Chú Đại Bi

  • katkatt

    November 6th 2011, 10:26 am

  • PHẦN GIẢNG
    (CÚ GIẢI)



    38. A ra sam Phật ra xá lợi

    A ra sam dịch là “Chuyển luân pháp vương”, tức là vị Đại Pháp Vương thường chuyển cỗ xe đại pháp, thường tuyên thuyết diệu nghĩa Đại thừa. Giáo nghĩa này thậm thâm vi diệu, không ai có thể diễn nói tường tận được, nhưng hiện nay quý vị đang được nghe giảng từng chi tiết rõ ràng.

    Đó là ý nghĩa của câu chú này. Đây là “Chưởng thượng hóa Phật ấn thủ nhãn ấn pháp”. Quý vị nên hành trì ấn pháp này. Khi thành tựu rồi, đời đời khi được sinh ra liền thân cận bên Phật để học hỏi giáo pháp.

    Có rất nhiều cách để giảng giải chú Đại Bi. Chẳng hạn có một vị pháp sư khác giảng mỗi thủ nhãn này là danh hiệu của một vị Bồ tát. Chẳng hạn vị ấy cho rằng: Chưởng thượng hóa Phật thủ nhãn này là Chưởng thượng hóa Phật Bồ tát. Đây chính là trường hợp sai một ly đi một dặm. Sao vậy? ở đây hoàn toàn chẳng có một vị Bồ tát nào cả. Quý vị có thể đọc hết cả Tam tạng kinh điển nếu quý vị muốn nhưng sẽ chẳng thấy vị Bồ tát nào có danh hiệu là Chưởng thượng hóa Phật Bồ tát cả.

    Có thể nói như thế này: Chưởng thượng hóa Phật thủ nhãn ấn pháp là pháp tu của chư vị Bồ tát, chứ không thể gọi đó là Chưởng thượng hóa Phật Bồ tát. Nếu gọi như thế là một sai lầm.

    Nên khi nói Bảo bát thủ nhãn ấn pháp quý vị có thể hiểu rằng: Bảo Bát ấn pháp là pháp tu của chư vị Bồ tát. Còn Bảo Bát không phải là danh hiệu của một vị Bồ tát. Mới đây tôi được xem qua bộ “Đại Bi Kinh giảng nghĩa” ở Hồng Kông gửi sang, trong kinh này họ đã giảng bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp là danh hiệu của bốn mươi hai vị Bồ tát. Đó hoàn toàn sai lầm. Bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp trong kinh là các pháp tu của hàng Bồ tát. Người học Phật pháp nên ghi nhớ kỹ điểm này, không nên xác tín mà không căn cứ trên sự thực hiển nhiên. Trong khi giải thích Phật pháp cho người nghe, quý vị phải có một lập trường vững chãi, chính xác về những gì mình đưa ra, còn không quý vị sẽ phạm sai lầm.

    A ra sam là Chưởng thượng hóa Phật thủ nhãn ấn pháp mà các vị Bồ tát đều phải tu hành.

    Quý vị lại hỏi: “Bồ tát nào?”
    Đây chẳng phải là một vị Bồ tát nào riêng biệt cả. Bất kỳ người nào hành trì bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp thì người ấy chính là Bồ tát. Bất luận người nào không tu tập bốn mươi hai ấn pháp thì người ấy không phải là Bồ tát. Nếu quý vị tu tập bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp được thành tựu thì có thể minh chứng rõ ràng quý vị đã dự vào hàng Bồ tát rồi.

    Phật ra xá lợi dịch là “giác thân tử”. Đây là Sở châu thủ nhãn ấn pháp hoặc là Niệm châu ấn pháp, là pháp môn của chư vị Bồ tát tu tập. Khi Bồ tát tu tập thủ nhãn này thành tựu, thì chư Phật trong mười phương nhiếp thọ và tiếp dẫn hành giả đến các thế giới Phật khắp trong mười phương.

    39. Phạt sa phạt sâm

    Phạt sa, phạt sâm dịch là “Hoan ngữ hoan tiếu”. Có nghĩa là rất hoan hỷ khi giảng nói. Còn dịch nghĩa là “Đại trượng phu” và “Vô thượng sĩ”.

    Đây là Bảo cung thủ nhãn ấn pháp. Khi hành trì thành tựu ấn pháp này, nếu là người tại gia thì có thể được làm quan cận thần, người xuất gia có thể chứng được quả vị A la hán.

    40. Phật ra xá da

    Ở câu trên, Phật ra xá lợi. “Xá lợi”dịch nghĩa là “Giác thân tử”. Còn trong câu Phật ra xá da, “xá da” dịch là “Tượng”: con voi. Nghĩa là khi quý vị đã giác ngộ rồi, thì tâm thể quý vị được ví như một con voi chúa, còn được gọi là Pháp vương tử. Quý vị có thể là Pháp vương tối cao trong tất cả các pháp môn. Nói chung, ý nghĩa của câu chú này là: Tâm giác ngộ như một tượng vương cao quý.

    Phật ra xá da là nói về bổn thể của đức Phật A Di Đà. Đức Phật A Di Đà là bổn sư của Bồ tát Quán Thế Âm. Vì Bồ tát Quán Thế Âm tỏ lòng tôn kính đức bổn sư của mình nên Bồ tát đã đảnh lễ đức Phật A Di Đà trong khi tuyên thuyết chú Đại Bi. Nên đức Phật A Di Đà phóng hào quang để tiếp độ cho người trì chú này.

    Phật ra xá da là Tử liên hoa thủ nhãn ấn pháp. Trong bốn mươi hai thủ nhãn, có Bạch liên hoa thủ nhãn, Thanh liên hoa thủ nhãn, Hồng liên hoa thủ nhãn ấn pháp. Khi hành trì thành tựu các ấn pháp này, hành giả sẽ được diện kiến mười phương chư Phật. Vì vậy Tử liên hoa thủ nhãn ấn pháp rất trọng yếu.


    41. Hô lô hô lô ma ra

    Hô lô hô lô ma ra. Hán dịch là “Tác pháp như ý”. Cũng dịch là “Tác pháp mạc ly ngã”.

    Đây là Kim trọc ngọc hoàn thủ nhãn ấn pháp. Trong bốn mươi hai ấn pháp, khi hành giả hành trì bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp này được gọi là “tác pháp”. “Như ý” nghĩa là tùy theo tâm nguyện đều được như ý. Khi hành giả tu tập thành tựu ấn pháp này rồi, thì mọi việc đều được như tâm nguyện nên gọi là “Như ý”.

    Còn “Tác pháp mạc ly ngã” có nghĩa chính hành giả là người tu tập, không phải người nào khác. Nên khi hành giả tác pháp này, thì ấn pháp không rời khỏi hành giả và hành giả không rời khỏi ấn pháp. Pháp và ngã là một. Thế nên chẳng có pháp và cũng chẳng có ngã, pháp chấp và ngã chấp đều không. Đó là ý nghĩa của “Tác pháp mạc ly ngã”.

    Hành trì “Kim trọc ngọc hoàn ấn pháp”. Có thể khiến tất cả chúng sanh đều vâng theo sự giáo hóa của hành giả. Dạy họ tu pháp gì, họ đều tu theo pháp môn ấy không sai lệch.

    42. Hô lô hô lô hê rị

    Hô lô hô lô. Hán dịch là “tác pháp vô niệm” cũng dịch là “tác pháp tự tại”. Trong câu chú Hô lô hô lô ma ra đã giảng ở trước có nghĩa là “tác pháp như ý”, khi tác pháp vẫn còn khởi lên ý niệm. Còn trong câu chú Hô lô hô lô hê rị thì vắng bặt sự khởi niệm khi tác pháp. Nếu khi hành trì ấn pháp này, mà còn khởi niệm tức là còn vọng tưởng. Nếu hành giả không khởi niệm, tức là không còn vọng tưởng nên đạt được khả năng “tác pháp tự tại” và trở thành người có năng lực Quán Tự Tại. Đó chính là vị Bồ tát thường quán sát âm thanh ở thế gian để cứu độ một cách tự tại, Bồ tát Quán Thế Âm.

    Câu chú này là Bảo bát thủ nhãn ấn pháp, là ấn pháp thứ ba trong số bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp. Ấn pháp này có công năng giải thoát cho chúng sanh khỏi những tai ương bệnh hoạn.

    Các vị xuất gia khi gặp người bệnh, trì chú này vào trong ly nước, cho người bệnh uống thì có thể được khỏi bệnh. Nếu bệnh không lành, thì phải quán sát lại toàn bộ nhân duyên. Nếu gặp duyên lành, khi quý vị uống nước có trì chú Đại Bi thì liền được lành bệnh, là do đã đặt hết niềm tin vào Bồ tát Quá Thế Âm. Nếu không được lành bệnh, có thể là do quý vị thiếu lòng tin nơi Bồ tát.

    Sự thực là như vậy, nay tôi sẽ truyền pháp này cho quý vị luôn. Để cho ly nước có trì chú Đại Bi, có được năng lực như vậy, quý vị không cần phải trì tụng toàn văn bài chú này, mà chỉ cần trì tụng câu Hô lô hô lô hê rị năm lần rồi dùng tay kiết ấn ba lần búng vào phía trên ly nước. Rồi trao cho người bệnh uống sẽ được khỏi hẳn. Có khi bệnh không lành, có khi bệnh lành hẳn. Tất cả đều tùy thuộc vào nhân duyên giữa hành giả và người bệnh. Nếu quý vị có nhân duyên sâu dày với người bệnh, thì khi họ uống xong nước có trì chú Đại Bi liền được khỏi bệnh. Còn nếu người bệnh không có duyên với hành giả, thì dù họ có uống nước đã trì chú, nhưng vì họ không có niềm tin ở Bồ tát Quán Thế Âm, thì bệnh họ không được lành hẳn.

    Nói chung có vô lượng nhân duyên để tạo thành pháp duyên cơ bản này. Nếu người bệnh đã có công phu hành trì và phát tâm chí thành, khi uống nước có trì chú vào là liền khỏi bệnh. Còn nếu quý vị có tu tập nhưng thiếu lòng chí thành, thiếu sự tin tưởng vào chú Đại Bi thì dù uống nước đã trì chú cũng chẳng ích lợi gì. Còn nếu quý vị có tâm chí thành và dù không tu tập đi nữa, thì khi uống nước đã trì chú cũng có được sự lợi ích. Những người vốn đã tạo nghiệp chướng sâu dày, nếu được uống nước đã trì chú vào thì không đủ tạo nên nặng lực để chuyển hóa bệnh của họ. Còn nếu người có nghiệp nhẹ khi uống nước đã trì chú vào thì có thể phát sinh năng lực to lớn. Đó là năng lực do thường xuyên trì niệm chú Đại Bi, đã tạo ra một năng lực cảm ứng đạo giao. Chính năng lực này đã chữa lành bệnh.

    Thế nên bất luận trường hợp nào, có trùng trùng duyên khởi quyết định sự thành công. Đừng nghĩ rằng: “Tôi đã hành trì Bảo bát thủ nhãn ấn pháp, tôi đã trì chú Đại Bi vào trong nước, tại sao chẳng có chút nào hiệu nghiệm?”

    Đó chẳng phải là nước trì chú Đại Bi không có hiệu nghiệm. Chỉ vì công phu của quý vị chưa được đắc lực, nên hiệu quả không được bao nhiêu.

    Có một số phái ngoại đạo cũng dùng pháp trì chú Đại Bi vào nước để chữa bệnh và đạt được công hiệu linh ứng. Đó là vì họ có sự trợ giúp của loài thiên ma khiến cho người được lành bệnh tin vào họ, rồi dẫn dắt vào hàng quyến thuộc của thiên ma ngoại đạo. Vì thế, tuy cũng hành trì một pháp môn mà có thiên sai vạn biệt kết quả.

    Dùng nước Đại Bi để chữa bệnh cho người là một pháp môn thực hành Bồ tát đạo. Nhưng quý vị muốn tu pháp này trước hết phải thực hành mọi hạnh nguyện của hàng Bồ tát. Phải luôn luôn giữ tâm niệm “vô ngã”, “vô nhân”. Nghĩa là trong tâm không còn bốn tướng: ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả nữa. Quý vị đừng nghĩ rằng: “Tôi chữa lành bệnh của chúng sanh được, khi tôi trì chú Đại Bi, tôi tạo ra được sự cảm ứng vô cùng lớn lao”.

    Nếu quý vị khởi niệm như thế, nghĩa là quý vị đã khởi dậy ngã chấp. Với ngã chấp ấy, liền bị rơi vào ma chướng, dù quý vị không có tâm niệm ngã chấp nhưng rất dễ bị gặp ma chướng khi tu tập pháp môn này. Bệnh nào cũng do nghiệp chướng hoặc ma chướng. Nếu bệnh vì nghiệp, thì chẳng có vấn đề gì khi quý vị chữa trị cho họ. Còn nếu bệnh do ma chướng, khi quý vị chữa trị cho họ có nghĩa là quý vị tuyên chiến với ma vương, nó có thể hãm hại quý vị. Nếu đạo lực của quý vị chưa đầy đủ, quý vị có thể bị thu phục vào cảnh giới của ma. Còn nếu quý vị có được đạo lực và tạo được đôi chút ảnh hưởng với chúng, thì chúng sẽ liên tục tìm mọi cách để đánh bại quý vị.

    Tôi vốn thích chữa bệnh cho mọi người nên khi có ai bị bệnh, tôi tìm mọi cách để chữa cho họ. Nhưng sau đó, tôi phải đối đầu với ma chướng rất trầm trọng. Ở Mãn Châu, có một loài thủy quái muốn dìm chết tôi, nhưng nó thất bại. Tuy vậy, có 50 – 60 người bị chết và hơn 800 căn nhà bị thủy quái này phá hủy. Sau đó, trên đường đi từ Thiên Tân đến Thượng Hải, loài thủy quái đó lại tìm cách lật thuyền của tôi, chỉ chút xíu nữa là tôi biến thành thức ăn của cá. Từ đó mỗi khi đi hoằng hóa đây đó, tôi thường ít khi chữa bệnh.

    Thế nên chữa bệnh là cách tốt nhất để kết duyên, nhưng đó cũng rất dễ kết oán với quyến thuộc nhà ma. Nó có điểm tốt và cũng có điểm không hay. Nếu quý vị làm việc đó mà tâm niệm không vướng mắc vào bốn tướng: ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả thì quý vị có thể xoay chuyển mọi tình huống. Còn nếu quý vị không tự chuyển hóa mọi tâm niệm của chính mình khỏi bốn tướng trên thì rất dễ rơi vào ma chướng. Cho nên, kết duyên với chúng sanh qua việc chữa bệnh cho họ là một vấn đề đòi hỏi năng lực tu tập rất cao.

    43. Ta ra ta ra

    Quý vị nghe âm vang của câu chú này rất hùng, phải không? Ta ra Ta ra dịch là “Kiên cố lực”, là thần lực rất mạnh mẽ, không một thứ gì có thể lay chuyển được.

    Kiên cố lực này có thể phá hủy và hàng phục tất cả các loài thiên ma ngoại đạo.

    Đây là Kim cang xử thủ nhãn ấn pháp. Công năng của ấn pháp này là hàng phục tất cả các loại ma oán.

    44. Tất lỵ tất lỵ

    Tất lỵ Tất lỵ có ba nghĩa: Thứ nhất là “dõng mãnh” như trong chiến trận, người dõng mãnh là luôn luôn chiến thắng, không hề bị đánh bại. Nghĩa thứ hai là “thù thắng” nghĩa là vượt lên trên tất cả sự hoàn hảo, không bao giờ bị thất bại. Thứ ba nghĩa là “cát tường”. Vì khi hành giả có được sự dõng mãnh mới có được sự thắng vượt mọi chướng ngại, mới có được sự cát tường.

    Tôi thường nói với các đệ tử của tôi rằng khi làm bất kỳ việc gì, dù ở cương vị nào cũng phải phát tâm dõng mãnh, thắng vượt chứ không bao giờ được thoái thất. Nếu ai lui sụt, đừng trở về gặp mặt tôi nữa. Những người yếu đuối, bại hoại thì có ích gì? Họ chẳng khác gì một thứ mà người Quảng Đông thường gọi là “thủy bì” là túi da đựng nước mềm nhũn. Còn ở Đông Bắc thì gọi là “thảo bao”, là cái túi rơm để đựng hạt giống mềm yếu và vô dụng. Nên hãy nhớ điều này: bất kỳ ai muốn phát nguyện trở thành đệ tử của tôi là phải luôn luôn vượt thắng mọi điều, phải có tâm kiên cố như chùy Kim Cang vậy. Còn như “thủy bì” và “thảo bao” thì không thể nào theo nổi.

    Tất lỵ tất lỵ là Hợp chưởng thủ nhãn ấn pháp. Có thể khiến cho tất cả long xà, hổ lang, sư tử, nhân cùng phi nhân phát tâm kính ngưỡng. Tuy nhiên, hành giả phải thực sự có tâm dõng mãnh, vượt thắng và tâm bất thối chuyển. Công năng của ấn pháp này không phải là ở chỗ ngôn thuyết mà phải bằng nỗ lực hành trì.

    45. Tô rô tô rô

    Tô rô tô rô. Hán dịch là “cam lồ thủy”. Đây cũng chính là Cam lồ thủ nhãn ấn pháp. Trước đây tôi đã giảng về diệu dụng của nước cam lồ rồi. Có thể giúp cho các loài quỷ đói được no đủ và mọi tâm nguyện đều được như ý, làm tiêu tan mọi sự đói khát, thọ nhận được nhiều điều tốt lành khác nữa.

