Lược Giảng "KINH PHÁP BẢO ÐÀN" - Hòa Thượng Tuyên Hóa

  • Lòng Trắc Ẩn

    November 23rd 2012, 2:44 pm
  • Tăng Pháp Hải, người ở Khúc Giang, thuộc tỉnh Thiều Châu, ban sơ đến tham vấn Tổ Sư, hỏi rằng: "Tức tâm tức Phật là nghĩa sao, xin Ðại sư chỉ dạy."

    Sư nói: "Niệm trước chẳng sanh tức tâm, niệm sau chẳng diệt tức Phật; thành tất cả tướng tức tâm, ly tất cả tướng tức Phật. Nếu ta nói cho đủ thì cùng kiếp nói cũng chẳng hết. Hãy nghe ta kệ:

    Tức tâm là huệ, tức Phật là định.

    Ðịnh Huệ bình đẳng, ý tất thanh tịnh.

    Ngộ pháp môn này, do ông tập tánh.

    Dụng vốn không sanh, song tu là chánh.



    Giảng
    :

    Tăng Pháp Hải, chính là vị Pháp sư ghi chép Lục Tổ Ðàn Kinh, cho nên trong phẩm Cơ Duyên tên Ngài đứng đầu. Thiền Sư Pháp Hải, tôi không dám nói Ngài hay bậc nhất, nhưng lúc đó Ngài nhất định cho rằng mình là đại đệ tử của Lục Tổ Ðại sư, cho nên viết mình đứng đầu.

    Tăng Pháp Hải, là người Khúc Giang, Thiều Châu, lúc đầu Ngài đến tham bái Lục Tổ Ðại sư hỏi:

    –Cái gì gọi tức tâm tức Phật? Ðạo lý này con không hiểu, kính mong Tổ Sư khai thị cho con.

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Niệm trước không sanh, tức là tâm. Niệm sau không diệt tức là Phật. Không sanh không diệt đó là tức tâm tức Phật. Làm sao có thể thành tựu tất cả tướng? Ðó là trong tâm thành tựu, ông có thể thành tất cả tướng lại ly khai tất cả tướng, đó chính là Phật. Nếu tôi giải nói chi li cặn kẻ, thì mấy đại kiếp nói cũng không hết. Lại nghe tôi vì ông thuyết bài kệ:

    Tức tâm là huệ, tức Phật là định, đó cũng gọi là định huệ, tức tâm tức Phật cũng chính là tức định tức huệ; định huệ, tâm và Phật thì bình đẳng. Tâm chính là Phật, Phật chính là tâm, định chính là huệ, huệ chính là định, định huệ chính là tâm và Phật, tâm và Phật chính là định huệ. Ðây đều là nhất thể, trong ý niệm của ông cần có tâm thanh tịnh. Nếu ông hiểu rõ pháp môn đốn giáo này thì sẽ minh bạch rằng không rời khỏi tâm mà có Phật, không rời khỏi Phật mà có tâm; cũng không phải rời khỏi định mà có huệ, cũng không phải rời khỏi huệ mà có định. Tức định tức huệ, tức tâm tức Phật. Tại sao ông không hiểu rõ điều này? Vì ông nhiều kiếp nhiều đời, tập tánh chướng ngại. Bổn lai diệu dụng thì không sanh không diệt, cho nên tu tâm là tu Phật, tu Phật chính là tu tâm, tu định là tu huệ, tu huệ là tu định. Ðó mới là chánh pháp.



    Pháp Hải nghe kệ rồi, liền đại ngộ, làm kệ khen rằng:

    "Tức tâm nguyên là Phật,

    Chẳng ngộ mà tự khinh.

    Con biết nhơn định huệ,

    Ðồng tu lìa các vật."



    Giảng
    :

    Thiền sư Pháp Hải ngay lời khai thị của Lục Tổ Ðại sư lập tức đại ngộ, cho nên Ngài cũng dùng một bài kệ tán thán:

    –Nguyên lai tâm này cũng chính là Phật! Lúc không hiểu thì có hai, có tâm có Phật, nhưng vốn chỉ có một, lúc chưa hiểu thì càng làm càng sai. Con nay hiểu rõ nhân duyên định huệ rồi, tức là tu hai loại pháp môn này, cần phải lìa tất cả tướng.



  • Lòng Trắc Ẩn

    November 23rd 2012, 2:47 pm
  • Vị Tăng tên Pháp Ðạt, người ở tỉnh Hồng Châu, xuất gia hồi bảy tuổi và thường tụng kinh Pháp Hoa. Một khi đến lễ làm Tổ Sư, Pháp Ðạt cúi đầu không sát đất.

    Sư quở rằng: "Lạy mà cúi đầu không sát đất, chi bằng đừng lạy. Trong lòng ngươi chắc có một vật, ngươi chất chứa việc chi vậy?"

