Lê Lai

  • tranthienthanh

    April 6th 2011, 10:35 am
  • Lê Kiều lặng im. Cặp mắt già nua của ông long lanh mở rộng, soi thẳng vào viên đội lệnh và tốp lính huyện Lương Giang. Bầy lâu la này muốn làm gì ông? Thoạt nghe ba hồi trống vang lên một cách khác thường vào giữa buổi, từ đình Trung làng Dựng Tú chuyền về các xóm ngõ, ông thầm nghĩ: Hẳn là có chuyện. Quả vậy. Lại hạch sách, dọa nạt. Mấy năm gần đây, ở phủ Thanh Hóa này, tên tri phủ Lương Nhữ Hốt núp chân giặc Minh, hầu hạ chúng, đã với tay đến các huyện, xã, hương, ấp,... Chúng lập sổ kê khai hộ khẩu, đặt các chức Lý trưởng, giác thủ, đôn đốc dân chúng làng phải phu phen, cống nạp. Các làng Dựng Tú hẻo lánh và cả vùng đất Lam Sơn bên ngoài kia nữa, từ bao đời, dân cư chỉ có yên vui làm áng. Những trẻo đồng nhỏ hẹp dọc theo các lũng hay các viền hai bên dòng Lương Giang cũng đủ cày cấy, có thóc gạo ăn quanh năm. Ấy là chưa kể đến nguồn lợi không bao giờ cạn của rừng núi. Đất lành chim đậu. Nhiều người từ nơi khác đã tìm đến lập nghiệp, cùng với thổ dân ở đây biến vùng này thành một nơi có thể nói là trù phú. Từ khi giặc Minh giả danh Phù Trần diệt Hồ để cướp nước ta, vùng đất này có được yên ổn đâu. Nếu như ở miền biển, giặc mở các trường mò ngọc trai, săn đồi mồi, thì ở vùng núi rừng này, chúng lại bắt dân phải nộp hương liệu, chồn trắng, hươu trắng, voi trắng, rùa chín đuôi, chim đậu ngược, vượn bạc má.

    Dân làng Dựng Tú này cũng đã nhiều người phải bỏ xóm làng đi phu phen, binh lính xây dựng thành lũy cho giặc; phải điêu đứng vì cung đốn trâu bò, thóc gạo cho quan; lại đủ cấp, đủ cỡ. Rồi đó, dân Dựng Tú và Lam Sơn liền núi kề rừng bao nhau không chịu khuất phục, cung đốn cho chúng nữa. Vì vậy, chúng thường giở chuyện đe dọa, cướp phá. Dân làng một lòng hễ giặc kéo đến đông thì chạy vào rừng lẫn tránh, chúng đánh trống họp dân thì không ai ra mặt. Tên đội lệnh huyện Lương Giang và tốp lính đập đến thủng trống vẫn không thấy một ai. Hỏi đến Lý trưởng, giáp thủ thì chưa có người giữ chức ấy, chúng hùng hổ ập đến nhà Lê Kiều, tróc nã người giữ chức phụ đạo cầm đầu, dạy dỗ dân làng Dựng Tú.

    Thấy có lính huyện đến, Lê Kiều buông sách xuống sập, ngồi nhổm dậy. Không đợi chủ nhà chào hỏi, viên đội lệnh sấn sổ ngồi phịch xuống phản kê giữa nhà, trước bàn thờ tổ tiên của Lê Kiều. Hắn hất hàm hỏi:

    - Nghe trống lệnh điểm mục, sao các người không ra đình làng?

    Lê Kiều trừng mắt nhìn, không trả lời. Ông đưa tay cài hàng khuyết áo năm thân nhuộm chàm che kín lồng ngực xương, to rộng của mình. Gần sáu mươi năm trời làm chủ vùng đất này, Lê Kiều còn có sợ ai. Ông nói lại:

    - Các ngươi đến làng tôi có việc gì?

    - Việc gì à? Giữ chức phụ đạo ở đây, ông dạy dỗ dân làng như thế nào, mà mấy năm nay không có lấy được một con trâu, một hạt thóc nộp cho cấp trên? Phép nước không dung tha quân phản nghịch.

    Lê Kiều khủng khỉnh đáp:

    - Dân tôi không theo giặc, không nuôi giặc, không giúp rập chúng làm hại giống nòi mà bảo là phản nghịch à?

    Tên đội lệnh giận tím ruột. Sẵn có ý nghĩ dân vùng này chống lại lệnh trên, hắn trút giận vào ông già Lê Kiều cứng đầu cứng cổ đang gườm gườm nhìn hắn:

    - Chúng mày trói lão già này lại, giải về huyện cho ta!

    Tên đội lệnh vứa dứt lời, một tiếng thét từ trong buồng bên vang lên:

    - Khoan!

    Một người đàn ông trạc bốn mươi tuổi, mình trần trùn trụt, mang một con dao rừng rộng bản bên vòi khố vụt ra chạy, đứng chắn ngang trước mặt Lê Kiều quát lên:

    - Các người không được chạm đến bố ta, có giỏi thì bắt ta đây!

    Viên đội lệnh hơi chột dạ. Nhưng với thanh đoản đao trong tay, lại có thêm năm người lính cấp giáo hộ vệ, hắn không lùi bước, truyền lệnh:

    - Bắt cả hai bố con về huyện!


    Lê Kiều nói với con trai:

    Lê Lãn con, để yên xem chúng làm gì được bố!

    Người con trai đầu của Lê Kiều bước lại gần tên đội lệnh, dứ nắm tay rắn chắc trước mặt hắn:

    Muốn yên thân thì cút! Đây không phải là đất sống của các ngươi. Một hạt thóc lép, một sợi lông đuôi trâu nộp cho giặc, dân làng Dựng Tú cũng không có, nghe rõ chưa?

