Cửa Thiền hé mở - TT Thích Thông Phương

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • V. TÓM KẾT




    Cuối cùng ngay đây, cái gì vay mượn hãy trả về cho vay mượn, mọi thứ trả về cho mọi thứ, trống sạch mọi khái niệm khuôn khổ đóng cứng trong đầu, NHƯ THẬT THẤY BIẾT ĐÚNG NHƯ THẤY BIẾT, không xen thêm cái gì vào, nhất là không cái tôi xem! Tức liền đó, luôn luôn thấy biết mới mẻ, vi diệu! Nếu bảo rằng: “Sao cứ bao nhiêu đó nói hoài”, thì ngay đó biết rằng mình đang thấy biết với cái gì? Quả tang là với cái khuôn quá khứ trong đầu, với cái tâm quá cũ của quá khứ, chớ vội tự hào!

    Chúng ta hãy nghe câu chuyện Đàm Thạnh với Dược Sơn. Đàm Thạnh đứng hầu, Dược Sơn hỏi:

    - Bá Trượng nói pháp gì?

    Sư thưa:

    - Có khi Ngài thượng đường, đại chúng nhóm họp xong. Ngài lấy gậy đuổi tan, rồi gọi: - Đại chúng! Đại chúng xoay đầu nhìn lại, Ngài liền hỏi: - Là cái gì?

    Dược Sơn bảo:

    - Sao chẳng nói sớm thế ấy, ngày nay nhân ông ta thấy được Hải huynh.

    Trong đây cho thấy, Đàm Thạnh chỉ nhắc lại việc cũ của Bá Trượng thôi, vì sao Dược Sơn bảo: “Nhân ông ta thấy được Hải huynh?” Tức nhân đó Dược Sơn thấy được Bá Trượng. Vậy thì ngay đó Bá Trượng hiện tiền sáng ngời, sao bảo là lời cũ được? Nhưng chúng ta nghe nhắc lại thì có thấy Bá Trượng chăng? Tại sao không thấy?

    Đơn giản, bởi vì tâm chúng ta quá cũ! Bởi tâm mình quá cũ nên nghe cũng thành cũ, rồi cho là chuyện cũ, làm sao thấy được! Đây là chỗ phải nghiệm kỹ để không lầm, thành ra chỉ sống với cái cũ chết, lại tự cho là mình thông minh nghe qua liền hiểu rồi! Người học thiền phải NGHE THẤY với tâm luôn mới mẻ chưa từng trải qua ý niệm gì, thì sẽ nghe được những điều không ngờ! Đừng vội bảo lời cũ, chuyện cũ, mà hãy xét lại tâm mình có cũ không?

    Và đây, có vị tăng hỏi ngài Linh Vân:

    - Thế nào là chư Phật chưa ra đời?

    Sư đưa cây phất tử lên.

    Tăng hỏi tiếp:

    - Thế nào là chư Phật đã ra đời?

    Sư cũng đưa cây phất tử lên.

    Vậy là Chư Phật chưa ra đời, ở đâu? Rồi Chư Phật đã ra đời thì ở đâu?

    Rõ ràng cũng chỉ ngay THẤY BIẾT này thôi! Nhưng tại sao chúng ta chỉ thấy có chúng sanh ra đời? Lỗi tại ai?

    Và chín chắn kiểm điểm lại xem, ngay bây giờ đây, chư Phật ở đâu?

    Đưa quyển sách này lên được chăng?

    Mong tất cả luôn luôn mở mắt, THẤY BIẾT NHƯ THẬT, đó là chỗ cùng gặp nhau trong ánh sáng chân thật.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • NÓ ĐÂY RỒI




    Xưa nay thiền vốn là một thực tế, rất thực tế đến độ không ngờ, nhưng vì chúng ta quen tưởng tượng quá nhiều về nó, hoặc suy tư theo danh từ nên đã tô điểm lên nó đầy ắp những khái niệm, rồi lại đua nhau đi tìm nó! Nghe nói thiền vượt ngoài lý luận, bèn tưởng tượng nó là một cái gì thật cao siêu, dành cho người thượng căn, thượng trí, vậy nó phải thật phi thường, vượt ngoài thế gian này. Song ngoài thế gian này sẽ tìm nó ở đâu? Chúng ta đang ở trong thế gian mà nó ở ngoài thế gian, thì làm sao tìm?

    Có vị tăng hỏi Hoà thượng Triệu Châu:

    - Thế nào là người ở ngoài ba cõi?

    Sư đáp:

    - Ngặt vì ta ở trong ba cõi.

    Đây là bệnh nói lý, cứ lo hỏi chuyện xa xôi, tưởng tượng ở đâu đâu mà quên mất chỗ sống chính mình đang hiện hữu ngay đây. Thân đang ở trong ba cõi mà lo hỏi chuyện ngoài ba cõi! Muốn biết thì ông hãy ra khỏi ba cõi tức biết ngay. Thiền không lý luận dài dòng không tốn công chạy đua trên khái niệm.

    Một dịp khác, ngài Trần Tôn Túc tức Thiền sư Đạo Minh hỏi vị tăng:

    - Ông ở đâu đến đây?

    Tăng thưa:

    - Con từ Ngưỡng Sơn đến.

    Sư bảo:

    - Ông nói láo.

    Sao lạ vậy? Ông tăng nói láo ở chỗ nào? Chính ông tăng từ Ngưỡng Sơn đến, nên ông thật thà đáp như thế, sao bảo nói láo? Bởi Thiền sư không giống thường tình ở thế gian. Sư bảo thế là muốn đánh thức ông tăng, ông đang đứng đây, đang đối diện hiện tiền rõ ràng đó, lại nhớ trở về Ngưỡng Sơn hôm nào. Đây là quên mất thực tại đang hiện tiền! Một thực tại quá ư gần gũi, xác thực đến nỗi ông tăng không ngờ.

    Chính đây mà Hoàng Bá gọi Bùi Hưu. Bùi Hưu thấy hình vẽ cao tăng trên vách chùa, hỏi Hoàng Bá:

    - Hình ở đây, còn cao tăng ở đâu?

    Hoàng Bá gọi to:

    - Bùi Hưu!

    Bùi Hưu đáp:

    - Dạ!

    Hoàng Bá bảo:

    - Ở đâu?

    Ngay đó ông liền nhận ra cao tăng hiện tiền.

