Thiên Đường du ký - Dịch giả: Đào Mộng Nam

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • HỒI HAI MƯƠI BỐN

    LẠI DẠO CUNG TRUNG HOA LẮNG NGHE

    TRUNG HOA ĐẾ QUÂN THUYẾT PHÁP

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 9 tháng 5 năm Canh Thân (1980)


    Thơ

    Hỏa tản cao trương hãn thấp y
    Thanh phong phiến trúc ý lương vi
    Thương trường nhiệt liệt thiên kim trọng
    Bất nhược tăng gia hóa yến phi.

    Dịch

    Lửa cao manh áo đẫm mồ hôi
    Quạt trúc gió trong mát mẻ đời
    Buôn bán ganh đua tham lợi lộc
    Học làm én lượn sống đi thôi.

    Tế Phật: Ngày hè nóng nực không mưa móc, mọi người cảm thấy tim phồng khí khô, đất đai cũng quá khát nên mở lớn miệng chờ mưa đổ xuống. Con người sống trên đất phải lo tích trữ nước đạo đức, làm mưa móc ngọt ngào rửa sạch trần gian, sương trong mới khiến sự sống tưng bừng đua nở, sinh mệnh hết khô khan cằn cỗi. Bữa nay thầy lại hướng dẫn trò ngoan Dương Sinh dạo thăm cung Trung Hoa, vào bái hội đức Hoàng Lão để kính xin ngài khai mở lí đạo siêu diệu. Chuẩn bị lên đài sen.

    Dương Sinh: Thưa con đã chuẩn bị xong, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Đã tới nơi, chúng ta nên đến bái hội đức Hoàng Lão để lắng nghe ngài ban lời chỉ giáo.

    Dương Sinh: Nay được nghe đức cao minh thuyết pháp để mở trí quả là phúc đạo sâu dày. Cảm tạ ân sư đã có công hướng dẫn.

    Tế Phật: Đó là mệnh trời run rủi, là công lao cùng nhiệt tâm của thầy trong việc phổ độ chúng sinh, là sự cứu độ được rất nhiều người của Dương Sinh. Thầy rất lấy làm vinh dự được có một môn đệ như con, bữa nay dạo thăm tam giới cũng là do trời xanh sắp đặt, phải hết sức nhẫn nhục gánh trách nhiệm thì công việc viết sách Thiên Đường Du Kí mới chóng hoàn thành, nhiệm vụ phổ độ chúng sinh mới mau hoàn tất, hãy gắng lên.

    Dương Sinh: Cảm tạ ân sư đã rủ lòng thương chỉ giáo cho con, con xin tuân lệnh. Các vị đắc đạo cao minh tại từng trời Ngũ Lão vị nào vị nấy tướng mạo trang nghiêm, đạo khí phi phàm, tin rằng các vị đó đã mất rất nhiều công phu khổ luyện ngày nay mới thành tựu. Trên trời, dưới trời đều giống nhau, phải chịu gian lao khổ cực mới có thể thâu hoạch được kết quả... Tới nơi thánh địa Hoàng Lão cư ngụ, lòng cảm thấy buồn rười rượi không hiểu tại sao?

    Tế Phật: Đợi lát nữa thỉnh giáo đức Đế Quân sẽ rõ lí do.

    Dương Sinh: Thưa phải. Đệ tử xin cúi đầu kính lạy đức Đế Quân. Bữa nay đệ tử theo ân sư tới thăm đất Thánh quý báu, kính xin đức Đế Quân khai mở trí huệ cùng chỉ rõ bến mê cho đệ tử được tỏ tường. Hiện giờ đệ tử cảm thấy lòng buồn rầu bứt rứt không yên, không rõ nguyên do tại sao?

    Đế Quân: Ruộng tâm của chúng sinh chứa đầy lửa tham dục, không có lấy một giọt nước pháp cam lộ tươi tắm, ngẫu nhiên một trận mưa đổ xuống họ bèn chiếm trọn làm của riêng, không chịu chia sớt cho kẻ khác lấy một giọt. Không ngạc nhiên, là bởi tâm chúng sinh bị bít kín, động loạn, đói khát nên thiết nghĩ dầu khí lạnh, nước băng cũng khó làm cho nó lắng tĩnh nổi. Tâm con người vốn mơn mởn tươi tốt như cỏ xanh, lá thắm song chỉ vì bị lửa dục thiêu đốt cháy rụi, cho nên đời sống tinh thần đang xanh tươi mới trở thành khô héo, đất báu đạo vàng biến thành than đen, đất vàng đã biến chất, lửa bạo tàn lan tràn khắp chốn, khắp nơi. Vì sự biến hóa dưới đất mà trên trời cũng cảm ứng đó là lí do tại sao Dương Sinh đã lên tới chốn này mà lòng còn cảm thấy âu sầu buồn bã.

    Dương Sinh: Thì ra nguyên nhân là như vậy.

    Đế Quân: Bữa nay tôi hướng dẫn Dương Sinh đi tham quan phong cảnh kì diệu của cõi trời Hoàng Lão.

    Dương Sinh: Cảm tạ đức Đế Quân đã tận tình chỉ giáo... Ngài hướng dẫn chúng tôi dạo thăm khắp chốn, trong lòng vô cùng cảm kích, tới nơi thấy một nông trường lớn rộng, hoa cỏ cây cối tốt tươi, kết trái nhiều vô số kể, có cả lúa và mía làm đường giống hệt cõi trần thế, nơi đó có phải dương gian chăng?

    Đế Quân: Đất đai dưới trần đều do linh khí của tôi biến hóa mà thành, trời cũng ở tại nhân gian, nhân gian cũng giống trên trời. Con người đội trời đạp đất, kẻ tuân theo chính đạo đất họ đứng là đất yên, đất lành. Nếu như đem khoảnh đất nhỏ yên lành vui tươi đó mà mở rộng ra ắt là sẽ trở thành thế giới thiên đường vĩ đại. Tất cả những gì ở nơi đó có nhân gian đều có cả, những cái hiện ra trước mắt Dương Sinh đã giúp cho sự hiểu biết về thiên cơ rất nhiều, kẻ có duyên sẽ tự cảm ứng với cảnh mà giác ngộ.

    1. Những ruộng lúa kia nước thừa thãi, phân không thiếu, cỏ dại trừ sạch do đó kết được nhiều hạt, những bông lúa kia lại còn cúi rạp đầu kính chào Dương Sinh nữa đấy. Con người nếu như học được tinh thần này, nhất định đạo quả sẽ gặt hái được nhiều.

    2. Những vườn mía này vì đất quá cứng, không có nước tưới, mía mọc lên vỏ cứng ruột mềm thân thẳng rẳng, nước nhạt nhẽo, ăn chẳng ngon lành, hẳn là không được người ta ưa thích. Chúng sinh cũng giống như cây trái, có loại cương cường bất khuất song lại vô tình vô vị, những loại người này chắc chắn kẻ khác sẽ nhận ra rằng mùi vị của nó không phải là mùi vị đạo. Con người vốn là một hạt chủng tử từ cõi hỗn nguyên giáng thế gian rồi mới khôn lớn thành người, tiếp tục nở hoa kết trái sinh đẻ nuôi nấng để nối dõi đời sau. Còn ngược lại chắc chắn sẽ không đứng nổi trên đất thực, không hết lòng vì thiên chức, đem nguyên khí vào đạo đức của trời phú cho đem vùi hết sạch, thậm chí còn sinh giặc trên mặt đất, dùng gươm giáo sát hại sinh linh, ngọn cỏ cũng chẳng chừa. Song sát hại đời sống đồng loại cùng muôn loài chính là tự giết đời sống trí tuệ cùng đạo căn của chính mình. Cuối cùng thì những kẻ dùng võ lực đều không được đạo siêu diệu của Hoàng Lão chấp nhận, thực đáng tiếc thay. Ba thước trên đầu chúng sinh có thần minh, ba thước dưới đất nơi chúng sinh đứng có đạo lớn, chớ quá coi thường. Chân không đi nẻo tà ắt sẽ đi trên đường đạo, tay không nhúng vào chuyện bất nghĩa ắt thò tay là với ngay tới thiên đạo. Tu đạo chẳng khó khăn, chỉ cần chân tay đi đứng hành động nhất nhất tuân theo quy củ là thành công ngay, thực quá đơn giản.

    Dương Sinh: Lời dạy của đức Đế Quân quả là siêu diệu, thần minh ba bước trên trời thò tay có thể nắm, đại đạo dưới đất chỉ cần đi một bước đạt liền, quả là đại đạo chẳng xa, mà tại người xa đạo. Bởi vậy có câu nói: “Đầu đầu là đạo, bước bước là đạo” (Đầu đầu thị đạo, bộ bộ thị đạo...). Bãi cát ở phía trước kia lấp lánh rực rỡ vô cùng, mỗi một hạt cát đều sáng choang, quả là kì quan, kì quan, chẳng rõ đó là loại cát gì?

    Đế Quân: Đó là cát vàng cát bạc, trên thế giới người tăng nhiều, đất tăng ít, tấc đất tấc vàng, bởi vậy một chút đất cũng chẳng thể coi khinh, đất là chỗ đứng chân, không có đất vạn vật nghiêng đổ tán loạn, một hạt chủng tử vương vãi xuống nơi đất hẹp nó cũng có thể sinh sôi nảy nở ra hàng ngàn vạn trái cho nên đất rất quý. Trung ương nơi cơ thể con người là Mậu Kỉ thuộc hành thổ được gọi là núi Linh Sơn, mong người đời chăm lo bồi dưỡng, một sớm thành công, cũng có thể đơm bông kết trái, luyện thành một đấng chân nhân.

    Tế Phật: Dương Sinh hãy kể lại những điều vừa thể ngộ được xem sao?

    Dương Sinh: “Hoa tâm đầu cành đóa đóa khai, Mặt tỏ mỉm cười hiện Như Lai, Đạo mầu chẳng xa ngay dưới gót, Lặng thinh trong mắt một tiểu hài” (Chi đầu tâm hoa đóa đóa khai, Lộ nhan vi tiếu hiện Như Lai, Diệu đạo phi đao tại túc hạ, Nhãn trung tĩnh quán nhất tiểu hài). Thưa đức Đế Quân những lời con vừa trình tâu ngài thấy ra sao?

    Đế Quân: “Hoa nở trên đầu cành, Hạt rơi dưới chân sinh, Sinh diệt cảnh thay đổi, Thoát xác hiện chân linh” (Hoa khai chi đầu thượng, Tử lạc túc hạ sinh, Sinh diệt vô thường cảnh, Thoát xác xuất chân linh). Hay hay, để tôi hướng dẫn Dương Sinh tới phỏng vấn mấy vị cao minh đã đắc đạo.

    Dương Sinh: Cảm tạ đức Đế Quân hết lòng hướng dẫn. Tới nơi thấy rất nhiều vị tu sĩ, họ đi đi lại lại vẻ rất thảnh thơi, toàn thân ngời tỏa hào quang, ngoài ra còn có một số vị đang tọa thiền, điều hòa hơi thở để dưỡng thần, tới thăm thế này liệu có làm phiền quý vị đó không?

    Đế Quân: Đừng ngại, Dương Sinh phải lợi dụng cơ hội này phỏng vấn họ về kinh nghiệm tu hành đắc đạo trong thời gian qua để gây hứng khởi cho người đời.

    Dương Sinh: Thưa đương nhiên là phải như vậy con cũng không ngại ngùng e lệ. Vị tu sĩ cao minh này đạo khí hơn người nhưng vóc dáng lại giống một bác nông phu... Thưa Thánh thượng cao minh, xin ngài cho đệ tử được rõ về những kinh nghiệm tu đạo mà ngài đã trải qua.

    Hoài Đức Chân Nhân: Trong lúc thiền định và điều hòa hơi thở, tôi đã thấy linh quang của Dương Sinh từ trần gian bay tới. Tôi chẳng hề tu đạo lớn, hôm nay có được địa vị này là vì suốt đời tôi tôn trọng giữ gìn luân thường đạo lí, khi đi đứng không hề sai chệch một bước. Tôi trú ngụ ở cạnh một làng, cày ruộng để nuôi thân, nhân có một người cha thuộc nhà nghèo nhưng rất kính Thần trọng Phật, thường giảng cho tôi nghe những truyện tích xưa nói về lẽ nhân quả báo ứng. Từ bé đã được dạy dỗ hướng dẫn sống theo tinh thần đạo lí để bồi dưỡng tâm từ bi, nên những khi làm cỏ ngoài đồng, hễ gặp ếch nhái hoặc con cái nó tôi đều hết sức bảo vệ để nó được tiếp tục sống yên ổn trong khoảng tiểu thiên địa của nó. Sau khi gặt hái kết quả, tôi thường mang rau trái biếu hàng xóm dùng, mọi người vô cùng sung sướng. Suốt đời không bao giờ tôi khạc nhổ, tiểu tiện bậy bạ, hoặc chửi trời trách đất. Tôi giáng sinh xuống trần, đối với đất muôn phần kính trọng, không hề phá hoại các long mạch, ra sức bồi dưỡng địa linh, trồng cấy hoa màu, giúp đất đai phát huy linh khí, nuôi nấng chúng sinh giúp đỡ chúng sinh. Không ngờ tôi làm như vậy lại đắc “địa đạo” tức đạo đất, giữ gìn nhân luân lại đắc “nhân đạo” tức đạo người, người là hiện thân của đất, đất là hiện thân của trời, do đó mà chứng được “thiên đạo” tức đạo trời. Sau khi lìa đời, tòa án âm phủ xét thấy tôi không có tội mà còn có công, nên được phép lên cõi trời Hoàng Lão, luyện đạo tại cung Trung Hoa, cảm thấy được hưởng vinh quang tối thượng.

    Đế Quân: Nhất cử nhất động đã tuân theo đúng lẽ đạo thì chẳng cần phải vào núi sâu tìm đạo, mà các việc làm cốt sao tu được nhân tích được đức, bồi dưỡng được tính từ thiện, luôn luôn ôm ấp hoài bão cứu độ chúng sinh, vô hình trung linh khí nơi bản thân tăng gia, góp nhỏ thành lớn, cuối cùng linh khí đó sẽ ngưng kết thành vị chân nhân cao sáng. Ngay Tiên Phật lúc còn sống cũng luôn luôn coi việc cứu độ chúng sinh là trách nhiệm của mình, tùy theo hoàn cảnh mà tu luyện thân tâm. Nhà nông căn cứ vào thời tiết để gieo trồng hẳn là huê lợi sẽ thâu hoạch được thành quả lớn lao, do đó mà hiện nay các hãng các xưởng phải cần nhiều chuyên viên. Chỉ gắng làm việc thật cẩn thận, không phản bội thiên lí, loại người có thiện tâm như vậy, chính trời cũng muốn thâu hồi về cõi đất yên lành để gieo trồng các chủng tử, người đời chớ khinh thường vậy.

    Tế Phật: Tới đây đã dạo thăm xong được một phần của cõi trời Ngũ Lão. Cảm ơn tất cả những gì đức Hoàng Lão đã ân ban để giúp Dương Sinh đạt được lẽ đạo siêu diệu, chúng sinh rồi đây cũng nhờ đó mà khai mở trí tuệ. Tam Thanh Ngũ Lão là tinh hoa của đạo lớn. Ý nghĩa ảo diệu đã được tiết lậu hết ở đây, chúng sinh phúc đức sâu dày mới được may mắn coi sách quý này, mong những ai khi đọc xong Thiên Đường Du Kí hãy tĩnh tâm thể ngộ lí đạo cao siêu ở trong đó, cần nhất là đừng phóng ngựa xem hoa, lơ là sẽ gặp lỗi lầm, không làm đúng như lời dặn sẽ chẳng nhìn thấy trái quý ẩn sau đám lá hoa tươi tốt.

    Đế Quân: Hai vị cực khổ nhưng công lao cao vời, vì đã thân chinh lên hỏi thẳng tại cõi trời về lí đạo để viết thành sách, hi vọng người đời sau khi đọc xong sách này đều được lên thiên đường. Hoàng Lão tôi cũng mong được tiếp đón quý vị tại nơi đây.

    Dương Sinh: Khấu đầu lạy tạ đức Đế Quân đã chỉ rõ bến mê, ơn ích biết là bao nhiêu... Theo thầy trở lại Thánh Hiền Đường.

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:31 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • HỒI HAI MƯƠI LĂM

    DẠO ĐỘNG ĐÀO NGUYÊN VÙNG NÚI CỬU TIÊN

    HỎI ĐẠO ĐẠI TIÊN QUẢNG THÀNH TỬ

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 23 tháng 5 năm Canh Thân (1980)


    Thơ

    Nhân sinh như hí hảo đăng trường
    Diễn kĩ siêu quần thủ túc mang
    Quan chúng kháp kháp cổ chưởng tiếu
    Kịch chung nhân tán lệ mang mang.

    Dịch

    Tuồng đời tuồng rạp hệt như nhau
    Diễn khéo bao nhiêu cực bấy nhiêu
    Khán giả vỗ tay cười hể hả
    Mãn tuồng giải tán lệ tuôn trào.

    Tế Phật: Sân khấu nhân sinh, hỉ nộ ai lạc, bi hoan li hợp, mỗi cá nhân đều là một diễn viên đảm trách vai trò vô cùng xuất sắc, kĩ thuật trình diễn rất tài tình, khiến khán giả ngồi coi trố mắt hả họng vỗ tay cười hô hố. Tới khi màn hạ khán giả giải tán ra về, cớ sao tại hậu trường máu lệ chua cay lại chảy dầm dề? Ai là người hiểu nổi việc sân khấu này tái diễn màn bi hài kịch thống khổ đó? Mọi cá nhân trong một gia đình bất luận nam nữ trẻ già lớn bé, tất cả đều là diễn viên, hàng ngày họp nhau đóng vở tuồng đời bi hài cười ra nước mắt, để rồi tới ngày nào đó một trong hai cẳng bị bại xụi, thân lết không nổi trình diễn chẳng được liền bị con cháu đẩy ra khỏi hí viện gia đình tới chốn núi hoang đồng vắng độc diễn vở hài kịch “chàng độc cước”. Danh tiếng diễn viên một thời nổi như sóng cồn, tới khi chết liền bị chìm ngay vào quên lãng. Con cháu đứa nào đứa nấy nghênh ngang tự đắc, hình ảnh cha ông in đậm trong đầu óc nó ngày nào giờ đây phai nhạt tiêu tan, nhìn rõ sâu khấu đó rồi mới thực quá đau lòng. Lão tăng khuyên người đời chớ có bi thương, từ nay trở đi chẳng cần tái diễn vở bi hài kịch thất tình đó nữa, chúng ta hãy diễn vở Thần Tiên đại hội để cuối cùng mọi diễn viên đều thành Tiên thành Phật, há chẳng vô cùng sung sướng hay sao? Dương Sinh chuẩn bị lên đài sen, hôm nay thầy trò mình dạo chốn thiên đường, có nhiều cảnh giới đẹp mới mẻ, mau mau nắm lấy cơ hội thật tốt lành này, lập công lập đức để trước sau còn vui mãi.

    Dương Sinh: Xin tuân lệnh, chỉ mong sao màn kịch này diễn xuất cho thật sống động tinh tế.

    Tế Phật: Thần Tiên diễn xuất tuyệt diệu không thể tả được, trong kịch còn có thêm một lần kịch nữa. Giờ đây chúng ta hãy lên đài sen, thẳng tiến ngả thiên đường... Dương Sinh có cảm tưởng ra sao?

    Dương Sinh: Ngồi trên đài sen lòng thư thái vô cùng, đó là nhờ ơn ân sư dẫn dắt ngày nay con mới được hưởng ân huệ sâu dày tới mức này. Mong rằng chẳng chỉ một mình con được ngồi đài sen mà hi vọng tất cả chúng sinh có tâm đạo, mỗi người đều trồng được một đóa hoa sen trong trắng làm công cụ giao thông cho riêng mình, cùng hưởng đặng sự thanh tĩnh sung sướng nơi thiên đường. Bữa nay phải làm cách nào khai mở được giềng mối đạo cao siêu, hầu giới thiệu hết những cảnh kì quan trong sách Du Kí để chúng sinh có cảm tưởng như là đã đích thân tới thăm phong cảnh huyền diệu tươi sáng thiên đường.

    Tế Phật: Dương Sinh nói rất phải, nếu như chỉ thầy trò mình tới đây để thưởng lãm phong cảnh thiên đường không thôi thì thực là quá đơn giản và không mấy hứng thú.

    Dương Sinh: Chỉ trong chớp mắt đã tới nơi đây, phong cảnh kì diệu đẹp đẽ vô cùng, cây cỏ hoa lá xum xuê, đá lạ bày la liệt, linh khí tỏa ngợp giống như đang bềnh bồng bay bổng trong cảnh khói mây, đất Thánh quả là tuyệt vời. Tường đá phía trước có khắc dòng chữ “Cửu Tiên Sơn, Đào Nguyên Động” không rõ chốn này là đâu, do vị tiên cao minh nào cai quản?

    Tế Phật: Nơi đây là chốn cư ngụ của đức Quảng Thành Đại Tiên, chúng ta tới trước bái hội.

    Dương Sinh: Hay lắm, theo đường đi tới, như lạc vào giữa cảnh núi non có suối tuôn róc rách, cây xanh mọc thành rừng thanh tĩnh mát mẻ, quả là vùng đất Thánh để nghỉ mát tuyệt đẹp. Nhìn những thứ bày biện trong động đều là vật thiên nhiên, bàn đá ghế đá, có suối nước tuôn chảy, trên bàn đá còn bày đủ thứ trái cây mà chốn phàm chưa hề thấy, khiến thèm chảy cả nước miếng, trong điện có một vị đạo sĩ cao minh đang ngồi trầm ngâm. Thưa thầy có phải đức tiên ông Quảng Thành Tử kia không?

    Tế Phật: Đúng đấy, mau tới trước vái chào ra mắt.

    Dương Sinh: Đệ tử xin lạy chào đức Quảng Thành Đại Tiên. Bữa nay đệ tử theo ân sư Tế Phật tới Thánh địa Đào Nguyên, kính mong Đại Tiên hướng dẫn chỉ giáo cho.

    Quảng Thành Đại Tiên: Dương Thiện Sinh bữa nay tới đây, lòng tôi vô cùng sung sướng, trước nhất hãy nhận trái Đào Nguyên tuyệt diệu do tôi thân tặng đã, chớ e ngại, các Tiên Đồng hãy mau dâng đào để Dương Sinh cùng Tế Phật dùng.

    Tiên Đồng: Xin tuân mệnh, kính mời Tế Phật và Dương Thiện Sinh dùng để giải khí nóng nực.

    Dương Sinh: Cảm tạ Đại Tiên cùng Tiên Đồng, đệ tử không dám làm khách. A, vị ngọt ngào hơn cả thứ lê quý ở núi, người ta thường nói: “Mình hay còn có kẻ khác hay hơn”, tôi nói: “Núi này cao còn có núi khác cao hơn”. Trái ngon của núi Tiên Sơn trần gian tuyệt nhiên không thể có nổi, ăn vào hương vị ngọt ngào thơm nức, không rõ nguyên nhân tại sao?

    Đại Tiên: Trái tiên trồng nơi đây nước suối thanh tĩnh dư thừa, khí hậu trong lành, không có bụi bặm ô nhiễm cùng sâu bọ độc xâm phạm, sinh trưởng hoàn toàn tự nhiên không bị gió mưa làm hại hoặc ánh nắng mặt trời thiêu đốt, cảnh tiên lai tràn ngập linh khí, vì cây tiên kết trái ở giữa hoàn cảnh tốt lành như thế này nên hương vị khác hẳn các loại trái trần gian. Thế nhân không ưa thứ trái cây sinh ra giữa chốn chợ ồn ào, mà phải sinh ra trong chốn núi sâu thanh tĩnh. Nhân loại nếu như sống ở nơi thanh tĩnh vô dục, vô nhiễm ắt sẽ là trường sinh bất lão thành kẻ siêu phàm.

    Dương Sinh: Đại Tiên nói rất đúng, nếu được sống ở một nơi thanh bạch con người sẽ tránh được dục niệm phiền não, thân tâm chúng sinh cũng giống hệt trái cây tiên ngọt ngào ngon miệng. Trên bàn có một con cóc đang tĩnh tọa, hai mắt chăm chú ngó đệ tử, không rõ nó có ý gì?

    Đại Tiên: Cóc là do tinh hoa của ánh trăng hóa thành, là thần linh của thái âm nên cóc đó là thần vật, chỉ hít thở linh khí để sống, là đệ tử đắc ý của tôi, đạo hạnh cao thâm, cũng là nguyên linh của Hồng Sinh, mong Hồng Sinh nhận rõ chân lí thay trời tuyên hóa, vì thiên chức phổ độ chúng sinh mà gắng gỏi, ngày sau thành đạo tên ghi bảng trời.

    Tế Phật: Sự sinh hóa của nhân loại đều có nguyên do của nó, có rất nhiều chim quý thú lạ đều là thần vật, linh khí của nó vượt hẳn phàm nhân một bực, do đó mà cao minh hợp làm một với trời, sâu dày hợp làm một với đất. Người đời phải quên cái ta, chớ có quá lo cho mình mà không chịu làm lấy chút việc thiện, chôn vùi mất nhân cách, ngày sau sẽ đầu thai phương nao? Người ta bò lên cao, còn mình lao xuống thấp hay sao? Nếu quả như vậy thì là chối bỏ nguồn cội con người rồi đấy. Mỗi cá nhân đều do linh khí của trời đất thai nghén sinh ra, phải biết quý báu điểm chơn linh này, đừng để linh khí tiêu tan, khiến hình hài biến đổi, làm mất đi cái vẻ quý báu của châu thân. Cuộc bái phỏng Đại Tiên tới đây xin tạm ngưng, cảm tạ Đại Tiên đã chỉ rõ bến mê, kính biệt.

    Dương Sinh: Ân sư hối thúc trở lại Thánh Hiền Đường, do đó phải bái từ đức Đại Tiên, cảm tạ ngài đã ban trái tiên cùng khai thông lẽ đạo cho đệ tử.

    Đại Tiên: Tôi chẳng dám giữ lâu, chúc hai vị thuận buồm xuôi gió.

    Dương Sinh: Thưa con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư khởi hành.

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:31 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • HỒI HAI MƯƠI SÁU

    DẠO ĐIỆN ĐẠI THÀNH BÁI HỘI CHÍ THÁNH TIÊN SƯ

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 13 tháng 6 năm Canh Thân (1980)


    Thơ

    Phục hưng văn hóa lại hồng nho
    Lậu hạng oa cư đức bất cô
    Đoan chính tứ phi thành chí Thánh
    Tội tiêu hà tất niệm nam mô.

    Dịch

    Phục hưng văn hóa nhớ nhà nho
    Cuộc sống thanh bần dạ chẳng lo
    Tứ đức giữ gìn thành chí Thánh
    Tội tiêu há phải niệm nam mô.

    Tế Phật: Hiện thời ngành giáo dục phổ biến rất sâu rộng, trẻ thơ được sớm đưa tới các vườn trẻ để khai mở trí hiểu biết, rồi tiếp đến tiểu học, trung học, đại học và du học. Có thể nói hầu hết trẻ em hiện nay đều được cắp sách tới trường, tương lai đều là những bậc thức giả tài ba lỗi lạc. Song chữ nghĩa trong sách vở miệng nói ra vanh vách, đặt bút là thành văn, hoàn toàn vì công danh lợi lộc còn bàn tới chuyện giúp đời cứu người thì lại sợ hãi lánh xa. Lời dạy trong sách của các thánh hiền đời xưa còn lưu lại, đều sử dụng thể tài hỏi và đáp là để tránh sự bắt chước hóa thành ra con vẹt đọc sách. Lại còn lắm kẻ đọc sách càng nhiều, óc gian xảo càng tinh vi khéo léo, kẻ nắm giữ pháp luật kĩ thuật phạm pháp của họ càng tinh tế, đọc sách là cốt mong đạo đức tu tiến nhưng lại để biến thành phương tiện cốt sao tiền bạc vô nhiều khiến lòng lão tăng buồn vô hạn. Mong người đời nên thay sách học bằng kinh đạo đức, chớ đừng học kiếm lợi đọc sách cầu học chỉ cốt mở mang kiến thức, nâng cao phẩm tính con người, còn nếu như trở thành công cụ mưu sinh tức là đem sách làm thành tiền giấy, tiền đó thực là chẳng phải đồng tiền có giá trị. Còn nếu như sử dụng trí thức trong việc mưu đồ tội ác hẳn là trở thành thứ trí thức sa đọa cách tồi tệ. Bữa nay thầy hướng dẫn Dương Sinh dạo thăm thắng cảnh thiên đường. Chuẩn bị lên đài sen.

    Dương Sinh: Thưa con đã sửa soạn xong. Kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Thầy trò mình ngồi trên tòa sen, cưỡi gió đè mây bay thẳng lên cõi trời thanh tịnh. Tục cảnh phàm trần dần dần khuất sau lưng rồi mất tiêu dấu tích... Đã tới nơi.

    Dương Sinh: Bữa nay tới nơi này, cảnh trí khác hẳn kì trước, khắp nơi đều xuất hiện các bóng văn nhân, tư thế hoàn toàn siêu phàm thoát tục, có vị đang tản bộ ngâm thơ...

    Tế Phật: Cảnh trí tới thăm bữa nay là cảnh trí làng nho, phía trước là điện Đại Thành, chúng ta hãy mau tới phía trước lạy chào ra mắt đức Đại Thành Chí Thánh Khổng Phu Tử.

    Dương Sinh: Hay lắm, hay lắm. Vinh hạnh biết bao bữa nay mới được tới thăm thánh cảnh cửa Khổng, mắt nhìn phong quang vườn Hạnh Đàn thấy thực chẳng hư truyền chút nào, phía trước đại điện trên đề ba chữ: “Đại Thành Điện” tứ bề thanh khiết không nhiễm một hạt bụi, hai bên các vị phục sức coi có vẻ nho sinh, học sĩ tỏ ý hoan nghinh chúng tôi. Đi theo ân sư, vào trong điện thấy một vị cao niên ngồi giữa điện hai bên còn có các môn sinh ngồi hầu, trong điện trang trí coi có vẻ cổ kính, bút lông nghiên mực bày ngay ngắn, sách vở quý giá trong rương nhiều vô kể, vị cao niên ngồi giữa điện chính là đức Khổng Tử.

