Trần Nguyên Hãn

  • tranthienthanh

    April 6th 2011, 10:36 am
  • Trần Nguyên Hãn

    Trần Nguyên Hãn cùng toán nông phu trang Sơn Đông đánh trâu, vác bừa chạy kịp vào rừng thì đằng sau, giặc Minh cũng tràn tới. Một nông phu đứng tuổi, giọng lo lắng:

    - Không biết mấy người đang cày ở đồng trên có chạy thoát không? Nhiều người chưa kịp trả lời thì từ một xóm nhỏ ven đường gần đấy, khói ùn ùn bốc lên, tiếp theo là tiếng tre nứa nổ, tiếng lợn kêu, tiếng chân người chạy xen lẫn tiếng la hét của giặc, tiếng khóc thét của phụ nữ. Nhìn cảnh tượng ấy, cặp mắt sắc sảo của Trần Nguyên Hãn long lên dữ dằn.

    - Chạy thôi anh Hãn, một nông phu giọng run run không phải vì sợ hãi.

    Trần Nguyên Hãn chuyển vai bừa, cầm vạt áo quạt gió, để lộ bộ ngực đồ sộ, nổi từng thớ rắn chắc:

    - Các bác đánh trâu vào rừng sâu đi, tôi ở đây xem sao đã. Vừa dứt lời, Trần Nguyên Hãn và toán nông phu đã nhìn thấy giặc lũ lượt kéo đến ngày một đông và đang đuổi bắt những bạn làm đồng của họ chưa kịp chạy thoát. Người nông phu đứng tuổi giọng lạc đi:

    - Làm thế nào cứu được họ, anh Hãn?

    Bộ mặt vuông chữ điền rất sáng của Trần Nguyên Hãn tái đi:

    - Làm thế nào được. Chúng nó đông như dòi bọ thế kia!

    Bỗng toán nông phu trang Sơn Đông cùng kêu lên rất thanh. Họ đã tận mắt nhìn thấy giặc đuổi kịp mấy nông phu và xả kiếm chém chết từng người. Cũng từ phía ấy, trên con đường gấp khúc dẫn vào rừng, bỗng xuất hiện từng đoàn dân chúng gồng gánh, bồng bế nhau chạy giặc. Lập tức bọn giặc tỏa ra làm nhiều cánh đuổi theo vây bọc lấy đoàn người, mặc sức cướp giật và bắt đi thiếu nữ. Toán nông phu kinh hãi nhìn nhau, thở dài ngao ngán. Tang tóc, loạn ly thực sự đã trùm lên vùng Sơn Đông này rồi. Máu những người Sơn Đông đã bắt đầu đổ.

    Cho đến lúc về đến nhà giúp mẹ cất giấu thóc lúa. Trần Nguyên Hãn vẫn chưa xua đuổi được cảnh giặc giết hại dân lành và nỗi nhục khi phải bó tay nhìn giặc hành hạ, giết hại dân mình.

    - Sao con chẳng nói chẳng rằng gì thế? Bà mẹ hỏi khi việc thu dọn đã xong.

    Trần Nguyên Hãn ngỡ ngàng nhìn người mẹ tóc bạc quá nửa nhưng còn phảng phất nét kiều diễm thời trẻ, không trả lời thẳng vào câu hỏi.

    - Giặc đã tràn đến giết hại người mình, con nghĩ đến bổn phận của trai thời loạn.

    Bà mẹ không ngạc nhiên trước khẩu khí của con. Từ lúc bụng mang dạ chữa chạy lên trang Sơn Đông, ngay sau khi chồng và đứa con trai cả bị Hồ Quý Ly sát hại bà những cầu mong đứa con trong bụng sẽ là đứa con trai có tài cao đức rộng, mai sau có thể rửa được thù nhà. Mong ước ấy đã bước đầu đạt được. Bà sinh Trần Nguyên Hãn vào lúc gia đình tan nát, cảnh sống thiếu thốn. Và, mặc dù là quý tộc, bà không còn nhớ hết là bà đã trải qua những vất vả, nhọc nhằng như thế nào để nuôi con. Nhưng bà lại vui lòng cam chịu không một lời than. Hơn thế, bà còn hài lòng vì thấy Trần Nguyên Hãn từ lúc bé đã thông minh, xuất chúng, học đâu nhớ đấy và ngày càng tỏ rõ là người có chí lớn. Vì vậy, nghe con trả lời bà vừa vui vừa tỏ ý lo ngại:

    - Mẹ nào ngăn con nghĩ đến việc làm rạng rỡ dòng dõi họ Đông A. Nếu vậy, mẹ không phải rau cháo nuôi con đi học, mua binh thư cho con nghiền ngẫm và kể cho con nghe về tổ tông, về thù nhà. Nhưng, phàm việc lớn phải nuôi chí, phải có nhiều người giúp sức, nay tuổi con còn trẻ, đường đời chưa trải, một lời con xướng lên dân chúng chưa dễ đã tin theo!

    - Mẹ yên lòng, con đã gần hai chục tuổi đầu rồi. Con tiếc rằng nhà Hồ thoán nghịch đã mất lòng dân nên vận nước có cơ hỏng mất.

    - Việc lớn rồi còn phải chờ. Phải biết bền gan vững chí con ạ. Vừa lúc ấy, viên gia tướng từng theo hầu ông Trần Án cha Trần Nguyên Hãn, vai đeo một món hạt giọc, tất tả chạy về kêu lớn.

    - Thành Đa Bang mất rồi, thưa tôn phu nhân!

    - Thành Đa Bang mất rồi Trần Nguyên Hãn kinh ngạc nhắc lại cái thành mà Hồ Nguyên Trừng đã dốc sức xây thật kiên cố ấy mà mất thì cả phòng tuyến của nhà Hồ sẽ vỡ; kinh thành ngày một ngày hai cũng sẽ mất theo. Vận nước thế là hỏng rồi.

    - Thưa công tử! Thế giặc mạnh lắm. Nghe nói chúng kéo sang tám mươi vạn quân và phao lên rằng để khôi phục nhà Trần.

    - Ông tin như vậy sao? Trần Nguyên Hãn nóng nảy hỏi.

    - Thưa, tôi không tin, nhưng chắc không ít người nhẹ dạ.

    - Ông nói phải lắm. Giặc Ngô mượn tiếng phục Trần để cướp nước ta đó thôi. Cũng không phải thế giặc mạnh đến sức ta không chống lại được. Chỉ vì nhà Hồ lấy gian trị để hiếp dân chúng, thuế má phiền, lao dịch nặng, pháp luật ngặt, hình phạt nghiêm, gặp mừng mà khen thưởng, nhân giận mà phạt giết nên trăm họ không tin theo. Mất nước chính là điềm ấy.

    Nghe con nói, bà mẹ khen:

    - Con thành người lớn thực rồi.

    Bỗng ngoài cổng có tiếng gọi. Trần Nguyên Hãn vội chạy ra. Viên gia tướng nhân lúc đó nói với bà Lê Thị Hoàn:

    - Công tử trẻ tuổi nhưng đọc rộng, biết nhiều, rõ là người có tài kinh bang tế thế cho đời nay.

    Bà Lê Thị Hoàn thoáng bối rối:

    - Ông yêu con ta mà khen quá lời đó thôi. Chẳng hay võ nghệ con ta thế nào?

    - Ở công tử cái đáng nói không phải là giỏi võ nghệ. Cái ấy đã đành. Cái đáng nói là công tử am hiểu binh pháp, ai cũng phải phục.

    Có ông giúp đỡ, ta còn lo nỗi gì!

    - Thưa tôn phu nhân, giúp đỡ công tử là bổn phận của kẻ làm tôi.

