Trên Cành Trái Chín Đỏ Yêu Thương - Ngọc Thủy

  • Lòng Trắc Ẩn

    July 14th 2012, 7:24 pm
  • Trên Cành Trái Chín Đỏ Yêu Thương - Ngọc Thủy






    Tôi gặp lại ông, vị cựu Đại Tá TQLC Ngô Văn Định mà tôi có nhiều dịp tiếp xúc cách đây đã lâu, trong buổi lễ kỷ niệm 53 năm thành lập binh chủng Thủy Quân Lục Chiến của quân đội Việt Nam Cộng Hòa được tổ chức vào trưa Chủ Nhật, ngày 30 tháng 9/2007 vừa qua tại nhà hàng Samkee ở San Jose.

    Tuy lần này trông ông già hơn và yếu đi nhiều so với mấy năm đầu lúc tôi mới gặp, nhưng trong tiếng lao xao chào hỏi nói cười của nhiều anh chị em thuộc các hội đoàn binh chủng khác như: Lực Lượng Đặc Biệt, Nhẩy Dù, Võ Bị Đà Lạt, Biệt Động Quân, Thủ Đức Trừ Bị, Nữ Quân Nhân .v.v… cùng tới tham dự trong ngày lễ hội ngộ này đã thắp lên niềm vui được gặp lại những người anh em chiến hữu, để cùng sống và ôn lại quãng đời chiến đấu trên các mặt trận lẫy lừng của miền Nam Việt Nam trước 1975 khiến khuôn mặt ông chợt bừng sáng nét tươi vui hãnh diện và lời nói ông khi gặp gỡ mọi người trong buổi tiệc hôm ấy đã truyền đạt lại sự cảm động lẫn bùi ngùi đang chan chứa trong lòng vị sĩ quan TQLC đã xếp lại gươm đao, từ giã chiến trường xưa qua hơn ba mươi năm buồn lặng.

    Dịp nào mà tôi được quen biết đến ông ư? Đó là lúc xin được số điện thoại của ông, tôi gọi để hỏi thêm một số chi tiết về Trung tá Lê Hằng Minh khi chuẩn bị viết về tập sách Một Thời Để Nhớ, người anh hùng mũ xanh - Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn Trâu Điên vang lừng trong các mặt trận khói lửa miền Trung của thập niên sáu mươi ngày trước. Bởi ông là bạn đồng ngũ, cũng từng sát cánh với Tr/T Lê Hằng Minh trong nhiều trận tuyến khốc liệt.

    Theo bố mẹ từ miền Bắc di cư vào miền Nam tự do năm mười chin tuổi, người thanh niên tên Ngô Văn Định đã gia nhập vào Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sau đó một năm, và đã phục vụ trong binh chủng Thủy Quân Lục Chiến suốt hai mươi mốt năm với quãng đường dài chiến đấu cam go, luôn có mặt trong các địa trấn biên thùy gian lao và nguy hiểm như Tam Quan, Bồng Sơn, Kontum, Pleiku, Khe Sanh, Lao Bảo Hạ Lào, Gio Linh, Quảng Trị đến Đồng Tháp Mười Cà Mau, Đầm Dơi, Cái Nước, U Minh v.v… nên thường vắng xa nhà trong suốt thời tuổi trẻ, dù ông cũng có người vợ hiền cùng các con thơ hằng mong ngóng đợi chờ từ thành phố hậu phương.

    Qua những lần tiếp xúc trên điện thoại, tôi có dịp đến thăm ông và được biết rõ hơn về hoàn cảnh hiện tại của ông. Tôi thật sự kính mến và xúc động trước tấm lòng chung thủy, sự nhẫn nại và cách cư xử đậm sâu tình nghĩa đối với người vợ vướng phải bệnh Alzheimer, là chứng bệnh nan y, bệnh nhân sẽ dần dần mất trí nhớ cho tới lúc không còn biết gì kể cả khóc hay cười cũng không thành tiếng, bởi chính tiếng nói người bệnh cũng không còn xử dụng được nữa thì còn nói chi đến biểu lộ cảm xúc như người bình thường. Thỉnh thoảng tôi gọi đến hỏi thăm, ông thường hay bận không nói chuyện được lâu, dù ở nhà chỉ có hai ông bà. Hỏi ra, ông luôn phải để mắt quan tâm tới người bệnh không nói được nhưng vẫn sinh hoạt cá nhân như mọi người nên tất cả mọi chuyện từ cho ăn cho uống, cho đi vệ sinh, tắm rửa, gội đầu, thay quần áo, uống thuốc .v.v… ông phải làm tất cả mọi thứ ấy cho bà. Một mình ông gánh chuyện ngoài bản thân còn phải lo như lo cho cả ba bốn người một lúc trong ngày. Công việc cực nhọc này đòi hỏi sự thương yêu tận tụy và hy sinh thời gian công sức rất lớn nên khó có người y tá nào có thể kiên trì đảm nhận được lâu dài, nên đã trở thành công việc chính của ông trong gần mười năm qua, ngày cũng như đêm, luôn cận kề túc trực bên người vợ yếu đuối cần thiết đến sự chăm sóc tận tình của ông hơn bao giờ hết.

