Phật Tổ Đạo Ảnh

  • Lòng Trắc Ẩn

    August 5th 2012, 2:38 pm
  • Phật Tổ Đạo Ảnh

    Hư Vân Lão Hòa Thượng kết tập

    Hòa Thượng Tuyên Hóa giảng thuật 


    Giới thiệu:

    Chư Tổ, tuy Ấn, Hoa có khác, nhưng cùng vẻ thiên dung đạo mạo, rờ rỡ sáng ngời, khiến người chiêm ngưỡng, vơi sạch lòng trần, thấy tướng liền ngộ tâm. Chỉ trong sớm tối, ngàn năm cùng quay về với chư Tổ trong đại quang minh tạng. Chẳng có đạo ảnh thì lấy gì làm nên chuyện đó? Khoảng đời Hồng-Vũ, một số ham thích đạo, cả tăng và tục, cùng nhau miêu họa đạo ảnh Phật và Tổ, từ tôn giả Đại Ca Diếp đến các vị tôn túc cổ sơ trong nước, tính ra là 120 vị, rồi tàng trữ tại núi Ngưu-Thủ phía nam kinh đô. Nét bút tinh thần, phong độ cao khiết, nếu chẳng do sự kỳ diệu của tâm tư, cảm ứng đến chỗ u linh thì dễ gì có được bút pháp như vậy !


    Thích-ca Mâu-ni Văn Phật


    Phiên âm :

    Phật thị sanh ư trung Thiên Trúc quốc, vi Tịnh Phạn vương chi tử. Tầm xả Chuyển Luân Thánh Vương vị xuất gia, thành vô thượng đạo, chuyển đại pháp luân. Kỳ hậu thất thập cửu tuế, thùy bát-niết-bàn. Nãi dĩ chánh pháp nhãn tạng, phó kỳ cao đệ đệ tử Ma-ha Ca-Diếp, tịnh sắc A-Nan, phó nhị truyền hoá. Phục dĩ kim lũ tăng-già-lê y, lịnh đại Ca-Diếp chuyển phó đương lai bổ xứ Di-Lặc Phật. Kỳ thuyết kệ viết : Pháp bổn vô pháp, vô pháp pháp diệc pháp ; kim phó vô pháp thời, pháp pháp hà tằng pháp ?

    Dịch :

    Phật thị sanh tại miền trung nước Thiên Trúc, làm con đức vua Tịnh Phạn. Ngài sớm từ bỏ ngôi vị Chuyển luân Thánh vương để xuất gia, rồi thành tựu đạo vô thượng và chuyển bánh xe pháp lớn. Về sau, năm bẩy mươi chín tuổi, khi sắp sửa vào niết-bàn, Phật giao chánh pháp nhãn tạng cho cao đệ Ma-ha Ca Diếp, đồng thời bảo A-Nan phải phụ giúp để truyền bá chánh pháp. Phật còn đem áo tăng-già-lê vàng đưa cho Ma-ha Ca Diếp giữ để ngày sau giao lại cho đức Di-Lặc tức vị Phật tương lai. Phật nói bài kệ như sau : Pháp bổn lai chẳng pháp, cái pháp chẳng pháp đó cũng là pháp, nay giao cái pháp chẳng pháp, pháp đó chẳng pháp gì ?

    Tán

    Vạn đức trang nghiêm

    Nhất trần bất lập

    Tứ thập cửu niên

    Thái sát lang tạ

    Mạt hậu niêm hoa

    Tiếu đảo Ca-Diếp

    Chánh pháp nhãn tạng

    Thiên thánh bất thức

    Dịch :

    Vạn đức trang nghiêm

    Chẳng bợn nhiễm ô

    Bốn chín năm ròng

    Công lao khó nhọc

    Cầm hoa mỉm cười

    Truyền thừa Ca-Diếp

    Chánh pháp nhãn tạng

    Thánh Trời chẳng hay

    Kệ :

    Đâu Suất giáng sanh đế vương gia

    Tứ môn du tất khí phồn hoa

    Thuyết pháp diễn giáo hóa quần phẩm

    Từ bi hỷ xả độ chúng hiệp

    Vạn đức trang nghiêm phước huệ tu

    Nhất trần bất lập tịnh tự tha

    Phật tăng truyền thừa mãn thiên hạ

    Nhiếp thọ hữu tình sổ đạo ma

    (Tuyên Công thượng nhân tác)

    Dịch :

    Đâu suất giáng trần chốn vương gia

    Nhàn du bốn cửa chán phồn hoa

    Một đời pháp bảo trao truyền lại

    Hỷ xả từ bi hạnh chói lòa

    Vạn đức trang nghiêm tròn phước huệ

    Tự tâm thanh tịnh gạn tâm tha

    Đời đời tiếp nối môn đồ Phật

    Độ thoát chúng sanh tựa Hằng sa

    (Thượng nhân Tuyên Hóa soạn)



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày August 5th 2012, 2:41 pm với 1 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    August 5th 2012, 2:40 pm

  • Sơ Tổ: Tôn Giả Ma-Ha Ca-Diếp


    Phiên âm Hán Việt:

    Tôn giả bổn Ma-kiệt-đà quốc nhân, xuất Ba-la-môn thị, kỳ hình kim sắc. Kiến Phật xuất gia, ký độ chư hữu. Phật ư chúng trung xưng vi đệ nhất. Nhất nhật, Phật ư Linh sơn hội thượng niêm xuất nhất chi kim sắc bát-la hoa thị chúng. Thời đại chúng mặc nhiên, duy tôn giả phá nhan vi tiếu. Phật viết : ‘Ngô hữu chánh pháp nhãn tạng, niết bàn diệu tâm, thực tướng vô tướng, vi diệu pháp môn, bất lập văn tự, giáo ngọai biệt truyền, phó chúc Ma-ha Ca-Diếp.’ Phục dĩ kim lũ tăng-già-lê chúc viết : ‘Chuyển thọ đương lai Từ thị Phật ‘. Tôn giả tác lễ viết : ‘Cung y Phật sắc’. Hậu tôn giả dĩ pháp chuyển phó A-Nan, tức trì tăng-già-lê nhập Kê-Túc sơn nhập định, dĩ sỉ Từ thị hạ sanh.



    Dịch : Sơ Tổ Tôn giả Ma-ha Ca-Diếp

    Tôn giả là người nước Ma-kiệt-đà, thuộc dòng Bà-la-môn, mang thân hình sắc vàng. Khi gặp Phật, tôn giả xin xuất gia, mong độ các chúng sanh. Giữa đại chúng Phật gọi tôn giả là đệ tử bậc nhất. Một hôm, tại hội Linh Sơn, Phật cầm bông hoa bát-la sắc vàng nhìn đại chúng. Lúc ấy, mọi người đều lặng yên, duy một mình tôn giả thì nét mặt rạng lên mỉm cười. Phật bảo : ‘Ta có chánh pháp nhãn tạng, tâm nhiệm mầu niết bàn, thực tướng vô tướng, pháp môn vi diệu, chẳng lập văn tự, đặc biệt truyền ngòai giáo lý, giao phó cho Ma-ha Ca-Diếp.’ Phật còn đưa áo tăng-già-lê vàng cho tôn giả mà dặn rằng : ‘Hãy chuyển lại cho đức Phật Từ thị.’ Tôn giả đáp lễ nói : ‘Xin vâng lời Phật dạy.’ Về sau, tôn giả truyền pháp cho A-Nan rồi mang tấm áo tăng-già-lê đi vào núi Kê-Túc nhập định, chờ ngày đức Phật Từ thị hạ sanh.


    Tán

    Phá nhan vi tiếu

    Đề hồ độc dược

    Kim lan cà-sa

    Hà xứ an trước

    Truyền cá thập ma

    Tương thố tựu thố

    Ương họa nhi tôn

    Quy mao thố giác

    Dịch :

    Mặt nở mỉm cười

    Đề hồ thuốc độc

    Cà sa sợi vàng

    Cất ở nơi nao ?

    Truyền lại cái gì ?