    Thấy con là người có chí, nên ngay sau đấy bà Lê Thị Hoàn quyết định làm một việc mà lâu nay bà vẫn băn khoăn, suy nghĩ: Trao thanh kiếm gia truyền cho con. Phải rồi, ta có thù với Hồ Quý Ly, bà thầm nghĩ, lẽ ra ta phải chọn lúc trao cho con thanh kiếm này để nhớ đến thù nhà mà lo trả. Nhưng làm việc đó phỏng có ích gì? Nếu con ta chiêu binh mại mã, việc lớn mau thành, thì xã tắc cũng bị đẩy vào cảnh loạn ly, nồi da nấu thịt. Nếu chẳng may việc bại lộ, tính mạng con ta rồi sẽ ra sao? Nay giặc Ngô đã kéo sang, tình thế biến chuyển, đích thực chúng là kẻ thù của cả dân nước. Con ta sớm nghĩ đến bổn phận của kẻ làm trai, lẽ nào ta không trao kiếm quý cho con, khích lệ con vì đại nghĩa. Thanh kiếm ấy khi xưa, cụ tổ bảy đời đã từng giết giặc Nguyên mang lại cảnh thái bình thịnh trị cho dân nước. Vậy, trao cho con thanh kiếm gia truyền ấy, chỉ là để nhắc con nhớ đến chí người xưa, ra tay cứu nước, mưu phúc lành cho muôn họ. Chí đã quyết bà vác thuổng tới bên bụi chuối ra sức đào. Hài lòng vì việc làm của mình, vui mừng vì trao kiếm cho con đúng lúc, bà dùng toàn sức đào bới, và mỗi nhát thuổng như nhắc bà nhớ lại võ công của cha ông và mường tượng thấy con sẽ lập nên kỳ tích. Thanh kiếm đây rồi. Bà đỡ lấy và gõ vào lưỡi thuổng. Thanh kiếm tryuền qua bao đời đã mòn đi chút ít, nhưng tiếng thét thanh giòn, âm thanh tỏ rõ là kiếm quý. Bà đem kiếm vào trong nhà, lấy khăn lau sạch bóng. Vừa lúc ấy, Trần Nguyên Hãn, sau lúc nói chuyện với các nông phu, đã trở về mặt mày rạng rỡ.

    Thấy mẹ đang mê mãi lau kiếm, Trần Nguyên Hãn kinh ngạc dừng lại. Phút chốc, Trần Nguyên Hãn đã đoán ra mọi việc, nét mặt lộ rõ xúc động. Bà mẹ lẳng lặng đem thanh kiếm ra vườn, chọn một cây chuối to, nhẹ nhàng sải kiếm. Nhát kiếm bén ngọt đã cắt đôi thân chuối. Bà trở vào nhà nghiêm nghị nhìn con trai vẫn chưa dứt cơn kích động:

    - Cha con quý thanh bảo kiếm này hơn cả tính mạng mình. Cụ tổ bảy đời đã rèn đúc nó để đánh giặc Nguyên. Nay giặc Ngô đã sang giày xéo đất nước, giết hại dân lành. Con là người có chí có tài hãy biết giữ lấy nó.


    Trần Nguyên Hãn quỳ xuống đỡ kiếm, giọng trầm hẳn đi:

    - Con hiểu lòng mẹ. Con sẽ không để danh tiếng của thanh bảo kiếm này mai một.

    - Con hãy mài cho nó thêm sắc và dùng vào việc đại nghĩa.

    Trần Nguyên Hãn nhìn mẹ vẻ biết ơn rồi vuốt thanh kiếm hồi lâu.

    Vượt qua đò sông Đáy, nghe theo lời cô lái đò, Trần Nguyên Hãn phải tìm lối đi xuyên rừng, tránh các đồn giặc, để trở về nhà. Vì vậy, quãng đường về nhà đáng lẽ chỉ cần đi nửa buổi, Nguyên Hãn phải mất trọn một ngày.

    Đến chợ Bạch Hạc thì trời đã gần tối. Trần Nguyên Hãn rùng mình ngửi thấy mùi vị khét và từ trên các cành cây ven chợ, cả chục xác người bị giặc treo cổ chưa được chôn cất. Điều gì đã xảy ra ngay phiên chợ này, Trần Nguyên Hãn tự hỏi và cồn cào lo lắng. Nhác thấy bóng giặc ở phía trước, Trần Nguyên Hãn lùi lại, tìm một chỗ khuất đặt gánh, tay không rời chiếc ống tre xuyên mắt rỗng ruột có chốt mấu, bên trong giấu thanh bảo kiếm, dùng làm đòn gánh. Chao ơi! Mới chỉ có một tuần trăng đi vắng mà quê hương đã tan hoang sơ xác nhường này! Trần Nguyên Hãn bỗng nhớ lại sau lúc giặc Minh bắt được cha con Hồ Quý Ly đem về nước đặt ách đô hộ tàn bạo lên đầu lên cổ dân Đại Việt, nơi giặc liền dựa vào các thổ quan ra sức lùng bắt các con cháu nhà Trần, nhà Hồ để diệt trừ mầm chống đối và để tránh mắt giặc, Trần Nguyên Hãn đã từ biệt mẹ và người tướng già, quảy dầu đi bán để về Đông Quan. Tìm gặp Nguyễn Trãi và liên kết với các quý tộc nhà Trần bàn kế lấy lại nước. Chuyến đi chẳng được như ý. Nguyễn Trãi bị Trương Phụ bắt, hiện tính mạng không biết ra sao, nên anh em chẳng được gặp nhau. Nhiều người trong hoàng gia theo gương ông nội ngày chơi động Thanh Hư, đêm xem cầu Thấu Ngọc, yêu nước thương dân chỉ biết uống rượu khuây sầu, ngâm thơ nhớ nước. Chính họ đã khuyên Nguyên Hãn lui về ở ẩn, giữ lấy mình. Giữa lúc ấy, Trần Nguyên Hãn lại được tin nhiều quý tộc Trần như Trần Nguyên Chỉ, Trần Sư Hiền... Ngay cả Trần Thúc Giao vì vinh hoa phú quý đã lần lượt ra hàng giặc. Chỉ có Trần quỷ, Trần Quý Kháng dám chiêu binh mại mã nguyện cùng quốc quân sống cùng xã tắc. Chống lại giặc Ngô. Nhưng ngọn cờ khôi phục nhà Trần đã suy, lòng dân không mong, cũng không phải là nơi Nguyên Hãn gửi chí được. Buồn bã, Trần Nguyên Hãn trở về. Và dọc đường đi, Nguyên Hãn đã nghĩ kỹ rồi, Trần Nguyên Hãn sẽ ngấm ngầm chiêu binh tích lương chờ thời theo ý riêng của mình. Con đường Trần Nguyên Hãn chọn không phải là con đường theo nhà hậu Trần xướng nghĩa, không tự tôn để chiêu hiền đãi sĩ mà là con đường chống giặc vì dân nước, vì phúc lành của muôn họ.

    Trời tối dần, Trần Nguyên Hãn xốc đôi vò đã hết dầu định đi, thì từ phía chợ, bỗng xuất hiện mấy bóng người lúi húi như đang tìm kiếm vật gì. Đoán chắc không phải binh lính giặc, Trần Nguyên Hãn quảy đôi vò, kín đáo tiến lại. Trần Nguyên Hãn suýt bật lên thành tiếng khi nhận ra viên tướng già và mấy nông phu ở trang Sơn Đông.

    - Ông làm gì ở đây? Trần Nguyên Hãn cất tiếng hỏi.

    - À, công tử! Sao công tử lại biết tôi ở đây? Người tướng già sốt sắng đáp.

    - Ông và các bác tìm xác ai đó phải không?

    Cả bọn nín thinh không đáp. Trần Nguyên Hãn bồn chồn:

    - Giặc đã sát hại ai vậy? Sao ta hỏi không nói?

    - Giặc đã giết tôn phu nhân rồi.

    - Trời ơi! Trần Nguyên Hãn kêu lên rồi đứng lặng như hóa đá.

    Người tướng già đến bên Trần Nguyên Hãn nhỏ nhẹ:

    - Việc đã xảy ra rồi, công tử chớ quá đau lòng. Giặc tích điều ác, nghịch lòng dân, chúng càng chóng chết. Công tử đã chẳng ra đi vì đại nghĩa đó sao?

    Một nông phu cũng đến bên Trần Nguyên Hãn:

    - Sáng nay chúng tôi không ai trói lão tướng lại thì sự thể không biết sẽ ra sao. Tên huyện quan Trần Thiêm Ích vừa được giặc Ngô cất nhắc đã dẫn giặc đến bắt tôn phu nhân và nhiều người khác đã đem đi giết hại. Chúng tôi đang đi tìm xác những người bị giết đem chôn cất.


    - Mẹ ta trong số những người bị treo cổ này chăng? Trần Nguyên Hãn giọng khản đặc hỏi.

    - Ồ; không? Vẫn người nông phu đáp. Tôn phu nhân bị giặc mổ lấy mỡ đem rán rồi thiêu sống. Người đã nguyền rủa giặc cho đến lúc chết.