    Ai thấy ngay lúc đó Bùi Hưu đang ở đâu mà hỏi? Ông cứ lo hỏi cao tăng ở trong hình vẽ, còn “cao tăng sống đang hỏi” đó, lại đâu ngờ ! Thiền sư thấy suốt rõ ràng, đâu chịu bỏ qua luống uổng. Nên một gọi, liền dạ, thực tại vẫn đang hiện hữu sáng ngời muôn thuở đó!

    Thiền sư Văn Yển ở Vân Môn cũng dùng thuật này đánh thức thị giả Viễn. Viễn làm thị giả Vân Môn mười tám năm, mỗi khi tiếp Viễn, Vân Môn đều gọi:

    - Thị giả Viễn!

    Viễn đáp:

    - Dạ!

    Vân Môn bảo:

    - Ấy là gì?

    Cứ như thế đến mười tám năm, Viễn mới ngộ. Vân Môn bảo:

    - Nay ta mới không gọi ngươi nữa.

    Mỗi lần gọi liền dạ, tại sao Viễn không ngộ? Vậy mười tám năm đó, Viễn ở đâu mà không ngộ? Rồi khi ngộ nó ở đâu chạy tới? Quả thực chính mình đang sống trong đó mà tự mê thôi. Nếu ngay tiếng gọi ban đầu liền quên tiếng chợt nhớ lại là xong, đâu nhọc Vân Môn mười tám năm gọi mãi!

    Bởi vậy, Thiền tông quá sức thực tế, không chỉ xa xôi, không giải thích chữ nghĩa rườm rà, mà chỉ thẳng lẽ thật sát bên mình, ngay nơi mình đang sống. Do đó, điều mọi người tưởng là phi thường, lại chính là điều rất bình thường đến nỗi bất ngờ.

    Như việc Quốc sư Huệ Trung gạn Tam Tạng Đại Nhĩ về tha tâm thông.

    Lần thứ nhất Quốc sư bảo:

    - Ông hãy nói, hiện giờ lão tăng đang ở đâu?

    Tam Tạng đáp:

    - Quốc sư là thầy một nước, sao lại đến Tây Xuyên xem đò đua!

    Lần thứ hai Quốc sư hỏi:

    - Ông hãy nói, hiện giờ lão tăng đang ở đâu?

    Tam Tạng đáp:

    - Hòa thượng là thầy một nước sao lại đến cầu Thiên Tân xem khỉ giỡn!

    Lần thứ ba Quốc sư bảo như trước. Tam Tạng lặng im chẳng biết chỗ đi, Quốc sư nạt:

    - Cáo tinh! Tha tâm thông ở đâu?

    Sau này có vị tăng đem ra hỏi ngài Triệu Châu:

    - Lần thứ Tư Quốc sư ở đâu mà Tam Tạng không thấy?

    Triệu Châu đáp:

    - Ở trong lỗ mũi Tam Tạng.

    Ai thấy lần ba Quốc sư ở đâu mà Tam Tạng chẳng thấy? Quả thật không có ở đâu cả, chính vì Tam Tạng lo tìm ở đâu nên không thấy. Lời Triệu Châu đáp rất ý vị, bởi nó quá gần, quá xác thực nên Tam Tạng không ngờ tới được. Nếu ngay đó hỏi ở đâu? Tam Tạng liền thoi một thoi hoặc vỗ vai Quốc sư một cái, liền biết ở đâu ngay, khỏi bị quở là cáo tinh.

    Trước kia, vua Lương Võ Đế cũng từng đối trước Tổ Bồ Đề Đạt Ma lầm qua chỗ này. Vua hỏi Tổ Đạt Ma:

    - Đối trẩm là ai?

    Tổ Đạt Ma đáp:

    - Chẳng biết.

    Vua mờ mịt, đành để Tổ đi qua đất Ngụy. Chính vua đang đối diện Tổ đó, mà còn hỏi là ai, thì biết nói sao đây? Nên Tổ đành bảo: - Chẳng biết! Đó là đánh thức vua đang hiện tiền sáng ngời đấy! Tiếc thay, vua vẫn còn đang mở mắt chiêm bao nên để lầm qua một cách đáng thương! Nếu rõ ra, thì NÓ ĐÂY rồi! Không phải tìm đâu nữa. Mới hay, lâu nay mình đã lầm tưởng!

    Kìa Thạch Củng một hôm cùng với Trí Tạng đi dạo chơi, Sư hỏi Trí Tạng:

    - Sư đệ biết bắt hư không chăng?

    Trí Tạng đáp:

    - Biết bắt.

    Sư hỏi:

    - Làm sao bắt được ?

    Trí Tạng lấy tay chụp hư không

    Sư nói:

    - Làm thế ấy đâu bắt được hư không?

    Trí Tạng hỏi:

    - Sư huynh làm sao bắt?

    Sư liền nắm mũi Trí Tạng vặn mạnh. Trí Tạng đau quá la lên:

    - Giết chết lỗ mũi người ta! Buông ngay!

    Sư bảo:

    - Phải làm như thế mới bắt được hư không.

    Đây là Thạch Củng khéo léo đánh thức cái đang hiện hữu nơi Trí Tạng. Ngay khi Thạch Củng nắm mũi Trí Tạng vặn mạnh, Trí Tạng kêu đau, la lên, thì hết chạy đâu khỏi! Cái đó không hình tướng gì, nhưng sao biết kêu đau? Ngay đó bị nắm rồi!

    Và đây, Thiền sư Thạch Thê, một hôm hỏi thị giả:

    - Ông đi đâu?

    Thị giả thưa:

    - Con đi lên trai đường.

    Sư bảo:

    - Ta đâu không biết ông đi lên trai đường?

    Thị giả thưa:

    - Trừ ngoài việc này, riêng nói cái gì?

    Sư bảo:

    - Ta chỉ hỏi việc bổn phận của ông.

    Thị giả thưa:

    - Nếu hỏi việc bổn phận, con thật đi lên trai đường.

    Sư bảo:

    - Ông quả thật là thị giả của ta!

