Gậy Kim Cang Hét ( Quyển 1 ) - Hòa Thượng Tuyên Hóa

  • Lòng Trắc Ẩn

    September 3rd 2011, 2:22 pm
  • 371. Hỏi: Chú Lăng Nghiêm có thể khiến cho người chết, mà cũng có thể khiến cho người sống lại phải không?


    Đáp: Đó là chỉ cho người chưa chết hẳn, cho nên có thể làm cho họ sống lại được. Nhưng nếu người đã chết rồi, mà lại làm cho họ sống trở lại thì không dễ gì đâu.



    372. Hòa Thượng hỏi: Cứu cánh thì Chân Thật là gì? Quý vị nói thử đi?

    Phật tử: Tu đạo là chân!

    Hòa Thượng: Vậy tại sao các vị còn không tu? Nếu ở trên thế giới này mà muốn tìm cái chân thật, thì sẽ không tìm được đâu. Tu đạo là chân thật nhưng cũng không nhìn thấy được. Còn những gì mà quý vị thấy được, đó đều là sự tu trì trên hình thức thôi. Vì chân lý là không tiếng, không mùi, không hình, không sắc. Vì vậy, chúng ta phải ở trong cái giả để tìm cái thật, chớ đừng rời giả mà tìm kiếm cái thật.




    373. Hỏi: Đức Phật Thích Ca đã tu ba đại kiếp. Trải qua thời gian dài như thế Ngài mới thành Phật. Vậy, thời gian đó có phải là cố định không?


    Đáp: Chú có nghe một công án về Thiền sư Cao Phong Diệu không? Đó là vị ngồi thiền trên dốc núi Liên Hoa tại Tây Thiên Mục. Lúc Ngài ngủ gục và bị rơi xuống núi thì có Bồ Tát Vi Đà hứng đỡ
    đem Ngài lên. Đệ tử : Dạ, con đã nghe qua. Hòa Thượng: Đã nghe qua, vậy là tôi đã trả lời câu hỏi
    này cho chú rồi.




    374. Hỏi: Thưa Sư Phụ, một vạn tượng Phật trên vách tường chánh điện ở Vạn Phật Thánh Thành đều là do Sư Phụ làm ra cả, phải không?


    Đáp: Chuyện đã qua rồi, nhắc đến làm gì?




    375. Hỏi: Thế nào là trong cái giả mà tìm cái chân thật?


    Đáp: Thì giống như vàng hoặc là hột xoàn mà bị chôn trong đống phân vậy.

  • Lòng Trắc Ẩn

    September 3rd 2011, 3:02 pm
  • 376. Hỏi: Có tám vạn bốn ngàn pháp môn. Có phải các tôn giáo khác như Ấn Độ giáo, Thiên Chúa giáo, Cơ Đốc giáo đều được xem như là một pháp môn không?


    Đáp: Tất cả các pháp đều là Phật pháp, đều là bất khả đắc (không thể đạt được).




    377. Hỏi: Tại sao khi tụng kinh thì con nhớ rồi lại quên? Quên rồi lại nhớ.


    Đáp: Bởi vì con có “nghiệp chướng từ kiếp trước.”




    378. Hỏi: Ai là Lão Tổ Tông của tất cả các loài chúng sanh có khí huyết, như các loài động vật bay lội, bao gồm cả các loại hoa cỏ, cây cối?


    Đáp: Lão Tổ Tông của chúng là Phật tánh.




    379. Hỏi: “Lai minh, khứ bạch” là gì?


    Đáp: “Lai minh” (tới rõ) tức là biết chuyện của mình ở kiếp trước như thế nào. Thí dụ như ở đây có một số người biết được kiếp trước, họ là người xuất gia hay là người cư sĩ tại gia. “Khứ bạch” (đi tỏ) tức là biết được sau khi chết, mình sẽ làm gì? Có phải là vô bụng bò, nhập thai ngựa, hoặc là vãng sanh về thế giới Cực Lạc gì không nữa? Người mà đã liễu sanh thoát tử thì đều hiểu biết rõ ràng tất cả và họ không còn hồ đồ.




    380. Hỏi: Vua nước Iraq, Hussein là thần thánh gì vậy?


    Đáp: Hắn là quyến thuộc của Thiên ma.

  • Lòng Trắc Ẩn

    September 3rd 2011, 3:05 pm
  • 381. Hỏi: Thiện Tài đồng tử đi tham vấn 53 vị thầy. Vậy tại sao con không thể bái thêm vài vị Sư Phụ nữa?