    Từ sai đến sai

    Gieo họa con cháu

    Lông rùa sừng thỏ


    Kệ

    Linh sơn niêm hoa truyền tâm ấn

    Phá nhan vi tiếu trực thừa đương

    Tổ tổ pháp đăng chiếu sa giới

    Tăng tăng huệ mạng mãn đại thiên

    Kim sắc đầu đà cà sa tràng

    Di Lặc tôn Phật tục thánh điền

    Ma-ha Ca Diếp công huân đại

    Tận vị lai tế ân vô biên

    Tuyên Hóa Thượng Nhân tác



    Dịch :

    Linh sơn niêm hoa truyền tâm ấn

    Nở mặt mỉm cười tự đảm đương

    Đèn pháp lan truyền Hằng sa giới

    Huệ mạng tăng già khắp đại thiên

    Cà sa cờ pháp khởi đầu đà

    Di Lặc nối theo gieo ruộng thánh

    Ma-ha Ca-Diếp công lao lớn

    Đến tận vị lai ơn vô biên



    Thượng nhân Tuyên Hóa soạn

  • Lòng Trắc Ẩn

    August 5th 2012, 2:43 pm

  • Nhị Tổ: Tôn Giả A-Nan-Đà


    Phiên âm Hán Việt:

    Tôn giả, Vương Xá thành nhân, Hộc-Phạn vương tử, Phật chi tòng đệ giả, đa văn đệ nhất. Nhất nhật vấn Ca-Diếp viết : ‘Sư huynh ! Thế Tôn truyền kim lan cà sa ngoại, biệt truyền cá thập ma ?’ Ca-Diếp triệu : ‘A-Nan !’ Tôn giả ứng nặc. Ca-Diếp viết :‘Đảo khước môn tiền sát can trước’. Hậu Ca-Diếp nãi cáo tôn giả viết : ‘Ngã kim niên bất cửu lưu, kim tương chánh pháp phó chúc ư nhữ, nhữ thiện thủ hộ.’ Hậu tôn giả chuyển phó pháp ư Thương-Na-Hòa-Tu, ư Hằng hà trung lưu nhập diệt, dũng thân hư không, hiện thập bát biến, nhập phong phấn tấn tam muội, phân thân tứ phần, nhất phụng Đao-Lợi thiên, nhất phụng Sa-Kiệt-La long cung, nhất phụng Tỳ-Xá-Ly vương, nhất phụng A-Xà-Thế vương. Các các tạo bảo tháp cung dưỡng.



    Dịch :

    Tổ thứ hai: Tôn Giả A-Nan-Đà

    Tôn giả, người thành Vương Xá, con ông hoàng Hộc-Phạn, tức là em con chú của đức Phật, đa văn bậc nhất.

    Một hôm tôn giả hỏi Tổ Ca-Diếp :

    - Khi Thế tôn truyền lại áo cà-sa vàng cho sư huynh, có còn truyền cái gì khác nữa chăng?

    Tổ Ca-Diếp bèn gọi :

    - A-Nan !

    Tôn giả đáp lại :

    - Dạ!

    Tổ Ca-Diếp bảo :

    - Đổ cột phướn trước cổng !

    Về sau Tổ Ca-Diếp bảo tôn giả :

    Năm nay ta không ở lại lâu nên bây giờ ta giao phó chánh pháp cho ông, ông hãy khéo gìn giữ.

    Sau này tôn giả truyền pháp cho Thương-Na-Hòa-Tu, rồi ra giữa dòng sông Hằng mà nhập niết-bàn. Thân Ngài nhảy vọt lên không trung, hiện ra mười tám cách biến hóa, rồi vào trong định ‘ phong phấn tấn’. Thân Ngài chia làm bốn phần, một phần cung dưỡng trời Đao Lợi, một phần cung dưỡng long cung Sa-Kiệt-La, một phần dành cho vua Tỳ-Xá-Ly, một phần cho vua A-Xà-Thế. Các nơi đều dựng bảo tháp để thờ Ngài.



    Tán

    Đa văn tổng trì

    Tuệ tánh viên ngộ

    Đảo khước sát can

    Lưỡng thủ phân phó

    Nan huynh nan đệ

    Thị tử thị phụ

    Tuy nhiên như thử

    Hội sự hậu tố.



    Dịch :

    Đa văn tổng trì

    Trí huệ viên ngộ

    Đổ cột cờ phướn

    Hai tay giao phó

    Ai anh ai em?

    Cha đó con đó!

    Tuy là như vậy

    Vẽ xong giấy trắng.


    Hoặc thuyết kệ viết :

    A-Nan đa văn vị dụng công

    Ma-Đăng-Già nữ sính tà phong

    Thủy tri đạo lực thiểu kiên cố

    Chung bị dâm thất khốn quyết cung

    Phật đảnh Lăng Nghiêm nhiếp hoàn bổn

    Văn Thù Sư Lợi trì cúu ứng

    Kết tập kinh tạng truyền vạn cổ

    Pháp môn mệnh mạch lưu tây đông.

    Tuyên Hóa Thượng Nhân tác



    Dịch :

    A-Nan đa văn chửa dụng công

    Ma-Đăng-Già giở thói tà phong

    Mới hay đạo lực chưa kiên cố

    Xui nên bị hãm trong nhà dâm

    Văn Thù Sư Lợi đi cứu ứng

    Dùng chú Lăng Nghiêm giải thóat về

    Kết tập kinh tạng truyền vạn cổ

    Phật pháp khơi dòng khắp tây đông.

    Thượng Nhân Tuyên Hóa soạn


  • Lòng Trắc Ẩn

    August 5th 2012, 2:44 pm

  • Tam Tổ: Tôn Giả Thương Na Hòa Tu


    Phiên âm Hán Việt:

    Tôn giả Ma-Đột-La quốc nhân dã, tính Tỳ Xá Đa, tại thai lục niên, ứng thụy nhi sinh. Hậu xuất gia học tiên đạo, cư Tuyết sơn. Nhân A-Nan tương nhập diệt, thời sơn hà đại địa lục chủng chấn động, tôn giả đồng ngũ bách tiên nhân lễ A-nan túc, nhi quỵ thỉnh viết : ‘Ngã ư trưởng lão, đương chứng Phật pháp, nguyện thùy độ thóat.’ A-Nan tức biến Hằng hà vi kim địa, vị thuyết đại pháp viết : ‘Tích Như Lai dĩ chánh pháp nhãn phó Đại Ca-Diếp, chuyển phó ư ngã, ngã kim phó nhữ.’ Tôn giả ký đắc pháp hàng nhị hỏa long, dĩ kiến phạm cung, chuyển đại pháp luân. Hậu phó pháp dữ Ưu Ba Cúc Đa, tức ẩn Kết tân quốc Tượng Bạch sơn, hiện thập bát biến hỏa quang tam muội, dụng phần ký thân.



    Dịch : Tổ Thứ Ba Thương Na Hòa Tu



    Tôn giả nguyên là dân nước Ma-Đột-La, dòng Tỳ Xá Đa, ở trong thai mẹ sáu năm, ứng vào điềm lành mà sanh ra đời. Về sau, tôn giả xuất gia học đạo tiên ở núi Tuyết. Nhân khi tổ A-Nan nhập diệt, núi sông đất bằng nổi lên sáu cách chấn động, tôn giả dẫn năm trăm tiên nhân đến đảnh lễ dưới chân tổ, quỳ xuống thỉnh rằng : ‘Chúng con phải chứng pháp Phật tại nơi trưởng lão, nguyện xin trưởng lão độ thoát cho chúng con.’ Tổ A-Nan liền biến sông Hằng thành bình địa, bằng vàng, rồi thuyết pháp lớn rằng : ‘Xưa, đức Như Lai đem đại pháp nhãn trao cho tổ Đại Ca-Diếp, rồi đại pháp nhãn lại chuyển đến ta, nay ta trao cho ngươi.’ Chứng được pháp rồi, tôn giả hàng phục hai con rồng lửa để xây đạo tràng và chuyển bánh xe pháp. Về sau tôn giả truyền pháp lại cho Ưu Ba Cúc Đa, đi tới núi Bạch Tượng nước Kế Tân, vào trong định hỏa quang mười tám cách biến rồi lấy lửa đó đốt thân.



    Tán

    Ứng thụy nhi sinh

    Chuyển diệu pháp luân

    Ngũ bách tiên chúng

    Duy tổ đặc tôn

    Vô đoan nhất ngữ

    Ấn phá diện môn

    Hàng long phục tượng

    Đạo bố càn khôn.



    Dịch :

    Khi sanh ứng điềm lành

    Nhiệm mầu chuyển pháp luân

    Tiên nhân năm trăm vị

    Riêng tôn một mình Tổ

    Nói thẳng chẳng mào đầu

    Một lời là ấn chứng

    Hàng phục rồng cùng voi

    Đạo lan tràn vũ trụ.