    Tế Phật: Vị ngồi chính giữa là đức Chí Thánh của làng nho, danh ngài là đức Khổng Phu Tử, ngồi hầu hai bên là các vị thánh hiền đệ tử của ngài, Dương Sinh mau lạy chào ra mắt đức Phu Tử.

    Dương Sinh: Xin tuân lệnh. Đệ tử xin cúi đầu lạy chào đức Chí Thánh cùng chư vị thánh hiền, đệ tử ước mong được quý ngài phá ngu để mở trí.

    Khổng Phu Tử: Làng Nho rất lấy làm hân hạnh, vì Dương Sinh hâm mộ đạo nho nên đã đích thân mở đàn giáng cơ lấy tên là Hạnh Đàn, dùng bút Thánh trước tác kinh sách thánh hiền để thức tỉnh người đời, tôi ở tại cõi trời linh thiêng, lòng cảm thấy được yên ủi. Làng nho tuy không đề cập đến những chuyện hoang đường kì quái, song đức của quỷ thần tràn ngập vũ trụ muôn đời bất diệt bởi vậy tôi không hề phản đối, song tôi nghĩ người chưa biết sống làm sao biết chết nổi? Tôi sợ họ bỏ gốc chạy theo ngọn, khinh rẻ cuộc sống hiện tại, coi trọng cuộc đời bên kia thế giới, cho nên tôi khuyên các đệ tử là những gì có quan hệ tới chuyện quỷ thần đều không được bàn cãi tới. Đạo “trung thứ” tức lòng khoan hòa rộng lượng là đức từ bi, khép mình giữ lễ tuân theo đạo nhân từ, tính người hợp với tính trời, tuy không nói tới trời mà đắc được đạo trời, việc sống chết tự nhiên ta làm chủ, cho nên nói: “Sáng nghe đạo, chiều chết cũng cam” (Triêu văn đạo, tịch tử khả hĩ). Con người nếu như sống vô tư, không phản bội nhân luân đạo đức, giữ vững tam cương ngũ thường là hợp đạo lớn, là lúc sống giữ trọn đạo, sau khi chết ắt là về được nơi đất lành, cho nên nói: “Sống hòa thuận chết yên lành” (Sinh nhi thuận, tử nhi an) về nơi mà tôn giáo thường nói là “thế giới cực lạc”, còn tôi gọi là “thế giới đại đồng”. Nhìn lại làng nho hôm nay, người dạy kẻ học đều chú trọng văn bằng để làm cần câu cơm khiến phẩm tính đạo đức băng hoại, vì coi rẻ cái học tu thân cho nên người đời nói: “Học lắm gian trá nhiều, kẻ ngu lại chính trực”. Tôi mong người đời đọc sách ngoài việc trau dồi kiến thức ra còn phải lo vun bồi đạo lí, còn không càng học lắm càng gian trá nhiều, công danh sẽ hủy hoại mình, xã hội phát sinh nhiều tệ đoan để chứng minh kẻ dụng mưu xảo trá ở cõi đời lúc về trời sẽ bị đối đãi xảo trá lại.

    Dương Sinh: Đức Phu Tử quả xứng với danh đời tặng là “Vạn Thế Sư Biểu” tức vị thầy muôn thuở, nho sinh trên đời ôm ấp mãi mối đạo “Đức cùng trời đất, đạo suốt cổ kim” (Đức phối thiên địa, đạo quán cổ kim) một lời tán tụng làm sao cho đủ, lời Phu Tử dạy như ngọc vàng, đệ tử xin ghi nhớ mãi. Kính xin đức Phu Tử chỉ dạy cho môn đồ cửa Khổng được rõ về phép tu đạo phải như thế nào? Và rồi thành quả sẽ ra sao? để được giống như phu tử cùng chư tiên nho ngày nay đang được hưởng phúc lộc tại cõi trời, tiêu dao tự tại, đệ tử hết sức lấy làm kính mộ song không rõ cách nào để tu tập được đây?

    Khổng Phu Tử: Nho sinh đời nay học hành chỉ cốt thi cử, nên sự miệt mài ngày đêm rất ư là vô bổ, chỉ cố nhồi nhét vô đầu cho thật nhiều chữ nghĩa, song ở tư cách tiến thoái lễ nghi đối xử với người với vật hàng ngày thì lại thấy hiện rõ sự ngang ngược, cho nên thường bị người đời chê là “học mà chẳng hành”. Nếu như trong giới trí thức ai có lâm vào tình trạng này hãy mau suy nghĩ lại, một sớm rời mái trường, ra nhập đời sống xã hội nên đem những lời chỉ dạy của thánh hiền trong kinh sách ứng dụng vào cuộc sống, để luôn luôn hòa nhã, cung kính, khiêm nhường, cùng xa rời bốn cái “không” là: không lễ chớ nhìn, không lễ chớ nghe, không lễ chớ nói, không lễ chớ làm. Một ngày ba lần tự nhắc nhở mình, tu thân dưỡng tính, tuy không xuất gia cầu đạo, song thực sự đã hành đạo, làm việc ngoài xã hội thanh liêm chớ tham nhũng, đó chính là cách trí thức báo đền ơn nước. Ngoài ra lại còn phải đối xử bình đẳng với mọi người để cảm hóa họ, thực hiện được như vậy cõi trời Đại Thành Chí Thánh sẽ sớm dành sẵn địa vị cho. Một sớm lìa đời được tới miền đất lành này sống tiêu dao, chẳng còn bị luân hồi thống khổ. Dương Sinh: Thì ra nguyên lai là như vậy, làng nho tu đạo chỉ cần giữ bốn cái “không” để tránh phạm vào tội lỗi, quả là chẳng khác đạo Phật, vả lại tu đạo ngay giữa cuộc sống quả là thực tế.

    Tế Phật: Mỗi cá nhân phải thức tỉnh bốn cái “không” để thành chính nhân quân tử, để giữ gìn con người thanh cao ở bên trong con người phàm tục quen xưng tụng là thánh hiền, cũng như gọi khác đi thì là Tiên Phật, lo giúp đời làm lợi cho người, tính linh mình cùng trời hợp làm một. Sở dĩ ngày nay được là Thánh Hiền Triết Nhân tại cõi trời này là nhờ trước đây tại cõi thế đã từng gây nổi sự nghiệp mưu đồ sự phúc lợi cho đời.

    Dương Sinh: Kính hỏi đức Phu Tử, các môn đệ của ngài đứng hầu hai bên, ngài có thể cho biết đời sống của họ tại cõi trời không?

    Phu Tử: Có thể, vì các đệ tử của tôi dốc lòng học đạo, tâm họ với tâm tôi là một, quyết chí thực hành đạo của tôi, do đó mà ngày nay có thể cùng nhau tụ hợp tại đây, đó chẳng phải là sự ngẫu nhiên. Tôi có bốn đạo nhân, mười triết nhân, bảy mươi hai hiền nhân và ba ngàn đệ tử cùng với số người học đạo mà tôi không rõ mặt rõ tên nhiều vô kể, những ai phụng hành những điều tôi chỉ dạy, họ đều được về cõi trời hội hợp chung một nhà. Đạo Nho không gò bó nghi thức như tôn giáo khác, không tin thần bí, nếu như hiểu sâu về đạo tôi thì phải chính tâm tu thân, khép mình tuân theo lễ, có thể nói các anh tài, linh tính của họ tự nhiên có thể siêu thoát phàm giới đạt tới thánh giới. Hãy lấy Nhan Hồi hiển thánh mà nói, ở nơi nghèo hèn ăn cơm rau uống nước lã, người chưa hết âu lo thì mình không vui sướng. Người đời hiện nay, ai có nổi đời sống thanh cao, bảo trì được bản sắc đạo nho để trở thành một nho gia quân tử như vậy? Có ai coi sự giàu sang như mây nổi? Trong hàng đệ tử có nhiều người lúc còn tại thế đã từng có phong thái phú quý không dâm dật, nghèo nàn không khuất phục, không sử dụng giới luật như tôn giáo song vẫn giữ giới, coi sự tranh giành nhẹ như băng mỏng. Lúc sống đã có phong thái như vậy, sau khi chết tự nhiên siêu thoát khỏi sự trói buộc của phàm trần, chứng đạo thành Thánh thành Tiên.

    Dương Sinh: Thánh hiền đời xưa đã tu pháp như vậy, còn thánh hiền đời nay?

    Phu Tử: Thánh hiền hiện đại, chứng được quả vị thánh nhân cũng nhiều, như một số nho sĩ bên ngoài điện, không những chỉ làm tròn phận sự một nhà giáo dục hiện thời mà lại còn thực hiện được thêm sứ mệnh một nhà đạo đức vì suốt đời đã dùng tâm khai mở đạo cho học trò, không tham lam thụ hưởng, thân tuy đói lạnh song tâm trong trắng, ngày đêm lo hoàn thành trách nhiệm, đạo lí tràn đầy thiên hạ, Hạnh Đàn thơm nức hương. Các vị đó sau khi qua đời đều được lên cõi trời sống tiêu dao tự tại. Do đó ước mong các nhà giáo dục trên thế giới hiện thời phải lo tu tâm dưỡng tính để giáo hóa người, trước khi dạy phải chuẩn bị tinh thần đạo đức cho thật dồi dào hầu truyền bá cho môn sinh, không được phạm các tội thiếu lương tâm có phương hại đến tương lai đám trẻ. Chớ tham lam mở lớp riêng kiếm tiền, coi giờ dạy chính ở trường là phụ, vì làm như vậy là không có tinh thần trách nhiệm, vô hình trung tán tận mất tính linh của mình, ngày sau bị đày đọa cực kì thống khổ. Đất này trồng đầy đào lí, thành tích của mỗi vị giáo sư đều có thể theo đó mà biết được. Người tận tâm với chức vụ, phẩm tính thanh cao, đào lí đầy vườn, hương vị ngạt ngào, ngược lại đào lí rụng hết lá, không kết nổi trái. Tiếc rằng theo quan niệm của người đời nay thì vấn đề này chẳng cần đề cập tới, ai có lương tâm đạo đức thì hãy giữ lấy làm của riêng, ngoài ra chỉ cốt lo tròn trách nhiệm bình thường là cũng đủ rồi.

    Tế Phật: Các vị giáo chức trên đời đều là các thánh hiền hóa thân để làm vị thầy muôn đời, gió xuân hóa thành mưa, các học sinh đều đội ơn mãi mãi. Chớ là vị thầy thiếu lương tâm làm hại tương lai của các học trò. Vì thời giờ đã trễ xin cáo từ đức Phu Tử.

    Phu Tử: Vì không thể lưu lại lâu hơn, cầu chúc nho phong thánh đức mãi thêm huy hoàng.

    Dương Sinh: Cảm tạ đức Phu Tử đã ban lời dạy ngọc vàng... Con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư trở lại Thánh Hiền Đường.

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:31 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • HỒI HAI MƯƠI BẢY

    DẠO BẢO ĐIỆN ĐẠI HÙNG TÂY THIÊN

    BÁI HỘI THÍCH CA MÂU NI PHẬT

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 29 tháng 6 năm Canh Thân (1980)


    Thơ

    Phật pháp tây lai nhất tự vô
    Toàn bằng tâm ý dụng công phu
    Nhãn tàng chính pháp niêm hoa tiếu
    Khổ hải từ hàng hóa tục ngu.

    Dịch

    Phật pháp tới đây một chữ “vô”
    Thảy nhờ quyết chí gắng công phu
    Cầm hoa cười mỉm truyền chân pháp
    Biển khổ thuyền từ độ kẻ ngu.

    Tế Phật: Phật pháp từ phương tây tới hóa độ rất nhiều chúng sinh mê muội, nhờ đó mà tính tình người Trung Hoa trở nên thuần phát, ý nghĩa Phật pháp khuyên đời đối với văn hóa truyền thống Trung Hoa không tính trước mà đạt thành, truyền thống này đã tiếp thu tôn giáo ngoại lai, rồi dung hợp phát huy rộng lớn, nhờ vậy vùng đất đó đã có lúc trở thành trung tâm tinh thần tín ngưỡng thế giới. Ngày nay người tu theo Phật giáo rất nhiều, phổ biến đạo từ bi thật là rộng rãi để giúp đời làm lợi cho người, đối với thế đạo nhân tâm ơn ích quá nhiều. Xuất thân từ trong hàng thánh tăng nơi cửa Phật tôi cũng từng là tăng sĩ, La Hán hóa thân rồi bỏ nhà nhỏ của tôi đi tới từng nhà chúng sinh để thực hành duyên hóa độ nên mới gọi là vì chúng sinh mà xuất gia. Có một số người xuất gia song lại ẩn náu nơi chùa miếu, chẳng gặp chúng sinh, là từ nhà lớn tức xã hội trở về nhà nhỏ là chùa miếu. Tự giam hãm mình kể như là kẻ cô đơn, chẳng thể thành Phật muôn nhà, thực đáng tiếc thay. Lão tăng bữa nay sẽ hướng dẫn Dương Sinh tới cõi trời tây phương, bái hội đức Thế Tôn cùng kính cẩn nghe ngài thuyết pháp.

    Dương Sinh: Thưa con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: ...Bảo điện Đại Hùng đã hiển hiện trước mắt, chúng ta mau tới trước lạy chào ra mắt đức Thế Tôn.

    Dương Sinh: Điện Đại Hùng coi thật là hùng vĩ, giống như một ngôi chùa vĩ đại ở tại thế gian, có rất nhiều tăng ni mặc áo cà sa đi đi lại lại, trong đó còn có các sa di nhỏ, cảnh này quả là một bức tranh tuyệt vời, tất cả các vị đó đều hướng về chúng tôi hành lễ.

    Tế Phật: Đây là nước Phật trời tây, hoàn toàn thanh tĩnh không vương một hạt bụi.

    Dương Sinh: Đá quý, ngọc lưu li đầy đất lung linh tỏa chiếu, khí hậu êm đềm, hương vị đạo mầu thơm ngát... Đức Thế Tôn ngồi chính giữa, tướng pháp trang nghiêm, toàn thân hào quang tỏa chiếu sáng ngời, hai bên còn có hai vị hộ pháp Vệ Đà khí thế phương phi, khiến người ta có cảm giác thần thánh đang hiện diện, không dám xâm phạm tới... Đệ tử khấu đầu lạy mừng đức Thế Tôn, bữa nay đệ tử theo thầy tới thăm điện Tam Bảo, trong lòng vô cùng sung sướng, kính xin đức Thế Tôn khai mở Phật pháp.

    Thế Tôn: Dương Sinh hãy đứng dậy. Phật pháp truyền qua đông phương hóa độ rộng lớn, trải qua bao thời đại không suy đồi, mạng huệ tồn tại mãi mãi là nhờ công Phật giáo đồ xả thân bảo vệ chính pháp, tôi rất cảm động. Nay gặp thời mạt pháp, các tôn giáo đều phát triển mạnh, riêng Phật giáo truyền bá khắp thế giới, các học giả quy y cửa Phật tu học ngày một đông, đủ biết Phật pháp giúp ích cho chúng sinh thật quả là nhiều. Phàm quy y cửa Phật, phải giữ gìn giới luật, suốt đời không chán, tu tới minh tâm kiến tánh đều được chứng đắc quả vị. Dương Sinh là sứ giả cửa thánh giáng cơ, đối với Phật pháp cũng chí thành tu học, quả là bậc trí thức có thiện tâm. Thánh Hiền Đường phổ truyền chân lí thánh hiền rất phù hợp với Phật giáo, bởi lẽ “chớ làm các việc ác, hãy làm các việc thiện” (chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành). Có thể nói đó là chính pháp ở trong thời mạt pháp, Như Lai xuất hiện nơi cửa thánh để hóa độ chúng sinh, mở phương tiện pháp môn, tu công đức vô lượng, mọi người nên học lấy.

    Dương Sinh: Đức Thế Tôn dạy rất đúng, cứ theo như đệ tử được biết, tín đồ cửa Phật dưới trần phỉ báng cửa thánh rất nhiều, coi việc giáng cơ bút là ngoại đạo là tà giáo, khiến nhiều người đau lòng, không rõ đức Thế Tôn nghĩ thế nào?

    Thế Tôn: Phật giáo nhân gặp kì mạt pháp, đệ tử rời Phật quá xa, chúng sinh thời nay tuy có thiện căn nhưng thiếu tuệ căn, học Phật tu đạo đã đọc ít kinh lại không chịu tham khảo nghiên cứu rộng rãi. Chỉ học có Phật, còn ngoài ra kinh điển của các tôn giáo khác chẳng hề dòm ngó tới, hay giải thích theo lối chủ quan nên tạo thành thiên kiến, không coi các tôn giáo khác là “tôn giáo bạn”, rồi miệng chửi, bút chê đạo khác là ngoại đạo là tà thuyết, miệng Phật phun máu, dao đồ tể sát sinh, tôi thật đau lòng. Phật có bốn vạn tám ngàn pháp môn, Thánh Hiền Đường thờ phượng Tiên Phật, thánh hiền cổ đại rất ứng hợp với tâm Phật, thanh tâm thụ giới, tĩnh niệm kinh chú, thành tâm cầu khẩn thánh linh thượng giới giáng phàm, mây thơm liền tới, các Phật cùng bồ tát thanh tĩnh đều cảm ứng lòng thành, giáng lâm thuyết pháp dạy đạo, có duyên khai mở hướng dẫn để quảng độ bến mê. Nếu như các thiện nam tín nữ phụng hành ngũ giới, ra sức hành thiện, một lòng niệm Phật, ắt Phật tới ứng, sức Phật hộ trì cơ bút viết nên, diệu bút sinh hoa thuyết pháp độ chúng thực là hợp lí dễ thực hành, mong Phật tử chớ coi khinh Phật khác mà tự hủy diệt tuệ căn. Bởi vì mắt tuệ của chúng sinh đã bị che mờ, họ chỉ đọc kinh giấy, tai chỉ nghe người nói mới thốt ra lời phỉ báng. Ánh đạo tỏa ngời, bút thiêng xúc động liền viết nên lời, nếu như tôi được thấy chắc hẳn là cũng sẽ “hữu cảm giai thông” tức là có cảm thì đều thông, niệm Phật Phật tới, còn nếu như không tin Phật, mà lại sớm hôm tụng kinh niệm chú thì chẳng hóa ra là tà ma ngoại đạo ư?

    Dương Sinh: Đức Thế Tôn quả xứng đáng là bậc được thế gian tôn thờ, pháp ngài thuyết khiến người đời quý trọng, thế gian sùng kính lẽ công bằng, các tôn giáo đều chỉ cần không phản bội phong tục ngay lành, có ích lợi cho thế đạo nhân tâm đều là chính giáo. Phật được đời tôn sùng vì đã đem từ bi bình đẳng ra dạy chúng sinh, coi tất cả chúng sinh như một, bốn loài chúng sinh, sáu ngả luân hồi đều là ba đời quyến thuộc, đều cùng tính Phật, cũng là thân Phật, nếu như khinh thị đồng bào nhân loại, tiếng gọi là học Phật song phản Phật, không rõ cao kiến của đức Thế Tôn ra sao?

    Thế Tôn: Phật pháp bao dung tất cả, cho nên mới nói Phật pháp vô biên, ngoại giáo như áo cà sa bên ngoài, kẻ tu hành phải mặc để hộ Phật thân há lại vất nó, hủy nó. Chúng sinh trên đất rộng, mỗi cá nhân đều mang một thiên chức riêng, tôn kính Phật, sống đời sống Phật há lại còn nuôi tính chà đạp dày xéo hay sao? Phàm những kẻ bài xích tôn giáo, đả phá người khác đều do tại tâm riêng rẽ, tâm ghen ghét, tâm sân si chưa diệt, miệng Phật phun thuốc lửa, giết hại biết bao người có khác chi đồ tể. Hoa tươi trái ngọt dâng cúng Phật hẳn là cũng do chúng sinh ngoại đạo khổ cực trồng trọt do bàn tay của chúng sinh ngoại đạo vun xới, Phật có chối bỏ không? Hay là Phật cảm động phát khởi lòng từ bi. Ăn mặc trú ngụ di chuyển các phương tiện đó của các tăng ni nơi cửa Phật ai người cung ứng? Ai người chế tạo? Mong tăng ni nơi cửa Phật mau vứt bỏ dao đồ tể chớ sát hại bạn lành ân đức, để khỏi bị đày đọa vô thời hạn, khổ báo vô cùng tận.

    Dương Sinh: Công đức của đức Thế Tôn vô lượng, Như Lai đại công bằng, tâm hồn vô biên, độ được mọi chúng sinh, thuyết pháp không thiên lệch, chỉ nhằm giúp tâm chúng sinh khai mở, đệ tử xin đảnh lễ ngài.

    Thế Tôn: Tôi có chính pháp nhãn tạng lưu truyền thiên hạ, mãi mãi như kim cương không thể hủy diệt, ai giác ngộ được thì đều thành Phật.

    Dương Sinh: Thưa, có phải đó là pháp “Niết bàn diệu tâm” chăng?

    Thế Tôn: Phải. Thực tướng vô tướng, thấy liền ngay trước mắt.

    Dương Sinh: Tức là nhìn thấy Phật ngay trước mặt, ngược nhìn phía sau chẳng thấy.

    Thế Tôn: Sinh ở đất Phật này, khắp nơi đều là Phật, rời khỏi đất Phật này, thấy mình là Phật, nếu như chẳng thấy, lấy gương mà soi hẳn là sẽ thấy, xác nhận chính mình với Phật là một, “hình tâm tướng phản ảnh”, không lìa xa tâm ắt tự nhiên thành Phật.

    Dương Sinh: Phải phải. Đệ tử thấy trước trán đức Phật Đà có một hạt màu đỏ là tại sao?

    Thế Tôn: Sinh ra là có, chết đi chẳng mất, một mình tới lui, không mở không nhắm, đó là mắt Phật. Dùng mắt đó nhìn sự vật sẽ không thiên lệch nhìn mình sẽ trung chính không nghiêng trái phải, chỉ một không hai, ngọn đèn sáng trên núi Linh Sơn, nhờ đó mà minh tâm kiến tánh, vào thẳng đất Như Lai cho nên nói chính pháp nhãn tạng, siêu diệu chẳng thể diễn tả bằng lời. (1)

    Tế Phật: Mắt đó có thể nhìn thấu suốt tam thiên đại thiên thế giới, lớn thì như núi Tu Di, nhỏ thì bằng hạt cát, cho nên nói: “tỏa thì ngợp cả vũ trụ, thâu thì lui vào ẩn nơi u mật”.

    Dương Sinh: Thưa các tăng ni đại đức xuất gia trên đỉnh đầu có ghi dấu giới luật là nghĩa tại sao?

    Thế Tôn: Vết sẹo đốt có mùi hương làm nổi bật tính Phật. Những tăng ni trên đầu có dấu nhang đốt, ý là trên đỉnh sọ đã nở hoa, đầu đó đúng là đầu Phật, điển phải tròn đầy mới có thể kết thành trái Ba La Mật. Kẻ thụ giới nếu như phản bội chính đạo ắt dấu ghi giới luật chẳng thể sinh thành mạ bồ đề, vô hình trung mọc thành rễ tội ác, đầu biến thành đầu quỷ, do đó Phật quốc tây phương khó có thể tới gần nổi.

    Dương Sinh: Thì ra nguyên lai là như vậy. Phật nháy mắt, nói một lời, làm một chữ đều là pháp Phật, chẳng thể nghĩ suy. Kính hỏi đức Thế Tôn như nay có người tu học đạo Phật thì họ phải làm như thế nào mới có thể thành đạo?

    Thế Tôn: Muốn làm một đệ tử chính đáng nơi cửa Phật, tất nhiên phương pháp tu trì phải tuân theo như dưới đây:

    1. Tín: Tin Phật là thật, tin mình không giả, tin người không khác lạ, ba điều tin hợp làm một lẽ tướng, kẻ tin được cứu, kẻ tin thành Phật.

    2. Giải: Giải ngộ Phật pháp, chớ đui mù vì chữ nghĩa, muốn giải kinh trước phải giải tâm, nếu như chỉ giải văn chương chữ nghĩa trong kinh, mà chẳng giải gốc tâm khác nào đem thân quý báu nhốt vào nhà ngục, đã là tù nhân làm sao giải thoát thành Phật? Có giải trừ được ba cái độc là tham, sân, si thì thân tâm mới tĩnh và vào được đất Phật.

    3. Hành: Hiểu rành được “tín, giải” nhưng nếu chẳng hành cũng kể như không, tu đạo quý ở sự thực hành cho nên mới nói “tu hành”. Hành giả cần phải có phong thái mô phạm thanh cao, vì “hành giả mà đi một mình thì đạo mà hành giả tu đó chỉ là đạo nhỏ, đạo có nhiều kẻ đồng hành cùng tu mới là đạo lớn”. Cho nên hành giả đi một mình là để hóa độ chúng sinh đồng hành, có như vậy mới hợp tôn chỉ của đạo từ bi là: “không làm anh hùng hảo hán cá nhân”.

    4. Chứng: Phật có tám vạn bốn ngàn pháp môn, phàm thành tâm kiên trì tu luyện đều có thể thành đạo, bất kì ai có tu là có nghiệm, thiền tăng cư sĩ thực tu là thực chứng. Các tôn giáo, các pháp khác cũng vậy họ có tu họ đều có chứng, chớ có sinh tâm phân biệt, sân hận, phỉ báng để rồi tự thiêu hủy chôn vùi mất tự tính công đức, tiêu diệt mất tuệ căn, khác nào cây đập “người đi”, lá rơi quả rụng, chỉ vì muốn hại người mà bị người hại, cho nên nói: “Lấy lửa đốt trời thành tự đốt mình” phải nhớ kĩ điều đó. Bốn điều kể trên đã đủ là căn bản để bước vào con đường tu đạo, chỉ cần thanh tĩnh thêm ba nghiệp là giác ngộ được ba kiếp nhân quả luân hồi:

    1. Thân nghiệp: Không đi nẻo tà, không nhiễm thói ác, không nỡ hại sự sống tức là không giết chóc, không trộm cướp, không gian dâm ắt thân nghiệp thanh tĩnh.

    2. Khẩu nghiệp: Không nói lời xằng bậy, gian dối điêu ngoa, vu oan giá họa ắt khẩu nghiệp thanh tĩnh.

    3. Ý nghiệp: Không tham, sân, si ắt ý nghiệp thanh tĩnh. Thanh tĩnh được ba nghiệp rồi lại còn phải chăm chỉ hành pháp “lục độ”:

    1. Bố thí: Thấy bất cứ chúng sinh nào đau khổ mình đều phải có lòng từ bi tinh thần cứu giúp “người bị chìm đắm coi như là mình bị chìm đắm, người bị đói khát coi như là mình bị đói khát, phải bố thí để cho kẻ khổ bớt khổ, kẻ mê hết mê”. Bố thí chia làm ba loại như sau:

    a) Bố thí tiền tài: Dùng tiền bạc, đồ vật giúp đỡ kẻ nghèo khổ để đời sống của họ khá hơn. Ấn tống kinh sách dạy điều thiện để khuyến hóa độ nhân, để cải thiện tâm tính chúng sinh.

    b) Bố thí dũng: Đối với những kẻ thống khổ phải mềm mỏng thương yêu an ủi họ, thấy người nguy khốn ra tay cứu giúp để tâm nạn nhân được bình an, chớ khiến họ hoảng kinh thêm. Còn đối với chùa chiền Phật đường ra sức quét dọn tu bổ, đối với những kẻ phỉ báng chính pháp nên sử dụng dũng chí phát huy chân lí để cảm hóa họ.

    c) Bố thí pháp: Dùng các điều mình đã học, đã giác ngộ được về chân lí Phật pháp thuyết giảng cho mọi người cùng biết, để họ cũng được hưởng mưa pháp thấm nhuần, chuyển mê thành ngộ, học tu thành đạo.

    2. Trì giới: Giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh mới có thể hiển lộ được pháp tướng đoan trang. Có trì giới thì thân, khẩu, ý mới thanh tĩnh không phạm ác nghiệp. Phải giữ năm giới là: không sát sinh, không trộm đạo, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu. Ngoài ra xa hoa, ca múa, hút ma túy khiến thần mê, mắt loạn đều bị cấm chỉ để giữ thân tâm thanh tịnh.

    3. Nhẫn nhục: Con đường tu đạo trở ngại ắt nhiều, gặp sự chửi bới gây gổ không oán không giận, dùng “nhẫn” hóa “nộ” ắt tâm tự an. Ngoài nhẫn đói lạnh, trong nhẫn thất tình lục dục, có như vậy đạo chí mới vững bền, chẳng sợ nguy khốn việc học đạo độ người mới có thể thành nổi.

    4. Tinh tiến: Biển Phật vô biên, núi đạo cao vời học không ngừng nghỉ, nghiên cứu chân lí không một phút rời. Nếu như sai lầm được người chỉ dẫn phải sửa đổi ngay, gặp cơ hội giúp ích cho chúng sinh phải gắng sức làm ngay không được chối từ, chăm chỉ không được lười biếng ắt tới được bờ bên kia.

    5. Thiền định: Muốn tu luyện thành Phật, cần phải tĩnh tâm để khỏi rối loạn. Phải phổ độ chúng sinh tinh thần cần phải được huấn luyện thật đặc biệt thì khi thiền định tư tưởng đen tối mới có thể phát sinh trí huệ, gặp khi động loạn mới có định lực.

    6. Trí tuệ: Tâm tính kẻ tu hành đều có trí huệ cao thiên kinh vạn quyển kiến thức sâu rộng, từng trải việc đời có thể biện luận thông suốt. Biết hết mọi điều hóa độ chúng sinh không những tự nhiên dễ dàng, bản thân kẻ tu đạo lại có thể tránh khỏi đọa lạc vào vòng ma chướng.

    Dương Sinh: Những lời đức Thế Tôn chỉ dạy về Phật pháp quả là kim chỉ nam cho những kẻ tu hành, đệ tử được ban ân quá nhiều, cúi đầu lạy tạ đức Thế Tôn.

