Cuộc đời . . . Rắc Rối !!! - Phạm Văn Nhuệ

  • Lòng Trắc Ẩn

    May 23rd 2012, 5:48 pm
  • Cuộc đời . . . Rắc Rối !!! - Phạm Văn Nhuệ




    Cuộc đời tôi không nhiều may mắn, tôi muốn có đủ mọi thứ nhưng hình như tôi chẳng có một thứ gì cho ra hồn. Những ngày còn mài đũng quân trên ghế các lớp Trung học trường Tỉnh Thái Bình, tôi mê các “thần tượng” của tôi như Lê văn Trương, Nhất Linh, Khái Hưng, v.v... tôi ước ao ngày nào đó sẽ “viết” được như họ, nhưng “ngày nào đó” chẳng bao giờ tới, ngoài vài bức thư lâm ly vớ vẩn gửi về nhà quê cho bố tôi, xin tiền học, tiền ăn, tiền mua sách, mà tới chín mươi phần trăm tôi dùng vào việc mua tác phẩm của các “thần tượng” nói trên.

    Tôi viết đã không nổi, vậy mà hôm nay tôi sắp phải làm công việc khó khăn đó, tôi phải dùng bút ghi lại một vài “rắc rối cuộc đời” mà tôi dù muốn tránh, nhưng vẫn gặp. Nếu “cưỡng từ đoạt lý” khăng khăng cho những dòng tôi viết sau đây là “Văn”, thì phải thêm nhiều tưởng tượng rằng xuôi dòng văn chương đó, đang có một “con thuyền Nghệ An” của văn hào Cao Chu Thần tiên sinh lờ lững trôi theo.

    Rắc rối cuộc đời nào nhiều hơn là việc đi lính, việc “lăn vào nơi gió cát”, vậy mà tôi vẫn làm, vì thực tình tôi không còn một chọn lựa nào hơn, khi học thì chưa tới nơi tới chốn, mà “dĩ nông vi bản” của tổ tiên thì tôi chỉ “nghe nói” mà chưa có dịp thực hành, thế rồi tháng 4 năm 1956 tôi đi lính thật, tôi “vào Đà Lạt”.

    Có thể khác xa với các bạn tôi, lý do tôi đi lính không có gì ghê gớm cả. Tôi “vào Đà Lạt” không mang bất cứ một ý nghĩa hào hùng như các bạn, nào là “non sông nguy biến” hoặc là “thỏa chí tang bồng hồ thỉ”, v.v... Tôi xin dự thi vào Trường Võ Bị Đà Lạt chỉ vì ngoài đời sống dân sự tôi “lận đận trường ốc” nhiều lần: năm nào tôi cũng đi thi, cả khoa chính tới khoa phụ, nhưng ban giám khảo hình như biết “tài học” cóc nhẩy của tôi, nên hoạn lộ dù thênh thang nhưng chỉ mở cho người khác, lại đóng chặt với tôi. Tôi đành xin dự thi vào trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, với hy vọng đường vào trường Võ Bị sẽ rộng mở cho tôi.


    Kỷ niệm vui buồn với Quân trường Đà Lạt bắt đầu từ đây.


    Kỷ niệm đầu tiên là dự thi. Tôi theo Ban “B” bậc Trung học, nên các môn học chính của “Ban” này như Việt văn, Toán, Lý, Hóa v.v... tôi còn tạm được, đôi lúc may mắn trên mức trung bình, nhưng ngược lại hai môn sinh ngữ Anh và Pháp tôi luôn luôn “cầm đèn đỏ”. Tệ nhất là Pháp văn, tôi không viết nổi một câu dài đúng mẹo luật, nói chi tới trau chuốt văn chương, bắt chước các thi hào Victor Hugo hay Chateaubriand, mà những ngày còn theo học trường Tây Pascal tại “tỉnh nhà”, tôi thuộc làu làu. Thì ra những năm tháng theo gia đình chạy tản cư nơi núi rừng Việt Bắc, tôi đã đánh rơi gần hết vốn liếng tiếng Tây còm cõi của mình. Nói tóm lại, “văn tài sinh ngữ” của tôi lúc đó vô cùng tồi tệ.

