Hư Vân Hòa Thượng họa truyện

  • Lòng Trắc Ẩn

    December 31st 2011, 11:20 pm



  • 1. Cầu Tự Trước Ðức Quán Âm:


    Hòa Thượng Hư Vân vốn họ Tiêu. Tổ tiên của Ngài là người Lan Lăng và là hậu duệ của vua Lương Võ Ðế. Gia tộc Ngài đã nhiều đời định cư ở đất Tương, tỉnh Hồ Nam. Thân phụ Ngài tên là Tiêu Ngọc Ðường và thân mẫu thuộc dòng họ Nhan.

    Ðời nhà Thanh, năm Ðạo Quang sơ niên (1821), thân phụ Ngài, vốn hàng khoa cử, được bổ nhiệm làm quan ở đất Mân(1). Bấy giờ, thân phụ Ngài tuổi đã ngoài 40 nhưng vẫn còn hiếm muộn. Song thân Ngài buồn phiền lắm, bèn đến ngôi cổ miếu Quán Âm Tự ở ngoại thành dâng hương, chí thành khẩn thiết khấn vái cầu tự.

    Kệ tán của Hòa Thượng Tuyên Hóa:

    Tích công thụ đức thực thiện nhân,
    Kiền tâm cầu tự lễ Từ Tôn.
    Vạn lự trừng thanh duy đương niệm,
    Nhất tâm bất loạn cả nhi ứng.

    Nghĩa là:

    Tích công lũy đức, trồng nhân lành,
    Tâm thành cầu tự, lạy Từ Tôn.
    Nghĩ suy lắng sạch, chỉ một lòng.
    Chuyên tâm chẳng loạn, được cảm ứng.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày September 7th 2018, 3:45 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    December 31st 2011, 11:21 pm



  • 2. Mộng thấy điềm lành:

    Một ngày nọ, ông bà Ngọc Ðường vui mừng thấy ngôi chùa đổ nát và chiếc cầu hư sụp đã được trùng tu viên mãn. Ðến hôm đó, cả hai ông bà cùng mộng thấy một vị thánh tăng râu dài, khoác y sẫm, trên đỉnh đầu thị hiện Bồ Tát Quán Âm, ngồi trên lưng cọp xông vào phòng ngủ. Giật mình tỉnh dậy, ông bà kể cho nhau nghe giấc mộng vừa trải qua. Sau đó bà Ngọc Ðường thụ thai. Ngày ngày ông bà thành tâm tụng Kinh, niệm danh hiệu và đãnh lễ chư Phật cùng thân cận với các vị thiện tri thức. Do công đức đó mà ông bà xa lánh được mọi ác nghiệp và luôn luôn gieo nhân lành phước thiện.

    Kệ tán của Hòa Thượng Tuyên Hóa:

    Ngồi lưng cọp nhập bào thai mẹ
    Trên đĩnh đầu thị hiện Quán Âm
    Cõi ta bà thánh nhân xuất thế
    Thường tinh tấn phổ độ chúng sanh.

  • Lòng Trắc Ẩn

    December 31st 2011, 11:24 pm



  • 3. Sửa Chữa Chùa Chiền, Cầu Ðường

    Sau khi cầu nguyện và vái lạy Bồ-tát, vợ chồng Tiêu Ngọc Ðường cùng nhau đi viếng chùa. Thấy chánh-điện bị hư hại nặng nề, ngói bể, tường xiêu, lại thêm mái dột làm mặt mày mình mẩy thánh-tượng ướt đẫm chẳng khác nào mồ hôi tuôn đổ, khiến lòng họ buồn đau vô hạn, nên đã phát nguyện trùng tu. Sau đó lại thấy cây cầu ở cửa đông huyện Vĩnh-Xuân từ lâu bỏ phế, sợ người qua lại gặp hiểm nguy, họ vội mướn thợ tu bổ. Cho nên, chẳng bao lâu chùa và cầu đều trở thành mới mẻ, đẹp đẽ lạ thường.

    Kệ tán của Hòa Thượng Tuyên Hóa:
    Tu phước tu huệ, tu tự miếu.
    Tu đạo tu đức, tu kiều lương.
    Tu nhân tu quả, tu chư kỷ,
    Tu thiện tu nhân, tu tự cường.