    Tên đội lệnh đã thấy rõ dân làng này quyết tâm chống lại lệnh trên, mà người cầm đầu chính là bố con Lê Kiều. Hắn nhìn quanh. Năm gian nhà gỗ thênh thang, vững chắc, nối liền với hai dãy nhà ngang bằng những nhà cầu nho nhỏ. Phía trước sân, dãy bịch lúa lợp rơm rạ dựng lù lù, dựa lưng vào vách tường đá. Xa hơn, giàn giống chuồng trâu chiếm một vùng dưới gốc rừng cây thưa. Những căn nhà sàn đậu trên sườn dốc. Tất cả bằng tre nứa, gỗ lạt, chỉ cần một mồi lửa là lập tức thành tro búi. Hắn suy tính: đốt nhà là hạ sách. Ở đây, vào lúc này chúng chỉ có sáu người, kể cả hắn. Làng này bị đốt thì lũ chúng khó mà sống thoát về được huyện, cứ bắt hai bố con về rồi hãy hay. Khoát tay ra lệnh cho năm tên chĩa giáo vào Lê Lãn, hắn xông đến ông già Lê Kiều. Bàn tay của hắn chưa nắm vững cổ áo Lê Kiều thì đã phải buông vội ra vì cái gạt mạnh của người con thứ hai của Lê Kiều là Lê Lai từ trong buồng kín xông ra. Theo chân Lê Lai, ba thiếu niên trạc mười lăm, mười bảy tuổi con trai Lê Lai, cũng cắp dao rừng xông vào với bố. Năm tên lính hoảng sợ vội thu giáo, ngơ ngác đợi lệnh, còn viên đội lệnh từ hùng hổ đến sợ xanh mặt. Trước mặt hắn, một nguời trạc ba mươi lăm tuổi, cao hơn hắn một đầu, có dáng vóc vạm vỡ, nước da rám nắng, làm cho hắn sợ hãi. Hình đôi giao long màu xanh chàm xăm trên lồng ngực cuồn cuộn, vắt về đôi vai to rộng càng tăng thêm sức mạnh đôi tay của Lê Lai. Mỗi bước chân Lê Lai tay không tiến lại gần làm cho viên đội lệnh lùi bước. Đến một lúc chạm lưng vào vách, hắn đành phải dừng lại tìm cách chống đỡ. Lê Lai quát vào tai hắn:

    - Đánh giết các người chỉ làm cho bẩn tay, ta không thèm. Nghe đây, tất cả bỏ vũ khí xuống!

    Viên đội lệnh và năm tên lính ngoan ngoãn vâng lời. Lê Lai dõng dạc hô lớn:

    - Bước ra sàn! Xếp hàng một!

    Nhìn sáu người lạ mặt răm rắp theo lệnh của bố, Lê Lô, Lê Lộ, Lê Lâm phì cười. Riêng Lê Lâm ít tuổi nhất, cậu ước gì mình lớn thêm vài tuổi nữa để được theo bố tập trận như anh vẫn thường cùng người lớn tập luyện ngoài núi. Ở đây cũng tập nhưng lại khác. Bố giận dữ, còn người tập thì da mặt tái mét như da bàn chơi ngâm lâu dưới bùn. Lê Lâm ngỡ ngàng nhìn bố bước ra sân. Giọng ồm ồm, âm vang của Lê Lai đập vào tai bọn lính:

    - Quan thầy lũ ngươi ta cũng không sợ, huống chi bọn đầy tớ. Ta tha cho về, bảo nhau kiềng đất này, đừng có vác mặt đến hạch sách, dò la mà toi mạng cả lũ. Bước!

    Năm tên lính theo viên đội lệnh lúi lúi ra cổng. Bầy chó săn tinh khôn của Lê Kiều sủa gâu gâu, sấn sổ bám chân lũ chúng đến tận dốc ngõ. Trong nhà, Lê Lai sai bảo Lê Lô:

    - Con thu nhặt thanh đoản đao và năm ngọn giáo, chiều đem ra bãi tập phát cho anh em chưa có vũ khí.

    Lê Kiều ngồi xuống sập. Ông vuốt râu nhìn đàn con cháu. Ông vẫn tưởng đàn cháu của ông đã theo chân mọi người chạy tản vào rừng, chỉ có hai con trai của ông ở nhà để giữ làng. Không ngờ cả ba đứa cháu đều không chịu chạy trốn. Mai đây, khi lâm sự, lũ con cháu này sẽ làm vẻ vang cho dân làng Dựng Tú, làm đẹp mặt cho tổ phụ ông. Từ khi giặc Minh xâm lược ông vẫn nhắc nhở ba con giữ làng, thà chết không làm tay sai, không hầu hạ, phục dịch lũ giặc. Đàn con cháu của ông đã làm theo lời ông. Làng Dựng Tú này cũng dậy. Trai tráng đều theo đứa con trai thứ hai của ông, liên kết với chúa Lam Sơn là Lê Lợi để mưu chuyện lớn. Ông vẫn thầm nhắc: "Hậu sinh khả úy". Con trai Lê Lai của ông không chỉ lo việc giữ làng Dựng Tú nhưng ông khuyên bảo, mà còn tính chuyện nổi dậy đánh đuổi giặc Minh, thu phục cả đất nước Đại Việt. Sức già có hạn. Ông xin nhường bước cho đàn trẻ thả sức vẫy vùng. Được như vậy thì tổ tiên ông nằm dưới lòng đất Dựng Tú này cũng lấy làm vinh hạnh. Ông sinh hạ được hai con trai: Lê Lãn và Lê Lai. Cả hai đều khỏe mạnh. Nhưng xem ra Lê Lai dũng mạnh, mưu lược hơn Lê Lãn nhiều. Cả huyện Lương Giang này điều biết Lê Lai cùng với Lê Lợi bên huyện Lôi Dương kết bạn keo sơn, cầm đầu khắp vùng thượng Du Phủ Thanh Hóa này. Ông có nghe tin phong thanh tri phủ Lương Nhữ Hốt thường cho tay chân lui tới do la hành tung của Lê Lợi và con trai ông. Trước sự việc thường xảy ra, ông thấy ngài ngại. Ông hỏi Lê Lai:

    - Công việc đến đâu rồi con?

    - Dạ, mọi việc đang sửa soạn gấp, còn phải nuôi thêm uy, dưỡng thêm sức mới nổi dậy được bố ạ.

    Lê Kiều băn khoăn lo lắng:

    - Cử sự phải có lương thảo, quân lính. Liệu các con lấy đâu cho đủ?