    Tôi nghĩ đây là tấm lòng đáng quý, một biểu tượng đẹp của sự thủy chung, một nét son vàng đậm đà tình nghĩa của người Á Đông mà hiếm khi chúng ta mới được chứng kiến, để thấy rằng trên cõi đời này còn có nhiều tấm lòng đẹp đẽ và nghị lực mạnh mẽ để vượt qua được nhiều trở ngại của bi thương và bất hạnh. Dẫu trong hoàn cảnh khó khăn nào cũng vẫn giữ được sự trung hậu, nghĩa tình có trước có sau như lời ông tâm sự: “Dù ngày nay tôi có vất vả thế nào để chăm sóc cho bà nhà tôi, cũng là cách để đền bù lại những hy sinh tận tụy vì thương yêu chồng con của bà trong những tháng ngày son trẻ. Là vợ của một người quân nhân luôn ở mặt trận, gần với cái chết mỗi giờ, hằng ngày, bà vẫn phải một mình gánh vác chuyện nhà phụng dưỡng cha mẹ và nuôi dạy con cái thay tôi. Giờ chẳng may vợ mình ngả bệnh, mình phải hết lòng thương yêu chăm sóc lại, điều đó là lẽ đương nhiên, đúng không cô Ngọc Thủy?!”. Tôi thực sự nghẹn ngào khi nghe lời tâm tình kể chuyện từ ông. Vâng có những người khi sống với nhau cũng rất mực thương yêu và tử tế, thế mà có lúc họ cũng phụ phàng nhau ngay khi còn khỏe mạnh và xinh đẹp, nói chi đến người vợ hoặc người chồng của mình đã trở thành một phế nhân, gánh nặng, già nua héo hắt.

    Trong quá khứ, ông là người chiến sĩ hết lòng với đất nước, là một cấp chỉ huy thao lược và cương nghị. Hãy nhìn các huy chương gắn trên ngực áo ông một thời, mà hôm nay ông rất tự hào đeo lại để tỏ bày long tri ân đối với Tổ quốc và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã cho ông một thời cung kiếm dọc ngang, thể hiện chí hướng người trai trong thời chiến đấu cho chính nghĩa Tự Do và thêm một điều được nhắc nhớ lại những chiến công anh dũng mà ông đã cùng nhiều đồng đội chiến sĩ khác đã xả thân, đổi máu xương để gìn giữ yên lành cho miền Nam tự do được hạnh phúc ấm no. Trên các tấm huy chương Anh Dũng Bội Tinh với ngành Dương Liễu và Đệ Tam Đẳng Bảo Quốc Huân Chương này khắc ghi lại cả một vùng trời quá khứ thân yêu cùng bao bóng hình chiến hữu đã bỏ thây ngoài trận địa trên các chiến trường năm xưa. Đeo để nhớ về kỷ niệm một thời và tưởng kính đến bao người bạn cũ đã cùng ông sống và chết cho dân tộc Việt Nam thuở nào.

    Được biết những tấm huy chương này rất trân quý, đó là sự tưởng thưởng gía trị của quốc gia dành cho người chiến sĩ qua những thành tích quả cảm. Khi tôi tìm hiểu thêm về những tấm huy chương mà ông đã có, làm nền tảng vinh dự cho đời binh nghiệp vị đại tá Lữ Đoàn Trưởng của L/Đ258 của binh chủng Thủy Quân Lục Chiến thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Tôi mới biết tới những hy sinh gan dạ của ông lúc chiến đấu vì ông đã bị thương tới bốn lần trong những trận đánh lớn dành lại từng tấc đất tự do cho miền Nam thân yêu. Và tới hai lần ông đã chịu đựng sự thương tích rất nặng mà nếu không nhờ ơn trên che chở chắc rằng ông đã thành khói bụi sa trường, vĩnh viễn nằm yên trong lòng đất mẹ từ lâu.