    Thiền sư Thạch Thê muốn gạn xem thị giả có đang sống ngay thực tại hiện tiền không. Thấy đi lên trai đường thì Sư biết rồi, nhưng hỏi đi đâu, xem thị giả có theo câu hỏi mà mất mình chăng? Thị giả đáp: “Đi lên trai đường” Sư gạn lại: “Ta vốn biết ông đi lên trai đường rồi, nhưng ta muốn hỏi cái gì đi kìa? “ Nếu người còn niệm kia đây ắt mắc kẹt ngay. Thị giả khéo thấy, nên đáp: “Trừ ngoài việc này, còn riêng có việc gì khác nữa để nói?” Đâu thể có thêm cái thứ hai nữa! Tuy biết vậy, Sư gạn thêm cho tột: “Ta chỉ hỏi việc bổn phận của ông thôi”, không hỏi việc đi lên trai đường. Nếu thị giả không có sức sống thực tại hiện tiền, hẳn bị ngôn ngữ của Sư đánh lừa đi vào con đường khác rồi! Thị giả vẫn trước sau không rời một bước đáp: “Nếu hỏi việc bổn phận, con thật đi lên trai đường”. Rõ ràng việc bổn phận cũng chính ngay đó thôi, đâu thể có thêm cái khác nữa. Đây này, đi lên trai đường mà đi rõ ràng chưa từng mê, thì đó là ai? Còn ai xen vào trong đó để đi? Chỉ một “chút xíu này” mà người người tự lầm mê, đành chạy lăng xăng hết kiếp này sang kiếp khác, luân hồi mãi mãi quên mất cả đường về. Trong khi đó, đường về vẫn ở ngay trước mắt!

    Ôi! Một lẽ thật rất rõ ràng, hết sức gần gũi, cốt người phải dám buông sạch mọi khái niệm đã chứa sẵn trong đầu đi. Chính bao nhiêu khái niệm trong đầu đó, nó che mờ khiến người không nhớ được. Triệu Châu từng hỏi Ngài Nam Tuyền: - Thế nào là đạo? Nam Tuyền đáp: - Tâm bình thường là đạo. Rất đơn giản, đạo không là cái gì cao xa, lạ lùng, kỳ bí như nhiều người tưởng, trái lại chỉ là “tâm bình thường”, sạch hết mọi khái niệm trong đó, thì ngay đây tỏ rõ sáng ngời!

    Chính ngài Đại Mai khi đến Mã Tổ hỏi:

    - Thế nào là Phật?

    Mã Tổ đáp:

    - Tức tâm là Phật

    Sư liền tỏ ngộ, về núi sống mãi không tìm kiếm gì thêm. Ngày nay, tại sao chúng ta nghe hoài câu này mà vẫn không ngộ, không sáng? Đâu có gì lạ, bởi trong đầu chúng ta đã chứa quá nhiều khái niệm, vẫn kẹt nơi chữ “Tức”, cũng như chưa quên được hai chữ “Tâm” và “Phật”. Còn thấy có “tức”, là còn y nguyên có “tâm”, có “Phật”, chữ nghĩa vẫn còn trong đầu, làm sao ngộ? Tổ Lâm Tế từng bảo: “gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ, gặp La Hán giết La Hán v.v…”, phải sạch hết mọi khái niệm phàm thánh trong lòng, thì chính ngay đây “người nào đang nghe pháp rõ ràng đó?” Người nào đang phóng quang rọi từng chữ, từng chữ đây? Tóm lại, Thiền chân thật là “ở ngay đây”, “tại lúc này đây”, không có ở đâu khác. Chỉ cần bặt niệm kia đây thì mười phương ở ngay trước mắt, xưa nay chưa từng che giấu bao giờ.

    Để tóm tắt lại ý nghĩa trên, chúng ta hãy lắng nghe đoạn nhân duyên Đại Phu Lục Hoàn hỏi Hòa thượng Nam Tuyền:

    Người xưa có nuôi một con ngỗng trong cái bình, ngỗng càng ngày càng lớn lên không thể ra khỏi. Giờ đây chẳng được đập bể cái bình, chẳng được giết chết con ngỗng, Hòa thượng làm sao cho ngỗng ra khỏi Nam Tuyền liền gọi to: Ngay đó ông tỏ ngộ, lễ bái.

    Nghe nói con ngỗng trong bình, bị cái khái niệm đó trói cột, tức lo suy tìm cách ra, đó là mê. Không ngờ, một tiếng gọi, liền dạ, vốn tự ra rồi, NÓ VẪN SẴN Ở ĐÂY!

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • TÂM ẤN TÂM




    I. YẾU CHỈ MẬT TRUYỀN



    Yếu chỉ thiền tông thầy truyền cho trò là “lấy tâm ấn tâm”, không dùng một pháp khác từ bên ngoài. Dù có đánh, có hét, dù nói trái tai, nói thô bạo, nói nghịch lý v.v… chỉ là phương tiện cởi mở tình chấp cho người, chỗ rốt ráo vẫn là “một tâm in nhau” mà thôi. Người học chưa thông cảm đến chỗ này, là còn đứng ngoài cửa, dù kiến giải chứa đầy trong đầu.

    Tuyết Phong hỏi Đức Sơn:

    - Việc trong Tông thừa từ trước, con có phần chăng?

    Đức Sơn liền đánh cho một gậy bảo:

    - Là cái gì?

    Tuyết Phong như thùng lủng đáy. Hôm sau, Đức Sơn thượng đường bảo:

    - Tông ta không lời nói, không một pháp cho người.

    Như vậy là lấy gì truyền, lấy gì nhận? Tuyết Phong hỏi: “Việc trong Tông thừa từ trước, con có phần chăng?” là nghi mình không có hay sao? Cho nên Đức Sơn liền đập thẳng vào trong ấy, khiến tỉnh lại là xong. Quả thật Tuyết Phong ngay đó hết chỗ bám. Nếu người cứ mong chờ có một pháp để truyền trao cho mình nhận, hoặc thấy mình thật có nhận được một pháp từ bên ngoài, dù pháp đó cao siêu đến đâu, vẫn là người còn trong mộng.

    Chính đoạn nhân duyên thiền, Phật đưa cành hoa sen giữa đại chúng, tất cả đều im lặng, khi Phật nhìn đến Tôn giả Đại Ca Diếp. Tôn giả cảm thông với cái nhìn của Phật liền mỉm cười, Phật liền truyền pháp, phó chúc cho Tôn giả, tin tức mật truyền tâm ấn đã thổ lộ trong ấy. Ngày nay, nhiều người nghiên cứu lịch sử nghi ngờ, cho đây là đoạn kinh giả, không có sự thật lịch sử, mà quên rằng kinh văn thì có thể nói giả, và cũng hẳn là giả vì thuộc văn tự, nhưng ý sâu trong ấy vốn vượt ngoài chữ nghĩa, còn gì nói giả, nói thật? Người học thiền hay học Phật chân chánh, không phải học ở mấy hàng chữ ghi lại trên giấy mực kia, mà phải học “ý sống không thể nói” kìa! Bám theo chữ nghĩa, phân tích câu lời thì muôn đời không thể hiểu thấu được Thiền chân thật. Thiền sư Tỉnh Niệm ở chỗ Hòa thượng Phong Huyệt đã thâm đạt ý này, ngài Phong Huyệt liền truyền pháp kế thừa tông Lâm Tế.