    Nỗi đau xé lòng, nỗi căm thù giặc ngút trời đã khiến Trần Nguyên Hãn nảy ra một quyết định táo bạo. Vì vậy, sau một hồi suy tính, Trần Nguyên Hãn cất tiếng hỏi:

    - Nếu không có bọn thổ quan, giặc có mắt cũng như mù, có tai cũng như điếc. Vậy trong lúc ta chưa đủ sức dấy binh chống giặc, trước phải bịt mắt chúng, chặt chân tay của chúng, nhân thể để răn đe những tên cam tâm trở giáo đón giặc.

    Người tướng già sốt sắng:

    - Công tử nói chí phải. Tôi cũng nghĩ tới lẽ ấy. Bọn người quỳ gối rước giặc, chỉ cho giặc bắt giết dân mình thật đáng tội chết.

    Cả ngày hôm nay, chúng tôi không bỏ xót một hành tung nào của lũ ấy cũng vì lẽ đó.

    - Nhà tên huyện quan ở đâu? Trần Nguyên Hãn hỏi người tướng già.

    - Cách thành Tam Giang chừng hai dặm.

    - Việc canh phòng thế nào?

    - Thường chỉ có hai tên lính thay nhau đứng canh ở cổng.

    Sau một hồi suy nghĩ, Trần Nguyên Hãn đã hỏi:

    - Ta cần một bộ quần áo của giặc Ngô. Vào giờ này bọn giặc có la cà vào thôn cùng ngỏ vắng không?

    - Có, người tướng già đáp. Nhưng chúng đi thành từng toán.

    Trong đêm tối, cặp mắt Trần Nguyên Hãn rực sáng như sao.

    - Bây giờ các bác hãy ở lại chôn cất người chết. Còn ông, theo ta.

    - Để chúng tôi cùng giúp sức. Các nông phu nhất loạt nói.

    - Thôi, đông người dễ lộ. Rồi ta sẽ gặp nhau bàn đại sự sau.


    Nói rồi, Trần Nguyên Hãn cùng người tướng già vội vã đi khỏi chợ.

    Khắp vùng Tam Giang loan truyền một cái tin: Có hai người lạ mặt, rất giỏi võ phục giết lính Ngô rồi cải trang, đang đêm đến tư dinh giết chết tên huyện quan. Một đồn mười, tin dữ bay đi làm cho giặc Minh đêm đêm không dám ra khỏ đồn, bọn thổ quan hể hả. Chính họ thêm mắm thêm muối và câu chuyện để uy hiếp tinh thần giặc.

    Trong lúc ấy Trần Nguyên Hãn được dân chúng che chở vẫn đêm chong đèn đọc binh thư, ngày quẩy dầu đi khắp vùng vừa dò xét nội tình giặc, vừa khích lệ lòng dân chúng, ngấm ngầm thu phục nhân tâm, mưu việc lớn.

    Một hôm, Trần Nguyên Hãn gọi người tướng già cùng đi với mình vào một khu rừng Thần. Chỉ là bãi đất rộng giữa rừng xung quanh có cây cao bóng cả, cỏ gai rậm rạp, Trần Nguyên Hãn hỏi người tướng già:

    - Ông thấy chọn nơi này làm nơi luyện quân có được không?

    Người tướng già cố nén tiếng reo.

    - Bấy lâu tôi vẫn chờ mong, ngày công tử dựng cờ dấy nghĩa chống giặc. Đã đến lúc dân chúng cần người chèo lái.

    - Ta biết vậy. Nhưng hãy khoan, rồi ông đừng hiểu lầm ý định của ta. Ta không bao giờ có mưu đồ vương bá. Bản thân ta chỉ muốn dành được nước cứu được dân đuổi được giặc mà thôi.

    Nếu vậy sao công tử không giúp Trần Ngỗi va Trần Quý Khoán. Tôi nghe nói nghĩa quân của hai vị vương ấy đã thu phục được miền đất từ Thanh Hóa trở vào.

    - Ta đã nghĩ kỹ rồi lúc này khôi phục nhà Trần, lòng dân đã chán ghét thì nghiệp lớn sao thành được. Ta chỉ có thể cứu dân cứu nước theo chí riêng của ta.

    - Nhưng không dựng cờ xướng nghĩa sao thu phục được nhân tâm, trai tráng sao biết được mà tìm tựu nghĩa?

    Trần Nguyên Hãn chậm rãi:

    - Ông yên lòng. Hiện tình dân chúng lúc này đòi ta phải thức thời. Nghĩa lớn là ở mục đích chứ không phải ở danh nghĩa. Đất nước này rồi thiếu gì minh chủ để ta phò tá. Ta thực chỉ muốn làm tướng đánh trăm trận trăm thắng.

    Người tướng già ngạc nhiên đến thán phục:

    Công tử có tài chí mà lại khiêm nhường rất mực.

    - Ta muốn lập đồn quân nơi đây, ngay rừng này ông thấy thế nào?

    - Chọn đất rồi họp binh, công tử quả là người chín chắn hiếm có vậy. Dùng nơi này vừa luyện tập võ nghệ vừa giấu quân thì không đâu bằng. Lại nữa, quanh vùng có thung Đa Mang, có đồi Ngọc Sách, đồi Chủ, đồi Trà, nếu vạn nhất có xảy ra chuyện gì, các nơi hỗ trợ cho nhau thật tiện lợi.

    Trần Nguyên Hãn phấn chấn:

    - Ngay ngày mai ta sẽ tụ tập trai tráng trang Sơn Đông rồi tỏa đi các nơi giải bày nghĩa lớn, dân chúng chắc sẵn lòng hưởng ứng.

    Giữa rừng Thần, trước đàn thề khói hương nghi ngút, có trương một lá cờ đại, Trần Nguyên Hãn sau mấy lời thăm hỏi nghĩa binh bỗng cất cao giọng:

    - Tôi vốn dòng dõi nhà Trần, vì chí cứu đời giúp dân, trước họa diệt chủng của giặc Ngô, đã dựng cờ xướng nghĩa. Tôi thề không khôi phục cơ nghiệp nhà trần đã suy, không mưu đồ vương bá, lại cũng không vì danh hão mà nguyện đem chí mọn, nối bước tiền nhân, cùng các nghĩa sĩ, phụng sự dân nước, quyết đánh giặc, khôi phục lại nước cũ. Nếu tôi sinh lòng này khác, cầu hơn hiện tại, núp bóng quân thù, không cùng đồng lòng, quên lời thề ước, cúi xin trời, đất, thần linh giáng cho trăm vạ, chịu hết hình phạt của trời. Dầu trời long đất lở, tôi xin lấy giọt máu này chứng cho chí hướng không rời của tôi.

    Dứt lời, Trần Nguyên Hãn rút kiếm, cắt vào ngón tay trỏ bên trái, rồi quỳ xuống thấm máu vào lá cờ đại. Gần hai trăm nghĩa quân lắng nghe và theo dõi từng cử chỉ của người chủ tướng trẻ tuổi một cách nghiêm trang, thành kính. Ngay sau đấy, người tướng già bước lên đàn, giọng trầm đi vì xúc động
    - Tôi tuy tài hèn đức mọn, không chịu được nỗi nhục mất nước quyết xin hiến thân cho nghĩa lớn, theo chí của công tử, cùng anh em nghĩa binh nguyện một lòng đánh giặc cứu nước. Nếu tôi thay lòng đổi dạ không thể sống cùng nhau, dám quên lời thề ước xin trời chu đất diệt kẻ phản bội. Tôi xin lấy máu này làm bằng cớ. Người tướng già rút đoản đao chích máu thấm vào cờ.

    Lần lượt các nghĩa binh lên tuyên thệ chích máu. Lá cờ đại chẳng máu chốc đã sẫm đỏ. Giữa lúc ấy, trên lối mòn dẫn vào rừng, Trần Nguyên Hãn và các nghĩa binh bỗng thấy xuất hiện một con voi lớn. Trên bành voi, một nông phu trẻ tuổi nước da đỏ như đồng hun, tay áo xắn vào nổi từng thớ chắc nịch, đang giơ búa thúc voi đi gấp. Voi vừa đến giữa giáo trường, chợt một nghĩa quân kêu lên sững sốt:

    - Trạch Khô, đô vật lừng danh vùng Ba Vì!

    Trạch Khô tên người quản tượng vội cho voi dừng lại rồi nhảy xuống, tiến đến trước mặt Trần Nguyên Hãn:

    - Nghe tin tướng quân dựng cờ dấy nghĩa nên tôi xin ra mắt, mong được tướng quân thu dụng. Con voi kia vốn là của một chiến tướng nhà Hồ bị lạc sau ngày thành Đa Bang thất thủ. Tôi bắt được nó và xin trao lại cho tướng quân.