    Hoặc thuyết kệ viết :

    Tu tiên học đạo nhập thâm sơn

    Khấu thỉnh Khánh Hỷ vọng thùy lân

    Ngũ bách đan khách quy tam bảo

    Lưỡng điều hỏa long thượng cửu thiên

    Chánh pháp nhãn tạng phó tâm ấn

    Kim sắc đầu đà định Vân nam

    Tổ tổ tương thừa vô ngôn thuyết

    Đăng đăng hỗ ánh cánh quang tiền.

    Tuyên Hóa Thượng nhân tác



    Dịch :

    Tu tiên học đạo chốn thâm sơn

    Lạy Tổ A- Nan cầu độ thoát

    Tiên khách năm trăm quay về Phật

    Cặp rồng bay thẳng tận mây xanh

    Chánh pháp truyền trao qua tâm ấn

    Đầu đà thân vàng định Vân Nam

    Tổ tổ tiếp nối không lời nói

    Ánh đuốc giao thoa mãi rạng thêm.



    Thượng Nhân Tuyên Hóa soạn


  • Lòng Trắc Ẩn

    August 5th 2012, 2:45 pm

  • Tổ thứ tư Tôn Giả Ưu-Bà-Cúc-Đa


    Phiên âm Hán Việt:

    Tôn giả Sất Lợi quốc nhân dã, tính Thủ Đà. Niên thập thất, đầu Tam Tổ xuất gia. Tổ vấn : ‘Nhữ niên kỷ hà ?’ Đáp viết : ‘Thập thất.’ Tổ viết : ‘Nhữ thân thập thất da ? Tính thập thất da ?’ Đáp viết : ‘Sư phát dĩ bạch, vị phát bạch da ? Tâm bạch da ?’ Tổ viết : ‘Ngã phát bạch, phi tâm bạch dã.’ Đáp viết : ‘Ngã thân thập thất, phi tính thập thất dã.’ Tổ tri thị pháp khí, tọai vị lạc phát thọ cụ. Cáo chi viết : ‘Tích Như Lai dĩ vô thượng pháp nhãn phó chúc Ca Diếp, triển chuyển tương thọ, nhi chí ư ngã. Ngã kim phó nhữ, vật linh đọan tuyệt.’ Tôn giả đắc pháp dĩ, tùy phương hành hóa, ma cung chấn động, ba tuần sầu bố, hậu đắc Đề Đa Ca dĩ, tọai dũng thân phi không, trình thập bát biến, phục tọa, già phu nhi thệ.

    Dịch :

    Tổ thứ tư Tôn Giả Ưu-Bà-Cúc-Đa

    Tôn giả là người nước Sất Lợi, dòng Thủ Đà la. Năm 17 tuổi, Ngài xin Tổ thứ ba xuất gia.

    Tổ hỏi :

    Ngươi được bao nhiêu tuổi?

    Thưa rằng :

    - Con được 17 tuổi.

    Tổ nói :

    - Thân ngươi 17 tuổi hay tánh ngươi 17 tuổi ?

    Ngài hỏi lại :

    - Đầu thầy đã bạc, vậy là tóc thầy bạc hay tâm thầy bạc.

    Tổ bảo :

    - Tóc của ta bạc, chẳng phải tâm của ta bạc.

    Ngài trả lời:

    - Thân con được 17 tuổi, không phải tánh con 17 tuổi.

    Tổ biết đây là pháp khí bèn nhận cho xuất gia, cắt tóc và thọ giới cụ túc.

    Tổ bảo :

    - Xưa đức Như Lai giao pháp nhãn vô thượng cho tôn giả Ca Diếp, từ đó pháp nhãn lần hồi truyền lại cho đến ta, nay ta giao phó cho ngươi chánh pháp này, ngươi chớ để đọan dứt.

    Tôn giả được pháp rồi tùy duyên đi các nơi cảm hóa chúng sanh, khiến cho cung ma chấn động, vua ma ba-tuần rất là lo sợ. Sau khi kiếm được ngườI tiếp nối là Đề Đà Ca, Ngài bay lên hư không, hóa 18 phép biến, rồi ngồi xuống theo thế kiết già mà đi.



    Tán :

    Thân tánh thập thất

    Hữu hà giao thiệp

    Hàng phục ba tuần

    Toàn bằng cừ lực

    Chấn động ma cung

    Liễu vô luân thất

    Nguy nguy đường đường

    Quang thư hóa nhật.



    身性十七



    有何交涉



    降伏波旬



    全憑渠力

    震動魔宮



    了無倫匹



    巍巍堂堂



    光舒化日

    Dịch :

    Thân tánh mười bảy

    Có gì quan hệ ?

    Hàng phục vua ma

    Tòan nhờ đạo lực

    Rung động cung ma

    Chẳng ai so bằng

    Lỗi lạc đường hòang

    Sáng như mặt nhật



    Hoặc thuyết kệ viết :

    Ấu thời xuất gia ngộ tổ truyền

    Đẩu tẩu tinh thần vong thụy miên

    Thân tính thập thất đa ngôn thuyết

    Phát tâm bạch da nãi hí đàm

    Cơ giáo tương khấu khế chân lý

    Sư tư đạo hợp diễn diệu huyền

    Pháp bổn lưu biến tam thiên giới

    Thập phương phổ hóa tục tuyệt thuyên



    Dịch :

    Tuổi trẻ xuất gia gặp Tổ truyền

    Đầu đà tu khổ ngủ thường quên

    Hỏi rằng mười bẩy, thân hay tánh?

    Vặn lại, bạc là tóc hay tâm?

    Cơ phong qua lại bầy chân lý

    Đạo hợp sư đồ diễn diệu huyền

    Pháp trùm khắp cả ba ngàn cõi

    Mạch đạo khơi thông chẳng tuyệt dòng



  • Lòng Trắc Ẩn

    August 5th 2012, 2:46 pm

  • Tổ thứ năm: TÔN GIẢ ĐỀ-ĐA-CA


    Phiên âm Hán Việt:

    Tôn giả, Ma Ca Đà quốc nhân dã. Sanh thời, phụ mộng kim nhật chiếu diệu thiên địa. Trưởng ngộ Tứ tổ, cầu xuất gia. Tổ viết: “Nhữ thân xuất gia, tâm xuất gia da?” Đáp viết: “Ngã cầu xuất gia, phi vi thân tâm.” Tổ viết: “Bất vi thân tâm, thùy phúc xuất gia?” Đáp viết: “Phu xuất gia giả, vô ngã ngã cố, tức tâm bất sanh diệt. Tâm bất sanh diệt, tức thị thường đạo, chư Phật diệc nhiên, Tâm vô hình tướng, kỳ thể diệc nhiên.” Tổ viết: “Nhữ đương đại ngộ, tâm tự linh thông.” Tức vi thế độ thọ cụ, phó dĩ Đại Pháp. Tôn giả đắc pháp dĩ, hành hóa chí Trung Ấn Độ, chuyển phó pháp dữ Di Già Ca. Nãi dũng thân hư không, tác thập bát biến, Hỏa Quang tam-muội, tự phần kỳ thân.

    Dịch :

    Tôn giả Đề-đa-ca (Dhirtaka) người nước Ma-già-đà (Magadha). Lúc sắp sinh Tôn giả, cha Ngài mộng thấy mặt trời vàng rực chiếu khắp nơi. Lớn lên, Tôn giả gặp Tổ thứ tư (Ưu-ba-cúc-đa), liền xin xuất gia. Tổ hỏi:

    -Thân ông xuất gia hay tâm xuất gia?

    Tôn giả thưa:

    - Dạ! Con cầu xuất gia không phải vì thân tâm.

    - Không vì thân tâm, vậy ai xuất gia?

    - Phàm người xuất gia đâu có cái ngã của mình nên tâm không sinh diệt, tâm không sinh diệt thì đúng là thường đạo, chư Phật cũng thế, tâm không hình tướng, thể của nó cũng vậy.

    Tổ bảo:

    - Lúc ông đại ngộ tâm tự linh thông.

    Tổ liền cho Tôn giả xuất gia, thọ giới Cụ túc và giao phó Đại Pháp. Sau khi đắc pháp, Tôn giả du hóa đến Trung Ấn và truyền pháp cho Di-già-ca. Sau đó, Tôn giả phóng mình lên hư không, hiện mười tám thần biến, rồi dùng hỏa quang tam-muội thiêu thân.