    Pháp Ðạt nói: "Tôi đã niệm kinh Pháp Hoa đến ba ngàn bộ rồi."

    Sư nói: "Nếu ngươi niệm đến một muôn bộ, hiểu đặng ý kinh mà chẳng lấy đó gọi là hơn người, thì mới cùng ta đi một con đường. Nay ngươi cậy lấy sự nghiệp ấy, mà chẳng biết lỗi mình. Hãy nghe ta kệ:

    Lạy vốn phá màn kiêu,

    Ðầu sao không sát đất?

    Có ngã tội liền sanh,

    Quên công, phước lớn thật."

    Giảng
    :

    Tăng Pháp Ðạt, người Hồng Châu, bảy tuổi xuất gia (Pháp Hải và Pháp Ðạt đều đắc pháp yếu của Lục Tổ). Ngài thường tụng niệm Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, đến đảnh lễ Lục Tổ Ðại sư, nhưng lúc cúi đầu, mà đầu không sát đất. Lục Tổ Ðại sư liền quở trách:

    –Ông có tâm đảnh lễ thì nên hành ngũ thể đầu địa, nếu sở hành phi lễ thì chi bằng đừng lễ. Trong tâm ông nhất định có vật chướng ngại gây cản trở cho sự chứng đạo của ông. Ông thường ngày học những gì?

    Kỳ thực Lục Tổ Ðại sư sớm biết Pháp Ðạt có tâm cống cao.

    Pháp Ðạt trả lời:

    –Con thường ngày tụng Kinh Pháp Hoa, đã tụng hơn ba ngàn bộ.

    Tụng một biến tức là một bộ, từ quyển thứ nhất đến quyển thứ bảy chấm dứt, gọi là một biến. Tụng Kinh Pháp Hoa nếu tụng nhanh một ngày chỉ có thể tụng một bộ. Một năm ba trăm sáu mươi lăm ngày, có thể tụng ba trăm sáu mươi lăm bộ, mười năm mới có thể tụng hơn ba ngàn bộ. Thiền sư Pháp Ðạt đại khái đã tụng khoảng mười năm.

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Nếu ông tụng đến một vạn bộ, lĩnh ngộ nghĩa lý trong Kinh, cũng không cho rằng có công, không nói công lao mình rất lớn, ông có thể như vậy thì có thể đến đây học Phật pháp với tôi.

    Không phải mỗi người đều có thể theo Lục Tổ học Phật pháp, ông có chỗ chướng ngại, có chỗ chấp trước, thì Lục Tổ sẽ không muốn ông. Giống như người đến đây học Phật pháp, nếu không giữ gìn giới luật quy củ, tôi sẽ không hoan nghênh. Tôi hoan nghênh những người y giáo phụng hành, y theo lời Phật dạy tu hành.

    Lục Tổ Ðại sư lại nói tiếp:

    –Ông cho rằng ông tụng Kinh Pháp Hoa rất nhiều, có công đức rất lớn. Ông lại không biết ông có tâm cống cao ngã mạn. Ông nghe tôi nói bài kệ:

    Ðảnh lễ là vì trừ đi tâm cống cao ngã mạn, tại sao đầu ông không lễ sát đất? Ông đã có ngã tướng, nói ông tụng Kinh Pháp Hoa hơn ba ngàn bộ, công đức lớn hơn bất cứ người nào, nói công đức tụng kinh của tôi đã vượt hơn Tổ Sư! Vì ông có ngã tướng, vì thế sanh ra tội ngã mạn. Nếu ông không chất chứa tâm công đức có cũng như không, tụng ba ngàn bộ cũng giống như lúc ông chưa tụng thì phước đức của ông sẽ vô lượng vô biên.


    Sư lại hỏi: "Ngươi tên là gì?"

    Ðáp: "Pháp Ðạt."

    Sư nói: "Ngươi tên Pháp Ðạt, nào có đạt pháp!"

    Sư lại nói kệ rằng:

    "Ngươi tên là Pháp Ðạt,

    Siêng tụng hoài không dứt.

    Tụng rỗng chỉ theo tiếng,

    Minh tâm mới gọi Phật.

    Ngươi nay bởi có duyên,

    Ta mới nói Chơn pháp.

    Chỉ tin Phật không lời,

    Hoa sen miệng ngươi phát."



    Giảng
    :

    Tiếp theo Ðại sư lại hỏi:

    –Ông tên gì?

    Ðáp:

    –Tên của con là Pháp Ðạt.

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Tên của ông rất hay, Pháp Ðạt, pháp thông đạt, nhưng ông đạt được cái pháp nào? Ông nói ra xem!

