Quy Nhơn một kỷ niệm buồn - Phạm Văn Nhuệ

  • Lòng Trắc Ẩn

    May 23rd 2012, 5:21 pm
  • Quy Nhơn một kỷ niệm buồn - Phạm Văn Nhuệ




    Tới tháng 8 năm 1960, “Thượng cấp” đã đày ải chúng tôi gần được một năm. Lũ chúng tôi 33 “mạng cùi”, gồm 3 sĩ quan cấp bậc Trung úy và Chuẩn úy, 5 hạ sĩ quan và 25 binh sĩ ốm đau bệnh hoạn, được lệnh từ Nha Trang ra Qui Nhơn, thi hành một công tác “đội đá vá trời”: Thành lập một kho đạn khổng lồ, Đại Đội 524 Kho Đạn Dược Tiền Tuyến tại Đèo Son, bên ngoài thị xã Qui Nhơn nghèo nàn, chỉ với vỏn vẹn 33 khẩu súng Carbine M-1, ngoài ra chẳng có gì khác, kể cả thực phẩm và nơi che mưa nắng.

    Các quan lớn thượng cấp của chúng tôi ngày đó, chắc đã có những bộ óc siêu việt hơn người, các vị chỉ ngồi trong văn phòng sang trọng, đầy đủ tiện nghi tối đa, máy lạnh chạy êm ru suốt mùa hè, nên tưởng tượng việc thành lập và quản trị một kho đạn to lớn như Kho 524 Đạn Dược tại Quy Nhơn, dễ dàng như việc xuống câu lạc bộ đơn vị uống bia, tán dóc những chuyện trời, trăng, mây, nước... như quý vị vẫn thường “tự cho phép” trong giờ làm việc. Có thể quý quan còn nghĩ rằng 33 mạng quân nhân yếu đuối và bệnh hoạn chúng tôi toàn là thiên sứ, đều có sức khỏe Hercule, dư sức thay cho khoảng 300 quân dân chính, cùng cả hàng trăm quân xa cùng cơ giới, là quân số và quân dụng căn bản không thể thiếu của một kho đạn dược tiền tuyến, có nhiệm vụ cung ứng bom đạn cho toàn thể các đơn vị hải, lục và không quân, đồn trú trong Quân Khu 2 lúc bấy giờ.

    Cá nhân tôi ngày đó, một Trung Úy xuất thân từ Trường Võ Bị Đà Lạt. Tôi đã có nhiều kinh nghiệm lúc điều hành kho đạn Nha Trang, nên biết trước trách nhiệm của kho đạn tân lập Quy-Nhơn sẽ cực kỳ khó khăn, chưa kể tới quân số của kho đạn mới thành lập này chỉ là các quân nhân bất khiển dụng của các kho đạn Nha-Trang, Ban-Mê-Thuột và Pleiku muốn thải ra. Nhưng đã mang nghiệp lính, đã được dạy câu “thi hành trước, khiếu nại sau” ghi rõ ràng trong quân kỷ, nên dù không muốn cũng phải tuân hành, cho dù nhiều khi đến lúc được khiếu nại thì mạng sống của mình cũng không còn. Tôi cay đắng lãnh chức vụ Đại-Đội-Trưởng và đứng ra thành lập Kho đạn Quy-Nhơn, bằng số quân nhân quá “khiêm tốn” nói trên.

    Nhiệm vụ chính của một kho đạn nơi cửa biển như Quy Nhơn là tiếp nhận bom đạn viện trợ, chở từ ngoại quốc đến hải cảng Quy-Nhơn bằng những tầu buôn to lớn như những trái núi nổi, đậu tuốt ngoài khơi, mỗi “núi nổi” chứa cả 2, 3 chục ngàn tấn đạn. Các “sà-lan” chuyển dần bom đạn từ tầu vào bến, mỗi chuyến khoảng 2, 3 trăm tấn. Ngoài các chuyến tầu buôn dân sự này, kho đạn còn phải vài tuần một lần, tiếp nhận những chuyến tầu hải quân cũng chở bom đạn, nhưng từ kho trung ương Thành-Tuy-Hạ đến bến cảng Quy Nhơn, trong chương trình “điều hòa nội địa”. Tính chung, rồi chia trung bình thì mỗi tháng kho đạn Quy Nhơn chúng tôi phải nhận không dưới 10 ngàn tấn đạn từ các tầu biển dân sự và quân sự nói trên.

    Bom đạn sau khi nhập kho, một phần nhỏ để lại dùng yểm trợ cho các đơn vị chiến đấu đồn trú tại 2 tỉnh Bình-Định và Phú-Yên, phần lớn hơn được xếp lên các quân-xa chuyển tiếp tới 2 kho đạn khác nằm sâu trên cao nguyên Pleiku và ra miền bắc Quảng-Ngãi. Như vậy dù không muốn, mỗi tháng chúng tôi cũng bắt buộc phải khuân vác một trong lượng không dưới 20 ngàn tấn bom đạn, bằng những đôi vai gầy cùng hai cánh tay yếu đuối.

    Việc khuân vác bom đạn bằng sức người làm chúng tôi điêu đứng. Với nhiều chục ngàn tấn bom đạn đè nặng trên 33 đôi vai gầy, một chuyện tưởng như “nói chơi”, nhưng chúng tôi vẫn phải làm, vì đó là “sự thật”, là “nhiệm vụ”, là “ý muốn” của thượng cấp đầy quyền uy của chúng tôi. Vậy mà không rõ vì lý do huyền bí nào, chúng tôi không ai chết vì vác đạn, chúng tôi vẫn sống dù lây lất để cố công biến Đại Đội 524 Kho Đạn Dược Tiền Tuyến thành một đơn vị nổi danh nơi đất Quy Nhơn đầy sỏi đá cùng nắng lửa.

    Ngoài công tác khuân vác là chính, chúng tôi còn có cả trăm việc phải làm như: kế toán, tồn trữ, kiểm tra, phá hủy bom đạn hư hỏng v.v..., rồi mỗi tháng vài lần chuyển tiếp hàng ngàn tấn bom đạn tới hai kho đạn khác tại Quảng Ngãi và Pleiku. Mỗi lần gửi hàng đi xa như vậy, kho đạn chúng tôi phải cung cấp quân nhân cơ hữu đi áp tải đạn dược, chính việc “áp tải” vô duyên này là câu chuyện tôi muốn viết hôm nay.

