Cao Bá Quát

  • tranthienthanh

    March 10th 2011, 9:23 am
  • Cao Bá Quát

    Bóng râm của căn nhà gỗ cũ kỹ vừa phủ kín mảnh sân nho nhỏ, ông đồ Cao nhổm dậy, ngồi trên chiếc sập chân quỳ đã long mộng. Khuôn mặt xương xương, trầm lặng và kín đáo của ông vẫn hướng vào quyển sách trên tay. Theo thói quen hằng ngày, ông gọi:

    - Bá Đạt! Bá Quát!

    - Dạ.

    Chỉ nghe tiếng thưa của Bá Đạt, ông buông sách, trừng mắt hỏi:

    - Thằng Bá Quát đâu?

    - Thưa cha, em Quát vừa đi chơi ạ.

    - Hừm!... Con đi tìm em về đây!

    Nhìn theo khi bóng con khuất theo giậu râm bụt, ông đồ Cao mới hạ tấm thân gầy gò mảnh khảnh xuống sập. Kê đồ trên chiếc gối đỏ đã xỉn màu, ông đặt sách ngang ngực, vắt tay lên trán. Ông nghĩ đến dòng dõi nhà họ Cao, đến hai đứa con sinh đôi mà ông đã đặt bao hy vọng vào chúng.

    Họ Cao với dòng dõi thi thư, nhưng đến cụ Đồ thì sau bao nhiêu năm đèn sách, rốt cuộc chỉ là một ông đồ kiết. Một căn nhà gỗ, cửa bức bàn ruỗng mọt, chiếc sân gạch vỡ nát, dăm sào ruộng vườn hương hỏa, cuộc sống của hai vợ chồng con cái, chỉ trông vào bàn tay tháo vát tần tảo của bà đồ. Tự an ủi, vui với cảnh nghèo, nhưng cái nghèo không làm cho ông đồ Cao vui được. Mấy giá sách quý cũng bán dần để mua gạo. Cuộc đời đèn sách của ông đã không thành đạt gì, hai đứa con trai sẽ làm đẹp mặt ông, thay ông làm rạng rỡ cho tổ tiên. Ngay từ khi đặt tên cho hai đứa là Bá Đạt và Bá Quát. Ông đã thầm mong cho sau này chúng trở thành những hiền sĩ có thể giúp đời cứu dân như các hiền sĩ thời Chu. Cũng may hai con đều thông minh, chăm chỉ. Nhưng xem ra mỗi đứa một tính nết. Bá Đạt ngoan ngoãn, khuôn phép, còn Bá Quát thì thông minh, sắc sảo hơn nhưng lại bướng bỉnh và phóng túng. Cứ rời ông ra là Bá Quát đã đi chơi. Chắc hẳn cậu đang đùa nghịch với lũ trẻ ngoài gốc gạo...

    Trong lúc đó Bá Quát đang chơi một mình ngoài sân đình. Chả là học xong bài, Bá Quát nhớ đến mẹ, cậu đi đón mẹ về chợ Đứng thơ thẩn ngoài đầu làng, chưa thấy bóng mẹ. Bá Quát sà vào sân đình. Hìn những câu đối treo trên cột, nét chữ đẹp như rồng bay phượng múa, Bá Quát say mê. Hàng ngày trong khi dạy học, cha vẫn thường nhắc hai anh em phải làm sao cho văn hay chữ tốt. Văn hay, thì phải học, còn chữ tốt cũng phải tập luyện chứ. Thế là ngoài lúc học bài, Bá Quát tập viết. Nền nhà, gốc sân, cánh cửa, đâu cũng là chỗ tập viết của Bá Quát. Giờ đây ở sân đình, sẵn gạch vụn, Bá Quát chọn mẫu gạch non viết, viết rồi lại xóa. Bá Quát say mê viết nét chữ thảo bay bướm, chữ triện vuông vắn đến nỗi quên cả đón mẹ. Mải mê tập viết, Bá Quát không biết mẹ đã về và đang đứng sau lưng mình. Khi nghe tiếng mẹ gọi, Bá Quát mới quẳng mẩu gạch, đứng dậy níu lấy tay mẹ:

    - Mẹ! Mẹ có mua giấy cho con không?

    Bà Đồ xoa đầu con, yên lặng. Bà chưa biết nói gì với con.

    Từ mấy hôm nay, Bá Quát vẫn đòi bà mua giấy. Mỗi khi có giấy, bà chia đều cho hai con, ấy thế mà bao giờ Bá Quát cũng hết trước. Bà Đồ không hiểu Bá Quát làm gì mà tốn giấy thế. Bây giờ thì bà hiểu rồi. Lòng bà se lại. Làm gì còn tiền để mua giấy cho con tập viết?

    - Đến mai mẹ mua cho con!

    - Mẹ cứ mai mãi! Thế nào mai mẹ cũng mua nhé? Bà yên lặng, gật đầu dắt tay con về nhà.

    Vừa thấy bóng Bá Quát, ông đồ Cao đã nhỏm dậy:

    - Bá Quát mày nghịch ngợm ở đâu mà thằng Bá Đạt tìm không thấy?

    Bá Quát buông tay mẹ, đứng trước mặt cha:

    - Thưa, con đi đón mẹ.

    - Thuộc bài chưa?

    - Con thuộc làu làu rồi ạ.

    - Được.

    Đặt quang gánh trên thềm, bà đồ Cao bước lên nhà học, đứng khép nép bên chồng:

    - Ông đồ ạ, rõ khổ. Ông vẫn mắng thằng Quát lấy giấy làm diều nên chóng hết. Tôi xem ra nó tập viết đấy. Nó tập viết la liệt ở sân đình kia kìa, nghe nói ông đồ Cao sực nhớ lại. Bá Quát, không những văn hay mà chữ cũng tốt hơn Bá Đạt nhiều, ông đưa mắt nhìn quanh nhà, chỗ nào cũng thấy nét chữ bằng than, bằng gạch của Bá Quát. Nhìn kỹ nét chữ của con ông vui hẳn lên. Ông gọi hai con lại. Bá Đạt, Bá Quát, khoanh tay đứng cạnh cha, khác hẳn mọi lúc, ông tỏ ra rất dịu hiền. Xoa đầu từng đứa, ông dặn dò:

    - Các con phải học tập, cố gắng rèn luyện cho văn hay chữ tốt. Nhà ta nghèo, thanh bạch, nhưng thấy các con chăm chỉ, thông minh, cha mừng cho dòng họ Cao lắm. Mai sau nhà nước mở khoa thi, các con chiếm bảng vàng, ra tay cứu dân giúp nước, làm đẹp mặt cho cha, cho làng nước.

    Nghe dặn dò, Bá Đạt cúi đầu yên lặng, còn Bá Quát lại nhìn thẳng vào mặt cha mà lớn tiếng:

    - Vâng ạ!

    Không biết hai con đã hiểu được nỗi lòng của mình chưa, nhưng ông đồ Cao vẫn thấy vui vui. Bá Đạt và Bá Quát, nhất là Bá Quát, trong trí óc non nớt, thông minh sớm phát triển của cậu, đã khắc sâu lời dặn dò của cha từ hôm ấy.

