông thả tâm tính như nước chảy tràn lan, ắt là nước chân chính trở lại được nguồn tưới ngập ruộng tâm, lúa mạ tốt tươi, kết hạt xum xuê, một sớm lúa chín tức đạt thành đạo quả, cởi được cái vỏ gông cùm tức hình hài giả tạm mà thoát xác bay cao. Nếu được như vậy ắt là nguyên thần có thể xung phá cửa trời, tu rất dễ dàng, thế mà đời nay không tu thì đợi tới kiếp nào mới tu? Nay Dương Sinh phụng chỉ trước tác sách Thiên Đường Du Kí nên tôi đặc biệt tiết lộ thiên cơ, người đời bây giờ nếu chịu tu đạo, trời sẽ giúp cho ba phần, chỉ cần lo thêm bảy phần công đức, là có thể tu thành chính quả.

    Dương Sinh: Cảm tạ đức Thiên Tôn bữa nay lại mở lượng từ bi, thêm một lần nữa tiết lậu lẽ huyền vi đại đạo. Xin thỉnh đức Thiên Tôn, ngài dạy người đời nay đều đã có căn cơ, được là tiên tới nửa phần, vậy nếu như kẻ không tu đạo liệu có thể tự nhiên trở thành “bán tiên” tức gần tới bậc tiên được không?

    Thiên Tôn: Sở dĩ nói người đời nay là bán tiên tức phân nửa tiên là vì nhân loại ăn sơn hào hải vị, uống rượu ngọc quỳnh, ngay Tiên Phật ăn uống cũng không được sung sướng đến như vậy. Mặc thì lụa là gấm vóc, y phục của Tiên trên trời cũng không được đẹp đẽ lả lướt đến như thế. Ở nhà cao cửa rộng, trưng bày lộng lẫy, lên xuống bằng thang máy, cung vua chúa cõi trần, điện tiên thánh cõi trời cũng không so sánh nổi. Đi lại thì có xe hơi máy bay thật là sung sướng, giống hệt như Tiên Phật cưỡi gió đè mây, dù xa xôi tận gốc bể chân trời, chỉ thoáng chốc, vút cái đã tới nơi. Điện thoại, truyền hình mau lẹ, chẳng khác nào Tiên Phật thần thông quảng đại, pháp lực vô biên. Đáng tiếc nhân loại tuy được hưởng diễm phúc lớn lao song chẳng một ai có thể tránh khỏi “sinh lão bệnh tử” cho nên gọi là “bán tiên” tức gần tới mức tiên. Đã được gần tới mức tiên nhưng nếu không tu đạo ắt khí lực sẽ lần lần tiêu tan, vì chìm đắm trong biển ái dục, linh khí tán loạn do đó mà “bán tiên” biến thành ma quỷ. Ba của báu “tinh khí thần” là nguyên tố sinh tồn của người, Đạo Kinh dạy tu đạo phải giữ gìn ba báu này thực quả có ý nghĩa, kẻ không giữ gìn tinh khí ắt là phường hiếu sắc tham dâm, dâm là đầu của muôn tội ác, đã ham dâm dục thì chuyên tính chuyện gian tà, đã chạy theo đường tà đạo thì làm sao có được chính đạo mà tu? Các tôn giáo đều khuyên tín đồ giữ giới, chớ phạm tà dâm, tức là phải giữ đạo, dưỡng tinh, tiết dục để bảo tồn nguyên khí. Tinh thần suy đồi không làm được việc gì nên chuyện, bởi vậy có câu nói: “Muốn đạt được đạo trường sinh, phải uống thuốc ngủ một mình”. Mong rằng người đời không cho đó là chuyện mê tín. Nếu như giữ gìn được nguồn cội, bảo vệ được lẽ một, thành tâm tu đạo lớn giống như đèn cạn dầu được rót thêm dầu, ánh sáng tỏa ngập đại thiên, chan hòa tam giới, đạo quả Kim Tiên Như Lai đã đạt thành rồi vậy.

    Dương Sinh: Người đời nay quả là có phước. Cúi xin đức Thiên Tôn ban lời dạy ngọc vàng quý báu thêm nữa.

    Thiên Tôn: Sách Thiên Đường Du Kí là tác phẩm quán tuyệt cổ kim, là tấm gương giá trị để cho những người tu đạo soi chung hầu cứu độ chúng sinh, giờ lại nói thêm về bốn mươi chín chương Tu Đạo Kinh nguyên thủy để mở trí cho người đời.

    NGUYÊN THỦY TỨ THẬP CỬU CHƯƠNG TU ĐẠO KINH
    (Bốn mươi chín chương Tu Đạo Kinh nguyên thủy)


    Chương 1: Làm nên việc (lập công) Phàm muốn tu đạo, lấy việc lập công làm đầu, giúp người cứu đời, công đức sao cho thực sâu dày, như các vị tiên thiên chân chính hàm dưỡng công đức vượt cả các bậc thánh. Tích lũy công đức đủ ngàn, hình hài và thần khí đều thành tiên. Công đức không đủ ngàn, hình hài bị hủy diệt, chỉ có thần khí được thành tiên (2). Ơn mưa móc nhuần thấm cả triệu dân, ngọc thanh quý báu xác phàm hóa thành tiên (3), tâm hồn siêu thoát hòa hợp cùng tự nhiên. Tan ắt thành khí, ngưng ắt thành người (4), thần thông tự tại, biến hóa không thấy hình, bay dạo ba cõi, ra tối vào sáng. Nguyện cứu vớt hết thảy chúng sinh, không nản lòng thối chí, tự đắc chân đạo (5).

    Chương 2: Chay tịnh giữ gìn (trai giới) Sự trai giới là căn bản là bến là cầu của đạo, luôn luôn một lòng trì trai giữ giới, lòng tà tự nhiên dứt. Chúng sinh phải bỏ ăn mặn, vui sướng, ham thích, tanh hôi để mà chăm lo hành pháp cho có kết quả, chớ như quỷ đói chuyên ăn thây chết, bụng đói cứ bị lửa thiêu đốt mãi chẳng hề được no nê. Lại như ruồi nhặng luôn luôn tranh giành nhau những thứ đồ thối tha (6), phải quên đi mùi tanh tưởi để mà hành pháp cho mau kết quả. Ba cung dơ dáy, sáu phủ đục ngầu, sung sướng thấy xác chết, ưa thích chốn tử địa. Phải cắt đứt gốc rễ thị dục, vào cảnh thanh tĩnh, không gây ra những nỗi khổ phiền, ác độc, không sinh tâm thiên kiến, không dấy tâm gian tà, coi lời răn dạy giới cấm của tiên thánh như luật pháp ở trần gian (7), dẫu có muốn phạm vào song cũng sợ rằng thân sẽ mất tự do (8). Kẻ tu phải hết sức giữ gìn, chuyên chú công phu, giới luật luôn luôn bày trước mặt để mà kinh sợ cùng nghiêm chỉnh tuân theo, diệt mọi ý niệm trong đầu, phải dốc tâm mới có thể đạt được sự chân chính. (9)

    Chương 3: Hiểu rõ bản chất nguồn cội (thức bản lai diện mục) Hư vô là cõi tự nhiên, cho nên đạo đã từ đó mà ra, đúng với lẽ một không hai (10), thể tính sâu dày tự nhiên, tròn đầy sáng sủa tự đủ, không vướng mắc tư kiến, tránh xa bụi bặm (11), học mà không học, tu mà không tu (12), ung dung ở ngay chính giữa, không thiên lệch về một bên nào, không đi không ở, không giữ không bỏ, không vui không buồn, không sống không chết, không xưa không nay, đó mới thật là giác ngộ và giải thoát (13). Coi muôn hình tướng đều là hư không diệt trừ mọi ảo ảnh trần gian, thể nhập tự nhiên. (14)

    Chương 4: Thiện ứng (đức thiện ứng nghiệm) Người có được một đức thiện, trăm thần đều hoan hỉ(15); người có được mười đức thiện, thần số mệnh đều tính đủ (16). Người có trăm đức thiện đều được Đông Hoa ghi vào sổ cái; người có ngàn đức thiện, ân phước tới bảy tổ, chết được thành tiên; có đủ vạn đức thiện, được Ngọc Phủ xuống nghênh đón, được thiên thần tới chầu, bay lên trời giữa ban ngày. (17)

    Chương 5: Luôn luôn giữ gìn pháp lực (pháp lực năng hãn) Thấy cảnh chết chóc sinh lòng từ bi, không biết tự buồn thân mình, thân do tứ đại nước lửa gió đất giả hợp thành, giống như đồ vật làm bằng đất, nung trong lò cho chắc lại. Thân người là đồ, pháp là lửa lớn, nên có thể nung đúc thân người thành thân không thể hủy hoại (18). Lửa là ánh sáng công đức, tâm đức ngày một tích lũy, tới khi ánh sáng chói lòa tức là thân mềm đắc pháp thành thân cứng tựa kim cương không phá hủy nổi. (19)

    Chương 6: Tích thiện làm quý (tích thiện vi bảo) Kẻ lên núi báu, đi khắp đó đây, vật báu ngổn ngang, thứ gì cũng quý giá, khi xuống núi chẳng lẽ không đem theo được một món gì sao? Về tay không thì bị coi là khinh thường vật. Người ta sinh ra đời như được trèo lên núi quý giá vì mọi thứ thiện duyên đều quý báu. Người không tạo đức thiện thì khi chết đi chẳng khác nào kẻ trèo lên núi có nhiều báu vật, song khi xuống lại tay không, chẳng mang theo được chút gì, thật là có mắt mà như mù, sau này có hối hận cũng chẳng kịp nào! (20)

    Chương 7: Làm sạch ghét (trừ cấu) Thể xác không sạch sẽ, bụi bặm dơ dáy bám đầy nên phải lo tắm rửa. Tâm bụi bặm không thanh tịnh, lục căn bị nhiễm, nếu không lo tẩy rửa ắt bị mê muội. Do đó thân dơ dáy có thể dùng nước trần gian rửa sạch, còn tâm ô uế phải có nước “pháp” mới rửa sạch nổi, lục căn mà trong sạch, các lỗ chân lông sẽ sáng sủa, không một sợi lông, sợi tóc bị ô nhiễm mới mong sống đạo. (21)

    Chương 8: Mùi vị của đạo (vị đạo) Kẻ ăn mật, miệng ngọt lưỡi còn dư vị, lời nói của ta cũng như vậy. Còn lời nói phàm tục nhạt nhẽo vô vị, vì tâm bị nhuốm lời dơ dáy, vị bẩn thỉu, lời nói nhờ hương vị của đạo khiến tinh thần trong sạch. Lời nói ở miệng giống như ăn mà trúng độc, ói ra cũng chết, chỉ nghe mà có thể phân biệt được chính với tà, dơ dáy và trong sạch, tiên thánh cùng ma quỷ. (22)

    Chương 9: Cắt đứt nhân duyên (đoạn nhân duyên) Tất cả chúng sinh đều do nhân mà sinh ra, nhân lại do duyên sinh ra, nhân và duyên kết thành phiền não, thành vô lượng nghiệp, đọa lạc vào chốn sống chết, luân hồi không cùng, như bọt nước trên sóng, vừa có đã mất nên con người phải giác ngộ lẽ đó, muôn vật vốn là không, tự chuốc ý niệm tự lãnh ràng buộc, mọi mối thân quen đều là gốc của phiền não cùng lao tù (23). Tâm này chẳng ngộ tức là tâm của đại tội nhân, từ muôn ngàn kiếp trước tới nay thân bị trói buộc chẳng thể giải thoát. Ta nay vì người, giảm “nhân” trước sau, cắt đứt mọi “duyên”. Thức được “nhân” thì không còn “nhân”, ngộ được “duyên” thì không còn “duyên” (24), không “nhân” không “duyên” luôn luôn an định cùng thanh nhẹ và sáng suốt, không tới không lui, không buông không nắm (25), hoàn toàn giải thoát, vượt ra ngoài “tam giới” tức là ba cõi đất trời người.

    Chương 10: Tự làm mới (tự tân) Không kể gái trai, đều cúi đầu vái lạy Tiên Thánh, tẩy rửa ô uế khiến cho tâm thanh tịnh, ăn năn lầm lỗi để tự đổi mới mình, nguyện không tái phạm (26). Nếu như có người từ lúc vào đời cho tới giờ cứ gặp Tiên Thánh là nội thức tỉnh liền, tâm thanh tịnh ngay, dĩ nhiên họ chẳng cần phải sám hối để tự cải hóa, vì kiếp trước họ chính là Tiên kiếp này chẳng cần phong chức Thánh mới. (27)

    Chương 11: Ban phát tiền của (bố thí) Dư thừa mà bố thí thì tránh khỏi hoạn nạn, còn không bố thí thì chắc chắn gặp hoạn nạn. Cho đi cái mà mình không ham muốn yêu thích thì rất dễ dàng, cho đi cái mà mình vốn ưa chuộng thì rất khó khăn. Tất cả các ân phước đều đến từ cái tâm vui vẻ, kẻ cho không mất mát, người nhận được ơn ích, tất cả sự cho đi đều khiến tâm vui vẻ, thần trí được sung sướng. Tất cả của cải châu báu thậm chí đến cả tính mệnh đều là tạm vay mượn để sử dụng, khi đại hạn tới thì tất cả đều tiêu tan, chẳng lưu giữ được gì (28). Bậc trí sĩ sống ở đời nhưng lòng lúc nào cũng ôm ấp sự rời bỏ cuộc sống cùng dâng hiến của cải để cúng dường tam bảo, giúp đỡ kẻ nghèo, phát huy đạo pháp, hoàn toàn giác ngộ. Gieo nhân đức hái trái thiện, ân đức báo đền vô lượng vô biên, kể sao cho xiết. Chỉ những người vui vẻ cho đi mới sung sướng nhận lại mà thôi (29), vì kẻ nào gieo giống kẻ đó gặt hái thành quả. Cho đi là dứt được nghiệp trần, gian tham là chuốc nghiệp vào thân. (30)

    Chương 12: Chăm chỉ thực hành (cần hành) Kẻ biết đạo của ta mà không chăm lo thực hành, kẻ hành đạo ta mà không giữ được bền đều khó đắc đạo. Còn biết mà chăm chỉ thực hành, không lười biếng, bền chí gắng công như vượt trùng khơi ngày ngày mong tới bờ, trước sau như một, lên được bờ bên kia, vô lẹ thành trì của đạo.

    Chương 13: Luyện ô uế thành chân chất (luyện uế thành chân) Lúc người ta chưa sinh hỗn hỗn độn độn, vốn không có một vật, nhìn nghe chẳng được, với chân thường hội hợp, chẳng có tên tuổi hình tướng nên gọi là chân nhân (31). Sau khi sinh muôn vạn hình tướng trang điểm hư danh đều là hình tướng giả tạm (32), nhìn lại ảo thân, tội thêm muôn ngàn, gọi là tội nhân (33). Muốn tu đạo lớn, giống như đúc kiếm, nung nấu cặn bã ô uế mới gạn lọc nổi tinh khiết rắn chắc, mạnh mẽ cứng cỏi thành thanh được khí giới tuyệt diệu. Khinh phàm trọng thánh, thẳng tiến cõi Đại La. (34)

    Chương 14: Liên tục chuyển hóa (diễn hóa) Người theo đạo gọi là thiện nghiệp. Kẻ bỏ đạo gọi là ác nghiệp (35). Lập đức Thái Thượng, có khi lập công, có khi lập ngôn, những ai lập được đức đó đều về được đạo (36). Tất cả chúng sinh điên đảo vọng tưởng tự tạo địa ngục mà chẳng hay, kéo nhau lao đầu đắm chìm dưới sông yêu. Nay vì chúng sinh thuyết pháp cứu đời, mở cửa phương tiện để được phúc báo cùng chứng quả vô vi. (37)

    Chương 15: Chân chất thành thực (chân thành) Tĩnh tâm khổ hạnh, dứt bỏ mọi mối tham dục thế gian, chớ vọng tưởng, không được nhiễm trược, luyện hình hóa khí, luyện khí hóa thần, luyện thần hợp đạo (38), thể nhập tự nhiên (39), thâu muôn pháp vào một thân (40), dùng một thân hóa muôn cảnh, cả “hữu” lẫn “vô” (41) đều không lệ thuộc, dứt tuyệt sống chết thì đó gọi là bậc chân nhân. (42)

    Chương 16: Sự khác biệt giữa ba “thừa” (tam thừa đẳng sai) Hành giả ở bậc “tiểu thừa” mắt chẳng nhìn bậy, tai chẳng nghe bậy, tâm chẳng nghĩ bậy, cấm chỉ tất cả, dứt bỏ hết mọi trạng thái để tới đạo. (43) Hành giả ở bậc “trung thừa” nhìn chỗ không nhìn, nghe điều chẳng nghe, biết cái chẳng biết, động nơi chẳng động để quán thông mọi lẽ huyền diệu. (44) Hành giả ở bậc “đại thừa” không nhìn mà chẳng phải không nhìn, không nghe mà chẳng phải không nghe, không biết mà chẳng phải không biết (45), trong ngoài rỗng rang, đó đây không ngăn cách nên có thể hòa làm một cùng vũ trụ, đi vào cõi vô cực. (46)

    Chương 17: Dùng lời khuyên thiện (dĩ ngôn khuyến thiện) Tặng người tiền của không bằng tặng lời nói khuyên răn điều thiện. Bạc vàng tuy quý báu song tiêu xài sẽ hết, lời nói khuyên răn điều thiện lọt được vào tâm sẽ là của báu trọn đời. Tất cả các bậc thần tiên chân nhân đều dùng lời nói quan trọng vô thượng đạt thành đạo quả, người ta có thể đem những lời nói đó giảng dạy cho chúng sinh tuân hành để tránh tai họa mà hưởng ân phước. (47)

    Chương 18: Trước sau sướng khổ (khổ lạc tiêu hậu) Kẻ học đạo phải dứt lìa ái dục, dẹp bỏ phì nộn, ăn chay trường, ý nghĩ trong sạch, nghiền ngẫm cho thấu lẽ đạo, đó là cầu vui trong khổ, chẳng còn thấy khổ (48). Tất cả chúng sinh, mê say vinh hoa, đắm đuối thanh sắc, phung phí tình dục, kẻ chạy theo khoái lạc bao nhiêu tức là chuốc lấy khổ sở bấy nhiêu (49). Kẻ tu đạo trước khổ sở nhưng rồi sau sung sướng, chúng sinh vui sướng bây giờ nhưng rồi sau này đau khổ, bởi vậy làm người phải nhận chân lẽ đạo này. (50)

    Chương 19: Không hai cửa (bất nhị môn) Đạo lớn không có “thân” và “sơ”, mắt thánh không quý trọng tiền của, tất cả chúng sinh đều bình đẳng. Thấy kẻ có tính lành thì giúp tính lành của họ phát triển; kẻ có tính đạo, giúp họ tiến bộ về đạo, nếu như còn tâm phân biệt chọn lựa thì gọi là “nhị môn” tức hai cửa. Phân biệt cửa này cửa nọ là tự giam mình trong nhà ngục; phải chí công vô tư thăng tiến thiên đường. (51)

    Chương 20: Không được giết chóc (bất sát) Kẻ học đạo điều cần nhất là phải hết sức thận trọng không được nuôi ý tưởng chém giết trong đầu, tất cả chúng sinh đều ham sống sợ chết, mạng sống của ta tức là mạng sống của người, không được coi thường mạng sống của muôn loài, để rồi sinh tâm thèm khát giết hại cùng ăn thịt chúng. Phải có lòng trắc ẩn, luôn luôn nghĩ tới sự sợ hãi của chúng lúc bị cắt cổ, thọc tiết mà không nỡ ăn thịt chúng để chứng tỏ hạnh từ bi.(52)

    Chương 21: Vắng vẻ trong sáng (thanh tĩnh) Kẻ học đạo lấy sự thanh tĩnh là đầu, tĩnh tâm bớt lo nghĩ, ca ngợi hư vô. Coi tà đạo là kẻ thù, tránh xa ái dục như tránh mùi xú uế, trừ sạch mọi gốc rễ phiền não, dứt duyên thân ái, biển dục tối tăm, tự đắc sự thanh tĩnh (53). Như hoa sen trong trắng mọc trong bùn, hiên ngang vượt lên trên nước chẳng chịu ô nhiễm, ngũ tạng sạch trong, thượng trung hạ đơn điền đẹp đẽ, làm bạn láng giềng với Thánh Phật Tiên. (54)

    Chương 22: Lòng tin (tín tâm) Pháp đại thừa có thể vượt “tam giới” tức ba cõi, dùng lòng tin để mở đường giác ngộ, tin đạo thì được cứu độ, trời với người giữ chữ tín không để mất, như xe tới giờ khởi hành, cuối cùng sẽ tới trạm. Tất cả Tiên Thánh đều đạt lòng tin sâu xa vào Đạo Lớn, chăm chỉ công phu không trễ nải cho nên được chứng quả thành đạo, vì kẻ nào có đức tin quý báu, kẻ đó đắc đạo. (55)

    Chương 23: Lòng thương xót (từ bi) Muôn loài chúng sinh lấy lòng từ bi làm gốc, coi mọi vật ngang hàng không nỡ làm hại, coi sự hoạn nạn của muôn loài như của chính ta mà phát nguyện cứu giúp nâng đỡ để được sống đời sống an lạc. Tất cả chúng sinh vì ngu muội cho nên mắc phải muôn ngàn tội lỗi khổ đau, bởi vậy phải dùng chân lí cứu độ để giữ mãi tâm từ bi, tự đạt thành lẽ đạo vô thượng.

    Chương 24: Muôn pháp quay về một mối (vạn pháp quy nhất) Muôn ngàn sông lạch đều đổ về biển, ức triệu pháp môn đều quy về đạo. Chúng sinh chấp trược nên tự sinh tâm phân biệt bởi vậy mới bị đọa xuống cõi sắc dục. Cho nên phải thông suốt lẽ đạo, một hiểu thấu đạt muôn ý nghĩa; không người không ta, không sinh không diệt. (56)

    Chương 25: Dứt nhơ bẩn (đoạn uế trược) Tất cả chúng sinh đều từ chốn dơ dáy mà ra, lúc sinh ra lặn lội trong biển máu; khi sống tới lui chốn ô trược, khi chết thể xác thối nát. Nên muốn trong sạch hãy tin ta mà bớt nói năng để khỏi nhiễm chấp (57), dứt hẳn được sự nghĩ ngợi bậy bạ tức là vượt khỏi sóng nhơ, vào được cửa pháp của ta, không đến không đi vĩnh viễn tránh thoát luân hồi. (58)

    Chương 26: Rửa lòng (tẩy tâm) Vì lục căn không sạch nên phải tẩy rửa lòng mình, lòng không còn bụi bặm tự nhiên không còn dính nhơ bẩn. Cho nên tâm là chúa tể của lục căn, thống ngự tất cả, khiến được tâm chịu hàng phục như chế ngự được mãnh hổ. Tâm cũng có thể giống như mãnh hổ xổng chuồng quay lại cắn xé thân ta nên phải nhớ kĩ! nhớ kĩ! chẳng thể lơ là. (59)

    Chương 27: Chứng nghiệm chân tâm (chứng nhận) Kẻ học đạo phải trống vắng rỗng rang mới dung chứa nổi sự sái quấy của người, cứu nguy giúp khốn, từ bi hỉ xả với muôn loài, diệt trừ mọi ý nghĩ độc ác. Coi tất cả chúng sinh là thân thuộc, thấy kẻ đói rét phải cho cơm áo; thấy kẻ bệnh tật phải tặng thuốc thang; gặp kẻ thù phải tha thứ. Tâm từ bi như vậy quả là vô lượng, kiếp này lẫn kiếp sau đều được chứng hạnh quả chân nhân. (60)

    Chương 28: Tiền của là gốc của hoạn nạn (tài vi hoạn bản) Tiền của là gốc của hoạn nạn, thâu góp của cải tức là thâu góp nghiệp, tiền của là gốc của ái dục (61), là đầu mối của muôn tội lỗi. Nhưng nếu biết dùng tiền của để bồi dưỡng thiện căn, mới có thể vào được cảnh giới đạo màu. Coi tiền của như sinh mạng thì mạng sống chẳng thể bảo vệ, vui vẻ làm việc phước đức bố thí, thần của cải lên được tới cõi trời, đạo lớn thành tựu.

    Chương 29: Lời nói chí tình nhuần thấm (chí ngôn phổ nhuận) Tất cả chúng sinh đều bị tình ái trói buộc, như đạp phải lửa bỏng khó bề tránh khỏi, từ tuổi già tới chết, chẳng thể tự thức giác, lời ta nói như sương ngọt nhuần thấm tất cả, khiến tâm hồn mọi người cảm thấy mát mẻ.

    Chương 30: Chịu đựng (nhẫn nhục) (62) Cái quý báu của sự nhịn nhục là không tranh giành với người. Ma quỷ dầu có tới quấy phá nhưng nếu ta biết nhịn nhục, ngồi yên sẽ thắng, không nên tranh giành với đám ma quỷ, kẻ tới xâm phạm ắt phải buông bỏ khí giới, vì hại người tức hại mình, kẻ nhịn nhục được yên ổn, chỉ có ma quỷ thiệt hại chứ ta chẳng hề chi, do đó các bậc Tiên Thánh đều lấy sự nhịn nhục làm đầu.

    Chương 31: Tạo quả phúc (tạo phúc điền) Một kiếp người ở thế gian qua mau, như tia chớp lóe, trẻ thơ hóa cụ già, giống như giấc mộng xuân vụt biến, dũng mãnh ra đi, tự thương thân chẳng kịp, lúc sống ở đời không kính Phật, không đền ơn, không thương kẻ khó thử hỏi sau khi chết nương nhờ vào đâu? (63)

    Chương 32: Ý niệm chân chính (chính niệm) Tâm không vương tà niệm, một nghĩ thấu hư vô, trong cõi hư không có các bậc thánh hiền, cảm thông với muôn loài, phải chăm lo tu hạnh “vô thường” tức đức hạnh cao vời sẽ tự nhìn thấy được thượng đế, mãi mãi đi vào đạo lớn. (64)

    Chương 33: Vượt cả “có” lẫn “không” (xuất hữu vô) Chúng sinh mê muội, nhận lầm cái “có”, đạo ta vốn “không”, cũng có loại chúng sinh nhận lầm cái “không”, đạo ta lại vốn “không” cả cái “không”. Chẳng “có” chẳng “không”, là “có” là “không”, thấu được lẽ đó, vượt trên tất cả. (65)

    Chương 34: Bố thí lời nói không tội lỗi (thí ngôn vô tội) Có kẻ hỏi rằng: “Bố thí vật gì thì được công đức lớn nhất?”. Ta nói: “Bố thí lời nói, công đức lớn nhất”, vì lời nói không bao giờ hết, cho nên ấn tống kinh sách quý báu như trời tưới mưa pháp ngọt ngào, muôn loài cùng hưởng, nẩy nở tốt tươi. Sách Thiên Đường Du Kí ghi lại tất cả thắng cảnh của các cõi trời, in một bản tặng cho người đời để họ nhìn thấy cảnh thiên đường, hiểu rõ thiên văn, khai mở muôn lượng đạo tâm, dẫn dắt cứu độ chúng sinh, công đức thắng tất cả mới có thể chứng đạo thành Tiên Thánh, vượt cả lục huyền thất tổ, chẳng còn chi ràng buộc ngăn trở. Có kẻ hỏi: “Sống ở đời vật gì là quý?” Ta trả lời: “Không có tội với thân đó là quý nhất”. Châu báu ngọc ngà, vàng bạc đeo đầy mình là tù nhân mang gông cùm xiềng xích. Mắt phàm nhìn cho là đồ quý giá, mắt huệ nhìn chỉ thấy rườm rà, phải vất bỏ những vật thế tục đó đi, nhẹ nhàng không còn gì trói buộc ngăn trở mới có thể tới được cõi trời tự tại.

    Chương 35: Quả báo do nhân duyên (tùy duyên thụ báo) Có kẻ hỏi: “Làm cách nào để biết rõ được nhân duyên số mệnh?” Ta trả lời: “Nhìn nhân duyên hiện tại ắt biết rõ được nhân duyên số mệnh; nếu như tu nhân duyên đời nay ắt biết rõ được nhân duyên đời sau, mảy may không sai chệch, gieo nhân nào mọc quả ấy. Nếu hỏi nhân kiếp trước, kiếp này đang nhận đấy; nếu hỏi quả kiếp sau, kiếp này đang trồng đấy”. (66)

    Chương 36: Sức lớn (đại lực) Có kẻ hỏi: “Thế gian sức gì là lớn?” Ta trả lời: “Từ bi là sức lớn rộng nhất”. Tâm từ bi biến đổi tất cả, hạnh từ bi có thể chế phục tất cả. Không tranh giành với kẻ ác, không phản kháng cùng kẻ bạo ngược, vì mục đích nhắm tới là vô địch, do đó mà sức mạnh của nó lớn rộng vô cùng. Người đời nếu như gặp sự bất bình mà đều nảy sinh tâm từ bi, hầu hết tu hạnh từ bi hẳn là hạnh phúc tới liền, sung sướng ngập tràn. (67)

    Chương 37: Hợp lẽ đạo (khế đạo) Kẻ muốn tu đạo lớn, không còn tâm phải và quấy, không còn tướng người với tướng ta, thân chẳng nhiễm trược mới có thể hòa hợp cùng đạo vô vi. Chúng sinh mê muội nên bị đày đọa trong cõi sắc tướng nhân duyên, ai hiểu được sướng tức là khổ, hiểu được đạo vô vi liền. (68)

    Chương 38: Lo buồn vui sướng do tâm (tâm khởi ưu lạc) Người chớ chất chứa tâm tai họa vì tất cả sẽ tổn hại, chúng sinh chưa rõ, thần minh đã thấy rồi, nguy nan do mình tự gây, oan uổng do mình tự chuốc, thiên đường và địa ngục tất cả đều do tâm tạo thành.

    Chương 39: Đạo pháp Đạo ta là đuốc lửa lớn xài hoài không hết, mặc sức mà dùng, có thể nấu chín mọi thứ. Pháp ta như nguồn suối tưới tắm mọi chốn khô cằn, nhuần thấm tất cả, những sự phiền não, trở ngại của người đời, đạo đều tẩy trừ sạch. (69)

    Chương 40: Nhập diệu Kẻ nhập môn pháp ta, học tới mức học chẳng cầu, hành tới mức hành chẳng mong, hoàn toàn đạt cái không muốn, đó gọi là vào cửa huyền diệu vậy, hoàn toàn trống rỗng không hề vướng mắc. Chúng sinh chấp trước, không thấu suốt trước sau, tạo nhiều cảnh giới là bởi nhận lầm muôn sắc tướng.

    Chương 41: Từ bỏ vinh hoa (khử hoa) Sự thanh tịnh là gốc của đạo; sự vinh hoa là tai họa của đạo. Người chớ ghét đạm bạc, vị đạm bạc là mùi vị của muôn mùi vị. Mê muội lưu luyến thế dục chẳng khác nào con thiêu thân lao mình vào lửa, không biết cái hại của nó khiến đi tới diệt vong.

    Chương 42: Tốt xấu như nhau (đồng hảo ố) Kẻ kĩ lưỡng không bậy bạ lừa dối mê hoặc chúng sinh; chớ nuôi dưỡng tâm ác độc, âm mưu đủ thứ; coi thân mình như thân người, xấu tốt vốn không khác nhau; kẻ thấu đạt được lẽ này hẳn là chứng ngộ được đạo vô thường.

    Chương 43: Trước thành thực sau bố thí (tiên thực hậu thi) Tiên thánh coi việc mưu cầu lợi ích là trên hết, cứu giúp chúng sinh không mỏi mệt, luôn luôn gieo nhân nên đạt quả. Nếu như có kẻ làm theo gương này ắt được quả phước không sai. Trước hết phải tu đức hạnh để cho đạo đức ngập đầy, nước pháp tràn nguồn cội, tự nhiên đem cho mãi mãi không bao giờ cạn, trước thành thực sau ban phát, suối tuôn chảy hoài không hết. (70)

    Chương 44: Chạy theo sắc tướng (xu sắc tướng) Có người đời hỏi rằng: “Đức Thiên Tôn diệu tướng có bảy mươi hai phép biến hóa tướng, thêm chín sắc hoa quang, các tiên cõi trời mắt nhìn thấy đức Thiên Tôn đều ca ngợi, cung kính vái lạy, quả là hiếm có vô cùng”. Ta trả lời: “Ta vốn vô sắc, người nhận lầm cho là sắc, ta vốn vô tướng, người nhận sai cho là tướng”. Tất cả đã dùng mắt thịt nhìn nên chẳng nhìn thấu sự trống không. Nếu như lấy chín sắc và bảy mươi hai tướng nhìn ta tức là lìa “vô” chấp “hữu”, chẳng thể lắng nghe được ý nghĩa “vô thượng” tức siêu diệu. Ta một khí hỗn nguyên hóa tướng muôn ngàn ức, chấp một tướng là để mất vạn tướng, cho nên sắc tướng không thực, sự biến hóa vốn giả, chúng sinh chớ mê sắc tướng hầu nhìn rõ bản tính. (71)

    Chương 45: Tất cả đều nhờ đạo (nhất thiết thị đạo) Có kẻ hỏi rằng: “Tất cả đều nhờ ở mắt nên mới có thể nhìn thấy mọi sắc, đến như pháp vi diệu, chẳng thể nhìn thấy chăng?” Ta trả lời: “Đạo ta như ánh mặt trời, chiếu sáng muôn loài sắc tướng”. Người giác ngộ lẽ này thắp sáng được “tâm quang” tức ánh sáng siêu diệu của tâm, không nhìn bằng mắt phàm, để mắt tâm thanh tịnh nhìn, tự nhiên thấu suốt, pháp lí vi diệu là dùng tâm liễu ngộ, rời tâm hẳn là mất đạo. (72)

    Chương 46: Dũng chí quyết tâm học đạo (dũng quyết học đạo) Kẻ học đạo chớ có nhị tâm, đoạn tuyệt trần trược, cắt đứt ái duyên, tâm như tro lạnh, ngăn ngừa lửa dục bốc cháy, nếu như thân mắc phải họa hoạn thì sẽ chẳng thể lường được mức tổn hại, như mũi tên bắn đi vĩnh viễn không trở lại, ta bảo vệ thân người hẳn là đắc đạo. (73)

    Chương 47: Ngăn ngừa ma quỷ (ma giới) Học đạo khó lắm thay, quỷ thần ma vương chuyên đánh bại người để thành công, đẩy được người ta tới chỗ chết chúng lấy làm sung sướng. Kẻ sắp thành đạo bao giờ cũng có Thần Tiên cõi trời xuống thử xem có còn dục hay không, có ngại khó khăn nguy nan hoặc sợ sệt do tâm chưa giác ngộ, chưa thông suốt gây nên. Tửu sắc của cải, danh lợi ái ân đều do tám ma vương lớn luôn luôn ở sát cạnh kẻ tu đạo quyến rũ để cho sa ngã, bởi vậy chúng sinh chớ cúi đầu trước ma vương, kẻ bị thử thách mà vượt qua khỏi sẽ được chư thiên bảo bọc, ma vương nghênh đón, đó mới gọi là đắc đạo. (74)

    Chương 48: Chuyển tâm hướng về nẻo đạo (dịch tâm hướng đạo) Thượng sĩ nghĩ tới sự nghèo đức thiện, hạ sĩ nghĩ tới sự nghèo của cải. Tất cả chúng sinh ngày mất nghỉ đêm mất ngủ vì lo lắng tiền của thiếu hụt, tình ái đau lòng nên cần phải chuyển tâm học đạo, tâm đã hướng đạo, cuối cùng sẽ đạt đạo, tâm hướng tình, yêu cũng thành không. (75)

    Chương 49: Gắng gỏi thực hành (miễn hành) Học đạo quá khổ chẳng khác nào gánh nặng trèo non, cho nên ta cần phải dốc lực thực hành (76), khi đã lên được tới chóp đỉnh rồi, những sự khổ cực đó sẽ tan biến, nhìn xuống thấy tất cả đều man mác một màu. Kiếp nhân sinh sự nghiệp chất chồng, không lo trả nợ lại còn tham lam bụi đỏ, không chịu ngừng nghỉ, một sớm giác ngộ, buông bỏ tất cả, tự cởi trói cho thân được tự do tức là đắc đạo, vậy người đời nên gắng gỏi thực hành. (77)

    Tế Phật: Đức Thiên Tôn vì ôm ấp lòng từ bi nên mới ban thêm bốn mươi chín chương kinh siêu diệu, mỗi câu đúng là kinh đạo trời, mỗi lời đúng là ý nghĩa thần diệu, chúng sinh quả là có phước mới được nghe kinh đạo lớn, cảm tạ lượng từ bi ân đức của Thiên Tôn. (78)

    Dương Sinh: Lạy tạ đức Thiên Tôn đã ban lời chỉ dạy lẽ huyền vi thái thượng giúp ích chúng sinh dưới gầm trời không ít, thật là cảm kích vô cùng.

    Thiên Tôn: Đạo lớn nguồn cội tới đây đã đủ, tôi không cần nói thêm nữa. Tôi sẽ đưa hai vị từ cõi “tam thanh” tới cõi “nhất khí” để bái kiến Thượng Đế, chẳng rõ ý kiến của hai vị như thế nào?

    Dương Sinh: Cảm tạ sự chỉ dẫn của đức Thiên Tôn, thưa không rõ Thượng Đế ở chốn nào?

    Thiên Tôn: Thượng Đế là đức “Hỗn Nguyên Huyền Huyền Thượng Nhân” tức Người trên cõi mịt mờ hỗn độn thuở sơ khai, ngự tại đỉnh Côn Lôn trên “Thiên Tâm Sơn” là núi lòng trời, là đức Vô Cực chí tôn, cho nên được tôn xưng là “Thiên Phụ, Thiên Vương, Thượng Đế, Lão Tổ, Lão Mẫu, Như Lai, Chân Tể” chính là đạo lớn cội nguồn vậy. (79)

    Dương Sinh: Thưa con từng nghe trên cõi Đại La Thiên không hề có nữ phái, nay tôn vinh là Lão Mẫu như vậy có hợp không?

    Thiên Tôn: Ở cõi Thái Cực có phân chia nam nữ âm dương, một sớm tu tới quả vị Vô Cực ắt trừ khử hết chất âm dương, cho nên Thượng Đế chỉ là một bầu “hư linh” tức trống rỗng thiêng liêng, không nam không nữ, không già không trẻ, nay tôn là “Lão Mẫu” để biểu thị khả năng có thể sinh đẻ nuôi dưỡng trời đất cùng vạn vật. Lại còn hình dung Thượng Đế như lòng trời từ ái, có đức hiếu sinh, giống hệt như bà mẹ thương con ở cõi thế gian, mong người đời giác ngộ lẽ này.

    Dương Sinh: Dĩ nhiên cõi Vô Cực không phân biệt nam nữ, tại sao còn phân biệt tiên ông, tiên cô?

    Thiên Tôn: Đó là sự hiển tướng của Hư Linh, có thể nhìn người rời bỏ gia đình cắt tóc đi tu, mặc áo cà sa, không phân nam nữ, ý là bôi xóa giả tướng bên ngoài để chân tướng bên trong lộ ra. Tiên ông, tiên cô tu tới bản tính được sáng lại, nam thì tuyệt tinh khí, nữ thì dứt kinh nguyệt, vẻ mặt hồn nhiên như trẻ thơ, trở thành một phái duy nhất thiên chân, việc tôn vinh tiên cô không nam không nữ là tu Đại Đạo vì dùng nước nóng dầu sôi phá hủy dung nhan, diệt sắc tướng để chân bản tướng hiển lộ làm phương tiện hành đạo. Cho nên gọi là tiên ông, tiên cô bởi vì họ đã lộ được bản tính thiên chân, cả hai đều không còn dục tình nam nữ, cho nên gốc đạo vô danh, miễn cưỡng gọi là đạo. Tên gọi có nam nữ, nhưng thực ra thì không có nam nữ, điểm này có thể quan sát ngay cơ thể con người, trẻ thơ có hình tướng trai gái nhưng không có dục tình trai gái; người già cả có hình tướng nam nữ, nhưng không còn sự nghĩ ngợi về nam nữ đều là hiện tượng bản tính trở về nguồn cội, đạt trạng thái không còn đối đãi phân biệt sự khác tính, người ta tu tới tâm cảnh này ắt có thể thành tựu nổi Đại Đạo Vô Cực, vĩnh viễn không còn luân hồi. Cho nên nói: “Hậu thiên phân nam nữ (khác tính), tiên thiên thành nhất khí (đồng tính)”.

    Tế Phật: Dương Sinh sửa lại y phục cho ngay ngắn, định thần dưỡng khí.

    Dương Sinh: Tuân lệnh.

    Thiên Tôn: Hai vị theo tôi thăng tiến...

    Dương Sinh: Thiên Tôn dùng phất trần phất một cái, ân sư và tôi tự động bay lên, giống hệt như được cưỡi gió đè mây, pháp lực của đức Thiên Tôn quả là lớn rộng vô cùng, phía trước xuất hiện một khối hào quang chói lòa, hai mắt khó mở nổi.

    Thiên Tôn: Chốn này là cõi Tam Thanh, thuộc vùng trời Đại La, chính là Tam Thiên, Đại Thiên thế giới, tất cả vạn vật đều bao la. Đây là Tổ khí của trời đất thuở hỗn mang ban đầu, cho nên hào quang đạo khí vô địch. Dương Sinh công lực chưa đủ nên hai mắt khó mở, mau phủ phục. Bầu khí toàn một vẻ mịt mờ tức là đạo lớn, cũng là một khí tông chủ vậy, cũng còn tôn xưng là Phật Tổ Vô Hình, Hồng Quân Lão Tổ, Hỗn Nguyên Thánh Tổ, Tiên Thiên Lão Tổ.

    Dương Sinh: Chỉ thấy hào quang sáng ngời, ngoài chẳng thấy vật gì khác.

    Thiên Tôn: Đúng vậy, Đạo Lớn vốn vô hình, hư vô gọi là Đại Đạo, mọi tôn giáo dưới gầm trời đều do một khí sinh ra, đáng tiếc không thấu triệt cái lí này nên không có pháp để đắc đạo, cho nên nói: “Đạo Lớn chung nguồn, muôn giáo quay về một mối” (Đại Đạo đồng nguyên, vạn giáo quy tông) tức là lẽ đó.

    Huyền Huyền Thượng Nhân: Ba vị Nguyên Thủy, Hoạt Phật và Dương Sinh cùng chung một thể cùng đạt tới “Thần, Phật, Nhân”, khác hình nhưng cùng một “tính”, bữa nay ứng vận trời để độ người, lại trở về đạo lớn mịt mờ, kì diệu lắm thay, chúng sinh vốn do tôi hóa thành, muôn loài do tôi đẻ ra, cho nên có thơ rằng:

    Thơ

    Hồng mông vị tịch đạo hàm anh
    Vô số tinh cầu khí hóa thành
    Giáp tí nan kê thiên vạn ức
    Hư không ẩn ngã bất tri danh.
    Hư không cửu uẩn khí huyền huyền
    Vị phán hồng mông hữu ngã tiên
    Nhất điểm chân linh trường bất diệt
    Sinh lai Phật Thánh dữ Thần Tiên.

    Dịch

    Giữa thuở hỗn mang đạo sáng lòa
    Tinh cầu khí hóa khắp gần xa
    Chu kì xoay chuyển muôn ngàn ức
    Ẩn bóng hư không chẳng thấy ta.
    Muôn vẻ hư không khí mịt mùng
    Hỗn mang trước đó có ta trong
    Chân linh một điểm trường tồn mãi
    Thánh Phật Thần Tiên đã sống chung. (80)

    Chúng sinh nếu như biết báo đền ơn nguồn cội, nhận rõ nguyên lí trở về với chân lí ắt là đứa con đỏ, đứa con hiếu thảo. Nếu như hồi quang phản chiếu nhìn lại ta mịt mờ ắt thành Thượng Nhân, Kim Tiên Cổ Phật vậy.

