Phật Tổ Đạo Ảnh

  • Lòng Trắc Ẩn

    August 7th 2012, 5:06 pm

  • Tổ thứ 15: TÔN GIẢ CA-NA-ĐỀ-BÀ (Kanadeva)







    Tôn giả, Nam Thiên Trúc quốc nhân. Sơ cầu phúc nghiệp, kiêm nhạo biện luận. Hậu yết Long Thọ tổ, tổ tri thị trí nhân, tiên khiển thị giả, dĩ mãn bát thủy, trí vu tọa tiền. Tôn giả kiến chi, tức dĩ nhất châm đầu chi nhi tiến, hân nhiên khế hội. Tổ tức vị thuyết pháp, bất khởi ư tọa, hiện Nguyệt Luân tướng, duy văn kỳ thanh, bất kiến kỳ hình. Tôn giả ngữ chúng viết: “Kim thử thụy giả, Sư hiện Phật Tính, biểu thuyết pháp phi thanh sắc dã.” Tổ tức vi thế độ, phó dĩ đại pháp. Tôn giả đắc pháp hậu, hành hóa chí Ca-tỳ-la (Kapila) quốc, chuyển phó La-hầu-la-đa (Rahulata), tức nhập Phấn tấn tam-muội, phóng bát quang nhi quy tịch yên.



    Dịch:

    Tôn giả người xứ Nam Ấn, ban đầu Ngài chuyên về cầu phước và thích biện luận. Về sau, Ngài đến yết kiến tổ Long Thọ, Tổ biết Ngài là người trí nên sai thị giả lấy một bát nước đầy, đặt trước pháp tòa. Tôn giả thấy bát nước liền lấy cây kim bỏ vào, rồi bước tới, hai bên hân hoan khế hội. Tổ thuyết pháp cho Ngài nghe và hiện tướng mặt trăng ngay tại chỗ ngồi, khiến Ngài chỉ nghe tiếng Tổ nói mà không thấy hình. Tôn giả bảo đại chúng:

    - Hôm nay Thầy hiện điềm lành là hiển bày Phật tánh và thuyết pháp nhưng không nghe tiếng và không thấy hình.

    Tổ cho Tôn giả xuất gia và truyền đại pháp. Sau khi đắc pháp, Tôn giả du hóa đến nước Ca-tỳ-la, truyền pháp cho La-hầu-la-đa, rồi nhập tam-muội Phấn tấn, phóng tám luồng ánh sáng và nhập diệt ngay trong đó.



    Tán:

    Phật Tổ ba tỵ

    Trí giả nan am

    Bát thủy đầu châm

    Lạc nhị lạc tam

    Nguyệt Luân tam-muội

    Đại địa tinh thiên

    Tất cánh như hà?

    Thí trước nhãn khán! [1]

    Dịch:

    Yếu chỉ Phật Tổ

    Người trí khó lường

    Bát nước ném kim

    Ba rơi, hai rụng

    Nguyệt Luân tam-muội

    Đại địa tanh hôi

    Chung cuộc ra sao?

    Thử dõi mắt nhìn!



    Hoặc thuyết kệ viết (Tuyên Công thượng nhân tác):

    Mãn bát thanh thủy tịnh vô trần

    Nhất trâm đầu nhập lãng vi hôn

    Tính giác linh minh nguyên phi vật

    Trí quang biến chiếu bản lai chân

    Như thị như thị quán tự tại

    Thiện tai thiện tai ngộ thùy nhân?

    Tổ sư truyền tâm chiêu đại đạo

    Ngôn ngôn ngữ ngữ thuộc phù văn [2]

    Dịch:

    Nước trong đầy bát chẳng bụi trần

    Ném chiếc kim vào sóng gợn dâng

    Linh minh tánh giác không là vật

    Trí quang soi khắp bản lai chân

    Như thế, như thế, quán tự tại

    Lành thay, lành thay, ai ngộ chân?

    Tổ Tổ truyền tâm soi sáng đạo

    Ngữ ngôn, ngôn ngữ thuộc phù vân.

  • Lòng Trắc Ẩn

    August 7th 2012, 5:08 pm

  • Tổ thứ 16: TÔN GIẢ LA-HẦU-ĐA-LA (RAHULATA)







    Tôn giả, Ca-tỳ-la quốc nhân, phụ danh Phạm Ma Tịnh Đức. Gia hữu viên thụ, sanh nhĩ như khuẩn, vị thậm mỹ. Duy Tịnh Đức dữ thứ tử La-hầu-la-đa đắc thủ nhi thực, tùy thủ tùy trưởng. Nhân Thập ngũ Tổ chí kỳ gia, viết: “Nhữ niên bát thập nhất, thử thụ bất sanh nhĩ.” Tịnh Đức văn, di gia thán phục. Thả viết: “Đệ tử suy lão, bất năng sự Sư, nguyện xả thứ tử, tùy Sư xuất gia.” Tổ viết: “Tích Như Lai ký thử tử, đương đệ nhị ngũ bách niên, vi đại giáo chủ. Kim chi tương ngộ, cái phù túc nhân.” Tức dữ thế độ, chấp thị, hậu phó dĩ đại pháp. Đắc pháp dĩ, hành hóa chí Thất-la-phiệt thành (Sravasti), chuyển phó dữ Tăng-ca-nan-đề (Sanghanandi), tức an tọa quy tịch.



    Dịch:

    Tôn giả người nước Ca-tỳ-la (Kapila), cha tên Phạm Ma Tịnh Đức. Cây trong vườn nhà Ngài sinh nhiều nấm có hương vị rất ngon, nhưng nấm này chỉ có Tịnh Đức và người con thứ La-hầu-la-đa mới hái được để ăn và cứ hái xong thì nấm lại mọc lên. Một hôm, nhân Tổ thứ mười lăm (Ca-na-đề-bà) đến nhà Ngài nói với cha Ngài:

    - Khi ông 81 tuổi thì cây này không mọc nấm nữa.

    Nghe xong, Tịnh Đức càng thêm thán phục, thưa:

    - Thưa Thầy! Đệ tử đã già yếu, không thể hầu Thầy, xin Thầy cho đứa con thứ của con theo Thầy xuất gia.

    Tổ bảo:

    - Xưa, Đức Phật đã thọ ký cho đứa bé này là về sau, đến kỳ thứ nhì của khoảng thời gian 500 năm, sẽ là một vị đại giáo chủ. Nay gặp đây, quả là phù hợp nhân duyên đời trước.

    Tổ liền cho Tôn giả xuất gia và làm thị giả. Về sau, Tổ truyền đại pháp cho Ngài. Sau khi đắc pháp, Tôn giả du hóa đến thành Thất-la-phiệt (Sravasti), truyền pháp cho Tôn giả Tăng-già-nan-đề (Sanghanandi) rồi ngồi an nhiên trên tòa thị tịch.



    Tán:

    Túc nhân ký phù

    Huyền cơ mặc khế

    Thụ đại pháp tràng

    Di thiên tạp địa

    Nhị thiên niên lai

    Tư tông miên kế

    Kham tiếu nhi tôn

    Kình xoa đoạn tý[1]

    Dịch:

    Nhân xưa đã ứng

    Thầm hợp huyền cơ

    Dựng cờ đại pháp

    Che phủ đất trời

    Hai nghìn năm nữa

    Tiếp nối tông này

    Nực cười con cháu

    Lấy chĩa đoạn tay!



