Ngầm định Lịch sử VN từ thời tối cổ đến thế kỷ 10 sau CN !

  • tranthienthanh

    February 28th 2011, 11:48 am
  • I. Đại Cương Về Người Việt

    Ạ. Nhân chủng

    Người Việt có màu da ngà và đa số có máu loại O và RH+ (rê giút dương) (80%); có nhiều huyết sắc E nên cơ thể có sức chịu đựng bền bỉ và thích ứng dễ dàng với các loại thời khí cùng các thực phẩm khác biệt.

    Râu và tóc đen, tiết diện tròn nên có dáng thẳng. Về già, râu tóc đổi thành mầu bạc (trắng).

    Mắt có dáng ngang, hơi chéo lên ở phía dưới mi mắt dưới. Độ chéo ở đuôi mắt đối với đường ngang từ đầu mắt trung bình từ 3 độ tới 5 đô.. Con ngươi thường có mầu đen hoặc nâu sậm. Mi mắt dưới có bầu dài theo mắt (gọi là ngoạ tầm) (chi tiết này là một trong các đặc điểm nhân chủng của người Việt). Mí mắt trên có hai mí. Độ dầy căn bản của mắt bằng độ phẳng hợp bởi xương mi và xương gò má.

    Khuôn mặt có cằm trung bình, xương hàm không tọ Đa số người Việt có sống mũi hơi trũng (gẫy) ở khoảng ngang hai mắt. Hệ thống xương đầu có chỉ số 80 (đầu tròn).

    Các trẻ em mới sinh có bớt mầu chàm ở lưng, từ khoảng ngang thắt lưng tới vùng cuối xương sống (chi tiết này cũng là một trong các đặc điểm nhân chủng của người Việt).

    Người Việt có môi thuộc loại có nét (vành môi rõ rệt) và độ dầy trung bình, môi dưới thường nhỉnh hơn môi trên. Độ dầy trung bình bằng 1/4 bề ngang (chiều rộng của miệng ngậm).

    Răng to và dài vừa phảị Bề mặt bộ răng thường xếp không phẳng. Từ đầu thế ký? 20 trở về trước hầu hết dân Việt nhuộm răng đen.

    Người Việt có dáng điệu bình thản và tinh nhanh. Khổ người trung bình, bề cao của nam giới khoảng 1 thước 65 và nữ giới khoảng 1 thước 58. Bề cao thay đổi tuỳ điều kýện sinh hoạt và ẩm thực.

    B. Y phục, di chuyển và thực phẩm

    Y phục của người Việt thay đổi theo thời gian, hoàn cảnh sinh hoạt và địa lý.

    Từ đầu thế ký? 20 trở về trước, thường ngày đa số dân chúng mặc quần, áo ngắn, gọn gàng, mầu xẫm gần với mầu đất, mầu vỏ cây hoặc lá. Đội đầu gồm có khăn và nón. Trong các lễ nghi, y phục thường dài, rô.ng.

    Di chuyển trên bộ thường đi chân, cưỡi ngựa hoặc dùng xe kéo bằng trâu, bò hay ngựạ Cũng có khi dùng cáng, kýệu do người khiêng.

    Trên nước di chuyển bằng thuyền. Có nhiều loại thuyền, thường thường làm bằng tre và gỗ. Loại thuyền gỗ bọc đồng dùng cho quân độị Kiểu thuyền tuỳ thuộc vào nhu cầu và diện tích của vùng nước (sông hay biển). Y phục và phương tiện di chuyển thay đổi nhiều từ khi Việt nam tiếp xúc với các quốc gia ký~ nghệ Âu Mỹ, nhưng vì dân chúng Việt nam sống trong hoàn cảnh kỹ thuật chậm tiến và nghèo khó nên các loại phương tiện hiện đại không được đầy đủ. Thực phẩm chính của người Việt là lúa gạọ Trong bữa ăn hàng ngày, cơm là thức ăn chính rồi kế tiếp là nước mắm, rau, cá, thịt ...

    C. Trí Tuệ

    Người Việt có đời sống tâm linh cao. Quý trọng đạo đức hơn vật chất. Biết quân bình tình và lý. Thông minh, trí nhớ bền; có khả năng thích ứng với mọi hoàn cảnh. Người Việt nói cùng một thứ ngôn ngữ tiếng Việt nhưng thay đổi đôi chút tuỳ theo không gian (địa phương) và thời gian.