    Công tác “áp tải đạn dược” mà kho đạn chúng tôi phải làm ngày đó, không có nghĩa thông thường như mọi người nghĩ, là dùng một lực lượng quân số hùng hậu để bảo vệ đoàn xe trên đường di chuyển, chống trả các cuộc phục kích cùng tấn công của đối phương. Nó giản dị hơn nhiều: chỉ định một quân nhân cấp bậc binh nhất hoặc binh nhì, mang một bản ghi số lượng đạn dược di chuyển, theo đoàn xe từ kho gửi tới kho nhận hàng. Sau khi kiểm nhận, người này mang bản “Phiếu gửi hàng” có chữ ký nhận về kho gửi là xong nhiệm vụ. Việc “áp tải” này thực sự không cần thiết, vì chỉ là công việc của quân bưu, nhưng vì đã áp dụng từ lâu, nên không ai dám tự ý bỏ.

    Mỗi đoàn quân xa chở đạn gồm khoảng 4, 5 chục xe vận tải GMC, thường có hàng trăm quân nhân đơn vị bộ binh theo hộ tống, bảo vệ an ninh cho đoàn xe trên đường di chuyển. Về phía kho đạn chỉ có một “áp tải viên”.

    Với số quân nhân ít oi của kho đạn chúng tôi ngày đó, việc cử một quân nhân làm “áp tải viên” là một phí phạm không cần thiết, chưa kể tới tính mạng anh ta có thể hiểm nguy do thiếu kinh nghiệm chiến đấu, vả lại anh ta theo đoàn xe không phải để chiến đấu. Thêm vào đó, một chi tiết nhỏ khác ít ai biết tới là ngân quỹ gia đình anh ta vốn đã thiếu thốn, sẽ càng thêm trầm trọng vì phải tiêu pha những khoản tiền không dự liệu. Quân nhân cấp nhỏ như anh, đều phải tự túc mỗi khi đi công tác xa, họ không bao giờ được bồi hoàn “công tác phí” như các cấp hạ sĩ quan và sĩ quan cao hơn họ.

    Quân nhân cấp nhỏ của kho đạn chúng tôi ngày đó lại không nhiều, một số có gia đình, tạm thời tá túc trong những căn nhà lợp tole dột nát gần đơn vị. Mỗi lần phải đi công tác như vậy là một biến cố lớn lao cho toàn trại gia binh nghèo nàn này, họ có lệ tuần tự chia nhau, ai tới phiên là phải lên đường, không ngập ngừng hoặc tìm cách tránh né.

    Lần đó tới phiên binh nhì Nguyễn Văn Mùi, nhận công tác làm áp tải viên, theo đoàn xe Quân vận, từ Qui Nhơn tới Kho Đạn Pleiku.

    Đoàn quân xa gồm khoảng 50 xe vận tải GMC đã “lên hàng” xong từ buổi chiều, đậu nối đuôi thành một hàng dài trong kho đạn, sẵn sàng lên đường vào sáng sớm hôm sau. Mọi quân nhân của kho đạn đã về nhà tắm rửa nghỉ ngơi, mọi tài xế của đơn vị Quân vận cũng phải ra khỏi kho đạn, cắm trại ngoài bãi đất trống phía Đèo Son, nổi lửa nấu cơm và nghỉ qua đêm. Vì lý do an ninh, không một ai được ở lại trong vòng rào kho đạn ban đêm, ngoại trừ nhân viên an ninh được chỉ định.

    Tôi một mình lái xe jeep thăm một vòng kho đạn rộng mênh mông, nhìn ngó sơ qua các dẫy nhà kho chứa đạn kiểu Igloo kiên cố nằm chìm một nửa trong lòng đất, kế tới thăm đoàn xe Quân vận trên đầy đạn, nằm nối đuôi nhau thành một hàng dài trên “Đại lộ Bắc Bình” dọc “hồ Than Thở, khu A”. Chúng tôi đặt những tên như vậy để dễ phân biệt vị trí, trong một kho đạn rộng lớn nhiều cây số vuông, cùng nhiều đường chằng chịt. Tôi chợt chú ý tới một bóng người thấp thoáng bên một xe chở đạn, nên lái xe vòng lại.

    Binh nhì Nguyễn Văn Mùi giơ tay kính cẩn chào tôi, anh giải thích lý do còn ở lại một mình trong kho đạn lúc này: “Em tìm chiếc xe nào còn mới, chạy êm và chở nhẹ nhất, để gửi ít quân trang cá nhân, sáng mai em chỉ lên xe là xong”. Rồi anh ngập ngừng nói với tôi, như có ý phân trần: ”Em kẹt quá,Trung úy! Em đòi vợ em ít tiền để đi công tác ngày mai, nhưng rủi quá nó chẳng còn đồng nào, thành ra kỳ này em đi công tác “tay không”, đành phải nhờ tụi bạn em ở kho Pleiku cho ăn rình vậy”.

    Tôi ra Qui Nhơn dù đã gần năm, nhưng gia đình tôi chỉ mới đoàn tụ với nhau chừng hơn một tháng, vợ tôi dạy học tại Nha Trang nên không thể mỗi lúc đi theo, phải qua nhiều thủ tục phiền phức và rắc rối để xin thuyên chuyển theo chồng, nên thực tình chính chúng tôi cũng đang xính vính về tiền bạc. Tôi chợt nhớ sáng nay vợ tôi có bỏ vào túi cho tôi khoảng 200 đồng, đề phòng những việc phải tiêu bất ngờ. Tôi rút tiền ra đếm, rồi trao cả cho Mùi, và nói: “Tôi chỉ còn có bấy nhiêu thôi, cho cậu để ăn đường, khỏi phải trả lại tôi, chúc cậu đi công tác bình an, rồi sớm về với vợ con”. Mùi há hốc miệng nhìn tôi, không tin là sự thực, anh cầm tiền mà quên cả cám ơn.