    Nước cam lồ này còn gọi là “Bất tử dược”. Nếu có người sắp chết uống nước cam lồ này thì sẽ được sống lại. Nhưng không dễ gì gặp được nước cam lồ này nếu không có duyên lành.

    46. Bồ đề dạ - Bồ đề dạ

    Bồ đề dạ. Hán dịch là “Giác đạo”. Muốn thành tựu giác đạo thì trước hết, quý vị phải có được giác tâm. Nếu không có giác tâm, thì không thể nào tu tập để thành tựu đạo giác ngộ. Hành giả trước hết phải có tâm liễu ngộ chân thực rồi mới có thể tu tập đến chỗ thành tựu đạo nghiệp được. Hai câu chú này gọi là Bất thối kim luân thủ nhãn ấn pháp. Đó chính là tâm bồ đề kiên cố không bao giờ thoái chuyển.

    Từ nay cho đến khi thành tựu quả vị Phật, quý vị phải phát tâm dõng mãnh ngày càng tinh tất hơn. Đừng nên dừng lại hoặc lui sụt. Chẳng hạn như khi quý vị nghe giảng kinh, hãy khởi tâm niệm rất khó có dịp được nghe giảng kinh Phật. Rất hiếm khi được gặp pháp hội. Mặc dù chuyện này xem có vẻ bình thường, nhưng nếu quý vị lắng lòng suy gẫm kỹ sẽ thấy giá trị vô cùng. Thử xem có nơi đâu trên thế giới này có được một pháp hội tinh tấn như thế này, ngày nào cũng đến đây để nghe giảng kinh? Còn có nơi đâu khác trên thế giới mà pháp âm tuôn trào như thác, như sông mãi không ngừng như ở đây?

    Nên khi đã có duyên ngặp gỡ được pháp hội, quý vị phải thu xếp công việc, dù có bận rộn bao nhiêu, bất luận pháp sư giảng đề tài gì, người nào giảng cũng phải đến nghe. Đừng có phân biệt giữa pháp sư giảng hay và người giảng kém, rồi chỉ đến nghe người giảng hay. Nếu quý vị vẫn kiên trì đến nghe bất luận pháp sư nào giảng, lâu ngày chày tháng, chắc chắn quý vị sẽ thâm nhập được vào dòng đạo lý chân thật. Dù ai giảng đi nữa, quý vị cũng nên đến nghe để hộ trì cho pháp hội. Nếu một tuần có giảng pháp bảy đêm thì quý vị cũng nên tham dự cả bảy đêm. Đừng nên lười biếng!

    Pháp môn này khó gặp được đã từng hằng triệu kiếp nay rồi. Một khi đã có duyên được gặp thì phải nên tinh tấn tu học. Sự tinh tấn chính là “tâm Bồ đề” kiên cố dõng mãnh vậy.

    Nếu bỏ mất tâm Bồ đề mà mong ngày thành đạo thì không khác gì nấu cát mà mong thành cơm. Nên trong Kinh Hoa Nghiêm, đức Phật dạy:

    “Vong thất Bồ đề tâm, tu chư thiện pháp, thị chư ma nghiệp”.
    Nghĩa là: “Bỏ quên tâm Bồ đề dù tu ngàn thiện pháp như làm việ ma vậy”.

    Về bất thối, có ba dạng:
    - Thứ nhất là vị bất thối: Nếu hành giả đã chứng quả A la hán tồi, thì không còn trở lại hàng phàm phu nữa, Nếu hành giả đã chứng quả Bồ tát rồi thì không còn rơi lại hàng A la hán nữa. Nếu hành giả đã chứng đắc quả vị Phật rồi thì không còn trở lại hàng Bồ tát nữa. Trừ những vị muốn thị hiện hóa thân để giáo hóa chúng sanh. Ví dụ như hành giả có thể phát nguyện: “Nay tôi đã thành tựu quả vị Phật rồi, tôi muốn hiện thân Tỳ kheo để giáo hóa chúng sanh”. Điều ấy hoàn toàn đúng.

    - Thứ hai là niệm bất thối: Đôi khi hành giả phát khởi tâm niệm: “Tu học Phật pháp thật chán, tôi không còn muốn tu hành hoặc đi giảng pháp gì nữa cả!”. Đây là niệm thoái thất. Khi hành giả khởi niệm thoái thất, thì ma chướng liền theo ngay, vì ma vương rất vui khi người tu hành khởi niệm lui sụt.

    Một khi quý vị đã đạt được “niệm bất thối”, thì càng nghe pháp, càng muốn được nghe nhiều hơn.

    Niệm bất thối là tâm lượng của hành giả không còn bị trôi lăn trong dòng thức biến “bất giác vọng động nữa”, không còn trải qua bốn tướng sinh trụ dị diệt của niệm khởi nữa. Niệm bất thối luôn được lưu xuất từ Bồ đề tâm, là bạn đồng hành của tâm kiên cố. Kiên cố là nét đặc trưng của tâm Bồ đề. Niệm bất thối và tâm kiên cố là nền tảng của đại nguyện Bồ tát. Niệm bất thối là niệm mà vô niệm. Vô niệm mà tự niệm “niệm vô niệm, vô niệm nhi tự niệm”. Niệm này là niệm vi mật hiện tiền, không thể suy lường. Niệm bất thối luôn luôn đi với hạnh bất thối.

    - Thứ ba là hạnh bất thối: Nghĩa là thực hành đạo Bồ tát. Tuy làm mọi việc trong vô số cảnh giới mà không hề rời bản tâm, rời đại nguyện, rời niệm bất thối. Niệm Kim cang nguyện, thực hành Kim cang hạnh không thể nghĩ bàn.

    Đứng trên nhân thừa mà luận, thì hạnh bất thối là sự hành trì tinh tấn, miên mật với tâm tinh tấn dõng mãnh hướng tới Phật thừa.

    Khi quý vị hành trì Bất thối Kim Luân thủ nhãn ấn pháp, thì từ nay cho đến khi thành tựu quả vị Phật, quý vị sẽ không còn thối chuyển. Nhưng quý vị phải tinh tấn hành trì!

    47. Bồ đà dạ - Bồ đà dạ

    Câu chú này với câu trước giống nhau, chỉ khác âm giữa Bồ đà dạ. Hán dịch là “trí giả” và “tác giả”.
    - Trí là hiểu biết chân chính, là trí tuệ.
    - Giác là sự tỉnh thức.

    Người có được sự hiểu biết chân chính là người đã giác ngộ đích thực và có được trí tuệ.

    Đây là Đảnh thượng hóa Phật thủ nhãn ấn pháp. Chữ hóa Phật trong Đảnh thượng hóa Phật thủ nhãn ấn pháp chính là “giác giả”. Vị Bồ tát hành trì thành tựu Đảnh thượng hóa Phật ấn pháp cũng chính là “trí giả”. Cơ bản, “trí” và “giác” vốn chẳng khác nhau.

    Giác là sự giác ngộ, là giai đoạn sau của cái biết tròn đầy chân thực (trí).

    Tri là cái biết toàn triệt, là giai đoạn trước của giác ngộ. Nếu quý vị tu tập Đảnh thượng hóa Phật ấn pháp thành tựu rồi thì quý vị sẽ là người có trí tuệ chân chính, là người đã tự mình giác ngộ rồi. Nếu quý vị tu tập ấn pháp này thì mười phương chư Phật sẽ liền đến xoa đầu thọ ký cho quý vị trong tương lai sẽ chứng được quả vị Phật.

    Trong khi đang niệm Phật hoặc trì chú, hoặc tọa thiền, hành giả đôi khi có cảm giác là lạ trên đỉnh đầu, như thể có một loài côn trùng bò quanh đầu vậy, nhưng khi quý vị lấy tay sờ đầu thì thấy không có gì lạ. Tôi sẽ nói cho quý vị biết đó là gì. Lúc ấy, chính chư Phật trong mười phương đến xoa đầu thọ ký cho quý vị sẽ thành tựu Phật quả trong tương lai. Nhưng vì quý vị chưa có được thiên nhĩ thông nên không nghe được; vì chưa có được thiên nhãn thông nên quý vị không thấy được. Tuy vậy, chư Phật trong mười phương thực sự đã rời bổn độ du hành đến đạo tràng xoa đầu thọ ký cho quý vị. Thế nên nếu quý vị có phước duyên gặp được, thì đây là một cảm ứng xuất phát từ công phu hành trì của quý vị. Nhưng quí vị không được khởi tâm mê đắm, hay ngã mạn mà nghĩ rằng: “À! Chư Phật vừa đến xoa đầu thọ ký hộ trì cho tôi”. Nếu quý vị khởi niệm vui mừng hay hãnh diện vì điều này cũng đều là chấp trước. Dù đây là triệu chứng tốt lành, mà khi quý vị đã khởi tâm đắm chấp rồi, thì cũng trở nên xấu.

    Trong chương cuối của Kinh Thủ Lăng Nghiêm. Đức Phật trìh bày rất nhiều cảnh giới, tất cả đều là cảm ứng xuất phát từ nỗ lực dụng công tu hành. Nhưng nếu hành giả nghĩ rằng mình đã chứng được cảnh giới vi diệu, thì hành giả trở nên bị chấp trước và liền lạc vào tà ma ngoại đạo, liền bị ma chướng. Do vậy, khi tu tập pháp này, quý vị phải tự an trú trong trạng thái “như như bất động”. Cho dù có gặp cảnh giới tốt hoặc xấu, cũng giữ tâm không dao động. Khi tâm không dao động, là quý vị có được định lực, trí tuệ sẽ phát sinh. Có trí tuệ chân chính, quý vị sẽ trở thành “trí giả” và “tác giả”.

    48. Di đế rị dạ

    Di đế rị dạ. Hán dịch là “ chánh lượng”. Cũng dịch là “đại lượng”; nghĩa là số lượng rất nhiều, không đếm được. Còn dịch là “đại từ bi tâm” nghĩa là tâm từ bi quá rộng lớn, không có ngằn mé. Tâm từ bi này bảo hộ che chở cho tất cả mọi loaì chúng sanh và giúp cho họ được an vui, khiến cho chúng sanh thể nhập với bản tâm của mình, thoát khỏi sợ hãi và tránh xa mọi tai ương.

    Đây là Tích thượng thủ nhãn ấn pháp. Trên đầu tích trượng có chín vòng tròn bằnh đồng. Lúc xưa, người xuất gia đi đâu cũng mang theo tích trượng. Mỗi khi đi đường, chín vòng kim loại này sẽ tạo nên âm thanh, báo động cho các loài côn trùng tránh xa để khỏi bị dẫm đạp lên mình. Tích trượng là một loại pháp khí trong Phật giáo. Bồ tát Địa Tạng thường dùng tích trượng như là chìa khóa để mở cửa các địa ngục. Vì vậy nên hành giả tu tập ấn pháp này phải nuôi dưỡng lòng từ bi rộng lớn, phát nguyện cứu giúp cho toàn thể mọi loài chúng sanh.

    49. Na ra cẩn trì

    Na ra cẩn trì. Hán dịch là “Hiền ái” hoặc là “Hiền thủ” cũng dịch là “Thiện hộ”, “Thiện đảnh”. Nghĩa là người đứng đầu trong các bậc Thánh hiền, họ là thượng thủ, là bậc khó tìm cách bảo bọc, che chở cho chúng sanh, khéo độ thoát cho chúng sanh đến quả vị tối cao.

    Đây là Bảo bát thủ nhãn ấn pháp. Cũng gọi là Hồ Bình ấn pháp. Bình nước này có thể tẩy trừ mọi uế trược ở thế gian, cứu giúp chúng sanh thoát khỏi bệnh khổ. Bồ tát tu tập thành tựu ấn pháp này sẽ có năng lực hộ niệm cho toàn thể chúng sanh. Khi quý vị tu tập pháp ấn này thành tựu rồi, quý vị sẽ có khả năng cứu giúp mọi loài chúng sanh, giúp họ ngăn ngừa được mọi tai ương, chướng nạn. Nên còn được gọi là “Thiện hộ”, “Thiện đảnh”.

    50. Địa lỵ sắt ni na

    Địa lỵ sắt ni na. Hán dịch là “Kiên lợi”. Còn có nghĩa là “Kiếm”. Đây là Bảo kiếm thủ nhãn ấn pháp. Trước đây khi giảng về bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp, tôi có nói rằng ấn pháp này có công năng hàng phục mọi loài ly, mỵ, võng lượng. Khi quý vị utu tập thành tựu ấn pháp này rồi, tất cả các loài thiên ma ngoại đạo, ly mỵ vọng lượng đều ngoan ngoãn quy phục bởi vì họ sợ ấn pháp Bảo kiếm này của hành giả. Ấn pháp này rất oai hùng. Nếu có loài thiên ma ngoại đạo nào không tuân phục ấn pháp, hành giả có thể trừng phạt ngay bằng Bảo kiếm này.

    51. Ba da ma na

    Ba da ma na có ba ý: Thứ nhất là “danh văn” nghĩa là tên của hành giả được lưu truyền khắp mười phương thế giới. Nghĩa thứ hai là “Hỷ xưng” là mười phương thế giới đều vui mừng khen ngợi công đức của hành giả. Thứ ba là “thành danh”, “nhất thiết nghĩa thành tựu”. Có nghĩa là mọi danh tiếng, mọi công hạnh đều được thành tựu thật nghĩa và rốt ráo.

    Đây là Bảo tiễn ấn pháp. Nếu quý vị hành trì ấn pháp này thành tựu sẽ liền gặp được thiện hữu tri thức.

    52. Ta bà ha

    Trong chú Đại bi, câu Ta bà ha rất là quan trọng. Câu này được lặp lại đến mười bốn lần.

    Ta bà ha. Hán dịch có sáu nghĩa. Bất kỳ chữ này xuất hiện ở bài chú nào cũng có đủ sáu nghĩa này.

    Nghĩa thứ nhất là “thành tựu”. Khi trì niệm câu chú này, tất cả sở cầu, sở nguyện của hành giả đều được thành tựu. Nếu quý vị chưa có được sự cảm ứng khi hành trì, là do vì tâm chưa đạt đến sự chí thành. Nếu quý vị có tâm chí thành và có niềm tin kiên cố, thì chắc chắn sẽ được thành tựu. Nhưng chỉ cần móng khởi một chút tâm niệm không tin vào chú này, thì không bao giờ được thành tựu.

    Nghĩa thứ hai là “Cát tường”. Khi hành giả niệm câu chú này thì mọi sự không tốt lành, đều trở thành tốt lành như ý. Nhưng quý vị phải có lòng thành tín. Nếu quý vị có lòng thành tín hoặc nửa tin nửa ngờ khi trì chú này thì chư Bồ tát đều biết rõ. Vì thế nếu quý vị muốn mọi việc đều được đến chỗ thành tựu thì trước hết phải có niềm tin chắc thật. Ví như khi cha của quý vị có bệnh, muốn cha mình được khỏi bệnh thì quý vị phải hết sức thành tâm và chánh tin. Trì tụng chú này mới có cảm ứng.

    Hoặc khi quý vị nghĩ rằng: “Từ lâu mình chưa được gặp người bạn thân. Nay rất muốn gặp anh ta”. Quý vị niệm chú này một cách chí thành, liền gặp bạn ngay. Hoặc quý vị nghĩ: “Ta chẳng có người bạn nào cả, muốn có người bạn tốt”. Quý vị trì chú này một cách thành tâm và liên tục, liền có được bạn lành, ngay cả gặp được thiện tri thức.

    Nghĩa thứ ba của Ta bà ha là “viên tịch”.
    Khi các vị Tỳ kheo xả bỏ báo thân hoặc nhập Niết bàn thì được gọi là “viên tịch”. Nhưng ở đây, chữ “viên tịch” không có nghĩa là chết. Chẳng phải niệm câu chú Ta bà ha là để cầu sự viên tịch. Thế thì công dụng của câu chú này là gì?

    “Viên tịch” có nghĩa là “công vô bất viên”. Là công đức của hành giả hoàn toàn viên mãn; “đức vô bất tịch” là đức hạnh của hành giả đạt đến mức cao tột cực điểm. Chỉ có chư Phật và Bồ tát mới biết được công hạnh rốt ráo tròn đầy ấy chứ hàng phàm phu không suy lường được.

    Nghĩa thứ tư là “tức tai”, nghĩa là mọi tai nạn đều được tiêu trừ.

    Nghĩa thứ năm là “tăng ích”, là sự tăng trưởng lợi lạc của hành giả. Khi niệm câu Ta bà ha thì công hạnh đều được tăng trưởng, hành giả sẽ đạt được chỗ lợi lạc an vui.

    Nghĩa thứ sáu của câu này, tôi thiết nghĩ trong quý vị ít có ai biết được. Vì trước đây tôi chưa từng nói bao giờ.

    Ta bà hà có nghĩa là “vô trú”. Nghĩa “vô trú” này nằm trong ý nghĩa của câu “ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” trong Kinh Kim Cang.

    “Vô trú” nghĩa là không chấp trước, không vướng mắc hay bám chấp một thứ gì cả.