    Sư ở trong hội Phong Huyệt làm tri khách. Một hôm, Sư đứng hầu, Phong Huyệt rơi nước mắt nói với Sư:

    - Bất hạnh! Đạo Lâm Tế đến ta sắp chìm lặng mất!

    Sư thưa:

    - Xem trong cả chúng này đâu không có người kế thừa Hòa thượng?

    Phong Huyệt bảo:

    - Người thông minh thì nhiều, kẻ thấy tánh thì ít.

    Sư thưa:

    - Như con, Hòa thượng xem thế nào?

    Phong Huyệt bảo:

    - Ta tuy trông mong ở ngươi đã lâu, vẫn e ngại đắm mến kinh này không thể buông rời (Sư thường thầm tụng kinh Pháp Hoa, nên được hiệu Niệm Pháp Hoa).

    Sư thưa:

    Việc này có thể làm được, mong nghe yếu chỉ ấy.

    Phong Huyệt thượng đường, nhắc lại việc Thế Tôn dùng con mắt như hoa sen xanh nhìn đại chúng, bèn hỏi:

    - Chính khi ấy, hãy bảo là nói cái gì? Nếu bảo chẳng nói mà nói lại là chôn vùi Thánh trước. Hãy bảo: nói cái gì?

    Sư bèn phủi áo đi ra. Phong Huyệt ném cây gậy trở về phương trượng. Thị giả chạy theo sau thưa:

    - Niệm Pháp Hoa nhân gì chẳng đáp lời Hòa thượng?

    Phong Huyệt bảo:

    - Niệm Pháp Hoa đã lãnh hội.

    Hãy chú ý! Ngay khi Thế Tôn đưa mắt thanh tịnh như hoa sen xanh nhìn đại chúng, chính khi ấy là nói cái gì? Và Thiền sư Tỉnh Niệm đã lãnh hội chỗ nào? Yếu chỉ này vốn không nằm ở câu chuyện xa xưa, cũng không ở mấy dòng chữ kia, mà chính ở ngay người đang đối diện đây! Tiếc thay, bao người cứ lo phân tích trên câu chuyện, quên mất ánh sáng đang hiện hữu!

    Ở Việt Nam, Vua Trần Thánh Tông từng cảm nhận ý này và đã tỏ bày trong đoạn pháp ngữ: “xưa nay nói một câu rốt sau mới đến lao quan. Ba đời chư Phật bốn mắt nhìn nhau, sáu đời Tổ Sư có phần thối thân. Những người tham học hiện nay trọn nhằm trong câu tham lấy, lại hỏi các ông, nhằm trong câu làm sao tham?”

    Chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai chỉ ở trong chỗ bốn mắt nhìn nhau đó, chớ tìm ở trong câu này câu nọ, chớ giành giựt, tranh cải ở trên cành hoa sen, hẳn không dính dáng!

    Về sau, Thiền sư Chân Nguyên, người trung hưng dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử cũng chính mình chứng nghiệm việc này. Sư đến tham vấn Thiền sư Minh Lương ở chùa Vĩnh Phúc núi Côn Cương và hỏi:

    - “Bao năm dồn chứa ngọc trong đảy, hôm nay tận mặt thấy thế nào”, là sao?

    Thiền sư Minh Lương đưa mắt nhìn thẳng vào Sư, Sư nhìn lại liền cảm ngộ, sụp xuống lạy. Chính vì cảm sâu ý này nên về sau Sư soạn quyển “Trần Triều Thiền Tông Chỉ Nam Truyền Tâm Quốc Ngữ Hành” nói gọn là “Thiền Tông Bản Hạnh”, Sư đã nhắc đi nhắc lại ý này đến bảy lần:

    Đoạn 1:

    Tứ mục tương cố nhãn đồng

    Thầy tớ trao lòng, đăng chúc giao huy.

    Nghĩa là: Bốn mắt nhìn nhau đồng trong con mắt ấy. Thầy trao lòng, ấn tâm cho trò ngay trong ấy, đèn đuốc xen nhau rọi sáng trong ấy, khỏi tìm đâu khác.

    Đoạn 2:

    Tam thế chư Phật Tổ Sư,

    Tứ mục tương cố thị cừ thiền cơ.

    Nghĩa là: chư Phật, chư Tổ trong ba đời vốn hiển bày cơ thiền sâu xa ngay trong chỗ “bốn mắt nhìn nhau ấy”…

    Tiếp trong bài Ngộ Đạo Nhân Duyên của Sư có đoạn:

    Nhất điểm tâm đăng Phật nhãn sinh,

    Tương truyền tứ mục cố phân minh.

    Liên phương tục diệm quang vô tận,

    Phổ phó thiền lâm thọ hữu tình.

    Nghĩa:

    Một ngọn đèn tâm mắt Phật sinh,

    Truyền nhau “bốn mắt ngó” rành rành.

    Tiếp thơm nối lửa sáng sáng mãi,

    Trao khắp thiền lâm phó hữu tình.

    Mắt Phật sinh ngay trong ngọn đèn tâm chớ không đâu khác. Đời đời truyền nhau không dứt, chính từ trong chỗ bốn mắt nhìn nhau đó! Nhà Thiền thầm trao, mật phó cho người là trao phó ngay trong ấy thôi.

    Như vậy, “bốn mắt nhìn nhau” có gì đặc biệt trong ấy mà nói đó là thiền cơ, là mật truyền? Trong đây, nếu nói rõ hơn là: “Mắt mắt nhìn nhau, tâm tâm trực tiếp với nhau không qua trung gian cái gì,” yếu chỉ “tâm ấn tâm” quá rõ ràng còn nghi ngờ gì?

    Kìa, Thiền sư nhìn thẳng vào mắt mình, mắt mình đối diện thẳng với Thiền sư, cái gì thầm cảm trong cái nhìn ấy? Chỗ này ngôn ngữ làm sao nói đến? Trong đó vừa khởi niệm là rơi bên ngoài xa tít rồi! Thiền sư truyền tâm là đó!

