Đôi vợ chồng sống trong kho chứa đồ

  • trannhat

    July 4th 2011, 8:01 am
  • Cô quay người, tôi giữ cô lại. Lần đầu tiên tôi hỏi cô thân mật như bạn bè: Có việc gì vậy?

    Cô chững người lại, nước mắt liền rơi xuống thành dòng, rơi lã chã, tất thảy mọi ức chế, tủi thân, và nỗi khổ sở trong đáy lòng đã theo nước mắt rơi xuống. Tôi không ngờ cô gục vào vai tôi, khóc lên thành tiếng. Tôi nhẹ nhàng ôm lấy cô, nghĩ thế này biết đâu chia sẻ được với cô chút đau khổ nào chăng.

    Cô lắp bắp kể lại, tôi mới biết, anh chồng giờ đang nằm trong bệnh viện.

    Anh chồng vốn làm nghề đưa hàng, nhưng vì tính tình chậm chạp, không khéo mồm, thành ra doanh số cứ lẹt đẹt, đành phải bỏ việc, tìm việc cần sức vóc để làm tạm. Nhưng anh chồng vốn chẳng khoẻ gì, lại ăn uống kham khổ, ngày nào làm cũng mệt nhọc, hôm đó đi làm, không may bị gạch rơi xuống vỡ đầu, phải đưa đi nằm viện rồi. Đáng lẽ tưởng đây là tai nạn lao động thì chủ phải lo cho tiền thuốc thang, ngờ đâu chủ mặc kệ, lại sai thải anh chồng ngay. Dành dụm được bao tiền giờ đã tiêu hết, cô chỉ còn nước quay về nhà dọn dẹp, rồi đi đón chồng về nhà nằm.

    Tôi lấy tấm thẻ tín dụng ra, định rút ít tiền cho cô dùng tạm, cô sống chết từ chối, cứ thế chạy xuống lầu đi mất.

    Buổi chiều, hai vợ chồng quay về, trên đầu anh chồng quấn tấm băng trắng, dáng vẻ yếu ớt, nhìn thấy tôi còn cố mỉm cười. Nhìn dáng anh ta gầy gò bé nhỏ, tôi cảm thấy anh chồng nhìn không có vẻ hèn kém, dù hơi bé nhỏ, nhưng có ý chí; cho dù nhút nhát, nhưng vẫn kiên cường. Tôi cười đáp lại anh, lần này, tôi cười thật lòng, chân thành.

    Hôm ấy, cả một ngày, tâm trạng tôi rất vui vẻ. Đó là ngày tôi vui nhất kể từ khi đến thành phố này, lần đầu tiên được cười chân thật, lần đầu tiên để ý chính mình cười có thật lòng không.

    Hôm đó, tôi nhìn thấy cái mặt nạ của tôi rơi xuống, trần trụi rơi trước mặt tôi, lộ ra tiếng thở dài não nuột, những giằng xé vô vọng, kêu gào không hơi.

    Và tôi, đã nhẹ nhõm cầm bật lửa, đốt nó đi.

    Chương Mười:

    Tôi dè dặt gõ cửa phòng họ, cô vợ đi làm vắng rồi, anh chồng liêu xiêu tựa vào cửa, nhìn tôi cười ngờ nghệch, không biết làm thế nào để mời tôi vào nhà.

    Tôi không hề định bước vào, mà cứ đứng ngoài, như thể tán gẫu, như thể nói với người thân bạn bè: Chỗ anh làm là cơ quan nào? Vì sao anh bị thương trong giờ làm nhưng lại không chịu gánh chi phí y tế cho anh? Họ có lý do gì sa thải anh? Theo Luật Lao Động thì anh có quyền… Tôi còn chưa nói xong, anh chồng đã cười ngộc nghệch, chen vào: Em biết, em cũng đã học đại học, em biết luật, nhưng không ích gì đâu! Luật Lao Động có lẽ chỉ bảo vệ được những viên chức như chị thôi, chứ với thợ thuyền bọn em, thì chả có tác dụng gì đâu! Lấy gì để bảo đảm đây? Ai bảo đảm cho? Tìm ai để khiếu nại đây? Cơ quan này tổ chức kia em đều đi cả rồi, nói rách mép ra, có ai thèm để ý đâu! Về chỗ chủ, bọn tay chân của chủ nó không đánh thêm cho thành què quặt ra đã là may rồi, hơn nữa, có cố đấm ăn xôi, thì rồi cũng vẫn phải móc tiền túi ra trả thuốc men, chả bõ bèn gì. Thôi vậy, em chịu thế này vậy, ai bảo chúng em không có địa vị trong xã hội này cơ!

    Nghe anh ta than thân, nghe những lời ấy, tôi như cảm thấy những ấu trĩ của mình, xã hội tàn nhẫn, cuộc đời cũng tàn nhẫn. Mắt tôi hiện lên những tin thợ thuyền hàng năm phản đối đòi tiền lương bị chủ đánh đập, làm cật lực bị nợ lương, bị tai nạn không ai ngó ngàng đăng đầy rẫy trên báo. Tôi hiểu ra, xã hội này vốn thế, anh bắt những kẻ yếm thế đi đòi công bằng, anh để những kẻ ở dưới đáy cùng của xã hội lấy gì để bảo vệ quyền lợi của chính mình?

    Tôi không nói gì nữa, tôi thấy lời nói là thứ hụt hơi yếu đuối, tôi cảm thấy ngôn từ nghèo nàn, tôi cũng thấy những bất bình của tôi mới non nớt bốc đồng sao.

    Tôi thở dài bất lực, lẩm bẩm như mơ: Xã hội ngoài kia bất nhẫn quá, khó khăn quá, hay là quay về đi, chứ chịu đựng và khốn khổ thế này, chi bằng quay về quê, tuy nghèo khổ nhưng được trân trọng.

    Anh chồng vẫn cười, cười méo mó. Anh ta ngẩng đầu, nhìn ra nơi xa, như tự nói: Về ư? Về làm sao được? Học phí nợ còn chưa trả nổi, nhà nước thì sao? Nhà nước đã chìa cánh tay giúp đỡ ra lúc tôi cần nhất, giờ làm sao tôi dám vong ân bội nghĩa, làm người phải giữ đạo! Huống hồ nhà tôi còn em trai em gái đang đi học, bố mẹ lại già rồi, đau yếu luôn, không kiếm ra tiền, lấy gì nuôi các em? Lấy gì nuôi bố mẹ?

    Làm người phải giữ đạo! Nghe câu nói ấy, tôi thẫn thờ, một người sống khổ sở như anh ta, một người đã lăn xuống tận đáy cùng của xã hội, còn nghĩ tới quốc gia, thì anh chồng đã cao thượng hơn bao nhiêu người mũ cao áo dài chúng tôi. Tôi bắt đầu cảm thấy mình tầm thường, bé nhỏ.

    Tôi mở to mắt nhìn anh, có chút nể phục, anh chồng kể tiếp giọng đều đều:

    Nông thôn nghèo lắm, rất nhiều người bảo, nghèo sao đẻ lắm thế? Thật ra, vì sao lại đẻ đứa này rồi còn sinh tiếp đứa khác? Có ai muốn đã nghèo lại còn phải nuôi thêm mấy đứa con đâu, cuộc sống thêm gánh nặng, nhưng biết làm sao được, người ta buộc phải thế! Ở nhà quê, người ta già rồi, không còn sức lao động, coi như là bắt đầu phải nuôi báo cô, người già ở nông thôn không có lương hưu, không hề có phúc lợi xãhội gì, không có gì đảm bảo cho cuộc sống, nếu không có nhiều con, thì một đứa nuôi làm sao nổi hai bố mẹ già, thế không phải là sẽ cứ thế mà chết đói ư? Vì thế nên phải đẻ thêm vài đứa, chia gánh nặng ra. Đẻ con dưỡng già là một thứ truyền thống bất đắc dĩ của nhà quê!

    Mỗi ông bố bà mẹ ở nông thôn đều mong con mình mở mày mở mặt, mà muốn đổi đời chỉ có mỗi con đường là thi đỗ đại học, nhưng học đại học thì đắt lắm, cho nên trong nhà chỉ cần một đứa đỗ đại học thì cả nhà phải vạ, rồi chổi cùn rế rách bán hết. Nhưng bây giờ sinh viên tốt nghiệp đại học xong khó kiếm việc lắm, nhất là những người học không giỏi, nghề cũng không giỏi, càng khó xin việc; mà không lấy được mảnh bằng đại học thì khác gì chưa học đại học, đi đâu xin việc người ta cũng cần bằng cấp, không bằng, thì chỉ đi làm thợ.

    Nói đến đây, anh chồng ngao ngán lắc đầu, mím môi lại, không nói nữa.

    Tôi cũng im lặng, tôi không biết nên nói gì, bởi một đứa trẻ từ nhỏ sống ở thành phố như tôi khó tưởng tượng nổi, vì thế tôi chọn cách im lặng.