    Lúc đó Pháp Ðạt biến thành pháp không đạt, mở miệng nói không ra lời, cũng không biết như thế nào mới đúng. Lục Tổ Ðại sư lại nói một bài kệ:

    –Tên của ông là Pháp Ðạt, ông rất dụng công, rất tốt không làm biếng, từ sáng đến tối tụng Kinh Pháp Hoa. Nhưng ông chỉ tụng rỗng mà chưa đắc được lợi ích, hàng ngày chỉ y theo kinh văn tụng niệm, không hiểu rõ nghĩa lý trong Kinh. Nếu ông tụng Kinh Pháp Hoa mà có thể hiểu được nghĩa lý của Kinh, có thể minh tâm kiến tánh, đó mới gọi là Bồ Tát. Ông và tôi rất có duyên, ông từ Hồng Châu xa xôi đến đây, điều đó không phải dễ, nên tôi nay vì ông thuyết. Ông nên sanh tín tâm, tin Phật không nói chi hết, nếu ông có tín tâm niệm Kinh Pháp Hoa, không chỉ ở khẩu niệm thôi, thì Diệu Pháp Liên Hoa sẽ sanh từ trong miệng của ông. Cho nên tụng Kinh không phải tụng suông theo tiếng, mà cần phải chân chánh hiểu rõ nghĩa lý của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa mới được.

    Lục Tổ Ðại sư dạy Pháp Ðạt:

    –Chỉ tin Phật không lời, Liên Hoa từ miệng sanh.

    Quý vị cho rằng như thế nào: Ðức Phật có lời? Hay không lời?

    Ðức Phật thuyết pháp bốn mươi chín năm, đàm kinh hơn ba trăm hội, lúc Ngài sắp nhập Niết Bàn, tất cả đệ tử hỏi:

    –Bạch Thế Tôn, Ngài nói nhiều Kinh điển như thế, nay phải làm sao?

    Ðức Phật nói:

    –Ta một chữ cũng không có thuyết.

    Ông nói Ðức Phật có phải vọng ngữ hay không? Không sai! Kinh thì do Phật thuyết ra mà tại sao Phật lại nói một chữ cũng không có thuyết? Lại nữa, Lục Tổ Ðại sư dạy người: "Chỉ tin Phật không lời, nếu ông có lòng tin này, liên hoa sanh từ trong miệng ông."

    Lòng tin này không phải dễ sanh ra. Tôi nay sẽ nói với quý vị thế nào để "chỉ tin Phật không lời." Vì bởi kinh điển, đạo lý Phật thuyết ra, đều là trong tâm chúng sanh. Quý vị cũng biết thuyết, anh ta cũng biết thuyết, mọi người vốn đầy đủ trí huệ này. Kinh điển Phật thuyết ra là vì chúng sanh mà thuyết, vì từ trong tâm chúng sanh phát xuất ra. Cho nên Phật thuyết mà không thuyết, đây là dạy quý vị không nên có chỗ chấp trước. Nếu quý vị có chỗ chấp trước, thì biến thành pháp chấp, vì thế Phật dạy người chớ có chấp trước, không nên chấp trước pháp, cũng không nên chấp trước không. Ðiều khó nhất chính là điểm này, dễ nhất cũng là điểm này. Xem quý vị biết hay không! Biết rồi, thì Phật không có thuyết. Không biết, vậy thì Phật thuyết quá nhiều. Hiểu không?

    Phật một lời cũng không thuyết, tại sao chúng ta từ sáng đến tối cần phải nói quá nhiều? Ðã giảng rồi lại giảng nữa, đã nói rồi lại nói nữa. Như vậy còn có ý nghĩa gì chớ? Cho nên mọi người chúng ta không nên nói chuyện thì tốt hơn, sau này có khách từ bên ngoài đến, chỉ cần một người trả lời, mọi người không nên mồm năm miệng mười. Nếu không người ta sẽ nói: "Các ông học Phật pháp gì vậy? Phật đã không giảng thuyết, các ông lại nói quá nhiều. Ôi! học Phật pháp càng học càng không hiểu Phật pháp." Lại nữa, lúc chúng ta tụng kinh, nếu có khách bên ngoài đến cũng không thể ngừng lại, vì công phu tụng kinh quan trọng, cho nên ít nói chuyện, dụng công phu nhiều một chút. Sau này tôi cũng nên ít nói chuyện, chỉ trong lúc giảng kinh thuyết pháp và có việc quan trọng mới nói, làm gương cho quý vị. Gì là lúc giảng kinh? Mọi nơi mọi lúc thuyết pháp đều là giảng kinh, cũng đều là không có giảng kinh – nói mà không nói. Quý vị nói:

    –Vậy thì tôi cũng có thể nói mà không nói.