    Dịch :

    Cất chùa đúc tượng với xây cầu,
    Công đức tu hành thật rộng sâu,
    Tu quả tu nhân, tu tự tánh,
    Tu hoài tu mãi, phước dài lâu.

  • Lòng Trắc Ẩn

    January 1st 2012, 2:04 pm



  • 4. Thăng chức làm Phó-quan-mục Tuyền Châu.

    Một năm sau, do vì đức tính cần, kiệm, liêm, chính của Ngài Ngọc Ðường để đem lại hạnh phúc cho nhân dân, Ngài được thăng chức làm Phó-quan-mục Tuyền Châu. Ngài rất am tường nguyện vọng của dân chúng nên được dân tâm mến phục, dân phong sĩ khí trở nên thuần lương, cao thượng và xã hội đương thời hưởng được nhiều phúc lợi.

    Ngài không thích hư văn phù phiếm, và dù được quyền cao đức trọng, Ngài cũng không bị 2 chữ danh lợi cám dỗ hay mua chuộc được. Ngài thật là một nhân vật phi thường.



    Kệ tán của Hòa Thượng Tuyên Hóa:

    Hoạn hải phù trầm hà túc ngôn
    Nhục vinh danh lợi nhiệm biến thiên
    Thương hải tang điền thượng vô định
    Lịch sử chí thư khởi tận nhiên?

    Dịch:

    Biển hoạn thăng trầm kể xiết bao
    Lợi danh vinh nhục mặc ngoài tai
    Vô thường dâu biển khôn lường bấy
    Thanh sử còn lưu há trọn chưa?

  • Lòng Trắc Ẩn

    January 1st 2012, 2:05 pm



  • 5. Một vị Bồ-tát đản sanh tại thế


    Năm sau, nhằm ngày 30 tháng 7 âm lịch vào giờ Dần (3-5 giờ sáng), Nhan phu nhân hạ sanh ra Ngài. Ngài ra khỏi bụng mẹ trong một bọc da (đó là cảnh giới của một vị Bồ-tát Bát-Địa).

    Cảnh tượng đó làm mẹ Ngài kinh hoảng. Nghĩ rằng bà không còn hy vọng gì sinh thêm con được nữa, bà quá đau buồn mà từ trần. Ngày hôm sau, có một vị thầy thuốc già đến rạch cái bọc da, thế là Ngài chào đời.






    Hòa Thượng Tuyên Hóa tán thán căn duyên
    đản sanh của Ngài Hư-Vân như sau:


    Đến chưa từng đến, sanh chẳng sanh,
    Đâu-suất nội viện xuống trần gian,
    Di Lặc phú chúc, hưng Phật Pháp,
    Thích Ca thọ ký rạng tông phong.

  • Lòng Trắc Ẩn

    January 1st 2012, 2:05 pm



  • 6. Thời thơ ấu

    Ngài được bà kế mẫu họ Vương nuôi dưỡng. Năm Ðạo-Quang thứ 20 triều Mãn Thanh (1840), Ngài vừa được một tuổi. Từ lúc còn trẻ thơ, Ngài thường vui đùa lấy đất nắn tượng các vị Bồ-Tát rồi cúi đầu đảnh lễ. Ngoài các sách học ra, Ngài rất thích thú đọc kinh điển Phật-giáo, sách khuyến thiện, hay cách ngôn dạy tu thân.Tất cả môn học gì liên quan tới thân tâm tánh mệnh, ngài đều ưa thích tìm hiểu. Ðây chính là bẩm tính trời cho, phú tánh siêu phàm.



    Hòa Thượng Tuyên-Hóa làm kệ tán thán Ngài như sau:

    Du hý độc thư lộ tính thiên

    Hảo nhạo thánh điển khởi ngẫu nhiên

    Ư tư dĩ ngộ chân tục đế

    Bất nhị pháp môn nguyện hà đảm

    Dịch :

    Lúc học lúc chơi lộ tánh thiên,
    Vui thích thánh điển nào ngẫu nhiên?
    Ngay đó giác ngộ "chân tục đế,"
    Pháp môn "bất nhị" nguyện hoằng dương.