    Buổi trưa, tôi gọi hai suất cơm, tôi mang một suất cho anh ta, anh ta dứt khoát không nhận. Tôi giả bộ giận dữ nói: Tôi làm phiền anh suốt buổi sáng, không cho anh nghỉ ngơi, giờ xin lỗi bằng hộp cơm thôi! Anh ta không chối được, đành nhận lấy.

    Tôi biết, một suất cơm thì đạm bạc quá, nhưng nếu tôi mua những thứ đắt tiền hơn, chắc chắn anh ta không bao giờ chịu lấy.

    Buổi tối, cô vợ rất muộn mới quay về, mệt mỏi rã rời. Tôi nghe thấy anh chồng nói: Anh để phần em cái này ngon lắm, chắc em đói rồi hả, ăn đi. Cô vợ cứ bảo đã ăn rồi, đòi chồng ăn cùng, anh còn đang bị thương, cần tẩm bổ.

    Nghe họ đùn đẩy nhau miếng ăn, nước mắt tôi rơi xuống.

    Tôi biết, tôi lại sai rồi, tôi không hiểu gì về tình yêu của họ, vì tình yêu của họ nhân đôi! Làm sao có thể nhẫn tâm một mình ngồi nuốt một phần ăn mà mình cho là ngon miệng, mà để người còn lại ngồi nhìn nuốt nước bọt?

    Hôm đó, tôi cuối cùng đã hiểu: Bội số của một tình yêu nhân đôi là rất lớn, rất lớn, rất lớn. Tới mức tôi khó nhìn thấy hình dáng nó, không thể biết bề sâu của nó.

    Chương Mười Một

    Anh chồng rồi cũng khoẻ dần lên, chờ anh ta khoẻ hẳn, tôi nhờ bạn bè tìm giúp anh một công việc nhẹ nhàng một chút, tuy lương không cao, nhưng dù sao cũng tốt hơn việc cũ. Hai vợ chồng họ đầy cảm kích không rõ đã nhắc lại bao lần chữ cảm ơn. Cho dù tôi nói mãi đó chỉ là việc dễ như trở bàn tay, họ vẫn không ngừng cảm ơn tôi. Làm tôi hơi ngại.

    Một tháng sau, anh chồng cùng cô vợ hớn hở chạy đến kéo tôi đi ra ngoài, tôi còn chưa hiểu việc gì, họ đã lôi được tôi ra khỏi cổng. Xuống đến nhà, tôi mới biết thì ra anh chồng được lĩnh lương, nhất định mời tôi đi ăn. Tôi cười ha ha nói: Thôi đừng khách khí, đều là người đi kiếm sống, giúp nhau là chuyện thường tình, thôi đừng cơm nước gì nhé. Nhưng họ cố chấp cứ lôi tôi lại, mời mọc mãi: Không mời chị, cả tình cả lý đều không xuôi. Thấy tôi có vẻ kiên quyết không đi, họ bắt đầu cuống lên: Hay là chị sợ chúng em mang không đủ tiền theo, xem này, em mang hẳn mấy trăm tệ. Nói đoạn bèn móc tiền ra. Thấy họ đôn hậu lại ngộ nghĩnh, tôi không từ chối nổi, đành nhận lời.

    Tôi vừa đi vừa nghĩ: Làm thế nào để họ mời mình, thoả mãn tâm nguyện của họ mà lại tiết kiệm tiền cho họ nhỉ. Tôi nghĩ tới quán cơm rẻ tiền nhất Quảng Châu, là quán mì sợi.

    Vì thế tôi làm vẻ trầm ngâm: Tôi biết có một chỗ đồ ăn vô cùng ngon, tôi thích đi ăn nhất. Không biết 2 người đã ăn mì sợi Lan Châu bao giờ chưa. Họ đều ngỡ ngàng, rồi nói: Sao lại thế được? Sao lại chỉ mời chị đi ăn mì sợi? Kiểu gì cũng phải mời chị một bữa hoành tráng.

    Tôi cố ý ra vẻ giận: Nhưng tôi thích mì sợi, nếu định mời tôi, thì mời mì sợi đi, ăn cái khác tôi không thích lắm.

    Hai người họ thấy tôi giận, chỉ biết dạ dạ, làm theo ý tôi.

    Đến quán mì, tôi gọi một bát mì bò, anh chồng gọi một bát mì suông, một bát thịt bò. Chờ lúc mì bưng lên, anh chồng bưng một bát mì to nhiều thịt bò tới trước mặt tôi, một bát mì ít thịt bò cho vợ, còn anh chỉ ăn một bát mì nhỏ suông.

    Thấy tôi nhìn thắc mắc, anh vội vàng giải thích: Em thích ăn chay. Vết thương cũ chưa lành, em sợ ăn thịt vào sẽ lâu khỏi, thôi ăn chay cho lành.

    Thực ra tôi biết, đây đâu phải chuyện vết thương, tôi biết anh ta muốn tiết kiệm tiền, nhưng anh ta không bạc đãi bạn bè, nên chỉ bạc đãi bản thân mình.

    Thấy anh ta ăn mì ngon lành từng miếng lớn, thấy vợ anh liên tục gắp thịt vào bát chồng, thấy hai vợ chồng họ không ngừng gắp thịt cho tôi, tôi lại gắp trả họ; cổ họng tôi nghẹn lại ở chỗ nào đó, rất khó khăn cũng không nuốt được một miếng mì xuống. Tôi có thể cảm thấy được trước mắt tôi một màn mờ ảo, không biết là hơi nước nóng đang lơ lửng trước mặt, hay có nước gì đã bao lấy mắt tôi, có thể cảm thấy âm ẩm.

    Lần đầu tiên, tôi học được cách của họ, ăn hết sạch mì trong bát, húp cạn canh trong bát, cho dù tôi đã no căng bụng. Nhưng lần đầu tiên tôi cảm thấy đáy lòng mình quá ấm áp quá thật thà.

    (Nhưng về sau bi đát lắm có nên dịch tiếp không nhỉ? Tớ bận 1 tuần rồi)
    Tuy chỉ là một bát mì tám đồng, nhưng tôi biết bữa ăn đó với họ là xa xỉ. Tiêu mất tiền ăn mấy ngày của họ. Nhưng thứ tôi được nhận không phải là một bữa no, mà là cảm giác thấu hiểu và cảm động mà tôi chưa từng có được. Đó mới là thứ không tiền nào mua nổi, cũng là thứ mà không phải ai cũng may mắn có được, thứ chỉ tới từ tình người.

    Tôi nghĩ, đây là bữa ăn đắt tiền nhất mà tôi từng được mời, nó thật sự rất xa xỉ, rất đáng giá.

    Chương Mười Hai

    Một buổi chiều lười biếng, bạn tôi gọi điện tới, khi tôi nghe hết những lời tường thuật của anh ta, tôi kinh ngạc tới mức đờ ra, tôi không biết anh ta nói đúng không, cũng không hiểu rõ sự thể ra sao, tôi chỉ biết, cậu trai sống kề vách phòng tôi đã bị bắt lên đồn công an.

    Anh bạn kia không ngừng trách móc tôi, tại sao lại giới thiệu một người như thế đến làm ở chỗ anh quen, ý anh nói rằng, không còn nghi ngờ gì nữa, tôi để anh giúp tìm cho họ công việc đó, sự thể tới mức này, anh ta còn mặt mũi nào với ông sếp ở đó nữa. Nghe thấy anh ta hậm hực gác máy điện thoại, tôi biết, về sau coi như là tôi mất người bạn này rồi, chớ có nói còn nhờ vả họ tìm cho đôi vợ chồng kia công việc nào khác.

    Tôi không kịp để ý xem mối quan hệ bạn bè này từ nay còn hay mất, cũng không còn lòng dạ nào đi xin lỗi anh bạn, tôi chỉ còn muốn biết anh hàng xóm giờ ra sao? Tôi chỉ muốn làm rõ xem chuyện gì đã xảy ra. Dường như trong tôi có phần nào thấy phải chịu trách nhiệm với họ, tôi dặn tôi, biết đâu đây chỉ là sự hiểu lầm.

    Tôi xin nghỉ phép, vội vã chạy về nhà, chạy lên lầu, đi gõ cửa phòng kia, nhưng khá lâu, chẳng ai ra mở cửa. Tôi hơi thất vọng, tôi nghĩ có lẽ cô vợ đã ra đồn công an rồi.

    Tôi mệt mỏi tựa vào tường, nhìn sang cánh cửa sát phòng tôi, bỗng thấy tự dưng xót thương. Chợt tôi nhìn thấy trên khung cửa phòng tôi dán một mẩu giấy nhắn, tôi vội tới giật nó ra, là cô vợ nhắn cho tôi. Trên đó chả ghi gì, chỉ có địa chỉ một đồn công an. Tôi chẳng kịp suy nghĩ gì nữa vội vã tới đó ngay.

    Lúc tôi tới, thấy hai cảnh sát đang hỏi han cô gái, cô chỉ cúi đầu, nín tiếng nức nở, đôi vai run bần bật dường như đang kiềm chế những tiếng khóc sắp bật ra. Bên cạnh cô là một bà trung niên đang ngồi. Bà cứ nhíu mày, cố né người sang một bên như sợ bộ quần áo cũ rách của cô gái làm bẩn sang bà. Tôi chạy vào cầm lấy cánh tay cô, hỏi: Thế có chuyện gì vậy?