    Thế Tôn: Người đời nếu như biết tôn trọng và thi hành các pháp tu tôi vừa trình bày chắc hẳn sẽ thành đạo.

    Tế Phật: Vì thời giờ đã trễ, bữa nay xin ngừng tại đây, bái từ đức Thế Tôn.

    Thế Tôn: Lành thay, ước mong Phật pháp phổ truyền rộng rãi khắp thế giới để chúng sinh cùng được hưởng mưa pháp, khỏi đau khổ, được yên vui.

    Tế Phật: Dương Sinh lên đài sen... Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:32 pm với 3 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • HỒI HAI MƯƠI TÁM

    DẠO NÚI PHỔ ĐÀ Ở NAM HẢI

    LẮNG NGHE ĐỨC QUÁN THẾ ÂM THUYẾT PHÁP

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 9 tháng 7 năm Canh Thân (1980)


    Thơ

    Tử trúc lâm trung quán tự tại
    Bạch liên tòa thượng tọa Quán Âm
    Phổ Đà phi viễn tâm đầu thị
    Bồ tát tâm trường thể nội tầm.

    Dịch

    Tự tại quán thông chốn trúc lâm
    Trên tòa sen trắng hiện Quán Âm
    Phổ Đà ở đáy tim mình đó
    Bồ tát trong ta há phải tầm. (1)

    Tế Phật: Trên đời rất nhiều người sùng bái đức Quán Thế Âm Bồ Tát, bởi vì pháp tướng hòa ái của ngài giống như bà mẹ hiền trong gia đình, nên được người ta yêu mến thích gần gũi, do đó ngài còn được tôn vinh là đấng nghe thấu tiếng kêu thương của mọi nhà, là Lão Mẫu Quán Âm, lạy đức Quán Âm cũng như lạy mẹ già. Đức Quán Thế Âm Bồ Tát là đức Phật xưa tái sinh, đã thành Phật từ muôn ngàn kiếp trước, hiệu là Như Lai Minh Chính Pháp. Cho nên còn gọi là “Quán Âm Cổ Phật” hoặc “Nam Hải Cổ Phật”. Ngài nghe tiếng kêu thương mà cứu khổ cứu nạn, hạnh nguyện to lớn của ngài hiện diện khắp mọi nơi mọi thời, đó là nguyên nhân chính khiến người ta tôn kính sùng bái ngài, thế nhân tại sao không tu thành Quán Âm để hành đạo bồ tát? Bữa nay ta hướng dẫn Dương Sinh dạo núi Phổ Đà ở Nam Hải bái yết Bồ Tát Quán Âm để cầu xin ngài khai mở Phật pháp. Bồ Tát Quán Thế Âm ngày xưa thành đạo tại rừng Trúc Tử thuộc miền núi Phổ Đà đất Nam Hải, ngày nay cũng dạo cảnh này nhưng đã biến hóa ở cõi trời tây phương.

    Dương Sinh: Thưa con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: ...Đã tới Nam Hải, Dương Sinh xuống đài sen.

    Dương Sinh: Phía trước tại sao lại có biển lớn, thưa làm cách nào để vượt qua?

    Tế Phật: Thầy cũng chẳng cách nào vượt qua cả, tòa sen này lớn lên từ trong nước nóng, nếu như vượt qua biển lớn, nước mặn của biển khổ ngấm vào hoa sen, sợ rằng hoa sen sẽ khô héo, chẳng biết tính sao đây?

    Dương Sinh: Thưa thầy thử đi trên mặt biển xem có bị chìm hay không?

    Tế Phật: Đúng đấy, để thầy thử xem, con hãy nán đợi một chút.

    Dương Sinh: Ân sư đi trên mặt nước, quả thần thông quảng đại, giống hệt như đi thuyền, không hề bị chìm.

    Tế Phật: Con thấy thầy ra sao? Đôi chân của thầy quả là vạn năng nào như đi trên mặt đất, trên mặt biển, trên không trung thông dụng khắp ba cõi. Dương Sinh hãy cố học lấy.

    Dương Sinh: Thưa đạo hạnh của con không đủ nên con chẳng dám thử, sợ rằng sẽ chìm xuống đáy biển.

    Tế Phật: Đừng lo, đã có thầy bên cạnh, lỡ có chuyện gì thầy sẽ cứu con ngay.

    Dương Sinh: Như vậy để con thử coi... Ái cha, quả là bất hạnh! Con sắp chết chìm, ân sư mau cứu con.

    Tế Phật: Chớ có sợ, để thầy kéo con lên bờ.

    Dương Sinh: Hay quá, được ân sư cứu cấp, không thì con đã chìm xuống đáy biển để đàn cá điểm tâm.

    Tế Phật: Chớ có sợ hãi.

    Dương Sinh: Xin hỏi ân sư, tại sao thầy đi trên mặt nước lại không chìm còn con thì ngược lại, xin thầy chỉ cho con bí quyết?

    Tế Phật: Con muốn biết thầy cũng chẳng giấu diếm, thầy nói để con hay ngay, con hãy nhớ lại những người không biết bơi song ở trong hồ tắm họ cũng chẳng chìm là bởi vì họ có đeo phao, trong phao chứa đầy không khí, lòng phao đương nhiên rỗng rang, do đó có thể nổi trên mặt nước. Đã biết rõ được nguyên lí này thì khi con ở trên mặt nước tự tâm niệm thân con là một trái khinh khí cầu trong ruột trống rỗng, thì tự nhiên trôi nổi giữa không trung. Nếu như không tin, con hãy nhìn gióng trúc, trái khinh khí cầu, thùng sắt, v.v... chỉ cần phía trong có đầy khí hay nói cách khác “giữ gốc nắm cái ruột, một niệm không hề dấy” ắt sẽ chẳng chìm.

    Dương Sinh: Thầy nói rất có lí, con đã hiểu một cách thấu đáo.

    Tế Phật: Đây cũng là cách minh thị cho kẻ sống ở đời, không thể tham lam chấp mê hình danh sắc tướng thế tục, ngược lại sẽ dễ bị đọa đày trong sáu nẻo luân hồi. Nếu như vứt bỏ tất cả, chẳng để cho vật dục ái tình nơi cõi thế trói buộc thì thân mình ắt tràn đầy khí hạo nhiên chính trực thân sẽ như trái khí cầu, chẳng bị vật chất níu kéo dẫn tới đọa lạc, tự nhiên có thể bay thẳng lên thiên đường. Như nay thầy thân tứ đại tức nước lửa gió đất đều thông, nên nước biển không bám nổi thầy, do đó mà thầy thoát khỏi sự nguy hiểm chết chìm. Nếu như người ta một hạt bụi không nhiễm, coi vật chất như mây nổi thì tự nhiên đi trên nước trên mây, siêu thoát khỏi bể khổ, không còn bị luân hồi.

    Dương Sinh: Phía trước có một con thuyền nhỏ đang đi tới, giống loại thuyền buồm, chẳng rõ đó là ai?

    Tế Phật: Ha ha, đức Quán Âm Đại Sĩ đang đáp thuyền từ, ngài đã biết thầy trò mình đang thử đạo ở đây do đó ngài đến nghênh tiếp chúng ta.

    Dương Sinh: Chiếc thuyền nhỏ đã cặp bờ, trên thuyền quả nhiên thấy có một vị bận áo trắng, tà áo phấp phới bay. Đức Quán Thế Âm Bồ Tát tướng mạo trang nghiêm, dung nhan hiền từ dễ mến, so với hình ảnh ngài khi tôi nằm mơ giống y hệt, bữa nay quả là hạnh ngộ, đệ tử lạy chào ra mắt đức Quán Thế Âm Bồ Tát.

    Quán Thế Âm Bồ Tát: Dương Thiện Sinh hãy đứng lên, tôi ở tại rừng trúc tía ở trên núi Phổ Đà nghe hai vị nói là muốn dạo thăm chốn tôi cư ngụ, và mắt huệ nhìn thấy rõ hai vị thử đạo tại đây nên đặc biệt đem thuyền từ tới rước, mời hai vị lên thuyền.

    Dương Sinh: Hay quá, kính thưa đức Quán Âm tại sao thuyền từ này lại nhỏ bé thế này?

    Quán Âm: Chỉ độ nhị vị mà thôi, lớn quá sẽ cồng kềnh không tiện, nếu như có nhiều khách đi, thuyền này tự nhiên lớn rộng thêm. Phàm kẻ tu thân học đạo, nếu như tâm họ kiên trì không dời đổi hẳn là cả ức người tiêu dao nơi đất Phật, chỉ cần hô danh hiệu Quán Thế Âm, tôi liền hiện ngay ra bên cạnh họ, vì thuyền từ rộng lớn vô chừng, có thể độ hết thảy chúng sinh trong thiên hạ.

    Dương Sinh: Đại Sĩ từ bi, pháp môn vô biên, quả là phúc lớn cho chúng sinh.

    Quán Âm: Tôi sắp khởi hành, Dương Sinh bám chặt lấy mạn thuyền, vì tốc độ lẹ như bay, sẩy tay sẽ té xuống biển rất là nguy hiểm.

    Dương Sinh: Xin tuân lệnh, đệ tử đã chuẩn bị xong, kính mời Đại Sĩ từ ân khởi hành... Thuyền này không có máy, tại sao Đại Sĩ lại có thể phóng như bay, quả là thần kì?

    Tế Phật: Thuyền này chẳng giống như thuyền thế gian, chẳng cần dùng máy, chỉ cần Đại Sĩ khai khẩu, tự nhiên thuyền lao đi. Bởi vì máy đã trang bị sẵn trong tâm Đại Sĩ rồi, chỉ cần tâm niệm, máy liền quay tít không ngừng, do đó mới kêu là “thuyền pháp”.

    Dương Sinh: Quả là kì diệu, tâm động ắt thuyền động, tâm ngưng ắt thuyền ngưng, Bồ Tát cưỡi thuyền từ chứ không phải thuyền từ cưỡi Bồ Tát. Ý nguyện của Đại Sĩ quảng đại vô biên, vô tận cho nên mới có thể hóa thân khắp nơi để thuyết pháp, cứu khổ cứu nạn.

    Tế Phật: Đó là núi Phổ Đà thuộc cõi trời Tây Phương, bữa nay chúng ta tới đấy để lắng nghe đức Đại Sĩ thuyết pháp.

    Quán Âm: Chúng sinh mê đắm thất tình lục dục, thân chìm trong biển khổ nên thường gặp nghịch cảnh, lỗi lầm đó do chính mình tự chuốc. Bữa nay cửa thiện rộng mở, Phật từ cõi Tây Thiên giáng hạ Bồng Lai để phổ độ. Tế Phật, Dương Sinh đã có công tới đây thăm xin mời đi theo tôi để cùng ngoạn cảnh.

    Dương Sinh: Rừng trúc xanh ngập núi, không khí tươi mát, bên cạnh còn có nước chảy róc rách, quả là vùng đất thánh tuyệt diệu.

    Quán Âm: Đó là sự quan hệ giữa rừng trúc tía và nước sương ngọt tức cam lộ, nước cam lộ chảy về biển khổ để làm giảm bớt vị đắng cay của người đời, nên đã trở thành nước pháp cứu độ chúng sinh.

    Dương Sinh: Phía trước có một ao sen lớn, nở đầy hoa sen trắng khiến người ta say sưa ngắm, rừng trúc bên cạnh xanh tươi ngút trời, vây thành một cái động trời tự nhiên, ngoài ra trong đó còn có hai vị tiểu hài đồng, chẳng rõ họ là ai?

    Quán Âm: Đó là Thiện Tài và Lương Nữ. Tôi ngự trên đài sen trắng trong rừng trúc tía này thanh tĩnh vô kể, song vì nghĩ rằng chưa độ hết được chúng sinh, cho nên bất kể giờ phút nào tôi cũng đều hóa thân giáng phàm cứu độ chúng sinh, phàm những ai nhớ danh hiệu tôi, khi gặp khổ nạn tôi đều xuất hiện giúp đỡ, mong chúng sinh thông cảm tâm tôi làm nhiều điều nhân nghĩa, ắt thân họ là thân tôi hóa thành để có thể tùy thời mà giúp đỡ kẻ khác. Tâm đã hợp với tâm bồ đề của tôi thì tâm linh của người chắc chắn sẽ tương hội với tâm tôi. Phàm những ai tu đạo bồ đề, suốt đời không thối chí, nhất định sẽ thành chính quả. Tôi đã ngồi trên tòa sen.

    Dương Sinh: Thân phiêu nhiên của Đại Sĩ thoáng cái đã bay lên đài sen, vóc dáng ngài thanh thoát y hệt như tiên nữ, phiêu diêu thoát tục...

    Tế Phật: Dương Sinh có thể thuật lại thế ngồi của Đại Sĩ cùng cảnh trí tại đây lúc này không?

    Dương Sinh: Thưa được.

    Tử trúc lâm trung phủ bạch liên
    Quán Âm tĩnh khán thủy trung thiên
    Thiện Tài Lương Nữ song biên lập
    Cam lộ liễu chi biến đại thiên.

    Nơi rừng trúc tía trắng hoa sen
    Trời nước Quán Âm lặng lẽ nhìn
    Lương Nữ Thiện Tài hầu cạnh mẫu
    Cành dương cam lộ ngập không gian.

    Thưa có phù hợp không?

    Tế Phật: Hay lắm, hôm nay Dương Sinh đã tới được nơi này, hãy xin Đại Sĩ khai thị Phật pháp nhiều cho.

    Dương Sinh: Thưa vâng, cuộc kì ngộ bữa nay thực là khó gặp, kính xin đức đại từ đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát thuyết pháp để giải rõ bến mê cho.

    Quán Âm: Lành thay, trần thế hiện giờ đời sống hưởng thụ vật chất đã tới mức cao độ, từ cõi Thánh quan sát cảnh này thì thấy thế nhân quả là được hưởng phúc, chư Phật đều lấy làm mừng. Nhưng phần lớn những kẻ được hưởng phúc lại đắm mình trong cảnh “tửu sắc tiền tài” là bốn hố thẳm tội lỗi lớn, vì hưởng thụ quá độ diễm phúc trời ban, không tiết chế nổi, càng đi vào nẻo tà càng bị đọa lạc cuối cùng tạo thành ác nghiệp quả báo, nhìn cảnh bất hạnh này của chúng sinh lòng tôi cảm thương vô hạn. Nay nhờ có Thánh Hiền Đường mở đàn cơ bút để phát huy đạo giáo, duy trì đạo đức nhân tâm khỏi sa đọa, khuyên người hành tam cương ngũ thường, tu ngũ luân bát đức, cải thiện hoàn cảnh xã hội bất lương, khứ trược lưu thanh, thắp sáng đường tăm tối, tôi thường giáng lâm các Hiền Đường chấp bút thuyết pháp độ người, khuyên răn dẫn dụ chúng sinh tin tưởng Phật pháp, giữ gìn ngũ giới, học đạo tu pháp để minh tâm kiến tánh, chứng đắc quả Phật. Bữa nay Dương Thiện Sinh tới đây, tôi vô cùng sung sướng, giờ đây tôi hướng dẫn Dương Thiện Sinh đi hỏi đạo một số vị đạo sĩ đã tu thành quả vị Bồ Tát.

    Dương Sinh: Cảm tạ sự hướng dẫn của Đại Sĩ.

    Quán Âm: Hãy đi theo tôi.

    Dương Sinh: Đại Sĩ nhẹ nhàng như mây, thoáng cái đã rời tòa sen, dáng đi như mây bay nước chảy... A, ven đường núi xanh nước biếc quả không thẹn là cảnh tiên. Tới nơi, phía trước có rất nhiều tịnh xá, dưới gốc cây bồ đề có các tăng lữ ngồi, ngoài ra bên cạnh các gốc cây khác có một số vị tóc dài đang ngồi thiền định, tất cả đều có vẻ quên mình.

    Quán Âm: Các vị Bồ Tát đó lúc còn tại thế đều tu đạo Bồ Tát, sau khi thành đạo tới đây tĩnh tu, không kể xuất gia tại gia, chỉ cần học tinh thần tu trì độ chúng của tôi, nhất định sẽ thành tựu, Dương Sinh có thể hỏi đạo họ.

    Dương Sinh: Thưa vâng, xin hỏi đức Bồ Tát (vị này là một tăng sĩ mặc áo cà sa, vẻ mặt từ bi, vòng hào quang trên đầu tỏa chiếu sáng ngời, và vì có thụ giới cho nên hào quang phát ra càng mạnh mẽ). Thưa ngài đã tu cách sao mà đạt được đạo quả như ngày nay?

    Bồ Tát Trí Quang: Pháp danh của tôi là Trí Quang, lúc sống xuất gia quy y Tam Bảo, chăm lễ đức Thế Tôn, hành đạo Bồ Tát. Tôi thấy rằng tu Phật học đạo, cốt ở việc giúp đời cứu người, xuất gia chẳng phải là chỉ cố giữ Tam Bảo trong điện, quy y Phật, pháp, tăng là phải học tập tới chân tủy của ba bậc đó, tức là phải thực hành những gương tốt của các bậc đó để lại. Bởi trong khi tu hành, ngoài những công tác từ thiện như giảng kinh khuyến hóa, phóng sinh, tế bần, cứu nạn, v.v... tôi còn tận lực tu dưỡng nội tâm, tham thiền nhập định, đối với Bồ Tát Quán Âm tôi lại càng kính cẩn lễ bái, các bạn đồng tu nếu như có ai bị đau ốm thống khổ tôi đều tận tâm giúp đỡ, giải nguy để họ thể hội được tinh thần từ bi của nhà Phật, khiến càng kiên định tin tưởng tu hành. Về quá trình tu đạo của tôi cũng gặp nhiều ma nạn khảo đảo, gặp nghịch cảnh tinh thần hoảng hốt, song tự biết là nghiệp chướng chưa tiêu nên bị chà đạp, trong lúc thống khổ lòng tôi không hề bấn loạn, gắng sức giữ vững lập trường, suốt đời hành thiện tu đức, quảng bá Phật pháp nên cảm hóa được rất nhiều chúng sinh, cuối cùng tu thành quả vị Bồ Tát. Tại đây tôi thường cung kính lắng nghe đức Thế Tôn cùng đức Quán Âm thuyết pháp, để tĩnh tu lại cho tới khi chứng đắc quả vị cao hơn. Mong người đời tu đạo chớ có vì tư lợi, hãy luôn luôn ôm ấp hoài bão tâm Bồ Tát, giúp đỡ thật nhiều cho chúng sinh, trong khi ban phát tâm từ bi thương xót thì tâm mình cũng hóa thành tâm Bồ Tát, lâu ngày tâm thông suốt, dạ không còn trở ngại, tự nhiên thành tựu quả vị Bồ Tát.

    Dương Sinh: Cảm tạ Bồ Tát Trí Quang đã phát tâm thuyết pháp, lấy tâm “đại bi” giúp người để rồi đạt được quả vị “đại hỉ” lẽ nhân quả mảy may không sai chệch. Lại xin hỏi vị Bồ Tát (vị này để tóc nhưng hào quang trên đầu cũng tỏa khắp bốn phía, tướng mạo cao quý, khí chất phi phàm) thưa ngài đã tu cách nào mà đạt thành được chính quả.

    Từ Ngộ Bồ Tát: Tôi là nữ cư sĩ tu đạo tại gia, nhân tiền sinh tôi làm công chức, sau khi các con của tôi trưởng thành, tôi được thanh nhàn, nhờ một người bạn giới thiệu, tôi tới chùa xin quy y tam bảo, trở thành cư sĩ tại gia. Từ đó chăm chỉ nghiên cứu kinh Phật, ăn chay, giữ giới, niệm Phật, tĩnh tâm, trí tuệ mở lớn, liễu ngộ nhân sinh tứ đại giả hợp, duy có Phật tính là chân thực, do đó thường bố thí tiền bạc ấn tống kinh sách, gặp người nghèo khó ra sức giúp đỡ. Nhân người em trai mở tiệm thuốc tôi cũng bỏ tiền ra mua thuốc phát không, suốt đời làm việc thiện, tích được nhiều công đức, chăm lo tu tâm sửa tánh, khí chất ổn định, không phạm tội ác, cuối cùng tu thành đạo quả Bồ Tát.

    Dương Sinh: Làm Bồ Tát tại gia càng dễ gần gũi chúng sinh, tận tâm tận lực, phát huy tinh thần Bồ Tát cứu khổ cứu nạn cuối cùng thành đạo, thực quả đáng kính phục. Xin hỏi đức Bồ Tát (vị này ăn bận xuề xòa, hào quang trên đầu tròn trịa, tướng coi rất phúc hậu) không rõ ngài tu cách sao mà lại đạt thành được chính quả?

    Đức Nhân Bồ Tát: Tôi là cư sĩ tu đạo tại gia, tôi nhờ bạn bè giới thiệu thầy học đạo, sau khi thụ giáo minh sư, giác ngộ được chân lí nhân sinh nên độ được chúng sinh. Tôi cũng nghiên cứu và tu cả đạo Nho nên đã phát giác ra rằng lí đạo nhiệm mầu của hai đạo giống nhau, do đó mà lúc còn sinh tiền tôi không hề bài xích đạo Nho. Còn các kinh như: Đạo Đức Kinh, Thanh Tĩnh Kinh, Tứ Thư, Ngũ Kinh tôi đều nghiên cứu và thể nghiệm rất sâu xa, bởi vậy tôi thường đàm đạo cùng các đạo gia tu sĩ. Phàm những sách dạy về cách tu tâm dưỡng tính, nếu thấy được tôi đều ra sức nghiên cứu tu luyện, tôi còn tập cả nội ngoại công để trau dồi cơ thể, suốt đời vui đạo làm việc thiện, quảng độ chúng sinh hướng thiện, ra sức tế bần cứu thế do đó mà tu thành quả vị Bồ Tát.

    Dương Sinh: Sau khi thỉnh giáo đức Bồ Tát, cảm thấy rằng thân này tu đạo chẳng dễ, bất luận quy y tông phái nào cũng đều phải lo công quả cứu người, giúp đời. Không có tinh thần giúp người hẳn là tâm từ bi không hiển lộ ra được, muốn đắc quả Bồ Tát lại càng không đủ tư cách. Một kẻ không chịu giúp đỡ người khác hẳn là sẽ thành quỷ tham lam lợi lộc, tâm địa nhỏ nhen, chỉ lo sao cho đầy bao tử mình, chẳng thể thông suốt được cảnh giới vô hạn, tất cả những gì thành đạt được đều chỉ là giới hạn.

    Tế Phật: Dương Sinh nói rất đúng, mong thế nhân chăm lo vun bồi tâm đức mới tránh khỏi sinh bệnh ung thư, hủ bại ăn uống chẳng được. Bữa nay xin bái từ đức Đại Sĩ tại đây.

    Quán Âm: Thời giờ đã trễ, tiễn hai vị trở lại Thánh Hiền Đường, tôi rất hoan nghênh nếu quý vị tới thăm chốn này thường xuyên.

    Dương Sinh: Cảm tạ đức Quán Thế Âm từ bi hóa độ, đệ tử xin cáo từ. Thưa con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư trở lại Thánh Hiền Đường.

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:32 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • HỒI HAI MƯƠI CHÍN

    DẠO THẾ GIỚI CỰC LẠC TÂY PHƯƠNG

    LẮNG NGHE ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ THUYẾT PHÁP

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 26 tháng 7 năm Canh Thân (1980)


    Thơ

    Vô trần lạc đắc nhất thân khinh
    Tĩnh thổ cần bồi phương thốn canh
    Quả mãn công viên quy cực lạc
    Thiên biên hải giác nhậm du hành.

    Dịch

    Thoát tục vui thay xác nhẹ nhàng
    Đất lành vun xới sống thênh thang
    Tròn đầy công quả về chầu Phật
    Biển rộng trời cao thỏa vẫy vùng.

    Tế Phật: Khắp nơi đều nghe thấy có người học Phật tu đạo, song cuối cùng muốn học Phật tu đạo phải làm sao đây? Theo như lão tăng thấy thì cũng chẳng có gì, chỉ cần hỏi lại lòng mình mà thôi, nếu như thấy tâm không thẹn, tôi cho là đã gần Phật rồi đấy. Xa rời tâm tức chẳng có Phật để tìm, như trong một ngôi chùa không có một vật chi hết, hẳn chẳng thể gọi là chùa được, trong cơ thể con người nếu như không có tâm thì làm sao thành người nổi. Do đó nguyện chúng sinh hãy gắng trở thành người có tâm. Tâm có thể biến hóa vô cùng, giống như một chuyên viên vẽ kiểu y phục giỏi, có thể vẽ hàng trăm, hàng ngàn bộ đồ kì quái khác nhau. Tâm người có thể ví như chuyên viên vẽ mẫu y phục, có thể biến đổi diện mạo thân hình mình thành nhiều vẻ khác nhau, muốn biến thành Phật thành ma đều tùy tâm mình muốn. Mỗi cá nhân là một vị thầy ma thuật, muốn bỡn bất cứ cách chi, đi bất cứ kiểu gì, chọc cười cách nào đều làm được cả. Lão tăng chỉ hi vọng biến thành người tốt, biến thành Thần Thánh Tiên Phật chứ đừng tự biến mình thành ma thành quỷ để cho người đời sợ hãi chán ghét thì thực quả là quá u mê ngu tối. Biến thành tốt biến thành hoại đều do một tay mình tạo nên, đem mình biến thành địa ngục quỷ quái hoặc trâu bò gà vịt, soi gương nhìn lại vóc dáng nhảy lên thất thanh kêu lớn... Khi đó mới vỡ lẽ ra là chẳng thể biến thành bức vẽ kiểu mẫu, thụ pháp chẳng cao minh cho nên đã biến hóa sai. Nghe lời lão tăng nói, bản lai diện mục tức bộ mặt chân thực nếu như mất đi thì dẫu kêu cầu liệu có thể trở lại được không? Chắc chắn là không, một sớm biến chất sau này có hối cũng chẳng kịp nào. Bữa nay thầy hướng dẫn trò ngoan Dương Sinh dạo thế giới cực lạc tây phương bái hội đức Phật A Di Đà.

    Dương Sinh: Thưa con đã lên đài sen, kính mời ân sư khởi hành...

    Tế Phật: Đã tới nơi, Dương Sinh xuống đài sen mau.

    Dương Sinh: A, tới chốn này vàng bạc, ngọc lưu li phô bày ngập đất, lan can, rừng cây, lưới võng đều là những vật phi phàm, thứ nào thứ nấy chói ngời hào quang, quả là cảnh tuyệt vời chưa từng thấy ở thế gian.

    Tế Phật: Thế giới tây phương cực lạc, là nơi đức Phật A Di Đà ngự, nơi đó cũng còn gọi là đất nước cực sung sướng, bảy lần rào, bảy lần lưới, bảy hàng cây vây quanh kín bốn phía. Chúng ta mau tới trước bái hội đức Phật tôn kính cùng lắng nghe người thuyết pháp.

    Dương Sinh: Phía trước có một ngôi điện lớn, có phải đó là nơi đức Phật tôn kính cư ngụ không?

    Tế Phật: Đúng đấy, phía trước là điện Di Đà, chúng ta mau tới trước đảnh lễ.

    Dương Sinh: Xin tuân lệnh. Trong điện có rất nhiều cao tăng cư sĩ tu thành chính quả, vị nào vị nấy vẻ mặt từ bi miệng đang niệm Phật, thanh âm du dương tịch mịch người nghe trong lòng thư thái.

    Tế Phật: Lúc còn tại thế họ đều là những người tu học Phật đạo, nhờ công đức viên mãn cho nên được tới thế giới cực lạc... Đã tới Thánh điện, chúng ta mau vào đảnh lễ đức Di Đà.

    Dương Sinh: Xin tuân lệnh. Vào trong thấy ngồi ngay chính giữa điện một vị Phật pháp tướng trang nghiêm, toàn thân ngời sáng hào quang, khiến người ta nhìn thấy phải kính nể. Đệ tử là Dương Sinh xin đảnh lễ đức Phật kính tôn, bữa nay có duyên theo ân sư tới thánh cảnh cực lạc đảnh lễ đức Phật A Di Đà. Xin đức Phật kính tôn truyền dạy Phật pháp cho đệ tử.

    Phật A Di Đà: Lành thay, người ta niệm “A Di Đà Phật” còn tôi lại niệm “Chúng sinh là Phật”, chúng sinh bị luân hồi sáu ngả, thân bị thống khổ, cho nên tôi phát bốn mươi tám đại nguyện tạo được cực lạc thế giới, nơi này hóa thành vùng đất yên lành, dạy người quyết chí niệm Phật tu đạo, mỗi niệm không quên Phật trong ta, tôi đương dẫn dắt tới đây. Nếu như nghiệp phàm chưa tĩnh, niệm Phật tâm chẳng chuyển, hình Phật tự tán, thiếu bàn tay từ bi, sức yếu vô phương cứu độ. Cho nên hi vọng chúng sinh học Phật tu pháp, bộ đầu ắt phải tĩnh nghiệp trần, tự tạo đất tĩnh, còn không khó mà thành đạt. Bữa nay vui mừng được thấy Dương Sinh là người phàm vào cửa pháp Di Đà đất tĩnh, đặc biệt ban ít lời để giác ngộ, nếu như có gì thắc mắc cứ đặt câu hỏi tôi sẽ trả lời.

    Dương Sinh: Cảm tạ đức Phật kính tôn đã ban cơ hội tốt cho đệ tử, kính hỏi đức Phật tôn kính vừa rồi ngài dạy: “Thế nhân đều niệm A Di Đà Phật” còn ngài là một lòng niệm “Chúng sinh là Phật” đệ tử cảm thấy có bao hàm ý nghĩa, kính mong ngài giải rõ ý đó là như thế nào?

    Phật Tôn Kính: Lành thay, Dương Sinh quả là có trí huệ, chúng sinh ngày đêm niệm “A Di Đà Phật” là mong tôi độ họ lên thế giới cực lạc. Còn tôi ngày đêm niệm “chúng sinh là Phật” tức hi vọng rằng chúng sinh và tôi là một, nếu như thể ngộ được ý của tôi thì trần thế sẽ hóa thành đất tĩnh, thế giới ta bà biến thành nước cực lạc, vì tôi cũng mong xuống đất tĩnh trần gian sống tiêu dao tự tại một phen.