    Sáng hôm sau tôi có cuộc họp hàng tuần tại Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp vận, nên về tới kho đạn hơi trễ. Anh Đại đội phó đón tôi ngay trước cổng trại và nói với tôi: ”Đoàn xe chở đạn đi Pleiku dự định khởi hành vào lúc 8 giờ, nhưng thằng Mùi nhất định không lên xe, nó nói còn phải chờ để chào Trung úy, nó đang đợi ở trong phòng”. Tôi hơi ngạc nhiên cho câu chuyện bất thường này, vì đã cả hàng trăm chuyến xe chở đạn lên cao nguyên và ra miền Trung, chưa có người áp tải viên nào cầu kỳ chào hỏi như vậy.

    Mùi chờ tôi tại văn phòng chắc đã lâu, anh rụt rè phân trần việc cản trở đoàn xe không cho di chuyển, anh nói: ”Ông Đại úy chỉ huy đoàn xe la em quá trời, nhưng em năn nỉ ông ta, em có việc riêng phải chờ Trung úy: Vợ em căn dặn trước khi đi phải vào cám ơn Trung úy đã cho tiền, em chia lại cho mẹ con nó một nửa để đong gạo, bây giờ xin chào Trung úy em đi công tác”. Nói xong Mùi chạy vội ra cổng trại, leo lên xe. Tôi tuy hơi bực mình vì chuyện vớ vẩn này đã làm chậm trễ giờ xuất hành của đoàn quân xa, nhưng cũng linh cảm thấy một chuyện gì có vẻ bất thường, chưa bao giờ xẩy ra ở bất cứ nơi nào, dù trước đây tôi đã có nhiều năm làm việc tại nhiều kho đạn khác, cũng như đã gửi nhiều đoàn xe chở đạn như vậy.

    Nhiều công việc phải thanh toán trong ngày đã làm tôi quên bẵng đoàn xe chuyển vận đạn dược lên Pleiku, cho tới ....

    Khoảng xế trưa hôm đó, Thiếu tá tiểu khu phó Tiểu khu Bình Định điện thoại khẩn cấp tới kho đạn cho tôi: “Anh Nh. phải không? Tôi có tin quan trọng cho anh đây, tôi vừa được Phòng Hành quân / Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn điện thoại cho biết, đoàn xe chở đạn của anh bị Việt cộng phục kích trên quốc lộ 19, quãng đèo Mang Giang, mình “bị” rất nặng, Quân Đoàn đã gửi quân tiếp viện, nhưng chưa rõ chi tiết ra sao, có tin gì khác tôi sẽ cho biết sau ....” Tôi chưa kịp hỏi thêm thì ông gác máy.

    Tôi có cảm tưởng như đầu mình bị vật gì đập mạnh, mắt hoa lên, tim đập loạn xạ trong lồng ngực. Tôi nghĩ ngay tới Mùi, người binh nhì mới tới chào tôi sáng nay để đi công tác áp tải đạn dược lên cao nguyên, Mùi đang ở trong đoàn xe bị phục kích, lại “bị rất nặng”..., tôi bối rối và hốt hoảng như chính tôi đang trong đoàn xe bị phục kích vậy. Mãi lúc khá lâu tôi mới dần bình tĩnh lại để quyết định mình phải làm gì, tôi gọi anh Đại đội phó dặn coi đơn vị, rồi lái xe sang Tiểu khu Bình Định tìm hiểu thêm tin tức.

    Tiểu khu đông nghẹt những quân xa và lính, họ sửa soạn đi tiếp viện, cấp cứu và tải thương. Ông Trung tá Tiểu khu Trưởng căn dặn ông Đại úy chỉ huy đoàn xe: “Sau khi cấp cứu thương binh, anh cho gửi những toán nhỏ khoảng 2, 3 người vào sâu trong rừng, để tìm kiếm những người còn sống sót hiện đang ẩn trốn nơi lùm cây, hốc đá nào đó. Phải gọi thực lớn, làm sao cho các người này biết là “quân mình” tới cứu họ, nếu không họ không dám ra đâu, họ sợ tụi VC cũng sẽ giả quân mình làm vậy, ai không biết mò ra là “bị” liền với chúng”.

    Tôi vì quan tâm mạng sống của Mùi, nên ngỏ ý muốn theo đoàn quân tiếp viện này lên đèo Mang Giang, nhưng ông Trung tá Tiểu khu trưởng gạt ngang: ”Các anh là lính Tiếp vận, biết gì về trận mạc, các anh lên đó không ích lợi gì, chỉ làm cản chân người khác, chưa kể tới việc người ta phải bận tâm bảo vệ các anh. Anh về kho kiểm điểm lại số lượng đạn, xem thiệt hại bao nhiêu”.

    Tuy không được đi theo đoàn xe tiếp cứu, nhưng cũng từ lúc đó tôi ngồi đứng không yên, tôi không quan tâm nhiều tới số đạn bị mất, mà chỉ bồn chồn lo lắng cho số phận của Mùi. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi gặp chuyện này, chuyện một người lính, một người chiến hữu thân thương của tôi hiện trong hoàn cảnh không biết sống chết ra sao. Tôi chỉ thị cho anh Đại đội phó, cử người túc trực tại Quân y viện Quy Nhơn để báo cho tôi biết lúc nào đoàn xe tản thương về tới. Tôi thầm cầu nguyện cả Chúa lẫn Phật cứu cho người bạn tôi thoát hiểm trở về. Tôi lý luận theo ý riêng để tự trấn an: “Đoàn xe bị phục kích gồm cả trên trăm nhân mạng, trong khi lính kho đạn chỉ có một người, nếu chẳng may có thiệt hại 100% thì mới tới người lính của tôi được”. Dù tự trấn an như vậy, tôi vẫn lo lắng không yên.

    Mãi tới chiều gần tối, anh quân nhân túc trực tại Quân y viện Quy Nhơn điện thoại về cho tôi: ”Đoàn xe di tản thương binh đã về tới Qui Nhơn, nhiều người bị thương lắm nên tôi chưa biết có anh chàng Mùi của mình không, Trung úy xuống bệnh viện ngay nhé”. Nói xong anh gác máy, dù tôi còn muốn hỏi thêm.

    Chỉ ít phút sau, anh tài xế đã đưa tôi tới Quân y viện Quy Nhơn. Tôi chạy lao vào nơi nào có đông người, mà không cần biết phòng lựa thương hay điều trị. Một cô y tá bảo tôi: ”Bệnh viện mới nhận được bấy nhiêu, số người chết đã được chở xuống nhà xác, ở đây chỉ là thương binh mà thôi, nhiều vậy mà vẫn chưa chở hết, ngày mai sẽ còn thêm nữa”.