    Hai cảnh sát nhìn tôi, im lặng, rồi hỏi ôn tồn: Chị là ai? Tôi không nhìn họ, nói liền: Tôi là phóng viên báo buổi chiều, cô này là bạn tôi, tôi muốn đến tìm hiểu sự việc.

    Hai cảnh sát nhìn nhau, bán tín bán nghi, rồi như ngại phiền phức, họ hạ thấp giọng xuống, không nặng lời với cô gái nữa, cũng tỏ ra lịch thiệp với tôi.

    Tôi kéo cô ra một bên, hỏi có việc gì xảy ra vậy, chồng cô đâu? Cô gái nhìn tôi, chưa kịp nói thì nước mắt đã rơi xuống, tôi an ủi cô nín đi, cứ nói rõ đầu đuôi đã, chúng ta sẽ tìm cách giải quyết.

    Thì ra sự thể thế này, buổi sáng, chồng cô đi đưa hàng cho một khách hàng của công ty, trong lúc chờ xe bus thì thấy một bọn cướp đường giật túi xách của một người phụ nữ. Người phụ nữ cố sức giằng lại cái túi, miệng la lớn nhưng chẳng ai tới giúp bà, đang giằng giật như vậy, chồng cô nhìn thấy bèn không suy nghĩ gì chạy ngay tới, giúp người phụ nữ giữ lại cái túi. Mặc cho bọn cướp đánh anh, rút dao ra, anh vẫn không buông tay, lúc này cảnh sát vừa tới, lũ cướp bị tóm gọn.

    Sự việc chỉ có thế, nhưng lúc cảnh sát tới thấy mấy người đang giằng giật, nghĩ người chồng cũng là kẻ cướp giật, là đồng bọn, nên hỏi người phụ nữ, bà có quen anh này không, người phụ nữ khăng khăng bảo không quen biết gì, còn bồi thêm, bà chẳng biết thằng này là đồng bọn hay là băng đảng khác xông tới cướp hôi, chỉ biết thằng này cũng chạy tới giằng túi xách của tôi. Cảnh sát không nói không rằng tóm luôn anh chồng đi.

    Anh chồng đang vội đi đưa hàng cho khách, nên cũng chẳng có thời giờ giải thích, đã bị bọn cướp đánh thì chớ, còn bị cảnh sát đập cho một trận không cho nói nửa lời. Anh sợ làm lỡ việc của công ty, chỉ biết nói tên công ty ra, tưởng có thể nhanh chóng rút lui để đi làm tiếp, nào ngờ cảnh sát vừa gọi điện tới hỏi công ty, đầu dây kia sợ liên luỵ đã một mực phủ nhận công ty tôi chẳng có người nào tên là như thế này, như thế cũng có nghĩa là anh mất việc từ nay.

    Cảnh sát gọi người vợ tới, với tư cách thân nhân tội phạm. Cô liên tục bị gặng hỏi, cô sợ tới mức chẳng biết nói gì, đầu óc trống rỗng, nếu tôi không tới, có lẽ cô cũng chẳng biết làm thế nào.

    Nghe xong, tôi nổi giận đùng đùng. Tôi đi thẳng tới trước mặt bà kia: Này bà, bà có phải người bị cướp giật không? Tôi sẽ phỏng vấn bà, đây là thẻ nhà báo của tôi. Người đàn bà đó ngớ ra, tôi không để bà ta kịp hoàn hồn đã hỏi luôn: Đề nghị bà thuật lại tình huống lúc đó, vì sao bà cho rằng người giúp bà đánh cướp cũng là kẻ cướp? Vì sao bà không thừa nhận rằng anh này đã giúp mình lấy lại đồ đạc từ tay kẻ cướp?

    Người đàn bà nhìn tôi, lại nhìn cảnh sát, rồi lắp bắp nói: Làm gì có người tốt như thế ở trên đời? Thời buổi này làm gì còn ai thích dây dưa phiền hà? Chả lẽ anh ta không sợ chết? Nếu anh ta giúp tôi đánh cướp thì hoặc là anh ta bị bệnh thần kinh, hoặc anh ta là một thằng ngu. Cảnh sát nghe cũng gật đầu, như thể những gì bà nghĩ là những gì một người bình thường sẽ cư xử.

    Thấy thái độ điềm nhiên của họ, tôi càng giận dữ, tôi hét lên: Nếu nếu anh này là đồng bọn thì tại sao lại bị bọn cướp đánh? Nếu anh ta cũng cướp của bà thì tại sao công an đến anh ta không bỏ chạy? Trong khi anh ta có thể cướp được rồi thì chạy trước khi công an đến? Bà mất cái gì không? Anh ta có đánh bà không? Có ai làm chứng là anh ta cũng đi cướp của bà cái gì không? Các anh công an thử hỏi có chứng cứ gì nói anh này cũng là cướp không? Hay chỉ vì anh ta không có hộ khẩu thành phố? Hay là vì anh ta ăn mặc tồi tàn? Một người quên cả tính mạng mình đi cứu bà, bà lại nói người ta là cướp ư? Thế nếu bà cũng bị oan như anh này thì bà sẽ thế nào?

    Tôi hít một hơi thở sâu: Các anh bắt giữ người trong lúc không có chứng cứ gì cả, mới là giam giữ trái phép, mới là phạm pháp! Tôi chỉ vào người đàn bà: Còn loại người như bà không biết phân biệt tốt với xấu, không biết người ngay kẻ gian, bà không thấy áy náy sao? Hay là bà cũng đi dạy con cái bà rằng, người khác gặp nạn thì mình sẽ cao chạy xa bay?

    Tất cả những người ở đó đều ngẩn ra, không nói được gì, tôi biết, vào thời buổi hỗn loạn mà người ta sống vô tâm này, trong một xã hội mà giữa người với người không có một chút tình người này, với cuộc sống mà người này bị nhục người kia làm ngơ này, không có ai tin vào sự lương thiện nữa, cũng không ai tin người này sẽ giúp đỡ vô tư người kia nữa, thậm chí khi anh mang tấm lòng ra đối đãi người khác, trong mắt mọi người, anh cũng chỉ là một người khoác một tấm áo giả tạo đẹp đẽ.

    Chương Mười Ba:

    Cảnh sát có thể bắt nhầm bạn, pháp luật có thể xử oan bạn, nhưng nếu muốn đi đôi co những điều đó chắc chắn không dễ dàng gì.

    Bắt nhầm bạn, có thể là do nghi ngờ bạn, chụp lên đầu bạn cái mũ kẻ tình nghi, có tội hay không có tội thực ra chỉ khác nhau bởi một câu trong văn bản pháp luật thôi, trên thực tế, không bắt oan không bỏ sót có khi chỉ đếm trên đầu ngón tay. Còn xử oan bạn ư, có thể có hàng vạn lý do như đổ lỗi rằng pháp luật không kiện toàn, chứ không ai bảo nếu bạn bị oan, nhà nước phải có trách nhiệm đứng ra bồi thường, có mấy người được xin lỗi công khai sau án oan?

    Tôi biết, muốn cứu anh, tôi phải dốc sức ra giúp, tôi phải có căn cứ để chứng minh anh vô tội, anh là người tốt, lúc đó anh muốn giúp người bị hại.

    Cho dù người phụ nữ kia ăn nói hồ đồ, bà ta chắc chắn không bao giờ thú nhận mình đã lầm, được người ta giúp lại quay lại giở trò cắn một miếng. Cho dù cảnh sát không có chứng cứ để chứng minh anh ta đi cướp, nhưng họ có thể lấy lý do khi họ xuất hiện, anh chồng là người liên quan trong sự việc, để không bao giờ tha ngay cho anh.

    Tôi biết, nếu có lôi hai tên cướp ra làm chứng để trả lại sự trong sạch cho anh, khả năng đó cực kỳ ít ỏi, tôi chỉ còn biết cố gắng nghĩ xem liệu có chứng cứ gì giúp anh. Tôi quay lại hiện trường tìm người làm chứng, may quá tìm được hai người. Một ông lão và một người đàn bà bán hoa quả, họ nói đúng là họ thấy anh thanh niên chạy tới giúp người đàn bà chống cướp giật. Nhưng khi tôi đề nghị họ tới đồn công an làm chứng trước mặt công an, họ cự tuyệt quyết liệt. Họ bảo chẳng thích dây dưa phiền hà.

    Tôi phải nghĩ ra một kế, cũng không phải là mưu mẹo gì, chỉ là bất đắc dĩ.

    Tôi nói tôi là nhà báo, tôi đang viết bình luận cho tờ Quảng Châu buổi chiều, rằng đề tài là người tốt bị vu vạ, người ngoài đứng làm ngơ. Tôi nói tôi sẽ đưa lên nội dung bình luận rằng, trong khi người tốt giúp kẻ khác mà bị vạ, những người còn lại đã không giúp một mảy may. Và tôi sẽ đưa hai người vào, để con cái các vị biết bố mẹ chúng đã sống và cư xử ra sao. Thật may hai người phù hợp với đề tài tôi định viết.

