Những đóa hoa Thiền - Dương Đình Hỷ

  • Lòng Trắc Ẩn

    April 25th 2010, 7:35 pm
  • 2136.- Mã Tổ xem nước.


    Ma Cốc theo hầu Mã Tổ Đạo Nhất, hỏi :
    -Thưa thầy thế nào là Đại Niết Bàn ?
    -Gấp.
    -Gấp cái gì ?
    -Xem nước.
    (Công Án 100)

    Lúc đó hai thầy trò Mã Tổ và Ma Cốc có lẽ đang đi dạo ở bên bờ suối. Ma Cốc đang suy nghĩ về vấn đề sanh tử Niết Bàn. Mục đích của người tu là giải quyết vấn đề sanh tử. Nếu vấn đề này chưa giải quyết xong thì phải nỗ lực tu hành, nếu không thì không được giải thoát, không thể ngưng nghỉ. Do đó, khi Ma Cốc hỏi, Mã Tổ đáp “Gấp” ý là ông hãy mau vào Niết Bàn. Niết Bàn là bất sanh bất diệt, tịch diệt giải thoát cùng sanh tử tương đối. Ý nghĩa sanh tử có thể nhỏ, có thể lớn. Nhỏ nhặt như một vọng niệm khởi diệt, lớn hơn như đời người từ sanh tới tử, lớn hơn một tầng nữa là chết đi sống lại. Chết ở đây là chết đi mọi phiền não, vô minh. Sống lại là cứu nhân độ thế của tâm hạnh bồ tát. Theo Thiền tông thì sống lại là đại tự tại, đại giải thoát, đại trí tuệ, đại từ bi, đại hoằng nguyện, không còn phiền não, không còn bị khốn quẫn.
    Câu đáp “Gấp” của Mã Tổ là nói nếu ông chưa biết sanh tử thì phải mau lên. Đối với người đã giác ngộ thì sanh tử và Niết Bàn chỉ là một. Mã Tổ nói “xem nước” ý là nếu ông còn hỏi Niết Bàn là gì thì hãy xem nước vì đối với người đã ngộ thì xem bất cứ một sự vật gì, thể nghiệm bất cứ một hiện tượng gì, đều là ngộ cảnh. (Xem thêm công án 729)

  • Lòng Trắc Ẩn

    April 25th 2010, 7:35 pm
  • 2137.- Gập nhau ở đâu ?


    Vân Nham Đàm Thạnh bị bệnh nặng, Đạo Ngô Tông Thái đến thăm hỏi :
    -Lìa cái túi da này, chúng ta sẽ gặp nhau ở đâu ?
    -Ở nơi bất sanh bất diệt.
    -Sao ông không nói ở nơi phi bất sanh, bất diệt ? và chúng ta cũng chẳng cần gặp nhau ?
    (Công Án 100)

    Người tu coi thân thể là một công cụ tạo nghiệp. Tạo ác nghiệp, tội nghiêp sẽ bị khổ báo, tạo thiện nghiệp sẽ được phúc, lộc, thọ báo. Vân Nham bị bệnh, Đạo Ngô đến thăm lại còn hỏi “Sau khi chết sẽ gặp nhau ở đâu ?”Cho thấy các Thiền sư không chấp sự sanh tử ly biệt. Thực ra, lúc sanh không đến, lúc chết không đi. Nhục thể chết đi là một hiện tượng tự nhiên. Người giác ngộ chỉ nhận cái tâm bất sanh bất diệt thanh tịnh, thường tịnh, thường chiếu, hằng động, hằng tĩnh, không để ý đến cái thân ảo sanh, ảo diệt. Coi cái thân ngũ uẩn này là không thì cùng chư Phật, chúng sanh tương kiến bởi vì ông là không, tôi cũng là không, không thời không nơi tồn tại. Chỉ cần siêu việt thời không thì vĩnh viễn gặp nhau.
    Vân Nham hy vọng sẽ gặp nhau ở nơi bất sanh, bất diệt là hãy còn chấp. Người đã tu hành đến tầng thứ bất sanh bất diệt thì không còn phân biệt chủ khách tương đối, còn cần phải nói vĩnh viễn tương kiến, nơi nơi tương kiến sao ? Đạo Ngô đề ra phi bất sanh, bất diệt là vượt lên sanh diệt và bất sanh diệt, đồng thời bỏ xuống gặp nhau và không gặp nhau, cho thấy tâm ông đã viên mãn, tự tại. (Xem thêm công án 234, 1975)

  • Lòng Trắc Ẩn

    April 25th 2010, 7:36 pm
  • 2138.- Đem chôn một lượt.