    Số thương binh thực nhiều, ước lượng không dưới 3 chục người, tơi tả trên các “Băng ca” bê bết máu, la liệt khắp nhiều phòng, nằm ra cả ngoài hành lang bệnh viện, chờ được lựa theo thương tích nặng nhẹ để điều trị. Người nằm bất động không rõ còn sống hay đã chết, người khác rên la nho nhỏ, tay chân quờ quạng giãy giụa trong vô thức. Các bác sĩ và y tá đi lại tấp nập, làm việc luôn tay không ngưng nghỉ.

    Tôi khó khăn len lỏi giữa hai hàng băng ca, tới từng giường bệnh để tìm kiếm người bạn mà tôi thực tình cầu mong không có mặt tại đây. Tôi nghiêng người, nghẹo cổ cố tìm tư thế thuận tiện nhất để nhận diện người bệnh, mà không dám đụng vào thân thể, sợ gây thêm đau đớn cho họ. Sau cả giờ cố công tìm kiếm, tôi tuy thất vọng nhưng cũng thấy đôi chút nhẹ nhõm vì không thấy anh Mùi trong số thương binh bất hạnh này.

    Còn một nơi nữa phải tìm là nhà xác, một nơi mà chắc chắn không một người nào muốn tới, dù giữa ban ngày. Tôi cũng chẳng gan dạ hơn ai, nhưng không thể né tránh, nên bảo anh tài xế đưa tôi tới nhà xác, nằm phía sau bệnh viện và rất xa các phòng điều trị.

    Lúc này trời đã tối mịt, khu nhà xác lại tối thui không một bóng đèn. Anh tài xế dường như bắt đầu sợ hãi, run run đề nghị với tôi: ”Hay để sáng mai hãy tới, Trung úy! đêm nay “họ” vẫn còn nằm đây mà, đi đâu được!”, rồi thấy tôi tỏ vẻ không chịu, anh nói thêm: ”Em để máy xe chạy, bật đèn pha soi qua cửa kính, rồi em đi bộ ra cổng nhà thương đứng chờ Trung úy. Khi nào xong, Trung úy lái xe ra cổng sẽ có em chờ ở đó”. Nói xong, không chờ tôi trả lời chấp thuận hay không, anh “pha” đèn cực sáng, rồi bỏ xe chạy bộ trở lại đường cũ, phía cổng ra vào.

    Còn lại một mình, tôi cũng thấy nao núng ở nơi ghê rợn này. Nhà xác mới xây, hay mới tân trang lại không rõ, gồm 2 phòng không mấy rộng, tường quét vôi một mầu trắng lạnh lẽo, nền nhà tráng xi măng nhưng trống hốc, không có bất cứ một vật dụng gì. Nhà xác còn có các khuôn cửa kính rất rộng, nhờ đó phía trong phòng có được một ít ánh sáng của chiếc đèn xe jeep chiếu qua. Phòng cũng chưa có lấy một ngọn điện, nên tạm thời soi sáng bằng một vài ngọn nến leo lét, không biết do ai thắp, cắm trên một thùng đạn đặt giữa mỗi phòng. Không hiểu khi những ngọn nến này cháy hết, có còn được ai thắp thêm nữa hay không?

    Xác chết thực nhiều, ước lượng không dưới 20 tử sĩ, được đặt nằm la liệt ngay trên mặt sàn xi-măng lạnh. Tử thi tuy được sắp xếp ngay ngắn nhưng không theo một thứ tự nào, đầu người này quay mặt vào chân người nằm cạnh. Xác nào cũng bê bết máu, quân phục rách bươm, nhầu nát và ướt sũng. Nét mặt mọi xác đều lộ vẻ kinh hoàng, rúm ró tới mức ghê rợn, không dễ nhận diện. Rất nhiều bộ mặt bị nát bấy, tím ngắt, từ hai lỗ mũi chảy ra hai vệt nước xám đen, đặc sệt, không rõ là máu hay bùn đất.

    Phòng quá tối, ánh đèn xe jeep chỉ chiếu sáng lên tường vôi trắng, rồi phản chiếu một ánh sáng lờ mờ xuống những khuôn mặt méo mó vì thương tích, nên dù cố gắng cũng không cách nào nhận diện. Cuối cùng tôi dùng ngọn nến trên thùng đạn soi sát vào mặt từng người. Mặt tôi ngó nghiêng rồi ngó thẳng, quay tới rồi quay lui, cố tưởng tượng một nét bình thường của người chết, để liên hệ tới nét mặt của Mùi, nhưng cố gắng mấy cũng không thành công, tôi chẳng nhận diện được ai cả.

    Nhà xác chưa có mùi hôi thường lệ, nhưng mùi máu tanh thì thực nồng, đặc biệt không khí trong phòng hình như lạnh xuống, làm tôi phát run, hai hàm răng dù nghiến chặt mà vẫn va vào nhau lộp cộp. Tôi cố gắng tự trấn an, nhưng vẫn có cảm giác rờn rợn, tóc gáy đứng dựng vì như thấy tử thần đang lẩn khuất đâu đây. Một vài tiếng động nhỏ bất thường có lẽ do chuột hoặc tiếng côn trùng khiến tôi quay vội nhìn về phía sau lưng, tôi có cảm tưởng một xác nào đó đang từ từ đứng dậy, lừng lững đi về phía tôi. Mùi máu tanh làm tôi hoa mắt, lợm giọng, ói khan.

    Mãi cả giờ sau tôi mới cố gắng làm xong công việc cực kỳ khó khăn, mà chắc chắn không bất cứ ai có can đảm, hoặc điên khùng mất trí mới làm như mình. Hai ống quần trận đang mặc, từ đầu gối xuống bàn chân ướt sũng máu, hoặc chất lỏng gì tương tự, tay tôi cũng ướt máu vì phải lật mặt tử thi để nhìn cho rõ. Dù tự trấn an là các tử sĩ nằm đây đều là đồng đội của mình, là bạn với mình, lúc sáng nay còn tay bắt mặt mừng..., nhưng tôi vẫn không xua đuổi được nỗi sợ hãi tuy vô hình, nhưng đang “hiện diện” tại ngay đây. Tôi run run cắm lại ngọn nến trên thùng đạn, rồi vội vã ra khỏi nhà xác như trốn chạy, lái xe ra cổng nhà thương tìm được người tài xế, mà tay vẫn còn run.

