Nguyễn Biểu

  • tranthienthanh

    March 29th 2011, 9:32 am
  • Nguyễn Biểu

    Cuối mùa hạ. Gió đông nam từ biển Đông quạt mát rượi vào đất liền cũng không xua hết cái nóng chiều hừng hực. Hành tung của Trần Trùng Quang im lìm náo trong một vùng gần như hoang vắng. Từ Nghệ An rút vào đây, vua Trần hy vọng có thể nhóm lại lực lượng, rồi từ căn cứ cực nam của đất nước, tung quân đi dẹp bọn xâm lượt nhà Minh, rửa hận cho thần dân, dựng lại cơ nghiệp nhà Trần.

    Chiếm giữ được Nghệ An, quân số trong tay còn độ bằng, bốn phần mười, lực lượng khó khăn, cho nên trước sức tấn công ồ ạt của quân xâm lược do Trương Phụ và Mộc Thạch chỉ huy, nhà vua đã cùng bầy tôi chạy vào vùng đất Hóa Châu xa xôi này. Lao đao lận đận nhiều phen vì sự nghiệp chống giặc, trong lúc tình thế lại ngày càng bất lợi, hôm nay nhà vua mở triều hội bất thường để bàn việc hệ trọng. Bên trong hoàng cung Trần Trùng Quang ngồi trên sập. Trước mắt nhà vua là quần thần. Trong đám bầy tôi trung thành của nhà vua người ta thấy mặt Thái bảo Nguyễn Cảnh Dị, Thái phó Nguyễn Súy, Đồng bình chưởng sư Đặng Dung, Điện tiền thị ngự sự Nguyễn Biểu...Nhà vua nhìn quần thần ngặp ngừng. Sau một hồi đắn đo, vua Trần Trùng Quang dè dặt:

    - Vì nạn nước, các người cùng ta sống chết có nhau. Khi lênh đênh trên sóng biển, lúc lặn lội núi rừng, ai cũng một lòng lo đáp đền nợ nước. Vua Minh quỷ quyệt, bề ngoài mượn tiếng diệt nhà Hồ lặp lại nhà Trần, còn hạ chiếu khuyên răng, vỗ về, mua chuộc lòng người nhưng bên trong thì tìm cách diệt con cháu nhà Trần, tàn sát những ai chống lại chúng, mưu toan cướp nước ta. Cũng có kẻ cam tâm làm tôi tớ cho giặc, mong có dịp trả thù. Trong tình thế ấy mà chúng ta bây giờ thì quân ít lương thực không đủ. Nhân Minh Thành tổ vẫn rêu rao tìm kiếm con cháu nhà Trần, ta muốn tương kế tựu kế, dâng biếu cầu phong để hòa hoãng tình thế, có thời gian cũng cố lực lượng đối phó với giặc?

    Tiếng nói của nhà vua trầm trầm, nhỏ dần rồi dừng lại. Các bầy tôi cúi đầu, yên lặng. Không phải vì sợ gặp giặc, mà ai cũng nghĩ đến quyết định của nhà vua liệu có xoay chuyển được tình thế hay không?

    Trong lúc các tướng lĩnh đang suy tính đến một cuộc chiến đấu sống mái nay mai sẽ diễn ra trên vùng đất Hóa Châu này, thì một văn quan gầy gò mảnh khảnh, tóc đã lóm đóm bạc, ngửng đầu chắp tay chậm rãi:

    - Muôn tâu hạ thần xin được đem ba tất lưỡi để báo đền nợ nước.

    Mọi con mắt điều dồn về con người có giọng nói sang sảng, chậm rải và chắc nịch. Đó là Điện tiền thị ngự sử Nguyễn Biểu, nổi tiếng là người cương trực, đã đỗ thái học sinh, quê ở Bình Hồ, huyện Chi La, phủ Nghệ An. Con người ấy đã từng có mặt ở triều đình nhà Hậu Trần ngay từ ngày đầu của công việc chống giặc...

    Bên trong hành cung vừa mới dựng vội, mọi người chìm trong suy tư, như nắng chiều đang đổ xuống miền biên viễn xa xôi cằn cỏi.