    II. Địa lý và quốc hiệu

    Diện tích lãnh thổ và quốc hiệu thay đổi nhiều lần trong lịch sử dân Việt.

    Địa bàn sinh hoạt căn bản là vùng châu thổ Bắc Việt, định giới bởi Bắc Sơn và Hoà Bình.

    Vào niên đại vua Kinh Dương, năm 2879 tr.D.L., với quốc hiệu Xích Quỷ, địa bàn quốc gia rộng lớn, phía bắc tới sông Dương tử (cả vùng hồ Động Đình), phía nam tới nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía đông là Đông Hải (một phần của Thái Bình Dương), phía tây là Ba Thục (Tứ Xuyên, thuộc nước Tàu ngày nay). Về sau do sự lấn áp võ dõng của du mục Hoa tộc, Việt tộc lui dần về địa bàn gốc. Đánh dấu bằng các niên đại vua Hùng với tên nước là Văn Lang. Năm chót của niên đại này là năm 257 tr.D.L. Rồi tên nước liên tiếp thay đổi và địa bàn quốc gia bành trướng về phía nam. Tên nước gọi là Việt Nam có từ năm 1802. Địa bàn quốc gia hiện tại, bắc giáp Trung Hoa, nam là mỏm Cà Mâu giáp biển đông, tây giáp Ai Lao và Cam Bốt, đông giáp biển đông.

    III. Đại cương về văn hóa Việt tộc

    Việt Nam là một nước văn hiến từ lâu. Văn hoá Việt đã đạt mức cao cả từ xa xưa nên đủ uy lực để bảo tồn được Việt tính và giữ vững sự trường tồn của dân tộc. Văn minh Việt là nền văn minh nhân tính, đó là đặc trưng của văn minh nông nghiệp. Lý chính của văn hoá Việt là tâm linh, là sự quân bình tình lý. Văn hoá Việt là nền văn hoá nhân chủ, đạt được ý thức hoà giữa người, trời và đất. Đạt được lý nhân hoà, thích ứng được siêu nhiên và cụ thể. Nhưng sau nhiều thăng trầm của lịch sử, lớp vỏ của nền văn hoá Việt đã bị sứt mẻ bởi các nền văn minh du mục phương bắc và văn minh phù động tây phương cố sức đập phá, tuy vậy sự phá phách này chỉ mới làm sứt mẻ được lớp vỏ mà thôi.


    Chương Hai

    I. Thời đại Thái cổ (trước Thế Kỉ 29 tr.D.L.)

    Từ thời rất xa xưa có những bộ lạc cư trú tại vùng bao quanh châu thổ sông Hồng. Lúc đó châu thổ còn là vịnh biển, mực nước cao hơn hiện nay 50 thước. Các bộ lạc tiền sử sống rải rác trên vùng cao (có mức thấp nhất là cao hơn mức nước biển hiện tại 50 thước), từ bắc Trường Sơn tới Hoàng Lyên Sơn và bao ra biển ở các rặng Bắc Sơn, Ngân Sơn và quanh các nơi có cuồng lưu nước ngọt. Khoảng thời gian đó cách nay chừng một triệu năm. Mãi về sau có hai trung tâm phát triển mạnh là Hoà Bình và Bắc Sơn. Thời gian ấy cách nay khoảng từ 60 ngàn năm tới 40 ngàn năm.

    Các người tiền sử sống bằng săn thú và hải sản. Phương tiện lúc đầu là tay chân, sau biết dùng xương thú vật làm tăng khả năng của tay để phát triển lượng số thực phẩm. Dần dần người tiền sử biết dùng lửa, nhờ đó đời sống quy củ hơn.

    Khi nước biển rút dần tới mức hiện tại khoảng chừng 40 ngàn năm trước các bộ lạc tiền sử bỏ dần vùng cao và tụ tập hợp sinh tại vùng châu thổ sông Hồng. Lúc đầu vùng châu thổ còn nhiều đầm lầy, rừng rậm và hầu hết mặt đất chưa ráo nước, người tiền sử vẫn phải sống bằng săn thú và hải sản.