    Quý vị thì học mà chưa học, quý vị chưa có học xong! Ðợi học xong rồi hãy nói!



    Pháp Ðạt nghe kệ rồi, liền ăn năn xin lỗi, thưa rằng: "Từ nay sắp sau con giữ hạnh khiêm tốn cùng cung kính mọi người. Ðệ tử tụng Kinh Pháp Hoa mà chưa hiểu nghĩa, tâm thường có chỗ nghi, Hòa Thượng có trí huệ quảng đại, xin Ngài lược giải nghĩa lý trong kinh."

    Sư nói: "Pháp Ðạt, pháp rất thấu suốt, tại lòng ngươi không thấu suốt. Kinh vốn không có chỗ nghi, tại lòng ngươi tự nghi. Ngươi niệm kinh ấy, lấy gì làm tông (căn bổn)?"

    Pháp Ðạt bạch: "Kẻ học nầy căn tánh ám độn, bấy lâu nay chỉ theo chữ mà tụng niệm, đâu có biết tông thú của Kinh là gì!"



    Giảng
    :

    Pháp Ðạt nghe xong bài kệ này liền sám hối tạ tội nói:

    –Từ đây về sau con nhất định khiêm cung tất cả. Quá khứ đệ tử tụng Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, chưa hiểu được nghĩa lý trong Kinh, cho nên trong tâm thường hoài nghi. Trí huệ của Hòa Thượng rộng lớn, cúi mong vì con lược nói ý nghĩa trong Kinh.

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Tên của ông là Pháp Ðạt, pháp vốn phải thông đạt, đáng tiếc tâm của ông mê muội mà không đạt. Trong Kinh vốn không có một chỗ có thể hoài nghi, mà là tâm của ông tự khởi hoài nghi. Ông tụng Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, có biết tông thú của Kinh không?

    Pháp Ðạt trả lời:

    –Học nhân căn tánh ngu độn, chỉ theo kinh văn tụng niệm mà thôi, không biết được tông thú của kinh văn.



    Sư nói: "Ta không biết chữ, ngươi thử lấy kinh tụng một biến, ta giải nghĩa cho ngươi rõ."

    Pháp Ðạt liền cất tiếng tụng lớn, đến phẩm Thí Dụ. Sư bảo thôi và nói rằng: "Bộ kinh nầy nguyên lấy cái Nhơn duyên xuất thế làm tông, dầu có nói bao nhiêu ví dụ, cũng không vượt ngoài chỗ ấy. Nhơn duyên gì? Kinh nói chư Phật Thế Tôn chỉ do cái Nhơn duyên về một việc lớn mà xuất hiện nơi thế gian. Việc lớn ấy là cái tri kiến Phật vậy."



    Giảng
    :

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Tôi không biết chữ, ông đem quyển Kinh Pháp Hoa tụng một biến, tôi có thể vì ông giải nói.

    Pháp Ðạt khi ấy liền to tiếng tụng đọc Kinh Pháp Hoa, khi đọc đến phẩm Thí Dụ thứ ba, Lục Tổ Ðại sư liền kêu Pháp Ðạt ngừng lại, và khai thị:

    –Kinh này là Như Lai vì một đại sự nhân duyên xuất hiện giữa đời, đó là tông chỉ của Kinh, dù có rất nhiều ví dụ cũng không vượt qua đạo lý này. Là nhân duyên gì? Kinh Pháp Hoa nói: "Tất cả Chư Phật Thế Tôn chỉ có một đại sự nhân duyên mà xuất hiện ở đời. Cái gì là một đại sự? Chính là tri kiến Phật vậy."



    "Người thế gian ngoài mê thì dính tướng, trong mê thì dính không. Nếu nơi tướng mà lìa tướng, nơi không mà lìa không, thì trong ngoài chẳng mê. Nếu hiểu rõ Pháp nầy, một niệm tâm mở sáng, ấy là mở cái tri kiến Phật. Phật đây, nghĩa là Giác ngộ, chia làm bốn môn:

    1. Khai giác tri kiến (Mở cái biết thấy giác ngộ.)

    2. Thị giác tri kiến (Chỉ cái thấy biết giác ngộ.)

    3. Ngộ giác tri kiến (Tỏ cái thấy biết giác ngộ.)

    4. Nhập giác tri kiến (Vào cái thấy biết giác ngộ.)

    Nếu nghe khai, thị (Mở, Chỉ) của Kinh mà đặng ngộ, nhập (Tỏ, Vào), đó chính là giác tri kiến, cũng chính là Chơn tánh vốn có mà được xuất hiện.