    Hai nhân chứng tỏ ra lưỡng lự, tôi lại bảo, nếu hai người ra làm chứng, thì trong bài báo của tôi, hai vị sẽ được đưa tên lên như những người vì nghĩa mà không ngại khó khăn, vì cái tốt đẹp trong xã hội này vẫn còn tồn tại.

    Họ cân nhắc, bàn với nhau, rồi theo tôi đi.

    Tôi tìm tiếp đến công ty của anh chồng, cho dù người phụ trách rất không vui vẻ gì phải ra đồn công an làm chứng rằng, đúng là hôm đó ông ta cử anh này đi gặp khách hàng, nhưng trước mặt tôi, để giữ thể diện với anh bạn tôi, cuối cùng họ cũng đi. Cho dù anh bạn tôi giờ cũng có thể không còn là bạn tôi nữa.

    Cuối cùng, tôi cũng lôi được anh chồng ra khỏi nơi tạm giữ.

    Lúc rời đồn, công an chẳng một lời xin lỗi. Người đàn bà kia cũng chả một lời cảm ơn. Nhưng tôi thấy, anh chồng không so đo gì cả, anh vừa lòng bởi đã được chứng minh mình là người tốt, mình vô tội.

    Tôi mất một anh bạn tốt, nhưng tôi được một kinh nghiệm, trả lại danh dự cho người có danh dự, và cũng đã giúp đôi vợ chồng hiểu ra một kết quả của việc làm người tốt. Nhưng tôi tin họ không vì thế mà đánh mất đi sự thiện lương của họ.

    Cho dù sau này thế nào, dù anh ta liệu còn rút ra bài học hay không, chúng ta cũng không có quyền đi trách cứ anh ấy, cũng không có quyền bắt một người tốt từng chịu oan phải tiếp tục đi hứng chịu phong ba đầu ngọn gió. Bởi người cầm dao đi làm anh ta bị thương, có phải chính là chúng ta không, những người chúng ta, những người bình thường đang sống trong xã hội này.

    Trời lất phất mưa bụi, hơi âm u, người qua lại vội vã, mang theo những khuôn mặt vô cảm đi lại trong thành phố này, không ai biết đã từng xảy ra chuyện gì, thậm chí cả những người từng tận mắt chứng kiến sự việc có thể cũng đã quên.

    Thế giới đã bỏ quên, nhưng tôi còn nhớ, từ ngày hôm đó, tôi luôn nhớ.

    Chương Mười Bốn:

    Sau sự việc đó, đôi vợ chồng sống trong kho chứa đồ có vẻ tự ti hẳn đi, họ luôn có vẻ hàm ơn với tôi, rồi sau đó lại mang tâm trạng yếm thế yếu đuối. Dường như thể tất là cả là lỗi ở họ, như thể họ đã mang cho tôi, cho mọi người vô số phiền nhiễu. Có thể, những người thật sự lương thiện sẽ có tâm trạng ấy, không ngừng đổ lỗi cho bản thân, sao lại để sự việc xảy ra như thế, mà họ sẽ chẳng bao giờ đi trách móc người khác, không trút lỗi lầm lên người khác.

    Tôi thử tìm cách kiếm công việc tốt hơn cho anh chồng, nhưng đôi vợ chồng lại tỏ vẻ khép nép nói: Thôi phiền chị quá, chúng tôi đã tự kiếm được việc rồi, chúng tôi đang có việc làm rồi. Thực ra tôi hiểu vì lần trước đã kéo theo quá nhiều rắc rối làm phiền tôi, giờ họ không dám và cố gắng để cự tuyệt lòng tốt của tôi.

    Người con trai đi sớm về muộn, có vẻ như đúng là đi làm thật. Thấy họ nỗ lực và cần mẫn mỗi ngày, tôi thấy lòng man mác buồn, nhưng cũng không biết giúp họ thế nào. Lần đầu tiên tôi nhận ra: Nỗi phiền muộn vô cớ cũng có thể dày vò ta đến thế.

    Tết đến, tôi gặp họ trên hành lang, hai vợ chồng vui vẻ chào tôi, thông báo họ sẽ đi ăn mừng một bữa thịnh soạn. Thấy họ vui vẻ cười nói đi ra ngoài, tôi cũng mừng lây, biết đâu trong lúc tôi buồn bã thay họ, thì họ đã tìm được niềm vui và hạnh phúc thuộc về chính họ chăng.

    Ngày hôm sau, tôi vừa thấy họ đã chất vấn, hôm qua đi ăn ở đâu vậy? Họ chẳng ngại ngần gì mà còn cười bí mật và ngây thơ. Người vợ ghé vào tai tôi nói khẽ: Chị ơi, chị biết không, có tiệm ăn mà một đồng ăn thoả sức đấy! Tôi kinh ngạc, mở to mắt nhìn họ.

    Những ai từng sống ở Quảng Châu đều biết, có rất nhiều tiệm ăn nhanh, ăn tự chọn, thích dán lên cửa tiệm dòng chữ một đồng ăn no thì thôi, nhưng ai đã vào rồi đều biết, đó chỉ là quảng cáo thôi, chứ vào đó ăn không bao giờ một đồng một bữa. Nói thật, hễ vào là họ tính một người, ăn xong, tính kiểu gì cũng ít nhất 20 đồng. Nữa là hai vợ chồng họ hai người chỉ ăn một đồng?

    Tôi nghi ngờ nhìn họ, họ có vẻ hơi ngượng, anh chồng đành bảo: Thật đấy chị ạ, bọn em không nói dối chị, tối qua bọn em đi ăn rồi, hai người chúng em chỉ tốn hết có 5 đồng thôi! Tôi cười bảo, làm gì có chuyện, chỉ cơm không thôi hai người hai bát đã bốn đồng, thì năm đồng ăn được cái gì?

    Cô vợ cười hì hì: Chúng em vào quán, xem thực đơn, phát hiện ra có một món chỉ có một đồng thôi, đó là lạc rang, một đĩa bé xíu. Vừa nói cô vừa lấy tay vẽ mô tả cái đĩa nhỏ, mà thực ra chả cần cô miêu tả tôi cũng hình dung được cái đĩa nhỏ, hẳn trong lòng đĩa không có quá mười hạt lạc. Bởi cái đĩa lạc ấy chỉ dùng để cho phù hợp với câu quảng cáo “một đồng ăn đến no” ngoài cửa mà thôi. Chứ thực tế nếu có người thật sự gọi món đó, thì hẳn cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay.

    Cô vợ mặt mày vẫn rạng rỡ kể: Nước canh nóng họ cho miễn phí nhé, bọn em lấy đầy một bát to! Còn cơm thì cứ tính đổ đầu mỗi người hai đồng, thế là bọn em gọi một đĩa lạc rồi mỗi người ăn hết bốn bát cơm lèn chặt, chan hết tất cả canh, ăn no nê xong, chỉ hết có năm đồng.

    Nói xong họ nhìn nhau cười, thế mà tôi lại thấy ngượng. Tôi không biết họ dũng cảm nhường nào, khi đi vào một quán ăn đàng hoàng, lại chỉ gọi một đĩa lạc bé xíu, rồi ăn hết bốn bát cơm đầy? Tôi cũng không biết khi họ húp hết bát nước canh miễn phí, rồi mỗi hạt lạc xơi hết cả bát cơm đầy họ mãn nguyện thế nào, vui mừng thế nào.

    Tôi nghĩ, chắc lúc đó, rất nhiều người dùng ánh mắt không thiện cảm nhìn họ, thậm chí sẽ có người thì thào chỉ trỏ cười họ quê mùa, có thể thậm chí họ còn nghe được người ta dè bỉu xúc phạm họ, cũng bắt gặp những ánh mắt khinh bỉ nhìn họ, những họ vẫn tiếp tục ngồi đó, ăn hết bữa cơm của họ, còn vui vẻ phấn khởi ăn hết bữa của họ, rồi lấy ra năm đồng trả cho chủ quán.

    Tôi không nghĩ làm thế là đáng xấu hổ, cũng không nghĩ là không nên dè xẻn như thế, bỏ năm đồng ra thì cũng được là khách hàng rồi, tiêu năm đồng cũng không thấp hèn hơn khách tiêu năm mươi đồng. Nhưng, cho dù thế nào, chúng ta vẫn luôn nhìn vào việc tiêu tiền, như thể tiêu nhiều tiền sẽ được phục vụ chu đáo hơn tiêu ít tiền, như thể hễ có nhiều tiền thì tất nhiên ta sẽ được người khác tôn trọng.