    Hết Gia Long đến Minh Mạng lên làm vua, ấy thế mà cũng như khắp nơi, làng Phú Thị trong đó có gia đình ông đồ Cao vẫn kéo lê thê cuộc sống chật vật. Cây gạo cổ thụ đầu làng, mặt hồ Thiên Mã, đường ngõ quanh co chật hẹp những mái nhà chen chúc, tất cả như vẫn trì trệ, không biết đến năm tháng.

    Tuy vậy hai con trai ông đồ Cao nhất là Bá Quát lại ngày càng trở nên anh tuấn. Như cây măng mọc trên đất cằn, sức sống mãnh liệt sẵn có trong mầm non vẫn ngày một vươn cao trong môi trường sống khắc nghiệt. Khắp vùng Bắc Ninh, Bắc Thanh, Cao Bá Quát đã nổi tiếng là học trò giỏi. Trong văn bài ở nhà trường cũng như thơ văn thù tiếp ứng đối, Cao Bá Quát thường áp đảo các sĩ tử, văn nhân. Lời văn của Cao đã tự nhiên, thanh thoát, thơ văn mạnh mẽ mà ý tứ lại mới lạ và hàm súc. Dường như tấm thân gầy yếu của cậu thư sinh Cao Bá Quát có khuôn mặt khôi ngô lồ lộ không cân đối với ý chí mãnh liệt và tâm hồn nồng cháy của cậu. Ngày đêm dùi mài đèn sách, sôi kinh nấu sử, Cao Bá Quát hăm hở bước vào đời, ước vọng sẽ làm như Y Phó mà Cao thường đọc trong sách vở.

    Minh Mệnh năm thứ mười hai (1831) sau khoa thi hương ở Hà Nội, khắp vùng xôn xao vì một thí sinh đậu á nguyên bị đánh xuống rốt bảng cử nhân. Cao Bá Quát là nạn nhân trong câu chuyện đó.

    Văn nhân, sĩ tử ai mà không biết đến chàng thư sinh họ Cao hai mươi ba tuổi, quê ở Phú Thị tỉnh Bắc. Người ta bắt đầu kể cho nghe nhiều giai thoại về chàng thư sinh gặp cảnh ngộ éo le ấy. Nào là chàng ta thông minh và hay chữ, đã chiếm được hai bồ chữ trong bốn bồ của thiên hạ. Nào là thưở bé, một lần Bá Quát đi chơi ở Hồ Tây, phạm vào đường cấm của sa giá nhà vua. Bọn lính thấy cậu bé láo xượt liền bắt trói đem tâu vua. Nhà vua hỏi, Bá Quát xưng là học trò. Vua Minh Mệnh chỉ xuống mặt hồ ra câu đối:

    "Nước trong leo lẽo cá đớp cá" bắt phải đối, nếu không đối được sẽ bị đòn. Không một chút sợ hãi, Bá Quát ứng khẩu đọc ngay: "Trời nắng chang chang người trói người". Nhà vua khen ngợi và tha cho...

    Nhiều giai thoại về Cao được người đời thêu dệt và truyền đi khắp nơi.

    Trong lúc thiên hạ xôn xao bàn tán về mình thì trong một ngôi nhà nhỏ ở khu Đình Ngang nằm sát phía Nam thành Hà Nội, Bá Quát vẫn cặm cụi miệt mài trên đống sách cũ. Khu đất hẻo lánh, dân cư nghèo nàn và chen chúc ấy cũng phù hợp với cảnh sống thanh bạch của gia đình họ Cao. Một căn nhà lụp xụp, một mảnh vườn con con, ngõ đi chật hẹp, cuộc sống chật vật chung đụng với xóm giềng nghèo và tốt bụng giữa tỉnh thành phồn hoa lại càng thúc giục Cao Bá Quát vội vã trên đường sự nghiệp. Qua kỳ thi Hương, Cao Bá Quát đã bước đầu nếm thấy vị chua cay của nghiệp khoa cử. Nhưng còn có đường nào khác, "đời thái bình đâu có bỏ phí tài năng"? Bá Quát hy vọng vào kỳ thi hội. Ba năm một lần, Cao Bá Quát từ biệt gia đình lều chõng vào kinh rồi lại về không. Đã biết "Lầm vì chút phù danh", "Nhưng vào đời đã có văn chương, trốn danh thì còn ham muốn gì? " Cao Bá Quát mòn mỏi trong hy vọng và chờ đợi. Trượt ba khoa thi hội liền, không phải vì kém tài năng mà chỉ vì ngòi bút của Cao không hợp với khuôn khổ gò bó khắc nghiệt của lối văn cử nghiệp!

    Năm tháng cứ trôi đi, cha mẹ ngày càng già yếu, con cái nheo nhóc, từ Phú Thị, đến Đình Ngang, rồi về gần Hồ Tây, cái nghèo vẫn cứ lẽo đẽo theo sau Cao Bá Quát. Cao lấy việc dạy học để kiếm sống và tìm thú vui trong ngao du, xướng họa. Trong khi giao tiếp với bạn bè, đặt chân ở nhiều nơi, Cao Bá Quát đã có dịp nhìn thấy rõ bộ mặt của xã hội mà Cao vẫn nuôi mộng được góp phần xây dựng.

    Khắp nơi dân tình nhôn nhao đói khổ. Thuế khóa, sưu dịch nặng nề làm cho nhiều gia đình phải phiêu bạt, tan nát. Loạn lạc nổi lên nhiều nơi. Những người dân lành kia sao lại phải sống cơ cực đến như vậy? Cao vẫn "Muốn lên tuyệt đỉnh cao vời; hát vang mà gửi ra ngoài nước mây", muốn ném hạt mai lên núi để xuân về "Sẽ thành một bức tranh cho mọi người xem chung". Nhưng chính Cao lại phải trông tận mắt cảnh thu thuế khẩn cấp có những người "Tính mạng chỉ đợi một đồng tiền là có thể đổi được"; đã từng gặp những đoàn người mà dắt díu, bồng bế nhau đi lĩnh chẩn khiến Cao phải tự than phiền: "Trong lúc thanh bình, nào ai có để ý đến từng người dân thường!". Suy nghĩ về trách nhiệm của kẻ sĩ chân chính vẫn nuôi dưỡng đạo lý "Lo trước, vui sau", Cao ngậm ngùi: "Tấc lòng mình hẹn cho mình xưa kia, nay vẫn không đâu, chỉ cúi đầu tựa góc tường mà không nói".

    Chẳng phải chỉ gặp nhau trong tâm tư tình cảm mà trong cuộc sống hằng ngày, Cao và những người dân hiền lành kia có khác gì nhau đâu:

    Lều nho nhỏ kéo tấm tranh lướp tướp, ngày thê lương nặng hạt dội mưa sa.

    Đèn cỏn con gom chiếc chiếu loi thoi, đêm tịch mịch soi chung vầng nguyệt tỏ.

    Áo Trọng Do bạc thếch, giải xuân thu cho đượm sắc cần lao;

    Cơm Phiếu Mẫu hẩm xì, đòi tuế nguyệt khải ngậm mùi đau khổ.

    Gió trăng rơi rụng, để cái quyên gầy;

    "Sương tuyết hắt hiu, làm con nhạn võ".