    Khi quê hương nghiêng ngả, gia đình ông cũng theo lớp sóng người tị nạn Cộng sản lên tàu ra biển khơi. Đến được bến bờ Tự Do từ năm 1975, ông và gia đình cư ngụ nơi miền biển ấm San Diego. Vài năm sau (1978) thì dọn về sinh sống ở Bắc Cali, hai ông bà vẫn tiếp tục đi làm để dưỡng nuôi con cái gồm một người con trai và ba cô con gái, ăn học đến nơi đến chốn như bao bậc cha mẹ suốt đời hy sinh cho con.

    Những tưởng khi con cái lớn khôn, hai ông bà sẽ có thời gian chắp cánh lại những ước mơ là được hưởng niềm hạnh phúc toàn vẹn bên nhau, bởi điều ước mơ nhỏ nhoi là thế cũng chưa đến gần được bao nhiêu. Thời trẻ thì ông làm tròn bổn phận người trai đối với đất nước đang thời khói lửa, là người lính xa nhà đi chiến đấu. Còn bà ở trong song cửa đợi chờ, vai mang gánh nặng thay ông làm con, làm mẹ lẫn làm cha, lo lắng tứ bề cho gia đình chu tất. Tới Hoa kỳ, xứ lạ quê người, các con còn nhỏ dại, bổn phận làm mẹ cha phải lo bảo bọc trong ngoài, ông bà lại ra sức gồng gánh những công việc tìm kế mưu sinh. Mười mấy năm vất vả, chưa kịp ngồi xuống để sống đôi ngày nghỉ ngơi thoải mái bớt lo toan thì bà lại mắc bịnh đớn đau, trí nhớ dần bay xa, mang theo hết những kỷ niệm, nhận thức và xúc cảm về tất cả những thân yêu gần gũi bên cạnh, kể cả những vỗ về ôm ấp cháu con là phần máu thịt của mình, nhưng âu yếm thân quen của người chồng tri kỷ.

    Khi thành người bệnh, bà chỉ còn biết nằm hay ngồi một chỗ, thanh âm cũng không còn phát ra tiếng nói để được nói những lời thương yêu cần thiết của con người hoặc bày tỏ được những cái đau đớn nhức nhối phát ra từ thân bệnh khổ. Gặp các con, chỉ lóe lên được chút ánh sáng của tình mẫu tử thiêng liêng, là giòng nước mắt ứa ra hoặc nụ cười chỉ nhếch được đôi môi… rồi lạc hồn, lặng lẽ ngậm câm trong vô cảm vô thức, đớn đau.

    Thỉnh thoảng có những buổi sáng tôi gọi điện thoại thăm thì nghe giọng ông có chút vui vui: “ Tôi vừa cho chị ăn, vừa uống thuốc xong, Nào, hôm nay có chuyện gì vui ngoài cộng đồng, cô kể cho tôi nghe với…”. Từ gần mười năm qua, với bệnh trạng của người vợ như thế, ông đã nghỉ việc, ít khi nào dám rời xa khỏi nhà vì lấy ai săn sóc bà khi ông đi vắng. Không những thế, ông còn dành thời gian tìm kiếm những sách viết về căn bệnh quái ác của bà, để tìm hiểu nghiên cứu thêm về cách thức chăm sóc bà sao cho tốt hơn. Ông không đi đâu cả, chỉ quanh quẩn trong nhà, trong vườn, trông nom vợ, xem xét lại những diễn tiến bệnh trạng luôn luôn, để ý từng việc đo nhiệt độ, đo máu cho bà hằng giờ hằng ngày. Lâu lâu có việc quan trọng như buổi lể họp mặt kỷ niệm của binh chủng mà họ tôn trọng và quý mến ông như người anh cả, ông mới nhờ người y tá đến lo cho bà tạm một buổi thay ông.

    Có khi tôi gọi ông thăm ông nhằm buổi chiều hoặc giờ tối, đôi lúc giọng ông khan đục vì nhiều lo lắng, hay mệt mỏi: “Tôi mệt quá cô ạ, chỉ muốn ngủ thiếp đi thôi...”. Giọng ông không có nụ cười, giọng ông như giòng nước mắt đang chẩy xót thương vợ. Có đôi lần tôi hỏi ông, cực nhọc thế sao lâu lâu không nhờ các con ông phụ giúp trông nom một tay. Thì với giọng buồn buồn, ông lại trả lời: “Đứa nào cũng bận rộn đủ thứ công việc cô ơi. Nhờ thì các cháu sẽ làm ngay thôi, vì rất thương mẹ, có lòng hiếu thảo với bố mẹ nhưng tôi thông cảm không muốn san xẻ trách nhiệm cho các cháu vì bao nhiêu chuyện chúng phải lo cho cuộc sống, công việc, gia đình con cái… Tôi gắng lo cho chị một mình cũng được thôi, cô à”. Ôi, tấm lòng của người cha, lúc nào cũng giang rộng tình thương yêu bao dung và che chở. Dù vất vả với công việc hằng ngày nhưng ông luôn tự hào về những người con ngoan của hai ông bà, nay đều thành đạt trong cuộc sống và hạnh phúc trong gia đình. Tôi nghĩ đó cũng là ân đức của hai ông bà đã sống thật tốt lành gieo gương mẫu cho con cháu. Tôi thực sự cảm phục và kính mến nên viết một bài thơ nhỏ, tặng ông trong lần đến thăm đã lâu:

    “ông lão già lụm khụm
    đẩy xe vợ đi chơi
    ông vẫn nở nụ cười
    và vợ ông cũng thế…

    hỏi thăm: đời dâu bể
    ông, người lính-tàn-binh
    vì quê hương điêu linh
    đưa gia đình qua Mỹ…

    những đứa con khôn lớn
    như chim đủ cánh lông
    học xong rồi đi xa
    có gia đình hết cả…

    vợ ông ngày tàn tạ
    ông đã… hết xuân thì
    được cái ở Hoa Kỳ
    áo cơm không lo lắm…

    tự do và no ấm
    ông có ở quê người
    sáng đẩy vợ đi chơi
    chiều tưới cây, đọc sách…

    đời lính chưa vất vưởng
    chỉ đời người vất vơ
    ông không biết làm thơ
    nhưng thở dài nhiều lúc…

    ông kể và tôi khóc
    chuyện thật chẳng có gì
    trên đất nước Hoa Kỳ
    sao nghe buồn chi lạ!


    Căn nhà gõ cửa lúc nào cũng có người ra mở, đó là ông. Căn nhà của hai vợ chồng được gần gũi sống cạnh bên nhau lúc tuổi già sau khi trải qua bao cách xa vì thời cuộc, nhưng nay chỉ như là chiếc bóng bên nhau, một của người không còn nhận biết được những hiện hữu chung quanh mình, có chăng là ánh mắt đằm thắm xót xa của ông, khuôn mặt thân quen luôn luôn bên cạnh cùng sự nâng đỡ của ông. Hai người thật đấy nhưng chua xót làm sao, chỉ một mình ông còn lại với bao nỗi thương cảm ngậm ngùi, đôi khi tâm hồn thấy tiêu điều, quạnh quẽ trong tháng ngày lặng lẽ. Bao giây phút hạnh phúc ấm êm cùng tiếng cười của người vợ thân yêu như còn mãi hút xa… đâu đó rồi!

    Đôi khi là thế nhưng bổn phận hằng ngày vẫn cho ông hạnh phúc vì còn sức khỏe để lo cho người vợ bất hạnh, để các con an lòng là mẹ đã có bố bên cạnh thương yêu chăm sóc. Khi nhắc về bà với tôi, ông hay thường nói: “Chị Nhung hôm nay khỏe hơn hôm qua”. Hoặc: “Hôm qua thấy các con về thăm, bà ấy tuy không nói được gì nhưng hay cười, sắc diện nom tươi tỉnh ra”. Hoặc có lần ông gọi tôi đến nhà hái những trái hồng tươi. Tôi ngạc nhiên và thích thú khi nhìn thấy hai cây lớn trồng nơi góc vườn, một hồng dòn, một hồng mềm rất sai trái, trĩu quả trên cành, ông khoe với sắc mặt và giọng nói vui vẻ: “Chúng tôi dọn về căn nhà này bao nhiêu năm là hai cây hồng này bấy nhiêu tuổi đấy cô. Vì chị Nhung đã chọn mua rồi trồng hai cây hồng lúc mới về đây. Ngày trước khi còn tỉnh táo và những năm hồng còn hiếm qúy, chị Nhung rất sung sướng khi đến mùa, hái xuống đem biếu tặng bạn bè, người thân quen, họ hàng hay hàng xóm láng giềng… “. Chưa nói dứt câu, giọng nói ông bỗng chậm buồn, ánh mắt như lạc vào mãi tận đâu, hay trước mắt ông vừa hiện ra hình bóng vui tươi khỏe mạnh của bà ngày trườc, hình như đang thấp thoáng trong tàn lá dài đổ bóng mát rợp râm cả một khoảnh vườn êm vắng… Và trái hồng trên tay tôi vừa mới hái dường như cũng đang tỏa mùì thơm lan đến tận trong hồn. Mùi thơm của trái cây chín đỏ tình yêu thương, đậm màu son sắt chân thành, đẹp đẽ làm sao!


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group