    Tâm vô trú là không có một niệm chấp trước vào việc gì cả. Không chấp trước nghĩa là tâm tùy thuận với mọi việc, thấy mọi việc đều là tốt đẹp. Đây chính là trường hợp: “Vô vi nhi vô bất vi” (không khởi niệm tác ý nhưng điều gì cũng được thành tựu). Vô trú chính là vô vi theo nghĩa ở trên, và vô vi chính là vô trú.

    Khi quý vị vừa móng khởi lên một niệm tưởng, đừng nên vướng mắc vào một thứ gì cả, đó là nghĩa thứ sáu của Ta bà ha. Quý vị đừng nên trụ vào các niệm tham, sân, si, mạn, nghi. Nếu quý vị có tất cả các tâm niệm trên thì phải nhanh chóng hàng phục chúng, chuyển hóa chúng để tâm mình không còn trụ ở một niệm nào cả. Hàng phục, chuyển hóa được những tâm niệm chúng sinh ấy gọi là vô trú. Dùng cái gì để chinh phục chúng? Dùng Bảo kiếm ấn pháp này để hàng phục. Quý vị nói rằng tâm quý vị bị đầy dẫy niệm tham chế ngự. Tôi sẽ dùng Bảo kiếm này để cắt sạch. Nếu tâm quý vị có đầy ma oán, tôi cũng sẽ dùng Bảo kiếm này đuổi sạch. Nếu tâm quý vị bị ma si mê chiếm đoạt, tôi sẽ dùng kiếm trí tuệ này chặt đứt chúng từng mảnh.

    Tôi sẽ chặt đứt tất cả các loài ma ấy bằng Bảo kiếm Kim cang vương này, tức là dùng kiếm Trí tuệ để hàng phục. Nếu quý vị muốn hàng phục thiên ma ngoại đạo thì trước hết quý vị phải chuyển hóa được mọi vọng tưởng của mình. Khi quý vị chuyển hóa được vọng tưởng trong tâm mình, thì thiên ma ngoại đạo cũng được hàng phục luôn, cho dù chúng có muốn đến để quấy phá, chúng cũng chẳng tìm được cách nào để hãm hại được cả.

    Trên đây là sáu nghĩa của Ta bà ha. Bất luận câu chú nào dưới đây có chữ Ta bà ha đều mang đầy đủ sáu nghĩa trên.


    53. Tất đà da
    54. Ta bà ha
    55. Ma ha tất đà da
    56. Ta bà ha


    Chữ Tất đà da có năm nghĩa: Thứ nhất là “Thành tựu đốn kiết”. Thứ hai là “thành biện”. Thứ ba là “thành lợi”.Thứ tư là “nhất thiết nghĩa thành tựu” và thứ năm là “sở cung xưng tán”.

    Thành tựu đốn kiết nghĩa là khi sử dụng thần chú này, thì mọi sở cầu, sở nguyện của hành giả liền tức khắc (đốn) được an lành (kiết), toại nguyện.

    Có người hỏi: “Tại sao tôi cũng trì chú Đại Bi, mà không được toại nguyện tức thì”? Vì sự trì niệm chú Đại Bi đòi hỏi phải có sự tương ứng từ nỗ lực dụng công. Nếu không có sự nỗ lực hành trì tương ứng, thì sẽ không có sự thành tựu. Nếu có sự cảm ứng, dung thông thì mọi sở cầu, sở nguyện của hành giả đều được thành tựu.

    Tất đà dạ còn có nghĩa là “thành biện”. Nghĩa là hành giả làm bất cứ việc gì thì kết quả đều đạt được viên mãn.

    Cũng gọi là “thành lợi” là vì mọi việc làm đều được thành tựu lợi ích.

    Nhất thiết nghĩa thành tựu có nghĩa là làm bất kỳ việc gì cũng đều được thành tựu.

    Sở cung xưng tán có nghĩa là mọi người đều đến khen ngợi, cung kính tán dương công đức của hành giả.

    Ma ha tất đà dạ. Ai cũng đều biết Ma ha có nghĩa là lớn. Câu chú này có nghĩa là hành giả đạt được mọi sự nghiệp to lớn, thành tựu được công đức thù thắng và đạo nghiệp viên mãn. Trong mọi việc, hành giả đều đạt được sự thành tựu viên mãn cao tột.

    Cả hai câu chú hợp lại Tất đà dạ ta bà ha Ma ha tất đà dạ ta bà ha là Bảo kinh thủ nhãn ấn pháp. Bảo Kinh là sự quý giá vô ngàn của Kinh điển, chính là Pháp bảo. Nếu quý vị tu tập ấn pháp này thì sẽ đạt được lợi lạc vô cùng vô tận. Trong tương lai, trí tuệ và sức ghi nhớ của quý vị sẽ rất tinh anh. Nghĩa là có được khả năng “bác văn cường ký” – nghe nhiều, nhớ kỹ.

    Ký ức của chúng ta thường hoạt động theo một lối riêng. Cũng như không thể nào đi nếu không có cây gậy. Sau khi đọc được điều gì, chúng ta không thể nhớ rõ ràng hết được. Chỉ khi nào cần cho sự học tập của mình, chúng ta mới lục lại tìm kiếm hay tra cứu lại những ghi chép. Tại sao trí nhớ của mình lại quá kém. Vì quý vị chưa từng hành trì Bảo kinh thủ nhãn ấn pháp này. Nếu quý vị hành trì ấn pháp này, quý vị sẽ đạt được sự hiểu biết thông tuệ và kiến thức rất đa dạng. Giống như Tôn giả A Nan, là đệ tử đa văn đệ nhất của đức Phật. Có thể nói Ngài A Nan đã hành trì Bảo kinh ấn pháp mà chẳng nghi ngờ gì. Ngài đã thành tựu ấn pháp này từ vô lượng kiếp rồi, nên khi nghe được điều gì, thì không còn quên nữa. Ngay cả Ngài có thể nhớ được những điều Ngài chưa từng nghe. Tại sao tôi nói như vậy? Vì Tôn giả A Nan ra đời cùng ngày đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo. Như thế nên hai mươi năm trước, khi A Nan chưa xuất gia, thì những bài thuyết pháp của đức Phật Ngài A Nan chưa được nghe. Thế thì làm sao A Nan có thể kết tập toàn bộ Kinh điển sau khi đức Phật nhập Niết bàn? Vì A Nan được nghe các vị trưởng lão giảng lại những bài Kinh mà đức Phật đã thuyết từ trước, hoặc chính do đức Phật giảng lại cho A Nan nghe khi A Nan nhập định nên A Nan thừa biết rõ nguyên nhân của sự nhớ giỏi này là nhờ đã hành trì Bảo kinh thủ nhãn ấn pháp thành tựu.

    Có người hỏi tôi: “Làm thế nào để có được trí nhớ tốt?” Câu trả lời đơn giản là hãy hành trì Bảo kinh ấn pháp. Những người nhớ được Kinh rõ ràng là có duyên với ấn pháp này.

    Ở trong đồ hình mạn đà la, đây là ấn pháp Bồ tát phóng quang. Ngài phóng ra hào quang và tay cầm một tràng phan màu đỏ. Toàn thân Bồ tát phóng ra những luồng hào quang sáng chói biểu tượng cho sự khai mở trí tuệ, sự cường ký, trí lực đa văn quảng kiến và công đức thành tựu viên mãn.

    57. Tất đà du nghệ
    58. Thất bà ra dạ
    59. Ta bà ha


    Tất đà. Hán dịch là “thành tựu lợi ích”.
    Du nghệ. Hán dịch là “Vô vi” hay còn gọi là “hư không”.
    Thất bàn ra dạ. Hán dịch là “Tự tại”. Đây là Bảo hiếp thủ nhãn ấn pháp. Hành giả thành tựu ấn pháp này có thể sử dụng lấy tất cả các thứ châu báo ẩn giấu trong lòng đất để làm lợi ích cho chúng sanh. Ý của câu chú này nói rằng ở nơi thể tánh mà thường được tự tại và thành tựu vô lượng công đức.




    60. Na ra cẩn trì
    61. Ta bà ha


    Na ra cẩn trì. Hán dịch là “ái hộ” nghĩa là thường nỗ lực bảo bọc che chở tất cả chúng sanh. Câu chú này cũng mang ý nghĩa đại Từ Bi.

    Đây là Bảo bình thủ nhãn ấn pháp.

    62. Ma ra na ra
    63. Ta bà ha


    Ma ra. Hán dịch là “Như ý”
    Na ra. Hán dịch là “Tôn thượng”.
    Đây là Quyến sách thủ nhãn ấn pháp. Ấn pháp này có công năng mang lại sự an vui như ý đến cho hành giả, khiến cho các thứ bệnh tật, chướng nạn đều được tiêu trừ.

    Quyến sách thủ nhãn ấn pháp có rất nhiều diệu dụng. Hành giả có thể kết một sợi dây ngũ sắc rồi hành trì quyến sách ấn pháp vào sợi dây ấy. Thành tựu rồi thì khi phóng sợi dây này ra, các loài yêu ma quỷ quái, ly mỵ vọng lượng đều bị trói chặt. Không thể nào chạy thoát được. Từ đó sẽ tìm cách giáo hóa cho các loài ấy hồi tâm hướng thiện. Đây là diệu dụng của ấn pháp này. Mới xem qua thì có vẻ bình thường nhưng công năng thật khó lường.

    Trong đạo giáo gọi ấn pháp này là “Khổn tiên thằng”.

    64. Tất ra tăng a mục khư da
    65. Ta bà ha


    Tất ra tăng. Hán dịch là “thành tựu – ái hộ”. Nghĩa là thường đem hết sức mình để bảo hộ che chở cho tất cả chúng sanh.

    A mục khư da. Hán dịch là “bất không, bất xả”.
    Bất không có nghĩa là hữu. Nhưng đây có nghĩa là diệu hữu.
    Bất xả có nghĩa là “Bất xả nhất pháp”. Không từ bỏ một việc gì, phải thông thạo tất cả các pháp. Nên có câu kệ:

    “Chân như lý thượng bất lập nhất trần.
    Phật sự môn trung bất xả nhất pháp”.

    Nghĩa là:
    “Trên phương diện bản thể, lý tánh tức chân như, thì không cần lập một thứ gì nữa cả, dù chỉ là hạt bụi.
    Nhưng về mặt sự tướng, có nghĩa là việc hành trì, tu đạo thì không được bỏ qua một pháp nào cả”.

    A mục khư da còn có nghĩa nữa là “ái chúng, hòa hợp”. Nghĩa là thương yêu, hòa hợp, thường cứu giúp tất cả chúng sanh.

    Câu chú này còn có nghĩa khác là trong tự tánh của mỗi chúng sanh đều có đủ tánh tự tại và tánh công đức thường vẫn tròn đầy.

    Đây là Bảo phủ thủ nhãn ấn pháp. Khi hành trì ấn pháp này thành tựu, hành giả có thể tránh được nạn tù tội, bất kỳ nơi đâu, bất kỳ mọi lúc, hành giả đều không bị vướng phải các chướng nạn về quan quyền nữa.

    Quý vị sẽ hỏi: “Nếu tôi tu tập ấn pháp này, liệu tôi có thể phạm pháp mà vẫn không bị bỏ tù hay sao?”

    Không! Là Phật tử, quý vị không được phạm pháp. Nếu quý vị đã thông hiểu Phật pháp và phát tâm tu học Phật pháp rồi, thì làm gì có chuyện phạm pháp nữa? Còn nếu quý vị làm chuyện phạm pháp, tất nhiên phải bị bắt và ở tù.

    Tuy nhiên, đôi khi có những người vô tội bị bắt ở tù. Đây là vì họ chưa bao giờ tu tập Bảo phủ thủ nhãn ấn pháp này.

    66. Ta bà ma ha a tất đà dạ
    67. Ta bà ha


    Như quý vị đã biết, thế giới chúng ta đang sống là thế giới Ta bà. Ta bà có nghĩa là “kham nhẫn”. Còn được dịch là “nhẫn ái”. Còn dịch là “Thiện thuyết, thiện đáo”.

    Kham nhẫn có nghĩa là chúng sanh như chúng ta khó có thể chịu đựng nổi những sự thống khổ ở cõi giới Ta bà này.

    Nhẫn ái có nghĩa là chúng sanh thế giới Ta bà này không những có thể chịu đựng mọi khổ đau mà còn sanh khởi lòng thương yêu mọi loài nữa.

    Thiện thuyết, thiện đáo nghĩa là, luôn luôn nói lời tốt đẹp, lợi ích khi ở trong thế giới Ta bà. Cùng khuyến khích mọi người hiện thân đến ở cõi giới Ta bà này.

    Ma ha là lớn. Đây có nghĩa là pháp Đại thừa, tức là Bồ tát đạo.

    A tất đà dạ. Hán dịch là “vô lượng thành tựu”. Nghĩa là tu tập pháp Đại thừa của hàng Bồ tát có công năng đưa hành giả đến bờ bên kia một cách rốt ráo và thành tựu vô lượng công đức.

    Đây là Bồ đào thủ nhãn ấn pháp. Khi quý vị tu tập thành tựu ấn pháp này thì trong miệng hành giả thường có vị ngọt của nho, còn hơn vị ngọt của đường. Quý vị hãy chú ý điểm này, trong khi hành trì ấn pháp này mà thấy trong miệng có vị ngọt nghĩa là bắt đầu có sự cảm ứng. Khi thành tựu ấn pháp này rồi, khi quý vị có trồng trọt các loại nông sản, ngũ cốc, thì sâu bọ côn trùng không thể phá hoại mùa màng của quý vị. Còn các loại cây ăn quả như cam, đào, hạnh, lê, … sẽ sinh trưởng rất nhanh và có vị ngọt khác thường. Công năng của Bồ đào ấn pháp này rất lớn và sự thành tựu của pháp Đại thừa là vô lượng vô biên.

    Tất la tăng a mục khư da. Ở trong đồ hình mạn đà la là hình ảnh biểu tượng cho bổn thể của Dược Vương Bồ tát, người đã dùng vô số phương tiện, dược liệu để chữa bệnh cho chúng sanh.

    Ta bà ma ha a tất đã dạ ta bà ha là bổn thể của Bồ tát Dược Thượng, người cũng thường dùng vô số phương thuốc để chữa lành bệnh cho chúng sanh.

    68. Giả kiết ra a tất đà dạ
    69. Ta bà ha


    Giả kiết ra a tất đà dạ. Hán dịch là “Kim cang luân”. Còn gọi là Kim cang Bạt chiết la. Kim cang luân này có hình tròn nhưng có khác so với Kim cang luân khác. Câu chú này còn có nghĩa là “Hàng phục oán ma”. Khi trong tâm luôn luôn sinh khởi xung khí và bất bình thì gọi là ma. Khi ấy họ thường phê phán mọi điều. Họ nói “Chư Phật thường làm những việc sai trái, cho đến hành Bồ tát, A la hán, chư Thiên, Diêm Vương cũng đều như thế”. Họ phản đối kịch liệt và hằn học đối với tất cả mọi điều. “Tất cả đều là tà vạy”. Họ giống như kẻ cuồng si, chẳng để ý gì đến pháp luật nữa. Họ luôn xung khắc với toàn cả thế gian. Trong nhân gian gọi loại người này là điên cuồng. Trong hàng quỷ thần thì hạng người này được gọi là Ma. Nộ khí của loài ma oán này thường xôn g khắp cõi Trời. Nó thường giận dữ: :Ai cũng đều quá vô lễ với ta!”. Hoặc nó nói: “Phật hả? Ta sẽ đánh bại ngay. Bồ tát hay A la hán ta cũng hạ gục luôn. Còn loài người, ta sẽ ăn thịt hết. Ma quỷ thì ta sẽ chà nát dưới gót chân. Ta sẽ xé nát thân chúng ra cho đến chết!” Oán khí loại ma này thật ghê rợn.

    Đây là Bạt chiết la thủ nhã ấn pháp. Với Kim cang luân, hành giả có thể đập tan các loài thiên ma ngoại đạo, quỷ thần thành từng mảnh vụn. Bất luận đó là loại ma nào, nó đều bị thu phục và vâng lời khi hành giả dùng Kim cang luân để thi hành ấn pháp này. Ma oán sẽ cung kính đảnh lễ hành giả và thưa: “Con nguyện quy phục ấn pháp. Nguyện theo mọi quy luật, không dám xâm hủy”.

    Kim cang luân ấn pháp không những chỉ có công năng hàng phục thiên ma ngoại đạo, mà còn có công năng phát ra âm thanh chấn động. Đạo giáo gọi âm thanh này là “Ngũ Lôi Oanh Đảnh”.

    Sấm sét vốn thường phát sinh từ trên Trời, nhưng các Đạo sĩ Lão giáo có thể phóng ra tiếng sấm từ lòng bàn tay khi họ kết một loại ấn gọi là Chưởng tâm lôi. Tiếng sấm sét vang ra khiến cho thiên ma bị chấn động, thậm chí còn có thể khiến thịt da nó bị tan tành từng mảnh.

    Khi giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm, tôi có nói về một người bạn thân, có khả năng sử dụng được ấn pháp này. Khi quý vị hành trì thành tựu ấn pháp này rồi, thì sấm sét sẽ vang rền khi quý vị sử dụng ấn pháp và tiếng vang của nó sẽ hàng phục được tất cả các loài ma oán.

    A tất đà dạ. Hán dịch là “Vô tỷ thành tựu”. Hành giả trì chú này sẽ được thành tựu công đức rất lớn; không có gì so sánh được, cho nên mới khiến cho các loài ma oán đều quy đầu phục thiện.

