Thiền Sư Trung Hoa - Thích Thanh Từ

  • Lòng Trắc Ẩn

    May 16th 2011, 12:20 am
  • LỜI DẪN ÐẦU


    Tập I "Thiền sư Trung Hoa" này, chúng tôi góp dịch trong ba bộ sách "Cảnh Ðức Truyền Ðăng Lục", "Chỉ Nguyệt Lục" và "Cao Tăng Truyện". Tuy chung hội cả ba bộ sách, song hành trạng của Thiền sư "ra đi không lưu lại dấu vết", nên chi không thể tìm kiếm đầy đủ được. Mặc dù thế, chúng tôi nghĩ một câu nói của Thiền sư, nếu độc giả lãnh hội được, cũng có thể đủ tu hành đến giải thoát. Cho nên, chúng tôi không ngại phiên dịch ra đây.

    Ðặc điểm trong sự truyền bá Thiền tông, Thiền sư không khi nào nói trắng ra những cái gì mình muốn dạy cho kẻ tham vấn. Các ngài khéo dùng những hành động lạ thường, những ngôn ngữ bí hiểm khiến cho người tham vấn phải ngạc nhiên, phải nghi ngờ. Vì thế, chỉ có những người lanh lợi mới có thể ngay đó thể hội được. Bằng người không thể ngay đó thể hội, thì phải ôm hoài nghi mãi trong lòng, đến bao giờ gặp cơ duyên mới tỉnh ngộ. Có một Thiền sư đã nói: "Tôi không quí Tiên sư về đức hạnh, mà chỉ quí chỗ không giải nghi cho tôi." Do đó, khi cầm viết dịch tập sách này, tôi chỉ muốn hoàn toàn là dịch giả, không muốn xen vào một ý kiến nào.

    Nhưng hành trạng Thiền sư thật quá khó hiểu. Có khi các ngài như quá ngang tàng không kể gì tội phước, như Thiền sư Ðơn Hà thiêu tượng Phật. Có khi các ngài như thô bạo dám giết hại chúng sanh, như Nam Tuyền cầm dao chặt con mèo. Có khi các ngài như tàn nhẫn không biết thương kẻ hậu học, như Hoàng Bá đánh Lâm Tế. Hoặc các ngài tự bảo sau khi chết sẽ sanh làm con trâu, như Nam Tuyền, Qui Sơn... Vì thế, nếu chúng tôi không điểm sơ qua, quí độc giả khó bề lãnh hội được thâm ý. Chẳng những không lãnh hội được thâm ý, trái lại còn đâm ra nghi ngờ hoang mang, có khi phỉ báng các ngài là khác. Bởi lẽ ấy, buộc lòng chúng tôi phải dẫn giải một vài điểm đặc biệt ở sau đây, gọi là hé cửa cho quí độc giả bước vào nhà Thiền.

    *

    Người tu theo Thiền tông cốt nhận được bản tâm, thấy được bản tánh của mình. Khi nhận được bản tâm, mới tin "tâm tức là Phật". Khi thấy được bản tánh, mới tin "tánh mình đầy đủ tất cả, xưa nay vẫn thanh tịnh". Nhưng tâm tánh ở đâu? thế nào? Tất cả người tu Phật đều thắc mắc vấn đề này. Khi đặt câu hỏi tâm tánh ở đâu? thế nào? thì khác gì người cỡi trâu tìm trâu, vác Phật đi cầu Phật, biết bao giờ thấy được. Sao chúng ta không mạnh mẽ như Thiền sư Huệ Hải? Khi Sư đến tham vấn Mã Tổ, Mã Tổ hỏi:

    - Ðến đây tính cầu việc gì?

    Sư thưa:

    - Ðến cầu Phật pháp.

    - Kho báu nhà mình chẳng đoái hoài, bỏ nhà chạy đi tìm cái gì? Ta trong ấy không có một vật, cầu Phật pháp cái gì?

    - Cái gì là kho báu nhà mình của Huệ Hải?

    - Chính nay ngươi hỏi ta, đó là kho báu của ngươi, đầy đủ tất cả không thiếu thốn, tự do sử dụng đâu nhờ tìm cầu bên ngoài.

    Ngay câu nói này, Sư nhận được bản tâm.

    Thật không xa, nếu chúng ta can đảm tin nhận thì nó sờ sờ trước mắt. Bằng chúng ta không tin nhận thì tìm mãi suốt đời không ra. Bởi chúng ta đã tưởng tượng quá nhiều về tâm tánh, những tưởng tượng ấy đã tô đắp vẽ vời khiến bộ mặt thật của tâm tánh biến thành hình tướng lạ kỳ huyền bí. Giờ đây, nghe các Thiền sư chỉ thẳng bộ mặt thật của nó rất tầm thường bình dị, tất cả chúng ta không ai chịu tin. Do đó, muốn thấy bộ mặt thật của mình (Bản lai diện mục) qua các lời chỉ dạy của các Thiền sư, chúng ta phải gạt bỏ mọi tưởng tượng đã có lâu nay đi, khả dĩ mới trực nhận được tâm tánh.

    *

    Thiền tông lấy bản tâm làm chủ, nên sự tu hành của Thiền sư là sống trở lại với ông chủ của mình, trong mọi hành động, mọi thời gian. Tất cả hình thức bên ngoài đối với Thiền sư không có gì là quan trọng. Dù ngồi thiền suốt ngày, dưới con mắt các ngài vẫn thấy chưa phải là tinh tấn. Vì thế, Thiền sư Hoài Nhượng mới đặt câu hỏi với Thiền sư Ðạo Nhất, khi Sư này đang mải mê ngồi thiền, rằng: "Như trâu kéo xe, xe không đi, đánh xe là phải hay đánh trâu là phải?"

    Huống nữa, quên tâm mình chạy theo hình thức bên ngoài, càng tu càng xa đạo. Không có sự giác ngộ nào ngoài tâm mà có. Phật là giác, nếu chúng ta cầu Phật mà quên tâm, thử hỏi bao giờ thấy Phật. Những hình tượng Phật, Bồ-tát thờ bên ngoài, chỉ là phương tiện gợi lại cho chúng ta nhớ bản tâm. Nếu chúng ta không chịu nhớ lại bản tâm, cứ cầu cạnh nơi hình tượng bên ngoài, thật là một việc làm trái đạo. Vì thế, Thiền sư Ðơn Hà đã bạo dạn thiêu tượng Phật gỗ. Viện chủ Hướng nóng lòng hỏi: "Tại sao thiêu tượng Phật của tôi?" Sư đáp: "Thiêu tìm xá-lợi." Thật là một câu đáp bất hủ. Vậy mà Viện chủ còn ngây thơ nói: "Phật gỗ làm gì có xá-lợi." Sư bảo: "Thỉnh thêm hai vị nữa thiêu." Quả nhiên một tiếng sấm tét màng tai, làm sao Viện chủ không tỉnh ngộ được. Do đó, người sau nói: "Ðơn Hà thiêu Phật gỗ, Viện chủ rụng lông mày." (Ðơn Hà thiêu mộc Phật, Viện chủ lạc mi mao.) Hành động táo bạo của Thiền sư Ðơn Hà là một sức mạnh phi thường, đánh thức được người đang chìm trong giấc mê hình thức.

    *

    Muốn trắc nghiệm chỗ thấy biết của người, không gì hay hơn ở trong một trường hợp bất thần bắt buộc họ phải thố lộ ra lời nói, hoặc hành động. Thiền sư Nam Tuyền giơ dao sắp chặt con mèo một cách đột ngột giữa đại chúng, bắt buộc chúng phải đáp một câu cho hợp ý, Sư sẽ cứu con mèo. Rốt cuộc trong đại chúng không có người đáp được, buộc lòng Sư phải hạ dao. Hành động ấy không phải nhằm vào con mèo, mà nhằm thẳng đại chúng. Nhưng đại chúng đã bất lực, Sư bất đắc dĩ phải giết con mèo như lời đã nói. Khi Tùng Thẩm đi ngoài về, Sư cũng thuật lại lời ấy, Tùng Thẩm liền cổi giày đội trên đầu. Sư bảo: " Giá khi nãy có ngươi thì đã cứu được con mèo." Hành động bất thần của Sư chẳng khác nào cơn sét đánh, chỉ có Tùng Thẩm biết được ý Sư nên cổi giày đội trên đầu. Bởi vì chỗ tột quí của con người là đầu, cái ti tiện nhất là giầy. Tùng Thẩm cổi giày đội trên đầu là nói lên cái thấy của mình không có quí tiện, không còn phàm thánh, vượt ngoài vòng đối đãi. Ðó là chỗ thầy trò thông hội nhau. Người thời nay thấy hành động giết con mèo của Sư, liền kết án Sư phạm tội sát sanh. Họ có biết đâu, Sư đã khéo mượn phương tiện để thấy cứu kính.

    *

    Chân tâm là chỗ bặt suy nghĩ, càng suy nghĩ càng xa. Thiền tông xưa nay truyền trao chỉ một chân tâm không gì khác. Người tu thiền vừa móng lòng tìm chân tâm thì không bao giờ thấy nó. Vì thế, Sư Lâm Tế Nghĩa Huyền vừa hỏi "thế nào là đại ý Phật pháp" liền bị Thiền sư Hoàng Bá đập cho một gậy, ba phen hỏi đều ăn ba gậy, mà không được một lời chỉ dạy. Thế mà, đi đến Thiền sư Ðại Ngu, Lâm Tế thuật lại việc bị đánh, "mà không biết có lỗi gì", Ðại Ngu còn nói: "Hoàng Bá dạy ngươi rất thống thiết, chỉ tại ngươi còn tìm lỗi." Ngay câu nói này, Lâm Tế tỉnh ngộ. Thế mới biết, cái đánh của Hoàng Bá thật thống thiết. Nhưng, nếu không có Thiền sư Ðại Ngu thì cái đánh ấy trở thành vô nghĩa.

    *

    Chân tâm hằng lộ liễu trong mọi hành động của ta. Nếu ta trực nhận là thấy, bằng không trực nhận tìm hoài suốt kiếp cũng chẳng gặp. Người học đạo không chịu ngay nơi hành động trực nhận chân tâm, mãi cầu thiện tri thức chỉ dạy cho thể hội. Nhưng làm sao chỉ dạy được, vừa nói ra là đã sai rồi. Vì thế, Sư Sùng Tín theo hầu Thiền sư Ðạo Ngộ mấy năm mà không nghe chỉ dạy. Nóng lòng, Sư hỏi: "Con theo hầu Thầy mấy năm mà chưa được Thầy chỉ dạy tâm yếu." Ðạo Ngộ bảo: "Ta đã từng chỉ dạy tâm yếu cho ngươi rồi." - "Thầy dạy con lúc nào?" - "Khi ngươi bưng cơm lên thì ta nhận, ngươi dâng trà thì ta tiếp, ngươi xá lui ra thì ta gật đầu, đâu không dạy tâm yếu cho ngươi?" Nhân câu nói này, Sư Sùng Tín tỉnh ngộ. Thật, dạy mà không dạy, nói mà không nói. Ðây là đại dụng của Thiền sư, những người học ngôn ngữ không sao hiểu thấu.

    *

    Người tu Thiền phải dẹp sạch bản ngã, dù là bản ngã thánh cũng không còn. Nếu còn thấy sở đắc là còn bản ngã, giả sử thấy đắc quả thánh cũng là vị thánh tương đối, chớ chưa thật giải thoát. Chỗ giải thoát cứu kính là tâm không còn dính mắc một chỗ nào, như câu: "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm." Vì thế vua Ðường Túc Tông hỏi Thiền sư Huệ Trung: "Thầy được pháp gì?" Huệ Trung đáp: "Bệ hạ thấy một mảnh mây trong hư không chăng?" - "Thấy" - "Nó do đóng đinh mắc hay cột dây mắc?" Ðược không dính mắc mới tự tại giải thoát, còn dính mắc bất cứ một quả vị nào cũng là chưa tự tại. Thế mà, người tu thiền hiện nay ngồi lại là mong thấy cái này, chứng quả kia. Khởi tâm vọng cầu như vậy làm sao không lạc vào cảnh giới ma? Làm sao tránh khỏi cuồng loạn?

    *

    Chẳng những tâm không còn dính mắc trong quả vị, mà cũng sạch hết phàm tình thánh giải. Kinh Lăng Nghiêm nói: "Nhược tác thánh giải tức thọ quần tà." Phàm tình là tình chấp của chúng sanh trong lục đạo. Thánh giải là cái hiểu thánh, hiểu rằng mình chứng mình đắc trong các quả vị thánh. Nếu chưa sạch phàm tình thánh giải thì người tu khó bề thoát khỏi cảnh ma. Tổ Qui Sơn sắp tịch, bảo chúng: "Sau khi Lão tăng trăm tuổi sẽ đến dưới núi làm con trâu, hông bên trái đề năm chữ �Qui Sơn Tăng Linh Hựu�. Khi ấy, gọi là Qui Sơn tăng hay gọi là con trâu? Gọi là con trâu hay gọi là Qui Sơn tăng? Gọi thế nào mới đúng?" Người thời nay nghe câu nói này bèn sanh nghi "tại sao Ngài tu như vậy mà đọa làm súc sanh"? Thật là cái biết của kẻ mù, làm sao thấy được trời đất bao la? Nơi Ngài tâm phàm thánh đã sạch mới thốt ra được câu ấy.

    Chúng tôi mong quí độc giả khi đọc quyển sách này, mỗi người tự cổi sạch những thiên chấp của mình để thấy được đại cơ đại dụng của Thiền sư, đừng bị đầu lưỡi các Ngài lừa.

    *

    Tập sách này, chúng tôi soạn dịch các vị Thiền sư từ đời thứ nhất sau Lục tổ Huệ Năng đến đời thứ tư, tức là đến bắt đầu chia tông phái. Tập thứ hai, chúng tôi soạn dịch từ đời thứ năm sau Lục Tổ đến đầy đủ chia năm Tông và bảy Phái, nghĩa là Tông Tào Ðộng, Lâm Tế, Qui Ngưỡng, Vân Môn, Pháp Nhãn và đến Tông Lâm Tế chia làm hai phái Huỳnh Long và Dương Kỳ.

    Về phần sử chư Thiền đức ở Trung Hoa đến đây không phải là hết, song những nhân vật trọng yếu trong nhà Thiền cũng gần tạm đủ. Ðợi khi có thì giờ rỗi, chúng tôi có thể sẽ dịch thêm để cống hiến quí độc giả.

    Kính ghi

    THÍCH THANH TỪ

  • Lòng Trắc Ẩn

    May 16th 2011, 12:23 am
  • 1. THIỀN SƯ HÀNH TƯ

    Ở Núi Thanh Nguyên - (? - 740)



    Sư họ Lưu, quê ở Kiết Châu, An Thành, xuất gia từ thuở bé. Mỗi khi trong chúng họp lại luận bàn đạo lý thì Sư chỉ lặng thinh. Sau này, nghe Lục tổ Huệ Năng ở Tào Khê, Sư liền đến tham học.

    Sư hỏi Tổ:

    - Phải làm việc gì khỏi rơi vào giai cấp?

    Tổ gạn lại:

    - Ngươi từng làm việc gì?

    - Thánh đế cũng chẳng làm.

    - Vậy rơi vào giai cấp nào?

    - Thánh đế cũng chẳng làm, làm gì có giai cấp.

    Tổ thầm hứa nhận.

    Tại Tào Khê học chúng khá đông, Sư là người đứng đầu trong chúng.

    Một hôm Tổ gọi Sư bảo:

    - Từ trước y pháp cả hai đều được thầy truyền cho trò, y để tiêu biểu làm tin, pháp để ấn tâm, nay không còn sợ người chẳng tin. Ta từ nhận y đến nay đã gặp nhiều tai nạn, huống là đời sau cạnh tranh quá nhiều. Y để lại nơi đây, ngươi đến một phương truyền bá Tâm tông không để cho đoạn dứt.

    *

    Sau khi đắc pháp, Sư trở về trụ trì chùa Tịnh Cư trên núi Thanh Nguyên ở Kiết Châu.

    Có ông Sa-di Hy Thiên đến, Sư hỏi:

    - Ngươi phương nào đến?

    Hy Thiên thưa:

    - Con từ Tào Khê đến.

    - Ðem được cái gì đến?

    - Chưa đến Tào Khê cũng chẳng mất.

    - Mặc tình dùng đi, đến Tào Khê làm gì?

    - Nếu không đến Tào Khê đâu biết chẳng mất.

    Hy Thiên hỏi:

    - Ðại sư Tào Khê lại biết Hòa thượng chăng?

    - Nay ngươi biết ta chăng?

    - Biết. Lại đâu có thể biết được.

    - Loài có sừng tuy nhiều, một con lân là đủ.

    - Hòa thượng rời Tào Khê đến giờ là bao lâu?

    - Ta cũng chẳng biết. Ngươi mới lìa Tào Khê.

    - Hy Thiên không từ Tào Khê đến.

    - Ta cũng biết chỗ ngươi đi.

    - Hòa thượng thật là đại nhân chớ tạo thứ lớp.

    Hôm khác, Sư lại hỏi Hy Thiên:

    - Ngươi từ đâu đến?

    Hy Thiên thưa:

    - Con từ Tào Khê đến.

    Sư bèn dựng phất tử hỏi:

    - Tào Khê lại có cái này chăng?

    - Chẳng những Tào Khê, Tây thiên cũng không.

    - Ngươi đã từng đến Tây thiên chăng?

    - Nếu đến tức có.

    - Chưa đúng, hãy nói lại.

    - Hòa thượng cũng cần nói giúp phân nửa chớ hoàn toàn trông vào học nhân.

    - Không từ chối nói với ngươi, chỉ ngại về sau không có người đảm đang thừa kế.

    *

    Một hôm Sư sai Hy Thiên đem thơ sang Thiền sư Hoài Nhượng, dặn rằng:

    - Ngươi đem thơ xong về nhanh, ta có chiếc búa nhỏ sẽ cho ngươi ở núi.

    Hy Thiên đến Thiền sư Hoài Nhượng, chưa trình thơ đã hỏi:

    - Khi chẳng mộ chư Thánh, chẳng trọng tánh linh mình thì thế nào?

    Thiền sư Hoài Nhượng đáp:

    - Ngươi hỏi tột cao xanh, sao không hỏi trở xuống?

    - Thà chịu vĩnh kiếp trầm luân, chớ chẳng mộ chư Thánh giải thoát.

    Thiền sư Hoài Nhượng bèn thôi.

    Hy Thiên về đến chùa Tịnh Cư, Sư hỏi:

    - Ngươi đi không lâu, đem thơ đến chăng?

    - Tin cũng chẳng thông, thơ cũng chẳng đến.

    - Làm thế nào?

    Hy Thiên thuật lại lúc đến Thiền sư Hoài Nhượng cho Sư nghe xong, bèn thưa:

    - Khi đi nhờ ơn Hòa thượng hứa cho chiếc búa, tiện đây xin nhận lấy.

    Sư liền duỗi một chân.

    Hy Thiên lễ bái.

    Sau đó, Hy Thiên từ giã Sư lên núi Nam Nhạc ở tu.

    *

    Một hôm Thiền sư Thần Hội đến tham vấn, Sư hỏi:

    - Ở đâu đến?

    Thần Hội đáp:

    - Tào Khê đến.

    - Ý chỉ Tào Khê thế nào?

    Thần Hội chỉnh thân rồi thôi.

    Sư bảo:

    - Vẫn còn đeo ngói gạch.

    - Ở đây Hòa thượng có vàng ròng cho người chăng?

    - Giả sử có cho, ông để vào chỗ nào?

    *

    Có vị Tăng đến hỏi Sư:

    - Thế nào là đại ý Phật pháp?

    Sư đáp:

    - Gạo ở Lô Lăng giá bao nhiêu?

    Sư truyền pháp cho Hy Thiên xong, đến ngày mười ba tháng chạp năm Canh Thìn, nhằm đời Ðường niên hiệu Khai Nguyên năm thứ 28 (740 T.L.), Sư lên pháp đường từ biệt chúng, ngồi kiết già thị tịch.

    Sau này, vua Hiến Tông ban hiệu là Hoàng Tế Thiền sư, tháp tên Qui Sơn.