    Sau mấy ngày dừng lại ở quê nhà để bái yết tổ tiên, Nguyễn Biểu dẫn đoàn tùy tòng rời làng Bình Hồ từ sáng sớm.

    Ngồi trên lưng ngựa, Nguyễn Biểu đưa mắt nhìn về hướng đông nam Hóa Châu thăm thẳm. Nguyễn Biểu thầm nghĩ không biết lúc này nhà vua và triều đình đang làm gì? Chắc chắn mọi người đang mong đợi tin của sứ giả. Lúc chia tay nhà vua, Nguyễn Biểu đã gởi gấm nỗi lòng của mình trong bài thơ họa:

    "Tiếng ngọc từ vân trước bệ hoa
    Ngóng tai đồng vọng thuở âu ca
    Đường mây vô kỷ lần lần trải
    Ải tuyết cờ mau thức thức pha
    Há một cung tên lần chí trẻ
    Bội mười vàng sắt đúc gan già
    Hổ mình vả thiếu tài chuyển đổi
    Dịch lộ ba ngàn dám quàn xa".

    Lúc này, mỗi bước một xa quê hương, Nguyễn Biểu cảm thấy lòng nặng trĩu. Trên đất Chi La này, năm năm về trước, Nguyễn Biểu đã cùng các chiến hữu tôn nhà vua lên ngôi và tự nguyện đứng dưới cờ dấy nghiệp cứu nước. Cũng trên dải đất này, hôm nay cảnh vật đã trở nên điêu tàn, xơ xác dưới lưỡi gươm của giặc. Ôi! Quê hương đất nước! Vì quê hương đất nước, Nguyễn Biểu xin hiến dâng cả cuộc đời. Và giờ đây Nguyễn Biểu đang ung dung đi vào thành giặc mà không phải không biết rằng mình đang nhận một trọng trách.

    Nguyễn Biểu nhớ rất rõ mấy năm trước, nhà vua đã từng sai Hành khiển Nguyễn Nhật Tư và thẩm hình Lê Ngân sang nhà Minh, hai người này đã bị giặc hạ ngục rồi giết chết. Năm Tân Mão (1411) lại đến lượt Hành khiển Hồ Nghiện Thần và Thăm hình Bùi Nội Ngôn sang Yên Kinh Hai người này về nước, nhưng vì hèn kém không giữ được quốc thể nên Hồ Nghiện Thần đã bị chết nhục. Phen này đến lượt mình. Trong lúc giặc như hổ đói, Nguyễn Biểu dùng lời nói để cản thế giặc, để nhà vua và triều đình có thời gian cũng cố lực lượng, đủ sức quét chúng ra khỏi bờ cõi.

    Sự thể rồi sẽ ra sao, chưa biết được. Nhưng Nguyễn Biểu tin chắc rằng dãy Hùng Lĩnh kia, dòng sông Lam cùng với dải này sẽ mãi là con cháu mai sau.

    Mãi suy nghĩ, Nguyễn Biểu không để ý đến điếm canh của giặc trên bờ sông Lam đã hiện ra trước mắt.

    Tên lính canh thấy đoàn người nghi vệ đường hoàng ung dung đi trên đường cái cũng lấy làm lạ. Không dám thét lác, hắn cắp giáo đứng hỏi:

    - Các ngài ở đâu đến?


    Nguyễn Biểu dừng ngựa. Viên quan tùy tùng đứng lên quát bảo:

    - Sứ giả của nhà vua đến Thành Sơn yết kiến Trương tổng binh.

    Đoàn sứ giả thúc ngựa lao xuống bãi cát trãi dài im lìm dưới nắng sớm. Tên lính ngơ ngác nhìn theo. Nhe nói đến nhà vua lại thấy nói gặp Trương Phụ, hắn rụt đầu, không dám đòi tiền mãi lộ như hắn vẫn thường làm đối với khách qua đường.

    Đứng trên đò, Nguyễn Biểu nhìn dãy thành lũy đá hiện ra ngoằn ngoèo trên núi. Đường ngang ngõ dọc vùng này đối với Nguyễn Biểu không xa lạ.