    Cũng vì bản chất ngu muội, tôi khai hết sở đoản của mình cho anh bạn thí sinh ngồi cạnh, những mong chia sẻ ưu tư. Anh Đoàn-văn-Lâm, người bạn mới quen má đỏ môi hồng, mắt anh sáng rỡ nhìn tôi, không rõ vui mừng gặp tri kỷ hay thương hại sự dốt nát của tôi, mãi sau anh mới “phán” rằng: “Moa” là dân Lycée chính hiệu của “Sặc-Sà-Lù”, “Moa” được “ông bà già” cho theo học trường Tây ngay từ lớp mẫu giáo, việc làm một bài Luận Pháp văn đối với “moa” cũng giống như việc ăn uống hàng ngày. “Moa” tính thế này: “Toa” phải giúp “moa” các môn Toán, Lý, Hóa của chương trình Việt, vì có thể nhiều danh từ chuyên môn tiếng Việt “moa” không hiểu. Đến bài Pháp văn “moa” sẽ giúp “toa”, đồng ý chứ?

    Tôi có cảm tưởng anh Lâm, người bạn mới quen nhưng cực kỳ tốt bụng, đã chắp cho tôi đôi cánh để bay lên mây, vì các trở ngại tưởng không thể vượt qua, đã được giải quyết dễ dàng ngoài mong ước. Tôi đồng ý quá đi chứ, tôi ký bằng cả hai tay!

    Nhưng tình đời tôi ngây thơ tưởng vậy, mà không phải vậy! Lòng tốt của người bạn mới quen đã có những biến chuyển không ngờ, ngoài dự liệu.

    Cuộc thi tuyển tại Sàigòn diễn ra liên tục nhiều ngày. Bài thi đầu tiên, môn Việt văn: “Nói về chiến thắng Đống Đa của vua Quang Trung”. Bài này tôi làm dễ dàng, gần như “trúng tủ”, vì với tôi, việc viết chữ nước mình chẳng mấy khó khăn, và quan trọng nhất tôi mới đọc một bài báo số Xuân, viết đúng đề tài này, ngay tối hôm trước khi thi. Tôi chỉ cần viết sơ dàn bài trên giấy nháp, rồi viết ngay vào giấy thi mà không sợ lầm lẫn. Tôi viết đúng từng địa danh Làng, Xã... nơi xẩy ra những trận chiến lừng danh. Tôi còn nhớ đúng các năm Âm lịch, đối chiếu với ngày tháng Dương lịch, nói chung, tôi gần như “đưa nguyên con” bài báo Xuân mới đọc của sử gia nào đó vào bài luận thi. Tôi có thể đoan chắc rằng, với cả ngàn bài luận thi hôm đó, không thể có bài nào toàn hảo hơn bài của tôi.

    Các môn thi Đại-số, Hình-học, Lượng-giác, cùng Vật-lý, Hóa-học .... thi vào các ngày sau đó tôi đều làm dễ dàng, nhanh chóng, hầu như không trở ngại. Các bài này tôi đã gặp nhiều lần trong những kỳ “lạc đệ” trước đây, các vị giáo sư của tôi đã giảng đi giảng lại nhiều lần, bắt tôi học thuộc như những bài thi mẫu.

    Tôi từ tốn viết các bài này vào giấy thi, kiểm soát lại từng con số cực kỳ cẩn thận, sau đó viết lại một lần nữa vào giấy nháp cho bạn tôi, tôi không giám viết tắt các danh từ khoa học, vì sợ bạn hiền không rành phiên âm tiếng Việt, rồi nhẹ nhàng luồn dưới gầm bàn, đưa tận tay bạn. Tôi làm các việc phi pháp trên với sự cẩn trọng tuyệt đối, tôi tự coi như đã hoàn tất phần nào cho bài Pháp văn, tôi sẽ phải làm trong các ngày tới vậy. Sau mỗi môn thi này, tôi ra về với tâm trạng thơ thới, hân hoan.

    Ngày cuối cùng, buổi sáng thi Pháp văn, bình giải một tư tưởng triết học của một triết gia người Phú Lãng Sa, sau đó mượn suy tưởng này ứng dụng vào Việt Nam để ca tụng tài “lãnh đạo anh minh” của ông Thủ tướng đương nhiệm, một đề tài cực khó so với trình độ học vấn của chúng tôi lúc này. Bạn hiền của tôi chắc là “trúng tủ”, chỉ cần nhìn nét hân hoan trên mặt bạn là tôi yên trí rồi, tôi cũng hân hoan không thua gì bạn, tôi cũng “trúng tủ” như bạn vậy! Còn riêng phần tôi, không nói cũng rõ, tôi chỉ hiểu lờ mờ những ý chính mà thôi. Nhưng cần gì, tôi đã có “cứu tinh” ngồi ngay bên cạnh.