    Dương Sinh: Lời nói của đức Phật tôn kính hàm ngụ ý nghĩa siêu diệu, nếu như nhân gian biến thành cực lạc, ngài sẽ đầu thai giáng phàm chăng?

    Phật Tôn Kính: Chỉ mong là trần gian với đất này tương đồng, tôi ước ao xuống phàm.

    Dương Sinh: Thưa chúng sinh đều mong siêu thăng thế giới cực lạc, ý nghĩa đó có điên khùng không?

    Phật Tôn Kính: Người đời nghiệp chướng quá nặng, thống khổ phiền não bất tuyệt nên khổ nghiệp buộc chặt, rất muốn thoát khổ đặng hưởng lạc, kì vọng nơi Phật tôi gia hộ để giải thoát khỏi khổ, như thế gọi là giác ngộ, quay đầu. Còn nếu như nhận khổ làm vui, chấp ảo làm chân mới là đảo điên.

    Dương Sinh: Thưa đã như vậy, thì làm cách nào để nhờ Phật dẫn độ hầu thoát khổ?

    Tế Phật: Duy chỉ có một đường “niệm Phật, học Phật”.

    Dương Sinh: Thưa chỉ đơn giản có vậy thôi sao?

    Phật Tôn Kính: Một tiếng A Di Đà liền tới nước cực lạc. Học Phật dù chỉ thấy hình tượng, song với Phật chân thật cũng chỉ là một.

    Dương Sinh: Lời đức Phật tôn kính dạy thực là quá siêu diệu, xin ngài giảng giải rõ hơn để cho đệ tử thấu tỏ.

    Phật Tôn Kính: Niệm Phật ban đầu mỗi niệm chẳng quên, cuối cùng niệm quá ắt quên. Còn niệm A Di Đà Phật, niệm tới tự tính chân Phật, niệm lâu thành Phật, trước tự niệm làm Phật, niệm lâu thành chân, ngày sau người đời tự nhiên niệm mình làm Phật. Một lòng không loạn, một lời không sai, với Phật A Di Đà tâm tâm tương ứng, cho nên nói: “Một tiếng A Di Đà liền tới nước cực lạc”. Đã nhận tự mình là Phật, giác ngộ tâm tính, niệm Phật một lần ắt Phật hiện ra trước mắt, nhích chân một cái tới liền đất tĩnh. Chúng sinh nghiệp nặng, phiền não đa đoan, cất tiếng niệm Phật, khí đau khổ tuôn ra, khổ nghiệp giảm bớt đó là chỗ siêu diệu của sự niệm Phật. Phật có giới luật, quy củ, nghi thức, nếu như nhất nhất học được, đều chỉ là một, tự chứng niết bàn, thành đạt chính đẳng chính giác.

    Dương Sinh: Niệm Phật khí đau khổ tuôn ra, nhờ đó nhẹ bớt khổ nghiệp thì quả là một phương thuốc tuyệt diệu trị bệnh tâm linh. Thưa đệ tử chưa được rõ khi chúng sinh niệm Phật, cảm giác của ngài ra sao?

    Phật Tôn Kính: Chúng sinh bái thọ quy y niệm Phật để giải thoát nỗi ưu phiền trần tục, để khỏi vọng niệm, để hiện tâm Phật, lúc này tâm tôi cùng với kẻ niệm tôi cùng tương ứng, ba kiếp nghiệp trói nghe danh hiệu Phật cung kính lễ bái ắt Phật cứu độ, cho nên thành tâm niệm Phật có thể tiêu tai giải nghiệp trấn tĩnh được tâm tính. Khi chúng sinh niệm Phật, hang trống truyền thanh âm tai tôi nghe thấy, tâm Phật cảm động, sẽ tới cứu ngay.

    Dương Sinh: Thưa đệ tử từng nghe nói niệm Phật thì có thể đeo theo nghiệp lên sống ở thế giới cực lạc, có đúng vậy không?

    Phật Tôn Kính: Vãng sinh đeo theo nghiệp cũng không miễn được hết nghiệp chướng, phải một lòng niệm Phật, gặp hoàn cảnh nào tâm đạo vẫn vững bền ắt là vào được thế giới cực lạc, rồi còn phải tu luyện thêm ở đó tới khi nghiệp lắng trong mới hóa sinh nơi đất tĩnh. Nghiệp chướng nếu không hết như màn che lấp cửa, chẳng thể thấy sự sáng nổi, tôi dùng ánh sáng Phật phổ chiếu, khiến thân họ trong sạch, tâm họ sáng sủa, tất cả ác nghiệp tan, liền vào ngay đất Phật. Nơi đây còn có rất nhiều viện tu đạo, sở tiêu nghiệp chuyên để cho những người còn đeo nghiệp dùng mà tu luyện. Kẻ vãng sinh đeo theo nghiệp là tại lí do trước khi tạo nghiệp và sau khi quy y họ đều không niệm Phật một lòng niệm Phật sám hối tiền nghiệp tôi sẽ cảm ứng sự tâm thành của họ mà cứu độ. Nếu như chỉ có niệm Phật, nhưng lại tái tạo các ác nghiệp, không biết sám hối, thì sự niệm danh hiệu Phật sẽ như mây che núi, chôn vùi mất sự chân thực của nó, vì vậy không thể đeo theo nghiệp vãng sinh nơi đất tĩnh. Do đó kẻ tu pháp môn tĩnh thổ điểm quan trọng số một là tĩnh khẩu, tĩnh tâm, tĩnh thân ắt gần được đất tĩnh. Lại còn phải tích thiện tu đức chẳng thể khẩu Phật mà tâm không Phật, phải cả tâm lẫn khẩu đều phục Phật, chớ có giảng giải nói miệng suông. Tôi thấy chúng sinh đời mạt pháp mê đắm ngũ uẫn, luân hồi sáu nẻo, rồi vận trời đổi thay, thời đại ngày một mới, vật chất hưng thịnh, xa hoa bừa bãi, bốn mươi tám đại nguyện không thực hiện nổi. Vì phổ độ chúng sinh đặc biệt khai mở pháp môn, khuyên người một lòng niệm Phật, Phật pháp giản dị tu hành mau chóng. Chúng sinh nếu như không biết tu trì, sợ rằng khi không còn thân muôn kiếp chẳng khôi phục nổi. Phật vốn chí công, mặc dù đã vào cửa Phật, miệng tụng Di Đà nhưng tâm rắn rết thì Phật cũng chẳng dám tới gần dẫn độ, Phật rất từ tâm, chỉ tại mình tự xa lánh Phật. Bởi vậy mong rằng chúng sinh từ nay nếu đi trên đất tĩnh ắt có ngày nghiệp trần dứt sạch, vạn vật vứt bỏ, hủy diệt linh căn.

    Dương Sinh: Nhờ ơn đức Phật kính tôn đã từ bi khai mở phương tiện pháp môn, nên có rất nhiều chúng sinh không kể nam phụ lão ấu tay lần tràng hạt, miệng vang vang niệm Phật thật chí tình, khiến mọi người kính nể. Cứ theo như đệ tử nhận xét thì niệm Phật có thể vãng sinh thế giới cực lạc, ý nghĩa quả là vi diệu. Kính xin đức tôn kính khai mở trí huệ thêm cho đệ tử.

    Phật Tôn Kính: Phật không nói sằng, niệm Phật có thể siêu thăng. Còn có thể siêu thăng cực lạc không, thì xin trả lời là niệm Phật để đánh đuổi tạp niệm giúp tâm linh an tịnh, do đó không phản bội đạo quy, con người khi tạo ác nghiệp là lúc miệng quên mất Phật A Di Đà. Bởi vậy nếu ngày đêm tụng “A Di Đà Phật”, miệng tụng tâm tưởng, lâu dần tâm với khẩu là một, Phật tính hiển lộ trừ được ác căn mầm đạo ló, đất tĩnh cây bồ đề mọc lớn. Niệm Phật khiến tâm thần quên nỗi thống khổ phiền não, có tác dụng sản sinh thiền định, cho nên tĩnh tức là định, định có thể sinh tuệ và thấy Phật, tinh thần an vui, tâm linh có chỗ gởi gấm. Lúc niệm Phật tâm sinh khí an hòa thanh tịnh, điều hợp được hành vi bất chính tàn bạo, đánh tan trược khí tụ ở bộ đầu cứu rỗi âm linh. Niệm Phật cũng như thế gian hòa tấu âm nhạc, người nghe cảm thấy thanh thoát nhẹ nhàng quên tất cả những nỗi phiền não rối ren, thống khổ bất an. Bởi vậy khuyên kẻ tu đạo, kẻ bệnh hoạn, kẻ tâm thần bất ổn hãy chăm niệm Phật chắc chắn sẽ hiệu nghiệm, xa rời khổ đau đạt được yên vui.

    Dương Sinh: Đức kính tôn dạy quá đúng, niệm Phật, tưởng Phật, biết Phật, thấy Phật, tức là Phật, niệm hoài niệm mãi, không quên lời Phật dạy, nhất định sẽ thành Phật. Thưa đức kính tôn cảnh thế giới cực lạc tây phương đẹp đẽ quá mức, thưa đệ tử muốn giới thiệu với chúng sinh có được không?

    Phật Tôn Kính: Đất này phàm trần không có nổi, thanh tĩnh trang nghiêm vô cùng vi diệu, lầu gác nguy nga hàng hàng lớp lớp, tất cả đều tuyệt diệu, quý báu, thanh nhã, tinh khiết, thơm tho lạ thường. Nước đức trong ao quý tẩy rửa tâm trần đầy bụi bặm, nhạc trời không cần tấu vẫn thường trổi vang, khí hậu không nóng không lạnh hoàn toàn thích nghi, quần áo ăn uống chỉ mới nghĩ trong đầu là có ngay trước mặt, chim quý hót véo von. Thuyết pháp về không khổ, vô thường, vô ngã, gió thổi vi vu trong rừng cây kẽ lá, tất cả âm thanh đều hết sức vi diệu vì tiếng đó là tiếng pháp vang dội. Lục căn thanh tĩnh dứt sạch phiền não, bụi bặm, bao nỗi khổ nhọc trần gian không nổi dậy, trí tuệ thăng tiến thâm đạt thực tướng, thần thông tự tại sống thọ vô cùng, hết mọi khổ đau được mọi sung sướng. Giờ tôi xin hướng dẫn Dương Thiện Sinh dạo thăm các thắng cảnh.

    Dương Sinh: Cảm tạ sự hướng dẫn của đức tôn kính, đệ tử thường ước mong được lên thế giới cực lạc, bữa nay có kì duyên lên được đây phải xem cho thỏa để cuộc hành trình khỏi uổng phí.

    Phật Tôn Kính: Thế giới tây phương cực lạc nơi người phàm sau khi qua đời được về an nghỉ, cảnh sắc tuyệt diệu khác hẳn trần gian. Dương Sinh đi theo tôi.

    Dương Sinh: Thưa vâng, xin đi theo đức tôn kính... Phía trước có một cái ao rộng lớn, trong ao nở đầy các loại hoa đủ màu sắc coi đẹp mê hồn, bên ao cắm một cái bảng đề ba chữ “Thất Bảo Trì” tức là ao có bảy cái quý, vàng ngọc huy hoàng.

    Tế Phật: Đây là ao Thất Bảo, nước trong đó là nước tám công đức, dưới đáy ao là cát vàng phủ ngập, nước này là nước “sống” diệu dụng vô cùng.

    Dương Sinh: Thưa tại sao lại gọi nước trong ao là nước tám công đức rất diệu dụng?

    Phật Tôn Kính: Nước “sống” là nước Phật, là nước tám công đức, tính nước biến hóa vô cùng. Người muốn vãng sinh đất yên ắt phải tắm và uống nước tám công đức này mới có thể thanh tĩnh. Người đời nếu như học tám công đức này nhất định sẽ được vãng sinh nơi đất tĩnh, chẳng cần phải trải qua sự tu luyện nước tám công đức ở đây. Nước tám công đức gồm có:

    1. Lắng trong: Tâm cảnh của người lắng trong tinh khiết, không ngầu đục sự ô uế.

    2. Trong mát: Tâm người cần sự thanh tĩnh mát mẻ, không có khí tối tăm nặng trược phiền não.

    3. Ngọt ngào đẹp đẽ: Tâm người phải ngọt ngào đẹp đẽ, như nước ngọt ngào uống ngon lành, kết được nhiều thiện duyên.

    4. Nhẹ nhàng mềm mại: Tâm người phải thanh nhẹ uyển chuyển, không thể cứng cỏi. Nước này phải nhẹ và chảy lên không thể như nước thế gian nặng và chảy xuống.

    5. Nhuần thấm: Tâm người không thể khô cứng, nóng nảy, phải ban nhiều ân huệ cho người, như nước tưới mát vạn vật.

    6. An vui hòa hài: Tâm người phải an vui hòa hài, như nước không dậy sóng, êm đềm ở trong, không chìm đắm và trôi chảy mất.

    7. Dẹp bỏ lo lắng: Tâm người phải trừ bỏ nỗi lo được lo mất, nước này ngoài việc giải khát còn có thể giải đói diệu dụng vô cùng.

    8. Tăng thêm lợi ích: Tâm người phải hướng thượng học nhiều để mở mang kiến thức, bồi bổ trí tuệ, có ích cho sự giác ngộ đạo lí. Dùng nước này giải khát tắm rửa thân tâm thanh tĩnh, trí tuệ vô thượng, ơn ích vô cùng tận. Nước tám công đức ở thế giới cực lạc diệu dụng vô cùng, người đời nếu như mỗi ngày học tám công đức này cùng niệm danh hiệu tôi, tự nhiên có phần dành sẵn trên đất tĩnh, chẳng cần phải tắm gội nước tám đức để tẩy rửa đào luyện thân tâm. Kẻ đeo theo nghiệp tới đất tĩnh ắt sẽ phải trải qua sự rèn luyện của nước pháp này mới có thể qua cửa. Dương Thiện Sinh có muốn xuống ao tắm rửa mình mẩy không?

    Dương Sinh: Hiện tại trong ao có rất nhiều người đang tắm rửa, không quen biết đệ tử chẳng dám xuống.

    Phật Tôn Kính: Chớ e ngại, nước tám công đức là nước pháp tẩy rửa sạch tội lỗi ác nghiệp thật là cơ hội tốt lành chớ để mất uổng.

    Dương Sinh: Thưa đã như vậy, đệ tử xin xuống... A, nước mát quá, ngâm mình xuống thân nặng trở thành nhẹ liền, giống như chim bay trên trời tắm gió xuân, toàn thân mát mẻ khoan khoái nhẹ nhàng phơi phới, cảm thấy như là thân không nợ nần thanh thoát, loại nước thật kì diệu.

    Phật Tôn Kính: Dương Sinh thử uống vài hớp coi, chắc chắn sẽ có cảm giác lạ lùng.

    Dương Sinh: Tuy nước đã tắm song vẫn cực kì trong, thử uống vài hớp nước pháp xem sao? A, uống vào bụng như băng giá, khí từ trong cơ thể phóng ra giống như bay lên nhẹ nhàng phơi phới.

    Phật Tôn Kính: Siêu thăng thực là mau, như phi cơ phun khí lúc cất cánh trên phi đạo. Người đời bình thường nếu như tu tám công đức này, chắc chắn sẽ có cảm giác như bữa nay, vãng sinh đất tĩnh chẳng khó. Kẻ một lòng niệm Phật, nếu như có nghiệp chướng, ắt phải trải qua sự tắm rửa nước này để tu luyện, kẻ nghiệp nặng mới gặp nước này có cảm giác như bị lóc da, ban đầu đau đớn dần dần trở thành dễ chịu cho tới khi thoát thai hoán cốt mới thực sự được tiêu dao nơi miền đất tĩnh cực lạc.

    Dương Sinh: Trong ao hoa sen năm màu nở đầy vô cùng đẹp đẽ, tại sao những kẻ ngâm mình tu luyện trong nước, số lượng hoa sen bao quanh lại kẻ nhiều người ít?

    Phật Tôn Kính: Mỗi tiếng niệm Phật là một đóa sen, khi chúng sinh niệm Phật, khí lực và nước miếng tức linh khí cùng nước pháp ứa ra hóa thành bông sen, do đó nước tám công đức vốn là nước từ trong miệng kẻ niệm Phật tức nước pháp tích tụ, hoa sen tượng trưng cho danh hiệu Phật, nên niệm càng nhiều hoa sen nở càng lắm. Kẻ niệm Phật thành tựu sẽ cưỡi hoa sen phóng khí bay thẳng lên cõi cực lạc. Những người đó tu luyện tại đây, thời gian không giống nhau, có người nửa năm có người một năm phải căn cứ đúng theo nghiệp chướng nặng nhẹ mà phân định. Nếu như y phục ô uế dùng nước tám công đức giặt giũ ô uế càng nhiễm nặng, càng tốn nhiều thì giờ còn ngược lại ắt rất dễ dàng. Trong ao này đầu tiên lo giải thoát khổ đau chuyển thành hoan lạc, một sớm tội lỗi ác nghiệp tẩy rửa sạch trong, tâm thân nhẹ nhàng ngồi trên hoa sen do công phu niệm Phật trở thành tiêu dao đất tĩnh, đó gọi là cửa pháp nơi đất tĩnh. Bữa nay Dương Thiện Sinh phụng mệnh viết sách phổ độ chúng sinh tôi mới đặc biệt tiết lộ dấu tích chân thực này. Mong chư đệ tử Phật tu học Phật kinh hãy giải thích đất yên theo nghĩa chân thực này.

    Tế Phật: Tâm tĩnh ắt đất cực lạc yên, mong thế nhân hãy ra sức công phu nơi mảnh đất tâm, quét dọn cho thật sạch sẽ chớ để bụi bám, ắt nhà mình là đất tĩnh há còn cầu tây phương cực lạc nữa ư? Niệm Phật học Phật tự nhiên thành Phật, đệ tử Phật hãy mau giác ngộ. Bữa nay được nghe đức kính tôn chỉ giáo nhiều điều hữu ích, giờ xin cáo từ. Dương Sinh hãy chuẩn bị.

    Dương Sinh: Cảm tạ đức tôn kính đã ban cho đệ tử nước tám công đức, thân tâm được thanh tĩnh, ơn ích quá nhiều, kính lạy giã từ.

    Phật Tôn Kính: Đất yên ở trước mắt, mong người đời chớ lạc hướng.

    Dương Sinh: Thưa con đã lên đài sen, kính mời ân sư trở lại Thánh Hiền Đường.

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:32 pm với 3 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • HỒI BA MƯƠI

    DẠO ĐIỆN TAM QUAN BÁI HỘI

    ĐỨC THIÊN QUAN ĐẠI ĐẾ

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 13 tháng 8 năm Canh Thân (1980)


    Thơ

    Thân vô quái ngại bạch vân du
    Viêm viêm khinh phong tọa vong ưu
    Lưu tục truy tùy chung hạ đọa
    Hồi quang vạn đạo chiếu cao lâu.

    Dịch

    Thân không trói buộc hết ưu phiền
    Cưỡi gió đè mây nhẹ bước tiên
    Cõi tục tham chi thêm đọa lạc
    Hồi tâm lầu đạo sáng triền miên. (1)

    Tế Phật: Mỗi khi thấy người đời tâm tình rối ren, chìm đắm, phiền muộn, khí tắt thì quạt Bồ của lão tăng quạt cũng không có gió. Dẫu có lấy khoan khoan tâm của chúng sinh cũng chẳng khai thông phiền não, hàng ngày tiêu phí hết tâm thần để mong kiếm được nhiều tiền, gặp khi thua lỗ lại mang về sự thống khổ. Kẻ có tiền chẳng bao giờ thấy tâm mình được thư thái, bao nhiêu phiền não dần dần từ trong đống tiền bò ra, cho nên thấy rằng người đời đều quá sai lầm. Đã như vậy thì tại sao chúng sinh lại cứ còn chấp mê chưa tỉnh ngộ để rồi phiền não cứ mỗi ngày một chồng chất thêm lên? Nhìn lại trẻ thơ ngốc nghếch, lượm đá bỏ đầy túi để làm tiền, lại còn đếm một, hai... quả là tính trời hồn nhiên thật quá dễ thương. Bữa nay ta sẽ hướng dẫn trò ngoan họ Dương dạo thăm cõi trời viết sách, Dương Sinh chuẩn bị xong chưa?

    Dương Sinh: Thưa con đã lên đài sen, kính mời ân sư khởi hành.

    Tế Phật: Viết sách hao tổn quá nhiều tâm thần, Dương Sinh cảm thấy thế nào?

    Dương Sinh: Thưa thầy tuy lao thần tổn khí song được dạo thăm thế giới khác thì sự khổ nhọc đó con cũng cảm thấy được bù đắp lại. Hơn nữa con còn được ngắm nhìn thế giới linh thiêng kì diệu đẹp đẽ để mở rộng tầm mắt, phát hiện được nhiều ấn tích kì lạ cùng giác ngộ đại đạo, tìm thấy bản ngã chân thực. Chúng sinh dưới gầm trời nếu như mượn được những điều ghi chép trong sách Du Kí này để phát hiện được bản ngã chân thực của mình, truy tầm lí tưởng đất yên mới không phụ lòng trời xanh mong đợi, gánh nặng trao phó đó mới có thể thực hiện được dễ dàng. Song tất cả đều là nhờ công ân sư dẫn dắt, mới có được duyên may như thể ngày nay.

    Tế Phật: Thân con mang đại mệnh phổ độ chúng sinh, ngày nay mới có vinh hạnh nhận lãnh thánh chức, phụng chỉ dạo ba cõi trước tác sách quý, có thể nói là kim cổ kì tài, đảm trách việc độ pháp giống đức Như Lai, vì vậy thầy cùng gánh sứ mệnh này, cho nên thầy trò mới đồng thuyền chung vượt khó khăn. Chỉ mong chúng sinh dưới gầm trời đọc thiên Du Kí này chớ có như kẻ phóng ngựa xem hoa mà phải nhớ kĩ sơ đồ chỉ dẫn để chuẩn bị cho việc lên thăm Thánh cảnh tương lai. Bởi vậy trăm nghe không bằng một thấy, phải đích thân thấy cảnh mới có giá trị, còn không chỉ là xem cảnh qua bản đồ, há chẳng cách biệt nhau quá xa ư? Bữa nay thầy trò mình lên đường đi thăm cảnh giới khác... Đã tới nơi.

    Dương Sinh: Phía trước kiến trúc nhiều cung điện trang nghiêm, hùng vĩ vẻ cổ xưa, vàng phủ đầy đất, mây lành trùng trùng, bậc thang lớp lang, kì hoa dị thảo mọc đầy bốn phía ngắm nhìn lòng thư thái lâng lâng.

    Tế Phật: Đây là điện phủ Tam Quan, bữa nay phải bái hội đức Thiên Quan Nghiêu Đế trước.

    Dương Sinh: Thưa vâng, theo thầy đi lên bậc thang, thân nhẹ như lông không giống như lên thang lầu ở thế gian bước đi cảm thấy nặng nề, không hiểu tại sao?

    Tế Phật: Đây là cảnh địa chân không, kẻ không có nghiệp chướng mới lên tới nổi, sở dĩ khi lên tới đây con cảm thấy thân thể nhẹ nhàng là vì giới tiên phong đạo cốt có thể đi lại dễ dàng, thân tâm quả là thanh tịnh, chỉ nhún mình một cái liền băng xa cả ngàn dặm, có thể cưỡi gió đè mây, cất bước nhẹ bay. Thế nhân bình thời cũng phải luyện thứ công phu này, còn không sẽ chẳng nhúc nhích nổi, sẽ bị vô thường bắt buộc đi đường bộ.

    Dương Sinh: Lời dạy của ân sư rất cao siêu. Phía trước có một ngôi điện lớn, trên có đề ba chữ “Tử Vi Cung” tức cung Tử Vi, có lẽ là nơi đức Thiên Quan Đại Đế ngự?

    Tế Phật: Đó chính là nơi đức Thượng Nguyên Nhất Phẩm Tích Phúc Thiên Quan Đại Đế ngự, chúng ta mau tới trước làm lễ ra mắt ngài.

    Dương Sinh: Một vị mặc áo rồng vàng ngồi trong điện, đầu đội mũ kim long, tay cầm thẻ thánh chầu trời, dung mạo uy nghi, hai bên còn có rất nhiều các tiên quan y phục chỉnh tề tỏ ý đang chờ nghinh tiếp... Đệ tử Dương Thiện Sinh lạy mừng ra mắt đức Thiên Quan Đại Đế, bữa nay đệ tử theo gót thầy tới đây, kính xin đại đế ban ân phước chỉ dạy cho.

    Tiên Quan Đại Đế: Lành thay, từ chốn phàm trần mà Dương Thiện Sinh có thể lên được tới điện Thiên Quan đã là đại phước rồi, há còn cần ban ơn phước nữa sao? Dương Sinh phụng chỉ theo thầy là Tế Phật dạo thăm cõi trời hỏi đạo viết sách, phổ độ chúng sinh, lòng tôi vô cùng hoan hỉ. Tam Tào mở Thánh hội, chư vị Thánh Tiên Phật cùng nghị bàn, đức Dao Trì ban ý chỉ, đức Ngọc Đế ban ngọc chỉ, tam quan chấp thuận bữa nay mới có thể đi suốt ba cõi biên soạn sách trời. Phàm chúng sinh dưới gầm trời sau khi đọc sách Du Kí có thể cải ác theo thiện, tu đạo lập đức, ắt tam quan có thể ban ân phước giải nguy khốn, trừ oan khiên, cho nên trọng trách mà Dương Sinh đang đảm nhận mới quá lớn lao, bữa nay tới đây quả là cuộc kì ngộ, xin mời ngồi. Tiên Quan, hãy mau dâng trà.

    Dương Sinh: Đại Đế quá thương tình, đệ tử vô cùng cảm kích.

    Đại Đế: Chớ ngại, ba cõi trong ngoài chỉ có đạo là độc tôn, chỉ cần tu đạo lớn, ra sức thực hành thánh đức, ắt trời người hợp nhất, thánh phàm tương đồng, chớ có e ngại.

    Tế Phật: Xin mạn phép ngồi, Đại Đế đã ra lệnh, lễ phép không bằng tuân theo lệnh của Đại Đế.

    Dương Sinh: Cảm tạ Đại Đế đã ban ân, đệ tử tuân lệnh xin phép được ngồi. Ngồi xuống ghế cảm giác ban đầu lạnh băng, song lần lần tinh thần thư thái nhẹ nhàng, chẳng rõ vì nguyên nhân gì?

    Đại Đế: Đất này là khí của cõi trời chín khí (cửu khí), tất cả đều là bảo vật, Dương Sinh là người phàm, ngồi trên ghế quý, chín khí lưu hành cho nên có cảm giác như vậy.

    Dương Sinh: Thì ra nguyên nhân là như vậy, đã ngồi xuống rồi là không muốn đứng lên, tuy không phải là ghế nệm song vẫn thấy êm ái lạ kì.

    Đại Đế: Ghế này làm bằng đá quý rất cứng, song khi ngồi lại có cảm giác êm ái là vì nhờ có chân khí vận hành. Đá cứng có đời sống nên còn gọi là đá sống, từ cứng hóa mềm, từ chết sống lại, như kẻ tâm dạ sắt đá cảm hóa được thì lại trở nên hiền lành nhu nhuyễn, sức sống tự nhiên hoạt bát sinh động. Dương Sinh hiện thời ngồi trên đá song người với đá đã hợp làm một, do đó mới có cảm giác như vậy.

    Dương Sinh: Thưa tại sao người và đá lại có thể hợp nhất?

    Đại Đế: Xương người khi hóa cứng so với đá chẳng khác chi, nên gọi là “hóa đá”. Người chết đất vùi thành đống, cho nên người với đá vốn vẫn như nhau. Giờ Dương Sinh ngồi trên đá, phía trên có “nhân đầu” phía dưới có “thạch đầu” cả hai cùng hấp khí cho nên gọi là “hợp nhất”. Phàm những người ngồi yên lặng, dưới hấp khí đất (do đầu đá hút khí lên), trên hấp khí trời (do đầu người hút khí xuống), lâu sau khí dày kết thành đan, sinh ra “thạch tử” tức đá con. Hiện thời lại không giống vậy, vì Dương Sinh ngồi trên trời, dưới hấp thiên khí, trên hấp địa khí đảo điên quay tròn, lẽ siêu diệu chỉ có một mình mình chứng ngộ.

    Dương Sinh: Ngồi trên trời ngó xuống đất, thân tuy đảo ngược song tâm lại tự tại, cho nên chân đạp trời đầu đội đất, một điểm hư linh treo ở giữa không trung, muôn trượng biển khổ gội tóc ô uế, thưa có đúng như vậy chăng?

    Đại Đế: Đúng như vậy, người phàm chân đạp đất, người tiên chân đạp trời, thánh phàm công phu không giống nhau, kẻ đi trên không (hành vân) chân chẳng chạm đất mới là Tiên Phật, thế nhân có thể như vậy được không? Nếu như có kẻ siêu nhân có được năng lực ấy đã đắc đạo quả, có thể quan sát trái cây chẳng treo lơ lửng giữa không trung sao? Người đời tu luyện công phu, trước tiên coi nhẹ tình dục, còn nếu như không chịu buông bỏ cứ khư khư nắm lấy để trở thành quá trọng tình đa dục, lúc lên đường khí kiệt thở dốc, tới cảnh địa hư không sợ rằng tinh cùng lực kiệt, mê man muốn tắt thở. Buông bỏ tất cả, hai tay áo lộng gió trong, hai bàn tay trống rỗng, tung cánh có thể bay mau, mong chúng sinh hãy lên một tầng lầu, nhìn rõ trời đất, cảm ngộ huyền diệu. Tâm sáng như gương, tính định như thủy, ắt thiên nhãn mở, tâm có thể nhìn thấy tính trời tức là rõ thiên đạo, cưỡi gió đè mây, tự tìm được đường. Mời Dương Thiện Sinh dùng trà.