    Trời tối đã lâu, tôi lại chưa ăn một chút gì từ sáng, nhưng vẫn không thấy đói. Tôi bảo anh tài xế đưa tôi về kho đạn trước khi về nhà. Vào văn phòng, tôi tháo bỏ đôi giầy cao cổ và bộ quân phục nhơ nhớp máu, rồi mang mọi thứ ra bờ hồ nước mặn rộng mênh mông cạnh kho đạn, cuộn bộ quân phục và đôi vớ nhét vào một ống cống gần đó, còn đôi giầy trận tôi rửa thực sạch cả trong lẫn ngoài, với ý định sẽ dùng lại nó khi khô hết nước. Rồi chỉ với quần đùi cùng áo lót, tôi bảo anh tài xế đưa tôi về nhà.

    Vì chờ tôi từ sáng tới khuya trong tình trạng bất an, vợ tôi đón ngay từ cửa, nàng không hỏi gì thêm vì anh Đại đội phó đã điện thoại báo cho nàng việc tôi về trễ, nàng lấy quần áo pyjama cho tôi thay, rồi lui cui hâm lại đồ ăn đã nguội lạnh vì chờ tôi đã quá lâu. Các con tôi vẫn còn thức, đang học bài, chúng thấy bố về nhà với độc quần áo lót, bộ mặt thiểu não bất thường, nên chẳng đứa nào dám đến gần nhõng nhẽo líu lo như thông lệ.

    Biết tôi nhọc mệt lại đói vì từ sáng không ăn một chút gì, vợ tôi cặm cụi làm cho tôi một món đặc biệt mà tôi thường ưa thích: một miếng beefsteak lớn bằng cả bàn tay, cùng với cà chua chín thái mỏng và khoai tây chiên vàng, lại thêm một ly rượu chát đỏ, chúng tôi để dành từ lâu, chỉ dùng khi có “đại tiệc”.

    Tôi ngồi vào bàn, vì mệt nhọc nên cũng chẳng muốn ăn, mắt lơ đãng nhìn miếng beefsteak mà vợ tôi đã trân trọng và khổ công sửa soạn từ chiều. Miếng thịt dầy dặn, chiên thực khéo nên vừa đủ chín mà không cháy, trên mặt miếng thịt mầu nâu đậm còn rịn ra một chất nước hồng hồng. Đột nhiên tôi nghĩ tới cảnh nhà xác, tới các bộ mặt nát bấy của các tử sĩ, rồi nhìn lại miếng beefsteak sắp ăn, thế là tôi vội buông dao nĩa, chạy vội vào nhà vệ sinh để ói tới mật xanh mật vàng. Tôi ói tới lúc không còn gì trong bao tử để ói, mà cổ họng vẫn cuồn cuộn đưa lên, ruột tôi đau quặn như thắt lại, nước mắt nước mũi tèm nhem không lau kịp.

    Mãi lâu lắm tôi mới lết được vào giường nằm nghỉ, tôi nằm im lặng nhìn lên trần nhà, nhưng ruột tôi vẫn cồn cào, đau quặn và cổ họng ói khan vẫn muốn đưa ra. Nằm im một lúc rất lâu, nước mắt đã khô, nhưng mắt vẫn còn rát như xát ớt ....

    Đột nhiên có tiếng đập cửa, vợ tôi vội chạy ra, rồi một lúc lâu sau trở vào nói với tôi: ” Có một ông Trung úy trên Liên Đoàn Quân Cụ tới muốn gặp anh. Em đã mời anh ấy vào trong phòng khách, anh có thể cố gắng dậy ra gặp anh ấy được không”. Tôi cố gắng gượng ra tiếp khách, đó là anh Minh, cũng là bạn và cùng cấp bậc như tôi, anh làm việc trên Liên Đoàn 82 Quân Cụ, coi về quân xa cùng vũ khí, khác với tôi chuyên về bom đạn, chúng tôi cùng trong ngành Quân cụ nên rất thân nhau.

    Anh Minh nói với tôi: ”Thiếu tá Liên Đoàn trưởng cho gọi anh đến trình diện gấp tại tư thất. Anh làm gì để ổng giận dữ mà la hét ầm ầm? Tiện có xe jeep tôi đưa anh đi, rồi trả anh về nhà, đêm nay tôi trực”.

    Tôi xin tạm dừng một phút nơi đây, để nói sơ qua về tổ chức và nhiệm vụ của ngành Quân Cụ ngày đó. Quân cụ là tiếng gọi tắt của các từ “Dụng cụ dùng trong quân đội”, là số quân dụng khổng lồ và đắt khủng khiếp như quân xa, chiến xa, các loại súng ống cùng đại bác, các loại đạn dược, bom, mìn, hỏa tiễn cùng chất nổ. Số quân dụng lớn lao trên còn được phân chia thành “Loại”: “Loại 2 và 4” chỉ quân xa và vũ khí, “Loại 5” cho bom đạn. Mỗi “Loại” như vậy đều có các đơn vị chuyên môn và riêng biệt chịu trách nhiệm, không ai xen vào lãnh vực của ai.

    Tại Quy-Nhơn ngày đó có Liên đoàn 82 Quân Cụ, coi về “Loại 2 & 4” do một Thiếu tá chỉ huy. Liên đoàn này chỉ trợ giúp Kho đạn “Loại 5” chúng tôi trong công tác hành chánh cùng quản trị quân số. Tôi kính trọng ông Thiếu tá này vì cấp bậc trong quân đội, mà không thống thuộc ông trong hệ thống chỉ huy.

    Tôi mặc vội bộ thường phục, vì nghĩ đêm đã khuya và cũng vì đôi giầy trận tôi còn phơi trong trại, theo anh Minh đến gặp ông Liên Đoàn trưởng 82 tại tư thất sang trọng của ông.