    70. Ba đà ma yết tất đà dạ
    71. Ta bà ha


    Ba đà ma. Hán dịch là “Hồng liên hoa”.
    Yết tất đà dạ. Hán dịch là “Thiện trắng”.

    Hồng liên hoa này là siêu việt tất cả mọi loài và thành tựu vô lượng công đức. Khi quý vị tu tập Hồng liên hoa thủ nhãn ấn pháp này thành tựu rồi, nếu quý vị muốn sanh ở cõi Trời thì ước nguyện ấy rất dễ thành tựu như ý.

    72. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ
    73. Ta bà ha


    Na ra cẩn trì. Hán dịch là “Hiền thủ”.
    Hiền là thánh hiền.
    Thủ là giữ gìn, canh giữ hộ trì.
    Bàn đà ra dạ dịch nghĩa là Quán Thế Âm, Quán Tự Tại.

    Đây là Thí vô úy thủ nhãn ấn pháp mà Bồ tát Quán Thế Âm thường dùng để cứu độ chúng sanh, giúp cho mọi loài không còn sợ hãi trong mọi lúc, mọi nơi.

    74. Ma bà lợi thắng yết ra da
    75. Ta bà ha


    Ma bà lợi thắng. Hán dịch là “Đại dõng”, cũng dịch là “anh hùng đức”, nghĩa là đức hạnh của bậc đại anh hùng. Bồ tát Quán Thế Âm cũng được gọi như thế.

    Yết ra da. Hán dịch là “sinh tánh” hoặc là “bổn tánh”. Nghĩa là tự tánh bản hữu của chúng sanh vốn sẵn có đức hạnh của bậc đại anh hùng. Đức hạnh của đại anh hùng chính là do hành trì Tổng nhiếp thiên tý thủ nhã ấn pháp, ấn pháp này có công năng hàng phục mọi loài ma oán không chỉ ở thế giới này mà khắp cả đại thiên thế giới.

    Hành giả tu tập ấn pháp này nên biết đây là ấn pháp quan trọng nhất trong tất cả bốn mươi hai ấn pháp. Vì khi hành trì ấn pháp này, thì tất cả bốn mươi hai ấn pháp kia đều có đủ trong ấn pháp này.

    Quý vị có thể thắc mắc: “Thế thì tôi chỉ cần hành trì một ấn pháp này thôi cũng đủ, chẳng cần hành trì bốn mươi mốt ấn pháp kia nữa”.

    Nếu quý vị lười biếng thì cứ làm. Nếu không phải là kẻ lười biếng, thì nên hành trì tất cả bốn mươi hai ấn pháp. Mặt khác, quý vị muốn làm kẻ lười biếng và thích tu tập để trở thành một vị Bồ tát lười thì cứ tu tập ấn pháp cuối cùng này trong bốn mươi hai ấn pháp kia. Sẽ phải mất khá nhiều thời gian mới thành tựu được. Tuy nhiên, vì quý vị là người lười biếng nên sẽ không được thành tựu sớm là điều hiển nhiên. Thế nên các pháp đều là bất định. Nếu quý vị không muốn trở thành một vị Bồ tát lười, quý vị sẽ chẳng bận tâm thời gian lâu hay mau để tu tập các ấn pháp này.

    76. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da

    Câu này đã được giảng rõ ở phần đầu Kinh văn rồi. Nhưng có trường hợp quý vị bị quên, nên tôi sẽ giảng lại lần nữa. Những người tuy có nhớ, nhưng không được rõ ràng, nghe lại lần này sẽ được rõ thêm. Những người đã nhớ kỹ rồi, nghe được một lần này nữa lại càng hiểu sâu hơn.

    Nếu tôi giảng chưa rõ, quý vị cứ hỏi tôi ngay tức khắc, vì cách tôi giảng Kinh hoàn toàn khác với các Pháp sư. Tôi không dùng tài liệu hoặc các luận giải.

    Nam mô có nghĩa là “Quy y”. Quy y gì? Con xin quy y Tam bảo.

    Hắc ra đát na có nghĩa là “bảo”: quý báu.
    Đa ra dạ dịch là “Tam”: ba
    Toàn câu nghĩa là con nguyện quy y Tam bảo. Con nguyện đem cả thân tâm tánh mạng để quy y. Như những Phật tử tại gia đã quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Đó là quy y Tam bảo.

    Quy y Tam bảo tức là quy y với toàn thể chư Phật trong ba đời, khắp cả mười phương, cùng tận hư không pháp giới. Cũng tức là quy y với tất cả pháp trong ba đời, mười phương, cùng tận hư không pháp giới. Cũng chính là đem hết thân tâm tánh mạng quy y với tất cả các bậc Hiền thánh tăng trong ba đời, mười phương, cùng tận hư không pháp giới.

    Hư không, chẳng bao giờ cùng tận. Tất cả các cõi nước đều nằm trong pháp giới này. Có tất cả mười pháp giới, trong đó bốn cõi giới của các bậc Thánh Hiền và sáu cõi giới của chúng sanh phàm phu. Bốn cõi giới của bậc Hiền Thánh là: Phật, Bồ tát, Thanh văn, Duyên giác.

    Sáu cõi giới phàm phu là: Trời, người, A tu la, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục.

    Mười phương là: Bắc, Đông, Nam, Tây, Đông Bắc, Tây Bắc, Đông Nam, Tây Nam, đó là tám. Thêm phương trên và phương dưới tất cả là mười.

    Ba đời là quá khứ, hiện ại, vị lai. Chúng ta quy y với Phật bảo trong suốt khắp mười phương ba đời. Những lời đức Phật dạy được gọi là Pháp bảo. Tam tạng Kinh điển được diễn đạt qua mười hai phần Kinh văn (bộ Kinh). Tất cả Kinh điển do đức Phật nói ra được gọi là Pháp bảo. Pháp bảo không chỉ hiện hữu và lưu hành trong nhân gian mà còn lưu hành khắp cả hư không và pháp giới.

    Khi nào quý vị có được ngũ nhãn, lục thông rồi thì quý vị mới thâm nhập được vào chân Kinh. Có nghĩa là quý vị đọc được “vô tự chân Kinh”. Trong hư không, bất kỳ lúc nào thích, quý vị đều đọc được chân kinh mà không cần hở môi. Lục Tổ đã từng nói:

    “Khi mê Pháp Hoa chuyển
    Khi ngộ chuyển Pháp Hoa”.

    “Vô tự” không có nghĩa là Kinh không có chữ. Mà chính là hàng phàm phu không thấy được chữ. Tuy nhiên, khi quý vị nhìn sâu vào hư không, quý vị có thể thấy được chư Phật đang tụng Kinh. Một số vị đang tụng Kinh Pháp Hoa, một số vị đang tụng Kinh Thủ Lăng Nghiêm và một số vị khác đang tụng Kinh Hoa Nghiêm. Chư Phật đều đang tụng Kinh và trì chú như thần chú Thủ Lăng Nghiêm. Chư Phật luôn luôn hành trì các thời khóa tụng ấy. Nhờ thế nên Pháp bảo được hiện hữu và lưu truyền suốt khắp tận hư không pháp giới.

    Chúng ta cũng quy y Tăng bảo suốt cả ba đời, cùng tận hư không pháp giới. Thành phần nào tạo thành Hiền Thánh Tăng? Chính là các đại Bồ tát, các đại A la hán, các đại Tỳ kheo tăng.

    Đa ra dạ có nghĩa là “tam”: ba. Chúng ta quy y với Tam Bảo trong suốt mười phương, ba đời cùng tận hư không pháp giới.

    Da có nghĩa là “đảnh lễ”. Là quy y và cung kính đảnh lễ trước Tam Bảo.

    77. Nam mô a lị da

    Nam mô. Hán dịch là “quy y”.

    A lị da. Hán dịch là “Thánh giả”, cũng có nghĩa là “Thánh Hiền”. Câu chú này thể hiện sự quy y với tất cả các Hiền Thánh Tăng.

    78. Bà lô kiết đế

    Bà lô kiết đế. Hán dịch là “quán”.

    79. Thước bàn ra dạ

    Thước bàn ra dạ. Hán dịch là “tự tại”. Toàn câu Bà lô kiết đế thước bàn ra da có nghĩa là Quán Tự Tại tức là Bồ Tát Quán Thế Âm.

    80. Ta bà ha

    Bồ tát Quán Tự Tại đã thành tựu tất cả mọi công đức. Ta bà ha có nghĩa là thành tựu công đức vô lượng vô biên.

    81. Án tất điện đô

    Nay phần kinh văn của thần chú đã được tụng rồi. Tiếp theo là phần chân ngôn. Thông thường có chữ Án luôn luôn dẫn đầu cho phần chân ngôn này. Nên chữ Án mang ý nghĩa “dẫn sinh nghĩa”.

    Tất nghĩa là “thành tựu”.
    Điện đô. Hán dịch là “ngã giới” là đạo tràng, lãnh thổ, cương vực của mình đã được kiết giới thành tựu. Phạm vi kiết đại giới là 800 do tuần (yojanas) và trung giới là 600 do tuần. Trong phạm vi đã được kiết giới này, hành giả thường được an lạc và yên tịnh, tất cả mọi công đức đều được thành tựu và bản nguyện đều được như ý.

    Chẳng hạn như khi tôi đã kiết giới đạo tràng trong phạm vi địa hạt San Francisco (Cựu Kim Sơn) thì trong toàn bộ vùng này sẽ không xảy ra động đất hoặc những thiên tai khác. Vì các vị hộ pháp, thiện thần đều phải hộ trì cho nguyện lực của đạo tràng được thành tựu.

    Phạm vi và ý nghĩa kiết giới lớn làm sao! Một hạt vi trần cũng rộng lớn bao la rồi. Vì một hạt vi trần của hành giả là bao hàm vô lượng vi trần vô lượng thế giới, và vô lượng vi trần trong thế giới cũng chỉ hàm ẩn trong một vi trần. Vì vậy, nếu một vi trần hoại diệt thì vô lượng vi trần đều hoại diệt. Một hạt vi trần tồn tại thì vô lượng vi trần cũng tồn tại. Đó là sự vi diệu của sự kiết giới.

    82. Mạn đà ra

    Mạn đà ra. Hán dịch là “đạo tràng”, cũng dịch là “Pháp hội”. Nghĩa là đạo tràng của hành giả nhất định phải thành tựu. Pháp hội của hành giả nhất định phải thành tựu.

    83. Bạt đà da

    Bạt đà da dịch là “Toại tâm viên mãn”. Chẳng hạn như khi tôi muốn một vi trần không hoại thì nó sẽ không hoại. Nếu tôi muốn tất cả các vi trần không bị tan hoại thì các vi trần ấy sẽ kết hợp lại với nhau. Khi tôi niệm Án, tất điện đô mạn đà ra bạt đà da ta bà ha với tâm nguyện sẽ không có nạn động đất xảy ra ở San Francisco (Cựu Kim Sơn), hoặc nếu có nạn động đất lớn thì nạn ấy biến thành nhỏ, nạn nhỏ thì biến thành không có. Nhờ vậy nên không có nạn động đất, không có ai sợ hãi. Thế nên gọi là sự thành tựu. Tùy theo tâm nguyện mà đều được như ý (toại tâm viên mãn). Nếu quý vị có niềm tin chí thành, thì thấy rất là màu nhiệm. Còn nếu quý vị không tin, là vì quý vị chẳng thích thú gì với những điều mầu nhiệm như trên.

    84. Ta bà ha

    Ta bà ha dịch là “thành tựu”. Thành tựu điều gì? Thành tựu mọi thệ nguyện của hành giả. Bất luận quý vị phát tâm nguyện gì, quý vị sẽ đạt được như ý khi niệm Án tất điện đô mạn đà ra bạt đà da ta bà ha.

    Những vị khi làm lễ thế phát xuất gia cũng trì niệm câu chú này. Có nghĩa là ước nguyện việc xuất gia tu học Phật pháp sẽ được như ý thành tựu viên mãn.

    Đến đây thì Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni và chú Đại Bi đã được giảng giải xong. Nay tôi cũng đã giảng hết bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp, đó là phần sau của Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni. Còn phần sau nữa là khoa nghi hành trì, là phương pháp tu hành, nay tôi không nhắc lại nữa.

    Năm trước, một số đệ tử có tâm nguyện được nghe giảng chú Đại Bi. Đến nay quý vị nghe giảng gần một năm. Pháp hội này được xem như thành tựu viên mãn.

    Tôi nguyện rằng quý vị có phát tâm hành trì điều gì cũng được như ý, tất cả đều được Bạt đà da ta bà ha, tức là thành tựu viên mãn tâm nguyện của mình. Mỗi người có sự phát nguyện khác nhau, nên sự thành tựu cũng không đồng, nhưng đều viên mãn cả.

    Nguyện cho tất cả Phật tử có duyên được nghe Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni này đều sớm thành tựu quả vị Phật, vì đây là ước nguyện của những người thâm tín chư Phật.

    Một khi quý vị đã chứng được quả vị Phật tức là mọi việc đều “toại tâm mãn nguyện” rồi.


    Hòa thượng Tuyên Hóa giảng giải

    http://tinhdo.net/luangiaikinhsach/47-giang-giai-chu-dai-bi.html?showa ll=1

  • Lòng Trắc Ẩn

    May 13th 2012, 9:24 pm
  • Chú Ðại Bi Tiêu Trừ Tai Nạn

    Sự lợi ích chân chính thường khó diễn bày.

    Giống như người uống nước,

    lạnh hay nóng chỉ tự mình biết.




    Ngay trong lúc thời tiết nóng bức tột độ mà quý-vị không sợ nóng cũng chẳng sợ đường xa núi cao, tới đây tham gia đả thất thì như vậy có điều gì lợi chăng? Sự lợi ích chân chính thường khó diễn bày. Giống như người uống nước, lạnh hay nóng chỉ tự mình biết. Duy người có tâm chân thật mới lãnh hội được sự diệu kỳ.

    Làm thế nào để thu hoạch được điều lợi ích này? Không gì khác hơn là thành tâm niệm danh hiệu Bồ-tát. Chân tâm tức là chuyên tâm vậy. Cho nên nói: "Chuyên nhất tất linh, phân chi tất tệ." Tức là chuyên nhất thì linh ứng, phân chia thì bế tắc. Khi tâm chuyên nhất, tự nhiên sẽ được cảm ứng đạo giao. Sự cảm ứng đạo giao vốn không thể nghĩ bàn. Tuy nhiên, tự mình phải dụng công mới được, người khác không thể làm thay mình đặng, lại càng không thể cầu may mà được.

    Giống như "nói về chuyện ăn cơm hay đếm tiền giùm kẻ khác." Có kẻ thường hay đề cập đến những thứ dinh dưỡng thế này thế nọ, nhưng tự họ chẳng hề ăn, thì đồ ăn dù có bổ dưỡng cách mấy đi nữa họ cũng không thể tận hưởng được. Cho nên nói:

    Chung nhật sổ tha bảo, tự vô bán tiền phần.

    Y pháp bất tu hành, kỳ quá diệc như thị.

    Nghĩa là:

    Suốt ngày đếm tiền người, tự mình không một xu.

    Học pháp không tu hành, lỗi lầm cũng như vậy.

    Mình niệm Phật cũng thế. Không phải hiểu biết hay bàn luận về công đức niệm Bồ-tát là đủ; phải thật sự niệm đến chỗ nhất tâm bất loạn; thậm chí đến độ nước chảy, gió thổi mà tai mình cũng chỉ nghe tiếng danh hiệu Bồ-tát mà thôi. Cho nên nói:

    Hữu tình, vô tình,

    Ðồng diễn Ma-ha diệu pháp.

    Nghĩa là:

    Loài hữu tình hay vô tình,

    Ðều nói diệu pháp đại thừa.

    Nếu mình không thể niệm tới chỗ nhất tâm bất loạn thì gió có thổi vi-vu, nước có chảy róc-rách, mình cũng chẳng tài nào cảm nhận được sự kỳ diệu của nó. Cho nên mình phải thành tâm niệm và đừng để vọng tưởng lôi kéo thì mới gặt được lợi ích của Pháp.

    Khi đả thất, quý-vị phải tôn trọng qui củ của thất. Bởi vì "Vô qui củ bất năng thành phương viên." Tức là không có qui củ thì không thành phương viên. Qui củ của Tây Lạc Viên là không nói năng ồn ào để tránh làm chướng ngại kẻ khác tu hành.

    Trong thời gian bảy ngày này, chúng ta còn niệm thêm Chú Ðại-bi. Công đức của Chú Ðại-bi rất khó nghĩ bàn. Nếu người không có thiện căn, thì họ khó nghe đặng ba chữ "Chú Ðại-bi." Bây gìờ đại chúng không những đã được nghe mà lại còn thọ trì đọc tụng, đủ biết quý-vị có đầy đủ thiện căn rồi. Nếu đã có thiện căn, quý-vị không nên coi thường và đừng để kiếp sống này trôi qua một cách lãng phí.

    Tôi còn nhớ khi Chùa Tây Lạc Viên đả thất lần đầu tiên, trong mười vị cư sĩ thì tám, chín vị chẳng thể niệm được Chú Ðại-bi. Nhưng nay, mười người thì có đến tám người có thể niệm được. Ðây chứng tỏ rằng sự tiến bộ của các vị cư sĩ. Tôi kể cho quý-vị nghe một câu chuyện để chứng minh về công đức của Chú Ðại-bi.