    Trong những năm tháng lăn lộn vì việc nước, Nguyễn Biểu đã từng đặt chân khắp vùng đồi núi này. Hai tháng trước đây, vùng núi non thấp nhỏ này còn là nơi đồn trú của quân triều đình, bây giờ đã trở thành sào nguyệt của giặc. Từ khi chiếm được một phần đất Nghệ An Trương Phụ đã biến nơi đây thành dinh lũy của chúng. Hằng ngày chúng cho quân lính đi lùng sục, bắt nhân dân quanh vùng nộp người của và gây ra bao nhiêu tai họa, tang tóc. Nhìn bầy người đói rách đang cật sức khuân đá đào hào ở lưng núi dưới roi vọt của giặc, Nguyễn Biểu rất đau lòng. Nghẹn ngào và câm giận, Nguyễn Biểu ước chi trong tay có binh hùng tướng mạnh quét sạch lũ giặc tàn bạo để rửa nhục cho giống nòi. Nhưng lúc này Nguyễn Biểu chỉ đến đây với đoàn tùy tùng ít ỏi, không có vũ khí mà chỉ có một tờ biểu cầu phong và mấy hòm cóng phẩm!

    Sang sông, Nguyễn Biểu lặng lẽ dẫn đoàn tùy tùng về phía cổng thành. Từng toán giặc nghênh ngang đi trên đường ngơ ngác nhìn đoàn người lạ mặt. Chúng không biết rằng đây là những người thề không đội trời chung với chúng, nhưng vì việc nước phải dấn thân vào sào huyệt của giặc. Vượt qua đoạn đường dóc thoai thoải, Nguyễn Biểu dừng ngựa. Đoàn tùy tùng chờ lệnh. Suốt dọc đường từ Chi La đến đây, bây giờ đứng trước thành giặc họ mới thấy quan Ngự họ Nguyễn lên tiếng. Đưa mắt nhìn về phía cổng thành, vẫn giọng nói chắc nịch và chậm rãi, Nguyễn Biểu nói với mọi người:

    - Đã đến thành giặc, các người phải cẩn thận, chỉ làm việc theo lệnh của ta. Phải tỏ cho giặc biết rằng ta không sợ chúng, kẻ nào hèn nhát ta sẽ nghiêm trị.

    Gần gũi quan Ngự sử, lại cùng đi với nhau hàng nữa tháng ròng, mọi người càng hiểu thêm thêm vị sứ giả của nhà vua. Quan Ngự sử ít nói, nhưng mỏi khi đã lên tiêng về việc gì thì thái độ rất kiên quyết đến nhà vua cũng phải kính nể ông. Cũng chính vì thế, nhà vua đã cử ông đi thương thuyết với tướng giặc. Nhìn đôi mắt sáng ngư sao, nổi bật trên khuôn mặt gầy gầy khổ của quan Ngự sử, mọi người cuối đầu vâng lệnh.

    Ngồi đợi lâu trong quán địch, Nguyễn Biểu sốt ruột đứng dậy bước ra hàng hiên, nhìn theo con đường đá rộng dẫn thẳng vào trại trung quân. Trên khu đất rộng rãi nhưng cằn cõi nhiều dãy nhà thấp lè tè tụ thành từng khóm. Nổi bật lên là hai ngôi nhà đồ sộ mái cong, ngói đỏ tươi. Nguyễn Biểu đoán đây là hành dinh của Trương Phụ. Thấp thoáng ở đằng xa, từng đoạn thành đá màu xam xám nối nhau vây bọc. Cả tòa thành vừa mới dựng, mặt đất còn nham nhở, ngổn ngang gạch đá, đang quằn quại dưới nắng hè gay gắt. Từng bầy lính giặc mặt đỏ gay, gào thét nối nhau kéo ra cổng thành. Nguyễn Biểu châu mày trở về chỗ củ. Một viên ngụy quan quần áo chỉnh tề bước vào vái chào Nguyễn Biểu:

    - Kính thưa ngài, quan Tổng binh xin mời ngài vào yết kiến.

    Không trả lời, Nguyễn Biểu đứng dậy. Như đội quân ra trận, đoàn tùy tòng răm rắp bước theo. Tên ngụy quan ngăn lại:

    - Không được, tôi được lệnh mời một mình ngày.

    Nguyễn Biểu quắc mắt:

    - Sao? Ngươi có mang được cho ta những hòm phẩm vật này không?