    Bài tán:

    Tâm phi sanh diệt

    Dục ẩn di chương

    Pháp phi thường đạo

    Hảo nhục oan sang

    Mộng trung thuyết mộng

    Gia sửu ngoại dương

    Hỏa Quang tam-muội

    Tuyết thượng gia sương[1]

    Dịch:

    Tâm không sanh diệt

    Muốn giấu càng tỏ

    Đạo pháp phi thường

    Thịt bất khoét ương

    Trong mộng nói mộng

    Nết xấu phô trương

    Hỏa Quang tam-muội

    Trên tuyết thêm sương





    Kệ rằng:

    Phụ mộng kim nhật Tổ giáng sanh

    Bất mê bổn tánh mịch ly trần

    Vô ngã xuất gia phi dị diệt

    Hữu nguyện thoát tục đoạn khổ nhân

    Dữ Phật vi lân tư tề Thánh

    Đồng Sư hộ giáo chánh pháp hưng

    Hỏa Quang tam-muội phần huyễn thể

    Ma cung chấn động quỷ thần kinh[2]

    Tuyên Hóa Thượng nhân tác



    Dịch:

    Mộng mặt trời vàng Tổ giáng thần

    Linh căn bất muội quyết ly trần

    Xuất gia vô ngã lìa sanh diệt

    Nguyện ước đời tu dứt khổ nhân

    Kết thân cùng Phật đồng như Thánh

    Cùng Thầy hộ giáo chánh pháp hưng

    Hỏa Quang tam-muội thiêu thân huyễn

    Chấn động cung ma khiếp quỷ thần

    (Tuyên Công Thượng Nhân)





    Lại có kệ rằng:

    Thế tục phiền não tam giới gia

    Mộng uyển bào ảnh dữ không hoa

    Thân tâm giải thoát ly phân biệt

    Trường đoạn viên dung mẫn sát-na

    Hà đảm Như Lai truyền đại nghiệp

    Cao huyền Tổ ấn chiếu hôn ma

    Lâm hành thị hiện Hỏa Quang định

    Tự tại thần thông diệu vô nhai[3]

    Dịch:

    Phiền não thế tục tam giới gia

    Mộng huyễn bóng nước và không hoa

    Thân tâm giải thoát lìa phân biệt

    Dài, ngắn, tròn đầy không khác xa

    Gánh vác đại nghiệp, ngời Phật Tổ

    Tổ ấn cao huyền chiếu muôn nhà

    Lâm chung thị hiện lửa tam-muội

    Thần thông tự tại không gì qua.



    (Tuyên Công Thượng Nhân)


  • Lòng Trắc Ẩn

    August 5th 2012, 10:31 pm

  • Tổ thứ sáu: TÔN GIẢ DI-GIÀ-CA


    Phiên âm Hán việt:

    Tôn giả, Trung Ấn Độ nhân. Sơ học tiên pháp, nhân Ngũ Tổ chí bỉ quốc, Tôn giả chiêm lễ, viết: “Tích dữ Sư đồng sinh Phạm thiên, ngã ngộ tiên nhân thọ ngã tiên pháp, sư phùng Phật tử tu tập thiền-na. Tự thử, báo phân thù đồ, dĩ kinh lục kiếp.” Tổ viết: “Chi ly lũy kiếp, thành tai bất hư! Kim khả xả tà quy chánh, dĩ nhập Phật thừa?” Tôn giả viết: “Kim hạnh tương ngộ, phi túc duyên da? Nguyện Sư từ bi, linh ngã giải thoát.” Tổ tức dữ thế độ thọ cụ, phó dĩ Đại Pháp. Tôn giả đắc pháp dĩ, du hóa chí Bắc Thiên Trúc quốc, phó pháp dữ Bà-tu-mật. Tức nhập Sư tử phấn tấn tam-muội, dũng thân cao thất đa-la thọ, khước phục bổn tọa, hóa hỏa tự phần.



    Dịch
    :

    Tổ thứ sáu: Tôn Giả DI-GIÀ-CA



    Tôn giả Di-già-ca (Micchaka, Mikkaka) người Trung Ấn, trước đây có học pháp tiên. Nhân lúc Ngũ tổ (Đề-đa-ca) đến nước này, Tôn giả chiêm ngưỡng, đỉnh lễ Ngũ Tổ rồi thưa:

    - Thưa Thầy! Xưa con và Thầy cùng sanh lên cõi trời Đại Phạm, con gặp tiên nhân trao cho pháp tiên, còn Thầy gặp đệ tử của Đức Phật nên tu tập thiền định. Từ đó, theo nghiệp báo, chúng ta mỗi người một đường, đã trải qua sáu kiếp.

    Tổ bảo:

    - Chia cách nhiều kiếp, lời ông chẳng dối hư. Nay ông nên bỏ tà về chánh và trụ vào Phật thừa.

    Tôn giả thưa:

    - Thưa Thầy! Hôm nay, may mắn được gặp nhau, há chẳng phải duyên xưa ư? Xin Thầy từ bi giúp con được giải thoát.

    Tổ liền cho Tôn giả xuống tóc xuất gia, truyền giới Cụ Túc và giao phó Đại pháp. Đắc pháp rồi, Tôn giả du hóa đến Bắc Ấn Độ, phó pháp cho Bà-tu-mật (Vasumitra), rồi nhập tam-muội Sư tử phấn tấn, phóng mình lên hư không cao bằng bảy cây đa-la (tala)[1] rồi trở lại chỗ ngồi, hóa lửa tự thiêu.



    Bài tán:

    Nhất ngộ túc nhân

    Thoát tận trí giải

    Quy chánh xả tà

    Lưỡng thái nhất trại

    Sư tử phấn tấn

    Thị hà tam-muội?

    Thiên cổ du du

    Thanh phong biến giới[2]

    Dịch:

    Thoắt ngộ nhân xưa

    Ngọn nguồn tỏ rõ

    Bỏ tà quy chánh

    So sánh hai bên

    Sư tử phấn tấn

    Là tam-muội gì?

    Nghìn xưa dằng dặc

    Gió mát muôn nơi.



    Kệ rằng:

    Học Tiên học Phật tuy thù đồ

    Thời tiết nhân duyên đãi thành thục

    Ngẫu nhiên tương phùng nguyên túc định

    Lịch kiếp phân tán vị tận sơ

    Nhất đán khế hợp toàn đạo quả

    Vạn cổ thường dung thị Chân Như

    Ngô bối vi hà vô cảm ứng?

    Phàm tâm nan đoạn trầm ái hồ![3]

    (Tuyên Công Thượng Nhân tác)

    Dịch:

    Dù cho Tiên, Phật có khác đường

    Đúng lúc đúng thời cũng đượm hương

    Ngẫu nhiên tương hội duyên đời trước

    Bao phen chia cách vẫn còn vương

    Một sớm hội thông tròn đạo quả

    Muôn đời hằng sáng ấy chơn thường

    Hậu bối bởi đâu không cảm ứng?

    Phàm phu khó đoạn được tình trường

    (Tuyên Công Thượng Nhân)

  • Lòng Trắc Ẩn

    August 5th 2012, 10:32 pm

  • Tổ thứ bảy: TÔN GIẢ BÀ-TU-MẬT


    Phiên âm Hán việt:

    Tôn giả, bắc Thiên Trúc quốc nhân dã. Nhân Lục Tổ du hóa, kiến tôn giả thủ trì tửu khí, nghịch nhi vấn viết : ‘Sư hà phương lai ? Dục vãng hà sở ?’ Tổ viết : ‘Tòng tự tâm kai, dục vãng vô xứ.’ Tôn giả viết : ‘Thức ngã thủ trung vật phủ?’ Tổ viết : ‘Thử thị xúc khí, nhi phụ tịnh giả.’ Tôn giả viết : ‘Sư thức ngã phủ ?’ Tổ viết : ‘Ngã tức bất thức, thức tức phi ngã.’ Hậu vị phi thế viên giới, phó dĩ đại pháp. Tôn giả đắc pháp dĩ, hành hóa chí Ca-Ma-La quốc, quảng hưng Phật sự. Hậu phó pháp ư Phật-Đà-Nan-Đề, tức nhập Từ tâm tam muội. Phục khởi, thị chúng viết : ‘Ngã sở đắc pháp, nhi phi hữu cố. Nhược thức Phật địa, ly hữu vô cố.’ Ngữ dĩ, hoàn nhập tam muội, thị Niết-bàn.