    Dương Sinh: Đại Đế chỉ dạy ít lời song đã giúp đệ tử còn hơn mười năm đọc sách ở thế gian, đệ tử đã nghe thấu lẽ đạo, cảm tạ đức lớn của Đại Đế. Tách trà đặc biệt nơi thượng giới trong suốt tới đáy, cúi nhìn thấy rõ mặt mũi mình nổi trên mặt nước, giống hệt bức hình chụp... Uống xong tuy vô vị nhưng lại cảm thấy sự mát mẻ thấm vào tận tâm can.

    Đại Đế: Đó là bản lai diện mục chân chính của Dương Sinh, là tự tính chân nhân (Phật), vào lửa không cháy, xuống nước không chìm, nay có thể nổi trên mặt nước, đủ chứng tỏ là cao minh chân chính, đi trên mây trên nước tiêu dao tự tại. Trong nước nhìn thấy chân diện mục, miệng uống nước bản tính có thể tẩy trừ được uế khí, khai thông trí tuệ, thông thần nhập chân.

    Dương Sinh: Cảm tạ Đại Đế đã khai thị, Đại Đế giữ địa vị đứng đầu tam quan, kính xin Đại Đế cho biết lai lịch uyên nguyên cùng tình hình thánh chức ở cõi trời?

    Đại Đế: Lành thay, xin lược thuật về lai lịch đạo, để thế nhân được tỏ tường. Thuở ban đầu hỗn độn, huyền hoàng cắt chia rồi sau bắt đầu định trời đất. Lúc đó Ngũ Lão hóa làm tam đế là thiên quan, địa quan, thủy quan để cai quản lo liệu ba cõi trời, đất và nước, tra hỏi công với tội của người hầu định họa phước của chúng sinh. Tôi là Thượng Nguyên Thiên Quan, Nhất Phẩm Nguyên Dương Huyền Đô, ngự ở giữa cung Tử Vi, trông coi về hành động thiện ác của chúng sinh, cùng nắm quyền thăng giáng chư Tiên, có biệt hiệu là Thượng Nguyên Cửu Khí Tứ Phúc Thiên Quan, Diệu Linh Nguyên Dương Đại Đế, Tử Vi Đế Quân, từng hóa sinh làm Nghiêu Đế. Phàm các tinh tú cùng các bậc cao chân, đạo quả của họ nếu như tiến bộ hoặc thần thánh thuộc cõi trời đất phổ hóa chúng sinh, có công cứu thế phò nguy sau khi được tôi coi xét chuyển trình lên Ngọc Đế để ngài căn cứ vào công đức ấy mà thăng cấp cho. Như các chư tiên thuộc cõi trời, chư thánh thuộc cõi đất không làm tròn bổn phận, hoặc phạm lỗi, sai lầm, sau khi tôi tra xét tỏ tường, liền chuyển báo lên đức Ngọc Đế để giáng chức ngay. Trên đây là nói về thần thánh thuộc cõi trung hạ giới, còn như các vị đắc đạo cao minh, quả vị được vào cõi vô cực, không còn chịu luân hồi thì các vị đó không thuộc sự cai quản ở đây. Còn những nguyên linh thành đạo ở cõi thế gian cũng phải trải qua sự khảo hạch của tam quan mới được căn cứ vào công để chứng quả. Phàm nhân thiện ác đều có ghi đầy đủ trong sổ, người đời phải cầu phước tránh xa họa quyết định một trong hai đường thiện ác. Chúng sinh nếu như vận mệnh muôn việc phần lớn không thuận, kiếp trước lại tạo nghiệp đa đoan, đời này nếu như sám hối trước thần thánh, phát nguyện hành thiện, thiên quan có thể ban phước cho họ. Nếu như có con hiếu thảo phát nguyện cầu phước thọ cho cha mẹ, lòng hiếu cảm thấu tới trời, thiên quan ắt cũng giáng phước cho người. Tam quan vốn cùng chung một thể chỉ dốc lòng thương người cứu đời, cho nên chuyên ban phước, xá tội, giải nguy, tế độ kẻ hoạn nạn khổ đau, nếu như người đời trên ứng lẽ trời, dưới thuận nhân luân ắt hễ cầu là ứng.

    Dương Sinh: Lắng nghe Thiên Quan nói xong mới hay rằng phước họa do người tự chuốc, còn Thiên Quan thì lòng Tiên dạ Phật, dốc lòng ban bố ân phước cho người đời, quả là tâm trời cảm hóa người.

    Đại Đế: Trời với người vốn hợp nhất, mong chúng sinh tuân theo lẽ trời, giữ đúng đạo người ắt trời và người hợp nhất, có thể tu tới quả vị cảnh giới vô cực. Bữa nay Dương Sinh tới đây tôi xin hướng dẫn đi thăm để rõ sự tình.

    Dương Sinh: Xin vâng, đức Đại Đế tàng trữ quá nhiều án lệnh, việc xét xử chắc là cũng bề bộn lắm!

    Đại Đế: Nhân hiện nay người đời thiện ác gần bằng nhau, may mắn là kẻ hồi tâm hướng thiện cũng nhiều, do đó việc xét xử công quả là nhiệm vụ của Thánh trao cho cũng có nhiều kết quả. Song sánh với các miền do các tào khác quản trị thì cơ quan của tôi lãnh nhiệm vụ xét xử tối hậu, cho nên thần lực lớn rộng, không hoảng hốt hoang mang. Dương Thiện Sinh đạo căn thâm hậu, bữa nay tới đây tôi mới tiết lậu một số điểm về thiên cơ, xin mở sổ để Dương Sinh xem.

    Dương Sinh: Cảm tạ Đại Đế.

    Đại Đế: Đây là cuốn sổ vàng ghi công quả, lật coi cẩn thận... không được đọc thành tiếng.

    Dương Sinh: A, đây là bảng ghi chép công quả của môn sinh tu đạo tại bản đường:

    1. Ngày... tháng... năm... Dự lễ giáng cơ bút lần thứ nhất - 5 công.

    2. Ngày... tháng... năm... Từ xa về dự lễ giáng cơ bút - 10 công.

    3. Ngày... tháng... năm... Khuyên người hướng thiện - 50 công.

    4. Ngày... tháng... năm... Phát tâm ấn tống kinh sách - 100 công.

    5. Ngày... tháng... năm... Nhẫn nhục không oán than - 100 công. 6. Ngày... tháng... năm... Thấy sắc đẹp không nổi dâm dục - 300 công.

    Lại thấy trong một cuốn sách có đăng: Ngày... tháng... năm... Phát thiện nguyện để cầu cho thân phụ... hưởng phúc trường thọ, chuẩn cho tăng tuổi thọ bán kỉ (6 năm)... phát nguyện cầu vận mệnh được may mắn chuẩn cho được hưởng phước cùng ánh sáng.

    Đại Đế: Đại khái xem như vậy cũng tạm đủ, chúng sinh thấy rõ là nhân quả có bằng cớ, thiện ác chứng minh rõ ràng. Ra sức hành trì đạo đức, chăm lo tu Thánh đạo, một sớm công quả tròn đầy có thể siêu thăng thiên đường, tiêu dao cực lạc. Chúng sinh nếu như xem xong bản Du Kí này, hồi tâm hướng thiện, tu chân ngộ đạo, trăm năm sau về cõi trời tới điện phủ Tam Quan, tôi sẽ ban ghế mời ngồi, mong chúng sinh chớ để mất cơ hội tốt lành.

    Tế Phật: Cuộc bái hội thỉnh ý đức Thiên Quan Đại Đế tới đây đã hoàn tất được một phần, cảm tạ Đại Đế từ bi ân đức đã ban cho Dương Sinh nhiều linh quang. Xin cáo từ Đại Đế.

    Dương Sinh: Vì ân sư thúc giục đệ tử cũng xin cáo từ đức Đại Đế, cảm tạ ngài đã khai mở huệ cho đệ tử. Thưa ân sư con đã lên đài sen, kính mời thầy trở lại Thánh Hiền Đường.

    Đại Đế: Chúc thuận buồm xuôi gió.

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:32 pm với 3 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • HỒI BA MƯƠI MỐT

    DẠO ĐIỆN TAM QUAN BÁI YẾT ĐỊA QUAN ĐẠI ĐẾ

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 29 tháng 8 năm Canh Thân (1980)


    Thơ

    Sám hối tiền phi chủng thiện nhân
    Tham sân si ái tối thương thần
    Tu phòng thất túc khuynh linh mệnh
    Luyện tựu kim cương bất hoại thân.

    Dịch

    Hối hận xưa không rắc đức nhân
    Tham sân si ái hại tinh thần
    Coi chừng trượt cẳng toi linh mệnh
    Luyện đặng kim cang chẳng nát thân.

    Tế Phật: Có kẻ bảo: “Các người đều là tội nhân”. Tôi nói: “Người đời vô tội”, có người không phục tức khí bảo: “Tôi đã làm hỏng biết bao việc mà nói là vô tội được sao?”. Tôi bảo: “Nhà ngươi đã nhận tội, ta còn gì để nói”. Thực sự người đời vốn vô tội, chỉ biến thành tội nhân khi nào phạm vào bốn “không”: Không lễ chớ nhìn, không lễ chớ nghe, không lễ chớ nói, không lễ chớ làm. Người đời phải ra sức thực hành để tránh trở thành kẻ phạm tội bốn không. Con người lúc chào đời vốn là đứa con đỏ trần trụi rồi được mặc áo phàm tục, nhiễm màu sắc, tham bốn không, ái mười đức, đem tội lỗi của mình bôi lem trang giấy trắng sáng ngời. Nghĩ tới người đời nếu không vui được thì cũng chớ quá buồn, bữa nay thầy hướng dẫn Dương Thiện Sinh tới bái yết đức Địa Quan Đại Đế Xá Tội Nhị Phẩm Trung Nguyên để xin ngài tha tội cho người đời, mong người đời cố gắng tự làm việc này cho bản thân mình để tránh khỏi tái phạm tội lỗi.

    Dương Sinh: Thưa con đã lên đài sen, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Bữa nay chúng ta sẽ tới thăm điện Tam Quan bái yết đức Địa Quan Đại Đế, lên đường... Đã tới điện phủ Tam Quan, Dương Sinh xuống đài sen.

    Dương Sinh: Thưa thầy bữa nọ đã đi qua nơi này, phía trước có nhiều đường, riêng một đại lộ phủ đầy vàng, đi thẳng tới trước mặt đại điện phủ Tam Quan. Tại đây có nhiều bậc đạo sĩ cao minh đi đi lại lại, các vị này tới đây để khảo sát kinh tu đạo quá đông đúc rộn rịp.

    Tế Phật: Tam Quan Đại Đế đời gọi là Tam Giới Công, vị thế đứng sau Ngọc Hoàng, các dự án của Tam Tào đều phải qua sự phê chuẩn của Tam Quan sau đó mới chuyển trình Ngọc Đế. Kẻ tu đạo chứng đắc công quả ở trên trần phải trải qua sự sát hạch của tam quan sau đó mới được phân phối đi các tầng trời tu luyện chứng quả.

    Dương Sinh: A thì ra nguyên lai là như vậy, phía trước đại điện có đề ba chữ “Thanh Hư Cung” hào quang lóa cả mắt. Thưa có phải đức Địa Quan Đại Đế cư ngụ tại đây không?

    Tế Phật: Đúng đấy, chúng ta mau vào trong làm lễ ra mắt.

    Dương Sinh: Xin tuân lệnh... Vào tới bên trong thấy một vị ngồi giữa điện, mình mặc áo lông bào (áo vua ban), tay cầm ngọc hốt (thẻ vua ban) dung mạo thật uy nghiêm. Đệ tử Dương Thiện Sinh lạy chào ra mắt đức Địa Quan Đại Đế, kính xin ngài chỉ rõ bến mê.

    Địa Quan Đại Đế: Miễn lễ, bữa nay Dương Thiện Sinh theo thầy là Tế Phật tới điện Tam Quan tôi mừng lắm, mời hai vị ngồi. Tiên Quan, mau dâng trà.

    Dương Sinh: Cảm tạ Đại Đế đã ân ban, bữa nay đệ tử có được hồng ân yết kiến Đại Đế, kính xin Đại Đế thuật lại lai lịch cùng chức vụ của Đại Đế để chúng sinh dưới gầm trời được tỏ tường.

    Đại Đế: Lành thay, để phổ độ chúng sinh, chân tướng thiên đường địa ngục phải sáng tỏ, Địa Quan gánh trách nhiệm phổ độ hết thảy chúng sinh trên trái đất, lẽ nào lại giữ bí mật không tuyên bố được hay sao. Tôi là Thanh Linh Động Dương Nhị Phẩm vốn do chân khí tiên thiên hóa thành, mang các tên hiệu là: “Trung Nguyên Thất Khí Xá Tội Địa Quan, Động Linh Thanh Hư Đại Đế, Thanh Linh Đế Quân”. Bởi vì chúng sinh trên trái đất đều phạm tội, lòng trời vốn từ bi, không nỡ nhìn chúng sinh đọa lạc, cho nên lấy tư cách quyền xá tội của ti Địa Quan chỉ muốn người đời thực tâm sửa đổi sai lầm, còn ý của tôi chỉ muốn xá tội.

    Dương Sinh: Đại Đế hiện thời từ bi song đệ tử không được rõ cách xá tội như thế nào?

    Đại Đế:

    1. Người đời phạm tội nếu như biết sám hối sửa đổi, tôi sẽ tha cho ba phần tội, từ đó về sau biết lo làm điều thiện, không tái phạm tội lỗi, tôi sẽ lượng tình tha thứ nốt bảy phần còn lại.

    2. Ngày nay vào cửa thiện tu đạo, dốc tâm tu đạo không nản lòng thối chí, tuy nhiều kiếp tội lỗi chưa tiêu, tôi cũng tha cho ba phần. Nếu như giữ giới luật tinh tấn nghiêm ngặt tới chết không thay đổi, chí tu đạo không lùi, tôi có thể tha hết cho bảy phần còn lại.

    3. Trăm đức thiện đức hiếu đứng hàng đầu, nếu như vô tình phạm lỗi, song đối với cha mẹ lại là con hiếu thảo, tôi cũng xá giảm cho.

    4. Người đời có tâm tu đạo, xong ma nạn trùng trùng nên sau khi chết tội trần gian đều chưa tiêu, nếu như kiên nhẫn chịu đựng khổ cực, tâm chí không thay đổi, tôi cũng tha tội cùng giảm bớt khổ đau.

    5. Phàm thế nhân tội nghiệp kiếp trước chưa tiêu còn bị đày đọa tại địa ngục, con cháu đời sau có thể phát thiện nguyện hành thiện bố thí tôi cũng có thể tha tội, để tội hồn được giảm khinh khổ hình.

    Tế Phật: Đức Địa Quan từng phân linh hóa làm Vũ Đế, cho nên đối với đạo tận hiếu ngài đặc biệt tôn trọng. Trung Nguyên Nhị Phẩm Xá Tội Địa Quan Đại Đế có hoài vọng phổ độ được hết người cũng như quỷ tại trần gian và địa ngục, vì vậy đời mới tôn vinh ngài là đức “Trung Nguyên Phổ Độ Công”. Mong thế nhân chăm lo tu thân hành thiện, lòng trời từ ái, tuyệt không có ý bắt người đời chịu tội, vả lại vì lo cho chúng sinh khắp mọi nơi nên mới định ra điều luật xá tội. Người đời nếu như không hồi tâm hướng thiện thì dù trời có muốn xá tội cũng chẳng được nào, tới mức đó quả là hết thuốc chữa, tội quá nặng rồi!

    Đại Đế: Tôi có ý muốn xá tội cho chúng sinh, ước mong chúng sinh chớ tự bỏ lỡ cơ hội. Hi vọng chúng sinh dưới gầm trời vô tội, người người đều là thiện nhân ắt là Địa Quan cũng như Thiên Quan đều chỉ là để ban ân phước mà thôi.

    Dương Sinh: Đức Địa Quan nhân từ đáng kính, nhưng chúng sinh lại đều ngày ngày lo tạo tội ác, ngài tính sao đây?

    Đại Đế: “Họa phước không có cửa, chỉ do người tự chuốc” (Họa phước vô môn, duy nhân tự chiêu), nhân đời nay chúng sinh phước dày, do đó mà người người được hưởng ân huệ. Song chẳng qua phước phận như đèn dầu, cuối cùng sẽ có lúc hết, nếu như không châm thêm dầu tạo thêm phước, dầu hết đèn tắt, tai họa giáng xuống, khi đó nguyên linh của con người do Thiên Quan trao xuống cho Địa Quan sẽ rớt vào tay tôi, nhưng tôi từ bi để cho họ có cơ hội sửa đổi, chuẩn bị làm kẻ được tha tội. Suốt đời nếu như chỉ ngang tàng không biết hồi tâm cúi đầu vái lạy đức Địa Quan để nhận lệnh tha tội thì chắc chắn sau khi chết sẽ bị đày xuống địa ngục, chẳng còn dịp may xá tội nữa. Diêm Vương không được quyền tha tội, mà chỉ có quyền trị tội. Tôi với Địa Tạng Vương Bồ Tát cùng Mục Liên Tôn Giả vốn do một khí hóa thành để phổ độ chúng sinh, nên đều có đại nguyện xá tội, cứu khổ, cứu nạn, bởi vậy Địa Quan và Địa Tạng chỉ là một thể. Mục Liên Tôn Giả vì lòng hiếu thảo mà độ được mẹ mất, lễ Vu Lan tức mùa báo hiếu hàng năm vào ngày rằm tháng bảy nhắc nhở đạo hiếu mười phương, để cầu cho cha mẹ bị đày đọa khổ cực được siêu thoát. Bồ Tát Địa Tạng Vương có đại nguyện là nếu như không cứu hết được các tội hồn tại địa ngục, thề không thành Phật. Khi tôi hóa thân làm vua Vũ, đạo hiếu cảm động lòng trời nên có thần tích là voi cày ruộng thay thế, chim giúp bừa cỏ, vua Nghiêu vì vậy mà nhường ngôi cho khiến lưu tiếng thơm muôn thuở. Đạo giáo phổ độ của Trung Nguyên với Phật giáo Vu Lan Bồn tổ chức lễ cùng một ngày là lí do như vậy mong người đời giác ngộ điều đó. Người đời phải lấy trung hiếu làm gốc, gắng tu Thánh đạo, sau khi chết chắc chắn hồn được siêu thăng cõi trời, sống tiêu dao tự tại.

    Tế Phật: Đức Đại Đế quá từ bi, tiết lậu một đoạn nhân duyên để cho người đời biết rằng tạo hóa vô cùng huyền diệu, thực tại ân phước sâu dày.

    Dương Sinh: Bữa nay nghe những lời dạy của đức Đại Đế, đệ tử được mở mang trí não, vô cùng cảm kích. Đối với việc ngài xá tội, đệ tử chưa thông suốt hết, xin ngài giảng rõ thêm cho, thưa có được không?

    Đại Đế: Nếu như chưa rõ, tôi xin nói thêm:

    1. Có một người nọ đã vào cửa Thánh thành tâm trì chí tu đạo, song thân thể còn lắm bệnh tật, tinh thần khốn đốn, thường buông lời oán trời vì đã tự giác hành thiện ít năm mà trời vẫn chưa giúp đỡ giải trừ bệnh hoạn khổ đau. Tam Quan tra sổ thấy kiếp trước người đó là một tên đồ tể, giết hại sinh linh quá nhiều, cuối đời tuy cải nghiệp, kính Thần lễ Phật song công đức chưa đủ. Kiếp này được sinh vào gia đình tu hành để kết thiện duyên tu đạo, song vì kiếp trước làm đồ tể giết hại sinh linh quá nhiều nên kiếp này thịt xương đau đớn, bệnh hoạn chẳng dứt. Trời cao từ bi, chính vì giúp cho kẻ đó tiêu nghiệp nên toàn thân mới bị đau nhức, có đau khổ mới rõ được khổ đau, thống khổ chính là để tượng trưng cho sự tiêu tan ác nghiệp. Nếu như nhẫn nại chịu đựng và đạo tâm không lùi bước, tôi thấy được lòng thành của họ, chắc chắn sẽ xá giảm tội nghiệp để họ được hạnh phúc yên ổn. Còn nếu như bị khổ mà không chịu đựng thì dù tôi có muốn xá tội cũng chẳng được nào. Hi vọng chúng sinh có được nghị lực kiên cường, gặp trở ngại đều tự tĩnh tâm sám hối, chớ oán trời trách người, còn không tội nghiệp khó tiêu.

    2. Nếu như nhớ tới những tội hồn thân giam nơi địa ngục thống khổ không chịu đựng nổi, bình thường ngoài việc thuyết pháp độ khổ ra, mỗi năm vào tháng bảy cửa quỷ đặc biệt mở để tạm tha các tội hồn một lần, cho ra ngoài đi dạo, phàm nhân đời sau thiết yến tế bái để tội hồn khỏi đói khát. Đạo gọi là “Trung Nguyên Phổ Độ”, hiến dâng hoa quả, của ngon vật lạ, cờ quạt linh đình cỗ bàn cúng dâng chư thánh, các quỷ đều rất vui mừng. Nhà Phật gọi là lễ Vu Lan Bồn, bày bách vị ngũ quả vào trong chậu dâng hiến thập phương đại đức, nhờ chư tăng đại đức cầu siêu cứu độ cho cha mẹ đã qua đời.

    Dương Sinh: Đức Đại Đế từ bi, phổ độ khắp ngả âm dương, thánh đức quả là vô lượng. Đệ tử thuở nhỏ sống ở quê, cứ vào tiết tháng bảy về ban đêm thân phụ lại bày thân vị của Đại Đế trong nhà, ngoài ngõ đốt đèn. Cứ theo lời của thân phụ nói thì là để soi sáng cho các u hồn thấy rõ đường đi, thưa có đúng vậy không? Ngày nay công thương phát đạt, đô thị lại ít thấy cảnh đó, như thế có ảnh hưởng gì tới việc đi lại của các u hồn?

    Đại Đế: Chốn âm phủ như đêm đen chỉ có sao, tội hồn bị giam cầm ở đấy tối tăm thống khổ, chúng sinh ở dương gian mở lòng từ bi thắp đèn hai bên đường vào đêm tháng bảy để giúp tội hồn đi lại dễ dàng, công đức vô lượng. Ngày nay phàm trần khoa học kĩ thuật tiến bộ có đèn điện, nên cả hương thôn lẫn đô thị đường ban đêm đèn sáng choang, u hồn đã thấy được rõ đường, không bị trở ngại, bởi vậy người ta không đốt đèn cũng không bị ảnh hưởng, do đó nói: “Thời thay đổi thì pháp cũng thay đổi” (Thời thiên pháp diệc thiên) là như vậy.

    Dương Sinh: Thưa đức Đại Đế giải thích rất đúng.

    Tế Phật: Buổi bái yết đức Đại Đế bữa nay kết thúc tại đây, chuẩn bị trở lại Thánh Hiền Đường.

    Đại Đế: Kính tiễn nhị vị. Ước mong chúng sinh phần lớn hướng thiện tu thân, chớ có lao mình xuống hố sâu tội ác ô uế, để tránh cho tôi khỏi bị nhọc mệt về việc xá tội cho chúng sinh. Người chẳng phải thánh hiền, biết lầm lỗi có thể sửa chữa, đức thiện chẳng phải nhỏ. Nếu như sám hối tội lỗi ngày trước, tôi nguyện trả lại sự thanh bạch hôm nay, tha thứ hết lỗi lầm, mong chúng sinh nắm lấy cơ hội tốt, chớ để một lần mất thân, muôn kiếp khó tìm lại được.

    Dương Sinh: Cảm tạ lời dạy ngọc vàng của đức Đại Đế, xin bái từ.

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:32 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • HỒI BA MƯƠI HAI

    DẠO ĐIỆN TAM QUAN BÁI HỘI THỦY QUAN ĐẠI ĐẾ

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 23 tháng 9 năm Canh Thân (1980)


    Thơ

    Nhất phái thanh sơn cảnh sắc ưu
    Khinh khinh cổn thủy tính ôn nhu
    Thiêu li thế đạo kham ta thán
    Mạc phụ quang âm nan đảo lưu.

    Dịch

    Non xanh một dải đẹp vô vàn
    Nước biếc êm đềm mãi chứa chan
    Thế đạo tan tành khôn kể xiết
    Quang âm chớ phụ kiếm gian nan. (1)

    Tế Phật: Người đời mỗi ngày trước khi đi ngủ nếu không tắm rửa thì mồ hôi chẳng toát ra, cơ thể chẳng mát mẻ, mộng mị trong giấc ngủ chẳng êm đềm. Những tà niệm trong tâm chúng sinh ngày đêm không ngớt dày vò, đầy ắp tư dục, tình ái và uất hận, vị chủ nhân của tâm chúng sinh phải chịu mãi cảnh khổ sở đó, tới nỗi tưởng chừng hết còn kham nổi. Vậy liệu chúng sinh có tẩy rửa cho sạch sẽ mỗi ngày để vị chủ nhân đó được mát mẻ khoan khoái không? Nếu như không, mồ hôi nhơ bẩn của vị chủ nhân thân xác đó sẽ bốc mùi xú uế, chẳng ai dám gần đến cả Tiên Phật cũng tránh xa ngàn dặm, và cứ cái đà xuống dốc như thế mãi, cuối cùng sẽ thành quỷ rác rến biết không? Bữa nay ta hướng dẫn thánh bút Dương Thiện Sinh dạo thăm điện Tam Quan, bái hội đức Thủy Quan Đại Đế để kính xin ngài sử dụng nước pháp giải nguy trừ họa cho thế nhân, cùng giúp đỡ thân tâm những kẻ phàm phu tục tử trở nên thanh tĩnh, hẳn là người đời sẽ được hưởng phúc không nhỏ.

    Dương Sinh: Thưa con đã lên đài sen, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Đã tới nơi, Dương Sinh xuống đài sen.

    Dương Sinh: Nơi đây có một con sông chảy, nước trong suốt có thể nhìn thấy đáy là tại sao?

    Tế Phật: Đây là linh khí của đức Thủy Quan Đại Đế hóa thành. Chúng ta hãy đi theo con đường lớn bên bờ sông, tới bái yết đức Thủy Quan Đại Đế.

    Dương Sinh: Xin tuân lệnh. Khí tượng nơi điện phủ Tam Quan muôn màu muôn vẻ, thiên địa tạo hóa sao lại có thể ảo diệu tới mức này?

    Tế Phật: Hỗn mang vừa chia, vạn vật tạo dựng đều có định luật, thân người cũng có Tam Quan, con người phải tự giác ngộ để có thể sáng tỏ tất cả.

    Dương Sinh: Bên bờ sông liễu xanh rủ bóng, cảnh sắc khiến lòng người vô cùng ưa thích.

    Tế Phật: Cảnh đó tuy trang nghiêm song vẻ thiên nhiên rất phong phú, thực là cảnh tiên hoang dã. Cung Thanh Hoa ở phía trước, chúng ta hãy vào trong bái yết đức Thủy Quan Đại Đế.

    Dương Sinh: Thưa tuân lệnh... Đệ tử Dương Sinh xin bái yết đức Thủy Quan Đại Đế, kính mong ngài ban ân chỉ giáo dùm cho.

    Thủy Quan Đại Đế: Miễn lễ, Dương Thiện Sinh, Tế Phật cùng đảm trách sứ mệnh trước tác sách Thiên Đường Du Kí để khuyến hóa bến mê, lòng tôi rất vui mừng cảm kích. Sách Du Kí tả lại phong cảnh thiên đường, một nhánh cỏ một cọng cây, một ngọn núi một dòng nước, một lời nói một nụ cười đều ẩn chứa muôn vàn diệu lí huyền cơ. Phàm là đọc giả có duyên đương nhiên thần đi thì ý gặp, không thể phóng ngựa xem hoa, để tránh khỏi mất đi cơ hội tốt gặp đạo. Sách này thực là phi phàm, nhân vì Dương Sinh sớm có đầy đủ đạo căn, có trí tuệ lớn lao cho nên thấu triệt được diệu cảnh thiên đường, mà viết nên một thiên Du Kí, trở thành một đại kì thư của kim cổ, bữa nay tới đây lòng tôi vô cùng hân hoan sung sướng. Tiên Quan, mau dâng trà.

    Dương Sinh: Đức Đại Đế quá khen ngợi song đệ tử không dám nhận, vì nhờ được may mắn theo gót ân sư dạo thăm cõi trời trước tác sách Thánh, chỉ xin cảm tạ ân huệ lớn lao của đức Đại Đế.

    Đại Đế: Cớ sao tự nhiên Dương Thiện Sinh lại nhỏ lệ?

    Dương Sinh: Thưa, đệ tử thân vào cửa Thánh một lòng thay trời giáo hóa, được rõ đạo cao ít người tỏ nên tự than tâm có dư mà sức chẳng đủ.

    Đại Đế: Dương Sinh chớ buồn phiền, đã hết sức lo việc người, dốc lòng nghe lệnh trời, tâm của Dương Sinh trời đã tỏ, bút của Dương Sinh người đã động lòng, ra sức giúp thế đạo cùng kéo vận trời, trách nhiệm nặng nề mà đường thì xa, hi vọng giữ bền chí lớn, trời cao sẽ cảm ứng hóa độ chẳng phụ kẻ có lòng.

    Dương Sinh: Cảm tạ Đại Đế đã yên ủi.

    Tế Phật: Trò ngoan chớ ưu sầu, đã có lão tăng đây chẳng lẽ còn sợ không có duyên có chốn hóa độ sao? Y bát chân truyền trong tay, khắp chốn là đạo tràng, lo thực hiện trách nhiệm chung sao cho được tốt đẹp, đi một bước tính một bước. Bữa nay bái yết đức Đại Đế con nên nhân cơ hội này hỏi đạo cho thật nhiều.

    Dương Sinh: Thưa vâng. Kính hỏi đức Đại Đế, ý nghĩa của Thủy Quan là như thế nào?