    * Sùng Tín đưa đèn thổi tắt:

    Một đêm Tuyên Giám đứng hầu Thiền sư Sùng Tín. Sùng Tín bảo:

    - Đêm khuya sao chẳng xuống đi?

    Sư kính chào đi ra, rồi trở vào thưa:

    - Bên ngoài tối đen.

    Sùng Tín thắp đèn cầy đưa cho Sư. Sư vừa định giơ tay tiếp lấy, Sùng Tín liền thổi tắt. Ngay đó, Sư đại ngộ, liền lễ bái.

    Đây là một đoạn nhân duyên truyền tâm tuyệt diệu, nhưng người học thiền thường được nghe nhắc tới nhiều lần khiến thành cái khuôn khái niệm hiểu biết trong đầu nên thấy là thường,là cũ. Chính Sùng Tín đưa đèn là ngầm kêu gọi sức sống hiện tiền nơi Tuyên Giám, nên Tuyên Giám liền đưa tay ra tiếp lấy. Vừa giơ tay ra tiếp, sức sống ấy đã lộ bày, đâu cần phải bám vào cây đèn bên ngoài kia làm gì, nên Sùng Tín liền thổi tắt, để cho đèn Tuyên Giám tự cháy. Tức ngay đó Sùng Tín đã truyền thẳng vào tâm Tuyên Giám rồi. Và Tuyên Giám quả nhiên đã chín muồi, liền tiếp ngay không qua cây đèn. Nói đúng hơn, tâm Tuyên Giám đã in thẳng tâm Sùng Tín, mất dấu cả hai tâm, do đó Tuyên Giám bừng sống dậy, vượt qua ông thầy. Nếu ngay lúc đó, tâm Sư còn chứa chút niệm đây là thầy, đây là mình, ắt đã lầm qua mất rồi! Quả thật đèn Sùng Tín đã được thổi tắt đúng lúc và đèn Tuyên Giám cũng cháy đúng lúc. Ai thấy đèn Tuyên Giám cháy thế nào?

    Vừa nghĩ ngợi, đã bị Sùng Tín lấy mất đi rồi.

    * Vân Môn gọi Thị giả Viễn:

    Thiền sư Trừng Viễn ở Hương Lâm, lúc còn ở trong hội Vân Môn, Sư làm thị giả mười tám năm, Vân Môn khi tiếp Sư đều gọi:

    - Thị giả Viễn!

    Sư đáp:

    - Dạ!

    Vân Môn bảo:

    - Ấy là gì?

    Như thế đến mười tám năm Sư mới ngộ, Vân Môn bảo:

    - Nay ta mới thôi gọi ngươi nữa.

    Ai thấy gì chăng? Mười tám năm mỗi lần Vân Môn gọi là mỗi lần đã mật truyền cho thị giả Viễn, nhưng tiếc thay thị giả Viễn còn “theo tiếng gọi quên mình” đành để lầm qua. Cuối cùng, một “tiếng gọi” đúng ngay “kẻ dạ”, tâm truyền tâm, thầy trò thầm cảm thông nhau, người ngoài không thể thấy được. Chính đấy trước kia Tổ Ca Diếp gọi A Nan, mạch sống thiền tông một đường thông suốt. Đây gọi là việc trong nhà cha con dặn dò nhau, không phải chỗ cho kẻ bàng quan dòm lén, huống nữa sanh tâm bàn tán lăng xăng càng không dính dáng.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • II. VƯỢT QUA NHỮNG PHƯƠNG TIỆN, HÝ LUẬN




    Đã là “đem tâm ấn tâm”, hẳn người học phải dọn tâm sẵn sàng, tháo gỡ mọi chỗ dính mắc, không dừng trên bất cứ phương tiện nào, dù lời nói cao siêu, thủ thuật đặc biệt. Cần rõ, hễ có lập bày ra đều chưa phải thật, chớ lầm!

    Hoài Hải đứng hầu Mã Tổ, Sư thấy cây phất tử dựng ở góc giường bèn hỏi:

    - Tức đây dùng hay lìa đây dùng?

    Mã Tổ bảo:

    - Về sau ngươi mở miệng sẽ lấy cái gì vì người?

    Sư cầm cây phất tử dựng đứng. Mã Tổ bảo:

    - Tức đây dùng hay lìa đây dùng?

    Sư để cây phất tử trở lại chỗ cũ, Mã Tổ nghiêm chỉnh nạt một tiếng, đến ba ngày Sư còn điếc tai.

    Dựng phất tử lên, đó cũng là phương tiện chưa phải lý thật. Nhằm trên đó mà nói “tức” nói “lìa” cũng là hý luận. Dù người hiểu được mà chưa quên chỗ hiểu vẫn kẹt trên cây phất tử. Một tiếng nạt, ba ngày điếc tai, hết còn chỗ để nhớ để hiểu! Thiền sống là chỗ đó! Chính vì vậy, sau này Sư truyền cho Hoàng Bá, rồi Hoàng Bá tiếp Lâm Tế một mạch sống thiền không thể nghĩ bàn ấy. Lâm Tế đến hỏi, Hoàng Bá chỉ đánh và đánh tới, đánh cho hết chỗ bám, hết chỗ đại ý Phật pháp, hết chỗ lỗi phải, cuối cùng chuyển cán gậy vào tay chính mình. Nếu còn ở trên cây gậy sanh hiểu, còn ở trên câu Phật pháp sanh hiểu là còn bị đánh! Hay thay! Hay thay! Lâm Tế sẵn sàng vượt lên, nên Đại Ngu khơi nhẹ liền nhảy qua, “Phật pháp của Hoàng Bá rất ít”, không có gì nhiều để hiểu!

    Thiền sư Tỉnh Niệm ở Thủ Sơn, một hôm giơ cây trúc bề lên bảo:

    - Gọi là trúc bề thì chạm, chẳng gọi trúc bề thì trái, gọi là gì?

    Qui Tỉnh chụp cây trúc bề ném xuống đất, nói:

    - Là cái gì?

    Sư bảo:

    - Mù!

    Qui Tỉnh hoát nhiên đốn ngộ.

    Trong đây, Thiền sư giơ trúc bề lên, là phương tiện khai thị, nhưng không cho người bám trên đó mà hý luận, mà sanh hiểu, đây là thủ thuật truyền tâm của Thiền sư. Người mê cứ bám trên cảnh của các ngài đưa ra đó mà tạo kế sống, sanh kiến giải thiền đạo, quả là không dính dáng. Người sáng mắt, cốt phải thấu qua trước khi giơ trúc bề lên kìa! Nó vẫn sẵn đây rồi, còn nói gì là trái chạm?