    Dịch :

    Tôn giả là người miền bắc xứ Thiên Trúc. Khi Tổ thứ 6 du hóa tới, trông thấy tôn giả trong tay cầm một bình dùng để đựng rượu, đi đến chỗ Tổ hỏi rằng : ‘Sư từ ở đâu lại ? Sẽ đi đến đâu ?’ Tổ đáp : ‘Từ tâm đến, chẳng đi đến nơi nào.’ Tôn giả hỏi : ‘Sư có biết vật tôi cầm trong tay là cái gì không ?’ Tổ đáp : ‘Đây là đồ dùng dơ dáy, nhưng nó chứa đồ thanh tịnh.’ Tôn giả hỏi : ‘Sư có biết tôi không ?’ Tổ nói : ‘Ta thì không biết ngươi, nếu biết thì chẳng phải ta.’ Sau đó Tổ cho tôn giả cạo tóc và thọ đầy đủ giới pháp cùng truyền lại Đại Pháp cho tôn giả. Nhận lãnh pháp xong, tôn giả đi giáo hóa đến nước Ca-Ma-La làm cho Phật giáo được hưng thịnh. Về sau, tôn giả truyền pháp cho Phật-Đà-Nan-Đề, vào định Từ tâm, rồi ra định, nói trước đại chúng : ‘Pháp ta đã được, chẳng phải là cái có. Nếu muốn biết chỗ của Phật thì phải lìa có và không.’ Nói xong, tôn giả lại vào định rồi nhập Niết-bàn.



    Tán viết :

    Vân trình tường thụy

    Kim sắc hoảng hoa

    Thủ trì xúc khí

    Quy nguyên lộ trực

    Hiện từ tâm tướng

    Giao bồn niêm xuất

    Thuyết pháp thị chúng

    Hồ bính áp trấp.[1]



    Dịch :

    Mây bầy điềm lành

    Vàng ối sáng chói

    Tay cầm bình rượu

    Về nguồn đường ngay

    Hiện tướng từ tâm

    Trong chậu lấy ra

    Nói pháp thị chúng

    Hút ngọt trong bánh



    Hoặc thuyết kệ viết :

    Bắc Thiên Trúc quốc sanh thánh nhân

    Thủ trì xúc khí vấn tiền nhân

    Tòng tự tánh lai vô sở khứ

    Thức tức phi ngã hữu hà nhân

    Từ tâm chánh định thính khứ nhập

    Bi quang biến chiếu mãn càn khôn

    Kim sắc liên hoa tiếp học giả

    Ma ha bát nhã bí linh văn.[2]



    Tuyên Hóa Thượng Nhân tác, nhất cửu thất thất niên thập nhị nguyệt thập tứ nhật.



    Dịch :

    Bắc-Ấn nẩy sinh một thánh nhân

    Tay cầm bình rượu hỏi tiền thân

    Lại từ tự tánh, không nơi đến

    Biết chẳng là ta, hỏi biết ai ?

    Chánh định tâm từ luôn xuất nhập

    Tâm bi rạng chiếu khắp càn khôn

    Sen vàng tiếp nối truyền tâm ấn

    Pháp bí anh linh trí huệ chân



    Thượng Nhân Tuyên Hóa trước tác ngày 14 tháng 12 năm 1977

  • Lòng Trắc Ẩn

    August 5th 2012, 10:32 pm

  • Tổ thứ 8: TÔN GIẢ PHẬT-ĐÀ-NAN-ĐỀ


    Tôn giả, Ca-Ma-La quốc nhân dã. Đỉnh hữu nhục kế, biện tài vô ngại. Sơ kiến Thất Tổ luận nghĩa, Tổ viết : “Nhân giả ! Luận tức bất nghĩa, nghĩa tức bất luận. Nhược nghĩ luận nghĩa, chung phi nghĩa luận.” Tôn giả tri Tổ nghĩa thắng, tâm tức khâm phục, viết : “Ngô nguyện cầu đạo, triêm cam lồ vị.” Tổ toại dữ thế độ thọ cụ, phó dĩ Đại Pháp, kệ viết :

    Tâm đồng hư không giới

    Thị đẳng hư không pháp

    Chứng đắc hư không thời

    Vô thị vô phi pháp[1]

    Tôn giả đắc pháp dĩ, lãnh chúng hành hóa chí Đề-Già quốc, chuyển phó pháp ư Phục-Đà-Mật-Đa, tức hiện thần biến, khước phục bổn tòa, đoan nhiên thị tịch. Nhĩ thời chúng kiến bảo tháp, táng kỳ toàn thân.



    Dịch :



    Tôn giả là người nước Ca-Ma-La. Tôn giả có một cục thịt nổi lên trên đỉnh đầu, có tài biện luận lưu loát. Lần đầu gặp Tổ thứ bảy, tôn giả đến luận bàn về nghĩa lý. Tổ nói: “Nầy nhân giả ! Luận tức chẳng phải nghĩa, nghĩa tức chẳng phải luận. Nếu (suy) tính luận nghĩa thì trọn chẳng phải nghĩa luận.” Tôn giả biết rằng lý của Tổ cao vời, khởi lòng khâm phục, thưa rằng: “Con nguyện cầu đạo để được thưởng thức vị cam lồ.” Tổ bèn cho cắt tóc xuất gia thọ giới Cụ túc. Tổ truyền pháp và đọc kệ rằng :

    Tâm đồng với hư không

    Chỉ cho pháp hư không

    Khi đã chứng hư không

    Hết pháp phi và thị

    Được pháp rồi, tôn giả lãnh các đệ tử đi du hóa. Đến nước Đề-Già thì truyền pháp lại cho Phục-Đà-Mật-Đa, xong hiện thần thông biến hóa, rồi trở lại chỗ cũ, ngồi ngay thị tịch. Lúc bấy giờ đồ chúng xây bảo tháp rồi an táng toàn thân trong đó.



    Tán viết :

    Luận tức phi nghĩa

    Nhất ngữ tiện liễu

    Khuếch triệt linh nguyên

    Tản khước trân bảo

    Cam lồ môn khai

    Tam canh nhật cảo

    Kim chi cổ chi

    Thanh quang kiểu kiểu.[2]



    Dịch :

    Luận tức chẳng phải nghĩa

    Một lời liền khai ngộ

    Quán triệt tới ngọn nguồn

    Gạt mọi thứ quý giá

    Cửa cam lồ rộng mở

    Canh ba tợ trời sáng

    Từ xưa cho đến nay

    Thanh tịnh rực rỡ sang

    (Tuyên Hóa Thượng Nhân)



    Hoặc thuyết kệ viết :



    Đỉnh sinh nhục kế thị chân nguyên

    Tùy hình tướng hảo nguyện lực kiên

    Vô ngại biện tài thâm bát nhã

    Đại khai viên giải nghĩa luận huyền

    Tâm đồng hư không siêu pháp giới

    Lượng bao vũ trụ nhập vi tiên

    Tức hiện thần biến hoàn bổn tọa

    Tam canh cảo nhật tự minh thiên[3]

    (Tuyên Hóa Thượng Nhân tác)



    Dịch :

    Đỉnh đầu nhục kế rõ căn nguyên

    Tướng tốt dáng hình nguyện lực kiên

    Biện luận tài cao thâm bát nhã

    Diễn đàn nghị luận nghĩa diệu huyền

    Tâm đồng hư không siêu pháp giới

    Lớn sánh trời đất, nhỏ vi trần

    Hiện đủ thần thông về chỗ cũ

    Mặt trời như mọc giữa đêm đen

    (Tuyên Hóa Thượng Nhân)

  • Lòng Trắc Ẩn

    August 5th 2012, 10:33 pm

  • Tổ thứ chín: TÔN GIẢ PHỤC-ĐÀ-MẬT-ĐA


    Tôn giả, Đề Già quốc nhân. Niên dĩ ngũ thập, khẩu vị thường ngôn, túc vị tằng lý. Nhất nhật, kiến Bát Tổ sở thuyết: “Chân ngô đệ tử!” Tôn giả tức khởi lễ bái vấn viết: “Phụ mẫu phi ngã thân, thùy thị tối thân giả? Chư Phật phi ngã đạo, thùy thị tối đạo giả?” Tổ viết: “Nhữ ngôn dữ tâm thân, phụ mẫu phi khả tỷ; nhữ hành dữ đạo hiệp, chư Phật tâm tức thị.” Tôn giả văn kệ dĩ, tiện hành thất bộ. Tổ viết: “Thử tử tích tằng trị Phật phát nguyện, lự phụ mẫu nan xả, cố bất ngôn bất lý nhĩ!” Trưởng giả toại xả xuất gia. Tổ nãi thế lạc thọ cụ, phó dĩ Đại Pháp. Tôn giả đắc pháp dĩ, chí trung Ấn Độ hành hóa, chuyển phó pháp ư Nan Sinh. Tức nhập diệt tận tam muội, nhi bát Niết-bàn.