    Thiên Tôn: Thượng Đế đã ban lời chỉ giáo, Dương Sinh quỳ lạy tạ ơn.

    Dương Sinh: Lạy tạ ơn Trời... Tại sao con chỉ nghe tiếng mà không được thấy mặt Ngài?

    Thiên Tôn: Đạo Lớn vốn không tiếng, không mùi, âm thanh vừa nghe được gọi là “thiên âm” tức tiếng trời. Hẳn là đã rõ vậy.

    Dương Sinh: Không hình không dáng, trong cái không có sự kì diệu, mỗi câu mỗi phấn khích lòng con, kì diệu lắm thay.

    Tế Phật: Bữa nay thầy trò mình còn được đức Nguyên Thủy Thiên Tôn hướng dẫn tới lạy mừng ra mắt đức Nguyên Thủy Thượng Đế, quả là sự vinh hạnh ba đời mới có được. Người đời xem tới hồi này ắt là phải ngừng đọc để làm lễ tạ ơn. Đạo Lớn siêu diệu đều gởi cả ở đây, hiểu rõ đặng thuở cha mẹ chưa sinh chân bản tính của mình là thế nào? Có về chầu nhà Tổ hào quang mới tròn đầy, và đạo quả mới đạt thành. Giờ đây tôi phải hướng dẫn Dương Sinh trở lại Thánh Hiền Đường, cảm tạ đức Thiên Tôn.

    Dương Sinh: Đa tạ ân phước khai mở đạo của đức Thiên Tôn. Thưa ân sư con đã sửa soạn xong, kính mời thầy trở lại Thánh Hiền Đường.

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:26 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    January 31st 2010, 1:52 am
  • HỒI MƯỜI HAI

    DẠO CUNG ĐÔNG HOA LẮNG NGHE ĐÔNG HOA ĐẾ QUÂN THUYẾT PHÁP

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 9 tháng 10 năm Kỉ Mùi (1979)


    Thơ

    Xử thế vô kì đãn thủ trung
    Nhân nhân lạc thú tẩu tây đông
    Thiên đường đại lộ nghinh nhân sĩ
    Địa ngục âm sâm quỷ kế thông.

    Dịch

    Trung dung đạo sống chớ coi thường (1)
    Bao kẻ đam mê chạy khắp phương (2)
    Thiên đường đại lộ mời nhân sĩ
    Địa ngục âm u quỷ dẫn đường. (3)

    Tế Phật: Diệu pháp của đạo sống ở đời là ở giữa không thiên lệch về một bên nào, kẻ đó sẽ được mọi người hoan nghênh, không gặp oán hờn, không bị coi là thù địch, giống như đường lớn ở cõi thiên đường ngả nào cũng thông đạt, không hề gặp trở ngại. Kẻ tuân theo con đường “trung dung” tất cả những ngả bế tắc đều dễ dàng vượt qua, vì luôn luôn được kẻ khác tránh qua bên nhường lối đi cho. Song nhìn lại thấy trên đời không thiếu bọn tiểu nhân có nhiều quỷ chước, ma thuật luôn luôn dùng kế này kế nọ để hãm hại người hiền lương trung hậu, như thợ săn ở trong rừng đào hầm đặt bẫy khắp nơi hãm hại cầm thú chim muông, nhưng chính vì bọn quỷ kế đặt quá nhiều hầm bẫy nên có lúc chính chúng bị sa vào bẫy sập chết uổng mạng, cho nên tục ngữ có câu: “Bắt rắn bị rắn cắn, bắt cọp bị cọp ăn”. Còn ta thì cho rằng: “Hại người thành hại mình” đó là nghĩa trong kinh sách của trời đất dạy, là chân lí muôn đời bất di bất dịch. Chương Cảm Ứng trong sách Thái Thượng có nói: “Họa phước không có cửa chỉ do người tự chuốc; thiện ác quả báo như bóng theo hình” hẳn là cũng cùng một ý như đã nói ở trên vậy. Ta có lời khuyên nhủ chúng sinh rằng phải lo cứu giúp người thật nhiều, rồi mới mong được kẻ khác giúp lại mình, đó là chân lí nhân quả báo ứng, chớ có khinh thị vậy. Bữa nay đã tới giờ dạo thiên đường, Dương Sinh mau lên đài sen. (4)

    Dương Sinh: Thưa con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường. Xin hỏi ân sư bữa nay thầy đưa con đi thăm những nơi nào trên cõi thiên đường?

    Tế Phật: Bữa nay chúng ta dạo thăm cảnh trời Ngũ Lão. Ngũ Lão cư ngụ bên ngoài ba mươi ba từng trời tức là Đông Phương Đông Hoa Đế Quân hay Mộc Công, Tây Phương Tây Hoa Đế Quân hay Kim Mẫu, Nam Phương Nam Hoa Đế Quân hay Hỏa Tinh Tử, Bắc Phương Bắc Hoa Đế Quân hay Thủy Tinh Tử, Trung Ương Trung Hoa Đế Quân hay Hoàng Lão, đó là những tinh hoa nguyên linh của Nguyên Lão, là thủy tổ của ngũ hành (kim mộc thủy hỏa thổ). Chính khí phát xuất từ đó rồi sau hóa sinh thành giống người cùng muôn loài động vật thực vật (5), muôn loài vạn vật trong vũ trụ đều do khí ngũ hành sinh ra, cho nên gọi là Ngũ Lão; bữa nay mình phải mau tới cung Đông Hoa. Mới hôm nào phụng chỉ viết Thiên Đường Du Kí, thắm thoát giờ đã tới giai đoạn hai, gánh nặng trên vai Dương Sinh đã trải qua nhiều khổ cực gian lao, tinh thần mỏi mệt khiến cho lắm lúc muốn ngất xỉu, điều đó thấy rõ lắm, nhưng nếu con một mực tâm thành thì việc lên trời tuy rất khó song sẽ chẳng khó. Cũng chẳng sợ gì nạn ma quỷ tới thử đạo, vì “gặp quỷ không cho là quỷ, quỷ tự mất; thấy ma chẳng kinh, ma tự diệt”. Muốn phổ độ chúng sinh tất nhiên thân mình khó tránh nổi sự chà đạp, tài năng phải được trui rèn mới mong sáng chói, trời giúp đường lối, chỉ cần gắng gỏi mà thôi... Đã tới cung Đông Hoa, Dương Sinh xuống đài sen.

    Dương Sinh: Phong cảnh tươi sáng biết bao, khắp nơi cây cối xum xuê đủ các loại kì hoa dị thảo, trong ao sen đua nở, cá vàng bơi lội, không nhiễm một hạt bụi nhơ, quả là thế giới đào nguyên. Cung điện lớn phía trước, trên đề ba chữ “Đông Hoa Cung” nhìn nguy nga tráng lệ, khiến người ta phải kính nể.

    Tế Phật: Dương Sinh chuẩn bị ra mắt Đông Hoa Đế Quân.

    Dương Sinh: Cảnh tiên này khiến lòng người yên tĩnh như mặt nước lắng trong, quên hẳn tất cả sự ồn ào ở cõi thế gian vây bủa quấy rầy, các tiên đồng nhởn nhơ vui đùa, vẻ thiên chân không lo lắng, sung sướng biết là bao nhiêu... Vào trong điện thấy một vị tiên già ngự giữa điện, gặp luồng ánh sáng lung linh cảm giác tâm thần thư thái cùng thoải mái... Đệ tử thánh bút Dương Sinh, phụng chỉ viết sách, bữa nay theo thầy tới cung Đông Hoa, kính xin Đông Hoa Đế Quân chỉ giáo cho.

    Đông Hoa Đế Quân: Dương Sinh hãy đứng lên, quý Thánh Hiền Đường phát huy truyền bá văn hóa Đông phương, khuyên răn được người đời nhiều không kể hết, công đức quả là vô lượng, dân chúng trên đảo quý Đài Loan được hưởng nhiều ân phước, sống đời tự do, tôn giáo phát triển, khắp nơi thảy đều thay trời mở các thánh đường truyền dạy điều thiện, lần này Dương Sinh lại được trời nhìn tới, ban sắc chỉ viết sách Du Kí quyển thứ hai để phổ hóa chúng sinh, thực quả là vinh hạnh. Văn hóa Trung Hoa cũng thuộc tinh thần văn hóa Đông phương, tôi lại cai quản linh khí toàn cõi Á Đông, cảm thấy trách nhiệm quá nặng nề mà đường đi tới lại quá xa xôi.

    Dương Sinh: Tinh hoa Đông phương do ngài Mộc Công khai sáng, kính xin đức Đế Quân giảng giải rõ cho.

    Đế Quân: Ngũ Lão có năm đức, phương đông “nhân ái”, phương tây “nghĩa khí”, trung ương “tín tâm”, phương nam “lễ giáo”, phương bắc “trí tuệ” hóa thành “ngũ thường” của nhân loại là “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”. Phương đông “giáp, ất, mộc” “mộc” này đã trải qua vô số sự hỗn độn ban đầu nên đã thành “Lão Mộc Đầu”, còn gọi là “Mộc Công”. Mặt trời mọc phương đông gọi là “Thái Dương”, ánh sáng mặt trời tỏa chiếu, thế giới sáng sủa, cho nên mặt trời mọc là “sinh”, mặt trời lặn là “tử”. Thần tạng gan của nhân loại trên trái đất do tôi cai quản, nếu gan hư cây khô, ắt sinh mệnh tiêu tan. Chúng sinh hàng ngày chạy đông chạy tây, lao khổ quá độ, cuối cùng từ đông trở qua tây, sinh ở đông mà tử ở tây, cho nên có câu nói: “quy tây” hoặc “quy tây thiên” tức về phương tây, về trời tây được biểu thị bằng hình ảnh mặt trời lặn phương tây.

    Dương Sinh: Kính xin đức Mộc Công kể lại tiểu sử của ngài?

    Đế Quân: Tôi do Tam Thanh hóa thành, lấy “mộc” để sống, cây cối mọc thành rừng ở chốn thế gian, đều do tôi hóa thân, như tre làm đũa, gỗ làm bàn ghế, giường nằm, củi đun thậm chí đến cả cây bút giáng cơ, các pho tượng thần thánh thảy đều làm bằng gỗ do khí Đông Hoa hóa thành, và người phương đông đã đem sử dụng thật là rộng rãi. Nhân vì hiện tại Kim Mẫu một mực ngay thẳng phổ độ các nguyên linh, thêm có phương tây giúp đỡ muôn vật ở thế gian đi vào kỉ nguyên “thế giới kim ngân” như luyện kim, như đồng hồ, giường tủ, bàn ghế, bút viết, nĩa muỗng, chén đũa, nhà cửa, tàu bè, xe cộ, máy bay đều chế bằng kim loại, coi kim loại là quý giá. Nhân loại đã từ đời sống thiên nhiên tiến lên đời sống kĩ nghệ máy móc Tây phương, hình ảnh “Mộc Công” dần dần bị lu mờ chìm vào quên lãng. Tại các đô thị phần đông không còn cây lớn, chỉ thấy trồng nhiều cây nhỏ trong các chậu mà thôi, do đó đời sống đã trở thành khô khan cằn cỗi. Mỗi khi gặp được ngày nghỉ, dân chúng ùn ùn kéo nhau ra ngoài thành phố tìm kiếm “mộc công” để hưởng thụ cảnh tươi mát sáng sủa của đại tự nhiên. “Mộc khí” tức là khí sớm mai, khí tinh khiết có thể so sánh với khí trong lành của mùa xuân, chỉ tiếc rằng người đời quá đắm chìm trong cảnh tửu sắc, của cải khiến gốc đạo của cây cối khô cằn rữa nát, khí của cây cối đã mất, nên người đời mắc các chứng bệnh thuộc về ngũ tạng càng ngày càng nhiều.

    Dương Sinh: Đức nhân của Mộc Công quả lớn lao vô cùng, chẳng rõ chúng sinh làm cách nào học tập được “mộc đức” để mà tu đạo đây?

    Đế Quân: Vì mong cứu độ chúng sinh dưới gầm trời, ta nay đặc biệt chỉ phép tu hành như sau: Mọi người đều sinh ra từ khí ngũ hành, song vì chìm đắm trong cõi phàm trần, tinh thần hao phí quá nhiều, khiến cho ngũ khí chẳng thể nào triều nguyên nổi, cuối cùng không trở về được nguồn cội, đem khí “nguồn gốc” ném vào “ngũ thể” khiến cho tan loãng, tiên thể thuần chân biến thành thân xác què cụt, linh khí thất tán, vô phương trở về chỗ đứng ban đầu. Tôi nay đặc biệt lấy khí nhân đức của Ngũ Lão ban phát cho chúng sinh để cứu độ họ.

    I. Giáp ất Đông phương thuộc “mộc” ở trên trời gọi là “nguyên” tức nguồn cội, ngũ sắc thuộc “thanh” tức xanh, ở dưới đất bốn mùa thuộc “xuân”, “Thanh Đế” tức vua xanh hóa sinh xuống cõi thế gian là Phục Hi, nhân luân ngũ thường thuộc “nhân”, nhân thân chủ về “gan và gân”, ngũ giới chủ về giết chóc.

    II. Nguyên nhân tán loạn “mộc khí” sở dĩ biết được như trên là vì:

    1) Mộc: Xưa nhà tre nhà gỗ, nay thay bằng cốt sắt xi măng, nhà lầu, cao ốc. Sắt đá cứng cỏi vô tình không bằng cây rừng rất giàu sức sống, giậu tre thay rào sắt, có thể ngăn cản được sức tấn công từ ngoài vào, song lại tự giam mình ở chính giữa, vì sống ở trong phòng bọc thép trên lầu cao, cơ hội tiếp xúc với ánh mặt trời giảm thiểu, cho nên mộc khí mất đi.

    2) Nguyên: Nguyên là cội là nguồn là sự tròn trịa. Ngũ thường của trời là “Nguyên, hanh, lợi, trinh, càn” thì nguyên là cội nguồn của muôn gốc. Như “nguyên đán” ngày đầu năm, “nguyên thủy” lúc ban sơ, “nguyên bản” gốc ban đầu. Người đời nay yêu thích hư vinh, chẳng chuộng gốc, chuyên đầu cơ để tính chuyện thủ lợi, kinh doanh không phải bỏ vốn mà mong kiếm lời nhiều, kí chi phiếu không tiền bảo chứng, thiếu tiền liền tính chuyện man trá, có tiền tính chuyện lợi dụng, chôn vùi bản tính. Có lắm kẻ chẳng lo giữ gìn “chân tính tình” sửa soạn son phấn áo quần cho đẹp mắt, chế tạo thuốc giả, đánh tráo ruột giữ nguyên vỏ. Không khí, nước bị ô nhiễm chẳng thể phục hồi được nguồn cội trong sáng mới mẻ cho nên nguyên khí bị mất đi.

    3) Xuân (xanh, gân): Mùa xuân là mùa đầu của bốn mùa, ngũ sắc thuộc về màu xanh, trong cơ thể con người thuộc về gan, vào tiết xuân gân dãn, vạn vật sinh trưởng mạnh mẽ, vận hành có thứ tự theo thiên đạo, cho nên không thể coi bốn mùa đều là xuân mà phải chia ra làm bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông, bày ra cảnh thay cũ đổi mới dưới gầm trời. Người đời nay xuân tình phát triển mạnh mẽ nên dục tính sớm nẩy nở, chưa lớn đã bẻ, chưa chín đã ăn, dễ lớn nhưng mau tàn, cho nên tuổi thanh xuân sớm đứt đoạn, chưa già đã suy yếu, toàn thân gân xương đau nhức, như mặt trời vừa mọc phương đông đã vội chìm về phương tây, gió mùa đông thổi tới, khí lạnh tràn về. Người phản bội ý trời ắt gân cốt suy đồi già nua, huyết quản tắc nghẽn, tay chân rã rời mỏi mệt, đều là do gió xuân mất khí nhập vào thân.

    4) Đức nhân (giới sát): Ngũ thường gồm nhân nghĩa lễ trí tín, ngũ giới gồm chém giết, trộm cướp, dâm dục, bậy bạ, rượu chè. Đông phương thuộc nhân đức nên giới sát, chỉ có những kẻ bất nhân mới ham chém giết, trời vốn hiếu sinh kiêng cữ sát sinh. Người và vật đều tiếc mạng sống mà cầu khỏi chết, như bầy kiến nhỏ bị lăn xuống nước mà vẫn cố giành nhau ngoi lên bờ, huống mạng sống của con người, chẳng có quan hệ với trời sao? Phàm những kẻ dùng dao, bút, miệng lưỡi sát hại kẻ nhân đức, hoặc gài bẫy hại người hiền lương đều là phi nhân, thất đức. Sát khí thịnh mà nhân khí ít, cây cối gặp sự chém giết, cành đứt khô héo, kẻ nhân đức thì sống thọ, kẻ bạo ngược thì chết yểu, giận làm thương tổn tới gan, y học đã chứng minh điều này. Sở dĩ người đời ham chém giết khiến cho mộc khí tiêu tan chẳng sống được lâu, như một kẻ phạm tội giết người, trước sau cũng bị hình phạt xử tử, chặt cành cây kẻ khác đang trèo sẽ có lúc bị kẻ khác chặt cành mình đang leo. Hành động bất nhân gặp quả báo bất nhân, chẳng chút sai lệch. Trên đây là nguyên lí tương sinh tương khắc của thuật tu tập “mộc đức”, chúng sinh nếu như giữ được tâm quý trọng sự sống ắt sẽ được sống lâu, còn hành động bạo ngược ắt tự chôn, cái lí của sự tu đạo đều nằm trong lẽ này, hợp đạo thì nên, thất đạo ắt bại, chúng sinh phải giác ngộ điều đó.

    Dương Sinh: Cảm tạ Mộc Công đã phân tích rõ nhiều khía cạnh của chân lí để giáo hóa chúng sinh.

    Đế Quân: Tôi hướng dẫn Dương Thiện Sinh đi quan sát thắng cảnh Đông Hoa, để thấy rõ sự ảo diệu của tạo hóa.

    Dương Sinh: Cảm tạ Đế Quân đã ban ân phước cơ duyên may mắn.

    Đế Quân: Mời đi theo tôi... Hai vị hãy nhìn khu vườn rộng mênh mông kia, nào như cây cối, tre trúc, hoa cỏ, dược thảo, rau đậu. v.v...

    Dương Sinh: Khu vườn đó giống hệt một khu nông trường rộng lớn trồng đủ loại, nào như các thứ cây ăn trái, các loại lúa mạch, lúa mì, lúa nước mơn mởn nõn nà, cả một thế giới xanh tươi.

    Tế Phật: Màu sắc của thứ nào thứ đó đều tỏa ra một sức sống mãnh liệt, phong cảnh Đông Hoa quả là quá trù phú tốt tươi, xứng đáng là vị chúa tể cai quản về thực phẩm để nuôi sống trần gian. Các loại lúa và rau là lương thực của loài người, dược thảo là để chữa lành bệnh nhân loại, hiện thời Đông Hoa ân ban thật quá nhiều thứ.

    Đế Quân: Các loại lúa và rau là thực phẩm cơ bản để nuôi sống nhân loại, tôi đã tưới linh khí xuống để cho các thứ đó sinh sản lớn lên, cung ứng cho người đời dùng làm vật thực cần thiết cho lục phủ ngũ tạng. Các loại thực vật này lúc lớn lên sẽ hi sinh tính mệnh nhỏ bé của mình để cung cấp thức ăn cho nhân loại. Chúng đã tập trung sinh mệnh để làm thành thánh mệnh tức đại mệnh của loài người cùng loài vật, đó chính là tinh thần chí công vô tư. Trời ban vật thực để duy trì sự sống của con người, vậy mà con người hết ngày này qua tháng khác báo đáp lại bằng hết tội ác nọ đến tội ác kia, thì quả là chẳng xứng đáng chút nào. Một hạt lúa lúc sống biến hóa thành hạt gạo trắng, khi chết nuôi sống biết bao sinh mệnh. Do đó có thể nói một hạt thóc chết đi tức là chỉ thoát xác gởi hồn sống qua nơi thể xác khác, gọi là tử song thực ra vẫn sống mặc dù chẳng thấy có vẻ thiết thực chút nào. Như một kẻ già nua chết đi, kì thực thì người đó chẳng hề chết, bởi vì khi những hài nhi trai gái chào đời chính là lúc đời sống mới của họ lại tiếp tục tái sinh, đó chính là thể xác tuy chết đi song tinh thần còn lưu lại thế gian. Tính linh họ sau khi thoát li xác thịt, trở lại cõi trời sống tiêu dao, như bữa nay Dương Sinh đã nhìn thấy, sự sinh hoạt nơi này hoàn toàn sống động đẹp đẽ. Do đó muốn được hưởng phúc sung sướng như thế này hẳn là lúc sống ở dương gian phải lo tu sửa. Người đời đều có chân bản tính này, hôm nay đặc biệt trình bày về phương pháp làm cách nào đạt được công trình ấy, xin hãy đọc cách thức chỉ dẫn dưới đây:

    1. Đông Hoa là sinh mệnh của lúc sớm mai từ đông phương phát khởi lên, người ta ai mà chẳng theo đó tỉnh dậy rời khỏi giường? Nếu như lại tiếp tục nằm xuống thì chẳng thể hưởng đặng khí ban mai trong lành, mà toàn hít thở tử khí trần trược, bởi vậy nếu lìa bỏ Đông Hoa thì càng tiến tới sẽ càng xa lìa.

    2. Ánh sáng huy hoàng của Đông Hoa tỏa chiếu khắp trần gian, chẳng chiếu riêng ai, vậy liệu ta có hấp thụ được chút nào nơi buồng phổi, trái tim không?

    3. Kẻ khác thăng quan, phát tài, tiến bộ, còn ta liệu đã gột sạch được tâm oán hận cùng mắt đục ngầu để khỏi còn ý định đạp đổ các kẻ vừa kể ở trên không? Những tia gân máu đỏ tía đầy sát khí biểu lộ lòng ghen ghét muốn hãm hại kẻ khác, như thế là đoạn tuyệt với linh khí sống động cơ bản, cản trở sự giúp đỡ lẫn nhau để cùng tồn tại, li khai hẳn với linh khí của Đông Hoa giàu có và bất diệt.

    4. Tâm giả dối là chỗ không ai nhìn thấy nên được kêu là phòng tối, bình thường những nơi đó sự tình chẳng thể làm cách nào cho sáng tỏ nên khi gặp khốn đốn sẽ chẳng ai cứu nổi? Cây trồng trong phòng tối không có ánh sáng là bởi vì nó đã đoạn tuyệt với linh khí Đông Hoa.

    5. Liệu có được sinh khí mãi không? Giận sẽ làm hại gan, khí giận dữ như cuồng phong bạo vũ, sẽ tàn phá hoa cỏ cây cối, lá rụng tơi bời, khiến cho huyết khí đảo lộn, thần khí thác loạn, sẽ chết non chẳng thể sống thọ được, đã phá hủy mất gió hiền nắng đẹp cùng sự hân hoan đón mừng linh khí Đông Hoa nồng nàn thắm đượm.

    6. Luôn gần gũi rừng cây đại tự nhiên để hít thở không khí trong lành, ăn rau trái tươi, hàng ngày tắm ánh nắng mặt trời thoải mái tự nhiên, thanh tĩnh không nhiễm trần trược, khiến tâm thần thêm sáng suốt khỏe mạnh, linh khí Đông Hoa tràn ngập có thể sẽ giữ mãi được vẻ thanh xuân tươi thắm. Trên đây là sáu quy tắc nếu như ai tuân theo được, ắt hẳn chẳng cần tu đạo lớn, hành đức lớn, tự nhiên tương hợp làm một với đạo lớn Đông Hoa, sau khi chết sẽ cùng linh khí giao tiếp, phơi phới bay thẳng về cõi trời vô cực cùng ta sum vầy, thành tựu được đại đạo vô thượng. Người đời tu đạo chẳng có con đường nào là con đường tắt để có thể bảo trì nổi ánh sáng thanh xuân của tâm cảnh, tự nhiên là tâm trẻ thơ con đỏ, một khi đã hấp thụ được đầy đủ linh khí Đông Hoa, chắc chắn sẽ trở thành vị Đông Hoa Đế Quân, Mộc Công Lão Nhân vậy. Khi mặt trời mọc ở phương đông, vạn vật thức tỉnh, khôi phục lại nguyên khí, cây cỏ đua mọc tốt tươi, hân hoan đón mừng sự vinh hiển, cho nên phương đông là chốn khởi đầu cho sự sinh tồn của vạn vật. Người đời lo tính toán cách kiếm ra tiền, sớm tính chiều tính, nhưng để cho sự tính toán được sáng suốt hẳn là chỉ vào lúc ban mai. Cây cối sinh trưởng thời tiết thích hợp nhất là mùa xuân, cho nên có thể coi trong một năm thời vận tốt nhất là mùa xuân. Kẻ tu đạo phải học tinh thần Đông Hoa thì sự tu luyện mới sớm đạt thành. Cây xanh hít khí trời hút khí đất, còn cây khô lìa trời bỏ đất, từ cây sống biến thành cây chết. Cho nên con người cũng vậy, đứng được thì làm người, gẫy đổ thì làm quỷ, chúng sinh có thể nhìn rõ cảnh sụp đổ của đời người lúc vận số tới hồi kết thúc, do đó còn phải lo ngưng hành động, lập công lập đức, giống như cây sinh cành nẩy đốt, mọc đầy rừng đạo. Mười năm trồng cây, cây trăm năm kẻ sau được hưởng bóng mát, tạo được phúc cho nhiều người để tránh cảnh xương khô, thịt nát giống như cây mục chẳng dùng được việc chi, và cây khi đã khô muốn sống lại e rằng cũng khó khăn lắm lắm. Xin lưu lại dưới đây mười bài thơ đạo để gởi gấm ý trên, mong người đời xem đó mà giác ngộ.

    I

    Âm dương động tĩnh bất năng thôi
    Uổng phí tinh thần khứ vọng vi
    Đạo tại mục tiền đa tự đạt
    Châu tàng phúc nội thiểu nhân tri
    Nhan cư lậu hạng tâm thường lạc
    Thuấn xứ thâm sơn chí bất di
    Thiên hạ hồn nhiên vô nhị lí
    Cưỡng phân tôn giáo chuyển chi li.

    Dịch

    Âm dương động tĩnh mãi không thôi
    Thần trí tiêu hao uổng cuộc đời (6)
    Đạo ở bên mình thành cách biệt
    Ngọc nằm trong bụng tưởng xa vời
    Ngụ nơi ngõ hẹp lòng không động
    Dạo chốn núi sâu dạ chẳng dời
    Cõi thế vốn hòa cùng một lẽ
    Chia lìa tôn giáo mới phân hai.

    II

    Bất cùng phụ mẫu vị sinh thân
    Khước khứ mê tu thụ khổ tân
    Bế mục tồn tư giai thị vọng
    Tử tâm khô tọa tận phi chân
    Yêu tri động tĩnh tham thiên địa
    Tu thức phù trầm định chủ tân
    Tính mệnh hỗn nhiên thành nhất phiến
    Thử thời vô ngã diệc vô nhân.

    Dịch

    Nguy khốn mẹ cha cũng ráng sinh
    Bởi mê tu đạo cực thân hình
    Nệ tình nhắm mắt càng tăm tối
    Chấp trí ngồi thiền chẳng tỏ minh (7)
    Động tĩnh đất trời cần hội hợp
    Nổi chìm chủ khách phải tường tinh
    Hỗn mang tính mệnh chung cùng khối
    Khi ấy không phân bạn với mình.

    III

    “Thân, tâm, thế, sự” tứ hư danh
    Đa thiểu mê nhân bị hệ canh
    Họa hoạn chỉ nhân quyền lợi đắc
    Luân hồi đô vị ái duyên sinh
    An tâm tuyệt tích tòng thân động
    Xử thế vong cơ nhiệm sự canh
    Xúc cảnh ngộ duyên thường ủy thuận
    Mệnh cơ vĩnh cố tính viên minh.

    Dịch

    “Thân, tâm, thế, sự” bốn hư danh
    Bao kẻ lầm mê đã cố giành
    Hoạn nạn đều do quyền với lợi
    Luân hồi đều bởi dục và tình
    Lắng tâm để tránh thân dao động
    Tĩnh trí hầu mong đạo đạt thành
    Hợp cảnh hợp duyên nên mọi việc
    Vận may vĩnh viễn hưởng quang vinh.

    IV

    Tiên thiên diệu lí bản vô ngôn
    Cử khẩu tài khai thuộc hậu thiên
    Học giả phân nhiên thành dị kiến
    Bất cùng phụ mẫu vị sinh tiền.

    Dịch

    Tiên thiên diệu lí vốn không lời
    Miệng lưỡi ba hoa phản ý trời
    Hành giả nếu như còn chấp trước
    Chẳng cùng cha mẹ sống trên đời.

    V

    Thần ái sinh nhân nhân tổn thần
    Lao tâm phí khí táng kì thân
    Thống tai thế thượng giai như thử
    Đạt đạo thông thần hữu kỉ nhân?

    Dịch

    Thần mến sinh người người hại thần
    Lao tâm tổn khí mệt cho thân
    Thương thay hầu hết đều như vậy
    Ai kẻ đạo thông ở cõi trần?

    VI

    Vị thức chân không mạc thuyết không
    Chấp không dị thất chủ nhân ông
    Dục tri không lí chân tiêu tức
    Tận tại hồng mông vị phán trung.

    Dịch

    Chửa ngộ chân không chớ nói không
    Chấp không dễ mất chủ nhân ông
    Hư không chân lí xa vời vợi
    Vào lúc đất trời chửa mở mang.

    VII

    Học đạo yêu tri sinh tử sự
    Bất tri sinh tử mạn cầu tiên
    Năng tri sinh xứ phương tri tử
    Khứ trụ vô cầu nhậm tự nhiên.

    Dịch

    Học đạo phải rành lẽ tử sinh
    Chớ cầu tiên thánh nếu chưa rành
    Hiểu rành được lẽ sinh cùng tử
    Trói buộc cởi xong đạo đạt thành. (8)

    VIII

    Doanh doanh viễn lí chư nghi cương
    Niệm niệm năng khai chúng diệu môn
    Thức phá vọng duyên vô chấp tướng
    Hiệu nhiên tâm cảnh bất tằng hôn.

    Dịch

    Vùng vẫy lìa xa mọi buộc ràng
    Cửa huyền hai cánh phá tan hoang
    Đứt duyên thức mở không mê chấp
    Tâm cảnh sáng trưng ánh đạo vàng.

    IX

    Tu hành yêu thức chủ nhân ông
    Bất thức tu hành tận lạc thông
    Năng ngộ chân thường phương đắc đạo
    Xuất li tam giới hiện thần thông.

    Dịch

    Tu hành phải biết chủ nhân ông
    Chẳng biết tu hành hẳn uổng công
    Không ngộ “chân thường” không đắc đạo
    Xa rời “tam giới” hiện thần thông.

    X

    Đả phá hồng mông khiếu
    Đô vô Phật dữ Tiên
    Tức phi tâm ngoại diệu
    Bất thị khẩu đầu thiền
    Tẫn nhật ưu du quá
    Thông diêu tự tại miên
    Ủy thân tiềm tuyệt cảnh
    Vạn sự phó chi thiên.

    Dịch

    Hồng mông phá lủng lỗ
    Không Phật cũng không
    Tiên Tâm tức tâm minh diệu
    Miệng là miệng chánh thiền
    Trọn ngày lo lắng biến
    Suốt tối ngủ nghê yên
    Cảnh tuyệt gởi thân xác
    Mặc trời mọi việc quên.

    Người đời nếu muốn được ta tiếp khí linh, trước hết phải bình tâm tĩnh khí, vì tâm lưu giữ khí để ban phát cho thân cùng khắp chốn, do đó có lời tụng như sau:

    Đông Thiên cửu môn Chín cửa Đông Thiên
    Trung hữu Thủy Hoàng Giữa có Thủy Hoàng
    Xuất nhập Tam Thanh Ra vào Tam Thanh
    Ngao yến hoa phòng Mở tiệc hoa đăng
    An trấn linh ngục Ngục thiêng yên ổn
    Dịch vân hưng mang Mây trải mênh mông
    Thượng nhiễu thanh hà Phủ kín sông xanh
    Cửu thiên vạn trọng Chín trời chất nặng
    Tham giá vũ liễn Xe nhẹ chuyên chở
    Thập nhị phi long Bay rợp bóng rồng
    Tả thị thanh yêu Trái có trẻ hầu
    Hữu vệ thần đồng Phải có trẻ trông
    Bả chấp giản tịch Mang theo sổ sách
    Thanh trát ngọc văn Cùng thẻ vua phong
    Hạch định tiên danh Xét định tính danh
    Liệt ngôn thượng cung Những điều thưa trình
    Kim nhật đệ tử Bữa nay đệ tử
    Thỉnh trần sở ngôn Xin đọc rõ ràng
    Thân bội xích thư Sách đỏ thân mang
    Danh tham đế đường Trình vua họ tên
    Nguyện thần nguyện tiên Mong thần mong tiên
    Thanh lục bộ trung Tra sổ rõ ràng
    Thượng hồi linh giá Xe thiêng trở lại
    Lai giáng ngã phòng Phòng tôi ở chung
    Nhị khí hỗn hợp Hai khí hòa hợp
    Hóa hình anh mông Hình hóa sáng trong
    An trị can phủ Trị an tạng phủ
    Chiêu trí hoa quang Phát huy điển quang
    Linh huy lưu quán Anh linh tràn ngập
    Diện sinh kim dung Mặt lộ ánh vàng
    Tọa chí tự nhiên Ngồi được tự nhiên
    Thần minh giao thông Thần minh suốt thông
    Thiên địa vô cùng Trời đất không cùng
    Thân đắc trường sinh Thân được trường sinh.

    Bài chú linh thiêng trên đây nếu như kiên trì tụng niệm, tâm hồn ắt trong sáng không bị ô nhiễm, luôn luôn thanh tĩnh yên vui.

    Dương Sinh: Xin hỏi đức Mộc Công, ngài và đức Tam Thanh có quan hệ thế nào?

    Đế Quân: Giáo chủ Tam Thanh với Ngũ Lão đế quân có nguồn gốc sâu xa, Tam Thanh thành Tam Hoàng, Ngũ Lão hóa thành Ngũ Đế. Thái Thượng Lão Quân lại là nguyên linh của tôi, rồi tôi lại biến hóa mà giáng sinh xuống phàm làm Lão Tử, khai mở tôn giáo của Đông phương, cho nên còn gọi là Đông Hoa giáo chủ, song người đời chỉ rõ là Lão Quân hóa sinh làm Lão Tử, đó là nguyên nhân Ngũ Lão hóa thành Ngũ giáo. Trung Hoa còn gọi là Trung thổ, hoặc Đông thổ, tôi hóa làm Phục Hi là một đế trong Ngũ Đế, vì là nguồn gốc của đạo thống nên còn gọi là Thanh Đế. Hoàng Lão hóa thành Hoàng Đế, do đó nói đến văn hóa Đông phương ắt phải lấy thuyết Hoàng Lão làm căn nguyên, bởi vậy Trung thổ với Đông thổ có quan hệ rất gần gũi.

    Tế Phật: Kính lạy đức Hậu Mộc Công bữa nay đã mất nhiều thời giờ, bữa khác lại tới xin đức Mộc Công chỉ giáo thêm cho.

    Dương Sinh: Bữa nay đệ tử theo thầy tới đây, cảm tạ Đông Hoa Đế Quân đã tận tình chỉ giáo, nếu như có điều chi thất lễ kính mong đức Đế Quân rộng lượng tha thứ, xin cáo từ.

    Đế Quân: Kính tiễn hai vị trở lại Thánh Hiền Đường.

    Tế Phật: Dương Sinh lên đài sen, chuẩn bị trở về Thánh Hiền Đường.

    Dương Sinh: Thưa con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:27 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    January 31st 2010, 5:12 pm
  • HỒI MƯỜI BA

    LẠI DẠO CUNG ĐÔNG HOA LẮNG NGHE ĐÔNG HOA ĐẾ QUÂN THUYẾT PHÁP

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 23 tháng 10 năm Kỉ Mùi (1979)


    Thơ

    Bách tuế quang âm quý thiếu niên
    Thanh sơn lục thủy lạc vô biên
    Vãn hà do khả đào nhân túy
    Nhất giác hoàng lương học bát tiên.

    Dịch

    Cuộc đời quý nhất tuổi thanh xuân
    Nước biếc non xanh đẹp bội phần
    Chiều muộn mây trôi người túy lúy
    Mộng vàng một giấc thoắt thành tiên.

    Tế Phật: Tuổi thiếu niên học đạo dễ dàng thông đạt là nhờ trí tuệ minh mẫn, và vì chưa bị đời vùi dập nên ít nhiễm bụi trần ô trược, tính linh lại trong trẻo cùng phẩm hạnh thanh cao. Bởi vậy nếu thiếu niên biết lo tu, đạo lớn mau thành. Tuổi trung niên học đạo khó khăn hơn, bởi thân bị gia đình sự nghiệp ràng buộc, kiếp sống nổi chìm, gông cùm tình ái, nhà ngục lợi danh nên vượt thoát chẳng dễ dàng, do đó khốn quẫn càng thêm khốn quẫn, cho nên phải mất rất nhiều công phu mới giải tỏa nổi trận giặc mê hồn này vây bủa. Một sớm thoát được trùng vi hẳn là thành được Thần tự do, Tiên thoát tục và Phật tự tại. (1) Tuổi lão niên tu đạo càng khó khăn hơn bởi đường đời đã quá trải, nào như ăn nhậu, rượu chè, bài bạc, con hát thứ gì cũng đam mê. Tới lúc vãn chiều xế bóng khí huyết suy nhược, tâm có thừa nhưng sức không đủ, muốn lên cõi trời bắt buộc phải tĩnh dưỡng. Nếu như ngay lúc này thấy rõ được tình đời, lập định được chí hướng, quyết tâm vượt thoát nhà ngục nhân sinh, dù thắng hay bại thì cũng thấy được gương người bạn già tới lúc phải nhắm mắt buông tay, con cái tới tuổi trưởng thành mỗi đứa một phương, hiện thời cái còn lại để ôm mang chỉ là trái tim vắng lặng, triền miên nghĩ về quá khứ cùng tưởng tới tương lai, khi phải vĩnh viễn lìa bỏ cuộc đời ra đi hẳn là lòng quá đỗi bàng hoàng. Do đó phải nghĩ ngay tới việc quyết chí diệt dục tu đạo, sửa đổi sai lầm, tu bổ tâm thân, nếu như tinh tiến không lười biếng tất nhiên có thể tu thành tiên ông tiên bà. Trái lại nếu như phó thác cái thân già cho những tháng ngày còn lại thì tới lúc lâm bệnh sẽ hết nói năng, bệnh mỗi ngày một nặng sẽ vô phương cứu chữa. Già mà không tu như đèn dầu trước gió có thể tắt bất kì lúc nào, một sớm ba tấc khí dứt đoạn, đường đi tới tối tăm, địa ngục hiện ra trước mắt, lúc đó hẳn là mọi việc đã quá muộn. Bất kể trẻ già lớn bé đều là Phật, chớ bỏ phí sinh mệnh của mình, miễn là phải tuân theo luật lệ để không hại tới con đường tiến của kẻ khác, là có thể lên tới được thiên đường. Bữa nay ta lại hướng dẫn Dương Sinh dạo cung Đông Hoa, Dương Sinh mau lên đài sen chuẩn bị khởi hành.

    Dương Sinh: Thưa con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Việc hướng dẫn Dương Sinh khiến lòng vô cùng cảm động, chúng sinh vật lộn với cuộc sống hàng ngày cuối cùng chẳng rõ được vì ai cay đắng, vì ai gian nan? Có biết bao nghiệp chướng bắt chúng sinh phải đền trả, liệu chúng sinh chẳng lo lắng sao? Một sớm trách nhiệm trả xong đã không biết hưởng ơn phước đó, lại còn trác táng rượu chè cờ bạc, tạo thêm nghiệp khác, nên chẳng lạ gì người đời tới lúc già nua mà vẫn còn khổ lụy, thậm chí có kẻ còn bị trói buộc cho tới mãi kiếp sau, là bởi kiếp này chẳng lo trả sạch nợ nần. Người đời há lại cam tâm làm kẻ vô trách nhiệm ư? Ta nay xin truyền cho mọi người một pháp như sau: “Biết đủ thường vui mà lại quên sầu; nhàn nhã trong bận rộn thân nhẹ nhõm dễ dàng tu”. Người đời hãy mau mau thí nghiệm bí quyết này, nhất định sẽ được sung sướng y hệt Phật Sống này... Đã tới cung Đông Hoa, Dương Sinh mau xuống đài sen, tới lạy chào ra mắt đức Đông Hoa Đế Quân.

    Dương Sinh: Những lời ân sư than đời trách người trên suốt dọc đường đã in sâu vào tâm khảm con. Thoáng cái đã tới trước cửa cung Đông Hoa. Cung Đông Hoa là thắng cảnh của cõi trời, khắp nơi đều chan chứa sức sống tươi vui, hãy vào trong cung lạy mừng ra mắt đức Đông Hoa Đế Quân.

    Đế Quân: Lành thay, đời sống vật chất ở thế gian đã phát triển tới mức cực thịnh, nhân loại lại đang nghiên cứu xem làm cách nào để cho đời sống của con người được trường thọ. Người đời có câu nói: “Sống lâu bằng núi Nam Sơn”. Vậy thì núi Nam Sơn sống thọ được bao lâu? Hẳn là sỏi đá trên núi đó không bị hư hại, cây cối ngàn năm không chết. Người sống tại thế gian, nếu như giống được đá bền vững trên núi đó, thì liệu có ích gì? Còn nếu sống xanh tươi như cây trên núi ấy thì hẳn là sinh mệnh được hưởng khí lành sớm mai, và nếu đem sánh thân đó với thân trần tục hẳn là sẽ rõ sự lợi ích như thế nào? Đây là lí do tại sao bữa nay đức Đông Hoa Mộc Công lại trình bày thêm về sự ích dụng của cây. Các loài cây đều được thừa hưởng khí nguồn cội một cách sâu xa, do đó người đời có thể nhờ nó mà giác ngộ đạo lớn. Tôi không thể dùng lời nói nông cạn để truyền bá tinh khí Đông Hoa, giống như một cọng rau chỉ là một sinh mệnh bé nhỏ mà có thể nuôi nấng được loài người, một mẫu rễ cỏn con lại có thể cứu sống một sinh linh cùng duy trì vạn vật dài lâu bất diệt. Có thể thấy chỉ một lời nói ngắn ngủi thôi mà cũng có thể cảm kích vang động tới trời cao, song sở dĩ chúng sinh không thấy được như vậy là vì chúng sinh không chịu nhìn nhận thật kĩ lưỡng mà thôi. Bữa nay Dương Sinh lại tới thăm cung Đông Hoa, duyên đạo thực là sâu dày, tôi xin đem Dương Sinh đi thăm một thắng cảnh khác của Đông Hoa để tìm hiểu nguyên lai đời sống của con người và sẽ rõ tại sao lại có thể hoàn thành được sứ mệnh của trời cao trao phó, hầu giúp con người trở về được nguồn cội sinh mệnh của mình.

    Dương Sinh: Cảm tạ đức Đế Quân đã rủ lòng thương mà tận tình vun bồi chỉ giáo cho. Đệ tử xin hứa sẽ tận tình lắng nghe lời dạy bảo của đức Đế Quân.