    Nhiều tiếng xuýt xoa nổi lên.

    Trần Nguyên Hãn nắm chặt tay Trạch Khô, giọng hồ hởi:

    - Tấm lòng của người thật quý, ta sao nỡ chối từ!

    Ngay sau ấy, Trần Nguyên Hãn chia các nghĩa binh thành từng đô rồi quả quyết nói:

    - Người của chúng ta còn ít. Nhưng phép dụng binh, quân cốt tinh không cốt nhiều. Muốn tinh phải am hiểu binh thư, phải dầy công luyện tập. Vì vậy, anh em phải ngày luyện võ, đêm học binh thư, ai cũng phải gắng hết sức mình không được lười biếng. Được như thế, chẳng mấy chốc chúng ta sẽ thành một đội binh tinh nhuệ, một địch được mười... Hay hơn nữa.

    Ngừng lại một lúc để thăm dò các nghĩa quân, Trần Nguyên Hãn lại tiếp, giọng chắc nịch:

    - Theo các bậc tiền bối, vật là đầu hàng võ. Muốn giỏi võ phải giỏi vật đã. Cũng như trước khi tập kiếm, kích, côn quyền phải giỏi tấn. Thái sư Trần Thủ Độ xưa, từng là một đô vật có tài vùng Thiên Thuộc. Thái sư Trần Qaung Khải tổ bảy đời của ta từng là trạng vật, sức khỏe nhất nhì trong nước. Vậy, trước khi học võ phải học vật. Vật có nhiều tính con nhà binh phải có. Tính đó là can đảm, bình tĩnh, nhanh trí, kiên nhẫn và nhất là khỏe. Anh em có bằng lòng như ta nói không?

    - Chúng tôi xin theo ý tướng quân. Các nghĩa binh đồng thanh đáp. Bỗng một nghĩa binh lên tiếng:

    - Thưa tướng quân! Trong quân ngũ hiện có nhiều đô vật. Vậy buổi đầu luyện binh xin cho thi vật để mọi người đều được học hỏi.

    Lập tức, các nghĩa binh nhất loạt hưởng ứng.


    Hòa trong niềm vui của các nghĩa binh, Trần Nguyên Hãn vốn là một đô vật từ ăn giải cạn ở nhiều nơi, thích thú ra lệnh:

    - Ta bằng lòng cho anh em thi vật. Rồi hướng về người tướng già, Trần Nguyên Hãn nói lên ông hãy cầm trống chầu thay ta.

    Các nghĩa binh reo hò, tản ra chuẩn bị.

    Từ đấy tướng và quân, đói no cùng trải, ngọt bùi chia xẻ, say sưa, chuyên cần luyện tập. Dù tuổi còn trẻ nhưng Trần Nguyên Hãn tỏ rõ là viên tướng trí dũng song toàn. Vì vậy, quân sĩ ai nây đều kính trọng và râm rắp tuân theo mệnh lệnh của viên tướng trẻ. Nhân dân cũng rất mực yêu mến Trần Nguyên Hãn. Họ bí mật góp tiền của và thóc gạo mua ngựa chiến trao cho nghĩa binh. Chính nhờ sự hỗ trợ ấy mà đồn quân Minh kiềm chế cả một vùng cách đó không xa nhưng chúng không hề biết tung tích nghĩa quân Rừng Thần.

    Đất nước đang sôi lên trong biến động. Nơi nơi dân chúng đang nổi lên chống lại giặc Minh. Tin đồn dồn dập về vùng Bạch Hạc: ở châu Quảng Oai ở phủ Lạng Giang, ở phủ Trấn Mạn (bắc Thái Bình), tại huyện Đông Kết (Khoái Châu), tại châu Trường Yên (Ninh Bình), rồi phủ Lạng Sơn, phủ Thái Nguyên, lớn nhất là ở Nghi Dương, huyện An Lão, châu Đông Triều đều nổ ra cuộc dấy binh của dân chúng. Ngay ở Đông Quan, sào huyệt của giặc, dân chúng Thanh Oai (Từ Liêm), Thanh Đàm (Thanh Trì) cũng liên tiếp đứng lên chống giặc. Tiếng dội của những cuộc nổi dậy ấy, khiến nghĩa quân Rừng Thần nô nức và âm thầm, bồn chồn và chờ mong ngày được xuất quân đánh giặc.

    Một hôm người tướng già nói với Trần Nguyên Hãn:

    - Hiểu công tử thì trên đời này không ai bằng tôi. Nhưng gần một năm luyện quân rồi, ai nấy đều muốn xung trận, mà công tử thì vẫn án binh bất động?

    Trần Nguyên Hãn chậm rãi:

    - Ta ngày đêm đau lòng nhức óc suy tính việc ấy. Mà cũng không phải bây giờ mới nghĩ tới. Nhưng, phàm làm một việc lớn thì phải cân nhắc đường đi nước bước, sao cho đánh chỉ có thắng mà không có bại. Hãy xem Nguyễn Sư Cối quân có đến hai vạn, dũng mãnh là thế mà chỉ qua vài trận đã thất thế. Xem vậy, kẻ làm tướng phải biết chọn thời, không nghĩ chính tổn thất không biết nhường nào.

    - Đành rằng thế. Nhưng chẳng lẽ nghĩa quân cứ luyện tập hoài thôi ư?

    - Đã ra quân thì phải chắc thắng. Những lần đi bán dầu dò la các đồn giặc, ta nghiệm ra rằng gần đây, chúng đang rục rịch chuyển quân, tỏ ra có việc gì hệ trọng lắm. Ta đoán nước nó chắc không yên. Vậy phải biết nằm gai nếm mật thêm chút nữa.

    Hiểu lòng quân sĩ, Trần Nguyên Hãn sau đấy đã bày tỏ tất cả sự tính toán và suy nghĩ của mình. Và, ngay ngày hôm sau, Trần Nguyên Hãn đã sai người tướng già về Đông Quan lần nữa tìm gặp Nguyễn Trãi bàn đại sự.

    Người tướng già vừa đi được hai ngày thì Trần Nguyên Hãn đã được thám báo cho hay: Minh Thành tổ đã quyết định mở cuộc Bắc chinh đánh Thát Đát và Trương Phụ bị triệu hồi về nước. Giặc Minh hiện đang điều bát quân sĩ rất nhốn nháo.

    Lập tức, Trần Nguyên Hãn, viên tướng bao lâu phải nằm gai nếm mật lợi dụng cơ hội ấy quyết định ra quân. Vì vậy, Trần Nguyên Hãn một mặt ra lệnh cho binh sĩ không được rời binh khí, mặt khác, tự mình gánh dầu đi đến thành Tam Giang và các đồn lẻ của địch, để dò la nội tình của chúng.

    Và ngay đêm ấy, viên tướng trẻ vốn điềm tĩnh, chín chắn đã vạch ra một kế hoạch táo bạo: Đánh thành Tam Giang rồi quét sạch giặc ra khỏi khu vực này. Trần Nguyên Hãn cho triệu quân sĩ lại rồi bằng một giọng dứt khoát, tự tin, viên tướng trẻ nói:

    Tâm thần giặc đang hoang mang vì Trương Phụ, tên danh tướng tàn bạo, bị triệu về nước lo đánh Thát Đát. Vậy, đã đến lúc các ngươi được ra tay, mặc sức tung hoành ngang dọc cho phỉ với ao ước bấy lâu.

    Hơn hai trăm nghĩa quân thích thú nhảy lên hò reo không ngớt.

    - Nhưng, thành Tam Giang của giặc rất kiên cố. Trần Nguyên Hãn, tiến sát hàng quân, trầm giọng tiếp, quân giặc lại còn đến cả ngàn đứa. Vây các ngươi dám có gan dạ hạ thành không?


    - Tướng quân có chọc trời khuấy đất đã quyết là thắng.

    - Binh ta ít nhưng tinh nhuệ, đã đánh tất phải thắng. Xin tướng quân cho lệnh. Người hiền lành nhất trong nghĩa quân cũng gào lên xin đánh.

    Trần Nguyên Hãn phấn chấn hẳn lên:

    - Ta hiểu lòng các ngươi. Vậy ngay đêm nay, nhân lúc giặc không đề phòng, ta quyết ra tay, trừ cho dân một mối họa. Đi đánh giặc, âu cũng là dịp để các ngươi được thi thố tài năng.

    Tiếng dạ ầm ầm nổi lên làm chấn động canh khuya.