  • Lòng Trắc Ẩn

    May 16th 2011, 12:24 am
  • 2. THIỀN SƯ HOÀI NHƯỢNG

    ở Nam Nhạc - (677-744)


    Người sau vì kính trọng Sư nên lấy chỗ ở mà gọi hiệu là Nam Nhạc.

    Sư họ Ðỗ, quê ở Kim Châu, sanh ngày mùng tám tháng tư đời Ðường niên hiệu Nghi Phụng năm thứ hai (677 T.L.). Ðược muời lăm tuổi, Sư theo Luật sư Hoàng Cảnh ở chùa Ngọc Tuyền đất Kinh Châu xuất gia.

    Sau khi thọ giới cụ túc, Sư học tập tạng Luật. Một hôm, Sư tự than: "Phàm người xuất gia phải vì pháp vô vi, trên trời và nhân gian không gì hơn được!"

    Bạn đồng học là Thản Nhiên biết Sư có chí cao siêu, khuyên Sư cùng đi đến yết kiến Hòa thượng Huệ An ở Tung Sơn. Hòa thượng An chỉ dạy và sau bảo Sư đến Tào Khê tham vấn Lục tổ Huệ Năng.

    Sư đến Tào Khê, Tổ hỏi:- Ở đâu đến?

    Sư thưa:- Ở Tung Sơn đến.

    Tổ hỏi:- Vật gì đến?

    Sư thưa:

    - Nói in tuồng một vật tức không trúng.

    - Lại có thể tu chứng chăng?

    - Tu chứng tức chẳng không, nhiễm ô tức chẳng được.

    - Chính cái không nhiễm ô này là chỗ hộ niệm của chư Phật, ngươi đã như thế, ta cũng như thế. Tổ Bát-nhã-đa-la ở Tây thiên có lời sấm rằng: "Dưới chân ngươi sẽ xuất hiện NHẤT MÃ CÂU (con ngựa tơ) đạp chết người trong thiên hạ. Ứng tại tâm ngươi chẳng cần nói sớm."

    Sư hoát nhiên kế hội. Từ đây, Sư ở hầu hạ Tổ ngót mười lăm năm.

    *

    Ðời Ðường niên hiệu Tiên Thiên năm thứ hai (713 T.L.), Sư đến Hoành Nhạc (dãy núi liên tục) ở chùa Bát-nhã.

    Có vị Sa-môn ở viện Truyền pháp hiệu Ðạo Nhất hằng ngày ngồi thiền. Sư biết đó là pháp khí (người hữu ích trong Phật pháp) bèn đi đến hỏi:

    - Ðại đức ngồi thiền để làm gì?

    Ðạo Nhất thưa:- Ðể làm Phật.

    Sau đó, Sư lấy một cục gạch đê�n trên hòn đá ở trước am Ðạo Nhất ngồi mài. Ðạo Nhất thấy lạ hỏi:

    - Thầy mài gạch để làm gì?

    Sư đáp:

    - Mài để làm gương.

    - Mài gạch đâu có thể thành gương được?

    - Ngồi thiền đâu có thể thành Phật được?

    - Vậy làm thế nào mới phải?

    - Như trâu kéo xe, nếu xe không đi, đánh xe là phải? đánh trâu là phải?

    Ðạo Nhất lặng thinh, Sư nói tiếp:

    - Ngươi học ngồi thiền hay học ngồi Phật? Nếu học ngồi thiền, thiền không phải ngồi nằm. Nếu học ngồi Phật, Phật không có tướng nhất định, đối pháp không trụ, chẳng nên thủ xả. Ngươi nếu ngồi Phật tức là giết Phật, nếu chấp tướng ngồi chẳng đạt ý kia.

    Ðạo Nhất nghe Sư chỉ dạy như uống đề-hồ, lễ bái hỏi:

    - Dụng tâm thế nào mới hợp với vô tướng tam-muội?

    Sư bảo:

    - Ngươi học pháp môn tâm địa như gieo giống, ta nói pháp yếu như mưa móc, nếu duyên ngươi hợp sẽ thấy đạo này.

    - Ðạo không phải sắc tướng làm sao thấy được?

    - Con mắt pháp tâm địa hay thấy được đạo, Vô tướng tam-muội cũng lại như vậy.

    - Có thành hoại chăng?

    - Nếu lấy cái thành hoại tụ tán mà thấy đạo là không thể thấy đạo. Nghe ta nói kệ:

    Tâm địa hàm chư chủng

    Ngộ trạch tức giai manh

    Tam-muội hoa vô tướng

    Hà hoại phục hà thành?

    Dịch:

    Ðất tâm chứa các giống

    Gặp ướt liền nảy mầm

    Hoa tam-muội không tướng

    Nào hoại lại nào thành?

    Ðạo Nhất nhờ khai ngộ tâm ý siêu nhiên, theo hầu Sư suốt mười năm, mỗi ngày càng nhận sâu lý đạo.

    *

    Ðệ tử nhập thất gồm có sáu người. Sư ấn khả rằng:

    - Sáu người các ngươi đồng chứng thân ta, mỗi người khế hội một phần:

    Người được chân mày ta, giỏi về oai nghi là Thường Hạo.

    Người được mắt ta, giỏi về ngó liếc là Trí Ðạt.

    Người được tai ta, giỏi về nghe lý là Thản Nhiên.

    Người được mũi ta, giỏi về biết mùi là Thần Chiếu.

    Người được lưỡi ta, giỏi về đàm luận là Nghiêm Tuấn.

    Người được tâm ta, giỏi về xưa nay là Ðạo Nhất.

    Sư lại bảo:

    - Tất cả các pháp đều từ tâm sanh, tâm không chỗ sanh, pháp không thể trụ. Nếu đạt tâm địa việc làm không ngại, không phải thượng căn dè dặt chớ nói. (Nhất thiết chư pháp giai tùng tâm sanh, tâm vô sở sanh, pháp vô sở trụ. Nhược đạt tâm địa sở tác vô ngại, phi ngộ thượng căn nghi thận từ tai.)

    *

    Có vị Ðại đức đến hỏi Sư:

    - Như gương đúc tượng, sau khi tượng thành không biết cái sáng của gương đi về chỗ nào?

    Sư bảo:

    - Như Ðại đức tướng mạo lúc trẻ thơ hiện thời ở đâu?

    - Tại sao sau khi thành tượng không chiếu soi?

    - Tuy không chiếu soi, nhưng dối y một điểm cũng chẳng được.

    *

    Sau Ðạo Nhất đi giáo hóa ở Giang Tây, Sư hỏi chúng:

    - Ðạo Nhất vì chúng thuyết pháp chăng?

    Chúng thưa:

    - Ðã vì chúng thuyết pháp.

    - Sao không thấy người đem tin tức về?

    Chúng lặng thinh.

    Sư bèn sai một vị Tăng đi thăm. Trước khi đi, Sư dặn:

    - Ðợi khi y thượng đường (lên thuyết pháp) chỉ hỏi "làm cái gì". Y trả lời, nhớ ghi những lời ấy đem về đây.

    Vị Tăng đi thăm làm đúng như lời Sư đã dặn. Khi trở về, vị Tăng thưa:

    - Ðạo Nhất nói: "Từ loạn Hồ sau ba mươi năm, chưa từng thiếu tương muối."

    Sư nghe xong gật đầu.

    *

    Ðến ngày mười một tháng tám, đời Ðường niên hiệu Thiên Bảo năm thứ ba (744 T.L.) Sư viên tịch tại Hoành Nhạc, thọ sáu mươi bảy tuổi.

    Vua sắc ban hiệu là Ðại Huệ Thiền sư, tháp hiệu Thắng Luân.

    *

  • Lòng Trắc Ẩn

    May 16th 2011, 12:25 am
  • 3. THIỀN SƯ HUYỀN GIÁC

    ở Vĩnh Gia-(665 - 713)



    Sư họ Ðới, quê ở Vĩnh Gia Ôn Châu, xuất gia từ thuở nhỏ. Sư xem khắp ba tạng Kinh, trí đức viên mãn, trụ trì chùa Hưng Long. Sư tinh thâm về pháp môn Chỉ Quán của Ðại sư Trí Khải ở núi Thiên Thai, trong bốn oai nghi lúc nào cũng khế hợp thiền quán. Thấy cạnh chùa dưới sườn núi có cảnh đẹp, Sư bèn xuống cất một Thiền am, lưng tựa ngọn núi xanh, hông kề dòng suối trong. Sư sống một đời thanh đạm, không hề nghĩ đến việc thế tục.

    Sư nhân xem kinh Duy-ma phát minh được tâm địa. Gặp đệ tử của Lục Tổ là Thiền sư Huyền Sách, hai bên nói chuyện nhau đều thích hợp chư Tổ. Huyền Sách hỏi:

    - Nhân giả đắc pháp nơi thầy nào?

    Sư đáp:

    - Tôi nghe trong các kinh luận Phương Ðẳng mỗi vị đều có thầy trò trao truyền. Sau xem kinh Duy-ma ngộ được Tâm tông, mà chưa có người chứng minh.

    Huyền Sách bảo:

    - Từ đức Phật Oai Âm Vương về trước, không có thầy chứng minh thì được. Từ đức Phật Oai Âm Vương về sau, không thầy tự ngộ đều là ngoại đạo thiên nhiên.

    Sư nói:- Xin nhân giả vì tôi chứng minh.

    Huyền Sách bảo:

    - Lời nói tôi nhẹ lắm. Ở Tào Khê có Lục Tổ Ðại sư bốn phương học giả tụ họp về thọ pháp, nếu nhân giả muốn đi thì tôi cùng với. Sư bèn theo Huyền Sách đi đến Tào Khê.

    Ðến nơi, Sư tay cầm tích trượng vai mang bình bát đi nhiễu Tổ ba vòng. Tổ hỏi:

    - Phàm Sa-môn phải đủ ba ngàn oai nghi tám muôn tế hạnh, Ðại đức là người phương nào đến, mà sanh đại ngã mạn như vậy?

    Sư thưa:- Sanh tử là việc lớn, vô thường quá nhanh.

    Tổ bảo:- Sao không ngay nơi đó thể nhận lấy vô sanh, liễu chẳng mau ư?

    Sư thưa:- Thể tức vô sanh, liễu vốn không mau.

    Tổ khen:- Ðúng thế! đúng thế!

    Lúc đó đại chúng nghe nói đều ngạc nhiên. Sư bèn đầy đủ oai nghi lễ tạ Tổ. Chốc lát sau Sư xin cáo từ.

    Tổ bảo:- Trở về quá nhanh!

    Sư thưa:- Vốn tự không động thì đâu có nhanh.

    Tổ bảo:- Cái gì biết không động?

    Sư thưa:- Ngài tự phân biệt.

    Tổ bảo:- Ngươi được ý vô sanh rất sâu.

    Sư thưa:- Vô sanh có ý sao?

    Tổ bảo:- Không ý, cái gì biết phân biệt?

    Sư thưa:- Phân biệt cũng không phải ý.

    Tổ khen:- Lành thay! lành thay!

    Sư ở lại đây một đêm để hỏi thêm đạo lý. Sáng hôm sau, Sư cùng Huyền Sách đồng xuống núi trở về Ôn Giang. Thời nhân gọi Sư là Nhất Túc Giác (một đêm giác ngộ).

    Từ đây về sau, học chúng bốn phương tìm đến tham vấn Sư thật đông. Sư được tặng hiệu là Chơn Giác Ðại sư.

    Ðời Ðường niên hiệu Tiên Thiên thứ hai (713 T.L.) ngày mười bảy tháng mười, tại viện riêng ở chùa Hưng Long, Sư ngồi vui vẻ thị tịch, thọ bốn mươi chín tuổi. Vua sắc ban là Vô Tướng Ðại sư, tháp hiệu Tịnh Quang.

    Tập Chứng Ðạo Ca và Thiền Tông Ngộ Tu Viên Chỉ do Sư trước tác, sau này môn đồ là Ngụy Tinh làm Thích sử Khánh Châu, góp lại làm thành mười thiên gọi là Vĩnh Gia Tập.

    *

  • Lòng Trắc Ẩn

    May 16th 2011, 12:25 am
  • 4. THIỀN SƯ BỔN TỊNH

    (? - 761)


    Sư họ Trương, quê ở Ráng Châu, xuất gia từ thuở bé. Sau Sư đến tham học với Lục tổ Huệ Năng được Tổ truyền tâm. Sư từ giã Tổ, tìm đến núi Tư Không ở chùa Vô Tướng, chuyên ở nơi đây tu hành.

    Ðời Ðường niên hiệu Thiên Bảo năm thứ ba (744 T.L.) vua Huyền Tông sai Trung sứ Dương Quang Ðình vào núi cắt dây thường xuân. Dương Quang Ðình tình cờ gặp được thất của Sư. Ðình lễ bái thưa:

    - Ðệ tử mộ đạo đã lâu, cúi xin Hòa thượng từ bi tóm tắt chỉ dạy.

    Sư bảo:

    - Người nghiên học Thiền tông trong thiên hạ đều hội về Kinh sư (kinh đô vua), thiên sứ nên trở về triều thưa hỏi là đầy đủ. Bần đạo ở gọp núi cạnh khe không có chỗ dụng tâm.

    Quang Ðình thiết tha khóc lóc lễ lạy.

    Sư bảo:

    - Thôi! Chớ lễ bần đạo. Thiên sứ vì cầu Phật hay vì hỏi đạo?

    Ðình thưa:

    - Ðệ tử trí thức tối tăm chưa biết Phật với Ðạo nghĩa ấy thế nào?

    Sư bảo:

    - Nếu muốn cầu Phật, tức tâm là Phật. Nếu muốn hội Ðạo, không tâm là Ðạo.

    - Thế nào tức tâm là Phật?

    - Phật nhân tâm mà ngộ, tâm do Phật được bày. Nếu ngộ không tâm thì Phật cũng chẳng có.

    - Thế nào không tâm là Ðạo?

    - Ðạo vốn không tâm, không tâm gọi là Ðạo. Nếu rõ không tâm thì không tâm tức là Ðạo vậy.

    Quang Ðình đảnh lễ tin nhận.

    Trở về triều, Quang Ðình tâu hết việc trong núi cho vua nghe. Vua ban sắc lệnh sai Quang Ðình đi thỉnh Sư. Ngày mười ba tháng chạp, Sư theo sứ về đến đế đô, Vua thỉnh ở chùa Bạch Liên.

    Ðến ngày rằm tháng hai năm sau, Vua mời hết những danh Tăng và các người học Phật uyên bác đến nội đạo tràng (đạo tràng trong cung) cùng Sư xiển dương Phật lý.

    Khi ấy, có Thiền sư Viễn lên tiếng hỏi Sư:

    - Nay đối Thánh thượng để xét lường tôn chỉ, cần phải hỏi thẳng, đáp thẳng, không cần dùng nhiều lời. Như chỗ thấy của Thiền sư lấy gì làm đạo?

    Sư đáp:- Không tâm là đạo.

    Viễn hỏi:- Ðạo nhân tâm mà có, đâu được nói không tâm là đạo?

    Sư đáp:

    - Ðạo vốn không tên, nhân tâm có đạo. Tâm và tên nếu có thì đạo không rỗng suốt. Tột tâm đã không thì đạo nương đâu mà lập? Cả hai đều là giả danh.

    Viễn hỏi:- Thiền sư thấy thân tâm là đạo rồi chăng?

    Sư đáp:- Sơn tăng thân tâm xưa nay là đạo.

    Viễn hỏi:

    - Vừa nói không tâm là đạo, giờ lại nói thân tâm xưa nay là đạo, đâu không trái nhau?

    Sư đáp:

    - Không tâm là đạo, tâm mất đạo không, tâm đạo nhất như nên nói không tâm là đạo. Thân tâm xưa nay là đạo, đạo cũng vốn là thân tâm, thân tâm vốn đã là không, đạo cũng không tột nguồn chẳng có.

    Viễn hỏi:- Xem hình thể Thiền sư rất nhỏ đâu thể hội được lý này?

    Sư đáp:

    - Ðại đức chỉ thấy tướng Sơn tăng, chẳng thấy được không tướng của Sơn tăng. Thấy tướng là chỗ thấy của Ðại đức, kinh nói "phàm có tướng đều là hư vọng, nếu thấy các tướng chẳng phải tướng, tức ngộ được đạo kia". Nếu lấy tướng cho là thật thì cùng kiếp không thể ngộ đạo.

    Viễn bảo:- Nay thỉnh Thiền sư ở trên tướng nói không tướng.

    Sư đáp:

    - Kinh Tịnh Danh nói: "Bốn đại không chủ, thân cũng không ngã, chỗ thấy không ngã, cùng đạo tương ưng." Ðại đức nếu cho tứ đại có chủ là ngã, nếu thấy có ngã thì cùng kiếp không thể hội đạo.

    Viễn nghe nói thất sắc lặng lẽ rút lui.

    Sư có bài kệ:

    Tứ đại vô chủ phục như thủy

    Ngộ khúc phùng trực vô bỉ thử

    Tịnh uế lưỡng xứ bất sanh tâm

    Ủng quyết hà tằng hữu nhị ý

    Xúc cảnh đản tợ thủy vô tâm

    Tại thế tung hoành hữu hà sự.

    Dịch:

    Bốn đại không chủ cũng như nước

    Dù gặp cong ngay chẳng kia đây

    Hai nơi nhơ sạch tâm không sanh

    Thông bít chưa từng có hai ý

    Xúc cảnh chỉ như nước không tâm

    Ở thế tung hoành nào có việc?

    Một đại như thế, bốn đại cũng vậy. Nếu rõ bốn đại không chủ tức ngộ không tâm. Nếu rõ không tâm tự nhiên hợp đạo.

    *

    Thiền sư Minh Chí hỏi:

    - Nếu nói không tâm là đạo, ngói gạch không tâm cũng ưng là đạo? Thân tâm xưa nay là đạo, tứ sanh thập loại đều có thân tâm cũng ưng là đạo?

    Sư đáp:

    - Ðại đức nếu hiểu bằng vào thấy nghe hiểu biết thì cùng đạo khác xa, tức là người cầu thấy nghe hiểu biết, không phải là người cầu đạo. Kinh nói: "không mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý...". Sáu căn còn không, thấy nghe hiểu biết nương đâu mà lập. Cùng tột gốc nguồn chẳng có thì chỗ nào còn tâm? Ðâu không đồng với cỏ cây ngói gạch.

    Minh Chí lặng thinh thối lui.

    Sư có bài kệ:

    Kiến văn giác tri vô chướng ngại

    Thanh hương vị xúc thường tam-muội

    Như điểu không trung chỉ ma phi

    Vô thủ vô xả vô tắng ái

    Nhược hội ứng xứ bản vô tâm

    Thủy đắc danh vi Quán Tự Tại.

    Dịch:

    Thấy nghe hiểu biết không chướng ngại

    Tiếng mùi vị chạm thường tam-muội

    Như chim trong không mặc tình bay

    Không thủ không xả không thương ghét

    Nếu hội mỗi nơi vốn không tâm

    Mới được tên là Quán Tự Tại.

    *

    Thiền sư Chơn hỏi:

    - Ðạo đã không tâm, Phật có tâm chăng? Phật cùng với đạo là một, là khác?

    Sư đáp:- Chẳng một chẳng khác.

    Chơn hỏi:

    - Phật độ chúng sanh vì có tâm, đạo không độ chúng sanh vì không tâm. Một độ một không độ đâu được không khác?

    Sư đáp:

    - Nếu nói Phật độ chúng sanh, đạo không độ, đây là Ðại đức vọng sanh thấy hai. Theo Sơn tăng tức chẳng phải vậy. Phật là tên suông, đạo cũng dối lập, cả hai đều không thật, toàn là giả danh. Trong một cái giả sao lại phân làm hai?

    Chơn hỏi:

    - Phật với đạo đều là giả danh, chính khi lập danh nhân cái gì mà lập? Nếu có lập được, đâu thể nói là không?

    Sư đáp:

    - Phật với đạo nhân tâm mà lập, xét cùng cái tâm dựng lập, tâm ấy cũng không, tâm đã là không liền ngộ cả hai đều chẳng thật, biết như mộng huyễn liền ngộ vốn không. Gắng lập hai tên Phật, Ðạo, đây là cái thấy biết của người Nhị thừa.