    Đáp: Chính đích thân các vị Thầy thiện tri thức bảo Thiện Tài đi tham vấn các thầy khác, chớ không phải vì Thiện Tài tham mộ các Sư có đức hạnh khác rồi phản bội vị Bổn sư của mình mà lén đi quy y.




    382. Hỏi: Nếu như có một gia đình tan nát, chúng ta nên làm sao đây?


    Đáp: Thì làm lại từ đầu, tất cả đều là thử thách, để xem chúng ta sẽ làm sao. Nếu đối diện mà chúng ta không biết, tức phải tập luyện lại từ đầu.




    383. Hỏi: Đồng bóng, bói quẻ... là một phần của Phật pháp phải không?


    Đáp: Tất cả pháp đều là Phật pháp đều không thể đắc được, cũng có thể nói như: Tất cả pháp đều không phải là Phật pháp. Tóm lại, học Phật thì phải buông bỏ các chấp trước, quét tất cả pháp, rời tất cả tướng.



    384. Hỏi: Ăn chay rốt cuộc là có lợi ích gì? Có phải ăn chay thì giống như là tự gạt gẫm mình, là mình bị mắc lừa chăng?


    Đáp: Nếu quý vị ăn chay mà cảm thấy là mình bị mắc lừa thì chỉ là bị dối gạt khi còn sống, nhưng sau khi chết thì sẽ không bị gạt gẫm. Nếu quý vị không ăn chay, thì lúc sống không bị lừa gạt, nhưng lúc chết sẽ bị lừa gạt. Quý vị cứ lôi sổ nợ đó ra mà tính đi. Quý vị thiếu tiền thì phải trả
    tiền, thiếu nợ cái gì thì phải hoàn trả lại cái đó.




    385. Hỏi: Con bị bệnh đau nhức khắp cả thân, vậy con phải làm sao đây?


    Đáp: Thân này là giả. Người tu hành không cầu không bịnh, vì nếu không bịnh thì sẽ sanh lòng tham dục.

  • Lòng Trắc Ẩn

    September 3rd 2011, 3:07 pm
  • 386. Hỏi: Xin Sư Phụ từ bi khai thị cho chúng con?


    Đáp: Niệm Phật nhiều thêm.




    387. Hỏi: Thưa Sư Phụ, giả sử như nhân quả thì không sai một tơ hào, nhưng tại sao lại nói không có pháp nhất định? Vậy là có ý nghĩa gì?


    Đáp: “Không có định pháp” là đâu phải nói quý vị không cần phải tu đạo, rồi có thể tùy tiện giết người, phóng hỏa, cướp giựt. Không có pháp nhất định tức là không làm các điều ác, mà nên làm những điều thiện. Bởi làm mà không làm, không làm mà là làm. Quý vị đừng nên chấp trước.




    388. Hỏi: Có phải ngồi bán già là biểu thị cho tòa tháp bạc, và ngồi kiết già là biểu thị cho tòa
    tháp vàng?


    Đáp: Không tréo chân lên được thì không có tòa tháp gì hết.




    389. Hỏi: Điều mà đệ tử hối tiếc nhất là không có đủ thời gian để ngồi thiền.


    Đáp: Dù trong công việc bận rộn, con cũng nên nhín ra chút thời gian và dù trong lúc hỗn loạn con cũng không được lãng phí thời giờ. Tu hành cũng không phải là nhắm mắt ngồi yên mới tính là tu, mà con có thể dù ở nơi nào, lúc nào cũng đều là hợp cơ thiền cả.



    390. Hỏi: Tại sao người xuất gia lúc nào cũng nên đắp y cà sa?


    Đáp: Hiện nay có một số người xuất gia chỉ mặc áo tràng, vì họ nghĩ rằng mặc như vậy thì đại biểu mình là người xuất gia. Thật ra, áo tràng là loại y phục cổ xưa vào đời Đường, người tại gia cũng mặc áo giống vậy. Sau, loại y phục này được truyền tới Nhật Bản, tới nay người Nhật vẫn còn mặc kiểu áo này. Do vậy, áo này tuyệt đối không phải là ký hiệu của người xuất gia. Duy chỉ có cà sa mới là trang phục chính của người xuất gia, đó mới thể hiện được tướng Tỳ Kheo.