    Tôi thừa nhận, nếu là tôi, trong túi chỉ có năm đồng, tất sẽ không bao giờ dám vác mặt tới những tiệm ăn lớn, tôi không có đủ dũng cảm để gọi một đĩa lạc một đồng, cho dù thực tế sức tôi chỉ ăn hết một bát cơm nhỏ và một đĩa lạc con con, nhưng tôi sẽ vẫn gọi những món đắt tiền hơn cho dù có khi tôi lại không đụng qua đũa. Cho dù trong lòng tôi biết như thế là lãng phí, nhưng có bao nhiêu người lại không chọn cách tiêu lãng phí tiền để mua lấy được thể diện cho mình?

    Trong xã hội này, người có tiền ăn nói vẫn hiên ngang hơn hẳn, người giàu vẫn được người ta tôn trọng hơn hẳn người nghèo, những người thượng lưu ở trên ta đều là những kẻ lắm của, những người dưới đáy xã hội đều khốn cùng túng quẫn. Như thế trong một xã hội tiêu thụ hàng hoá, kinh tế quyết định chúng ta, tiền quan trọng biết bao, tiền biến thành tự trọng, tiền là tên gọi của danh dự. Mỗi ngày chúng ta sống là một ngày ta kiếm tiền để mua thể diện. Vào lúc ta bỏ nhiều tiền ra để mua cái gọi là thể diện ấy, chúng ta có bao giờ nghĩ đến những người đang vật lộn giữa ranh giới đói no?

    Lương không cao bằng người khác thì cảm thấy xấu hổ, chưa có nổi một căn nhà thì thấy xấu hổ, đi làm mấy năm vẫn chưa lên chức sẽ thấy xấu hổ, thấy vợ người khác đẹp hơn vợ mình sẽ tiu nghỉu, thậm chí chỉ vì quần áo người ta là hàng hiệu, hơn mình, mà cũng thấy mất mặt. Chúng ta đang sống trong một thế giới hãnh tiến chuộng bề ngoài, còn lòng tự tôn bé nhỏ thì bị che giấu ở bên trong con người ta yếu đuối. Ngoái nhìn những năm tháng đã qua, mới nhận thấy thì ra ta sống không hề vui, bởi tiền kiếm được thì ít, không mua nổi những thứ thể diện mà mình muốn, hay là bởi những thứ thể diện đã mua bằng tiền, đã che đậy mất lòng tự trọng đầy nhân tính của chính ta?

    Tiền, sinh tồn, thể diện, tự tôn; trên cán cân đời người, bên nào nặng bên nào nhẹ?

    Chương Mười Lăm

    Cuối năm, tôi lười biếng uể oải chờ mùa xuân tới, nghĩ bụng có nên về nhà thăm bố mẹ. Vì cứ lần lữa mãi, tôi phát hiện ra chỉ còn mười ngày nữa là Tết, tôi nghĩ có lẽ công ty phải sát Tết mới cho nghĩ, thế này lại phải mua vé máy bay giá cao thôi, nhủ lòng nhất định năm sau phải mua sẵn vé trước Tết hẳn hai tháng, thì mới mua được vé giảm giá còn 40%.

    Vào lúc tôi đang miễn cưỡng trực nốt mấy ngày trước kỳ nghỉ Tết, đang nghĩ tìm cách nào xin nghỉ phép trước về quê sớm thăm bố mẹ, tôi bỗng mất hút bóng dáng đôi vợ chồng sát vách. Tôi cứ tưởng họ đã về quê ăn Tết.

    Nhưng vào một đêm, người vợ gõ cửa nhà tôi. Tôi mắt nhắm mắt mở hỏi: Có việc gì vậy? Cô vợ bẽn lẽn ngại ngần nói: Xin lỗi, em làm phiền chị lúc này, em muốn nhờ chị, nghe nói làm công nhân thì có thể lên mạng đặt vé giá rẻ, chị có thể giúp em không? Tôi đồng ý, cho cô vào nhà, tôi bật máy tính, bắt đầu giúp họ đặt vé tàu hỏa. Nhưng đáng tiếc là trên mạng lại đòi công nhân phải đặt vé tập thể theo từng đơn vị, mà nơi cô và chồng cô làm lại không cho đặt vé, họ không thể mua vé cá nhân trên mạng. Cô đọc quy định, buồn bã đi về. Tôi đang ngái ngủ cũng quên không nói đôi câu an ủi cô.

    Ngày hôm sau, tôi vẫn nhớ việc đó, nghĩ mình phải làm gì đó. Tôi đọc thấy trên báo nói có thể đặt vé qua điện thoại, bèn vội vã bấm số, chuẩn bị tặng họ món quà bất ngờ.

    Chưa đến lúc tan sở, tôi đã vội vàng về nhà, lúc tôi về cô vợ đang có mặt, tôi tò mò sao cô lại không đi làm, nhưng tôi chỉ kịp thông báo việc có thể đặt vé bằng điện thoại, rồi cũng không kịp hỏi. Anh chồng đi vắng, tôi vội vã nói cho cô vợ biết số điện thoại, còn rút máy di động của mình ra giục cô bấm số đặt vé.

    Cô vợ cười buồn, không đón lấy máy di động của tôi. Mắt cô ngập nước mắt, rồi nghẹn ngào nói với tôi: Thì em gọi điện đặt vé tàu đây, cho nên bị chủ đuổi việc rồi. Nói đoạn khóc nấc lên: Tháng này cũng không trả em nửa tháng lương, bảo là em vi phạm quy định, không phạt tiền em là may rồi.

    Thì ra cô vợ cũng nghe người ta nói có thể mua vé qua điện thoại, từ lúc sáng sớm đã đi ra bốt điện thoại công cộng gọi bằng thẻ nhưng tổng đài bận liên tục, vào lúc giờ nghỉ trưa, cô lén ra ngoài gọi điện thoại thì người ta toàn bảo đã bán hết rồi. Cả tuần liền không mua được vé, không còn cách nào khác cô đành lựa lúc trong tiệm không có khách, dùng điện thoại cửa hàng gọi đi đặt vé, lúc tám rưỡi sáng may quá nói được liên lạc với nhà ga, đang vui mừng thì nghe báo là hết vé rồi. Vé không mua được thì chớ, lại bị ông chủ nhìn thấy, mắng tại sao trong giờ làm việc lại gọi điện thoại việc riêng, đuổi việc cô luôn. Mặc cô cầu cứu van xin.

    Tôi vừa an ủi cô vợ rằng, dù sao cũng Tết đến nơi rồi, nghỉ cũng tốt, sau Tết kiếm việc mới, vừa bảo cô dùng điện thoại của tôi mà đặt vé, biết đâu mua được vé.

    Cô gái lắc đầu: Không được đâu, em gọi mười mấy hôm nay rồi mà có đặt được đâu. Kể cả chị gọi vào lúc mở cửa là tám rưỡi sáng, cũng chẳng còn vé đâu. Tuyến tàu đó khách đông lắm, làm sao mua nổi vé.

    Tôi không nghĩ rằng mua vé tàu tết lại khó khăn thế này. Tôi hỏi: Thế ra ga xếp hàng được không? Mua không được thì kiếm vé chợ đen.

    Cô gái trầm ngâm nói: Chồng em đã xếp hàng ngoài ga nửa tháng rồi, chả mua nổi. Ban ngày anh xếp hàng không nổi, ban đêm anh không ngủ ra ngoài đó xếp hàng sẵn, cũng vẫn không mua nổi. Bọn phe vé quen mặt chồng em quá, chủ động ra mời chào anh ấy, nói bọn họ có vé, đảm bảo vé thật, nhưng nó lấy hoa hồng quá đắt, chúng em không dám vung tay quá trán!

    Tôi nói: Hoa hồng bao nhiêu? Chắc chắn không thể đắt hơn vé! Cô vợ mím miệng cười miễn cưỡng: Chúng em về quê, ngồi ghế cứng, vé mới hai trăm thôi, nhưng hoa hồng phải ba trăm, chị bảo hai vé, tiền lẫn hoa hồng lót tay là một nghìn rồi, bằng cả tháng lương của chúng em. Hút máu chúng em sao? Một nghìn đồng, ở quê em là thu nhập tròn một năm rồi, làm sao chúng em dám!

    Nghe cô nói, tôi lặng im. Tôi bỗng cảm thấy tự ti, thấy mình sao hời hợt thế, vô tâm thế.

    Chỉ vì hai tấm vé xe lửa về quê, mất việc, hai người ngày đêm chầu chực xếp hàng, mang tiền ăn đi gọi điện đặt vé mà phí điện thoại còn đắt hơn cả gọi đường dài, nửa tháng nay, kết quả họ có được là: Hết vé!

    Thế bao nhiêu vé tàu đã đi đâu cả rồi? Vì sao ngày đêm xếp hàng vẫn hết vé, phe vé thì lại gọi, bảo đi đâu cũng có vé hết, chỉ cần chi thêm ba trăm?

    Rốt cuộc, vé đã vào tay ai? Sao không tới tay họ? Và số hoa hồng ngất trời kia là để nuôi ai?

    Tôi tức giận đùng đùng gọi ngay số điện thoại phục vụ của nhà ga, tôi vừa nói số tàu, đã bị thông báo: Trước Tết những chuyến đó đều kín chỗ, xin hãy đi chuyến khác.