    Ở Mãn-châu có một vị tài chủ, tậu rất nhiều điền sản. Vào một mùa thu, vị tài chủ này tự mình đi theo bốn, năm xe hàng chở đầy cao lương xuống phố để bán. Bởi vì từ nông thôn đến thành thị cách hơn 150 dặm, nên một giờ sáng y đã khởi hành. Chẳng may đi được nửa đường thì gặp cướp. Thấy thế y lập tức niệm Chú Ðại-bi. Lạ thay! Bọn thổ phỉ bổng như đui mù không nhìn thấy xe của y, nên y an toàn qua khỏi nguy hiểm. Ðó là một trong những sự linh cảm của Chú Ðại-bi mà chính tôi chứng kiến.

    Kinh Ðại Bi Tâm Ðà-la-ni dạy rằng: "Kẻ tụng trì chú Ðại-bi có thể tiêu trừ tai nạn: Lửa không thiêu được, nước chẳng dìm đặng." Bởi thế, tôi khuyên các vị mỗi ngày trì tụng tối thiểu ba lần. Nếu vị nào chưa biết niệm thì mau mà học. Công đức trì tụng Chú Ðại-bi không những có thể đẩy lui trộm cướp, mà còn tiêu trừ trăm bịnh, thoát khỏi sự quấy rối của chư ma. Cho nên các vị nên thành tâm tụng trì.

    Hôm nay là ngày bắt đầu đả thất, bầu không khí của pháp hội rất phấn khởi và nghiêm trang. Tôi hy vọng các vị nổ lực, ra công tinh tấn.

    Giảng trưa ngày 13 tháng 6 năm 1958

    tại Tây Lạc Viên, Hồng Kông

    Trích trong Khai thi 1 ( Hoà thượng Tuyên Hoá giảng )


    http://www.dharmasite.net/khaithi1.htm

  • Lòng Trắc Ẩn

    May 15th 2012, 8:26 pm
  • Thần Chú Ðại Bi, Nhiệm Mầu Không Thể Nghĩ Bàn



    Hôm nay bắt đầu vào thất Ðại Bi. Buổi tối sau lễ sái tịnh sẽ tụng Ðại Bi Thần Chú. Trong quá khứ, số chư Phật nói chú này nhiều bằng chín mươi chín ức số cát sông Hằng và Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát vì thương hết thảy mọi loài chúng sanh, nên phát tâm đại bi, cưỡi thuyền từ bi trở về cõi Ta-bà để cứu độ tất cả chúng sanh ra khỏi cảnh khổ ách. Có câu: "Bể khổ không bờ, quay đầu là bến," chỉ cần chúng ta kiền thành trì tụng Ðại-bi Chú ắt sẽ thấy ứng nghiệm, không thể nghĩ bàn.

    Trước đây trong vô lượng kiếp, Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát được Thiên Quang Vương Tĩnh Trú Như-lai diễn pháp Ðại-bi Thần Chú cho nghe, lấy bàn tay sắc vàng xoa đầu, khiến Ngài, khi nghe xong liền chứng được quả vị Bồ-tát bậc Bát-địa. Ngài liền sanh tâm đại hoan hỷ rồi lập tức phát nguyện lớn như sau: "Nếu tôi có thể làm lợi ích hết thảy chúng sanh, thì xin cho tôi có ngay ngàn tay và ngàn mắt." Phát nguyện xong, hốt nhiên trái đất chấn động, hào quang phát ra từ chư Phật mười phương chiếu sáng thân Ngài, rồi ngàn tay và ngàn mắt tức khắc trang nghiêm thân tướng của Ngài. Tay thì có thể nâng đỡ, mắt thì có khả năng chiếu soi. Ngàn tay và ngàn mắt tượng trưng cho vô số thần thông và trí huệ.

    Ý nghĩa của đại bi: Căn cứ câu: "Bi năng bạt khổ," bất cứ ai gặp phải mọi cảnh khổ nạn, nếu thành tâm tụng Chú Ðại-bi đều có thể được bình an, chuyển hung thành cát. Ngài Quán Thế Âm bạch Phật rằng: "Nếu như chúng sanh trì tụng Ðại-bi Chú mà không được mãn nguyện, thì xin thề không thành chánh giác, trừ phi nguyện ước của họ bất thiện hay không thành tâm trì tụng."

    Trì tụng Ðại-bi Chú không những được tự tại, mà các điều cầu mong còn được thành tựu; có thể tránh được khổ ách tai nạn và được vui sướng an lạc; vượt qua mọi hiểm nghèo, tới chỗ bình an vô sự. Làm sao có thể xa lìa khổ ách? Phải tụng Ðại-bi Chú. Làm sao thoát khỏi hiểm nghèo? Phải trì tụng Ðại-bi Chú. Chớ có coi Ðại-bi Chú là tầm thường hay đơn giản. Tôi xin nói với quý vị rằng nếu quả trong đời quá khứ và hiện tại quý vị không có căn duyên tốt lành thì ngay đến cả cái tên của Chú Ðại-bi cũng chưa được nghe, đừng nói tới việc trì tụng. Nay không những quý vị được nghe biết tên của Chú lại còn được trì tụng Chú với một lòng chí thành như vậy, thật là một cơ hội trăm ngàn vạn kiếp mới có một lần, rồi lại được thiện tri thức chỉ dẫn, cách thức đọc tụng, thọ trì, tu trì nữa. Thật đáng cho quý vị coi trọng! Tóm lại, Ðại-bi Chú có những lợi ích không thể nghĩ hết được.

    Trong thời gian bẩy ngày này, chúng ta nên thành tâm thành ý, rất mực cung cung kính kính trì tụng Chú Ðại-bi, tụng cho tới độ tâm không vọng tưởng. Lúc đó, lòng lắng trong, hoặc giả có người thấy hào quang, có người thấy hoa xuất hiện, có người được Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát rờ đầu, giúp cho khai mở trí huệ. Hoặc giả có khi ngửi thấy mùi hương lạ, cũng có người dù đã tha thiết chí thành trì tụng, nhưng cũng chẳng thấy một hiện tượng gì khác lạ. Dầu có hay không cũng chớ có nản lòng, cứ hết sức dốc một lòng trì tụng. Khi nào thời khắc tới, sẽ nhất định chứng kiến cảnh giới "cảm ứng đạo giao," xuất hiện ngay trước mắt.

    Bất luận thấy cảnh giới nào, hay chẳng thấy gì hết, việc chánh vẫn là tinh tấn trì tụng. Kẻ thấy điềm lành chẳng nên chấp vào tướng lành đó. Kẻ không thấy điềm gì cũng đừng sanh lòng tự ti mà tự bảo rằng: "A ! Vậy là ta chẳng có thiện căn, sao ta chẳng thấy Bồ-tát?" Thiện căn có khi sớm kết thành quả, có khi thì muộn. Nếu như có cảm giác thiện căn của mình chưa đến lúc thành thục, thì ta phải tiếp tục bồi đắp, làm thêm nhiều công đức nữa mới được. Người ta nói: "Chưa trồng căn lành, phải trồng căn lành; đã trồng căn lành, khiến nó tăng trưởng; đã tăng trưởng rồi, khiến nó thành thục; đã thành thục rồi, khiến tới giải thoát."

    Quý vị lần đầu tới Kim Sơn Thánh Tự, nghiên cứu Phật pháp, tu tập Phật pháp, phải dốc lòng thành học tập, không ngại khổ, không ngại khó. Ở đây trong vòng bảy ngày, nên dũng mãnh tinh tấn, xa lìa vọng tưởng. Nếu lại vừa học tập, vừa nghĩ ngợi lung tung, công phu không thể chuyên nhất được. Tâm không chuyên nhất thì khó lòng sanh cảm ứng. Ðó là một điều, quý vị phải đặc biệt chú ý!

    Những lợi ích của công phu trì tụng Ðại-bi Chú, nói ra không thể hết được. Phàm ai đã trì tụng Ðại-bi Chú thì tuyệt đối chẳng bị đọa vào ba đường ác. Nếu bị đọa vào các đường ác đó thì Ngài Quán Thế Âm nguyện chẳng bao giờ thành Phật. Phàm ai ngu si mà trì tụng Ðại-bi Chú, nếu chẳng biến thành kẻ trí huệ, Ngài Quán Thế Âm cũng nguyện chẳng thành Phật. Thần Chú Ðại-bi lại có thể trị tám vạn bốn ngàn loại tật bệnh của thế gian. Ai bị bệnh nan y, cho đến các y sĩ, Tây y hay Ðông y phải bó tay, nhưng nếu thành tâm trì tụng Ðại-bi Chú cũng nhất định chẳng uống thuốc mà được khỏi bệnh. Thần hiệu của Ðại-bi Chú thật không thể nghĩ bàn!

    Tại Kim Sơn Thánh Tự có người đã từng được sự ứng nghiệm như vậy. Chữa trị chứng ung thư chẳng phải là chuyện dễ dàng, vậy mà trì tụng Ðại-bi Chú khiến cho bệnh tiêu tan. Thần lực của Chú Ðại-bi thật mầu nhiệm không thể nghĩ bàn. Chỉ cần xem công phu của quý vị trong bảy ngày ra sao, ai thành tâm, người đó sẽ thấy ứng nghiệm, được lợi ích. Ai có bệnh, bệnh sẽ lui. Ai không bệnh, thì trí huệ được khai mở. Cầu chuyện gì được chuyện đó, cho nên Ðại-bi Chú gọi là bất khả tư nghì quảng đại linh cảm, vô ngại đại bi tâm đà-la-ni. Chữ đà-la-ni (Dharani) dịch nghĩa là tổng trì, tổng nhất thiết pháp, trì vô lượng nghĩa, cũng gọi là chú, hoặc gọi là chân ngôn. Tóm lại đó là những chữ mật.

    Mật chú gồm có bốn ý nghĩa sau:

    Trong bài chú có tên vua các loài quỷ thần, nên phàm tiểu quỷ nghe đến tên này thì không dám làm bậy và phải tôn trọng phép tắc,

    Chú được coi như khẩu lệnh trong quân đội, nếu vi phạm ắt sẽ bị trừng trị,

    Chú có thể âm thầm tiêu trừ nghiệp tội mà chính mình không hay biết,

    Chú là ngôn ngữ bí mật của chư Phật, chỉ có chư Phật mới hiểu được mà thôi.

    Quý vị lần này tới tham dự pháp hội Ðại-bi, đều có sẵn căn lành cả, đức hạnh đầy đủ lại được nhân duyên thành thục nên mới tới Chùa Kim Sơn Tự. Hy vọng rằng một khi đã vào tới "bảo sơn" rồi thì không đến nỗi tay không trở về, tất phải được bảo vật để dùng cho mình. Bảo vật gì? Chính là Chú Ðại-bi. Ðại-bi Chú có thể trị bệnh, có thể hàng phục loài ma, có thể khai mở trí huệ, có thể mang lại sự bình an, hay nói cách khác, cầu việc gì được việc ấy, nhất định toại lòng xứng ý.

    Kỳ pháp hội Ðại-bi này còn đặc biệt hơn nữa là tại Trung-quốc rất hiếm có khóa tụng Ðại-bi có tính cách kỷ lục, kéo dài cả bẩy ngày luôn như vậy. Tại các nước khác người ta có niệm Chú Ðại-bi trong bẩy ngày không, điều này tôi không biết, nhưng tại Mỹ, tôi nghĩ rằng đây là lần đầu tiên. Mong tất cả quý vị hết sức chân thành trì tụng Ðại-bi Chú, công đức vô lượng!

    Hoà thượng Tuyên Hoá giảng ngày 9 tháng 4 năm 1976, tại Kim Sơn Thánh Tự

    Trích trong Khai thị 4 http://www.dharmasite.net/khaithi4.htm

  • Lòng Trắc Ẩn

    March 14th 2016, 1:13 am
  • Đại Bi Kệ

    Hòa Thượng Tuyên Hóa




    [1]

    Nam mô hắc ra đát na, đa ra dạ da




    慈觀悲觀喜捨觀

    普度眾生化大千

    有緣無緣同攝受

    離苦得樂返本源



    Phiên âm:



    Từ quán bi quán hỉ xả quán

    Phổ độ chúng sanh hóa đại thiên

    Hữu duyên vô duyên đồng nhiếp thụ

    Li khổ đắc lạc phản bổn nguyên.



    Phiên dịch:

    Quán tâm từ, tâm bi, tâm hỷ, xả

    Vì chúng sinh biến hóa chuyển đại thiên

    Cứu muôn người không chỉ kẻ hữu duyên

    Về nguồn cội, lòng an vui thoát khổ.



    [2]

    Nam mô a rị da




    身口意輪大總持

    萬朵蓮華正開時

    白青紅紫光遍照

    有緣佛子赴聖席



    Phiên âm:

    Thân khẩu ý luân đại tổng trì

    Vạn đóa liên hoa chánh khai thì

    Bạch thanh hồng tử quang biến chiếu

    Hữu duyên Phật tử phó thánh tịch



    Phiên dịch:

    Thân khẩu ý thay nhau cùng gìn giữ

    Muôn đóa sen mở cánh đúng thời gian

    Sắc trắng, xanh, hồng, tím rạng hào quang

    Người con Phật thuận duyên vào đất Phật.



    [3]

    Bà lô yết đế thước bát ra da




    婆盧羯帝爍缽囉耶

    持缽觀音救世間

    應病與藥潤三千

    拜禮虔誠護感召

    一切所求滿心願



    Phiên âm:

    trì bát quán âm cứu thế gian

    ứng bệnh dữ dược nhuận tam thiên

    bái lễ kiền thành hộ cảm triệu

    nhất thiết sở cầu mãn tâm nguyện



    Phiên dịch:

    Tay trì bát cứu thế gian u uẩn

    Ban thuốc thần trị bệnh khắp tam thiên

    Tâm vững bền khiến cảm ứng tự nhiên

    Bao ao ước mong cầu nay như ý.



    [4]

    Bồ đề tát đỏa bà da




    菩提薩埵婆耶

    覺諸有情種聖因

    道證無為契真心

    自他兼利功成就

    同入般若解脫門



    Phiên âm:

    giác chư hữu tình chủng thánh nhân

    đạo chứng vô vi khế chân tâm

    tự tha kiêm lợi công thành tựu

    đồng nhập bát nhã giải thoát môn



    Phiên dịch:

    Hạt giống thánh người trí kia gieo cấy

    Chứng vô vi đạo khế hợp chân tâm

    Giúp người, cứu mình, lợi ích thành công

    Vào bát nhã đồng pháp môn giải thoát



    [5]

    Ma ha tát đỏa bà da




    摩訶薩埵婆耶

    絹 索 妙 用 不 思 議

    菩 薩 持 此 度 群 迷

    誦 咒 作 觀 三 摩 地

    即 身 成 佛 未 足 奇



    Phiên âm:

    quyên sách diệu dụng bất tư nghị

    bồ tát trì thử độ quần mê

    tụng chú tác quán tam ma địa

    tức thân thành phật vị túc kì



    Phiên dịch:

    Dây trói tà diệu kỳ không lường được

    Cứu độ người mê Bồ tát tu trì

    Quán, tụng chú thần nhập tam ma đề

    Thân trước mắt thành Phật thân chẳng lạ



    [6]

    Ma ha ca lô ni ca da




    摩 訶 迦 盧 尼 迦 耶

    馬 鳴 大 士 化 娑 婆

    拔 苦 與 樂 瘉 沈 痾

    起 死 回 生 施 甘 露

    跋 折 羅 手 蕩 妖 魔



    Phiên âm:

    Mã Minh đại sĩ hóa sa bà

    bạt khổ dữ lạc dũ trầm kha

    khởi tử hồi sanh thi cam lộ

    bạt chiết la thủ đãng yêu ma



    Phiên dịch:

    Chốn sa bà ngài Mã Minh giáo hóa

    Ban an vui trừ bệnh khổ oan ương

    Bước ra từ cõi chết, ngọt dòng sương

    Đuổi yêu quái, bạt chiết la thủ nhãn.



    [7]

    Án




    無 始 無 終 無 古 今

    虛 空 法 界 一 口 吞

    自 性 寂 然 非 內 外

    如 是 如 是 如 是 因



    Phiên âm:

    vô thủy vô chung vô cổ kim

    hư không pháp giới nhất khẩu thôn

    tự tính tịch nhiên phi nội ngoại

    như thị như thị như thị nhân



    Phiên dịch:

    Không đâu là xưa, nay, đầu, cuối

    Một ngụm này, nuốt pháp giới hư không

    Tự tính rỗng rang lặng lẽ, chẳng ngoài trong

    Là như vậy! Thực tướng nhân là vậy.

  • Lòng Trắc Ẩn

    March 14th 2016, 1:14 am
  • [8]

    tát bàn ra phạt duệ



    護 世 四 王 日 夜 忙 

    賞 善 罰 惡 眾 魔 降 

    菩 薩 化 現 伏 群 怪 

    龍 盤 虎 臥 禮 法 皇



    Phiên âm:

    hộ thế tứ vương nhật dạ mang 

      thưởng thiện phạt ác chúng ma hàng 

      bồ tát hóa hiện phục quần quái 

      long bàn hổ ngọa lễ pháp hoàng



    Phiên dịch:

    Bốn vua trời ngày đêm lo thế giới

    Hàng chúng ma, phạt ác, thưởng người hiền

    Trừ quái yêu, Bồ tát ứng hiện thân

    Đảnh lễ Phật, rồng cuộn mình, cọp nép.