    Tên ngụy quan cúi đầu. Nguyễn Biểu chọn hai người đi theo mình. Những người ở lại nhìn theo quan Ngự sử, lo ngại.

    Không đợi tên ngụy quan dẫn đường, Nguyễn Biểu sửa lại khăn áo, khoan thai đi thẳng vào hành dinh của Trương Phụ. Đi giữa hai hàng lính cắp gươm đứng thị uy, Nguyễn Biểu bước lên thềm. Trong dinh, Trương Phụ ngồi ngả mình trên kỷ, đặt chân trên vai hai nữ tỳ quỳ lom khom. Bộ võ phục dát đồng làm cho thân hình của hắn nhìn bề ngoài như pho tượng. Nguyễn Biểu đến trước mặt Trương Phụ, đứng thẳng người, cất giọng sang sảng:

    Điện tiền thị Ngự Sử Nguyễn Biểu tôi kính chào ngài tổng binh.

    Trương Phụ không động đậy. Hắn đưa mắt liếc nhìn viên ngụy quan đang chắp tay đứng hầu phía bên tả. Tên ngụy quan vội lên tiếng:

    - Thưa ngài, yết kiến quan tổng binh mà không quỳ lạy, tôi e ngài làm cho quan nổi giận.

    Lúc này Nguyễn Biểu mới nhìn kỹ mặt tên ngụy quan. Chẳng phải là ai xa lạ, chính là Phan Liêu, con Phan Quý Hựu. Thái Bảo của nhà Trần đã đầu hàng giặc. Nay Quý Hựu chết, Phan Liêu được Trương Phụ cho thay cha giữ chức tri phủ Nghệ An. Nhận ra mặt tên bán nước, Nguyễn Biểu quắc mắt:

    - Thì ra ông cũng có mặt ở đây à?

    Giá như lúc khác Nguyễn Biểu đã vạch mặt bán nước của hắn. Nhưng lúc này, đến đây để đối mặt với Trương Phụ, Nguyễn Biểu nén giận nói cho hắn biết:

    - Trương tổng binh là bầy tôi của vua Phương Bắc, ta là bầy tôi của vua Phương Nam. Cùng là bầy tôi cả, cớ sao ta lại phải quỳ lạy?

    Nói xong Nguyễn Biểu đưa mắt cho hai người tùy tòng đem hòm lễ vật và tờ biểu cuốn trong hộp sơn son thiếp vàng ra mắt Trương Phụ rồi nói thẳng với tướng giặc:

    - Thưa ngài, tôi được lệnh của nhà vua đến dâng ngài chút phẩm vật và nhờ ngài chuyển đệ đến Minh Thành tổ tờ biểu cầu phong của vua nước tôi.

    Trương Phụ trừng mắt nhìn. Nguyễn Biểu bước lại trước kỷ phía bên phải án thư, ngồi thẳng người, tì tay trên thành ghế.

    Như một con hổ đói, Trương Phụ nổi giận, đạp chân chồm dậy. Hai người nữ tỳ ngã choài dưới chân hắn lóp ngóp bò dậy, lặng lẽ lùi vào một góc nhà. Trương Phụ quát hỏi:

    - Vua nhà ngươi là ai?

    - Thưa ngài, ngài lại không biết vua Trần Quý Khoáng, cháu Trần Nghệ Tông, lên ngôi từ năm Kỷ Sửu hiệu là Trùng Quang. Vua nước tôi đã từng gặp ngài và quân tướng của ngài ở Bình Than tháng bảy năm Kỷ Sửu, rồi lại gặp ở Hồng Châu, Bình Than tháng năm năm Canh Dần, ở Hải Đông, Vân Đồn tháng tư năm Quý Tị và mấy tháng trước đây ở trên đất Nghệ An này!

    Tên tướng giặc hất đầu, phá lên cười man rợ. Lông mày dựng ngược, Trương Phụ tiến lại hỏi Nguyễn Biểu:

    - Vua nhà ngươi ở đâu, sao không đem đầu đến nộp mạng?