    Sư bèn nói bài kệ (Không Tu, Không Tác):

    Kiến đạo phương tu đạo

    Bất kiến phục hà tu

    Ðạo tánh như hư không

    Hư không hà sở tu

    Biến quán tu đạo giả

    Bác hỏa mích phù âu

    Ðản khán lộng khối lỗi

    Tuyến đoạn nhất thời hưu.

    Dịch:

    Thấy đạo mới tu đạo

    Chẳng thấy lấy gì tu

    Tánh đạo như hư không

    Hư không tu chỗ nào?

    Khắp xem người tu đạo

    Vạch lửa tìm bọt nổi

    Chỉ xem người gỗ máy

    Ðứt dây một lúc dừng.

    *

    Thiền sư Pháp Không hỏi:

    - Phật với đạo đều là giả danh, mười hai phần giáo (tất cả Kinh điển) cũng phải chẳng thật, vì sao các hàng tôn túc từ xưa đều nói có tu có đạo?

    - Ðại đức lầm hội ý kinh; đạo vốn không tu, Ðại đức cưỡng tu, đạo vốn không tác, Ðại đức cưỡng tác, đạo vốn không sự, Ðại đức cưỡng sanh đa sự, đạo vốn không biết, ở trong ấy cưỡng biết. Thấy hiểu như thế cùng đạo trái nhau. Tôn túc từ xưa không như thế, tự Ðại đức không hội, xin suy gẫm đó.

    Sư có bài kệ:

    Ðạo thể bản vô tu

    Bất tu tự hiệp đạo

    Nhược khởi tu đạo tâm

    Thử nhân bất hội đạo

    Khí khước nhất chân tánh

    Khước nhập náo hạo hạo

    Hốt phùng tu đạo nhân

    Ðệ nhất mạc hướng đạo.

    Dịch:

    Thể đạo vốn không tu

    Chẳng tu tự hiệp đạo

    Nếu khởi tâm tu đạo

    Người này không hiệp đạo

    Bỏ mất một tánh chân

    Lại vào nơi phiền lụy

    Chợt gặp người tu đạo

    Bậc nhất chớ hướng đạo.

    *

    Thiền sư An hỏi:

    - Ðạo đã giả danh, Phật nói dối lập, mười hai phần giáo (tất cả Kinh điển) cũng là phương tiện tiếp vật độ sanh, tất cả là vọng lấy gì làm chân?

    Sư đáp:

    - Vì có vọng nên đem chân đối vọng. Xét cùng tánh vọng vốn không, chân cũng chưa từng có. Thế thì biết chân vọng đều là giả danh, hai việc đối trị trọn không thật thể, tột cội gốc nó thì tất cả đều không.

    An hỏi:

    - Ðã nói tất cả là vọng, vọng cũng đồng chân, chân vọng không khác, lại là vật gì?

    Sư đáp:

    - Nếu nói vật gì, vật gì cũng vọng. Kinh nói "không tương tợ, không so sánh, bặt đường nói năng, như chim bay trong không".

    Thiền sư An thầm phục mà không biết mối manh.

    Sư có bài kệ:

    Suy chân, chân vô tướng

    Cùng vọng, vọng vô hình

    Phản quán suy cùng tâm

    Tri tâm diệc giả danh

    Hội đạo diệc như thử

    Ðáo đầu diệc tự ninh.

    Dịch:

    Xét chân, chân không tướng

    Tìm vọng, vọng không hình

    Quán lại tâm tìm xét

    Biết tâm cũng giả danh

    Hội đạo cũng như vậy

    Ðến cùng chỉ lặng yên.

    *

    Thiền sư Ðạt Tánh hỏi:

    - Thiền thật chí vi chí diệu, chân vọng cả hai đều bặt, Phật, đạo cả hai chẳng còn, tu hành tánh là không, danh tướng chẳng thật, thế giới như huyễn, tất cả đều giả danh. Khi người đạt đến cái hiểu biết này cũng không thể đoạn dứt hai gốc thiện ác của chúng sanh!

    Sư đáp:

    - Hai gốc thiện ác đều nhân tâm mà có, tìm tột tâm nếu có thì gốc ắt thật, xét tâm đã không thì gốc nhân đâu mà lập. Kinh nói:

    "Pháp thiện pháp ác từ tâm hóa sanh, nghiệp duyên thiện ác vốn không thật có."

    Sư nói bài kệ:

    Thiện ký tùng tâm sanh

    Ác khởi ly tâm hữu

    Thiện ác thị ngoại duyên

    Ư tâm thật bất hữu

    Xả ác tống hà xứ

    Thủ thiện linh thùy thủ

    Thương nha nhị kiến nhân

    Phan duyên lưỡng đầu tẩu

    Nhược ngộ bản vô tâm

    Thủy hối tùng tiền cựu.

    Dịch:

    Thiện đã từ tâm sanh

    Ác đâu rời tâm có

    Thiện ác là duyên ngoài

    Nơi tâm thật chẳng có

    Bỏ ác đẩy chỗ nào?

    Lấy thiện bảo ai giữ?

    Than ôi! Người thấy hai

    Bám víu hai đầu chạy.

    Nếu ngộ vốn không tâm

    Mới hối lỗi từ trước.

    *

    Vị quan cận thần hỏi:

    - Thân này từ đâu mà đến? Sau khi trăm tuổi trở về đâu?

    Sư đáp:

    - Như người khi mộng từ đâu mà đến? Khi thức giấc lại đi về đâu?

    Quan thưa:

    - Khi mộng không thể nói không, đã thức không thể nói có. Tuy có mà không từ đâu đến, đi không đi về đâu.

    Sư nói:- Bần đạo thấy thân này cũng như mộng.

    Có bài kệ:

    Thị sanh như tại mộng

    Mộng lý thật thị náo

    Hốt giác vạn sự hưu

    Hườn đồng thùy thời ngộ

    Trí giả hội ngộ mộng

    Mê nhân tín mộng náo

    Hội mộng như lưỡng ban

    Nhất ngộ vô biệt ngộ

    Phú quí dữ bần tiện

    Cánh diệc vô biệt lộ.

    Dịch:

    Thấy cuộc sống như mộng

    Trong mộng thật là ồn

    Chợt giác muôn việc hết

    Lại đồng tỉnh cơn mộng

    Người trí nhận biết mộng

    Kẻ mê tin mộng ồn

    Biết mộng như hai việc

    Một ngộ không ngộ khác

    Giàu sang cùng nghèo hèn

    Lại cũng không đường khác.

    *

    Niên hiệu Thượng Nguyên năm thứ hai (761 T.L.), ngày mùng năm tháng năm, Sư qui tịch.

    Vua sắc ban hiệu là Ðại Hiển Thiền sư.

    *

  • Lòng Trắc Ẩn

    May 16th 2011, 12:26 am
  • 5. QUỐC SƯ HUỆ TRUNG

    (? - 772)



    Sư họ Nhiễm, quê ở Chư Kỵ, Việt Châu. Thuở nhỏ, Sư da trắng như tuyết, dáng vẻ đoan trang, mộ Phật xuất gia. Sư giới luật thanh tịnh, đức hạnh siêu nhiên, thường tìm đến các vị Thiền đức hỏi đạo.

    Sau khi được tâm ấn nơi Lục tổ Huệ Năng, Sư về ở cốc Ðảng Tử trên núi Bạch Nhai, Nam Dương. Nơi đây tu hành, hơn bốn mươi năm Sư chưa từng xuống núi. Ðạo hạnh của Sư được dân chúng đồn đãi đến tai nhà vua.

    Ðời Ðường niên hiệu Thượng Nguyên năm thứ hai (761 T.L.) vua Túc Tông sai Trung sử Tôn Triều Tiến mang chiếu đến thỉnh Sư về kinh đô. Sư về đến triều, Vua kính Sư làm thầy. Lúc đầu thỉnh Sư ở Tây Thiền viện tại chùa Thiên Phước, sau Vua thỉnh về chùa Quang Trạch gần nội cung. Hơn mười sáu năm, Sư tùy cơ thuyết pháp.

    Một hôm, có Ðại Nhĩ Tam Tạng người Ấn sang đến kinh đô, tự nói được tuệ nhãn và tha tâm thông. Vua muốn trắc nghiệm nên mời ông đến ra mắt Sư. Tam Tạng đến, vừa thấy Sư, liền lễ bái khoanh tay đứng hầu bên hữu.

    Sư hỏi:- Ông được tha tâm thông chăng?

    Tam Tạng đáp:- Chẳng dám.

    Sư hỏi:- Ông nói xem, hiện giờ Lão tăng đang ở chỗ nào?

    Tam Tạng đáp:- Hòa thượng là thầy một nước sao lại đến Tây Xuyên xem đò đua.

    Sư lại hỏi:- Ông nói xem, hiện giờ Lão tăng đang ở chỗ nào?

    Tam Tạng đáp:

    - Hòa thượng là thầy một nước sao lại đứng trên cầu Thiên Tân xem khỉ giỡn?

    Sư lần thứ ba cũng hỏi y như trước. Tam Tạng lặng thinh không biết chỗ đi.

    Sư nạt:- Hồ tinh! Tha tâm thông ở chỗ nào? Tam Tạng lặng câm.

    Một hôm, Sư gọi: Thị giả!

    Thị giả: Dạ!

    Sư gọi như thế ba lần, thị giả cũng dạ ba lần.

    Sư bảo:- Tưởng là ta cô phụ ngươi, nào ngờ ngươi cô phụ ta.

    *

    Nam Tuyền đến tham vấn, Sư hỏi:

    - Ở đâu đến?

    Nam Tuyền thưa:

    - Ở Giang Tây đến.

    - Có đem được hình của Mã sư đến chăng?

    - Chỉ thế ấy.

    - Ở sau lưng.

    Nam Tuyền bèn lui ra.

    *

    Ma Cốc đến tham vấn, đi nhiễu quanh giường thiền của Sư ba vòng, rồi chống tích trượng đứng trước Sư.

    Sư bảo:- Ðã như thế cần gì thấy bần đạo?

    Ma Cốc lại chống tích trượng.

    Sư nạt:- Hồ tinh! đi đi!

    Sư thường dạy chúng:

    - Người học Thiền tông nên theo lời Phật, lấy Nhất thừa liễu nghĩa khế hợp với nguồn tâm của mình, kinh không liễu nghĩa chẳng nên phối hợp. Như bọn trùng trong thân sư tử, khi vì người làm thầy, nếu dính mắc danh lợi bèn bày điều dị đoan, thế là mình và người có lợi ích gì? Như người thợ mộc giỏi, búa rìu không đứt tay họ. Sức con voi lớn chở, con lừa không thể kham.

    *

    Có vị Tăng hỏi:- Làm sao được thành Phật?

    Sư đáp:

    - Phật và chúng sanh đồng thời dẹp đi, ngay đó được giải thoát.

    - Làm thế nào được tương ưng?

    - Không nghĩ thiện ác tự thấy Phật tánh.

    - Làm sao được chứng Pháp thân?

    - Vượt cảnh giới Tỳ-lô.

    - Pháp thân thanh tịnh làm sao được?

    - Không chấp Phật để cầu.

    - Thế nào là Phật?

    - Tâm tức là Phật.

    - Tâm có phiền não chăng?

    - Tánh phiền não tự lìa.

    - Ðâu không đoạn sao?

    - Ðoạn phiền não tức gọi Nhị thừa. Phiền não không sanh gọi Ðại Niết-bàn.

    - Ngồi thiền quán tịnh là làm gì?

    - Chẳng cấu chẳng tịnh đâu cần khởi tâm quán tướng tịnh.

    - Thiền sư thấy mười phương hư không là Pháp thân chăng?

    - Lấy tâm tưởng nhận, đó là thấy điên đảo.

    - Tâm tức là Phật, lại cần tu vạn hạnh chăng?

    - Chư thánh đều đủ hai thứ trang nghiêm (phước tuệ) đâu có bác không nhân quả.

    Sư lại nói:

    - Nay tôi đáp những câu hỏi của ông cùng kiếp không hết, nói nhiều cách đạo càng xa. Cho nên nói: "Thuyết pháp có sở đắc, đây là dã can kêu; thuyết pháp không sở đắc, ấy gọi là sư tử rống."

    *

    Có người cư sĩ ở Nam Dương tên Trương Phần đến hỏi:

    - Ðược nghe Hòa thượng nói "vô tình thuyết pháp", con chưa hiểu được ý này, xin Hòa thượng từ bi chỉ dạy.

    Sư đáp:

    - Ông nếu hỏi vô tình thuyết pháp, hiểu vô tình kia mới được nghe tôi thuyết pháp. Ông chỉ nghe lấy vô tình thuyết pháp đi!

    - Chỉ nhằm hiện nay trong phương tiện của hữu tình, thế nào là nhân duyên của vô tình?

    - Hiện nay trong tất cả động dụng, nhưng hai dòng phàm thánh trọn không có ít phần khởi diệt, là ra khỏi thức, không thuộc có không, rõ ràng thấy giác, chỉ nghe không có tình thức buộc chấp kia. Sở dĩ, Lục Tổ nói: "Sáu căn đối cảnh phân biệt mà không phải thức."

    *

    Có vị Tăng đến tham lễ, Sư hỏi:

    - Ông chứa đựng sự nghiệp gì?

    Tăng thưa:

    - Giảng kinh Kim Cang.

    - Hai chữ rốt đầu kinh là gì?

    - Như thị.

    - Là gì?

    Tăng không đáp được.

    *

    Có người hỏi Sư:- Thế nào là giải thoát?

    Sư đáp:

    - Các pháp không đến nhau, ngay đó là giải thoát.

    - Làm sao đoạn được?

    - Ðã nói với ông các pháp không đến nhau, đoạn cái gì?

    *

    Vua Túc Tông hỏi:- Thầy được pháp gì?

    Sư đáp:- Bệ hạ thấy một mảnh mây trong hư không chăng?

    - Thấy.

    - Nó do đóng đinh mắc, hay cột dây mắc?

    - Thế nào là mười thân của Phật?

    Sư đứng dậy hỏi:

    - Hội chăng?

    - Chẳng hội.

    - Ðem tịnh bình qua cho Lão tăng.

    - Thế nào là Vô tránh tam-muội?

    - Ðàn việt đi đạp trên đảnh Tỳ-lô.

    - Ý này thế nào?

    - Chớ nhận thân này, là Pháp thân thanh tịnh.

    Vua lại hỏi Sư. Sư đều không nhìn Vua. Vua bảo:

    - Trẫm là thiên tử nước Ðại Ðường, tại sao Thầy không nhìn đến?

    Sư đáp:

    - Bệ hạ thấy hư không chăng?

    - Thấy.

    - Hư không có nhìn bệ hạ không?

    *

    Ngư Quân Dung hỏi:

    - Thầy ở núi Bạch Nhai trong mười hai giờ tu thế nào?

    Sư gọi một đứa trẻ đến, vò đầu nó, bảo:

    - Tỉnh tỉnh hẳn vậy tỉnh tỉnh. Rõ ràng hẳn vậy rõ ràng. Về sau chớ bị người gạt.

    Một hôm, Sư hỏi Tử Lân Cung Phụng:- Phật là nghĩa gì?

    Phụng thưa:

    - Là nghĩa giác.

    - Phật từng mê chăng?

    - Chẳng từng mê.

    - Dùng giác làm gì?

    Cung Phụng không thể đáp được, hỏi lại Sư:

    - Thế nào là thật tướng?

    - Ðem hư không lại!

    - Hư không đâu thể đem được!

    - Hư không còn không thể đem được, hỏi thật tướng làm gì?

    *

    Sư thấy duyên quá độ sắp mãn, giờ Niết-bàn sắp đến, bèn từ giã vua Ðại Tông trở về núi.

    Ðại Tông hỏi:

    - Thầy sau khi diệt độ, đệ tử sẽ làm gì để kỷ niệm?

    Sư đáp:

    - Bảo đàn việt tạo một ngôi tháp vô phùng.

    - Xin Thầy cho họa đồ?

    Sư lặng thinh giây lâu hỏi:

    - Hội chăng?

    - Không hội.

    - Bần đạo đi rồi có thị giả hiệu Ứng Chơn sẽ biết việc này.

    Ngày mùng chín tháng chạp năm Ðại Lịch thứ mười (772 T.L.), Sư nằm nghiêng bên hữu thị tịch. Ðệ tử xây tháp cạnh cốc Ðảng Tử thờ Sư. Vua sắc ban hiệu là Ðại Chứng Thiền sư.

    *

  • Lòng Trắc Ẩn

    May 16th 2011, 12:27 am
  • 6. THIỀN SƯ THẦN HỘI

    Hà Trạch-(668 - 760)



    Sư họ Cao, quê ở Tương Dương. Lúc nhỏ theo thầy học Nho, Sư thông suốt Ngũ kinh, hiểu rành Lão Trang, sau nghiên cứu Phật pháp. Sư theo Pháp sư Hạo Nguyên ở chùa Quốc Xướng tại phủ nhà xuất gia, học thông Kinh Luật.

    Năm mười bốn tuổi là Sa-di ở chùa Ngọc Tuyền, Sư tìm đến yết kiến Lục tổ Huệ Năng.

    Tổ hỏi:

    - Tri thức từ phương xa nhọc nhằn tìm đến, có được gốc (Bản) theo chăng? Nếu có gốc phải biết chủ, thử nói xem?

    Sư thưa:- Lấy không trụ làm gốc, thấy tức là chủ.

    Tổ bảo:- Sa-di đâu nên dùng lời đó.

    Sư thưa:- Hòa thượng ngồi thiền là thấy hay chẳng thấy?

    Tổ cầm gậy đánh Sư ba gậy, hỏi:- Ta đánh ngươi đau hay chẳng đau?

    - Cũng đau cũng chẳng đau.

    - Ta cũng thấy cũng chẳng thấy.

    - Thế nào là cũng thấy cũng chẳng thấy?

    - Chỗ ta thấy là thường thấy lỗi lầm nơi tâm mình, không thấy việc phải quấy của người khác. Ấy là cũng thấy cũng chẳng thấy. Ngươi nói cũng đau cũng chẳng đau là sao? Nếu ngươi chẳng đau thì đồng cây cỏ, nếu ngươi đau thì đồng với phàm phu, ắt khởi tâm giận hờn. Trước ngươi nói thấy chẳng thấy là hai bên, đau chẳng đau là sanh diệt. Ngươi không thấy tự tánh mà dám cợt với người.

    Sư lễ bái sám hối.

    Tổ bảo:

    - Nếu ngươi tâm mê không thấy nên hỏi thiện tri thức chỉ đường. Nếu ngươi tâm ngộ liền tự thấy tánh, y pháp tu hành. Ngươi đã mê không thấy tâm mình, trở lại hỏi ta thấy cùng chẳng thấy. Ta thấy thì ta tự biết, đâu thế cái mê cho ngươi được. Nếu ngươi tự thấy cũng không thế được cái mê cho ta. Tại sao không tự biết tự thấy, lại hỏi ta thấy cùng chẳng thấy?

    Sư lễ bái hơn trăm lạy cầu xin sám hối.

    Từ đây, Sư ở lại hầu hạ Tổ không lúc nào rời.

    *

    Một hôm Tổ bảo đại chúng:

    - Ta có một vật không đầu không đuôi, không tên không họ, không lưng không mặt, các ngươi biết chăng?

    Sư bước ra thưa:

    - Ấy là bản nguyên của chư Phật, là Phật tánh của Thần Hội.

    Tổ bảo:

    - Ðã nói với các ngươi là không tên không họ, ngươi lại kêu là bản nguyên, Phật tánh. Ngươi lại đi lấy tranh che đầu, cũng chỉ thành tông đồ của hàng tri giải.

    Sư lễ bái lui ra.

    *

    Có sáu điều nghi trong tạng Kinh, Sư đem ra hỏi Lục Tổ:

    - Giới định tuệ dùng như thế nào? Giới vật gì? Ðịnh từ chỗ nào tu? Tuệ nhân chỗ nào khởi? Chỗ thấy của con chưa thông suốt.

    Tổ đáp:

    - Ðịnh là định tâm kia, đem giới để giới hạnh kia, trong tánh thường có tuệ chiếu, tự thấy tự biết sâu.

    - Xưa không nay có, có vật gì? Xưa có nay không, không vật gì? Tụng kinh chẳng thấy nghĩa có không, thật giống người cỡi lừa lại tìm lừa.

    - Niệm trước nghiệp ác xưa không, niệm sau thiện sanh nay có, niệm niệm thường làm hạnh lành, đời sau sanh người trời chẳng khó. Chính ngươi nay nghe ta nói, ta tức xưa không nay có.