    Tôi hơi thất vọng, định khuyên cô vợ mua vé tuyến khác rồi đổi xe, hoặc ngồi xe khách về. Cô vợ cười buồn: Chỗ quên chúng em chỉ có đúng tuyến tàu đó đi qua thôi, mà các tuyến tàu khác cũng khó mua vé lắm, xe khách thì đắt quá, giá gần bằng vé máy bay rồi, hay có khi chúng em đi bộ về quê. Cô đùa, như thể đang an ủi tôi.

    Nhìn đôi mày nhíu lại của cô, nghĩ tới anh chồng cô vẫn đang vạ vật ngoài ga ôm hy vọng giữa đám đông xếp hàng, chờ ông trời rủ lòng thương, cho họ hai tấm vé về quê, mà tôi thì lại do dự có nên về nhà thăm bố mẹ hay không, sợ về nhà thì mệt.

    Tôi bắt đầu thấy mình nhỏ bé, thậm chí nhỏ nhen. Họ có thể không về quê, nhưng vẫn kiên quyết về, vì bố mẹ tuổi cao hay về để gánh vác đỡ gia đình? Dù vì lẽ gì, để về quê mà phải trả giá đắt thế này, có đáng không? Có lẽ rất nhiều người cho là thường, nhưng trên cán cân tình người, họ đã nặng tình hơn tôi.

    Một tấm vé tàu về quê ăn tết, chỉ một tờ giấy mỏng manh, không biết tốn bao tâm sức, xếp bao nhiêu hàng mỗi ngày đêm, bỏ bao nhiêu thứ để đánh đổi! Trên tấm vé chứa bao máu và mồ hôi, viết bao nhiêu nước mắt?
    Chương Mười Sáu

    Vé máy bay của tôi đã đặt mua rồi, vé giá bán lẻ.

    Mỗi năm tới dịp Tết, hãng hàng không đều bắt đầu kiêu ngạo, có chết cũng không thèm giảm giá, thế nhưng vé luôn không kiếm ra, người Trung Quốc có lẽ quá yêu gia đình nên cuối năm dù có phải tiêu khoản lộ phí khổng lồ cũng hài lòng, coi như là một động tác giúp cho nền kinh tế phát triển.

    Ngành đường sắt, cũng bướng bỉnh nói thì bảo là sẽ mở thêm những tàu tốc hành, tàu thêm chuyến, nhưng làm thì lại xin lỗi khách: Vé đã hết! Đôi vợ chồng sống trong kho chứa đồ cạnh phòng tôi thay nhau xếp hàng để mua vé tàu về cũng không kiếm nổi tấm vé thông hành cho đường về quê mẹ. Họ ngày ngày đi ra quảng trường nhà ga đứng chầu chực, hy vọng một ngày nào may mắn có người nào đó trả lại vé, nhưng vận may đó hiếm hoi lắm, họ dường như cũng đã cảm thấy hết sức lực, trừ phi có một phép màu nào đó, họ chỉ còn biết nhẩm tính liệu có về được hay không.

    Trong lúc đó, tôi liên tục lên mạng tìm kiếm những thông tin về chuyến tàu này. Mỗi lần thấy có tin hành khách chuyển nhượng vé, tôi vội liên hệ ngay, nhưng hoá ra đều là lũ con buôn quảng cáo vé chợ đen, tiền hoa hồng còn đắt hơn tiền vé, mà xem tình hình căng thẳng thế này thì hẳn giá sẽ ngày càng đắt.

    Tôi muốn trả tiền chênh lệch vé chợ đen cho họ, họ chỉ cần bỏ ra tiền vé gốc thôi, nhưng họ có chết cũng không chịu, nói đây là nguyên tắc của chúng em, về quê hay không cũng chỉ mua đúng giá vé quy định thôi. Họ trịnh trọng nói với tôi: Chúng em là công dân Trung Quốc, vì sao ngồi tàu lại phải mua vé đắt? Chúng em đâu thấp kém hơn người khác! Lẽ nào chúng em không có quyền được hưởng giá vé đúng quy định? Nếu đi mua vé chợ đen, sau này chắc chỉ toàn vé giá đắt, không mua được vé gốc, thì những lợi nhuận chênh lệch kia chỉ nuôi béo lũ người xấu, chúng em càng nuôi họ, họ lại càng tham lam.

    Nghe hai vợ chồng nói, tôi trầm ngâm. Tôi bỗng dưng sợ hãi cái xã hội đang ngày càng bệnh hoạn này, tôi sợ bị nhiễm dần những vi khuẩn chết người từ xã hội!

    Tôi buồn bã bất lực, rất muốn giúp họ nhưng tôi lại chẳng giúp được họ điều gì cả, thậm chí chỉ một đôi vé tàu, tôi cũng không giúp được.

    Rốt cuộc tôi đành tìm lối thoát lo liệu. Tôi nhờ bạn, bạn tôi lại nhờ một người quen của một người bạn khác làm trong ga, tốn bao công sức để kiếm được một đôi vé ngồi ghế cứng. Nào mời ăn cơm, nào thù tạc, nào vô số cảm ơn cảm tạ, cuối cùng tôi cũng có được hai chiếc vé trong tay, với giá chỉ chênh lệch so với giá vé gốc 100 tệ một vé.

    Cơm no rượu say, người đó ợ lên cả rượu, vẫn cố nói tiếp, vé này mua là khó khăn lắm, người ta có mất thêm 300 tệ cũng chẳng mua nổi, bởi vì tôi nể bạn bè mới giúp đó nhé!

    Tôi chỉ biết dùng ánh mắt cảm kích nhìn anh ta, cảm tạ rối rít. Anh ta mãn nguyện cười, còn tôi cũng nhẹ nhõm nghĩ, có vé rồi, họ sẽ về quê được rồi.

    Vào lúc tôi đưa hai tấm vé ra trước mặt đôi vợ chồng nghèo, họ đờ ra, họ dùng một ánh mắt nghi ngờ và sùng kính đăm đăm nhìn tôi, rất lâu không nói nổi lời nào. Tôi mỉm cười, tôi cũng không nói câu nào.

    Cô vợ bỗng hỏi: Chị mua vé chợ đen ư? Tôi lắc đầu. Thế vé này từ đâu ra? Tôi cười. Tôi không nói thật, tôi cũng chẳng biết vì sao, trước mặt họ tôi thấy không nên nói ra những lời thật thà sáo rỗng. Tôi chỉ bảo, vé là một người bạn mua, họ định về quê, nhưng công ty có việc đột xuất, họ không về được nữa, đành phải nhượng lại. Kết quả là may sao tôi lại biết tin, tôi vội vàng mua tặng họ. Tôi sợ họ nói đến tiền nên vội bổ sung: vé bạn tôi không lấy thêm đồng nào đâu, họ mà đi ra ga trả lại vé còn bị mất thêm tiền phạt trả vé nữa ấy chứ, hai bạn đương cần, lại cũng là giúp họ đỡ vất vả, giúp họ đỡ mất tiền nữa.

    Hai vợ chồng vui mừng khôn xiết, vừa nhận vé tàu vừa nhìn ngắm nó, vuốt ve tấm vé, rồi rút tiền ra đưa tôi. Tôi nhất định không lấy. Họ vội vàng nghiêm nghị bảo, chị mà không lấy tiền thì chúng em không dám lấy vé. Tôi đành nhận tiền.

    Ngày họ lên đường, họ đi sớm lắm, tôi ra ga tiễn họ. Tôi lặng lẽ mua một ít đặc sản và trái cây của Quảng Châu, vào lúc họ soát vé vào sân ga, tôi mới nhét quà vào túi vải gai đựng hành lý của họ.

    Thấy họ lúc lỉu túi lớn túi nhỏ, bên trong chất chứa có lẽ cũng toàn những đồ ít giá trị, nhưng trên mặt họ tràn trề niềm vui sướng hạnh phúc và nụ cười, tôi cảm thấy giây phút đó thật đáng giá để sống và cảm nhận.

    Họ cứ chốc chốc lại ngoái ra sau nhìn tôi, vừa xách túi vừa giơ tay gắng vẫy tôi thật lực, ngoác miệng cười, mắt lấp lánh vui vẻ, trong lòng tôi có một nỗi cảm động không tên. Lại có nỗi gì như muốn khóc, tôi cũng mỉm cười vẫy lại họ.

    Bóng họ khuất chìm trong đám đông, tôi không bỏ đi, tôi đứng lại, tôi dường như nghe thấy tiếng còi tàu, đó chắc chắn là của đoàn tàu đưa họ về quê, trên chuyến đó chắc chắn họ có hai chỗ.

    Đường về rất mệt mỏi, rất xa, nhưng đường về quê nhà luôn ấm áp.

    Chương Mười Bảy


    Lần đầu tiên tôi thấy Tết thật nhạt nhẽo, lần đầu tiên tôi thấy đường về mệt mỏi thế. Suốt cả năm, tôi đã vui vẻ thế cơ mà. Khi tôi từ quê về lại Quảng Châu, tôi thấy đôi vợ chồng kia chưa lên.