    Dịch :



    Tôn giả Phục-đà-mật-đa người xứ Đề-già, đã năm mươi tuổi mà miệng chưa từng nói một lời, chân chưa từng đi một bước. Một hôm, gặp Tổ thứ tám (Phật-đà-nan-đề), nghe Tổ nói, Phục-đà-mật-đa đúng là đệ tử của Tổ, Tôn giả liền đứng dậy, đỉnh lễ Tổ và nói kệ rằng:

    Cha mẹ chẳng phải thân

    Thì ai là thân nhất?

    Phật chẳng là đạo ta

    Thì đạo ai hay nhất?

    Tổ đáp:

    Lời cùng tâm ngươi thân

    Cha mẹ không thân bằng

    Hành của ngươi hơp đạo

    Đó là tâm chư Phật

    Nghe kệ xong, Tôn giả liền đi bảy bước.

    Tổ bảo:

    Đứa bé này xưa đã từng gặp Đức Phật và phát nguyện xuất gia nhưng sợ cha mẹ không cho phép nên chẳng nói, chẳng đi vậy!

    Nghe Tổ nói, cha mẹ Ngài liền cho con xuất gia. Tổ cho Ngài xuống tóc, thụ giới Cụ túc và truyền trao Đại Pháp. Sau khi đắc pháp, Tôn giả đến miền Trung Ấn Độ hành hóa và truyền pháp cho Nan Sinh, rồi nhập diệt tận định mà vào Niết-bàn.





    Tán viết :

    Ngữ vị xuất khẩu

    Ngôn mãn thiên hạ

    Túc vị xích hộ

    Hư không biến khóa

    Tôn quý bất cư

    Phật Tổ tịnh giá

    Chu hành thất bộ

    Dĩ thành thoại bá



    Dịch :

    Miệng chưa từng mở

    Nói khắp mọi người

    Chân chưa từng bước

    Đi khắp hư không

    Chẳng màng tôn quý

    Phật Tổ đồng hành

    Chân đi bảy bước

    Thành một giai thoại.



    Hoặc thuyết kệ viết :



    Bất ngôn bất lý thừa nguyện lai

    Xuân huyên nan xả thể thân hoài

    Hiếu thân hiếu tâm hiếu bản tính

    Kính sư kính Tổ kính Phật đài

    Độc cụ dị bẩm trạch pháp nhãn

    Xảo ngộ lương phạm thức anh tài

    Nhất ngôn hoán tỉnh chân đệ tử

    Thủ vũ túc đạo thán kỳ tai![1]

    Tuyên Hóa Thượng Nhân tác, nhất cửu thất bát niên tam nguyệt ngũ nhật.



    Dịch :

    Chẳng nói chẳng đi bởi nguyện sinh

    Song thân chẳng nỡ dứt thâm tình

    Thân tâm bản tánh đều tròn hiếu

    Thầy Tổ, Phật-đà thảy kính tin

    Bẩm tánh phú cho tài chọn pháp

    Khéo thay anh tuấn gặp thầy tinh

    Một lời thức tỉnh ngay trò giỏi

    Mừng rỡ ngợi khen thật đáng kinh!



    (Ngày 5, tháng 3, năm 1978 Tuyên Công Thượng Nhân)

  • Lòng Trắc Ẩn

    August 5th 2012, 10:34 pm

  • Tổ thứ mười: HIẾP TÔN GIẢ


    Tôn giả, trung Ấn Độ nhân. Nhân tùy phụ yết Cửu Tổ, phụ viết: “Thử tử xử thai lục thập tuế, nhân danh Nan Sanh. Thường hữu tiên vị, thử nhi phi phàm, đương vi pháp khí. Kim ngộ Tôn giả, khả linh xuất gia.” Tổ tức vị lạc phát thọ cụ. Yết-ma chi tế, tường quang chúc tọa, nhưng cảm xá-lợi tam thất lạp hiện tiền. Tự thử tinh tiến vong bì, hiếp bất chí tịch, nhân toại hiệu vi Hiếp tôn giả. Hậu Tổ phó dĩ Đại Pháp, tôn giả đắc pháp dĩ, hành hóa chí Hoa Thị quốc, chuyển phó pháp ư Phú-na-dạ-xa. Tức hiện thần biến, nhi nhập Niết-bàn, hóa hỏa tự phần. Tứ chúng các dĩ y kích thịnh xá-lợi, tùy xứ kiến tháp.



    Dịch :



    Tôn giả người Trung Ấn, nhân lúc theo cha đến yết kiến Tổ thứ chín (Phục-đà-mật-đa), cha tôn giả thưa:

    - Thưa Ngài! Đứa trẻ này ở trong thai sáu mươi năm, do đó con đặt tên là Nan Sanh và từng có vị tiên bảo: ‘Đứa trẻ này khác thường, sẽ là bậc pháp khí, nay được gặp Tổ, xin Ngài cho nó xuất gia’.

    Tổ liền cho tôn giả xuống tóc xuất gia. Trong lúc yết-ma thọ giới Cụ túc, có ánh sáng lạ chiếu khắp tòa và cảm ứng hiện ra hai mươi mốt viên xá-lợi. Từ đó, tôn giả tinh tấn tu hành không biết mệt mỏi, hông chẳng hề dính chiếu nên người đời gọi tôn giả là Hiếp tôn giả. Sau đó, tôn giả được Tổ truyền trao Đại Pháp. Đắc pháp rồi, tôn giả du hóa đến nước Hoa Thị và truyền pháp cho Phú-na-dạ-xa. Truyền pháp xong, tôn giả liền hiện thần biến, hóa lửa tự thiêu rồi nhập Niết-bàn. Bốn chúng dùng y bọc xá-lợi và khắp nơi đều xây tháp cúng dường.



    Tán viết :

    Hiếp bất chí tịch

    Ư đạo hà thiết

    Mãn tọa tường quang

    Xung phá thiết bích

    Địa diêu lục chấn

    My hoành tỵ trực

    Thiên cổ vạn cổ

    Vi nhân thiên tắc[1]



    Dịch :

    Hông không dính chiếu

    Hành đạo tiến tu

    Khắp tòa điềm sáng

    Vách sắt phá tung

    Sáu cách đất rung

    Mày ngang mũi thẳng

    Làm gương trời người

    Mãi từ nghìn xưa.



    Hoặc thuyết kệ viết :



    Hiếp bất trước tịch hành lực kiên

    Dĩ thân tác tắc thị thùy tiên

    Tùng bách nại hàn nhân ngưỡng mộ

    Nhật nguyệt phổ chiếu các khai nhan

    Cao phong lượng tiết vô luân tỷ

    Đại chí vĩ nguyện hữu thùy toàn

    Cổ kim trung ngoại giai mông nhuận

    Tường quang thụy ải chúng sở chiêm[2]

    (Tuyên Công Thượng Nhân tác)



    Dịch :

    Lưng không dính chiếu nhẫn khó hành

    Mẫu mực làm nền dạy hậu sanh

    Tùng bách chịu rét người ngưỡng mộ

    Nhật nguyệt tỏa sáng dáng thêm xinh

    Khí tiết thanh nhã không người sánh

    Chí cao nguyện lớn hiếm kẻ bằng

    Xưa nay khắp chốn đều nương đức

    Tướng tốt mây lành chúng kính tin

    (Tuyên Công Thượng Nhân)

  • Lòng Trắc Ẩn

    August 5th 2012, 10:35 pm

  • Tổ thứ mười một: TÔN GIẢ PHÚ-NA-DẠ-XA





    Tôn giả, Hoa Thị quốc nhân. Nhân Thập Tổ hành hóa chí kỳ quốc, khế nhất thọ hạ. Tôn giả thích lai, hợp chưởng tiền lập. Tổ vấn: “Nhữ tùng hà lai?” Đáp viết: “Ngã tâm phi vãng.” Tổ viết: “Nhữ hà xứ trụ?” Đáp viết: “Ngã tâm phi chỉ.” Tổ viết: “Nhữ bất định da?” Đáp viết: “Chư Phật diệc nhiên.” Tổ viết: “Nhữ phi chư Phật.” Đáp viết: “Chư Phật diệc phi.” Tổ nhân thuyết kệ viết: “Thử địa biến kim sắc, dự tri hữu thánh chí; đương tọa Bồ-đề thọ, giác hoa nhi thành dĩ.” Tổ tri kỳ ý, tức vi thế lạc thọ cụ, nhân phó dĩ Đại Pháp. Tôn giả đắc pháp dĩ, hành hóa chí Ba-la-nại quốc, chuyển phó pháp ư Mã Minh, tức hiện thần biến, trạm nhiên viên tịch. Chúng kiến bảo tháp, bí kỳ toàn thân.