    - Ðem sanh diệt dẹp diệt, đem diệt diệt dẹp sanh, không rõ nghĩa sanh diệt, chỗ thấy in mù điếc.

    - Ðem sanh diệt dẹp diệt, khiến người không chấp tánh. Ðem diệt diệt dẹp sanh, khiến người tâm lìa cảnh. Nếu lìa được hai bên, tự trừ bệnh sanh diệt.

    - Trước đốn mà sau tiệm, trước tiệm mà sau đốn, người không ngộ đốn tiệm, trong tâm thường mê muộn.

    - Nghe pháp trong đốn mà tiệm, ngộ pháp trong tiệm mà đốn, tu hành trong đốn mà tiệm, chứng quả trong tiệm mà đốn. Ðốn tiệm là nhân thường, trong ngộ không mê muộn.

    - Trước định sau tuệ, trước tuệ sau định, định tuệ cái nào sanh trước cái nào sanh sau là đúng?

    - Thường sanh tâm thanh tịnh, trong định mà có tuệ, ở trên cảnh mà không tâm, trong tuệ mà có định; định tuệ đồng không trước, tu cả hai tự tâm chánh.

    - Trước Phật sau Pháp, trước Pháp sau Phật, nguồn gốc Phật Pháp từ đâu khởi?

    - Nói, tức trước Phật sau Pháp, nghe tức trước Pháp sau Phật. Nếu luận nguồn gốc Phật Pháp, xuất phát trong tâm tất cả chúng sanh.

    *

    Lục Tổ biết sắp đến ngày qui tịch nên họp chúng lại bảo:

    - Ta đến tháng tám sắp lìa thế gian, các ngươi có nghi phải ra hỏi sớm, ta sẽ vì các ngươi giải nghi, khiến các ngươi hết mê lầm, sau khi ta đi rồi không có người dạy các ngươi. Toàn hội chúng đều khóc dầm dề, chỉ có Sư thần tình chẳng động, cũng không ứa nước mắt. Tổ bảo:

    - Thần Hội tiểu sư lại được thiện ác, khen chê, vui buồn... đều chẳng động, các ngươi chẳng bằng...

    Sau Sư đi đến Tây kinh thọ giới cụ túc.

    *

    Niên hiệu Khai Nguyên năm thứ tám (720 T.L.) vua Ðường Huyền Tông thỉnh Sư về chùa Long Hưng tại Nam Dương, lại đến Lạc Dương. Ở đây, Sư đã thắp sáng ngọn đuốc Thiền tông đốn ngộ của Lục Tổ. Trước kia, hai kinh đô này chỉ dùng pháp thiền tiệm tu của ngài Thần Tú, đến nay mới nhận rõ đốn tiệm hai tông. Vì thế, phái thiền Thần Tú trước thạnh, từ đây suy dần dần.

    Khoảng niên hiệu Thiên Bảo (742-756 T.L.) ngự sử Lư Dịch a tùng cùng môn đồ Thần Tú tâu dối với vua rằng: "Sư nhóm họp đồ chúng manh tâm làm phản." Vua Huyền Tông mời Sư về kinh đô để tham vấn. Ra mắt Vua, Sư giải bày hợp lý, Vua rất hài lòng. Vua mời Sư dời về ở Quân Bộ. Sau Vua ra sắc lệnh đày Sư đến ở viện Bát-nhã chùa Khai Nguyên tại Kinh Châu.

    Sau vua Túc Tông xuống chiếu thỉnh Sư vào cung cúng dường và lập ngôi chùa Hà Trạch thỉnh Sư trụ trì ở đó. Nơi đây, Sư hiển phát tông phong của Lục Tổ, đồ chúng tham học rất đông.

    *

    Sư dạy chúng:

    - Phàm người học đạo phải đạt tột nguồn gốc của mình; hàng Tứ quả Tam hiền đều gọi là điều phục, Bích-chi, La-hán chưa dứt hoài nghi, Ðẳng giác, Diệu giác liễu đạt tường tận. Giác có cạn sâu, giáo có đốn tiệm. Tiệm giáo trải kiếp A-tăng-kỳ vẫn còn luân hồi; đốn giáo chỉ khoảng co duỗi cánh tay liền lên Diệu giác. Nếu trước không giống đạo, luống học biết nhiều. Tất cả tại tâm, tà chánh do mình. Không nghĩ một vật tức là tâm mình, không phải chỗ biết của trí. Không có hạnh nào riêng để ngộ vào đây. Pháp Tam-ma-đề chân thật không có đi đến, dứt mé trước sau. Nếu biết vô niệm là Tối thượng thừa, rộng suốt trời xanh chóng mở kho báu. Tâm chẳng phải sanh diệt, tánh bặt đổi dời. Tự tịnh thì niệm cảnh không sanh, vô tác thì vin theo tự dứt.

    Ngày xưa, ta đẩy chiếc xe bất thối, nay được định tuệ song tu, như bàn tay với cánh tay. Thấy thể vô niệm chẳng theo vật mà sanh, thường liễu ngộ Như Lai thì còn chỗ nào mà khởi. Nay huyễn chất này nguyên là thường chân, tự tánh như không, xưa nay không tướng. Ðã đạt lý này thì còn gì sợ, gì buồn. Trời đất không thể đổi thể kia. Tâm về pháp giới, vạn tượng nhất như. Xa lìa suy tính, trí đồng pháp tánh. Ngàn kinh muôn luận chỉ nói rõ tâm. Ðã chẳng lập tâm tức thể hội chân lý, hoàn toàn không sở đắc. Bảo các học chúng không tìm cầu bên ngoài, nếu là Tối thượng thừa cần phải vô tác. Trân trọng!

    *

    Có người hỏi Sư:- Vô niệm thì pháp có, không chăng?

    Sư đáp:- Chẳng nói có không.

    - Khi ấy thế nào?

    - Cũng không khi ấy. Ví như gương sáng nếu không đối hình tượng trọn không thấy hình tượng, nếu thấy không vật mới là thấy gương thật.

    *

    Ðời Ðường niên hiệu Thượng Nguyên năm đầu (760 T.L.) tháng năm đêm mười hai, Sư từ biệt đại chúng, đến nửa đêm thị tịch, thọ chín mươi ba tuổi.

    Vua sắc ban hiệu là Chơn Tông Ðại sư, tháp hiệu Bát-nhã. Sư có trước tác tập Hiển Tông Ký, hiện giờ còn lưu hành.

  • Lòng Trắc Ẩn

    May 16th 2011, 12:27 am
  • 7. THIỀN SƯ HY THIÊN

    Thạch Ðầu - (695 - 785)



    Sư họ Trần, quê ở Cao Yếu, Ðoan Châu. Lúc thọ thai Sư, mẹ thích ăn chay, không ưa đồ mặn. Khi còn hài nhi, Sư tự hành động lấy, không phiền mẹ săn sóc. Ðến lớn khôn, Sư tự an ổn vui tươi, không khi nào tỏ vẻ không bằng lòng người. Ở thôn Ðộng Liêu, dân chúng sợ quỉ thần nên lập nhiều miếu thờ, thường họp nhau mua rượu làm bò tế lễ. Một hôm, đi chơi thấy dân chúng tế lễ, Sư bèn phá miếu giựt bò đem về. Ðến tuổi vài mươi, Sư từ giã quyến thuộc đi xuất gia.

    Nghe Lục tổ Huệ Năng đang giáo hóa tại Tào Khê, Sư tìm đến thọ giáo. Lục Tổ độ Sư làm đệ tử. Sư chưa thọ giới cụ túc, cũng chưa đạt đạo, Tổ đã báo tin sắp tịch, Sư hỏi Tổ:

    - Sau khi Hòa thượng viên tịch, con phải nương tựa nơi ai?

    Tổ bảo:

    - Tầm Tư đi.

    Tổ tịch rồi, mỗi ngày Sư đến bên cạnh tháp ngồi tư duy đến quên cả ăn ngủ. Có vị Thượng tọa thấy thế hỏi:

    - Thầy đã tịch, ngươi làm gì ngồi đây mãi?

    Sư thưa:

    - Trước khi thầy tịch, tôi hỏi chỗ nương tựa, thầy dạy tầm Tư, nên tôi ngồi tư duy.

    Thượng tọa bảo:

    - Ngươi có sư huynh hiệu Hành Tư đang ở núi Thanh Nguyên, nên đến đó nương tựa, thầy dạy đã rõ, ngươi còn nghi gì?

    Nghe lời dạy này, Sư thu xếp đồ đạc, tìm đến núi Thanh Nguyên ra mắt Thiền sư Hành Tư [Phần đối đáp khi Sư đến núi Thanh Nguyên, xem lại bài Thiền sư Hành Tư.]

    Một hôm Thiền sư Hành Tư hỏi:

    - Có người nói Lãnh Nam có tin tức.

    Sư thưa:

    - Có người không nói Lãnh Nam không có tin tức.

    - Nếu thế, đại tạng tiểu tạng từ đâu mà ra?

    - Thảy từ trong ấy, trọn không thiếu việc lạ.

    Thiền sư Hành Tư gật đầu.

    Ðời Ðường niên hiệu Khai Nguyên thứ mười sáu (728 T.L.), Sư đến La Phù thọ giới cụ túc. Niên hiệu Thiên Bảo năm đầu (742 T.L.) Sư tìm đến Hoành Nhạc tại Nam Tự, cạnh chùa phía đông có gộp đá cao giống như cái đài, Sư lên đó cất am tranh ở. Thời nhân kính trọng Sư nên gọi là Hòa thượng Thạch Ðầu.

    *

    Một hôm, thượng đường dạy chúng, Sư bảo:

    - Pháp môn của ta do Phật trước truyền trao, không luận thiền định tinh tấn, chỉ đạt Tri kiến Phật, tức tâm tức Phật. Tâm, Phật, chúng sanh, Bồ-đề, phiền não tên tuy khác mà thể vẫn đồng. Các ngươi nên biết, thể tâm linh của mình lìa tánh đoạn và thường, không phải nhơ sạch, lặng lẽ tròn đầy, phàm thánh ngang bằng nhau, ứng dụng không lường, lìa tâm ý thức, ba cõi sáu đường chỉ do tâm mình hiện, như trăng đáy nước, bóng trong gương, đâu có sanh diệt. Các ngươi khéo biết nó thì không gì chẳng đủ.

    *

    Ðệ tử Ðạo Ngộ hỏi:- Ý chỉ Tào Khê người nào được?

    Sư đáp:- Người hội Phật pháp được.

    - Thầy được chăng?

    - Ta không hội Phật pháp.

    *

    Có vị Tăng hỏi:

    - Thế nào là giải thoát?

    Sư đáp:- Ai trói ngươi?

    - Thế nào là Tịnh độ?

    - Cái gì làm nhơ ngươi?

    - Thế nào là Niết-bàn?

    - Ai đem sanh tử cho ngươi?

    *

    Sư hỏi vị Tăng mới đến:- Từ đâu đến?

    Tăng thưa:- Từ Giang Tây đến.

    - Thấy Mã Ðại sư chăng?

    - Dạ thấy.

    Sư bèn chỉ khúc cây bảo:- Mã Ðại sư sao giống cái này?

    Tăng không đáp được, trở về thuật lại Mã Tổ.

    *

    Tăng hỏi:- Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Ðộ sang?

    Sư đáp:- Hỏi cây cột cái đi!

    - Con không hội.

    - Ta cũng chẳng hội.

    *

    Ðại Ðiên hỏi:- Nó có nói không là hai cái đáng chê, xin Thầy trừ?

    Sư đáp:- Một vật cũng không, trừ cái gì?

    Sư lại hỏi:- Dẹp bỏ cổ, họng, môi, lưỡi, ngươi nói đi?

    Ðại Ðiên thưa:- Không cái ấy.

    Sư bảo:- Như thế là ngươi được vào cửa.

    *

    Ðạo Ngộ hỏi:- Thế nào là đại ý Phật pháp?

    Sư đáp:- Không được, không biết.

    - Tiến lên lại có chỗ chuyển hay không?

    - Hư không dài không ngại mây trắng bay.

    *

    Sư ở Nam Nhạc có nhiều vị thần linh hiện ra nghe pháp và xin thọ qui giới.

    Ðời Ðường niên hiệu Quảng Ðức năm thứ hai (763 T.L.), đệ tử thỉnh Sư xuống Lương Ðoan xiển hóa. Từ đây, hóa chủ Hồ Nam là Thạch Ðầu, hóa chủ Giang Tây là Mã Tổ.

    Ðến ngày rằm tháng chạp niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ sáu (785 T.L.), Sư viên tịch, thọ chín mươi mốt tuổi, sáu mươi ba tuổi hạ. Vua sắc ban là Vô Tế Ðại sư, tháp hiệu Kiến Tướng.

    Sư trước tác một thiên Ðồng Tham Khế có chú giải lưu hành khá rộng lại có làm một bài ca Thảo Am:

    THẢO AM CA

    Ngô kết thảo am vô bảo bối

    Phạn liễu tùng dung đồ thùy khoái

    Thành thời sơ kiến mao thảo tân

    Phá hậu hườn tương mao thảo cái.

    Trụ am nhân, trấn thường tại

    Bất thuộc trung gian dữ nội ngoại

    Thế nhân trụ xứ ngã bất trụ

    Thế nhân ái xứ ngã bất ái.

    Am tuy tiểu, hàm pháp giới

    Phương trượng lão nhân tương thể giải

    Thượng thừa Bồ-tát tín vô nghị

    Trung hạ văn chi tất sanh quái.

    Vấn thử am, hoại bất hoại?

    Hoại dữ bất hoại chủ nguyên tại

    Bất cư nam bắc dữ đông tây

    Cơ thượng kiên lao dĩ vi tối.

    Thanh tùng hạ, minh song nội

    Ngọc điện châu lâu vị vi đối

    Nạp bì mông đầu vạn sự hưu

    Thử thời Sơn tăng đô bất hội.

    Trụ thử am, hưu tác giai

    Thùy khoa phô tịch đồ nhân mãi

    Hồi quang phản chiếu tiện qui lai

    Khoách đạt linh căn phi hướng bối.

    Ngộ Tổ sư thân huấn hối

    Kết thảo vi am mạc sanh thối

    Bách niên phao phước nhậm tung hoành

    Bãi thủ tiện hành thả vô tội.

    Thiên chủng ngôn, vạn ban giải

    Chỉ yếu giáo quân trường bất muội

    Dục thức am trung bất tử nhân

    Khởi ly nhi kim giá bì đại.

    Dịch: Bài ca THẢO AM

    Tôi cất am tranh không của báu

    Ăn xong thỏng thả ngủ ngon lành

    Khi thành nhìn thấy cỏ tranh xanh

    Lúc hỏng lại tìm cỏ tranh lợp.

    Người chủ am vẫn mãi còn

    Không thuộc khoảng giữa chẳng ngoài trong

    Chỗ trụ người đời, ta chẳng trụ

    Chỗ yêu người đời, ta chẳng yêu (ưa).

    Am tuy nhỏ, trùm khắp giới

    Lão già phương trượng mới hiểu tường

    Bồ-tát thượng thừa tin chẳng ngại

    Trung hạ nghe đây ắt lạ kỳ.

    Hỏi am này hoại chẳng hoại?

    Hoại cùng chẳng hoại chủ mãi còn

    Chẳng ở đông tây hoặc nam bắc

    Nền móng vững vàng là rất chắc.

    Dưới tùng xanh, trăng giọi song

    Ðiện ngọc lầu châu chưa dám đối

    Màn che chăn đắp muôn việc thôi

    Khi này Sơn tăng toàn chẳng hội.

    Ở am này, thôi khởi nghỉ

    Ai khéo trải chiếu mời người mua

    Hồi quang phản chiếu là trở về

    Ðạt suốt linh căn không theo bỏ.

    Gặp Tổ sư thân chỉ dạy

    Kết cỏ làm am chớ thối lui

    Trăm năm bỏ sạch mặc tung hoành

    Buông thõng tay đi vẫn không tội.

    Ngàn thứ nói, muôn điều hiểu

    Chỉ cốt dạy anh thường chẳng muội

    Muốn biết không chết, người trong am

    Ðâu rời đãy da hiện nay có.

    *

  • Lòng Trắc Ẩn

    May 16th 2011, 12:28 am
  • 8. THIỀN SƯ ÐẠO NHẤT

    Mã Tổ - (709 - 788)



    Vì người đời sau quá kính trọng Sư nên nhân Sư họ Mã gọi là Mã Tổ: ông Tổ họ Mã.

    Sư họ Mã, quê ở huyện Thập Phương, Hán Châu. Thuở nhỏ, Sư dung mạo lạ thường: đi như trâu, nhìn như cọp, lưỡi dài khỏi mũi, dưới chân có hai khu ốc. Lúc bé, Sư đến chùa La-hán xin xuất gia với Hòa thượng Ðường ở Từ Châu. Sau Sư thọ giới cụ túc nơi Luật sư Viên ở Du Châu.

    Ðời Ðường khoảng niên hiệu Khai Nguyên (713-742 T.L.), Sư tập thiền định ở Viện truyền pháp tại Hoành Nhạc, nhân Thiền sư Hoài Nhượng giáo hóa được giải ngộ. Bạn đồng tham học với Sư có sáu người, chỉ riêng Sư được truyền tâm ấn.

    Sau khi tạm biệt thầy, Sư đến Kiến Dương ở ngọn núi Phật Tích, kế dời sang Lâm Xuyên, sau lại đến núi Cung Công Nam Dương. Niên hiệu Ðại Lịch (765 T.L.) Liên soái Lộ Từ Cung và Linh Phong, Cảnh Mộ thỉnh Sư khai đường để truyền bá tông phong. Từ đây học giả bốn phương tụ hội về rất đông. Có thể nói Giang Tây là một trường thi Phật.

    *

    Một hôm Sư dạy chúng:

    - Các ngươi mỗi người tin tâm mình là Phật, tâm này tức là tâm Phật. Tổ Ðạt-ma từ Nam Ấn sang Trung Hoa truyền pháp Thượng thừa nhất tâm, khiến các ngươi khai ngộ. Tổ lại dẫn kinh Lăng-già để ấn tâm địa chúng sanh. Sợ e các ngươi điên đảo không tự tin pháp tâm này mỗi người tự có, nên kinh Lăng-già nói: "Phật nói tâm là chủ, cửa không là cửa pháp." (Phật ngữ tâm vi tông, vô môn vi pháp môn.)

    Phàm người cầu pháp nên không có chỗ cầu, ngoài tâm không riêng có Phật, ngoài Phật không riêng có tâm, không lấy thiện chẳng bỏ ác, hai bên nhơ sạch đều không nương cậy, đạt tánh tội là không, mỗi niệm đều không thật, vì không có tự tánh nên tam giới chỉ là tâm, sum la vạn tượng đều là cái bóng của một pháp, thấy sắc tức là thấy tâm, tâm không tự là tâm, nhân sắc mới có.

    Các ngươi chỉ tùy thời nói năng tức sự là lý, trọn không có chỗ ngại, đạo quả Bồ-đề cũng như thế. Nơi tâm sanh ra thì gọi là sắc, vì biết sắc không, nên sanh tức chẳng sanh. Nếu nhận rõ tâm này, mới có thể tùy thời ăn cơm mặc áo nuôi lớn thai thánh, mặc tình tháng ngày trôi qua, đâu còn có việc gì.

    Các ngươi nhận ta dạy hãy nghe bài kệ này:

    Tâm địa tùy thời thuyết

    Bồ-đề diệc chỉ ninh

    Sự lý câu vô ngại

    Ðương sanh tức bất sanh.

    Dịch:

    Ðất tâm tùy thời nói

    Bồ-đề cũng thế thôi

    Sự lý đều không ngại

    Chính sanh là chẳng sanh.

    *

    Có vị Tăng hỏi:- Hòa thượng vì cái gì nói tức tâm tức Phật?

    Sư đáp:- Vì vỗ con nít khóc.

    - Con nít nín rồi thì thế nào?

    - Phi tâm phi Phật.

    - Người trừ được hai thứ này rồi, phải dạy thế nào?

    - Nói với y là "phi vật".

    - Khi chợt gặp người thế ấy đến thì phải làm sao?

    - Hãy dạy y thể hội đại đạo.