    Bị lãng quên trong xã hội bất công và ngột ngạt, đầy dẫy nhưng quan lại hà khắc, ngu dốt, Cao Bá Quát vẫn ngẩng cao đầu cất lên bài ca trong sáng về tư cách đạo đức của mình:

    Đói rau rừng, thấy thóc Chu mà ngảnh, đá Thú Dương chơm chởm, xanh mắt Di nằm tốt ngáy o o;

    " Khát nước sông, trông giòng đục không vơ, phao vị thủy lênh đênh, bạc đầu Lã ngồi dai ho lụ khụ". Cao khinh rẻ những kẻ hèn hạ chạy cầu danh lợi:

    "Ngàn nhẽ kẻ tham bề khóa lợi, mũ cánh chuồn đội trên mái tóc, nghiêng mình đứng chực chốn hầu môn;

    "Quản bao kẻ màng cái dàm danh, áo vẩy lân trùm dưới cơ phu, mỏi gối quỳ mòn sân tướng phủ". Như con thuyền lướt ngược dòng sông đục để tìm về nguồn trong, Cao Bá Quát lại càng bị những kẻ đang ngụp lặn bơi theo dòng đục gièm pha và ghét bỏ. Ông Cử Quát, văn chương lỗi lạc hơn người, tài đức trong sáng ít ai kịp mà vẫn chưa được người tiến cử, nhà vua vẫn không chịu bổ dụng.

    Cho đến năm Thiệu Trị nguyên niên (1841), Cao Bá Quát, con người mấy năm trước vẫn từng ngâm bài thơ:

    "Trượng phu ba mươi tuổi, chẳng nên danh gì.
    Dạo khắp ven trời, khí bất bình chưa dịu.
    Ngâm xong bảy bài ca, ngảnh đầu nhìn lại
    Thân thể mờ mịt, chỉ đáng trừng mắt trông đời".

    Mới nhận được chỉ triệu vào kinh.

    Cao Bá Quát bước vào quan trường với chức hành tẩu bộ Lễ.

    Quan sơ khảo trường thi Thừa thiên Cao Bá Quát băn khoăn lật đi lật lại tập bài của thí sinh. Nhìn sang bên cạnh, Cao thấy bạn đồng nghiệp Phan Nhạ đang cặm cụi trên quyển thi. Ánh đèn dầu soi rõ những nét son của quan sơ khảo vừa phê trên trang giấy đặc chữ màu đen kịt. Trước mặt là hai mươi bốn quyển thi, Cao đã đọc đi đọc lại nhiều lần mà vẫn chưa quyết định. Thực tình hai mươi bốn quyển này có thể lấy được, nhưng tiếc thay, quyển nào cũng chen vào vài câu dùng chữ sai lạc, phạm húy làm cho bài văn không trúng cách. Lương tâm của viên quan chấm thi buộc Cao Bá Quát phải thận trọng khi hạ bút trên những văn bài của sĩ tử.

    Theo Cao, phạm húy đâu phải là kẻ bất tài! Chẳng qua vì chỉ sơ xuất không kiêng tránh khi dùng đến những chữ trùng với tên của nhà vua và họ hàng nhà vua mà thôi; còn văn bài thì lối văn cử nghiệp với những luật lệ gò bó khắc nghiệt chỉ tổ kìm hãm trói buộc ý tứ của sĩ tử, có quan trọng gì đối với việc đào tạo, tuyển dụng nhân tài. Cao vẫn băn khoăn không hiểu tại sao người ta không vứt bỏ những điều phiền toái ấy đi. Bản thân mình đã bị quy chế thi cử của triều đình hành hạ, sao lại còn để cho chuyện thi cử vùi dập người khác khi mình đang cầm ngòi bút son trong tay? Cao Bá Quát quay sang nhìn Phan Nhạ:

    - Phan tiên sinh thấy hai mươi bốn quyển thi này ra sao?

    Phan Nhạ bước lại bên án thư của Cao Bá Quát:

    - Tôi vẫn băn khoăn, kể về thực tài thì thấy được, nhưng quyển nào cũng phạm sơ xuất nhỏ, luật lệ thi cử không tha thứ, thật là khó nghĩ.

    Thấy bạn đồng nghiệp cũng một tâm sự như mình, Cao Bá Quát mạnh dạn:

    - Phan tiên sinh ạ, tài giỏi đâu có phải vì những điều vụn vặt ấy. Không thể để cho sĩ tử bị vùi dập oan uổng được. Tôi muốn cứu mấy quyển này.

    Phan Nhạ dè dặt:

    - Đậu hay không của sĩ tử cũng còn qua nhiều người chấm nữa. Nhưng bây giờ văn bài còn đang trong tay chúng ta, cứu vớt họ là phải. Làm thế nào là tùy ở tiên sinh.

    Không chút do dự, Cao Bá Quát đưa ngọn bút son lên miệng nhấm nháp. Lúc này trong trí Cao Bá Quát hiện lên thấp thoáng hình bóng hai mươi bốn sĩ tử không quen biết nào đó, còn nhà vua và triều đình, Cao không cần biết đến. Cao dùng muội đèn làm mực chữa lại cho hai mươi bốn quyển thi. Ít lâu sau việc bị phát giác, triều đình khép Cao vào tội giảo giam hậu.

    Đã một năm rồi Cao vẫn bị tống giam chờ lệnh.

    Trằn trọc mãi không ngủ được, Cao Bá Quát nhổm dậy, ngồi thu chân trên chiếc giường ọp ẹp của nhà ngục. Chiếc gông dài chắn ngang cổ trễ lệch trên đôi vai xo gầy. Tấm thân mảnh dẻ của Cao nay lại càng tiều tụy vì những đau đớn cực nhục và uất hận.

    Nghĩ mình như "Con chim có sức bay cao mà bị nhốt trong lồng", Cao ôm hận đến trào ra theo dòng nước mắt.

    Ngày đêm sống trong nhà ngục, ngồi mang gông mà không thẹn với bóng, Cao tự cho mình đã làm việc thiện, thấy việc thiện phải làm mà vì việc thiện mà nên tội.

    Đêm nay cũng như bao đêm đã qua, mỗi khi nghĩ đến đời mình bị tan vỡ oan uổng, Cao Bát Quát không sao chợt mắt được, Cao dậy đốt đèn ngồi ngâm thơ, bên cạnh Cao, chú tiểu đồng nằm trơ mình co quắp một bên giường. Khẽ rón rén kéo chiếu đắp cho chú bé, Cao bó gối ngồi rung đùi tìm ý thơ, chờ sáng. Bên gian nhà ngoài, mấy người trong ngục vẫn ngáy đều đều.

    Cao rùng mình, nghĩ đến những việc đã qua. Từ nhà ngục này đến nhà ngục khác, hết hỏi cung lại tra khảo, Cao không ngờ mình còn sống được qua những trận đòn roi ác liệt đến như thế. Mai là ngày trùng cửu, trọn một năm từ khi bị tốn giam. Cao Bá Quát nảy ra ý nghĩ kỉ niệm ngày đột biến của đời mình.

    Mặt trời mùa thu đã lên cao, trong nhà ngục vẫn tối tăm lạnh lẽo. Nhiều người tù còn uể oải nằm trăn trở trên giường. Thầy trò Cao Bát Quát đã thức dậy từ sáng sớm để dọn dẹp sửa soạn công việc. Một người tù trẻ tuổi thấy vậy hỏi.

    - Thầy trò ông Cao làm gì thế?

    Cao Bá Quát cười đáp:

    - Hôm nay là ngày vui của đời ta!