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • III. LẠNH NÓNG TỰ BIẾT




    Đã nói tâm ấn tâm, tức tâm tâm in nhau thì trong đó chỉ tâm tâm tự thầm biết, người ngoài không thể dòm lén.

    Có vị tăng hỏi Thiền sư Quảng Trừng:

    - Thế nào là người xưa nay?

    Sư đáp:

    - Ngồi chung mà chẳng biết nhau.

    Tăng thưa:

    - Thế ấy thì học nhân lễ tạ vậy.

    Sư bảo

    - Thầm viết lòng buồn biết gởi cho ai?

    Muốn biết người xưa nay, thì đấy “Ngồi chung mà chẳng biết nhau”. Người ngoài làm sao hiểu nổi? Trong ấy ông muốn lễ tạ nhưng cũng không có chỗ cho ông lễ. “Thầm viết lòng buồn biết gởi cho ai?” Đó là chỗ tự chứng tự biết thôi, không thể trông cậy vào bên ngoài.

    Ngưỡng Sơn hỏi Thiền sư Hồng Ân ở Trung Ấp:

    - Làm sao thấy được nghĩa Phật tánh?

    Sư đáp:

    - Ta vì ông nói một thí dụ: “như một nhà có sáu cửa, trong có một con khỉ, ngoài có một con khỉ đến bên Đông kêu: Chóe! Chóe! Bên trong liền: Chóe! Chóe! đáp lại, sáu cửa đều kêu thì đều đáp như thế.”

    Ngưỡng Sơn lễ tạ thưa:

    - Vừa rồi nhờ Hòa thượng thí dụ, con đều biết rõ, nhưng có một việc: Ví như con khỉ ở trong ngủ, con khỉ ở ngoài muốn gặp phải làm sao?

    Trung Ấp liền bước xuống giường thiền nắm tay Ngưỡng Sơn bảo:

    - Chóe! Chóe! Cùng ông thấy nhau rồi! Ví như con trùng tiêu minh làm tổ trên mí mắt con muỗi, nhằm giữa ngã tư đường kêu to: “Đất rộng người thưa, tri âm rất ít”

    Chỗ “chóe chóe” ta cùng ông thấy nhau rồi, mấy ai biết được? Ai là tri âm để nhìn thấu trong đó mà cùng gặp Trung Ấp và Ngưỡng Sơn? Quả là “thầm viết lòng buồn biết gởi cho ai?” Chữ “Ai” này sao mà nghe nó thiết tha, nó thấu xương tủy thế kia!

    Tuy vậy, nói lạnh nóng tự biết cũng chưa phải là chỗ tột. Thiền sư Pháp Diễn lúc đầu học luận Duy thức, nhân Sư nghe Bồ tát khi vào kiến đạo thì trí cùng lý hợp, cảnh cùng thần hội, chẳng phân năng chứng sở chứng. Ngoại đạo ở Ấn Độ thường nạn vấn các Tỳ kheo rằng: - Đã chẳng phân năng chứng sở chứng, lại lấy cái gì làm chứng? Tỳ kheo không đáp được. Ngoại đạo chê bai không đánh chuông trống, chúng lại mặc ca sa. Khi Pháp sư Huyền Trang sang Ấn Độ đã cứu được nghĩa này rằng: - “Như người uống nước, lạnh nóng tự biết.” Từ đây giải được nạn này. Pháp Diễn nghe thế tự hỏi: - “Lạnh nóng ắt là biết vậy, nhưng thế nào là việc tự biết?” Sư liền đem thưa hỏi với thầy dạy: “ - Chẳng biết lý tự biết như thế nào?” Vị thầy không giải được, chỉ khuyên rằng:

    - Ngươi muốn rõ lẽ này nên đến phương Nam thưa hỏi những vị truyền Phật tâm tông.

    Sư bèn mang hành lý sang phương Nam.

    Đây là điểm đặc biệt của Thiền sư Pháp Diễn. Nói lạnh nóng tự biết, nhưng thế nào là chỗ tự biết? Mỗi người phải có chỗ tự sống dậy, không thể chết trên ngôn từ của người xưa. Nghe qua tưởng hiểu nhưng thật chưa phải tự hiểu. Nghe nói “lạnh nóng tự biết” rồi bị người gạn hỏi không thể trả lời được, cũng bắt chước bảo “lạnh nóng tự biết” để cho qua, đây là giống thì giống mà phải thì chẳng phải. Cần thực sự chính mình khám phá ra chỗ “tự biết” đó, bằng chính ánh sáng trí tuệ của mình mới không hổ thẹn. Phật pháp sống mãi trên thế gian này là gốc từ đây. Thiền, không thể xuyên tạc được cũng gốc từ đây. Ngôn ngữ không bao giờ với tới!

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • IV. XÁC ĐỊNH CON ĐƯỜNG GIÁO NGOẠI BIỆT TRUYỀN, BẤT LẬP VĂN TỰ




    Với yếu chỉ “tâm ấn tâm”, thiền xác định con đường mình đi là trực tiếp đi thẳng vào tâm người, vượt qua giáo nghĩa, văn tự đã lập bày. Tâm thầy thẳng vào tâm trò như bốn mắt nhìn nhau, mắt đối mắt không nói nên lời. Đến đây là bặt dấu vết của tâm, không chỗ để nghĩ. Nhưng chính chỗ không thể nghĩ, đấy là chỗ ẤN TÂM.

    Và đây, Đại Đô An đến gặp Thiền sư Kiệt Phong Anh, Anh liền hỏi:

    - Giảng chủ thường ưa giảng kinh gì nhất?

    An đáp:

    - Kinh Kim Cương và đã từng tỉnh ngộ qua câu “không từ đâu đến cũng chẳng đi về đâu”

    Anh bảo:

    - Nếu không đến không đi, sao ông đến đây được?

    An đáp:

    - Thì chính là người không đến đi đó thôi.

    Anh bảo:

    - Ngay đây người đó ở đâu?

    An trả lời bằng một tiếng hét!

    Anh bảo:

    - Thôi hãy gác qua chuyện hét và thoi, khi bốn đại rã rời sẽ đi về chỗ nào để an thân lập mạng?

    An đáp:

    - Khắp cõi đất này, cái ấy không phải chính ta ư?