    *

    Có vị Tăng hỏi:

    - Ly tứ cú tuyệt bách phi, thỉnh Thầy chỉ thẳng ý Tổ sư từ Ấn Ðộ sang?

    Sư đáp:

    - Hôm nay ta mệt nhọc không thể vì ngươi nói, ngươi đến hỏi Trí Tạng. Vị Tăng ấy đến hỏi Trí Tạng.

    Trí Tạng bảo:- Sao không hỏi Hòa thượng?

    Tăng đáp:- Hòa thượng dạy đến hỏi Thầy.

    Trí Tạng hỏi:

    - Hôm nay tôi đau đầu, không thể vì ông nói, đến hỏi Sư huynh Hải.

    Tăng đến hỏi Hoài Hải, Hoài Hải bảo:- Ðến chỗ ấy tôi cũng chẳng hội.

    Tăng trở lại trình Sư, Sư bảo:- Tạng đầu bạch, Hải đầu hắc.

    *

    Cư sĩ Long Uẩn đến hỏi:

    - Nước không gân xương hay thắng chiếc thuyền muôn hộc, lý này thế nào?

    Sư đáp:- Trong ấy không nước cũng không thuyền, nói gì là gân xương?

    Uẩn bảo:- Người không lầm xưa nay, thỉnh Thầy để mắt nhìn lên!

    Sư liền nhìn thẳng xuống.

    Uẩn nói:- Một cây đàn cầm không dây, mà Thầy đàn rất hay.

    Sư liền nhìn thẳng lên. Uẩn lễ bái. Sư trở về phương trượng. Uẩn theo sau thưa:- Vừa rồi muốn làm khéo trở thành vụng.

    *

    Một đêm, Trí Tạng, Hoài Hải, Phổ Nguyện theo hầu Sư xem trăng.

    Sư hỏi:- Ngay bây giờ nên làm gì?

    Trí Tạng thưa:- Nên cúng dường.

    Hoài Hải thưa:- Nên tu hành.

    Phổ Nguyện phủi áo ra đi.

    Sư bảo:- Kinh vào Tạng, Thiền về Hải, chỉ có Phổ Nguyện vượt ngoài sự vật.

    *

    Hoài Hải hỏi:- Thế nào là chỉ thú Phật pháp?

    Sư đáp:- Chính là chỗ ngươi bỏ thân mạng.

    Sư lại hỏi Hoài Hải:- Ngươi lấy pháp gì chỉ dạy người?

    Hoài Hải dựng đứng cây phất tử.

    Sư bảo:- Chỉ thế thôi hay còn gì khác?

    Hoài Hải ném cây phất tử xuống.

    *

    Tăng hỏi:- Thế nào được hiệp đạo?

    Sư đáp:- Ta sớm chẳng hiệp đạo.

    Tăng hỏi:- Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Ðộ sang?

    Sư liền đánh và nói:- Ta nếu không đánh ngươi, các nơi sẽ cười ta.

    *

    Ðặng Ẩn Phong từ biệt Sư đi nơi khác, Sư hỏi:- Ði đến đâu?

    Ẩn Phong thưa:- Ði đến Thạch Ðầu.

    - Ðường Thạch Ðầu trơn.

    - Có cây gậy tùy thân, gặp trường thì đùa.

    Ẩn Phong vừa đi đến Thạch Ðầu đi nhiễu giường thiền một vòng, dựng tích trượng động đất một tiếng, hỏi:

    - Ấy là tông chỉ gì?

    Thạch Ðầu nói:- Trời xanh! trời xanh!

    Ẩn Phong không đáp được, lại trở về thưa với Sư. Sư bảo:

    - Ngươi nên đi lại bên ấy, nếu Thạch Ðầu nói "trời xanh!" ngươi "hư! hư!"

    Ẩn Phong lại đi đến Thạch Ðầu làm như trước.

    Thạch Ðầu bèn: Hư! hư!

    Ẩn Phong không đáp được, lại trở về trình với Sư. Sư bảo:

    - Ta đã nói với ngươi "đường Thạch Ðầu trơn".

    *

    Có vị Giảng sư đến hỏi:- Thiền tông truyền giữ pháp gì?

    Sư hỏi lại:- Tọa chủ truyền giữ pháp gì?

    - Tôi giảng được hơn hai mươi bản kinh luận.

    - Ðâu không phải là sư tử con?

    - Không dám.

    Sư thốt ra tiếng: Hư! hư!

    Giảng sư nói:- Ðây là pháp.

    - Là pháp gì?

    - Pháp sư tử ra khỏi hang.

    Sư bèn im lặng.

    Giảng sư nói:- Ðây cũng là pháp.

    - Là pháp gì?

    - Pháp sư tử ở trong hang.

    - Không ra không vào là pháp gì?

    Giảng sư không đáp được, bèn từ giã đi ra đến cửa, Sư gọi:

    - Chủ tọa!

    Giảng sư xoay đầu lại.

    Sư hỏi:- Là pháp gì?

    Giảng sư cũng không đáp được.

    Sư bảo:- Ông thầy độn căn.

    *

    Một hôm Sư dạy chúng:

    - Ðạo không dụng tu, chỉ đừng ô nhiễm. Sao là ô nhiễm? - Có tâm sanh tử, tạo tác, thú hướng đều là ô nhiễm. Nếu muốn hội thẳng đạo ấy, tâm bình thường là đạo. Sao gọi là tâm bình thường? -Không tạo tác, không thị phi, không thủ xả, không đoạn thường, không phàm thánh. Kinh nói: "Chẳng phải hạnh phàm phu, chẳng phải hạnh thánh hiền, là hạnh Bồ-tát." Chỉ như hiện nay đi đứng ngồi nằm, ứng cơ tiếp vật đều là đạo. Ðạo tức là pháp giới, cho đến diệu dụng như hà sa đều không ngoài pháp giới. Nếu chẳng phải vậy, tại sao nói "pháp môn tăng địa", tại sao nói "vô tận đăng"? Tất cả pháp đều là pháp của tâm, tất cả tên đều là tên của tâm. Muôn pháp đều từ tâm sanh, tâm là cội gốc của muôn pháp. Kinh nói: "Biết tâm đạt cội nguồn nên hiệu là Sa-môn." Tên đồng nghĩa đồng, tất cả pháp đều đồng thuần nhất không lẫn lộn.

    Nếu ở trong giáo môn được tùy thời tự tại thì dựng lập pháp giới trọn là pháp giới, lập chân như là chân như, lập lý tất cả pháp trọn là lý, lập sự tất cả pháp trọn là sự, nắm giở một thì ngàn theo, sự lý không khác, toàn là diệu dụng. Lại không có lý riêng, đều do xoay lại của tâm. Ví như bao nhiêu bóng mặt trăng thì có, mà bao nhiêu mặt trăng thật thì không, bao nhiêu nguồn nước thì có, mà bao nhiêu tánh nước thì không, bao nhiêu sum la vạn tượng thì có, mà bao nhiêu hư không thì không, bao nhiêu lời nói đạo lý thì có, mà bao nhiêu Tuệ vô ngại thì không; bao nhiêu các thứ thành lập đều do một tâm. Dựng lập cũng được, dẹp hết cũng được, thảy là diệu dụng. Diệu dụng trọn là nhà mình, chẳng phải lìa chân mà có, nơi nơi đều chân, thảy đều là thể của nhà mình.

    Nếu chẳng vậy, lại là người nào? Tất cả pháp đều là Phật pháp, các pháp tức là giải thoát, giải thoát tức là chân như, các pháp không ngoài chân như, đi đứng ngồi nằm thảy là dụng bất tư nghì, không đợi thời tiết. Kinh nói: "Chỗ chỗ nơi nơi đều có Phật." Phật là năng nhân, có trí tuệ khéo hợp lòng người, hay phá lưới nghi cho tất cả chúng sanh, vượt ra vòng trói buộc của có và không v.v... tình chấp phàm thánh hết, nhân pháp đều không, chuyển bánh xe không gì hơn, vượt các số lượng, việc làm không ngại, sự lý đều thông, như trời hiện mây, chợt có lại không, chẳng để dấu vết. Ví như vẽ nước thành lằn, không sanh không diệt. Ðại tịch diệt tại triền gọi là Như lai tàng, xuất triền gọi là Pháp thân thanh tịnh. Thể không tăng giảm, hay lớn hay nhỏ, hay vuông hay tròn, hợp vật hiện hình như trăng trong nước, vận dụng mênh mông, không lập mầm gốc chẳng hết hữu vi, không trụ vô vi. Hữu vi là dụng của vô vi, vô vi là chỗ nương của hữu vi, chẳng trụ chỗ nương, nên nói: "Như không chẳng chỗ nương." Nghĩa tâm sanh diệt, nghĩa tâm chân như: Tâm chân như dụ như gương sáng soi vật tượng. Gương dụ tâm, vật tượng dụ pháp. Nếu tâm chấp pháp là dính với cái nhân bên ngoài, tức là nghĩa sanh diệt. Tâm không chấp pháp tức là nghĩa chân như.

    Thanh văn tai nghe Phật tánh. Bồ-tát mắt thấy Phật tánh. Liễu đạt không hai gọi là bình đẳng tánh. Tánh không có khác, dụng thì chẳng đồng. Tại mê là thức, tại ngộ là trí. Thuận lý là ngộ, theo sự là mê. Mê tức là mê bản tâm mình, ngộ là ngộ bản tánh mình. Một phen ngộ là hằng ngộ chẳng trở lại mê. Như đang khi mặt trời mọc lên không trở lại tối. Mặt trời trí tuệ xuất hiện, không chung cùng cái tối phiền não. Liễu đạt cảnh giới của tâm liền trừ vọng tưởng. Vọng tưởng đã trừ tức là vô sanh. Pháp tánh sẵn có, có chẳng nhờ tu. Thiền không thuộc ngồi, ngồi tức có chấp trước. Nếu thấy lý này là chân chánh hiệp đạo, tùy duyên qua ngày, đứng ngồi theo nhau, giới hạnh huân thêm, nhóm nơi tịnh nghiệp. Chỉ hay như thế, lo gì chẳng thông.

    Ðệ tử của Sư được nhập thất (được vào thiền thất, là đã ngộ đạo) có đến tám mươi bốn vị, mỗi người làm chủ một phương truyền hóa vô cùng.

    Ðời Ðường niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ tư (788 T.L.) khoảng tháng giêng, Sư lên núi Thạch Môn, Kiến Xương, đi kinh hành trong rừng thấy chỗ hang động bằng phẳng, bèn bảo thị giả:

    - Thân cũ mục của ta sẽ ở tháng sau và trở về nơi này. Nói xong, Sư trở về.

    Ðến ngày mùng bốn tháng hai, Sư có chút bệnh, tắm gội xong, ngồi kiết già nhập diệt, thọ tám mươi tuổi, được sáu mươi tuổi hạ.

    Sau vua sắc ban hiệu Ðại Tịch.

  • Lòng Trắc Ẩn

    May 16th 2011, 12:29 am
  • 9. THIỀN SƯ DUY NGHIỄM

    Dược Sơn - (751-834)



    Sư họ Hàn, quê ở Ráng Châu. Năm mười bảy tuổi, Sư theo Thiền sư Huệ Chiếu ở Tây Sơn Triều Dương xuất gia. Ðời Ðường niên hiệu Ðại Lịch thứ tám (774 T.L.) Sư thọ đại giới nơi Luật sư Hy Tháo ở Hoành Nhạc. Sư học thông kinh luận, nghiêm trì giới luật. Một hôm, Sư tự than:

    - Ðại trượng phu phải rời pháp tự tịnh, đâu thể theo việc vụn vặt, làm hạnh áo khăn này.

    Sư tìm đến Thiền sư Hy Thiên (Thạch Ðầu) hỏi:

    - Ðối Tam thừa mười hai phần giáo, con còn hiểu biết thô sơ, đến như thường nghe phương Nam nói "chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật", thật con mù tịt. Cúi mong Hòa thượng từ bi chỉ dạy.

    Thiền sư Hy Thiên bảo:

    - Thế ấy cũng chẳng được, không thế ấy cũng chẳng được, thế ấy không thế ấy đều chẳng được, ngươi làm sao?

    Sư mờ tịt không hiểu.

    Thiền sư Hy Thiên bảo:

    - Nhân duyên của ngươi không phải ở đây, hãy đến chỗ Mã Ðại sư (Ðạo Nhất).

    Sư vâng lệnh đến yết kiến Thiền sư Ðạo Nhất (Mã Tổ). Sư thưa lại câu đã thưa với Thiền sư Hy Thiên.

    Thiền sư Ðạo Nhất bảo:

    - Ta có khi dạy y nhướng mày chớp mắt, có khi không dạy y nhướng mày chớp mắt; có khi nhướng mày chớp mắt là phải, có khi nhướng mày chớp mắt là không phải, ngươi làm sao?

    Ngay câu nói này, Sư liền khế ngộ, bèn lễ bái.

    Thiền sư Ðạo Nhất hỏi:- Ngươi thấy đạo lý gì lễ bái?

    Sư thưa:- Con ở chỗ Thạch Ðầu như con muỗi đậu trên trâu sắt.

    Thiền sư Ðạo Nhất bảo:- Ngươi đã biết như thế, tự khéo gìn giữ.

    Sư ở đây hầu hạ ba năm.

    Một hôm Thiền sư Ðạo Nhất hỏi:- Ngày gần đây chỗ thấy của ngươi thế nào?

    Sư thưa:- Da mỏng da dày đều rớt sạch, chỉ có một chân thật.

    Thiền sư Ðạo Nhất bảo:

    - Sở đắc của ngươi đã hợp với tâm thể, khắp hết tứ chi. Ðã được như thế, nên đem ba cật tre cột da bụng, tùy chỗ ở núi đi.

    Sư thưa:- Con là người gì dám nói ở núi?

    Thiền sư Ðạo Nhất bảo:

    - Chẳng phải vậy, chưa có thường đi mà chẳng đứng, chưa có thường đứng mà chẳng đi, muốn lợi ích không chỗ lợi ích, muốn làm không chỗ làm, nên tạo thuyền bè, không nên ở đây lâu.

    Sư từ giã Mã Tổ trở về Thạch Ðầu.

    *

    Một hôm Sư ngồi trên cục đá, Thạch Ðầu trông thấy hỏi:

    - Ngươi ở đây làm gì?

    Sư thưa:- Tất cả chẳng làm.

    - Tại sao ngồi yên?

    - Nếu ngồi yên tức làm.

    - Ngươi nói chẳng làm, chẳng làm cái gì?

    - Ngàn thánh cũng không biết.

    Thạch Ðầu dùng kệ khen:

    Tùng lai cộng trụ bất tri danh

    Nhậm vận tương tương chỉ ma hành

    Tự cổ thượng hiền du bất thức

    Tạo thứ phàm lưu khởi khả minh.

    Dịch:

    Chung ở từ lâu chẳng biết chi

    Lặng lẽ theo nhau chỉ thế đi

    Thượng hiền từ trước còn chẳng biết

    Huống bọn phàm phu đâu dễ tri.

    Thạch Ðầu dạy:- Nói năng động dụng chớ giao thiệp.

    Sư thưa:- Chẳng nói năng động dụng cũng chớ giao thiệp.

    - Ta trong ấy mũi kim mảnh bụi chẳng lọt vào.

    - Con trong ấy như trồng hoa trên đá.

    Thạch Ðầu ấn khả.

    *

    Sau Sư đến ở Dược Sơn Lễ Châu, đồ chúng theo học rất đông. Một hôm, Sư ngồi, Ðạo Ngô, Vân Nham đứng hầu. Sư chỉ hai cây, một tươi, một khô đứng trên núi, hỏi Ðạo Ngô:

    - Khô là phải hay tươi là phải?

    Ðạo Ngô thưa:- Tươi là phải.

    Sư bảo:- Sáng tỏ tất cả chỗ, quang minh xán lạn.

    Sư lại hỏi Vân Nham:- Khô là phải hay tươi là phải?

    Vân Nham thưa:- Khô là phải.

    Sư bảo:- Sáng tỏ tất cả chỗ, thôi dạy khô lạt.

    Chợt Sa-di Cao đến. Sư hỏi:- Khô là phải hay tươi là phải?

    Sa-di Cao thưa:

    - Khô là từ nơi khác mà khô, tươi là từ nơi khác mà tươi. Sư nhìn Ðạo Ngô, Vân Nham bảo:

    - Chẳng phải, chẳng phải.

    *

    Viện chủ thưa:- Ðánh chuông rồi, thỉnh Hòa thượng thượng đường.

    Sư bảo:- Ông bưng giùm bát cho tôi.

    - Hòa thượng không tay từ bao giờ?

    - Ông chỉ là uổng mặc ca-sa.

    - Con chỉ là thế, Hòa thượng thì sao?

    - Ta không quyến thuộc ấy.

    *

    Thấy thầy Tri viên trồng rau, Sư bảo:

    - Trồng thì không ngăn ngươi trồng, chớ cho nó mọc rễ.

    Thầy Tri viên thưa: - Không cho mọc rễ thì đại chúng lấy gì ăn?

    Sư bảo:- Ngươi có miệng sao?

    Thầy Tri viên không đáp được.

    *

    Có vị Tăng hỏi:

    - Tổ sư chưa đến nước này (Trung Hoa), nước này có ý Tổ sư chăng?

    Sư đáp:- Có.

    - Ðã có ý Tổ sư, lại đến làm gì?

    - Bởi có, cho nên đến.

    *

    Sư xem kinh, có vị Tăng thấy, hỏi:

    - Hòa thượng bình thường không cho chúng con xem kinh, vì sao Hòa thượng lại xem?

    Sư đáp:- Ta xem chỉ để che mắt.

    - Chúng con học theo Hòa thượng được chăng?

    - Nếu các ngươi xem thì da trâu cũng lủng.

    *

    Thích sử Lý Tường ở Lãng Châu, nghe danh Sư, nhiều phen sai người đến thỉnh mà Sư không đi. Ông đích thân lên núi yết kiến Sư. Sư cầm quyển kinh xem không nhìn lại. Thị giả bạch:

    - Thái thú đến đây!

    Lý Tường tánh nóng nảy nói:- Thấy mặt không bằng nghe danh.

    Sư gọi:- Thái thú!

    Lý Tường:- Dạ!

    Sư bảo:- Sao lại quí lỗ tai mà khinh con mắt?

    Lý Tường chấp tay xin lỗi, rồi hỏi:- Thế nào là đạo?

    Sư lấy tay chỉ trên, chỉ dưới, hỏi:- Hội chăng?

    Tường thưa:- Chẳng hội.

    Sư bảo:- Mây ở trời xanh, nước trong bình. (Vân tại thanh thiên, thủy tại bình.)

    Lý Tường vui mừng thỏa thích làm lễ, trình một bài kệ:

    Luyện đắc thân hình tợ nhạn hình

    Thiên châu tùng hạ lưỡng hàm kinh

    Ngã lai vấn đạo vô dư thuyết

    Vân tại thanh thiên thủy tại bình.

    Dịch:

    Luyện được thân hình giống nhạn hình

    Dưới tùng ngàn gốc hai hòm kinh

    Ta tìm hỏi đạo không lời khác

    Mây ở trời xanh, nước trong bình.

    Tường lại hỏi:- Thế nào là giới định tuệ?

    Sư bảo:- Bần đạo trong ấy không có gia cụ nhàn này.

    Lý Tường không lường nổi huyền chỉ.

    Sư lại bảo:- Thái thú muốn gìn giữ được việc này, cần phải tiến lên ngọn núi cao chót vót mà ngồi, xuống tận đáy biển sâu mà đi, việc trong khuê các nếu bỏ chẳng được bèn là lủng chảy.

    *

    Sư thượng đường dạy chúng:

    - Tổ sư chỉ dạy bảo hộ, nếu tham sân khởi lên cần phải phòng ngự, chớ cho khởi dậy. Các ngươi muốn biết cây khô ở Thạch Ðầu cần phải gánh vác, trọn không có cành lá. Tuy nhiên như thế, lại phải tự xem, không được bặt ngôn ngữ. Nay ta vì các ngươi nói ngôn ngữ ấy để hiển bày không ngôn ngữ, cái này xưa nay không tướng mạo tai mắt...