    Ngay sau đấy, Trần Nguyên Hãn đã dẫn đoàn quân lên đường.

    Canh ba đêm ấy, nghĩa quân Rừng Thần đã đến chân thành Tam Giang mà giặc Minh không hề hay biết. Đã từng tìm hiểu thành này, Trần Nguyên Hãn cho khoảng thành cao nhất, ngay gần sông Tuyên, nơi giặc không chú ý canh phòng, để bắt thang cho quân sĩ kín đáo vượt qua. Nghĩa quân Rừng Thần am hiểu binh thư, luyện tập công phu, lại có sức khỏe, nên ai nấy đều nhanh chóng theo chân viên tướng trẻ, trèo vào thành không một tiếng động. Trong lúc ấy, quân Minh ỷ có thành cao, ngủ say như chết. Trên chòi canh, lính canh cũng ngáy như sấm.

    Trời tối đen như mực. Nghĩa quân đã lọt được vào thành.

    Theo lệnh Trần Nguyên Hãn, nghĩa quân cởi trần tỏa về các lán trại giặc. Trần Nguyên Hãn đích thân dẫn một cánh quân chọc thẳng vào nơi bọn tướng đang ngủ ở giữa thành.

    Bốn bề đều yên lặng. Vòng vây mỗi lúc một khép chặt. Tiếng Trần Nguyên Hãn bỗng vang lên dõng dạc:

    - Phải bắt không cho thằng giặc nào chạy thoát.

    Những tên lính trên chòi canh giật mình thức giấc. Mấy mồi lửa trên mặt thành được thắp sáng. Quân canh không kịp kêu. Sấn dậy trên đầu chúng, đất rung dưới chân chúng. Trong ánh lửa, chúng thấy đội quân mình trần trụi, đang vung kiếm, mã tấu xông vào các lán trại chém quân chúng như chém chuối.

    Bị đánh bất thần, giặc Minh chết như ngả rạ. Những tên sống sót mếu máo gọi nhau. Chúng va vào nhau ngã lổng chổng. Chúng hoảng hốt đến không cầm nổi thanh gươm, không tìm ra ngọn giáo.

    Lính hộ vệ của tướng giặc thất thanh gọi chủ. Nhưng chủ tướng của chúng còn mơ màng chưa tỉnh, đã bị Trần Nguyên Hãn dẫn đầu một toán nghĩa quân, xông tới hạ sát. Quân giặc mất tướng, lại thấy nghĩa quân tả xung hữu đột nên tên nào tên ấy cố tìm đường thoát chạy. Nhưng chúng kinh hãi thấy cổng thành đã chất đống xác chết. Giữa lúc ấy, nghĩa quân hò reo như sóng gào như gió thét vừa khoa trương thanh thế, vừa dồn ép những tên giặc còn lại vào chân thành. Cùng thế, bọn giặc còn lại phải rung rẩy hạ gươm giáo quy hàng.

    Trời sáng dần, Trận địa đã yên ắng hẳn. Nghe hiệu lệnh thu quân, nghĩa quân Rừng Thần nét mặt tươi rói, đứng xếp hàng trước mặt người chủ tướng, mới chỉ huy trận đầu, đã tỏ rõ tài xuất chúng. Chỉ vào đàn ngựa chiến mới cướp được của giặc, Trần Nguyên Hãn cất cao giọng:

    - Ngay bây giờ các ngươi hãy lên ngựa cùng ta đi cướp các đồn giặc trong vùng. Chỉ cần để trăm người ở lại giữ thành và coi tù binh mà thôi.

    Dứt lời, Trần Nguyên Hãn xốc kiếm nhảy lên ngựa dẫn đầu đội kỵ binh phi ra ngoài thành. Nhưng đoàn ngựa chiến của Trần Nguyên Hãn vừa ra khỏi thành bỗng ùn lại. Dân chúng nghe tin nghĩa quân Rừng Thần hạ được thành tam Giang kéo tới đông như hội. Họ cúi đầu chào đoàn quân vừa thắng trận. Các bậc bô lão rưng rưng nước mắt nhìn đội quân áo vải xung trận như gió táp. Mới hôm qua, giặc Minh còn ra oai hống hách, hôm nay dân chúng như tỉnh cơn mê, mừng thấy cảnh yên hàn.

    Ngồi bên mình ngựa, ăn vận môc mạc nhưng uy phong lẫm liệt. Trần Nguyên Hãn vui cười, đáp lễ dân chúng. Rồi đoàn quân phóng ngựa đi vội vã.

    Người tướng già từ Đông Quan trở về giữa lúc Trần Nguyên Hãn và nghĩa quân đã làm chủ cả vùng Bạch Hạc. Vừa gặp Trần Nguyên Hãn, người tướng già cúi đầu:

    - Tôi có lời chúc mừng công tử đã ra quân đại thắng. Dọc đường đi, dân chúng hâm mộ công tử biết chừng nào!

    Trần Nguyên Hãn thoáng bối rối:

    - Chẳng hay ông có gặp anh ta không?

    - Thưa công tử! Nguyễn tiên sinh vẫn bị giặc giam lỏng ở Đông Quan. Tuy thế, gần đây sự kiềm chế có bớt phần gay gắt. Tiên sinh vẫn có dịp đi đây đó tìm người nghĩa khí chung lo việc nước. Đại khái, chí hướng của tiên sinh rất giống công tử vậy. Hay tin công tử dấy binh không có ý khôi phục nhà Trần, không mưu đồ vương bá, tiên sinh khen ngợi công tử là người thức thời.

    - Anh của ta là người có tài kinh bang tế thế, chí lớn trùm thiên hạ. Nhưng cũng là người từ tốn, giản dị hiếm có.

    - Thưa công tử! Trước lúc về, tiên sinh mật dặn ở đất Lam Sơn có người hào trưởng họ Lê tên Lợi đang ngấm ngầm thu nạp người hiền tài mưu việc đại nghĩa. Đấy là người gặp thời loạn mà chí càng bền, ẩn náu trong núi rừng, chuyên tâm về sách thao lược, lâu nay được truyền tụng như một bậc anh quân có đức độ, tài ba. Người ấy xem ra có thể gởi chí được.

    Cặp mắt Trần Nguyên Hãn rực sáng như sao:

    - Nếu được người như thế làm minh chủ, ta xin theo phò tá ngay. Nhưng sao nay anh ta còn trùng trình chưa quyết?

    - Tiên sinh nói còn phải dò xét thêm. Có thế nào, tiên sinh sẽ báo sau.

    Gần tết năm Mậu Tuất (1418), trong lúc Lê Lợi, Nguyễn Trãi và trên dưới ba chục võ tướng đang dốc sức cho ngày khởi sự thì được tin vui chợt đến: Danh tướng Trần Nguyên Hãn, người từng khiến cho quân Minh nghe oai danh đã kinh hồn, vừa đem gần hai trăm quân cùng cả trăm ngựa chiến từ vùng Bạch Hạc về tụ nghĩa. Lê Lợi cùng các tướng thân ra đón Trần Nguyên Hãn và nghĩa quân Rừng Thần. Hơn thế, hôm sau Lê Lợi đón nhận thanh thần kiếm gia truyền của Trần Nguyên Hãn dâng lên như đón nhận từ tay Tướng quốc Thái úy Trần Quang Khải. Tin vui và mẫu chuyện cảm động, rất có ý nghĩa ấy như mở cờ cho lòng náo nức xuất trận của nghĩa quân Lam Sơn. Khắp các lán trại, nơi đâu các nghĩa quân cũng xì xào bàn tán về viên danh tướng mới đến.

    - Tướng quân Trần Nguyên Hãn là em quân sư Nguyễn Trãi đấy. Hơn hai năm trước, sau khi đốc xuất hai trăm nghĩa binh hạ thành Tam Giang, bắt giết được cả nghìn tên giặc, tướng quân đã cùng quân sư vào ra mắt chúa công xin phò tá.

    - Vậy, Trần tướng quân có mặt trong hội thề Lũng Nhai đấy nhỉ, một binh tân cắt ngang hỏi.

    - Có quân sư Nguyễn Trãi nhưng tướng quân Trần Nguyên Hãn thì không. Người nghĩa quân hộ vệ Lê Lợi, đáp. Vì, sau khi tướng quân ra mắt chúa công, tướng quân lại trở về lo việc đem binh vào phối hợp. Tuy không có mặt trong hội thề nhưng biết tướng quân là người có chí lớn, lại có tài cao đức rộng nên chúa công rất mực quý mến. Các anh có biết không, người nghĩa quân làm ra vẻ quan trọng, trong số bốn người hiện dự bàn việc cơ mật với chúa công, có tướng quânTrần Nguyên Hãn đấy!