    Trong bảy tám người tù bị giam chung, có những người chưa rõ về Cao. Họ chỉ biết đây là một ông quan rất giỏi thơ và vui tính. Như mọi hôm, vào lúc này ông Cao còn trùm chăn nằm ngâm thơ, như hôm nay ông lại bận rộn thu xếp công việc gì vậy? Cho đến lúc chú tiểu đồng lễ mễ bê vò rượu về và Cao Bá Quát mời các bạn tù ngồi quây quanh chiếu rượu, họ mới biết ông Cao thết tiệc.

    Rót đầy rượu cho từng người, Cao Bá Quát nâng chén mời:

    - Đây là tiệc sinh nhật kiếp này của gã Mẫn Hiên đây. Xin mọi người hãy cạn chén mừng cho ta vừa tròn một tuổi.

    Các bạn tù ngơ ngác nhìn nhau, lấy là lạ cho ông thánh thơ lẩn thẩn này! Họ nhớ lại chuyện ông vịnh cái gông. Cầm gông trong tay ông nói với gông: "Gông dài! Gông dài! Mày biết ta chăng? Ta cũng chẳng hợp gì với mày đâu!" rồi ông lấy bút mực viết luôn một lúc ba bài thơ. Nhà giam trói buộc được con người ông, nhưng cấm sao được thơ của ông. Càng buồn bực, càng đau đớn uất hận ông lại càng làm thơ. Năm ngoái, sau khi bị trận đòn tra khảo khốc liệt ở bộ Lễ, về nhà giam, gượng đau ông viết bài ca về cái roi song. Lời thơ của ông đau xót, não nùng, oán hờn nhưng cũng rất kiên cường, ai đọc cũng phải khâm phục. Hôm nay được Cao Bá Quát thết rượu, các bạn tù lấy làm lạ cũng là phải, họ có biết đâu rằng từ khi bước vào vòng tù tội, Cao lại càng cảm biết sâu sắc bộ mặt thật của bè lũ cầm quyền ngu tối và tàn bạo, kẻ đã gây nên bao điều bất công, tàn nhẫn oan uổng đối với dân lành mà Cao đã từng được chứng kiến ở khắp nơi. Nhà vua và triền đình đối với Cao một "Kẻ sĩ đầy hùng khí", đã trở thành xa lạ.

    Niềm tin có thể đem tài năng để phò vua, giúp nước làm nên sự nghiệp lớn của Cao, trước đây có bị sứt mẻ, đến bây giờ thì đổ vỡ hoàn toàn. Ngọn lửa mới đã nhen nhóm trong lòng Cao từ lúc ông vừa bước chân vào nhà ngục. Cuộc đời mới của Cao bắt đầu từ ngày bị nhà vua đặt chiếc gông vào cổ đến nay vừa tròn một tuổi. Tâm sự đó của Cao Bá Quát không phải ai cũng hiểu được.

    Sau gần hai năm đầy đọa trong tù ngục (1841-1843) giữa kinh thành Huế, Cao Bá Quát được tha, phải đi dương trình hiệu lực ở Giang lưu ba. Cùng năm đó, Cao trở về bộ Lễ để rồi bị thải hồi.

    Bước vào công danh chẳng "Vẹo đầu", Cao lại ung dung trở về với quê hương, gia đình, bè bạn và học trò. Không đủ tư cách làm bầy tôi của triều đình, Cao Bát Quát lại có tài đức để nhân dân, bạn bè yêu mến.

    Như thanh gươm quý bị vùi ở Phong Thành vẫn tỏa ra ánh sáng khiến người đời phải tìm kiếm, vào năm Thiệu Trị thứ bảy (1847) Cao Bát Quát được triều đình lục dụng sau bốn năm sống nghèo ở quê hương.

    Lần này trên con đường vào kinh nhận chức ở Viện hàn lâm, Cao không còn hào hứng và tin tưởng như xưa:

    "Lòng bùi ngùi mất hứng thú
    Mối hận trào theo dòng sông trong"

    Trong mấy năm làm việc ở Viện hàn lâm, Cao lại có dịp chứng kiến cuộc sống xa hoa hưởng lạc của triều đình. Trong khi đó ở khắp nơi, dân tình cơ cực, loạn lạc nổi lên. Đời Thiệu Trị làm vua chỉ có bảy năm (1941-1847) mà đã có đến năm mươi tám cuộc khởi nghĩa: Tự Đức từ 1848 chỉ tính đến 1862 mà đã có đến bốn mươi cuộc khởi nghĩa của nông dân chống lại triều đình. Nhà vua chỉ biết sức cho các quan trấn áp, tiễu phạt. Tiếng súng của Phú Lãng Sa đã nổ ở cửa biển Đà Nẵng, nạn nước đang ngấp nghé bị đe dọa. Buồn vì không giúp ích được gì cho dân, Cao Bá Quát tự bảo:

    "Đáng phàn nàn cho ta chỉ đóng cửa mà gọt giũa câu văn.
    Lải nhải nhai lại, từng câu từng chữ,
    Có khác chi con sâu đo muốn đo cả đất trời".

    Để sống qua những ngày vô vị ở Viện hàn lâm, Cao Bát Quát thường đi du ngoạn và xướng họa. Bạn thơ của ông thì nhiều, nhưng người tâm đắc thì hiếm. Ông thường tỏ ra khinh bỉ những kẻ "Nuốt sống bắt tươi", "Mô phỏng quá nhiều, phong cốt chưa cao, tô điểm có khéo, nhưng tinh thần còn thấp", văn chương chỉ những "Nắn nót", "Lòe người", "Tự phụ".

    Vào thời đó ở Huế có "Mạc Vân thi xã" là một nhóm nhà thơ gồm các đại thần, vương tôn, công tử. Họ thường tụ họp để cùng nhau xướng họa đề vịnh. Người ta kể rằng một hôm có người đem thơ "Thi xã" đọc cho Cao Bá Quát nghe. Nghe xong ông xua tay ngang mũi, đọc ngay hai câu lục bát:

    "Ngán thay cái mũi vô duyên
    Câu thơ thi xã con thuyền Nghệ An"

    Còn có một lần Cao Bá Quát đã làm mọi người sợ xanh mắt nhưng vẫn phục lăn vì ông đã cho Tự Đức bẽ mặt trong dịp nhà vua khoe tài trước quần thần. Vốn sính thơ và hay chữ, một hôm Tư Đức khoe với quần thần rằng đêm trước nằm ứng mộng hiện ra được hai câu thần cú, rồi đọc cho mọi người nghe:

    "Viên trung, oanh chuyển khề khà ngữ
    Dã ngoại, đào hoa lấm tấm khai".

    Nghểnh tai nghe hai câu thơ kỳ lạ, các quan xun xoe tấm tắc khen tài dùng chữ của nhà vua. Cao Bá Quát cũng có mặt ở đấy. Đã không ưa kẻ nhai văn nhá chữ, lại thêm một lũ quần thần xu nịnh. Cao liền đứng dậy tâu:

    - Muôn tâu, đó là hai câu trong một bài thơ thần đã được nghe.