    Đại Đế: Tôi là Đại Đế Thủy Quan Giải Nguy Tam Phẩm Hạ Nguyên, chuyên giúp người đời giải trừ tai ương nguy khốn, nhưng tại sao tôi lại làm chức vụ giải nguy? Bởi vì người đời đều bị bụi bặm ô nhiễm, tội ác đầy mình cho nên biến thành tội nhân. Các tội phạm ở trần gian đều bị chế tài bởi hình phạt do luật trời sắp đặt, những luật vô hình của trời con người được thấy rõ nhất là khi mưu sự mà chẳng thành, bệnh ma quỷ buộc thân cầu chẳng dứt, kiếp sống nguy nan không hết, cảnh tình thống khổ tả không thấu nên hiện thời tôi được quyền lo việc giải nguy. Tất cả bệnh tật hoạn nạn... đều gọi là “tai ương nguy biến”, chữ “tai” thuộc bộ hỏa, ý là tai nạn do lửa sinh ra cho nên phải lấy nước chế ngự nó. Thuỷ Quan như nước sông biển có thể trừ hết mọi ô uế, tẩy sạch mọi thống khổ, hóa giải hết ân oán, tất cả các nỗi nguy khốn của kiếp sống tiêu tan, tâm thân được trong lắng mát mẻ tươi vui tiếp tục sống còn lớn mạnh, cho nên đời có nói: “Có rớt xuống sông biển tất cả mới được đổi mới”. Do đó hi vọng dẹp sạch mọi nỗi bất bình oán hận cùng các dấu vết tội ác ô uế ở cõi thế gian, và có như vậy thì tai ương nguy khốn ở trần thế mới tiêu trừ nổi.

    Dương Sinh: Đức Đại Đế dùng nước tẩy trừ những tai nạn thống khổ ở trần gian, tưới đất khô cằn, công đức vô lượng, đệ tử xin cung kính dâng lễ. Tuy nhiên còn nhiều chỗ chưa được thật tỏ tường, mong Đại Đế ban lời chỉ giáo để giúp người đời phương pháp giải nguy.

    Đại Đế: Đã sinh làm kiếp người chẳng khác gì thuyền trôi trên biển, sóng dập gió vùi nổi chìm bất định, nhớ thuở ấu thơ chập chững mới biết đi, té lên té xuống chân xướt máu chảy. Khi lớn lên vật lộn với cuộc sống, mồ hôi đổ ra như tắm, vận dụng hết tâm trí, thân tâm lao lực không chịu thấu tôi lấy nước nóng giải trừ sự mỏi mệt, dùng nước lạnh lay tỉnh sự hôn mê, thường thường thêm dầu thêm khí cho thân được khỏe khoắn. Gặp lúc quá căng thẳng tôi đẩy bớt sức nóng ra ngoài cơ thể để duy trì nhiệt lượng được quân bình tránh bị thiêu hủy. Người ta cũng như máy xe hơi, chạy trên đường đời có kính chiếu tiền chiếu hậu sự nguy hiểm lúc nào cũng nhìn thấy. Sự sinh tồn của nhân loại là kế tục đời sống của vũ trụ, vì trời đất quyết tâm phát huy chính khí đại đạo cho nên với tam tài, tài nhân tức loài người quý hơn cả, tam quan là thiên, địa, thủy; thủy quan tức là nhân quan, người là thể, là chất của máu thịt rất dễ bị thương tổn thiệt hại. Bởi vậy Thủy Quan phải tùy thời giải nguy, hi vọng chúng sinh gặp lúc số kiếp nguy nan hãy niệm tên thánh của tôi tức thì được hóa giải liền.

    Dương Sinh: Tâm Đại Sư quá từ bi, khiến mọi người cảm động, thế nhân nghĩ là không gặp nguy khốn tai ương như vậy là không biết đạo, thưa đức Đại Đế có thể ban lời chỉ dạy được không?

    Đại Đế: Trời không giáng tai họa, sợ nhất là tại người tự tạo tai ương, đạo giải nguy tai họa không có cách nào khác hơn là: “Giữ mình cho thanh bạch ắt thân sẽ tránh được nguy khốn”. Nếu như gặp tai ương phải thực tâm sám hối, thi hành đạo thiện chớ tái phạm điều ác thì Thủy Quan sẽ giải nguy cho.

    Dương Sinh: Người đời gặp nguy khốn khổ sở, đức Đại Đế làm cách nào hóa giải?

    Đại Đế: Con sông ngoài kia nước của nó có công giải độc trừ họa, có thể nói là thần thủy, Dương Sinh hãy định thần nhìn coi sẽ thấy ngay sự ảo diệu bên trong của nó.

    Dương Sinh: Định thần nhìn, trong sông thấy có nhiều nhân vật nhỏ bơi lội, thưa họ là ai?

    Đại Đế: Người đời gặp hạn sao cô thân, quả tú, chết không có con cháu nối dõi, quá thống khổ, vì kiếp trước họ không tu cho nên kiếp này mới gặp nạn đó. Nếu các thiện nam tín nữ chịu sớm tối tắm rửa tĩnh tâm kiên nhẫn đốt nhang đọc kinh sám hối giải trừ tội lỗi thì nguyên thần của các tội hồn đó có thể tắm gội tại sông này để nhẹ bớt đau khổ, dần dần thoát khỏi khổ đau.

    Tế Phật: Đức Thủy Quan Đại Đế từ tâm đã ân ban nhiều lời chỉ giáo vàng ngọc, đức Tam Quan Đại Đế chủ tể ba ti thiên, địa, thủy (nhân), trách nhiệm nặng nề, ban phước giải trừ tai ương nguy khốn, tất cả đều hết lòng nghĩ tới sự lợi ích của chúng sinh. Có thể nói là lòng dạ Tiên Phật, công đức lớn lao, do đó phút này chúng tôi tới điện Tam Quan diện kiến đức Tam Quan Đại Đế để kính cẩn lắng nghe lời Thánh dạy bảo.

    Đại Đế: Trong điện Tam Quan, Thiên Quan, Địa Quan đang chờ chúng ta, chúng ta hãy cùng vào.

    Dương Sinh: Thưa hay quá. Tam Quan như người trong một nhà, bữa nay nhờ vận may tới được nơi đây đồng thời được cung kính lắng nghe Tam Quan Đại Đế chỉ dạy, thực cảm thấy quá vinh hạnh... Đã tới điện Tam Quan.

    Tế Phật: Tam Quan tuy chia làm ba cung, gian giữa là Đại Điện tức là nơi hội họp để lo việc công. Hiện thời đã vào trong điện, hai vị đại đế Thiên Quan, Địa Quan đang đợi.

    Dương Sinh: Xin lạy chào ra mắt nhị vị Đại Đế Thiên Quan, Địa Quan. Phía trong bày đầy trái cây tiên ngon ngọt khiến thèm chảy nước miếng.

    Thiên Quan Đại Đế: Miễn lễ, Dương Thiện Sinh bữa nay tới viếng thăm điện phủ Tam Quan, đặc biệt bày tiệc khoản đãi để tưởng thưởng công lao viết sách khổ cực.

    Địa Quan Đại Đế: Sách Thiên Đường Du Kí đến đây đã gần xong phần chót, công đức của Tế Phật và Dương Sinh lớn lao, tên tuổi vĩnh viễn được ghi vào bảng trời, làm thiên sứ nhà trời có Tam Tào phổ độ, quảng bá phúc âm trên thế giới để cho chúng sinh hồi tâm hướng thiện, vãn hồi được khí số trời đất, xúc tiến thế giới đại đồng, đức lớn chẳng kể xiết.

    Thủy Quan Đại Đế: Tế Phật dẫn đường, Dương Thiện Sinh chủ biên, dạo khắp cõi trời hỏi đạo chân truyền, giữa thời đại khoa học kĩ thuật chế tạo món ăn tinh thần, duy chỉ có tu dưỡng tinh thần mới có thể đem lại hạnh phúc cho con người, an tâm hưởng thụ các phương tiện của văn minh khoa học kĩ thuật. Còn nếu không sự thông minh của đầu óc con người sẽ là thứ khí giới tự hủy diệt chính con người, sự bất hạnh đó xảy đến với nhân loại ắt chẳng do Tiên Phật nhẫn tâm làm như vậy, cho nên các ngài mới thường ban huấn thị để khuyên răn. Nhân loại nếu như đều chăm lo tu thân dưỡng tính, đem đời ô trược biến thành đất thanh tịnh ắt là trời và người đều được may mắn hạnh phước.

    Thiên Quan Đại Đế: Mời Tế Phật cùng Dương Thiện Sinh dùng chén rượu Quỳnh Tương cùng trái tiên tuyệt phẩm mà thế gian không có nổi, lộc của trời cao ban phát hãy tận hưởng.

    Dương Sinh: Cảm tạ Tam Quan Đại Đế đã quá yêu mà ban cho lễ phẩm nhiều tới mức này, nhân đây con cũng xin cảm tạ sự hướng dẫn của ân sư Tế Phật.

    Tế Phật: Tình thầy trò như nghĩa cha con, hà tất phải thắc mắc. Vì trước kia khi ra đi có lời nguyền sẽ trở lại, nên hiện thời có được mối thiện duyên dạo khắp ba cõi, để viết sách khuyên đời đã khiến tôi tạm gác chuyện: “Thích thói quen tiêu dao, coi pháp môn chỉ là phương tiện” để làm thiên chức bà mẹ hiền nuôi nấng giúp đỡ mọi người thành Phật thành Tiên. Trách nhiệm của Dương Sinh quá nặng nề mà đường lại xa, gắng đem tâm pháp truyền bá rộng rãi, lòng từ ban trải nơi nơi để chúng sinh được hưởng ơn mưa pháp thấm nhuần, chứng ngộ được đạo quả bồ đề.

    Dương Sinh: Con xin ghi nhớ mãi lời thầy dạy ước mong ân sư chỉ giáo thêm cho.

    Tam Quan Đại Đế: “Tuy ba Thánh nhân song là một Thái cực, mang sứ mệnh phổ độ muôn nhà, tấm áo bao trùm hết thảy vô cùng trọng đại, là động thanh hư Tử Vi, cai quản tất cả công và tội, ban phước xá tội giải nguy, giúp đỡ sự mất còn, đạo tỏa chư thiên, ân ngợp tam giới, đại bi đại nguyện, đại thánh đại từ, tam nguyên tam phẩm, tam quan đại đế, tam cung cửu phủ, ba trăm sáu mươi nỗi cảm ứng Thiên Tôn”. Trên đây là những lời Tam Quan báo cáo cực quý trọng, người đời nếu như chăm chỉ tụng niệm, tự nhiên cảm ứng. Giờ đây có bữa tiệc nhỏ này để bày tỏ tấc lòng, đợi tới khi sách viết xong sẽ tổ chức một bữa tiệc lớn khác tại cung Dao Trì, mong hãy chờ đợi ngày đó.

    Tế Phật: Buổi bái hội đức Tam Quan Đại Đế bữa nay kết thúc tại đây, Dương Sinh hãy lạy tạ đức Đại Đế, chuẩn bị trở lại Thánh Hiền Đường.

    Dương Sinh: Bữa nay được thưởng thức rượu ngon trái ngọt nơi đây, lòng vô cùng hân hoan sung sướng, cảm tạ đức Đại Đế đã ân ban.

    Tam Quan Đại Đế: Chớ có e ngại, trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu, đạo quả tự tu tự đắc chỉ mong tiếp tục gắng công.

    Dương Sinh: Bái từ đức Đại Đế, thưa ân sư con đã lên đài sen, mời ân sư trở lại Thánh Hiền Đường.

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:33 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • HỒI BA MƯƠI BA

    DẠO ĐIỆN TRUNG NGHĨA VÀ ĐIỆN HIẾU THẢO

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 6 tháng 10 năm Canh Thân (1980)


    Thơ

    Tâm huyết ngưng thành nhất bảo thiên
    Công thùy vạn cổ thuyết chân thuyên
    Sinh tri phô thiết thiên đường lộ
    Tử giá tường vân tố Thánh Tiên.
    Sa bàn ma phá liễu đào chi
    Thụ chấp ngưng thành ngũ sắc chi
    Phúc địa thiên di quy Thánh đức
    Liên hoa xuất tự ngọc Dao Trì.

    Dịch

    Tâm huyết đọng thành cuốn sách tiên
    Công ghi muôn thuở đạo chân truyền
    Thiên đường sống rõ đường qua lại
    Chết cưỡi mây thiêng hóa thánh hiền.
    Cành liễu đàn cơ vung múa mau
    Nước cây đọng hóa cỏ năm màu
    Về trời đất phước lo trồng đức
    Sen trắng Dao Trì nở ngợp ao.

    Tế Phật: Dao Trì ý chỉ và Kim Khuyết ngọc chỉ đã ban, sách Thiên Đường Du Kí sắp viết xong, ngả thiên đường gặp nhiều người thản nhiên cày bừa nơi mảnh đất yên, họ đã tìm về được nơi trú ngụ thiện lành sau chót. Con đường tương lai mà người đời muốn đi tới là con đường nào? Thiện ác hai ngả xin lựa chọn cho thật kĩ lưỡng, cuối con đường thiện là ngả lên thiên đường, cuối con đường ác là ngả xuống địa ngục, người đời hiện đang đi trên đường nào? Xem xong hai cuốn Thiên Đường, Địa Ngục Du Kí chúng sinh đều trở thành những phê bình gia, tương lai lên thiên đường hay xuống địa ngục trong lòng đã thấy rõ. Còn Tiên Phật, Diêm Vương chẳng qua chỉ chiếu theo ý muốn của chúng sinh mà thâu nhận thôi, cũng chớ nghĩ lầm là Diêm Vương lãnh đạm vô tình. Đối với một kẻ vô đạo, lòng dạ hiện ra nét mặt, rồi người đời lại đem bộ mặt giả đó gắn cho Diêm Vương. Còn Tiên Phật lộ vẻ hiền lành tươi vui giống như đưa tay vẫy gọi chúng sinh, dung nhan từ thiện phúc hậu của các ngài cũng là do người phàm gắn cho chư vị, do đó mà chẳng cần cảm tạ tấm tình chan chứa đó của các ngài. Hai bộ mặt khác biệt nhau đó cũng đều do chúng sinh tả chân ra, chúng sinh đã vẽ chân dung chính họ, nhưng chẳng ai dám làm chủ, chỉ thấy chúng sinh hứng thú với nét bút vẽ vời của chính mình. Lão tăng nói tới đây mong rằng chúng sinh lắng nghe kĩ lưỡng, để tránh việc mời lão tăng thuyết pháp thêm lần nữa, bởi lẽ khi đó lão tăng đã nhập niết bàn rồi. Bữa nay thầy lại hướng dẫn trò ngoan Dương Sinh dạo thiên đường, hãy chuẩn bị.

    Dương Sinh: Thưa con đã lên đài sen, kính mời ân sư khởi hành.

    Tế Phật: Thầy trò cưỡi tòa sen bay, dạo thăm ba cõi khiến hoa trời rơi rụng tơi bời, chúng sinh nhìn thấy hoa lòng cũng tưng bừng đua nở, song còn bao kẻ không biết hân hoan thưởng thức, thật đáng tiếc vì họ chẳng có duyên. Dương Sinh, còn tâm con cảm thấy thế nào?

    Dương Sinh: Thưa ân sư, sự theo hầu bên cạnh thầy trong những năm qua đã giúp ích con rất nhiều, được theo thầy dạo thăm ba cõi phải nói là ba kiếp mới có nổi may mắn. Ngồi trên đài sen nhẹ nhàng bay, tuy không phí sức song tự cảm thấy trách nhiệm nặng nề mà đường thì xa, không dám lơ là coi nhẹ.

    Tế Phật: Phải, nếu bừa bãi tất nhiên sẽ bị hi sinh, bởi lẽ gai góc mọc đầy, đạp phải gây thành thương tích máu chảy, khi đó nhìn lại đường đời có biết bao kẻ đang đi, họ sẽ nhìn ngó và mỉm cười chua xót để an ủi.

    Dương Sinh: Thưa ân sư dạy rất đúng, để mình được an tâm, để chúng sinh có đạo, đường đời mới có giá trị.

    Tế Phật: Đã tới nơi, mau xuống đài sen.

    Dương Sinh: Bữa nay đã tới chốn nào đây, cớ sao phía trước lại có một số người dáng vẻ uy dũng, xem ra chẳng giống người thường.

    Tế Phật: Đây là điện Trung Nghĩa trực thuộc điện Tam Quan, còn những vị vừa thấy đều là các đấng tận trung, hi sinh vì tổ quốc, sau khi chết đều lên trời làm thần, chúng ta mau tới trước bái yết...

    Dương Sinh: Vào trong điện thấy có nhiều vị mặc chiến bào hoặc quan phục ngồi ở giữa điện, không rõ quý vị đó là ai?

    Tế Phật: Từ xưa tới giờ những ai trung hiếu tiết nghĩa đều được lên trời làm thánh, vị ngồi giữa điện là Nhạc Võ Mục Vương tức Nhạc Phi, thứ đến một số vị khác là trung thần liệt sĩ cổ kim vì nước hi sinh tính mệnh, sau khi chết linh thăng cõi trời, được dân chúng hàng năm dâng lễ vật cúng vái, vạn cổ lưu lại tiếng thơm. Còn các vị khác lúc tại thế đều làm quan thanh liêm, chẳng hề tham nhũng hối lộ, chỉ dốc lòng lo cho dân, sau khi chết cũng được thăng cõi trời làm thần sống tiêu dao tự tại trong các sảnh đường thuộc điện Trung Nghĩa, hoặc tới các tầng trời khác đảm nhiệm chức thánh. Ngạn ngữ có nói: “Chính trực vô tư gọi là thần”. Quý vị đó đều ngay thẳng quên mình lo tu tập đạo công chính, tới ngày thành đạo cõi trời cũng rất cần những nhân tài đó. Bởi vậy chốn phàm trần khi bái lạy các vị thần thánh chớ có đòi hỏi điều kiện này nọ ví dụ như: “nếu ngài giúp đỡ con được thành công trong công việc con sẽ dâng lễ vật cúng ngài”. Nếu cầu như vậy thần thánh chân chính sẽ không chấp nhận, bởi lẽ các vị đó luôn luôn căn cứ theo lẽ công làm việc, bởi vậy chúng sinh phải tâm thành mới linh ứng. Dương Sinh có thể kính xin đức Nhạc Võ Mục ân ban lời chỉ giáo.

    Dương Sinh: Hướng về phía Võ Mục Vương cùng chư vị thánh hiền nghĩa sĩ kính lạy. Thưa, đệ tử không được rõ sự sinh hoạt tại cõi trời ra sao, kính xin chư liệt vị chỉ giáo cho.

    Nhạc Võ Vương: Tôi vốn nhậm chức tại điện Linh Tiêu Ngọc Đế, bữa nay đặc biệt tới điện Trung Nghĩa này hội hợp. Thiên đường vốn ngập tràn chính khí song vì ngày nay thượng tôn văn minh khoa học, đạo đức người đời trụy lạc, gian ác thịnh hành khiến cho nguyên khí của trời đất ngày một mất đi, cho nên gặp nhiều tai họa. Tôi ước mong người đời hãy ghi nhớ lời dạy của đức Khổng Phu Tử: “Chính tâm, tu thân” để làm khuôn mẫu sống ở đời. Phàm làm việc công không được tham nhũng lãng phí của công; ngoài ra những người làm nghề khác cũng đều phải giữ đúng cương vị của mình, mọi người phải tận trung ái quốc, bảo vệ cương thổ, hi sinh tính mệnh tức là “vị đạo vong thân”, anh linh ắt được thăng cõi trời như đức Quan Thánh: “Lòng son ngời nhật nguyệt, nghĩa khí ngợp đất trời” (Đan tâm chiếu nhật nguyệt, nghĩa khí quán càn khôn) tới nay mọi nhà đều có lập bàn thờ, luôn luôn cúng lễ cho nên mong ước chúng sinh: “Yêu nhà, yêu quê càng yêu nước”. Còn như Tần Cối gian nịnh hãm hại trung thần, phải chịu mười kiếp luân hồi làm heo, đến nay còn bị nhốt tại ngục a tì chẳng được siêu thăng. Cõi trời yêu “trung nghĩa”, địa ngục nhốt “bất nhân”, bởi vậy người đời chớ có gian manh hại nước, còn không lúc sống bị mọi người nguyền rủa, khi chết vĩnh viễn đọa địa ngục.

    Dương Sinh: Trung hiếu tiết nghĩa là đức tốt của truyền thống nước ta, cũng là tôn chỉ của Thánh Hiền Đường đề xướng, tu đạo cũng chính là tu đạo đức lớn “Trung hiếu tiết nghĩa”, nếu như bỏ bốn đức đó thì kể như không có đạo để tu. A, mặt tường phía trước còn treo đầy thẻ ghi tên các vị trung thần liệt sĩ của các triều đại, hào quang lấp lánh tỏa ngời.

    Nhạc Võ Vương: Đó là những thân vị của các bậc trung thần nghĩa sĩ, khi lên trời đều được ghi tên vào bảng anh hùng, và được hưởng đời sống cực lạc.

    Tế Phật: Vì thời giờ có hạn, còn phải phỏng vấn nơi khác, bởi vậy xin cáo từ tại đây.

    Dương Sinh: Hướng Nhạc Võ Vương bái từ.

    Tế Phật: Dương Sinh hãy đi theo thầy, chúng ta tới thăm điện Hiếu Tử phía trước để bái phỏng đức tiên thánh cao minh đã đạt đạo quả hiếu thảo.

    Dương Sinh: Thưa vâng. Theo thầy rời khỏi điện, đi ra ngoài được một quãng đã nhìn thấy một tòa nhà nguy nga, trên khắc ba chữ “Hiếu Tử Điện” tức là điện những người con hiếu thảo, nhìn rất là uy nghi.

    Tế Phật: Trung hiếu là đầu của nhân luân, người đời tất nhiên phải tôn trọng, nếu không sẽ là đứa con phạm tội ngược ngạo. Phía trước điện Hiếu Tử thấy có những vị vợ hiền con thảo, chúng ta hãy tiến tới chào ra mắt.

    Dương Sinh: Xin tuân lệnh. Vào trong điện thấy có rất nhiều vị nam nữ dung nhan hiền từ, ăn mặc theo lối xưa cũng như theo lối ngày nay, đang ngồi đánh cờ, uống trà hoặc gảy đàn coi vẻ rất tiêu dao, chẳng rõ họ là ai?

    Tế Phật: Đó là những bậc con hiếu xưa nay, già trẻ lớn bé đều có cả, truyện Nhị Thập Tứ Hiếu còn tới bây giờ là do dân gian truyền khẩu. Phàm những người con hiếu thảo trên đời, sau khi chết trải qua sự tra xét của Tam Quan xong thì được siêu thăng lên điện Hiếu Tử sống tiêu dao tự tại. Còn các vị có những công đức đặc biệt thì được hưởng đạo quả riêng tại các tầng trời khác. Dương Sinh thấy trên tường có treo đầy bảng tên những vị hiếu tử, hào quang sáng lấp lánh. Hi vọng những kẻ có bổn phận làm con trên đời, phải hiếu thảo với cha mẹ. Khi cha mẹ qua đời phải làm lễ mai táng cho thật uy nghi cùng tỏ tình nhớ thương thật thắm thiết, ghi nhớ ngày tháng để cúng giỗ, hàng năm phải đi tảo mộ để đền ơn tổ tiên, cha mẹ sinh thành dưỡng dục. Dương Sinh hãy thỉnh vấn quý vị đó về gương hiếu thảo thuở còn tại thế.

    Dương Sinh: Thưa vâng. Xin hỏi vị hiếu tử, vị có thể thuật cho người đời được rõ về gương hiếu thảo của vị không?

    Hiếu Tử: Tự khoe về mình, tôi cảm thấy ngượng ngùng lắm. Tôi chỉ là kẻ dốc tâm làm tròn bổn phận của một người con đối với cha mẹ mà thôi. Nhớ lại lúc còn tại thế, gia đình tôi quá nghèo, mẹ tôi mất sớm, cha tôi lại nghiện ngập rượu chè, bên trên lại còn bà nội, cha tôi mỗi lần uống rượu vào là buông lời chửi bới xấu xa ác độc, đôi khi còn mắng nhiếc cả bà nội tôi. Khi tôi can ngăn, cha tôi đã không bỏ tật ngược lại còn đánh đập tôi, song tôi vẫn cắn răng chịu đựng sự đau đớn, không hề oán trách cha tôi. Bà nội tôi tuổi già sức yếu, thức ăn trong nhà chẳng có, tôi phải đi làm mướn kiếm tiền, lén mua đồ ăn mang về dâng bà nội. Cha tôi vì uống quá nhiều rượu, tới năm mươi tuổi thì mắc chứng đau gan và qua đời, để lại bà nội tôi và tôi sống nương tựa nhau lây lất. Hàng ngày tôi phải đi làm thuê làm mướn kiếm tiền phụng dưỡng bà nội. Mỗi lần có người mai mối tôi đều cự tuyệt vì sợ rằng bà nội tôi sẽ không có ai phụng dưỡng. Cho tới khi bà nội tôi qua đời, ma chay mai táng xong xuôi thì tôi đã ba mươi tám tuổi mà vẫn còn sống độc thân, làm công để tự nuôi thân, sống hết sức cần kiệm. Vì đời đã từng trải cảnh nghèo nên tôi thâm hiểu được cái khổ của những kẻ khốn cùng, do đó mà tôi hết sức dành dụm tiền bạc để bố thí cho những kẻ nghèo khổ hơn tôi, tôi không hề cất giữ một đồng một cắc. Tới năm sáu mươi tuổi thì tôi qua đời, nguyên linh của tôi được đức Quán Âm Đại Sĩ dẫn độ tới Trúc Lâm tu luyện, đến nay chứng đắc quả vị. Tôi nhờ tu hành chứng quả “hiếu đạo” bởi vậy thường tới điện Hiếu Tử tiếp nhận những nguyên linh có duyên tu đạo. Bữa nay nhân có Dương Thiện Sinh tới đây, tôi cũng xin trình bày vài điểm về đức hiếu nhỏ nhoi của tôi để người đời được rõ. Mong rằng người đời nương theo cách thức của tôi mà thực hành đạo hiếu với cha mẹ mình. Cổ nhân có nói: “Nhà nghèo sinh con hiếu thảo”. Sự chịu đựng khắc khổ hi sinh ở thế gian chỉ là giai đoạn ngắn, sự hưởng thụ ở tại cõi trời mới là vô cùng, tháng năm không kể hết.

    Dương Sinh: Đức hiếu của vị quả là cảm động lòng người, tôi xin lạy vị một lạy.

    Hiếu Tử: Chớ quá lễ độ, vòng linh quang trên đầu Dương Sinh đã tỏa chiếu sáng ngời, quả là một vị thành tâm tu đạo, mong Dương Sinh gắng sức phát huy đạo hiếu để quảng độ chúng sinh.

    Dương Sinh: Cảm tạ vị đã ban lời khuyên chấn hưng đạo hiếu cùng đề xướng đức tốt của truyền thống văn hóa nước nhà.

    Tế Phật: Thời giờ đã muộn, chuẩn bị trở lại Thánh Hiền Đường.

    Dương Sinh: Thưa, con đã lên đài sen, kính mời ân sư lên đường.

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:33 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • HỒI BA MƯƠI BỐN

    DẠO CÕI BIÊN GIỚI ÂM DƯƠNG

    XEM CẢNH NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC TRỞ VỀ TRỜI

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 16 tháng 10 năm Canh Thân (1980)


    Thơ

    Tẩu biến thiên đường hội chúng tiên
    Ân ân thuyết pháp chỉ tâm điền
    Nhân gian ái dục mê hồn trận
    Khiêu xuất võng la thiên ngoại thiên.
    Du kí khả tu vạn pháp kinh
    Cần tu bản tính xuất u minh
    Dương Sinh Tế Phật đồng huy bút
    Nhất bộ kì trân vạn cổ hinh.

    Dịch

    Dạo khắp thiên đường hỏi đạo Tiên
    Ruộng tâm cày cấy pháp chân truyền
    Trần gian dục lạc mê hồn trận
    Trời thẳm trời cao lưới chẳng còn.
    Du Kí là kinh vạn pháp tu
    Giúp cho bản tính khỏi âm u
    Dương Sinh Tế Phật cùng vung bút
    Hương sách ngàn năm tỏa mịt mù.

    Tế Phật: Thiên Đường Du Kí là kho tàng tu đạo quý báu, phàm kẻ có chí với đạo cần giác ngộ lí đạo siêu diệu ở trong sách, mới có thể khám phá ra được Tiên Phật hiển hiện ngay trước mắt. Sự đời vốn hư ảo, kẻ tu đạo cần phải lên tới cảnh trời ở bên ngoài trời để trở thành một vị thượng nhân, trí tuệ siêu nhiên, còn không sẽ bị vướng mắc trong cảnh mê hồn trận, sớm còn sống tối đã chết, không tìm được lối thoát, tới lúc tinh khí lực suy kém, chỉ muốn nằm xuống nghỉ ngơi. Bởi vậy trong thời gian tu đạo, thầy giỏi và bạn tốt rất cần thiết; phàm tà thuyết dị đoan, hoang đường láo khoét không được tin theo để tránh khỏi bị sa đọa vào đường ma quỷ. Quá khứ tu đạo của Lão Tăng, chúng sinh đã tưởng lầm là toan tính nhiều, song kì thực ta chỉ có một trái tim Phật thương đời tức “Phật tâm”, một khối tinh thần giúp đời tức “Tế Công”, vốn bình dị đạm bạc chẳng có chi là kì quái, chúng sinh có thói quen thường nghĩ tới cái lợi riêng tư nên có cảm nghĩ trái ngược hẳn lại mà cho ta là kẻ có những hành động quái gở. Nếu như người đời không có nổi năng lực của ta thì chớ có bắt chước ta du hí nhân gian kẻo một trong muôn ngàn cách diễn xuất lỡ vụng về hẳn là thảm lắm. Tóm lại, bởi vì trò “Tế Công” tức giúp chung thì có thể diễn được nhưng còn trò “Tế Tư” tức giúp riêng thì ngàn vạn chẳng thể thưởng thức nổi. Từ nửa năm nay, phụng mệnh hướng dẫn Dương Sinh dạo thiên đường, lòng ta vô cùng hân hoan, vì nhiệm vụ trọng đại này đòi hỏi ta phải dằn lòng bớt nóng nảy để hoàn thành sứ mệnh, nên chẳng còn dám diễu cợt châm biếm. Dương Sinh nhẫn nhục chịu đựng, có trước có sau, gặp các vị cao minh hỏi đạo cầu tìm chân lí, gặp Thánh Phật nghe pháp mở huệ, lời lời nghe dạy sâu xa siêu diệu, thực chẳng thẹn là đệ tử của thiền sư. Tới mấy trạm chót lòng Lão Tăng vốn nhẹ nhàng thơ thới lại chuyển thành nặng nề vì kẻ mê vẫn mê, kẻ ngộ vẫn ngộ. Những kẻ rong ruổi xe trên ngả đường dẫn tới thiên đường có cá nhân đã rẽ nẻo trái, có cá nhân đang ngủ gật, có cá nhân lòng khỉ ý ngựa chẳng còn nghĩ tới chuyện dốc lòng ruổi xe. Ta từ trên đỉnh mây nhìn xuống thấy nhiều kẻ đã gặp tai nạn xe cộ. Vì vậy ta có lời nhắn nhủ như sau: “Ai ở trong cửa Thánh phải luôn luôn ôm ấp trái tim thánh thì thánh linh mới mong bất diệt”. Lão Tăng đã phải trải qua biết bao thống khổ để thực hành, nên một lần nữa ước mong chúng sinh cũng phải hành đạo giống y như vậy. Dương Sinh chuẩn bị lên đài sen.