    Công việc chuẩn bị kín đáo của Lê Lợi ở bên phía Lam Sơn làm sao Lê Kiều biết được. Nơi ấy, lúa gạo đã chất đầy kho đụn, hào kiệt khắp nơi về ứng nghĩa đã đông, còn sĩ tốt không phải ai xa lạ, chính là hàng ngàn gia nhân của Lê Lợi vừa cày ruộng vỡ nương vừa luyện tập đó thôi. Chẳng nói đâu xa, ở làng Dựng Tú này, một khi nổi dậy thì trai tráng trong làng từng theo Lê Lai tập luyện sẽ cắp giáo vùng dậy. Còn lương thực thì nhà nào cũng sẵn ứng cấp cho chồng con lo việc nghĩa. Lê Lai nói với bố:

    - Vâng, mọi việc đều tính toán kỹ. Một khi phất cờ nổi dậy thì phải có đầy đủ cả chứ ạ.

    - Giặc Minh đông lại mạnh. Bố có nghe chuyện các Vua Trần nổi dậy bị giặc dồn về tận Hóa Châu, lao đao lận đận mãi mà nghiệp lớn vẫn không thành. Phải xem đó để liệu lượng từng đường đi nước bước đấy con ạ.

    Lê Lai giảng giải cho bố rõ:

    - Con có biết việc đó. Các Vua Trần khác, các con khác. Các Vua Trần không được lòng dân nên bị đánh bại. Còn các con hãy theo lòng dân nổi dậy, lấy rừng núi hiểm trở làm chỗ dựa. Ngày nào núi rừng còn sừng sững đứng đó thì giặc Minh đừng có hòng đánh dẹp được nghĩa quân. Mà nghĩa quân còn thì sớm muộn giặc cũng bị quét sạch.

    Niềm tin sắc đá thoát ra từ lời nói đơn giản, mộc mạc của Lê Lai làm cho cha càng vững tâm. Lê Kiều hỏi con:

    - Bao giờ thì cử sự?

    - Dạ, còn phải làm lễ hội thề xong rồi mới phất cờ nỗi dậy được.

    Lê Kiều vuốt râu cười khà. Nghe nói mấy tiếng "Hội thề" ông nghĩ đến sự tích "Đào viên kết ngĩa" của Lưu Bị, Quan Vân Trường và Trương Phi thời Tam Quốc. Ông vẫn thầm thán phục tình nghĩa của ba người ấy. Ông gật gù:

    - Ừ, cũng phải. Anh em kết nghĩa mưu việc lớn, phải cùng lòng hết sức vì nước quên mình, sống chết có nhau mới phải đạo làm người và hợp với nghĩa cả đó con ạ!

    Mặt trời nhô lên đầu núi. Màn sương mù trắng xóa, dày đặc, bao phủ khắp nơi tan dần. Núi rừng Lam Sơn hiện ra mỗi lúc một rõ nét. Những cánh rừng chàm tốt tươi mơn mởn phô bày sức sống mãnh liệt của mình qua màu xanh quen thuộc dưới nắng xuân ấm áp. Từng cơn gió nhẹ từ phía Đông quạt về lướt trên đồng ruộng, trườn lên sườn núi, xoáy tròn trong các lũng sâu để rồi lại bung ra lang thang kết bạn vói cây rừng. Trời Lam Sơn mỗi lúc như một cao thêm. Từng đám mây trắng lạc loài dạt về chân trời để lại một màu xanh trong lồng lộng. Trên một mỏm đá bằng phẳng thuộc Lam Sơn đất trời đã thoáng mát càng thêm thoáng mát. Nơi đây, giữa trời cao, rừng xanh, núi vắng, vào một ngày đầu tháng hai năm Bính Thân, mười tám người từ bốn phương họp lại cùng nhau làm lễ hội thề, một lòng giết giặc trả nợ nước thù nhà.

    Mặt trời vừa đúng Ngọ, ba hồi chiêng trống vang rền như gọi hồn thiêng của núi sông về. Lũng Nhai chứng kiến lời thề của những người con ưu tú của dân tộc. Đứng cạnh Lê Lợi, Lê Lai nắm chặt đốc kiếm, trang nghiêm trong bộ võ phục màu chàm, mắt không rời làn khói trầm bốc lên ngùn ngụt trên những phiến đá xếp cao làm bàn thờ tế cáo trời đất.

    Đã hàng tháng trời trước đây, chúa Lam Sơn bàn với Lê Lai về việc làm lễ hội thề. Chỉ một việc chọn đất làm lễ cũng đã bàn đến nát lý. Có người bàn nên làm lễ ở ngay đình làng cho ai nấy cùng tham dự để khích động lòng dân. Có người bàn nên chọn ngôi đền thờ thần núi để làm lễ. Cuối cùng Lê Lợi và Lê Lai đã chọn mảnh đất bằng phẳng trên sường núi cao hoang vắng, và chỉ có mười tám người tâm huyết tham dự mà thôi. Từ đó Lê Lai được Lê Lợi giao việc sửa soạn cho ngày lễ. Ngay từ khi chọn mảnh đất hội thề này, Lê Lai đã nghĩ rằng đây không phải là buổi phô trương thanh thế, mà chỉ là cuộc hội thề kết nghĩa keo sơn của mười tám anh em từ khắp nơi tụ về Lam Sơn ngầm nuôi chí lớn. Vì vậy, Lê Lai muốn giữ nguyên vẹn cảnh quang hùng vĩ thiêng liêng của rừng núi Lam Sơn, mà không bày đặt sắp xếp gì phiền phức. Ngoài mấy phiến đá to chồng cao, hướng về phía mặt trời mọc làm nơi đặt bó trầm hương còn có mấy tảng đá vuông vắn kê phía trước, đặt xôi nếp, bò thui và vò rượu làm lễ vật. Trong số mười tám người đến dự hội thề, ngoài những anh em bà con bạn bè của Lê Lợi, Lê Lai ở quanh vùng, còn có những người từ xa xôi tìm về Lam Sơn tụ nghĩa như Nguyễn Trãi ở Đông Quan, Lưu Nhân Chú ở Thái Nguyên... Tất cả đều quen biết nhau, thường ngày đã từng bàn mưu tính kế, trù liệu chờ ngày khởi sự. Lúc này, trong kông khí uy nghiêm của lễ hội thề, ai nấy đều im lặng, đường hoàng trong các bộ võ phục màu chàm, màu nâu quen thuộc, hoặc trang trọng với cặp áo dài khăn lượt, mang dáng dấp một văn nhân. Tất cả đều chắp tay quỳ trước bàn thờ trời đất. Lê Lai cũng vậy. Thường ngày Lê Lai vẫn nổi tiếng là một người ăn to nói lớn, khi vui chuyện cười nghiêng ngửa, cũng có lúc nổi giận, quát tháo như hổ gầm. Nhưng lúc này Lê Lại lặng im, thỉnh thoảng gặp Lê Lợi bàn soạn nhỏ nhẹ. Dường như không ai muốn để cho lời nói, tiếng cười thông thường của mình làm khuấy động vẻ yên tĩnh trang nghiêm của núi rừng hùng vĩ. Mọi người đều để cho những ý nghĩ cao cả, những tình cảm thiên liêng của mình hòa với anh linh của sông núi trong thời khắc mà ai nấy đều tự nguyện kết nghĩa cùng nhau gắn vận mệnh bản thân mình với vận mệnh của dân tộc, của đất nước.