  • Lòng Trắc Ẩn

    September 3rd 2011, 3:08 pm
  • 391. Hỏi: Con đường tu đạo thì gian nan quá, vậy con có đủ sức kiên trì để đến nơi mà không bị thoái tâm đạo không?


    Đáp: Chỉ cần con tinh tấn dũng mãnh, tự lực, tự cường không ngừng nghỉ thì cuối cùng rồi cũng sẽ đạt tới mục đích.




    392. Hỏi: Bệnh lớn nhất trong Phật giáo là gì?


    Đáp: Bệnh lớn nhất trong Phật giáo là tâm tham, tâm phan duyên và tâm ích kỷ.




    393. Hỏi: Lúc Hòa Thượng ở Hồng Kông, Hòa Thượng đã ngăn được sự xâm nhập của tất cả những trận cuồng phong bão tố. Vậy hiện nay Ngài vẫn có thể vì dân Hồng Kông mà ngăn chặn các cơn giông bão nữa không?


    Đáp: Con nên thỉnh cầu cho toàn dân Hồng Kông đều sẽ không chết.




    394. Hỏi: Tại sao lúc bình thường chúng ta phải niệm Phật?


    Đáp: Bình thường niệm Phật là chuẩn bị cho lúc lâm chung. Nếu quý vị trong lúc bình thường không có thói quen niệm Phật, đợi đến lúc lâm chung sẽ không nghĩ nhớ tới niệm Phật, hoặc cũng không biết là mình phải nên niệm Phật.




    395. Hỏi: Vì sao người xuất gia vẫn còn ham thích danh tiếng?


    Đáp: Vì thân họ xuất gia, nhưng tâm họ vẫn chưa xuất gia.



  • Lòng Trắc Ẩn

    September 3rd 2011, 3:10 pm
  • 396. Hỏi: Đệ tử biết Sư Phụ không thích nghe người ta nói tiếng cám ơn. Nhưng đệ tử rất cảm kích Sư Phụ, vì Ngài đã nhiều lần cứu giúp cho tánh mạng của con.


    Đáp: Thì nên phóng mở tâm lượng của mình cho rộng ra, chớ đừng có tâm địa hẹp hòi, nhỏ nhoi. Hãy mau hồi quang phản chiếu để phục hồi lại cái bản lai thanh tịnh của mình.




    397. Hỏi: Phải chăng, thật có chân lý hay đạo lý tuyệt đối vĩnh hằng bất biến tồn tại trong vũ trụ? Nếu có thì xin hỏi đó là đạo lý gì? Cầu xin Hòa Thượng từ bi khai thị cho con.


    Đáp: Chú nay mà biết hỏi được như vậy, thì tức là chân lý đó đó.




    398. Hỏi: Đài Loan của chúng con rồi sẽ ra sao?


    Đáp: Nếu người Đài Loan đều ăn chay niệm Phật, không sát sanh thì Đài Loan sẽ được hưng thịnh. Còn nếu người dân Đài Loan mà sát sanh nhiều thêm, hoặc cứ tạo các ác nghiệp thì Đài Loan sẽ bị suy hoại. Nếu mọi người đều không làm các việc ác và vâng làm các việc thiện thì Đài Loan sẽ được tốt lành. Nếu quý vị làm nhiều điều ác, và không chịu làm những việc thiện thì bất cứ lúc nào Đài loan cũng sẽ gặp hiểm nguy.




    399.Hỏi: Tật bệnh của chúng ta do từ đâu mà sanh?


    Đáp: Là do từ ba độc tham, sân, si mà sanh ra.




    400. Hỏi: Vì sao Phật giáo Đài Loan đều dùng tiền để so sánh cảnh giới cao thấp?


    Đáp: Là đạo Phật chân thật thì không cần tiền.

  • Lòng Trắc Ẩn

    September 3rd 2011, 3:13 pm
  • 401. Hỏi: Tâm Bồ-đề kiên cố là gì?


    Đáp: Là phát nguyện tu đạo, bất luận gặp chướng ngại gì cũng nhất định lo tu đạo. Dù có khó khăn, gian nan gì cũng nhất quyết tu hành, tuyệt đối không thay đổi lời phát nguyện thuở ban đầu. Khi thấy có gì khác lạ cũng không đổi ý, hoặc thay đổi tư tưởng. Bất luận là gặp nghịch cảnh, hay thuận cảnh cũng đều nhất quyết là phải tùy duyên nhưng bất biến, bất biến nhưng tùy duyên và giữ vững tâm Bồ-đề của mình.