    Hoặc thuyết kệ viết (Tuyên Công thượng nhân tác):

    Tịnh Đức đạo chủng sản kỳ tài

    Viên hữu dị thọ trưởng nhĩ đài

    Tôn giả thái trích phục sanh khuẩn

    Như Lai thọ ký nhị ngũ bách

    Túc duyên ký phù huyền cơ khế

    Hiện quả khắc chứng diệu luân khai

    Tục Phật tâm đăng quang vô tận

    Vạn kiếp thiên thu vĩnh miễn hoài[2]

    Dịch:

    Tịnh Đức khéo tu sinh kỳ tài

    Vườn nhà cây lạ trổ nấm sai

    Tôn giả hái xong nấm lại mọc

    Như Lai thọ ký hai năm trăm

    Nhân trước huyền cơ nay khế hợp

    Quả chứng viên thành diệu lý khai

    Nối đèn tâm Phật soi vô tận

    Vạn kiếp nghìn thu vẫn nhớ hoài.

  • Lòng Trắc Ẩn

    August 7th 2012, 5:09 pm

  • Tổ thứ mười bảy: TÔN GIẢ TĂNG GIÀ NAN ĐỀ (Sanghanandi)







    Tôn giả là thái tử con vua Bảo Trang ở thành Thất-la-phiệt. Mới lên bảy, Ngài đã chán thú vui ở đời, xin được xuất gia. Một đêm nọ, Ngài đến động đá lớn ngồi thiền trong đó. Tổ thứ mười sáu (La-hầu-la-đa) đến đó, thấy Ngài đang ngồi yên nhập định, Tổ chờ đến hai mươi mốt ngày, Ngài mới xuất định, Tổ hỏi:

    - Thân ông định hay tâm ông định?

    Tôn giả đáp:

    - Thân tâm đều định.

    Tổ bảo:

    - Thân tâm đều định, sao lại có xuất nhập?

    Tôn giả đáp:

    - Tuy có xuất định và nhập định nhưng vẫn không mất tướng của định.

    Tổ vặn hỏi:

    - Ông không mất tướng định, thì hãy đem tướng định cho ta xem?

    Tôn giả hoát nhiên tỏ ngộ, liền xin Tổ tế độ. Tổ dùng tay phải cầm bát giơ cao lên tận cung điện Phạm thiên, lấy cơm thơm về cùng ăn với Tôn giả. Còn Tôn giả lấy tay phải đưa xuống tận kim cương luân[1], lấy nước cam lồ cho vào bình lưu ly, rồi dâng lên Tổ. Tổ truyền đại pháp cho Tôn giả. Về sau, Tôn giả đến nước Ma-đề truyền pháp cho Già-da-xá-đa, rồi dùng tay phải níu cành cây mà thị tịch.



    Bài tán:

    Xả bỏ ngôi vua

    Vào hang thiền tọa

    Chợt gặp thầy cũ

    Vén mở vật xưa

    Ấy Sa- la vương[2]

    Ngay lúc gặp giặc

    Đập vỡ vụn bát

    Biển vàng[3] mêng mang.



    Khí xả vương vị 

    Yến tọa thạch quật 

    Hốt ngộ tác gia 

    Hiên phiên cố vật

    Thị Sa-la vương 

    Đương miến trước tặc 

    Kích toái bát vu 

    Kim hà hải khoát



    棄捨王位 晏坐石窟 忽遇作家 掀翻故物
    是娑羅王 當面著賊 擊碎缽盂 金河海闊



    Kệ rằng:

    Bảy tuổi hiểu đời nguyện xuất gia

    Hang đá tập thiền lánh phù hoa

    Vốn không các tướng lìa ngôn thuyết

    Có gì rối rắm hai hay ba

    Thầy trò đạo hợp cùng chung lối

    Nhân nào quả ấy như hằng sa

    Tri âm khó gặp người nhân hiếm

    Đèn tâm tiếp nối mãi truyền xa.



    Thất tuế yếm thế nguyện xuất gia 

    Thạch quật tập định giới phù hoa

    Bổn vô chư tướng ly ngôn thuyết 

    Hà hữu cát đằng lạc nhị tam

    Sư tư đạo hợp đồng nhất lộ 

    Lan nhân nhứ quả các thiên bàn

    Tri âm nan ngộ nhân giả tiên 

    Tâm đăng vĩnh tục cổ kim truyền



    七歲厭世願出家 石窟習定戒浮華
    本無諸相離言說 何有葛藤落二三
    師資道合同一路 蘭因絮果各千般
    知音難遇仁者鮮 心燈永續古今傳 (HT. Tuyên Hóa)

  • Lòng Trắc Ẩn

    August 7th 2012, 5:11 pm

  • Tổ thứ 18: TÔN GIẢ GIÀ-DA-XÁ-ĐA (Gayasata)







    Tôn giả, Ma-đề quốc ( Magadha ) nhân. Thập thất Tổ chí kỳ quốc, kiến nhất đồng tử trì giám tháo Tổ tiền, Tổ vấn: “Nhữ kỷ tuế da?” Viết: “Bách tuế.” Tổ viết: “Nhữ niên thượng ấu, hà ngôn bách tuế?” Đồng viết: “Ngã bất hội lý, chính bách tuế nhĩ.” Tổ viết: “Nhữ thiện cơ da?” Đồng viết: “Phật ngôn: Nhược nhân sinh bách tuế, bất hội chư Phật cơ; vị nhược sanh nhất nhật, nhi đắc quyết liễu chi.” Thời văn phong xuy điện linh thanh, Tổ vấn viết: “Linh minh da? Phong minh da?” Tôn giả viết: “Phi phong linh minh, ngã tâm minh nhĩ.” Tổ viết: “Tâm phục thùy hồ?” Đáp viết: “Câu tịch tĩnh cố.” Tổ viết: “Thiện tai! Thiện tai!” phó dĩ đại pháp. Tôn giả hậu đắc Cưu-ma-la-đa (Kumarata), tức dũng thân hư không, hiện thập bát biến, Hỏa Quang tam-muội, tự phần kỳ thân.



    Dịch:

    Tôn giả người nước Ma-đề ( Magadha ). Khi đến nước này, Tổ thứ mười bảy gặp một đồng tử cầm chiếc gương đến trước Tổ. Tổ hỏi:

    - Ngươi mấy tuổi rồi?

    Đứa bé trả lời:

    - Một trăm tuổi.

    Tổ bảo:

    - Ngươi còn nhỏ sao nói một trăm tuổi?

    - Tôi không hiểu lý, chính vì vậy, tôi một trăm tuổi!

    Tổ hỏi:

    - Ngươi giỏi tranh biện chăng?

    Đứa bé đáp:

    - Đức Phật nói rằng:



    Người nếu sống trăm tuổi

    Không lãnh hội Phật cơ

    Chẳng bằng một ngày sống

    Mà thấu suốt điều này.



    Có lần, gió thổi khiến chiếc linh treo ở chánh điện phát ra tiếng kêu, Tổ hỏi:

    - Linh kêu hay gió kêu?

    Tôn giả thưa:

    - Không phải gió cũng chẳng phải linh, mà chính tâm ta kêu?

    - Tâm là ai vậy?

    - Tâm là vắng lặng.

    Tổ khen :

    - Lành thay, lành thay!