    Anh bảo:

    - Bỗng gặp thời kiếp hỏa, lửa bừng cháy, đốt tiêu cả Đại thiên thế giới, lúc đó ông ở đâu?

    An đáp:

    - Không biết.

    Anh bảo:

    - Lục Tổ vì cái “không biết” đó mà đi bửa củi, nấu cơm; Bồ Đề Đạt Ma vì cái “không biết” đó mà ngồi quay mặt vào vách chín năm, còn ông nói “không biết”, vậy ông thấy cái gì?

    An đáp:

    - Tôi chỉ nói: “Không biết”

    Anh bảo:

    - Gã mù! Mời ngồi uống trà đi!

    Thiền sư Anh muốn gạn “người không đến đi” nơi Đại Đô An, nhưng cuối cùng cũng không gạn ra chỗ nơi. Đại Đô An có chỗ thấy, vượt qua mọi ngôn ngữ sai biệt, không để lộ dấu vết cho tâm khác xen vào. Tuy nhiên, một cái “không biết” của Sư rất dễ lầm người. Kẻ bắt chước, khi bị gạn hỏi, trả lời không được, cũng đáp “không biết” thì sao? Thật, giả làm sao phân biệt? Do đó Thiền sư Anh gạn cho tới cùng xem cái “không biết” của Sư từ đâu phát ra. Rõ ràng Sư tự có chỗ sống, không lệ thuộc bên ngoài, nên trả lời xác quyết vững vàng: “chỉ nói không biết”, khỏi thêm gì nữa! Người chưa đến được trong ấy hẳn không thể hiểu nổi. Tuy nhiên, với Thiền sư Anh thì tự thấy thầm hợp với chính mình, bèn ấn chứng khéo. Bảo: Gã mù! Nhưng lại: mời uống trà! Trong ấy hai người tự cảm thông nhau, mặc cho kẻ bàng quan đứng bên ngoài khởi thắc mắc. TÂM ẤN TÂM là đấy!

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • TỔ ẤN






    Ô kìa!

    Trên hội Linh Sơn một cành hoa,

    Tổ Tổ nói hoài vẫn chẳng hết.

    Yếu chỉ trong đây vẫn còn nguyên,

    Người người cứ đuổi theo câu chết.

    Trên lịch sử cãi nhau inh ỏi,

    Moi móc tìm thật giả, có không.

    Thành một trường tranh đua chữ nghĩa,

    Đâu biết rằng còn cách môi răng.

    Này bạn nhé!

    Tổ Ấn đâu nằm ở cành hoa?

    Ca Diếp mỉm cười vẫn chuyện xưa.

    Nếu theo trong đó suy tìm thật,

    E đã bị người dẫn đi xa.

    Ôi đáng tiếc!

    Chính mình còn chưa thấu,

    Lại bị chữ nghĩa chôn.

    Nhốt mình trong khái niệm,

    Đầu óc đóng thành khuôn.

    Phải vươn lên

    Buông lại đằng sau bao khái niệm,

    Phá tan lồng bẫy văn từ chết.

    Vượt hẳn chuyện xưa sách vở ghi,

    Xem lại mặt mình đâu diệu quyết?

    Ồ!

    Một mạch từ xưa Phật Tổ truyền,

    Ca Diếp mỉm cười lộ ý thiêng.

    Chín năm ngồi lặng chờ ai đó?

    Một phát Thần Quang nhổ gốc huyền.

    Từ đấy,

    Các duyên đà dứt sạch,

    Còn đâu nữa bạn bè?

    Rõ ràng thường có mặt,

    Ngôn ngữ hết đường nghe.

    Cứ thế,

    Sức sống mãi chảy tuôn,

    Tào Khê tiếp một nguồn.

    Và tràn ra khắp chốn,

    “Đâu ngờ” rực sáng luôn.

    Giang Tây tâm hiện khắp,

    Thạch Đầu thẳng sạch trơn.

    Năm tông và bảy phái,

    Một ấn tại tâm đồng.

    Quả thật!

    Ý Tổ ai biết được?

    Nghĩ suy cách đất trời.

    Đáp anh còn xa tít,

    Huống chi chuyện cũ rồi!

    Tuy vậy,

    Nếu hay tâm mới mẻ,

    Buông sạch khuôn trong đầu.

    Thấy nghe hằng như thật,

    Chỗ nào chẳng Tổ sư?

    Bởi thế,

    Trúc Lâm trên đất Việt,

    Núi thiêng Yên Tử này.

    Soi lại chính mình đấy!

    Dòng thiền tiếp chảy ngay.

    Ai bảo,

    Việt Nam không có Tổ?

    Tổ ở nơi xứ nào?

    Chỉ tâm ta tỏ ngộ,

    Ấn Tổ tức in nhau.

    Nếu còn chia Nam Bắc,

    Phân Đông độ, Tây thiên.

    Ta có, người không có,

    Biết ngay chưa sống thiền.

    Thế mới biết!

    Dù nay đời xa cách,

    Phật Tổ đã từ lâu.

    Tâm thiền vẫn không cách,

    Tổ Ấn vẫn làu làu.

    Yên Tử nay còn đó!

    Trúc Lâm vẫn tiếp nhau.

    Dòng thiền trôi suốt mãi,

    Ánh sáng Tổ tuôn trào!

    Hãy tin chắc!

    Từ đây tột về sau,

    Dù thế gian biến đổi.

    Kiếp hỏa có cháy tiêu,

    Tâm thiền hằng bất hoại!

    Vui thay Tổ ấn này!

    Bao đời mới được gặp.

    Nguyện sống vững không lay,

    Truyền luôn không cùng, khắp …!

    Trúc Lâm 2002

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 1 10 năm trước
  • LỜI BẠT




    Đây rồi! Từ lâu ta đã tìm nó, tìm khắp trong kinh điển, trong lời Phật, lời Tổ, trong điện Phật, trong Thiền đường, trong những cơn Thiền định nhưng đều không thấy nó đâu cả. Sao lạ vậy? Có lẽ nào Phật Tổ dối lừa ta?

    Lục Tổ từng bảo Nam Nhạc – Hoài Nhượng: “Chính cái chẳng nhiễm ô này là chỗ chư Phật thường hộ niệm, ông đã như thế, ta cũng như thế.”

    Như thế là sao? Quả là một bức tường sắt không thể nào thấu qua, vào được. Song vẫn có cái gì đó ở đàng sau thu hút không thể bỏ qua.