    Ông Thiếu tá trong bộ kymono mầu bordeaux rất đẹp, ngồi tại salon cạnh bà vợ trẻ. Có lẽ chờ tôi đã lâu nên vừa thấy tôi vào, ông lớn tiếng “chửi” liền: “Đ.m. !!! Tại sao tôi cho gọi anh từ chiều, mà bây giờ mới tới? Anh bỏ đi chơi đâu từ sáng nay? Ai cho phép anh mặc thường phục tới trình diện tôi? Anh có biết quân phong, quân kỷ là gì không? Lính của anh chết trên đèo Mang Giang mà anh không hề hay biết, cứ trốn đi chơi, đi ăn nhậu. Tôi sẽ bỏ tù anh, sẽ lột lon anh, vì tội vô trách nhiệm này”.

    Tôi không dám viết ra thêm những ngôn từ hạ cấp của ông Thiếu tá hách dịch và thiếu tư cách này. Tôi cũng không phân trần một câu, vì dư biết lúc này bên bà vợ trẻ, ông chỉ muốn nói, muốn thị oai mà không muốn nghe ai. Vả lại ông có tật nói cà lăm, chữ nọ vấp chữ kia líu tíu, nghe rất .... mệt, và không thể nào hiểu được. Mãi sau, có lẽ vì mỏi miệng nên ông im tiếng, tôi mới có dịp xen vào: ”Thưa Thiếu tá, tôi biết tin này ngay từ trưa nay, rồi cả buổi chiều và buổi tối hôm nay, tôi tìm anh Mùi tại Quân y viện cùng nhà xác, nhưng không thấy, có lẽ anh ấy còn kẹt trên đèo Mang Giang, ngày mai tôi sẽ lên đó tìm tiếp”.

    Nói xong tôi đứng dậy ra khỏi nhà ông, không chào cũng không để ông kịp có phản ứng gì tiếp. Tôi sợ nếu ngồi nán lại, dù với bản tính cực kỳ trầm tĩnh của mình, nhưng bị liên tiếp “chọc giận”, tôi sẽ khó giữ được những hành động nóng nẩy, ngôn ngữ sỗ sàng, sẽ nói năng bậy bạ y như ông Thiếu tá này. Tôi nghĩ “tránh hủi, không xấu mặt”.

    Hôm sau tôi vào trại thực sớm, với ý định dù phải đi một mình, tôi cũng lên đèo Mang Giang tìm tin tức của Mùi. Nhưng khoảng 9 giờ sáng, nhân viên tôi gửi lên túc trực tại Quân y viện gọi về: ”Thưa Trung úy, có nhiều xe GMC tải thương vừa về tới nơi, mời Trung úy lên ngay”.

    Chỉ vài phút sau tôi đã tới Quân y viện Quy Nhơn. Trong lúc chứng kiến việc di chuyển thi hài từ xe xuống, tôi nhận ra ngay người chiến hữu của tôi: anh Mùi, nằm chung trong những tử sĩ xấu số này.

    Mùi nằm trên băng-ca, đang được chuyển từ xe GMC xuống thềm nhà xác. Mặt anh xám ngoét nhưng cực kỳ bình thản, đôi mắt khép hờ như trong giấc ngủ say. Quần áo anh ướt nhẹp và đẫm máu, vết thương dù đã qua một ngày mà vẫn không cầm, máu vẫn rỉ ra nhiều nhất ở phần bụng. Tôi sờ má rồi cầm lấy tay anh, da anh lạnh ngắt nhưng còn mềm mại, chứng tỏ anh mới qua đời không lâu.

    Ông Thượng sĩ già đi theo đoàn xe tải thương nói với tôi: ”Tôi kiếm được anh này sáng sớm nay, anh nằm phía trước một bụi cây thực rậm, chỗ này chúng tôi qua lại rất nhiều lần chiều qua mà sao không nhìn thấy”. Rồi sau một hơi thuốc Quân tiếp vụ nồng nồng, ngai ngái để lấy lại bình tĩnh, ông tiếp: “Chúng tôi đoán có lẽ mới đầu anh ta chỉ bị thương thôi, nên trốn sâu trong bụi rậm để tụi VC không tìm thấy. Hôm qua chúng tôi đã gọi nhiều lần nhưng anh tưởng là “chúng nó” gọi, nên không dám mò ra. Rồi tới gần sáng, biết không sống nổi, lại nghĩ nếu cứ ở sâu trong đó thì mất xác, nên cố bò ra để chết ở phía ngoài, chúng tôi tới là nhìn thấy ngay”.

    Đứng trước thi hài Mùi nằm bất động trên “băng ca”, tôi tự cảm thấy mình có phần nào trách nhiệm trong cái chết này, nên bịn rịn không nỡ bỏ mặc anh trong căn nhà xác âm u ghê rợn. Tôi xin nhà thương tắm rửa cho anh, nhưng việc tẩm liệm sẽ chỉ cử hành theo lời yêu cầu của chúng tôi vào chiều nay, sau khi thông báo cùng chờ ý kiến của thân nhân người quá cố.

    Có lẽ công việc khó khăn nhất trong đời, không ai muốn nhận là báo tin tử trận, nhưng hôm nay tôi vẫn phải làm cái việc tế nhị này. Tôi muốn tới gặp gia đình Mùi để đại diện cho đơn vị nhỏ bé nhưng thân thương của chúng tôi, chân thành chia sẻ sự đau buồn với thân nhân người quá cố. Tôi bảo anh tài xế đưa tới nhà Mùi trong trại gia binh.

    Vừa nhìn thấy chúng tôi, chị Mùi một tay bế đứa con nhỏ khoảng chừng vài tháng, tay kia dắt đứa lớn hơn ra đón trước cửa, chị nghẹn ngào trong tiếng khóc: ”Em biết rồi, em biết tin từ sáng nay rồi. Hôm qua khi được tin đoàn xe bị phục kích, em đã đoán ngay tới việc chẳng lành này, rồi sáng nay Chuẩn úy Tu đến báo tin đã tìm thấy xác nhà em trên đèo Mang Giang, em như chết ngay từ lúc đó. Từ nay mẹ con em không biết sống sao đây”. Dù đã tiên liệu những việc sẽ xẩy ra, cùng những lời sẽ nói, nhưng lúc này trong hoàn cảnh quá thương tâm, tôi quên hết những lời dự tính sẽ nói để an ủi người góa phụ. Mọi lời nói của tôi lúc này chỉ là thừa.