    Tôi nghĩ, họ chắc lại không mua được vé tàu, lại chờ qua giai đoạn cao điểm mới lên. Tôi cứ lặng lẽ chờ, tôi ngắm cánh cửa kho chứa đồ cạnh phòng tôi, hy vọng, vào một ngày nào đó, sẽ thấy hình dáng quen thuộc.

    Họ lên rất muộn, một tuần sau Rằm tháng Giêng mới lò dò xuất hiện. Tôi mỉm cười chào họ, bưng bát chè tàu tôi mới mua sang cho họ ăn cùng.

    Cô vợ thảo luận với anh chồng: Cô muốn đẩy xe gỗ ba bánh đi bán trái cây hoặc quà vặt. Hỏi ý kiến tôi, tôi nói tốt lắm. Dù sao so với việc đi làm thuê cực khổ cho người ta thì buôn bán riêng cũng còn tự do hơn.

    Thế là hai vợ chồng họ bắt đầu mua một chiếc xe ba bánh gỗ cũ kỹ, mua một ít dứa, dưa hấu, tập luyện cách gọt dưa hấu và dứa cho nhuần nhuyễn rồi bắt đầu ra phố bán hàng, tằn tiện từng đồng. Ban ngày cô vợ đi một mình, tối đến cả hai vợ chồng đều đi bán, vì Quảng Châu rất lộn xộn, anh chồng không yên tâm, tối nào cũng cùng vợ bán hết hàng mới về. Ngày hôm sau anh lại đi làm từ sáng sớm.

    Thấy họ ân ái yêu thương, ra vào hàng ngày với nhau, tôi vừa ghen tị vừa vui mừng, tôi nghĩ, cho dù khổ sở, hai người cùng nhau gánh chịu, cũng coi như là ngọt ngào! Nếu tương lai có một ai đó nói với tôi rằng: Cho dù khổ sở tai ương, anh cũng ở bên cạnh em. Thì tôi sẽ khóc và sẽ đồng ý làm vợ của người ấy, cho dù tôi không biết tôi sẽ phải chờ người ấy xuất hiện bao lâu nữa.

    Có hôm đêm khuya lắm, họ chưa bán hết chỗ trái cây gọt sẵn, họ bèn mang về mời tôi ăn. Tôi cứ ăn một miếng lại đùa họ rằng, tôi đang ăn mất thêm một đồng của họ rồi.

    Thực ra tôi biết, chỗ chưa bán cũng không nhiều, họ có thể ăn, ngày thường họ cũng đâu dám ăn một miếng. Nhưng tôi biết họ sẵn lòng mời tôi, vì họ cho rằng trái cây ngon và bổ, họ sẵn sàng mời tôi cùng chia sẻ.

    Nhớ ngày xưa, khi đi học, ta thường được học những từ như cống hiến, vô tư, lương thiện. Nhưng không rõ từ khi nào, trong xã hội thay đổi này, từ điển của mỗi chúng ta đã mất đi những từ đẹp đẽ đó. Và tôi, khi đã lâu mới bắt gặp những cảm xúc này, tôi vui mừng khôn xiết, như đứa trẻ nhặt được bảo vật, tôi nghĩ tôi sẽ giữ gìn nâng niu, vào lúc nào tôi quên lãng, tôi sẽ lại lôi ra xem để nhắc nhớ chính mình.

    Hôm đó, tôi về nhà buổi chiều, tôi thấy cô vợ trong nhà, lạ quá sao cô không đi bán hàng. Tôi vừa cười hỏi đùa: Bà chủ, bà nghỉ làm sao? Cô vợ thấy tôi bèn cười buồn buồn, nói: Hôm nay em có đi bán nữa đâu, mất hết rồi!

    Mất hết? Bán rồi ư? Mất cắp? Tôi hỏi dồn dập. Cô trả lời: Tối qua, em bị các bác quản lý đô thị bắt được, họ đập nát xe em rồi.

    Đập nát xe rồi? Sao lại đập? Tôi đùng đùng nổi giận hỏi. Cô buồn bã lắc đầu, nói: Họ bảo ảnh hưởng mỹ quan đô thị, còn ảnh hưởng cả vệ sinh môi trường nữa! Họ có việc gì mà làm nữa đâu, suốt ngày chỉ đi đập các xe hàng rong mà thôi!

    Tôi ngạc nhiên đứng ngớ ra, đi bắt hàng rong? Bỗng dưng tôi thấy cồn lên một nỗi chua xót, cho dù có một trăm lý do để bắt họ, thì cũng có thể đập phá cướp bóc họ như vậy sao? Không thể giải thích cho họ sao? Dùng cái cách của thổ phỉ lâm tặc để hành xử sao?

    Cô vợ nghe tôi nói, cười bò ra, bảo: Em chỉ xót mấy chỗ dưa hấu với dứa thôi, ngon lành thế, gọt sẵn rồi mà còn bị vứt, chỗ chưa gọt thì bị đập nát vứt đầy đường, làm cho em cũng lẫn lộn cả, không biết là bảo bọn em bán hàng rong vứt rác bừa bãi, thì tại sao chính mấy ông này lại đập phá bừa bãi, tung toé khắp nơi?

    Nghe cô vợ nhận xét, tôi chẳng biết trả lời sao!

    Đúng, rốt cuộc ai là kẻ bẩn thỉu vứt rác tung toé? Là người bán dưa ư? Hay là người đập nát cả xe dưa?

    Ai mới là kẻ làm bẩn thỉu tung toé, là ai làm bẩn cả thế giới ta đang sống?

    Chương Mười Tám

    Một chiếc xe ba bánh bằng gỗ cũ kỹ đáng giá bằng cả tháng sinh hoạt phí, một đống dứa và dưa hấu trị giá bằng nửa tháng tiền ăn, bỗng chốc giữa ban ngày ban mặt bị một đám cũng được gọi là người, như bạn, đập nát bét, mặc cho bạn kêu gào khẩn cầu, mặc bạn nói hết nước hết cái, mặc bạn nước mắt ròng ròng!

    Những đòn vọt vô tình đập nát tia hy vọng kiếm sống, những lời nói lạnh lùng chà đạp lên lòng tự tôn của bạn, những lời gào thét ra lệnh doạ nạt đáp lại sự khẩn cầu và ánh mắt nhìn đờ đẫn của bạn, như thế, trong một xã hội người với người được bình đẳng, bạn bị người khác xéo lên!

    Tôi có thể hình dung sự tan nát cõi lòng của cô vợ khi ấy, cách tuyệt vọng, lòng tự trọng đáng thương. Nhưng cho dù tôi đi tìm cách hiểu, tôi cũng không thể hiểu được cảm giác đau muốn chết ấy. Có thể, đó là bi kịch của đời sống, một thứ ranh giới bạn cho dù bất chấp cũng không được quyền vượt qua, chỉ có quyền đi tìm hiểu, nhưng không được quyền cảm nhận.

    Tôi nghĩ đến những gì đã xảy ra, nhưng chỉ còn biết cười buồn. Ngay cả việc nói một câu an ủi cô vợ tôi cũng không làm được, tôi thấy sức mình có hạn, thấy như thể sau khi được người khác trao ân huệ mà tôi không thể đền đáp nổi, một nỗi khổ sở đầy mâu thuẫn.

    Tôi rất muốn lại bỏ tiền ra mua cho họ một cỗ xe, nhưng cô vợ bảo cô chẳng dám đi buôn bán trái cây nữa, không phải sợ quản lý đô thị, mà là không chịu được cảnh những trái quả ngon tươi bị dẫm nát đập tung toé.

    Tôi nghĩ ra mấy cách có thể kiếm tiền, cô vợ thì bảo đồng hương đã giúp em một việc phát tờ rơi miễn phí, em thử làm xem sao đã. Tôi nhìn gò má gầy guộc của cô mà thấy đau lòng.

    Tôi bỗng dưng phát cơn đau răng, nửa mặt sưng vù lên, đau tới mức không nuốt nổi gì, mũi cũng bị chảy máu cam. Tôi đành xin nghỉ ivệc, đi khám răng ở bệnh viện.

    Mấy ngày uống thuốc, tiêm thuốc không khỏi, bác sĩ bảo răng sưng dẫn tới mấy bệnh vặt, lại tiêm, lại uống thuốc, vẫn vô hiệu, răng vẫn sưng đau, tôi vẫn bực bội khó chịu.

    Sau cùng, bác sĩ cho tôi nhổ răng trồng răng mới, lại đau đớn vài ngày, cuối cùng cũng khỏi, tính ra một chiếc răng đau tốn của tôi hơn sáu nghìn tệ. Giờ tôi mới biết, hoá ra hai mươi tám cái răng trong miệng mình có khi là hai mươi tám cục vàng đấy, phải giữ gìn.

    Thế nhưng xem tin buổi tối, về mảng tin y học trị liệu, có người đau ốm tốn tới cả triệu đồng tiền thuốc thang, tôi chỉ đau răng và mất có sáu nghìn tệ, còn rẻ chán.