    Giảng
    :

    Người đời bên ngoài chấp tướng, bên trong chấp không. Nếu có thể nơi tướng ly khai tướng, nơi không rời không, đó chính là không chấp nơi không, không chấp nơi có. Cũng chính là trong ngoài không mê, không mê sẽ không chấp trước, không chấp trước thì không có mê. Nếu ông có thể hiểu rõ diệu pháp này thì trong một niệm tâm có thể sáng suốt khai ngộ. Ðây gọi là Khai Phật tri kiến.

    Phật chính là giác, phân làm bốn môn, chính là khai giác tri kiến, thị giác tri kiến, ngộ giác tri kiến, nhập giác tri kiến.

    Nếu ông nghe nghĩa lý của kinh, mà ngộ nhập hiểu rõ, đó chính là giác tri kiến, cũng chính là Chân như tự tánh vốn có hiển hiện ra.



    Ngươi khá cẩn thận, chớ lầm hiểu ý kinh, nghe trong Kinh nói khai thị ngộ nhập mà cho đó là tri kiến của Phật, chớ chúng ta thì vô phần. Nếu hiểu như thế là chê Kinh nhạo Phật. Ngài kia đã là Phật, đã đầy đủ tri kiến, cần gì phải khai nữa! Ngươi nay phải tin rằng cái Phật tri kiến đó chỉ là tự tâm của ngươi, chớ chẳng có Phật nào khác. Cả thảy chúng sanh vì tự che lấp tánh quang minh của mình, tham ái trần cảnh, ngoài bị dính vương, trong bị rối rắm, nên đành phải chịu sự phiền não cuốn lôi. Bởi vậy mới nhọc lòng đức Thế Tôn, Ngài phải xuất Chánh định, dùng biết bao nhiêu lời lẽ mà khuyên chúng sanh dứt bỏ lòng tham ái, phải nơi tự tâm mà khai tri kiến Phật, chớ hướng ra ngoài mà tìm, thì cùng Phật không khác. Thế cho nên gọi là "khai Phật tri kiến."



    Giảng
    :

    Ông không nên hiểu lầm ý của kinh. Nếu gặp người khác mà ông nói (với họ) như vầy: Khai thị ngộ nhập là tri kiến của Phật, không có quan hệ gì với chúng ta. Nếu ông có kiến giải như thế thì là hủy báng kinh điển, hủy báng Phật pháp. Tại sao nói hủy báng Phật? Vì Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đã thành Phật, đã đầy đủ tri kiến Phật, tại sao lại cần phải khai Phật tri kiến? Cho nên ông cần nên tin tưởng sâu sắc tri kiến Phật, chính là tri kiến trong tâm ông. Khai Phật tri kiến chính là tâm của ông vốn là Phật, muốn ông khai thị tri kiến Phật vốn sẵn có của ông, vì không có Phật nào khác.

    Tất cả chúng sanh đều che phủ quang minh của chính mình, vì có tham tâm ái tâm. Tham thì có tham trần, ái thì có ái trần, tham thì không được thanh tịnh, ái thì không được thanh tịnh. Tham ái trần cảnh nên phan duyên (níu vương) bên ngoài. Ông phan duyên bên ngoài, thì nội nhiễu (rối loạn bên trong), nếu không có ngoại duyên, thì không có nội nhiễu, ông sẽ được thanh tịnh. Bên ngoài không chỉ là phan duyên, mà là đủ mọi thứ níu vương của lục trần lục căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Vì ông phan duyên bên ngoài cho nên bên trong không an tịnh, liền tạo phản. Ðiều này khiến tâm người không được an lạc, sanh ra mọi thứ phiền não. Tâm của ông làm nô dịch cho hình thể, tâm vốn là ông chủ, nhưng nay trở thành kẻ nô lệ của thân thể, cho nên làm nhọc lòng bao Ðức Phật Thế Tôn từ trong định mà dậy, dùng bao nhiêu phương pháp phương tiện thiện xảo, hết lời khuyên bảo, khuyên chúng sanh phải đình chỉ phan duyên, dứt sạch vọng tưởng, không nên giong ruổi bên ngoài tìm cầu, nếu được như thế thì cùng Phật không có gì sai khác, cho nên nói khai Phật tri kiến.



    Ta cũng khuyên cả thảy chúng nhơn do trong tâm mình mà thường khai tri kiến Phật. Người thế gian vì lòng tà vạy, ngu mê, tạo ra các tội lỗi, miệng lành lòng dữ, ham giận, ghét ghen, siểm nịnh kiêu căng, lấn người hại vật. Ấy là mình khai tri kiến chúng sanh. Nếu giữ được lòng chơn chánh, thường sanh trí huệ, xem xét tâm mình, làm lành lánh dữ, thì mình tự khai tri kiến Phật vậy.