    Dịch :



    Tôn giả người nước Hoa Thị. Nhân lúc Tổ thứ mười (Hiếp Tôn giả) du hóa đến nước này, đang nghỉ dưới bóng cây, Ngài đến chắp tay đứng trước Tổ. Tổ hỏi:

    - Ông từ đâu đến?

    Tôn giả thưa:

    - Dạ! Tâm con chẳng phải đến.

    - Ông trụ ở đâu?

    - Tâm con chẳng dừng.

    - Ông chẳng định sao?

    - Chư Phật cũng vậy.

    - Ông chẳng phải Chư Phật.

    - Chư Phật cũng chẳng có.

    Nhân đó Tổ nói kệ:

    Thử địa biến kim sắc,

    Dự tri hữu thánh chí;

    Đương tọa Bồ-đề thọ,

    Giác hoa nhi thành dĩ[1].

    Dịch:

    Đất này đổi màu vàng

    Dự biết có Thánh sang

    Cội Bồ-đề an tọa

    Hoa giác nở hoàn toàn.

    Tổ biết ý tôn giả liền cho Ngài xuống tóc, thọ giới Cụ túc và truyền trao Đại Pháp. Đắc pháp rồi, Tôn giả du hóa đến nước Ba-la-nại và truyền chánh pháp cho Bồ-tát Mã Minh. Ngay sau đó, Tôn giả hiện thần biến, rồi thản nhiên thị tịch. Đồ chúng xây tháp báu tôn trí nhục thân Ngài.





    Tán viết :

    Chư Phật diệc phi

    Thánh phàm hà lập?

    Phu tọa thọ hạ

    Địa hiện kim sắc

    Đàm chân thật nghĩa

    Nhân thiên võng trắc

    Giác hoa nhất khai

    Cao huyền tuệ nhật[2]



    Dịch :

    Chư Phật vốn không

    Thánh phàm nào có

    Dưới cây trải tòa

    Đất hiện vàng chói

    Luận tỏ nghĩa chân

    Trời người không lường

    Hoa giác vừa nở

    Trời tuệ treo cao.



    Hoặc thuyết kệ viết :



    Bổn vô lai vãng Diệu giác sơn 

    Ly chư chỉ tướng vạn Phật truyền

    Địa hiện kim sắc cát tường triệu

    Thiên vũ bảo hoa thụy ứng tiên

    Thánh nhân giáng thế hóa quần phẩm

    Thần long ủng vệ dự cảm triệu

    Chư Phật dĩ phi hà sở hữu?

    Như thị như thị mạc thanh cao[3]

    (Tuyên Công Thượng Nhân tác)



    Dịch :

    Diệu giác xưa nay chẳng động dao

    Xa lìa các tướng vạn Phật trao

    Sắc vàng hiện đất điềm lành ứng

    Hoa báu tuôn rơi cảm tướng mầu

    Thánh nhân giáng thế vì muôn loại

    Long thần hộ vệ ứng duyên mau

    Chư Phật vốn không làm sao có

    Như vậy như vậy chớ truyền rao.

    (Tuyên Công Thượng Nhân)

  • Lòng Trắc Ẩn

    August 5th 2012, 10:38 pm

  • Tổ thứ mười hai: ĐẠI SĨ MÃ MINH (Mahasattva Ashvagosha)







    Đại sĩ, Ba-la-nại quốc nhân. Yết thập nhất tổ, vấn viết: “Ngã dục thức Phật, hà giả tức thị?” Tổ viết: “Nhữ dục thức Phật, bất thức giả thị.” Đáp viết: “Phật ký bất thức, yên tri thị hồ?” Tổ viết: “Ký bất thức Phật, yên tri bất thị?” Đại sĩ khoát nhiên tỉnh ngộ. Tổ vi thế độ, nãi viết: “Thử nhân tích vi Tỳ-xá-lợi quốc vương, vận kỳ thần lực, phân thân vi tàm, quốc nhân đắc y. Hậu sinh trung Ấn Độ, mã nhân bi luyến, nhân hiệu Mã Minh. Như Lai ký viết: ‘Ngô diệt hậu lục bách niên, đương hữu hiền giả, độ nhân vô lượng, kế ngô truyền hóa’. Kim chính thị thời.” Toại phó dĩ Pháp. Hậu đắc Ca-tỳ-ma-la, tức nhập Long phấn tấn tam muội, đĩnh thân không trung, như nhật luân tướng, nhiên hậu thị diệt.

    Dịch :

     

    Sư người nước Ba-la-nại, khi yết kiến Tổ thứ mười một (Phú-na-dạ-xa), sư hỏi:

    - Con muốn biết Phật, cái gì là Phật?

    Tổ đáp:

    - Ông muốn biết Phật, không biết là đúng.

    Sư thưa:

    - Đã không biết Phật, sao biết là đúng?

    Tổ bảo:

    - Đã không biết Phật, sao biết chẳng phải Phật?

    Sư hoát nhiên đại ngộ, Tổ liền cho sư xuống tóc, rồi bảo:

    - Người này, xưa kia là vua nước Tỳ-xá-lợi, đã vận thần lực phân thân làm nhiều tằm, nên người nước ấy có đủ áo mặc. Sau đó, Sư sinh vào Trung Ấn Độ, lúc đó những người có kiếp sống như ngựa đều quyến luyến, nên Sư có hiệu là Mã Minh. Trước đây Đức Phật huyền ký rằng: “Sau khi Ta diệt độ 600 năm sẽ có bậc Thánh độ vô lượng người, tiếp nối Ta truyền đạo giáo hóa, nay đã đúng thời.”

    Tổ liền phó Pháp cho sư. Về sau, Sư gặp Ca-tỳ-ma-la (Kapimala) và truyền pháp cho vị này. Truyền pháp xong, Sư liền nhập tam-muội Long phấn-tấn, rồi vút mình lên không trung như tướng mặt trời, sau đó thị tịch.





    Tán viết :

    Túc vận thần lực 

    Dữ lỏa giả y 

    Hà giả thị Phật

    Như thái tác tê

    Nhẫm ma ngộ khứ 

    Chánh Nhãn nan khuy 

    Viễn thọ ký biệt (莂)

    Tài nhãn thượng my[1]



    Dịch :

    Xưa vận thần lực

    Cho áo người trần

    Người nào là Phật

    Như rau làm dưa

    Làm sao biết được

    Chánh Nhãn khó tầm

    Xưa đã thọ ký

    Mắt ở trên mày.



    Hoặc thuyết kệ viết :

    Dũng mãnh tinh tấn tu thiện căn 

    Vô lượng kiếp lai độ chúng sinh

    Hóa tàm thổ ti Bồ tát nguyện 

    Nhược mã bi minh Tổ sư phong

    Truyền Phật tâm ấn hoằng Đại thừa 

    Tục thánh minh đăng diễn viên tông

    Tây thiên Đông độ tề chiêm ngưỡng 

    Hư không pháp giới nhật đương trung[2]

    (Tuyên Hóa Thượng Nhân tác)





    Dịch :

    Dũng mãnh siêng năng tu pháp lành

    Từ vô lượng kiếp độ quần sanh

    Hóa tằm nhả sợi nguyện Bồ-tát

    Ngựa hý bi thương Tổ tái sanh

    Truyền tâm ấn Phật hoằng chánh pháp

    Khơi đèn tuệ sáng diễn tông thành

    Tây Thiên, Đông Độ đều chiêm ngưỡng

    Mặt nhật không trung hiện rõ rành.