    Rồi truyền đại pháp cho Ngài. Sau khi độ Tôn giả Cưu-ma-la-đa (Kumarata), Ngài liền bay lên hư không, hiện mười tám phép thần biến, dùng Hỏa Quang tam-muội tự thiêu thân mình.



    Tán:

    Trì giám nhi lai 

    Tiện dữ phác phá 

    Phi phong phi linh 

    Phân minh thố quá

    Chư Phật chi cơ 

    Thị cá thậm ma? 

    Đắc Tăng-già-lê 

    Phản tao điếm ô[1]

    Dịch:

    Cầm gương đi đến

    Liền đập vỡ gương

    Không gió chẳng linh

    Lầm lỗi phân minh

    Cơ phong chư Phật

    Đó là cái gì?

    Được Tăng-già-lê

    Lại mang tiếng xấu.



    Hoặc thuyết kệ viết (Tuyên Công thượng nhân tác):

    Nhất tuế bất minh bách tuế ngu 

    Không quá quang âm nhật nguyệt hư

    Phi phong phi linh ngã tâm động 

    Tức lý tức cơ nhữ tự tri

    Tịch tĩnh tạo hóa vô sở trụ 

    Quảng đại tinh vi hữu hà tật?

    Lai khứ giải thoát ly quái ngại 

    Sinh tử Chân Như cánh phất câu![2]

    Dịch:

    Một tuổi chưa tường trọn kiếp ngu

    Thời gian trôi mãi luống xuân thu

    Không linh chẳng gió, tâm ta động

    Khế lý khế cơ tự ta hay

    Vắng lặng, thiên nhiên không nơi trụ

    Tinh vi, rộng lớn chẳng chậm mau?

    Đến, đi, giải thoát không gò bó

    Sinh tử Chân Như càng chẳng buộc!



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày August 7th 2012, 10:26 pm với 1 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    August 7th 2012, 5:12 pm

  • Tổ thứ 19: CƯU-MA-LA-ĐA TÔN GIẢ







    Tôn giả Đại Nhục Chi quốc nhân. Nhân thập bát Tổ chí, tôn giả vấn viết: “Thị hà đồ chúng?” Tổ viết: “Thị Phật đệ tử.” Bỉ văn Phật hiệu, tâm thần tủng nhiên, tức thời bế hộ. Tổ lương cửu khấu kỳ môn, tôn giả viết: “Thử xá vô nhân.” Tổ viết: “Đáp vô giả thùy?” Tôn giả văn ngữ, tri kỳ dị nhân, toại khai quan diên tiếp. Tổ viết: “Tích Thế Tôn ký viết: ‘Diệt hậu nhất thiên niên, hữu Đại sĩ xuất hiện ư Nhục Chi quốc, thiệu long huyền hóa.’ Kim nhữ trị ngã, ưng tư gia vận.” Ư thị xuất gia thọ cụ, phó dĩ đại pháp. Tôn giả đắc pháp dĩ, hậu đắc Xà-dạ-đa, tức ư tọa thượng, dĩ chỉ trảo ly diện, như hồng liên khai, phóng đại quang minh, chiếu diệu tứ chúng, nhi nhập tịch diệt.

     

    Tôn giả người nước Đại Nhục Chi, khi Tổ thứ mười tám đến, Tôn giả hỏi:

    - Thưa Ngài! Ngài là đệ tử của ai?

    Tổ đáp:

    - Là đệ tử của Đức Phật.

    Nghe danh hiệu Đức Phật, Tôn giả sợ hãi lập tức đóng cửa lại. Tổ gõ cửa hồi lâu, Tôn giả bảo:

    - Trong nhà không có người !

    Tổ hỏi:

    - Vậy người trả lời “không” trong nhà là ai?.

    Nghe nói, Tôn giả biết đây là bậc xuất phàm liền mở cửa đón tiếp. Tổ bảo:

    - Xưa, Đức Thế Tôn thụ ký: “Một nghìn năm sau khi ta diệt độ, có bậc đại sĩ sẽ xuất hiện ở nước Nhục Chi nối truyền chính pháp”. Nay ông gặp ta thật ứng nghiệm với vận tốt này.

    Thế là Tôn giả xuất gia, được Tổ truyền giới cụ túc và đại pháp. Sau khi đắc pháp và độ Xà-dạ-đa, Tôn giả ngồi trên toà dùng móng tay rạch mặt thành hình hoa sen nở, phóng ánh sáng chiếu khắp bốn chúng rồi nhập diệt.

    Tán :

    Văn Phật bế môn

    Thả tín nhất bán

    Thử xá vô nhân

    Bão tàng tặc hán

    Thuyết pháp Phạm thiên

    Môi lý tẩy thán

    Ký biệt tương lai

    Tuệ mạng nhất tuyến[1]



    Dịch :

    Nghe Phật đóng cửa

    Chỉ tin một nửa

    Nhà này không người

    Tên trộm lẫn trốn

    Thuyết pháp Phạm thiên

    Than đá sạch đen

    Thụ ký tương lai

    Huệ mạng sợi tơ



    Kệ :

    Thử xá vô nhân hữu tặc hán

    Tâm hành xứ diệt ngôn ngữ đoạn

    Đáp giả thị thùy ngô nan giải

    Ứng chi phi ngã nhữ nghi tri

    Thiên niên Đại sĩ xuất Nhục Chi

    Vạn kiếp Pháp Vương ký nhật tiên

    Hồng liên khai phóng chiếu tứ chúng

    Thập cửu đại Tổ hóa nữ nam[2]

    Dịch:

    Trong nhà có chủ lại bảo không

    Ngôn ngữ tâm hành bặt dứt đồng

    Kẻ đáp là ai ta chẳng rõ

    Đáp đó chẳng tôi, ông phải hiểu

    Nghìn năm đại sĩ Nhục Chi hiện

    Vạn kiếp Như Lai thụ ký ông

    Nở đoá sen hồng soi bốn chúng

    Tổ đời mười chín độ rất đông.

    Tuyên Công Thượng Nhân

  • Lòng Trắc Ẩn

    August 7th 2012, 5:14 pm

  • TỔ THỨ HAI MƯƠI: TÔN GIẢ XÀ-DẠ-ĐA (Jayata)







    Tôn giả, Bắc Thiên Trúc quốc nhân. Văn thập cửu Tổ ngữ, đốn thích sở nghi. Tổ viết: “Nhữ tuy dĩ tín, nhi vị minh nghiệp tùng hoặc sanh, hoặc nhân thức hữu, thức y bất giác, bất giác y tâm. Tâm bổn thanh tịnh, vô sinh diệt, vô tạo tác, vô báo ứng, vô thắng phụ, tịch tịch nhiên, linh linh nhiên. Nhữ nhược nhập thử pháp môn, khả dữ chư Phật đồng hĩ. Nhất thiết thiện ác, hữu vi vô vi, giai như mộng huyễn.” Tôn giả lĩnh chỉ, tức cầu xuất gia, thụ cụ. Tổ phó dĩ đại pháp, đắc pháp dĩ, chí La-duyệt thành (Rajagrha), chuyển phó Bà-tu-bàn-đầu (Vasubandu), tức ư tọa, yểm nhiên quy tịch.



    Dich:

    Tôn giả người nước Bắc Thiên-Trúc, nghe Tổ thứ 19 dạy liền dứt hẳn mối nghi.