    Khi đất đồng bằng đủ vững, các bộ lạc này sống bằng trồng tỉa, sau biết trồng lúa gạọ Đó là thời kỳ mở đầu cho nông nghiệp; văn minh nông nghiệp manh nha. Trong suốt thời gian hợp sinh tại châu thổ khoảng 40 ngàn năm trước các bộ lạc tiền sử tương giao trong khoảng thời gian chừng 30 ngàn năm rồi hình thành một chủng tộc là Việt tộc. Việt tộc đã tạo nên nền văn minh nông nghiệp đầu tiên trên thế giới khoảng 15 ngàn năm trước dương lịch (văn minh Hoà Bình: đồ đá khoảng 20 ngàn năm trước dương lịch nông nghiệp khoảng 15 ngàn năm tr.D.L. đồ gốm khoảng trước 10 ngàn năm tr.D.L.). Địa bàn căn bản là châu thổ sông Hồng. Văn hoá Việt đã được xây dựng dần dần để trở thành nền văn hoá tâm linh và dân Việt là một dân tộc văn hiến từ xa xưa.

    II. Thời đại Hồng Bàng (2879 tr.D.L. 257 tr.D.L.)

    A. Huyền sử

    Theo truyền thuyết thì vua Đế Minh là cháu ba đời vua Thần Nông, nhân đi xuống phương nam, tới núi Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam, ngày nay thuộc nước Tàu) thì gặp một nàng tiên, lấy nhau đẻ ra Đế Nghi và Lộc Tục. Về sau Đế Nghi được làm vua phương bắc và Lộc Tục làm vua phương nam. Lộc Tục lấy hiệu Kinh Dương và đặt tên nước là Xích Quỷ, vào khoảng 30 thế ký? trước dương li.ch. Địa bàn quốc gia lúc đó rất rộng lớn, gồm hồ Động Đình ở phía bắc và phía nam tới nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía tây tới Ba Thục, phía đông tới biển Đông.

    Vua Kinh Dương lấy Long Nữ, sinh ra Sùng Lãm. Khi Sùng Lãm lên ngôi, lấy hiệu Lạc Long Quân và kết hôn với Âu Cơ, rồi sinh một bọc trăm trứng. Ít lâu sau, Lạc Long Quân nói với Âu Cơ rằng:"Ta thuộc dòng dõi rồng, nàng thuộc dòng dõi tiên, ở mãi với nhau không được, vậy nàng mang 50 con lên núi, còn ta đem 50 con xuống biển nam". Tới Phong Châu, mẹ Âu Cơ phong cho con trưởng lên ngôi vua lấy hiệu vua Hùng và đặt tên đất là Văn Lang.

    B. Sử ký

    Vị vua đầu tiên của nước Văn Lang là vua Hùng, địa giới gồm Bắc Việt và các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh. Vua, quan theo lệ cha truyền con nốị Các vua lấy hiệu Hùng, đóng đô ở Phong Châu , nay thuộc Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên. Con trai vua gọi là quan lang, con gái vua gọi là mị nương. Họ Hùng truyền đời được 18 vị vuạ Quan văn gọi là Lạc hầu, quan võ gọi là Lạc tướng. Đời nay tại tỉnh Phú Thọ có đền thờ các vua Hùng. Ngày giỗ hàng năm là ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch, người Việt lấy ngày này là ngày giỗ tổ.

    IIỊ Thời Thục (257 tr.D.L. 207 tr.D.L.)

    Năm 257 tr.D.L. Thục Phán thắng vua Hùng thứ 18. Lên ngôi lấy hiệu An Dương, đặt tên nước là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê, nay thuộc Đông Anh, tỉnh Vĩnh Yên.

    Để phòng bị giặc phương bắc, vua An Dương cho xây thành Cổ Loa rất kýên cố. Thành có ba tầng vòng quanh xoáy vào trung tâm như trôn ốc nên cũng gọi là Loa Thành.

    Về sau, Triệu Đà là tướng của Tàu ở vùng Nam Hải (nay thuộc tỉnh Quảng Đông của Tàu) kéo quân sang Âu Lạc đánh phá nhiều lần nhưng đều thất bạị Thấy đánh mãi không được Triệu Đà bèn lập mưu cầu hoà, cho con là Trọng Thuỷ sang nước Việt xin cưới công chúa Mị Châu, rồi lập mưu đánh úp. Vua An Dương bị bại trận, chạy tới Mộ Dạ (Thanh Hoá) thì tự tử (207 tr.D.L.).