    Dương Sinh: Thưa, tại sao ân sư cứ luôn luôn than thở?

    Tế Phật: Vì chẳng còn lời nào để nói với chúng sinh.

    Dương Sinh: Nỗi cảm xúc của ân sư quá sâu xa, tâm sự của con cũng gần giống vậy, xin ân sư cứ thổ lộ để cho con được chia sớt một đôi phần.

    Tế Phật: Có rượu chẳng biết say, vô tâm có thể thấy Phật, chúng sinh đi trên đường trần, Phật trên trời ngó xuống, phải quý trọng duyên may tốt đẹp để tránh thành kẻ cô đơn. Chúng ta hãy lên thiên đường... Đã tới, chúng ta hãy xuống đài sen.

    Dương Sinh: Thưa thầy, tại sao bữa nay con thấy nơi này giống hệt nơi khác? Con đường phía bên trái hình như đã đi qua.

    Tế Phật: Đây là Âm Dương Giới tức biên giới của hai cõi âm dương hay địa ngục với thiên đường, chỗ ngã ba đường của ba cõi trời đất và người. Lúc trước viết Địa Ngục Du Kí, con đã từng đi qua con đường này, bữa nay đưa con tới đây để con thấy cảnh người ta sau khi chết phải xuống địa ngục, hay được lên thiên đường như thế nào.

    Dương Sinh: A, thì ra nguyên nhân là như vậy, ngả đường phía bên trái là lối xuống địa ngục, thấy có tướng quân Ngưu Mã áp giải thật nhiều tội phạm đang bị chửi mắng lùa đi, nhìn cảnh họ hiện tại thật quá đáng thương.

    Tế Phật: Đó là kết cuộc của những kẻ làm ác, nhưng họ còn mơ tưởng để cầu được may mắn. Lúc sống vì quá thâm hiểm ác độc, làm thương tổn cả lẽ trời, coi như không có phép trời, chuyên lén lút làm những chuyện tồi bại trong bóng tối, bởi vậy họ mới bị đày xuống địa ngục, thế mới biết luật trời đã an bài một cách hữu hiệu. Con có thể quan sát ngả đường của những người được lên thiên đường.

    Dương Sinh: Ngả đường lớn trải vàng phía bên phải có nhiều người đi, thấy họ rất tiêu dao, còn có cả bồ tát cùng kim đồng ngọc nữ ra nghênh đón. Công đức của các vị đó ở thế gian quả lớn lao, thưa đã được lên thiên đường mà còn phân chia đẳng cấp nữa sao?

    Tế Phật: Đương nhiên, như ở trần gian xe pháo bảng tên chẳng giống nhau, giá trị không đồng đều, có phẩm tước cao, phẩm tước trung cùng mới cũ phân chia. Người đời tu đạo, từng li từng tí không được gian trá, có một chút chân tâm thì trên mình được nạm một chút vàng, nếu như những chút vàng này cứ nạm nhiều thêm mãi ắt được tôn làm thân Kim Phật, Kim Tiên. Ngoài ra còn phân chia quả vị thành nhiều loại khác nhau, có đại kim thân, trung kim thân. Còn nếu như phải đày xuống địa ngục thì hẳn là thân trở thành thân gỗ mục, chẳng thể khắc chạm được gì. Chúng ta hãy tới trước thỉnh vấn quý vị thành đạo cao minh thiện đức.

    Dương Sinh: Thưa vâng. Vị lão thánh này tuổi đã khá cao, dung nhan ngợp ánh vàng, vẻ vô cùng hiền lành, nhìn qua biết ngay là bậc có công phu tu dưỡng, xin hỏi lão tiền bối, vị đi đâu đây?

    Lão Ông: Tôi lên cõi trời.

    Dương Sinh: Thưa vị có thể thuật lại thành tích quá khứ của vị không?

    Lão Ông: Tôi không có công đức gì cả, nên chẳng dám.

    Tế Phật: Vị chớ có quá khiêm nhường, chúng tôi phụng mệnh viết sách, cứ việc nói cái hay ra để khuyên răn người đời, công đức sẽ vô lượng.

    Lão Ông: Để có thể khuyên răn người đời thì tôi xin trình bày như sau: Tôi là dân nam bộ, sau khi con cái trưởng thành liền tới làm công quả ở một ngôi đền, chuyên giải nghĩa thơ dùm những người xin xâm, sớm hôm lo thắp nhang dâng trà, một lòng vì thần thánh, vì các tín đồ lo công quả. Về sau thiện nam tín nữ mỗi ngày tới đền lễ bái một đông, tiền dâng cúng rất nhiều khiến tôi lại càng hết sức thanh liêm, một đồng một cắc cũng không dám lấy lén tiêu riêng, hoàn toàn dùng để mua nhang đèn hoặc chi tiêu cho những việc trong đền. Vì nhờ đức thanh liêm công chính mà phút lâm chung tôi được thần chủ của đền đặc biệt thượng tâu lên Ngọc Đế xin cho tôi được miễn xuống địa ngục, lên thẳng thiên đường tiếp nhận chức thần, tôi chỉ có giữ trọn đạo công như vậy mà thôi.

    Tế Phật: Đại công, đại công, vị không được tự xem khinh mình, phàm trần có biết bao kẻ không được vậy. Ngọc Đế đã ban chức thần cho vị, còn tôi tặng thêm vị 100 công, để giúp thăng đạo quả vị.

    Lão Ông: Xin lạy tạ đức Phật Sống đã tận tình giúp đỡ.

    Tế Phật: Chớ ngại ngùng, khó được lắm đấy. Dương Sinh có thể thỉnh vấn thêm những vị được lên thiên đường khác.

    Dương Sinh: Thưa vâng. Xin hỏi cô nương, tôi thấy tuổi cô còn nhỏ, cớ sao lại được may mắn lên thiên đường.

    Cô Nương: Xin bái kiến đức ân sư Tế Phật, bữa nay sư sinh được dịp may mắn hạnh ngộ tại nơi này, trong lòng đệ tử vô cùng cảm động, xin thỉnh vấn tại sao ân sư không ban nhiều công đức tại thế độ chúng sinh tu đạo, để có thể giúp họ mau được gọi về trời giống như đệ tử?


    Tế Phật: Tại thời, tại mệnh, chớ có tiếc thương. Đệ tử rất kính trọng lão tăng, được lão tăng hóa độ nay đã thành chính quả. Chỉ vì kiếp trước và kiếp này đệ tử còn mắc chút nghiệp duyên với song thân, nhưng hôm nay duyên nghiệp đã dứt sạch, nhục thể bị tổn thương, nhưng nguyên linh được thoát xác về trời, đệ tử hãy nhìn kìa, đức bồ tát Văn Thù đã tới độ đệ tử về tây phương, mau mau lạy chào.

    Bồ Tát Văn Thù: Miễn lễ, hãy đứng lên, chúng ta có duyên thầy trò, chỉ vì đệ tử còn mắc chút duyên phàm thế, cho nên phải chịu luân hồi một lần, tới nay trả xong món nợ nghiệp duyên, nguyên linh đệ tử được phép trở về tây phương. Xin cảm tạ Tế Phật đã hóa độ, khai mở trí huệ cho đệ tử của tôi trong thời gian tu luyện, nên bữa nay mới có thể dứt nghiệp thoát trần.

    Tế Phật: Văn Thù chớ khách sáo, đó chẳng phải là hoàn toàn nhờ ở sự hóa độ của tôi, mà chính là nhờ ở thiện căn cùng tài năng tu hành đạo đức của đệ tử đó thôi. Dương Sinh có thể tiếp tục phỏng vấn thêm những vị được lên thiên đường cao minh chân chính khác.

    Dương Sinh: Thưa tuân lệnh. Những người đi trên đường lớn về trời, người nào người nấy vẻ mặt đều lộ vẻ vui tươi, tôi nhìn các vị đó mà tự thấy rằng tương lai của mình cũng có được nhiều hi vọng. Xin hỏi vị, vị đi đâu đây?

    Tôn Giả: Tôi tới tây phương yết kiến đức Thế Tôn.

    Dương Sinh: Tuệ căn của vị sâu dày, công đức lớn lao, hào quang trên đầu sáng chói, vị có thể cho biết về phương pháp tu trì ở thế gian của vị không?

    Tôn Giả: Năm hai mươi tuổi tôi xuất gia được độ làm tăng, vào cửa “không” tôi thực hành bốn tướng là: “không tranh với người, không oán than Phật, không khinh ngoại giáo, không tham dục như chúng sinh” (Bất dữ nhân tranh, bất hướng Phật oán, bất khinh ngoại giáo, bất tham chúng dục). Chỉ tu có bốn hạnh đó thôi, còn hoàn toàn chẳng có công đức gì cả.

    Tế Phật: Vì khác hẳn đám tục tăng, không tham gia vào các công việc của chúng sinh phàm tục rất là siêu việt, do đó mà ngày nay có thể đi thẳng tới tây phương, xin chia vui cùng vị.

    Dương Sinh: Kính hỏi ân sư, thưa có phải những người từ phàm trần lên thiên đường đều đi qua ngả đường này cả phải không?

    Tế Phật: Lòng ngay dạ thẳng là “thiên đường lộ” tức nẻo đi lên thiên đường, còn cong cong quẹo quẹo là “địa ngục đạo” tức ngả đi xuống địa ngục, con đường đi lên thiên đường này cũng vốn do lòng dạ của người biến hóa thành. Người ta nếu như lòng dạ không ác độc, sau khi chết lại thêm ba kiếp nhân quả đã trả hết, tiền án ở địa phủ được xóa sạch thì đều có thể đi theo con đường này mà lên thiên đường.

    Dương Sinh: Thưa ngả đường này dẫn tới đâu?

    Tế Phật: Đường này dẫn thẳng tới cửa Nam Thiên rồi sau đó mới đi tới các từng trời khác.

    Dương Sinh: Thưa tại sao con không thấy quý vị đó cưỡi gió đè mây?

    Tế Phật: Chốn này còn gần gũi phàm trần và là đoạn đường đầu tiên tiếp giáp với thiên đường nên phải đi bộ. Khi tới đoạn giữa có tên riêng là “tâm quan” tức cửa lòng thì tốc độ đi bắt đầu lẹ hơn rồi cứ gia tăng mãi cho tới khi có cảm tưởng như bay bổng. “Tâm quan” đã qua “tâm nhãn” liền mở núi Linh Sơn hiện ngay trước mắt. Lên thêm nữa là đỉnh núi Tu Di ở trên đầu người, tới đây còn muốn lên nữa mà không cưỡi gió đè mây thì không lên nổi.

    Dương Sinh: Thưa ân sư, lí đạo đó là như thế nào?

    Tế Phật: Đó là bí quyết của thiền, lão tăng xin trình bày rõ để cho những ai có duyên thì thể ngộ nó. Là người sống ở cõi trần phải tu thân luyện đạo, chân phải đứng vững thì mới có khả năng đi trên đường lớn dẫn đến thiên đường. Lên thêm tầng nữa, lục căn linh căn phải thanh tịnh còn không phân và nước tiểu chảy ra, khắp mình ô uế người không dám gặp thì làm sao dám gặp trời? Lại lên thêm tầng nữa, bao tử ruột già ruột non phải thanh tịnh còn không sẽ như đường hẻm có nhiều ngõ ngách lầy lội bùn nhơ đi lại khó khăn tựa như đi đường âm phủ. Lại phải lên thêm một tầng nữa, tâm giữ chính niệm nên dù có bị dao động tới mức nào đi nữa vẫn không kinh hoàng sợ hãi,với đôi mắt trong sạch, nếu như thiên đường có lối ắt có thể đi lên. Lên thêm tầng nữa liền tới đỉnh tháp Linh Sơn, nơi đó là chóp núi cao tuyệt trần ăn thông với thiên đài, chỉ cần bước một bước là nhập vào hư không, tấm thân nhẹ nhõm, chẳng còn vướng víu nợ trần hoàn nghiệp chướng, dưới chân khói trắng tỏa, khói đó là do nguyên khí biến thành chớ không phải khói đen ô nhiễm nơi nhà máy kĩ nghệ. Thân không còn trở ngại, bỏ được bước đi nặng nề nơi cõi thế gian, chân đạp trên xe mây ngao du khắp chốn thiên đường hạ giới, đó cũng là nguyên lí cưỡi gió đè mây của chư vị Thánh Tiên Phật.

    Dương Sinh: Thưa ân sư vừa trình bày đầy đủ về phương pháp tu đạo kèm thêm lí đạo nhiệm mầu siêu diệu.

    Tế Phật: Xem xong cảnh biên giới âm dương mới hay rằng thiên đường địa ngục vốn do tâm con người tạo, ý nghĩ chọn lựa con đường nào thì phải đi con đường đó. Chúng ta trở lại Thánh Hiền Đường.

    Dương Sinh: Con đã lên đài sen, kính mời ân sư trở lại Thánh Hiền Đường...

    Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:33 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • HỒI BA MƯƠI LĂM

    DẠO TAM GIỚI GẶP BÁT TIÊN QUÁN DIỆU PHÁP

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 19 tháng 10 năm Canh Thân (1980)


    Thơ

    Thiên cổ nhân duyên bộ thánh đàn
    Tuệ căn thâm chủng vãn cuồng lan
    Thiên thư bễ mĩ kim cương luận
    Du Kí kham xưng cứu thế đơn.
    Vân xa tĩnh tọa thượng liên đài
    Tam giới ngao du giác lộ khai
    Tương bạn Tiên chân cần vấn đạo
    Đề huề cửu phẩm kiến Như Lai.

    Dịch

    Thiên cổ Thánh đàn tới được nơi
    Trồng sâu gốc huệ sóng xa rời
    Sách Tiên sánh tựa Kim Cương pháp
    Du Kí coi như thuốc cứu đời.
    Mây Tiên sen Phật cưỡi về trời
    Bến giác ba miền mãi dạo chơi
    Cùng bạn chân tu bàn lẽ đạo
    Vui vầy phẩm tước gặp Như Lai.

    Tế Phật: Thầy trò ngồi trên đài sen, giống như cưỡi một chiếc xe mây bay giữa hư vô, ngày nay được như thế này là nhờ nhân duyên một đời tạo dựng. Các bạn đạo vào cửa Thánh đều còn đi xe hơi các bạn khác nhân duyên cũng không hơn gì, bởi vậy đạt được tới mức này thật là quý báu. Trên một xe chở đầy hành khách, chúng sinh biết rõ tên nhau, nghe rõ tiếng đạo lòng của nhau, thành ra rất thú vị. Chiếc xe đó chở đầy hành khách tu đạo, song trách nhiệm thì nặng nề mà đường thì xa, nếu sở học như một tài xế kém cỏi, khi tới trạm chót, lữ khách xuống xe, không dám lên lại để đi tiếp. Lão Tăng coi khắp nơi là nhà, đương nhiên sẽ không lấy đó làm phiền, chỉ sợ rằng kẻ khác nếu không tích tụ nhân duyên, khách bỏ đi, xe trống, không chở được một ai, khi đó mới hối hận cũng chẳng kịp nào. Sách Thiên Đường Du Kí tới bữa nay đã viết đến hồi ba mươi lăm, chỉ còn một hồi nữa là kết thúc, nhưng sau đó xe đi hướng nào, thời hạn đã hết, chờ các môn sinh thực hiện xem sao. Dương Sinh chuẩn bị lên đài sen.

    Dương Sinh: Thưa con đã lên đài sen, bữa nay con cảm thấy tinh thần đặc biệt nhẹ nhàng thơ thới.

    Tế Phật: Hoàn thành được sứ mệnh của trời trao cho đương nhiên lòng cảm thấy khoan khoái.

    Dương Sinh: Cảm tạ ân sư đã hướng dẫn con trong suốt thời gian qua, và nhờ vậy mà con đã tinh tiến rất nhiều.

    Tế Phật: Chỉ mong thầy giỏi đào tạo nổi đệ tử tài cao mới khỏi bị người ta chê cười.

    Dương Sinh: Thưa rất đúng.

    Tế Phật: Chúng ta hãy lên đường, bữa nay con có thể mở mắt quan sát phong cảnh.

    Dương Sinh: Thực quá hay, khi cưỡi đài sen tốc độ bay quá mau, vì vậy thường phải nhắm mắt dưỡng thần, còn bữa nay mở mắt không rõ có bị kích thích không?

    Tế Phật: Công đức tu đạo của con đã sâu dày nên mở mắt là có thể tiếp thâu được điển quang chiếu tỏa cùng sức gió lùa thổi của cõi Thánh. Phàm kẻ tu đạo trước tiên phải tích lũy công đức mới có thể tu luyện pháp nhãn thần thông, còn không ma chướng sẽ xâm nhập, dần dần tinh thần trở thành mất quân bình hoặc tâm trí bấn loạn. Kẻ tu đạo trước tiên phải lo vun bồi công đức giống như sự phối hợp của ngành truyền hình, công đức có tròn đầy như máy truyền hình sau đó mới có thể phát ra hình ảnh sáng sủa rõ ràng, thần thông quảng đại vô biên. Kẻ có chí với đạo trước tiên phải lo tu luyện tâm thân cho thiện lành siêu diệu, chớ có vội luyện pháp thần thông còn không tinh thần hoặc nhãn thần sẽ bị tổn thương thiệt hại. Chúng ta hãy lên cõi trời.

    Dương Sinh: Đài sen bay thật lẹ, tiếng gió bên tai thổi vù vù, cúi đầu nhìn xuống trần gian thấy ánh đèn sáng lấp lánh, khoa học phát triển, đèn điện sáng lòa, giống như không còn có ban đêm.

    Tế Phật: Cho nên không lấy làm lạ là thế nhân không còn phân biệt âm dương, luân thường điên đảo.

    Dương Sinh: Mây lành phủ ngợp không trung, hào quang tứ phía lòa sáng, Tiên Phật cưỡi mây bay đến, quả là đi trên mây mà không biết đang ở tại chốn nào, không có một chút khí trần ai, tâm quên mọi thứ tình. Phía trước thấy có một số vị Tiên cao minh đi tới, trông giống như là Bát Tiên?

    Tế Phật: Chính là Bát Tiên, các vị ấy biết trước bữa nay thầy trò mình qua đây, do đó mà tìm tới để chuyện trò một phen.

    Dương Sinh: Thưa hiện thời lòng con cảm thấy hân hoan, bởi vì mắt con nhìn rõ chân dung Bát Tiên. Xin cúi đầu kính chào chư vị Bát Tiên.

    Quả Lão Tiên Ông: Miễn lễ, bữa nay bấm đốt ngón tay biết được là hai vị sẽ đi qua vùng núi Tiên Sơn, cho nên chúng tôi tới đây hội hợp.

    Dương Sinh: Bữa nay may mắn được gặp chư vị Bát Tiên, kính xin Bát Tiên chỉ dạy đạo pháp cho để đệ tử được mở rộng tầm mắt, thưa có được không?

    Quả Lão: Có thể, sau khi Dương Sinh viết xong sách Địa Ngục Du Kí lại phải dạo thăm khắp chốn thiên đường, hiện thời quá khổ cực gian lao, bởi vậy chúng tôi muốn trình bày một số phép Tiên để ủy lạo Dương Sinh. Trước khi tôi hóa phép, Dương Sinh hãy thử đoán coi sẽ được ăn thức gì?

    Dương Sinh: Thưa nghĩ là được ăn loại trái Tiên mà dưới trần gian không có.

    Quả Lão: Quá đơn giản, Dương Sinh hãy nhìn hai tay trống không, chẳng có một vật gì mà tự nhiên lại có một hạt giống, đem vùi xuống đất khói mây, hóa gió hóa mưa, một ngày, hai ngày, ba ngày, Dương Sinh thấy ra sao?

    Dương Sinh: Quả là thần diệu, hạt đã mọc mầm.

    Quả Lão: Một tháng, hai tháng, ba tháng, Dương Sinh thấy thế nào?

    Dương Sinh: Cây đã cao được hai thước.

    Quả Lão: Một năm, hai năm, ba năm, Dương Sinh thấy thế nào?

    Dương Sinh: Đã như cây lớn, cành lá xanh tươi.

    Quả Lão: Hoa nở ra sao?

    Dương Sinh: Chỉ trong nháy mắt, cây Tiên đã nở đầy hoa, đẹp mê hồn.

    Quả Lão: Kết trái ra sao?

    Dương Sinh: Đột nhiên cánh hoa rụng, đài hoa kết trái, song quả hãy còn xanh chưa chín.

    Quả Lão: Chớ vội, đợi tôi làm phép... quả già đã chín vàng, Dương Sinh thấy sao?

    Dương Sinh: Chớp mắt trái cây chín vàng, hương thơm tỏa ngào ngạt, ngửi thấy thèm chảy nước miếng, thưa có thể hái ăn được không?

    Quả Lão: Chớ có ngại, Dương Sinh cứ hái ăn đi.

    Dương Sinh: Tiên ông đã cho phép, nhân cơ hội này hái ăn một bữa thật no... Ăn một hơi được ba trái, bụng no kềnh no càng, không thể ăn thêm được nữa.

    Quả Lão: Bao tử quá nhỏ, để tôi giúp Dương Sinh ăn thêm mấy trái nữa.

    Dương Sinh: Thưa không được, không được, miễn cưỡng ăn vào sợ bụng chứa không nổi.

    Quả Lão: Đúng là như vậy, tôi cũng chẳng bắt ép đâu, nhưng những trái cây này chỉ dùng để tặng những người có duyên mà thôi, tôi biếu một túi để Dương Sinh mang về tặng bạn bè thân thưởng thức.

    Dương Sinh: Xin cảm tạ Tiên ông.

    Quả Lão: Tôi đã biểu diễn phép Tiên xong, Dương Sinh thử đánh giá coi được bao nhiêu phần trăm.

    Dương Sinh: Một trăm phần trăm.

    Quả Lão: Hay lắm, Dương Sinh hãy bình giảng về ý nghĩa hàm ngụ trong pháp thuật mà tôi mới biểu diễn vừa rồi xem sao?

    Dương Sinh: Thưa không dám.

    Quả Lão: Chớ có ngại ngùng nên nhân cơ hội này hãy thử xem sao?

    Dương Sinh: Tiên ông đã ra lệnh, không dám chối từ. Màn kịch biểu diễn trò vui về đạo của Tiên ông vừa rồi rất có ý nghĩa và ngầm nói cho kẻ tu đạo biết rằng: Điều cần nhất là phải có gốc huệ rễ đạo bám vào đất thực, nếu như chân người đi trên đất thực, trải qua sự chăm tưới nước công đức cho thật nhuần thấm, chịu khổ cực chà cọ, mài dũa mới có thể thoát xác giả cùng mở bộ đầu thông với cõi trời (hạt giống đạo nẩy mầm), trải qua một ngày, một tháng, một năm tưới nước, bón phân, chăm sóc, phải đổ nhiều mồ hôi và tâm huyết ra coi sóc, cây đạo mới có thể cao lớn và đơm hoa kết trái. Nhưng tới khi kết thành đạo quả chớ hưởng một mình mà phải đem phân phát cho thân hữu chúng sinh cùng hưởng, như người ta vào Thánh đường thay trời phổ hóa có thể giúp thân hữu hưởng đặng bóng râm của sự đắc đạo, và mới có thể siêu huyền bạt tổ, giúp ích cho các bạn cùng tu. Những lời vừa trình bày là điều tôi đã cảm nhận được xin Tiên ông phê phán dùm.

    Quả Lão: Quả đã thấu đạt, tôi xin tặng lại Dương Sinh lời khen đúng “một trăm phần trăm”.

    Dương Sinh: Thưa không dám, xin đa tạ Tiên ông đã chỉ giáo cho.

    Quả Lão: Xin Lã Tổ Sư trình bày pháp thuật.

    Lã Tổ: Thưa tôi không phải là thuật sĩ giang hồ nên không có phép thần thông nào đặc biệt để biểu diễn hết, chỉ xin giúp vui một chút mà thôi. Dương Sinh hãy bỏ trái bầu khô mà tôi đang đeo ở bên vai xuống và thử quan sát ở trong đó xem sao.

    Dương Sinh: Thưa vâng, nhìn vào trong ruột trái bầu chỉ thấy tối thui, còn ngoài ra chẳng có gì cả.

    Lã Tổ: Được, hãy xem tôi đọc chú và hóa phép: “Trái bầu trống không, trời đất bao la, chứa cả càn khôn, diễn màn hí kịch nhân sinh”. Ha ha, Dương Sinh hãy nhìn vào trong trái bầu xem đó là loại cao để dán nào?

    Dương Sinh: A, nhìn xong mới rõ được là trong trái bầu cũng có cảnh trời đất, như được nhìn qua viễn vọng kính nên thấy rõ núi sông, nhà cửa và người, tất cả hiện ra giống hệt như trên màn bạc, thấy rõ cảnh sinh ra đời, đi học, kết hôn, thăng quan, dạo chơi, vào quán ăn, coi các tiệm bán đồ, náo nhiệt lạ thường. A, giờ lại nhìn thấy một tòa y viện, những bệnh nhân nằm la liệt trên giường bệnh kêu gào trong các phòng giải phẫu dao cắt thịt, máu me lênh láng, đau đớn rên siết, tiếng khóc thảm kinh hoàng sợ hãi. Thấy cảnh xe cộ đụng nhau gây tai nạn, chỉ trong nháy mắt đã bày ra cảnh hãi hùng khiến kinh hồn táng đởm. Thấy cả cảnh người chết, tang gia khóc lóc, nơi nhà xác nhà quàn tử thi và áo quan xếp hàng nằm lớp lớp... Đột nhiên thấy xuất hiện hai chữ “chấm dứt”, kèm theo một hồi chuông reo khiến tôi bừng tỉnh, Tiên ông ơi! cảnh tôi nhìn thấy kinh hãi quá.

    Lã Tổ: Chớ có sợ, vừa rồi diễn vở tuồng với tựa đề là: “Cuộc hành trình của kiếp người”. Cuốn phim vừa rồi do tôi đảm trách, tuồng tích đều căn cứ trên sự thật, tả chân một trăm phần trăm, các động tác hoàn toàn tự nhiên, tình tiết của kịch bản phản ảnh đúng sự thật, công trình này đều được các nước nhiệt thành tán thưởng, tạo sự thành công một cách oanh liệt chưa từng có. Tiếc rằng người ta chỉ thích đóng trò, không chịu xem trò nên chẳng thưởng lãm cuốn phim, đó là nguyên nhân mắt của các diễn viên bị thuốc cao của tôi ở trong trái bầu dán dính chặt lại, nên họ mới không nhìn thấy là mình đang đóng trò. Đó là những hình ảnh vô cùng quý giá, lưu lại cho con cháu coi hay biết chừng nào.

    Dương Sinh: Diệu pháp của Lã Tổ Sư thực quả là vô biên. Sau khi tỉnh giấc mộng hoàn lương liền trở thành nhà sản xuất phim ảnh.

    Lã Tổ: Để hóa độ chúng sinh phải tạo nhiều tuồng kịch, phim ảnh để kích động lòng người, mỗi lần đem tuồng đời lên sân khấu hoặc màn bạc đều khuyên hóa được người đời, bữa nay đem tuồng cũ diễn lại, trong bộ phim dài Thiên Đường Du Kí, tôi xin nói thêm khúc phim ngắn này, mong người đời chấp nhận đừng bỏ uổng.

    Tế Phật: Chư vị Bát Tiên đạo pháp cao sâu, nếu như Bát Tiên biểu diễn hết các phép sợ rằng chúng sinh xem xong sẽ mắt hoa tinh thần bấn loạn hôn mê thiếp ngủ, bởi vậy chúng ta phải cáo từ Bát Tiên để đi thăm chốn khác.

    Dương Sinh: Thưa vâng. Cảm tạ chư vị Bát Tiên đã chịu khổ cực diễn xuất vở tuồng vô cùng tuyệt diệu, giờ đây đệ tử phải theo ân sư dạo thăm chốn khác.

    Bát Tiên: Mong còn có dịp gặp lại, chúc cuộc hành trình thuận buồm xuôi gió.

    Tế Phật: Lên đài sen bay tới cửa Nam Thiên. Vừa rồi gặp chư vị Bát Tiên ở trong mây để xem chư vị ấy biểu diễn ít chiêu, tình tiết trong kịch quả là trung thực và phong phú cũng gây được nhiều ảnh hưởng... Đã tới cửa Nam Thiên, chúng ta xuống đài sen tới vấn an Đại Thánh.

    Dương Sinh: Đại Thánh ở đằng kia đang cười hể hả có vẻ rất vui mừng.

    Tế Phật: Đúng vậy, chỉ chớp mắt chúng ta đã tới cửa Nam Thiên, lần trước Đại Thánh không có dịp đàm đạo với chúng ta, bữa nay trùng phùng, hẳn là vui sướng.

    Dương Sinh: Đệ tử xin kính chào đức Đại Thánh.