    Ba hồi chiêng trống dóng dả vang rền. Trời cao xanh lồng lộng như nghiêng mình chao xuống, rừng núi quay đầu, còn xa xa, đồng ruộng, xóm làng như chuyển động, tất cả đều hướng về Lũng Nhai. Trên bệ đá cao, làn khói trầm trắng xóa tung lên vần vụ rồi tan dần trong nắng, để lại mùi hương ngào ngạt lẫn với mùi thơm của hoa rừng cỏ núi đang nở rộ vào mùa xuân. Chiêng trống ngừng bặt. Tiếng tâm sự rì rào của cây rừng như tạm lắng xuống nhường cho lời thề thiêng liêng của Lê Lợi, thay mặt cho mười tám người tâm huyết, sang sảng vang lên:

    Chúng tôi, phụ đạo chính ở lộ Khả Lam, nước An Nam cùng với bọn Lê Lai, Lê Thân, Lê Văn An, Lê Văn Linh, Trịnh Khả, Trương Lôi, Lưu Trung, Lê Liễu, Bùi Quốc Hưng, Lê Hiểm, Võ Uy, Nguyễn Trãi, Lưu Nhân Chú, Trịnh Võ, Phạm Cuống, Lê Lý, Đinh Lan, Trương Chiến, xin đem lễ vật kính dâng lên tấu cáo với Hiệu thiên thượng đế, hậu thổ địa hoàng, cùng các vị thần sông, núi, danh lam ở trong nước, cúi xin các vị chứng giám mà thưa rằng: Có bè bạn ở phương xa, đến kết giao vui vẻ, đã nói ra thì phải giữ lòng tin, vì thế nên phải có lẽ tấu cáo.

    Nay phụ đạo chính ở nước chúng tôi là Lê Lợi cùng với bọn Lê Lai cho đến Trương Chiến, mười tám người tuy quê quán họ hàng có khác nhau, nhưng đã kết nghĩa anh em thề cùng như chung một tổ. Phận vinh hiển dầu có khác nhau, nguyện tình cùng họ không bao giờ khác. Nay nhân giặc Ngô xâm chiếm nước Nam, tàn sát nhân dân rất là khổ sở, nên Lê Lợi cùng Lê Lai đến Trương Chiến, mười tám người chung sức đồng lòng, giữ vững đất nước, làm cho nhân dân ăn ở yên lành, thề chết sống đều phải cùng nhau, không dám quên lời thề ước.

    Chúng tôi cúi xin trời, đất và các vụi thần linh chứng giám ban cho trăm phúc, tự thân mình, nhà mình, con cháu trong họ hàng đều được yên vui, cùng hưởng lộc trời.

    Nếu Lê Lợi, Lê Lai cho đến Trương Chiến lòng này khác, cầu ơn hiện tại, núp bóng quân thù, không cùng đồng lòng, quên lời thề ước, chúng tôi cúi xin trời, đất, thần linh giáng cho trăm vạ, từ mình cho đến nhà mình, con cháu, họ hàng đều bị tru diệt, chịu hết hình phạt của trời.

    "Xin có lời thề".


    Văn thề vừa dứt, tất cả mọi người đều phục xuống ba lần làm lễ cúng vái trời đất rồi chắp tay lặng im quỳ nhìn khói trầm vần vụ. Khi khói hương vừa tàn, Lê Lợi đứng dậy tự tay châm lửa đốt văn thề. Những mảnh tro tàn quăn queo nát vụn từ tay Lê Lợi tung lên bay tỏa, hòa hợp với núi rừng. Lê Lợi tiến về phía vò rượu, rúng gươm, nhẹ nhành ấn mũi kiếm sắc bén vào đầu ngón tay trỏ. Ba giọt máu đỏ thắm từ đầu ngón tay chúa Lam Sơn nối nhau rơi vào vò rượu. Theo bước Lê Lợi Lê Lai đưa ngón tay lên miệng, lại ba giọt máu nữa nhỏ xuống. Cứ như vậy, cho đến người thứ mười tám, rượu trong vò từ trắng trong đã ngả sang mài hồng nhạt. Lễ vật được đem xuống đặt trên nền đất núi. Mọi người quây quần bên nhau. Vò rượu hồng được chuyền tay. Thịt bò nướng xèo xèo trên lửa đỏ bốc lên mùi béo ngậy cùng với hươg thơm của xôi nếp. Không khí trang nghiêm của buổi lễ hội thề đã qua, giờ đây mội người vui cười, ăn uống thoải mái.

    Ngồi cạnh Lê Lợi, Lê Lai nâng cao lưỡi gươm còn găm tảng thịt bò nướng trên mũi nhọn, vui kể cho mợi nghe câu chuyện tước võ khí và tống cổ bọn lính huyện Lương Giang xảy ra ở làng Dựng Tú. Có tiếng thét lên:

    - Sao không chém cổ chúng đi?

    Lê Lai xua tay:

    - Giết phường chó chết đó làm gì. Tôi thề sẽ khai gươm bằng đầu một tên giặc Ngô.

    Lê Lợi đập tay vào đôi vai vạm vỡ của Lê Lai cười lớn:

    - Phải đó!