    Tự Đức ngạc nhiên. Hai câu thơ do chính mình nằm đêm vắt óc, nghĩ ra sao lại nói là của một bài thơ cũ? Trong lúc đó Cao vẫn thản nhiên, nhẩm lại bài thơ rồi đọc một mạch:

    "Bảo mã tây phong huếch hoác lai,
    Huênh hoang nhân tự thác đề bài.
    Viên trung, oanh chuyển khề khà ngữ,
    Dã ngoại, đào hoa lấm tấm khai.
    Xuân nhật bất văn sương lộp bộp
    Thiên thu chỉ kiến vũ bài nhài.
    Khề khà thi tứ đa nhân thức
    Khênh khang tương lai vấn tú tài"

    (Ngựa báu theo gió tây huếch hoác lại
    Huênh hoang người tự theo về.
    Trong vườn, tiếng oanh hót khề khà
    Ngoài đồng hoa đào nở lấm tấm.
    Ngày xuân chẳng nghe sương lộp bộp,
    Trời thu chỉ thấy mưa bài nhài
    Khù khờ câu thơ đã nhiều người biết,
    Còn khệnh khạng đem hỏi các nhà văn học).

    Nghe thơ, vua quan đều gương mắt nhìn nhau. Đúng là giọng thơ của Cao Bá Quát! Đã vậy lại còn chê nhà vua là khù khờ, khệnh khạng. Nhiều viên quan rụt cổ thè lưỡi sợ cơn giận của nhà vua vì cái ngạo mạn của Cao Bá Quát. Tự Đức giận lắm, nhưng không có cớ gì để buộc tội người đọc thơ. Cả vua lẫn quan bị một vố đau nhưng cũng phải giật mình kinh ngạc vì tài ứng khẩu của Cao Bá Quát.

    Là người có biệt tài về thơ văn, nhưng Cao không chỉ vừa lòng với việc sống để làm thơ. Từ thuở còn đi học ông vẫn hy vọng sẽ đem sở học để xây nền trị bình cho đất nước. Nhưng hoàn toàn thất vọng, ông đã thấy:

    "Bước đường công danh không khác gì chõ rơi bị vỡ,
    Nghiệp nhà thư sử cũng tựa như nghề mổ rồng".

    Trong dịp đi chơi Hoành Sơn, đứng trước cảnh thiên nhiên hùng vĩ của đất nước, ông nghĩ đến tình cảnh cơ cực của nhân dân mà kẻ sĩ như ông có trách nhiệm phải lo lắng. Nhưng khốn thay với triều đình mờ tối và tàn bạo này ông không thể không mong gì được. Ông chỉ còn ngao ngán:

    "Sớm lên những trên núi Hoàn Sơn
    Chiều xuống tắm ở dòng khe Bàn Thạch
    Nhặt lấy mỗi nơi một viên đá
    Cả non sông không đầy một vốc bàn tay".

    Và tỏ ý thầm kín:

    "Người anh hùng không kéo lại được nước đã ngàn năm".

    Là một viên quan nhỏ ở Viện hàn lâm, bị triều đình hắt hủi, nhưng tư cách và tài năng của Cao Bá Quát lại vượt trên tầm của nhiều người. Giữa triều đình ruỗng mọt với một bè vua quan bất tài chỉ biết đến vinh thân phì gia, Cao vẫn thường nhủ:

    "Làm hoa nên làm hoa sen,
    Hương thanh, thân thẳng, dáng điệu xinh tươi.
    Bùn vàng năm đấu, nước một thước,
    Có một phong cách đặc biệt như sống trong động tiên.
    Công thành danh toại rồi thì đi tắp,
    Không dây dưa gì đến các loài hoa cỏ tầm thường".

    Trong tình cảnh ấy, con người "Chỉ ôm ấp hoài tấm lòng lo trước vui sau" của Cao Bá Quát đã trở thành cái gai trước mắt nhiều kẻ.

    Năm thứ ba triều Tự Đức (1850), Cao Bá Quát được lệnh rời kinh đô Huế đi nhận chức giáo thụ phủ Quốc Oai. Từ ngày ấy Cao Bá Quát không còn phải nằm khềnh trong gian gác nhỏ bên sông Hương để làm những bài thơ "Ngâm lên cũng có thể làm rụng sao" và nhìn dòng sông lại thấy "Ngọn sông dài như lưỡi gươm dựng giữa trời xanh" nữa!

    Khắp phủ Quốc Oai, ai mà không biết tiêng ông giáo thụ họ Cao. Chả phải đến bây giờ, ngay từ ba năm trước, khi nghe tin Cao Bá Quát về giữ chức giáo thụ của phủ nhà, người ta đã mừng cho con em trong phủ được một ông quan nổi tiếng văn học trông nom dạy dỗ. Chẳng bao lâu câu thơ được truyền tụng từ kinh đô: " Văn như Siêu, Quát; Vô Tiền Hán; thi đáo Tùng, Tuy: Thất Thịnh Đường" cũng đến với người dân phú Quốc Oai xa xôi này.

    Người ta biết chuyện về quan giáo thụ nhưng không ai hiểu được sự của ông.

    Thuở thiếu thời, ông cũng miệt mài bút nghiên, gửi gắm tương lai vào khoa cử. Đến bây giờ mái tóc đã hoa râm, sau hàng chục năm lao đao chốn quan trường, ông đã thấy mình nhầm. Cứ như thế này, cái sở học của ông chẳng giúp gì được cho đời cả. Chẳng phải đâu xa lạ ngay trên mảnh đất Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây này, người dân vẫn điêu đứng trong đói nghèo liên miên. Không phải vì dân thiếu ruộng cày, không biết làm ăn, mà chỉ vì sưu dịch, thuế khóa và nạn tham nhũng; nay phải cung đốn cho tỉnh nhà, dùng hình phạt. Ấy thế mà ông lại nằm lì ở phủ Quốc Oai này với nghề ông đã cho là lầm lạc. Con người do ông đào tạo nên phỏng có giúp ích gì cho dân nước trong tình hình này không? Ông không còn hào hứng với chức nghiệp giáo thụ này nữa, và đã chán ngấy cái triều đang đòi ông phải cúc cung tận tụy. Ông đã có con đường đi của mình.

    Thỉnh thoảng người ta gặp quan giáo thụ thuê võng đi từ Quốc Oai về trấn Bắc Thành. Nhờ bạn, ông đi tìm bạn. Yêu quê, ông về thăm quê. Ở Quốc Oai, hàng ngày sau buổi dạy học, nếu không về tư thất làm bạn với sách vở, thì ông lại đeo bầu rượu túi thơ rủ bạn đi thăm những thắng cảnh trong vùng. Tuy ở nơi thôn dã xa xôi này, nhưng bạn bè khách khứa tìm đến với ông khá đông. Không mấy ngày nhà ông không có khách.


    Ai đến trường học cũng cũng phải dừng chân đọc đôi câu đối viết trên tường:

    "Mô phạm dăm ba thằng mặt trắng
    Đỉnh chung chiếc rưỡi cái lương vàng"

    Còn ở nhà riêng, người ta không thể nhịn cười vì câu đối dán trên vách:

    "Nhà trống ba gian, một thầy, một cô, một chó cái.
    Học trò dăm đứa, nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi"

    Ấy thế mà quan phủ cũng phải nể ông Cao, bởi vì đến tổng đốc Sơn Hưng Tuyền Nguyễn Bá Nghi, ông giáo thụ họ Cao còn chẳng sợ nữa là. Thà đem học trò lên núi bình văn thơ cho khỉ nghe chứ Nguyễn Bá Nghi biết gì mà ông phải gửi những bài văn hay lên cho tổng đốc.