    Tổ bảo:

    - Tuy ông đã tin nhưng chưa rõ nghiệp từ hoặc[1] sinh, hoặc nhân thức mà có, thức nương bất giác, bất giác nương tâm. Nhưng tâm vốn thanh tịnh, không sanh diệt, không gây tạo, không báo ứng, không thắng thua, rỗng lặng, linh diệu. Nếu ông thâm nhập pháp môn này thì đồng với chư Phật. Tất cả thiện ác, hữu vi vô vi đều như mộng huyễn.

    Tôn giả lãnh hội tông chỉ, liền xin xuất gia, thọ cụ túc, được Tổ truyền đại pháp. Sau khi đắc pháp, Tôn giả đến thành La-duyệt, truyền pháp cho Bà-tu-bàn-đầu, rồi ngồi ngay tòa an nhiên thị tịch.

     

    Bài tán:

    Thiện ác nhị luân 

    Kiểu nhiên bất mậu 

    Ảnh hưởng hốt văn 

    Thoát lạc sào cữu

    Pháp vô sinh diệt 

    Mộc kê đề trú 

    Một lượng đại nhân 

    Khai nhãn lậu đậu[2]

    Dịch:

    Thiện ác hai vòng

    Rõ ràng không sai

    Âm vang theo tiếng

    Phá tan thói cũ

    Pháp không sanh diệt

    Gà gỗ gáy ngày

    Đại nhân xuất chúng

    Mở mắt kẻ ngu



    Hoặc thuyết kệ viết (Tuyên Công thượng nhân tác):

    Đốn thích sở nghi khoát nhiên thông 

    Dương xuân bạch tuyết tận tiêu dung

    Khởi hoặc tạo nghiệp thụ quả báo 

    Phá mê hiển chính lập đại công

    Thanh tịnh bổn nguyên Bồ-đề tính 

    Linh minh giác chiếu nhật thiên trung

    Tâm tâm tương ấn truyền Phật đạo 

    Cổ kim như thị tổng tương đồng.[3]

    Dịch:

    Dứt bặt nghi ngờ hoát nhiên thông

    Ánh xuân tuyết trắng biến thành không

    Sai lầm tạo nghiệp chịu dư báo

    Hiển chánh trừ mê lập đại công

    Tịnh khiết chơn nguyên Bồ-đề tính

    Linh minh giác sáng giữa hư không

    Tâm tâm nối tiếp truyền Phật đạo

    Xưa nay như thế mãi tương đồng

  • Lòng Trắc Ẩn

    August 18th 2012, 8:29 pm

  • TỔ 21: TÔN GIẢ BÀ-TU-BÀN-ĐẦU (Vasubandhu)







    Tôn giả, La-duyệt thành nhân. Nhất thực bất ngọa, lục thời lễ Phật, vi chúng sở quy. Nhị thập Tổ chí bỉ, vấn kỳ chúng viết: “Thử đầu-đà năng tu phạm hạnh, khả đắc Phật đạo hồ?” Chúng viết: “Ngã sư tinh tấn, hà cố bất khả?” Tổ viết: “Nhữ sư dữ đạo viễn hỹ!” Chúng viết: “Tôn giả uẩn hà đức hạnh, nhi cơ ngã sư?” Tổ viết: “Ngã bất cầu đạo, diệc bất điên đảo. Ngã bất lễ Phật, diệc bất khinh mạn. Ngã bất trường tọa, diệc bất giải đãi. Ngã bất nhất thực, diệc bất tạp thực. Tâm vô sở hy, danh chi viết Đạo.” Tôn giả văn dĩ, phát vô lậu trí, Tổ nãi phó pháp. Hậu chí Na-đề quốc, đắc Ma-noa-la, tức dũng thân cao bán do-tuần, ngật nhiên nhi trụ. Tứ chúng ngưỡng chiêm kiền thỉnh, phúc tọa, già phu nhi thệ.



    Dịch:

    Tôn giả người thành La-duyệt (Rajagriha), ngày ăn một bữa, không nằm, sáu thời lễ Phật, khiến mọi người quy phục. Tổ thứ 20 đến thành này hỏi đồ chúng của Tôn giả:

    - Vị đầu-đà này siêng tu phạm hạnh có thể đắc Phật đạo chăng?

    Đồ chúng đáp:

    - Thầy tôi tinh tấn sao không đắc đạo?

    Tổ bảo:

    - Thầy các ông cách đạo còn xa lắm!

    Đồ chúng hỏi:

    - Thưa ngài! Ngài có đức hạnh gì mà chê Thầy chúng tôi?

    Tổ đáp:

    - Ta không cầu đạo cũng chẳng điên đảo; không lễ Phật cũng chẳng khinh mạn; không ngồi mãi cũng chẳng giải đãi; không ăn một bữa cũng chẳng dùng nhiều lần. Tâm không mong cầu ấy gọi là Đạo.

    Nghe xong, Tôn giả phát khởi trí vô lậu và được Tổ truyền pháp.

    Sau đó, Tôn giả đến nước Na-đề ( Magadha ) độ Ma-noa-la (Manorhita). Xong việc, Ngài liền phi thân lên không, cao nửa do tuần rồi đứng yên trên đó.

    Bốn chúng đệ tử đều ngưỡng lên chiêm bái, cung kính thỉnh cầu, nhưng Ngài lại ngồi kiết già thị tịch.



    Tán:

    Vô lậu trí thông 

    Bạch nhật thuyết mộng 

    Ngọc uẩn kinh san 

    Châu hàm lão bạng

    Quang thấu trùng trùng 

    Hiền giả bất trùng 

    Kế khởi tuệ đăng 

    Thiên kinh địa động[1]

    Dịch:

    Chứng vô lậu trí

    Chiêm bao ban ngày

    Ngọc chất thành non

    Miệng trai ngậm châu

    Sáng rực muôn trùng

    Người hiền khó gặp

    Tiếp mồi tuệ đăng

    Trời kinh đất động.



    Hoặc thuyết kệ viết (Tuyên Công thượng nhân tác):

    Nhất thực bất ngọa chân tinh tấn 

    Vạn lự giai không đại đạo sư

    Ngã tắc bất cầu trừ điên đảo 

    Nhữ ưng phá chấp ly cuồng ngạo

    Cần tu vô lậu đạo chủng trí 

    Xả khí hữu vi công đức siêu

    Như thị tâm ấn truyền Tổ ý 

    Tây thiên Đông độ bộ bộ cao[2]

    Dịch:

    Ngủ ngồi ăn ngọ dốc công phu

    Chẳng vướng sầu lo bậc chân tu

    Ta quyết không cầu trừ điên đảo

    Ông nên phá chấp dứt cuồng ngu

    Siêng tu vô lậu Như Lai trí

    Xả bỏ hữu vi phúc đức bù

    Như vậy chư Tổ truyền tâm ấn

    Tây Thiên Đông độ mãi vân du


  • Lòng Trắc Ẩn

    August 18th 2012, 8:29 pm

  • TỔ THỨ 22: TÔN GIẢ MA-NOA-LA


    Tôn giả, Na-Đề quốc Thường Tự Tại Vương chi tử giả. Niên tam thập, hội Bà-Tu Tổ chí bỉ quốc. Vương vấn Tổ viết: “La Duyệt thành độ dữ thử hà dị?” Tổ viết: “Bỉ độ tằng hữu tam Phật xuất thế, kim vương quốc hữu nhị sư hóa đạo.” Vương viết: “Nhị sư giả thùy?” Tổ viết: “Phật ký đệ nhị ngũ bách niên, hữu nhị thần lực đại sĩ, xuất gia kế thánh, tức vương chi thứ tử Ma-Noa-La, kỳ nhất dã; ngô tuy đức bạc cảm đương kỳ nhất.” Vương viết: “Thành ư tôn giả sở ngôn, đương xả thử tử tác sa môn.” Tổ viết: “Thiện tai đại vương, năng tuân Phật chỉ.” Tứ dữ thế lạc thọ cụ, phó ư đại pháp. Tôn giả đắc pháp hậu, phó Hạc-Lặc-Na, tức già phu yêm hóa.