    Bài Pháp văn này làm trong 4 giờ, bạn tôi có dư thì giờ múa bút, và tôi cũng dư thì giờ ngồi quan sát phòng thi, nhìn chim bay ngang cửa sổ, nghe những âm thanh hỗn tạp của Saigon náo nhiệt bên ngoài.

    Giờ thứ nhất qua đi êm ả cho cả hai người chúng tôi, tôi tránh không làm rộn bạn, làm chia trí những lý luận cao siêu trong đầu người bạn thông thái của tôi. Nhưng đến cuối giờ thứ hai tôi bắt đầu sốt ruột, vì nửa thời gian đã qua đi, mà trang giấy thi của tôi vẫn còn nguyên “trinh bạch”, tôi chưa viết được một chữ nào, dù chỉ vào giấy nháp.

    Đến giữa giờ thứ ba tôi bắt đầu mất bình tĩnh, tôi chưa có một chữ nào trong giấy thi, nhưng liếc sang tôi thấy bạn tôi đã viết kín nhiều trang đen đặc. Bạn vẫn còn viết tiếp, chưa có một dấu hiệu gì ngừng, thì lúc nào bạn nghĩ tới tôi, chuyển tờ giấy nháp quý hóa của bạn cho tôi?

    Tôi dùng chân thúc nhẹ sang bạn, nhắc bạn sự bồn chồn lo lắng của tôi, nhưng bạn vẫn tảng lờ như không đáng quan tâm, đôi lúc bạn còn giận dữ liếc sang tôi, coi tôi như kẻ thô lỗ nhất trần gian, đã làm ngăn lấp mạch văn chương đang lai láng của bạn. Tôi tuy nôn nóng, nhưng không thể làm gì hơn, đành bồn chồn ngó sang bạn, cầu mong bạn thông cảm mà sớm ban “ân huệ” cho tôi.

    Sang đến giờ thứ tư, giờ chót của buổi thi, bạn tôi có lẽ đã hoàn tất “tác phẩm” vĩ đại gồm nhiều trang giấy, bạn đọc lại bài văn đã viết rồi gật gù mỉm cười đắc ý..., trong khi cạnh bạn, tôi nhấp nhổm như ngồi trên lửa. Bạn tôi rất từ tốn và chậm rãi thu dọn bài vở, giấy tờ..., rồi một tay cầm tập bài thi, tay kia cầm cuộn giấy nháp, mà tôi đinh ninh rằng bạn chờ giám thị quay đi hướng khác, dúi sang cho tôi, như tôi đã làm cho bạn nhiều lần, trong những ngày thi trước. Tôi hồi hộp chờ bạn “trả ơn”, như giao ước đã thỏa thuận từ nhiều ngày trước.

    Nhưng tôi đã lầm, bạn tôi không làm như tôi nghĩ, bạn nắm chặt hai tập giấy trong hai tay dơ cao, bạn cúi xuống và từ tốn nói với tôi một câu, mà chắc chắn suốt đời tôi không thể nào quên được: “Moa” rất tiếc không thể giúp “toa” làm bài Pháp văn này được, vì nếu tìm ra hai bài giống nhau, người ta sẽ đánh rớt cả hai. “Moa” thì không muốn bị rớt trong kỳ thi này... , thôi “toa” cảm phiền vậy”. Nói xong bạn tôi lên nộp bài, rồi ra khỏi phòng thi.

    Nghe bạn nói dứt câu, tôi không tin ở tai mình nữa, vì nó lùng bùng như đang nghe đánh trống, như đang dự múa lân, mắt tôi đổ hào quang, và mồ hôi rịn ướt lưng áo. Sau vài phút thất thần, tôi dần bình tĩnh lại để nhận ra thực trạng cay đắng của mình: Tôi chỉ còn khoảng 45 phút phù du để làm một bài bình giải Pháp văn mà tôi hiểu rất lơ mơ, trong khi người bạn “Lycée từ Mẫu giáo” tài ba của tôi cũng phải mất trên 3 giờ vật lộn.


    Dù sao tôi cũng vẫn còn may, tôi vẫn còn 45 phút dù thực ít oi. Nếu bạn tôi “trở mặt” vào phút cuối buổi thi, thì tôi hết đường cục cựa.