    IV. Thời Triệu (207 tr.D.L. - 111 tr.D.L.)

    Sau khi chiếm được Âu Lạc, Triệu Đà sát nhập Âu Lạc vào quận Nam Hải (nay thuộc Quảng Đông của Tàu) và quận Quế Lâm (nay thuộc Quảng Tây của Tàu) để lập thành nước Nam Việt. Nhờ học được văn hoá Việt tộc, Triệu Đà bỏ tính cương bạo du mục, nên tách ra khỏi thế lực nhà Tần của Tàu, rồi định lập kế đời đời với dân Việt, bèn lập nước riêng và lên làm vuạ Lấy hiệu là Triệu Vũ Vương, đóng đô ở Phiên Ngung (nay thuộc tỉnh Quảng Tây của Tàu). Triệu Đà chia nước Âu Lạc thành hai quận Giao Chỉ (Bắc Việt) và Giao Châu (Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh). Triệu Đà mất (137 tr.D.L.), nhà Triệu còn truyền thêm được bốn đời vuạ

    - Triệu Văn Vương (Hồ) 137 tr.D.L. - 125 tr.D.L.
    - Triệu Minh Vương (Anh Tề) 125 tr.D.L. - 113 tr.D.L.
    - Triệu Ai Vương (Hưng) 113 tr.D.L. - 112 tr.D.L.
    - Triệu Dương Vương (Kiến Đức)112tr.D.L. - 111 tr.D.L.

    Vào đời Ai Vương, thái hậu Cù Thị xúi vua dâng nước cho nhà Hán, tể tướng Lữ Gia bèn giết vua cùng thái hậu rồi lập người anh khác mẹ của Ai Vương là Kiến Đức (mẹ của Kiến Đức là người Việt) lên ngôi, gọi là Dương Vương, để cùng bầy kế chống nhà Hán, nhưng thế lực không đủ nên năm 111 trước dương lịch bị tướng Hán là Lộ Bác Đức đánh chiếm mất nước.

    V. Thời kỳ bị Tàu đô hộ (111 tr.D.L. - 39) (Lần thứ nhất)

    Nhà Tây Hán (của Tàu) chiếm được nước Nam Việt, đổi tên là Giao Chỉ Bộ và chia thành 9 quận, riêng địa phận Âu Lạc cũ gồm ba quận: Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Giao Chỉ Bộ đặt dưới quyền cai trị của một Thứ Sử, mỗi quận có một Thái Thú cai quản. Ỏ các địa phương, các Lạc Hầu, Lạc Tướng người Việt vẫn được giữ chức cũ nhưng hàng năm phải nộp thóc lúa và phẩm vật cho các quan Tàụ Các Thái Thú và Thứ Sử người Hán lúc đó hầu hết rất bạo tàn.

    VI. Thời Nữ vương họ Trưng (40-43)

    Vào thời Tô Định làm thái thú quận Giao Chỉ, một thủ lãnh người Việt tên là Thi Sách vì mưu việc đuổi Tàu mà bị giết.

    Vợ Thi Sách là Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị tiếp tục ý chí cách mạng, phất cờ khởi nghĩa đánh Tàu giành độc lập. Hai bà được dân chúng khắp nơi hưởng ứng, chiếm lại được 65 thành trì và đánh đuổi quân Tô Định về Tàụ Hai bà xưng vương năm 40, đóng đô ở Mê Lynh (nay thuộc tỉnh Phúc Yên). Nhà Hán phải sai một danh tướng tên là Mã Viện sang đánh. Hai bà yếu thế, thất trận, tự trầm ở sông Hát vào năm 43.

    Ngày nay ở làng Đồng Nhân, gần Hà Nội, có đền thờ hai bà. Ngày ký? niệm hai bà Trưng là ngày mồng 6 tháng hai âm lịch hàng năm.

    VII. Thời kỳ bị Tàu đô hộ (43-544) (Lần thứ hai)

    A. Việc đô hộ khắc nghiệt

    Từ khi Mã Viện chiếm được Giao Chỉ, chế độ đô hộ của Đông Hán lại càng khắc nghiệt hơn. Đổi Giao Chỉ thành Giao Châụ Các lạc hầu, lạc tướng đều bị mất hết quyền hành, Giao Châu bị chia thành nhiều huyện, do các huyện lệnh người Tàu cai tri..