    Thiền sư Quảng Trí có câu:

    Nam nhi tự hữu xung thiên chí

    Hưu hướng Như Lai hành xứ hành

    Tạm dịch:

    Làm trai có chí xông trời thẳm

    Thôi giẫm Như Lai dấu đã đi.

    Nghĩa là, mình phải có chí quyết mạnh mẽ, vượt lên tất cả mọi chướng ngại, tự mở một lối đi sáng sủa, không đạp theo dấu vết xưa cũ đã chết. Phải có một sức sống vươn lên, lẽ nào chịu đóng khung trong cái khuôn cũ mòn? Người xưa cũng là người mà đã làm được, nay ta cũng là người hẳn cũng phải làm được, đâu thiếu thốn gì?

    Kìa, Thế Tôn từng bảo: “Ta học đạo không thầy,” vậy nó ở đâu? Đây là một điểm ý vị không thể thông qua trên văn từ chữ nghĩa. Ngài học đạo không thầy mà tự giác ngộ, thì quả là không thể tìm đâu khác từ bên ngoài. Bao năm tìm kiếm, khổ hạnh nhọc thân, cuối cùng đành buông hết, ngồi thiền lặng lẽ dưới cội tất - bát - la. Lúc này đâu còn ỷ lại, trông vào cái gì khác nữa? Sao mai mọc, liền thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vậy trước đó nó ở đâu? Bốn mươi chín ngày ngồi im lìm đó, tại sao không thấy? Thấy rồi lại do dự không muốn nói cho người, ý gì vậy?

    Rồi đưa cành hoa lên, nhìn gặp Ca Diếp mỉm cười, là cười cái gì?

    Chúng hội đều im lặng hết, là có hay không?

    Ồ, việc này không ở cành hoa, không ở con mắt, không ở cái miệng, chính ngay khi bốn mắt nhìn nhau đó, tâm tâm in rõ, thầm cảm không thể nghĩ bàn. Mắt mắt bắt gặp nhau không qua trung gian bất cứ cái gì! Truyền riêng là truyền chỗ đó! Đâu đợi phải có cho và nhận! Chính thế mà truyền mãi truyền mãi, ngàn muôn ức người, kiếp này qua kiếp nọ vẫn không hết! Chẳng sợ thiếu!

    Thiền sư Hành Tư bảo Hy Thiên đem thơ sang Thiền sư Hoài Nhượng và dặn rằng:

    - Ngươi đem thơ xong về nhanh, ta có chiếc búa nhỏ sẽ cho ngươi ở núi.

    Hy Thiên đem thơ xong trở về thưa:

    - Khi đi nhờ ơn Hòa thượng hứa cho chiếc búa, tiện đây xin nhận lấy.

    Thiền sư Hành Tư duỗi một chân.

    Hy Thiên lễ bái.

    Vậy là đã cho cái gì? Và lễ là lễ cái gì? Lễ cái chân duỗi chăng? Cái chân có gì quý mà lễ? Ít lâu nó cũng thúi sình thôi! Trước khi duỗi chân nó có hay không? Cần rõ chỗ này!

    Có vị tăng đến tham vấn Thiền sư Đạo Nhãn. Sư hỏi:

    - Ông tên gì?

    Tăng đáp:

    - Minh Giáo.

    Sư bảo:

    - Lãnh hội giáo hay chưa?

    Tăng thưa:

    - Tùy phần.

    Sư dựng nắm tay lên bảo:

    - Trên hội Linh Sơn gọi cái này là gì?

    Tăng đáp:

    - Là Giáo nắm tay.

    Sư cười bảo:

    - Nếu thế ấy gọi là Giáo nắm tay – Sư liền duỗi hai chân ra bảo: - Cái này là giáo gì?

    Tăng không đáp được. Sư bảo:

    - Phải chăng là Giáo bàn chân?

    Giơ nắm tay gọi là giáo nắm tay, duỗi chân gọi là giáo bàn chân sao? Đâu biết, ngay khi giơ nắm tay đó, phải thấy thấu qua trước khi giơ kìa!

    Có thể nói, người người vẫn hằng sống trong đó mỗi ngày, tới lui qua lại, ăn uống ngủ nghỉ trong đó, mà khi hỏi đến liền mê! Đáng thương chưa?

    Kìa Nghĩa Huyền mới đó còn mê, thắc mắc lỗi phải, qua một câu nói của Đại Ngu liền đại ngộ, có gì xa cách? Xa cách là bởi lỗi phải đó thôi!

    Mới hay, người người vốn đủ, kẻ kẻ sẵn thành, chỉ cần thấy nghe tất cả mà quên duyên không chỗ bám, thì nó vẫn nguyên vẹn là nó, còn ai lừa dối được?

    Qui Tỉnh bảo vị tăng: - Có nghe giọt mưa trước thềm chăng? Tăng liền tỉnh ngộ, làm bài kệ:

    Giọt mưa trước thềm

    Rành rẽ rõ ràng

    Đập nát càn khôn

    Liền đó tâm dứt.

    Giọt mưa rơi trước thềm, nghe từng giọt từng giọt không sót, có vắng mặt bao giờ? Mỗi giọt mỗi giọt mưa cũng sáng ngời, không chút tối tăm, mờ mịt. Liền đó hư không bặt dấu, không một chỗ để tâm đi đến. Tức chỉ một niệm hiện tiền sáng ngời đây thôi.

    Ai bảo rằng mình đã mất? Mất sao vẫn còn thấy nghe như ai? Sao quá tự khi mình như thế?

    Thôi đi! Xuân về hoa vẫn nở rộ trước mắt ai kìa! Nắng lên, cây lá vẫn rung rung kêu gọi người về đó! Hãy mở mắt ra xem, có thiếu gì?

    Kìa, bà lão mất trâu đến Đại Đồng xem bói. Đại Đồng gọi to: - Bà lão! Bà đáp: - Dạ! Sư cười bảo: - Đây rồi! Trâu có mất đi đâu! Chẳng những không mất mà còn ngoan quá ngoan vô cùng. Vậy hỏi người đã tìm gặp hay chưa? Nếu chưa thì hãy cúi xuống gót chân nhìn xem, cái gì chạm đất?

    - Nó đây rồi! Vỗ tay cười to ha hả, hết bao thuở lang thang. Xin gởi lại cho người, MỘT LẼ THẬT SÁNG NGỜI MUÔN THUỞ!

    Búng tay vỡ nát ba ngàn cõi,

    Chớp mắt mười phương thế giới không


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group