    Đế Quân: Hay lắm, hãy đi theo tôi.

    Dương Sinh: Đi theo đức Đế Quân, cảm thấy không khí nơi đây vô cùng trong trẻo và mát mẻ, những nỗi sầu muộn nơi đáy lòng chỉ thoáng giây là tiêu tan hết, quả thực quá tuyệt vời.

    Tế Phật: Màu xanh là thứ thần dược để biến khí và giải muộn, nó có thể dung hóa được sự khô khan cũng như ẩm thấp, cho nên kẻ yêu thích màu xanh đều là những kẻ trẻ trung hoạt bát, cái lẽ đó quả là hợp lí hợp đạo.

    Dương Sinh: Khu vườn phía trước trồng đầy cây cối cùng hoa cỏ, mỗi thứ một giống chẳng thứ nào giống thứ nào, muôn màu muôn vẻ khác nhau, mỗi cây đều có đính kèm nhãn hiệu viết rõ tên người, không hiểu ngụ ý như thế nào?

    Đế Quân: Ha ha, bữa nay tôi muốn vì người đời mà giải thích rõ sự mê lầm của cõi thế, những cây đó đều là nguyên linh của các thứ cây ở dưới trần gian. Đương thời Ngũ Lão sinh đẻ nuôi nấng các nguyên linh, Mộc Công tôi cũng chia sẻ một phần trách nhiệm, nhân loại sinh ra đời là bắt nguồn từ cây cối và hoa cỏ. Cây hướng “dương” nên sức lực mạnh mẽ, đại diện cho nam tính, hoa hướng “âm” yếu đuối mau tàn tạ, đại diện cho nữ tính. Chúng tượng trưng cho trạng thái nam nữ sinh hoạt ở thế gian, chỉ cần thế gian đẻ ra được một đứa con trai, nguyên linh của cây liền nẩy mầm trên đất; nếu như sinh con gái ắt là nguyên linh của hoa cũng đơm nụ, dưới trần nói: “rớt xuống đất”, trên trời nói: “ra khỏi đất”, nguyên linh ban cho chủng tử, ở trần gian gọi là tinh và noãn, trong lúc nuôi nấng thai nghén bào thai cũng là lúc chủng tử được vùi trong đất, một sớm nẩy mầm cũng là lúc bào thai chào đời, nếu như chủng tử ung thối, biến dạng hay bị tổn hại thì bào thai cũng biến hình, chết trong bụng mẹ, hoặc bị đẻ non. Người và trời mỗi cái hít hà đều có quan hệ hỗ tương, mỗi hơi thở đều có sự tương giao mật thiết, nguyên linh của các cây hoa trên trời đều có ảnh hưởng đến sự sinh đẻ, nuôi nấng, dạy dỗ cùng sức khỏe của trẻ thơ dưới trần gian.

    Dương Sinh: Thưa nguyên hình của loại cây trước kia thấy ở địa ngục tại sao lại giống hệt loại cây ở đây?

    Đế Quân: Thiên đường, địa ngục, trần gian đều vốn do cùng một tâm sinh ra, nguyên linh người đời được ghi chép vào ba cuốn sổ, một cuốn ở tại thiên đường, một cuốn ở dưới địa ngục, một cuốn ở trần gian. Thiên đường lưu giữ sổ gốc của các nguyên linh, địa ngục trần gian là sổ ghi các linh hồn. Con người giáng sinh xuống thế gian là do trời gieo chủng tử, rắc linh thai, sau khi chào đời, vốn có linh khí tròn đầy, trải qua sự nhiễm trược hồng trần, tình dục xâm chiếm, tinh thần phá tán, thành phải gánh vác nghiệp quả nặng nề, do đó con người bị đày ải dưới chốn hang sâu bùn lầy địa ngục, chẳng còn sức linh thiêng trở lại thắng cảnh nguồn cội. Thiên đường địa ngục đều có nguyên linh của các loại cây, là hiện tượng phản chiếu trạng thái hoạt động của thế nhân. Trời như tấm gương vĩ đại, nhất cử nhất động ở thế gian đều phản ảnh vào trong gương, rồi lại chiếu rọi xuống địa ngục, tam tài (đất, trời, người) hợp làm một như máy quay phim theo dõi tung tích mảy may không giấu diếm nổi, cho nên nói: “Tim đen trong phòng tối bị mắt thần như điện soi sáng; tiếng người đời nói thầm, trời nghe như sấm nổ”. Người đời đã biết dùng máy quay phim để thâu hình những hành động của một kẻ nào đó, trên trời há lại chẳng có thứ máy đó sao? Con người ở giữa trời và đất vô phương trốn tránh khỏi mắt điện trời, mỗi cử chỉ mỗi hành động, mỗi lời nói, mỗi việc làm, đều hiện rõ trên tấm gương vĩ đại của trời. Những cây trên trời đều đại diện cho sinh mệnh linh thiêng của người, các vị Thánh Tiên muốn kiểm soát công quả của người đời chỉ việc mở mắt huệ nhìn vào gương đó là thấy rõ tất cả. Mục đích của việc tu đạo là bồi dưỡng cây đó sao cho nở được hoa đạo, kết được trái đạo, nếu như phàm nhân vui sướng thì hoa linh mệnh trên trời bừng nở, còn phiền muộn thì héo tàn, lá rụng khí chết. Bởi vậy người đời phải dùng tâm thay đổi hoàn cảnh để bảo vệ sinh mệnh của mình một cách tốt đẹp, có như vậy sau khi thoát xác linh mệnh mới có thể hưởng được quả đạo to lớn.

    Dương Sinh: Xin hỏi đức Mộc Công, người ta làm cách nào để có thể bồi dưỡng được linh mệnh cho nó thăng hoa?

    Đế Quân: Cây cối hoa cỏ đều có chủng tử, chủng tử khi hóa thành cây con nhất định sẽ giống hệt cây cối hoa cỏ mẹ, do đó trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu. Bởi vậy con người cần phải tu đạo mới có thể cải thiện được hạt giống của chúng, vì chủng tử gặp thời tiết, khí hậu của mùa nào cũng đều thích ứng sinh trưởng nổi, gặp gió to mưa lớn chẳng đổ, vượt qua mọi thử thách của ma vương khảo đảo, kết hợp được nhân duyên tốt nhất với linh khí, rồi nở hoa kết trái đạt thành được mục đích của chủng tử. Đó cũng là thánh thai, quân tử xá lợi tử, nó vô cùng kiên cố chẳng thể hủy hoại nổi, dù nhiễm phải bất cứ thứ gió nước cát bụi (tình dục ân oán) nào nó cũng đều không động tâm, không nẩy mầm. Như vậy là thoát li được nhân quả, giữ vững được nhân cách độc lập, đó chính là sự trường sinh bất tử và thành đạo, là niết bàn bất sinh bất diệt. Vậy nên, tại thế gian chẳng thể có được biện pháp giải thoát tâm trói buộc của con người. Sau khi chết đều chìm đắm trong trái bầu sầu muộn, bởi vì con người ở hiện tại cũng như trong tương lai tâm tính không hai, hình dáng y hệt. Bởi vậy con người phải quên đi tất cả những nỗi thống khổ để tìm sự sung sướng của chân bản ngã.

    1. Không chấp thiện: Kẻ chấp thiện cũng như đeo mang cả ngàn lượng vàng, nhưng ở cõi trời thân mang đầy báu vật lại là thân trói buộc, muốn được hưởng cảnh vui sướng ở thiên đường tâm cần phải trống rỗng. Kẻ thành đạo chân chính bao giờ cũng vất lại thế gian tất cả, không được mang theo bất cứ vật gì, có như vậy mới nhẹ nhàng tự tại. Con người vốn đến bằng hai tay không, thì khi ra đi cũng phải hai tay trống, nếu như không buông bỏ mà cố giữ kể như là phản đạo, chẳng khác nào kẻ chết còn mang những nỗi thống khổ phiền muộn, quả là quá u mê! Lá cây úa vàng tự động rơi rụng, tuyệt nhiên không lưu luyến, phải vất bỏ lá chết cây mới dễ dàng sinh lá mới. Vạn vật vốn từ không sinh ra có, từ có trở về không, đó là gốc của đạo lớn. Muôn sự phát sinh từ gốc tâm, bên ngoài “không” và “có”, chẳng gì cản trở mình đó mới là hợp đạo.

    2. Không ngại ác: Ác là nguyên nhân của thiện, suốt đời hành thiện, tâm chấp vào thiện, nghe nói ác tâm sinh bất bình, như vậy là tự làm mất “chân đạo”. Tâm thời như mặt trăng, mặt trời không phân thiện ác, chiếu sáng muôn vật, cho nên mặt trời, mặt trăng luôn luôn sáng tỏ. Không có ác thì cũng chẳng có thiện, quên thiện thì ác lâu ngày sẽ như lá rụng về đất mục nát mất tiêu, chính vì bồi đắp mãi tính thiện mà ý niệm về thiện mới phát sinh. Một kẻ chuyên làm ác sau khi bị khảo đảo trừng phạt ắt sẽ giác ngộ, quay trở lại làm thiện, còn nếu như cứ khăng khăng làm ác ắt như lá rụng không mục, chẳng có cơ hội được sống đời sống mới. Gỗ tre rau cỏ phải nhờ có vật ô uế mục nát bón gốc mới có thể xanh tươi lớn mạnh, cho nên kinh Thanh Tĩnh nói: “Nam trong nữ đục, nam động nữ tĩnh... Cái trong là cội nguồn của cái đục, cái động là nền tảng của cái tĩnh” (Nam thanh nữ trược, nam động nữ tĩnh... Thanh giả trược chi nguyên, động giả tĩnh chi cơ). Trời vốn do khí thanh nổi lên, mà khí thanh lại phát sinh từ lòng đất. Đất vốn là thể của “âm” trược, do “âm” phát triển tới mức cùng cực thì sinh “dương”, trược lắng đọng mà thành trong. Nam vốn là thể của thanh tĩnh, song thân vốn sinh ra từ ô trược. Đất vốn tĩnh, nhưng nguồn gốc của nó vốn do khí trời ngưng kết, nhờ vậy khí đất mới sinh động, vạn vật mới nẩy sinh. Nữ vốn tĩnh, song lại nhờ cha mới có thể sinh ra, cho nên âm dương cảm ứng phát động đã tạo ra sự sinh đẻ nuôi nấng. Nếu rõ được lí này thì thiện ác, thanh trược, động tĩnh đều là đối cực của nhau, nếu như một sớm phạm tội ác, khư khư chẳng chịu rời gốc ác, tâm ắt đen chẳng còn sáng sủa, sự sống ngưng ngay; nhà lao dưới địa ngục vô cùng kiên cố, vào đó vĩnh viễn chẳng có ngày ra. Người trí không giữ ác nên kẻ khác bỏ ác, hay là quên những việc làm ác đã qua, từ nay trở đi không còn làm ác nữa, có như vậy mới là đích thực giải thoát, là xa rời hẳn con đường ác.

    Tế Phật: Đức Mộc Công từ bi, chỉ một lời nói mà làm sáng được lẽ đạo, Cổ Đức nói: “Một giác ngộ có thể làm tiêu trăm năm nghiệp quả, một ngọn đèn có thể xua đuổi ngàn năm đen tối” (Nhất ngộ năng tiêu bách niên nghiệp, nhất đăng năng phá thiên niên ám), ngụ ý dẫn người vào linh mệnh của đời sống mới, không thể ở mãi trong căn phòng tối tăm bệnh hoạn buồn phiền. Chúng sinh phải hiểu là thiên sứ áo trắng từ bi ở trên trời khi giáng trần đều vì chúng sinh mà châm kim đổ thuốc mong cứu sống người đời, do đó người đời chớ có sợ sệt kinh hoàng, thần thánh yêu người đời, tuyệt nhiên không có ý bắt chúng sinh khổ sở. Diêm Vương đều do Tiên Phật hóa thân, các ngài như mẹ hiền từ, như cha nghiêm nghị nên dù có đánh đập chửi mắng cũng chỉ cốt để chúng sinh trở nên tốt hơn thôi, bởi vậy không được hận các ngài, phải chăm chú nghe lời chỉ dạy của các ngài cho thật nhiều, hãy giữ tâm hoan hỉ vô tư tới chung vui với đức Diêm Vương Lão Tử. Tiên Phật ở trên trời cũng là Diêm Vương hóa thân, và may nhờ các ngài thấy được một số chúng sinh hiền lành tốt đẹp khiến các ngài vui vẻ mở rộng tâm, lộ sắc diện từ bi mĩ lệ hòa nhã đáng yêu. Được vậy là nhờ sự ảo hóa của người làm nên, do đó nói Phật là chúng sinh, Tiên là người núi, Tiên Phật với nguồn gốc của người cùng chung một thể. Người đời phải nhìn nhận cha mẹ mình là thần trời đất sáng suốt mới có thể nhận chân ra vẻ mặt từ bi của các ngài. Cũng cần phải nhìn lại chính mình, thiên đường địa ngục ở chung trong nhà ta, chớ nghĩ là xa xôi, địa ngục ở trước mặt, ngó lại thiên đường ở sau lưng. Những lời ta vừa nói đều phát xuất từ đáy tâm can, mong người đời cố gắng thể nghiệm.

    Dương Sinh: Tốt xấu đều chẳng thể nghĩ suy nổi, hãy phó mặc tự nhiên, lìa nhà rồi lại trở về nhà, hữu sự rồi lại hóa ra vô sự, lên thiên đường là để chiêm ngưỡng phong quang, xuống địa ngục là muốn được duyên hóa độ, tại trần gian gặp nguy khốn mong thư bớt. Hiểu được chừng đó thiết tưởng lên thiên đường, xuống địa ngục hay ở lại trần gian hẳn đều được sống sung sướng. Những người ở thiên đường vẻ mặt vui tươi hớn hở, địa ngục chỉ thấy toàn cảnh bi thương, trần gian hỉ nộ ai lạc hỗn tạp, tâm cảnh lúc sống làm sao thì sau khi chết cũng y như vậy, người chết song tâm không chết, vì sinh tử gốc vốn là một, thiện ác cùng một nguồn, nắm giữ hiện tại mới là cứu cánh của đạo vậy.

    Đế Quân: Dương Sinh nói rất phải, bởi chẳng lạ gì đệ tử của thiền sư cùng thiền tông tâm pháp, vốn không chấp vào đối cực mà trực chỉ bản tâm, kiến tánh thành Phật, không bàn luận dông dài, không câu nệ pháp, vô cùng tự do thích thú. Dương Sinh có thể dạo thiên đường địa ngục nhân gian một cách sung sướng, tuyệt đối không do sự ngẫu nhiên, bởi vốn đã có cái tâm cảnh tự do này, trên trời dưới đất chỉ chớp mắt là có ngay chẳng cầu xa xôi.

    Dương Sinh: Cảm tạ đức Đế Quân đã quá khen ngợi, giống như trẻ thơ coi chiếu bóng chẳng cần phân biệt thực hư, chỉ thấy rằng lòng thích thú và quên được mình một cách vui sướng, đó quả là vườn lạc thú lí tưởng.

    Đế Quân: Lành thay, ý kiến thật là kì diệu. Tâm tạo thiên đường, tâm tạo địa ngục, tâm vui Diêm Vương hóa thành Tam Thanh, tâm buồn Tam Thanh hóa thành Diêm Vương, nghĩ được tỏ, nhìn được rõ mới là khách tiêu dao cõi thiên đường, chớ có ẩn thân nơi nhà nhỏ đắm chìm trong cõi buồn rầu. Dương Sinh hãy nhìn những đóa hoa là nguyên linh của các đệ tử tại Thánh Hiền Đường.

    Dương Sinh: Những đóa hoa đó hình dáng và màu sắc khác hẳn nhau, hoa nào cũng kèm theo bảng tên ghi rõ tên người, không chỉ ghi chữ Nho mà còn ghi cả chữ Anh, chữ Nhật cùng nhiều loại chữ khác không đọc được, quả là vẻ ngọc lóa mắt. Trên cây kia có tên một bạn đồng tu tại bản đường, thân cây tốt tươi trái sai rủng rỉnh, chẳng hiểu ý nghĩa ra sao?

    Đế Quân: Đó là cây nguyên linh của môn đệ Khổng Tử, biểu thị sức đạo của vị đó đã mạnh, đạo quả lại nhiều.

    Dương Sinh: Cây kia mọc tốt tươi, trái nhiều vô kể, duy chỉ có cành con khẳng khiu như vậy là tại sao?

    Đế Quân: Đó là sức sống mạnh mẽ của cây nguyên linh, lá cây rậm rì, còn cành khẳng khiu biểu thị là có lúc nghĩ ngợi chưa thông suốt. Lá tượng trưng cho nghiệp đạo thì đã phát ra ánh sáng nếu như cành mà tròn đầy thông suốt nữa thì hẳn là một cây đạo hoàn mĩ.

    Dương Sinh: Cây kia cũng tốt tươi, nhưng bên nọ thì lá rậm rịt, còn bên kia thì lá lại thưa, trái đạo lại nhiều, đó là nghĩa tại sao?

    Đế Quân: Đó là cây nguyên linh của chúng sinh, nguyên hình nó giống như nửa trái núi che, phân nửa núi xanh, phân nửa đất đỏ, phải vun thêm đất, tưới thêm nước mới có thể dựng nền cất nhà. Nhìn cây này thấy rõ là có lúc chí đạo bị băng hoại, do đó mà một bên cây bị đứt gẫy, tuy mọc thêm đọt mới song tốc độ quá chậm, lởm chà lởm chởm. Hi vọng sau này bón thêm phân, gặp lúc gió xuân về cành lá lại xum xuê.

    Dương Sinh: Cây kia cao lớn, giống như cây hoa mồng gà, tại sao có bông thì úa vàng, có bông thì rơi rụng trên đất.

    Đế Quân: Đó là hoa nguyên linh của chúng sinh giống như hoa mồng gà, hơn hẳn các thứ hoa khác, đã một thời lừng danh song vì có lần gặp họa gió mây biến sắc, hoa cành tổn hại rất nhiều, tôi hi vọng sau này nó có thể hồi phục trở lại, sửa cành cắt lá tưới nước, bón phân mới có thể khôi phục lại nguyên khí cho nó, còn không quả là đáng tiếc lắm thay.

    Dương Sinh: Loại hoa này chẳng rõ tên gì? Cây cành tốt tươi nhưng hoa nhỏ li ti, tan tác khắp nơi chẳng rõ lí do tại sao?

    Đế Quân: Đó là hoa nguyên linh của chúng sinh, loại hoa này vốn thông thường, cho nên hoa nhiều mà tan tác, vì được tưới nước luôn nên xanh tốt, gần đây có hiện tượng thay giống, có sự phân biệt giữa hoa quý và hoa thường, vì sự thay đổi của người mà nguyên hình của hoa cũng biến đổi theo. Tùy trạng thái tâm lí cùng hành động của người ra sao sẽ kết thành loại trái đạo ấy, như vậy đều bởi người trồng cây nào thì hái quả đó. Nếu mỗi điểm tâm ý của người đều kiên quyết thì quả là tốt đẹp, song vì sự nghiệp nặng nề, nhân quả ràng buộc đến nỗi con cái mới phải chia lìa. Hãy nhìn những bông hoa tính quá nóng nảy kia, hương tỏa quá xa không lưu luyến ở gần hoa, do đó mà con cái phiêu bạt xa xôi không về, phải thay đổi mệnh này, thâu lại tính khí bạo tợn, hẳn là có thể hấp dẫn nổi chủng tử về lại vườn nhà.

    Tế Phật: Bữa nay thời giờ eo hẹp, tôi chẳng thể ở lại lâu hơn. Cảm tạ đức Đế Quân.

    Đế Quân: Xin kính tiễn hai vị trở lại Thánh Hiền Đường.

    Dương Sinh: Cảm tạ đức Đế Quân đã tiết lộ nhiều về thiên cơ, bữa khác đệ tử xin trở lại thụ giáo thêm. Thưa con đã chuẩn bị xong xuôi, kính mời ân sư trở lại Thánh Hiền Đường.

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:27 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    January 31st 2010, 11:03 pm
  • HỒI MƯỜI BỐN

    DẠO CUNG ĐÔNG HOA LẦN THỨ BA

    THĂM HOA NGUYÊN LINH CỦA CHÚNG SINH

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 13 tháng 11 năm Kỉ Mùi (1979)


    Thơ

    Bách xích can đầu tại mục tiền
    Phi thăng nhất bộ tựu thành tiên
    Thâm sơn lục thụ khai tân diệp
    Náo thị tu thân hưởng lạc thiên.

    Dịch

    Gậy thần trước mắt quá cao thay
    Một bước thành tiên hãy gắng bay
    Cây biếc núi sâu chồi mới nhú
    Ồn ào tu chợ hưởng trời vui. (1)

    Tế Phật: Nhân gian khắp nơi tình cảm nồng ấm, đến quán cơm chủ quán niềm nở mời mọc, rót nước trà, đưa khăn lau tay, tới chợ rau mua rau, người bán hàng cũng tiếp đãi nồng hậu, chẳng phân biệt là kẻ ác hay người thiện, họ đều đối xử thân thiết như nhau, chẳng hề nghĩ ngược nghĩ xuôi, khắp nơi tình cảm quả là nồng nàn. Nếu như có người nói: “Đó là họ vì tiền đâu phải vì người, cho tình cảm đó là tốt đẹp sao được?” Ha ha, thế gian toàn là coi tiền hơn người quả là quá “thực tế”, bởi lẽ chúng sinh quá nghĩ ngợi. Kẻ buôn bán cung cấp cho chúng ta rau và cơm để cho chúng ta được ấm no, song chúng ta cũng phải trả tiền cho họ để họ duy trì sinh hoạt như thế là rất tự nhiên là phò trợ thiên đạo một cách hết sức vô tư, thực hiện được nguyên tắc tương trợ, tương sinh rất là “thực tế” và “thiết yếu” có lẽ nào ta lại đi oán trách. Chỉ cần giữ đúng phần vụ và trách nhiệm của ta là có thể thay đổi được phương tiện ăn mặc, cư ngụ, di chuyển, dưỡng sinh để đời sống được sung sướng, đó chính là một mà là tất cả, tất cả mà là một. Bởi vậy nói: “Được một mà muôn việc thành” (đắc nhất vạn sự tất). Đạo lớn cũng từ một mà biến hóa thành muôn cái khác biệt, nếu như phát huy được sức của muôn người tới mức tận cùng của nó sẽ cung ứng được hết những nhu cầu cần thiết cùng quy kết được muôn sự vận hành trở về với đạo lớn, thể hiện được sức mạnh vô cùng tận của đạo vậy. Thứ tình nồng ấm này cũng là tình đạo, tuy nói là đại đạo vô tình, song tình lại có thể sinh đẻ nuôi nấng trời đất, tạo hóa cùng vạn vật, cho nên có thể thấy rõ được là trời đất không những chẳng vô tình mà trái lại tình cảm của trời đất lại hết sức vô tư và rộng lớn, coi muôn loài chúng sinh là một thể, như bà mẹ thai nghén bào thai, luôn luôn lo lắng trông chừng.

    Dương Sinh: Đã như vậy thì còn biết nói năng sao?

    Tế Phật: Chút khí con hít thở chẳng phải là do trời cung cấp đó sao? Không kể người thiện hay kẻ ác trời đều ban phát dưỡng khí như nhau, lại còn nước uống, đất đai đi lại, trời cũng thân tặng cho mọi người một cách đầy đủ và công bằng. Sở dĩ trời đất yêu thương loài người là vì tình cảm của trời đất đối với con người quá đỗi sâu dày, con người đã hấp thụ ân đức của trời đất một cách quá dễ dàng quen thuộc, do đó phải cảm tạ trời đất, đi đúng quỹ đạo của trời đất đã vạch ra, chúng sinh tự nhiên được sống thảnh thơi mãi mãi trong sự bao bọc của trời đất, sống và chết là một, đều được trời đất ban ơn thương xót, thì sự sinh tử của chúng sinh, lại chẳng tự nhiên và không đáng lạc quan sao? Bữa nay thầy trò mình phụng chỉ viết sách Thiên Đường Du Kí với mục đích là muốn cho tâm mê muội của chúng sinh được sáng tỏ, để cho chúng sinh tuy sống tại thế gian song đều có thể hưởng được lạc thú thiên đường, như vậy là chúng sinh làm sống lại tinh thần đạo học của Tiên Thánh ngàn xưa, cùng xây dựng đời sống thái hòa cho muôn kiếp về sau, đem lại hạnh phúc vĩnh cửu cho nhân loại hiện đang bơ vơ lạc lõng.

    Dương Sinh: Thưa ân sư, mỗi lời dạy của thầy đều vô cùng siêu diệu, con tin rằng người đời nếu như được nghe thầy thuyết pháp, chắc chắc sẽ có cảm giác uống nước cam lộ cùng tắm mưa pháp Phật Tiên.

    Tế Phật: Chúng ta không nên nói năng nhiều trong cuộc hành trình, mau lên đài sen để đi thăm cung Đông Hoa lần nữa.

    Dương Sinh: Thưa thầy con đã lên đài sen, kính mời thầy khởi hành.

    Tế Phật: ...Đã tới cung Đông Hoa, chúng ta mau tới trước lạy chào ra mắt đức Đế Quân.

    Dương Sinh: Xin tuân lệnh. Lạy mừng ra mắt đức Đông Hoa Đế Quân, bữa nay đệ tử theo thầy tới thăm quý cung thêm lần nữa, kính xin ngài chỉ giáo cho để hướng dẫn chúng sinh dưới gầm trời.

    Đế Quân: Từ xưa tới nay, tuy có nói về thiên đường địa ngục, song toàn là chuyện phiêu diêu trong chốn hư vô, không có được một kẻ quyết chí tìm hiểu cho thấu đáo đường hướng, cùng quyết tâm lên thiên đường cho bằng được. Trước sau toàn là làm cản trở bước tiến, do đó đã từng bị đẩy tới bước đường cùng nguy hiểm chết chóc, bởi tất cả đều đứt gánh giữa đường không đạt được mục đích cuối cùng, khiến cho một số người có lòng vì đạo bị mất hết niềm tin. Bởi vậy mà trời xanh đã rủ lòng thương, tiết lộ cho thế gian hay thắng cảnh thiên đường, khiến người có lòng vì đạo không bồi hồi mê sảng, hăng hái đi lên và nhất định sẽ lên tới. Sở dĩ phải viết thành sách Thiên Đường Du Kí thực quả không phải chuyện dễ, có thể so sánh với núi xanh nước biếc, cũng phải trải qua những cơn gió mưa bão tố để tôi luyện căn cơ của chúng sinh. Phàm những kẻ bản lãnh thâm hậu, chỉ cành lá rung rinh còn gốc rễ vẫn vững bền, bởi vì muốn tu thành đạo lớn, trước hết cần phải có ý chí kiên cường bất khuất. Phải có tinh thần như mặt trời, mặt trăng cùng muôn sao, dù có gặp bão bùng gió mưa cách mấy vẫn không đi chệch ra ngoài quỹ đạo, do đó mà tinh cầu trường tồn bất diệt, người đời tu đạo cũng cần phải có chí hướng này. Bữa nay hai vị lại trở lại nơi đây, tôi xin hướng dẫn hai vị đi tham quan vườn cây cối hoa cỏ nguyên linh.

    Dương Sinh: Cảm tạ đức Đế Quân, kì trước chỉ mới được thấy nguyên linh hoa và cây của mấy bạn đạo thuộc bản đường, bữa nay hi vọng được thấy nhiều hơn.

    Đế Quân: Hay lắm, xin hãy theo tôi.

    Dương Sinh: Kia toàn là những mầm non nguyên linh của các đệ tử bản đường hay sao mà lại tụ tập thành một đám thế kia?

    Đế Quân: Bởi lẽ chúng sinh xuất thế ở mỗi địa phương không giống nhau, do đó vào cửa giáo tu đạo cùng Quan Đế kết duyên thì tự nhiên những cây đó được di chuyển trồng trong cùng một vườn, cho nên người xưa nói: “Vật cùng loài tụ hợp với nhau”. Chúng sinh những kẻ có duyên dù xa cách ngàn dặm cũng có thể hội hợp cùng nhau, kết làm vợ chồng hoặc tri kỉ, như các bạn đạo ở rải rác khắp bốn phương trời, nhưng gặp kì giáng cơ bút, nhân duyên đưa tới lại có dịp tụ hợp nhau dưới mái Thánh Hiền Đường. Các nguyên linh ở trên thiên đường cũng y hệt như vậy, cây cối và hoa cỏ cùng tụ hợp trong một mảnh vườn.

    Dương Sinh: Những cây kia vốn là cây nguyên linh của các đệ tử Thánh Hiền Đường nở hoa muôn màu muôn vẻ, trên cành có nhiều vết nứt nẻ không hiểu nguyên nhân tại sao?

    Đế Quân: Những cây đó là nguyên linh của chúng sinh, chúng sinh vào cửa thánh, mặc dù sẵn sàng quyết tâm tu đạo, nhưng như kẻ ngồi xe hối hả giựt dây cương, muốn cho ngựa chạy thật nhanh nên thường phạm luật tu. Giờ đây đã tới tuổi trung niên, tôi hi vọng sẽ bổ khuyết những lầm lẫn được tượng trưng bằng những vết nứt nẻ kia, để cho cây đạo có thể nở hoa kết trái.

    Dương Sinh: Những cây này cũng vốn là cây nguyên linh của các bạn đạo Thánh Hiền Đường, thân cành tươi tốt, lá xanh mườn mượt, nhưng tại sao ngọn lại bị chặt đứt, nhựa chảy dầm dề?

    Đế Quân: Đó là cây nguyên linh của chúng sinh, gần đây vào cửa thánh họ chăm chỉ tham gia việc giáng cơ cho nên cây đã tươi tốt, sinh nhiều hoa trái, song vì khí huyết quá vượng, khí rượu xông lên, do đó mà lá cây xanh thắm. Nhưng bởi còn bước những bước sai lầm nên bữa nay phải tới nằm bệnh viện để điều trị, do đó mà nguyên linh của họ cũng bị thương tổn vậy. Tôi hi vọng chúng sinh mau giác ngộ để kiếp này cây lớn không đổ, hầu từ trong chết tìm ra con đường sống, thực sự nhờ cậy được thần linh yên lặng giúp đỡ. Chớ oán trời trách người, trời thương xót chúng sinh, tuyệt nhiên không có ý hại người, tất cả đều là do quan hệ nhân quả, hãy mau tu dưỡng, tạo dựng lại căn cơ mới.

    Dương Sinh: Sức lớn của cây này rất mau rất mạnh, song cành nó cong queo không thẳng, chẳng rõ nguyên nhân tại sao?

    Đế Quân: Đây là cây nguyên linh của chúng sinh, sức lực mạnh mẽ, cho nên không được thẳng, cây lấy sự ngay thẳng làm tốt, cành cây như tay người, mặc dù đa năng đa dụng song phải chia sớt mất nhiều thành quả. Phúc lộc san sẻ cho người, còn mình thì chẳng được chi, nếu như cành cây thẳng thắn ắt con cháu hưởng phúc vô cùng.

    Dương Sinh: Thưa cây này tại sao không có lá mà cành lại quá nhiều giống như ngàn cánh tay của đức Quán Âm?

    Đế Quân: Đây là cây nguyên linh của chúng sinh, có thân mà không có lá, cành lại quá nhiều, như ngàn cánh tay của đức Quán Âm biến hóa vô cùng. Do đó khắp bốn phương đều được hưởng ơn mưa móc, chẳng khác nào kẻ kinh doanh không có vốn mà vẫn phát đạt, nên sự nhiều cành, không lá cũng giống như kẻ không áo, sợ rằng tới một lúc nào đó, thân đạo sẽ bị tổn thương, khó mà tự bảo vệ nổi. Hi vọng cây đó sớm mọc được lá xanh để bóng mát phủ rợp về sau.

    Dương Sinh: Cây nguyên linh kia đã lớn chậm, lá lại còn thưa thớt, coi có vẻ úa tàn đến nơi là tại sao?

    Đế Quân: Đó là triệu chứng thiếu dinh dưỡng, đây cũng là cây nguyên linh của chúng sinh, tuy nó phóng khoáng phiêu bồng nhưng vì xa rời ánh đạo chiếu rọi cùng nước pháp thấm nhuần đã lâu nên có vẻ suy nhược. Hi vọng sẽ được Tiên Thánh khắp nơi trợ giúp phục hồi nguyên khí.

    Dương Sinh: Cây nguyên linh kia mọc xanh tốt sinh trái quá nhiều, không rõ nguyên nhân tại sao?

    Đế Quân: Đó là cây nguyên linh của loại chúng sinh từ khi vào cửa thánh tới nay chỉ có tốt được về một phương diện tụng niệm kinh kệ, lá vàng chứng tỏ là rễ đã già cỗi, cành bị khô héo phân nửa là vì nghiệp chướng quá nặng. Hi vọng cây đó phục hồi lại được sinh lực, dứt bỏ được hết mọi nỗi ưu tư, dốc tâm công phu để tu tâm sửa tánh còn không sẽ chẳng thể lên tới thiên đường nổi.

    Dương Sinh: Cây đạo kia cằn cỗi song sức sống lại mạnh mẽ và cũng được kết trái là tại sao?

    Đế Quân: Đó là cây đạo chúng sinh, từ khi chúng sinh vào cửa thánh tới nay, chuyên nghiên cứu chân lí, bị nhục nhã mà không oán than, tinh thần tiến thủ thực là kiên trì, nếu như tiếp tục cố gắng, không bỏ dở nữa chừng, ắt là ngày sau đạo quả có thể thành.

    Dương Sinh: Cây nguyên linh này có treo bảng tên đệ tử, tương lai đệ tử sẽ ra sao?

    Đế Quân: Rễ cây đạo của Dương Sinh đã sâu, lá lại nhiều, hiện thời đang lúc tươi tốt chứng tỏ thành tích đạo quả đã đạt được nhiều, nếu như dốc tâm dốc chí thay trời giáo hóa, tôi chỉ có câu chúc lành là: “Công quả vô lượng”.

    Tế Phật: Bữa nay thời giờ eo hẹp, bần tăng sắp phải hướng dẫn Dương Sinh trở lại Thánh Hiền Đường. Mong rằng ngày khác lại có dịp trở lại thỉnh giáo tiếp.

    Dương Sinh: Bữa nay xin cảm tạ đức Đế Quân đã bỏ nhiều công chỉ giáo, xin cáo từ.

    Đế Quân: Kính tiễn hai vị trở lại Thánh Hiền Đường.

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:27 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    February 1st 2010, 8:38 pm
  • HỒI MƯỜI LĂM

    DẠO CUNG ĐÔNG HOA LẦN THỨ TƯ

    THĂM CÂY NGUYÊN LINH CỦA CHÚNG SINH

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 16 tháng 11 năm Kỉ Mùi (1979)


    Thơ

    Thiên đạo tự nhiên bản hiếu sinh
    Cao chân tứ xứ đề tiên minh
    Đào nguyên thắng cảnh phong quang hảo
    Ngọc thụ kim hoa tận hướng vinh.

    Dịch

    Vốn dĩ đạo trời rất hiếu sinh
    Thánh tiên khắp chốn thực quang minh
    Đào nguyên phong cảnh bao tươi sáng
    Cây ngọc hoa vàng thảy đẹp xinh.

    Tế Phật: Sự phổ độ chúng sinh tuy là việc làm của Phật, song thực ra là việc làm của chính chúng sinh, vì chỉ có chúng sinh độ chúng sinh mới có thể thành đạo. Nếu như Thánh Hiền Đường viết xong sách Thiên Đường Du Kí mà chúng sinh không phát tâm ấn tống cùng chăm chỉ đọc thì Tiên Phật cũng chẳng thể làm sao hơn. Do đó, từ ngàn xưa tới giờ kẻ tu đạo đều nhờ cậy nơi chính mình, nếu như con người có thể giác ngộ chân lí mà tu hành ắt là đường thiên đường ở ngay trước mắt, chẳng cần Tiên Phật hướng dẫn, tự nhiên trở về được nguồn cội là chốn làng cũ quê xưa. Ngược lại, nếu như Tiên Phật miễn cưỡng đưa chúng sinh lên thiên đường, chúng sinh ở nơi này không quen, chỉ mấy bữa sau là bị tiêu tan, chẳng còn tìm thấy dấu tích. Bởi vậy người tu đạo ở thế gian phải biết rõ đời sống ở thiên đường, tập tính phóng khoáng cởi bỏ mọi ràng buộc, dẹp sạch phiền não, có luyện được như vậy sau này lên thiên đường mới thích ứng nổi hoàn cảnh, không còn cảm thấy sống ở thiên đường khổ hơn thế gian, và khi đó muốn trở lại thế gian cũng chẳng được, chỉ còn một cách duy nhất đầu thai kiếp khác. Cho nên bần tăng hi vọng chúng sinh trước hết phải lo mở rộng tâm, kẻ tu đạo cũng không được kì thị bài bác tôn giáo khác, nếu như trái lời khi tới thiên đường, Thần Thánh và những tín đồ thành đạo của họ tại thiên đường sẽ tới tìm mình. Khi ấy mới nhận ra những lỗi lầm của mình khi trước thì quả là quá trễ, vì sự đả kích đó đã khiến cho tính linh mình phiền muộn cùng đọa lạc mất rồi. Cho nên ở tại thế gian cần phải kết nhiều thiện duyên, thời khi lên thiên đường có gặp khó khăn mới được thư bớt. Người tu đạo, cần phải sống có hòa khí, vui với đạo, trau dồi đức hiếu sinh cùng tình thân thiện, chỉ những người có nổi đức tính này mới siêu phàm và nhập Thánh. Khi ở thế gian đã không bị người khinh khi thì tại thiên đường chắc chắn sẽ có chỗ dành sẵn cho mình. Bữa nay đã tới giờ dạo thiên đường, Dương Sinh mau lên đài sen để thầy trò mình cùng dạo thăm cung Đông Hoa lần nữa.

    Dương Sinh: Thưa con đã sẵn sàng, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Đã tới cung Đông Hoa, chúng ta mau tới lạy chào ra mắt đức Đế Quân.

    Dương Sinh: Tuân lệnh... Ân sư Tế Phật cùng đệ tử xin lạy chào ra mắt đức Đông Hoa Đế Quân, bữa nay lại tới quấy rầy, kính xin ngài lượng thứ cho.

    Đế Quân: Miễn lễ, thắng cảnh Đông Hoa đã được tiết lậu ở trần gian, hi vọng người đời sẽ hưởng ứng việc lên thiên đường. Kì trước tôi đã hướng dẫn Dương Thiện Sinh đi thăm nguyên linh của các thứ cây cối và hoa cỏ, nếu như còn nơi nào chưa tới, bữa nay tôi lại hướng dẫn Dương Sinh đi thăm tiếp.

    Dương Sinh: Cảm tạ đức lớn của Đế Quân, không quản khó nhọc trong việc hướng dẫn cùng giải thích nguyên do của các nguyên linh cây và hoa cho đệ tử... Đã tới vườn cây, cành lá tốt tươi, hoa đua nở muôn màu vui vẻ, được ngắm cảnh này lòng vô cùng thanh thản nhẹ nhàng.

    Đế Quân: Tuy nhiên các cây này không hoàn toàn giống nhau, bởi lẽ mọi loài đều được trời phú cho một đời sống khác biệt, như hoa cỏ ngoài đồng, ta thấy mỗi loài có một lối sống riêng.

    Dương Sinh: Nguyên linh của các cây này lớn cỡ trung nên rất cứng cáp và kết nhiều trái, không rõ nguyên nhân tại sao?

    Đế Quân: Đây là cây đạo của chúng sinh, chúng sinh từ lúc vào cửa Thánh tới nay chăm lo công quả, lúc ngồi đồng tiếng nói sang sảng, tính tình cương trực mạnh mẽ, nên cây đạo của họ cành lá tốt tươi, trái đạo kết nhiều. Gần đây lại chịu nhiều khổ cực phong sương nên vô cùng mệt mỏi, hi vọng họ không nản lòng, giữ vững được chí hướng phát huy đạo lí, của cải ở thế gian kẻ có duyên mới có được, bởi vậy đạo cũng cần phải tu dưỡng nhiều lắm mới đạt nổi.

    Dương Sinh: Cây nguyên linh này thật là cao lớn, lá mọc rất nhiều nhưng quả đã ít lại chưa chín, không rõ tương lai sẽ ra sao?

    Đế Quân: Đây là cây đạo của chúng sinh, những chúng sinh này có căn duyên tốt nên tính tình ôn hòa, từ khi vào cửa Thánh tới nay chăm lo tu tâm sửa tính. Tuy chưa có được kết quả lớn lao nhưng đã nhận rõ được đâu là chân lí để gắng noi theo, chăm chỉ nghe lời giảng dạy về lẽ đạo, đạo quả tương lai hẳn là vô lượng.

    Dương Sinh: Đây là cây nguyên linh cỡ trung cành lá tuy nhiều nhưng lá lại có những đốm đen, mới đơm bông nhưng chưa kết quả không rõ nguyên do tại sao?

    Đế Quân: Đây là cây đạo chúng sinh, chúng sinh từ khi vào cửa Thánh tới nay, tuy có lòng tu đạo, nhưng điểm ô trược ngày trước chưa tẩy rửa sạch, đã vậy đôi khi lại còn tái phạm những tội lỗi trước kia một cách nặng nề, đến nỗi đạo quả tối đen. Ta mong rằng chớ thất chí bỏ bê, gắng gỏi tu tiến sẽ có lúc kết quả, con đường tương lai chắc chắn sẽ sáng lạn. Trời không hề phụ kẻ có tâm nguyện, Dương Thiện Sinh hãy quan sát lại những hoa kia cho thật kĩ càng.

    Dương Sinh: Thưa vâng, đệ tử sẽ coi xét kĩ lại những cây này hầu tiết lộ một số căn cơ cho các nữ bạn đạo dốc tâm tu được tỏ tường. Những cây này nở hoa kết trái một cách lạ lùng, giống như cỏ Linh Chi, không rõ nguyên nhân tại sao?

    Đế Quân: Đây là cây đạo của chúng sinh, chúng sinh từ khi nhập cửa Thánh tới nay, dốc tâm công quả, âm thầm tu đạo, ăn chay thanh lọc bản thể, kiên tâm trì chí, lúc gặp nạn ma quỷ thử thách thì nhẫn nại chịu đựng, tuyệt đối trung thành với Thánh Đế, chí hướng tôi luyện càng ngày càng vững bền. Sự kết quả của việc tu đạo này đạt tới mức thượng phẩm của cỏ tiên “Linh Chi”, hi vọng các nữ bạn đạo đó cứ tiếp tục tu tiến như vậy mãi, chắc chắn sẽ tu thành chính quả.

    Dương Sinh: Cây hoa kia trổ bông coi vô cùng tráng lệ, cành lá hết sức tốt tươi, song đệ tử chưa rõ được nguyên nhân?

    Đế Quân: Đó là hoa đạo của chúng sinh, vẻ hoa tươi tốt là vì bạn đạo này hăng hái công quả, chăm lo học đạo nên đã nhận ra chân lí, tâm không chấp tư kiến cùng nghiêng bên nọ ngã bên kia, có thể được coi là người đã phát huệ. Do đó mà hoa đạo mới bừng nở mạnh mẽ, kết trái đầy cành, nếu như gắng công tu tiến hoài, ắt có thể chứng quả thành đạo.

    Dương Sinh: Cây kia cao lớn, hoa nở nhiều, song rụng rơi cũng lắm, không rõ tại sao?