    Ngoài việc dạy học, ông chỉ thích đi chơi và tiếp khách. Vào thời buổi loạn lạc này, việc đi lại, giao thiệp của người dân cũng bị xét hỏi, theo dõi nghiêm ngặt. Đối với ai, chứ với ông giáp thụ họ Cao, từ kinh cho đến các tỉnh, ở đâu ông cũng có bạn, thì việc khách khứa, bạn thơ lui tới nhà ông đông đảo cũng không lạ.

    Không ai để ý đến trong số bạn bè thường lui tới nhà quan giáo thụ có một người khách ít khi đến thăm ông Cao, nhưng mỗi khi đến, thường hay ở lại chơi hàng mấy ngày.

    Hôm nay ông ta lại đến nhà Cao Bá Quát vào lúc trời tối. Cao thu mình trong chiếc áo kép đã sờn, đang ngồi cạnh ngọn đèn. Quyền binh pháp Tôn Tử đọc dở còn để một góc án thư. Bên ngoài gió bấc từng cơn, xô vào liếp ọp ẹp. Bên be rượu nóng, Cao Bá Quát ngâm nga mấy bài thơ của mình đề vịnh trên vách núi. Đang mải ngâm thơ, chú tiểu đồng bước vào:

    - Thưa thầy, nhà có khách ạ.

    Cao Bá Quát gấp vội sách đặt lên giá, xốc áo đứng dậy. Khách bước vào:

    - Kính chào Cao tiên sinh.

    Cao mừng rỡ rỡ lên:

    - Ngài Nguyễn Kim Thanh! Tôi tưởng có khách từ trấn thành lên chơi.

    Sau khi ngồi yên chỗ, Cao Bá Quát rót rượu mời khách. Nguyễn Kim Thanh cởi tấm khăn nhiễu buộc đầu rút ra một phong thư, kính cẩn trao cho Cao Bá Quát. Xem kỹ bức thư nhiều lần, Cao lặng lẽ đưa lên ngọn lửa. Tờ giấy bản bốc lửa cháy bùng bùng, soi rõ gian nhà lá. Ngọn lửa lụi dần rồi tắt ngấm, chỉ còn lại một ít tàn đen uốn éo quăn queo và nát vụn. Cao Bá Quát hạ giọng:

    - Từ khi biết Lê minh chủ, lại được hội kiến với người bàn về việc dựng cờ nghĩa cứu vớt muôn dân, tôi mừng cho vận nước. Chỉ tiếc rằng tôi đã uổng phí cả một thời trai trẻ để rồi phải mòn đầu dưới trướng lũ hôn quân. Đến khi tỉnh ngộ thì đầu đã bạc.

    Nguyễn Kim Thanh đỡ lời:

    - Thưa tiên sinh, triều đình đưa tiên sinh về Quốc Oai là chúng thả hổ về non đó. Được tiên sinh theo về, Lê minh chủ mừng có người giúp rập tài giỏi. Ngày đêm ngài vẫn mong đợi tiên sinh về bên màn trướng để cùng bàn việc nước.

    Hiểu ý, Cao Bá Quát xua tay:

    - Trong thư Lê minh chủ có nói ý đó. Tôi muốn ôm mãi chức giáo thụ Quốc Oai này làm gì? Dấy nghĩa để quét sạch lũ hôn quân bạo chúa, cứu dân dựng nghiệp cũ là cần thiết và hệ trọng. Phải làm sao thuyết phục được nhân tâm, thu nạp các sĩ phu, hào kiệt. Đến khi bừng dậy phải như sấm sét, như vũ bão, khiến chúng che tai không kịp. Xem thư, tôi đã hiểu lòng Lê minh chủ. Ngài hãy về tâu với Lê minh chủ rằng tôi còn phải liên kết với các văn nhân sĩ tử, chiêu mộ hào kiệt, thành lập nghĩa đảng ở các tỉnh Bắc Ninh, Sơn Tây, Hà Nội để các nơi cùng ứng nghĩa. Bằng như nay, bỗng nhiên bỏ về với Lê Minh chủ thì chưa phải lúc, chỉ làm cho triều đình thêm nghi ngờ mà thôi.

    Cho đến quá nửa đêm, ánh đèn nhà Cao Bá Quát mới tắt. Quan giáo thụ vẫn thường thức khuya để đọc sách hoặc chấm bài!

    Sáng hôm sau, tiễn chân khách đến đầu đường, Cao về trường dẫn học trò lên núi Sài Sơn bình văn.

    Một tháng sau, quan giáo thụ phụ Quốc Oai được lệnh của bộ Lễ cho phép nghỉ việc về quê phụng dưỡng mẹ già.


    Trong dinh tổng đốc, Nguyễn Quốc Hoan đứng ngồi không yên. Ngay từ lúc mới phát giác ra đảng nghịch, vội tâu về triều đình, Nguyễn Quốc Hoan mừng phen này sẽ lập được công lớn. Đã bốn tháng rồi, Nguyễn Quốc Hoan được lệnh của Tự Đức phải hiệp sức với tổng đốc Hà Ninh là Lâm Duy Hiệp, tổng đốc Sơn Hưng Tuyên là Nguyễn Bá Nghi để trừ loạn Cao Bá Quát. Chẳng phải chỉ có quan lại ở địa phương, mà từ kinh đô Huế, Tự Đức cũng lo nơm nớp. Một khi các sĩ phu kết hợp được với dân nghèo đã sẵn căm thù triều đình để vùng dậy, thì đất Bắc Hà khó mà giữ được và ngai vàng của nhà vua cũng có cơ bị trút đổ. Cho nên Tự Đức đã vội phái phó lãnh binh Thanh Hóa đem năm trăm quân, vệ úy Hoành Thành đem ngay một vệ lính tuyển phong, hai mươi súng thần cơ, mười lăm võ sinh từ kinh ra Hà Nội để hỗ trợ tiễu phạt.

    Bốn tháng ròng rã, các phủ huyện ra sức tầm nã, bắt bớ không biết bao nhiêu người để tra khảo mà vẫn chưa dò la được tung tích Cao Bá Quát, trong lúc đó chuyện Cao Bá Quát nổi dậy chống triều đình ngày một lan rộng, tình hình trong tỉnh không lúc nào yên.

    Cuộc đời làm quan bấy lâu đã cho Nguyễn Quốc Hoan biết dân mà đói thì khó bề yên được. Ấy thế mà tỉnh Bắc Ninh này cũng như các tỉnh khác đang trải qua cơn đói khủng khiếp. Theo các phủ huyện báo lên thì nhiều làng, dân phiêu bạt, bồng bế nhau đi lang thang, người chết đói nhan nhản. Nạn đói còn kéo dài. Vụ chiêm đã mất vì châu chấu, vụ mùa lại mất vì ngập lụt. Tổng đốc Nguyễn Quốc Hoan lo lắng. Không phải ông ta lo dân đói, mà lo không bắt được Cao Bá Quát thì ông cũng khó mà giữ được đầu chứ đừng nói đến cái ghế tổng đốc.

    Nguyễn Quốc Hoan phải đến trấn Bắc Thành hội bàn với các tổng đốc như đã hẹn, để tung lưới quyết bắt cho được Cao Bá Quát.