    Có ông tăng vừa khóc vừa chạy vào pháp đường. Bách Trượng hỏi ông ta :
    -Có chuyện gì vậy ?
    -Cha mẹ con đều chết hết cả rồi, thỉnh hoà thượng chọn ngày phát tang.
    -Đem chôn cả đi !
    (Công Án 100)

    Thông thường cha mẹ một ông tăng chết không việc gì phương trượng phải lo, hơn nữa trong lúc phương trượng đang giảng pháp lại đưa ra thỉnh cầu này. Ý ông tăng là việc sanh tử bức thiết như cha mẹ chết, xin hoà thượng chỉ điểm. Dĩ nhiên là Bách Trượng hiểu ý của ông nên thuận nước đẩy thuyền bảo :
    -Được rồi ! Đem cha mẹ ông, ông và mọi người đem chôn hết đi.
    Ý Bách Trượng là đem chôn tất cả mọi quái ngại, cá nhân, đoàn thể, trong tâm, ngoài tâm. Đó là thủ pháp nhanh chóng giúp cho ông tăng và thính chúng đạt được giải thoát. Nếu tất cả mọi sự trong tâm đều đem chôn hết thì sẽ phát hiện thiên hạ vốn vô sự, chỉ là tự mình làm khó mình. Trước khi ngộ nên tu giới định tuệ để tiêu diệt tham, sân, si, thân tâm đừng khẩn trương, sau khi ngộ nên kết thiện duyên để phổ độ chúng sanh. Câu “Đem chôn tất cả đi” giống như đề hồ quán đỉnh làm tâm các ông được trong trẻo.

  • Lòng Trắc Ẩn

    April 25th 2010, 7:37 pm
  • 2139.- Hoà thượng gót chân còn chưa chấm đất đất.


    Một hôm Tuyết Phong Nghĩa Tồn thượng đường nói :
    -Đại chúng nên biết chuyện này như gương cổ trên đài : Hồ đến Hồ hiện, Hán đến Hán hiện.
    Huyền Sa hỏi :
    -Nếu như gương vỡ thì sao ?
    -Hồ, Hán đều ẩn.
    -Gót chân hoà thượng còn chưa chấm đất.
    (Công Án 100)

    Tuyết Phong giảng cho đại chúng lìa phiền não thì được trí tuệ. Minh tâm kiến tánh như gương cổ trên đài Hồ đến thì có ảnh Hồ, Hán đến thì có ảnh Hán. Ý nói sau khi ngộ rồi thì có nhận thức khách quan, không có thành kiến, không lấy ngã làm trung tâm. Lời này không sai, nhưng Huyền Sa cho rằng lời nói này có ngữ bệnh, sợ rằng người sau nhận rằng có một gương cổ thật thì sẽ biến thành tâm chướng, do đó phải phá gương giả tưởng đó đi. Tuyết Phong nhân Huyền Sa hỏi, thuận miệng đáp :
    -Gương cổ đã vỡ rồi thì không có ảnh Hồ, ảnh Hán.
    Câu đáp này cũng không sai, khi trí tuệ ẩn thì công năng không xuất hiện. Ảnh tuy không có nhưng Hồ, Hán còn đó phải làm sao ? Do đó, Huyền Sa đưa ra ý cảnh thâm sâu hơn :
    -Gót chân lão hoà thượng còn chưa chấm đất.
    Lão hoà thượng còn để ý đến có, không là hãy còn chấp, chưa triệt để giải thoát. Đối thoại này của hai thầy trò là phương thức siêu Phật, vượt Tổ. Không phải là trò cao hơn thầy mà là khai thị cho đại chúng đừng chấp vào quyền uy, ngẫu tượng, đừng nương tựa vào ai, phải tự mình thấy được bản lai diện mục.
    (Xem thêm công án 325)

  • Lòng Trắc Ẩn

    April 25th 2010, 7:38 pm
  • 2140.- Tiệm tạp hoá.