    Đế Quân: Đây là hoa đạo chúng sinh, chúng sinh này từ khi vào cửa Thánh tới nay, dốc tâm vì đạo song lại khiếm khuyết, như nhụy hoa không chịu ở trong hoa tức là tâm trí phân tán. Mong rằng các nữ bạn đạo đó thâu hồi được tâm phóng ngoại, tu đạo chỉ cần một điểm là thành tâm, còn ngoài ra cứ làm chuyện vô ích như kiểu tai ngựa nghe gió đông, thả mồi bắt bóng, hẳn là lao nhọc nhiều mà vẫn uổng công.

    Dương Sinh: Loại cây hoa này mọc tốt tươi, kết nhiều trái song chưa chín, không rõ nguyên nhân tại sao?

    Đế Quân: Đây là loại hoa đạo của chúng sinh, từ khi chúng sinh vào cửa Thánh đến nay, chăm chỉ học đạo trí tuệ siêu việt, thiện căn thâm hậu song đạo quả còn xanh chưa chín, mong rằng sẽ gắng gỏi tu tiến thêm.

    Dương Sinh: Loại cây hoa kia đứng riêng về một phía, trông có vẻ yếu đuối suy nhược, không rõ nguyên nhân tại sao?

    Đế Quân: Đó là hoa đạo của chúng sinh, chúng sinh này từ khi vào cửa Thánh tới nay có lòng tu đạo, song vì việc hôn nhân lở dở, sống đời cô đơn mình biết lấy mình, đó là nhân quả kiếp trước, chớ có nản lòng, phải cố gắng tìm hiểu chân lí, tu đạo và thực hành thiền tự nhiên sẽ hồi quang phản chiếu.

    Dương Sinh: Cây này hoa rất đẹp, song cành lại bị gẫy, không rõ vì nguyên nhân gì?

    Đế Quân: Đây là hoa đạo chúng sinh, chúng sinh bình thường có vừa đủ tuệ căn, song hoa đạo thì lại nhiều quá độ, do đó mà hoa cành phân tán, nếu như giữ vững căn cơ, chăm lo tu sửa, sẽ đẹp đẽ tựa hoa cắm bình ắt có thể thành được nhành dương liễu nơi bình Tĩnh Thủy đựng nước cam lồ mà đức Quán Âm thường vẩy để cứu độ chúng sinh.

    Dương Sinh: Đệ tử thấy cây nguyên linh kia mọc cao lớn, cành lá tốt tươi, hoa trái lại nhiều, không rõ vì sao?

    Đế Quân: Đó là cây nguyên linh của chúng sinh có công lớn với Thánh Hiền Đường, có thể nói đã là một với Nguyên Lão, bình thường âm thầm tự luyện, nên đã đạt được khá nhiều công quả, mong rằng sẽ gắng chăm chỉ tu luyện thêm để thành đạo quả.

    Dương Sinh: Cây nguyên linh bậc trung này lá tốt nhưng quả còn xanh không rõ nguyên nhân tại sao?

    Đế Quân: Cây đạo này của chúng sinh từ khi vào cửa Thánh tới nay, chịu khổ cực, nhận chân công vụ, nên đã tích lũy được nhiều trái công đức, nhưng hãy còn xanh chưa chín, hi vọng sẽ cố gắng tu tiến hơn nữa. Bữa nay đi xem những cây nguyên linh tới đây kể như đã tỏ tường được khá nhiều, nếu như còn nguyên linh nào chưa tiết lậu, ngày khác có dịp tôi sẽ tiếp tục tường thuật thêm, những điều vừa kể ở trên, chỉ tạm cung cấp ít tài liệu để chúng sinh tham khảo. Sự thành bại của việc tu đạo hoàn toàn tùy thuộc ở mỗi cá nhân, kẻ tốt không tu ắt sẽ đọa lạc, kẻ xấu gắng tu hẳn là đạt thành chính quả. Giống như trồng cây, chỉ việc coi xét mảnh vườn sẽ thấy trước được kết quả ra sao. Mong chúng sinh tu đạo chớ có thối chí, nếu như thất vọng sẽ chẳng chăm sóc được cây cối trong vườn, cỏ dại mọc đầy, cây khô héo, chứng tỏ là gốc đạo đã bị suy nhược, tương lai chẳng thể đạt thành chính quả. Dương Sinh: Đức Đế Quân vì sứ mệnh hóa độ nên đã ân ban thật nhiều tình thương cho chúng sinh, công đức chăm nom săn sóc nguyên linh các sinh mệnh của đức Ngài quả là sâu dày và trải nhiều gian khổ.

    Đế Quân: Vạn vật và tôi cùng chung một thể, mỗi hơi thở đều có sự tương quan, mừng lo cùng chung hưởng, hoa thở ra khí lành cho loài người hấp thụ, nhân loại thở ra khí trong cho cây cỏ hít hà, các loại sống trên mặt đất, nhu cầu giúp đỡ lẫn nhau thật là quá cần thiết, tạo hóa đã thần kì song sự giúp đỡ qua lại của vạn vật cũng chẳng thể nghĩ bàn. Nếu nói là ta dòm ngó tới chúng sinh chẳng khác nào nói chúng sinh cầu hưởng được nhiều phúc, trời đất tuy chẳng nói, song nhìn mặt mỗi người là có thể biết được tâm tính, mỗi hiện tượng chuyển biến đều không có ngôn ngữ để trình bày. Nhìn hoa nở là biết mùa xuân đã về, lá rụng là biết mùa thu đã sang, kẻ câm không nói được song có thể dùng tay múa may để bày tỏ điều muốn nói, cho nên tâm truyền thắng lời nói. Gió mưa sấm sét tinh cầu biến hóa, đó cũng là lòng trời muốn chứng tỏ cùng chúng sinh để kẻ trí biết được khí sắc của người, để kẻ tu đạo hiểu rõ sự biến hóa của trời đất mà hành động tới lui không sai chệch. Những điều vừa nói trên hẳn là đã mở trí cùng giúp cho tâm linh của chúng sinh tiến tới cảnh thiên đường an nhiên lí tưởng. Bây giờ để dẫn chứng cho thấy được sự thật, ta hướng dẫn Dương Sinh đi tham quan cảnh nguyên linh của các chúng sinh đã trở về sống nơi nguồn cội.

    Dương Sinh: Cảm tạ lòng thương của đức Mộc Công, chúng sinh dưới gầm trời phước đức lắm mới được nghe ngài thuyết pháp, chắc chắn họ sẽ reo mừng cảm kích tin tưởng tuân theo, đạo lớn chung cùng một thể, quả là chân lí vô cùng thực tiễn.

    Đế Quân: Trời tức là cha mẹ, người là con do thần hóa thân, hiểu người tức hiểu trời, cha trời luôn luôn mong các con dưới chân mình được sung sướng, nếu chẳng may con phạm tội, bị đày xuống địa ngục chịu hình phạt, khi trở về cha mẹ lại vui mừng thiết tiệc tẩy trần, giải nguy cho. Do đó, nhân gian chớ lầm nghĩ là thiên đường quá xa, nếu như có kẻ tội ác đầy mình chỉ cần sửa đổi, sinh mệnh mới ắt sẽ nẩy mầm lớn mạnh và thiên đường cũng sẽ đón rước lên. Chúng sinh dưới gầm trời tuy có rất nhiều người thành tâm tu đạo song tình hình của giai đoạn sau khi thành đạo đều hiểu một cách lờ mờ, hoặc mù tịt, hôm nay tôi đem sự tình bày tỏ để chúng sinh được rõ. Dương Sinh hãy đi theo tôi.

    Dương Sinh: Đi theo đức Đế Quân, cảm thấy gánh thì nặng mà đường lại xa, Thần Thánh phía sau lưng lại đang đuổi tới. Phía trước đột nhiên xuất hiện một số người phong thái hết sức phiêu dật, có kẻ tọa thiền dưới gốc cây, có kẻ thảnh thơi đi đi lại lại, nét mặt người nào người nấy đều lộ vẻ vui tươi, hào quang tỏa sáng trên đầu, giống hệt bức họa vô sầu vô ưu, quả là quá ham thích, xin hỏi đức Đế Quân, các vị tiên đó thuộc từng trời nào?

    Đế Quân: Đó là chúng sinh tu đạo, sau khi đã liễu ngộ Đại Đạo Vô Cực, trở về được từng trời Ngũ Lão, họ đang tiếp thu thêm linh khí cho hào quang viên mãn để tiến tới cảnh giới Tam Thanh, hợp làm một với khí huyền huyền, chứng ngộ bản lai diện mục.

    Dương Sinh: Nghe những lời dạy vừa rồi của đức Đế Quân, cảnh giới tối cao của đạo lớn cũng là nhất khí hỗn nguyên, nhưng tại sao “Bát Tiên” tức tám vị tiên vẫn thường giáng phàm lộ rõ tên cùng hình dáng, có phải đạo hạnh của các vị đó chưa hợp nhứt nổi với nhất khí huyền huyền chăng?

    Đế Quân: Cõi trời u mật, không thể dùng năm ba lời nói mà nói hết được, đạo quả của Bát Tiên đã tương hợp được Tổ Khí Huyền Huyền, như Phật nói: “Cùng hợp làm một” (Nhất tương hợp) là các vị đó đã có bản năng tương hợp lại còn có năng lực phân khai. Ý nghĩa của sự hợp với Tổ Khí Vô Cực tức Đại Đạo không phải là nhận chịu sự kềm chế của Vô Cực mà là có thể vượt thoát được sự trói buộc của Vô Cực, phân hợp tụ tan một cách tự nhiên. Tiên Thánh Phật khi đắc đạo, các ngài có thể sống tiêu dao ở mọi pháp giới, vì thân đã siêu thoát, không còn bị ràng buộc bởi các vật “Tâm ta không còn chấp vào vạn vật, vạn vật làm sao còn vây bủa nổi ta” (Ngã tâm bất chấp ư vạn vật, hà phương vạn vật thường vi nhiễu). Các ngài sau khi li khai nhất khí huyền huyền có thể sinh hoạt một cách độc lập như con cái tới tuổi lớn khôn, tuy có cha mẹ nhưng không còn sống nhờ cha mẹ vì đã tự mình sinh sống. Đạo lớn không câu nệ vào một pháp nào, vì: “Phóng ra ắt tỏa ngợp bốn phương cùng trời đất, thâu lại thì lui về ẩn nơi kín đáo” (Phóng chi tắc di lục hợp, quyển chi tắc thoái tàng ư mật) Thánh Tiên Phật sau khi đắc đạo tuy đã thoát li khỏi sự trói buộc của khí số, nhưng vì các ngài còn nghĩ tới muôn vạn chúng sinh cần được cứu độ, do đó mà còn sinh hoạt trong cảnh khí số, cho nên mới đi chu du các tầng trời để gần gũi chúng sinh, để dễ dàng có dịp cứu độ chúng sinh, qua các hình thức giáng cơ bút để dạy đạo lí, đầu thai xuống thế gian đáp thuyền từ hoằng dương đạo pháp. Một người khi đã thành đạo, tâm nguyện của họ rất lớn rộng vì tu đạo là: “Lãnh sứ mạng cứu độ chúng sinh, không trốn chạy chúng sinh, phải thật gần gũi chúng sinh, không được xa rời chúng sinh”. Chỉ những ai trong lòng ôm ấp hoài bão trên mới thật xứng đáng là vị thầy của chúng sinh. Còn những danh hiệu Tiên Thánh Phật chỉ là giả danh, ví như một kẻ quyền cao chức trọng, nhưng tới lúc cởi bỏ mũ mão cân đai há lại chẳng biến thành thường dân sao? Chúng sinh chớ nệ vào những hình thức đó mà vội đem lòng kính nể mong gần gũi họ ngay, bởi Tiên Phật với người cùng chung một dáng vẻ nên ta phải xét cho tường. Còn như nếu ta quá hoài nghi sợ sệt tránh xa cũng tự đánh mất cơ hội kết duyên cùng Tiên Phật, đã không lãnh hội được những điều Tiên Phật dạy mà còn mất luôn cả cơ hội để ta có thể trở thành Tiên Phật. Tiên Phật chân chính luôn luôn tìm đủ mọi cơ hội để gần gũi chúng sinh, hóa độ chúng sinh, vì Tiên Phật nuôi hi vọng tất cả chúng sinh đều có thể trở thành Tiên Phật. Như bữa nay Dương Sinh thấy các vị Tiên Phật đều có linh khí phi phàm và hào quang ngời tỏa, linh khí của các vị đó hoàn toàn quang minh vì đã đạt tới cảnh giới ngũ khí triều nguyên, sau khi thành đạo, sức đạo phát huy vô cùng lớn, nguyên linh hợp nhất với linh khí hỗn nguyên, các vị đó sẽ tùy duyên hiện thân hóa độ chúng sinh. Sở dĩ các ngài phải tới đây để bồi bổ thêm khí nguyên linh thì cũng giống như chúng sinh ở thế gian, phải tham dự khóa huấn luyện nào đó trước khi thực thụ nhậm chức, muốn cho tương lai được hoàn bị hẳn là phải biết thích nghi được với mọi hoàn cảnh, không hề sợ ma quỷ hãm hại, can đảm tiến lên.

    Dương Sinh: Không rõ kinh nghiệm tu đạo cùng phương thức để có thêm linh khí của các vị đó ra sao?

    Đế Quân: Hãy tiến tới phía trước, tôi sẽ mời một vị đạo trưởng công phu tu luyện đã đạt mức siêu tam giới tới để Dương Thiện Sinh phỏng vấn cho được tỏ tường, hầu giúp chúng sinh dưới gầm trời hiểu rõ quá trình tu đạo, cùng cảm giác sau khi thoát xác lên tới thiên đường ra sao.

    Dương Sinh: Các vị Tiên Thánh kia vị nào vị nấy hào quang tỏa ngời, vẻ vô cùng trang nghiêm ai gặp cũng cảm thấy thân thiện, hòa nhã cùng kính nể. Xin đức Kim Tiên thuật lại kinh nghiệm lúc còn tại thế cũng như sau khi xuất thế để cho đệ tử được rõ?

    Kim Tiên: Dương Thiện Sinh tới được nơi đây đã là may mắn, lại còn gánh thêm trách nhiệm phổ độ chúng sinh qua thiên chức viết sách Thiên Đường Du Kí thực quả phi phàm. Giờ đây tôi xin nhân cơ hội quý báu này thuyết pháp cùng chúng sinh. Khi tôi còn ở tại thế gian, vốn là một kẻ buôn bán, tên tục là Chiêm, từ bé đã có lòng sùng bái Tiên Phật, ham đọc kinh sách Tam Giáo, về sau nhờ bạn bè chỉ dẫn tôi đã tìm được thầy học đạo, nhờ sư Mông chỉ rõ bến mê, giác ngộ ngay được lẽ sống chết, tôi vô cùng sung sướng. Từ đó trở đi tôi nhìn cuộc đời bằng cặp mắt siêu nhiên, phát tâm nguyện cứu độ chúng sinh, ấn tặng các loại kinh sách, giúp đỡ những kẻ khốn cùng khổ đau, vì tận lực làm như vậy nên tích tụ được nhiều công đức. Có một bữa tôi đọc được lời dạy trong kinh Thanh Tĩnh như sau: “Tuy gọi là đắc đạo, song thực ra chưa đắc” (Tuy danh đắc đạo, thực vô sở đắc) chợt khai ngộ, cởi bỏ được hết những sự chấp mê trong lòng từ năm sáu năm qua. Trước đây tôi cứ đinh ninh cho rằng mình đã đắc đạo, vì sung sướng lầm tưởng như vậy nên nghĩ là sau khi chết, chắc chắn sẽ tới được nơi bấy lâu mong muốn. Nhưng khi đọc được câu: “Tuy gọi là đắc đạo song thực ra chưa đắc đạo”, tôi phải tự hỏi: “Ta đã đắc đạo chưa?”, vì “có cứu độ được chúng sinh mà tự xưng là đắc đạo”. Đạo là chân lí đại tự nhiên, mọi nhà đều được trời ban cho tính đạo, khi ấy tôi mới hiểu là mỗi hiện tượng đều giúp cho con người mở trí. Vì hiểu được như vậy nên tôi thấy rằng mọi hình thức bùa chú đều là tà đạo, có từ bỏ hết những thứ đó quay về nội tâm thì nguyên linh mình mới hòa nhập làm một với vũ trụ cùng vạn vật. Khi đó toàn thân mới biểu lộ rõ được dấu hiệu Phật, đôi tay trở thành vạn năng, mỗi câu nói ra đều là thần ngữ linh chú, không những giúp chính mình mà còn ích lợi cho cả chúng sinh, kẻ bệnh tật nghe lời nói khỏi bệnh, Tiên Phật trên trời nghe tiếng cũng đều cảm ứng. Do đó hai tiếng “đắc đạo” chỉ là danh từ, chúng sinh vốn ngốc nghếch, nếu như không chấp “danh” và “tướng” hẳn là họ sẽ chẳng còn biết nương tựa vào đâu để mà khởi sự việc tu hành. Vượt biển dùng thuyền nhưng khi tới bờ phải bỏ thuyền, còn nếu si mê khư khư giữ lấy là cố chấp chẳng thông. Sau khi tôi giác ngộ được chân lí này, một mặt ráng thực hành, một mặt gắng truyền bá cho mọi người, những khi gặp dịp giải thích kinh điển tôi đều thuật lại lí đạo này đều được nhiều người tin theo, chỉ một số vị tiền bối chấp mê mới phản đối, kết án tôi là kẻ phá hoại truyền thống cùng chính pháp. Song tôi không trách họ, vì tôi biết rằng họ còn bị hình thức phàm trần trói buộc thân xác, bị tôn giáo gông cùm tâm linh nên chẳng đạt giải thoát. Lục Tổ Huệ Năng chỉ nhờ nghe có một câu nói của Ngũ Tổ Hoàng Mai như sau mà đại ngộ: “Không trụ vào đâu cả thì tâm mới sinh” (Ưng vô sở trụ nhi sinh kì tâm). Bởi vậy tôi phải luôn luôn phản tỉnh để gạn lọc tâm trần trược, ô uế cho thật trong lắng, kinh Thanh Tĩnh nói: “Tâm có thanh tĩnh mới vào được đạo, vào được đạo mới là đắc đạo” (Như thử thanh tĩnh, tiệm nhập chân đạo, kí nhập chân đạo, danh vi đắc đạo), có nghĩa là kẻ tu đạo không những phải tiến vào được đạo mà còn phải vượt thoát ra khỏi đạo, không để cho đạo trùm lấp trói buộc như vậy mới được coi là kẻ chính thức “đắc đạo”. Suốt đời tôi dùng sự giác ngộ này để khơi mở “tự tính”, khai thông “tâm nhãn”, giống như ý bài kệ của Lục Tổ Huệ Năng: “Bồ đề vốn không cây, gương sáng cũng không đài, trước sau không một vật, nơi nao nhiễm bụi trần” (Bồ đề bản vô thụ, minh kính diệc phi đài, bản lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai) cùng bài kệ của Thần Tú: “Thân như cây bồ đề, tâm như đài gương sáng, luôn luôn cần lau chùi, để khỏi dính bụi trần” (Thân như bồ đề thụ, tâm như minh kính đài, thời thời cần phất thức, mạc sử nhạ trần ai). Hai bài kệ trên đây một nói không (vô), một nói có (sắc). Phàm nhân nếu chấp một là sai, phải giác ngộ “không trung” là “diệu hữu”, “có” và “không” vốn là một, “sắc” và “không” chẳng phải hai, không nghiêng lệch về một bên nào mới nắm được “trung đạo”, có nắm được “trung đạo”, mới thâu gồm được cả hai phía, tránh khỏi sự giằng xé của hai đối cực, như vậy mới đạt “trung đạo” tức “tâm đạo”. Những cây nguyên linh ở cung Đông Hoa cũng là cây bồ đề, tuy có thực song như ánh sáng, nhìn thì có mà sờ chẳng thấy, cho nên còn gọi là “quang thân”, “diện thân” hay “pháp thân”, như ánh sáng và gió chẳng thể cầm nắm được nhưng sức mạnh lại vô cùng lớn lao. Khi sống ở thế gian, tôi đã giác ngộ được là “chân ngã” li khai với “giả ngã” chẳng khác nào thân thể cởi bỏ hết y phục, tâm tính lúc đó so sánh với lúc trước sống động tự tại hơn, vì thân thể không còn bị áo quần bó buộc. Thoát được nợ nần thân xác nhẹ nhõm, vẻ đẹp đẽ sáng tươi tự nhiên hiện ra trước mắt, tấm thân ngời tỏa hào quang phơi phới vượt qua cửa Nam Thiên nên đã trắc nghiệm được sự kiểm soát của chín cửa ải lửa, ánh sáng đạo vàng soi tỏ ngả đường Tiên Thánh, giúp tôi nhìn rõ phương hướng. Kĩ thuật rẽ khúc quanh cua rất tài tình, mỗi khi gặp khó khăn về việc tìm phương hướng đều sử dụng địa bàn một cách thành thạo, nên việc đi đường không hề gặp khó khăn trở ngại.

    Dương Sinh: Được nghe những điều đức Kim Tiên trình bày đệ tử có cảm tưởng là việc tu đạo rất tốt đẹp, bởi vô cùng nhẹ nhàng thoải mái và thích thú, không rõ cảm tưởng của ngài khi ở cung Đông Hoa ra sao?

    Kim Tiên: Cảnh giới này Dương Sinh đã trải qua hẳn cũng từng thấy ẩn giấu nhiều hơn là phô bày. Mục đích của sự tu đạo chỉ cầu được giải thoát, tính linh thơ thới, song trái lại đường đạo gặp nhiều nạn ma quỷ thử thách gian nan, nhưng sự thử thách này cũng là một cách rèn luyện chứ không có ý là ngăn trở việc lên thiên đường của chúng sinh. Thân phải trở thành thân kim cương không thể phá hủy, vì dầu là vật quý báu cách mấy song nếu không được rèn luyện cũng trở thành vô dụng. Người xưa nói: “Bất kinh nhất phiến hàn triệt cốt, yên đắc mai hoa phác tị hương” vì càng lạnh càng thơm nức, càng luyện càng mạnh. Tại cung Đông Hoa cũng phải tu luyện sao cho thanh khí đầy ắp ngũ khí, vì ngũ khí triều nguyên sẽ khiến cho sức đạo của mình mạnh mẽ thêm, như sức máy càng quay tít tốc độ càng gia tăng, thiên biến vạn hóa, tam thiên đại thiên thế giới qua lại dễ dàng. Ở Đông Hoa Nhân Thiên đức Mộc Công nắm trọn quyền, khắp nơi thanh khí chan hòa đầy ắp, chỉ cần tọa thiền hít thở, tự nhiên chung quanh linh thể tràn ngập linh khí Đông Hoa, đợi cho linh khí tràn đầy liền có thể bay thẳng lên cảnh giới Tam Thanh.

    Đế Quân: Tính linh được thử thách tôi luyện là do linh thể của cá nhân bộc phát, nên tuy nói là bởi linh khí của Đông Hoa gia hộ, song kì thực là do bản thân kẻ tu đạo thể hội được linh khí Đông Hoa, vì khi họ tới cảnh giới này sẽ dần dần cảm ứng được sự ảo diệu ở đây, thì bản thân họ cũng tự phát ra được thứ linh khí này. Người đời chẳng ngu, đã biết cầm đũa và cơm thì hãy cứ ráng học tập đi, tự nhiên rồi sẽ có được năng lực này ngay, cầm bút viết chữ muốn có kĩ thuật tài tình gắng học cũng sẽ thành thạo, muôn việc đều có người chỉ dẫn, hoặc có khi tự mình khám phá ra, chẳng có việc gì gắng thực hành mà không thành công. Bởi vậy tính linh sau khi thoát li khỏi túi da, không còn bị bó buộc, tất cả những năng lực bị đè nén đều hiển lộ, lúc đó học tập năng lực gia tăng mau lẹ. Gặp kì phổ độ tốt đẹp chúng sinh tu luyện công phu, tuy chưa đạt mức tận thiện tận mĩ song nếu tâm chí thành, chúng tôi sẽ cử minh sư xuống hướng dẫn, những người tu đạo thâm sâu đều đạt tới cảnh giới cực cao vời. Kẻ tu đạo không được tự kiêu tự đại, quá quan trọng hóa mình để đến nỗi tính linh bị trói buộc khốn quẫn, khiến không thể giải thoát nổi. Những người tu đạo đó như đi vào hang cùng ngõ cụt, những ai theo họ quả là gặp phải tử lộ. Mong rằng chúng sinh khai mở được đại đạo tròn đầy thông suốt, không còn một chút vướng mắc, đạt tới mức độ được hoàn toàn an nghỉ, mọi người đều có thể đi tới, không hề bị ngăn trở. Nhưng làm cách nào để có thể cứu nổi những kẻ còn rớt lại phía sau? Trách nhiệm của các bậc thánh quả là trọng đại, há bỡn được sao? Giống như một vị Kim Tiên, hành trình tuy có chỗ vượt kẻ khác, thành quả đạt được cũng khác người phàm, tuy gọi họ là Kim Tiên kì thực cũng là một vị Phật mà thôi.

    Dương Sinh: Như vậy việc lên thiên đường hoàn toàn do sức cá nhân cố gắng phấn đấu hay do trời ban ân phước?

    Đế Quân: Tiên Phật lên được thiên đường, phải trải qua biết bao gian lao, tửu sắc tiền của ở thế giới hình tướng cốt để thử thách cùng rèn luyện tâm tính chúng sinh. Có tự mình làm chủ tể mình mới không bị ngoại vật chi phối dẫn dụ, khi ấy ánh sáng của tâm mới phát ra mạnh mẽ, sức tấn công từ bên ngoài dù mạnh cách mấy cũng không nao núng, giống như nhà cửa xây cất kiên cố gió bão chẳng thể thổi sập. Việc lên thiên đường giúp ta cơ hội khảo nghiệm và củng cố linh thể, linh khí tại các tầng trời Ngũ Lão, Tam Thanh cùng Hỗn Nguyên sau khi hợp nhất lại tự phân tán một cách linh động để phụ trách các tầng trời, tâm chí nếu không thay đổi mới chính thức được kể là thành đạo. Cho nên nói: “Chợ ồn ào luyện khách đạo, đời huyên náo thử người tu” (Náo thị luyện khách đạo, trần hiệu thí tu nhân), ý nghĩa câu nói trên đây thật là chí lí Thần Thánh Tiên Phật đều gặp nạn ma quỷ thử thách, đó chính là vì việc lên thiên đường đã giúp các vị đó cơ hội để rèn luyện bản thân, chỉ còn trông cậy nơi sức đề kháng của chính mình mới mong tránh thoát nổi ngoại lực xâm chiếm, do đó ma quỷ hành hạ cũng là Tiên Phật thử thách, do trời ban nhưng cũng tại người tự chuốc. Tóm lại, việc lên thiên đường là cốt để bảo vệ và giúp đỡ linh thể đi lại được yên ổn, để tránh mọi thiệt hại nên mới cần phải giáo dục cùng huấn luyện kĩ như vậy. Vì tất cả chúng sinh vốn là một thể, cho nên lòng thương xót của trời xanh đối xử với chúng sinh thực quả là vô tận.

    Dương Sinh: Những điều đức Đế Quân vừa chỉ giáo thực quả là quá đúng, song không hiểu tại sao chúng sinh cứ gặp cảnh khốn khổ hoài hoài? Vả lại, không rõ một kẻ thân thể không còn toàn vẹn, liệu có còn đủ tư cách tu đạo nữa hay không?

    Đế Quân: Con người vốn linh thiêng hơn cả mọi loài, do đó mà từ nhân đạo tu thành đại đạo rất dễ dàng, vì trước kia tại cõi trời đã từng là chim kì, thú lạ, rồi sau đó trải qua khắp nẻo luân hồi, chịu đựng biết bao thử thách, cuối cùng mới tu thành. Tất cả các nẻo luân hồi đều rất có tình, do đó việc Tam Tào phổ độ chính là muốn cứu giúp muôn loài được tốt đẹp hơn, do đó thân thể dẫu có bất toàn cũng chẳng ngăn trở việc thăng hoa tâm đạo, không những không bị ruồng bỏ mà lại còn nhận được lòng thương cùng sự cứu độ nhiều hơn. Nếu như trái lệnh hẳn là phản bội lòng lo lắng xót thương của trời đất đối với chúng sinh, đó quả là hành động của kẻ ngu si. Nếu là kẻ gặp nhiều khổ nạn ở cõi thế gian, không chỉ do sự quả báo của những hành động ác đức ở kiếp này, mà còn liên hệ tới nhân quả của kiếp trước. Như vừa nói ở trên, đến ngay như Thánh Tiên Phật cũng còn phải trải qua những sự thử thách mới bảo tồn nổi phẩm giá, nên người nếu có chí tiến thủ đương nhiên phải đem hết sức mình ra để mà vượt thắng mọi trở ngại. Con người sở dĩ tạo nhiều tội ác là vì kiếp trước chưa ngộ đạo và đạt giải thoát cho nên nghiệp quả chẳng buông tha theo sát kiếp này để báo thù và đòi trả sạch nợ nần. Nếu như giác ngộ được đạo lớn, phá vỡ được nhà tù giam giữ tâm linh ắt là nghiệp chướng sẽ tiêu tan mau lẹ, khi đó tâm lại sáng ngời, soi tỏ mọi cạm bẫy, xóa sạch mọi tai ương nguy khốn. Kẻ đã có tiền “nhân” ắt sẽ sinh hậu “quả”, trong lúc trừ khử nguyên tố ác độc cần phải châm kim, uống thuốc cho nên cảm thấy vô cùng đớn đau thống khổ, song không được oán than. Tới khi khỏi bệnh mới hiểu việc lên thiên đường là để giải độc trị bệnh, đó chính là phương pháp luyện đạo để diệt trừ ác nghiệp. Nhìn trâu bò ăn cỏ sống từng bầy, bị người đánh đập tình cảnh thật đáng thương, để trả nghiệp kiếp trước nên phải chịu sự khảo đảo, như thế là nó cũng tu đạo vậy. Chó ăn đồ ăn của người thí bỏ cho, đêm đêm ngủ ngoài sân để giữ nhà, ngày này qua ngày khác dốc tâm vì bổn phận, lại một mực trung thành với chủ, như vậy cũng là cách tu đạo đấy. Người đời nay được hưởng biết bao tiện nghi sung sướng, nào như ăn mặc, cư ngụ di chuyển mọi phương diện đều quá đầy đủ, có thể nói là nghiệp quả còn rất ít nên mới được hưởng cảnh vui sướng đến như vậy. Do đó cần phải mau mau tu đạo, để cho đời sống tinh thần được tốt đẹp hơn cùng tránh khỏi cảnh đắm chìm trong vòng tửu sắc tiền tài, mãi mãi làm kẻ phàm nhân, hầu giữ bền được mối giao tiếp cùng đạo lớn Đông Hoa. Hi vọng người đời nghe xong những điều tôi vừa trình bày đều cố gắng tu tiến về được nơi thắng cảnh Đông Hoa.

    Tế Phật: Cảm tạ đức Đế Quân đã ba bốn lần khai đạo giải rõ bến mê, ban ân phước cho chúng sinh thật quá nhiều, giờ đây xin cáo từ.

    Dương Sinh: Cảm tạ đức tiên ông Mộc Công đã nhọc nhằn chỉ giáo, bữa nay thu hoạch được bao điều dạy dỗ quý báu, được nghe thật nhiều tiếng trời khuyên cùng lời pháp răn, đệ tử đã được hưởng vô lượng hồng ân, chúng sinh cũng được ban phát vô vàn phước đức.

    Đế Quân: Vì trách nhiệm nên phải hết lòng vậy thôi.

    Tế Phật: Dương Sinh mau lên đài sen, chúng ta trở lại Thánh Hiền Đường.

    Dương Sinh: Thưa con đã chuẩn bị xong, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:29 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    February 4th 2010, 12:36 am
  • HỒI MƯỜI SÁU

    DẠO CUNG NAM HOA LẮNG NGHE ĐỨC NAM HOA ĐẾ QUÂN THUYẾT PHÁP

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 29 tháng 11 năm Kỉ Mùi (1979)


    Thơ

    Hàn phong lẫm lẫm bách tùng thanh
    Vạn trượng hồng ba thuyết pháp thanh
    Huyền tráng tinh thần kim phục hiện
    Công thùy vạn cổ tính danh hinh.

    Dịch

    Gió lạnh tùng thông tiếng thét gào
    Lời ban pháp báu sóng dâng cao
    Tinh thần tu đạo giờ hưng khởi
    Thơm nức công danh vạn kiếp sau.

    Tế Phật: Thầy Huyền Trang đời Đường qua phương tây thỉnh kinh, trải biết bao hoạn nạn mới đạt được mục đích. Ngày nay muốn hoàn thành sách Thiên Đường Du Kí để khuyên răn muôn đời thì hành động này cũng đẹp ngang với hành động của ngài Đường Tam Tạng đi thỉnh kinh vậy. Đường đi tới phương tây muôn ngàn yêu quái chờ đón cọp beo rình rập, cứ tưởng rằng Đường Tăng bỏ cuộc vì trở ngại dọc đường. Bởi nếu Đường Tăng thành công trong việc thỉnh kinh, Phật pháp sẽ lưu truyền muôn thuở, ma quỷ không còn đất sống, vì vậy mà yêu quái thề quyết tâm gây sóng gió phá nát thuyền từ. Song nhờ mắt trời soi rọi, kẻ hi sinh vì chính đạo luôn luôn có thần hộ pháp đi theo bảo vệ, tuy Ngộ Không có tới bảy mươi hai chiêu biến hóa nhưng vẫn không vượt qua nổi lòng bàn tay của đức Như Lai, vì yêu ma tác quái, do đó mà thần chẳng hay quỷ chẳng rõ, thế mới biết tất cả đều do đức Như Lai nắm gọn trong lòng bàn tay. Chính khí trường tồn trong khoảng trời đất, tà khí chỉ xưng hùng xưng bá tại nhất thời, cuối cùng vì phản lại đạo trời nên bị tiêu diệt. Trời cao nhân từ, vì muốn cứu độ chúng sinh nên ân ban kinh báu, để làm sách lưu truyền muôn thuở, nên mặc dầu gặp ma quỷ phá phách song cuối cùng vẫn trở về được tốt đẹp, thế mới biết kẻ muốn hại người mà thời vận chẳng cho. Trời muốn thử người trong một thời gian để xem có vượt thoát nổi những trở ngại gian nan không, việc lành khó thực hiện, đạo lớn khó tu, từ xưa tới nay lẽ này không biến đổi, mong các đệ tử của Thánh Hiền Đường có được tâm chí thành, hăng hái mạnh tiến trên con đường đạo, bốn phương đều ở tại trước mắt. Bữa nay đã tới giờ dạo thiên đường, Dương Sinh chuẩn bị lên đài sen.

    Dương Sinh: Thưa con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường. Không rõ bữa nay thầy đưa con đi thăm chốn nào?

    Tế Phật: Bữa nay chúng ta tới cung Nam Hoa lạy chào ra mắt đức Nam Hoa Đế Quân... Đã tới cung Nam Hoa, chúng ta mau tới lạy chào ngài.

    Dương Sinh: Nơi đây phong cảnh đẹp tuyệt trần hai hướng đông tây ánh sáng hồng lên rực rỡ, kì hoa dị thảo tràn ngập đất trời, chợt cảm thấy nóng ran, phía trước có một tòa cung điện, trên có treo tấm biển đề ba chữ “Nam Hoa Cung” tức cung Nam Hoa. Khí lửa nóng đột nhiên tràn tới không rõ tại sao?

    Tế Phật: Phương nam thuộc hỏa, khí nóng vượng, nên con mới có cảm giác như vậy, ta mau tới trước làm lễ ra mắt đức Nam Hoa Đế Quân.

    Dương Sinh: Thưa vâng, vào tới trong điện thấy một vị thần to lớn đang ngồi giữa điện, mắt hồng râu đỏ tỏa khí nóng khắp chung quanh cảm thấy ấm áp vô kể, có cảm tưởng nguyên khí tăng lên gấp bội. Kính lạy đức Nam Hoa Đế Quân.

    Nam Hoa Đế Quân: Xin miễn lễ, Dương Thiện Sinh thuộc Thánh Hiền Đường bữa nay theo ân sư là Tế Phật tới thăm thắng cảnh Nam Hoa, tôi hết sức vui mừng, vì muốn phổ độ chúng sinh dưới gầm trời mà các vị gắng tu tâm sửa tính, làm khách quý của thiên đường. Tôi sẽ đem những bí mật của đạo lớn Nam Hoa tiết lậu trong sách Thiên Đường Du Kí để sửa đổi những quan niệm và hành động sai lầm của người đời, để chúng sinh sống theo phép tắc tự nhiên. Bất kể đi khắp đông tây nam bắc, nhất cử nhất động đều ứng hợp lòng trời, để mỗi khi làm việc gì không bị sái quấy vì tu đại đạo Nam Hoa phải đạt sự giác ngộ hết sức sâu xa mới tránh khỏi bị ngoại cảnh mê hoặc khiến đi sai đường. Mong rằng những ai đang bồi hồi giữa ngã tư đường, phút này hãy cố trấn tỉnh tinh thần nghe tôi thuyết pháp.

    Dương Sinh: Kính xin đức Đế Quân mở lượng từ bi thuyết minh rõ tất cả những sự huyền vi của Nam Hoa chân đạo để cứu độ chúng sinh.

    Đế Quân: Vì tinh thần trách nhiệm tôi không thể khước từ, huống nữa nguyên linh chúng sinh vốn là một thể, lẽ đâu lại không cứu độ. Tôi với Ngũ Lão là một, nơi cư ngụ là phương nam thuộc trời lửa bính, đinh và còn kêu là “Xích Tinh Tử”. Tôi cũng cai quản luôn tâm và tạng nơi cơ thể chúng sinh, máu hồng chảy trong huyết quản duy trì sinh mạng chúng sinh, nhất cử nhất động đều cố gắng hết mình để biểu lộ rõ tinh thần Nam Hoa. Mọi sinh hoạt của chúng sinh chẳng thể tách rời lửa, vào thời xa xưa chà đá, khoan gỗ để lấy lửa rồi thời thế đổi thay, lửa đá sớm tắt, nhiêu liệu củi gỗ của Lão Mộc Công dần dần bị đào thải, ánh lửa đèn dầu không soi sáng nổi đường đời tối tăm hiện tại, bèn đổi thành đèn điện, ánh sáng phải cực kì mạnh mới soi tỏ nổi ngả đường tối tăm phía trước của thế nhân. Lửa tiêu biểu cho sự quang minh, những nơi nào tối tăm, vạn vật tự nhiên mất sắc, bị đẩy vào vùng khí âm dày đặc kinh hoàng, tội ác thường xảy ra luôn. Ngày nay tôi muốn đem lửa thánh đó soi sáng nhân loại, để cho vạn vật loài nào ra loài ấy, tự hiện hình, xóa sạch mọi quan niệm mê lầm tối tăm, ác hiểm mới mong ra khỏi đêm đen, tiến tới chốn vinh quang, không còn phải tránh né, để khỏi bị rớt xuống hang sâu. Chúng sinh hãy mở rộng cửa tâm để cho mọi người nhìn rõ lòng mình thì đó chẳng phải là chính niệm sao? Nếu như có dũng khí này hẳn là thâu được khí đỏ Nam Hoa, chắc chắn sẽ tránh khỏi mọi thứ bệnh tật, đạo sáng tỏa ngời. Bởi vì hỏa khí có tác dụng giải độc, trừ khốn, đã mở rộng được cánh cửa “phòng tâm” không khí lưu thông, chủng tử ác niệm của độc chất ẩn náu bấy lâu nay bị hỏa khí thiêu đốt chẳng thể sinh sản nổi. Đèn đỏ tại ngã tư đường đã bật sáng lại, nếu như không tuân theo luật lệ lưu thông, chỉ trong nháy mắt có thể gặp tai nạn, phản bội tín hiệu sắc lửa đỏ Nam Hoa, chắc chắn máu hồng sẽ đổ ra tràn lan trên mặt đất, mình phải tự cảnh cáo mình. Khả năng tu đạo của chúng sinh phải như thế nào mới ứng hợp nổi điều kiện đòi hỏi của Nam Hoa? Tại trời Ngũ Lão ngũ sắc luôn luôn hiển hiện, trong ngũ khí ngũ sắc không bị nhiễm, không bị khảo đảo mới đủ tư cách về được nơi đó. Người tính hỏa sẽ tự đốt cháy cây nguyên linh của mình, và kẻ li khai ánh sáng chiếu rọi cũng bị lạc vào đường tối ám, tục ngữ nói: “Gần son ắt đỏ, gần mực ắt đen” (Cận châu tắc xích, cận mặc tắc hắc). Do đó kẻ li khai khí đỏ Nam Hoa tức là chính khí ắt sẽ đi vào đường đen tối không tìm được lối về.

    Dương Sinh: Đức Đế Quân nói rất có lí, công đức của ngài quá lớn, xin ngài chỉ dạy diệu pháp vô lượng cho, đệ tử xin kính cẩn lắng nghe.

    Đế Quân: Nam Hoa là tinh hoa của phương nam, tôi cư ngụ tại trời Ngũ Lão, vì thuộc trời lửa phương nam, thứ lửa này là lửa tam muội chân chính nguyên linh lúc bắt đầu thành hình nếu như không được tôi cho lửa, sợ rằng không thể luyện thành thánh thai, khiến họ giáng phàm gieo hạt, sinh ra muôn vàn chúng sinh, do đó nói: “chốn nào có lửa, là có linh khí của tôi tồn tại”. Lửa là nguyên động lực của hầu hết các khí cụ và sinh mệnh, không có “lửa” đun đẩy ắt “lực” không thể phát sinh. Con người sống ở trên đời, không đông tây chạy đôn chạy đáo thì cũng nam bắc chạy tới chạy lui, đó là điềm sinh nam tử bắc. Tâm và ngũ tạng trong cơ thể con người do tôi cai quản, vì quá ham mê bương chải, khi ngừng hoạt động ắt chết ngắt (phương bắc thuộc thủy nên thân thể sẽ hóa thành băng giá).

    Dương Sinh: Kính hỏi đức Xích Tinh Tử, lai lịch của ngài là như thế nào?

    Đế Quân: Tôi bởi Tam Thanh hóa thành, lấy lửa làm đời sống, do đó còn gọi là Hỏa Tinh Tử (vì xích là màu đỏ, hỏa cũng màu đỏ). Lửa dưới thế gian do tôi hóa thân, hỏa khí cũng là nhiệt khí của chốn phàm trần, đại biểu cho thời kì sinh mệnh thịnh vượng, mùa xuân sinh ra, mùa hạ lớn lên, vạn vật cường thịnh khỏe khoắn, do đó nếu có xuân mà không có hạ, trời đất vạn vật tuy sinh song không thể tiến hóa trưởng thành. Lửa là vật báu đem theo bên mình, củi lửa, đèn điện, bình điện, nồi điện, máy phát điện, sao Hỏa Tinh đều là vật môi giới của nguồn gốc lửa, phải nhờ vào nó mà nhân loại mới có được phương tiện sinh hoạt. Xe điện, xe hơi, xe máy, tàu bè, nồi điện, tất cả đều phải nhờ lửa điện đun đẩy, cho nên nói: “Điện quang thạch hỏa” nghĩa là tiêu tan rất mau lẹ. Hiện thời chính vì thiếu nguyên năng cho nên dầu hôi lấy từ giếng dầu dùng lửa đốt để sinh ra động lực. Thế mới hay lửa là nguyên năng của mọi động lực đồng thời cũng là nhiệt lực, xung lực, hoạt lực.

    Dương Sinh: Hỏa Lão là biểu trưng của sự quang minh, thế gian nếu như bị mất nó đi ắt là tối tăm lắm lắm, công đức của “hỏa đức” thực là lớn lao vô cùng, không rõ chúng sinh làm cách nào học tập được “hỏa đức” để mà tu đạo?