    *

    Một hôm Sư lên núi đi kinh hành, chợt mây tan thấy trăng sáng, Sư cười to một tiếng, vang xa gần chín mươi dặm. Dân chúng ở xa nghe tiếng, hôm sau tìm đến hỏi Tăng chúng. Tăng chúng bảo:

    - Ðó là tiếng của Hòa thượng đêm qua ở trên núi cười.

    Lý Tường nghe việc này lại làm bài thơ tặng:

    Tuyển đắc u cư hiệp dã tình

    Chung niên vô tống diệc vô nghinh

    Hữu thời trực thướng cô phong đảnh

    Nguyệt hạ phi vân tiếu nhất thanh.

    Dịch:

    Chọn nơi xa vắng hợp lòng quê

    Năm tròn mặc khách đến hay về

    Có khi tiến thẳng lên đảnh núi

    Mây tan trăng hiện tiếng cười hề!

    *

    Ðời Ðường niên hiệu Thái Hòa, năm thứ tám (834 T.L.) tháng hai, sắp thị tịch, Sư kêu to:

    Pháp đường ngã! Pháp đường ngã!

    Ðại chúng đều mang cột đến chống.

    Sư khoát tay bảo:- Các ngươi không hiểu ý ta.

    Sư bèn từ giã chúng thị tịch, thọ tám mươi bốn tuổi, sáu mươi tuổi hạ.

    Vua sắc phong là Hoàng Ðạo Ðại sư, tháp hiệu là Hóa Thành.

    *

  • Lòng Trắc Ẩn

    May 16th 2011, 12:29 am
  • 10. THIỀN SƯ THIÊN NHIÊN

    Ðơn Hà - (738 - 824)



    Không biết Sư quê quán ở đâu, chỉ biết Sư trước học Nho đi vào Trường An ứng cử, dừng nghỉ ở nhà trọ, chợt mộng thấy hào quang trắng đầy nhà. Người chiếm mộng đoán: "điềm hiểu Không". Gặp một Thiền khách hỏi:

    - Nhân giả đi đâu?

    Sư đáp:- Ði thi làm quan.

    - Thi làm quan đâu bằng thi làm Phật?

    - Thi làm Phật phải đến chỗ nào?

    - Hiện nay ở Giang Tây có Mã Ðại sư ra đời, là trường thi làm Phật, nhân giả nên đến đó.

    Sư bỏ thi, tìm đến Giang Tây ra mắt Mã Ðại sư (Ðạo Nhất). Vừa thấy Mã Ðại sư, Sư bèn lấy tay giở chiếc khăn trên đầu.

    Mã Ðại sư nhìn giây lâu bảo:- Nam Nhạc Thạch Ðầu là thầy của ngươi.

    Sư từ giã Mã Ðại sư đi sang Thạch Ðầu.

    Ðến Thạch Ðầu, Sư cũng làm giống như ở Mã Ðại sư.

    Thạch Ðầu bảo:- Ra nhà đi.

    Sư lễ tạ xong, vào phòng cư sĩ, luân phiên làm bếp ngót ba năm.

    *

    Một hôm Thạch Ðầu bảo chúng:- Ngày mai cắt cỏ ở trước điện Phật.

    Sáng hôm sau, đại chúng mỗi người cầm liềm cầm cuốc đến trước chùa làm cỏ. Chỉ riêng Sư lấy thau múc nước gội đầu, đến quì gối trước Hòa thượng. Thạch Ðầu thấy thế cười, liền cạo tóc cho Sư. Cạo xong Thạch Ðầu lại vì Sư nói giới. Sư bịt tai ra đi.

    Sư trở lại Giang Tây yết kiến Mã Ðại sư. Chưa lễ ra mắt, Sư đi thẳng về tăng đường trèo lên cổ tượng Thánh tăng ngồi. Ðại chúng kinh ngạc chạy báo cho Mã Ðại sư hay. Mã Ðại sư đích thân vào tăng đường trông thấy bèn nói:

    - Con ta, Thiên Nhiên.

    Sư bèn bước xuống đất lễ bái, thưa:- Cảm tạ Thầy ban cho pháp hiệu.

    Mã Ðại sư hỏi:- Từ đâu đến?

    Sư thưa:- Từ Thạch Ðầu đến.

    - Ðường Thạch Ðầu trơn, ngươi có té chăng?

    - Nếu có trợt té thì chẳng đến đây.

    *

    Từ biệt Mã Tổ, Sư đi dọc đường gặp một ông già dắt một đứa bé.

    Sư hỏi:- Ông nhà ở đâu?

    Ông già đáp: - Trên là trời dưới là đất.

    Sư bảo:- Chợt gặp trời đổ đất sụp thì sao?

    Ông già đáp: - Trời xanh! Trời xanh!

    Ðứa bé: hư! một tiếng.

    Sư bảo:- Không phải cha này chẳng sanh được đứa con kia.

    Ông già dắt đứa bé vào núi mất.

    *

    Sư đi du phương, đến núi Thiên Thai, chót Hoa Ðảnh dừng ở ba năm, sau đó, Sư viếng những nơi như Cảnh Sơn yết kiến Thiền sư Quốc Nhất. Ðời Ðường khoảng niên hiệu Nguyên Hòa (806-821 T.L.) Sư đến Lạc Kinh Long Môn Hương Sơn làm bạn với Hòa thượng Phục Ngưu. Sư lại đến chùa Huệ Lâm, gặp lúc trời đại hàn, Sư bèn thỉnh tượng Phật gỗ đốt để hơ, Viện chủ Hướng trông thấy quở:

    - Sao đốt tượng Phật của tôi?

    Sư lấy gậy bới tro nói:- Tôi thiêu để lấy xá-lợi.

    Viện chủ bảo:- Phật gỗ làm gì có xá-lợi.

    Sư nói:- Ðã không có xá-lợi thì thỉnh thêm hai vị nữa thiêu.

    Viện chủ nghe câu nói này tất cả chấp đều tan vỡ.

    *

    Một hôm, Sư đến yết kiến Quốc sư Huệ Trung, trước hỏi thị giả:

    - Quốc sư có ở nhà chăng?

    Thị giả bảo:- Ở nhà thì ở mà không thấy khách.

    Sư bảo:- Rất sâu xa thay!

    Thị giả bảo:- Mắt Phật cũng nhìn chẳng thấy.

    Sư khen:- Rồng sanh rồng con, phụng sanh phụng con.

    Quốc sư ngủ dậy, thị giả thuật lại, Quốc sư đánh thị giả hai chục gậy đuổi ra.

    Sư nghe việc ấy bèn nói:- Không lầm là Nam Dương Quốc sư.

    *

    Hôm sau, Sư lại đến yết kiến Quốc sư, thấy Quốc sư, Sư bèn trải tọa cụ. Quốc sư bảo:

    - Chẳng dùng, chẳng dùng.

    Sư bước lui.

    Quốc sư bảo:- Như thế, như thế.

    Sư tiến lại trước.

    Quốc sư bảo: - Chẳng phải, chẳng phải.

    Sư đi quanh Quốc sư một vòng rồi lui ra.

    Quốc sư bảo:- Cách Phật đã xa người nhiều lười biếng, ba mươi năm sau tìm kẻ này lại khó được.

    *

    Sư đến thăm cư sĩ Long Uẩn, thấy con gái Long Uẩn là Linh Chiếu đang rửa rau, Sư hỏi:

    - Cư sĩ có nhà chăng?

    Linh Chiếu buông rổ rau xuống, đứng khoanh tay.

    Sư lại hỏi:- Cư sĩ có nhà chăng?

    Linh Chiếu bèn bưng rổ rau lên đi thẳng.

    Sư bèn trở về. Chốc lát sau, Long Uẩn về. Linh Chiếu đem việc rồi thuật lại. Long Uẩn hỏi:

    - Ðơn Hà ở đâu?

    Linh Chiếu thưa:- Ðã về.

    Long Uẩn bảo:- Con lấy đất đỏ nặn trâu.

    Lại một hôm, Sư đến thăm Long Uẩn, vừa đến cửa gặp nhau.

    Sư hỏi:- Cư sĩ có nhà chăng?

    Long Uẩn đáp:- Ðói chẳng chọn thức ăn.

    Sư lại hỏi:- Ông Long có nhà chăng?

    Long Uẩn đáp:- Trời xanh! trời xanh!

    Nói xong Long Uẩn vào nhà.

    Sư nói:- Trời xanh! trời xanh!

    Nói xong Sư trở về.

    Hôm sau, Sư lại đến Long Uẩn, Sư bảo:

    - Hôm qua thấy nhau đâu giống ngày nay.

    Long Uẩn đáp:- Ðúng pháp nhắc lại việc hôm qua để làm con mắt quí.

    - Chỉ như con mắt quí lại xem đến Long công chăng?

    - Tôi ở trong con mắt của Thầy.

    - Con mắt tôi chật hẹp chỗ nào an thân?

    - Là con mắt gì chật? là thân nào an?

    Sư thôi bỏ đi.

    Long Uẩn nói:- Lại nói lấy một câu là được tròn lời này.

    Sư vẫn không nói.

    Long Uẩn lại nói:- Tựu trung một câu cũng không người nói được.

    *

    Ðời Ðường niên hiệu Nguyên Hòa thứ ba (808 T.L.) một hôm, Sư nằm ngang trên cầu Thiên Tân. Hội lưu thú là Trịnh Công ra đuổi mà Sư không dậy. Trịnh Công gạn hỏi duyên do. Sư chậm rãi đáp:

    - Tăng vô sự.

    Trịnh Công lấy làm lạ, phát tâm dâng hai bó lụa và hai áo ngắn. Từ đây mỗi ngày, Trịnh Công thường dâng cúng gạo bún. Dân chúng ở kinh đô Lạc Dương đồng qui kính Sư.

    *

    Ðến niên hiệu Nguyên Hòa thứ mười lăm (820 T.L.) vào mùa Xuân, Sư bảo đồ đệ:

    - Ta nhớ suối rừng chỗ gởi thân ngày già.

    Môn đệ sai Tề Tịnh Phương đến Nam Dương núi Ðơn Hà cất am cúng dường. Sư về núi Ðơn Hà khoảng ba năm, những người học đạo tìm đến tham học số thường đến ba trăm. Chúng xây cất thành viện lớn.

    Sư thượng đường dạy chúng:

    - Tất cả các ngươi đều phải bảo hộ một vật linh, chẳng phải các ngươi tạo tác danh mạo, lại nói gì là tiến cùng chẳng tiến. Ta ngày xưa yết kiến Hòa thượng Thạch Ðầu cũng chỉ dạy cần phải tự bảo hộ. Việc này không phải tự các ngươi nói bàn mà được. Tất cả mỗi người các ngươi đều tự có một chỗ đất ngồi, lại nghi cái gì? Thiền đâu phải là vật để các ngươi hiểu, đâu có Phật khá thành. Một chữ Phật hằng không thích nghe. Các ngươi tự xem, thiện xảo phương tiện từ bi hỉ xả chẳng phải từ ngoài được, chẳng dính một tấc vuông, thiện xảo là Văn-thù, phương tiện là Phổ Hiền. Các ngươi lại nghĩ tìm đuổi vật gì? Chẳng cần hằng cầu, chẳng rơi vào không. Học giả thời nay lăng xăng lộn xộn cho là tham thiền hỏi đạo. Ta dạo này không đạo có thể tu, không pháp có thể chứng, miếng ăn thức uống mỗi cái tự có phần, đâu cần phải nghi ngờ. Mỗi nơi mỗi chỗ có cái gì? Nếu biết Thích-ca tức là ông già phàm phu, các ngươi phải tự xem xét lấy. Chớ để một người mù dẫn đám mù kéo nhau rơi vào hầm lửa, đêm tối hai đường, màu sắc mập mờ. Vô sự trân trọng!

    *

    Có vị Tăng đến tham học, vừa tới chân núi gặp Sư. Tăng hỏi:

    - Núi Ðơn Hà phải đi đường nào?

    Sư chỉ núi bảo:- Chỗ xanh sâm sẩm.

    Tăng thưa:- Chớ chỉ cái ấy là phải sao?

    Sư bảo:- Thật sư tử con, một phen khêu động liền nhảy.

    *

    Sư hỏi vị Tăng:- Nghỉ ở đâu?

    Tăng thưa:- Nghỉ dưới núi.

    - Ăn cơm chỗ nào? Người đem cơm cho Xà-lê ăn có đủ mắt không?

    Tăng không đáp được.

    *

    Niên hiệu Trường Khánh năm thứ tư (824 T.L.) ngày hai mươi ba tháng sáu, Sư gọi đệ tử bảo:

    - Lấy nước nóng tắm, ta sắp đi đây.

    Tắm xong, Sư đội mũ mang giày cầm trượng, duỗi một chân chưa đến đất liền tịch, thọ tám mươi sáu tuổi. Vua sắc phong là Trí Thông Thiền sư, tháp hiệu Diệu Giác.

    *

    Sư có làm hai bài "Ngoạn Châu Ngâm", hiện còn lưu hành.

    *

  • Lòng Trắc Ẩn

    May 16th 2011, 12:30 am
  • 11. THIỀN SƯ ÐẠO NGỘ

    Thiên Hoàng Tự - (747 - 806)




    [Ðạo Ngộ có hai vị đồng thời đồng xứ, một vị ở chùa Thiên Hoàng đệ tử Thạch Ðầu, một vị ở chùa Thiên Vương đệ tử Mã Tổ. Truyền Ðăng Lục chép một vị là sai.]

    Sư họ Trương, quê ở Ðông Dương, Vụ Châu. Lúc bé, Sư dung nghi thù đặc, không học mà biết. Năm mười bốn tuổi, Sư xin cha mẹ xuất gia, cha mẹ không cho, Sư thệ bớt ăn bớt uống, mỗi ngày ăn một bữa, dần dần thân thể tiều tụy. Cha mẹ bất đắc dĩ hứa cho Sư xuất gia.

    Sư xuất gia với Ðạo Ðức ở Minh Châu. Năm hai mươi lăm tuổi, Sư đến chùa Trúc Lâm ở Hoàng Châu thọ giới cụ túc. Sư tinh tấn tu hành giới luật trang nghiêm. Ban đêm, Sư thường ra gò mả ngồi thiền, không kể gió mưa, chẳng chút sợ sệt.

    Sau, Sư đến Cảnh Sơn yết kiến Thiền sư Quốc Nhất, nhận được tâm pháp, ở lại đây hầu năm năm. Niên hiệu Ðại Lịch (766 T.L.), Sư đến Chung Lăng yết kiến Mã Tổ, chỉ được ấn định lại những chỗ hiểu trước, không có pháp gì khác. Sư dừng lại đây hai năm.

    Sư lại đến yết kiến Thạch Ðầu. Ðến Thạch Ðầu, Sư hỏi:

    - Lìa định tuệ lấy pháp gì dạy người?

    Thạch Ðầu đáp:- Ta trong ấy không có nô tỳ, lìa cái gì?

    - Thế nào rõ được?

    - Ngươi chụp được hư không chăng?

    - Thế ấy tức chẳng từ ngày nay đi.

    - Chưa biết bao giờ ngươi từ bên này đến?

    - Ðạo Ngộ chẳng phải người bên này.

    - Ta đã biết trước chỗ ngươi đến.

    - Sao Thầy lấy tang vật vu khống người?

    - Thân ngươi hiện tại.

    - Tuy nhiên như thế, cứu kính làm sao chỉ dạy người sau?

    - Ngươi nói ai là người sau?

    Sư nhân đây đốn ngộ, đối với lời dạy của hai vị thầy trước tâm còn sở đắc, nơi đây sạch hết dấu vết.

    *

    Về sau Sư đến Kinh Châu ở núi Sài Tử Ðương Dương, học chúng theo học rất đông. Dân chúng trong đô thành nghe danh lũ lượt kéo đến tham vấn. Trong đô thành có chùa Thiên Hoàng là nơi danh lam, bị hỏa hoạn hư sập, thầy trụ trì là Linh Giám tìm cách xây cất lại. Linh Giám ước rằng: "Nếu được Thiền sư Ðạo Ngộ về làm Hóa chủ ở đây là phước lớn của ta." Lúc nửa đêm, Linh Giám đến cầu thỉnh Sư, Sư hoan hỉ nhận chịu. Từ đây về sau, Sư dựng trụ ở chùa Thiên Hoàng.

    Có Bùi Công đến cúi đầu hỏi pháp, Sư trọn không đưa đón. Bùi Công càng kính trọng. Ðối với khách, Sư không phân biệt sang hèn đều ngồi chào họ.

    Có vị Tăng hỏi:- Thế nào là nói huyền diệu?

    Sư đáp:- Chớ bảo ta hiểu Phật pháp.

    - Nỡ để học nhân đeo nghi mãi sao?

    - Sao chẳng hỏi Lão tăng?

    - Hỏi rồi.

    - Ði! Không phải chỗ ngươi ngụ.

    Ðời Ðường niên hiệu Nguyên Hòa (806 T.L.) tháng tư, Sư có chút bệnh bảo đệ tử báo trước ngày tịch. Ðến ngày cuối tháng, chúng họp nhau đến thăm bệnh Sư. Bỗng nhiên, Sư gọi: Ðiển tọa! Ðiển tọa lại gần, Sư bảo:

    - Hội chăng?

    Ðiển tọa thưa:

    - Chẳng hội.

    Sư cầm chiếc gối ném xuống đất, rồi từ biệt chúng thị tịch. Sư thọ sáu mươi tuổi, ba mươi lăm tuổi hạ.

    *

  • Lòng Trắc Ẩn

    May 16th 2011, 12:30 am
  • 12. THIỀN SƯ BẢO THÔNG

    (Ðại Ðiên)



    Không biết quê quán và tên tộc của Sư. Chỉ biết buổi đầu Sư đến tham vấn Thạch Ðầu. Thạch Ðầu hỏi:

    - Cái gì là tâm ngươi?

    Sư thưa:- Nói năng là tâm.

    Bị Thạch Ðầu nạt đuổi ra.

    Hơn một tuần, Sư lại đến hỏi:

    - Trước đó đã chẳng phải, ngoại trừ cái này, gì là tâm?

    Thạch Ðầu bảo:- Trừ bỏ nhướng mày chớp mắt, đem tâm lại!

    - Không tâm có thể đem lại.

    - Nguyên lai có tâm sao nói không tâm? Không tâm trọn đồng với không.

    Nghe câu nói ấy, Sư đại ngộ.

    *

    Một hôm Sư đứng hầu, Thạch Ðầu hỏi:

    - Ngươi là Tăng tham thiền hay là Tăng châu huyện?

    Sư thưa:- Tăng tham thiền.

    - Sao là thiền?

    - Nhướng mày chớp mắt.

    - Trừ ngoài nhướng mày chớp mắt, đem "bản lai diện mục" (bộ mặt thật xưa nay) của ngươi ra trình xem?

    - Trừ ngoài nhướng mày chớp mắt, thỉnh Hòa thượng xem con!

    - Ta trừ xong.

    - Con trình Hòa thượng rồi.

    - Ngươi đã đem trình, tâm ta thế nào?

    - Chẳng khác Hòa thượng.

    - Không quan hệ việc ngươi.

    - Vốn không vật.

    - Ngươi cũng không vật.

    - Ðã không vật tức vật thật.

    - Vật thật không thể được. Tâm ngươi thấy lượng ý chỉ như vậy phải khéo hộ trì.

    *

    Sau, Sư từ biệt Thạch Ðầu đến Linh Sơn, Triều Châu, ở ẩn. Học chúng bốn phương qui tụ về khá đông.

    Sư thượng đường dạy chúng:
    - Phàm người học đạo phải biết bản tâm nhà mình, đem tâm chỉ nhau mới có thể thấy đạo. Thấy nhóm người hiện thời phần nhiều chỉ nhận nhướng mày chớp mắt, một nói một nín, chợt nhận ấn khả cho là tâm yếu, đây thật là chưa rõ. Nay ta vì các ngươi nói trắng ra, mỗi người phải lắng nghe nhận lấy: "Chỉ trừ bỏ tất cả vọng động tưởng niệm xét lường, tức chân tâm của ngươi." Tâm này cùng trần cảnh và khi kềm giữ lặng lẽ hoàn toàn không dính dấp. Tức tâm là Phật không đợi tu sửa. Vì cớ sao? Vì hợp cơ tùy chiếu, lặng lẽ tự dùng, tột chỗ dùng kia trọn không thể được. Bảo là diệu dụng chính là bản tâm, cần yếu hộ trì chớ nên dễ ngươi.