    Tôi tận dụng tất cả “sở học” Pháp văn còm cõi của mình để mong cứu vãn phần nào hay phần đó. Nghĩ được câu nào tôi viết ngay vào giấy thi mà không cần nháp trước, tôi viết sao cho có chữ, cho kín giấy mà không “câu nệ” về từ ngữ cũng như văn phạm. Tôi không có thì giờ đọc lại bài làm để tự thưởng thức “văn như Siêu Quát” của mình, như bạn tôi đã làm trước đó. Đến lúc giám thị thu bài vì hết giờ, tôi cũng “bôi” kín được gần hai trang giấy thi, mà không thể nhớ được mình đã viết những gì. Tôi thẫn thờ rời khỏi phòng thi như kẻ mộng du, tôi chán nản vì thấy không còn cơ cứu vãn.

    Chiều hôm đó thi bài chót Anh văn. Tôi và bạn hiền vẫn ngồi cạnh nhau, nhưng không ai nói với ai một lời. Bài thi gồm hai phần: Dịch một bài từ tiếng Việt sang Anh văn, bài kia ngược lại, từ tiếng Anh sang Việt ngữ. Rút kinh nghiệm đắng cay của bài thi Pháp văn buổi sáng, tôi rất thận trọng và chuyên chú ngay từ phút đầu, tuy nhiên kết quả chắc cũng không mấy khích lệ, vì như đã thú nhận: Tôi không có “khiếu” sinh ngữ.

    Bạn hiền của tôi chắc cũng không khá hơn tôi, nhiều lần liếc trộm sang, thấy bạn vẫn loay hoay, hết cắn bút nhìn lên trần nhà, lại cúi xuống tẩy xóa lia chia. Đôi khi bạn nhìn sang tôi với ánh mắt cầu khẩn, khác hẳn với thái độ trịch thượng lúc đầu. Tôi tuy thực tình thương hại bạn, nhưng không có “Bồ đề tâm” như Đức Phật: đưa má còn lại cho người tát, nên lặng lẽ làm ngơ với khó khăn của bạn. Tôi cũng thực tình ngạc nhiên về tài học Lycée của bạn, và tự hỏi mình: Không lẽ trường Tây của bạn lại không dạy Anh văn? Nước Anh và Pháp chỉ cách một biển Manche, đâu có xa xôi vạn dặm như với Việt Nam mình?

    Tôi vốn nhút nhát, lại thiếu tự tin, nên ngày niêm yết kết quả thí sinh trúng tuyển vào Trường Võ Bị Đà Lạt, tôi không mấy quan tâm, thực ra tôi sợ phải đối diện với những sự thực phũ phàng, do bài Pháp văn tôi đã quá tin vào bạn. Mãi tới chiều gần tối, ước tính mọi người đi coi bảng đã về nhà hết, tôi mới lầm lũi đi coi kết quả một mình. Tôi muốn đi trong giờ phút muộn màng này, để không bị gặp bạn quen, thấy tôi trong cảnh huống tủi hổ. Tôi cũng định sẽ chỉ coi một lần cho biết, để tự mắt nhìn thấy tên mình không được “đề danh”, để không đặt nhiều hy vọng vào đường võ nghiệp.

    Danh sách thí sinh trúng tuyển gồm khoảng 200 “chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt”, được đánh máy rõ ràng trên 8 tờ giấy pelure trắng, dán phẳng phiu trong một hộp lớn, có lưới sắt bên ngoài. Tự nghĩ tên mình không thể nào có cơ may trên “Bảng Hổ”, nhưng cũng cứ dò cầu may, và tôi đọc tên tuần tự từ cuối bảng đi lên, từ người đậu chót lên người áp chót. Tôi thấy tên người bạn hiền của tôi, anh Đoàn-văn-Lâm trúng tuyển với thứ hạng 161, tôi mừng cho bạn gặp may, và không dò tìm thêm nữa. Tôi tự nghĩ đã làm bài Pháp văn dở thua anh, thì sao có thể đậu cao hơn anh được, có dò tìm thêm nữa cũng chỉ tốn công vô ích mà thôi.

    Cổ họng tôi rát khô và đắng nghét, lưỡi rộp lên như ăn lầm phải muối rang, tôi lầm lũi ra xe bán nước giải khát đầu đường, hỏi mua ly chanh muối, uống để nuốt theo niềm đắng cay!!!