    402. Hỏi: Trải qua nhiều ngày ngồi thiền, chân con càng ngày càng đau nhức, nhất là đầu gối trái. Cơn đau đó từ từ cuộn tròn như trái banh, rồi ngưng đọng nơi đầu gối của con. Hôm qua đang lúc đau dữ dội, nó bỗng nổ bùng và biến thành một luồng khí thanh tịnh, ấm áp màu vàng, rồi chuyển từ đầu gối dọc theo xương sống lên đến phần trên của thân con. Luồng khí ấm này khiến con cảm thấy tự tại, thích thú mà không bị hôn trầm. Sau đó con thấy tòa ngồi hình tròn, có hoa sen trắng. Phần vành hoa thì lờ mờ không thấy rõ, nhưng chính giữa thì hiển hiện nhụy hoa tím, tựa hồ như úp ngược cái tách rộng vành. Hốt nhiên lại hiện ra ngọn núi bảo chiếu sáng rực, mà từ trước đến nay con chưa từng thấy, lại giống như các dãy thành trì ở Âu châu, lại cũng giống như có các vị Bồ Tát ngồi trên tòa hoa sen và từ phía sau có con rắn đầu giẹp đang cuộn mình lên phía trên đỉnh núi. Có khi thấy như cảnh điện ảnh chiếu sáng lấp lánh thoáng thấu qua, nên con không nhớ rõ được. Con chỉ nhớ là hình như con một mình đi bộ trên bờ biển, nơi mà chưa từng có vết chân người đi qua. Cảnh trí yên tĩnh tuyệt đẹp, khiến cho tinh thần con người sảng khoái, và chỉ có tiếng chim hải âu là thường phá tan đi sự trầm tĩnh, thanh tịch mà thôi. Xin hỏi làm sao để con biết hiện tượng khác biệt giữa cảnh thật và sự tác dụng của tâm thức?


    Đáp: Còn có các vọng tưởng tham muốn thấy Phật, thấy hoa thì đó là giả. Nghĩ tưởng thấy gì thì con sẽ thấy cái đó, nhưng cũng là giả. Chủ yếu là ở một niệm trước chưa sanh mà thấy cảnh giới thì đó mới là thật, mới là có ý nghĩa, nhưng có lúc nó lại vẫn là thuộc về huyễn hóa. Tham thiền thì tốt nhất là không nên có cảnh giới, cái gì cũng không có, vì chỉ là không. Cũng đừng kinh sợ, hay vui thích. Vì sợ hoặc thích đều là có thể bị ma nhập, như trong kinh Lăng Nghiêm có nói về 50 loại
    ngũ ấm ma.




    403. Hỏi: Trên thế giới này có nhiều cặp vợ chồng không tôn trọng lẫn nhau, nếu vậy thì con cái của họ đều không thành tài hết sao


    Đáp: Yes - Đúng vậy, đó là nguyên nhân tại sao bây giờ tụi nhỏ có nhiều vấn đề như giết người, phóng hỏa như thế. Con nít mà cũng không theo quy củ nề nếp, bởi vì chúng đã bị truyền hình, computer điều khiển, lôi cuốn mất rồi.




    404. Hỏi: Niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, chú Đại Bi và Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện trong kinh Hoa
    Nghiêm thì có thể sanh về thế giới Cực Lạc không?


    Đáp: Được chớ! Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện là qui hướng trở về Cực Lạc đó.




    405. Hỏi: Tại sao đệ tử của con lại bị run rẩy trong lúc lạy Phật?


    Đáp: Đó là vì nghiệp chướng đang theo nó. Nghiệp chướng bảo nó đi tới chỗ đọa lạc đấy.


  • Lòng Trắc Ẩn

    September 3rd 2011, 3:15 pm
  • 406. Hỏi: Người xuất gia với người tu đạo có chỗ nào là không giống nhau?


    Đáp: Con nói họ còn có chỗ nào giống nhau nữa? Con hãy tự hỏi ngược lại mình là: họ còn có cái gì giống nhau? Giống nhau ở chỗ nào? Không giống nhau ở chỗ nào? Như thế có phải là con sẽ hiểu rõ ràng hơn không?




    407. Hỏi: Gián, ruồi muỗi là một loài trong lục đạo, vì chúng thuộc loại độc hại, vậy chúng con có thể tiêu diệt chúng không?