    Chị Mùi nhờ chúng tôi toàn quyền quyết định trong việc khâm liệm và chôn cất người chồng ngắn số ngay tại Quy-Nhơn. Chị nói trong nước mắt: “Em chẳng biết làm gì trong hoàn cảnh đau đớn này, em một nách 2 con mọn, lại không còn một đồng xu nhỏ, quê chúng em ở quá xa, mãi tận Sóc Trăng lại trong vùng “tụi nó” kiểm soát, nên mọi việc em nhờ Trung úy và các anh em trong kho đạn định đoạt, thế nào cũng được”.

    Anh em chúng tôi ngày đó, từ binh lính tới sĩ quan, đều túng thiếu như nhau, chúng tôi phục vụ tại kho đạn là một trong những đơn vị hoàn toàn không hề có lấy một xu “quỹ đỏ, quỹ đen” như các đơn vị lớn khác, mỗi khi cần một số tiền dù rất nhỏ, dùng trong công tác xã hội, chúng tôi đều phải chia nhau đóng góp kẻ ít người nhiều. Hôm nay cũng vẫn theo “thông lệ” tội tình đó, chúng tôi lại đóng góp, vì biết rằng chẳng ai thương xót cứu trợ chúng tôi bằng chính chúng tôi tự cứu trợ lẫn nhau.

    Chúng tôi khâm liệm và chôn cất Mùi bằng tất cả những gì có được. Anh được an táng trong một nghĩa trang tư nhân ngay cạnh kho đạn, tiền mua đất do toàn thể anh em chúng tôi chung góp, ngoài ra chính người chủ nghĩa trang thấy hoàn cảnh thương tâm cũng giảm giá rất nhiều. Lễ an táng diễn ra trong không khí cực kỳ trang nghiêm và cảm động. Toàn thể quân-nhân, công-chức và lao-công phụ-động cơ hữu kho đạn, lại thêm Tiểu-đoàn Địa phương quân, Phòng Vệ kho đạn gồm nhiều trăm người, tất cả tề tựu trước mộ huyệt để tiễn đưa Anh, trong không khí cực kỳ trang nghiêm hiếm thấy.

    Liên đoàn 82 Quân cụ của ông Thiếu tá hách dịch nói trên, không giúp đỡ cũng không hề gửi đại diện tới chia buồn với gia đình người quá cố.

    Sau biến cố trên, tôi tưởng việc đề cử quân nhân áp tải đạn dược sau này sẽ gặp khó khăn, vì không ai muốn nhận công tác nguy hiểm đó. Nhưng thực bất ngờ ngoài dự đoán, các quân nhân đến phiên công tác đều hăng hái lên đường, họ coi việc làm đó như nhiệm vụ bình thường của một quân nhân có kỷ luật. Họ hăng hái như vậy có thể một phần do đã chứng kiến các việc làm của đơn vị chúng tôi “đền ơn” người bạn quá cố : Chiến hữu Nguyễn Văn Mùi.

    Anh Tu, người Đại đội phó của đơn vị, bằng cách nào đó đã vận động để gần một tháng sau chị Mùi được lãnh 12 tháng lương tử tuất của chồng. Chúng tôi tuy tạm thời an tâm, nhưng cũng biết số tiền này chỉ giúp chị và hai con nhỏ sống tạm trong thời gian ngắn, cần phải có giải pháp lâu dài và vẹn toàn hơn giúp họ.

    Một hôm chúng tôi cho mời chị Mùi tới đơn vị, đề nghị chị vào làm cho kho đạn với quy chế “Phụ động”, như chúng tôi đã có ngân khoản thuê mướn dài hạn cả trăm người như vậy. Đặc biệt trường hợp của chị vì sức yếu lại còn con nhỏ nên sẽ chỉ làm các việc vặt trong đơn vị, mà không phải khuân vác đạn dược như mọi người phụ động khác. Nhưng chị từ chối, chị nói với chúng tôi: ”Em cảm ơn Trung úy cùng tất cả các anh chị em trong kho đạn, đã thương mến giúp đỡ mẹ con em trong hoàn cảnh ngặt nghèo này. Nhưng em muốn đưa các cháu nhỏ về bên ngoại chúng tại Sóc Trăng, để mẹ con, bà cháu đùm bọc sống qua ngày. Ở Quy-Nhơn này không còn nhà em, chúng em sống sao nổi”.

    Khoảng một tuần, sau khi nói chuyện với chị Mùi, ông Thiếu tá Liên đoàn trưởng 82 Quân cụ điện thoại gọi tôi lên Bộ Chỉ Huy Liên đoàn cũng để nói về việc này, nhưng dưới một hình thức khác. Vẫn bộ mặt đen đủi và nhăn nhó bẩm sinh, giọng nói cà lăm khiến người nghe phát mệt, ông gay gắt hỏi tôi: “Đ. M., việc giúp đỡ cho vợ con thằng Mùi anh có ý định gì không, tới đâu rồi? Các anh thực vô tích sự, lính trong đơn vị chết mà không ai nghĩ đến việc giúp đỡ vợ con họ, như vậy còn thằng lính nào muốn làm việc cho các anh”.

    Dù rất bất bình với “nghệ thuật chỉ huy” đặc biệt cố hữu của ông Liên đoàn trưởng, mỗi khi mở miệng với thuộc cấp là chửi thề tục tĩu như một thói quen khó bỏ, nhưng tôi cố dằn vì biết nếu làm ông cụt hứng sẽ có kết quả rất tai hại cho mình, tôi ôn tồn nói với ông: ”Thưa Thiếu tá, quân nhân phục vụ cho quân đội, chứ không “làm cho” bất cứ riêng ai. Việc giúp đỡ cho gia đình binh sĩ chúng tôi xếp ngang hàng với các công tác khác, riêng đối với hoàn cảnh của chị Mùi, chúng tôi đã nghĩ tới từ lâu, và đang tìm cách nào tốt nhất giúp chị ấy. Hiện giờ chị Mùi vẫn còn bàng hoàng về cái chết của chồng, đang cần một thời gian tĩnh dưỡng nghỉ ngơi, chúng tôi đã đề nghị chị Mùi vào làm tại kho đạn, nhưng chị ấy không nhận”.