    Đế Quân: Tôi không là “đại đức”, sự giáng lâm của tôi đã mang tới trần gian vô vàn ánh sáng cùng sức sống, tuệ quang tới vạn vật, phô bày hết mọi vẻ sáng tươi, xuyên thấu mọi vật từ cực nhỏ đến cực lớn để giúp mọi vật khỏi bị lạc vào đường mê. Mọi người đều được trời ban cho khí ngũ hành song con người chưa đạt tới khí thái hòa là bởi nếu không bất cập thì cũng thái quá do đó mà ngũ khí không thể nào triều nguyên được, khiến cho tâm tính tròn đầy khiếm khuyết lệch lạc. Bữa nay tôi đặc biệt đem khí ngũ lão ra phổ hóa để cứu độ chúng sinh. Bính đinh phương nam thuộc hỏa, “ngũ thường” tại cõi trời là “thông suốt”, “ngũ sắc” thuộc “hồng”, tại đất bốn mùa là “hạ”, thế gian Xích Đế (hay Viêm Đế) hóa làm Thần Nông, nhân luân ngũ thường thuộc “lễ”, thân xác “tâm, huyết” là chủ, ngũ giới “dâm” là chính. Những điều trình bày ở trên cho thấy “hỏa khí” tiêu tan bởi những nguyên nhân sau đây:

    1. Hỏa: Thời xưa dùng lửa đốt củi để nấu cơm, đốt đèn dầu để lấy ánh sáng, lửa ôn hòa ánh sáng ít ỏi nên con người nhìn được xa. Ngày nay thay bằng đèn điện, điện khí sức sáng tuy mạnh mẽ chiếu xa cả ngàn dặm, song thiêu đốt luôn cả chính mình, do đó mà nhiều người bị cận thị, năng lực ánh sáng của bản thân bị yếu kém hẳn đi, đó là nguyên nhân của ánh sáng mạnh làm cho tổn thương đến thần quang của chính mình, tới ngày không còn ánh sáng đèn điện, ánh sáng của đèn dầu không còn giúp được người ta nhìn rõ cảnh tượng trước mắt, khi đó hỏa khí của nhân loại hẳn là tiêu tan.

    2. Hanh: Thông suốt. Ngũ thường của trời nói: “Nguyên, hanh, lợi, trinh, kiền” tức là năm đức: “Nguồn cội, thông suốt, thuận tiện, bền vững, cường kiện”. Ngày nay thế gian khoa học kĩ thuật phát triển, giao thông tiện lợi, điện tín, điện thoại, báo chí, truyền hình, nước máy chảy tới tận nhà, tiệm ăn, tiệm bán vật dụng nhan nhản khắp các đường phố đô thị, phương tiện ăn mặc muốn là có tất cả, người người giàu có yên vui, muôn việc thuận lợi. Vật chất tuy thừa thãi song tinh thần thiếu thốn quá nhiều, xa ngàn dặm có thể nhìn thấy, cách tường lại không rõ tên tuổi, dạo ngoài đồng hoang, đi trong đường nhỏ không người ngăn cản; đi trên đại lộ trong thành phố sự đông đúc làm trở ngại giao thông. Phương tiện quá dồi dào khiến bản chất trí tuệ linh hoạt của con người không còn nữa. Nấu cơm bằng nồi điện làm khả năng đun củi của phụ nữ mất đi. Nói chuyện bằng điện thoại khiến con người lười cầm bút viết thư, văn chương kém cỏi. Nước máy chảy đến tận nhà không phải gánh nước khiến cơ thể yếu đuối, dùng xe hơi xe máy thay vì phải đi bộ, tay chân thiếu vận động sinh ra suy nhược không thể chạy nhảy, cho nên nói thời đại tiến bộ song thực ra thoái bộ. Khoa học kĩ thuật giúp đỡ con người các thứ máy móc trong mọi lãnh vực, đồng thời cũng gây nên thảm trạng con người tán tận lương tâm, đời sống tinh thần hoàn toàn bị “vật hóa” đánh mất cả năng lực đời sống tự nhiên của con người, cho nên tưởng là khai thông được vấn đề nhưng thực ra đã làm cho vấn đề đời sống của con người càng ngày càng bế tắc.

    3. Hạ (hồng, tâm, huyết): Hiện tượng của bốn mùa là xuân: sinh ra, hạ: lớn lên, thu: thâu lại, đông: ẩn tàng. Mùa hạ khí trời oi bức nóng như thiêu như đốt, muôn vật phát triển mau lẹ, cây cối bị nắng hạ đốt cháy nhưng con người lại biết đợi tới mùa xuân mới đi dạo mát dưới bóng cây. Người đời nay sự dinh dưỡng quá dồi dào, khí huyết thịnh vượng đến nỗi gây thành khí giận dữ hung bạo. Vì ăn nhiều thịt cá, dầu mỡ tích tụ thân xác phì nộn, cho nên mới tới tuổi trung niên đã phải tìm phương pháp chữa bệnh mập. Tuy mặt mũi hồng hào song bị thiêu trong lửa, tâm trạng bệnh hoạn, óc đầy ứ máu bệnh tật liên miên. Lại thêm nạn xe cộ chạy quá nhanh chỉ trong nháy mắt có thể gây ra tai nạn, xương thịt tan tành, máu tươi lênh láng, tất cả đều do hiện tượng khí nóng mùa hạ bạo phát.

    4. Lễ (dâm): Phương nam thuộc hỏa, ngũ thường là “lễ” ngũ giới chủ về “dâm”. Hỏa động ắt vô lễ, hỏa sinh ắt ham dâm. “Đem lửa vô minh đốt cháy tiêu rừng công đức” (Nhất bả vô minh hỏa, thiêu tận công đức lâm) không cẩn thận lửa giận bốc lên gây ấu đả, đâm chém nhau bày ra cảnh chết chóc, do đó con người cần phải dùng “lễ” đối xử với nhau để cho đời sống thái bình. Kẻ tu đạo lửa vô minh bốc dậy, thiên tính cháy bùng, tâm địa chấn động, đem rừng cây công đức trồng được đốt thành tro, vì vậy phải thâu giữ lửa dẹp hung bạo để bảo tồn tính đạo. Nam nữ mê cảm máu thịt cơ thể, lửa dâm dục bốc dậy đương nhiên phản lễ giáo, vượt quy củ, lửa bốc gỗ cháy mà kết quả là do cây sinh ra, lửa dục không ngăn cấm, lửa đốt cháy núi Linh Sơn, đáng tiếc lắm thay! Một trái trên cây cũng chẳng còn. Sở dĩ con người phải tôn trọng “lễ” khi hành xử là cốt đem “lửa dục” hóa thành “lửa thánh” rồi đem lửa đó soi sáng cho kẻ khác, hướng dẫn chúng sinh cần phải chế ngự được hỏa tính, đạo quả kiên cố mới có thể đạt tới tinh hoa của hỏa khí Nam Hoa. Trên kia là thế giới hiện tượng lưu hành của hỏa khí, lửa có thể giúp người nhưng đồng thời cũng có thể hại người, phải biết ứng dụng một cách linh diệu mới mong bảo tồn nổi tâm vậy. Giờ tôi xin hướng dẫn Dương Sinh đi thăm những thắng cảnh diễm ảo và kì bí Nam Hoa.

    Dương Sinh: Cảm tạ đức Đế Quân đã hết lòng chỉ giáo, đệ tử rất mong được thấy cảnh ảo diệu Nam Hoa. Đi theo đức Đế Quân tưởng là đang được thám hiểm vũ trụ thần bí, cớ sao tạo vật lại có thể xây đắp được những kì công như thế này, không một khía cạnh nhỏ nào có thể che nổi... Tới nơi phóng tầm mắt nhìn khắp bốn phía, ánh sáng màu hồng tỏa ngập, núi phía bên phun lửa, chất lỏng từ trong chảy ra lai láng, đó chẳng phải là núi lửa sao?

    Đế Quân: Đúng đấy, đó là hiện tượng núi lửa bạo phát, chất lỏng từ trong chảy ra chính là hỏa tinh tử cũng còn gọi là “địa nhiệt năng” tức sức nóng của đất. Nam Hoa là nơi cư ngụ của “Hỏa Lão” tức lửa già cho nên nơi đây khắp chốn hỏa khí đầy ắp, nếu như hỏa khí tiêu tan ắt cõi Nam Hoa này trở thành lạnh giá và biến sắc, người đời chớ sợ sự khảo đảo của lửa, vì đây là quá trình thành đạo mà chúng sinh phải trải qua. Núi lửa suối nước nóng ở trần gian cũng là tinh hoa của Nam Hoa. Chất lỏng từ trong núi lửa chảy ra cũng giống như tâm tạng trong cơ thể con người lúc dao động, máu cũng là chất lỏng trong núi lửa, khi nó đông đặc con người ắt chết ngắc. Nguyên liệu của lửa là các loại xăng, dầu hỏa, điện lực, than đá, củi không một cá nhân nào có thể từ chối nó trong cuộc sống hàng ngày. Trong gia đình nào cũng phải dùng điện, dùng xăng để nấu cơm, đun nước, thắp đèn, chạy xe, tác dụng của nó là dùng lửa đốt để sinh nhiệt. Linh khí của Nam Hoa tràn ngập trần gian, giúp ích cho chúng sinh rất nhiều. Người đã được trời đặc biệt hậu đãi nên mới được hưởng tình cảm nồng nàn tới mức đó, nhưng khốn nỗi con người lại chỉ nghĩ tới những cái lợi lộc riêng tư, không chịu hỉ xả lấy một chút tình, con người âm mưu chiếm đoạt trọn thế giới, bản thân không hề muốn tốn một chút nhiệt huyết. Chỉ biết vơ lấy chứ chẳng hề nghĩ tới cho đi, muốn vét tất cả nhưng rốt cục sẽ bị mất tất cả, thật là ngu xuẩn vô cùng. Người chuyên dùng phí linh khí Nam Hoa không hề biết giữ gìn, do đó mà hiện nay đang gặp phải nguy cơ thiếu hụt nhiên liệu uy hiếp. Như đốt một cây xong có trồng thêm một cây mới ngay cũng còn phải đợi một thời gian khá lâu vì “Xây dựng thì khó mà phá hủy thì dễ” (Thành chi nan, hủy chi dị). Do đó hi vọng người đời phải lo tu nhân tích đức cho thật nhiều để tránh nạn phúc hết họa liền đến (phúc tận họa lai). Nếu như chăm lo giúp đỡ cùng an ủi kẻ khác tất nhiên mình sẽ được người khác thành tâm nghĩ tới mình, đó chính là sự hồi quang phản chiếu tức là ánh sáng phản chiếu ngược lại. Hãy triệt để thi hành nghiêm chỉnh bốn điểm dưới đây để tự làm cho mình thêm phong phú:

    1. Nam Hoa là loại sinh mệnh trưởng thành, không phải là thứ sinh mệnh èo uột khô cằn vô vị. Nam Hoa như một thanh niên đã trưởng thành khôn lớn, khí huyết bừng bừng sôi sục, nhiệt tình chan chứa, đời sống vô cùng sinh động. Phải đem nhiệt tình chiếu rọi cùng sưởi ấm tha nhân để biến đổi sự tối tăm lạnh lẽo của những hành vi vị kỉ. Nhiệt tình như lửa có thể soi sáng cho kẻ khác, song ngược lại cũng không thể thả lỏng bừa bãi, vì giỡn với lửa sẽ bị lửa đốt cháy thành tro.

    2. Đêm tối phải xách đèn mà đi, đó là xin ánh sáng Nam Hoa soi đường để khỏi bị rớt xuống ngòi, đụng vào cột điện. Lửa cũng là “thần minh” của người, người không thể xa rời lửa. Song loài người lại thường tiêu diệt lửa đèn, để rồi trong bóng tối có những hành động xấu xa làm thương tổn tới lẽ trời, phản bội đạo đức, trái tim ăm ắp máu hồng trở thành trái tim khô cạn. Con người cớ sao lại có thể đoạn tuyệt với khí lành Nam Hoa như vậy được!

    3. Dục tình buông thả khí huyết tổn hại vì hỏa khí hao phí quá độ, gây thành sự thiếu hụt nguyên năng nguy hiểm. Khí huyết của con người vốn phong phú, nếu như không biết tiết chế, mới tới tuổi trung niên chưa già mà đã suy bại, thân thể yếu đuối sinh nhiều bệnh tật, cho nên phải quý báu gìn giữ khí huyết của mình để tránh cái cảnh đèn lụi tắt vì cạn dầu.

    4. Người đời phải hết lòng chăm lo thắp sáng mình để rồi soi sáng cho kẻ khác, Nam Hoa chính là cảnh tượng tự đốt sáng để sinh mệnh của mình ngời tỏa ánh sáng hầu xua đuổi được đám mây mù bao phủ. Soi sáng ngàn dặm để cho người khác thấy rõ phương hướng, và chính mình cũng tránh được sự lầm đường lạc lối. Như ngọn đèn đường tuy nói là để soi sáng cho người đi đường, song kì thực lại chiếu sáng cho chính mình. Do đó con người cần phải hi sinh cái ta nhỏ bé của mình để cứu độ quảng đại chúng sinh, cá nhân mình chỉ là một que củi cháy, hãy đem sinh mệnh nhỏ bé đó thắp sáng “tâm đăng” tức ngọn đèn trong lòng cơ thể mọi người để có thể cháy lan tới cả sao hỏa tinh. Hỏa khí của mỗi cá nhân đều có liên hệ tới khối hỏa khí lớn lao chung do đó sau khi đã chết đi rồi lại tái sinh. Toàn thân thần hỏa là cả một khối nhiệt lực, chuyên làm công việc cứu đời giúp người, người đời không dám gần, ngược lại thần hỏa không hề sợ hãi tận lực đốt sáng hỏa khí trong thân. Người đời phải học tập tinh thần này mới có thể duy trì được linh mệnh thiêng liêng của mình để mãi mãi không bị tiêu diệt.

    Tế Phật: Việc dạo thăm cung Nam Hoa tạm dừng tại đây, thầy đưa Dương Sinh trở lại Thánh Hiền Đường nghỉ ngơi, ngày khác lại tới thỉnh giáo đức Đế Quân. Có điều chi thất lễ, kính xin đức Đế Quân rộng lượng tha cho.

    Đế Quân: Tinh thần Dương Sinh đã mệt mỏi, bữa khác tôi lại xin thuyết pháp tiếp. Tiễn hai vị trở lại Thánh Hiền Đường.

    Dương Sinh: Có điều chi sơ suất kính xin đức Đế Quân tha thứ. Con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:29 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    February 4th 2010, 1:21 am
  • HỒI MƯỜI BẢY

    LẠI DẠO CUNG NAM HOA LẮNG NGHE ĐỨC NAM HOA ĐẾ QUÂN THUYẾT PHÁP

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 13 tháng Chạp năm Kỉ Mùi (1979)



    Thơ

    Thế đạo kiêu li ý cảm hàn
    Tu thân kháp tự luyện kim đan
    Nhân tình lãnh noãn tùy tha khứ
    Phật Tổ tâm hoài thường hỉ hoan.

    Dịch

    Thế đạo nổi trôi giá buốt hồn
    Tu thân giống hệt luyện kim đơn
    Tình đời ấm lạnh do ta chuốc
    Phật Tổ từ tâm chẳng khổ buồn.

    Tế Phật: Khí trời lạnh lẽo, mọi người đều lười ra khỏi cửa, chỉ thích nằm trên giường ấm áp. Tình đời vốn ấm lạnh, tới khi thất thế tiền của không còn, bạn bè người thân chẳng ngó ngàng, nhà cửa trở thành vắng vẻ lạnh lẽo. Nhưng nếu đột nhiên gặp thời trở nên giàu có ắt là khách khứa tới lui thăm hỏi không ngớt, hết biếu vật này lại tặng vật nọ, vui vẻ hả hê, do đó nói: “Gấm đẹp thêm hoa khắp nơi có, cứu người khổ sở thế gian không” (Cẩm thượng thiêm hoa đáo xứ thị, tuyết trung tống hội thế gian vô). Bởi vậy: “trời lạnh lẽo không một bóng người, trời ấm áp người ta đông nghẹt” (Thiên hạn vô nhân tích, noãn nhật xứ xứ hình). Cớ sao chốn địa ngục giá băng lại đông nghẹt người, nơi thiên đường ấm áp lại vắng khách tới thăm? Nguyên lai chốn náo nhiệt đó là hố sâu tối ám chứa nhiều tội lỗi, còn nơi đạo tràng thanh tĩnh lại hiển lộ rõ thang trời mây xanh. Do đó nơi nhiệt náo tự nhiên vong thân, bước đi loạng choạng, dễ té xuống địa ngục tối tăm; còn nơi đạo tràng thanh tĩnh hồn tĩnh luôn thức giác, đi đứng vững vàng dễ tìm được sự quang minh để lên chốn thiên đường ấm áp. Do đó tình người nồng ấm không ngăn trở tâm đạo của mình, bởi vậy cần phải luôn luôn tin tưởng là: “Lạnh càng vững mạnh, ấm càng phấn chấn” thì chốn thiên đường cực lạc chắc chắn chúng ta sẽ được ngao du. Bữa nay đã tới giờ dạo thăm thiên đường, Dương Sinh mau lên đài sen, chuẩn bị khởi hành.

    Dương Sinh: Con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường...

    Tế Phật: Đã tới cung Nam Hoa, Dương Sinh xuống đài sen.

    Dương Sinh: Lúc ở tại thế gian đã cảm thấy khí trời lạnh lẽo khiến người run bần bật, tới cung Nam Hoa lại ấm áp vô cùng, thiên đường và thế gian tại sao khí hậu lại khác nhau như vậy?

    Tế Phật: Đây là thắng cảnh Nam Hoa nên hỏa khí thịnh do đó con cảm thấy ấm áp hơn.

    Dương Sinh: Căn cứ vào lí thuyết thì thiên đường bốn mùa đều là xuân, không lạnh không nóng, cớ sao ở đây lại còn có hỏa khí? Chư Tiên Thánh ở dưới áp suất của hỏa khí quá thịnh này, tính tình liệu có tránh khỏi nóng nảy chăng?

    Tế Phật: Nếu thiên đường bốn mùa đều là xuân thì thế gian gặp lúc thời tiết nóng bức, có lẽ Tiên Phật ẩn mình ở nơi mát mẻ tại cõi trời, không dám xuống trần gian chăng? Từ muôn ngàn kiếp trước tới nay, những người tu thành Tiên thành Phật đều có kinh nghiệm trải qua các loại khí hậu nóng lạnh trái ngược nhau nên có đầy đủ năng lực đề kháng ma lực ngoại giới xâm nhập và vây khốn. Con thấy hỏa lực ở đây quá mạnh là bởi vì con chưa thích ứng nổi hoàn cảnh ở thiên đường, còn Tiên Phật đều đã tập sống quen nên nóng mấy cũng không còn cảm thấy nóng nữa. Như người phương nam di cư lên phương bắc, chắc chắn lúc đầu sẽ không chịu đựng nổi tiết trời băng giá, nhưng nếu sống một thời gian lâu, tự nhiên sức chịu lạnh sẽ ngang với người bản xứ, không còn cảm thấy quá lạnh giá nữa, ngược lại nếu trở về vùng nóng bức ắt lại cảm thấy khó chịu ngay. Vì vậy không ra công tu luyện, đương nhiên sẽ gặp hỏa tai, Tiên Phật làm sao có thể giáng phàm cứu độ nổi? Người thì thoát nạn mà Tiên Phật lại bị thiêu đốt há chẳng đáng nực cười sao?

    Dương Sinh: Được nghe những lời ân sư vừa chỉ giáo đột nhiên con đại ngộ, nguyên lai cảnh hình hình sắc sắc được sắp bày ở thiên đường là vì chúng sinh. Phật nói tất cả đều là không tại sao tây phương lại còn có bảy vật báu là: vàng, bạc, ngọc lưu li, ngọc pha lê, ngọc san hô, ngọc trân châu, ngọc mã não? Đức Thế Tôn vốn nói: “Phàm có tướng là hư huyễn” (Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng) há chẳng mâu thuẫn sao?

    Tế Phật: Đệ tử Phật nếu như chấp mê văn nghĩa hẳn là Phật pháp vô phương tìm kiếm nổi.

    1. Đã nói tất cả đều không (nhất thiết giai không) tại sao còn có Thế Tôn, Như Lai, Quán Âm, Văn Thù, Phổ Hiền bồ tát được? Bởi vậy đệ tử của Phật không được sinh tâm ngạo mạn khi thấy những cảnh hình tướng mô tả trong sách Thiên Đường Du Kí này, nếu như phỉ báng hình tướng ở đây thì chẳng khác nào phỉ báng tượng Phật ở trong chùa vậy.

    2. Ánh sáng và hỏa khí vốn quý báu ở chốn thiên đường, đồng thời cũng là tinh hoa linh khí của trời đất, thiên đường sở dĩ hấp dẫn thế gian là vì người đời nghĩ rằng lên thiên đường không ăn cũng chẳng sao, ý nghĩ này tuy tốt nhưng không tưởng. Vì các chúng sinh về được cõi Phật đều không hề có những sự tham muốn đó của người đời, sở dĩ tại thế giới cực lạc có hằng hà sa số châu báu, chúng sinh ở cõi Phật cũng không cho là quý. Tất cả những gì mà thế gian mong ước tại thiên đường đều có cả, song không sinh lòng ham muốn nên cuối cùng tâm thanh tĩnh an nhàn, cuộc sống tiêu dao. Người đời coi vàng bạc là quý báu vì nó hiếm hoi, còn như nếu sỏi đá trong sông đều là vàng thì hẳn người coi vàng rẻ như rác, và lại coi thứ khác là báu vật. Phật có sức biến hóa vô cùng, muốn gì có nấy nên không sinh lòng ham muốn. Tất cả những gì có đều là hư vô, đó là chân nghĩa Phật, chúng sinh đã giác ngộ chưa? Sở dĩ nói chư Tiên Phật ở trong cảnh giới quá nhiều hỏa khí như vậy nên hàm dưỡng được tính tình và hiểu biết được thiên cơ, nóng lạnh tự biết, tu dưỡng được tốt, lửa vô minh tuyệt đối không nổi dậy. Chúng ta mau tới lạy chào ra mắt đức Nam Hoa Đế Quân.

    Dương Sinh: Ân sư quả là tinh thông tam muội, pháp Phật vô biên đã giúp đệ tử mê lầm của Phật giác ngộ mau lẹ, chân ngôn Phật pháp vô thượng này đủ sức dạy dỗ đời sau... thấy đức Nam Hoa tuy toàn thân rực lửa nhưng lại không cảm thấy nóng một chút nào quả là sức lửa cao sâu. Lạy chào ra mắt đức Nam Hoa Đế Quân, bữa nay đệ tử lại theo ân sư tới đây, kính mong đức Đế Quân khai mở lẽ đạo siêu diệu để hóa độ chúng sinh.

    Đế Quân: Lành thay, tôi biết Dương Thiện Sinh thắc mắc không hiểu tại sao toàn thân tôi rực lửa mà vẫn không bùng cháy? Ha ha, bởi vì: “Không biết rõ mặt thật của núi Lư Sơn, chỉ nhờ có thân ở tại núi này”. Tôi là “Lão Hỏa” tức lửa già bính đinh Nam Hoa, khối hỏa khí thấm nhuần khắp tam thiên đại thiên thế giới, khối lửa này người đời không thể chạm tới được, như đá nóng chảy thành nước, người đời đụng phải ắt bị bỏng cháy đớn đau, song bản thân đá nóng chảy chẳng hề động tâm, cho nên nói: “Ánh lửa không biết nóng, thiêu đốt thân ngoài thân” (Hỏa quang bất giác nhiệt, nhiên thiêu thân ngoại thân). Con người vốn đều có tâm Phật tính đạo, song bản thân lại vô tình chẳng hề hay biết. “Là Phật mà quên Phật” (Thị Phật nhi vong Phật) cho nên phải “đốt cháy tiêu tượng Phật bằng gỗ mới hiển lộ Như Lai chân thực” (Phần khử mộc ngẫu tượng, hiện xuất chân Như Lai). Kẻ mê hướng ngoại cầu đạo cuối cùng lìa bỏ nguồn cội, sống chết đọa đày, quên mất đường về. Do đó người đời phải “ngoài thì lạy Phật ở trong chùa, trong thì tu kim thân” (Ngoại bái miếu trung Phật, nội tu kỉ kim thân). Như tôi biết rõ bản thân hỏa khí chiếu cùng khắp bốn phía, biết rõ mình ắt không còn nghi ngại, hiểu rõ người ắt không bị tổn hại, nếu như mình bố thí tiền của cho người, tuy bị tổn phí vật song tâm được vui vẻ, đó gọi là tự đốt cháy chính mình để soi sáng cho người, mắt phàm nhìn thấy cho là bị tổn thất nhưng mắt huệ nhìn lại cho là vô hại.

    Dương Sinh: Người đời một sớm bị cảm mạo hỏa bốc bừng bừng có nên tìm thầy chạy thuốc để giải nhiệt không?

    Đế Quân: Những điều vừa trình bày ở trên đã cho thấy hỏa nhiệt của mình sẽ không làm tổn thương đến bản thân đạo thể, đó cũng là lẽ đạo. Sức nóng trong cơ thể nếu vượt quá ba mươi bảy độ gọi là phát nóng ắt phải tìm thuốc trị liệu để cho nhiệt độ xuống thấp tránh cho não bộ cùng ngũ tạng khỏi bị thiệt hại. Do đó có thể kết luận, cơ thể con người sức chịu nóng có hạn, nhưng hãy coi ngói chịu nóng chẳng hề sợ lửa thiêu đốt, bởi vì nó vốn là vật ở trong lò nung gạch nên thấy lửa chẳng hề sợ hãi. Lửa Nam Hoa căn cứ theo năng lực của người mà truyền trao nên không làm hại người. Dương Thiện Sinh hỏi tại sao lửa lại không đốt cháy thân thể tôi là vì chính tôi phát ra lửa, nên lửa chẳng thể làm hại tôi. Còn nếu như tôi tự hại tôi thì lại là phản bội đạo trung dung mất rồi, giống như kẻ có năm phần sức lực lại đem sử dụng tới sáu phần chỉ vì quá độ mà sinh ra nguy hiểm chẳng thể lường. Tu đạo cũng giống hệt như vậy, ta phải tập luyện cách nào cho vừa đúng với sức của ta, rồi đạo lực cứ như vậy mà tiếp tục tu tiến, phải tôi luyện tới mức được như lửa chịu nóng để cả trăm độ cũng chẳng hề hấn gì. Cứ chậm tiến từng độ một, chờ ngưng thử luyện thì mới khiến bản thân tiến bộ được về sức chịu nóng. Cho nên có câu nói về kẻ sau khi đã thành đạo: “Vào lửa chẳng chết cháy, vào nước chẳng chết chìm” (Nhập hỏa bất phồn, nhập thủy bất nịch) như vậy há chẳng công phu lắm sao? Con người mà không vượt thoát khỏi số mệnh, cứ mặc cho bị số mệnh trói buộc đó là kẻ phàm phu. Tiết trời giá buốt, có kẻ mặc áo da, áo lông mà vẫn còn cảm thấy lạnh, có kẻ chỉ một manh áo mỏng che thân mà vẫn chẳng thấy rét. Cũng là thân người, nhưng lại mạnh yếu khác nhau, sức chịu đựng tự nhiên khác biệt. Do đó người đời phải làm cách nào phá tan được trở ngại cảnh giả tình đời cùng sự vây hãm của kiếp nhân sinh mới có được công phu tu đạo. Bữa nay Dương Sinh tới cung Nam Hoa, tôi vì chúng sinh mà thuyết pháp để giúp chúng sinh phá được mê lầm, hầu thích ứng nổi hoàn cảnh hỏa khí Nam Hoa, đó là vấn đề thiết thân của kẻ tu đạo vậy.

    Dương Sinh: Những lời chỉ giáo vàng ngọc của đức Đế Quân vừa rồi đã mở trí cho đệ tử rất nhiều.

    Đế Quân: Tôi không mở trí mà là dùng một mồi lửa đốt cháy tan tành sự tối ám để xem Dương Sinh có chạy nổi không?

    Tế Phật: A ha, kính xin đức Đế Quân nương tay cho, sự tối ám đó còn đang tạm trú, nếu ngài đốt cháy nó biết cư ngụ nơi nào?

    Đế Quân: Nếu tôi không dữ một chút, hẳn còn tưởng là đang nằm trên giường êm ấm. Tôi quyết dùng lửa đốt, cũng chẳng cần đóng kín các cửa, chẳng cần mặc quần áo ấm, như vậy thật là tiện lợi, đã mau khô lại ấm áp.

    Tế Phật: Muốn ngăn không thể được, lửa nóng của ngài giúp nó ấm áp, nó sẽ sợ hãi chịu không nổi, còn Dương Sinh có cảm nghĩ thế nào về những điều đức Đế Quân vừa trình bày?

    Dương Sinh: Thưa ân sư, con nghĩ là đức Đế Quân muốn thử con để xem con giác ngộ được ít hay nhiều? Giờ con xin trình bày về những điều hiểu biết của con để nhờ hai vị đạo cao đức rộng chỉ giáo dùm con.

    1. Đức Đế Quân muốn dùng lửa đốt cháy lòng tham dục của đệ tử là muốn đệ tử thấy rõ được chân bản ngã của đệ tử. Kẻ ở trong lều tranh có ý nghĩ là được che chở an toàn, ở đó lâu sẽ sinh ra tính ỷ lại, không chịu đề cao cảnh giác. Nếu như trộm lén vào lấy đồ, lục lọi đáy rương ngăn tủ là nơi cất giấu vàng bạc, chính là mục tiêu mà kẻ trộm thường dòm ngó, nếu như rút lui khỏi chốn sinh hoạt ganh đua tự nhiên chẳng cầu tiến bộ, đức Đế Quân muốn đem lòng tham dục của đệ tử đốt cháy đi là có ý muốn cho kẻ trong khi được che chở bao bọc đột nhiên giác ngộ mà tự hỏi rằng: “mình có cần ở tại đó không?”. Bình thường nhận lầm nhà là chủ, lúc đó nhận “ta” là “mình”, tự nhiên phát hiện ra được cái “chính ta”. Không còn một chút gì che lấp lời nói và hành động mới cẩn thận coi chừng, vì sợ nhiều con mắt dòm ngó cái xấu, khi đó “thực tướng sinh mệnh” mới lộ rõ ra, nên xa rời được tất cả mọi giả tướng.

    2. Đức Nam Hoa Đế Quân dùng lửa đốt cháy lòng ham muốn phủ che của đệ tử cũng giống như lời Phật dạy: “Ba cõi chưa yên giống như nhà lửa” (Tam giới bất an do như hỏa trạch) thứ lửa đó thiêu đốt chẳng một ai có thể cự nổi, người ta gặp hỏa hoạn đều lo chạy trốn, khi đó mới giác ngộ được là: “Việc đời chẳng bền vững, sống chết mới là việc lớn” (Thế sự vô thường, sinh tử đại sự), vất bỏ tất cả, chỉ cầu sự sống sót. Điều này đã mở trí cho những kẻ tu đạo hiểu rằng không được ỷ lại vào sức bên ngoài, phải tự tìm đường sống, nếu không khi hoàn cảnh bên ngoài biến đổi thì thân mệnh mình nương tựa vào đâu? Những điều đệ tử vừa trình bày chẳng hiểu đức Đế Quân xét thấy ra sao?

    Đế Quân: Hay lắm, gian lều tranh giả tạm chớ ngu ngốc ở lì, lười biếng chẳng chịu bỏ đi, trời che đất chở tức là ngôi nhà lớn, lại còn ban cho sương ngọt, gió mát với mưa lành để có thể trồng tỉa mọi thứ ngũ cốc và hoa màu, không có lửa to và nước lớn đó là ngôi nhà vàng vậy. Những điều Dương Sinh vừa trình bày rất ứng hợp với những gì tôi nghĩ, lời nói siêu diệu có ẩn chứa thiên cơ, chúng sinh nếu lãnh hội được sẽ đắc đạo. Tính linh của chúng sinh nếu như giao tiếp được cùng tôi thì có thể an tĩnh được tâm thần gìn giữ được khí lửa đỏ tỏa khắp châu thân. Có lời tụng rằng:

    Chu thiên tam khí Trời son ba khí
    Nam thượng ngọc môn Cửa ngọc phương nam
    Trung hữu đại thần Trong có đại thần
    Xích đế linh quân Xích đế vua thiêng
    Y chu đái phù Phù hiệu áo son
    Phi văn vũ quần Phấp phới quần lông
    Giá thừa xích long Cỡi trên lưng rồng
    Ngọc dư chung vân Xe ngọc lướt mây
    Nam hoắc linh sơn Núi linh phương nam
    Vạn thần cao tôn Tôn kính chư Thần
    Xuất nhập Tam Thanh Ra vào Tam Thanh
    Thượng yến cửu huyền Dự tiệc Cửu Huyền
    Xích khuê thị dịch Xích Khuê hầu hạ
    Ngọc Đồng vệ chân Ngọc Đồng bảo vệ
    Bả chấp giản lục Trình tâu sổ sách
    Chung bạc ngọc văn Văn ngọc giáng phê
    Hiệu định tiên phẩm Định bậc tiên phẩm
    Khinh trọng thượng văn Cao thấp nghe bình
    Kim nhật đại vương Bữa nay đại vương
    Linh ngục khai tiên Ngục linh tiên mở
    Thượng hồi vạn thần Trở lại muôn thần
    Giáng ngã tam môn Giáng tôi ba cửa
    Biến hóa anh nhi Biến hóa hài nhi
    Trấn tâm an hồn Trấn tâm an hồn
    Hỗn hợp nhị khí Hòa hợp hai khí
    Truyền ngã mệnh căn Buộc căn mệnh tôi
    Trường dữ chúc dung Thần lửa nuôi lớn
    Giá thừa cảnh vân Bay theo bóng mây
    Tiêu dao nam a Tiêu dao cõi nam
    Thiên địa trường tồn Trời đất trường tồn
    Bảo ngã trường sinh Giúp tôi trường sinh.

    Dương Sinh: Bài tụng thiêng liêng của đức Đế Quân ẩn chứa huyền cơ và sức mạnh thần bí, ước mong người đời thành tâm kiên trì tụng niệm sẽ rất linh nghiệm. Bức màn tham dục của tôi đã bị hỏa khí Nam Hoa đốt cháy thành biển lửa, ánh sáng xuất hiện lung linh, lửa giả thiêu khô thân thịt để đạo thành, từ giữa đống lửa tro lại xuất hiện một vị Như Lai kim thân.

    Đế Quân: Lành thay, nguyên linh của Dương Thiện Sinh không bị mai một, đã chứng ngộ được đại đạo Nam Hoa, tạo được đạo quả phi phàm. Từ xưa tới nay các bậc minh sư truyền đạo có rất nhiều phương pháp, nào như lấy cây đập, dùng ngón tay chỉ, chửi mắng, dâng hoa, cười mỉm, vẩy nước, điểm hương, chữa bệnh, còn tôi là lão hỏa tinh tức tinh chất của lửa già nên dùng lửa thiêu đốt. Vì đời nay thế nhân thường chú trọng vào bề ngoài của những kẻ “giả sư” tức thầy giả dối không tu nội tâm, chỉ lo trang điểm bề ngoài đẹp đẽ nhưng chưa chắc về phương diện đạo đã là kẻ hiền lương; lầu cao nhà lớn lại là chốn có nhiều chuột chui rúc. Do đó mà tôi đã dùng lửa để thiêu hủy tượng giả, nhà giả, khiến bọn tiểu nhân cùng lũ chuột hiện rõ nguyên hình chính là tôi muốn mượn cách này để hóa độ bọn chúng.

    Tế Phật: Ha ha, chúng sinh đánh đập không thức tỉnh, trỏ ngón tay không phá được mê, nước cam lồ rửa chẳng trong, lúc này cần phải tỉnh ngộ. Nếu như không nghe lời Nam Hoa cảnh cáo, ngày hiện rõ hình tướng xấu xa đã gần kề.

    Dương Sinh: Uy lực và đạo quả Nam Hoa vô cùng lớn lao, không rõ đức Đế Quân hiện thời phụ trách sứ mệnh gì để phổ độ chúng sinh?

    Đế Quân: Tam Tào phổ độ, Kim Mẫu Dao Trì thu hồi nguyên linh, Ngũ Lão cũng cùng chung lo phận sự. Thiên cơ huyền diệu, người đời chẳng thể đo lường nổi, ngày nay cơ duyên đã chín mùi, đặc biệt tiết lậu một đôi điều, để cung cấp chút tài liệu cho chúng sinh tham khảo: Việc phổ độ nguyên linh do Dao Trì Lão Mẫu phụ trách, Quán Âm phổ độ, Quan Thánh trợ giúp. Nguyên linh của Quan Thánh Đế Quân vốn do Lão Hỏa tôi hóa thành do đó mới nói: “Thần áo đỏ trong cung tử vi” (Tử vi cung nội châu y thần), lúc sinh ra tim hồng mặt đỏ, tính nóng như lửa, chính khí lẫm liệt nhân nghĩa phủ ngợp mây trời, giữ vẹn được “ngũ thường” tức năm giềng mối là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín đáng làm gương cho người tu đạo noi theo. Bất luận tại gia, xuất gia nếu như không tuân theo ngũ thường tức là bỏ kinh phản đạo, cuối cùng sẽ rớt xuống hố sâu ác đạo. Truyền thống đạo đức được ban bố, Thánh Hiền Đường phát huy giáo lí, Quan Thánh coi sóc việc phổ độ, thay thế tôi cứu vớt các nguyên linh, hoàn thành nhiệm vụ của Ngũ Lão, cho nên Thánh Hiền Đường ngày nay vâng mệnh trời chấn hưng đạo lí. Quan Thánh do khí đỏ lửa già phương nam sinh ra vào ngày hỏa nhiệt tháng sáu, tính tình cương trực dũng mãnh, qua ải chém tướng, sau khi quy thiên cư ngụ tại trời lửa phương nam, vì công phổ độ chúng sinh có một không hai, ân đức thấm nhuần khắp nơi khắp chốn, muôn đời đổi thay nguyên linh vẫn còn nguyên vẹn, cho nên được tôn vinh là: “Huyền Linh Cao Thượng Đế” cùng “Cứu độ nguyên linh, ân nghĩa như Phật”. Thế đạo âm khí dày đặc, nếu như không có khí lửa mạnh thuần dương giúp người đời hóa giải, sợ rằng chúng sinh rớt vào đường ma đạo chẳng thể siêu thăng. Vào thời mạt pháp này, chư Tiên Phật không còn đủ sức, các tôn giáo hỗn tạp không đồng đều, nhờ có Quan Thánh ban bố chính khí phò trợ việc phát huy đạo giáo để duy trì truyền thống đạo lí khỏi bị tiêu diệt. Cho nên hi vọng chúng sinh dưới gầm trời tu học đạo pháp phải kính vâng Quan Thánh đập tan những chướng ngại ma quỷ hãm hại hiện thời để việc bảo vệ và phát huy đạo pháp được thành công.

    Tế Phật: Chính khí của đức Quan Thánh cao sáng, nghĩa rợp mây trời, là bậc thầy của các cõi, ngày nay kẻ tu đạo phải coi đó là tấm gương quý báu mà noi theo. Xa rời hai chữ “chính khí” bất luận theo tôn giáo nào thì tôn giáo đó cũng là tà giáo, do đó đều phải vun bồi chính khí, không nên cho rằng Quan Thánh Đế Quân chỉ là một vị thần thuộc hậu thiên hoặc một vị hộ pháp nơi cửa Phật. Thực ra đức Quan Thánh vốn là một vị Kim Phật Kim Tiên, khi hiển linh một cách động thì là Quan Thánh, tĩnh thì là Như Lai, động tĩnh tuy hai nhưng tâm ngài vẫn một, chúng sinh phải hiểu rõ điều đó.

    Đế Quân: Tế Phật nói rất phải, có kẻ bảo là không nên vái lạy thần râu dài, họ không hiểu rằng Phật Như Lai còn sống tại phương tây, râu ngài phủ từ phương tây qua phương đông, phàm những ai có duyên đều có thể nương theo râu ngài mà lên thuyền từ, không thể ôm mãi chân Phật, so sánh việc ôm râu Phật với ôm chân Phật thì ôm râu Phật cao hơn, kẻ tu đạo phải ôm được râu Phật mới không còn tánh ganh đua, thanh thoát tiêu dao. Sở dĩ có kẻ khởi tâm phân biệt bài xích râu Phật là họ đã bỏ gốc theo ngọn, giành nhau nắm chân nắm râu Phật, làm như vậy không những không được mà lại còn nguy hiểm. Đã sinh tâm ngạo mạn, tâm phân biệt, tâm phỉ báng tức là tâm với Phật đã rời xa nhau, phải không ghen ghét đố kị mới tránh khỏi bị tan xương nát thịt, chúng sinh pháp còn nông cạn thì nhìn gần, nhìn thiên lệch, mong rằng chúng sinh khi nghe tôi thuyết pháp bừng tỉnh giác ngộ, tu đạo học giáo, truy tìm cứu cánh thực tướng niết bàn, Phật tính bình đẳng, chớ tự ngăn rào mà xa cách núi Linh Sơn.

    Dương Sinh: Lời dạy của đức Đế Quân và ân sư hợp với đạo trung dung, tâm không thiên lệch, chấp mê tư kiến, so với các pháp sư ở thế gian khác xa một trời một vực. Ân sư và đức Đế Quân thuyết pháp ở trên trời, coi chúng sinh dưới trần gian là một thể, cùng một lũ con đỏ, biểu lộ rõ pháp lực “thần thông quảng đại, Phật pháp vô biên”. Còn ngược lại đám pháp sư đại đức thuyết pháp ở dưới đất, họ chỉ nhìn thấy những cái trước mắt, do đó khi thuyết pháp tự nhiên bị giới hạn cho nên các tôn giáo ở thế gian mới sinh ra cái nạn đả kích, bài bác, phỉ báng, phân tranh lẫn nhau, ân oán trùng trùng khiến loài người thống khổ.

    Tế Phật: Tính phiền não, ngoan cố của loài người không thể một sớm diệt trừ hết nổi, đường đạo ở thế gian đã dần dần mở lớn, mong chúng sinh chớ chấp mê đường nhỏ, phải lo đi khắp các nẻo đường lớn rộng để cho ngả đường nào cũng lên tới được nhà trời đất thánh, có như vậy mới không thành quỷ sa địa ngục.

    Đế Quân: Để chứng thực cho những điều vừa mới trình bày, tôi xin hướng dẫn Dương Sinh đi thăm các vị ẩn tu đạo cao đức rộng tại Nam Hoa. Mời hai vị đi theo tôi.

    Dương Sinh: Cảm tạ lòng từ bi của đức Đế Quân đã khai mở lí đạo vô cùng siêu diệu, giúp ích chúng sinh rất nhiều... Tòa lầu rực hồng phía trước, gian nào gian nấy sáng trưng như ban ngày, ánh hồng không ngớt tỏa ngời, không rõ nguyên nhân tại sao?

    Đế Quân: Các vị đạo cao đức rộng đang tụ tinh, hội thần và luyện hơi thở theo dũng khí Nam Hoa do tôi hướng dẫn, do đó mới phóng nổi điển sáng đỏ như vậy. Dương Sinh hãy nhìn cảnh đêm trần thế ở về phía bên trái xem có kì diệu không?

    Dương Sinh: Đức Đế Quân dùng tay khoa khoa trước mắt tôi, đột nhiên thấy đêm trần gian hiện ra bên phía tay trái, ánh đèn nhà, đèn đường lấp lánh sáng ngời, nhà cửa đường sá giống y hệt như đã từng nhìn thấy, bức tranh này quả là tuyệt đẹp.