    Tôn giả là con vua Thường Tự Tại nước Na-đề. Năm Tôn giả 30 tuổi, gặp lúc tổ Bà-Tu đến nước này, vua cha hỏi :

    - Thưa Ngài! Thành La-duyệt có gì khác nơi này không ?

    Tổ đáp:

    - Nơi ấy có ba vị Phật xuất thế, nay đất nước của đại vương có hai bậc đạo sư hoằng dương Phật đạo :

    Vua hỏi :

    - Thưa Ngài! Hai đạo sư ấy là ai ?

    Tổ đáp :

    - Đức Phật có thọ ký: “Vào khoảng thời gian 500 năm lần thứ hai có hai Đại sĩ thần lực xuất gia kế thừa dòng Thánh”. Nay Ma-noa-la con thứ của Đại vương chính là một người. Tôi tuy phúc đức cạn mỏng nhưng cũng dám nhận lãnh trách nhiệm làm người thứ hai.

    Vua nói :

    - Nếu đúng như lời Ngài nói thì trẫm sẽ cho đứa con này xuất gia làm sa-môn.

    Tổ khen :

    Lành thay ! Đại vương đã tuân theo yếu chỉ của Đức Phật rồi!

    Thế rồi Tổ xuống tóc, trao giới cụ túc, truyền Đại pháp cho Tôn giả. Sau khi đắc pháp, Tôn giả phó chúc cho Hạc-lặc-na rồi ngồi kiết-già thị tịch.



    Tán viết:

    Vương cung đản sanh

    Bất cư tôn quý

    Văn sư chỉ thị

    Đốn minh túc tuệ

    Bào ảnh phi chân

    Thi đại vô úy

    Thể lộ đường đường

    Thiên hoa vạn hủy[1]



    Bài tán:

    Sanh chốn vương cung

    Sống đời thanh đạm

    Nghe Thầy khai thị

    Túc huệ rõ ngay

    Bọt nước giả tạm

    Ban tâm vô uý

    Tướng mạo uy nghi

    Ngàn hoa vạn cỏ.



    Hựu thuyết kệ viết:

    Thừa đại nguyện thuyền độ ngũ trược

    Bất úy gian khổ nhập sa bà

    Thác tích vương cung thường tự tại

    Ngụ cư khách xá Tổ ấn thuyết

    Phất tích thọ ký Ma-Noa thị

    Ngã kim lai phỏng đại đầu đà

    Thành tai ngôn dã ngô đương xả

    Quảng khai pháp đản thuyết vô già[2]



    Kệ rằng:

    Cưỡi thuyền đại nguyện vượt ái hà

    Gian nguy chẳng sợ nhập Ta-bà

    Dừng gót cung vua Thường Tự Tại

    Ngụ cư khách xá Tổ nói ra

    Phật xưa thọ ký Ma-noa ấy

    Nay ta đến đón Đại Đầu-đà

    Y lời dạy, đứa con xin hiến

    Mừng xuất gia mở hội vô-già.



  • Lòng Trắc Ẩn

    August 18th 2012, 8:30 pm

  • TỔ THỨ 23: TÔN-GIẢ HẠC-LẶC-NA


    Tôn giả, Nhục Chi quốc nhân. Niên nhị thập nhị xuất gia, thường hữu hạc chúng tương tùy. Tôn giả vấn nhị thập nhị tổ viết: “Dĩ hà phương tiện, linh bỉ giải thoát?” Tổ viết: “Ngã hữu vô thượng pháp bảo, nhữ đương thính thụ, hóa vị lai tế.” Nhi thuyết kệ viết:

    Tâm tùy vạn cảnh chuyển

    Chuyển xứ thực năng u

    Tùy lưu nhận đắc tính

    Vô hỷ diệc vô ưu[1]

    Thời hạc chúng văn kệ, phi minh nhi khứ. Tôn giả ký đắc pháp, hành hóa chí trung Ấn độ, chuyển phó Sư Tử, tức hiện thập bát biến nhi quy tịch.



    Dịch:

    Tôn giả người Nhục-chi, năm 22 tuổi xuất gia, thường có đàn hạc bay theo Ngài.

    Tôn giả hỏi Tổ thứ 22 :

    - Thưa Ngài! Làm thế nào để đàn hạc kia giải thoát ?

    Tổ đáp :

    - Ta có pháp bảo vô thượng, ông nên nghe kỹ để hoá độ đời sau.

    Tổ đọc kệ :

    Tâm chuyển theo muôn cảnh

    Nơi chuyển thực u huyền

    Theo dòng nhận được tánh

    Chẳng mừng cũng chẳng lo[2].

    Đàn hạc nghe kệ, liền bay lên kêu một tiếng rồi khuất mất. Sau khi đắc pháp, Tôn giả du hóa đến Trung Ấn Độ, phó pháp cho Tôn giả Sư Tử, rồi hiện mười tám phép thần biến mà viên tịch.

    Tán viết:

    Pháp thuyết long cung

    Đạo phục vũ tộc

    Chỉ quy kỳ nguyên

    Đỉnh môn á mục

    Đắc Sư Tử nhi

    Xướng hoàn hương khúc

    Nhục Chi quốc trung

    Tín hương huân phức[3]



    Bài tán:

    Nói pháp Long cung

    Đạo phục loài chim

    Chỉ về nguồn cội

    Đỉnh đầu mắt sáng

    Truyền pháp Sư Tử

    Hát khúc hoàn hương

    Khắp nước Nhục Chi

    Hương tín xông khắp.



    Hoặc thuyết kệ viết:

    Thiên địa tạo vật phả hy kỳ

    Hạc tùy Tôn giả cảnh ngu mê

    Tâm vi cảnh chuyển phi tự tại

    Tính bị vân già chướng Bồ-đề

    Khổ hải vô biên hồi đầu ngạn

    Liên bang hữu lộ cử túc cập

    Tự cổ thành công toàn bằng nhẫn

    Dũng mãnh tinh tấn mạc hồ nghi[4]

    (Tuyên công Thượng nhân tác)

    Kệ rằng:

    Trời đất tạo vật lạ muôn bề

    Hạc theo Tôn giả tỉnh u mê

    Cảnh chuyển tâm xoay ngăn tự tại

    Mây che tự tánh chướng Bồ-đề

    Mênh mông biển khổ quay đầu bến

    Cõi Phật thênh thang cất bước về

    Vạn thuở thành công đều nhờ nhẫn

    Tinh chuyên dũng mãnh Niết-bàn kề.