    Có vị Tăng hỏi:- Trong kia, khi người thấy nhau thì thế nào?

    Sư đáp:- Trước chẳng có trong kia.

    - Trong kia thế nào?

    - Chẳng hỏi câu ấy.

    *

    Hàn Văn Công hỏi Sư:- Hòa thượng tuổi được bao nhiêu?

    Sư cầm xâu chuỗi giở lên bảo:- Hội chăng?

    Văn Công thưa:- Chẳng hội.

    Sư bảo:- Ngày đêm trăm lẻ tám.

    Văn Công không hiểu trở về.

    Hôm sau, Văn Công lại đến, vừa tới cửa gặp Thủ tọa, Văn Công thuật câu nói hôm qua của Sư, hỏi ý kiến thế nào? Thủ tọa vỗ răng ba cái. Văn Công vào trong gặp Sư, hỏi lại ý kiến hôm qua. Sư cũng vỗ răng ba cái.

    Văn Công thưa:- Nguyên lai Phật pháp không hai thứ.

    Sư hỏi:- Là đạo lý gì?

    Văn Công thưa:- Vừa đến hỏi Thủ tọa cũng như thế.

    Sư gọi Thủ tọa hỏi:- Phải ngươi đáp như thế chăng?

    Thủ tọa thưa:- Phải.

    Sư đánh đuổi ra.

    Lại một hôm Văn Công đến bạch Sư:

    - Ðệ tử ở quận châu nhiều việc, xin Thầy cho một câu tóm tắt hết Phật pháp.

    Sư lặng thinh.

    Văn Công mờ mịt.

    Lúc ấy Tam Bình làm thị giả đứng hầu, bèn gõ giường thiền ba cái.

    Sư hỏi:- Làm gì?

    Tam Bình thưa:- Trước lấy định động, sau lấy trí nhổ.

    Văn Công thưa:- Môn phong Hòa thượng cao vót, đệ tử từ bên thị giả được chỗ vào.

    *

    Có vị Tăng hỏi:- Biển khổ sóng to lấy gì làm thuyền bè?

    Sư bảo:- Lấy cây làm thuyền bè.

    - Thế nào được qua?

    - Người mù nương kẻ mù trước, người câm nương kẻ câm trước.

    Không biết Sư tịch lúc nào và nơi nào.

  • Lòng Trắc Ẩn

    May 16th 2011, 12:31 am
  • 13. THIỀN SƯ HOÀI HẢI

    Bá Trượng - (724 - 814)



    Sư họ Vương, quê ở Trường Lạc, Phước Châu. Lúc bé theo mẹ đi chùa lễ Phật, Sư chỉ tượng Phật hỏi mẹ: Ðây là gì? Mẹ bảo: Phật. Sư nói: Hình dung không khác với người, con sau cũng sẽ làm Phật. Sư xuất gia lúc còn để chóp và hằng chuyên cần tu học giới định tuệ.

    Sau, Sư đến tham học với Mã Tổ (Ðạo Nhất) làm thị giả. Mỗi khi thí chủ đem trai phạn đến, Sư vừa giở lồng bàn ra, Mã Tổ liền cầm nửa cái bánh chỉ chúng hỏi: "Ðây là gì?" Như thế mãi đến ba năm.

    Một hôm, Sư theo hầu Mã Tổ đi dạo, thấy một bầy vịt trời bay qua.

    Mã Tổ hỏi:- Ðó là cái gì?

    Sư thưa:- Con vịt trời.

    - Bay đi đâu?

    - Bay qua.

    Mã Tổ bèn nắm lỗ mũi Sư kéo mạnh, đau quá Sư la thất thanh.

    Mã Tổ bảo:- Lại nói bay qua đi.

    Ngay câu ấy, Sư tỉnh ngộ.

    Trở về phòng thị giả, Sư khóc lóc rất thống thiết. Những người đồng phòng nghe, hỏi:

    - Huynh nhớ cha mẹ phải chăng?

    Sư đáp:- Không.

    - Bị người ta mắng chửi chăng?

    - Không.

    - Tại sao khóc?

    - Lỗ mũi tôi bị Hòa thượng kéo đau thấu xương.

    - Có nhân duyên gì không khế hội?

    - Huynh hỏi Hòa thượng đi.

    Những vị ấy đến hỏi Mã Tổ:

    - Thị giả Hải có nhân duyên gì chẳng khế hội ở trong phòng khóc, xin Hòa thượng vì chúng con nói.

    Mã Tổ bảo:

    - Y đã khế hội, các ngươi tự hỏi lấy y.

    Các vị ấy về phòng hỏi:

    - Hòa thượng nói huynh đã hội, bảo chúng tôi về hỏi huynh.

    Sư bèn cười hả! hả!

    Các vị ấy bảo:- Vừa rồi khóc, sao bây giờ cười?

    Sư đáp:- Vừa rồi khóc, bây giờ cười.

    Các vị ấy mờ mịt không hiểu.

    Hôm sau, Mã Tổ vừa lên tòa, chúng nhóm họp xong, Sư bước ra cuốn chiếu. Mã Tổ xuống tòa, Sư theo sau đến phương trượng.

    Mã Tổ hỏi:- Ta chưa nói câu nào, tại sao ngươi cuốn chiếu?

    Sư thưa:- Hôm qua bị Hòa thượng kéo chót mũi đau.

    - Hôm qua ngươi để tâm chỗ nào?

    - Chót mũi ngày nay lại chẳng đau.

    - Ngươi hiểu sâu việc hôm qua.

    Sư làm lễ, lui ra.

    *

    Ðứng hầu Mã Tổ, Sư thấy phất tử (đồ quét bụi) ở góc giường, bèn hỏi:

    - Tức đây dùng, lìa đây dùng?

    Mã Tổ bảo:- Về sau ngươi mở miệng sẽ lấy cái gì vì người?

    Sư cầm phất tử dựng đứng.

    Mã Tổ hỏi:- Tức đây dùng, lìa đây dùng?

    Sư để phất tử lại chỗ cũ.

    Mã Tổ nghiêm chỉnh nạt một tiếng, đến ba ngày Sư còn điếc tai.

    *

    Sau, Sư về núi Ðại Hùng tại Hồng Châu. Ngọn núi này cao vót đến trăm trượng nên thời nhân gọi Sư là Bá Trượng. Bốn phương học giả đua nhau đến tham học rất đông. Trong số học chúng có Thiền sư Hy Vận và Linh Hựu là hàng đầu.

    Một hôm, Sư bảo chúng:

    - Phật pháp không phải là việc nhỏ, Lão tăng xưa bị Mã Tổ một nạt đến ba ngày lỗ tai còn điếc.

    Hy Vận nghe nói bất giác le lưỡi.

    Sư bảo:- Con về sau thừa kế Mã Tổ chăng?

    Hy Vận thưa:

    - Không. Nay nhân Hòa thượng nhắc lại, con được thấy Mã Tổ đại cơ, đại dụng, nhưng vẫn không biết Mã Tổ. Nếu con thừa kế Mã Tổ, về sau mất hết con cháu của con.

    Sư bảo:

    - Ðúng thế, đúng thế, thấy bằng với thầy là kém thầy nửa đức, thấy vượt hơn thầy mới kham truyền trao. Con hẳn có cái thấy vượt hơn thầy.

    Hy Vận liền lễ bái.

    *

    Lại một hôm, có vị Tăng vừa đi vừa khóc đi thẳng vào pháp đường.

    Sư hỏi:- Làm gì?

    Tăng thưa:- Cha mẹ đồng thời chết, thỉnh Thầy chọn ngày.

    Sư bảo:- Ngày mai đồng thời chôn.

    *

    Sư mỗi khi thượng đường dạy chúng có một ông già theo chúng nghe pháp. Hôm nọ, chúng ra hết chỉ còn ông già không đi. Sư hỏi:

    - Ông là người gì?

    Ông già thưa:

    - Con chẳng phải người. Thời quá khứ thuở đức Phật Ca-diếp, con làm Tăng ở núi này, nhân học trò hỏi: "người đại tu hành lại rơi vào nhân quả chăng", con đáp: "không rơi vào nhân quả". Do đó, đến năm trăm đời đọa làm thân chồn. Nay thỉnh Hòa thượng chuyển một câu nói để con thoát khỏi thân chồn.

    Sư bảo:- Ông hỏi đi.

    Ông già hỏi:- Người đại tu hành có rơi vào nhân quả chăng?

    Sư đáp:- Không lầm nhân quả.

    Ngay câu nói ấy, ông già đại ngộ, làm lễ thưa:

    - Con đã thoát thân chồn. Con ở sau núi, dám xin Hòa thượng lấy theo lễ Tăng chết mà tống táng con.

    Sư vào trong kêu duy-na đánh kiểng bảo chúng ăn cơm xong đưa đám một vị Tăng, đại chúng nhóm nhau bàn tán "đại chúng đều mạnh, nhà dưỡng bệnh không có người nào nằm, tại sao có việc này?"

    Sau khi cơm xong, Sư dẫn chúng đến hang núi phía sau, lấy gậy khơi lên thấy xác một con chồn vừa chết, bèn làm lễ thiêu như vị Tăng.

    *

    Sư thượng đường dạy chúng:

    - Linh quang chói sáng vượt khỏi căn trần, thể bày chân thường không cuộc văn tự, tâm tánh không nhiễm vốn tự viên thành, chỉ lìa vọng duyên tức như như Phật.

    Có vị Tăng hỏi:- Thế nào là pháp yếu Ðại thừa đốn ngộ?

    Sư đáp:

    - Các ngươi trước dứt sạch các duyên, thôi hết muôn việc, tất cả các pháp thiện cùng chẳng thiện, thế gian và xuất thế gian chớ ghi nhớ, chớ duyên niệm, buông bỏ hết khiến tâm tự tại. Tâm như cây đá không có phân biệt, không có chỗ đi. Ðất tâm nếu không, mặt trời trí tuệ tự hiện. Như mây tan thì trăng hiện. Chỉ dứt tất cả thứ vin theo, tình cảm tham sân ái thủ nhơ sạch đều hết. Ðối với ngũ dục, bát phong không bị thấy nghe hiểu biết ràng buộc, không bị các cảnh làm mê hoặc, tự nhiên đầy đủ thần thông diệu dụng, ấy là người giải thoát.

    Ðối với tất cả cảnh, tâm không yêu không loạn, không thu nhiếp không phân tán, thấu tất cả thanh sắc không bị dính ngại, gọi là Ðạo nhân.

    Thiện ác phải quấy đều không dùng, không mến một pháp, cũng không bỏ một pháp, gọi là người Ðại thừa.

    Không bị tất cả pháp thiện ác, không hữu, nhơ sạch, hữu vi, vô vi, thế gian, xuất thế gian, phước đức trí tuệ ràng buộc, gọi là Phật tuệ.

    Phải quấy, tốt xấu, đúng lý phi lý, các tình cảm thấy biết hết sạch, không thể trói buộc, nơi nơi đều được tự tại, gọi là Bồ-tát mới phát tâm liền lên địa vị Phật.

    Tăng hỏi:- Ðối tất cả cảnh làm sao tâm được như cây đá?

    Sư đáp:

    - Tất cả pháp vốn chẳng tự nói không, chẳng tự nói sắc, chẳng nói phải quấy nhơ sạch, cũng không có tâm trói buộc người, chỉ tự người hư vọng tính chấp, tạo bao nhiêu thứ hiểu, khởi bao nhiêu thứ thấy biết, sanh bao nhiêu thứ yêu sợ. Cần phải nhận rõ các pháp không tự sanh, đều do một niệm vọng tưởng điên đảo của mình chấp tướng mà có. Biết tâm cùng cảnh vốn không đến nhau thì ngay nơi đó là giải thoát, mỗi mỗi pháp ngay nơi đó là lặng lẽ, ngay nơi đó là đạo tràng.

    Lại, tánh sẵn có không thể gọi tên, xưa nay không phải phàm không phải thánh, chẳng phải nhơ sạch, chẳng phải hữu không, cũng chẳng phải thiện ác, cùng các pháp nhiễm hợp nhau, gọi là người trời nhị thừa. Nếu tâm nhơ sạch hết, chẳng trụ nơi ràng buộc chẳng trụ nơi giải thoát, không tất cả tâm lượng hữu vi vô vi, phược thoát, ở nơi sanh tử tâm vẫn tự tại. Hoàn toàn không hòa hợp với uẩn, giới, sanh tử, các nhập, trần lao hư huyễn, siêu nhiên không nương tựa, tất cả không ràng buộc, đi ở không ngại, qua lại trong sanh tử như cửa mở.

    Phàm người học đạo nếu gặp các thứ khổ vui, việc vừa ý không vừa ý, tâm không lui sụt, chẳng để tâm đến danh dự lợi dưỡng ăn mặc, chẳng tham tất cả công đức lợi ích, không bị các pháp thế gian buộc ngại, không thân mến khổ vui, tâm hằng bình đẳng, ăn cơm hẩm cốt nuôi mạng sống, mặc áo vá chỉ để ngừa lạnh; ngơ ngơ như ngu như điếc, sẽ được ít phần tương ưng. Nếu trong tâm ham học rộng biết nhiều, cầu phước cầu trí, đều là ở trong sanh tử, đối với lý đạo thật vô ích, lại bị gió hiểu biết thổi trôi giạt trở lại trong biển sanh tử.

    Phật là người không cầu, có cầu tức trái lý, lý không cầu này nếu cầu liền mất. Nếu chấp không cầu, lại đồng có cầu. Nếu chấp vô vi, lại đồng hữu vi. Cho nên kinh nói: "Không thủ pháp không thủ phi pháp, không thủ phi phi pháp." Lại nói: "Như Lai đã được pháp, pháp này không thật không hư."

    Nếu người hay một lúc tâm giống như cây đá, không bị ấm, giới, ngũ dục, bát phong thổi trôi giạt, liền đoạn được nhân sanh tử, đi đứng tự do, chẳng bị tất cả hữu vi nhân quả ràng buộc, chẳng bị hữu lậu câu thúc. Khi khác, trở lại đem thân không phược làm lợi ích chúng sanh, lấy tâm không phược ứng hợp tất cả tâm, dùng tuệ không phược cổi tất cả phược, cũng nói "hợp bệnh cho thuốc".

    Tăng hỏi:

    - Như nay thọ giới rồi thân khẩu được thanh tịnh, lại làm đủ các việc thiện, như thế được giải thoát chăng?

    Sư đáp:

    - Ðược ít phần giải thoát, chưa được tâm giải thoát, chưa được tất cả chỗ giải thoát.

    Tăng hỏi:

    - Thế nào là tâm giải thoát và tất cả chỗ giải thoát?

    Sư đáp:

    - Chẳng cầu Phật, Pháp, Tăng, cho đến chẳng cầu phước trí tri giải, tình cảm nhơ sạch hết, chẳng chấp tâm không cầu là phải, chẳng trụ chỗ hết, cũng chẳng mến thiên đường sợ địa ngục, trói buộc cổi mở không ngại, tức thân tâm và tất cả chỗ đều gọi giải thoát.

    Ngươi chớ cho có ít phần giới thân khẩu ý tịnh là xong, đâu biết môn giới định tuệ như hà sa, mà vô lậu giải thoát toàn chưa dính một mảy.

    Cố gắng! Nhằm hiện nay cố tìm xét lấy, đừng đợi mắt mờ tai điếc, tóc bạc, mặt nhăn, già khổ đến thân, buồn thảm triền miên mắt hằng rơi lệ, trong tâm hoảng sợ không một nơi y cứ, chẳng biết chỗ đi. Ðến khi ấy, muốn nghiêm chỉnh tay chân cũng không thể kềm được, dù có phước trí, danh dự lợi dưỡng trọn không cứu được. Vì mắt tâm chưa mở, chỉ nhớ các cảnh, không biết phản chiếu, lại chẳng thấy Phật đạo. Một đời có tạo việc thiện ác thảy hiện ở trước, hoặc vui hoặc sợ, sáu đạo năm uẩn thảy bày hiện tiền. Trang sức nhà cửa ghe thuyền xe cộ đẹp đẽ hiển hách, đều từ tâm tham ái của mình hiện ra, tất cả cảnh ác đều biến thành cảnh thù thắng. Chỉ tùy tâm tham ái chỗ nào nặng, nghiệp thức dẫn đến thọ sanh, hoàn toàn không có phần tự do, rồng súc tốt xấu trọn chưa định được.

    Tăng hỏi:- Thế nào được phần tự do?

    Sư đáp:

    - Hiện nay đối với ngũ dục bát phong lòng không lấy bỏ, xan tham tật đố tham ái ngã sở đều hết, nhơ sạch chẳng còn, như mặt trời mặt trăng trong hư không, không duyên mà chiếu. Tâm tâm như cây đá, niệm niệm như cứu lửa cháy đầu, cũng như con voi lớn qua sông vừa ùm xuống là đến bờ kia, không bị ngăn ngại. Người này không nhiếp thuộc về thiên đường hay địa ngục.

    Phàm học kinh xem giáo lý, mỗi câu đều phải uyển chuyển xoay về nơi mình, tất cả ngôn giáo chỉ làm sáng tỏ tánh giác hiện nay của mình. Chỉ không bị tất cả cảnh có, không... lôi là Ðạo sư của người; hay chiếu phá tất cả cảnh có, không... là tuệ Kim Cang, tức có phần tự do tự tại. Nếu không như thế để hội đạo, dù có tụng được mười hai phần giáo cũng chỉ thành Tăng thượng mạn, lại là người chê bai Phật, không phải là người tu hành. Chỉ lìa tất cả thanh sắc, cũng chẳng trụ nơi lìa, chẳng trụ nơi tri giải, là người tu hành.

    Ðọc kinh xem giáo lý, nếu chiếu theo thế gian là việc tốt, nếu nhằm vào người minh lý thì thường đọc xem là kẻ bế tắc. Người thập địa vượt ra, không đi vào vòng sanh tử, nhưng giáo lý Tam thừa để trị bệnh tham, sân... như hiện nay niệm niệm nếu có bệnh tham, sân... thì trước phải trị nó, chẳng cần tìm cầu câu nghĩa hiểu biết. Hiểu biết thuộc về tham, tham thì trở thành bệnh. Như hiện nay chỉ lìa tất cả pháp có, không, cũng lìa cái lìa vượt ngoài ba câu (có, không, chẳng phải có chẳng phải không) tự nhiên cùng Phật không khác. Ðã tự là Phật, lo gì Phật không hiểu ngôn ngữ. Chỉ e không phải là Phật, bị các pháp có, không trói buộc chẳng được tự do. Bởi lý chưa vững, trước có phước trí, bị phước trí chở đi, như người nghèo ở trong cảnh sang. Không bằng trước vững lý, sau mới có phước trí. Nếu cần phước trí thì tạm thời làm được, nắm đất biến thành vàng, nắm vàng biến thành đất, biến nước biển thành tô-lạc, đập núi Tu-di thành bụi nhỏ, hốt nước bốn biển dồn vào một lỗ chân lông, nơi một nghĩa làm vô lượng nghĩa, nơi vô lượng nghĩa làm một nghĩa.

    *

    Có vị Tăng hỏi:

    - Cuốc cỏ chặt cây, khai mương đào đất, có tướng tội báo chăng?

    Sư đáp:

    - Không thể nói quyết định có tội, cũng không thể nói quyết định không tội, có tội không tội việc tại người đương thời. Nếu tham nhiễm tất cả pháp có, không... có tâm lấy bỏ, còn chưa vượt khỏi ba câu, người này nhất định nói có tội. Nếu vượt ngoài ba câu, tâm như hư không, cũng chẳng tưởng hư không, người này nhất định nói không tội.

    Lại nữa, nếu tạo tội rồi, nói không thấy có tội thì thật vô lý. Nếu không làm tội, mà nói có tội thì cũng vô lý. Như trong Luật, do mê giết người và chuyển tướng giết, còn không phạm tội sát. Huống là Thiền tông truyền trao nhau tâm như hư không, không dừng ở một vật, cũng không có tướng hư không, thì đem tội để ở chỗ nào?

    *

    Có vị Tăng hỏi:

    - Thế nào là "hữu tình không Phật tánh, vô tình có Phật tánh"?