  • Lòng Trắc Ẩn

    January 1st 2012, 2:06 pm



  • 7. Ðể Nối Dõi Tông Ðường

    Ngài Ðính Hôn Với Hai Thiếu Nữ

    Niên hiệu Ðạo Quang năm thứ 30 (tức 1850), khi Ngài được 11 tuổi, phụ thân Ngài chuyển về Tuyền-châu. Lúc ấy bà nội Ngài, tuổi lớn già cả, nên tha thiết muốn cháu lấy vợ. Vì phải nối dõi luôn dòng của chú mình, nên Ngài đã làm kẻ thừa kế cho cả hai họ Chu và họ Tiêu. Do đó Ngài được hứa hôn với một người con gái họ Ðiền và một cô họ Ðàm. Gia đình của hai cô vốn đều quê quán ở huyện Tương, tỉnh Hồ-nam. Họ đều làm quan tại tỉnh Phúc-kiến, nên quen biết nhau nhiều đời, rồi nay họ lại trở thành thân quyến. Vâng lời dạy của cha mẹ Ngài về hôn ước, Ngài được đính hôn với hai cô.



    Hòa-thượng Tuyên Hóa có kệ rằng:

    Nghi nhĩ thất gia tự thiên luân

    U nhàn trinh tĩnh nữ trung anh

    Tịnh nghiệp viên tu pháp bạn lữ

    Vô nhân vô gia vô sắc không

    Dịch :

    Thành lập gia thất, thuận luân thường
    Yên, nhàn, trinh, tĩnh:bậc anh thư
    Tịnh nghiệp tròn tu, là bạn pháp,
    Không nhà, không mình, không sắc-không

  • Lòng Trắc Ẩn

    January 1st 2012, 2:07 pm



  • 8. Cá Voi Ðến Chầu Thuyền Pháp

    Tháng hai, niên hiệu Hàm Phong thứ nhất (1851), phụ thân Ngài có việc phải đến Ðài Loan, Ngài cũng đi theo. Khi thuyền nhỏ lướt ra biển cả mêng mông thì bổng gặp một con cá voi khổng lồ, to như núi, nằm chắn trước thuyền. Mọi người trên thuyền đều kinh hãi, đồng thanh niệm Nam Mô Ðại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Một lát sau, chỉ còn thấy thấp thoáng đuôi cá từ từ khuất dần xuống biển.


    Hoà Thượng Tuyên Hóa có bài kệ rằng:

    Thiên Long cung kính bất vi hỉ,
    Cự kình triều bái diệc bình thường,
    Ngu giả vô tri xưng vi quái,
    Trí giả hữu nhãn cùng pháp nguyên.

    Dịch là:

    Thiên Long cung kính chẳng làm vui,
    Cá voi chầu lạy, chuyện cũng thường,
    Kẻ ngu chẳng rõ, cho rằng lạ,
    Người trí sáng mắt, tận pháp nguồn.

  • Lòng Trắc Ẩn

    January 1st 2012, 2:07 pm



  • 9. Lần Ðầu Thấy Phật Pháp Tăng

    Năm ngài 13 tuổi thì bà nội là Châu thái phu nhân từ trần. Ngài theo cha hộ tống quan tài về quê chôn cất. Lúc ấy nhà có thỉnh chư tăng tới tụng kinh hành lễ. Bấy giờ, dù mới thấy Phật lần đầu tiên, Ngài lập tức quỳ lạy. Thấy Kinh điển, lòng Ngài vui mừng khôn xiết; gặp chư Tăng, Ngài liền cung kính. Ðối với chuông mõ Ngài chơi đùa chẳng nở rời tay. Tâm trạng Ngài lúc ấy thật đúng là: lòng cảm ngộ, mà óc chẳng hiểu vì sao.





    Hoà thượng Tuyên Hóa có bài kệ rằng:

    Vĩnh ngôn hiếu tư cổ kim truyền

    Thận trung truy viễn báo ân ngu

    Ngưỡng thừa tam muội gia trì lực

    Hà sa tội nghiệp tất tiêu quyên

    Dịch :

    Lời lành, đạo hiếu khuyên nên:
    Thận chung, truy viễn(1), báo đền từ bi,
    Nhờ sức tam muội gia trì,
    Hằng sa tội nghiệp tức thì tiêu tan.

    (1) Thận chung, truy viễn: Thận trọng, cung kính trong lúc làm tang lễ và nghi thức cúng tế tổ tiên.