    (Thượng nhân Tuyên Hóa)



  • Lòng Trắc Ẩn

    August 18th 2012, 8:31 pm

  • Tổ thứ 24: TÔN GIẢ SƯ TỬ


    Tôn giả, trung Ấn độ nhân. Vấn nhị thập tam Tổ: “Ngã dục cầu đạo, đương dụng hà tâm?” Tổ viết: “Nhữ dục cầu đạo, vô sở dụng tâm.” Viết: “Ký vô dụng tâm, thùy tác Phật sự?” Tổ viết: “Nhữ nhược hữu dụng, tức phi công đức; nhữ nhược vô tác, tức thị Phật sự.” Nhân phó dĩ đại pháp. Du hóa chí Kế Tân quốc, chuyển phó pháp dữ Bà-xá Tư-đa. Hậu, vương bỉnh kiếm chí Tôn giả sở, vấn viết: “Sư đắc uẩn không phủ?” Viết: “Dĩ đắc uẩn không,” Vương viết: “Ly sanh tử phủ?” Viết: “Dĩ ly sanh tử.” Vương viết: “Ký ly sanh tử, khả thí ngã đầu.” Viết: “Ngã thân phi hữu, hà lận ư đầu!” Vương tức huy nhẫn, trảm Tôn giả thủ, bạch nhũ dũng cao sổ xích, vương chi hữu tý toàn diệc đọa địa.



    Tôn giả người Trung Ấn Độ, có lần Tôn giả hỏi Tổ thứ 23:

    - Thưa Ngài! Muốn cầu đạo con phải dụng tâm nào ?

    Tổ đáp :

    - Cầu đạo thì không có chỗ dụng tâm.

    - Nếu không dụng tâm thì ai làm Phật sự ?

    Tổ bảo :

    - Ngươi nếu có dụng thì chẳng phải công đức. Không làm đó mới là Phật sự.

    Nhân đây, Tổ truyền đại pháp cho Tôn giả. Tôn giả du hóa đến nước Kế Tân (Kubha), phó pháp cho Bà-xá Tư-đa (Basiasita).

    Một hôm, vua cầm kiếm đến hỏi Tôn giả:

    - Thầy đã chứng đắc “năm uẩn đều không” chưa” ?

    Tôn giả đáp:

    - Đã chứng đắc.

    - Lìa sanh tử chưa ?

    - Đã lìa.

    - Đã lìa sanh tử thì có thể thí đầu cho ta chăng ?

    Tôn giả đáp :

    - Thân ta chẳng phải của ta thì tiếc gì cái đầu.

    Vua liền vung kiếm chặt đầu Tôn giả, lập tức sữa trắng vụt lên cao mấy thước và tay phải của vua cũng rơi xuống đất.



    Tán viết:

    Vô tâm khả dụng

    Đại dụng hiện tiền

    Khuếch thông Phật lý

    Xả tận đệ thuyên

    Án kiếm dẫn cảnh

    Hải khẩu nan tuyên

    Lô hoa bạch tuyết

    Thu thủy trường thiên[1]



    Bài tán:

    Dùng cái không tâm

    Đại dụng hiện tiền

    Thông suốt Phật lý

    Dứt bỏ buộc ràng

    Vung gươm chặt cổ

    Đạo lý như biển

    Bông lau tuyết trắng

    Nước thu ngập trời.



    Hoặc thuyết kệ viết:

    Sư Tử Tôn giả chí phi phàm

    Cầu pháp vấn đạo nguyện tâm kiên

    Ưng vô sở trụ ly chư tướng

    Như hữu công năng tức lạc biên

    Ngũ uẩn giai không phá mê chấp

    Vạn duyên phóng hạ liễu chân thuyên

    Vương kiếm trảm đầu bạch nhũ hiện

    Hữu tý đọa lạc thủy phục cam.[2]



    Kệ rằng:

    Tôn giả Sư-Tử chí phi phàm

    Ý định tâm kiên đạo vấn tham

    Ưng vô sở trụ lìa các tướng

    Công năng nếu có tức loạn đàm

    Năm uẩn đều không phá mê chấp

    Vạn duyên buông bỏ rõ chơn phàm

    Kiếm chúa bêu đầu phun sữa trắng

    Tay phải rớt đất mới chịu cam.



  • Lòng Trắc Ẩn

    August 18th 2012, 8:32 pm

  • Tổ thứ 25 : Tôn giả Bà-Xá-Tư-Đa (Basiasita)


    Tôn giả Kế Tân quốc nhân. Sơ, mẫu mộng đắc thần kiếm, nhân nhi hữu dựng. Ký đản, quyển kỳ tả thủ. Phụ dẫn kiến Sư Tử Tổ, vấn kỳ cố, Tổ tức dĩ thủ tiếp viết: “Khả hoàn ngã châu.” Tôn giả cự khai thủ phụng châu, toại xả xuất gia. Tổ vị thế độ viết: “Ngô sư mật hữu huyền ký, duy nạn. Chánh Pháp Nhãn Tạng, chuyển phó dữ nhữ.” Đắc pháp hậu tiềm ẩn sơn cốc, quốc vương Thiên Đức, nghinh thỉnh cúng dường. Hậu vương thái tử Đức Thắng tức vị, tín ngoại đạo pháp, trí nạn tôn giả, xuất y thị chi. Vương mệnh phần y, ngũ sắc tướng tiên, tân tận như cố, vương tức truy hối, trí lễ. Hậu phó pháp y ư Mật Đa, tức hiện thần biến, hóa hỏa tự phần. Bình địa xá-lợi, khả cao nhất xích.





    Dịch:

    Tôn giả là người nước Kế Tân. Lúc xưa, bà mẹ nằm mộng lượm được kiếm thần, nhân đó mang thai. Khi sanh ra, Ngài giữ bàn tay trái nắm chặt, không mở. Tới khi Ngài được cha dẫn tới yết kiến Tổ Sư-Tử, hỏi Tổ xem duyên cớ tại sao như vậy thì Tổ đưa tay ra bảo: “Hãy trả hạt châu cho ta! Tôn giả tức thời xòe bàn tay ra trao hạt châu cho Tổ. Tôn giả được cha cho xuất gia. Tổ cho Ngài cắt tóc và nói: “Thầy ta đã từng dự báo riêng, cho hay về tai nạn của ta. Chánh Pháp Nhãn Tạng, nay ta truyền cho ngươi.” Sau khi đắc Pháp, tôn giả ẩn thân nơi hang núi. Có quốc vương Thiên Đức thỉnh tôn giả về cúng dường. Về sau, thái tử Đức Thắng lên ngôi, tin theo ngoại đạo, gây khó khăn cho Ngài và tấm y phải đưa ra cho vua coi. Vua sai lấy lửa đốt y, năm mầu y hiện ra tươi đẹp, đốt xong, củi lửa tắt mà tấm y vẫn nguyên lành như cũ. Vua biết lỗi, tạ tội. Sau, Ngài truyền lại pháp và y cho Mật-Đa rồi thị hiện thần biến, hóa phép ra lửa để tự thiêu. Xá-lợi xếp lên cao chừng một thước.



    Tán viết:



    Vị xuất môn tường

    Huyền châu dĩ ác

    Truyền thử tín y

    Hóa bị mông tộc

    Hoạn nạn bất xâm

    Hỏa đoán kim dục

    Thắng vương truy hối

    Pháp tràng cao trác[1]



    Dịch:



    Còn trong bụng mẹ

    Đã nắm hạt châu

    Y bát làm tin

    Độ hàng mông muội

    Tai nạn chẳng hại

    Lửa nung vàng sáng

    Vua Thắng hối lỗi

    Cờ pháp cao vút.