    Đế Quân: Bức tranh đêm trần gian này ngầm ẩn chứa nhiều bí mật về thiên cơ. Ban đêm ánh sáng Nam Hoa ngời chiếu khắp cùng mặt đất, người đời tuy có thiện có ác nhưng không phân biệt nhà thiện với nhà ác, họ đều cần tôi giúp đỡ, tôi không còn nhớ ai thiện ai ác, chỉ dốc lòng hướng dẫn họ tiến về nẻo ánh sáng, đây chỉ là một chén nhỏ ánh sáng sinh mệnh nên lại càng cần ánh sáng nhiều hơn để soi tỏ tối tăm. Nhưng không rõ người đời có tiến tới được không? Nhìn lại cảnh các tu sĩ ở Nam Hoa phát động khí hạo nhiên ngay tại nơi này, tâm vị nào vị nấy không ngừng tỏa chiếu hào quang trí huệ, và cứ tiếp tục như vậy trong một khoảng thời gian để đợi điều chỉnh linh thể có đầy đủ chân khí xong, lát sau ngũ khí triều nguyên, năng lực vô cùng mạnh mẽ, đường đạo viên mãn kể như đã đi xong, tha hồ tiêu dao khắp miền pháp giới. Dương Thiện Sinh có thể thỉnh giáo về kinh nghiệm tu đạo mà quý vị đó đã trải qua để làm tấm gương sáng cho chúng sinh tu đạo soi chung.

    Dương Sinh: Hay quá, có cảm giác như một khối hào quang tròn đầy bay thẳng tới, thì ra đó chính là thần thức của các vị tiên chân do tự mình tu luyện. Thân các vị đó là một khối hào quang khí thế phi phàm, vị nào vị nấy giống như một “quang nhân” tức người ánh sáng, trong suốt mới mẻ đáng yêu vô cùng. Thưa có phải vị là đạo sĩ xuất gia không? Thân mặc cà sa, đầu ngời tỏa những vòng hào quang, tướng mạo trang nghiêm, xin hỏi vị đã tu luyện cách sao mà đạt được cảnh giới đạo quả này?

    Thánh Phật: Dương Thiện Sinh tới được nơi đây thật quá hay, quả là đại nhân duyên, đúng là một chúng sinh dưới gầm trời được ban ân phước, người khác không thấy được chánh pháp ẩn chứa trong mắt, còn Dương Thiện Sinh thì lại mắt vàng ẩn ngọc, thấu tỏ được chân bản ngã, lão tăng xin chúc một câu: “Thiên Đường Du Kí có thể tiếp nối được Kinh Kim Cang, Bát Nhã Tâm Kinh, có thể nói là tả đúng được kinh Phật chân truyền, đã đem Phật pháp quảng bá giữa thời đại mới, đây là một cuốn chính kinh của thời kì mạt pháp ở thế gian, mong các đạo hữu cùng tu nơi cửa Phật, vứt bỏ ngã tướng, đốn ngộ nhập môn để đắc chính đạo. Tôi quy y cửa Phật lúc mười lăm tuổi, pháp danh Thiền Y, khi mới bắt đầu học Phật tu đạo, phải thức dậy vào lúc năm giờ sáng, quét cả bên trong lẫn bên ngoài chùa, tẩy trừ sạch sự động loạn cùng trần trược bên ngoài rồi mới học chữ xem kinh, sau đó lần lần quét dọn sự nhơ bẩn bên trong nội tâm nội tạng xong mới được minh sư chỉ dạy phép tọa thiền. Năm tháng qua mau như nước chảy, chớp mắt đã ba chục năm qua, tam tạng kinh điển nhà Phật nhờ chịu khổ cực chân thành đọc tụng nên tâm đã lãnh hội được ý nghĩa uyên thâm của lời Phật dạy. Ngày nọ trong lúc đang thiền định chợt nhìn thấy ba loại cây ăn trái kết trái vàng ửng, sáng ngời rồi rụng từng trái một, chính là “bầu chín núm rụng”, lúc ấy cành lá của ba cây này lay động không ngừng, khác miệng nhưng cùng nói một lời: “Chúng tôi nhẹ nhàng thoải mái, không còn vướng mắc, trói buộc”. Lát sau lá cây rụng hết, lại nghe ba quả trên cây cùng hoan hô nói: “Hiện tại không còn lá (nghiệp), toàn thân nhẹ nhõm, ngày đêm chẳng còn đeo mang”. Sau khi tỉnh dậy, thốt nhiên đại ngộ. Từ đó, đối với việc ngộ đạo tu hành công phu càng thêm tích cực, đối với kinh điển lãnh ngộ, so với thời gian trước đây mau lẹ hơn, cái nhìn cũng sâu sắc hơn. Ba cây sinh trái này có thể tỉ dụ với Khổng giáo, Phật giáo và Lão giáo, tam giáo này cũng sinh trưởng trên trái đất, tuy cành lá to nhỏ khác nhau, song nguyện vọng của họ là khai hoa kết trái để cung cấp cho chúng sinh vật thực, đó là tinh thần giúp đời cứu người, chính là sự hóa thân của Thánh Hiền, bởi vậy chúng ta phải tôn sùng kính trọng tam giáo như nhau. Sau khi bầu chín thì rốn và lá rụng xuống cội, trở về được chân bản ngã, chính ngụ ý là người tu đạo không được cố chấp và tham muốn, cần bỏ thì bỏ liền, muôn việc muôn vật thuận theo tự nhiên, gặp trở ngại dễ khiến tâm phiền não, thần trí tối tăm, khiến không thể nào khai sáng tâm tính nổi. Nếu như giữ mãi tính đó sẽ không thể nào trút được gánh nặng, càng bước càng bị lún sâu, muốn lên thiên đường cực lạc xa xôi hẳn là phí thì giờ và chậm trễ. Ví thử bỏ được gánh nặng chắc chắn sẽ thư thái sung sướng vô cùng, khi đó chỉ cần bước một bước ngắn là lên tới thiên đường. Trong thời gian tu đạo tôi đã tuân theo nguyên tắc quảng độ chúng sinh, đối với các tín đồ của các giáo phái tôi tôn trọng ngang nhau, khuyến khích họ gắng tìm tòi những điểm tinh túy nơi chân lí của tôn giáo họ, sẽ tùy duyên quy y mà vui đạo, việc tu thân đều thành tựu. Tôi như một vị từ phụ thánh sư, vì không khinh khi họ nên tôi được họ coi trọng, được như vậy là nhờ tôi đã thể ngộ được chân ngôn Phật pháp. Trong khi hóa độ những kẻ có tâm tôi cũng tùy duyên truyền pháp chỉ giáo, đó là nguyên nhân ngày nay tôi thành tựu. Phải trải qua biết bao ma nạn khảo đảo tôi luyện mới có thể đứng vững nổi, mới bò lên tới được tầng trời Ngũ Lão, tại đây tôi tu luyện Phật pháp lại càng sâu hơn. Nhờ lửa đèn pháp của Phật, tôi hấp thụ được kinh nghiệm kim cương nung lửa nên tôi đã tự luyện mình thành thép cứng. Phàm thân sống tới bảy chục tuổi thì chết, tính linh bay lên cõi thiên đường cực lạc, cảm tạ chúng sinh đã giúp đỡ tôi cơ duyên, họ đã trợ lực cho tôi để tôi tu thành chính quả Phật, nếu như không có họ không thể có tôi, coi trọng chúng sinh cũng là cách đề cao mình. Hi vọng những ai tu đạo nơi cửa Phật nên hiến dâng tâm Như Lai của mình.

    Tế Phật: Đại sư Thiền Y, ngài quả là đã đạt, thể ngộ được giáo pháp của Phật Đà, do đó mà có được thành quả như ngày nay, xin kính mừng.

    Đại Sư: Tế Phật quá khen, còn Phật Sống hành động siêu nhiên ngoại vật, giờ đây cũng gánh vác trọng trách phổ độ chúng sinh lao khổ ràng buộc.

    Đế Quân: Dương Thiện Sinh hãy tiếp tục phỏng vấn để biết rõ thêm về kinh nghiệm của các bậc cao minh thành đạo.

    Dương Sinh: Cảm tạ đức Đế Quân đã nhắc nhở. Các vị đạo sĩ cao minh dung nhan nhân từ tươi tắn, toàn thân ngời tỏa hào quang, quả thực siêu phàm. Kính thưa ngài đã tu luyện cách sao mà đạt được đạo quả cao vời này?

    Kim Tiên: Tôi không hề tu đạo hành pháp mà chỉ bố thí cùng làm việc thiện không cầu danh, không mong đền đáp, không ngờ việc tu nhân tích đức ở cõi phàm trần lại giúp tính linh của tôi thăng hoa lên được cõi vô cực này. Khi tôi còn sống ở thế gian làm nghề bán tạp hóa để sinh nhai, không hề tham lời nhiều bán quá giá, đối xử tử tế với mọi người, không lừa già dối trẻ, do đó việc buôn bán mỗi ngày một phát đạt, kiếm được rất nhiều tiền. Vì tính yêu Tiên Phật, thường đến đền chùa thắp nhang lễ bái Thánh Phật, phàm tu sửa chùa miếu đổ nát tôi đều hoan hỉ cúng tiền. Dân nghèo gặp lúc cùng quẫn, tôi thương xót bố thí tiền bạc để cứu giúp, in kinh sách Phật tặng không. Ra sức làm việc thiện, tu thân khắc kỉ, không dám phạm điều sái quấy, suốt đời không man trá, kiên nhẫn giữ gìn luân lí đạo đức. Bố thí không cầu danh, không mong đền đáp, chỉ vui vẻ làm mọi việc thiện một cách vô tư. Tôi vẫn thường nghĩ rằng những của cải tiền bạc mà tôi có được là do trời mượn tay tôi để trao cho người khác chứ không phải chỉ cho một mình tôi để tiêu xài riêng, do đó coi tiền tài như rác, dốc lòng bố thí cho kẻ nghèo. Suốt đời chăm lo hành đạo, gặp sự khó khăn nhục nhã không hề than oán, hưởng thọ được tám mươi hai tuổi trời, khi thác tính linh phiêu diêu thăng tiến thiên đường, phải trải qua biết bao gian nan khảo đảo bữa nay mới tới được cung Nam Hoa, gần gũi cõi hoàn nguyên. Xin nhắn nhủ chúng sinh, kẻ tu đạo chớ tham lam mưu cầu danh lợi, tự mình tu được bao nhiêu, cuốn sổ tâm ghi chép đầy đủ, còn nếu khoe khoang lộ liễu sẽ phá hư mất đạo quả mà thôi.

    Dương Sinh: Bố thí không cầu danh, quả vị đạt tới được là siêu thăng khỏi vòng khí tượng, lên đến cảnh giới thiên lí vô cực, chứng ngộ được thứ hoa nào thì kết thành loại trái ấy. Chớ mong may mắn được thành công cũng không cầu may mắn được thành đạo.

    Tế Phật: Kính cẩn nghe các vị đạo sĩ cao minh thuyết pháp, giúp ích chúng sinh rất nhiều. Cảm tạ đức Đế Quân đã tận tình giúp đỡ khiến sách Thiên Đường Du Kí có được nhiều điển quang.

    Đế Quân: Đúng vậy, đạo lớn Nam Hoa chỉ có một điểm “Linh quang thường diệu” tức là điển quang linh thiêng luôn luôn chiếu sáng một cách siêu diệu. Mong người đời gìn giữ điểm quang minh của tâm này để rồi chắc chắn điển quang hợp cùng điển quang trở về được cõi Nam Hoa thắng cảnh. Nam Hoa bày tỏ tới đây đã được một phần, mong chúng sinh thể ngộ được những lời chân thành đó.

    Dương Sinh: Cảm tạ đức Đế Quân đã chỉ giáo cho, ánh sáng của sách Thiên Đường Du Kí là do điển quang của ngài gia hộ, để soi sáng cho chúng sinh u mê tối ám, mong những ai đọc sách này sẽ tỏ lòng tri ân những điều chư Tiên Thánh chỉ dạy mà mình đã hấp thụ được. Xin cáo từ đức Đế Quân.

    Tế Phật: Dương Sinh lên đài sen, chuẩn bị trở lại Thánh Hiền Đường.

    Dương Sinh: Con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.

    LỜI ÔNG TÁM GIẢNG Các bạn đã thấy rằng tất cả những cơ năng siêu diệu ở bên trên của cảnh thiên đường ở đâu bây giờ? Tìm ở đâu bây giờ? Nó nằm ở ngay trong cái tiểu thiên địa của các bạn, đầy đủ hết, sự cấu trúc của siêu nhiên mà có. Ta có hỏa, nếu mà chúng ta hướng thiện thì hỏa sẽ thiện, mà nếu chúng ta hướng về ác thì hỏa nó sẽ biến thành lửa thiêu thân. Chúng ta lấy cái lửa thiện để làm gì? Để đốt cái tâm phàm, sự ác độc, sự tăm tối, sự nghi kị, sự khờ khạo, đốt cháy nó đi, lấy cái thiện hỏa mà đốt. Cho nên các bạn đã có hỏa, ngồi trì niệm Nam Mô A Di Đà Phật lên trung tim bộ đầu là hỏa trong bản thân tiểu thiên địa này thừa tiếp với thanh quang là điển trời, hỏa trời để đốt cái bản chất phàm tục mỗi đêm, mỗi phút, mỗi giờ công phu Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định của các bạn. Tôi đã đốt nó mấy chục năm rồi, tôi mới thấy được một phần nhàn hạ. Tôi thấy rằng tôi sống cảnh nào cũng được, không còn sự lo âu đòi hỏi phải lên thiên đường, như lúc đầu mới tu. Vì tâm tôi vô quái ngại, không bận rộn, không có thiện ác, chỉ đốt cái sự trần trược thì mình thấy nó lộ hẳn ra từ quang từ bi. Đó cũng là lửa mà lửa đó là lửa từ bi, lửa cứu độ. Cho nên có những vị gặp tôi rồi biếm nhẻ, rồi nói đây là hỏa Phật, nhưng mà hỏa đâu mà Phật. Các bạn có nhiều vấn đề muốn hỏi tôi khi gặp tôi thì nó mất hết, vì cái từ quang nó đốt cái phàm tâm của các bạn. Cho nên các bạn mau hóa để cho các bạn thấy rõ rằng một người tu, mang xác trần tu mà nhận được cái thanh quang đó. Vậy ta có cái đường lối khứ trược lưu thanh và xuất phát luồng tâm điển của chúng ta ra thì chúng ta sẽ nhận cái gì? Cũng nhận được một cái từ quang y như hành giả đã đi trước. Mỗi người thực hành như vậy, các bạn thử nghĩ chúng ta còn sự tranh chấp nữa không? Chỉ biết dụng từ tâm thực hiện sự tha thứ và thương yêu, cứu độ thì quả đất nó mới được yên. Chỗ chúng ta ở nó mới được yên. Tình người nó mới bộc khởi ra trong sự thương yêu và giúp đỡ. Nhiều người còn ở trong chấp, ở trong lí, cũng đọc Thiên Đường Du Kí mà gom cái lí, không có hành, học một chút lí đó rồi tưởng bán được cái lí đó mà ăn, tự gạt mình. Đàng này chúng ta không có, thực hành rồi đọc Thiên Đường Du kí biết chúng ta đã đi tới đó rồi, đã mở rồi, đã hành rồi, đã khai triển rồi, đã tự đốt rồi, tự phá mê rồi, tự phá chấp rồi. Cái gì nói phá mê phá chấp? Ngọn lửa của chúng ta càng ngày càng dâng trời, càng hướng thượng, thì thanh thừa thanh, mới hóa giải tất cả những sự trần trược trong nội tâm của chúng ta là đã được đốt rồi. Tại sao chúng ta ngồi ở hướng Nam. Điển của Nam Hoa vẫn đốt, vẫn thường trụ, vẫn thường độ khi dùng nguyên ý Nam Mô A Di Đà Phật, lấy Phật pháp dẫn tiến luồng điển của chính chúng ta thì thừa tiếp thanh quang tự nhiên được tận độ. Cái tâm các bạn càng tu càng thiền, càng suy gẫm, càng sử dụng sự sáng suốt của chúng ta mà hướng thượng rồi cứ thật tình thật tâm các bạn thấy tâm nhàn hạ không có sự tranh chấp, dễ dãi đối với tất cả mọi người ngay trong nhà, các bạn ở ngoài đời. Rồi thấy cũng nhiều bạn mới vô tu thì cũng thấy tại sao tôi nóng, đó để mình thấy rõ cái bản chất nóng mà mình hướng thượng, để sử dụng, tận dụng đem nó đi lên. Nó có dịp hòa với thanh, cũng là hỏa, nhưng mà diệu pháp, không phải là sắc pháp nữa. Nếu chúng ta lấy cái hỏa tâm mà động loạn, và gây gỗ với người khác, đó là ác pháp, tăm tối. Chúng ta khai mở bất cứ những sự chấn động gì ở xung quanh ta có thể xảy tới tánh mạng đi nữa chúng ta cũng vẫn hướng thượng trong bình tâm, vì chúng ta hiểu cái luật sinh tử trường tồn đâu còn phải sợ nữa. Sợ cái gì mà động? Cái gì làm cho chúng ta sợ? Vì tăm tối, chưa quán thông làm cho ta sợ, khi sợ thì phần khác có thể nhập xác ta, và khi chúng ta không sợ thì hoàn toàn là tự chủ. Sanh tử chúng ta minh luận rõ ràng lắm, không có gì có thể nhập xác chúng ta. Chúng ta hướng thượng để giải tỏa cái phần trược đó thì tự nhiên mọi việc đến với chúng ta sẽ bình tĩnh và an toàn. Các bạn tu thiền ở khu vực nào mà sử dụng đúng nguyên năng thực hành của Pháp Lí Vô Vi Khoa Học Huyền Bí thì các bạn sẽ đem lại sự an lành cho khu vực đó. Chắc chắn nó như vậy vì sự liên hệ của các bạn là thể hiện trong ba cõi chớ không phải một cõi. Cho nên Pháp Lí Vô Vi tại sao những cái đạo khác không có ông này tới, ông kia tới mà Pháp Lí Vô Vi ông nào cũng tới, tới kiếm nó, vì nó chịu tu, độ cho nó để cho nó tiến. Chúng ta phải cảm ơn và chúng ta phải chịu học và thực hành cho đúng pháp để tìm ra chính chơn tâm của chúng ta đạt được ở đâu và chúng ta hướng thượng để tận hưởng những gì bên trên sẵn có, và bất cứ giá nào quyết tâm không thay đổi. Đừng đi nửa chừng thay đổi thì nó mất công, bao nhiêu kiếp mới ngộ được một chút đạo mà tới đó chúng ta tắt nghẽn rẽ qua một con đường khác, rồi các bạn thấy bao nhiêu kiếp mới trở lại sự chơn chánh đó. Cho nên cái chánh pháp rất khó ngộ. Ngày hôm nay các bạn có duyên lành và các bạn nắm trọn cái pháp trong tay và để cảm thông với cảnh huyền vi trong nội thức của bạn, hướng thượng để hòa tan với cảnh huyền vi vĩ đạo của trời đất. Cái chuyện đó, các bạn học ở trong trược bao nhiêu kiếp. Gia đình không có ai dạy các bạn được. Nhơn cái nhân duyên này, nhơn cái cơ hội này mới dạy các bạn thấy rõ để các bạn thấy rằng các bạn không phải là đồ bỏ đâu, rất quý. Thật sự là một nguyên linh rất quý cho cả càn khôn vũ trụ, không nên tự kì thị và đem sự tăm tối giam hãm phần sáng suốt của mình, luôn luôn vun bồi sự sáng suốt trong tiến trình nhịn nhục và tha thứ.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:29 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    February 4th 2010, 1:35 am
  • HỒI MƯỜI TÁM

    DẠO CUNG TÂY HOA NGHE DAO TRÌ KIM MẪU THUYẾT PHÁP

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 9 tháng 2 năm Canh Thân (1980)


    Thơ

    Nhân quần dũng dũng tận hoàng tuyền
    Vị hiểu hồi đầu chủng phúc điền
    Hướng ngoại cầu tiên không bổ ảnh
    Gia trung hoạt Phật lễ nghi kiền.

    Dịch

    Suối vàng đông nghẹt lũ vong thân
    Ruộng phúc bỏ hoang chửa thức thần
    Hướng ngoại cầu tiên hoài bắt bóng
    Trong nhà lễ Phật phải chuyên cần. (1)

    Tế Phật: Người đời thường bất mãn với hoàn cảnh hiện tại, chẳng chịu tu tâm sửa tính để cải đổi hành vi, chỉ biết trách cứ kẻ khác, nếu cứ giữ mãi tính đó sẽ chẳng đạt được kết quả. Kẻ tu đạo đều tưởng là sẽ dễ dàng siêu thăng lên vườn cực lạc lí tưởng của họ, không chịu chăm lo bồi dưỡng cây báu của chính vườn mình, chuyên hướng ngoại tìm kiếm thành quả của Thánh Tiên. Hướng ngoại cầu Phật, giống như bắt chim ngoài trời, vừa thò tay chim bay mất, càng đuổi theo, chim bay càng cao. Nếu như biết phản tỉnh, thò tay vào lồng bắt chim trong nhà, tin rằng sẽ dễ dàng như trở bàn tay. Sở dĩ lão tăng hi vọng người đời phần đông sẽ tự kiểm điểm lại mình, lo chăm sóc vườn tâm của chính mình, một sớm gặt hái được thành quả, không những hưởng đặng mùi vị thơm ngon của trái ngọt vườn nhà mà lại còn có thể đem bán ra thâu được nhiều lợi. Người đời không dám nhìn lại chính mình, chỉ lo hướng ngoại khiến tinh lực hao mòn, làm việc gì cũng chẳng thể thành công. Bữa nay tôi hướng dẫn Dương Thiện Sinh dạo thăm thắng cảnh Vô Cực, chuẩn bị lên đài sen.

    Dương Sinh: Thưa đệ tử đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Hướng dẫn trò ngoan dạo thăm thắng cảnh cõi trời, Tế Công lòng vô cùng sung sướng ước ao sẽ hướng dẫn được toàn thể chúng sinh tới đây cùng dạo thăm. Này trò ngoan, thầy trò mình có nên ca một bài để khuyên đời không?

    Dương Sinh: Đệ tử tài học thô thiển, thơ phú không thông, mở miệng ra ấp a ấp úng, sợ rằng sẽ chẳng hay ho.

    Tế Phật: Mấy đời không ăn thịt là cốt chỉ để thực hành sự bớt lời bớt tiếng, nay có làm ngược lại một chút cũng không tới nỗi phạm tội tranh giành chuyện ca xướng, vậy cũng chẳng nên quá khắt khe. Thầy trợ điển cho con để văn chương của con được lưu loát hay thêm, con hãy cùng thầy họa thơ.

    Dương Sinh: Con xin vâng lệnh, mời ân sư chỉ giáo cho.

    Tế Phật: Phàm tình tục cảnh thực bàng hoàng.

    Dương Sinh: Theo bước ân sư dạo bốn phương.

    Tế Phật: Gió mát tính linh ngời sáng.

    Dương Sinh: Một dải mây huyền trăng xanh mát.

    Tế Phật: Cuộc đời như mộng chẳng dài lâu.

    Dương Sinh: Sớm tu đại đạo tránh vô thường.

    Tế Phật: Đồ tể buông dao chớ ngông cuồng.

    Dương Sinh: Tu tâm dưỡng tính giữ gìn sức khỏe

    Tế Phật: Phật Tiên chèo thuyền từ.

    Dương Sinh: Pháp độ chan hòa kẻ thiện tâm.

    Tế Phật: Văn từ tuy thô thiển song bài ca cũng khá hay, ý tứ tự nhiên sâu sắc, người đời nghe được hẳn là rất cảm kích. Đã tới nơi, mau xuống đài sen.

    Dương Sinh: Cảnh trí ở đây khác hẳn cảnh dạo thăm bữa trước, ánh vàng tỏa ngợp đất, hoa phù dung nở thắm non xanh, ánh sáng huy hoàng, chim vàng bay lượn, lần đầu tiên trong đời được nhìn thấy cảnh kì quan, không rõ đây là đâu?

    Tế Phật: Đây là đại đạo trường cứu độ chúng sinh, vàng phủ đầy đất, chim vàng bay ngợp trời, cây trổ hoa vàng mọc khắp chốn, trong ao ngọc cá vàng bơi lội, vật báu lạ kì, ngọc sáng lóa mắt, nơi đây linh khí ngưng tụ, là chốn đức Dao Trì Kim Mẫu cư ngụ. Kim Mẫu là mẹ nguyên linh của chúng sinh, cũng còn được tôn xưng là Tây Hoa Đế Quân, địa vị tôn quý, lòng nhân từ vô lượng. Chúng ta phải y phục chỉnh tề, mau tới trước làm lễ ra mắt.

    Dương Sinh: Xin vâng lệnh, bữa nay được vái lạy đức Lão Mẫu quả là vinh hoa vô cùng. Phía trước tòa cung điện nguy nga tráng lệ, hào quang tỏa chiếu sáng ngời, trên cửa có treo tấm bảng đề năm chữ: “Cung Dao Trì Kim Mẫu” ánh vàng chiếu lóa cả mắt, các tiên nữ phía trước điện trang điểm đẹp tuyệt vời, dáng vẻ thanh thoát như thoi đưa, cử chỉ lễ độ hướng về phía chúng tôi cúi đầu nghênh đón.

    Tế Phật: Dương Sinh mau vào trong điện lạy chào ra mắt đức Lão Mẫu.

    Dương Sinh: Xin tuân lệnh, trong điện một vị từ mẫu vẻ mặt hồn nhiên như trẻ thơ, mái tóc trắng phau, có các tiên nữ đứng hầu hai bên... Đệ tử phủ phục lạy chào Lão Mẫu, đệ tử được tắm ơn mưa móc, phụng chỉ viết sách, theo thầy lên cõi tam giới phỏng đạo cầu chân. Bữa nay có được vinh hạnh vâng lệnh Thánh triệu tới thăm chốn cư ngụ của đức Lão Mẫu, lòng vô cùng bồi hồi cảm động, kính chúc Lão Mẫu thánh thể an khương. Chúng sinh còn mê muội không thể trở về được nơi nguồn cội, Lão Mẫu hằng tựa cửa ngóng trông, mắt hồ thu trong suốt, lệ từ bi chảy ròng ròng. Đệ tử vâng Thánh lệnh đảm trách việc phổ độ chúng sinh, tới nay trách nhiệm lớn lao chưa hoàn thành, lòng hoang mang lo sợ, kính mong Lão Mẫu gia ân ban thêm cho linh quang trí tuệ, để làm phương tiện cứu đời giúp người. Trước đây từng phụng mệnh theo gót ân sư trước tác sách Địa Ngục Du Kí, nay lại phụng mệnh viết sách Thiên Đường Du Kí, Thánh mệnh canh cánh bên lòng không dám một chút lơ là, mặc dù ma nạn thử thách trùng trùng, tâm thần muốn tan nát, kính mong đức Lão Mẫu giúp cởi bỏ duyên trần, thoát li mọi trói buộc hầu chứng ngộ Đại Đạo.

    Dao Trì Kim Mẫu: Lành thay, con hiền Dương Sinh, một lòng cầu đạo, thổ lộ hết những lời tâm huyết về Đại Đạo Huyền Cơ, giải tỏ những điều nghi hoặc trong kinh sách, gánh Thánh mệnh trọng trách, chí đạo phi phàm, đã đạt được thắng lợi vẻ vang. Tam Tào phổ độ Trời người đều mong mỏi, Địa Ngục Du Kí đã khai mở sức sống khắp cõi địa tào và nhân tào. Thiên Đường Du Kí chỉ rõ đường mê của thiên tào và nhân tào, hai bộ kinh báu muôn đời sau còn sáng chói, tam tài duy chỉ có “tài nhân” tức cõi người là quý, do đó mà nhân loại được ban nhiều ân phước. Đạo tới thì ma quỷ sinh, tự cổ đều như vậy, vậy mong Dương Sinh khắc phục được nghịch cảnh, hoàn thành được sách Thiên Đường Du Kí một cách trọn lành, công đức lớn lao vạn thuở danh thơm, không chỉ huyền tổ của Dương Sinh siêu thăng cực lạc, mà muôn vạn chín mươi sáu nguyên linh của chúng sinh cũng đều tu chứng đạt đạo. Tới đây, trọng trách Thánh Tiên trao phó Dương Sinh đã hoàn thành được một phần. Mẹ con chung lòng, thấy con khổ cực, mẹ ban linh quang để trợ giúp đạo lực, mong con chấn khởi tinh thần, hào quang thánh bút chiếu sáng toàn thế giới, hầu giúp chúng sinh giác ngộ mê lầm, sớm thoát trần duyên, tẩy lòng đổi mặt nắm tay nhau đi vào con đường đạo phúc thiện. Có như vậy mới xứng đáng với danh hiệu “thiên nhân đạo sư” tức là bậc thầy chỉ đạo cho cả hai cõi trời người, lưu danh muôn thuở, há chẳng siêu việt sao?

    Dương Sinh: Cảm tạ Lão Mẫu đã ân ban linh quang đầy đủ cho con, lời vàng réo rắt ngập lòng, đạo mầu giác ngộ mắt thần ngời sáng, thần khí sung mãn, kính xin Lão Mẫu từ tâm nhủ lòng thương xót, luôn luôn đoái tưởng tới con, kính vâng lệnh mẫu, chí hùng mạnh tiến, xin từ mẫu an tâm.

    Lão Mẫu: Có thơ là:

    Từ mẫu thủ trung tuyến
    Du tử thân thượng y
    Lâm hành mật mật phùng
    Ý khủng trì trì quy
    Thùy tri thốn thảo tâm
    Báo đắc tam xuân huy.

    Mẹ hiền se chỉ luồn kim
    Mong sao chỉ chắc áo tin mọi bề
    Con đi mẹ sợ lâu về
    Khâu đi khâu lại còn nề chỉ tơi
    Tấc lòng cỏ lạnh ai ơi!
    Biết bao giờ mới đền bồi nắng xuân.

    Các con đỏ chín mươi sáu nguyên linh ngày nào giờ đây đều thành những đứa con luân lạc, tấm áo tiên mặc trên mình đã lâu chẳng thấy, vì đã thay bằng áo trần gian loang lổ dính đầy bụi bặm. Nhớ thuở chia li nơi chân núi Tâm Đầu Sơn, mẹ hiền cầm kim khâu áo, bao lời tâm huyết dặn dò, vì sợ rằng sau khi các con đầu thai giáng phàm, quên cảnh Tiên Thánh yên lành, đắm chìm nơi chốn phàm trần bèo nổi mây trôi, lâu dần chẳng còn biết trở về nơi lẽ trời vô cực. Bởi vậy mong các con nắm lấy sợi chỉ vàng thả ra từ tay mẹ hiền để rồi nương theo nó mà lên thuyền từ, lần theo gót mẹ mà trở về nơi nguồn cội, có như vậy mới mong báo đền nổi một trong muôn ngàn ơn sâu của mẹ, nếu trái lời ắt trở thành những đứa con bất hiếu, rõ chưa?

    Tế Phật: Lời mẹ hiền đẫm lệ đắng cay, người há chẳng động lòng trắc ẩn hay sao?

    Dương Sinh: Hiện thời sùng bái ngôi đền thờ đức Dao Trì Kim Mẫu cùng chúng sinh quá lắm, người đời đều muốn trở về nguồn cội nhận mẹ từ tâm, đó là một hiện tượng quý báu vô cùng, đồng thời cũng là điềm báo trước về cơ thế giới sẽ đi tới đại đồng. Kính mong Lão Mẫu nhủ lòng thương xót, khai mở phương pháp tu đạo, con xin lắng nghe thật kĩ càng.

    Lão Mẫu: Tôi cai quản phương tây nên còn gọi là “Tây Hoa Đế Quân”. Có người nói: “Thế giới hiện tại là thế giới kim tiền!” nên nhân sĩ tây phương lại càng cần phải kêu là “thượng tôn chủ nghĩa kim tiền”. Nay thời vận ứng với tây phương, vàng lên giá đắt gấp bội thân người, biểu lộ rõ thời khắc đức Kim Mẫu phổ độ nguyên linh đã tới, do đó danh hiệu của tôi vang lừng khắp thiên hạ. Vận trời tuần hoàn ứng với vận tây phương nên đạo lớn giáng thế giúp cơ duyên phổ độ, phải cùng nhận một mẹ, một thượng đế thì thế giới mới có thể đại đồng, dụng ý của trời xanh huyền diệu, mong chúng sinh giác ngộ điều đó.

    Dương Sinh: Lão Mẫu từ bi, kính xin chỉ bày thêm lí trời siêu diệu.

    Lão Mẫu: Vàng là vua quý muôn vàn cho nên người đời coi vàng cực kì quý báu, đủ thấy địa vị tôn quý của tôi, có lẽ vì vậy nên mới được kêu là “mẹ” chăng? Vàng là bảo vật chẳng sợ lửa tôi luyện, nước ngâm, đất vùi, gỗ đè, là vua của ngũ hành, là vật linh của Ngũ Lão, phá hủy cách mấy cũng không tiêu diệt nổi, cho nên thân Phật xưng là “Kim Thân” đạo thể gọi là “kim đơn”. Kim cư ngụ ở địa vị tôn quý, lưu thông không trở ngại, trời và người tranh giành, Kim Mẫu có thể sinh con vàng, Phật mẫu có thể sinh con Phật, là chủ tể của vạn linh, cho nên gọi là mẹ. Tính linh của vạn vật tức là một khối “kim quang”, do đó mà nguyên linh coi vàng là mẹ, ngụ ý tính linh như kim chẳng thể hủy diệt, nguyện thế nhân giác ngộ điều đó.

    Dương Sinh: Kim Mẫu sinh hóa nguyên linh vô lượng vô biên, kính xin được rõ tiểu sử để người đời học tu đức lớn cùng thực hiện hoài bão của Kim Mẫu.

    Lão Mẫu: Hỗn nguyên nhất khí hóa thành nguyên thủy cùng Thái Thượng Huyền Nữ, do đó tôi vốn là nguyên linh của hỗn nguyên nhất khí, tam thanh biến hóa, ngũ hành sinh ra người, tôi lại trở thành đứng đầu ngũ hành là “kim”. Kim Mẫu phụ trách việc hóa sinh nguyên linh, gánh nặng đường xa, Nguyên Thủy Thiên Tôn đã giảng giải rõ ràng, do đó tôi không cần thuật lại. Tôi ứng vận phổ độ chúng sinh, thiên hạ đã tiến vào thế giới “kim sắc” ngũ kim theo sát bên mình nhân loại, như cốt sắt, nhà sắt, giường sắt, xe máy, xe hơi, phi cơ, điện thoại, truyền hình, kính đeo mắt, đồng hồ đeo tay... các phương tiện ăn mặc, cư ngụ, di chuyển ngày xưa nhờ vào gỗ và đất, ngày nay thay bằng ngũ kim, chứng tỏ “kim” là vật quý tùy thân, là mẹ báu của chúng sinh. Người người đều yêu kim khí, song lại khiến tâm tính con người trở thành quá thực tế, đời sống bị khảo đảo không kham nổi, do đó nói “say tiền mê vàng”. Bởi vậy muốn phổ độ nguyên linh, chẳng thể không dùng kim khí ban phát cho chúng sinh. Tây phương Canh Tân thuộc kim, ở cõi trời ngũ thường là “lợi”, ngũ sắc thuộc “bạch” tức trắng, ở cõi đất trong bốn mùa là mùa thu, nhân gian hóa sinh Bạch Đế tức là vua Hạ Vũ, nhân luân ngũ thường thuộc nghĩa, nhân thể chủ về phổi và da, ngũ giới chủ về trộm cướp. Những điểm vừa trình bày ở trên khả dĩ thể ngộ được nguyên nhân “kim khí” tiêu tan.

    1. Kim: Thời xưa dùng gỗ và đất xây cất nhà cửa và chế tạo các loại khí cụ, ngày nay thay thế bằng cốt sắt, vách sắt là những vật liệu chế tạo bằng ngũ kim. Gươm gỗ, đạn đá trước đây đã bị đào thải, hiện tại được thay thế bằng khí giới tối tân vô cùng lợi hại, sức mạnh giết người so với cổ thời hơn gấp bội. Khoa học tiến bộ, đời sống hưởng thụ vật chất tới cực điểm, y dược tiến bộ giúp sinh mệnh con người sống lâu, bệnh tật chết non giảm thiểu, song tai nạn xe cộ làm chết người nhân số lại gia tăng mau lẹ, đủ thấy quyền sinh tử thoạt nghĩ tưởng là do người nhưng kì thực do trời. Xe cộ đụng nhau gây tai nạn chết người đều là do sự đụng chạm của ngũ kim. Mỗi năm các cuộc chiến tranh trên thế giới khiến bao kẻ phải hi sinh vì mưa bom bão đạn. Những vụ án mạng xảy ra hàng ngày cũng gia tăng khủng khiếp, do đó kim loại tuy quý trọng song nếu quá mức sẽ trở thành phản tác dụng, hại lại người vô cùng thảm khốc. Người đời thường đeo đồ luyện kim như các đồ nữ trang, đồng hồ, v.v... là những vật tuy giá trị song nó lạnh lẽo và vô tình, đối với thân bằng quyến thuộc lạnh lùng vô nghĩa, như lá thu tàn tạ rụng rơi đơn độc. Những ai còn nghĩ rằng làm như vậy là có lợi nên thức tỉnh. Mong những người quý trọng “kim ngân” hãy mau quý trọng “Kim Mẫu” để trở thành đứa con hiếu thảo, uống nước nhớ nguồn. Có lời khuyên như sau:

    Khuyên con nguồn cội hãy mau thức tỉnh, núi vàng chôn vùi biết bao anh hùng hảo hán.

    Khuyên con nguồn cội hãy mau thức tỉnh, cỏ xanh đang phơi phới trước gió xuân thì bị đất chôn vùi.

    Khuyên con nguồn cội hãy mau thức tỉnh, biển khổ sóng dữ cao ngất dập vùi, bóng người mất hút.

    Khuyên con nguồn cội hãy mau thức tỉnh, con cái muốn phụng dưỡng cha mẹ nhưng chẳng được bao lâu buồn lắm thay.

    Khuyên con nguồn cội hãy mau thức tỉnh, mẹ Vô Cực mong ước các nguyên linh tận hiếu, tận trung.

    Khuyên con nguồn cội hãy mau thức tỉnh, vào cửa Thánh cầu chân đạo phải gấp dụng công.

    Khuyên con nguồn cội hãy mau thức tỉnh, ôm ấp lòng nhân từ độ người đời, tuân theo đạo đức.

    2. Dao: Lợi, thuận lợi, càng lợi. Lợi ắt làm hại lúa, cho nên giữ cái lợi của dao cũng giống như cầm dao giết người. Lợi tức là của cải tiền tài, người đời nay trọng lợi, coi kim tiền là sinh mệnh, nhân loại tranh đấu đều là để giành giật tư lợi. Kẻ dùng thủ đoạn phi pháp trục lợi ắt tự chiêu oán hận đố kị, bởi lẽ sau khi đoạt được lợi thì cái hại sẽ theo sau liền, tục ngữ nói: “Người chết vì của, chim chết vì ăn” (nhân vị tài tử, điểu vị thực vong). Người đuổi theo lợi lộc của cải cuối cùng bị “dao lợi” sát hại sinh mệnh, vì “lợi hại” bám sát nhau, mong người đời coi nhẹ “lợi” để tránh xa “hại”, không được gian trá cướp đoạt mưu đồ lợi lộc để tránh “dao lợi” vô tình chuốc oán tạo nghiệp. Tất cả nhu cầu vật chất có thể nói đều là lợi, đem sách dạy điều thiện phát tặng dễ dàng (lợi), đem điều ác ra để làm những chuyện bất lương bất nghĩa cũng dễ dàng (hại), bởi vậy “lợi hại” có quan hệ với nhau rất là mật thiết phải biết ứng dụng cách sao cho thật khéo để bảo tồn lấy cái tâm. Mong chúng sinh hiểu rõ điều đó.

    3. Thu (trắng, phổi, da): Trăng thu tuy sáng song thân thể yếu đuối thiếu sức, mùa thu là thời kì chủ về thâu lượm kết quả nên vạn vật lá rụng tơi bời. Lá cây rụng không còn nhả ra khí, khiến nguyên tố khí cần thiết cho việc hít thở của phổi trong cơ thể con người bị giảm thiểu. Phổi như lá cây, lá rụng về cội da dẻ trắng bệch, thân thể suy nhược yếu đuối, do đó mùa thu tới phải mặc thêm áo ấm để giữ gìn sức khỏe. Hiện thời mùa thu chính là thời kì thâu hoạch lúa, nguyên linh trở về núi Linh Sơn tây phương, do đó đại đạo lớn mạnh, nếu như ấn tống được nhiều kinh sách càng dễ giúp cho đời thịnh vượng. Cửa thánh phát huy đạo giáo, lo cứu độ chúng sinh, chư Tiên Phật ào ào đầu thai thay đổi thời thế, những ai còn tuệ căn nên hi sinh tinh thần lẫn vật chất, bôn ba khắp chốn tìm duyên phổ độ, mong con nguồn cội tâm như lá rụng, thanh bạch vô nhiễm, không sinh trở ngại, người người tu đạo như mùa thu gặt được nhiều lúa chín.

    4. Nghĩa (trộm cướp): Tây phương thuộc kim, ngũ thường là nghĩa, ngũ giới chủ về trộm cướp. Kẻ ham vàng thấy lợi ắt quên nghĩa. Kẻ sinh tính tham trộm cướp của cải gọi là đạo tặc không còn là nghĩa sĩ. Một mảy lông một sợi tơ không mong chiếm hữu làm của riêng mới không phản bội luật trời, thiên đường địa ngục hai bên tùy mình lựa chọn. Trên đây là nói về hiện tượng kim khí Tây Hoa lưu hành. Tây Hoa là đất quý, người đời nếu như có đạo tâm hẳn là không tham lam vàng bạc của cải giả tạm trên đời. Những thứ đó chỉ là để cho người đời mượn dùng tạm ít năm thôi, còn phải tu tâm dưỡng tính, xây dựng một trái tim kim cương cho chính mình, để sau còn trở về được chốn tây phương cực lạc, đi trên đất quý trải vàng, khi đó chắc chắn hào quang trái tim vàng của mình sẽ phản chiếu sáng ngời, có như vậy mới thực sự chứng tỏ được là có tài, giờ tôi xin hướng dẫn hai vị đi thăm thánh cảnh Dao Trì Tây Hoa.

    Dương Sinh: Lão Mẫu từ bi, vì thương chúng sinh mà phải chịu khổ cực nhọc nhằn thuyết pháp, lòng con vô cùng cảm kích. Được ngắm dung nhan tiên cô lồ lồ vẻ thiên chân chính trực con cảm thấy thư thái nhẹ nhàng, không hiểu lí do tại sao?

    Lão Mẫu: Họ là những tiên nữ siêu trần thoát tục, khác hẳn phụ nữ chốn phàm trần, khí chất thanh cao của họ rất hấp dẫn song Dương Sinh có động tâm không?

    Dương Sinh: Thưa không dám, nhưng có thể hỏi họ về cách tu dưỡng đạo không?

    Lão Mẫu: Dĩ nhiên là được.

    Dương Sinh: Xin hỏi quý tiên nương, quý tiên nương có thể kể lại cho tôi được rõ về quá trình tu đạo của quý tiên cùng phương pháp bảo vệ duy trì vẻ thanh xuân, tươi trẻ không? Bởi lẽ người đời hiện nay bất kể là nam hay nữ đều muốn được trẻ mãi, nếu như quý tiên nương tiết lậu bí quyết, người đời sẽ nhớ ơn mãi mãi.