    Giảng
    :

    Tôi cũng thường khuyên tất cả chúng sanh, trong tâm của họ phải thường khai Phật tri kiến. Tâm người đời vì có tà tri và tâm ngu si mê hoặc, cho nên tạo vô vàn ác nghiệp. Tuy miệng nói rất hay nhưng tâm lại xấu xa, nên nói: "Khẩu Phật tâm xà." Miệng thì nói lời từ bi như Phật, nhưng tâm lại ác độc như rắn. Ðiều xấu nhất chính là tham, sân, tật đố, nịnh hót, gian nịnh (tức không chánh trực), cống cao ngã mạn, làm hại người, tổn hại chúng sanh, tự mình khai ác nghiệp chúng sanh tri kiến. Nếu có thể hồi quang phản chiếu, tự chánh kỳ tâm, tự tánh thường sanh trí huệ, quán sát chiếu soi tự tâm, năng chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, đó chính là tự khai Phật tri kiến.



    Ngươi phải niệm niệm khai tri kiến Phật, chớ khai tri kiến chúng sanh. Khai tri kiến Phật tức là xuất thế, khai tri kiến chúng sanh tức là thế gian. Nếu ngươi chỉ nhọc nhằn chấp việc tụng niệm làm công khóa thì nào khác con trâu ly mến cái đuôi của nó!"

    Pháp Ðạt nói: "Nếu vậy, hiểu được nghĩa, thì chẳng cần tụng kinh?"

    Sư nói: "Kinh có lỗi gì? Há có ngăn trở sự tụng niệm của ngươi đâu! Chỉ vì mê ngộ là tại nơi người, tổn giảm hay lợi ích là do mình. Miệng tụng tâm hành tức là chuyển được kinh, còn miệng tụng mà tâm không hành tức là bị kinh chuyển. Hãy nghe ta kệ:

    Tâm mê Pháp Hoa chuyển,

    Tâm ngộ chuyển Pháp Hoa.

    Tụng lâu không rõ ý,

    Cùng nghĩa kinh thành thù.

    Không niệm, niệm là chánh,

    Có niệm, niệm thành tà.

    Có, không, đều chẳng chấp,

    Hằng ngồi xe Bạch ngưu."



    Giảng
    :

    Lục Tổ Ðại sư lại khai thị nói:

    –Trong mỗi niệm ông cần phải giữ gìn chánh niệm, giữ gìn thiện tâm, không nên có những tâm không chánh trực như tham, sân, tật đố, chướng ngại, siểm khúc. Ðó chính là khai Phật tri kiến, không nên khai chúng sanh tri kiến. Phật tri kiến đó là pháp xuất thế; khai chúng sanh tri kiến đó là pháp thế gian. Nếu ông từ sáng đến tối cực khổ tụng Kinh Pháp Hoa mà chấp vào Kinh Pháp Hoa, cho đó là công khóa, thì có khác gì con trâu ly yêu mến cái đuôi của nó?

    Pháp Ðạt trả lời:

    –Nếu như vậy, chỉ cần hiểu rõ ý nghĩa của kinh, thì không cần tụng kinh chăng?

    Lục Tổ Ðại sư giải thích:

    Kinh có sai lầm gì, đâu có chướng ngại ông tụng kinh? Cần biết mê mờ ngu muội và giác tánh đều ở nơi ông, nếu đã mê mờ ông tụng cũng không có công, nếu đã khai ngộ tụng niệm thì càng thêm ích lợi, đây có liên hệ gì đến kinh đâu? Nếu ông có thể miệng tụng Kinh Pháp Hoa, tâm hành Kinh Pháp Hoa, đó chính là chuyển pháp luân. Nếu chỉ miệng tụng kinh mà tâm không theo nghĩa lý của kinh tu hành, đó chính là bị kinh chuyển. Ông lắng nghe tôi vì ông nói bài kệ đây:

    Tâm ông nếu mê hoặc, không sáng suốt, thì bị Pháp Hoa chuyển, chuyển ông càng tụng niệm càng không hiểu rõ. Tâm ông nếu ngộ thì có thể chuyển diệu nghĩa của Kinh Pháp Hoa. Ông tụng Kinh Pháp Hoa công phu hơn mười năm, nhưng không hiểu rõ ý nghĩa của Kinh, thì giống như oan gia đối đầu với nghĩa lý Kinh. Không có vọng niệm chính là chánh niệm, nhưng khi có tà niệm, có cống cao ngã mạn, cho rằng tôi tụng kinh có công đức thì trở thành tà. Không nên để ý nó có, và không để ý nó không, tụng niệm giống như không có niệm, không nên chấp trước.

    Nghe thế, có vị lại nói:

    –Tụng niệm giống như không niệm, vậy không niệm chính là niệm rồi?