    Ngưỡng Sơn Huệ Tịch một hôm thượng đường nói :
    -Nơi đây là một tiệm tạp hoá, người đến mua cứt chuột tôi bán, người đến mua vàng ròng tôi cũng bán.
    (Công Án 100)

    Ngưỡng Sơn tiếp dẫn học trò không kể giỏi, dốt hễ có lòng muốn học là ông dạy. Những lời chỉ dẫn của ông đồng dạng nhưng người trí thấy là hoàng kim, còn kẻ ngu thấy là cứt chuột. Điều này cho thấy đệ tử của Ngưỡng Sơn có nhiều tầng thứ. Có người thiện căn thâm hậu, thân cận Ngưỡng Sơn thu nhận được nhiều lợi ích, kiến tánh khai ngộ, sau tự hoằng pháp lợi sanh. Có người tuy chưa khai ngộ, nhưng cũng được chút lợi ích. Lại có những người khi tới đem thành kiến tới, khi đi đem biên kiến đi. Những người này tuy nghe Ngưỡng Sơn nói pháp nhưng tâm lại phản ứng như ngoại đạo, tà pháp, ma pháp, nói đó là học từ Ngưỡng Sơn, kết quả tự hại mình, hại người.

  • Lòng Trắc Ẩn

    April 25th 2010, 7:38 pm
  • 2141.- Tay không nắm cán mai.


    Phó đại sĩ có làm bài kệ sau :
    Tay không nắm cán mai
    Đi bộ lưng trâu ngồi
    Theo cầu qua bến nước
    Cầu trôi nước chẳng trôi.
    (Trúc Thiên dịch)
    Xin xem nguyên tác chữ Hán ở công án 263.
    (Công Án 100)

    Phó đại sĩ bản danh là Truyền Ông, người đời Lương, là một vị thiền sư tiên khởi, trước làm nghề đánh cá, sau chuyển sang làm ruộng. Bài kệ này toàn nói những lời trái ngược, theo như thường thức thì chỉ là những lời nói điên khùng, nhưng suy nghĩ kỹ lại thì thấy cũng có đạo lý.
    Tay không nắm cán mai : tay tuy có nắm cán mai nhưng tâm không để cho cái mai chiếm hữu, vĩnh viễn không bỏ xuống được. Thí dụ ta có một chiếc xe hơi, có xe đi cũng tốt nhưng đừng cả ngày lo sợ bị mất xe. Sự thực ngay chính thân thể mình cũng không phải là mình còn nói gì đến vật ngoài thân.
    Đi bộ lưng trâu ngồi : Có trâu để cưỡi dĩ nhiên là tốt, nhưng không nên chấp phải có trâu, không có trâu là không được. Không có trâu thì xuống đi bộ, có sao đâu ?
    Theo cầu qua bến nước, cầu trôi nước chẳng trôi : nhìn xuống sông thấy nước chẩy đó là sự thật, là vô thường, nhưng luật vô thường lại bất biến.
    Hai câu đầu là chỉ Hữu, vô bất nhị, hai câu sau là chỉ Động tĩnh bất nhị. (Xem thêm công án 1691)

  • Lòng Trắc Ẩn

    April 25th 2010, 7:39 pm
  • 2142.- Lễ Phật.