    Mãi khoảng nửa giờ sau, khi thần trí đã phần nào tỉnh lại, tôi trở lại bảng danh sách dò tiếp từ hàng 160 trở lên, để tìm cầu may tên một vài người bạn khác cùng thi với tôi hôm đó, mà không phải cho tôi. Cũng có một vài người bạn quen trúng tuyển, thứ hạng trên dưới 100. Mắt tôi dò tiếp lên hàng chục, 90 rồi 80 mà tâm trí để tận đâu đâu, không có một chủ định gì rõ rệt.

    Bỗng nhiên mắt tôi như hoa lên, đầu tôi choáng váng như bị vật gì đập mạnh, đầu gối dường như lỏng ra, chân đứng hầu như không vững..., khi nhìn thấy tên mình nằm ngay ngắn và thực rõ ràng ở hàng 21. Trong số thí sinh cả ngàn người hôm đó, không có ai trùng với tên tôi, nên tên tôi trên bảng kia chẳng thể là ai khác. Tôi đứng lặng thực lâu để tìm lại bình tĩnh, để bớt hồi hộp, cả giờ sau tôi mới ra về, tâm trí lâng lâng như người say rượu.

    Ngày chúng tôi nhập trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt thực là hồi hộp, tôi có nhiều bạn mới, ai cũng đẹp trai và hoạt bát như nhau. Bạn hiền của tôi, anh Đoàn-văn-Lâm cũng trong số những người “tuổi trẻ tài cao” này. Có lẽ do định mệnh trớ trêu, tôi và bạn hiền được xếp chung vào cùng Đơn vị nhỏ nhất: Trung đội 2, Đại đội 1. Thêm nữa, chúng tôi cùng ngủ chung phòng cùng với 10 người bạn mới khác, tôi nằm giường tầng dưới, bạn tôi ngủ tầng trên. Chúng tôi gặp lại nhau trong cảnh bẽ bàng khó tả!!


    Mang câu chuyện lạ lùng hi hữu trên kể cho một vài người bạn khác, chúng tôi kết luận bằng cách đoán mò rằng: bạn tôi có thể rất giỏi Pháp văn, nhưng môn thi này có “hệ số điểm” rất thấp, trong khi các môn khác có hệ số thực cao thì bạn lại không đạt tiêu chuẩn, không được điểm cao, chỉ vì bạn học trường Tây, nên không rành tiếng Việt, mới ở cảnh “ngựa về ngược” dở khóc dở cười.

    Việc chỉ trích và phê bình thiên vị cho một nơi chốn đã gây ra cho mình nhiều cực nhọc, gian truân là điều dĩ nhiên, ít ai tránh khỏi dù chúng ta có là “thánh hiền” chăng nữa. Riêng tôi cũng vậy, tôi biết trường Võ Bị Đà Lạt có công huấn luyện các thanh thiếu niên ngỗ nghịch chúng tôi thành những sĩ quan tài ba, lập nhiều chiến công hiển hách trong quân sử, nhưng việc trường được độc quyền ban phát kỷ luật sắt thép cho đám sinh viên sĩ quan khờ dại, đã có nhiều lạm dụng, tôi chủ quan nghĩ vậy.

    Khóa chúng tôi được huấn luyện bằng kỷ luật sắt trong 2 năm liên tục. Sau năm thứ nhất, chúng tôi phải qua một kỳ thi “Giai đoạn 1”. Kỳ thi này nhằm loại bớt một số SVSQ quá kém về quân sự và văn hóa, nhưng lại rất kỷ luật để không hề vi phạm bất cứ lỗi lầm gì về quân kỷ. Tôi không biết rõ số lượng SVSQ thiếu may mắn bị loại này, nhưng riêng tôi đã qua kỳ thi với thứ hạng khá cao.

    Kỳ thi này cũng còn có mục đích xếp loại SVSQ theo thứ hạng cao thấp về cả văn hóa và quân sự, để đặt vào các chức vụ “SVSQ Cán bộ” trong hệ thống “Tự chỉ huy”, một hình thức tập chỉ huy lẫn nhau, trước khi chỉ huy người khác. Hệ thống tự chỉ huy này mới bắt đầu từ Khóa chúng tôi, rồi tiếp tục truyền lại các Khóa sau này, chỉ chấm dứt cùng ngày toàn miền Nam bị bức tử, cuối tháng 4 năm 1975.