    Như vậy thì không thể được, tại sao vậy? Vì quý vị vốn không có niệm, không hiểu nghĩa lý của kinh, làm sao có thể "giống như niệm?" "Niệm giống như không niệm," là niệm mà không niệm, không niệm mà niệm, chính là ý nói không có chấp trước. Tóm lại, không nên xem nó có, cũng không nên xem nó không, đều không nên tính toán so đo, đó chính là mình thường hay ngồi trên xe trâu trắng lớn. Ðó giống như người chế ngự điều khiển xe vốn thanh tịnh vô lậu tương ưng, thể đầy đủ vạn đức, giống như xe trâu trắng lớn, phiền não không nhiễm.



    Pháp Ðạt nghe kệ rồi bất giác rơi lệ đầm đề. Khi Ðại sư nói dứt lời liền được đại ngộ và bạch rằng:

    "Pháp Ðạt từ xưa đến nay, thật chưa từng chuyển Pháp Hoa, mà bị Pháp Hoa chuyển."

    Lại bạch rằng: "Kinh nói các vị đại Thanh văn cho đến Bồ Tát đều đem hết khả năng suy nghĩ cùng chung nghĩ lường cũng không thể nào đo được trí của Phật. Nay khiến kẻ phàm phu chỉ ngộ được tự tâm liền gọi là tri kiến Phật, nếu tự họ chẳng phải là hàng thượng căn, ắt chưa khỏi nghi báng. Lại kinh nói ba xe: xe dê, xe nai, xe trâu cùng với xe trâu trắng khác nhau như thế nào? Cúi xin Hòa Thượng rũ lòng từ khai thị cho."



    Giảng
    :

    Pháp Ðạt sau khi nghe Lục Tổ Ðại sư nói xong bài kệ, bất tri bất giác rơi lệ dầm dề. Quý vị nghĩ xem Pháp Ðạt vì sao khóc? Lúc trước Pháp Ðạt không hiểu rõ thì không khóc, nay đã hiểu rõ rồi tại sao lại khóc?

    Pháp Ðạt khóc không phải vì bị oan ức mà khóc, cũng không vì bị ai ăn hiếp, áp bức. Cái khóc của Ngài Pháp Ðạt, là vì quá cảm kích vui mừng mà khóc, cho nên nói "bất giác," không biết liền khóc lên. Chính vì Pháp Ðạt nghĩ lúc trước sao ngu si thế, phí biết bao công để tụng Kinh Pháp Hoa, một chút ích dụng cũng không có, nay nhờ Lục Tổ Ðại sư giảng giải liền được hiểu rõ, cho nên quá cảm kích mà khóc. Giống như có bạn bè hay bà con người nhà xa cách đã lâu, thình lình gặp nhau vốn rất vui mừng, nhưng đột nhiên lại khóc, đó cũng giống tình cảnh này.

    Ngài Pháp Ðạt vì đại ngộ cho nên khóc lên, thưa với Lục Tổ Ðại sư rằng:

    –Pháp Ðạt con từ trước đến nay, chưa bao giờ chuyển Kinh Pháp Hoa, mà bị Kinh Pháp Hoa chuyển.

    Lại bạch tiếp:

    –Kinh Diệu Pháp Liên Hoa có một đoạn nói: "Giả sử người khắp thế gian, đều như Xá Lợi Phất, đem hết khả năng suy nghĩ cùng chung đo lường cũng không thể nào đo được trí huệ của Phật. Tất cả đại đệ tử của Phật Thanh văn La hán cho đến đại Bồ Tát, nếu đem hết sự tư duy để đo lường đánh giá, cũng không thể đo lường trí huệ của Phật. Nay Ðại sư khiến cho kẻ phàm phu bình thường chỉ cần ngộ tự tâm, đó là tri kiến Phật. Nếu không phải người thượng trí thiện căn, thì không tránh khỏi khiến họ sanh tâm hủy báng. Lại nữa, Kinh nói có ba xe – xe dê, xe nai và xe trâu trắng lớn, ba xe nầy khác nhau như thế nào? Thỉnh Hòa Thượng phát tâm từ bi khai thị cho con."



    Sư rằng: "Ý kinh thật rõ ràng, tự ngươi mê ám làm cho trái ngược. Các người trong tam thừa chẳng lường được trí Phật, cái hại là do ở chỗ suy lường. Hễ chúng nó càng cùng suy cạn nghĩ, thì càng làm chuyển biến và xa lìa trí Phật. Ðức Phật vốn vì kẻ phàm phu mà nói kinh, chớ chẳng phải vì Phật mà nói. Cái lý ấy, nếu chẳng chịu tin, thì tùy ý rời chỗ đi ra (thối tịch).