    Đường Tuyên Tông lúc còn là sa di thấy Hoàng Bá lễ Phật bèn hỏi và bị tát ba cái.
    (Công Án 100)

    Công năng lễ Phật tối thiểu có 5 loại :
    1. Để cầu cảm ứng : là để tiêu tai, tăng phước, tăng thọ.
    2. Để sám hối : trước mắt Tam Bảo thừa nhận lỗi lầm, xin chịu trách nhiệm, hứa sẽ không tái phạm.
    3. Tỏ lòng cảm ơn : vì học Phật pháp lìa khổ được vui.
    4. Cầu an : dùng lễ bái để tâm được an định, bình tĩnh, thống nhất, đắc định, mở trí.
    5. Không cầu gì cả : giống như Hoàng Bá đã khai ngộ rồi, không cầu gì cả, chỉ làm tăng một ngày nên đánh chuông, gõ mõ, làm một Phật tử nên ngày ngày lễ Phật. Đường Tuyên Tông không hiểu cảnh giới của Hoàng Bá nên mới bị đánh.
    (Xem thêm công án 1930)

  • Lòng Trắc Ẩn

    April 25th 2010, 7:39 pm
  • 2143.- Sư cô nguyên là người nữ.


    Trí Thông một đêm bỗng kêu lớn :
    -Tôi ngộ rồi !
    Hôm sau Quy Tông thượng đường hỏi Trí Thông :
    -Ông ngộ được đạo lý gì, nói ra nghe thử ?
    -Sư cô nguyên lai là người nữ.
    (Công Án 100)

    Tỳ khưu ni cũng gọi là ni cô hoặc tôn xưng là sư cô, có nơi gọi là sư thái. Câu nói của Trí Thông đối với mọi người dường như là vô vị. Ni cô đương nhiên là người nữ rồi, ai chả biết, sao nói là ngộ ? Nhưng nếu biết được bối cảnh của Trí Thông thì sẽ hiểu được. Nói được câu nói này chắc chắn Trí Thông phải trải qua một thời gian tu hành lâu dài, đột nhiên tâm địa loé ra trí huệ. Mục đích của người tu là khai ngộ để thành Phật. Các vị thiền sư không nói cho biết thế nào là ngộ và làm sao để ngộ. Họ chỉ cho biết những gì chưa ngộ. Nhiều người tu hành cả đời cũng chẳng biết thế nào là ngộ, chỉ khi nào nhân duyên đã chín mùi, lão sư hỏi một câu không những đáp ngay không suy nghĩ mà là làm cho lão sư hài lòng chấp nhận thì đó mới là khai ngộ.
    (Xem thêm công án 523)

  • Lòng Trắc Ẩn

    April 25th 2010, 7:40 pm
  • 2144.- Hoà thượng bao nhiêu tuổi ?


    Hàn Dũ hỏi Đại Điên :
    -Hoà thượng bao nhiêu tuổi ?
    -Ngày đêm 108.
    Hàn Dũ không hiểu, ngày hôm sau lại lên chùa, gặp thủ toạ bèn nhắc lại câu hỏi, thủ toạ không đáp chỉ nghiến răng 3 lần. Khi gặp Đại Điên, Hàn Dũ cũng lập lại câu hỏi. Đại Điên cũng nghiến răng 3 lần. Hàn Dũ nói :
    -Nguyên lai Phật pháp không hai.
    (Công Án 100)