    Thấy thái độ hách dịch hùng hổ của tướng giặc, hai lực sĩ tùy tòng xích lại đứng phía sau quan Ngự sử. Nguyễn Biểu quay lại khoát tay:

    - Ta cho các ngươi lui ra, đợi ở quán dịch. Rồi bình thản trả lời Trương Phụ:

    - Vua nước tôi đang ở Hóa Châu, vì bận việc nước nên mới sai tôi đến gặp ngài.

    Trương Phụ gật đầu, hắn cầm ngang thanh kiếm, chỉ vào các binh khí treo hai bên tường, nói với Nguyễn Biểu:

    - Ta sẽ dùng các vật này để nói chuyện với vua tôi nhà ngươi.


    Nguyễn Biểu im lặng. Binh khí sáng lòe, thái độ hung hãn của tên tướng giặc có gì lạ đối với Nguyễn Biểu, đáng lạ là những hình trang trí kỳ quái trên tường. Nhìn kỹ, thì ra những hình ấy sắp bằng tai người!. Khi nhận ra điều đó, Nguyễn Biểu trừng mắt nhìn Trương Phụ. Trước mặt Nguyễn Biểu, tên tướng giặc không còn là người nữa. Đúng là một con ác thú. Trương Phụ tưởng dùng những đồ binh khí, những vòng tai người có thể làm cho sứ giả vua Trần run sợ. Nhưng Nguyễn Biểu vẫn không thay đổi sắc mặt. Đáp lại thái độ hống hách của tướng giặc, Nguyễn Biểu ung dung chậm rãi:

    - Thưa ngài năm Đinh Hợi, ngài vâng lệnh vua sang nước tôi đánh họ Hồ, tìm lập con cháu nhà Trần. Ấy thế mà vua Trần Giản Định phải vào sinh ra tử, cuối cùng bị các ngài bắt giải về Kim Lăng. Nay đến lượt vua Trần Trùng Quang. Vâng lời dạy của thiên triều, tôi đến đây dâng biểu cầu phong, lại thấy ngài đem đồ binh khí ra để dọa nạt. Tôi nghĩ binh khí là để nói chuyện ở chiến trường, đâu có phải là thứ dùng trong thù tiếp. Tôi không biết ở nước ngài có còn thứ lễ nhạc nào hay hơn thế nữa không? Chứ ở nước Nam tôi không thấy có bao giờ như vậy. Còn việc giết người cắt tai làm trò chơi kia, ở nước tôi lại càng không bao giờ có. Bây giờ tôi mới thấy ngài đem cái văn hiến ấy sang nước tôi là một.

    Nghe lời nói của Nguyễn Biểu, Trương Phụ gật gù. Trước thái độ đường hoàng chững chạc và lý lẽ đanh thép của một người có chính nghĩa, tên tướng giặc tự thấy yếu thế. Nhưng rồi bản chất tàn bạo của Trương Phụ lại lộ nguyên hình trong chuỗi cười man rợ hắt ra từ cái miệng tối om nấp sau chòm râu lỏm chỏm của hắn. Ra lệnh cho Phan Liêu tiếp sứ giả, Trương Phụ lùi vào tư thất với những ý đồ đen tối.

    Khi Trương Phụ quay đi cũng là lúc Nguyễn Biểu rũ áo đứng dậy bước ra hàng hiên. Trước mắt Nguyễn Biểu dòng sông Lam xanh như con rồng khổng lồ trườn qua đồng ruộng dưới chân thành. Cảnh đẹp của quê hương đối với Nguyễn Biểu lúc này lại càng đẹp đẽ hơn gấp bội. Một cảm giác gần gũi, thân thượng và êm đềm. Nguyễn Biểu ngắm nhìn quê hương không biết chán! Trong khi đó, ở trong dinh, Phan Liêu một mình trơ trọi. Hắn thừa hiểu rằng mình đã bị Nguyễn Biểu khinh bỉ và căm ghét đến chừng nào. Những ý nghĩ ám muội về vị sứ giả của triều Trần đang luẩn quẩn trong đầu óc của Phan Liêu. Cái tự ái của hạng người vô sĩ sẽ đẩy hắn rút sâu vào con đường tội lỗi...

    Cho đến đúng ngọ, tổng binh Trương Phụ thiết tiệc sứ giả của nhà Trần.