    Vừa lúc ấy, toán nghĩa quân nhác thấy Lê Lợi, Trần Nguyên Hãn đang phi ngựa từ trại quân ra giáo trường. Rồi ngay sau đấy, Lê Lợi nỗi hiệu họp binh.

    Rừng núi Lam Sơn bỗng rầm rập tiếng chân người. Phút chốc, các kỹ mã, nghĩa sĩ, dũng sĩ đã tề tựu đứng thành hàng. Lê Lợi cho ngựa tiếng tới gần đoàn quân, giọng vang như chuông đồng:

    - Ta được tin tên đại gian Lương Nhữ Hốt đã mật báo với giặc Ngô các hoạt động của ta. Vì vậy, ngay từ bây giờ quân sĩ không được rời binh khí, không được ra khỏi quân doanh, không được trễ nải việc canh phòng. Cũng từ giờ khắc này, ta trao quyền chăm nôm việc rèn dạy nghĩa sĩ cho tướng quân Trần Nguyên Hãn. Các ngươi phải nhất nhất tuân theo lệnh của tướng quân và siêng năng luyện tập. Ngày khởi sự lấy lại nước đến nơi rồi.

    Các nghĩa quân hò reo đáp lại.


    Quả là danh bất hư truyền. Chẳng mấy chốc Trần Nguyên Hãn đã hoàn toàn chinh phục được lòng tin yêu của các nghĩa binh Lam Sơn. Hơn thế, biết giữ lời, giữ ý, và bằng những hiểu biết uyên thâm về binh thư, về tài luyện quân, Trần Nguyên Hãn đã sớm chiếm được lòng kính trọng của Lê Lợi và các văn quan, võ tướng lúc ấy.

    Ngày 2 tháng 01 năm Mậu Tuất (7-2-1418), trong cảnh tết tưng bừng, Lê Lợi tự xưng là Bình Định Vương truyền hịch đi các nơi kêu gọi dân chúng nỗi dậy hưởng ứng. Trần Nguyên Hãn, con người nặng lòng yêu nước thương dân, có chí lớn, có tầm nhìn xa trông rộng, viên dũng tướng giỏi thao lược và táo tợn, được Lê Lợi phong làm tư đồ, đứng đầu hàng quan võ. Gặp được người minh chủ có chí lớn trùm thiên hạ, có được bên cạnh những người đồng sự văn võ kiêm toàn, có tài kinh bang tế thế như Nguyễn Trãi, tài năng của Trần Nguyên Hãn như được chấp cánh. Trần Nguyên Hãn, ở cương vị của mình, kể từ ngày dấy binh đã dốc lòng giúp Lê Lợi bàn định mưu lược. Và, nơi nào cũng khó khăn, chỗ nào giặc liều chết chống lại, nhất là ở chỗ trận lớn phải giành cho kỳ thắng, Lê Lợi đều phái Trần Nguyên Hãn thân đem quân đi đánh.

    Đêm ấy người tướng già lúc này trở thành viên tiểu tướng hầu cậu của Trần Nguyên Hãn vùa giục Trần Nguyên Hãn đi ngủ, thì một nghĩa quân bước vào:

    - Thưa quan tư đồ! Vương thượng cho triệu quan tư đồ. Trần Nguyên Hãn xốc kiếm dặn người tướng già đi ngủ trước rồi theo người nghĩa quân. Vừa thấy Trần Nguyên Hãn, Lê Lợi đứng dậy đón rồi vui vẻ nói ngay:

    - Quân sư cũng vừa đến. Đúng như ta dự đoán, tướng Đinh Lễ đã đánh lấy đất Viễn Châu và bủa vây chặt thành giặc. Lại nữa, tổng binh Trần Trí đã rút chạy về Đông Quan để mặc thành Nghệ An cho bọn Phương Chính, Lý An. Được cấp báo, ta triệu quân sư và quan tư đồ để cùng định liệu.

    - Tâu vương thượng Nguyễn Trãi nói. Vậy ngay đêm nay thần xin thảo chiến thư thách Phương Chính đem quân ra đồng bằng đất phẳng bày trận. Nếu bọn chúng cứ cố thủ chịu nhục cũng là lúc ta uy hiếp sĩ khí chúng, để chớp lấy cơ hội tiến binh.

    Lê Lợi chậm rãi:

    - Quân sư cứ thác lời ta thách chiến, cốt làm cho chúng khiếp nhược. Còn hiện tình, ta đã nghĩ kỹ rồi, người giỏi chiến trận thường bỏ chỗ kiên cố đánh chỗ sơ hở, tránh chỗ vững chắc đánh chỗ trống rỗng. Vậy, nếu nhân dịp này cử các tướng Lý Triên, Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Bùi Bị đem quân ra hộ sức với Đinh Lễ, thẳng tiến ra Tây Đô, các ngươi có chắc rằng ta lấy gọn được đất Nghệ An, Thanh Hóa không?

    Trần Nguyên Hãn xoay người đáp ngay:

    - Tâu vương thượng! Trần Trí chạy ra Đông Quan chắc là để lấy viện binh cứu thành Nghệ An. Vậy lúc này, tránh chỗ thực đánh chỗ trống vừa lấy đất vừa chặn viện binh, chính là diệu kế. Nhưng theo ý thần cũng không phải Diễn Châu, Tây Đô mới là đất trống, vùng Tân Bình, Thuận Hóa cũng phải chớp lấy việc này đánh lấy.

    Nguyễn Trãi phấn chấn tiếp:

    - Ý quan tư đồ thật là hay mà thần chưa nghĩ tới. Quả là miền đất ấy cần phải lấy gấp. Một khi Nghệ An, Thanh Hóa lọt vào tay ta, tất giặc phải tăng viện cho Tân Bình, Thuận Hóa để ép ta vào thế bị chặn cả hai đầu. Lại nữa, bọn giặc quỷ quyệt có thể xúi bẩy Chiêm Thành hợp sức đánh ta ở mặt sau y như Trần Trí, Mã Kỳ xúi hoàng đế Ai Lao đánh cướp sách Đa Quan mấy năm trước. Sự thể như thế là thật nguy khốn. Vậy tướng đi đánh mặt ấy phải chọn người thật giỏi, thật khôn khéo mới được.

    Những chí lớn gặp nhau không cần phải bàn nhiều. Cũng như Nguyễn Trãi, Lê Lợi rất nhạy bén để quyết định:

    - Ta biết chỉ có một người lĩnh được trọng trách ấy.

    Trần Nguyên Hãn cúi đầu:

    - Thần tuy tài hèn nhưng từ ngày dấy binh chưa có dịp lập công. Bây giờ chính là lúc xin vương thượng cho thần được cầm quân xung trận.

    Nguyễn Trãi thầm phục sự thônh minh của Trần Nguyên Hãn và càng thấy rõ Lê Lợi biết dùng người. Chính vì biết dùng người nên Lê Lợi phải để Trần Nguyên Hãn rời bản doanh đi đánh lấy miền đất quan trọng ấy. Vì vậy, Nguyễn Trãi trìu mến nhìn người em họ ngoại rồi hướng về phía Lê Lợi, không giấu được niềm vui:

    - Được quan tư đồ thân đem quân đi đánh thì vương thượng chẳng còn lo nỗi gì.

    - Chính ý ta muốn vậy Lê Lợi quả quyết. Nhưng trong ấy, binh giặc còn mạnh, lại lạ đất mới. Vậy ta cử thêm Lê Ngân đốc xuất thủy quân vượt biển vào hợp sức. Cử Lê Ngân đi cũng là để khi việc xong xuôi, quan tư đồ phải về bản doanh ngay vậy.

    Tháng 7 năm Ất Tỵ (1425), vâng lệnh Bình Định Vương, Trần Nguyên Hãn cùng thượng tướng Lê Nỗ, chấp lệnh Lê Đa Bồ đem hơn một ngàn quân, theo đường núi tiến vào Tân Bình, Thuận Hóa. Quân của Trần Nguyên Hãn vừa vượt qua sông Bố chính thì đột ngột gặp đại binh gặp do hỗ tướng Nhậm Năng đốc suất đi chặn nghĩa quân. Thấy nguy, thượng tướng, Lê Nỗ phi ngựa tới trước voi của Trần Nguyên Hãn:

    - Giặc đông, sau lưng ta là sông, rất kỵ việc bày trận. Vậy xin quan tư đồ gấp cho lệnh rút qua sông.