    Câu chuyện này như một câu đố. Chuyện kể xong người nghe chẳng hiểu gì cả. Công án là những chuyện xảy ra trong Thiền sử, có thể khiến người ta khai ngộ. Hàn Dũ còn được gọi là Hàn Văn Công, vì dâng sớ bài Phật, kết quả bị Đường Ninh Tông đầy tới Hồ Châu. Đến nơi, nghe tiếng có vị cao tăng là Đại Điên Bảo Thông bèn tới bái phỏng. Hàn Dũ hỏi Đại Điên bao nhiêu tuổi, Đại Điên giơ chuỗi hạt lên hỏi :
    -Ông hiểu không .
    -Không hiểu.
    -Ngày đêm 108. Chuỗi hạt có 108 hạt, đại biểu 108 phiền não. Đếm một hạt là trừ một phiền não, đếm xong 108 thì phiền não không còn nữa. Thực ra phiền não của con người đâu thể trừ đi một cách dễ dàng như thế ? Vì vậy phải đếm ngày đêm. Nhưng đếm niệm châu có quan hệ gì đến tuổi tác ? Do đó, ngày hôm sau Hàn Dũ lại lên chùa để hỏi, gập thủ toạ ông hỏi. Thủ toạ chỉ nghiến răng 3 lần để trả lời. Khi gặp Đại Điên ông nói :
    -Khi con hỏi hoà thượng, hoà thượng đáp : ngày đêm 108, hỏi thủ toạ, thủ toạ nghiến răng 3 lần. Sao 2 câu trả lời không giống nhau ?
    Đại Điên bèn nghiến răng 3 lần.
    Đến đây các ông đã hiểu chưa ? Thực ra không có gì là huyền ảo cả. Niên kỷ người xuất gia có nhiều loại :
    1. Sanh niên : là năm sanh, sanh được bao năm rồi ?
    2. Tăng lạp : xuất gia được bao nhiêu năm ?
    3. Giới lạp : thọ giới được bao năm ?
    4. Pháp lạp : khai ngộ được bao năm ?
    Trả lời những câu hỏi này không đại biểu cho Đại Điên. Tối thực tại là Đại Điên ngay trước mặt tay cầm hạt chuỗi. Đó mới là Đại Điên còn những câu đáp khác đều vô ý nghĩa. Để trả lời Hàn Dũ, Đại Điên đáp : Ngày đêm 108 là nói : Tôi ngày ngày , đêm đêm đều như thế này, đếm 108 hạt, tâm cảnh nhất quán, cái ông nhìn thấy là toàn thể, tướng mạo và tâm cảnh đều bầy ra cho ông coi. Hàn Dũ không hiểu, hôm sau hỏi thủ toạ, thủ toạ không trả lời, lại không có chuỗi hạt bên cạnh nên nghiến răng 3 lần để đáp, ý nghĩa cũng giống như Đại Điên. Khi Đại Điên nghiến răng 3 lần thì cuối cùng Hàn Dũ đã hiểu Phật pháp vốn không hai, ngay đây không tính toán, không tưởng tượng.
    (Xem thêm công án 1139)

  • Lòng Trắc Ẩn

    April 25th 2010, 7:40 pm
  • 2145.- Không chịu gánh vác.


    Dược Sơn Duy Nghiễm hỏi Cao sa di :
    -Nghe nói thành Trường An rất náo nhiệt, có phải không ?
    -Dạ, thành Trường An rất náo nhiệt, nhưng tâm con bình tĩnh.
    -Cảnh giới đó là do ông xem kinh hay thỉnh ích lão sư mà được ?
    -Đều không phải.
    -Có nhiều người cũng như ông, không xem kinh, không thỉnh ích các vị lão sư, sao không đạt được cảnh giới này ?
    -Vì họ không chịu gánh vác.
    (Công Án 100)

    Cao sa di là một ông tăng nhỏ mà đã đạt được công phu thâm hậu, thật không dễ dàng. Dược Sơn hỏi ông do kinh điển hay được sư phụ giảng dạy ? Ông bảo đều không phải, là do ông tự ngộ, tự chứng, không hướng ra ngoài mà tìm cầu. Dĩ nhiên những gì mà kinh Phật và những gì mà lão sư chỉ điểm đã biến thành một bộ phận nội tại của sinh mạng ông, do đó ông có thể tự làm chủ. Cảnh giới của ông không như kinh Phật và lão sư chỉ cho, vì những trí thức, quan niệm này chỉ thuần tuý là trí thức, giáo huấn chỉ là giáo huấn, đối với nội tại sanh mạng của ông không kết thành một thể. Có nhiều phần tử trí thức có thể xem kinh điển hiểu rõ nghĩa lý, có thể giảng dạy cho người khác minh tâm kiến tánh nhưng những hành vi về thân, khẩu, ý của họ còn đầy thất tình lục dục, chẳng khác gì người thường cho thấy trí thức, học vấn của họ cùng với sự tu dưỡng không tương ứng. Đó là họ không chịu gánh vác, không đem những kiến thức do kinh điển và chỉ dẫn của lão sư đem thể nghiệm, thực hành.
    (Xem thêm công án 1943)

  • Lòng Trắc Ẩn

    April 25th 2010, 7:41 pm
  • 2146.- Sự khai ngộ của Vân Môn Văn Yển.