    Đáp: Tôi không phải là gián mà là một con muỗi nhỏ bé tí. Nếu quý vị muốn tiêu diệt loại muỗi nhỏ bé thì nên tiêu diệt tôi trước đã.




    408. Hỏi: Làm sao mới thường giữ tâm được “như như bất động?”


    Đáp: “Như giả” là như pháp, y chiếu theo quy củ mà làm. Không như pháp tức là làm mà không y chiếu theo quy tắc. Như như tức là bất động, bất động thì mới có thể như như được. Nếu không thể bất động thì miễn bàn đến như như.




    409. Hỏi: Tại sao bây giờ lại có nhiều nạn động đất như thế?


    Đáp: Vì sự nóng giận của con người quá lớn đi.




    410. Hỏi: Đức Phật nói, Phật pháp không rời các pháp thế gian. Xin hỏi nên làm thế nào để đưa Phật pháp hòa nhập vào đời sống hằng ngày của chúng con một cách viên mãn?


    Đáp: Không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi, không nối dối.


  • Lòng Trắc Ẩn

    September 3rd 2011, 3:19 pm
  • 411. Hỏi: Con đã niệm Phật rất nhiều, nhưng tại sao vẫn chưa tiêu trừ hết nghiệp chướng và khai ngộ?


    Đáp: Con làm sao biết được là con có bao nhiêu nghiệp chướng? Từ vô thủy kiếp đến nay, bao nhiêu nghiệp chướng từ thiên vạn ức kiếp về trước, thì làm sao trong một sớm một chiều mà có thể tiêu trừ hết cho được.




    412. Hỏi: Xin hỏi làm sao mới có thể siêu độ được tổ tiên và cô hồn?


    Đáp: Cần có bậc chân tu đại đức cao tăng, có định lực tu trì mới có thể hóa giải sự đau khổ của các linh hồn được siêu thăng thiên giới. Như vào thời Minh Triều thiền sư Long Khố siêu độ cho mẹ của vua Vạn Lịch. Trong ngày đăng đàn làm lễ cầu siêu, Ngài bảo rằng: “Ta vốn không đến, nhưng bà cứ thích ta đến, một niệm không sanh, thoát khỏi tam giới.” Chỉ với bốn câu pháp ngữ đó, mà mẹ của vua liền được siêu thăng lên trời.




    413. Hỏi: Thưa Sư Phụ, tâm Sư Phụ lúc nào cũng hoài niệm về Trung Hoa, vậy cớ sao Sư Phụ lại lập đạo tràng ở nước Mỹ?


    Đáp: Tôi vốn là người nhận lấy những việc mà người khác vứt bỏ. Những nơi mà người khác không tới thì tôi tới. Đài Loan ở đây đã có nhiều đạo tràng rồi.



    414. Hỏi: Xin thỉnh Hòa Thượng khai thị cho chúng con biết về các qui tắc khác biệt giữa thiền đường của chúng ta ở đây và thiền đường ở Trung Hoa.


    Đáp: Đương nhiên là có rất nhiều chỗ không giống, nhưng ở đây chúng ta nên độc lập và tự tạo cho mình một phong cách riêng. Tức là giữ lấy điều tốt, mà xả bỏ điều xấu, và cải cách, sửa đổi lại tất cả các tệ nạn trong Phật giáo. Thiền thất ở Trung Hoa thì mỗi ngày phải dùng ba bữa: sáng cháo, trưa cơm, chiều bánh bao. Mỗi thiền sinh đều bị ban giám thiền luân phiên nhau đánh: đúng cũng đánh, không đúng cũng đánh. Đánh càng mạnh, càng đau chừng nào thì càng biểu thị thêm về sự nghiêm minh của quy củ thiền đường chừng ấy. Thí dụ như Cao Mân Tự thì cũng nổi tiếng về việc đánh đập. Có khi họ đánh đến gảy bảy cây thước hương bảng luôn. Năm nay quý vị chưa bị đánh như năm rồi. Chắc có lẽ vì năm nay lòng từ bi quảng đại của tôi mà nghiệp chướng của quý vị cũng bớt đi chút ít. Đó là các sự khác biệt đấy.