    Đời sống dân chúng rất khốn cực vì bị bọn đô hộ hành hạ, bóc lột đến tận cùng.

    B. Bà Triệu khởi nghĩa (248)

    Năm 248, Bà Triệu khởi nghĩa ở quận Cửu Chân, đánh thắng quân Tàu nhiều trận, khiến chúng khiếp sợ, nên gọi là bà là Lệ Hải Bà Vương. Nhưng vì quân ít, thế cô, bà Triệu bị thất trận, chạy tới làng Bồ Điền (Thanh Hoá) thì tự tử. Ngày nay tại đó còn có đền thờ Bà Triệụ

    VIIỊ Thời Lý (544 - 602)

    - Lý Nam Đế 544 - 549
    - Triệu Việt Vương 549 - 571
    - Hậu Lý Nam Đế 571 - 602

    Năm 541 Lý Bôn khởi nghĩa đánh đuổi quân Tàu, chiếm được Long Biên, thứ sử Tiêu Tư phải chạy trốn về Tàu.

    Năm 544, Lý Bôn lên ngôi vua, lấy hiệu Lý Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân.

    Nhà Lương bên Tàu sai Trần Bá Tiên sang gây chiến, Lý Nam Đế phải lui về Khuất Lyêu (Hưng Hoá) và trao quyền cho Triệu Quang Phục. Thấy thế giặc mạnh, Triệu Quang Phục bèn lập căn cứ ở đầm Dạ Trạch (phủ Khoái Châu tỉnh Vĩnh Yên) và dùng lối đánh du kých khiến quân Tàu phải thất trận, rồi chiếm lại kýnh độ Lúc đó Lý Nam Đế bị bịnh mất, Triệu Quang Phục lên ngôi, xưng là Triệu Việt Vương, năm 549. Tới năm 571 Lý Phật Tử cướp ngôi của Triệu Việt Vương, rồi xưng là Hậu Lý Nam Đế.

    Năm 602, quân Tàu lại kéo sang đánh phá, Lý Phật Tử thế yếu phải hàng giặc.

    IX. Thời kỳ bị Tàu đô hộ (603-939) (Lần thứ ba)

    Thời kỳ này các quan lại Tàu rất khắc nghiệt. Năm 679, nhà Đường của Tàu thiết lập An Nam Đô Hộ Phủ ở Giao Châu, để gia tăng bóc lột hà hiếp dân chúng. Khắp nơi trong nước, dân chúng nổi lên chống bọn đô hô..

    Ạ Mai Hắc Đế khởi nghĩa ở Châu Hoan (Nghệ An) (722)

    Mai Thúc Loan khởi binh đánh Tàu, chiếm lại vùng châu Hoan (Nghệ An) năm 722, rồi xưng Hoàng Đế, người đời thường gọi ông là Mai Hắc Đế. Ông liên kết vây cánh với Lâm Ấp và Chân Lạp, nhưng việc chuẩn bị chưa xong thì ông bị bại trận, rồi mắc bệnh mà mất.

    B. Cuộc khởi nghĩa của Bố Cái Đại Vương (791)

    Năm 791 Phùng Hưng khởi nghĩa chiếm được phủ đô hộ rồi sửa sang việc cai trị, được mấy tháng thì mất. Dân chúng lập đền thờ tôn ông là Bố Cái Đại Vương.

    Con Phùng Hưng lên cầm quyền nhưng thế yếu phải ra hàng quân Tàu (lúc đó là nhà Đường của Trung Hoa).

    C. Họ Khúc dấy nghiệp (906 - 923)

    Vào cuối đời Đường, nước Tàu rất loạn lạc, thừa cơ ấy dân Việt khởi nghĩa khắp nơi, Tiết độ sứ thất bại phải chạy về Tàụ Năm 906 dân chúng tôn Khúc Thừa Dụ người Hồng Châu (Hải Dương) lên làm tiết độ sứ.Nhà Đưòng vì suy yếu phải thuận phong cho Khúc Thừa Du.. Cai trị được một năm thì ông mất, con là Khúc Hạo lên thaỵ Sửa sang lại việc cai trị như một nước tự chủ. Năm 917 Khúc Hạo mất, Khúc Thừa Mỹ lên nối nghiệp. Năm 923, quân Tàu Nam Hán sang đánh chiếm Giao Châu, rồi sai Lý Tiến làm thứ sử.