    Trong căn phòng trang trí lộng lẫy, một mâm cỗ đặt trên chiếc sập gụ màu nâu sẫm. Chiếc lồng bàn đan bằng sợi ngà trắng toát chụp trên mâm đồng trạm trổ tinh vi càng làm cho mâm tiệc thêm vẻ thanh lịch. Cạnh mâm, một nậm rượu và cái chén đặt ngay ngắn trên khay khảm xà cừ. Đây là bữa tiệc của Trương Phụ dành cho vị khách quý.

    Khi người lính hầu nhấc chiếc lồng bàn ra thì cũng là lúc Nguyễn Biểu sững sốt: Mâm cổ quái đảng và ghê tởm: Một cái đầu người!

    Cái đầu của một người bất hạnh nào đó đã được luộc chín, hai hàm răng nhe ra như trút oán hờn vào kẻ thù. Nguyễn Biểu không ngờ Trương Phụ dã tâm đến mức gây ra trò hung bạo nhường ấy. Đây là cái đầu của ai vậy? Và tại sao Trương Phụ lại giở trò này? để ứng phó với hành động man rợ quỷ quyệt của tướng giặc, Nguyễn Biểu không có thì giờ suy nghĩ nhiều. Những chuyện đối đáp thử thách với sứ giả xưa nay có nhiều, Nguyễn Biểu đã từng nghe nói hoặc đọc trong sách vở. Nhưng đến mức này thì Nguyễn Biểu chưa hề thấy. Chắc chắn rằng đây là đầu một người dân lành đã bị Trương Phụ bắt và hành tội. Không ăn thì tên tướng giặc cho là sứ giả hèn nhát, còn ăn thì ghê tởm mà lại ăn thịt đồng bào của mình!

    Không chút do dự, Nguyễn Biểu ngồi xuống sập, ung dung rót rượu. Sau một tợp rượu khai vị, Nguyễn Biểu cầm đũa ngà moi đôi mắt chấm vào dấm muối nuốt một cách ngon lành. Sau khi cạn chén rượu, Nguyễn Biểu cười kiêu hãnh nói một mình như nhắn bảo cho Trương Phụ biết:

    - Không mấy khi người Nam được ăn đầu người Bắc.

    Khi rượu đã cạn, Nguyễn Biểu rung đùi ngâm bài thơ tức sự:

    Ngọc thiệt, trân tu đã đủ mùi
    Gia hào thêm có cỗ đầu người.
    Nem chuông, chả phượng còn thua béo.
    Thịt gụ, gan lân cũng kém tươi.
    Cá lối lộc minh so cũng một
    Vật bày thỏ thủ bội hơn mười
    Kìa kìa ngon ngọt tày vai lợn.
    Tráng sĩ như phàn tiếng để đời.

    Đọc xong bài thơ, Nguyễn Biểu ung dung buông đũa đứng dậy.

    Khi nghe quân hầu thuật lại về Nguyễn Biểu với mâm cỗ đầu người, Trương Phụ tròn xoe mắt kinh ngạc. Trong cái nghề làm tướng cầm quân đánh đông dẹp bắc của Trương Phụ, chưa bao giờ hắn gặp một người như Nguyễn Biểu. Tự cho mình là anh hùng hảo hán, tỏ ra mình cũng biết trọng những kẻ có tài năng, khí phách, Trương Phụ lấy lễ tiếp đãi Nguyễn Biểu rồi tiễn chân sứ giả ra về.

    Ngồi ngả người trên kỷ, tên tướng giặc lấy làm khoái chí vì hành động "Nghĩa khí" của hắn. Rồi đây hắn sẽ làm cỏ Hóa Châu, cả triều đình nhà Trần sẽ không thoát khỏi tay hắn. Ấy thế mà hôm nay Trương Phụ lại tha sứ giả của Trần Trùng Quang.

    Thấy Trương Phụ tha Nguyễn Biểu, Phan Liêu dè dặt tâu với chủ:

    - Kính thưa ngài, Nguyễn Biểu là bậc hào kiệt của nước Nam...

    Trương Phụ hiểu ý, xua tay:

    - Hóa Châu rồi sẽ nằm trong tay ta. Bắt Nguyễn Biểu lúc nào mà chẳng được.