    - Muộn rồi Trần Nguyên Hãn ngắm nhìn địa thế nói. Dải núi kia thuộc đất nào, có lối vào không? Trần Nguyên Hãn chợt chỉ tay vào dải núi ở bên cánh đồng, chếch phía sau.

    - Thưa, đấy là đất Hà Khương, đường vào rất hiểm trở. Một tiểu tướng đáp.

    Lập tức, Trần Nguyên Hãn quả quyết ra lệnh:

    - Thượng tướng cùng chấp lệnh điểm lấy tám trăm quân cướp đường tìm thế núi mai phục. Hãy lấy voi chiến của ta chặn ở đoạn chót nơi đặt phục quân. Còn ta sẽ đem ba trăm quân ra đánh để làm kiêu lòng giặc, dụ chúng vào đất tử. Việc phải làm gấp mới kịp.

    Dứt lời, Trần Nguyên Hãn xuống voi rồi nhảy lên con ngựa người tướng già vừa đem tới, phóng lên hàng tiền đạo bày trận. Bên kia, quân giặc do tướng Nhậm Năng đốc suất đã lũ lượt kéo đến đầy nội. Nhậm Năng thúc ngựa vượt lên, hất hàm hỏi một tên thổ quan:

    - Tặc tướng là đứa nào mà dám cự chiến với ta.

    - Tư đồ Trần Nguyên Hãn đó. Tên thổ quan lắp bắp đáp.

    Nhậm Năng tái mặt.

    Phải phái danh tường bậc nhất ra trận, Lê Lợi sắp cùng đường rồi. Nhưng Nhậm Năng cố trấn tĩnh quân hắn từ xa tới, chưa chọn được địa thế: Ta lấy quân nhàn đánh quân nhọc mệt thì tướng giỏi cũng phải thua.

    Nhậm Năng quay lại, nói như thét:

    - Bớ quân bay! Hãy bắt lấy bọn man đi kia quăng xác chúng xuống sông cho ta. Ai chém được tướng giặc ta sẽ hậu thưởng.

    Dứt lời, Nhậm Năng nổ pháo lệnh lùa quân ào ạt xông thẳng vào thế trận của nghĩa quân Lam Sơn.

    Trần Nguyên Hãn mắt không rời quân giặc hỏi người tướng già:

    - Quân ta đã kịp vào núi chưa?

    - Thưa công tử, người cuối cùng đã vượt qua cánh đồng.

    - Được lắm! Trần Nguyên Hãn nói rồi cùng nổi lệnh giáp chiến. Đánh được một hồi, tuồng như không cự nổi, Trần Nguyên Hãn đã chặn hậu, cho quân rút lui.

    Nhậm Năng thấy vậy cười ha hả, bảo tên thổ quan:

    - Toàn là đồn hão. Hãy xem danh tướng của man triều chạy như chuột kia kìa.

    Một tùy tướng của Nhậm Năng can:

    - Trần Nguyên Hãn là người lắm mưu mẹo, sợ trúng độc kế của hắn.

    - Mưu kế gì Nhậm Năng cười nhạt nói. Hắn sợ uy danh của ta và quân của Thiên triều đó. Hãy xem ta bắt danh tướng giặc.

    Nhậm Năng hò hét quân sĩ tiến nhanh rồi cúi rạp trên mình ngựa đuổi theo nghĩa quân Lam Sơn.

    Quân Minh bám gót nghĩa quân, ùn ùn vượt qua cánh đồng rồi hăm hở tiến vào núi.

    Rút chạy đến lúc thấy voi chiến của mình, Trần Nguyên Hãn lập tức nỗi hiệu lệnh thúc quân quay lại, thét vang như sấm:

    - Bớ quân sĩ! Hãy đánh một trận cho bọn người Ngô biết uy danh của nghĩa quân Lam Sơn.

    Cùng một lúc, tám trăm nghĩa quân từ hai bên núi đổ xuống, chia cắt giặc làm từng khúc, mặc sức chém giết.

    Nhậm Năng chưa biết xoay sở ra sao thì bị người tướng già vung đại đao xông tới chém chết. Chỉ trong phút chốc hơn một nghìn tên giặc bị giết. Máu chúng chảy chan hòa đường núi. Bọn giặc còn lại hồn xiêu phách lạc, cướp đường tháo chạy. Trần Nguyên Hãn lập tức cho quân đuổi theo. Mấy trăm tên giặc nữa bỏ mạng trên cánh đồng, trên dọc bờ sông.

    Ngay chiều hôm ấy, bảy mươi chiếc thuyền chở đầy nghĩa quân do Lê Ngân đốc suất cũng đã tới. Trần Nguyên Hãn liền thống suất toàn quân thủy bộ không nghĩ ngơi, không chậm trễ tiếp tục lên đường. Quân đi đến đâu, dân chúng nô nức ra đoán chào đến đó. Nghĩa quân khí thế đang lên, lại có tướng giỏi chỉ huy nên chỉ trong ít ngày, toàn bộ vùng đất Tân Bình, Thuận Hóa, trừ hai thành Tân Bình, Thuận Hóa đã được khôi phục. Theo lệnh Trần Nguyên Hãn, nơi nào có nạn đói, nghĩa quân lấy kho lương của giặc cấp phát cho dân. Dân chúng được uy lao, trở lại an cư. Cảm ơn cứu mệnh của nghĩa quân Lam Sơn, hâm mộ tài đức của Trần Nguyên Hãn, hai vạn trai tráng khắp nơi lũ lượt kéo đến xin theo.Thành Tân Bình, Thuận Hóa của quân giặc bị quân dân chen vai thích cánh bủa vây, đến con chim không bay thoát. Dân chúng Tân Bình, Thuận Hóa đi đánh giặc vui như đi dự hội lớn. Nhưng Trần Nguyên Hãn đã nhận được lệnh của Lê Lợi phải về đại bản doanh ngay.

    Về đến đại bản doanh, Trần Nguyên Hãn được Lê Lợi niềm nở ra đón.

    - Ta có lời khen ngợi chiến công của quan tư đồ đó. Không có quan tư đồ, ta đâu thu phục cả vùng đất rộng ấy nhanh chóng đến thế.

    Trần Nguyên Hãn tâu:

    - Người Ngô tàn bạo, lòng dân chứa oán đã lâu. Vương thượng dấy binh để rữa cái hổ cho nước, sĩ dân một lòng gắng sức chứ công thần đâu đáng kể.

    Ngay sau đấy, Lê Lợi hội các tướng lại bàn và quyết định mở cuộc hành quân thần tốc tiến ra Bắc nhằm vây thành Đông Quan và chặn viện binh của Vương Thông. Ba cánh quân do các tướng Phạm Văn Xảo, Bùi Bị, Đinh Lễ thống suất chẳng mấy chốc đã giành được thắng lợi lớn. Mười vạn tinh binh của Vương Thông đã bị diệt đến quá nữa. Khao quân sau thắng lợi ấy, Lê Lợi dời đại bản doanh từ Lỗ Giang ra Đông Phù Liệt. Một cuộc phản công lớn. Trong trận phản công quy mô này, Trần Nguyên Hãn thống lệnh các lực lượng thủy binh đánh mũi phía Đông, Lê Lợi tự cầm đại quân đánh mũi phía Tây. Hai cánh quân phối hợp đang đêm đánh dốc vào Đông Quan giết được nhiều giặc, buộc Vương Thông phải chui vào thành cố thủ.

    Giữa lúc ấy, từ Pha Lũy tin dữ báo về: Vua Tuyên Đức nhà Minh lại cử Liễu Thăng và Mộc Thạnh lĩnh mười lăm vạn binh chia làm hai đạo tiến vào nước Việt.

    Lập tức, Lê Lợi cho triệu các tướng đến lầu Bồ Đề. Rồi y theo kế của Nguyễn Trãi, quyết định:

    - Đánh thành Đông Quan lúc này là hạ sách, ta đánh thành vững hàng tháng, hàng năm không hạ nỗi, quân ta sức mệt chí nản. Nếu viện binh của giặc đến thì mặt trước mặt sau đều bị giặc đánh, đó là con đường nguy. Sao bằng nuôi lấy sức quân, giữ lấy nhuệ khí để đợi viện binh của giặc. Viện binh của giặc bị phá thì quân trong thành tất phải hàng. Làm một việc được cả hai, đó mới là toàn kế vậy!