    Tôi liên tưởng, có thể những khoản chi phí y tế khổng lồ kia của người ta, tôi không trả nổi! Có thể khoản sáu nghìn tệ của cái răng đau tôi trả được nhưng người khác lại không trả nổi! Và còn bao người bần cùng hơn tôi, là có bấy nhiêu người xem thường bệnh tật!

    Giá như có một ngày nào đó y tế miễn phí, tôi nghĩ, trên báo sẽ không có bài nói cô bé này mắc bệnh máu trắng cần cứu giúp, cũng không có người kia vì không tiền chữa bệnh nên tự sát, càng không có việc chữa bệnh cho một người xong mà cả gia đình tập trung nhau lại lên đường đi ăn mày.

    Sinh bệnh đâu phải tội? Là tội của thân thể ư? Không tiền cũng là tội? Tội của người nhà ư? Tiền chữa bệnh ngày càng đắt là lỗi của ai, lỗi của bác sĩ ư?

    Có thể ai cũng có lỗi, có thể ai cũng không có lỗi!

    Chương Mười Chín

    Hôm đó, tôi ôm má nhịn cơn đau răng, nghĩ thầm chắc sáu nghìn tệ của mình công mất không mà vô ích rồi.

    Cô vợ từ sau khi bị đập xe hàng, chuyển sang làm nghề phát tờ rơi quảng cáo, thế nhưng nguồn sống ấy đâu phải ngày nào cũng có, cho nên bữa đực bữa cái đi làm hoặc ngồi nhà chơi. Hôm đó cô thấy tôi đang quỳ gối xuống ôm lấy cánh cổng bưng má đau, cô sợ hãi.

    Cô đập đập lên vai tôi, tôi ngẩng lên, cô mới thấy mặt tôi sưng vù. Cô xót xa hỏi: Sao vậy chị? Tôi lúng búng than: Xui quá, răng đau muốn chết.

    Cô vợ vội vã hỏi: Thế chị đi khám chưa? Tôi thốt lên qua kẽ răng đau: Khám rồi, mất sáu nghìn tệ rồi, răng vẫn đau, ruột lại xót nữa!

    Cô vợ bắt tôi há to ra cho cô xem, miệng lẩm bẩm: Sưng ghê thật, phải trị từ gốc. Chị cứ chờ em một tí. Nói đoạn cô chạy tuột vào phòng cô.

    Một lúc lâu sau, tôi thấy cô bưng một bát nước đen xịt sang bắt tôi uống, thấy thứ nước bẩn đó tôi nhíu mày. Cô cứ bắt tôi phải uống. Cứ thế, suốt mấy ngày, cô vợ đều bắt tôi uống thứ thuốc ấy. Kết quả là hết sưng, răng cũng không đau nữa. Tôi nghĩ chắc chắn là nhờ thứ thuốc này.

    Thì ra cô vợ sợ nơi đất khách ăn uống không quen thuỷ thổ lại bị nóng sốt, đã mang sẵn thuốc đông y từ quê lên, anh chồng thỉnh thoảng cũng hay bị đau răng nên mang kèm theo thuốc đặc trị. Thấy tôi đau quá, cô đã mang thuốc đó sắc cho tôi uống, không ngờ uống xong bệnh chuyển biến hẳn.

    Tôi nghĩ, thuốc cô đã cho tôi uống rồi, lỡ một mai chồng cô đau răng thì sao đây? Cô vợ cười: Không sao đâu ạ, anh ấy cứ cắn cắn vài cái là lại khỏi. Tôi đã biết thế nào là đau răng, cho nên tôi hối hận lắm vì đã uống mất thuốc của người khác.

    Tôi hỏi thuốc đắt không? Cô vợc cười: Không đáng gì đâu ạ, chỉ là cỏ cây thôi mà, quê em ở trên núi mọc đầy, cũng chẳng cần chế biến gì, mỗi thang thuốc chỉ vài đồng!

    Tôi đùa: Mấy đồng thôi ư? Thế thì sáu nghìn tệ của tôi chắc nuôi đủ? Cô vợ cười: Chúng em nhà nghèo, bệnh cũng không đi khám nổi, chỉ biết tìm những thầy lang, thuốc đông y sắc uống thôi! Sáu nghìn đồng để khám một cái răng sâu, ngay cả trưởng thôn em có cả đời cũng không được cái phúc ấy! Là thu nhập cả năm của bao nhiêu người đấy.

    Tôi nghe cô vợ nói, thấy lòng man mác. Sáu nghìn tệ, con số đó bắt đầu nặng nề trong tâm trí tôi.

    Cô vợ đột ngột hỏi một câu: Sinh con ở bệnh viện ở đây cần bao nhiêu tiền? Tôi trầm ngâm một lúc: Có lẽ phải vài vạn tệ! Cô vợ nhảy nhỏm lên: Vài vạn? Thế nếu chỉ đẻ thôi rồi đi ngay, không nằm viện thì sao? Tôi ngẫm nghĩ: Cũng phải hơn vạn tệ! Cô vợ ngồi thừ ra: Lúc sắp sinh đến nơi mới vào viện, cho bác sĩ đỡ đẻ hộ, đẻ xong em sẽ đi ngay, thế mà vẫn phải hơn vạn cơ ư? Em không dùng bất cứ thứ gì của họ, em chỉ mượn họ một lúc thôi, chỉ đỡ tay cho em là xong thôi mà.

    Tôi chưa hiểu ý cô nói, cũng không nghĩ lâu la, chỉ lo âu những bà vợ người làm thuê thu nhập cả tháng không đủ nghìn tệ kia mà vào thành phố, nếu lỡ có bầu, không kịp về quê sinh nở, thì họ lấy gì để bước qua cánh cổng của bệnh viện, sinh ra một đứa con khoẻ khoắn?

    Sinh tồn là quyền lợi của con người, nếu ngay cả quyền sinh tồn cũng bị tước bỏ, hoặc vì được sinh tồn phải bỏ ra một cái gì đắt như cắt da cắt thịt, cái sinh tồn đó còn xứng đáng với ý nghĩa ban đầu khi con người được trao tặng sự sinh tồn chăng?

    Một sinh linh, một cái răng, một câu nói, cho tôi biết: sống = gian khó!

    Chương Hai Mươi

    Đùi tôi ngày càng tròn, eo ngày càng phì ra, rồi mặt cũng tròn trịa, tôi thấy ngày càng béo ra, nên quyết định phải giảm béo!

    Giảm béo, đối với một người lười biếng vận động như tôi, là một việc khó khăn. Khắc phục được nó phải cần tới một điểm tựa, tôi định kiếm một người đốc thúc tôi, hoặc tìm một người cùng tôi tích cực giảm béo.

    Người đầu tiên tôi nghĩ tới là đôi vợ chồng cạnh nhà, cô ấy dù sao bây giờ cũng không bận bịu đi làm nữa. Tôi không trù trừ gì nói cho cô biết, cô không băn khoăn gì cả, đồng ý ngay.

    Từ đó, mỗi sáng mỗi tối cô đều chạy bộ cùng tôi, đi tập luyện cùng. Lần nào tôi cũng hài hước bảo cô: Tôi tàn nhẫn quá, đi tìm một người gầy da bọc xương như cô để cùng nhau giảm béo! Cô thường động viên tôi: Rèn luyện thân thể có ích cho sức khoẻ, gầy hay béo thì tập luyện cũng đều tốt.

    Tôi thường hơi áy náy mỗi khi thấy cô vợ đi tập luyện với tôi mà ngày càng gầy đi, nhưng mỗi khi thấy nụ cười sáng rạng rỡ của cô tôi lại thấy yên tâm. Tôi chỉ biết lấy cớ là đang giảm béo, mang tất cả đồ ăn ngon sang cho cô, bắt cô phải nhận lấy, mắt cô thường chan chứa sự cảm kích. Và cô lại dốc sức ra kèm tôi tập luyện như để trả ơn.

    Nhưng tôi nằm mơ cũng không ngờ rằng, hôm sau ngày Cá nói dối 1/4, cô đến chào tôi đi: Cô phải về quê! Tôi cứ tưởng cô đùa vì hôm qua ngày Cá nói dối cô chưa kịp đùa tôi, nào ngờ tôi đã nhầm, cô thực sự về quê! Vì cô đã có thai năm sáu tháng rồi!

    Vốn cô vợ định ở lại đây sinh con, nhưng sau đó nghe tôi nói sinh ở thành phố phải trên một vạn tệ, cô quyết định về quê sớm, ở quê chờ sinh. Cô sợ nếu chậm trễ, chờ đến lúc gần lâm bồn thì đi tàu xe về lỡ mất, nên cô phải đi ngay từ bây giờ.

    Tôi kinh hãi, không biết nên nói gì. Trong đầu tôi chỉ có hình ảnh, cô đang mang thai, tôi còn bắt cô phải chạy theo tôi để tập luyện giảm béo! Tôi căm ghét chính tôi, để một người phụ nữ bụng bầu năm sáu tháng chạy theo đằng sau, nhìn mà không phát hiện ra, là do tôi ích kỷ hay tôi chỉ nghĩ đến bản thân tôi? Ha


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group