  • Lòng Trắc Ẩn

    January 1st 2012, 2:08 pm



  • 10. Ðọc Chuyện Hương Sơn, Phát Tâm Xuất Gia

    Trong nhà của ngài chứa rất nhiều sách cổ kính. Có lần xem xét những sách ấy ngài tìm thấy quyển truyện Hương Sơn nói về sự tích Ðức Quán Thế Âm Bồ Tát. Truyện ấy khắc sâu vào tâm khảm của ngài, khiến ngài quyết ý sau này sẽ xuất gia tu đạo, chẳng màng tới công danh vinh hiển hay giàu sang phú quý. Ngài chỉ muốn sống đạm bạc để tỏ chí hướng, trau giồi đức hạnh để thật thanh cao.





    Hoà thượng Tuyên Hóa có bài kệ rằng:

    Phát lòng bồ đề, ngộ bản tâm,
    Ngực đầy chí khí vượt trời xanh,
    Nay đọc Hương Sơn truyện Quán Âm,
    Mong như chí Ngài: xuất hiền nhân.

  • Lòng Trắc Ẩn

    January 1st 2012, 2:11 pm



  • 11. Triều Bái Các Chùa Chiền Ở Nam Nhạc

    Tháng tám năm nhâm tý (1852), khi đặng 13 tuổi, Ngài theo chú đi triều bái các chùa chiền, các thắng cảnh nổi danh ở núi Hằng Sơn, Nam Nhạc để lễ lạy chư Bồ tát. Tới chỗ nào ngài cũng cảm giác rộn rã như trở lại thăm quê xưa, chốn cũ. Ngài thấy quen thuộc hệt như quen biết người thân trong nhà. Do đây mà suy, có lẽ kiếp trước ngài đã từng ở vùng Nam Nhạc, giáo hoá chúng sinh, làm chúng sinh phát tâm tinh tấn dũng mãnh cầu đạo vô thượng.




    Hoà thượng Tuyên Hoá có bài kệ rằng:

    Nam Nhạc Hằng Sơn diệu cao phong,
    Lịch đại tương truyền xuất thánh tăng,
    Tam sinh thạch bạn, thùy thức thùy?
    Vạn kiếp sinh trung, thân phục thân.

    Nam Nhạc Hằng Sơn, đỉnh cao ngất,
    Xưa nay đời đời hiền thánh tăng,
    Bạn "đá ba đời"* ai biết ai,
    Sinh trong vạn kiếp, thân vẫn thân**.

    * Xin xem " Tam Sinh Thạch"
    ** Thân nghĩa là người thân quyến.

  • Lòng Trắc Ẩn

    January 1st 2012, 2:12 pm



  • 12. Cha Bắt Tu Tập Ngoại Ðạo

    Năm Hàm Phong thứ ba (1854) khi ngài được 14 tuổi, cha của ngài đoán được ý muốn xuất gia của ngài nên mời thầy ngoại đạo về dạy ngài pháp hít thở, luyện đan, để ngăn chận việc ngài sẽ xuất gia tu hành. Song le ngài vốn có con mắt sáng suốt thấy biết chân lý, nên chẳng ham thích gì pháp này. Ngài thấy pháp ngoại đạo đi ngược lại với đạo Phật. Tu trì nó thì cũng chẳng khác gì cách giày gải ngứa. Nhưng vì ngài có tánh hiếu thảo, nên không dám cải lại lệnh cha. Ngài đành tòng quyền làm theo mà thôi.




    Hòa thượng Tuyên Hóa có bài kệ tán thán như vầy:

    Tam thiên bàng môn sính tuyệt kỷ,
    Cửu lục ngoại đạo hiển diệu huyền,
    Thùy tri công cụ trạch pháp nhãn,
    Thị phi tà chính lập hoạch yên.

    Dịch là:

    Ba ngàn bàng môn bày tuyệt kỷ,
    Chín sáu ngoại đạo hiển diệu huyền,
    Nào hay ngài đủ Mắt Chọn Pháp,*
    Thị phi, tà chính rõ ràng phân.

    * Mắt Chọn Pháp hay Trạch Pháp Nhãn là khả năng biện biệt đâu là pháp, là chân lý, là chính hay tà.