    Vân Môn Văn yển đến tham Mục Châu Trần Tôn Túc, mỗi lần đến gõ cửa cầu pháp, Mục Châu thấy là Văn Yển bèn đóng sập cửa lại. Đã 3 lần như vậy, đến lần cuối Văn Yển đã học khôn. Khi cửa vừa hé mở ông vội lùa một chân vào trước rồi xông vào sau. Mục Châu túm lấy ông vừa đẩy, vừa nói :
    -Ông nói mau ! nói mau !
    Văn Yển vốn có nhiều lời để hỏi Mục Châu, không ngờ giờ lại bị Mục Châu hỏi khiến ông ngẩn người ra. Mục Châu vừa đẩy ông, vừa mắng :
    -Ông chỉ chở những chuỳ nặng đời Tần ! (Những chuỳ nặng đời Tần đến đời Đường đã trở thành võ khí vô dụng không còn dùng nữa).
    Nói rồi sập cửa. Đáng thương chân Văn Yển bị kẹt trong cửa bị gẫy khiến ông bị đau đến tận tim, phổi. Nhưng nhờ thế mà Văn Yển được khai ngộ.
    (Công Án 100)

    Người ngoài xem chuyện này như một trò phường tuồng chả có đạo lý gì cả. Sự thật thì giữa 2 thầy trò họ đã phát sinh một chuyện kinh thiên động địa. Văn Yển muốn biết làm sao khai ngộ. Mục Châu muốn giúp ông, hai người tâm tâm tương ứng. Mục Châu dùng thủ đoạn rất phi thường, ông bảo Văn Yển :
    -Ông nói mau ! nói mau !
    là bức bách Văn Yển vào đường cùng, không tiến không được. Lúc đó, Văn Yển không biết phải trả lời làm sao. Mục Châu lại bồi thêm một câu :
    -Ông chỉ chở những võ khi vô dụng đời Tần !
    Ở đây những võ khí vô dụng là chỉ tâm mong cầu khai ngộ của Văn Yển. Hơn nữa, chân Văn Yển lại bị gẫy khiến ông đau đớn. Lúc đó bị bức bách, ông bỏ cả thân tâm xuống do đó mà khai ngộ. (Xem thêm công án 276, 1160)

  • Lòng Trắc Ẩn

    April 25th 2010, 7:42 pm
  • 2147.- Hãy còn cái đó.


    Ngưu Đầu Pháp Dung dẫn sư phụ là Song Phong Đạo Tín thăm chỗ tu hành của mình. Trên đường gặp hổ, Đạo Tín làm ra vẻ sợ hãi. Pháp Dung nói :
    -Sư phụ còn cái đó !
    Về sau, Đạo Tín viết chữ Phật lên bàn thạch nơi Pháp Dung thường ngồi Thiền. Pháp Dung không dám ngồi xuống. Đạo Tín bảo :
    -Ông hãy còn cái đó !
    (Công Án 100)

    Xem ra thì đây là hai thầy trò khảo nghiệm lẫn nhau và người không vượt được sự khảo nghiệm là đệ tử Pháp Dung. Lịch đại tổ sư sống nơi rừng sâu gập hổ báo là chuyện thường, vẫn an nhiên tự tại, thậm chí còn thu phục làm đệ tử, tại sao sư phụ lại sợ hãi, do đó Pháp Dung nói :
    -Sư Phụ ! Sao trong tâm sư phụ còn nỗi lo sợ ?
    Ý nói sư phụ chưa được giải thoát. Đến lúc hai người sửa soạn ngồi thiền, Đạo Tín viết chữ Phật lên thạch bàn, Pháp Dung trông thấy không dám ngồi xuống. Đạo Tín bèn cười ông :
    -Trong tâm ông hãy còn một chữ Phật nhé ! Phật chỉ là một chữ viết, một quan niệm, cũng không phải là bản thân Phật Thích Ca Mâu Ni ở đó, huống hồ Thiền tông chủ trương Phật ở trong tâm chứ không ở bên ngoài, lại còn chủ trương nơi nơi đều là Phật, không đâu không có Phật. Ngờ đâu chỉ một chữ Phật đã làm ông không dám ngồi xuống. Điều đó đã cho thấy tâm thái chấp trước của ông. Do sự chỉ điểm đó Pháp Dung cảm thấy hổ thẹn, nỗ lực tu hành cuối cùng đã khai ngộ.
    (Xem thêm công án 1082)

  • Lòng Trắc Ẩn

    April 25th 2010, 7:42 pm
  • 2148.- Trường không không trở ngại mây trắng bay.