    Tiên Nữ: Nhớ lại quá trình tu đạo tôi đã trải qua biết bao khó khăn gian khổ, toàn gặp hoàn cảnh éo le song lại chính nhờ vậy mà tôi mới giữ gìn nổi nhân cách cao siêu, tạo được chí hướng phi phàm. Tôi mồ côi cha mẹ từ nhỏ, được chú nuôi lớn, suốt thời thơ ấu mỗi khi thấy chùa miếu là tôi đem lòng sùng bái muốn tu đạo, về sau tôi bái ngài Huệ Chân Thượng Sư làm thầy, chuyên tâm học đạo, trải qua biết bao ma nạn khảo đảo, chí đạo không đổi dời, cuối cùng chứng đắc đại đạo mới được Lão Mẫu thâu nhận vào cung làm thị nữ. Còn các tiên nữ dung nhan thanh tú, trang nghiêm trẻ mãi là vì trong lòng không còn ý niệm về dục tính và phiền não, hoàn toàn chân chất thanh bạch, quên tháng năm không hề nghĩ đến sự già nua, nên vô “não” tức vô “lão” vong “niên” tức vong “lão” chỉ lưu giữ tấm lòng trinh khiết, dung nhan tự nhiên thanh tú sáng sủa, còn nếu tâm không thăng bằng thì chẳng thể dùng ngọc báu che cho mặt hết xấu xa đen đủi, dầu Thần y Thánh dược cũng không thể giúp người ta khỏi già. Cho nên muốn trẻ mãi chỉ có cách: “Không phiền não, ăn chay, ít soi gương, luôn ngó vào nội tâm”. Trai gái trên đời nếu như thực hành được bí quyết này ắt chẳng cần tới son phấn tự nhiên dung nhan trẻ đẹp mãi, há chẳng sung sướng sao?

    Tế Phật: Vì thời giờ đã trễ, bữa khác lại xin tới thăm, bái từ Lão Mẫu cùng chư vị tiên nương.

    Dương Sinh: Cảm tạ Lão Mẫu đã quá nhân từ chỉ giáo, vô cùng đội ơn, vì thời giờ eo hẹp, đệ tử phải theo ân sư trở lại Thánh Hiền Đường, xin bái từ Lão Mẫu.

    Lão Mẫu: Dĩ nhiên là như vậy, tôi cũng chẳng thể lưu giữ, ngày khác gặp lại.

    Dương Sinh: Thưa con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:30 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    February 4th 2010, 2:53 pm
  • HỒI MƯỜI CHÍN

    LẠI DẠO CUNG TÂY HOA LẮNG NGHE DAO TRÌ KIM MẪU THUYẾT PHÁP

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 23 tháng 2 năm Canh Thân (1980)


    Thơ

    Thế ngoại đào nguyên cảnh sắc u
    Du nhân như xí thừa vân chu
    Bàn đào thụ hạ truyền hương vị
    Nhất điểm cam lâm nhuận ngọc hầu.

    Dịch

    Thâm u thoát tục cảnh đào nguyên
    Khách cỡi thuyền mây tới cõi tiên
    Dưới gốc cây đào hương tỏa ngát
    Ngọt ngào hưởng trọn vị thơm ngon.

    Tế Phật: Bữa nay thầy trò mình lại tới cung Dao Trì bái kiến Lão Mẫu để nghe người thuyết pháp, trò ngoan hãy chỉnh tề y phục theo ta lên đường.

    Dương Sinh: Thưa con đã sửa soạn xong. Ba đời mới có được dịp may tới cung Dao Trì lắng nghe Lão Mẫu thuyết pháp, ơn trời ơn thầy con chẳng dám quên.

    Tế Phật: Cưỡi đài sen bay thẳng tới cung Dao Trì nơi cõi Vô Cực... Đã tới Tây Hoa nơi Thánh Mẫu Dao Trì cư ngụ, Dương Sinh mau xuống đài sen, chúng ta tới lạy mừng ra mắt Lão Mẫu.

    Dương Sinh: Xin tuân lệnh, phong cảnh Dao Trì thực quá ưa thích, khắp nơi gió tiên phơi phới, hào quang lấp lánh khiến tâm thần tươi sáng. Hào quang này khác với mọi chốn, không chỉ chói mắt mà còn khiến mắt con mở lớn, sáng rực, khó nhắm lại nổi, không rõ vì nguyên nhân gì?

    Tế Phật: Tây Hoa Dao Trì là nơi Thánh Mẫu cư ngụ, khí vàng ngưng tụ giống như núi vàng ở thế gian, cũng như người đời thấy tiền mắt mở lớn, bởi vậy khi nhìn thấy khí đạo sáng ngời tự nhiên con cảm giác như vậy, đó là ánh mắt rất đáng yêu. Ha ha, không được nhìn ngó một cách tham lam, chúng ta tới vấn an Lão Mẫu.

    Dương Sinh: Vào trong thánh điện thấy Lão Mẫu lộ vẻ vui tươi, các tiên nữ cũng mỉm cười cúi đầu nghinh tiếp chúng tôi, trong lòng vô cùng hân hoan vui sướng... Đệ tử bái kiến Lão Mẫu, bữa nay theo thầy tới thăm lại cung Dao Trì, kính xin Lão Mẫu từ bi mở lượng ân ban linh quang, cùng tiết lộ huyền cơ đại đạo để mở trí cho người đời.

    Lão Mẫu: Lành thay, Dương Sinh và Tế Phật cùng đáp thuyền từ, vân du tam giới, quảng độ thương sinh, thay mặt tôi chia buồn cùng họ, đó là việc làm ơn ích tôi cảm thấy được an ủi vô cùng. Nhân duyên sớm trồng gốc đạo sâu dày, bữa nay mới có nổi cuộc du hành lớn lao này. Mong Dương Sinh chí lớn đạt thành, sách Thiên Đường Du Kí sớm viết xong hầu dựng nghiệp Thánh phổ độ chúng sinh, công lớn thành tựu, để chư Tiên Phật cõi trời mỗi lần ghé xuống cõi trần khỏi than thở là chúng sinh khó độ, sách này có thể hướng dẫn rất nhiều nguyên linh trở về được cõi trời gặp lại tôi... Giờ tôi lại hướng dẫn Dương Sinh dạo thăm thánh cảnh Dao Trì để khai mở đạo lớn.

    Dương Sinh: Cảm tạ lời vàng dạy bảo của đức Lão Mẫu... Đi theo sau Lão Mẫu các tiên nữ hầu cận hai bên, có cảm giác giống như là đã về tới nhà cũ, các tiên nữ giống như có quan hệ chị em, quen biết nhau từ những thuở nào...

    Lão Mẫu: Dương Sinh nói rất đúng, nhớ xưa tại chân núi Tam Sơn nơi biên giới thiên đường, các đệ tử đều là anh em chị em, thế rồi biển khổ tắm mình, trút bỏ áo tiên, sau khi tỉnh dậy thấy mình ở tại trần gian xác trần thân bụi, do đó mà người thời khởi thủy lấy lá che thân, bảo vệ nguyên thể, ngày nay đã tiến tới dùng vải hoa may áo mặc, đồng thời tính linh Tiên Phật cũng bị phai lợt dần. Mọi người đổi đầu thay mặt, muôn họ kết làm thân bằng quyến thuộc, tham lam bụi đỏ, nhận giả làm chân, ngày qua ngày hoang mang sợ hãi. Các tiên nữ này trước kia đều là chị em, họ tới chốn trần gian, trải qua kiếp khổ, nhưng rồi sực tỉnh sợ hãi ảo mộng, tu thành chính quả, thay thịt đổi xương, về đây nương bóng mẹ.

    Dương Sinh: Lão Mẫu nói quả đúng, chúng sinh vốn từ một gốc sinh ra. Nơi đây có một cái ao nở đầy hoa sen trắng, trong sạch vô cùng, đẹp thơm vô kể, dưới nước còn có cá vàng bơi qua bơi lại, cảnh tiêu dao tự tại thật đáng yêu.

    Lão Mẫu: Đây là một trong các cảnh kì lạ ở Dao Trì, Dao Trì còn gọi là Tây Trì, hoa sen đua nở tràn lan, cá vàng bơi lội khắp nơi giống hệt bức tranh tu đạo. Hoa sen cá vàng đều là những thần vật có linh tính, giờ xin điểm hóa cho chúng để chúng thuyết pháp:

    “Hoa sen, hoa sen, vẻ trong sáng trinh bạch của mi như bè trong biển khổ, tự gìn giữ sự thanh cao, cánh hoa không dính một hạt bụi, khí chất thoát tục hơn hẳn người ta, hãy thuyết pháp đi”.

    Dương Sinh: Sau khi Lão Mẫu nói pháp từ bi xong, hoa sen dạt dào lay động giống như bày tỏ sự vâng lời đấng chủ nhân ao ngọc. Hoa cất tiếng du dương êm dịu nói:

    “Tôi sống giữa đám bùn nhơ nơi trần thế, mặc dù nước đầy nhơ bẩn nhưng tôi cố giữ gìn trái tim trong sạch, rễ bền gốc vững, không vì hoàn cảnh trái ngang mà lui bước. Đạp trên bùn nhơ biết rõ gốc đạo, chịu đạm bạc như nước, sống nhẹ nhàng thanh thoát như gió nhưng tâm ý vẫn cảm thấy dư thừa. Chân tuy đạp trên bùn đất nhưng tay lá, tâm hoa lại nổi trên mặt nước, ngóng nhìn về chốn quang minh. Hỡi loài người, các vị sống tại thế giới ô trọc, đi trên đường phủ bụi tránh sao khỏi tâm bị ô nhiễm bị đồng hóa? Bụi trần vùi chôn bao du khách, mấy người giữ được tâm trong sạch đẹp đẽ? Chân tôi ngập trong bùn, trong sạch hóa những bùn nhơ, biến chúng thành vật thực nuôi sống thân tôi. Rửa sạch ngó sen hiện rõ gốc rễ trong trắng, như vậy há lại chẳng tin là tôi gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn sao? Nhân loại trầm luân đọa lạc, không phương cách vượt thoát ra khỏi, kẻ bị đắm chìm trong nước đục bùn nhơ lâu sẽ bị thối nát chẳng thể tránh khỏi, vì sức đạo đã thấy quá yếu ớt, không còn sức đề kháng nên bị tình dục hủ hóa, nhân tính bạc nhược gặp sự tấn công từ bên ngoài không kham nổi, cuối cùng trở thành bại hoại, suy đồi, diệt vong. Mong người đời lăn lóc giữa đám bụi trần cố bảo vệ giữ gìn tâm cho trong sáng, để nó trở thành đóa hoa tâm trong trắng tinh khiết, hướng về nẻo đường tương lai quang minh mà tiến tới, nơi ao ngọc tôi đạt được quả vị thanh cao, mong người đời noi gương theo tôi để khỏi bị bụi bặm trần gian chôn vùi sự sống”.

    Hoa sen nói xong, lá và hoa hướng về phía Lão Mẫu lay động giống như vái lạy, sau đó hoàn toàn yên lặng trở lại. Thật không ngờ được là công chúa hoa sen lại có thể thuyết được một bài diệu pháp hay đến như vậy, quả là miệng nói sen vàng nở, tự lấy làm thẹn vì mình không được như vậy.

    Lão Mẫu: Hoa sen do Thần Thánh hóa thân, đại biểu cho tính linh thanh cao trong sạch, do đó hình chư Tiên Phật đều ngồi trên tòa sen ngụ ý là đạt được địa vị vinh dự như hoa sen. Mong người đời học được tinh thần hoa sen, thấu suốt được những lời gởi gấm ở hoa sen tu thành bậc cửu phẩm đài sen. Giờ lại xin điểm hóa cho cá vàng để nó thuyết pháp:

    “Này cá vàng, cá vàng, thân mình sáng ngời linh hoạt vô cùng, sống trong chậu cảnh để người đời mua vui, mi đã từng thấy biết bao điều hãy nói nhiều lên đi để cho người đời thấu tỏ. Hãy khai khẩu nhả ngọc phun châu đi”.

    Dương Sinh: Sau khi Lão Mẫu thuyết pháp, một đàn cá vàng nhảy lên khỏi mặt nước, rất ư phấn khởi, cùng đồng thanh nói:

    “Tôi là bạn với hoa sen, đều sống trong ao, tính tôi hiếu động suốt ngày vùng vẫy sung sướng vô cùng. Chị sen lại giữ lễ chẳng dám tùy ý đi lại sợ gây náo động, chị lo rằng càng hãm càng sâu bởi cảnh đẹp bất thường, chủ nhân thả lưới bắt tôi xách lên bờ để cho người thả câu, trẻ con thấy tôi đáng yêu, vây quanh ngó tôi một cách khinh nhờn, khách hàng thích tôi chủ nhân bán liền, từ trong ao rộng rãi bị đem nhốt vào chậu cảnh, từ đó trở đi phải sống nơi chốn đất trời nhỏ hẹp, tôi đã phải chịu số kiếp sống cho qua ngày. Cùng lắm thì cũng trở thành thần giám sát nhân loại, mỗi cử động của họ đều không qua khỏi mắt tôi, tập quen lối sống như vậy cũng chẳng thấy gì là lạ lùng cho lắm. Những lúc người đời buồn rầu đều đến bên tôi để lộ vẻ mặt và ánh mắt hiền từ ngắm nhìn tôi mà nghĩ thầm rằng: Cá vàng tuy sống trong chậu cảnh nhưng không lo buồn, tiêu dao tự tại, chẳng sợ đói rách, một làn nước trong, một bộ áo đẹp lộng lẫy, ngâm đã không nát mà lại còn rực rỡ thêm, hơn biết bao người sống nơi đất rộng, chốn nhà cao cửa lớn nhưng tâm sầu ý khổ. Hãy nhìn bộ áo trần tục hoa lệ, trải qua những lần giặt nước liền biến chất đổi màu chẳng còn đẹp đẽ bóng bẩy như xưa. Tôi thích bộ đồ vàng thiên nhiên suốt đời mang trên mình, tôi không muốn chỉ mình tôi rực rỡ sáng sủa cho nên khuyến khích người khác cùng yêu thích một bộ đồ mà dùng được suốt đời, bền bỉ vô cùng, chỉ dùng nước giặt là lại sạch sẽ đẹp đẽ như mới. Áo trần tục phải dùng đủ thứ nào như xà bông, bột giặt, v.v... để giặt sạch mỗi ngày nhưng còn cái thân ô uế thì lại chẳng hề nghĩ tới. Người đời tranh danh đoạt lợi, ân oán trói buộc do đó khiến người chán ghét nhau. Tôi biết yên phận, chỉ một chén nước lã, một làn gió nhẹ cũng tự cảm thấy đầy đủ. Nếu tôi đập bể chậu cảnh chẳng hóa ra là tôi tự sát sao? Bởi tôi sống trong nước, người sống trên đất liền, còn như cuộc sống xa rời đạo lớn liền bị lâm vào cảnh tối tăm chết chóc. Mong người đời ra sức phát huy ưu điểm của mình, giống như tôi đã giúp được nhiều người vui sướng hân hoan khi ngắm nhìn tôi bơi lội”.

    Cá vàng nói xong liền nhảy lên trên mặt nước, kính cẩn cúi đầu cáo lui. Nghe những lời thuyết pháp kì lạ và quý báu của hai vị xong, mới hay rằng vạn vật đều có tính linh mẫn tuệ, chẳng thua kém loài người, quả là một bài thuyết pháp vô cùng thú vị.

    Tế Phật: Chớ có khinh thường cá vàng, ta nghĩ rằng nếu đem so sánh hẳn là người đời thua xa, sau khi nghe thuyết pháp xong mà không tỉnh ngộ há chẳng lạ lùng lắm sao?

    Lão Mẫu: Vạn vật linh thiêng được ân khí trời đất ân ban bảo bọc do đó đều có năng lực siêu phàm, trong tam tài (đất trời người) chỉ có người là quý, tu đạo rất dễ, xin chớ bỏ qua. Chúng sinh nếu muốn được linh quang Tây Hoa ân ban, hãy chăm chỉ tụng niệm bài linh chú dưới đây:

    Thất khí chi thiên Bảy khí của trời
    Tố hoàng kim đường Điện ngọc Tố Hoàng
    Bạch Đế đương quyền Bạch Đế đang quyền
    An trấn tây phương Phương tây trấn yên
    Hoa âm Linh Sơn Hoa Âm Linh Sơn
    Hiệu viết thần vương Hiệu là thần vương
    Bạch vũ phi quần Lông trắng quần bay
    Kiến kì ngự long Phất cờ cưỡi rồng
    Thượng du huyền thanh Dạo cõi Huyền Thanh
    Xuất nhập hoa cung Ra vào cung hoa
    Tổng lãnh tiên tịch Nắm hết sổ Tiên
    Liệt giản chư phương Bày thẻ các phương
    Cát nhật giai thần Ngày lành giờ tốt
    Vạn thánh yến giáng Muôn thánh giáng tiệc
    Bồi hồi cửu hà Bồi hồi chín mây
    Lưu tán huy quang Hào quang tỏa khắp
    Kim tình hoán hoán Mắt vàng ngời sáng
    Bạch thạch dương dương Đá trắng vĩ đại
    Khai tiên quang linh Rõ tiên thấu linh
    Thần phu tứ khu Thân mở bốn miền
    Nguyện đạo nguyện tiên Cầu đạo cầu Tiên
    Nguyện sinh nguyện trưởng Cầu sống được lâu
    Thương nguyện kí hội Cội nguồn đã gặp
    Mĩ bát cát xương Theo chẳng tốt lành
    Nhục thu thông chân Lại thâu lẽ tỏ
    Cải ngã hình dung Đổi hình dung mình
    Biến hóa tự ngã Biến hóa cái ta
    Dữ khí đồng tường Cùng khí đảo lượn
    Thân phi cốt khinh Thân bay xương nhẹ
    Thượng thăng tử phòng. Lên thẳng gác tía.

    Tế Phật: Thời giờ đã trễ, ngày khác sẽ lại tới cung kính lắng nghe Lão Mẫu dạy, giờ đây xin cáo từ.

    Dương Sinh: Cảm tạ Lão Mẫu từ bi đã chỉ rõ bến mê, bái từ đức hiền mẫu. Thưa con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư trở lại Thánh Hiền Đường.

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:30 pm với 3 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    February 4th 2010, 7:53 pm
  • HỒI HAI MƯƠI

    DẠO CUNG TÂY HOA LẦN THỨ BA LẮNG NGHE DAO TRÌ KIM MẪU THUYẾT PHÁP

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 3 tháng 3 năm Canh Thân (1980)


    Thơ

    Trang Tử nhàn lai mộng điệp phi
    Thanh đàm dạ hỏa tăng châu quy
    Thế tình nhưỡng nhưỡng tùy phong khứ
    Hiển giáo vô thường bách sự phi.

    Dịch

    Giấc bướm Trang Sinh đẹp mộng lòng
    Thuyền về lửa huệ ngợp hồ trong
    Tình đời rối loạn cuồng phong thổi
    Khỏi dậy vô thường vạn sự không.

    Tế Phật: Thế giới thiên đường cực lạc chẳng ở đâu xa, nếu như quét dọn cho sạch sẽ được nơi mình đang ở cùng tẩy trừ được tâm ô uế thì không những cỏ dại chẳng mọc bừa trên mảnh đất trần gian mà lại còn có thể hóa đất thành ngọc vàng sáng choang, đất thanh tịnh tức là đất hoan lạc, thiên đường ở ngay trước mặt chúng sinh, muốn bước tới chẳng khó khăn gì, con người không có đôi cánh làm sao bay bổng? Nên thứ nhất là phải luyện cho tinh thần thanh thoát nhẹ nhàng, thứ nhì là phải tu để nghiệp ác hoàn thiện, thì tuy không có cánh song vẫn có thể như khinh khí cầu đầy ắp khí thanh nhẹ bay lên. Còn ngược lại tâm hồn nặng trược, tội lỗi đầy mình, dẫu có đôi cánh dài rộng nhưng lại phiền não cùng chủ nợ níu kéo cũng chẳng thể lên thiên đường được. Bữa nay đã tới giờ dạo thăm cõi trời để viết sách, thầy sẽ hướng dẫn trò ngoan Dương Sinh của thầy dạo thăm cung Dao Trì thêm lần nữa, chuẩn bị lên đài sen.

    Dương Sinh: Thưa con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường...

    Tế Phật: Đã tới cung Dao Trì, Dương Sinh xuống đài sen, chuẩn bị vào lạy chào ra mắt đức Lão Mẫu.

    Dương Sinh: Tới cung Dao Trì có thêm cảm giác thân thuộc, Lão Mẫu thương xót con đỏ, ân đức thực sâu dày. Theo ân sư dạo thăm ba cõi, dọ hỏi chân đạo ơn ích quá nhiều... Kính xin Lão Mẫu ân ban linh quang.

    Lão Mẫu: Lành thay, Dương Sinh bữa nay lại tới thăm chốn mẫu ở, thật quả vui mừng. Tôi niệm nguyên linh lòng hằng lo lắng mong sao sách Thiên Đường Du Kí viết xong để thức tỉnh bến mê, cứu độ chúng sinh, lòng hẳn được an ủi một vài phần. Để chúng sinh thấy rõ cảnh lạ Dao Trì, Dương Sinh hãy theo tôi đi thăm các chốn.

    Dương Sinh: Vườn cây phía trước kết trái xum xuê, trái lại giống như trái đào chín đỏ cùng khắp hương vị thơm ngát, khiến thèm chảy nước miếng. Đào này so với đào dương gian lớn hơn nhiều, chắc là người đời kêu đào này là đào tiên đây? Dưới gốc đào có nhiều tiên đồng, tiên nữ vui đùa, lại có các đạo trưởng, vị thì ngồi trên phiến đá đánh cờ suốt ngày, có vị đang hái đào tiên ăn, họ sống không buồn rầu lo lắng, ai thấy cũng phải mê, chẳng rõ phải tu tới mức như thế nào mới được hưởng cuộc sống sung sướng này?

    Lão Mẫu: Đó là vườn lạc thú đào tiên trong tam giới, chỉ có linh khí Dao Trì mới hun đúc nổi đào tiên, khắp vườn đào tiên chín đỏ là có ý chờ những ai ở thế gian tu hành đạt đạo lên hái mà ăn.

    Dương Sinh: Khu vườn hình như có người canh gác, chẳng rõ có được phép vào tự do không?

    Lão Mẫu: Phía ngoài vườn có tiên canh giữ, nếu như kẻ tu đạo mà công quả chưa tròn đầy không được phép vào trong dự yến đào tiên. Tiên đồng tiên nữ và các đạo sĩ ở trong vườn này đều là quý khách của Dao Trì, đồng thời cũng là chủ nhân, bữa nay tu thành chính quả do đó mới được tới đây sống tiêu dao tự tại cùng ăn trái đạo.

    Dương Sinh: Sau khi tu thành chính quả phải tới cung Dao Trì nhận đào tiên do Lão Mẫu ban để được trường sinh bất lão là tại sao?

    Lão Mẫu: Đào Tiên giống hình trái tim do đó có thể nói là đào tiên trồng tại tim người. Chúng sinh nếu như chịu khó tu đạo, một sớm công đức viên mãn, thoát xác bay lên Dao Trì dự tiệc đào tiên cùng nhận lãnh quả vị ngự tòa sen, bởi vậy việc tới Dao Trì ăn đào tiên tượng trưng cho sự chứng quả thành đạo, vĩnh viễn thoát luân hồi, mãi mãi được hưởng tước lộc của trời ân ban. Do đó người đời phải chăm lo vun bồi thiện tâm, không được để tâm sinh ác niệm, độc niệm, nếu như trái lệnh cây đào tiên khô héo chết đi, sẽ không được hưởng đạo quả, hiện nay kẻ tu đạo rất nhiều, đào tiên Dao Trì kết trái sai vô kể, đang chờ chúng sinh lên hái, mong rằng chúng sinh sẽ không để mất cơ hội tốt. Chúng ta hãy vào trong vườn phỏng vấn các đạo sĩ đang ngồi đánh cờ.

    Dương Sinh: Xin tuân lệnh. Các tiên canh vườn thấy Lão Mẫu tới lập tức lui bước nhường lối cho chúng tôi vào... Xin Kim Tiên cho biết về quá trình tu thành chính quả của ngài? Sau khi lên tới Dao Trì cảm tưởng của Kim Tiên ra sao?

    b]Kim Tiên[/b]: Dương Sinh từ dương gian lên hỏi về kinh nghiệm tu đạo, mời ngồi, đợi chúng tôi chơi xong ván cờ này sẽ đàm đạo với Dương Sinh được chăng?

    Dương Sinh: Đánh cờ đứng ngoài mách hẳn là sáng nước hơn người trong cuộc, đảo ngược lại thế cờ chẳng khó khăn.

    Kim Tiên: A ha, Dương Sinh nói rất chí lí. Nhà Phật dùng hạt bồ đề kết thành xâu chuỗi, mỗi hạt là một tiếng niệm Phật, còn đạo gia lại lấy gỗ làm bàn cờ và quân cờ, vạch đường đi nước bước xuất quỷ nhập thần và dặn phải: “Đánh cờ không bàn bạc mới là chân quân tử, đã ra quân mà không lui mới là đại trượng phu”. Quả là lời kinh tuyệt diệu, chỉ điềm nhiên không nói năng mà chiến thắng tinh thần quả là anh dũng. Bởi vậy cho nên mới ví sự đánh cờ cũng giống như lần tràng hạt niệm Phật, quả là vô thanh thắng hữu thanh, cờ cao tuyệt vời vậy. Tính cờ siêu diệu công phu được tới mức này nếu không phải là nhân sĩ chẳng thể làm nổi. Ha ha tính cờ kiên nhẫn như ngồi lần tràng hạt, quả là cao thủ.

    Dương Sinh: Thưa không dám, lời Kim Tiên dạy siêu diệu quý báu như vàng. Xin Kim Tiên cho biết thêm về quá trình tu luyện và phải làm cách sao để đạt được đạo quả tròn đầy?

    Kim Tiên: Tu đạo là sự nghiệp của cả cuộc đời, chẳng thể một sớm lo xong, như đánh không tiến tức là lùi vậy, lại thêm quân mai phục khắp nơi nguy cơ khắp chốn, không quản thất bại mới thắng nổi bàn cờ, thoát khỏi đời sống phàm trần ràng buộc. Tôi lúc sống ở trần gian trọn niềm kính thờ Thái Thượng Đạo Tổ, Lã Tổ Sư, Quán Âm Đại Sĩ cùng chư Tiên Phật khác, chăm lo học đạo tìm hiểu chân lí, học tất cả những gì có ích cho chúng sinh, cho tiền tặng thuốc kẻ nghèo, sửa đường xây cầu, ấn tống kinh sách, giảng kinh thuyết pháp, đều dốc lực làm tất cả. Cuối cùng công quả viên mãn, sau khi quy tiên, nguyên linh được tới cung Dao Trì sống tiêu dao, tắm nước ao ngọc, ăn đào tiên luôn luôn tự tại, lấy mãi không hết, dùng hoài vẫn còn, có thể nói là sung sướng vô cùng. Mong người đời hồi tâm tỉnh giấc hôn mê sớm tu đạo lớn, để ngày sau có thể tới đây cùng nhau nói chuyện đạo, bàn luận lẽ huyền vi.

    Dương Sinh: Xin hỏi tiên nương, tiên nương tu cách sao mà đạt được chính quả?

    Tiên Cô: Tôi thuở bé học nghề may, sau khi thành tài tự mình mở tiệm hành nghề. Sau nhờ bạn giới thiệu, tôi tới bái sư học đạo, tĩnh khẩu ăn chay, một mặt làm việc kiếm sống, một mặt tu thân ngộ đạo, nửa thánh nửa phàm, gặp khách hàng là tôi khuyên họ tu đạo, gặp kẻ nghèo khó là tôi giúp đỡ. Tới năm hai mươi lăm tuổi tôi lập gia đình, chồng tôi vốn cũng là một cư sĩ tu tại gia, nên hai vợ chồng cùng tu, có lỗi lầm chi cùng tha thứ cho nhau, chúng tôi đều tự biết là thiên ân thánh đức run rủi mới gặp được người bạn tri kỉ đồng tu, quả là quá may mắn. Chúng tôi sinh được hai trai một gái, đều ngoan ngoãn chăm chỉ học hành, giữ gìn đạo đức, vun bồi phẩm hạnh. Suốt đời làm việc thiện không mỏi, độ được rất nhiều người, tới năm sáu mươi hai tuổi không bệnh mà mất, nguyên linh bay thẳng lên cõi Dao Trì Vô Cực, được Lão Mẫu phong làm Tĩnh Nguyệt Tiên Cô tiêu dao vô tận. Còn chồng tôi quy tiên từ một năm trước, hiện đang tu luyện tại cung Đông Hoa cũng đạt được quả vị rất cao. Hi vọng người đời tu đạo không chỉ tu đức hạnh bên trong của mình, mà việc công quả bên ngoài cũng quan trọng lắm vậy, nếu như gặp người hoạn nạn khốn khổ phải dốc tâm cứu giúp, lòng từ bi đó công đức rất lớn, nếu như thiếu đức khó thành đạo được. Trong khi tu đạo không được cống cao kiêu ngạo, tự cho mình là đầy đủ, phải biết nghe lời dạy của người trước cùng bạn đạo, nếu như gặp các tu sĩ của các tôn giáo khác cũng phải đem lòng tôn kính y như các bạn đạo của tôn giáo đó vậy, không được bài xích, coi khinh, phỉ báng, đó là công phu bồi dưỡng nội đức vậy. Có người một mặt tu đạo, cứu độ chúng sinh, nhưng mặt khác lại coi khinh các tu sĩ của tôn giáo khác, tâm phân biệt này nọ, ghen ghét oán hờn đủ thứ, đối với nội tâm tổn hại rất lớn. Kẻ tu đạo thời thường mắc phải điểm này khiến cho đạo quả khó tròn đầy, vì còn sống ở giữa cõi trần, mắt thịt chẳng sáng thành tạo nghiệp mà chẳng hay. Mong rằng sau khi nghe lời tôi nói, mau mau sửa đổi sai lầm, sự nghiệp tu đạo mới không bị khuyết điểm, nên ghi nhớ kĩ.

    Dương Sinh: Sau khi nghe các vị đó thuyết pháp xong, thấy rằng việc tu đạo chẳng dễ dàng, quá trình tu đạo của cái vị đó đều trải qua biết bao trở ngại cùng gặp rất nhiều sự đả kích mới có thể thành công. Vả lại trong cuộc sống thường nhật từ việc nhỏ cho chí việc lớn phải hành xử cho tới mức tận thiện tận mĩ, đối với các tôn giáo khác không nuôi dưỡng sự bất bình cùng bài xích lẫn nhau. Tại cõi thiêng liêng tôi thấy Tiên Phật các giới rất dung hòa nên tôi tin tưởng rằng chỉ những ai có tâm bao dung cùng vứt bỏ được tư kiến mới có thể thăng hoa lên cõi trời sống tiêu dao, còn không lửa thiêng liêng nơi cõi trời sẽ bốc cháy dữ dội bởi vì dầu là cõi Tiên cõi Phật cũng chẳng chốn nào hoàn toàn yên tĩnh. Theo như tôi được thấy phàm những thánh linh có thể qua lại cõi linh thiêng họ đều có ý thức về tôn giáo, cho nên dầu gặp cảnh ngộ nào họ đều đạt được trình độ tự biết mình và vạn vật cùng chung một thể, đều lo vượt thoát ra ngoài không chịu để cho ngoại vật ràng buộc mới có thể tồn tại nổi nơi cảnh giới vô cực. Nếu không vậy thì linh thể của họ khi tới cảnh giới vô ngã mà còn giữ thói quen chấp ngã trước đây sẽ bị chối từ ngay, chẳng thể tiến vào cõi chân không vô cực thanh tịnh nổi.

    Lão Mẫu: Dương Sinh nói rất đúng, chúng sinh nơi cõi phàm trần đều là con đỏ, các tôn giáo nếu như đả kích lẫn nhau tức là tự mình chôn vùi mình chẳng thể cứu vãn nổi. Nơi giáo lí hoặc giáo nghĩa của các tôn giáo tuy có sự bất đồng, song mục đích cuối cùng tất cả đều chung một gốc. Ước mong chúng sinh hãy cố giữ tự tâm, tự vấn, tự tu, tự thành. Lẽ trời vô cực nghinh tiếp đạo cao vô cực, kẻ tu đạo phải đạt tới cảnh giới vô thanh, vô sắc, vô tướng còn nếu như không quét sạch nổi tam tâm, tứ tướng hẳn là khó chứng được địa vị tối cao là đài sen cửu phẩm. Như bữa nay Dương Sinh đã thấy họ đều đáng yêu dễ mến, tất cả những gì thuộc về dục giới, sắc giới, vô sắc giới ở nơi họ đều đã được trừ khử sạch trơn, do đó họ có thể đạt được quả vị siêu thoát khỏi những ràng buộc nơi cõi hồng trần, người đời giác ngộ, tu luyện bao nhiêu thì đắc bấy nhiêu. Do đó mong người đời nhận chân ra lẽ thực mà quay về được đường ngay, đồng tâm chung sức cứu độ nhân loại đang bị đày đọa trong thời kì mạt pháp này, để tạo hạnh phúc cho mọi người quay về con đường sáng đạo đức lấy sự tốt lành hòa thuận làm mục đích, tu thân dưỡng tính để được gần cõi Dao Trì Vô Cực chung hưởng đạo trời.

    Tế Phật: Cảm tạ những lời chỉ giáo nhân từ của Lão Mẫu, những điều răn đi dặn lại chúng sinh tin rằng chúng sinh sẽ thực hiện được những điều Lão Mẫu hằng mong muốn, chúng sinh sẽ tẩy trừ được thói quen xấu xa cùng tính tình hèn kém, theo thiện bỏ ác, từ nay về sau sẽ dứt bỏ được căn bệnh tự hủy hoại mình, không còn tham, sân, si cùng dâm dục, cờ bạc, dối trá, mau quay trở lại con đường thiện để cùng leo thang trời và tránh khỏi đọa lạc địa ngục, vì khi đã rớt xuống đó mới kêu cứu vô phương thoát khỏi. Bữa nay thời giờ eo hẹp xin cáo từ Lão Mẫu, thánh cảnh Tây Hoa dạo thăm tới đây kể như là đã hoàn tất được một phần, Dương Sinh hãy lạy tạ ơn Mẫu để còn chuẩn bị trở lại Thánh Hiền Đường.

    Dương Sinh: Đa tạ đấng từ Mẫu đã mở lượng từ bi ân ban linh quang điển lành, khai mở trí huệ cho con, con xin hứa sẽ vâng lời hành đạo cứu người, hoàn thành đại nguyện để báo đền ơn Mẫu. Xin bái từ Lão Mẫu.

    Lão Mẫu: Vì độ chúng sinh mà Tế Phật cùng Dương Sinh phải chịu biết bao đắng cay khổ cực bôn ba khắp ba cõi, sau khi sách Địa Ngục Du Kí viết xong phổ độ khắp hoàn cầu, lập được công đầu trong việc giúp chúng sinh mở tai sáng mắt, lòng tôi cảm thấy vô cùng an ủi. Bữa nay Dương Sinh lại dạo thăm cõi trời, hỏi đạo tìm chân lí để viết sách Thiên Đường Du Kí giới thiệu phong cảnh tươi sáng thiên đường để quảng độ chúng sinh lòng tôi vô cùng sung sướng, đặc biệt ban một bài thơ cùng một trái đào tiên để trí huệ mãi mãi khai mở.

    Thơ

    Thanh loan giáng thế độ nguyên linh
    Thánh bút huy thư đạo đức kinh
    Địa ngục thiên đường vô nhị lộ
    Tâm phân thiện ác ảnh tùy hình
    Thiên thu điển sư kim do tại
    Vạn cổ kí du hãn mặc hinh
    Khổ hải hồng ba tòng thử tức
    Bàn đào thực bãi hưởng hà linh.

    Dịch

    Pháp mầu giáng thế độ nguyên linh
    Thánh bút biên thành đạo đức kinh
    Địa ngục thiên đường chung một cửa
    Tâm chia thiện ác bóng theo hình
    Ngàn xưa kinh báu còn lưu ý
    Muôn thuở sách hay mãi nức tình
    Biển khổ sóng to từ đấy dứt
    Đào tiên ăn được sẽ trường sinh.

    Dương Sinh: Lạy tạ Lão Mẫu đã ân ban thơ trời đào tiên, đệ tử sẽ mang về thưởng thức hương vị đạo. Xin từ biệt Lão Mẫu. Thưa con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư trở lại Thánh Hiền Đường.

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:30 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    February 5th 2010, 8:13 pm
  • HỒI HAI MƯƠI MỐT

    DẠO CUNG BẮC HOA LẮNG NGHE BẮC HOA ĐẾ QUÂN THUYẾT PHÁP

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 23 tháng 3 năm Canh Thân (1980)


    Thơ

    Thanh sơn bán nguyệt thủy sàn lưu
    Đạo khách tâm đàm phiếm biển châu
    Trúc ảnh thanh lương trừ thử nhiệt
    Thân vô quái ngại lạc du du.

    Dịch

    Nước trên núi biếc mảnh trăng treo
    Khách dạo hồ tâm gác mái chèo
    Bóng trúc quạt nồng thêm nóng bức
    Thân không ràng buộc sướng làm sao.

    Tế Phật: Tu đạo như đi thuyền, phải dùng trí tuệ cùng ánh mắt cao sáng phân biệt phương hướng, còn không biển khổ bao la chỉ một chút không cẩn thận thuyền bị đắm chìm, đáng lí dùng thuyền để độ người mà thành ra sát hại sinh mệnh. Do đó kẻ tu đạo phải dựa vào trí tuệ để ngộ đạo, đạo ở ngay tâm há phải vào chốn núi sâu tìm kiếm sao? Trèo cây tìm cá cuối cùng chẳng được (duyên mộc cầu ngư chung bất khả đắc) mọi người đều cho mình là phải, kẻ khác là trái, cuối cùng biết tin ai là đúng? Lão tăng cho hay là tự tin ở “mình” sẽ được cứu độ, “mình” ở đây chính là “chân ngã” tức cái tôi chân chất, kẻ không tin nơi vị chủ tể của chính mình là cái ta chân thật ở trong ta thì kẻ đó làm sao có thể tu hành đắc đạo nổi. Bữa nay giờ viết sách đã tới thầy sẽ hướng dẫn Dương Sinh dạo thăm cõi thánh.

    Dương Sinh: Con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Bữa nay thầy trò mình sẽ dạo thăm cung Bắc Hoa, ra mắt đức Bắc Hoa Đế Quân xin ngài thuyết pháp để sách Thiên Đường Du Kí có thêm nhiều ánh sáng.

    Dương Sinh: Dạo thăm cõi trời Ngũ Lão đã mất nhiều thời giờ, bữa nay lại tới cung Bắc Hoa, phong cảnh mới hiện ra, phóng tầm mắt nhìn cảm thấy tối tăm lạnh lẽo, không khí ẩm thấp là tại sao?

    Tế Phật: Bắc Hoa là tinh hoa khí nước kết thành do đó mới có cảm giác như vậy, muốn rõ hơn phải thỉnh ý đức Đế Quân chỉ giáo.

    Dương Sinh: Thưa phải. Theo thầy xuống đài sen, càng đi tới cảm giác càng thoải mái... Phía trước cung điện nguy nga, trông giống như thủy tinh cung trong suốt sáng choang, đứng bên ngoài nhìn rõ hết phía trong, ánh sáng ngời tỏa như đèn xe chiếu trong mưa chói lòa. Tới trước điện thấy phía trên đề năm chữ “Bắc Hoa Thủy Tinh Cung”, hào quang lóa cả mắt khiến người ta phải thần phục. Trong điện có một vị tuổi tác khá cao, vẻ mặt trang nghiêm hiền hòa mỉm cười.

    Tế Phật: Mau hướng tới Bắc Hoa Quân hành lễ.

    Dương Sinh: Đệ tử là Dương Sinh bữa nay phụng chỉ theo thầy tới cung Bắc Hoa lạy mừng ra mắt đức Đế Quân cung kính mong ngài khai mở lí đạo nhiều cho.

    Bắc Hoa Đế Quân: Bắc Hoa là nơi phong cảnh huy hoàng tráng lệ, bắc phương Nhâm Quý thuộc thủy do đó mà Dương Sinh cảm thấy lành lạnh, mặc dù tiết trời về mùa hạ song ở đây cũng như ở trong nhà có máy lạnh, uống nước lạnh vẫn không cảm thấy lạnh cóng. Bắc Hoa như nhà mùa hạ gắn máy lạnh, quả là nơi thánh địa để nghỉ hè. Một người có đầy đủ sức đạo vào nơi cảnh giới này sẽ cảm thấy thư thái mát mẻ, ngược lại thân thể yếu đuối sẽ sinh nhiều bệnh, người âm khí dư thừa tới Bắc Hoa sẽ đông cứng mà chết. Bởi vậy người đời phải lấy tâm ôn hòa đối xử với nhau thì ngày sau tới Thủy Tinh Cung tại cõi trời Ngũ Lão mới được sống cảnh trong lành sảng khoái. Còn nếu như kẻ nào mà giữ tâm lãnh đạm vô tình hay hiểm độc, thân mình sẽ đầy khí âm khi gặp sự giá lạnh ở nơi đây ắt biến thành “Băng đóng cao ba thước sẽ lạnh giá hoài” (Băng đống tam xích, phi nhất nhật chi hàn) cửa âm phủ sẽ tự nhiên mở rộng nghinh đón kẻ đó vào.

    Dương Sinh: Đức Đế Quân nói rất có lí, người đời phải giữ lòng nhiệt thành với đạo xưa mới có thể quân bình và thích nghi nổi với cái nóng và cái lạnh, nếu như lãnh đạm vô tình với đạo ắt là tự đoạn tuyệt với hoài bão của trời đất. Kính thưa đức Đế Quân, đệ tử muốn biết rõ về lai lịch của ngài và làm cách nào để có thể học được những đức tính của ngài?

    ĐếQuân: Tôi là Thủy Lão trong Ngũ Lão, còn gọi là Thủy Tinh Tử. Nước là nguyên tố cần cho sự sinh trưởng của muôn loài, động vật, thực vật, chim chóc đều cần sự bổ sung của tôi, tôm cá cùng các loại thủy tộc cũng được tôi cứu mạng. Trong cơ thể con người nước lại chiếm tới bảy chục phần trăm, khi nào cơ thể con người bị khô nước, mất hết nước hẳn là không còn sống nổi. Tinh huyết cũng như nước đều là suối nguồn của sự sống, con người phải cố giữ lấy để khỏi mất tinh nghèo huyết còn nếu không tinh thần sẽ hôn mê, thân xác sẽ bơ phờ ngã gục, không những làm người đã khó mà làm Tiên làm Phật lại càng khó hơn. Nếu như chịu khó dày công tu luyện được thủy đức, thì sẽ sử dụng được trong nhiều lãnh vực, giờ tôi xin liệt kê một số điểm để chúng sinh tham khảo:

    1. Nước như tấm kính có thể dùng rất tự nhiên, mặt hồ trong lắng không có một gợn sóng, soi tỏ được bộ mặt thực mới mẻ của mình như vừa được tẩy rửa, sông núi đất đai, hoa cỏ cây cối đều hiện hình rõ hết trong nước, do đó mà người đời thường dùng hồ tĩnh tâm để biến cải biển khổ.