    Lê Lai quay sang hỏi Lê Lợi:

    - Bao giờ mới cử sự để tôi được khai gươm, thưa chủ tướng?

    Lê Lai đã hỏi đúng điều mọi người đang mong đợi. Ai nấy đều ngừng lại, chăm chú nghe câu trả lời của vị chúa tể đất Lam Sơn. Lê Lợi thong thả cất từng tiếng rành rọt:

    - Ngày cử sự ư? Còn phải gấp rút chuẩn bị thêm binh mã lương thực. Gặp thời cơ thuận tiện ta sẽ phất cờ nổi dậy khiến giặc không kịp trở tay. Ngày ấy không còn xa lắm...

    Ngày ấy đã xảy ra vào buổi đầu tháng giêng năm Mậu Tuất.

    Khi ngọn cờ Bình Định Vương phất cao trên đất Lam Sơn cũng là lúc đất nước Đại Việt đang trải qua những ngày đón xuân mới tưng bừng nhộn nhịp. Tin vui truyền đi nô nức lòng người. Còn bè lũ giặc Minh: Tổng binh Phong thành hầu Lý Bân, đô đốc Phương Chính, tham tướng Trần Trí, Thái giám Sơn Thọ, Mã Kỳ... Từ Động Quan cho đến Tây Đô đều giật mình hoảng sợ. Bảy ngày sau, giặc Minh cho Mã Kỳ cùng quan tướng đem đại quân từ Tây Đô đến Lam Sơn. Anh em Lê Lãn, Lê Lai và con trai cùng nghĩa quân Lam Sơn bắt đầu chạm trán với quân thù, trải qua những ngày gian khổ nhưng vô cùng oanh liệt.

    Từ Lam Sơn về Lạc Thủy, rút về Chí Linh để rồi lại trở về Lam Sơn, cuộc chiến đấu đã diễn ra liên tiếp: Mai phục tiêu diệt hàng ngàn quân giặc, đánh lui Mã Kỳ ở Lạc Thủy, bị vây khốn nặng nề phải rút về Chí linh ẩn náu chịu đựng hàng hai tháng trời bị tuyệt lương, lấy măng tre củ rừng làm cái ăn để sống đợi ngày. Giặc rút về Tây Đô, nghĩa quân lại trở về Làm Sơn với một lực lượng ít ỏi, chỉ vẻn vẹn còn hôn một trăm người. Lại những ngày đắp lũy, tuyển quân, tích lương, sắm sửa binh mã. Nghĩa quân Lam Sơn được nuôi dưỡng, hồi phục trong vòng tay của bà con nhân dân Lam Sơn thân yêu.

    Tống binh Phong thành hầu Lý Bân phải ra quân. Nghĩa quân rút về rừng núi phía Tây mai phục ở Mường Một. Gặp tổn thất nặng nề, quân tướng chết và bị thương quá một nửa, Lý Bân phải rút về Đông Quan.

    Hơn một năm sau, vào tháng tư năm Kỷ Hợi, lần đầu tiên nghĩa quân tập kích tấn công đồn giặc. Đồn Nga lạc bị đánh tan, tên ngụy quân Nguyễn Sao bị bắt sống, trên ba trăm tên giặc bị tan xác. Ở Đông Quan, Lý Bân nghe tin mà hoảng sợ, vội vã truyền lệnh điều một số quân đông mạnh gấp bội mọi lần, phải lùng diệt cho bằng được nghĩa quân Lam Sơn.

    Lần thứ hai, Bình Định Vương Lê Lợi quyết định rút về Chí Linh.

    Núi non trùng điệp sường sững một góc trời đông nam đất Thanh Hóa. Vách đá dựng đứng tưởng chừng như vít kín lối đi, nhưng rồi một lũng hẹp lại mở ra như cổng trời vời vợi cho nghĩa quân từ Nga lạc tìm về nơi ẩn náu. Con đường rút về Chí Linh khá hiểm trở. Sau mấy ngày đêm trèo non lội suối, Bình Định Vương cùng nghĩa quân đã có mặt an toàn ở Chí Linh. Quân sĩ luân phiên canh giữ các lối vào và chia nhau nghỉ ngơi cho lại sức. Giặc Minh quỷ quyệt, theo riết vây hãm nghĩa quân trong vùng núi vùng hoang vu hiểm trở. Chóp núi sừng sững vách lá chênh vênh với những cánh rừng âm u chìm trong lũng sâu che chở nghĩa quân tránh được mũi nhọn của giặc. Nhưng cũng chính nơi đây, vùng núi hoang vắng, cách biệt với các bản mường, làng chạ, lại là điều lo ngại cho việc tìm kiếm lương thực của đoàn quân khởi nghĩa. Các lối mòn thông thương với bên ngoài đều bị giặc bịt kín. Lương thực ít ỏi mang theo đã vơi cạn trong khi tìm về nơi ẩn náu. Lại những ngày tướng sĩ cùng quân lính chia nhau từng hạt gạo, từng mẩu củ rừng để sống cầm hơi. Ngựa chiến đã có con khuỵu gối trong tàu vì đói cỏ lại lâu ngày không được một hạt thóc. Căn Điện Cỏ nho nhỏ làm nơi ngự của Bình Định Vương vừa được dựng lên, tựa lưng vào vách đá. Mái cỏ tranh còn xanh màu lá mới chưa kịp ngả màu. Các lỗ hổng bắt đầu xuất hiện lỗ chỗ trên mái.


    Nôi đây, này đêm Bình Định Vương Lê Lợi cùng tướng lệnh, mưu sĩ chụm đầu bên nhau bàn kế đối phó với giặc dữ. Những ngày gian khổ thiếu ăn cùng với nỗi lo âu chồng đắp làm cho ai nấy đều sọm đi. Những nét già nua càng hằn rõ trên khuôn mặt khắc khổ của từng người. Tất cả đều bừng bừng mệt mỏi vì oi bức của nắng hè trong vùng núi đá khô khốc.