    Sư đáp:

    - Từ người đến Phật là tình chấp thánh, từ người đến địa ngục là tình chấp phàm. Chỉ như hiện nay đối hai cảnh phàm, thánh có tâm nhiễm ái gọi là "hữu tình không Phật tánh". Hiện nay đối hai cảnh phàm, thánh và tất cả pháp có, không... trọn không có tâm lấy bỏ, cũng không cái hiểu biết không lấy bỏ, ấy là "vô tình có Phật tánh". Chỉ không có tình ràng buộc, nên gọi vô tình. Không đồng với loài vô tình như: cây, đá, hư không, hoa vàng, trúc biếc, mà cho là có Phật tánh. Nếu nói loài vô tình ấy có Phật tánh, tại sao trong kinh không thấy thọ ký được thành Phật? Chỉ cái giác chiếu soi hiện nay không bị hữu tình thay đổi, dụ như trúc biếc, ứng cơ biết thời thiết dụ như hoa vàng.

    Lại, nếu bước lên nấc thang Phật thì vô tình có Phật tánh, chưa bước lên nấc thang Phật thì hữu tình không Phật tánh.

    *

    Hằng ngày làm công tác, Sư đều dẫn đầu trong chúng. Một hôm, chúng Tăng lén giấu dụng cụ không cho Sư làm, Sư tìm mãi không được, bảo:

    - Tôi không có đức hạnh, đâu dám làm nhọc người. Sư nhịn ăn hôm ấy, nên có câu "một ngày không làm, một ngày không ăn" (nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực).

    Sư có soạn bộ qui tắc trong nhà Thiền, lấy tên là "Bá Trượng Thanh Qui". Ðời Ðường niên hiệu Nguyên Hòa năm thứ chín (814 T.L.) ngày mười bảy tháng giêng, Sư qui tịch, thọ chín mươi lăm tuổi. Vua ban hiệu là Ðại Trí Thiền sư, tháp hiệu Ðại Bảo Thắng Luân.

    *

  • Lòng Trắc Ẩn

    May 16th 2011, 12:34 am
  • 14. THIỀN SƯ PHỔ NGUYỆN

    Nam Tuyền - (749 - 834)



    Sư họ Vương, quê ở Tân Trịnh, Trịnh Châu. Ðời Ðường niên hiệu Chí Ðức thứ hai (758 T.L.), Sư theo Thiền sư Ðại Huệ ở núi Ðại Ngung xuất gia học đạo. Năm ba mươi tuổi, Sư lên núi Cao Nhạc thọ giới cụ túc. Lúc đầu, Sư học tập Tướng tông và Luật tông, kế tìm đến các nơi giảng Kinh Luận thọ học. Sư đã học được kinh Lăng-già, Hoa Nghiêm, Trung Luận, Bách Luận...

    *

    Sau, Sư đến Mã Tổ bỗng nhiên "được cá quên nôm" (đạt lý quên lời), được du hí tam-muội (chánh định ngao du tự tại). Một hôm, Sư bưng cháo cho chúng Tăng, Mã Tổ hỏi:

    - Trong thùng thông là cái gì?

    Sư thưa:- Ông già nên ngậm miệng, nói năng làm gì?

    Mã Tổ bèn thôi.

    Từ đây về sau, những bạn đồng tham học không ai dám gạn hỏi Sư điều gì.

    *

    Niên hiệu Trinh Nguyên thứ mười một (795 T.L.), Sư tạm biệt Mã Tổ đi tìm nơi cất am. Sau khi rời Mã Tổ, Sư đồng đi với Thiền sư Bảo Vân, Trí Thường, Trí Kiên cả thảy bốn người. Ðến giữa đường, sắp từ biệt nhau, Sư cắm gậy xuống đất bảo:

    - Nói được cũng bị cái ấy ngại, nói không được cũng bị cái ấy ngại.

    Trí Thường liền nhổ gậy, đập Sư một gậy, rồi nói:

    - Cũng chỉ cái ấy, Vương lão sư (thầy già họ Vương) nói cái gì ngại, chẳng ngại?

    Bảo Vân nói:- Chỉ một câu này truyền khắp thiên hạ.

    Trí Thường hỏi:- Lại có cái chẳng khắp chăng?

    Bảo Vân đáp:- Có.

    Trí Thường hỏi:- Thế nào là cái chẳng khắp?

    Bảo Vân ra bộ tát tai.

    *

    Bốn vị ngồi uống trà. Bảo Vân đưa chung trà lên nói:

    - Khi thế giới chưa thành vẫn có cái ấy.

    Sư bảo:- Người nay chỉ biết cái ấy, chưa biết thế giới.

    Trí Thường nói:- Phải.

    Sư bảo:- Sư huynh đâu đồng cái thấy này.

    Trí Thường lại đưa cái chung trà lên bảo:

    - Khi thế giới chưa thành nói được chăng?

    Sư ra bộ tát tai, Trí Thường đưa mặt nhận tát tai.

    *

    Sư đến núi Nam Tuyền cất am, ở mãi hơn ba mươi năm chưa từng xuống núi. Niên hiệu Thái Hòa năm đầu (827 T.L.), Liêm sứ thành Tuyền Châu là Lục Công Tuyên nghe đạo phong của Sư bèn cùng Giám quân đồng đến thỉnh Sư xuống núi, với tư cách đệ tử thỉnh thầy. Từ đây, Sư mở rộng đạo huyền, số người tham học không khi nào dưới vài trăm. Các nơi gọi Sư là "người mô phạm đất Dĩnh".

    *

    Dưới núi Nam Tuyền có một Am chủ, có người nói: "Gần đây có Hòa thượng Nam Tuyền ra đời, sao ông không đến yết kiến?" Am chủ bảo: "Chẳng những Nam Tuyền ra đời, dù có ngàn đức Phật xuất thế, tôi cũng chẳng đến." Sư nghe lời này, bèn sai Tùng Thẩm (Triệu Châu) đi khám phá. Tùng Thẩm đến làm lễ, Am chủ chẳng thèm nhìn. Tùng Thẩm từ Ðông qua Tây, lại từ Tây qua Ðông, Am chủ cũng chẳng nhìn. Tùng Thẩm bảo: "giặc cỏ đại bại", bèn bỏ tấm mành xuống ra về. Tùng Thẩm về thuật lại Sư nghe. Sư bảo:

    - Ta từ lâu nghi lão ấy.

    Một hôm, Sư đến Trang sở, Trang chủ dự bị đón tiếp. Sư hỏi:

    - Lão tăng ra vào thường không cho người biết, sao Trang chủ biết trước mà bày biện như vậy?

    Trang chủ thưa:

    - Ðêm qua thổ địa mách ngày nay Hòa thượng đến.

    Sư bảo:- Vương lão sư tu hành vô lực bị quỉ thần xem thấy.

    Thị giả hỏi:- Hòa thượng đã là thiện tri thức, vì sao bị quỉ thần xem thấy?

    Sư bảo:- Trước thổ địa để một phần cơm.

    *

    Tùng Thẩm hỏi:

    - Ðạo chẳng ngoài vật, ngoài vật chẳng đạo, thế nào là đạo ngoài vật?

    Sư liền đánh. Tùng Thẩm nắm gậy lại, nói:

    - Từ đây về sau chớ có đánh lầm người.

    Sư bảo:- Rồng rắn dễ phân biệt, nạp tử (tăng sĩ) khó lường.

    *

    Một hôm, Sư đóng cửa phương trượng (nhà thầy trụ trì ở vuông vức một trượng), lấy tro rắc ngoài cửa, bảo:

    - Nếu có người nói được liền mở cửa.

    Có nhiều vị Tăng nói, mà không hợp ý Sư.

    Tùng Thẩm nói:- Trời xanh.

    Sư liền mở cửa.

    *

    Sư dạy chúng:

    - Mã Tổ ở Giang Tây nói "tức tâm tức Phật", Vương lão sư chẳng nói thế ấy, mà nói "chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật", nói thế có lỗi chăng?

    Tùng Thẩm lễ bái đi ra.

    Khi ấy có vị Tăng theo hỏi Tùng Thẩm:

    - Thượng tọa lễ bái đi ra, ý thế nào?

    Tùng Thẩm bảo:- Thầy nên hỏi Hòa thượng.

    Vị Tăng ấy đến hỏi Sư:

    - Hành động vừa rồi của Thượng tọa Thẩm, ý thế nào?

    Sư bảo:- Ông ấy đã nhận được ý chỉ của Lão tăng.

    *

    Nhà Ðông, nhà Tây tranh nhau con mèo. Sư trông thấy, liền bảo chúng:

    - Nói được là cứu con mèo, nói không được thì chém nó.

    Chúng Tăng đều ngơ ngác không nói được. Sư liền chém con mèo. Tùng Thẩm ở ngoài đi vào, Sư dùng câu nói trước hỏi. Tùng Thẩm liền cổi giày để trên đầu đi ra. Sư bảo:

    - Giá khi nãy có ngươi ở đây, đã cứu được con mèo.

    *

    Lục đại phu hỏi Sư:

    - Trong nhà đệ tử có một phiến đá, hoặc khi ngồi, hoặc khi nằm, nay tính đem làm tượng Phật được chăng?

    Sư đáp:- Ðược.

    Ðại phu hỏi:- Chẳng được chăng?

    Sư đáp:- Chẳng được.

    Ðại phu hỏi:- Ðại Bi Bồ-tát dùng nhiều mắt tay như thế để làm gì?

    Sư hỏi lại:- Quốc gia dùng Ðại phu để làm gì?

    *

    Sư thượng đường dạy chúng:

    - Vương lão sư từ nhỏ nuôi một con trâu đực, tính thả ăn ở khe Ðông sợ e không khỏi phạm nước cỏ của quốc vương, tính thả ăn ở khe Tây cũng sợ e không khỏi phạm nước cỏ của quốc vương, chi bằng tùy thời nhận chút ít trọn chẳng thấy được.

    *

    Sư thượng đường bảo:

    - Phật Nhiên Ðăng nói "nếu tâm tướng khởi nghĩ sanh ra các pháp là hư giả chẳng thật". Vì cớ sao? Vì tâm còn không có, lấy gì sanh ra các pháp, ví như bóng phân biệt hư không, như người lấy tiếng để trong rương, cũng như thổi lưới muốn được đầy hơi. Cho nên Lão túc bảo "chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật". Nói thế là dạy các huynh đệ chỗ đi vững chắc. Nói: "Bồ-tát Thập địa trụ chánh định Thủ Lăng Nghiêm được pháp tạng bí mật của chư Phật, tự nhiên được tất cả thiền định giải thoát thần thông diệu dụng, đến tất cả thế giới khắp hiện sắc thân, hoặc thị hiện thành Phật chuyển bánh xe đại pháp, vào Niết-bàn, khiến vô lượng vào một lỗ chân lông, nói một câu trải vô lượng kiếp cũng không hết nghĩa, giáo hóa vô lượng ngàn ức chúng sanh được vô sanh pháp nhẫn, còn gọi là sở tri ngu vi tế." Sở tri ngu cùng đạo trái nhau. Rất khó! rất khó! trân trọng.

    *

    Sư thượng đường dạy chúng:

    - Các ngươi! Lão tăng lúc mười tám tuổi đã biết kế sống, có ai biết kế sống ra trình, sẽ cùng ngươi thương lượng, người ấy mới đáng ở núi.

    Sư lặng thinh giây lâu, nhìn đại chúng chấp tay, nói:

    - Vô sự! Trân trọng! Mỗi người tự tu hành.

    Ðại chúng vẫn ngồi yên.

    Sư bảo:

    - Huynh đệ người thời nay gánh Phật để trên vai mà đi, nghe Lão tăng nói: "tâm chẳng phải Phật, trí chẳng phải đạo", bèn hội họp suy nghĩ. Lão tăng không có chỗ để các ngươi suy nghĩ. Nếu các ngươi trói hư không lấy gậy đập được, Lão tăng sẽ cho suy nghĩ.

    Có vị Tăng ra hỏi:

    - Từ Thượng Tổ cho đến Ðại sư ở Giang Tây đều nói: "tức tâm là Phật", "tâm bình thường là đạo". Nay Hòa thượng nói "tâm chẳng phải Phật, trí chẳng phải đạo", học nhân chắc sanh nghi ngờ, xin Hòa thượng từ bi chỉ dạy.

    Sư đáp:

    - Ngươi nếu là Phật thì đâu còn phải nghi, lại hỏi Lão tăng chỗ gì? Có nhà bên cạnh nghi Phật như thế đến, Lão tăng chẳng phải Phật cũng chẳng từng thấy Tổ sư, ngươi nói như thế, tự tìm Tổ sư đi!

    Tăng thưa:- Hòa thượng nói như thế, dạy học nhân làm sao phù trì được?

    Sư bảo:- Ngươi mau lấy tay bắt hư không đi!

    Tăng thưa:- Hư không không tướng không động, làm sao mà bắt?

    Sư bảo:

    - Ngươi nói không tướng không động tức là động vậy. Hư không đâu biết nói "ta không tướng không động". Ðây đều là tình kiến của ngươi.

    Tăng thưa:

    - Hư không không tướng không động còn là tình kiến, trước Hòa thượng dạy con bắt hư không là còn vật gì?

    Sư bảo:

    - Ngươi đã biết không nên nói bắt, mà lại nghĩ làm sao phù trì?

    Tăng thưa:

    - Tức tâm là Phật đã chẳng được, thị tâm tức Phật được chăng?

    Sư bảo:

    - Thị tâm thị Phật, thị tâm tác Phật, do tình chấp mà có, đều bởi tưởng mà thành. Phật là người trí, tâm là chủ nhóm phân biệt, khi đối vật phát ra diệu dụng. Ðại đức chớ nhận tâm, nhận Phật, dù nhận được cảnh ấy vẫn còn bị người gọi là Sở tri ngu. Cho nên Ðại sư ở Giang Tây bảo: "Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật." Vả lại đã dạy người sau các ngươi chỗ đi như thế. Người học thời nay mặc y phục nhà bên cạnh nghi như thế, muốn được rảnh việc có được chăng?

    - Ðã chẳng phải tâm chẳng phải Phật chẳng phải vật, nay Hòa thượng lại nói "tâm chẳng phải Phật, trí chẳng phải đạo", chưa biết thế nào?

    - Ngươi chẳng nhận tâm là Phật, trí là đạo, Lão tăng chợt được tâm lại để chỗ nào?

    - Ðã hoàn toàn chẳng được thì đâu khác hư không?

    - Ðã chẳng phải vật làm sao so với hư không, lại nói cái gì là khác chẳng khác?

    - Chẳng lẽ không cái chẳng phải tâm chẳng phải Phật, chẳng phải vật?

    - Ngươi nếu nhận cái ấy, lại thành tâm Phật rồi.

    - Thỉnh Hòa thượng nói.

    - Lão tăng tự chẳng biết.

    - Tại sao chẳng biết?

    - Bảo ta nói làm sao?

    - Ðành chẳng cho học nhân hội đạo sao?

    - Hội đạo gì? Lại làm sao hội?

    - Con không biết.

    - Không biết lại tốt. Nếu lấy lời Lão tăng cho là người nương tựa thông suốt, dù thấy Phật Di-lặc ra đời vẫn bị Ngài nhổ hết lông đầu.

    - Dạy người sau thế nào?

    - Ngươi tự xem, chớ lo những người sau.

    - Trước Hòa thượng chẳng cho con hội thông, giờ lại bảo con tự xem, chưa biết thế nào?

    - Thầm hội, diệu hội, làm sao cho ngươi hội?

    - Thế nào là diệu hội?

    - Lại muốn học ngữ của Lão tăng, dù có nói, là Lão tăng nói, Ðại đức thế nào?

    - Con nếu tự hội thì đâu phiền xin Hòa thượng từ bi chỉ dạy?

    - Không thể chỉ Ðông chỉ Tây lừa người, ngươi khi còn khóc tu oa! tu oa! Sao chẳng đến hỏi Lão tăng? Bây giờ khôn ngoan mới nói con chẳng hội, mong cái gì? Nếu người đời này lọt lòng mẹ bèn nói ta xuất gia làm Thiền sư, vậy khi chưa xuất gia từng làm việc gì, hãy nói xem, ta sẽ cùng ngươi thương lượng?

    - Khi ấy con chẳng biết.

    - Ðã chẳng biết thì hiện nay nhận được, có thể phải sao?

    - Nhận được đã chẳng phải, không nhận được phải chăng?

    - Nhận, chẳng nhận là lời nói gì?

    - Ðến trong ấy con càng chẳng hội.

    - Ngươi nếu chẳng hội, ta cũng chẳng hội.

    - Con là học nhân tức chẳng hội, Hòa thượng là thiện tri thức phải hội.

    - Chỉ nói với ngươi chẳng hội, ai luận thiện tri thức.

    Chớ khôn xảo, xem như Mã Tổ lúc còn tại tiền, có một học sĩ đến hỏi: "Như nước không gân xương, hay thắng thuyền muôn đấu, lý này thế nào?" Mã Tổ bảo: "Trong ấy không nước cũng không thuyền, luận gì gân xương." Huynh đệ! học sĩ ấy bèn thôi, đâu không tỉnh lực. Sở dĩ thường thường nói với các ngươi Phật không hội đạo, ta tự tu hành, dùng biết để làm gì?

    - Thế nào là tu hành?

    - Không thể nghĩ lường, đâu thể nói với ngươi tu thế này, hành thế này, đại nạn!

    - Lại cho học nhân tu hành chăng?

    - Lão tăng không thể ngăn ngươi.

    - Con làm sao tu hành?

    - Cần hành thì hành, không nên chuyên tầm bọn khác.

    - Nếu không nhờ thiện tri thức chỉ dạy thì không do đâu được hội? Như Hòa thượng mọi khi nói "tu hành phải hiểu mới được, nếu không hiểu thì rơi vào nhân quả, không có phần tự do", chưa biết tu hành thế nào khỏi vào nhân quả?

    - Lại chẳng cần thương lượng. Nếu luận tu hành thì chỗ nào chẳng hành được?

    - Thế nào hành được?

    - Ngươi không thể theo bọn kia tìm được.

    - Hòa thượng chưa nói dạy, con làm sao tìm?

    - Giả sử nói chỗ tìm đó, vả như ngươi từ sáng đến tối chợt đi Ðông, đi Tây, ngươi còn không suy nghĩ nói, đi được chẳng được, người khác không thể biết được ngươi.

    - Ngay khi đi Ðông đi Tây toàn không suy nghĩ, là phải chăng?

    - Khi ấy, ai nói là phải chẳng phải?

    *

    Có vị Tăng hỏi:

    - Trong hư không có một hạt châu làm sao lấy được?

    Sư bảo:

    - Chặt tre làm thang bắc trong hư không lấy.

    - Trong hư không làm sao bắc thang?

    - Ngươi nghĩ thế nào lấy?

    *

    Sư dạy chúng:

    - Chỉ hội được tánh từ vô lượng kiếp đến giờ không biến đổi tức tu hành, diệu dụng mà chẳng trụ tức là hạnh Bồ-tát. Ðạt các pháp không, diệu dụng tự tại, sắc thân tam-muội rõ ràng. Hành lục ba-la-mật không, thì nơi nơi không ngại, dạo trong địa ngục như xem vườn đẹp, không thể nói y chẳng được tác dụng. Chúng sanh từ vô lượng kiếp đến giờ quên bản tánh, chẳng tự liễu ngộ chân thể, bị mây trần che lấp, đắm mê sắc dục, như mây bay thấy trăng chạy, thuyền đi thấy bờ dời, tạm thời chia đường, chẳng được tự tại, thọ các thứ khổ chẳng tự hiểu biết. Ðến hôm nay hội được tánh bản lai, tánh ấy cùng hiện giờ không khác.

    *

    Sư sắp tịch, đệ nhất tọa hỏi:

    - Sau khi Hòa thượng trăm tuổi đi về chỗ nào?

    Sư bảo:- Làm con trâu dưới núi.

    Tăng hỏi:- Con theo Hòa thượng được chăng?

    Sư bảo:- Nếu ngươi muốn theo ta phải ngậm theo một bó cỏ.

    Niên hiệu Thái Hòa thứ tám (834 T.L.) ngày rằm tháng hai, Sư có chút bệnh. Sáng hôm sau, Sư bảo chúng:

    - Sao che đèn huyễn lâu vậy, chớ bảo ta có đi lại. Sư nói xong liền tịch, thọ tám mươi bảy tuổi.

    *


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group