    Trấn Bắc Thành chìm ngập trong hoang mang, lo sợ. Từ mấy tháng nay chẳng những người dân ở trấn thành luôn luôn bị khám xét, tra hỏi, mà cả những người đói từ cá nơi đổ về phố phường ăn xin, đêm hôm nằm ngổn ngang ở đầu đường xó chợ cũng bị đánh úp trấn thành. Chưa thấy ai gây loạn, chỉ mới thấy quan lại, binh lính được dịp sách nhiễu, cướp bóc ức hiếp dân chúng. Trên đường phố binh lính điều chuyển tới tấp. Không mấy ngày không có những tốp người gầy gò rách rưới tay trói, cổ mang gông, bị lính áp giải vào nhà lao trấn thành.

    Ai nấy lo lắng, hồi hộp chờ đợi một biến cố lớn, hy vọng có thể thay đổi cuộc sống ngột ngạt đang hàng tháng đè nặng cả trấn thành.

    Hôm nay phố phường lại một phen nhốn nháo vì chuyện tổng đốc Ninh Thái Nguyễn Quốc Hoan, tổng đốc Sơn Hưng Tuyên Nguyễn Bá Nghi đến hội kiến với tổng đốc Hà Ninh Lâm Duy Hiệp.

    Bình thường thì việc đi lại các quan tổng đốc, dân thường chẳng mấy ai biết đến. Nhưng vào lúc này thì khác. Quan tổng đốc đi từ tỉnh Bắc, tỉnh Sơn sang trấn thành phải có hàng mấy trăm tinh binh khí giới sẵn sàng hộ tống. Dọc đường qua đi, người ta cấm dân không được tụ họp. Ai trái lệnh thì bắt giữ, nếu chống lại thì chém đầu ngay tại chỗ. Còn ở trấn thành, trạm canh gác vốn đã dày đặc như mạng nhện, hôm nay số trạm gác lại tăng lên gấp bội. Trên đường, các thầy cai, thầy đội lăng xăng cắp gươm đi tuần. Thỉnh thoảng một viên quan võ rạp mình trên lưng ngựa, lao nhanh như tên bay. Hai bên phố phường cửa ngõ đóng im ỉm.

    Người ta bảo nhau: Các quan tổng đốc sợ quân ông Cao Bá Quát bắt giết đấy!...

    Trong khi đó ở khu rừng Ngang huyện Mỹ Lương quốc sư Cao Bá Quát, thượng thư Nguyễn Kim Thanh cùng với Lê minh chủ đang bàn việc ra quân.

    Đặt gươm nằm ngang trên án thư, Lê Duy Cự vén tay áo thụng, nhìn Cao Bá Quát:

    - Kế hoạch đánh úp trấn Bắc Thành bị vỡ lở, ta phải ra quân ngay. Quốc sư xem còn có kế nào khác để cứu vãn tình thế không?

    Như đã sắp sẵn mọi kế hoạch, không cần suy nghĩ. Cao Bát Quá trả lời:

    - Tâu minh chủ, lũ tẩu cẩu đã đánh hơi được mưu đánh chiếm trấn Bắc Thành của ta. Từ mấy tháng nay chúng đang bắt bớ truy nã ráo riết người cầm đầu. Cứ như tin tức thám báo cho biết hiện nay Nguyễn Quốc Hoan, Lâm Duy Hiệp và Nguyễn Bá Nghi chưa biết tôi đã về đây. Chúng tưởng rằng tôi còn ngấm ngầm hoạt động ở Bắc Ninh. Đồng đảng của ta nhiều người bị bắt giữ, nhưng chúng không thể phá vỡ hết cơ sở của ta được. Khắp vùng Bắc Ninh, Sơn Tây, Hà Nội đều có người theo chúng ta. Vả hiện nay dân tình đói khổ cơ cực đã nhiều, ai cũng căm giận triều đình. Chỉ cần chúng ta sớm phất cờ nghĩa, trừ bạo cứu dân, lòng người khắp nơi sẽ hướng về. Trước hết ta đánh chiếm các phủ huyện lân cận thuộc Sơn Tây, Bắc Ninh, Hà Nội, sau đó tràn về chiếm trấn Bắc Thành, nghiệp lớn lo gì không thành đạt. Nếu còn chần chừ tức là bó tay nộp mạng cho triều đình và đắc tội với dân.

    Lê Duy Cự gật đầu, quay lại với thượng thư Nguyễn Kim Thanh:

    - Ta cho lời Cao Quốc Sư bàn là phải. Thượng thư thấy thế nào?

    - Tâu minh chủ, đến lúc này mà chưa ra quân là thất sách lớn. Quân sĩ cũng nóng lòng đợi ngày xuất trận. Dân chúng khắp nơi đang chờ đợi chúng ta. Ngừng một lát, Nguyễn Kim Thanh nói tiếp. Tôi thiết tưởng dấy nghĩa phải có cờ hiệu. Lũ chúng tôi đã sắp sẵn, xin minh chủ chọn chữ đề cờ.

    Nhìn tấm vóc vàng trải rộng trên mặt bàn, Lê Duy Cự bóp đầu suy nghĩ. Dấy quân để khôi phục lại cơ nghiệp nhà Lê vẫn là ý nghĩ nung nấu trong đầu, Lê Duy Cự muốn viết chữ "Lê" trên lá cờ đại. Sực nhớ đến Cao Quốc Sư, con người văn hay chữ tốt nổi tiếng một thời đang đứng bên cạnh, Lê Duy Cự nói với quốc sư:

    - Ta trao cho Cao Quốc Sư quyền chọn chữ đề trên cờ nghĩa của chúng ta.

    Cao Bá Quát nhận lệnh gọi người đem bút mực đến. Đã lâu nay bận tổ chức đảng kín, lo việc quân cơ, tâm trí của Cao Bá Quát đều dồn cả vào chuyện kiếm cung. Vả lại với triều đình tàn bạo này, cây bút của Cao phỏng có giúp ích gì cho dân. Cao Bá Quát đã quyết định cầm gươm. Và Cao đã thực sự xếp bút nghiên cầm thanh gươm từ ngày trả chức giáo thụ Quốc Oai lại cho triều đình. Đến bây giờ Lê minh chủ lại giao cho Cao cầm chọn chữ đề trên cờ nghĩa. Ông thánh Quát viết:

    "Bình Dương, Bồ Bản vô Nghiêu, Thuấn
    Mục Dã, Minh Điều hữu Vũ, Thang"

    Cao Bá Quát đã gói gọn trong mười bốn chữ đầy ý nghĩa và mục đích trong sáng của việc làm mà Cao đã quyết vì nó hy sinh đến trọn đời.

    Nét mực đen lấp lánh nổi bật trên nền vóc vàng như rồng bay phượng múa. Lê minh chủ, Nguyễn thượng thư ngây người đứng nhìn lá cờ. Lê minh chủ nói với Cao Bá Quát:

    - Tài thư kiếm trên đời này ai dám sánh với quốc sư? Ta giao cho quốc sư thảo tờ hịch kể tội triều đình và bố cáo việc nghĩa của ta cho trăm họ biết.

    Một buổi sớm mùa đông tạnh ráo, trong khu rừng Ngang huyện Mỹ Lương, các đội nghĩa quân Trung, Tiền, Hậu, Tả, Hữu tập trung dưới quyền chỉ huy của Thiên hạ nguyên súy, Hoàng Giang chánh thống, chánh giá đại nhân Lê Duy Cự, quốc sư Cao Bá Quát và các tướng lĩnh quan chức đủ các cấp.