    Hoặc thuyết kệ viết:



    Mẫu mộng thần kiếm sản kỳ nam

    Tả quyền khẩn ác Tổ ý huyền

    Hoàn ngã châu lai Phật tiếp dẫn

    Kim nhữ cấp khứ hà đạo truyền

    Dự ngôn pháp nạn tu thừa thọ

    Hỏa thiêu tín y mạc đạn phiền

    Bách thiên tam muội thường du hý

    Xá lợi doanh xích khế chân nguyên.[2]



    Dịch:

    Giấc mơ thần kiếm đẻ kỳ nam

    Tay nắm chẳng buông, ước vẹn toàn

    Trả lại châu ta, tuồng Phật dẫn

    Hãy mau gánh vác pháp tâm truyền

    Dự tin pháp nạn lo thừa lãnh

    Lửa đốt tín y chớ não phiền

    Tam muội ba ngàn tùy biến hóa

    Thước cao xá lợi đúng chân nguyên

  • Lòng Trắc Ẩn

    August 18th 2012, 8:32 pm

  • Tổ thứ 26: Tôn giả Bất-Như-Mật-Đa (Punyamitra)


    Tôn giả, nam Ấn-độ Thiên Đức vương chi thứ tử. Đầu Bà-Xá Tổ xuất gia. Tổ vấn viết: “Nhữ dục xuất gia đương vi hà sự?” Viết: “Ngã nhược xuất gia, bất vi tục sự.” Tổ viết: “Đương vi hà sự?” Viết: “Đương vi Phật sự.” Tổ phó dĩ Đại Pháp. Du hóa chí đông Ấn Độ, bỉ vương danh Kiên Cố, phụng ngoại đạo sư trường trảo Phạm Chí, tức dĩ ảo pháp hóa đại sơn ư tôn giả đỉnh thượng. Tôn giả chỉ chi, hốt tại bỉ chúng đỉnh thượng. Bỉ chúng bố cụ, đầu Tổ. Tổ tái chỉ chi, hóa sơn tùy diệt. Nãi vị vương diễn pháp, tỉ thú chân thừa. Hậu đắc Bát-Nhã-Đa-La, tức từ vương viết: “Ngô hóa duyên dĩ chung, đương quy tịch diệt.” Tức hoàn bản tọa, già phu nhi thệ.



    Tôn giả là người xứ nam Ấn-Độ và là con thứ của vua Thiên Đức. Ngài xuất gia theo Tổ Bà-Xá. Tổ hỏi: “Ngươi muốn xuất gia để làm gì? Đáp: “Nếu xuất gia con sẽ không làm việc đời.” Tổ nói: “Ngươi làm việc gì?” Đáp: “Con làm Phật sự.” Tổ truyền đại pháp cho tôn giả. Tôn giả đi du hóa miền đông Ấn-Độ, gặp lúc vua nước ấy tên là Kiên Cố tôn thờ vị thầy của ngoại đạo Phạm Chí và họ dùng ảo thuật biến hóa một quả núi trên đỉnh đầu của tôn giả. Tôn giả lấy tay chỉ thì quả núi hốt nhiên bay qua trên đầu của các chúng ngoại đạo. Số người này hoảng sợ, xin quy phục Tổ. Tổ lại lấy tay chỉ, quả núi liền tan mất. Tổ giảng giải pháp cho vua khiến vua hướng về đại thừa. Về sau, gặp Bát-Nhã-Đa-La, Tổ bèn từ giã vua: “Nay, việc hóa duyên của tôi đã hết, tôi về nơi tịch diệt.” Kế đó trở về chỗ, ngồi kiết già mà thị tịch.



    Tán viết:

    Trí huệ túc bồi

    Sư kỳ nãi thánh

    Hàng bỉ quần ma

    Tà bất thắng chánh

    Thụy triệu hữu trưng

    Vương giả tín kính

    Bất động nguy nguy

    Đạo sơn vạn nhận[1]





    Dịch:

    Trí huệ kiếp xưa

    Vị thầy bậc thánh

    Hàng phục bầy ma

    Tà chẳng thắng chánh

    Điềm lành chứng minh

    Nhà vua tin kính

    Lồng lộng lặng lẽ

    Núi đạo cao ngất.



    Hoặc thuyết kệ viết:



    Xuất gia nhữ dục tác hà sự

    Bất vi tục vụ á dương tăng

    Chấn hưng Phật giáo hoằng chánh pháp

    Tạo tựu lương tài tục truyền đăng

    Ảo thuật thành sơn chung tự diệt

    Định lực độ hải thủy kiến chân

    Trường trảo hàng phục quốc vương tín

    Hóa duyên dĩ tất ngô đương hành[2]

  • Lòng Trắc Ẩn

    August 18th 2012, 8:33 pm


  • Tổ thứ 27: Tôn giả Bát-Nhã-Đa-La (Prajnatara)


    Nhị Thập Thất Tổ Bát-Nhã-Đa-La Tôn giả



    Tôn giả, đông Ấn Độ nhân. Nhân quốc vương dữ Bất-Như-Mật-Đa Tổ (chú 1), đồng xa nhi xuất, tôn giả kê thủ ư tiền, Tổ viết: “Nhữ ức vãng sự phủ?” Đáp viết: “Ngã niệm viễn kiếp trung, dữ sư đồng cư, sư diễn Ma-ha Bát-nhã, ngã chuyển thậm thâm tu-đa-la. Kim nhật chi sự, cái khế tích nhân.” Tổ nãi vị vương viết: “Thử tử phi tha, tức Đại Thế Chí bồ tát thị dã.” Hậu nam Ấn Độ quốc vương, nhất nhật thỉnh tôn giả, trai thứ, vương vấn: “Chư nhân tận chuyển kinh, duy sư vi thậm bất chuyển.” Tôn giả viết: “Bần đạo xuất tức bất tùy chúng duyên, nhập tức bất cư ấm giới. Thường chuyển như thị kinh, bách thiên vạn ức quyển, phi đản nhất quyển lưỡng quyển.” Hậu chuyển phó Bồ-Đề-Đạt-Ma, lưỡng thủ các phóng quang minh, hóa hỏa tự phần.



    Tôn giả là người miền đông xứ Ấn-Độ. Nhân khi quốc vương cùng Tổ Bất-Như-Mật-Đa ngồi chung xe đi ra ngoài, tôn giả tới phía trước vái lạy. Tổ nói: “Ngươi nhớ việc xưa chăng?” Tôn giả đáp: “Con nhớ vào kiếp xa xưa, con cùng thầy ở chung một nơi, thầy giảng Ma-ha Bát-nhã, con giảng tu-đa-la thậm thâm, nay gặp đây chính là hợp với duyên xưa đó.” Tổ nói với vua: “Đồng tử này không phải ai khác mà là hóa thân của bồ tát Đại Thế Chí vậy.” Về sau, vua xứ nam Ấn Độ thỉnh tôn giả cúng dường. Khi thọ trai xong, nhà vua hỏi Ngài: “Mọi người đều tụng kinh, sao riêng một mình thầy là không tụng kinh vậy?” Tôn giả nói: “Bần đạo thở ra không tùy theo các duyên, hít vào thì chẳng ở trong ấm giới, thường là tụng niệm kinh này, trăm ngàn vạn ức quyển, chẳng phải chỉ một hay hai quyển.” Về sau Tổ truyền pháp lại cho Bồ-Đề-Đạt-Ma, hai tay phóng hào quang, hóa lửa tự thiêu mình.