    X. Thời Ngô (939 - 965)

    - Tiền Ngô Vương 939 - 944
    - Dương Tam Kha 945 - 950
    - Hậu Ngô Vương 950 - 965
    - Loạn 12 Sứ Quân 945 - 967

    Năm 931, tướng cũ của họ Khúc là Dương Diên Nghệ nổi lên đánh đuổi quân Nam Hán, rồi tự xưng làm tiết độ sứ. Cai trị được 6 năm thì bị bộ tướng là Kiều Công Tiện ám sát để cướp quyền.

    Con rể của Dương Diên Nghệ là Ngô Quyền mang quân từ châu Ái (Thanh Hoá) ra báo thù. Kiều Công Tiện bị thua bèn cầu cứu Nam Hán. Ngô Quyền giết Tiện rồi tiến binh phá tan quân Nam Hán trong trận sông Bạch Đằng, chấm dứt thời kỳ bị Tàu đô hộ, lập lại nền độc lập cho nước Việt.

    Năm 939 Ngô Quyền lên làm vua, đóng đô ở Cổ Loa (Phúc Yên). Vua Ngô Quyền sửa sang việc cai trị, tổ chức chế độ quân chủ và thiết lập nền độc lập vững bền, nhưng mới trị vì được 5 năm thì mất. Con là Ngô Xương Ngập lên ngôi, nhưng lại bị cậu là Dương Tam Kha (em vợ của Ngô Quyền) cướp ngôi (945). Em Ngô Xương Ngập là Ngô Xương Văn diệt Dương Tam Kha (950) rồi hai anh em cùng làm vua, xưng là Hậu Ngô Vương. Đến năm 965, Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn bị chết trận tại Thái Bình. Thế lực vua Ngô càng ngày càng suy yếu, thổ hào các nơi nổi lên tranh cướp quyền hành, chia nước thành 12 vùng cai trị riêng biệt, thủ lãnh mỗi vùng xưng là sứ quân. Thời này của nước Việt gọi là "Loạn 12 Sứ Quân".

    Loạn bắt đầu năm 945, mãi tới năm 967, Đinh Bộ Lĩnh mớI chấm dứt được.

    XỊ Thời Đinh (968 - 980)

    - Đinh Tiên Hoàng 968 - 979
    - Đinh Tuệ 979 - 980

    Đinh Bộ Lĩnh là một vị tướng tài ba, dẹp tan loạn 12 Sứ Quân năm 968, lập nên triều đại nhà Đinh.

    Đinh Bộ Lĩnh người ở Hoa Lư (nay thuộc tỉnh Ninh Bình), con của Đinh Công Trứ làm thứ sử châu Hoan dưới thời nhà Ngộ Ngay khi còn bé đã tỏ ra có mưu trí hơn người, lớn lên theo giúp và làm con nuôi sứ quân Trần Lãm. Khi Trần Lãm mất, Đinh Bộ Lĩnh đem quân về Hoa Lư để rèn luyện. Khi cử binh đánh các sứ quân, trận nào cũng thắng nên được tôn là Vạn Thắng Vương. Chỉ trong vòng một năm, dẹp tan loạn 12 sứ quân.

    Năm 968 Vạn Thắng Vương lên ngôi, lấy hiệu là Đinh Tiên Hoàng, đổi tên nước là Đại Cồ Việt, lập đô ở Hoa Lự Đinh Tiên Hoàng sửa sang việc nước, thiết lập triều quy, tổ chức quân đội, đặt hình luật rất nghiêm khắc.

    Vì muốn yên mặt bắc, vả lại thế lực nhà Tống bên Tàu đang mạnh, Đinh Tiên Hoàng cho con sang triều cống nhà Tống để giữ tình hoà hảọ Năm 972 Tống vương phong Đinh Tiên Hoàng là Giao Chỉ quận vương.

    Đinh Tiên Hoàng làm vua được 12 năm thì bị tên cận vệ Đỗ Thích ám sát năm 979. Con nhỏ là Đinh Tuệ được lập làm vua, nhưng chỉ được một năm thì bị truất ngôi. (Sưu Tầm)

    ____________________


    scion parts car
    Locksmith


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group