    Ông Thiếu tá có lẽ cũng thấy mắc cỡ vì giọng côn đồ của mình, nên ôn tồn hơn: ”Thôi cũng được, anh bảo chị ấy làm đơn xin việc đưa lên tôi, rồi cho thâu nhận vào làm việc trong kho đạn với tính cách lao công phụ động”.

    Tôi xen vào khi ông Thiếu tá chưa nói hết câu: ”Thưa Thiếu tá, như vừa trình Thiếu tá, chúng tôi đã cho mời chị ấy tới kho đạn, đề nghị giúp việc trong kho, nhưng chị Mùi không muốn đi làm, nhất là làm công việc của kho đạn, vì công việc đã quá nặng nhọc trong khi chị ta rất yếu đuối”.

    Ông Thiếu tá ngắt lời tôi: ”Tôi đã nói hết đâu, tôi đâu muốn chị ấy phải vác đạn, sức đó làm gì nổi! Theo ý tôi muốn nói là chỉ ghi tên chị ta vào danh sách lao công phụ động của kho đạn, nhưng vẫn ở nhà rồi hàng tháng tới lĩnh lương, tức là chỉ có tên trong sổ lĩnh lương thôi, chứ không phải đi làm”.

    Tôi thực sự bàng hoàng về “ý kiến mới mẻ” của ông Liên đoàn trưởng, Liên đoàn 82 Quân cụ hôm đó, mới mẻ vì “không làm mà vẫn lĩnh lương”. Mãi một lúc sau tôi mới nói lên lời: ”Thưa Thiếu tá, chỉ thị của Thiếu tá quá mới mẻ làm tôi lãnh hội không kịp. Trong kho đạn chúng tôi có cả hàng trăm lao công làm việc, nếu đặc biệt cho một người, các người khác sẽ suy bì, đưa đến nhiều hậu quả phiền phức vì một việc làm không đáng gì. Tôi kính đề nghị xin Thiếu tá cho chị Mùi làm việc tại Liên đoàn, Liên đoàn vừa làm lương, vừa phát lương sẽ tiện hơn chăng. Riêng kho đạn thì không dám làm như vậy “.

    Có lẽ ông Thiếu tá cho tôi là thằng ngu ngốc nhất đời, sáng kiến “dùng của người, làm phúc ta” thần diệu như vậy mà không biết nhận, nên nạt ngay: ”Anh ngu bỏ mẹ! Công việc của Liên đoàn là làm kế toán, là viết văn thư, đâu phải vác đạn khổ sở như các anh mà thâu nhận lao công. Tôi có ý muốn giúp cho chị ta có tiền chi dụng, cũng như giúp kho đạn các anh có dịp trả công cho thân quyến người đã hy sinh, riêng tôi có lợi lộc gì, nếu anh không muốn thì thôi”. Nói xong, ông khoát tay lia lịa, muốn đuổi tôi ra khỏi văn phòng.

    Trên đường về, và cho tới mãi hôm nay đã qua nhiều chục năm dài, mỗi khi nhớ lại chuyện này, tôi vẫn phân vân nghĩ mãi không ra, việc tôi “khôn” hay “ngu” trong khi từ chối “hảo ý” của ông Thiếu tá liên đoàn trưởng muốn người quả phụ tử sĩ hàng tháng được lãnh lương, mà không phải làm việc? Dù tự nhận mình ngu, đã không giúp đỡ gì cho chị Mùi cùng hai cháu nhỏ, nhưng lại tự bào chữa có thể vì “ngu” như vậy nên đã không bị vướng mắc vào bất cứ trở ngại gì về tiền bạc sau này. Đành để ông Thiếu tá Liên đoàn trưởng 82 Quân cụ “khôn” một mình ông.

    Hơn một tháng sau, chị Mùi vào kho đạn chào từ biệt chúng tôi để về Sóc Trăng, chị nói trong ngậm ngùi: ”Em về đó sống tựa vào má em, quê bà cụ lại ở vùng không mấy an ninh, ban ngày quân mình nhưng ban đêm là mấy ổng”. Im lặng hồi lâu, chị tiếp: ”Vì ở nơi mất an ninh như vậy, nên dù rất mang ơn Trung úy nhưng lại không dám mời Trung úy có dịp ghé thăm Sóc Trăng quê mùa của mẹ, con, bà, cháu chúng em. Dù khó có ngày gặp lại, nhưng suốt đời em sẽ không bao giờ quên ơn Trung úy và các anh chị em trong kho đạn”.

    Tôi dặn anh Tu lấy xe jeep kho đạn, tới nhà đón mẹ con chị Mùi ra bến xe vào sáng sớm hôm sau.

    Khoảng 9 giờ sáng, anh Tu lên báo với tôi: “Vợ chồng tôi cùng ra bến xe tiễn chị Mùi. Lúc xe sắp chạy, chị ấy khóc quá cứ nắm cứng lấy tay nhà tôi không rời, làm “bà xã” tôi cũng khóc theo. Chị Mùi gửi lời chào và cám ơn Trung úy cùng tất cả các anh chị em trong kho đạn của mình”.

    Hơn một năm sau tôi bị thuyên chuyển từ Quy Nhơn về Cần Thơ, nguyên do xích mích với ông Thiếu Tá Liên đoàn trưởng 82 Quân cụ, trong việc ông muốn chiếm đoạt một số gỗ ván của trại gia binh kho đạn, nhưng tôi không cho. Thị xã Cần Thơ không xa Sóc Trăng bao nhiêu, tôi lại có nhiều dịp đi công tác tới nơi này, tôi vẫn có ý định muốn tìm gặp gia đình chị Mùi cùng 2 cháu nhỏ nhưng không được, vì nơi này đã hoàn toàn mất an ninh. Tôi vĩnh viễn mất liên lạc với gia đình Mùi, người bạn thân thương đã một lần cùng chúng tôi đồng lao, cộng khổ tại một nơi mà ngày nay thực tình tôi không còn muốn trở lại : Qui-Nhơn.

    Phạm Văn Nhuệ

  • Venus

    May 24th 2012, 10:15 am
  • Qui Nhơn hay là Quy Nhơn ta ??? Confused ???

  • Lòng Trắc Ẩn

    May 24th 2012, 10:47 am
  • tựa là Quy Nhơn mà cuối bài lại là Qui Nhơn Innocent .. Ken cũng bó râu luôn .. Laugh


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group