    [9]

    số đát na đát tã



    天兵天將猛無敵

    天魔落膽不足奇

    改過遷善貧者富

    得生極樂眾苦離



    Phiên âm:

    thiên binh thiên tướng mãnh vô địch 

      thiên ma lạc đảm bất túc kì 

      cải quá thiên thiện bần giả phú 

      đắc sanh cực lạc chúng khổ li 



    Phiên dịch:

    Binh tướng cõi trời uy phong lừng lẫy

    Ma cõi trời khiếp vía, lạ gì ư!

    Sửa lầm, hướng thiện, thiếu đổi thành dư

    Về Cực Lạc, chúng sinh thôi hết khổ.



    [10]

    Nam mô tất kiết lật đỏa y mông, a rị da



    有感斯通難思議

    無求不應三昧力

    龍樹尊者伏魔冤

    行人莫患得菩提



    Phiên âm:

    hữu cảm tư thông nan tư nghị 

    vô cầu bất ứng tam muội lực 

    long thụ tôn giả phục ma oan 

     hành nhân mạc hoạn đắc bồ đề



    Phiên dịch: 

    Mối đạo giao này, mấy ai thấu rõ

    Định lực kia, cảm ứng hẳn song đôi

    Long Thọ Bồ tát hàng phục oán ma

    Người tu đạo thoát nạn tai, chứng đạo.



    [11]

    bà lô kiết đế, thất phật ra lăng đà bà



    圓滿報身舍那佛

    護持行人自在多

    十方世界聞聲度

    離垢出塵法摩訶



    Phiên âm:

    Viên mãn báo thân xá na phật 

      Hộ trì hành nhân tự tại đa 

      Thập phương thế giới văn thanh độ 

      Li cấu xuất trần pháp ma ha



    Phiên dịch:

    Tỳ Lư Xá Na báo thân viên mãn

    Giúp người tu thoát phiền não buộc ràng

    Nghe âm thanh cứu độ khắp mười phương

    Vượt thế tục pháp đại thừa bất nhiễm.



    [12]

    Nam mô na ra cẩn trì



    清淨法身遮那佛

    廣度眾生化娑婆

    成就金剛堅固體

    同登彼岸蜜波羅



    Phiên âm:

    Thanh tịnh pháp thân giá na Phật 

    Quảng độ chúng sanh hóa sa bà 

      Thành tựu kim cương kiên cố thể 

     Đồng đăng bỉ ngạn mật ba la 

     

    Phiên dịch: 

    Tỳ Lô Giá Na pháp thân thanh tịnh

    Giáo hóa cõi trần vô số chúng sanh

    Thể tánh kim cương kiên cố tựu thành

    Ba la mật, vượt qua bờ sinh tử.



    [13]

    hê rị ma ha bàn đa sa mế



    慈 能 與 樂 悲 拔 苦 

    普 化 群 生 成 佛 祖 

    羊 頭 神 王 護 行 人 

    虎 狼 惡 獸 皆 無 阻



    Phiên âm:

    Từ năng dữ lạc bi bạt khổ 

    Phổ hóa quần sanh thành Phật tổ 

      Dương đầu thần vương hộ hành nhân 

    Hổ lang ác thú giai vô trở



    Phiên dịch
    :

    Đức từ ban vui, đức bi cứu khổ

    Trở thành Phật, Tổ, dạy khắp hằng muôn

    Vua thần đầu dê giúp đỡ người tu

    Cọp, sói dữ hung không làm ngăn trở. 



    [14]

    tát bà a tha đậu du bằng



    甘露灌頂獲清涼

    普救群萌得安康

    六道四生成利樂

    慈悲喜捨助法王



    Phiên âm:

    cam lộ quán đính hoạch thanh lương 

      phổ cứu quần manh đắc an khang 

      lục đạo tứ sanh thành lợi nhạc 

      từ bi hỉ xả trợ pháp vương 



    Phiên dịch:

    Giọt cam lộ rưới đảnh đầu tươi mát

    Cứu giúp chúng sinh yên tĩnh, an lành

    Sáu cõi, bốn đường thuận tử, lợi sanh

    Hộ trì Phật, pháp, từ bi hỉ xả.

  • Lòng Trắc Ẩn

    March 14th 2016, 1:15 am
  • [15]

    a thệ dựng



    夜叉天王披虎皮

    賞善罰惡拯危急

    巡行四方記功過

    主持公道平等齊



    Phiên âm:

    Dạ xoa thiên vương phi hổ bì

    Thưởng thiện phạt ác chửng nguy cấp  

     Tuần hành tứ phương kí công quá 

    Chủ trì công đạo bình đẳng tề



    Phiên dịch:

     Khoác tướng cọp, vua nước trời cõi quĩ

    Thưởng người hiền, răn kẻ ác cứu nguy

      Xem xét bốn phương, công, tội, chép ghi

    Giữ giềng mối công bình và chính trực.



    [16]

    Tát bà tát đa na ma bà tát đa. Na ma bà già



    觀 音 化 現 神 王 身 

    千 手 法 寶 妙 難 窮 

    蛇 髻 黑 面 伏 妖 怪 

    正 法 久 住 願 弘 深



    Phiên âm:

    Quán Âm hóa hiện thần vương thân 

    Thiên thủ pháp bảo diệu nan cùng 

    Xà kết hắc diện phục yêu quái 

      Chánh pháp cửu trụ nguyện hoằng thâm



    Phiên dịch:

    Chọn tướng vua thần, Quán Âm hóa hiện

    Nghìn cánh tay linh diệu chẳng tận cùng

    Mặt đen xì, rắn quấn tóc, hàng ma

    Lập đại nguyện giữ dài lâu chánh pháp.



    [17]

    Ma phạt đặc đậu



    善 人 歡 喜 惡 人 怖 

    憂 苦 遠 離 萬 病 瘳 

    佛 眼 觀 察 遍 法 界 

    金 輪 摧 滅 一 切 魔



    Phiên âm:

    Thiện nhân hoan hỉ ác nhân bố 

     Ưu khổ viễn li vạn bệnh sưu 

      Phật nhãn quán sát biến pháp giới 

      Kim luân tồi diệt nhất thiết ma



    Phiên dịch:

    Người hiền an vui, hãi kinh kẻ ác

    Lòng lo âu, tật bệnh đã xa rời

    Mắt Phật dõi trông tường tận nơi nơi

    Hàng yêu mị, vòng kim luân phá vỡ.



    [18]

    đát điệt tha



    出廣長舌遍三千

    觀音示現化男女

    應供殺賊阿羅漢

    自利利他覺行圓



    Phiên âm:

    Xuất quảng trường thiệt biến tam thiên 

      Quán Âm thị hiện hóa nam nữ 

     Ứng cúng sát tặc A la hán 

      Tự lợi lợi tha giác hạnh viên 



    Phiên dịch:

    Tướng lưỡi rộng dài ba ngàn thế giới

    Quán Âm thị hiện dạy dỗ gái trai

    Tứ quả, cúng dường, đoạn cái thấy lầm sai

    Ích người, lợi mình, vẹn toàn đạo hạnh.



    [19]

    Án, A Bà Lô Hê



    鬼神恭敬聽梵音

    三目洞悉眾生心

    一切求願皆成就

    萬行同入般若門



    Phiên âm:

    Quỷ thần cung kính thính phạm âm 

    Tam mục đỗng tất chúng sanh tâm 

     Nhất thiết cầu nguyện giai thành tựu 

      Vạn hành đồng nhập bát nhã môn



    Phiên dịch:

    Vi diệu âm thanh, quỷ thần cung thỉnh

    Ba mắt nầy thấy suốt chúng sanh tâm 

    Có khẩn cầu, có đáp ứng chẳng sai

    Pháp bát nhã, muôn ngã đường về một.





    [20]

    Lô Ca Đế



    大梵天王率神兵

    十方菩薩同現身

    度脫眾生出苦海

    速登彼岸寂滅城



    Phiên âm:

    Đại phạm thiên vương suất thần binh 

      Thập phương bồ tát đồng hiện thân 

     Độ thoát chúng sanh xuất khổ hải 

      Tốc đăng bỉ ngạn tịch diệt thành 



    Phiên dịch:

    Binh tướng thần Đại Phạm Thiên Vương điều khiển

    Hiện toàn thân chư Bồ tát mười phương

    Cứu chúng sinh vượt thoát bể trầm luân

    Bờ giải thoát bước liền sang cõi tịnh.





    [21]

    Ca Ra Đế



    黑色帝神顯威風

    東西南北任縱橫

    發聾振聵慈悲主

    日夜不休救眾生



    Phiên âm:

    Hắc sắc đế thần hiển uy phong

    Đông tây nam bắc nhậm túng hoành 

    Phát lung chấn hội từ bi chủ 

    Nhật dạ bất hưu cứu chúng sanh 



    Phiên dịch:

    Thần mặt đen tuớng uy nghiêm, hùng dũng

    Ngang dọc vẫy vùng Nam Bắc Đông Tây

    Luôn từ bi giúp kẻ điếc được nghe

    Cứu chúng sinh ngày đêm không ngừng nghỉ

  • Lòng Trắc Ẩn

    March 14th 2016, 1:16 am
  • [22]

    Di Hê Rị



    三十三天眾神兵

    靈文密語令奉行

    賞善罰惡護正教

    世界咸安慶昇平



    Phiên âm:

    Tam thập tam thiên chúng thần binh

    Linh văn mật ngữ lệnh phụng hành

    Thưởng thiện phạt ác hộ chánh giáo

    Thế giới hàm an khánh thăng bình



    Phiên dịch:

    Ba mươi ba cõi trời binh hùng tướng mạnh

    Vâng chiếu lệnh truyền mật ngữ linh văn

    Răn ác, thưởng hiền, gìn giữ chánh tông

    Thiên hạ thái hòa, an bình, đức hạnh.



    [23]

    Ma Ha Bồ Đề Tát Đỏa



    堅實真心求皆應

    廣大靈感無不通

    慈悲普度波羅蜜

    降伏諸魔正法興



    Phiên âm:

    Kiên thật chân tâm cầu giai ứng

    Quảng đại linh cảm vô bất thông

    Từ bi phổ độ ba la mật 

    Hàng phục chư ma chánh pháp hưng 



    Phiên dịch:

    Lòng chân thực vững bền cầu tất ứng

    Mối thiêng liêng giao tiếp chẳng ngại ngăn

    Lượng từ bi vượt thoát cõi tử sinh

    Hàng tà mị, phục hưng nguồn chánh tạng.



    [24]

    Tát Bà Tát Bà



    香積菩薩大威神

    青黃赤白黑鬼兵

    服勞執役聽教化

    感應道交救群生



    Phiên âm:

    Hương Tích bồ tát đại uy thần 

    Thanh hoàng xích bạch hắc quỷ binh

    Phục lao chấp dịch thính giáo hóa

    Cảm ứng đạo giao cứu quần sanh



    Phiên dịch:

    Uy lực như thần, Hương Tích Bồ tát

    Quỷ làm binh, đỏ, trắng, vàng, xanh,

    Nhận chịu khiến sai cầu học kệ kinh

    Cứu người, vật đạo tâm hằng giao cảm.



    [25]

    Ma Ra Ma Ra



    互相勉勵互精進

    同修善法續心印

    他日成就菩提果

    龍華會上慶歡欣



    Phiên âm:

    Hỗ tương miễn lệ hỗ tinh tiến 

    Đồng tu thiện pháp tục tâm ấn 

    Tha nhật thành tựu bồ đề quả 

    Long Hoa hội thượng khánh hoan hân



    Phiên dịch:

    Lại khuyến nhủ lẫn nhau cùng tinh tấn

    Dấu ấn chân tâm cầu được kế thừa

    Có một ngày thành tựu quả Phật thừa

    Long Hoa hội lòng an vui hớn hỡ.



    [26]

    Ma Hê Ma Hê Rị Đà Dựng



    應機示現無量身

    大小權實顯威神

    金剛不壞常自在

    天眼遙觀天耳聞



    Phiên âm:

    Ứng cơ thị hiện vô lượng thân 

     Đại tiểu quyền thật hiển uy thần 

      Kim cương bất hoại thường tự tại 

      Thiên nhãn diêu quán thiên nhĩ văn



    Phiên dịch:

    Do cảm ứng thân thân cùng thị hiện

    Đạo biến, thường, lớn, nhỏ, lộ uy nghiêm

    Như kim cang kiên cố thuận theo duyên

    Mắt trời rộng, tai trời nghe thấu suốt.

     

    [27]

    Câu Lô Câu Lô Yết Mông



    空身空心空世界

    天大將軍領天兵

    巡遊諸方察善惡

    功賞過罰無錯分



    Phiên âm:

    Không thân không tâm không thế giới 

      Thiên đại tướng quân lĩnh thiên binh 

      Tuần du chư phương sát thiện ác 

      Công thưởng quá phạt vô thác phân



    Phiên dịch: 

    Không mê chấp thân, tâm và thế giới

    Thiên đại tướng quân thống lĩnh binh trời

    Thiện ác, lại qua xem xét khắp nơi

    Công thưởng, tội trừng, không thiên chẳng vị.



    [28]

    Độ Lô Độ Lô Phạt Xà Da Đế



    蠻兵勇猛戰無敵

    孔雀雄威鎮群魑

    菩薩號令巡天下

    護善除惡度眾迷



    Phiên âm:

    Man binh dũng mãnh chiến vô địch 

      Khổng tước hùng uy trấn quần si 

      Bồ tát hào lệnh tuần thiên hạ 

      Hộ thiện trừ ác độ chúng mê



    Phiên dịch:

    Binh dũng mãnh giao tranh khó ai đối địch

    Chim công oai hùng trấn áp yêu tinh

    Lệnh Bồ Tát truyền xem xét dưới trên

    Giữ điều thiện, giúp kẻ mê trừ ác.

  • Lòng Trắc Ẩn

    March 14th 2016, 1:16 am
  • [29]

    Ma Ha Phạt Xà Da Đế



    大苦大樂大慈悲

    修諸善法力無畏

    寶杵降魔護行者

    三災八難一時摧



    Phiên âm:

    Đại khổ đại nhạc đại từ bi 

      Tu chư thiện pháp lực vô úy 

      Bảo xử hàng ma hộ hành giả 

      Tam tai bát nạn nhất thì tồi

     

    Phiên dịch:

    Giữ đại từ bi dù gian truân hay an lạc

    Thiện pháp hành trì khiến chẳng hãi chẳng kinh

    Hàng phục ma, chày báu giúp người tu

    Tám nạn, ba tai một lần bẻ gãy.



    [30]

    Đà Ra Đà Ra



    現大丈夫身奇特

    法相莊嚴離諸過

    以德感人心誠服

    望之儼然即溫和



    Phiên âm:

    Hiện đại trượng phu thân kì đặc 

      Pháp tướng trang nghiêm li chư quá 

      Dĩ đức cảm nhân tâm thành phục 

      Vọng chi nghiễm nhiên tức ôn hòa



    Phiên dịch:

    Hiện thân nam vẻ hiên ngang, khác lạ

    Dáng trang nghiêm tinh vẹn chẳng lỗi lầm

    Khiến người người mến đức muốn theo chân

    Ngoài nghiêm nghị, bên trong tâm hòa nhã.



    [31]

    Địa Rị Ni



    師子王兵驗誦讀

    千遍萬遍無量數

    多多益善功圓滿

    成就菩薩勝果殊



    Phiên âm:

    Sư tử vương binh nghiệm tụng độc 

      Thiên biến vạn biến vô lượng sổ 

     Đa đa ích thiện công viên mãn 

      Thành tựu bồ tát thắng quả thù



    Phiên dịch:

    Sư tử vương binh hùng gẫm suy, tụng đọc

    Hàng nghìn muôn vô số, vô lượng lần

    Thiện nghiệp tròn đầy, lợi ích toại lòng

    Đắc thánh quả Bồ tát thừa thù thắng.



    [32]

    Thất Phật Ra Da 



    降伏諸魔正法興

    霹 靂 閃 電 鬼 神 驚

    宇宙澄清妖氛息

    慧日高照慶和平 



    Phiên âm:

    Hàng phục chư ma chánh pháp hưng 

      Tích lịch thiểm điện quỷ thần kinh 

      Vũ trụ trừng thanh yêu phân tức 

      Tuệ nhật cao chiếu khánh hòa bình



    Phiên dịch:

    Hàng phục ma chánh pháp càng hưng thịnh

    Sấm chớp xé trời quỷ hoảng thần kinh

    Vũ trụ sạch trong, yêu khí tan tành

    Mặt trời tuệ tỏa ngời an thế giới.



    [33]

    Dá Ra Dá Ra



    怒目揚眉攝邪魔

    威德無邊護諸佛

    一切眾生得安樂

    菩薩事畢笑哈哈



    Phiên âm:

    Nộ mục dương mi nhiếp tà ma 

      Uy đức vô biên hộ chư Phật 

      Nhất thiết chúng sanh đắc an lạc 

      Bồ tát sự tất tiếu ha ha 



    Phiên dịch:

    Trừng mắt, nhíu mày chỉnh tà, đốn quỷ

    Uy đức vô biên bảo hộ Như Lai

    An lạc thân tâm muôn chủng vạn loài

    Việc hoàn tất Bồ tát cười vui vẻ.