    Từ vùng bán sơn địa này, nghĩa quân rẽ cây rừng tràn về đồng bằng theo hai ngả. Đinh Công Mỹ, Bạch Công Trân suất đội trong cơ Sơn Dũng tỉnh Sơn Tây đã theo về với dân nghèo, dẫn đầu một đoàn quân tiến về chiếm huyện lỵ Ứng Hòa. Cùng lúc đó, ngọn cờ đại màu vàng do Lê Duy Cự, Cao Bá Quát, Nguyễn Kim Thanh chỉ về phía huyện Yên Sơn reo phần phật.

    Từ mấy hôm trước, nhân dân khắp vùng đã truyền cho nhau tờ hịch kể tội triều đình, hô hào mọi người nổi dậy. Nghe lời hịch mà hả lòng hả dạ. Ai nấy đều nghe ngóng, mong mỏi chờ đợi. Thì đây, cờ nghĩa đã giương cao, nghĩa quân đã nổi dậy. Người ta rủ nhau vác gậy gộc, giáo mác đi theo đoàn quân.

    Gió rét. Cái rét buốt cay nghiệt như cắt da thịt, không cản nổi những người nghèo khổ phong phanh manh áo mỏng lên đường. Đã hàng năm trời đói ròng rã, chỉ ăn rau má củ rừng, lại bị sách nhiễu đủ đường, dân nghèo không thể ngồi yên đợi chết. Người ta phải vùng dậy quật ngã bè lũ vua quan, giành lấy cơm áo để mà sống chứ! Nhằm về phía ngọn cờ vàng, làng xóm lũ lượt kéo nhau đi theo đoàn quân mỗi lúc một đông. Tất cả đang ào ạt tiến lên như vũ bão.

    Đó là cánh quân do Thiên hạ nguyên súy Lê Duy Cự, quốc sư Cao Bá Quát, thượng thư Nguyễn Kim Thanh, phó vệ úy Nguyễn Văn Thực đang tiến về đánh chiếm huyện lỵ Yên Sơn.

    Ngồi trên kiệu, Cao Bá Quát phất cờ lệnh. Đoàn quân dài dằn dặt chuyển mình như rồng uốn khúc. Cao Bá Quát đưa mắt nhìn chung quanh. Làng mạc, đầm ruộng hiện ra trước mắt Cao như một bức tranh tuyệt đẹp. Núi non dăng hàng, viền xanh thẫm dưới chân trời trắng dục. Cao Bá Quát mơ đến ngày mai, sau khi quét sạch lũ vua quan tàn bạo, thanh gươm Cao đang đeo bên mình chắc sẽ thành vô dụng. Lúc ấy Cao trở về cầm bút để viết nên những bài thơ ca ngợi đất nước gấm vóc với cuộc sống thanh bình.

    Tiếng reo hò của đoàn quân gọi ông thánh thơ Cao Bá Quát trở về với nhiệm vụ cầm quân dấy nghĩa.

    Cao Bá Quát phất cờ lệnh.

    Đoàn quân dấy nghĩa tràn đi như gió lướt. Trước sức mạnh của nghĩa quân, tri huyện Yên Sơn bỏ huyện đường chạy trốn. Nghe tin Yên Sơn bị mất, tổng đốc Nguyễn Bá Nghi điều gấp quân về chiếm lại. Quốc sư Cao Bá Quát bàn với Thiên hạ nguyên súy Lê Duy Cự tiến lên chiếm huyện lỵ Vĩnh Tường và bao vây triệt hạ trấn thành Tam Dương.

    Ngọn cờ màu vàng hiên ngang cắm trên huyện đường Vĩnh Tường, vẫy gọi dân nghèo tứ xứ nổi dậy. Nhân dân ở hầu khắp các tỉnh Bắc Hà nô nức hướng về ngọn cờ nghĩa. Triều đình Huế càng bối rối hoảng sợ.

    Nghe tin triều đình thêm quân ra Bắc, quốc sư Cao Bá Quát nói với Lê Duy Cự:

    - Thưa Nguyên súy, Tự Đức điều thêm quân ở Nghệ An, Thanh Hóa ra đóng giữ các vùng Hà Nội, Ninh Bình, Sơn Tây. Vẫn còn sợ, hắn lại điều tên chưởng vệ Nguyễn Trọng Thao đang giữ chức đề đốc kinh đô ra làm đề đốc Hà Nội để đối phó với nghĩa quân của chúng ta. Nếu chủ có lũ chuột nhắt Nguyễn Bá Nghi, Lâm Duy Hiệp, Nguyễn Quốc Hoan thì Hà Nội, Bắc Ninh, Sơn Tây đã về tay chúng ta từ lâu rồi.

    Lê Duy Cự bồn chồn hỏi lại:

    - Một khi quân của triều đình kéo đến đây thì ta đối phó bằng cách nào?

    Cao Bá Quát khẳng khái đáp:

    - Chỉ có đánh; nếu bất lợi, ta rút về Yên Sơn liên lạc với đạo quân thứ nhất tiến về chiếm trấn Bắc Thành.

    Trong khi hai người đang nói chuyện, thì một nghĩa quân tiến vào phủ đường nộp tờ cáo của triều đình. Xem xong, Lê Duy Cự trao cho quốc sư. Đọc tờ cáo, Cao Bá Quát cười khẩy.

    - Cái đầu của Cao này, Tự Đức đã vứt đi, nay hắn lại phải tìm mua với giá đắt đến thế này cơ à?

    Cao vui cười hỏi người nghĩa quân:

    - Các ngươi có đem nộp ta để lĩnh thưởng của Tự Đức không?

    Bị hỏi đột ngột, người nghĩa quân kính cẩn sợ hãi đáp:

    - Thưa ngài, dân nghèo chúng tôi thề cùng mất còn với nguyên súy và quốc sư.

    Lê Duy Cự, Cao Bá Quát cùng cười.

    Hàng tháng trời trên miền đất Vĩnh Tường, nghĩa quân đã làm cho quân thù phải khiếp sợ. Được thêm năm trăm lính từ Thanh Hóa kéo ra hỗ trợ, quan quân của tỉnh thành Sơn Tây tiến hành vây chặt nghĩa quân ngày càng ráo riết. Để tránh mũi nhọn ở đây, quốc sư Cao Bá Quát điều quân rút về Yên Sơn.

    Dẫn đầu đoàn quân, trước mặt Cao Bá Quát, ngọn cờ đại mà vàng tung bay trước gió. Hai hàng chữ do Cao viết đang chập chờn như đôi cánh chim bay lượn trên lưng trời. Tâm sự và ý chí của Cao đã gởi gắm cả vào lá cờ đại ấy.

    Hàng mấy tháng trời lá cờ đại dẫn đoàn quân áo vải tung hoành trên một vùng đất rộng lớn thuộc các tỉnh Sơn Tây, Hà Nội, buộc vua quan nhà Nguyễn phải giật mình run sợ...

    Cho đến một hôm, giữa lúc sự nghiệp còn dang dở, Cao Bá Quát đã hy sinh dưới ngọn cờ này trong một cuộc giáp mặt với quân thù trên mảnh đất Yên Sơn để lại cho người đương thời và các thế hệ mai sau một niềm thương tiếc và kính phục vô hạn.

    ____________________


    free sms
    rent a villa in patmos chora


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group