    Đã mấy đêm liền, Lê Lợi chưa chớp mắt. Không họp mặt cùng Bình Định Vương Lê Lợi và các tướng lệnh ở Điện Cỏ thì Lê Lai lại cắp gươm tìm đến các đội ngũ. Với bản tính vui nhộn của mình, Lê Lai đến với nghĩa quân còn thao thức trằn trọc vì đói mệt. Ông vui chuyện, động viên mọi người bền chí, vượt qua những ngày gian khổ. Đêm nay, một đêm không trăng sao, trời tối mịt, ông đến với toán nghĩa quân canh giữ bên ngoài lèn đá. Lần mò theo đường núi, vừa nhô khỏi vách đá, ông đã nghe tiếng quát hỏi của nghĩa quân gác đêm:

    - Ai đó?

    - Ta.

    - Ta là ai?

    Lê Lai nhận ra tiếng nói ồm ồm vừa qua thời kỳ vỡ giọng của người con trai đầu của mình cũng theo nghĩa quân từ những ngày Bình Định Vương phất cờ nghĩa. Ông vui nhộn đáp lời:

    - Bố mày chứ ai!

    Trong bóng đêm mờ mịt, Lê Lô nhận ra người thân. Anh chạy lại ôm chầm lấy bố. Tuy hai bố con cùng có mặt trong đoàn quân khởi nghĩa từ ngày dựng cờ ở Lam Sơn, nhưng có mấy khi gặp nhau. Sau những trận chiến đấu ác liệt, hỏi thăm biết còn sống thế là mừng. Lê Lai lặng lẽ đưa tay xoa đầu con. Cái khuôn mặt bầu bĩnh mập mạp của đứa con đầu đã gầy sút đi nhiều. Đôi gò má xương xẩu và vàng cằm nhô bạnh ra cân cấn dưới lòng bàn tay của Lê Lai. Ông hỏi con:

    - Tình hình anh em đồng đội ra sao con?

    - Đói lắm bố ạ.

    Lê Lai cười khì:

    - Ừ, bị vây hãm trong vùng núi này lấy đâu mà chả đói.

    - Sao không rút về Lam Sơn hả bố?

    Lê Lai không trả lời câu hỏi của con, ông hỏi thêm:

    - Anh em có xôn xao gì không?

    Lê Lô vùng ra khỏi tay bố:

    - Mọi người chỉ muốn một trận sống mái với giặc. Sống thì cùng về Lam Sơn, chết thì mạng đổi mạng rồi cùng chết. Còn nằm chịu chết đói ở đây không được đâu bố ạ.

    Thì ra quân sĩ, ai nấy cũng nghĩ như Lê Lai. Nhưng tiến thoái ra sao lại do Bình Định Vương định đoạt. Hai bố con cùng ngồi xuống một tảng đá. Lê Lai vỗ vai vào vai con:


    - Con ngủ đi một chút cho khỏe để còn sức đánh giặc. Việc canh gác đã có bố.

    Lê Lô ngoan ngoãn vâng lời. Anh ước chi được leo lên lòng bố nằm ngủ như ngày nào còn bé nhỏ. Nằm ngả lưng cạnh bố, Lê Lô nghĩ đến làng Dựng Tú thân yêu của anh ở gần kề chân núi Lam Sơn. Giờ đây ông nội anh, mẹ và em ra sao? Anh thiếp đi lúc nào không biết. Cho đến lúc thức dậy, anh thấy bố vẫn lặng yên ngồi bên mình, im lìm, vững chãi như một tảng đá.

    Anh cất tiếng thiết tha:

    - Bố!

    Lê Lai cầm tay con:

    - Càng gian khổ, thiếu thốn, càng phải thương yêu đùm bọc đồng đội, sống chết có nhau. Không một mảy may ngả lòng nản chí, nghe không con!

    - Vâng.

    Lê Lai chia tay con, khi về đến Điện Cỏ của Bình Định Vương thì trời cũng vừa sáng tỏ. Lê Lai chưa kịp bước vào điện, người nghĩa quân giám mã đã hớt hải chạy lại:

    - Thưa tướng quân, con ngựa chiến của ngài vừa ngã khuỵu trong tàu, không cất mình lên được nữa.

    Lê Lai vội theoo chân người giám mã, bước thẳng vào tàu, ngồi bên con ngựa quý. Tốp nghĩa quân vây quanh, đứng ngoài nhìn vào. Con ngựa màu vàng cháy, hông lép kẹp nằm sóng soài trên nền đất. Bốn vó ruổi thẳng, cổ vươn ra dài ngoằng sát mặt đất. Mới ngày nào, khi còn ở Lam Sơn, con ngựa vừa đến tuổi được nuôi dạy, chăm nom, béo khỏe là thế! Nó đã cùng Lê Lai vượt qua bao núi rừng hiểm trở. Khi mai phục xông ra giết giặc, cùng như hôm Lê Lai đưa quân vào đồn Nga Lạc bắt sống tên ngụy quân Nguyễn Sao, lúc nào con ngựa cũng tỏ ra tinh khôn. Chỉ cần một thúc gót nhè nhẹ bên hông hay nhích nhắc một sợi dây cương là nó đã biết được ý chủ. Nó chồm lên xông thẳng vào quân giặc, hoặc lùi lại, né sang một bên để tránh đường gươm hiểm hóc của quân thù. Lần thứ hai, nó theo chân Lê Lai trở lại Chí Linh. Lần này vì đói ăn nên kiệt sức. Bộ xương sườn của con ngựa phơi ra như một bó hom, chốc chốc nâng lên rồi lại sụp xuống. Con ngựa đang thoi thóp. Cái mõm nhợt nhạt, xát xịt của nó bể ra, đôi mắt mở trừng trừng. Vừa thấy Lê Lai đến, nó cố gắng cất đầu dậy, nhưng không được. Nó chỉ còn đủ sức ve vẩy đôi tai. Lê Lai cúi sát mặt xuống đầu ngựa. Ông đưa tay vuốt nhẹ hàng lông bờm đen dài, rũ rượi, lòa xòa trên cổ và trước trán ngựa. Từ trong khóe mắt trắng giã. Bất động của con ngựa ứa ra hai dòng nước mắt. Nó thở dốc, đôi con ngươi tròn vàng vạnh đảo qua đảo lại, soi thẳng vào Lê Lai rồi sừng hẳn lại. Con ngựa chết hẳn. Giữa mùa hè oi bức mà Lê Lai cảm thấy ớn lạnh. Ông ngậm ngùi đưa tay vuốt mắt cho ngựa. Một tiếng thở dài. Ông đứng dậy nói với tốp nghĩa quân đứng bên ngoài:

    - Ngựa chiến với người lính là đôi bạn thân thiết. Con ngựa này sống vì chúng ta, không may nó chết cũng vì chúng ta. Nó đỡ đần ta trong khi bị vây hãm. Các ngươi này làm thịt nó đem chia đều cho anh em!