    Các vị Hòa Thượng ở đó thì thật là đáng sợ. Họ không khi nào có vẻ mặt tươi cười, vì cả ngày cứ nghiêm nghị như Quan Đế Công vậy. Một khi mà quý vị vào thiền đường ngồi, thì sẽ như là chuột nhìn thấy mèo, sợ đến nổi không dám ngẩng đầu lên. Ở đây chúng tôi không có đánh người bừa bãi. Mỗi ngày tôi đều vui vẻ giảng dạy cho quý vị, giống như là dỗ ngọt trẻ nít vậy. Tại sao quý vị lại phải chịu lấy nỗi khổ này? Tại vì phước báo của quốc gia này quá lớn, nếu không cho quý vị nếm chút vị khổ thì quý vị sẽ không thể phát đại tâm để mà tu đạo.

    Các vị đã xả bỏ mặc đẹp, không ăn ngon, không ở trong căn nhà sang trọng, buông bỏ hết các sự hưởng thụ xa hoa để tới đây để chịu khổ. Thế mới có thể phá trừ được các tập khí cống cao ngã mạn của quý vị, quý vị mới có thể thật lòng mà tu hành liễu sanh thoát tử được. Lại còn một chuyện nữa là ở thiền đường Trung Hoa, thiền sinh tuyệt không được duỗi chân ra. Nếu ai duỗi chân ra thì nhất định sẽ bị đánh không chút nương tay. Dù là sư trưởng mà phạm quy củ thì cũng bị đánh như thường. Thí dụ như vị sư trưởng có lỡ ngủ gục, vị giám thiền bèn đi tới và qùy gối phải xuống đất rồi mới đánh. Nhưng khi đánh đại chúng thì sẽ không giống vậy. Còn uống trà thì cũng có cách cầm tách nhất định. Bởi vì tách không có quai, cho nên phải để ngón tay cái trên miệng tách, bốn ngón kia nâng đáy tách, rồi đưa thẳng tay ra cho vị trực nhật châm trà vào. Uống xong thì để tách trước mặt cho vị trực nhật thâu dẹp mà không gây tiếng động nào. Ở đây chúng ta uống trà nhân sâm và quy củ trong thiền đường cũng có khác một chút. Nay chúng ta sẽ từ từ nghiên cứu để sửa đổi lại cho thích hợp với phong tục ở đây, nhưng chúng ta cũng không nhất định là phải bắt chước theo kiểu Trung Hoa.

    Hành giả tham thiền ở Trung Hoa tuyệt đối không được ra khỏi thiền đường để uống trà, hoặc ngồi, hoặc đứng để nói chuyện. Ăn cơm xong là họ trở về thiền đường để hành thiền ngay. Họ không được lãng phí một giây phút nào, họ cũng không làm chuyện gì khác.

    Ở đây khi dùng cơm xong thì các vị còn lên lầu súc miệng, rồi duỗi lưng, co giản chân cẳng. Trong tương lai chúng ta sẽ cải cách lại các nhược điểm nhỏ này cho phù hợp với nề nếp, qui tắc.


  • Lòng Trắc Ẩn

    September 3rd 2011, 3:20 pm
  • Sơ Lược về Hòa Thượng Tuyên Hóa

    宣化上人簡傳



    Hòa Thượng Tuyên Hóa họ Bạch, tên thật là An Từ, tự Độ Luân. Ngài quê ở huyện Song Thành, tỉnh Tùng Giang thuộc Đông Bắc, Trung Hoa, tức là Mãn Châu. Phụ thân Ngài tên Phú Hải, chuyên làm nghề nông. Mẹ họ Hồ, sinh được tất cả tám người con, năm trai ba gái và Ngài là út. Hồ thái phu nhân thọ chay trường, niệm Phật chẳng hề gián đoạn. Một đêm nọ phu nhân nằm mộng thấy Đức Phật A Di Đà hiện thân phóng đại quang minh chiếu triệt thế giới, chấn động thiên địa. Giật mình tỉnh giấc, phu nhân ngửi thấy mùi hương kỳ diệu khắp phòng, rồi sau đó hạ sanh ra Ngài. Vừa ra đời, Ngài liên thanh khóc suốt ba ngày đêm không dứt. Chính là vì đau xót cho nỗi khổ của thế giới Ta Bà nầy vậy.