  • Lòng Trắc Ẩn

    January 1st 2012, 2:13 pm



  • 13. Âm Thầm Trốn Ði Nhưng Thất Bại

    Năm ngài 17 tuổi, ngài đã khốn đốn tu tập pháp ngoại đạo được ba năm. Tâm ngài hết sức chán nản thất vọng, thường luôn nghĩ tới chuyện xuất gia làm Tăng. Một bửa nọ, thừa lúc người chú vắng nhà, ngài lén trốn đi, định tâm đi tới Nam Nhạc tìm chùa để xuống tóc xuất gia. Nào ngờ, trên đường xuống núi ngài bị những người nhà của chú mình rượt theo bắt lại. Thế là tâm nguyện chưa được thực hiện, ngài đã bị khuyên ép phải trở về nhà.




    Hòa Thượng Tuyên Hóa có bài kệ rằng:

    Thoát tục ly trần hiệu Tất Ðạt,
    Thục ý khi khu kinh lộ hiệp,
    Cánh vô bảo kí Thiên Vương trợ,
    Chung bị tải hồi nhưng quy gia.

    Dịch là:

    Ly trần thoát tục theo Tất Ðạt, (Tức là theo Phật)
    Ai biết đường núi hẹp lại ghềnh,
    Chẳng có ngựa quý, Thiên Vương giúp,
    Rốt bị phát giác phải quy gia.

  • Lòng Trắc Ẩn

    January 1st 2012, 2:13 pm



  • 14. Thuyết Pháp Ðộ Hai Người Vợ

    Khi ngài về tới nhà, gia đình ngài sợ ngài sẽ bỏ nhà đi nữa nên họ gởi ngài và người em họ là Phú Quốc đi Tuyền Châu. Cha của ngài chính thức làm lễ thành hôn cho ngài với hai cô gái nhà họ Ðiền và họ Ðàm. Song ngài đã thấy suốt sắc tướng là không, (bản tánh thật thì) chẳng có mình cũng chẳng có người, do đó ngài chẳng có chút mảy may dâm niệm. Lòng ngài trong sạch mà thân cũng thanh tịnh. Do đó tuy cùng với hai cô vợ ở chung, mà ngài chẳng hề ô nhiễm. Chẳng những thế, ngài lại còn giảng giải Phật pháp, giáo hóa, khiến họ trở thành đệ tử nhà Phật.




    Hòa Thượng Tuyên Hóa có bài kệ rằng:

    Song túc song thê thuận thế tục
    Nhất tâm nhất ý cầu bồ đề,
    Phu vô nhiễm duyên thê tịnh lữ,
    Tại trần xuất trần Ðiều Ngự Sư.*

    Dịch là:

    Hai nhà hai vợ, thuận lối đời,
    Một lòng một dạ, về bến giác.
    Chồng nào ô nhiễm, vợ thanh tao,
    Trong bùn, ngoài bùn: là Thế Tôn.*

    (*Ðiều Ngự Sư hay Thế Tôn đều là danh hiệu của Phật.)

  • Lòng Trắc Ẩn

    January 1st 2012, 2:15 pm



  • 15. Rời Bỏ Ðời Thế, Cùng Bạn Xuất Bạn Xuất Gia

    Ngài Hư Vân và người em họ là Phú Quốc có mối thâm tình huynh đệ gắn bó, tôn trọng lẫn nhau. Phú Quốc cũng nghiên cứu tìm hiểu Phật pháp nên chàng có đồng chí hướng, đồng tâm đạo như Ngài. Do đó lúc Ngài được 19 tuổi, ngài cùng Phú Quốc bỏ nhà lên đường tới Cổ Sơn để xuất gia tu đạo. Lúc ra đi Ngài có làm bài thơ tên "Bì Ðại Ca" (Bài Ca Túi Da [*]) lưu lại cho hai người vợ họ Ðiền và họ Ðàm. [**]

     




    Hòa Thượng Tuyên Hóa có bài tán như sau:

     

    Phật hóa đường đệ, độ A Nan,

    Công giai Phú Quốc thướng Cổ Sơn,

    Thù đồ đồng quy nhất tỵ khổng,

    Bỉ trượng phu hề, ngã diệc nhiên.

    Dịch là:

    Phật dạy em họ, độ A Nan,

    Ngài cùng Phú Quốc tới Cổ Sơn,

    Ðường tuy sai khác, đích là một,

    Ngài là trượng phu, ta cũng vậy.


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group