    Người SVSQ đậu cao nhất sẽ được chỉ định đảm nhiệm chức vụ chỉ huy quan trọng nhất trong Khóa, ngày đó là SVSQ Cán bộ Trung Đoàn trưởng, xuống dần tới Trung Đội trưởng là cuối cùng. Các chức vụ đó vĩnh viễn tới ngày mãn khóa, nếu không bị “cách chức” vì những lệnh đặc biệt từ Bộ chỉ huy nhà trường. Tôi vì đậu khá cao, nên được chỉ định làm SVSQ Cán bộ Đại Đội trưởng Đại Đội 1, chỉ huy các Trung Đội trực thuộc 1, 2, và 3. Rắc rối cuộc đời tôi cũng lại bắt đầu từ lúc này.


    Là SVSQ “Cán bộ”, tôi có một vài đặc quyền nho nhỏ như miễn trực, gác và tạp dịch, được mang kiếm chỉ huy, thay vì vác súng Garant M.1 trong các dịp diễn hành. Việc được mang kiếm cũng là “đặc lợi”, vì thử tưởng tượng trời nắng như thiêu tại Saigon, hoặc lạnh như cắt da của Đà Lạt, với cây súng Garant cùng lưỡi lê nặng cả 5, 6 ký trên vai, xếp hàng túc trực trước các tư dinh từ giờ này qua giờ khác, hoặc trong đội hình diễn hành, sẵn sàng trước khán đài từ 1, 2 giờ sáng tới 4, 5 giờ chiều ..., mới thấy sức nặng của cây kiếm chỉ chừng nửa ký, nó “quan trọng” và “ân huệ” biết chừng nào!!!

    Thành ngữ “càng cao danh vọng, càng nhiều gian truân” ứng dụng vào thời gian tôi làm SVSQ Cán bộ Đại Đội Trưởng tại Trường Võ bị Đà Lạt chỉ đúng một nửa, lại nửa sau: “càng nhiều gian truân”.

    Có lẽ tôi là người độc nhất, hoặc là một trong số rất hiếm hoi SVSQ được chỉ định làm SVSQ Cán Bộ lại không phải là đảng viên của một đảng độc tôn, có quyền uy tuyệt đỉnh lúc bấy giờ. Đảng này do người em trai của vị nguyên thủ quốc gia lúc bấy giờ đứng ra thành lập, với mục đích duy nhất giúp người anh củng cố quyền hành. Tôi với bản tính ngang ngược, không thích bất cứ một đảng phái hay phe nhóm nào, nên nhiều khi được rủ rê gia nhập, tôi vẫn khăng khăng chối từ. Tôi từ chối không phải vì ghét gì tôn chỉ của đảng, mà chỉ thấy không ưa điệu bộ mặt kiêu căng phách lối của người bạn có đảng tịch rủ rê tôi.

    Trong bất kỳ cơ quan công quyền nào của Việt-Nam ngày đó, các đảng viên của đảng này đều nắm giữ những chức vụ chỉ huy then chốt. Trường Võ Bị Đà Lạt thân yêu của tôi cũng không thoát “thông lệ” này, các đảng viên được “bố trí” dọc theo “hệ thống quân giai” từ Bộ chỉ huy nhà trường cao xa, xuống đến đội ngũ SVSQ cấp chót chúng tôi, đâu đâu cũng có những con mắt canh chừng, dọa nạt. Khốn thay, những “cặp mắt” nguy hiểm này lại có rất nhiều trong đại đội tôi.

    Tôi khốn khổ với các SVSQ có đảng tịch này, họ không giỏi hơn ai, không giữ bất cứ chức vụ nào trong hệ thống SVSQ “tự chỉ huy”, nhưng tự coi như có quyền hành tuyệt đỉnh với bạn bè, muốn giở hành động “côn đồ” bất cứ lúc nào cũng được. Tôi còn nhớ trong đại đội do tôi trách nhiệm, một anh bạn loại này luôn luôn xen vào công việc của tôi, anh hạch sách tôi việc này, kiểm soát tôi chuyện kia, hầu như dưới mắt anh, tôi không còn là cái gì hết, chỉ vì anh có đảng tịch, còn tôi thì không.

    Thực tình những lúc đó tôi có hơi “ngán” anh, tôi sợ cái đảng tịch cùng bè lũ đảng viên côn đồ của anh sẽ có ảnh hưởng tai hại cho tương lai tôi, một tương lai không mấy sáng sủa từ lúc chân ướt chân ráo bước vào đời. Hành động “cáo đội lốt hùm” của anh đúng là hành động ngang ngược đầy thú tính của các tên quản giáo trong các trại tù cải tạo của cộng sản sau này, khi chính anh bị sa vào tay chúng.