    Cái nắng oi ả của một ngày hè như càng tăng lên gấp bội. Nắng từ trên trời cao đổ xuống. Nắng từ vách đá hắt ra. Thỉnh thoảng một cơn gió nam len lỏi lùa vào căn cứ Chí Linh lại mang theo cái nóng hầm hập của núi rừng bị nắng hè thiêu đốt. Ngôi Điện Cỏ của Bình Định Vương ngập chìm trong nắng lửa của một buổi trưa hè. Ánh nắng từ lỗ hổng lỗ chỗ trên mái cỏ tranh soi loang lổ trên những tấm lưng trần mồ hôi nhễ nhại. Trên hai chục tướng lệnh của nghĩa quân được Bình Định Vương vời về đây tục họp để bàn kế thoát hiểm.

    Trước mặt mọi người, Bình Định Vương thong thả gieo từng bước một trên nền điện. Bộ võ phục màu nâu của Vương đã có đôi chỗ sờn rách, chiếc khăn nhiễu tím buộc đầu đã bạc màu. Cảnh thiếu ăn, đói ngủ lâu ngày đã hằn rõ rõ trên khuôn mặt vuông vắn, đanh thép của người cầm đầu nghĩa quân mới ngoài ba mươi tuổi. Ai nấy đều lặng yên chờ đợi. Một nỗi lo chung đang đè nặng tâm tư từng người. Lê Lợi dừng bước, đưa mắt nhìn khắp lượt rồi thong thả nói với tướng lệnh:

    - Vòng vây của giặc mỗi ngày một thêm dày đặc, mà ta thì lương thực đã cạn hết. Cứ như thế này, chúng ta có nguy cơ bị tiêu diệt. Mấy ngày nay nhiều người bàn nên dốc hết sức lực phá vây, mở con đường máu tìm cách thoát hiểm. Lần trước giặc vây hãm chúng ta ở đây hai tháng trời, tưởng quân ta đã chết hết. Không ngờ ta vẫn còn sống và càng lớn mạnh để còn có đến ngày nay. Phen này chúng sẽ vây hãm đến cùng, không làm gì có chuyện giặc tự giải vây như lần trước. Ta chỉ còn ba đường: Một là liều chết đánh giải vây, hai là bó tay, đợi giặc xông vào chịu chết, ba là đầu hàng để bảo mạng. Các người tính sao?

    Trong lúc ai nấy còn yên lặng thì mưu thần Nguyễn Trãi đã lên tiếng:

    - Tâu vương thượng, lũ tướng thần chúng tôi thề thà chết chứ không hàng giặc, còn bó tay chờ chế không phải là hành động của người trí dũng. Chỉ còn cách đánh giải vây. Nhưng, thưa Vương thượng, đánh giải vây như thế nào để bảo tồn lực lượng? Nếu dốc toàn quân vào một cuộc đọ sức cuối cùng để rồi hy sinh tất cả thì lại không được. Đó mới là việc khó nghĩ, thưa Vương thượng.

    Bình Định Vương Lê Lợi gật đầu tỏp ý tán thưởng. Từ hôm bị vây hãm, Lê Lợi đã tính đến chuyện phải mở đường máu. Nhưng quân giặc kéo đến mỗi lúc một đông, chúng quyết tâm tiêu diệt bằng được nghĩa quân. Trong khi đó lực lượng trong tay Lê Lợi chỉ còn ít ỏi, lại hao mòn, mỏi mệt vì chiến đấu ròng rã và chịu đựng thiếu ăn lâu ngày. Nếu dốc toàn lực đọ sức với giặc là trúng độc kế của chúng. Chỉ còn cách là một số chịu hy sinh để cho một số thoát vây, sống được, lo việc khôi phục lực lượng, tiếp tục sự nghiệp còn dang dở. Nhưng ai là người sẽ hy sinh. Trước mặt Lê Lợi là những người tự nguyện lìa bỏ xóm làng cha mẹ, vợ con thân thích, thề sống chết với giặc để cứu nước nhà. Khi cần ai cũng sẵn sàng xả thân vì nghĩa cả. Nhưng vào lúc này, nhân tài thì hiếm hoi, tuấn kiệt còn lác đác. Một người mất đi cũng để lại tổn thất nặng nề cho tất cả. Huống chi trước ngày khởi nghĩa, anh em đã thề nguyền sống chết vớ nhau, sướng vui cùng hưởng. Bây giờ ai còn ai mất? Đã đến lúc vận mệnh của đất nước, sự mất còn của nghĩa cả không cho phép luẩn quẩn, đắn đo vì những tìm cảm thông thường, Lê Lợi nhìn khắp lượt rồi hỏi mọi người:

    - Bây giờ ai có thể làm như Kỳ Tín ngày xưa, để ta ẩn náu trong rừng núi, mưu tính cử sự về sau?
    Nghe Bình Định Vương nhắc Kỷ Tín, mọi người nghĩ đến việc làm của một trung thần Hán Cao Tổ, liều mình đầu hàng giặc, chịu chết khi Hán Cao Tổ bị Hạng Vũ vây hãm nguy khốn ở Huỳnh Dương. Nhờ vậy, Hán Cao Tổ thoát hiểm, về sau gây dựng lại lực lượng diệt được Hạng Vũ. Trong lúc mọi người còn đang suy nghĩ về mưu kế của Bình Định Vương thì Lê Lai đã vụt đứng dậy hiên ngang trước tướng lệnh. Giọng âm vang, dứt khoát của ông cất lên.