    Nguyễn Trãi bàn:

    - Trong hai đạo viện binh thì đạo của An Viễn Hầu Liễu Thăng cậy có quân lắm ngựa nhiều cần phải dốc sức đánh trước. Muốn diệt được đạo quân này, trước phải hạ được thành Xương Giang đã. Bởi vì thành này nằm trên lộ Lạng Sơn đến Đông Quan. Đánh Xương Giang là đánh thông đường để đại binh ta lên Lạng Sơn chặn giặc.

    Lê Lợi bỗng nóng nảy:

    - Ta đã phái các tướng Lê Sát, Lưu Nhân Chú phối hợp với quân dân Lạng Sơn, Khoái Châu vây đánh Xương Giang cùng với các tướng Trần Lựu, Lê Bôi đi đánh Khâu Ôn từ mấy tháng rồi. Thành Khâu Ôn đã hạ được mà thành Xương Giang thì chưa. Các tướng ấy sao nỡ phụ lòng ta đến thế!

    - Tâu vương thượng Trần Nguyên Hãn đáp Xương Giang là một thành kiên cố. Tường thành cao và dày. Ngoài thành có hào sâu bốn bề bao bọc, địa thế lại hiểm trở.

    - Quân giặc ở đấy có bao nhiêu? Lê Lợi dịu giọng hỏi Trần Nguyên Hãn.

    - Giặc không đông lắm. Nhưng tướng giặc gồm bọn Kim Dân, Lý Nhậm, Cố Phúc, Phùng Trí là bọn am hiểu binh thư, lại cố chết chống lại. Bọn giặc ấy cũng đã bắt hàng vạn sĩ dân vào thành làm bia đỡ tên đạn nên việc đánh thật là khó.

    - Quan tư đồ lại phải ra tay một phen mới được Lê Lợi nói, dáng cả quyết. Phải hạ được thành Xương Giang trước khi viện binh của Liễu Thăng đến. Tình thế gấp lắm rồi. Quan tư đồ hãy sửa soạn đi ngay.

    Lại một lần nữa, Trần Nguyên Hãn vâng lệnh Lê Lợi đem quân đến một mặt trận khó khăn và quan trọng. Bấy giờ đã cuối tháng sáu năm Đinh Mùi (1427), viện binh giặc đang tràn xuống biên giới. Vừa đem quân đến Xương Giang, Trần Nguyên Hãn ra sức khích lệ quân dân quyết hạ thành bằng được. Và, con người tinh thông binh pháp, có tài dụng binh, sau khi xem xét địa thế, đã quyết định dùng một kế đánh táo tạo. Trần Nguyên Hãn cho quân dân cùng một lúc đào nhiều đường ngầm, đồng thời chuẩn bị nhiều thang leo để khi giáp chiến, cùng một lúc đột nhập khắp bốn mặt thành. Trần Nguyên Hãn vô cùng sung sướng đã gặp lại nhiều nghĩa binh Rừng Thần cũ. Ngày nay họ đã trở thành những chiến sĩ dày dạn, lão luyện. Tướng quân vừa gặp nhau vừa cảm kích vừa mừng vui cùng dốc sức cho nghĩa lớn. Ở đâu gặp khó khăn nơi ấy có viên dũng tướng. Tướng quân chen vai thích cánh, thương yêu nhau như anh em ruột thịt. Vì vậy, những đường hào tựa như những con rắn khổng lồ trườn nhanh đến thành giặc.

    Ngày mùng Tám tháng Chín năm Đinh Mùi, kế đột nhập thần diệu đặt dưới quyền thống lĩnh của Trần Nguyên Hãn đã diễn ra nhanh chóng và quyết liệt. Trước lúc nổi hiệu lệnh đánh thành, Trần Nguyên Hãn còn lần lượt đến từng cụm quân khích lệ nghĩa quân. Vì được chuẩn bị công phu nên khi có lệnh, từ các hào, nghĩa quân tay lăm lăm binh khí nhất loạt đội đất xông lên, rồi một rừng thang tới tấp chuyển lên áp vào tường thành. Các nghĩa quân khỏe nhất dẫn đầu chèo lên thang, đột nhập vào thành giặc. Dòng người nối nhau ào ạt xông lên hộ sức. Các tướng giặc hoảng hốt trước kế đánh thần tốc, vũ bão của nghĩa quân, đã vụt lên mặt thành, hò hét quân sĩ chống lại. Trận ác chiến diễn ra khủng khiếp chưa từng thấy. Phút chốc máu giặc, máu nghĩa quân nhuộm thẫm những khoảng tường thành.

    Trần Nguyên Hãn, có người tướng già luôn luôn theo sát, cũng xông lên mặt thành đốc chiến.

    - Hãy bắt sống lấy bọn tướng giặc không cho tên nào chạy thoát. Giữa cảnh hỗn loạn, tiếng Trần Nguyên Hãn vang lên thôi thúc, tiếp sức cho các nghĩa binh Lam Sơn dốc hết tài nghệ xông vào đám binh lính dày đặc của giặc. Hàng vạn dân chúng được cởi trói đã dùng tay không, trút căm hờn vào đầu giặc. Kế đánh kỳ diệu của Trần Nguyên Hãn, lòng dũng cảm vôâ song của dân chúng và nghĩa quân Lam Sơn, đã buộc giặc phải quỳ gối xin hàng. Chiến trận xảy ra không đầy một giờ. Các tướng giặc đều bị bắt sống và bị giết trong đám loạn quân.

    Tin chiến thắng nhanh chóng bay về Đông Quan ngoài dự đoán của Lê Lợi, Nguyễn Trãi. Lê Lợi xuýt xoa:

    - Đại tư đồ Trần Nguyên Hãn không phụ lòng ta. Tài cầm quân của quan đại tư đồ quả là bản triều không ai sánh được. Ta không ngờ thắng nhanh đến thế. Ta lại phải phái quan đại tư đồ lên Chi Lăng chặn Liễu Thăng một phen mới xong.

    Nguyễn Trãi vui vẻ!

    - Tâu vương thượng! Vương thượng yên lòng, tự quan đại tư đồ cũng đã đem quân đi rồi.

    - Như vậy, Liễu Thăng sao địch lại được viên tả tướng quốc mà ta sẽ ân phong ấy. Vận nước thế là đã được định đoạt.

    Đúng như Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã đoán, Trần Nguyên Hãn lại một lần nữa thể hiện tài năng cầm quân xuất chúng của mình. Ngày hai mươi tháng chín năm Đinh Mùi, Liễu Thăng kiêu ngạo tự đốc suất quân tiên phong từ ải Pha Lũy tràn xuống Chi Lăng. Lập tức, Trần Nguyên Hãn, Lê Sát tung quân ra phục đánh, chém được Liễu Thăng ở núi Mã Yên. Các trận diệt viện diễn ra suốt tuyến đường dài từ Chi Lăng về Xương Giang. Nghĩa quân Lam Sơn với tài chỉ huy của viên dũng tướng dày dạn kinh nghiệm, chỉ qua hai mươi lăm ngày đã đánh bại mười vạn binh hùng tướng mạnh của nhà Minh, chém chết và bắt sống hầu hết các tướng giặc. Trong các chiến công ấy, Trần Nguyên Hãn nổi lên như một ngôi sao sáng.

    Mười vạn binh của Liễu Thăng bị đại bại, đạo quân của Mộc Thạnh không đánh mà tan. Vương Thông cùng kế phải "Xin hòa".

    Ngày hai mươi hai tháng mười một năm Đinh Mùi (16-12-1427), ở ngoài cửa Nam thành Đông Quan bọn Vương Thông mở cửa thành lúc nhúc chui ra làm lễ tuyên thệ trước mặt Lê Lợi và các tướng nghĩa quân xin nộp thành để bảo toàn tính mạng rút về nước. Trong tờ hòa ước kể tên những người đầu mục cả nước, thì Trần Nguyên Hãn đứng hàng thứ nhì, liền với tên Vua. Tám vạn quân giặc sống sót sau đó lủi thủi ra đi. Trong lễ chiến thắng tưng bừng ấy, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn dẫn đầu đoàn quân rầm rộ tiến vào Đông Quan. Dân chúng Đông Quan nô nức đổ ra đường đón Lê Lợi và đoàn quân chiến thắng. Họ đặc biệt reo hò cổ vũ khi nhìn thấy viên lão tướng râu tóc bạc phơ nhưng nét mặt hân hoan rạng rỡ đi hộ vệ quan đại tư đồ Trần Nguyên Hãn.
    _____________________


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group