    Tới một hôm không còn chịu nổi, tôi nắm cứng ngực áo anh, dứ quả đấm vào mặt anh, và gằn giọng: “Ông bạn, ông khôn hồn thì câm ngay miệng lại, và bước ra khỏi phòng ngay lập tức, ông nói thêm một lời, tôi sẽ “dộng” ông gẫy răng ngay...” Thấy tôi nổi nóng, anh cũng biết sợ, lỉnh ngay, nhưng cũng vẫn còn dọa nạt: “Rồi anh sẽ biết tay tôi!!!”.

    Tôi đã chuẩn bị chờ anh bạn trả thù, nhưng tới ngày anh và tôi cùng ra trường với lon Thiếu úy, anh vẫn chẳng ra tay. Rồi qua bao thăng trầm của vận nước, của đời tôi, của đời anh, tôi và anh cùng lần lượt trước sau tới “ăn nhờ ở đậu” xứ Cờ Hoa, cũng vẫn chẳng thấy anh “rửa hận”. Hay trong thời gian dài nằm “bóc lịch vô thời hạn” sau này tại các trại tù cải tạo Bắc Việt, tụi quản giáo ác ôn đã “cải tạo” được tính nết của anh, khuyên anh nên “xóa bỏ hận thù” với các đồng đội một thời cùng chí hướng?

    Người bạn tài ba của tôi còn có nhiều tài lạ khác, ngày còn cùng anh tu nghiệp chuyên môn tại Liên trường Võ khoa Thủ Đức, chúng tôi đã chứng kiến việc anh mượn điện thoại của phòng trực quân trường gọi đi đâu đó, chỉ 24 giờ sau anh được đón ra khỏi trường, khơi khơi về trình diện Bộ Quốc Phòng, rồi từ cấp bậc Thiếu úy đang mang, anh được chuyển đổi ra làm Quận trưởng một quận giầu có nhất miền Trung nước Việt.

    Sau ngày “nước mất nhà tan” tháng 4 năm 1975, anh tuy cũng đi ở tù như những sĩ quan đồng đội khác, nhưng có lẽ sớm “giác ngộ cách mạng” cùng “thành khẩn khai báo trong mạng lưới ăng-ten” nên anh được trở về với gia đình sớm hơn ai hết. Trong nhà anh trang hoàng nhiều cờ máu cùng các hình lãnh tụ “phía bên kia”. Bạn bè chúng tôi mỗi lần tới thăm anh đều giật mình lạnh gáy.


    “Gian truân” của tôi trong thời gian thụ huấn tại Quân trường Đà Lạt, không chỉ do đồng đội, mà còn từ các cấp chỉ huy. Song song với hệ thống “SVSQ tự chỉ huy nhau”, nhà trường còn có từ trước một hệ thống chỉ huy rất chặt chẽ từ Trung-đội trở lên, mỗi cấp do một sĩ quan làm “Trưởng”. Vì đã mang cấp bậc sĩ quan, nên việc một sĩ quan Trung-đội-trưởng trừng phạt một SVSQ Trung-đoàn-trưởng, tuy hiếm nhưng vẫn có thể xẩy ra. Sĩ quan trong trường Võ Bị được coi như những ông vua, lớn nhỏ tùy theo cấp bậc và chức vụ.

    Từ ngày tôi được chỉ định làm SVSQ cán bộ Đại Đội trưởng, ông Trung úy Đại Đội trưởng của tôi rảnh tay hơn, ông phạt SVSQ trong Đại Đội nhiều hơn, ra những lệnh vô lý hơn, nhưng không trực tiếp từ ông, mà “truyền lệnh” qua tôi là cấp trung gian. Tôi đứng “giữa hai làn đạn”: lãnh “búa” từ trên bổ xuống, và cũng lãnh luôn những hằn học hận thù từ các bạn đồng đội của tôi.

    Nhiều lần để bênh các bạn đồng song, tôi cãi lại ông Trung úy ác ôn này, thế là tôi liên tục bị ghi “sổ đen” không thương tiếc. Ông ghi vào quân bạ của tôi những dòng “ưu ái” như sau: “SVSQ nhu nhược, thiếu cứng rắn với thuộc cấp, nhiều lần cãi lệnh cấp chỉ huy, không nên giao chức vụ quan trọng khi ra đơn vị”. Với quân bạ ghi những dòng trên, tôi còn hy vọng gì vào đường binh nghiệp. Và đúng như những lời trù ẻo ghi trong “sổ bìa đen”, sau này mỗi khi tôi được thăng cấp chỉ vì quá thâm niên, mà chẳng do một lý do nào khác.