    2. Tính của nước thuộc nhu, nhu có thể thắng cương. Khi gặp nạn hồng thủy núi lớn, cây to, ruộng đất, nhà cửa bị cuốn phăng đi mất, đủ biết sức mạnh của nước mềm lớn biết chừng nào. Đá lớn bị nước xoi mòn sẽ biến thành cát, nhỏ hơn cả đá đem nghiền bằng máy. Người sống với người cũng nên có thái độ nhu hòa bao dung để mà đối xử với nhau hầu tránh đụng chạm, khỏi bị tổn thương.

    3. Hàng ngày mỗi người phải dùng nước rửa mặt, súc miệng, đánh răng, nấu cơm, luộc rau, tắm gội, rửa đồ, giặt đồ, lau sàn nhà, xối cầu. Lại còn năm hồ bốn biển tàu bè qua lại giao thông trên thế giới, tôi thấy rằng nước chảy tới khắp mọi nơi mọi chốn, tính rất khiêm nhường, bản tính rất quang minh trong sáng, suốt trong tới đáy nuôi sống muôn loài. Mong người đời học lấy tinh thần phục vụ hi sinh cao độ này, cùng tu thành một vị Kim Tiên trên nước.

    Dương Sinh: Thủy Lão cống hiến cho nhân loại hiện nay rất nhiều công dụng, không có nước không có sự sống, cho nên nói “nước sống”, kính xin Đế Quân thuyết minh thêm về hiện tượng sinh hóa của ngài để cho người đời được rõ thêm về sự ảo diệu của nước.

    Đế Quân: Hay lắm. Bắc phương Nhâm Quý thuộc thủy, với ngũ thường là trinh, ngũ sắc là đen, bốn mùa trên trái đất là đông, Hắc Đế (vua đen) giáng phàm là Thành Thang, nhân luân ngũ thường thuộc trí, trong cơ thể con người chủ về thận và xương, ngũ giới là rượu.

    1. Nước (thận, xương): Nước là nhu yếu phẩm cần phải có để duy trì sự sống, con người không thể một ngày không cần tới nước, ngày xưa nước giếng, nước sông, ngày nay nước máy, nước hiện diện ở khắp mọi nhà, nếu như ba ngày nước không tới hẳn là con người phải chết sớm? Không có nước nhà nông không thể trồng cấy, cá tôm chết sạch, thuyền bè mắc cạn. Con người phải học tinh thần giúp đỡ của nước, chỉ tiếc rằng nhân loại đời nay lại sẵn có thành kiến về tính vô định, nổi trôi phóng đãng không biết chốn về, lòng người như sông rạch dưới bóng mặt trời, đắm chìm quá sâu, biển khổ mênh mông, quay đầu là thấy bờ. Tuy nước cống hiến cho nhân loại như vậy nhưng người lại không thương nước, “tinh” là nguồn sống của cơ thể con người, tủy tinh ngưng kết thành xương, tạng thận chứa tinh, người đời nay dâm dục quá độ, thận thủy tiêu hao quá độ, nước khô, gân cốt lỏng lẻo, vai lưng đau nhức. Bởi vậy phải hết sức tiết kiệm nước, tạng thận có trữ được nhiều tinh khí thì tinh thần mới mạnh mẽ, tuổi thọ mới được lâu dài. Kẻ tu đạo thủy hỏa phải giao hòa tương thân tương ái mới đắc đạo nổi, bởi vậy cần phải nuôi dưỡng tính, tiết kiệm tinh để mà tu đạo.

    2. Trinh: Nước trong trắng, tính mềm mại như con gái nên được gọi là trinh khiết. Kẻ tâm đen tối, hành vi ô uế sâu dày, tính lãng mạn, tham ô, dâm dật không chịu giữ gìn trinh tiết đã tạo thành dòng chất độc chảy mạnh trong người, khi đó nước trong là thuốc tốt rửa sạch ô uế. Muốn khứ trược lưu thanh phải dùng nước trong tẩy sạch những dấu vết độc ác nhơ bẩn của nhân loại, khôi phục bản tính nguồn cội trong trắng mới có thể đạt tới sự tinh anh của Bắc Hoa.

    3. Đông (đen): Mùa đông lạnh lẽo, phải lo mặc thêm áo để chống lạnh. Bốn mùa tuần hoàn, mùa thu thâu mình, mùa đông ẩn náu, người đời bây giờ ở nhà cao cửa rộng, cổng sắt lớp trong lớp ngoài giống như giun dế, chẳng một ai hỏi han tới, tình người lạnh nhạt, sống ru rú một mình. Thế đạo suy vi, xã hội hoàn toàn đen tối, phải lo sống hài hòa, quên bớt cái ta để cho tâm bừng sáng hầu phá tan màn tối ám, không để cho gió lạnh mặc tình lùa thổi. Những ai bị vây hãm trong phòng kín phải phá tan bóng tối vây hãm, phục hồi ánh sáng.

    4. Trí (tửu): Bắc phương thuộc thủy, ngũ thường chủ trí, trí tuệ như nước nên có tiếng gọi “trí hải” “trí thủy”, phải lo cho trí tuệ trong sáng, cá tính như nước biến hóa linh động vô cùng. Song phải kiêng dùng rượu nếu không cây khô người tối, trí não hôn mê, luôn luôn sống cảnh đồi phong bại tục, cho nên có câu nói: “say rượu làm hại nước” (túy tửu ngộ giang sơn), mong người đời hiểu rõ điều đó.

    Tế Phật: Ha ha, hoa rụng có ý, nước chảy vô tình, một tấc ánh sáng một tấc vàng, nước chảy một đi không trở lại, chính là để răn người đời phải cố giữ đạo chớ để mất, thuyền bơi ngược dòng là cốt để thử thách ý chí của người tu đạo, đã nguyện với người đời là cưỡi thuyền từ tới đất Phật há lại cam chịu đắm chìm trong bể khổ hay sao?

    Dương Sinh: Đức Đế Quân thuyết pháp rất hợp với thế đạo ngày nay, lời lời thấu đạt chân lí, thấm nhập tâm đệ tử, ước mong đức Đế Quân không quản nhọc nhằn ân ban thêm lời dạy ngọc vàng.

    Đế Quân: Con người mỗi khi thủy yếu hỏa mạnh thì cơ thể sinh ra muôn thứ bệnh, nay ban một bài văn Bắc Hoa linh thiêng để chúng sinh đọc tụng ắt đạt được công năng diệu dụng của nước suối thiêng tuôn chảy. Bài linh chú như sau:

    Ngũ khí huyền thiên Năm khí trời huyền
    Thượng thủy tinh lưu Thượng nguồn tinh chảy
    Kết khí ngưng linh Kết khí ngưng linh
    Hiệu viết tiên lư Tên gọi lều tiên
    An trấn bắc hằng Trấn an bắc mãi
    Hắc đế sở du Hắc đế chu du
    Ngao yến bắc đơn Bắc yến riêng hưởng
    Tham long giá phù Cưỡi rồng lượn bay
    Kim nhật ngã thỉnh Bữa nay tôi mời
    Vạn linh khai đồ Vạn linh mưu sự
    Ngũ khí bồi hồi Ngũ khí bồi hồi
    Khánh vân tứ phu Hội mây mở rộng
    Tiên đồng chấp giản Tiên đồng nắm thẻ
    Thái huyền độ phù Thái huyền phù hiệu
    Kí ngã tiên tịch Tên ghi sổ tiên
    Kim lục thượng thư Sách vàng cõi trời
    Hồi chân khúc giáng Về ngay giáng long
    Hỗn hợp anh hài Hòa hợp trẻ thơ
    Nhị khí giao lạc Hai khí giao thoa
    Đồng quán ngã khu Suối rót thân mình
    Huyền minh huề đề Huyền minh dắt dẫn
    Thần tiên vi trù Thần tiên hội hợp
    Vĩnh hưởng thiên địa Hưởng hoài đất trời
    Vạn kiếp vô hưu Muôn kiếp chẳng hết
    Nguyện kì sở thỉnh. Ước mong lắm thay.

    Vì thời giờ có hạn, kì tới tôi lại hướng dẫn Dương Sinh đi dạo thăm tiếp các thắng cảnh kì diệu của Thủy Tinh Cung.

    Tế Phật: Cảm tạ đức Đế Quân đã ân ban bài văn siêu diệu, giờ xin cáo từ để hướng dẫn Dương Thiện Sinh trở lại Thánh Hiền Đường.

    Dương Sinh: Lòng nhân từ của đức Đế Quân ban bố khắp nơi, chúng sinh sẽ tin tưởng noi theo. Thưa con đã chuẩn bị xong, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:30 pm với 3 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    February 6th 2010, 6:08 pm
  • HỒI HAI MƯƠI HAI

    LẠI DẠO CUNG BẮC HOA LẮNG NGHE BẮC HOA ĐẾ QUÂN THUYẾT PHÁP

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 6 tháng 4 năm Canh Thân (1980)


    Thơ

    Hạ nhật kham dung bách xích băng
    Tâm vô quý lậu phong vân thừa
    Đồ đao phóng hạ thân thành Phật
    Mãn địa từ liên ngọc lộ ngưng.

    Dịch

    Trăm thước băng cao nắng dễ tan
    Cưỡi mây đè gió sướng muôn vàn
    Buông dao đồ tể thân thành Phật
    Khắp đất sen từ sương ngọc lan.

    Tế Phật: Ngày hè dễ làm tan núi băng trăm thước, tấm lòng nhân ái chứa chan cũng có thể cảm hóa được sự thù hằn ích kỉ của người đời. Khi trong lòng dứt sạch được những nỗi băn khoăn lo lắng thì có thể ngao du khắp chốn. Buông bỏ dao đồ tể chuyên đâm chém, giết chóc, làm hại người, lo bồi dưỡng tâm địa từ bi không gian trá, khắp mặt đất nở đầy sen vàng, thì sương ngọc long lanh trên cánh lá sẽ tẩy rửa sạch dao đồ tể nhuốm máu, khôi phục lại được bộ mặt sáng sủa khi trước. Bữa nay ta lại hướng dẫn Dương Sinh dạo thăm phong cảnh kì diệu Bắc Hoa, trò ngoan mau lên đài sen.

    Dương Sinh: Thưa con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Đã tới cung Thủy Tinh Bắc Hoa, chúng ta mau tới lạy chào ra mắt đức Bắc Hoa Đế Quân tức Thủy Tinh Tử, xin đức Thủy Lão hướng dẫn đi thăm phong cảnh tươi sáng Bắc Hoa để mở rộng tầm con mắt.

    Dương Sinh: Hay lắm, khí tượng cung Bắc Hoa thật lạ lùng khác xa các nơi khác, tiết trời ở trần gian lúc này nóng nực, nhìn lại thân thể mình ở dương gian đẫm mồi hôi, nhưng linh thể tới đây lại lạnh lẽo vô cùng... Đã tới phía trước cung, thấy có rất nhiều những vị đạo cao đức rộng, các vị đó đi đi lại lại, coi có vẻ rất nhàn nhã thảnh thơi, khiến ai nhìn thấy cũng có cảm tình... Đệ tử Dương Sinh xin lạy chào ra mắt đức Đế Quân, bữa nay đệ tử theo thầy tới đây mong được đức Đế Quân ân ban lời vàng ngọc.

    Đế Quân: Lành thay, Dương Sinh bữa nay lại tới nhà lạnh, không rõ có điều chi muốn chỉ giáo?

    Dương Sinh: Thưa không dám, đức Đế Quân dạy như vậy khiến đệ tử lo lắng rằng đệ tử không thụ giáo nổi những điều đức Đế Quân sẽ chỉ dạy, còn không thì đức Đế Quân cũng muốn thử trí đệ tử.

    Đế Quân: Nhà lạnh chẳng có chi quý báu, chỉ có chén nước trà lạnh mời khách, mong Dương Sinh không khách sáo dùng tạm.

    Tế Phật: Đức Đế Quân ân ban cho Dương Sinh trà Thủy Tinh Bắc Hoa là thứ trà quý như nước cam lộ của Quán Âm Đại Sĩ, có phước lắm mới được thưởng thức loại trà kì diệu này, con chớ làm khách hãy uống mau đi mới thấy được hương vị lạ lùng.

    Dương Sinh: Uống xong chén trà mát Thủy Tinh, cảm giác ban đầu thấy lạnh khắp mình, giống hệt như uống nước đá lạnh vậy, trong mát vô cùng.

    Đế Quân: Trà này là tuyệt phẩm của Bắc Hoa có công dụng lọc máu để giải độc cùng trừ hỏa để tính tình trở nên hòa nhã, những ai ở dương gian rành uống trà đều biết là trà trồng trên núi cao giá lạnh mới là thứ trà cực quý, chỉ có loại trà ở trên đỉnh núi lạnh mới hấp thụ được linh khí của Thủy Tinh Bắc Hoa và giải độc trừ độc được mà thôi. Nên bữa nay Dương Sinh tới nhà lạnh Bắc Hoa chỉ có chén trà lạnh này mời khách đấy thôi, lễ khinh tình ý trọng, xin chớ có chê.

    Dương Sinh: Cảm tạ đức Đế Quân đã ân ban trà quý. Người quân tử điềm đạm như nước, đệ tử cảm thấy vị trà quả là đậm đà ngọt ngào hơn bất cứ thứ hương vị nào khác.

    Đế Quân: Dương Sinh nói rất đúng, tặng một chén nước cho kẻ đang khát còn quý hơn cho vàng. Người đời đều tính toán từng li từng chút không chịu giúp đỡ kẻ khác, thứ khí chua lạnh ấy không được hoan nghinh vậy. Hi vọng người đời hãy chịu tốn một giọt mồ hôi để giúp đỡ kẻ khác, tin tưởng rằng sau cuộc đổi đời, thân tâm mình sẽ được hưởng nhiều ơn phước. Kìa hãy trông nước trong sạch chảy người người đều ưa, còn nước nhơ bẩn sát hại côn trùng chẳng ai dám gần. Muốn là kẻ “chết cứng” hay là người “sống mềm”? Phải chăng cái đó hoàn toàn tùy thuộc ở sự giữ kĩ tiền hay đem tiền bố thí cho người, vì bố thí không chỉ giúp đỡ kẻ khác mà còn giúp cho đồng tiền lưu thông, tránh khỏi trở thành tiền chết, sinh ra vi trùng có phương hại tới sức khỏe của chính bản thân. Người đời có lên tới được từng trời Thủy Tinh Ngũ Lão mới thấy được tinh thần của cuộc sống ban phát hết tiền tài, bởi vì giữ tiền là nô lệ, là quỷ thích tiền, quỷ ti tiện, những kẻ đó chỉ có một con đường duy nhất để đi, đó là con đường “tư hữu” dưới địa ngục mà thôi. Giờ đây tôi xin hướng dẫn Dương Sinh đi tham quan thắng cảnh kì diệu Bắc Hoa để mở trí cho người đời.

    Dương Sinh: Lời dạy của đức Lão Thủy mỗi câu đều hàm chứa chân lí siêu diệu vô cùng.

    Đế Quân: Hãy theo tôi.

    Dương Sinh: Đi theo sau đức Đế Quân giống như đi dưới bóng cây râm, khí mát ngập tràn. Các đạo sĩ qua lại thấy chúng tôi đều chào hỏi có cảm tình... Đi tới một nơi phía trước có một trái núi, dòng thác từ trên đỉnh đổ xuống giống như dải lụa buông lơi cực kì mĩ lệ, âm thanh nổi lên bốn phía như tấu nhạc trời, phong cảnh đẹp đẽ kì diệu biết bao, chẳng rõ có ngụ hảo ý gì chăng?

    Đế Quân: Đó là ấn chứng của những điều vừa mới trình bày, dòng suối đang tuôn chảy trong suốt tới đáy, không mảy may vương đục, nước chảy sóng gợn lăn tăn muôn màu muôn vẻ, lại còn phát ra âm thanh êm dịu như tiếng nhạc lời ca vô cùng tự do, tiêu dao và tự tại. Nhìn xuống thấy tôm cá bơi lội nhởn nhơ quả là nước đã nuôi sống không biết bao nhiêu sinh mệnh. Dòng nước chảy phấn khích tinh thần tiến thủ, đấu tranh để nhắc nhở người đời không được lười biếng và bất động, hãy học lấy tinh thần tự cường không mỏi mệt của nước chảy, có như vậy gân cốt của mình mới không ngay đơ bại xụi, “tiền thủy” tức nước tiền, nước quý như tiền, ta có đem ứng dụng nó một cách linh hoạt mới có nhiều tiền giúp đỡ chúng sinh, nếu như đem dòng suối ngọt này phân phát ra cho mọi người cùng hưởng thì hẳn là công đức sẽ vô lượng vô biên.

    Dương Sinh: Nước ngụ biết bao ý nghĩa cao sâu, hàm chứa tấm lòng quảng đại vô biên, công đức của đức Lão Thủy hiện thời thực quá lớn lao thay.

    Đế Quân: Dương Sinh hãy đi theo tôi...

    Dương Sinh: Thưa vâng. Qua một con đường nhỏ tới một vùng đất cằn cỗi, cây cỏ úa vàng khô héo, phía trước có một trái đồi trọc, hoàn toàn thiếu màu xanh và sức sống, dưới chân đồi còn có một cái ao rộng, nhìn màu nước coi có vẻ rất độc và tù hãm, không một thứ sinh vật nào sống nổi là tại sao, và vì lẽ gì ở đây lại có tới hai loại phong cảnh quá khác biệt nhau như vậy?

    Đế Quân: Trái đồi này gọi là đồi suối vàng, còn cái ao ở dưới gọi là ao suối vàng ăn thông thẳng với địa ngục, do đó mà địa ngục còn kêu là suối vàng. Nước ở suối vàng là nước chết nên không lưu thông và không có sức sống, vì vậy mà cây cối chung quanh khô héo mặt đất nứt nẻ cằn cỗi. Người ta nếu như chỉ coi tiền tài là của riêng, không chịu để lọt ra ngoài một đồng một cắc giúp đỡ kẻ nghèo ắt sẽ như nước chết sinh côn trùng. Hãy nhìn những đất trên các đồi trọc tại dương gian thảy đều chết chóc, cuối cùng hóa thành đất vàng, nước dơ dáy đục ngầu chảy thành suối vàng, nước đó ngấm vào thân người khiến xương trở thành xương khô, xương trắng cuối cùng giúp ích được gì? Người đời phải lo tu dưỡng chính khí, khí mạnh xung thiên giúp ích cho người, lưu danh muôn thuở. Còn không xú khí sẽ tràn đầy thân xác tạo thành luồng khí độc, hành động bất cứ việc gì cũng đều để lại sự xấu xa ô uế mà thôi, sau khi chết đương nhiên suối vàng sẽ hiện ra trước mắt. Còn nếu như tâm địa trong sạch, không mưu đồ đen tối, sau khi chết được tắm nước trong, thân xác trở thành thân pháp, uống trà cam lộ Thủy Tinh Bắc Hoa, khoảnh khắc cảm thấy thân tâm mát mẻ, tỉnh giấc mộng lớn phàm trần, khi thoát xác liền tới được thiên đường cực lạc. Có muốn lựa chọn thứ nước đó không? Nếu muốn điều cần nhất là chớ đi sai đường nước chảy.

    Dương Sinh: Nghe xong những lời đức Đế Quân vừa truyền dạy, lòng đệ tử vô cùng cảm động, thiên đường địa ngục đều không hề có lối, nguyên cũng là tại phân biệt đó thôi.

    Đế Quân: Giờ đây tôi lại hướng dẫn Dương Sinh dạo thăm cung Thủy Tinh, để thấy rõ quá trình tu đạo Bắc Hoa.

    Dương Sinh: Cảm tạ đức Đế Quân đã hết lòng chỉ giáo, đệ tử xin lắng nghe Đại Đạo Bắc Hoa.

    Đế Quân: Hãy theo tôi tới phía trước cung Thủy Tinh để tiện hỏi đạo.

    Dương Sinh: Đường thiên đường vô cùng xa xôi song có thể thâu nạp được tất cả các giới đạo sĩ, chỉ cần làm sao hợp được với khí hậu và hoàn cảnh là đều có thể tới đây cùng thể hiện chân lí đạo mầu... Theo chân đức Đế Quân lại đi tới một cảnh giới mới, phía trước thấy hiện ra một tòa cung điện rộng lớn vô cùng, trong ngoài nhìn thấu suốt không vương một hạt bụi, phía trên có đề sáu chữ: “Viện tu đạo Thủy Tinh Cung”.

    Đế Quân: Đây cũng là cung Thủy Tinh, phía trong có các bậc cao chân cùng lính thủy cá tôm đang luyện đạo, Dương Sinh có thể vào trong phỏng vấn họ.

    Dương Sinh: Xin tuân lệnh. Phía trong linh khí vô cùng mạnh mẽ, đệ tử có cảm giác bị chê bai giống như có sức đẩy ngược linh thể trở lại.

    Tế Phật: Chớ có sợ hãi, bởi lẽ các đạo sĩ đang tập trung tinh thần để điều dưỡng linh khí Bắc Hoa, họ sẽ tạo được sức mạnh dời non lấp biển do đó mà con mới có cảm giác như vậy. Con có thể hỏi các vị đó về lí đạo.

    Dương Sinh: Hay quá... Dung nhan quý vị đó sáng rực hào quang, trên đỉnh đầu bạch quang tỏa sáng ngời, lạnh băng song vẫn cảm thấy có sức nóng... Xin cho biết về pháp tu mà quý vị đang tập luyện, pháp này kêu là pháp gì, chúng sinh dưới gầm trời có học tập được không?

    Đạo Trưởng: Dương Sinh từ dương gian lên đây phỏng vấn quả là kì duyên, phương pháp tu đạo có rất nhiều, nói đến quá trình tu đạo của tôi, thực ra thì cũng chẳng có gì gọi là bí quyết. Tôi lúc còn ở tại thế gian là tay cự phú, song tôi lại khinh tài trọng đạo, chẳng chịu làm đầy tớ cho đồng tiền, do đó mỗi khi nghe thấy ở đâu có tai biến hoặc nghèo khổ cần sự giúp đỡ tôi đều giúp liền. Đối với địa phương cần tiền bạc đất đai để xây dựng, giáo dục nhân tài, tôi đều cống hiến, do đó mới được tặng mấy cái tên là “đại thiện nhân” cùng “tán tài tiên” tức là vị tiên ban phát của cải. Lúc về già trì trai tu đạo, giảng kinh thuyết pháp, độ người hướng thiện, làm công tác từ thiện cải cách phong tục. Lúc sống suốt đời tôi lo thực hiện hoài bão cứu nhân độ thế, vì vậy đã cảm hóa được rất nhiều người. Năm bảy mươi tám tuổi từ giã cõi đời, công quả viên mãn, được lên cõi trời Ngũ Lão để tu luyện thêm, hiện tại tôi đang lo bồi dưỡng nguyên thần tại Thủy Tinh Cung đã tới giai đoạn “viên quang” tức hào quang tròn đầy. Nếu như lúc tại thế tôi chỉ lo mưu đồ tiền của, sống xa hoa dâm ác hẳn là ngày nay đã bị đày xuống địa ngục để thanh lọc cái thân ô uế, thì làm sao còn có thể tiêu dao vô tận tại nơi đây, sở dĩ tôi tự cảm thấy số tôi được may mắn là vì tôi không bị tiền tài mê hoặc. Làm người nếu như tôn trọng giữ gìn được chữ “công” tức là chung, đâu đâu cũng nghĩ tới việc lo cho người ắt là chư Tiên Phật sẽ lo cho mình, cùng tranh thủ để mình được tới đích. Như nay tôi có thể ở chốn này sống vô ưu vô sầu là nhờ lúc trước dốc tâm cứu đời nên mới được như vậy. Mong người đời bỏ giả tu chân, chớ nhận dối làm thật để tránh khỏi mãi mãi nghĩ giả để rồi cuối cùng phải ngậm đắng nuốt cay tại địa ngục.

    Dương Sinh: Cảm tạ những lời chỉ giáo của đạo trưởng, phải là người trừ tuyệt được lòng tư dục mới đạt được niềm vui sướng của sự chí công vô tư này, trời xanh quả là công bình. Còn lính thủy cá tôm đang bơi lội vui đùa kia chẳng rõ đạo hạnh của chúng như thế nào?... Tôi vừa nói xong, một con tôm lớn đột nhiên mở miệng nói: “Anh chớ coi khinh anh em chị em ở trong nước chúng tôi, ngày hôm nay chúng tôi tới được nơi đây hẳn là cũng tạo được một đoạn lịch sử phi phàm, anh hãy lắng nghe. Lính thủy cá tôm là sinh vật thịt mềm nên bị ăn thịt nhiều, nhưng suốt đời chúng tôi lại chỉ uống nước ăn rêu sông biển, không hề cướp của bạn mà ăn thực hiện đức hiếu sinh của trời nơi thượng giới, tình đồng loại của người nơi hạ giới, sống thanh bạch như vậy một đời, do đó mà ngày nay mới lên được đến đây. Chúng tôi tuy gọi là lính thủy cá tôm, song tâm chúng tôi với tâm Phật là một, do đó không lâu chúng tôi sẽ thoát xác hóa thành thân người, pháp tướng sẽ xuất hiện, so sánh với các đạo sĩ kia sẽ chẳng khác nào. Các vị đạo sĩ kia phần lớn đều do chúng tôi biến hóa thành, chỉ cần sau khi tu luyện xong, công phu thành thục, tất nhiên thoát xác. Người đời cũng đã từng cư ngụ trong vỏ tôm, hi vọng họ không bội phản chính thân thể mình, bình đẳng cùng cầm thú, nếu như còn sai trái sau khi thoát xác ắt sẽ mang lốt cầm thú, chịu luân hồi đổi kiếp.”

    Tế Phật: Đạo hạnh đó của lính thủy cá tôm không những đã không được người kính trọng mà cá tôm lại còn phải hi sinh tính mạng để nuôi người, do đó cá tôm đôi khi chẳng cần phải trải qua “tứ sinh hồi hồn phủ” tức là phủ hoàn hồn bốn loài sinh vật là hóa (côn trùng sâu bọ), thấp (cá tôm ốc hến), noãn (chim muông gà vịt), thai (cọp beo trâu bò lừa ngựa). Loài người ăn thịt loài động vật yếu mềm, phải chăng là lớn ăn nhỏ? Mong rằng sau khi bạn tôm thuyết pháp thực khách bỏ được thói quen ăn thịt các loài động vật. Tuy thời giờ eo hẹp song cũng đã trình bày được một phần thắng cảnh Bắc Hoa để người đời thấu tỏ, mong chúng sinh dưới gầm trời thể hội được những điều vừa tiết lộ ở trên, song điều cần thiết nhất vẫn là chớ tự phản bội việc được mang hình hài con người của chính mình. Cảm tạ đức Đế Quân đã chịu nhọc nhằn dắt dẫn Dương Sinh, giờ xin cáo từ.

    Dương Sinh: Đa tạ đức Đế Quân đã ân ban chỉ giáo, kính mong từ nay trở về sau mãi mãi còn được đức Đế Quân ban thưởng linh quang ơn ích. Giờ xin kính biệt.

    Đế Quân: Tế Phật cùng Dương Sinh quả là đã trải qua bao gian khổ, tôi xin ban thưởng nước trí tuệ Bắc Hoa cho tính linh của Dương Sinh, từ nay công tác phổ độ chúng sinh tin rằng sẽ linh thông không còn trở ngại.

    Dương Sinh: Xin cúi đầu lạy tạ đức Đế Quân đã ân thưởng... Đệ tử nguyện kính tôn lời đức Thánh dạy, gia công tu tâm sửa tánh để trước độ mình sau độ người... Thưa con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư trở lại Thánh Hiền Đường.

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:30 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    February 6th 2010, 6:59 pm
  • HỒI HAI MƯƠI BA

    DẠO CUNG TRUNG HOA LẮNG NGHE

    TRUNG HOA ĐẾ QUÂN THUYẾT PHÁP

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 16 tháng 4 năm Canh Thân (1980)


    Thơ

    Thần tiên tối ái độc thư gia
    Phẩm đức thanh cao tuyệt điểm hà
    Ngọc chú kim kinh ngưng đạo khí
    Tiêu dao thế ngoại giá vân xa.

    Dịch

    Thần tiên rất thích đọc thư nhà
    Phẩm đức thanh cao tuyệt biết bao
    Chú ngọc kinh vàng gìn khí đạo
    Xe mây thoát tục sống tiêu dao.

    Tế Phật: Phẩm đức thanh cao, tính linh nhẹ nhàng niệm ngọc kinh linh chú, kết thành vòng linh khí, hóa thành những áng mây trắng, tiêu dao tại cõi trời xanh biếc, vô cùng tự tại. Thể xác thế nhân hiện nặng mang bao nhiêu là tội ác, chân đạp lên mây trắng, khiến biến thành chướng khí, khói ô uế đọa lạc chốn địa ngục. Dương Sinh lên đài sen, chúng ta chuẩn bị cuộc hành trình mới.

    Dương Sinh: Thưa con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường. Không rõ hôm nay thầy dẫn con dạo thăm chốn nao?

    Tế Phật: Bữa nay chúng ta bái kiến đức thánh Hoàng Lão cư ngụ tại cung Trung Hoa... Đã tới cung Trung Hoa, chúng ta chuẩn bị nhất tề bái hội đức Đế Quân.

    Dương Sinh: Thưa hay lắm. Cảnh trí ở đây thật quá ưa thích, cây cỏ xanh tươi, ngàn chim bay lượn, đằng trước có một tòa cung điện nguy nga màu sắc vàng chói, phía trên có đề ba chữ “Trung Hoa Cung”. Hai bên có vô số quý vị đạo sĩ xếp hàng nghinh đón chúng tôi, quả là xấu hổ, chúng tôi đâu dám làm phiền Thánh thượng.

    Tế Phật: Trung Hoa Đế Quân cư ngụ tại chốn trung ương của trời Ngũ Lão, được tôn làm Hoàng Lão, đạo cao vô cực, chúng ta hãy tới trước cung kính yết kiến dung nhan Thánh thượng.

    Dương Sinh: Xin tuân lệnh. Trong điện thấy một vị thánh thân mình to lớn, vẻ mặt trang nghiêm... Đệ tử Dương Sinh xin cúi đầu lạy chào ra mắt đức Đế Quân, bữa nay phụng chỉ theo ân sư Tế Phật dạo tam giới viết sách Thiên Đường Du Kí để khuyến hóa thế nhân, kính mong đức Đế Quân khai mở mối đạo siêu diệu cho đệ tử được tỏ tường.

    Đế Quân: Lành thay, tất cả sự bí mật ảo diệu tại cõi trời đã được tiết lậu hết trong sách Thiên Đường Du Kí, không chỉ chúng sinh ở chốn Trung Thổ thụ hưởng lợi ích mà tất cả nhân loại trên khắp mặt địa cầu đều được thấm nhuần thanh quang điển lành. Dương Thiện Sinh đạo căn thâm hậu nên trời mới trao cho trách nhiệm nặng nề, dưới thì mở cửa địa ngục để độ hồn quỷ thoát khỏi cảnh khổ, giữa độ muôn ngàn chúng sinh giác ngộ đại đạo, thành tựu chân lí, trên mở cửa thiên đường cho những chúng sinh có duyên tiến vào, đạo quả lớn lao xin chúc mừng trước. Tôi là một trong số Ngũ Lão, vị ngụ tại trung ương Mậu Kỉ là chỗ tâm trời, chúa tể mười phương, người đời chẳng thể xa rời đất đai là chốn cư ngụ, cho nên tôi là Thổ Lão đã biến hóa ra đất rộng ban phát cho loài người. Song lòng người ngày nay thua xa thuở xưa lại thêm thế đạo suy đồi thế giới không một nơi nào được yên ổn khiến lòng tôi buồn rười rượi.

    Dương Sinh: Bước đi của nhân loại hiện thời đại loạn, do đó mà cát bụi bay mù trời khiến con người không mở nổi mắt, điên đảo thị phi, không còn tìm ra được phương hướng, kính xin Đế Quân từ bi khai mở đường sáng.

    Đế Quân: Trung Thổ là chủ của ngũ hành, bốn hành kim mộc thủy hỏa phải ở trên đất mới lập thành nổi, kim sinh từ thổ, mộc nhờ thổ mà lớn, thủy từ trong đất mà ra, hỏa dựa vào thổ mà sáng, thổ ở ngay chính giữa, vạn vật phải nhờ thổ nuôi dưỡng mới có thể sinh trưởng thành tựu. Đất trồng các loại rau đậu, hoa cỏ, nhà cất trên đất, xe cộ chạy trên đất. Tàu bè tuy chạy trên sông, song dưới đáy là đất, phi cơ bay trên không trung nhưng khi ngừng bay cũng đậu trên đất, nhân loại sinh tồn trên mặt đất, ăn ngũ cốc để sống, sau khi chết cũng về nơi gốc đất, do đó mới nói: “đất sinh đất nuôi” (thổ sinh thổ dưỡng). Đủ biết đất với người quan hệ mật thiết biết chừng nào, nếu như người đời học nổi tính chịu đựng của đất, dầu bị con người giày đạp song vẫn kiên nhẫn tài bồi vạn vật thì sau một trăm năm thân chết về đất ắt là linh khí về nơi đất tĩnh tại cõi trời, không bị nhận chìm xuống đáy cặn bã nhơ bẩn địa ngục, đày đọa nơi tối tăm không có bóng mặt trời, vĩnh viễn chẳng thể siêu thăng. Mong thế nhân đang sống trên mặt đất hãy làm kẻ đội trời đạp đất chớ đừng làm loại giấu đầu để lộ cái đuôi.

    Dương Sinh: Đức của đất vĩ đại vô cùng, hiện thời thân thiết với vạn vật quá nhiều. Kính xin đức Đế Quân giải thích rõ về sự quan hệ mật thiết giữa Hoàng Lão và chúng sinh để nhân loại được tỏ tường, giúp ích thêm cho việc tu dưỡng.

    Đế Quân: Rất hay, giờ xin đem sự sinh hóa diệu dụng của Thổ Lão phân tích rõ như sau: Trung ương Mậu Kỉ thuộc “thổ”, tại trời ngũ thường là “càn”, ngũ sắc thuộc “hoàng”, tại đất là “bốn mùa”, hóa sinh tại nhân gian là “Hiên Viên”, nhân luân ngũ thường là “tín”, thân thể con người chủ về “tì nhục” tức lá lách, ngũ giới chủ về “vọng” tức xằng bậy.

    1. Thổ: Con người cư ngụ trên đất, kiến trúc nhà cửa, đường sá giao thông không thể không bám vào đất. Sĩ nông công thương thì giờ gần gũi đất quá nhiều, đồ ăn được đất tài bồi. Cá tôm tuy sống trong nước song dưới đáy lại là đất, chim tuy lượn giữa không trung, chiều tối trở về tổ làm trên cây nhưng cây lại mọc trên đất. Người ta lấy nước trong sạch từ đất, nước ô uế lại chảy về đất. Vật hôi thối bài tiết sau khi ăn cũng trở về đất, đức đãi người của đất quả là quá sâu dày không tưởng tượng nổi. Rất nhiều người lại chẳng nhớ đến đức dày của đất dưới chân mình lại có thể như vậy, hãy mau mau bồi dưỡng tâm địa của chính mình, không lo báo đền ơn cha trời mẹ đất, đã sống trên đất lại còn làm điều phi nhân bất nghĩa, phá rối an ninh trật tự nơi địa phương mình ở, tội ác này quá nặng linh khí của họ sẽ lần lần bị thổ thần thâu hồi, đường trốn lánh càng đi tới càng ngắn dần, cuối cùng bị giam giữ trong khoảnh đất nhỏ xíu nơi nhà ngục hàng ngày đi lại chẳng được, đó là ác nghiệp quả báo vì đã phản bội lại đức lớn của đất gây nên.

    2. Càn: Càn là trời là dương, cũng như khôn là đất là âm, người xưa nói: “trời sinh đất nuôi” (thiên sinh địa dưỡng), công tác chính yếu trong việc nuôi dưỡng loài người là do đất, đức của trời đất gọi là sinh, ở dưới gầm trời mà không giữ đạo đức cùng nhân luân tức là tự chôn vùi tư cách trở về trời của mình, do đó mà đất bao hàm vạn vật, trời tuy xa xôi không nhìn thấy, còn đất gần gang tấc nên có thể tu.

    3. Bốn mùa (vàng): Bốn mùa là xuân hạ thu đông, Hoàng Lão ở chính giữa, bao hàm sự tinh anh của bốn mùa, không có hoàng thổ tài bồi thì xuân sinh, hạ trưởng, thu thâu, đông ẩn đều chẳng thể thành lập nổi, Hoàng Lão nắm tất cả trước sau trái phải cùng bốn mùa trong tay, như một thân cây. Nếu không có xuân hạ thu đông, cành lá làm sao sinh hóa nổi, gốc đất vĩnh viễn cố định bất biến. Lấy việc tu đạo làm thí dụ, triều đình vàng ở giữa, trung ương Mậu Kỉ thuộc thổ gọi là “huyền quang” tức cửa huyền, cai quản mọi hoạt động thuộc về cơ thể con người, là căn nhà, là chủ nhân ông của nguyên thần, như bốn mùa trong năm, nếu nhận chân được thời tiết mà trồng trọt nhất định sẽ thu hoạch được nhiều. Trời huyền đất hoàng, hoàng là màu vàng là sắc quý trọng trang nghiêm, đạo vàng là tốt, đạo đen là xấu, mong người đời phải gìn giữ đạo đức trong bốn mùa, phát huy lớn rộng đạo vàng ắt thần thiêng liêng giáng lâm, hung khí, sát khí thoát lui, ánh vàng tốt lành soi chiếu cứu độ.

    4. Tín, vọng (tin, xằng bậy) tì nhục (lá lách): Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín là năm mối dường của người, không kể nhân, nghĩa, lễ, trí, tín chỉ tạm kể tín ta cũng thấy là nếu như người không có chữ “tín” ắt chẳng thể đứng vững, cho nên phải biết “tín” là chủ của ngũ thường. Trung ương Mậu Kỉ thổ, thổ thuộc tín cho nên có thể bàn về tín. Thổ giữ tín nhiều nhất, trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu, tơ tóc chẳng sai, gieo gì mọc nấy tuyệt đối không thất tín, dối trá. Người đời lại thường vứt bỏ chữ tín, bội ước, bội tín, kí chi phiếu không tiền bảo chứng, gian lận sổ sách, nạn lừa đảo gia tăng không ngừng. Một kẻ chuyên bội tín lừa đảo, khổ chủ truy nã tới cùng chẳng tha, hắn phải trốn chui trốn nhủi, đất rộng mà không thể tự do đi lại, chỉ còn cách trốn tới một nơi hẻo lánh nhỏ hẹp không một ai biết về mình để khỏi bị kẻ khác nhận diện, báo cáo với nhà chức trách bắt giam tại nhà ngục nhỏ hẹp. Có khi bị dồn tới đường cùng tuyệt vọng phải tìm cái chết, thân xác bị vùi sâu ba thước đất. Trời đất mênh mông, tại sao người đời lại không lo chữ tín, hành chữ tín để được băng mình trên đường vạn dặm mỏi cánh chim bằng, lại rẽ vào ngõ cụt một bước cũng khó đi hoặc lạc vào đường cùng không có đất dung thân há chẳng buồn sao. Như thế đều là chôn vùi thổ khí Trung Hoa để đến nỗi tự làm tiêu tan kết quả. Lá lách và bao tử thuộc thổ, là khí quản tiêu hóa của cơ thể con người, ngày nay xuống giường chân chưa đụng đất đã vội mang giày, gấp tới công ti, hãng xưởng để lo làm việc. Xã hội công nghiệp sinh hoạt cần mau lẹ, hai chân chẳng bao giờ chạm đất, thổ khí không đủ, lại thêm ăn uống thất thường, do đó bệnh đau bao tử và ruột mỗi ngày một nhiều. Muốn trị bệnh đau bao tử cần phải giữ tâm bình thản trong lúc xử sự, ăn uống phải có điều độ đúng giờ đúng khắc, như gieo trồng ngũ cốc phải đúng thời tiết thì cây mọc mới tốt tươi. Ngày nghỉ phải ra vùng ngoại ô thành phố cắm trại, dạo chơi phong cảnh quên chuyện đi đứng vội vàng, gần gũi cây cỏ đất đai, chậm chạp đi đất, một sớm thổ khí dư thừa, giống như thảo mộc bừng tươi tốt, bệnh bao tử không cần thuốc mà chữa khỏi. Người đời nay ra khỏi cửa đều dùng các phương tiện giao thông để thay thế cho đi bộ, khiến đôi chân sau này đi đứng khó khăn. Thiếu vận động, bao tử đầy hơi, ợ chua, dinh dưỡng vệ sinh thất thường khiến thổ khí bại hoại, bao tử làm việc không điều hòa muôn bệnh tự nhiên phát sinh. Ở trên đất của Hoàng Lão phải tu đạo, dầu khó khăn cũng phải gắng vượt qua, cho nên có câu nói: “Vùng Trung Thổ khó sống” (Trung Thổ nan sinh), Trung Thổ tập trung tinh hoa ngũ phương, như thịt bao khắp thân thể, lục phủ ngũ tạng cũng là tinh hoa của thịt. Do đó người sống trên vùng Trung Thổ linh khí tốt vượng, kẻ có tâm tu đạo như cởi bỏ được lớp thịt da giả tạo mặc lại lớp khác thực sự là của mình, đi trên đất chân thực, khôi phục lại được bản chất thuần phác, mới có thể đắc đạo.

    Dương Sinh: Thưa như vậy là thế nào?

    Đế Quân: Đạo giáng Trung Thổ là bởi vì nhân dân ở Trung Thổ tính tình thuần hậu, có quan niệm về đạo đức nên có thể kham khổ nhẫn nại, cần mẫn tự cường, không ưa xa hoa rất hợp lòng trời. Do đó từ cổ tới nay, nhân sĩ dị kì đều sinh ra ở Trung Thổ, để người đời có thể giác ngộ được linh khí Hoàng Lão, xin ban một bài linh chú để sớm hôm tụng niệm ắt sẽ thần thông:

    Trung Hoàng Tung Sơn Trung Hoàng Tung Sơn
    Nguyên khí bồi hồi Nguyên khí bồi hồi
    Thượng hữu Nguyên Lão Trên có Nguyên Lão
    Thống lãnh tứ phương Thống lĩnh bốn phương
    Tham giá hoàng long Cưỡi lưng rồng vàng
    Ngũ sắc vũ y Áo lông năm màu
    Vận đạo cửu thiên Dẫn đạo chín trời
    Chuyển luân toàn ki Chuyển bánh xe pháp
    Hoán minh thổ tinh Sao Thổ sáng ngời
    Lưu quang tán huy Hào quang bay khắp
    Ngọc anh phương chi Cỏ Chi thơm ngát
    Sung ích tứ chi Ngào ngạt quanh mình
    Đào quán ngã thân Rót đẫm châu thân
    Tì phủ tiên khai Tạng phủ tưới nhuần
    Dưỡng nha xan tinh Nuôi dưỡng tinh khí
    Vạn thần tổng quy Vạn Thần cùng về
    Kiểm hồn chế phách Kiểm hồn chế phách
    Tiên luyện bát uy Tiên luyện tán uy
    Biểu lí đồng minh Trong ngoài sáng tỏ
    Trường sinh bất suy Trường sinh chẳng suy
    Thông chân đạt linh Thông chân đạt linh
    Thăng nhập thái vi. Nhập vào Thái hư.

    Tế Phật: Cảm tạ đức Đế Quân đã ban cho rất nhiều hồng ân, tới đây xin bái từ.

    Dương Sinh: Cảm tạ đức Đế Quân đã khai mở lí đạo siêu diệu, vì thời giờ có hạn, đệ tử xin cung kính bái từ đức Đế Quân để theo ân sư trở lại Thánh Hiền Đường.

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:31 pm với 2 lần trong tổng số.

Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group