    Thiên Hoàng Đạo Ngộ hỏi Thạch Đầu Hi Thiên :
    -Thế nào là đại ý Phật pháp ?
    -Không được, không biết.
    -Hướng thượng còn chỗ xoay trở không ?
    -Trường không không trở ngại mây trắng bay.
    (Công Án 100)

    Phật pháp đại ý là chỉ tinh nghĩa của thiền hoặc tâm pháp, cũng là chỉ ngộ cảnh của chư Phật, tổ. Câu đáp của Thạch Đầu nghĩa là không thể dùng phương pháp truyền thọ mà được. Không được, không biết vậy phải làm sao ? Do đó, Đạo Ngộ hỏi :
    -Vậy có cửa nào để khai ngộ ? Thầy có thể chỉ cho con không ?
    Một dải trường không vạn dậm, mây trắng tự do bay lượn có gì để chỉ ? Đó là tâm cảnh người khai ngộ. Ông thấy không mặt trời, mặt trăng, tinh tú, chim lượn, mây bay tất cả đều không. Người khai ngộ tâm không phiền não, nhưng mọi hiện tượng đều xuất hiện trong tâm. Những gì xuất hiện cố nhiên là có hình, có tượng, có đối lập, sai biệt nhưng không làm khốn quẫn ông. Có thể nói tuy mọi hiện tượng đều tồn tại nhưng không ảnh hưởng đến ngộ cảnh của ông như mây trắng bay, muốn bay thế nào thì bay không ảnh hưởng gì đến trường không, trường không cũng không vì đó mà biến đổi. Người ngộ đạo thân ở thế gian cùng người, sự, vật tiếp xúc đều vào tâm ông, nhưng ông không kháng cự, không chiếm hữu. Những hiện tượng này tự sanh diệt trong tâm ông, đối với ông không có quan hệ gì. Người đại trí chính là như vậy, không bị tốt xấu, đúng sai, thiện ác v . v . làm khốn quẫn, ông ta có thể bao dung và xử lý chúng.

  • Lòng Trắc Ẩn

    April 25th 2010, 7:43 pm
  • 2149.- Xử dụng 12 thời.


    Có ông tăng hỏi Triệu Châu Tòng Thẩm :
    -Làm sao dụng tâm trong 12 thời ?
    -Ông bị 12 thời chuyển, còn lão tăng chuyển 12 thời.
    (Công Án 100)

    Thời cổ, Trung Quốc chia một ngày một đêm là 12 giờ. Mỗi giờ tương đương với 2 giờ ngày nay. Thông thường lúc tỉnh người thường khó mà khống chế được tâm niệm của mình, nói gì đến khi nằm ngủ. Do đó, ông tăng hỏi Triệu Châu :
    -Một vị cao tăng như hoà thượng chắc là trong 12 giờ không có khoảnh khắc nào không dụng tâm, làm sao làm được như thế ?
    Ý ông tăng là làm sao có thể liên tục không gián đoạn cả ngày, cả đêm không khởi vọng tưởng, tạp niệm, chỉ nhất tâm chuyên chú tu hành ? thí dụ một người ăn cơm, không chỉ ăn cơm mà còn xem truyền hình, nghe nhạc, đọc báo, nói chuyện v . v ., tâm khẩu không nhất chí, tâm niệm không thể chuyên chú vào một việc. Thiền tông gọi hiện tượng này là tạp dụng tâm, tâm viên ý mã, vọng tưởng phân phi. Đó là tâm tán loạn. Ngược lại, tâm có thể tập trung vào một việc gọi là chuyên tâm, nhất tâm do tâm không làm 2 việc một lúc, tiến lên nữa là đạt tới vô tâm. Đó là sự dụng tâm của thiền sư. Câu đáp của Triệu Châu có nghĩa là trong 12 giờ ông bị các tạp niệm vọng tưởng làm khốn quẫn, còn tôi thì tâm không tán loạn, thậm chí không dụng tâm mà xử dụng 12 giờ. Trọng điểm của công án này là không nên nghĩ làm sao dụng tâm trong 12 giờ, mà đối với mỗi giây phút ngắn ngủi của hiện tại hãy tự tĩnh hoá mình, giúp đỡ, bao dung người, tuỳ thời, tuỳ chỗ, tuỳ cảnh, tuỳ duyên đều nỗ lực học tập cống hiến tha nhân. Còn nếu bỏ rơi hiện tại vin vào quá khứ hay vị lai là bị 12 giờ chuyển. (Xem thêm công án 1860)