    Đại Thánh: Miễn lễ. Bữa nay quý vị lại trở lại cửa Nam Thiên, tôi vui mừng khôn xiết, quý vị dạo thiên đường viết sách, nhiệm vụ sắp hoàn thành, lòng tôi rất khâm phục. Bảng thông cáo ở cửa Nam Thiên sắp hạ xuống, Dương Sinh hãy coi bảng đó đi, vì lần trước quá vội vàng nên chưa có dịp đọc kĩ càng, lần này nên xem kĩ hơn.

    Dương Sinh: Cảm tạ đức Đại Thánh. Bảng thông cáo bên cửa Nam Thiên quả nhiên có đính hai bản Dao Trì Ý Chỉ cùng Kim Khuyết Ngọc Chỉ so với bản giáng xuống Thánh Hiền Đường giống nhau, ý nói là phụng chỉ viết sách Thiên Đường Du Kí, các cõi trời đều hiệp lực trợ giúp nên không thể trái lệnh, khi đọc xong bản thông cáo trong lòng tràn ngập sự ấm áp cùng cảm kích. Cảm tạ lòng thương mến của đức Lão Mẫu cùng Ngọc Đế. Từ một hai năm nay đã dạo khắp các từng trời để học đạo với chư Tiên Phật, ơn Trời quả là vô biên khó mà đền đáp. Đệ tử xin quỳ lạy tạ ơn chư Thiên...

    Đại Thánh: Quả là người có lòng, hãy đứng lên, trách nhiệm lớn lao đã hoàn thành, công đức nhiều như cát sông Hằng, vui lắm thay, mừng lắm thay.

    Tế Phật: Cảm tạ Đại Thánh đã giúp đỡ thầy trò chúng tôi hoàn thành sứ mệnh, xin cáo từ, Dương Sinh lên đài sen.

    Dương Sinh: Đa tạ đức Đại Thánh đã mở cửa phương tiện, xin bái từ. Thưa, con đã lên đài sen, kính mời ân sư trở lại Thánh Hiền Đường.

    Tế Phật: Giờ đây thầy đã hướng dẫn con dạo thăm ba cõi xong, thực là quá mau lẹ, chỉ một sát na ánh sáng, phút giây nhục thể của con cảm thấy dao động thật nhanh, các bạn đạo tại Thánh Hiền Đường có thể yên tĩnh nhìn thấy, mau lên đường. (Lúc này Dương Sinh đứng trước sa bàn, quả nhiên đôi chân như cưỡi gió đè mây, mau lẹ tựa bay, quay tít không ngừng, các bạn đạo tại đàn cầu cơ trợn mắt há miệng kêu quả là thần kì)... Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen. Thiên Đường Du Kí tới đây chấm dứt, chỉ trong sát na ta đã hướng dẫn Dương Sinh dạo thăm ba cõi, và chỉ một cái cựa mình đã về tới Thánh Hiền Đường. Cảnh các bạn đạo thấy vừa mới rồi là do thần linh hóa hiện chẳng thể nghĩ bàn nổi. Bạn đạo nào có may mắn tiếp tay giúp sức trong việc viết sách trời ơn ích bằng ba kiếp tu, nếu bỏ lỡ cơ hội này, không biết kiếp nào mới gặp lại được. Trong cung Dao Trì đức Lão Mẫu đang chuẩn bị tiệc mừng thành công, kì tới chư Tiên Phật tại các cõi trời sẽ tới Dao Trì dự tiệc, ta sẽ hướng dẫn Dương Sinh tới tham gia, ngày ấy Dương Sinh cần phải thanh tịnh thân tâm, không được thất lễ. Dương Sinh hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:33 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • HỒI BA MƯƠI SÁU

    CUNG DAO TRÌ MỞ TIỆC LỚN TẠ ƠN CHƯ TIÊN PHẬT, ĐỨC

    LÃO MẪU KHEN THƯỞNG DƯƠNG SINH CÙNG CHÚC MỪNG SỰ THÀNH CÔNG

    Phật Sống Tế Công

    Giáng ngày 23 tháng 10 năm Canh Thân (1980)


    Thơ

    Lịch tận ma nạn chí bất di
    Thiên đường lộ thượng thụ minh bi
    Mang mang khổ hải minh đăng tháp
    Thánh đức hoằng dương vạn Phật tùy.
    Pháp cổ kinh sao tam lục hồi
    Mê nhân tỉnh giác hướng thiên thôi
    Dương Sinh đại mệnh kim giao chỉ
    Ngọc dịch quỳnh tương kính thập bôi.

    Dịch

    Trải nhiều ma nạn chí thêm bền
    Đường tới thiên đường đã khắc tên
    Biển khổ mênh mang đèn thắp sáng
    Hoằng dương đạo đức Phật cùng Tiên.
    Băm sáu hồi kinh đã chép biên
    Đạo trời phàm thế thức tâm liền
    Dương Sinh đại mệnh nay hoàn tất
    Phần thưởng tặng mười chén rượu Tiên.

    Tế Phật: Thiên đường đã dạo xong một vòng, trách nhiệm nặng nề được giao phó nay đã hoàn tất xong xuôi. Sách Thiên Đường Du Kí xuất hiện trước công chúng hẳn là sẽ gây sự chú ý đặc biệt, bởi lẽ nó là một tấn tuồng mô tả lại đời sống phong phú vui tươi và kì thú của chư Tiên Phật, cùng phong cảnh tươi sáng tại thiên đường do Lão Tăng cùng Dương Sinh hợp diễn. Vở tuồng này giờ đây kể như đã diễn xong, khắp nơi hân hoan đón mừng thưởng thức, mong chúng sinh chớ coi qua rồi bỏ, mà phải nghiền ngẫm tìm hiểu ý nghĩa đạo đức do Tế Phật cùng Dương Sinh diễn tả qua những màn hài hước, vì vở kịch diễn nghĩa từ bi, lương thiện, trang nghiêm của chư Tiên Thánh Phật. Khi vở tuồng chấm dứt ta còn muốn ngồi lại để quan sát cảnh chúng sinh lên sân khấu diễn xuất, và muốn nhất nhất đều vỗ tay hoan nghênh không muốn khán giả ngủ gật hoặc không muốn coi tiếp. Bữa nay là ngày vui mừng, Dương Sinh hãy y phục chỉnh tề, thanh tĩnh thân tâm chuẩn bị tới cung Dao Trì dự đại tiệc.

    Dương Sinh: Thưa ân sư con đã sửa soạn xong. Gần hai năm nay theo thầy dạo cõi trời muôn phần sung sướng, lòng con vô cùng cảm kích.

    Tế Phật: Tâm thầy cũng cảm thấy như vậy, mong rằng hai thầy trò tâm tâm tương ứng, cùng lên đài sen tế độ chúng sinh.

    Dương Sinh: Thưa rất phải, tòa sen này bữa nay lớn hơn gấp bội, hào quang tỏa ngời bốn phía trông thật đáng yêu.

    Tế Phật: Cày bừa một phân gặt hái một phân, đài sen có thể giúp chúng ta ngồi mãi chẳng đắm chìm, có thể thấy sức nhẫn nại phi thường, vì nước pháp nhuần thấm bụi trần tan biến, do đó hoa sen nở rộ khiến càng tăng thêm ánh sáng lớn lao, đó chính là quả vị của con.

    Dương Sinh: Thưa ân sư con cảm thấy thẹn thùng không dám nhận.

    Tế Phật: Chớ e ngại, chúng ta hãy tới cung Dao Trì...

    Dương Sinh: Thưa tại sao cõi trời lại nhiệt náo một cách lạ lùng? Giống như có chuyện gì vui mừng lắm.

    Tế Phật: Có quan hệ tới việc Tam Tào phổ độ, chúng ta phụng chỉ viết sách trời tới bữa nay hoàn tất, Tam Tào đã rõ, người và trời đều mến, chư Thánh Thần Tiên Phật rất vui mừng, vì lại có một cuốn sách trời lưu truyền thiên hạ, thay thế chư Thánh Tiên Phật khuyến hóa người đời.

    Dương Sinh: Thì ra nguyên lai là như vậy, tự thấy thân này chẳng quá tầm thường nên mới có vinh dự phụ trách chức vụ Thánh Tiên thay trời hóa độ... Muôn nẻo hào quang cõi trời sáng suốt chiếu khắp đại thiên thế giới, hình ảnh thật là kì diệu.

    Tế Phật: Đó là ánh sáng cõi trời, mong người đời noi theo con đường sáng sủa đó mà leo thang trời đại đạo, nơi đó không còn đen tối thống khổ, chỉ có sự quang minh vô lượng cùng đạo pháp hoan hỉ... Đã tới cung Dao Trì, chúng ta xuống đài sen.

    Dương Sinh: A, phía trước chư vị Tiên Thánh cao minh đông đúc, hào quang chiếu tỏa bốn phía, tiệc lớn đã bày sẵn, có tiên nữ trình tấu nhạc Tiên, thanh âm du dương khiến tâm hồn thoải mái thanh nhẹ.

    Tế Phật: Đức Quán Âm Đại Sĩ đã tới.

    Đại Sĩ: Bữa nay Phật tôi vô cùng hoan hỉ, đặc biệt tới đây cùng tham dự hội lớn, Tế Phật dẫn Dương Sinh lên ngồi trước quý tân khách.

    Tế Phật: Dương Sinh hãy theo thầy, chúng ta tới ngồi phía trước quý tân khách.

    Dương Sinh: Thưa con không dám, vì quý tân khách quá đông, thầy và con ngồi phía cuối cũng tốt lắm rồi.

    Tế Phật: Bữa nay không được ngại ngùng, không nghe Đại Sĩ vừa nói hay sao.

    Dương Sinh: Xin tuân lệnh. Thấy các quý Tiên Thánh cao minh quá đông, trong lòng cảm thấy kinh hoàng sợ hãi không yên, quý vị đó cứ chăm chú ngó con, nét mặt lộ vẻ vui mừng.

    Tế Phật: Chúng ta hãy ngồi xuống đây.

    Dương Sinh: Hay quá, trên bàn tiệc bày đầy trái ngon vật lạ, có cả rượu quỳnh tương hương thơm bay ngào ngạt, trong lòng cảm thấy yêu thích vui mừng.

    Đại Sĩ: Bữa tiệc lớn hôm nay là do Lão Mẫu Dao Trì khoản đãi, chư Tiên Phật cao minh ba cõi vâng lệnh mời đến đông đủ, quý giáo chủ của mọi tôn giáo đã tới, tổ sư Lã Thuần Dương cũng vừa đến, Bát Tiên phơi phới bay lại.

    Thuần Dương Đại Đế: Bữa nay tôi vâng lệnh đức Vô Cực Dao Trì Lão Mẫu đảm nhiệm chức vụ trưởng ban nghi lễ đại hội Dao Trì. Tế Phật cùng Dương Sinh bữa nay được lời mời tới cung Dao Trì này nhận lãnh sự ban khen, quả là việc trời vui mừng quá đỗi lớn lao. Hiện thời chư Thánh Tiên Phật cao minh đã tới đông đủ, giờ khai mạc buổi tiệc gồm cả thảy một trăm lẻ tám bàn tiệc.

    Dương Sinh: Quý ngài quá đông, đã ngồi kín cả các bàn tròn, có đầy đủ nhân sĩ các tôn giáo, lễ phục của quý vị đó mỗi người một vẻ rất là đặc biệt.

    Tế Phật: Các tôn giáo tuy khác nhau về mặt hình thức, song nội dung tôn chỉ lại giống nhau, vì cùng chung một mục đích nâng cao tính linh của nhân loại, hầu đạt tới cứu cánh chí công vô tư cùng cứu người giúp đời, bởi vậy họ đều có thiện tâm và Phật tính, ngày nay mới có thể chứng quả thành đạo, hết còn bị luân hồi. Phút này các vị Bồ Tát Địa Tạng Vương cao minh lục tục giá lâm.

    Thuần Dương Đại Đế: Tôi ngụ tại Kim Khuyết cai quản việc hành chánh cho đức Ngọc Đế, gặp kì phổ độ, chốn “Thiên Đình” tức nhà trời rất là bận rộn. Bữa nay sách Thiên Đường Du Kí đã viết xong, giúp ích rất nhiều cho kẻ có chí vì đạo dưới gầm trời, đối với phương pháp tu đạo cùng trạng huống sinh hoạt ở cõi trời đều chỉ dẫn rõ ràng rành mạch rất dễ tìm hiểu, tự hậu không còn cảnh tu luyện một cách đui mù, quả là trời đã ban ân phước sâu dày cho toàn thể chúng sinh. Hiện thời đức Ngọc Hoàng chí tôn đã tới, tiếp theo là đức Dao Trì Lão Mẫu, toàn thể chư Thần Thánh Tiên Phật đều đứng lên rồi phủ phục lạy mừng.

    Lão Mẫu: Miễn lễ, mời quý vị đứng lên.

    Đại Đế: Kính mời chư liệt vị an tọa.

    Lão Mẫu: Bữa nay là ngày lễ mừng sách Thiên Đường Du Kí viết xong, tôi vô cùng phấn khởi, bởi vậy cung Dao Trì đặc biệt mở đại tiệc để chúc mừng chư vị cao minh đại biểu của khắp ba cõi đều tới tham dự đông đủ.

    Ngọc Đế: Vô Cực ân ban ý chỉ truyền thuật lại phong cảnh thiên đường tươi sáng để người đời thấu tỏ, bữa nay việc viết sách trời đã hoàn thành một cách tốt đẹp, lòng trẫm hết sức vui mừng, Lão Mẫu lại mở đại tiệc này để khoản đãi, chính là nhờ ơn trời mở lượng từ bi nhân ái rộng lớn đối với chúng sinh, mong rằng toàn thể nhân loại sẽ thể nghiệm cùng giác ngộ được lòng trời. Giờ đại tiệc bắt đầu, Tế Phật cùng Dương Sinh hãy hân hoan hưởng bữa tiệc này.

    Tế Phật: Dương Sinh chớ e lệ, đó là phần thưởng của đức Lão Mẫu và Ngọc Đế ân ban, thầy trò mình cùng hân hoan đón nhận.

    Dương Sinh: Hay quá, nhạc Tiên réo rắt bên tai, các tiên nữ vũ khúc Nghê Thường phất phới lượn bay giáng vẻ vô cùng thanh nhẹ, không rõ tu luyện cách nào để có thể đạt được như vậy?

    Tế Phật: Vận động nhiều, tâm luôn luôn mở rộng, không ham ăn, thường luyện tính, không sợ hãi, không phiền não, bộ y phục trời ban suốt đời không thay đổi, càng mặc càng đẹp đẽ thêm, nhờ thân thể khỏe khoắn lành mạnh do đó mà dung nhan không thoa phấn vẫn rực hồng, hoàn toàn thuần khiết chân chất, thật đáng yêu.

    Dương Sinh: Thưa những lời ân sư vừa dạy rất hợp lẽ đạo.

    Lão Mẫu: Tế Phật và Dương Sinh chớ mãi chuyện trò mà quên thưởng thức hương vị tiệc pháp diệu kì của cõi trời.

    Dương Sinh: Xin đa tạ đức Từ Mẫu đã để tâm lo lắng.

    Tế Phật: Thầy trò mình ăn nhiều đi, trái tiên no mấy cũng không thấy ngán, lúc này cần phải mở bao tử ra cho thật lớn để chứa được nhiều thực phẩm kì diệu, bởi loại thực phẩm này do lòng tốt của đất trời ngưng kết mới thành được.

    Dương Sinh: Thưa vâng, hương vị tươi mát ngọt ngào này khiến người ta khó mà quên được, rượu quỳnh tương vừa nhấp đã cảm thấy mùi vị của vô cùng, con xin mời ân sư một li.

    Tế Phật: Thầy đã cữ rượu, dùng sữa thay cho rượu quỳnh tương, tuổi thọ sẽ tăng cao, độ được thêm chúng sinh.

    Dương Sinh: Ân sư thực khéo khôi hài. Bàn bên cạnh có đức Ngọc Hoàng, Lão Mẫu, Tam Thanh, Tam Quan, cùng chư vị giáo chủ, dung nhan đều lộ vẻ tươi vui, hòa hài chứng tỏ chư vị rất hứng khởi trong lúc ngồi dự bữa đại tiệc này.

    Đạo Tổ: Đạo vốn không lời, song sách Thiên Đường Du Kí lại nói quá nhiều, chúng sinh nếu như không học, tôi cũng chẳng nói làm chi, chỉ cần thể nghiệm ý nghĩa chân thực của Vô Cực cũng đủ thành tựu đạo Thái Thượng.

    Thế Tôn: Phật pháp vốn chẳng thể nói, nay lại trình bày bằng lời trong sách Thiên Đường Du Kí chúng sinh phải giác ngộ nhiều, người nếu như không nói về Phật, Phật tôi cũng không nói, ắt tây phương không có Phật, cho nên pháp Phật truyền bá ở thế gian để giúp người đời thành Phật, thấy Phật.

    Thánh Khổng: Nho không nói về cõi linh thiêng song sớm nghe đạo tối chết cũng cam, tính noi theo thiên mệnh gọi là đạo, nghe đạo, hiểu đạo ắt có thể phối hợp làm một với trời vượt khỏi vòng sống chết, kẻ tu đạo Nho tới mức chí thiện có thể đạt Thánh.

    Lão Mẫu: Tiệc lớn đã mở, đào tiên cũng chín, mong chúng sinh chăm lo tu đạo, tôn trọng lẽ trời, giữ gìn đạo người ắt tiệc Dao Trì trong tương lai sẽ chuẩn bị dành sẵn chỗ, chờ đợi lên ngồi.

    Ngọc Đế: Mong con đỏ hồi tâm, chớ tạo gió suy đồi, chạy theo tà đạo để tránh lãnh nghiệp quả ác báo.

    Đại Sĩ: Sách Thiên Đường Du Kí đã viết xong, chính pháp soi tỏ, Thánh giáo phổ truyền, nước cam lộ cành dương đã vẩy ướt đẫm trần gian, phàm kẻ có duyên đọc kĩ sẽ giác ngộ, chăm lo tu hành sẽ thành chính quả. Còn như miệng lưỡi ác độc phỉ báng, mãi mãi chìm đắm trong vòng ác đạo.

    Lão Mẫu: Dương Sinh tán trợ đạo Nho, phụng chỉ theo Tế Phật dạo thăm ba cõi để viết thành sách Thiên Đường Du Kí phổ biến dưới gầm trời, sửa đổi lòng người cho ngay thẳng vãn hồi sự sa đọa, tẩy sạch trần ai làm gương sáng cho ngàn đời. Để đóng cửa địa ngục, mở lối thiên đường nên Mẫu ban ý chỉ viết sách Thiên Đường Du Kí tiết lộ sự ảo diệu của tạo hóa, buông thang trời để làm lối lên thiên đường. Ngày nay ba mươi sáu hồi trong sách Thiên Đường Du Kí đã viết xong, lòng Mẫu vô cùng sung sướng. Dương Sinh đã không phụ lòng Mẫu, có thể so với công trình của Đường Tăng Tam Tạng tây du thỉnh kinh, chịu khổ nhục, phỉ báng trải qua biết bao cửa quỷ chân linh vẫn vững bền, đặc biệt ban ân cho cửu huyền thất tổ của Dương Sinh được siêu thăng cõi trời, căn cứ vào công lao chứng quả hết còn bị luân hồi. Chư đệ tử thuộc Thánh Hiền Đường chịu cực nhọc để giúp đỡ việc hoàn thành sách trời những ai một dạ thủy chung đặc biệt ban cho mười công đạo, tên ghi bảng vàng, mong còn có dịp tưởng thưởng thêm cho những ai chịu gắng sức. Dương Sinh công thành hoàn trả ngọc chỉ, ra sức tu luyện thêm tới kì hạn sẽ linh thông không còn gặp trở ngại, mệnh mới đạt đạo Vô Cực thượng thừa phổ độ được nhiều chúng sinh hơn nữa.

    Dương Sinh: Lạy tạ đức Lão Mẫu từ bi đã ban lời chỉ giáo, đệ tử cảm thấy thân tâm kém cỏi, năng lực yếu đuối, kính xin Lão Mẫu ban thêm tuệ quang để giác ngộ tâm nguyện cứu đời, độ người.

    Lão Mẫu: Dương Sinh chớ quá lo sợ, đạo trời tốt lành thường giúp kẻ nhân đức, Dương Sinh đã dốc lực thay trời truyền đạo, trời sẽ trợ giúp tâm nguyện đó của Dương Sinh. Còn vô số chúng sinh đang chờ được cứu độ, chớ có nản lòng thối chí, tương lai sẽ còn phải phát huy Thánh đức, sửa sang thế đạo, trách nhiệm nặng nề mà đường thì xa. Hai thiên Du Kí đất trời tuy đã viết thành, song còn phải nhờ Dương Sinh ra công truyền bá lời dạy của trời để tạo phước đức cho nhân quần, cứu độ bến mê, hi vọng sẽ không gặp nhiều khổ cực.

    Dương Sinh: Lạy tạ đức Mẫu nhân từ, xin kính cẩn vâng lời.

    Tế Phật: Phúc huệ của Dương Sinh quả là sâu dày nên bữa nay mới có vinh hạnh được Lão Mẫu ban lệnh tới đây tham dự thánh hội, hãy có thái độ lạc quan mà hành đạo, chớ có quá e ngại, thầy tặng con chiếc quạt Bồ và hai ống tay áo Thanh Phong để con có thể vân du thiên hạ, tiêu dao tự tại, đi tìm kẻ có duyên.

    Dương Sinh: Theo bước chân ân sư, đệ tử ngu hèn là con chỉ mong được ân sư giúp sức.

    Tế Phật: Ha ha, mấy năm tình nghĩa làm sao Thầy quên được, con hãy yên lòng.

    Dương Sinh: Làm cách nào để trò ngu của ân sư có thể yên tâm?

    Lão Mẫu: Lành thay, Tế Phật hướng dẫn Dương Sinh dạo thăm khắp ba cõi để hỏi đạo viết sách, phổ độ được vô lượng chúng sinh, đã chứng đắc quả vị Phật tối thượng phẩm, hào quang đại phóng, trăm ngàn ức hóa thân, vô biên vô lượng Phật từ bi.

    Tế Phật: Lạy tạ Lão Mẫu đã ân ban, vì thích phóng khoáng không chịu buộc ràng, nên những công đức Phật tâm vừa rồi xin tặng lại những chúng sinh có duyên.

    Thuần Dương: Hội lớn kết thúc, Dương Sinh chuẩn bị tạ ân.

    Dương Sinh: Xin tuân lệnh. Mạng kiến nhỏ nhoi nhờ ơn trời che đất chở, nhờ đức sinh thành dưỡng dục của quốc gia, phụ mẫu, ân sư; thân hiến cửa Thánh được trời ban ân phụng chỉ theo ân sư Tế Phật dạo thăm ba cõi viết sách. Bữa nay sách trời hoàn tất được ban ân dự tiệc cùng đức Lão Mẫu, Ngọc Đế và chư Thần Thánh Tiên Phật trong lòng vô cùng cảm động, xin quỳ lạy tạ ơn, nguyện tuân theo Thánh ý tiếp tục thực hành Thánh Đạo.

    Lão Mẫu: Dương Sinh hãy đứng lên, vì đã khổ cực quá nhiều, Mẫu rất vui mừng sách Du Kí được truyền bá, những kẻ mê lầm đọc kĩ sẽ hồi tâm hướng thiện nhiều vô kể. Tuy nhọc nhằn song gặt hái được nhiều thành quả, trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu, trồng đạo được đạo, bữa nay đài sen mở rộng, Dương Sinh đã đắc quả vị, tâm được an ủi. Để ban thưởng cho các đệ tử của Thánh Hiền Đường, Mẫu gởi một hũ rượu quỳnh tương nhờ Tế Phật mang về phân phát, uống để trợ giúp linh quang tuệ mệnh.

    Dương Sinh: Cảm tạ đức Mẫu đã ân ban.

    Tế Phật: Hũ rượu quỳnh tương này được ban thưởng thật là khó khăn, vì là do mồ hôi và máu mủ đọng thành, do tinh hoa trời đất và mặt trời mặt trăng hóa thành, đã trừ khử độc chất, quý tựa nước cam lộ, chính là diệu phẩm của cõi trời, đào tiên còn lại một trái, Dương Sinh hãy ăn nốt đi.

    Dương Sinh: Thưa con ăn nhiều quá rồi.

    Tế Phật: Thôi để thầy vắt lấy nước bỏ vào rượu quỳnh tương đem về cho các đệ tử của Thánh Hiền Đường cùng thưởng thức.

    Dương Sinh: Thực quá hay, các bạn đạo đều vô cùng khó nhọc, con chẳng muốn hưởng một mình, các bạn đạo phải được ban thưởng thật nhiều mới đúng.

    Tế Phật: Phải lắm.

    Thuần Dương Đại Đế: Thánh hội tới đây chấm dứt, xin mời chư liệt vị đứng dậy tiễn Tế Phật cùng Dương Sinh trở lại Thánh Hiền Đường.

    Chư Tiên Bồ Tát (đồng thanh xưng tụng): Lành thay, công đức vô lượng.

    Dương Sinh: Xin bái tạ đức Lão Mẫu, Ngọc Đế cùng chư vị Thánh Tiên Phật, ước mong thần quang phổ chiếu.

    Tế Phật: Cảm tạ Lão Mẫu, Ngọc Đế cùng chư Thánh Tiên Phật, xin cáo từ. Dương Sinh lên đài sen.

    Dương Sinh: Thưa con đã sửa soạn xong, xin ân sư giữ kĩ hũ rượu quỳnh tương.

    Tế Phật: Cứ yên tâm, chúng ta trở lại Thánh Hiền Đường.

    Dương Sinh: Phút giã từ, tiên nhạc trình tấu khúc Biệt Li, tình chia lìa còn mãi, chợt cảm thấy lòng đau.

    Tế Phật: Đây là nhiệm vụ cuối cùng của thầy hướng dẫn con, Dương Sinh hãy lên tinh thần, sau khi rời khỏi tòa sen, phải nghỉ ngơi một thời gian để tĩnh dưỡng thần khí. Ngày sau, khi lên đài sen trở lại có thể tự đi lấy một mình, thầy mong trở thành người bạn bên cạnh con, giúp con vân du cứu độ chúng sinh.

    Dương Sinh: Con cũng ước mong được như vậy. Cảm tạ ân sư đã ban cho con trí tuệ linh thông để huyền tổ trò ngu của thầy cùng nhuần thấm ánh quang huy.

    Tế Phật: Thế gian đương nhiên phải chịu khổ cực mới gặt hái được thành quả, hoàn cảnh được hưởng phúc của con người cũng giống hệt vậy... Đi được một quãng xa, tiếng nhạc dần dần nghe nhỏ lại, chỉ còn tiếng gió vi vu, chuyên chở bộ sách Thiên Đường Du Kí, từ một chữ tới một câu, một ngày lại một ngày, một tháng lại một tháng, một năm lại một năm. Như nay gặt hái được mớ tài liệu quý báu này để đóng thành một bộ sách trời, hẳn là Lão Tăng đã đưa nó tới được mục đích, cả cái xe dùng để chuyên chở sách cũng phải bỏ vào xưởng sửa chữa tu bổ lại thêm điện thêm dầu. Sau một cuộc hành trình dài đăng đẳng, cả tài xế lẫn hành khách đều mỏi mệt, phải nghỉ ngơi để chuẩn bị cuộc hành trình mới, hẹn gặp lại... Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh hồn phách nhập thể xác.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:33 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • NGỌC CHỈ

    Kim Khuyết Nội Tướng họ Từ


    Giáng

    Thơ


    Thánh chỉ tần ban trực hạt đường
    Trước thành Du Kí bảo thư hương
    Thương sinh phổ độ thôi thời cấp
    Minh tuế viên công tứ hải dương.

    Dịch

    Thánh chỉ ân ban thẳng bản đường
    Viết xong Du Kí sách thơm hương
    Hãy lo cứu độ muôn người gấp
    Năm tới thành công bốn biển mừng.

    Thánh chỉ

    Đêm nay ta phụng mệnh mang Thánh chỉ tới tuyên đọc, thần nhân phủ phục.

    Khâm phụng chiếu chỉ của đức Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn Huyền Linh Cao Thượng Đế như sau:

    “Trẫm ngụ tại điện Linh Tiêu, lòng hằng lo lắng thế đạo, buồn thay! Khoa học kĩ thuật phát triển, đạo đức suy đồi cho nên chư Tiên Phật cõi Trời giáng linh phò trợ đàn cơ phát huy đạo giáo, để khỏi bị sóng lớn dập vùi. Nhờ có Thánh Hiền Đường ở Đài Trung lãnh chỉ phát huy cơ bút, công đứng hàng đầu. Trước phụng mệnh viết Địa Ngục Du Kí sau in tặng khắp nơi, khuyên răn lòng người, đã thâu lượm được kết quả thay đổi phong tục. Nay lại phụng chỉ trước tác Thiên Đường Du Kí, buông thang trời hướng dẫn kẻ có duyên thực hiện việc phổ độ chúng sinh. Dao Trì Ý Chỉ luôn luôn thúc giục sao cho sách báu sớm hoàn thành in tặng thiên hạ, cứu giúp dân đen, cho nên nay Trẫm ban một sắc chỉ về sách Thiên Đường Du Kí như sau: Ra lệnh vào ngày mồng hai tháng hai năm tới tức năm Tân Dậu (1981) là ngày sinh nhật của Phật Sống Tế Công sẽ cử hành lễ giao nạp sắc để biểu thị ý đẹp vẹn toàn. Sách gồm có ba mươi sáu hồi phù hợp với ba mươi sáu sao Thiên Cương, hai số vừa tròn trịa vừa ứng hợp với nhau. Tế Phật và Dương Sinh trút được gánh nặng trách nhiệm, mong hết sức tiết kiệm thì giờ để hoàn thành viên mãn sách Du Kí, sách lưu truyền thiên cổ, lưu tiếng thơm muôn đời. Các bạn đạo thuộc Thánh Hiền Đường chăm chỉ gia công gia sức giúp đỡ việc hoàn thành sách trời, mọi người đã lập được đại công, mong giữ bền được tinh thần này, chí cả không sờn để tạo công lập đức, siêu huyền bạt tổ, vào Hội Long Hoa mai hậu”.

    Kính vâng không xao nhãng, cúi đầu tạ ơn.

    Vận trời ngày 6 tháng 10 năm Canh Thân (1980)


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group