    [34]

    Mạ Mạ Phạt Ma Ra



    折服魔外現神威

    大慈救世法王魁

    平等普濟波羅蜜

    有緣眾生獲揭諦



    Phiên âm:

    Chiết phục ma ngoại hiện thần uy 

     Đại từ cứu thế pháp vương khôi 

      Bình đẳng phổ tế ba la mật 

      Hữu duyên chúng sanh hoạch yết đế 



    Phiên dịch:

    Trừ tà ma hiện uy thần nhiếp phục

    Đấng pháp vương cứu thế bậc đại từ

    Cứu vớt muôn loài vượt thoát tử sinh

    Gieo duyên Phật thì quy về đất Phật.



    [35]

    Mục Đế Lệ



    閉目澄心誦真言

    一念不生妙通玄

    三昧加持智光現

    諸佛稱讚善女男



    Phiên âm:

    Bế mục trừng tâm tụng chân ngôn 

     Nhất niệm bất sanh diệu thông huyền 

      Tam muội gia trì trí quang hiện 

      Chư Phật xưng tán thiện nữ nam

     

    Phiên dịch:

    Tụng đọc chú thần lắng tâm, nhắm mắt

    Thông suốt cơ huyền một niệm chẳng sinh

    Tam muội gia trì trí tuệ quang minh

    Chư Phật ngợi khen thiện nam thiện nữ.

  • Lòng Trắc Ẩn

    March 14th 2016, 1:17 am


  • [36]

    Y Hê Di Hê 



    摩 醯 首 羅 猛 又 凶 

    賞 善 罰 惡 建 奇 功 

    普 度 群 迷 登 彼 岸 

    化 利 有 情 無 始 終



    Phiên âm:

      Ma hê thủ la mãnh hựu hung 

      Thưởng thiện phạt ác kiến kì công 

      Phổ độ quần mê đăng bỉ ngạn 

      Hóa lợi hữu tình vô thủy chung

     

    Phiên dịch:

    Ma hê thủ la liệt oanh, hung bạo

    Thưởng thiện phạt ác công trạng khác thường

    Giúp người mê đắc ngã, lạc, tịnh, thường

    Dạy kẻ trí không mối giềng ái, ố…



    [37]

    thất na thất na 



      示 善 示 惡 攝 眾 生 

      忽 順 忽 逆 折 性 靈 

      返 本 還 原 修 諸 己 

      摩 訶 般 若 日 夜 明



    Phiên âm:

      Thị thiện thị ác nhiếp chúng sanh 

      Hốt thuận hốt nghịch chiết tính linh 

      Phản bổn hoàn nguyên tu chư kỉ 

      Ma ha bát nhã nhật dạ minh



    Phiên dịch:

    Làm hiền, đổi dữ vì người dạy dỗ

    Khi thuận lúc nghịch đối trị căn cơ

    Chế ngự tư dục về thuở ban sơ

    Ma ha bát nhã ngày đêm sáng tỏ.



    [38]

    a ra sâm phật ra sá lợi



    四十二手妙無窮

    通天達地感迷蒙

    牌弩弓箭威神速

    強者調伏弱者興



    Phiên âm:

      Tứ thập nhị thủ diệu vô cùng 

      Thông thiên đạt địa cảm mê mông 

      Bài nỗ cung tiễn uy thần tốc 

      Cường giả điều phục nhược giả hưng

     

    Phiên dịch:

    Vi diệu khôn lường bốn mươi hai pháp

    Thông đất trời cảm hóa kẻ trầm luân

    Cung tiễn, thuẫn bài, nỏ báu hiển uy thần

    Kẻ cường tráng giúp đỡ người nhu nhược.



    [39]

    Phạt sa phạt sâm  



    威 猛 慈 悲 大 丈 夫 

      調 服 眾 生 出 迷 途 

      改 惡 從 善 修 諸 度 

      培 植 福 慧 悟 真 如



    Phiên âm:

    Uy mãnh từ bi đại trượng phu 

     Điều phục chúng sanh xuất mê đồ 

      Cải ác tòng thiện tu chư độ 

      Bồi thực phúc tuệ ngộ chân như



    Phiên dịch:

    Đại trượng phu đại từ bi uy dũng

    Giúp chúng sinh vượt thoát cõi lầm mê

    Sửa ác, làm lành, lục đạo quy về

    Cây phúc tuệ vun bồi, đơm chánh quả.



    [40]

    Phật la xá da 



    觀音師主阿彌陀

    四十八願化娑婆

    三輩九品生極樂

    水流風動衍摩訶



    Phiên âm
    :

      Quán Âm sư chủ A Di Đà 

      Tứ thập bát nguyện hóa sa bà 

      Tam bối cửu phẩm sanh Cực Lạc 

      Thủy lưu phong động diễn ma ha 



    Phiên dịch:

    Đức A Di Đà – tôn sư Quán Thế Âm Bồ tát

    Bốn mươi tám nguyện hóa độ chúng sanh

    Ba hạng, chin tầng, Cực Lạc vãng sinh

    Gió động, nước trôi thuyết lời đại pháp.



    [41]

    Hô lô hô lô ma ra



    觀音示現鬼神王

    降伏諸魔守規章

    一切眾生依教誨

    強者調柔弱者昌



    Phiên âm:

    quan âm kì hiện quỷ thần vương 

      hàng phục chư ma thủ quy chương 

      nhất thiết chúng sanh y giáo hối 

      cường giả điều nhu nhược giả xương 



    Phiên dịch:

    Đức Quán Âm thị hiện thân ma quỷ,

    Hàng phục quân ma vào nề nếp thẳng ngay

    Tất cả chúng sinh theo đường lối chỉ bày

    Người thông thái mở mang người kém trí.



    [42]

    Hô lô hô lô hê rị



    四 臂 尊 天 現 神 威 

    一 切 邪 魔 望 風 迴 

    歸 依 三 寶 觀 自 在 

    積 功 累 行 善 德 培



    Phiên âm:

    Tứ tí tôn thiên hiện thần uy 

      Nhất thiết tà ma vọng phong hồi 

      Quy y tam bảo quan tự tại 

      Tích công lủy hành thiện đức bồi



    Phiên dịch:

    Vẻ hiên ngang thần bốn tay hiển thị

    Khiến tà ma ngưỡng mộ dáng uy phong

    Nguyện quy y tam bảo, quán sát thong dong

    Công tích lủy, đức vun bồi thiện hạnh.

  • Lòng Trắc Ẩn

    March 14th 2016, 1:17 am
  • [43]

    ta ra ta ra



    善巧方便度娑婆

    示現五濁化群魔

    常行無我波羅蜜

    離諸法執衍摩訶



    Phiên âm:

      Thiện xảo phương tiện độ sa bà 

      Kì hiện ngũ trọc hóa quần ma 

      Thường hành vô ngã ba la mật 

      Li chư pháp chấp diễn ma ha



    Phiên dịch:

    Cứu cõi sa bà khéo dùng phương tiện

    Hiện năm điều chấp trước dạy quần ma

    Luôn tu ba la mật, phá bỏ chấp Ta

    Phá chấp Pháp mới gọi là pháp lớn.



    [44]

    tất rị tất rị 



    能觀之智所觀境

    圓融自在真如性

    無邊誓願利眾生

    不可思議常在定



    Phiên âm:

      Năng quan chi trí sở quan cảnh 

      Viên dung tự tại chân như tính 

      Vô biên thệ nguyện lợi chúng sanh 

      Bất khả tư nghị thường tại định 



    Phiên dịch:

    Trí làm việc quán, cảnh vật bị quán

    Thể tánh chân như chẳng vướng mắc, tròn đầy

    Giữ nguyện vô bờ, lợi ích đó đây

    Khó lường được tâm người luôn nhập định.



    [45]

    Tô rô tô rô 



    萬物說法有誰聽

    世界眾生妄想凝

    諸佛本源離文字

    如是我聞大悲功



    Phiên âm:

      Vạn vật thuyết pháp hữu thùy thính 

      Thế giới chúng sanh vọng tưởng ngưng 

      Chư phật bổn nguyên li văn tự 

      Như thị ngã văn đại bi công 



    Phiên dịch:

    Muôn vật thuyết kinh ai người nghe thấy

    Thế giới này đây, từ vọng tưởng đắp bồi

    Vốn xưa nay chư Phật bỏ chữ, quên lời

    “Như thị ngã văn” vì đại bi mà nói.



    [46]

    Bồ đề dạ bồ đề dạ



    慈悲喜捨四無量

    示現善相化群萌

    攝受眾生登彼岸

    迴光返照歸故鄉



    Phiên âm:

    Từ bi hỉ xả tứ vô lượng 

    Thị hiện thiện tướng hóa quần manh 

    Nhiếp thụ chúng sanh đăng bỉ ngạn 

    Hồi quang phản chiếu quy cố hương



    Phiên dịch:

    Tứ vô lượng tâm từ bi hỉ xả

    Giả hiện tướng lành dạy dỗ kẻ ngu si

    Dẫn dắt chúng sinh vượt thoát tử sinh

    Soi tự tính tìm đường về quê cũ.



    [47]

    Bồ đà dạ bồ đà dạ



    觀音示現醜惡形

    折服強暴改心靈

    同證無生般若智

    還入娑婆度有情



    Phiên âm:

    Quán Âm thi hiện xú ác hình 

    Chiết phục cường bạo cải tâm linh 

    Đồng chứng vô sanh bat nha trí 

    Hoàn nhập sa bà độ hữu tình



    Phiên dịch:

    Chọn tướng hôi dơ Đức Quán Âm hóa hiện

    Quở trách kẻ hung hăng sửa đổi tánh tình

    Bát nhã thâm sâu chứng được pháp vô sinh

    Trở lại cõi sa bà giúp người và cứu vật.



    [48]

    Di đế rị dạ



    慈悲示現化惡人

    得大安穩夢神清

    更獲福報無有盡

    菩提般若自行深



    Phiên âm:

    Từ bi thi hiện hóa ác nhân 

    Đắc đại an ổn mộng thần thanh 

    Canh hoạch phúc báo vô hữu tận 

    Bồ đề bát nhã tự hành thâm



    Phiên dịch:

    Hiện tướng từ bi dạy người xấu ác

    Tâm an lành, trong mộng trí sáng trong

    Thu hoạch đầy phúc báo chẳng tận cùng

    Nhân bát nhã, quả Bồ đề tu tập.



    [49]

    Na ra cẩn trì



    觀音示現龍樹尊

    普攝群機離火坑

    返本還原成正覺

    微塵剖出法界經



    Phiên âm:

    Quán Âm thi hiện Long Thụ tôn 

    Phổ nhiếp quần cơ li hỏa khanh 

    Phản bổn hoàn nguyên thành chánh giác 

    Vi trần phẫu xuất pháp giới kinh



    Phiên dịch:

    Ngài Long Thụ, Đức Quán Âm hóa hiện

    Dạy lòng phàm xa hầm lửa đốt thiêu

    Nhập cội nguồn tức chánh giác tựu thành

    Chẻ hạt bụi thấy dòng kinh pháp giới.

  • Lòng Trắc Ẩn

    March 14th 2016, 1:18 am
  • [50]

    Địa Rị Sắc Ni Na



    項掛人頭念靈文

    手執鐵矛日夜巡

    喚醒眾生行諸善

    苦海無邊莫沈淪



    Phiên âm:

    Hạng quải nhân đầu niệm linh văn 

    Thủ chấp thiết mâu nhật dạ tuần 

    Hoán tỉnh chúng sanh hành chư thiện 

    Khổ hải vô biên mạc trầm luân



    Phiên dịch:

    Miệng niệm chân ngôn, cổ đeo chuỗi sọ

    Tay cầm giáo nhọn, quan sát ngày đêm

    Lay gọi người mau tỉnh mộng làm hiền

    Biển khổ mênh mông chớ chìm chớ đắm.



    [51]

    Bà dạ ma na



    跋 折 囉 杵 鎮 群 魔 

      蓮 華 數 珠 念 佛 陀 

      雷 聲 驚 醒 癡 迷 者 

      夢 覺 原 來 一 字 多



    Phiên âm:

    Bạt chiết la xử trấn quần ma 

    Liên hoa sổ châu niệm Phật đà 

    Lôi thanh kinh tỉnh si mê giả 

    Mộng giác nguyên lai nhất tự đa



    Phiên dịch:

    An định bầy ma, Bạt Chiết La Xử

    Niệm hiệu Phật Đà, chuỗi hạt sen hồng

    Sấm dậy vang trời lay kẻ cuồng ngông

    Tỉnh mộng dài, cũng nhiều dù một chữ.



    [52]

    Ta bà ha



    息 災 增 福 妙 吉 祥 

     佛 法 僧 寶 放 毫 光 

     觀 行 一 心 無 相 禮 

     是 大 菩 提 化 萬 方



    Phiên âm:

    Tức tai tăng phúc diệu cát tường 

    Phật pháp tăng bảo phóng hào quang 

    Quán hành nhất tâm vô tướng lễ 

    Thị đại bồ đề hóa vạn phương



    Phiên dịch:

    Thoát nạn, phúc tăng, điềm lành xuất hiện

    Phật pháp tăng tam bảo tỏa hào quang

    Phá chấp tướng hình, năng sở lễ tức Không

    Đạo vô thượng khắp muôn phương giáo hóa.



    [53]

    Tất đà dạ



    美 妙 相 好 莊 嚴 身 

    通 達 一 切 諸 法 門 

    普 度 有 緣 生 極 樂 

    常 寂 光 土 真 又 真



    Phiên âm:

    Mỹ diệu tướng hảo trang nghiêm thân 

    Thông đạt nhất thiết chư pháp môn 

    Phổ độ hữu duyên sanh Cực Lạc 

    Thường Tịch Quang thổ chân hựu chân



    Phiên dịch:

    Dáng vẻ vẹn toàn trang nghiêm tướng mạo

    Thông đạt rõ ràng tất cả pháp môn

    Giúp kẻ tạo duyên Cực Lạc hóa sinh

    Vốn chân thực, Thường Tịch Quang chân thực.



    [54]

    Ta bà ha



    恆 河 沙 數 諸 菩 薩 

    聳 立 鰲 頭 笑 哈 哈 

    法 海 汪 洋 無 不 度 

    眾 生 與 我 離 自 他



    Phiên âm:

    Hằng hà sa sổ chư Bồ tát 

    Tủng lập ngao đầu tiếu ha ha 

    Pháp hải uông dương vô bất độ 

    Chúng sanh dữ ngã li tự tha



    Phiên dịch:

    Như cát sông Hằng, số chư Bồ tát

    Đứng trên đầu rùa cất tiếng cười tươi

    Biển pháp bao la chẳng bỏ một người

    Ai ngã, ai nhân, tôi và anh quên hết.



    [55]

    Ma ha tất đà dạ 



    放 大 光 明 照 世 間 

     胎 卵 濕 化 離 倒 懸 

     九 界 眾 生 成 正 覺 

     常 樂 我 淨 品 自 高



    Phiên âm:

    Phóng đại quang minh chiếu thế gian 

    Thai noãn thấp hóa li đảo huyền 

    Cửu giới chúng sanh thành chánh giác 

    Thường lạc ngã tịnh phẩm tự cao



    Phiên dịch:

    Phóng đại quang minh thế gian chiếu rạng

    Thấp, hóa, noãn thai chẳng chịu đảo điên

    Chánh giác tựu thành, chín cõi chúng sinh

    Phẩm hạnh cao sâu, thường, lạc, ngã, tịnh.



    [56]

    Ta Bà Ha



    神 通 變 化 屬 第 一 

    金 錫 杖 救 世 間 稀 

    地 獄 眾 生 蒙 恩 受 

    離 諸 障 難 發 菩 提



    Phiên âm:

    Thần thông biến hóa chúc đệ nhất 

    Kim tích trượng cứu thế gian hi 

     Địa ngục chúng sanh mông ân thụ 

      Li chư chướng nạn phát bồ đề



    Phiên dịch:

    Đệ nhất thần thông khôn lường được

    Một chiếc gậy vàng hy hữu cứu thế gian

    Bao chúng sinh địa ngục đội nguồn ân

    Rời chướng nạn tâm cầu vô thượng đạo.

  • Lòng Trắc Ẩn

    March 14th 2016, 1:19 am
  • [57]

    Tất Đà Dũ Nghệ



    隨 類 化 現 度 諸 天 

    同 事 利 行 接 有 緣 

    捨 己 為 人 真 無 我 

    誓 願 眾 生 成 聖 賢



    Phiên âm:

    Tùy loại hóa hiện độ chư thiên 

     Đồng sự lợi hành tiếp hữu duyên 

      Xả kỉ vi nhân chân vô ngã 

      Thệ nguyện chúng sanh thành thánh hiền



    Phiên dịch:

    Tùy cõi người trời hiện thân hóa độ

    Theo duyên đưa cùng tạo lợi gần xa

    Vì người quên mình mới thực sự không Ta

    Lập nguyện lớn chuyển chúng sinh thành thánh.



    [58]

    Thất Bà Ra Dạ



    菩 薩 示 現 天 女 身 

    因 機 逗 教 指 迷 津 

    循 循 善 誘 誨 不 倦 

    慈 悲 平 等 攝 群 生



    Phiên âm:

    Bồ tát kì hiện thiên nữ thân 

    Nhân cơ đậu giáo chỉ mê tân 

      Tuần tuần thiện dụ hối bất quyện 

    Từ bi bình đẳng nhiếp quần sanh



    Phiên dịch:

    Bồ tát hóa hiện thân thiên nữ

    Nhân duyên này giáo hóa chỉ bờ mê

    Khéo dần dà dạy bảo chẳng mỏi nhàm

    Không thiên lệch vì chúng sinh bình đẳng.