    Ngài cư ngụ tại một thôn quê nhỏ bé, thưa thớt nhà cửa. Thế nên, đến năm mười một tuổi Ngài chưa hề thấy qua người chết. Một hôm, Ngài thấy một em bé, miệng ngậm, mắt nhắm, nằm bó trong đám rơm bên lề. Ngài gọi mà đứa bé chẳng đáp, rờ thì chẳng có hơi thở. Ngài lấy làm khó hiểu vô cùng nên hỏi nhóm bạn. Có kẻ hiểu biết liền nói: “Đứa bé đã chết rồi!” Song Ngài vô cùng ngạc nhiên, không hiểu thế nào là chết. Về nhà, Ngài liền hỏi mẹ, bà dạy: “Phàm là người, ai cũng phải chết. Có kẻ chết già, có kẻ chết vì bệnh, cũng có kẻ chết vì tai nạn. Bất luận là giàu sang hay nghèo khó, bất luận là sĩ, nông, công, thương, hay quan lại, ai ai rốt cuộc rồi cũng phải chết.” Ngài lại hỏi: “Nếu thật như vậy, có cách gì thoát được chết không?” Bấy giờ trong nhà có vị khách là người tu hành.

    Vị này đỡ lời đáp rằng: “Chỉ có cách tu Đạo, minh ngộ tự tâm, triệt kiến bổn tánh thì mới liễu đoạn sanh tử, siêu thoát luân hồi, thành Chánh Giác, chứng Vô Sanh.”

    Tuy lúc đó Ngài còn nhỏ tuổi, song đối với lời vị khách nói, Ngài tỉnh ngộ sâu xa, do đó Ngài quyết chí xuất gia tu Đạo.

    Khi Ngài bàn chuyện xuất gia với mẹ, bà dạy: “Xuất gia là chuyện rất tốt, nhưng cũng không phải là chuyện dễ làm. Cần có thiện căn, có đại nguyện lực, và cần phải phát đại Bồ Đề tâm thì mới có thể thành tựu Vô Thượng Đạo. Nay con đã phát tâm, ta hết sức đồng ý, cũng thật là phù hợp với giấc mộng xưa kia vậy. Nhưng nay ta đã già, ngày tháng chẳng còn bao lâu, các anh chị con đều đã tự lập. Con nên ở lại để phụng dưỡng cha mẹ; khi ta mất rồi, con xuất gia tu hành, lúc đó cũng chẳng muộn.” Ngài vâng lời cha mẹ, rồi sau đó hằng ngày thường theo mẹ lạy Phật. Lạy Phật xong, Ngài lạy cha mẹ. Ngày qua ngày, đông tàn xuân đến, Ngài cung kính phụng dưỡng song thân như đối với Phật vậy. Chẳng bao lâu tiếng đồn về sự hiếu thảo của Ngài vang khắp bốn phương. Khi đó mọi người đều gọi Ngài là Bạch Hiếu Tử (người con chí hiếu họ Bạch).

    Năm Ngài 19 tuổi thì mẹ Ngài qua đời; bấy giờ Ngài từ giã họ hàng lên chùa bái Hòa Thượng Thường Trí làm Thầy và quy y, chính thức xuất gia, thọ giới. Sau đó, Ngài về lại nơi mộ phần thân mẫu để thủ hiếu trong ba năm. Suốt thời gian ấy, Ngài sống trong một túp lều tranh nhỏ, ngày ngày tọa Thiền, đọc tụng kinh điển Đại Thừa và niệm Phật A Di Đà. Rất nhiều lần Ngài ngồi Thiền rồi nhập Định, liên tiếp trong nhiều tuần lễ chẳng rời thiền sàng.

    Một đêm nọ, dân trong thôn gần đó hốt hoảng thấy túp lều tranh của Ngài hừng hực lửa đỏ. Ánh lửa hồng phừng thẳng lên giữa không trung và túp lều tranh thì sáng rực như ban ngày. Nhiều người chạy đến mộ, hô hoán: “Nhà Hiếu Tử bị cháy rồi!” Cả trăm người trong làng hè nhau xách gáo,
    đem xô tới để chữa cháy. Song, khi tới nơi họ chỉ thấy túp lều tranh bình lặng, lửa chẳng cháy và Ngài thì vẫn an nhiên, tĩnh mặc trong Thiền Định!

    Có lần Ngài đang tọa Thiền thì chợt có vị khách đến viếng. Vị khách ấy, ngạc nhiên thay, chính là Lục Tổ Huệ Năng! Đức Tổ Sư dạy Ngài rằng trong tương lai Ngài sẽ tới Mỹ quốc để độ sinh, rằng ở Tây phương Ngài sẽ gặp nhiều kẻ hữu duyên có thể hoằng dương Phật Pháp và Ngài sẽ độ vô lượng vô biên chúng sanh. Mãi đến lúc Đức Tổ Sư từ biệt quay đi rồi, Ngài mới choàng tỉnh, nhớ lại rằng Ngài Huệ Năng vốn là người đời Đường khoảng 1.200 năm về trước.