    Quân đội chúng ta chuyển đổi từ quân đội Liên hiệp Pháp, lại không đủ người, nên “đôn quân” từ hàng ngũ cấp thấp lên làm sĩ-quan những vị đọc viết chưa thông, nhưng tính hách dịch thì khỏi chê, tiêm nhiễm từ ngày còn là lính “khố đỏ, khố xanh” trong quân đội thuộc địa. Trong trường Võ Bị lúc đó lại không hiếm những sĩ quan loại này.

    Các bạn của tôi chắc chẳng ai quên những chuyện đau lòng, khi chẳng may là nạn nhân của các “ông quan” càn rỡ và hách dịch này. Một lần cả tiểu đoàn SVSQ gồm cả trăm người trong “tiểu lễ số 2”, bị một ông Trung-úy Trung đội trưởng bắt phạt bò trên đại lộ Trần Hưng Đạo, quân phục tơi tả lấm lem, trước sự chứng kiến của số rất đông thị dân Đà Lạt. Nguyên nhân việc phạt chẳng đáng gì, nhưng chẳng may xẩy ra đúng ngay phía trước nhà một kiều nữ mà quan Trung úy tôi đang muốn làm quen. Sau vụ “giựt le” này, quan tôi thành công việc chiếm trái tim kiều nữ. Việc hai người có hạnh phúc bên nhau tới cuối cuộc đời hay không thuộc về “hậu vận”, sao mà ... biết được.

    Ông quan Trung úy này có đường hoạn lộ rất hanh thông, ngày miền Nam lọt vào tay cộng sản thì ông đã mang “sao”, dù bạn cùng khóa với ông cao lắm cũng chỉ một hai “mai bạc”. Ông đem “sao” vào trại cải tạo và tụi quản giáo ranh ma trọng dụng ông liền, bắt ông đóng kịch “cách mạng khoan hồng”: ông được mặc quần lành áo đẹp, đọc sách, gẩy đàn và tuyên bố vung vít, lăng nhăng. Ông rất thành công trong vở kịch này, vì diễn xuất “đầy tính sáng tạo”, biểu hiện ông “chân thành hối cải”. Ông diễn quá hay, làm các nhà báo thăm trại bị lừa, tưởng bọn cộng-sản đã buông dao để thành Phật. Nhưng cũng chính màn kịch xuất sắc này đã chôn ông xuống tận đất đen, khi ông theo đồng đội ra ngoại quốc tỵ nạn cộng sản theo diện H.O. Một vài lần ông xuất hiện quảng cáo cho các băng nhạc video, lập tức các băng này bị tẩy chay, không bán được.

    SVSQ chúng tôi không oán hận ông vì các hành động vô nhân tính, đã hành hạ thuộc cấp như đối với quân thù, vì tuy bản tính ngông nghênh như vậy, nhưng biết đâu ông sẽ hối hận vì các hành động đó sau này. Vả lại việc hành hạ đồng-môn tương tự xẩy ra như cơm bữa, như “thông lệ” tại mọi quân trường, được coi như “khuôn vàng thước ngọc” trong việc đào tạo sĩ quan rồi vậy.

    Nhưng quân-đội cùng toàn dân Việt-Nam thì khác, sẽ không ai thông cảm hoàn cảnh tù tội nhục nhằn của “ông tướng sa cơ” mà tha thứ cho những ngôn từ hèn hạ của ông. Người làm tướng không vì miếng ăn mà quỳ gối khom lưng ca tụng địch quân trước mắt cả trăm triệu người nhìn ngó. Danh dự ông để đâu? Khí phách ông để đâu?

    Cuộc đời tôi quả nhiều rắc rối, chỉ mới sau vài tháng rời ghế nhà trường để nhập ngũ, mà đã lắm chuyện đắng cay. Rồi những năm tháng sau này, qua nhiều chức vụ tại nhiều đơn vị, tôi còn gặp nhiều chuyện đắng cay hơn. Nhưng có lẽ “số Trời” như vậy, có vùng vẫy mấy cũng chỉ phí sức mà thôi.

    Phạm Văn Nhuệ


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group