    (Tuyên Hóa Thượng Nhân)

  • Lòng Trắc Ẩn

    August 5th 2012, 10:39 pm

  • Tổ thứ mười ba: TÔN GIẢ CA-TỲ-MA-LA (Kapimala)







    Tôn giả, Hoa Thị quốc nhân. Sơ vi ngoại đạo, thông chư dị luận, hữu đại thần lực. Sơ kiến Thập nhị tổ, tác lễ sám hối. Tổ vấn: “Nhữ danh thùy? Quyến thuộc đa thiểu?” Tôn giả viết: “Ngã danh Ca-tỳ-ma-la, hữu tam thiên quyến thuộc.” Tổ viết: “Tận nhữ thần lực, biến hóa nhược hà?” Viết: “Ngã hóa cự hải, cực vi tiểu sự.” Tổ viết: “Nhữ hóa tánh hải đắc phủ?” Viết: “Hà vi tánh hải? ngã vị thường tri.” Tổ viết: “Sơn hà đại địa, giai y kiến lập; tam muội lục thông, do tư biến hiện.” Tôn giả văn ngôn, dữ đồ chúng câu cầu thế độ. Tổ triệu ngũ bách La Hán, dữ thọ cụ giới, phục dĩ đại pháp phó chi. Đắc pháp dĩ, du hóa chí tây Ấn Độ, chuyển phó Long Thọ. Tức hiện thần biến, hóa hỏa phần thân.



    Dịch :

    Tôn giả người nước Hoa Thị, ban đầu Ngài là ngoại đạo, biết nhiều về các luận thuyết khác, có thần thông lớn. Vừa gặp Tổ thứ mười hai, Tôn giả đảnh lễ xin sám hối. Tổ hỏi:

    - Ông tên gì? Có bao nhiêu quyến thuộc?

    Tôn giả thưa:

    - Dạ! Con tên Ca-tỳ-ma-la, có ba nghìn đệ tử.

    Tổ hỏi:

    - Dốc hết thần lực của mình, ông biến hóa được đến đâu?

    - Dạ! Con hóa biển cả là việc rất dễ.

    - Ông hóa biển tánh được không?

    - Dạ! Biển tánh là gì, con chưa biết.

    Tổ bảo:

    - Núi sông đại địa đều y cứ biển tánh mà thành lập, tam-muội lục thông cũng do biển tánh mà biến hiện.

    Tổ nói xong, Tôn giả cùng đồ chúng cầu xin xuất gia. Tổ triệu tập năm trăm vị A-la-hán đến trao giới Cụ túc và truyền đại pháp cho Tôn giả. Sau khi đắc pháp, Tôn giả du hóa đến Tây Ấn Độ và truyền pháp cho ngài Long Thọ, rồi hiện thần biến hóa lửa tự thiêu thân mình.





    Tán viết :

    Xướng xuất đa đoan 

    Phách phách thị lệnh

    Dĩ tâm ấn tâm

    Tự kính chiếu kính

    Kiệt tận huyền vi

    Đốn siêu phàm thánh

    Chánh Nhãn khán lai

    Bát vu an bính[1]



    Dịch :

    Giảng nói muôn cách

    Gõ phách làm lệnh

    Dùng tâm ấn tâm

    Như kính chiếu kính

    Tận lẽ nhiệm mầu

    Vượt lên phàm thánh

    Chánh nhãn xem qua

    Bình bát thêm cán.



    Hoặc thuyết kệ viết :



    Ngoại đạo quy Phật tục tuệ đăng 

    Thần thông biến hóa hiển uy linh

    Thâm tri sám hối cầu canh tiến

    Đại khai viên giải tự dung thông

    Bách thiên tam muội tánh hải hiện

    Bát vạn pháp môn nguyện san thành

    Vân canh thu hoạch cần nỗ lực

    Tu hành tu hành hựu tu hành[2]

    (Tuyên Hóa Thượng Nhân tác).





    Dịch :

    Ngoại đạo quy y nối tuệ minh

    Thần thông biến hóa hiển uy linh

    Lỗi xưa sám hối cầu tăng tiến

    Rộng bày trọn nghĩa lý thông tình

    Trăm nghìn biển tánh tam-muội hiện

    Tám vạn pháp môn núi nên hình

    Cày bừa bội thu cần nỗ lực

    Tu hành hai chữ phải chuyên tinh.

    (Tuyên Công Thượng Nhân)

  • Lòng Trắc Ẩn

    August 5th 2012, 10:41 pm

  • Tổ thứ mười bốn: BỒ-TÁT LONG THỌ (Nagarjuna)







    Tôn giả, Tây Thiên Trúc quốc nhân. Nhân Thập tam tổ hành hóa chí bỉ, Long Thọ xuất nghênh viết: “Thâm sơn cô tịch, long mãng sở cư; đại đức chí tôn, hà uổng thần túc?” Tổ viết: “Ngô phi chí tôn, lai phỏng hiền giả.” Long Thọ mặc niệm, Tổ tri kỳ ý. Long Thọ hối tạ, Tổ tức dữ độ thoát, cập ngũ bách long chúng câu, thọ cụ giới, phó dĩ đại pháp. Đắc pháp dĩ, hành hóa chí Nam Ấn Độ. Bỉ quốc chi nhân đa tín phúc nghiệp, Tổ vị thuyết Phật tánh nghĩa, chúng văn, tất hồi sơ tâm. Phục ư tọa, hiện thân như mãn nguyệt luân. Chúng trung hữu Ca-na-đề-bà viết: “Thử thị Tôn giả, hiện Phật tánh thể tướng, dĩ thị ngã đẳng.” Hậu phó Pháp ư Ca-na-đề-bà dĩ, nhập nguyệt luân tam muội, quảng hiện thần biến, ngưng nhiên thị tịch.



    Dịch :

    Bồ- tát Long Thọ người Tây Thiên Trúc, nhân khi Tổ thứ mười ba (Ca-tỳ-ma-la) đến đây hoằng hóa, Ngài đến nghinh tiếp và thưa:

    - Nơi núi sâu vắng vẻ, là chỗ hang động của rồng rắn, đại đức là bậc chí tôn, vậy chẳng là uổng công thần túc của Ngài sao? Tổ bảo:

    - Ta chẳng phải chí tôn, ta đến là để thăm hỏi hiền giả.

    Ngài Long Thọ nghĩ thầm (trong lòng). Tổ biết Ngài nghĩ gì. Ngài xin sám hối tạ tội. Tổ liền cho Ngài cùng năm trăm đồ chúng xuất gia, truyền giới cụ túc và truyền đại pháp cho Ngài. Sau khi đắc pháp Ngài liền du hóa đến Nam Ấn Độ. Dân chúng ở đây phần nhiều đều tin phước nghiệp, nên Ngài dạy về nghĩa Phật tánh, nghe xong họ đều tin theo. Thế rồi, Ngài trở lại ngay tòa hiện thân như trăng tròn. Bấy giờ, trong chúng có Ca-na-đề-bà nói: ‘Ngài hiện thể tướng của Phật tánh để chỉ dạy chúng ta’.

    Về sau, Ngài phó pháp cho tôn giả Ca-na-đề-bà (Kanadeva) rồi nhập tam-muội Nguyệt luân, hiện nhiều thứ thần biến rồi an nhiên thị tịch.





    Tán viết :

    Phật tánh chi nghĩa 

    Phi hữu vô tướng

    Hiện tam muội luân

    San hô nguyệt thượng

    Thị khắc gia nhi

    Bất lạc thú hướng

    Yết khước song my

    Nhất chùy lưỡng đương[1]



    Dịch :

    Nghĩa của Phật tánh

    Chẳng tướng có, không

    Hiện trăng tam-muội

    Vầng trăng san hô

    Đúng nếp gia phong

    Không lọt thứ bậc[2]

    Đôi mày vừa nhướng

    Một nhát trúng hai



    Hoặc thuyết kệ viết :

    Thiên Trúc thập tứ tổ truyền tâm 

    Long cung tầm bảo thủ đại kinh

    Pháp giới vi thể vô biên tế

    Hư không thị dụng hữu hà ngân

    Bao la vạn vật hàm chúng diệu

    Quyển tàng nhất mật huýnh căn trần

    Hỏa trạch nguy hiểm hưu lưu luyến

    Thế Tôn thọ hạ kiến minh tinh[3]

    (Tuyên Hóa Thượng Nhân tác)



    Dịch :

    Tổ thứ mười bốn được truyền tâm

    Long cung tìm báu được kinh thâm

    Pháp giới là thể không ngằn mé

    Hư không là dụng có chi tâm

    Bao la vạn tượng nhiều vi diệu

    Gồm thâu yếu chỉ thoát mê lầm

    Nhà lửa hiểm nguy đừng lưu luyến

    Phật tọa Bồ đề thấy sao mầu

    (Tuyên Hóa Thượng Nhân)


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group