    Thấy Trương Phụ vẫn quyết tha Nguyễn Biểu, Phan Liêu tỏ nỗi lo lắng của mình:

    - Nhưng thưa Tổng binh, ngài muốn lấy nước Nam mà tha người ấy về thì làm sao mà xong việc được.

    Lời ton hót của Phan Liêu đã khiến cho Trương Phụ phải suy nghĩ. Từ mùa thu năm Bính Tuất (1406) Trương Phụ đã có mặt ở nước Nam này; lúc đó hắn còn giữ chức phó tướng. Một năm sau năm Đinh Hợi (1407) sau khi diệt nhà Hồ, Đổi tên nước ta thành Giao Chỉ, chia phủ huyện, đặt quan cai trị, Trương Phụ về nước dâng công. Cuối năm Mậu Tý (1408), Trần Giản Định nổi dậy đánh phá quân của Mộc Thạnh ở Bô Cô. Lần thứ hai vào năm Kỷ Sửu (1409) Trương Phụ lại được cử sang nước Nam giữ chức Tổng binh. Đến nay đã hơn bốn năm hắn vẫn chưa đánh chiếm được nước Nam. Các châu phủ đều có người nổi dậy, triều đình vua Trần Trùng Quang còn giữ Hóa Châu. Lần trước chỉ một năm đã nên công, lần này hơn bốn năm rồi chưa xong việc...

    Cái mặt nạ giả nhân giả nghĩa của Trương Phụ sớm bung ra. Con quỷ dữ hiện nguyên hình. Trương Phụ hạ lệnh cho quân lính đuổi theo đoàn sứ giả.

    Mỗi bước một xa thành giặc, Nguyễn Biểu dẫn đoàn tùy tòng trở về theo đường cũ. Ngoài xa, dòng sông Lam trong xanh lăn tăn gợn nắng chiều như một dải lụa đẹp trải rộng giữa hai bờ cát trắng. Ngay kề chân núi, con hói sâu từ trong dãy Hùng Sơn chạy vòng vèo như con trăn khổng lồ vục đầu vào dòng sông Lam trong vắt. Chiếc cầu gỗ bạc màu bắc ngang hói đứng cheo leo soi bóng trên mặt nước. Ngồi trên yên ngựa Nguyễn Biểu vẫn lặïng lẽ. Giá như lúc khác thì Nguyễn Biểu đã dừng ngựa ngắm cảnh đẹp của quê hương và gửi gắm tâm sự của mình trong mấy vần thơ. Nhưng lúc này không thể được. Nguyễn Biểu nghĩ về thành bại chuyến đi của mình. Trương Phụ không trả lời có nhận chuyển biểu cầu phong hay không. Cứ như thái độ đốùi xử của tên tướng giặc thì công việc khó thành đạt. Tình thế vẫn không thay đổi...

    Chiếc cầu gỗ rung rinh. Đoàn sứ giả chưa qua khỏi cầu thì đã nghe tiếng vó ngựa rầm rập từ phía sau. Một toán kỵ binh giặc ập đến. Theo lệnh của Trương Phụ chúng đòi Nguyễn Biểu quay lại. Đến nông nỗi này, Nguyễn Biểu biết khó thoát khỏi tay giặc. Nguyễn Biểu xuống ngựa quay về hướng đông nam, nhìn về Hóa Châu sụp lạy rồi sai người lấy bút mực. Cái nóng hừng hực của nắng chiều đã làm cho hàng chữ đen nhánh vừa viết: "Thất nguyệt, sợ nhất nhật, Nguyễn Biểu tử" Khô đi rất nhanh trên cột cầu bằng gỗ màu bạc thếch. Ngắm lại dòng chữ vừa viết lần cuối cùng, Nguyễn Biểu ung dung lên ngựa. Trước khi thúc ngựa, vị sứ giả của triều Trần dặn đoàn tùy tòng:

    - Các ngươi trở về Hóa Châu tâu với nhà vua hãy lo luyện quân để cự giặc.

    Không nói với lũ giặc một nữa lời, Nguyễn Biểu giục ngựa vượt lên hàng đầu, trở lại thành giặc.