    Tán viết:



    Viễn kiếp đồng cư

    Đương diện tác thiết

    Thị Thế Chí lai

    Bỉ thử nhiêu thiệt

    Trửu hậu huyền phù

    Thông minh khuếch triệt

    Chuyển như thị kinh

    Dương xuân bạch tuyết[1]





    Dịch:

    Kiếp trước đồng cư

    Tiết lộ mọi người

    Hóa thân Thế Chí

    Hai bên nhiều lời

    Đạo bùa đeo tay

    Thông minh sáng láng

    Chuyển loại kinh đó

    Tuyết trắng mùa xuân.



    Hoặc thuyết kệ viết:

    (Tuyên công Thượng Nhân tác)



    Hữu hà nhân duyên kim tương ngộ

    Viễn kiếp đồng trú hữu trùng phùng

    Sư diễn Ma ha thâm Bát nhã

    Dư chuyển Diệu Pháp Liên Hoa kinh

    Vương thỉnh ứng cúng trai thứ tất

    Tăng vị hồi hướng chúc khang bình

    Hô hấp bất cư ấm xứ giới

    Giải thoát tự tại mãn thái hư[2]



    Dịch:



    Dám hỏi duyên nào nay gặp gỡ

    Kiếp xưa cùng trú lại tao phùng

    Thâm sâu Bát Nhã thầy chuyên giảng

    Con thuyết Liên Hoa Diệu Pháp kinh

    Bầy tiệc trai tăng vua cung dưỡng

    Trai xong hồi hướng cảnh thanh bình

    Hít thở xa lìa mười tám giới

    An nhiên tự tại khắp mười phương



    Thượng nhân Tuyên Hóa soạn


  • Lòng Trắc Ẩn

    August 18th 2012, 8:34 pm



  • Tổ thứ 28 : Đại Sư Bồ-Đề-Đạt-Ma (Bodhidharma)


    Nhị Thập Bát Tổ Bồ-Đề-Đạt-Ma Đại Sư



    Tổ, nam Thiên Trúc Hương Chí vương tam tử dã, tính sát đế lị. Sơ, vương cung dưỡng Bát-Nhã-Đa-La, nhân thí dĩ bảo châu. Tổ phát minh tâm địa, Bát-Nhã toại phó pháp. Kệ viết: “Tâm địa sanh chư chủng, nhân sự phục sanh lý; quả mãn bồ đề viên, hoa khai thế giới khởi.” Tổ đắc pháp cửu chi, niệm Chấn-Đán duyên thục, hàng hải lai Lương. Để Quảng, thứ sử Tiêu Ngang, biểu văn Vũ Đế. Nãi chiếu kiến, vấn: “Như hà thị thánh đế đệ nhất nghĩa?” Tổ viết: “Khuếch nhiên vô thánh.” Viết: “Đối trẫm giả thùy?” Tổ viết: “Bất thức.” Đế bất khế. Tổ do thử độ giang, thiệp Ngụy, chí Tung. Thiểu hậu, đắc Thần Quang, thọ dĩ đại pháp. Nãi giai đồ vãng Vũ môn Thiên Thánh tự, tọa hóa, táng Hùng Nhĩ sơn. Đường Đại tông thụy ‘Viên Giác Đại Sư’, tháp viết Không Quán.



    Tổ là người miền nam Thiên trúc và là con thứ ba của vua Hương Chí, thuộc giòng sát-đế-lị. Nhân khi vua cúng dường tôn giả Bát-Nhã-Đa-La có sự việc bảo châu được đưa ra hỏi thử. Tổ phát minh tâm địa, tôn giả Bát-Nhã bèn truyền pháp cho Tổ và đọc kệ như sau:



    Đất tâm sanh các giống

    Nhân sự lại sanh lý

    Quả chín bồ đề tròn

    Hoa nở thế giới sanh



    Một thời gian lâu sau ngày được pháp, Tổ nghĩ cơ duyên hoằng pháp với Trung Hoa đã tới, Ngài đi đường biển qua, nhằm đời nhà Lương. Khi đặt chân lên đất Quảng, thứ sử Tiêu Ngang dâng biểu báo tin lên Võ Đế. Đế hạ chiếu mời về Kinh đô. Đế hỏi: “Thế nào là thánh đế nghĩa thứ nhất?” Tổ nói: “rổng rang không thánh.” Hỏi: “Đối diện với trẫm là ai?” Tổ đáp: “Không biết.” Thấy vua Lương Võ Đế không khế hợp, Tổ đi sang sông, qua đất Ngụy, rồi đến núi Tung sơn. Ít lâu sau, gặp đại sư Thần Quang, Tổ truyền lại đại pháp. Sau đó, Ngài cùng đồ chúng đến chùa Thiên thánh tại Vũ Môn. Ngài ngồi yên thị tịch và được an táng trong núi Hùng Nhĩ. Đường Đại tông ban thụy hiệu của Ngài là “Viên Giác Đại Sư”, tháp hiệu là Không Quán.





    Tán viết:



    Chấn Đán sơ lai

    Đối trẫm bất thức

    Khoa cữu hân phiên

    Sao không xuất huyết

    Đắc đoạn tý nhân

    Hùng phong lộ tuyệt

    Phân tủy phân bì

    Sương thượng gia tuyết[1]



    Dịch:

    Chấn Đán mới đến

    Đối trẫm không biết

    Vết cũ lật ngược

    Gõ trống (rỗng) xuất huyết

    Gặp kẻ chặt tay

    Núi Hùng hết lối

    Chia tủy chia da

    Trên sương thêm tuyết





    Hoặc thuyết kệ viết:



    Chấn Đán duyên thục Đạt-Ma lai

    Đối trẫm bất thức cơ vị cai

    Thần Quang Hùng Nhĩ quỵ cửu tải

    Huệ Khả tích tuyết tý độc tài

    Dĩ tâm ấn tâm phó đại pháp

    Sơ tổ nhị tổ tục mạng mạch

    Lục thứ thọ hại hào vô tổn

    Chích lý tây quy lưu vĩnh hoài[2]



    Dịch:



    Đủ duyên sơ Tổ qua Đông độ

    Trước trẫm là ai vua chẳng ngộ

    Thần Quang Hùng Nhĩ quỳ chín năm

    Huệ Khả chặt tay đầu đội tuyết

    Pháp lớn truyền trao tâm ấn tâm

    Huệ mạng từ Sơ đến Nhị Tổ

    Ám hại sáu lần chẳng mảy may

    Chiếc giầy để lại ngàn năm nhớ



    Ghi chú của ban biên soạn: Tổ sư Đạt-Ma lại là Sơ Tổ của dòng Trung Quốc, do đó để quý vị độc giả có một cái nhìn suốt tận cội nguồn đối với lịch sử truyền đăng của chư Tổ, ở tập này chỉ đăng phần chánh văn, còn phần giảng bằng bạch thoại sẽ được đăng trong tập 2 của Phật Tổ Đạo Ảnh Bạch Thoại Giải (Thiền Tông Sơ kỳ Tổ Sư).



Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group