    - Thần nguyện đổi lấy áo bào. Ngày sau bệ hạ thành nghiệp đế, có được thiên hạ, nhớ đến công thần mà cho con cháu muôn đời của thần được chịu ơn nước. Đó là điều thần mong ước.
    Lê Lợi cảm động, bước lại gần, cầm tay Lê Lai. Đôi mắt rực sáng của người cầm đầu nghĩa quân Lam Sơn rộng mở, soi thẳng vào khuôn mặt vuông vắn, cương nghị của người tướng lĩnh dũng cảm. Khâm phục, mến thương tràn đầy khóe mắt, Lê Lợi muốn ghi nhận mãi mãi trong đáy lòng mình hình ảnh người chiến hữu thân thiết quyết bỏ mình vì nghĩa cả. Lê Lợi thề nguyền với trời xanh mà cũng là thay mặt cho mọi người tỏ lòng biết ơn người trung nghĩa:

    - Lê Lai có công đổi áo, sau này trẫm cùng con cháu trẫm và các tướng tá công thần cùng con cháu họ, nếu không nhớ đến công ấy, thì xin Điện Cỏ này hóa thành rừng núi, ấn báu hóa ra cục đồng, gươm thần hóa ra dao thường.

    Nói xong, Lê Lợi lấy áo bào trao cho Lê Lai và ân cần hỏi:

    - Người cần bao nhiêu quân sĩ và tướng lệnh đi theo?

    - Xin cho thần năm trăm quân, hai thớt voi và một con ngựa chiến là đủ. Trước khi chịu rơi vào tay giặc, thần sẽ lôi kéo, giữ chân chúng lại. Xin bệ hạ cùng các tướng lệnh ở lại kịp đêm quân sĩ ẩn náu, để lo gây dựng nghiệp lớn mai sau.

    Nắng hè vẫn như đổ lửa xuống rừng núi Chí Linh. Hơn hai mươi tướng lệnh lặng đi trong Điện Cỏ. Gian khổ, mất mát, hy sinh còn nhiều. Ai nấy đều đã tự nguyện chọn con đường hy sinh thân mình cho đất nước thân yêu được sống mãi. Trong gần hai năm quần nhau với giặc, đã bao nhiêu người đã ngã xuống mà nghiệp lớn chưa thành. Giờ đây, đến lượt Lê Lai dấn thân vào nanh vuốt của giặc cho nghiệp lớn không bị diệt vong. Ai nấy lặng người. Đau thương căm thù sôi sục trong lòng mỗi người như cơn gió nồm nam nóng hừng hực đang lướt rào rào qua vách núi.

    - Không được! Con phải tuân lệnh Bình Định Vương!

    Giọng kiên quyết gần như quát tháo của bố làm cho Lê Lô phải yên lặng, ngặm ngùi cúi đầu. Tiếng chuông ngũ liên bắt đầu thúc. Lê Lai ôn tồn nói với Lê Lãn và Lê Lô:

    - Bác và con phải cùng anh em đồng đội ở lại hộ vệ cho đường Bình Định Vương cùng các tướng lệnh kịp tìm nơi ẩn náu. Mai đây, có dịp về quê nhà, các người nói Lê Lai có lời chào anh em bà con làng Dựng Tú, Còn Lê Lô, con phải dìu dắt hai em trả nợ nước, thù nhà!

    Dứt lời, Lê Lai nhảy lên yên ngựa. Tà áo bào bay phần phật. Giải vương miện nhảy múa chập chờn. Con ngựa chiến đưa Lê Lai tiến về phía đầu đoàn quân. Nơi đó, Bình Định Vương Lê Lợi và các tướng lệnh đã đứng đợi để tiễn biệt đoàn quân quyết tử.

    Nắng sớm tràn ngập Chí Linh. Sương mai hầu như bị quét sạch, chỉ còn lại từng đám rời rạc, chờn vờn trên chóp núi. Ngồi trên lưng ngựa, đi giữa đoàn quân, Lê Lai ngoái nhìn lại. Căn cứ Chí Linh đang khuất dần sau vách đá. Nỗi đau vĩnh biệt vừa kịp nhóm lên trong lòng Lê Lai đã bị át đi vì hận thù ngùn ngụt. Núi rừng hùng vĩ của đất Thanh bao la hiểm trở là thế mà giờ đây Bình Định Vương và cả đoàn quân khởi nghĩa của Người chưa có chỗ dung thân! Quê hương thân yên của ông, đất nước Đại Việt này cớ sao lại chịu cho quân giặc Ngô giày xéo? Cảnh đọa đày rên xiết của nhân dân dưới ách tàn bạo của giặc, những ngày đói khổ, gian truân của đoàn quân khởi nghĩa, trong đó có anh em, con cái, bè bạn thân thích của Lê Lai thoáng hiện lên trong trí ông. Mới gần hai năm trời đọ sức với giặc mà đã bao nhiêu tướng lệnh, quân sĩ phải bỏ thân nơi rừng núi vây bọc quanh ông. Lê Lai nghe như đó đây, những bộ xương tàn của các chiến hữu ở khe suối, ven rừng đang vùng dậy theo bước chân mình. Ông muốn thét vang cho khắp núi rừng đều nghe thấy: "Có Lê Lai đây!"

    Con ngựa chiến chồm qua một khe nhỏ. Tấm thân dũng mãnh của ông như bị hất về phía sau. Lê Lai giữ chặt cương ngựa, hỏi người lính cận vệ:

    - Sắp lọt vào địa thế giặc Ngô chặn giữ chưa?

    - Dạ, tiền quân báo về cho biết, sắp đến nơi rồi.

    Lê Lai truyền lệnh:

    - Gương cao ngọn cờ Bình Định Vương lên!

    Cho đến lúc tiền quân đụng đầu với giặc, Lê Lai thúc ngựa phi về phía trước. Ông thét vang:

    - Ta là Chúa Lam Sơn đây!

    Thanh gươm trong tay Lê Lai vung lên, bay vù vù mở đường cho đoàn quân quyết tử dấn sâu vào trận địa giặc.

    Trong cuộc giáp chiến ác liệt với quân thù, Lê Lai bị giặc bắt đem đi. Ông không còn sống để trở về với nghĩa quân Lam Sơn nữa...

    Bình Định Vương Lê Lợi, tướng lệnh, quân sĩ, những người ở lại Chí Linh được thoát vây để sau đó tiếp tục hoàn thành sự nghiệp cứu nước mà người anh hùng Lê Lai hằng ấp ủ và vì nó hy sinh trọn đời.


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group