    Vừa nghe tin quân lính đã điệu Nguyễn Biểu về, Trương Phụ đem theo một bầy dũng sĩ mang gươm hộ vệ, bước ra thềm dinh đứng đợi sẵn. Tên tướng giặc định ngay từ đầu đã dùng quyền uy bắt Nguyễn Biểu phải khuất phục.

    Và từ xa, con người gầy gò mảnh dẻ ấy đang cất cao đầu đi giữa hai hàng giặc dữ cắp giáo đi kèm, đến gần dinh Tổng binh, giặc bắt Nguyễn Biểu phải quỳ lạy Trương Phụ. Nguyễn Biểu hất tay, bước vội tới, chỉ vào mặt Trương Phụ quát mắng:

    - "Trong bụng toan tính việc đánh chiếm nước người ta, ngoài mặt lại phô trương là quân nhân nghĩa, trước nói lập con cháu họ Trần, bây giờ lại đặt quận huyện, không những cướp bóc của cải lại còn giết hại nhân dân, bọn mày thật là lũ giặc bạo ngược".

    Giọng nói sang sảng của Nguyễn Biểu lúc này không chậm rãi như thường lệ mà sôi sục dồ dập như bão táp. Đó là tiếng nói căm thù của trái im yêu nước nồng nàn, bất khuất trước quân thù, thà chết chứ không chịu hàng giặc. Cùng với cái nhìn nẩy lửa, mỗi tiếng nói của Nguyễn Biểu như mũi dao phóng vào tim gan tên tướng giặc. Chờ đợi ở sứ giả triều Trần những lời van xin để giữ mạng, Trương Phụ không ngờ Nguyễn Biểu lại kiên cường, vạch trần tâm địa tàn bạo của hắn đến như thế. Như con chim bị trúng tên, Trương Phụ giật nảy mình vì căm giận và nhục nhã. Hắn nghe như từ miệng con người đang một mình đối mặt với hắn vang lên tiếng gầm thét của cả một dân tộc. Bất lực trong việc khuất phục Nguyễn Biểu bằng lời nói và thái độ cư xử, Trương Phụ dùng đến sức mạnh của tên tướng giặc bạo tàn. Hắn ra lệnh chém đầu sứ giả. Đáp lại lệnh của tên tướng giặc là một chuỗi cười vang của Nguyễn Biểu cùng với những lời thét mắng sỉ vả vào mặt Trương Phụ.

    Trên con đường đi tới chân núi Thành Sơn để chịu chết, Nguyễn Biểu vẫn ung dung bình thản. Ông bình thản vì sự nghiệp giữ nước, vì thà chết chứ không bao giờ chịu quỳ gối trước giặc ngoại xâm.

    Trong khi Nguyễn Biểu cất cao đầu đi đến nơi hành hình thì Trương Phụ quay vào dinh Tổng binh, hắn cúi đầu sợ hãi. Nguyễn Biểu đã bị điệu ra ngoài thành, những tiếng quát tháo chửi mắng củacon người ấy đối với tên tướng giặc như còn vọng lại. Trương Phụ thầm nghĩ: Cả dân nước Nam này ai cũng như Nguyễn Biểu thì làm sao có thể dẹp nổi?

    Chỉ sau đó năm năm thôi, vào năm Mậu Tuất (1418) cả nước Nam này đã vùng dậy chiến đấu trong mười năm trời, đánh tan đội quân xâm lược của nhà Minh, lật đổ toàn bộ ách thống trị của chúng mà chính bản thân Trương Phụ đã góp phần đặt lên đầu cả dân tộc nhỏ bé ở Phương nam này. Lúc bấy giờ Nguyễn Biểu không còn nữa, nhưng khí phách anh hùng và tinh thần xả thân vì nước của ông được cả dân tộc kế tục để làm tròn sự nghiệp giữ nước mà Nguyễn Biểu còn bỏ dở.

    Cùng với núi Thành Sơn, với dòng sông Lam, Nguyễn Biểu còn mãi mãi được các thế hệ mai sau ngợi ca cùng câu đối ghi ở đền Nghĩa Liệt:

    "Tồn Trần kính tiết Thành sơn thạch
    Mạ tặc dư thanh Lam thủy ba".

    (Tiết cứng phò Trần đá Nghĩa Liệt
    Tiếng vang mắng giặc sóng Lam Giang).


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group