  • Lòng Trắc Ẩn

    April 25th 2010, 7:43 pm
  • 2150.- Toàn thân là mắt.


    Đạo Ngô Tông Trí hỏi Vân Nham Đàm Thạnh :
    -Quán Âm ngàn mắt ngàn tay, mắt nào là chánh.
    -Như người trong đêm sờ cái gối.
    -Đệ hiểu rồi.
    -Ông hiểu thế nào ?
    -Toàn thân đều là mắt.
    (Công Án 100)

    Mắt có mắt chánh, mắt tà, mắt thịt, mắt tuệ. Kiến giải chân chánh là mắt chánh, cong queo là mắt tà, cha mẹ sanh ra là mắt thịt. Khi tâm không còn phiền não thì mắt tuệ sẽ sanh. Mắt tuệ lại có nông, sâu. Nông là có cái nhìn khách quan, sâu là vượt lên tự ngã. Chánh nhãn của Quán Âm là tuệ nhãn. Tuệ nhãn này phối hợp với thiên nhãn có thể nhìn thấy những thống khổ của chúng sanh ở mọi nơi, với lòng từ bi dùng ngàn tay để cứu độ. Nếu đã là Bồ Tát Quán Âm thì mắt nào chả là mắt chánh ? Vân Nham lại khai triển thêm, phàm phu ngoài mắt thịt ra toàn thân đều có thể sản sinh công năng của mắt. Trong đêm tối không nhìn thấy gối nhưng có thể sờ được, bất cứ bộ phận nào của cơ thể hễ chạm đến đều có thể nhận biết đó là cái gối. Do đó, có thể nói toàn thân đều là mắt. Phật nói Quán Âm có ngàn mắt kỳ thực chỉ có 2 vì toàn thân đều là tuệ nhãn.
    (Xem thêm công án 185)


    Chung.

    Các sách trích dịch

    Công Án 100 Thánh Nghiêm
    Công Án Thiền Cơ Huyền Tường
    Danh Thiền Bách Giảng Chung Sĩ Phật
    Đạo Nguyên Ngữ Lục Tâm Linh Nhã Tập
    Lưỡng Nhẫn Tương Giao Lâm Cốc Phương
    Nhất Nhật Nhất Thiền Đông Phương Văn Duệ
    Nhất Nhật Nhất Thiền Ngữ Long Mân
    Nhất Chuyển Ngữ Thiền Lý Tuấn Dật
    Nhất Thiền Nhất Thế Giới Long Tử Dân
    Phật Pháp Tu Chứng Tâm Yếu Nguyên Âm Lão Nhân
    Thiền Cơ Lâm Minh Dục
    Thiền Môn Khai Ngộ Thi Đỗ Tùng Bách
    Thiền Ngộ Dữ Thực Hiện Trịnh Thạch Nham
    Thiền Lâm Châu Cơ Duy Minh
    Thiền Tông Đại Ý Chánh Quả
    Thiền Tư Chiêm Hanh Vũ
    Thiền Vị Chiêm Hanh Vũ
    Tinh Vân Thiền Thoại Tinh Vân
    Tứ Lý Thiền Học Thành Cư Sĩ
    Zen Light Barragato


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group