    Sau Đệ Nhị Thế Chiến, Ngài vân du khắp nơi. Cuối cùng, trải qua hơn ba ngàn dặm, Ngài tới chùa Nam Hoa, bái kiến vị Đại Thiện Tri Thức của thời bấy giờ là Lão Hòa Thượng Hư Vân. Lão Hòa Thượng lúc ấy đã 109 tuổi. Vừa nhìn thấy Ngài, Lão Hòa Thượng liền nhận ra ngay sự chứng ngộ của Ngài. Khi đó, Lão Hòa Thượng nói: “Như thị, như thị!” và Ngài cũng đáp lại: “Như thị, như thị!” Bấy giờ, Lão Hòa Thượng Hư Vân ấn chứng sở đắc của Ngài và Ngài chính thức trở thành vị Tổ thứ chín của dòng pháp Quy Ngưỡng.

    Sau đó, Lão Hòa Thượng dạy Ngài ở lại chùa đảm nhận chức Viện Trưởng Viện Giới Luật của Chùa Nam Hoa.

    Năm 1950, Ngài từ giã chùa, lên đường sang Hương Cảng. Ở đây, Ngài sống tại một sơn động biệt lập, chẳng lai vãng gì đến bụi trần, tục lụy. Chẳng bao lâu, có vô số Tăng-lữ Sơ Lược về Hòa Thượng Tuyên Hóa từ Trung Hoa, Đại Lục qua Hương Cảng tỵ nạn và họ cần sự giúp đỡ của Ngài. Cuối cùng, ứng với nhân duyên, Ngài rời sơn động, lập ra giảng đường và hai ngôi chùa, cùng trợ giúp xây dựng nhiều đạo tràng khác.

    Trong suốt mười hai năm ở Hương Cảng, Ngài là tấm gương sáng, tinh tấn tu hành khổ hạnh, quên mình vì Phật Pháp. Ngài đã ảnh hưởng vô số thiện nam tín nữ, khiến họ phát tâm Bồ Đề, quy y Tam Bảo, ủng hộ Phật Pháp.

    Năm 1962, Ngài đến San Francisco, Mỹ Quốc. Tại đây, nơi một nhà kho nhỏ, Ngài kiên trì tu hành trong im lặng, chờ đợi cho cơ duyên hoằng dương Đạo Pháp chín muồi. Lúc ấy, Ngài tự gọi mình là “Mộ Trung Tăng” (nhà Sư trong phần mộ), hay là Hoạt Tử Nhân (người đã chết nhưng còn sống). Những Phật tử hiểu biết sự tu hành chân chính của Ngài đều rất cảm động và cung kính ủng hộ, cúng dường Ngài.

    Năm 1968, Ngài biết cơ duyên đã đến, Ngài nói: “Một đóa hoa sẽ nở ra năm cánh.” Mùa hè năm đó, Ngài chủ trì Pháp Hội giảng Kinh Lăng Nghiêm trong 96 ngày. Khi Pháp Hội kết thúc, quả nhiên có năm người Mỹ đầu tiên xin xuất gia với Ngài.

    Từ đó, Ngài tiếp tục chủ trì nhiều Pháp Hội cùng giảng giải các bộ kinh như: Tâm Kinh, Kinh Địa Tạng, Kinh Pháp Hoa, Kinh Pháp Bảo Đàn v..v... Năm 1971, Ngài giảng bộ kinh tối cao của Đại Thừa, đó là Kinh Hoa Nghiêm.

    Song song với việc giảng Kinh, thuyết Pháp, Ngài còn làm vô số công đức độ sinh khác. Năm 1976, Ngài thành lập Vạn Phật Thánh Thành là nền tảng căn cứ địa để hoằng dương Phật Pháp ở Mỹ Quốc. Tại Vạn Phật Thánh Thành, Ngài xây dựng chế độ Tùng-lâm, đào tạo Tăng, Ni, học chúng, tạo nhân duyên thù thắng cho sự chân chính tu hành.



    Kệ Hồi Hướng

    Nguyện đem công đức này, Trang nghiêm cõi Tịnh Độ
    Trên báo bốn trọng ân, Dưới cứu ba đường khổ
    Nếu có ai thấy nghe, Đều phát Bồ Đề tâm
    Đến khi mạng này hết, Đồng sanh Cực Lạc quốc.


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group