    [59]

    Ta Bà Ha



    消災免難除病魔

    寶鉢妙用不可說

    遂心滿願施無畏

    揭諦揭諦娑婆訶



    Phiên âm:

    Tiêu tai miễn nạn trừ bệnh ma 

      Bảo bát diệu dụng bất khả thuyết 

      Toại tâm mãn nguyện thi vô úy 

      Yết đế yết đế sa bà ha



    Phiên dịch:

    Trừ bệnh ma diệt tan bao tai họa

    Dùng được bát vàng khó nói hết diệu công

    Khiến người an ổn, thỏa nguyện, toại lòng

    Yết đế yết đế ta bà ha.



    [60]

    Na Ra Cẩn Trì



    微塵相海無量身

    六度萬行勤耕耘

    回小向大菩提果

    自度化他般若心



    Phiên âm:

    Vi trần tướng hải vô lượng thân 

      Lục độ vạn hành cần canh vân 

      Hồi tiểu hướng đại bồ đề quả 

      Tự độ hóa tha bát nhã tâm



    Phiên dịch:

    Như biển bụi vô số thân có mặt

    Ruộng cỏ cày bừa, lục độ vạn hạnh môn

    Tiểu quả chuyển ra thành đại quả Bồ đề

    Tâm bát nhã cứu người và tự cứu.



    [61]

    Ta Bà Ha



    種因結果植善根

    了生脫死要自勤

    勇猛精進波羅蜜

    摩訶覺道妙行深



    Phiên âm:

    Chủng nhân kết quả thực thiện căn

      Liễu sanh thoát tử yếu tự cần 

      Dũng mãnh tinh tiến ba la mật 

      Ma ha giác đạo diệu hành thâm



    Phiên dịch:

    Gieo nhân kết quả căn lành bồi dưỡng

    Liễu thoát tử sinh phải tự nơi ta

    Dũng mãnh thì bến giác chẳng còn xa

    Giác đạo lớn do công lao thù thắng.



    [62]

    Ma Ra Na Ra



    寶印手眼大菩薩

    金斧劈破無明家

    一切有情煩惱斷

    從地湧出寶蓮華



    Phiên âm:

    Bảo ấn thủ nhãn đại bồ tát 

      Kim phủ phách phá vô minh gia 

      Nhất thiết hữu tình phiền não đoạn 

      Tòng địa dũng xuất bảo liên hoa



    Phiên dịch:

    Bảo ấn thủ nhãn chư đại bồ tát 

    Một nhát búa vàng đập nát cõi vô minh

    Lìa não phiền tất cả những hữu tình

    Nương lòng đất đóa sen thơm lộ mặt.



    [63]

    Ta Bà Ha 



    遊戲神通化三千

    芒鞋踏浪法無邊

    發海潮音驚迷夢

    懦夫立志貪者廉



    Phiên âm:

      Du hí thần thông hóa tam thiên 

      Mang hài đạp lãng pháp vô biên 

      Phát hải triều âm kinh mê mộng 

      Nọa phu lập chí tham giả liêm



    Phiên dịch:

    Sức thần biến lại qua ba ngàn cõi

    Biển pháp mênh mông hài cỏ đạp sóng thần

    Tiếng như thủy triều kinh động giấc mê tâm

    Hèn lập chí, tham trở nên trong sạch.

  • Lòng Trắc Ẩn

    March 14th 2016, 1:23 am
  • [64]

    Tất Ra Tăng A Mục Khê Da



    化現藥王大菩薩

    除瘟滅疫救恆沙

    普令有情離疾苦

    甘露遍灑含識芽



    Phiên âm:

    Hóa hiện Dược Vương đại bồ tát 

      Trừ ôn diệt dịch cứu hằng sa 

      Phổ lệnh hữu tình li tật khổ 

      Cam lộ biến sái hàm thức nha



    Phiên dịch:

    Hóa hiện thân Dược Vương đại bồ tát

    Diệt trừ ôn dịch cứu độ hằng sa

    Khiến chúng sinh hữu tình tật khổ rời xa

    Giọt cam lộ rưới trên mầm tâm thức.

      

    [65]

    Ta Bà Ha



    觀行起修禮法王

    福慧莊嚴妙道場

    若能證得深般若

    度諸苦厄悟真常



    Phiên âm:

    Quán hành khởi tu lễ pháp vương 

      Phúc tuệ trang nghiêm diệu đạo tràng 

    Nhược năng chứng đắc thâm bát nhã

     Độ chư khổ ách ngộ chân thường



    Phiên dịch:

    Lễ đấng pháp vương khởi tu quán chiếu

    Phúc tuệ trang nghiêm vi diệu đạo tràng

    Bát nhã thâm sâu chứng được bởi trí năng

    Phá khổ ách ngộ chân như thường tịnh. 



    [66]

    Ta bà ma ha a tất đà dạ 



    恆順眾生教娑婆

    五濁惡世化群魔

    沙裡淘金求賢渴

    水中撈月不疲輟



    Phiên âm:

      Hằng thuận chúng sanh giáo sa bà 

      Ngũ trọc ác thế hóa quần ma 

      Sa lí đào kim cầu hiền khát 

      Thủy trung lao nguyệt bất bì xuyết 



    Phiên dịch:

    Tùy thuận chúng sinh, cõi sa bà giáo hóa

    Thế gian đầy ngũ trược dạy quân ma

    Khó gặp người hiền như đãi cát tìm vàng

    Tận đáy nước vớt trăng không biết mỏi.



    [67]

    Ta bà ha 



    無字真經掛身邊

    智如大海定如山

    戒德圓明光遍照

    普攝群機度有緣



    Phiên âm:

      Vô tự chân kinh quải thân biên 

      Trí như đại hải định như san 

    Giới đức viên minh quang biến chiếu 

      Phổ nhiếp quần ki độ hữu duyên



    Phiên dịch:

    Quảy trên vai quyển kinh không văn tự

    Biển trí muôn trùng, định kiên cố như non

    Giới đức tròn đầy chiếu rạng hào quang

    Cơ duyên đến, cứu muôn người khắp chốn.



    [68]

    Giả kiết ra a tất đà dạ 



    色身三昧現三千

    見相聞名脫無間

    了生大法登彼岸

    咸蒙攝受覺王前



    Phiên âm:

      Sắc thân tam muội hiện tam thiên 

      Kiến tương văn danh thoát vô gian 

      Liễu sanh đại pháp đăng bỉ ngạn 

      Hàm mông nhiếp thụ giác vương tiền



    Phiên dịch:

    Ứng hóa sắc thân hiện ba ngàn cõi

    Ai thấy nghe danh tướng thoát ngục hình

    Rõ tận nguồn sinh tức vượt tử sinh

    Trước pháp vương chúng sinh đồng tiếp nhận.



    [69]

    Ta bà ha



    修道行者莫自欺

    掩耳盜鈴甚不宜

    開花難結真實果

    光陰空過太可惜



    Phiên âm:

    Tu đạo hành giả mạc tự khi 

      Yểm nhĩ đạo linh thậm bất nghi 

      Khai hoa nan kết chân thật quả 

      Quang âm không quá thái khả tích 

     

    Phiên dịch:

    Người tu đạo chớ tự mình lừa dối

    Chẳng nên làm kẻ bịt tai cắp chuông

    Hoa nở bừng khó kết quả chánh chân

    Tiếc biết mấy thời gian qua vô dụng.



    [70]

    Ta đà ma yết tất đà dạ 



    菩薩無事找工作

    坐寶蓮華放光明

    授諸眾生大覺記

    圓滿涅槃證無餘



    Phiên âm:

      Bồ tát vô sự trảo công tác 

      Tọa bảo liên hoa phóng quang minh 

      Thụ chư chúng sanh đại giác kí 

      Viên mãn niết bàn chứng vô dư 



    Phiên dịch:

    Vốn vô sự Bồ tát tìm công tác

    Trên đóa sen thơm phóng đại quang minh

    Biết chúng sinh giác đạo liền thọ ký chúng sinh

    Tâm viên mãn chứng niết bàn rốt ráo.

  • Lòng Trắc Ẩn

    March 14th 2016, 1:31 am
  • [71]

    Ta bà ha



    天女散花供行人

    嚴持戒律妙通神

    更能迴光觀自在

    不久當契大覺尊



    Phiên âm:

    Thiên nữ tán hoa cung hành nhân 

      Nghiêm trì giới luật diệu thông thần 

    Canh năng hồi quang quan tự tại 

      Bất cửu đương khế đại giác tôn



    Phiên dịch:

    Thiên nữ trải hoa cúng dường người hành đạo

    Đây giới luật nghiêm trì, đây diệu đức thần thông

    Phản chiếu xoay lực tự tại vào trong

    Chỉ khoảnh khắc tương ưng người giác ngộ.





    [72]

    Na ra cẩn trì bà già ra dạ 



    小中現大無礙身

    東西南北任縱橫

    三千世界唯一念

    你我他心不可分



    Phiên âm:

    Tiểu trung hiện đại vô ngại thân 

     Đông tây nam bắc nhậm tung hoành 

      Tam thiên thế giới duy nhất niệm 

      Nhĩ ngã tha tâm bất khả phân



    Phiên dịch:

    Nhỏ hóa lớn vô ngại thân ứng hiện

    Nam bắc đông tây tùy ý dọc ngang

    Một niệm gồm thâu thế giới ba ngàn

    Anh, tôi, người, tâm chưa từng chia cách.



    [73]

    Ta bà ha



    禮拜供養要虔誠

    香花燈果日日新

    真心修行離諸相

    三輪體空出迷津



    Phiên âm:

    Lễ bái cung dưỡng yếu kiền thành 

      Hương hoa đăng quả nhật nhật tân 

      Chân tâm tu hành li chư tướng 

      Tam luân thể không xuất mê tân



    Phiên dịch:

    Lễ bái cúng dường tấc lòng thành kính

    Hoa quả thơm tươi, ánh sáng quyện hương trầm

    Không chấp sắc hình tức quay lại chân tâm

    Rời mê đắm, không ta, người, và vật.



    [74]

    Ma bà lợi thắng yết ra dạ



    千 手 千 眼 大 慈 悲 

    普 化 三 界 度 眾 回 

      諸 天 魔 王 皆 授 首 

      改 惡 向 善 速 來 歸



    Phiên âm:

    Thiên thủ thiên nhãn đại từ bi 

      Phổ hóa tam giới độ chúng hồi 

      Chư thiên ma vương giai thụ thủ 

      Cải ác hướng thiện tốc lai quy



    Phiên dịch:

    Đại từ đại bi ngàn tay ngàn mắt

    Dạy chúng sinh ba cõi sớm quay về

    Vua ma cõi trời cùng tiếp nhận đầu tiên

    Bỏ ác làm hiền tức thì trở bước.



    [75]

    Ta bà ha



    禮而未禮修無修

    空泯所空有何求

    看破放下真自在

    逍遙法界任悠遊



    Phiên âm:

    Lễ nhi vị lễ tu vô tu

      Không mẫn sở không hữu hà cầu 

      Khán phá phóng hạ chân tự tại 

     Tiêu diêu pháp giới nhậm du du



    Phiên dịch:

    Tu chưa từng tu, lễ chưa từng lễ

    Không cũng tiêu tan còn gì có mà mong

    Thấy rõ ràng, buông xả mới thong dong

    Pháp giới tiêu dao, mặc tình nhàn hạ.



    [76]

    Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da



    真空為體幻色用

    觀察世間救諸病

    隨機感應難思議

    我等盲癡當皈命



    Phiên âm:

    Chân không vi thể huyễn sắc dụng 

      Quán sát thế gian cứu chư bệnh 

      Tùy cơ cảm ứng nan tư nghị 

      Ngã đẳng manh si đương quy mệnh



    Phiên dịch:

    Thể là chân không, dụng là huyễn sắc

    Quán sát chiếu soi cứu tật bệnh thế gian

    Cảm ứng tùy cơ khó tưởng tượng, luận bàn

    Kẻ đần độn ngu si nên quy mệnh.



    [77]

    Nam mô a rị da



    化身普賢徧三千

    跏趺座上法無邊

    百寶輪掌破地獄

    阿彌陀佛住西天



    Phiên âm:

    Hóa thân Phổ Hiền biến tam thiên 

      Già phu tọa thượng pháp vô biên 

      Bách bảo luân chưởng phá địa ngục 

      A Di Đà Phật trụ tây thiên



    Phiên dịch:

    Đức Phổ Hiền hóa thân ba ngàn thế giới

    Kết già phu tọa diễn nói pháp vô biên

    Trăm bảo luân tay phá cõi ngục hình

    Cõi Tây phương, Phật A Di Đà an trú.

  • Lòng Trắc Ẩn

    March 14th 2016, 1:37 am
  • [78]

    Bà lô kiết đế



    法王長子文殊尊

    慈心教化娑婆民

    同願證得無量智

    常寂光土萬佛村



    Phiên âm:

    Pháp vương trường tử văn thù tôn 

    Từ tâm giáo hóa sa bà dân 

    Đồng nguyện chứng đắc vô lượng trí 

    Thường tịch quang thổ vạn Phật thôn



    Phiên dịch:

    Bồ tát Văn Thù pháp vương trưởng tử

    Tâm từ bi giáo hóa cõi sa bà

    Lòng mong cầu chứng vô lượng trí năng

    Thành vạn Phật, Thường Tịch Quang đất Phật.



    [79]

    Thước bà ra dạ



    老曰五色使目盲

    觀音解眼悟真常

    金葉寶蓮毫光照

    本來面孔非爺娘



    Phiên âm:

    Lão viết ngũ sắc sử mục manh 

      Quán âm giải nhãn ngộ chân thường 

      Kim diệp bảo liên hào quang chiếu 

      Bổn lai diện khổng phi da nương



    Phiên dịch:

    Mắt, năm sắc che mờ, lời Lão tử

    Quán âm thanh bừng mắt thấy chân thường

    Đóa sen vàng chiếu rạng tỏa hào quang

    Khuôn mặt xưa nay chẳng từ nơi gia tộc.



    [80]

    Ta bà ha 



    絲竹土革木石金

    八音齊奏日日新

    解了耳根聞自性

    天樂鳴空不動心



    Phiên âm:

    Ti trúc thổ cách mộc thạch kim 

      Bát âm tề tấu nhật nhật tân 

      Giải liễu nhĩ căn văn tự tính 

      Thiên nhạc minh không bất động tâm



    Phiên dịch:

    Lụa tre đất vàng da đá gỗ

    Ngày ngày hòa tấu tám thanh âm

    Vang vọng nhạc trời chẳng lay động tự tâm

    Tai thông suốt nghe rõ ràng tự tánh.



    [81]

    Án tất điện đô 



    受持讀誦妙靈文

    加被護念各行人

    三千世界皆示現

    觀音鼻根解味塵



    Phiên âm:

      Thụ trì độc tụng diệu linh văn 

      Gia bị hộ niệm các hành nhân 

      Tam thiên thế giới giai thị hiện 

      Quán âm tị căn giải vị trần



    Phiên dịch:

    Linh văn vi diệu hằng thụ trì đọc tụng

    Hộ niệm gia trì các bậc hành nhân

    Thế giớI ba ngàn thị hiện chân thân

    Quán căn mũi biết tị trần thực tướng.



    [82]

    Mạn đa ra 



    持咒誦經專一心

    感應道交土變金

    菩薩慈悲水現月

    眾生覺悟離味根



    Phiên âm:

    Trì chú tụng kinh chuyên nhất tâm 

      Cảm ứng đạo giao thổ biến kim 

      Bồ tát từ bi thủy hiện nguyệt 

      Chúng sanh giác ngộ li vị căn



    Phiên dịch:

    Nhất dạ chuyên tâm tụng trì kinh chú

    Đá hóa vàng từ cảm ứng đạo giao

    Bóng trăng vàng in suối nước từ bi

    Chúng sinh giác lìa vị trần thực tướng.



    [83]

    Bạt đà dạ



    法 界 虛 空 天 外 天 

    微 塵 剎 海 盡 包 含 

    有 緣 無 緣 同 化 度 

    信 受 奉 行 即 聖 賢



    Phiên âm:

    Pháp giới hư không thiên ngoại thiên 

      Vi trần sát hải tận bao hàm 

      Hữu duyên vô duyên đồng hóa độ 

      Tín thụ phụng hành tức thánh hiền



    Phiên dịch:

    Siêu việt tầng trời hư không pháp giới

    Cõi nước vi trần cùng tận viên dung

    Hóa độ tương đồng, hoặc có, hoặc không duyên

    Người tin nhận vâng làm là hiền thánh. 



    [84]

    Ta bà ha



    名曰大悲陀羅尼

    四十二手世間稀

    善根廣積方能遇

    不修此法太可惜



    Phiên âm:

    Danh viết đại bi đà la ni 

      Tứ thập nhị thủ thế gian hi 

      Thiện căn quảng tích phương năng ngộ 

      Bất tu thử pháp thái khả tích



    Phiên dịch:

    Đại Bi Đà La Ni là tên gọi

    Thế gian này Tứ Thập Nhị Thủ khó được thay

    Tích tụ thiện căn nay gặp được chốn này

    Không tu tập, ôì thực là đáng tiếc!.


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group