    Sao chẳng biết mình đã ngồi trên xe trâu trắng, mà lại tìm ba xe ở ngoài cửa. Huống chi kinh văn đã nói rõ cho người biết, duy có một Phật thừa, chớ không có thừa nào khác. Bằng kinh nói hai nói ba, cho đến vô số phương tiện, muôn vàn nhơn duyên, ví dụ ngôn từ thì các pháp ấy chỉ đều chỉ một Phật thừa mà thôi. Sao ngươi chẳng xét rằng thừa là giả, là nói vì lúc xưa (vì thật mà dụng quyền), còn một thừa là thật, là nói vì ngày nay (mở quyền mà chỉ thật). Ấy là chỉ dạy người bỏ giả về thật mà thôi. Sau khi về thật rồi, thì cái thật cũng không còn có cái tên nữa.

    Phải biết rằng của quý báu sở hữu đều thuộc về của ngươi thọ dụng, lại chẳng nên tưởng đó là của cha, cũng chẳng nên tưởng đó là của con, cũng chẳng nên tưởng đến chỗ thọ dụng ấy. Thế mới gọi là trì Kinh Pháp Hoa.

    Từ kiếp nầy qua kiếp nọ, tay chẳng mở cuốn kinh, nhưng từ sáng tới đêm, không có lúc nào mà chẳng niệm vậy."



    Giảng
    :

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Ý của Kinh nói rất rõ ràng, chỉ vì ông ngu si làm trái ngược nghĩa lý của Kinh. Các người trong Tam thừa tức là Thinh văn, Duyên giác, Bồ tát, họ không thể lãnh ngộ lời Phật thuyết, sai lầm đó là vì suy lường, nếu không có tâm suy lường họ liền hiểu rõ nghĩa lý của Kinh; dựa vào sự đánh giá đo lường cộng đồng của họ, càng truy cầu, khoảng cách càng xa vời. Bởi kinh điển Phật nói ra đều vì phàm phu mà nói, không phải vì Phật nói, cho nên ông nên hiểu đạo lý này. Nếu ông không tin Kinh Phật là vì phàm phu mà nói, không phải vì Phật nói, thì ông có thể tùy ý không nghe kinh, rời chỗ ngồi mà bỏ đi ra.

    Phẩm Thí Dụ Kinh Pháp Hoa nói xe trâu trắng, là xe báu trang nghiêm. Xe trâu này chạy rất nhanh, chạy rất vững rất thoải mái, người đời không biết mình đang ngồi trên xe trâu trắng, ngược lại hướng bên ngoài tìm kiếm xe dê, xe nai, xe trâu, đó là vì người đời không có trí huệ! Kinh văn đã rõ ràng nói với ông, chỉ có nhất Phật thừa là xe trâu trắng lớn, không có các thừa khác. Hoặc nói nhị thừa – Thinh văn, Duyên giác; hoặc nói tam thừa – Thinh văn, Duyên giác, Bồ tát, hoặc là vô số thừa – đây là pháp phương tiện, đủ mọi thứ nhân duyên, ví dụ và ngôn từ mà thôi. Tất cả Phật pháp đều vì nhất Phật thừa này mà nói, tại sao ông không hiểu ba xe này là giả lập mà thôi! Thinh văn, Duyên giác, Bồ tát, duyên pháp của ba thừa này, là vì xưa kia nói. Nhất thừa Phật thừa (xe trâu trắng lớn), mới là thực pháp vì nay mà nói! Ðạo lý của Kinh Pháp Hoa là dạy mọi người bỏ đi quyền giáo tam thừa mà quy về chân thực, nhưng sau khi quy về chân thực, thực pháp này cũng không có một cái tên, thực pháp cũng không còn tồn tại. Vì thế, ông cần biết tất cả Phật pháp, đều thuộc về gia tài vốn có của ông, tự mình có sẵn, không do bên ngoài được, tùy ông sử dụng như thế nào cũng được. Ông không cần phải nghĩ rằng: Ðây là tài sản của cha tôi dành cho tôi; cũng không cần nghĩ rằng, tôi là con, cần phải kế thừa gia nghiệp của cha. Căn bổn không cần phải nghĩ gì hết, thọ dụng liền được. Ðó chính là trì Kinh Pháp Hoa. Nếu được như vậy, thì từ đại kiếp thứ nhất đến đại kiếp sau cùng, tay không rời quyển Kinh, từ sáng đến tối không có lúc nào không tụng Kinh Pháp Hoa.



    Pháp Ðạt nhờ Sư mở trí, vui mừng nhảy nhót, bèn làm kệ khen rằng:

    "Kinh tụng ba ngàn bộ,

    Tào khê không một câu.

    Ý xuất thế chẳng rõ,

    Nào dứt kiếp khùng điên!

    Dê, nai, trâu quyền lập,

    Trước, giữa, sau khéo bày.

    Ai biết trong nhà lửa,

    Nguyên là đại Pháp vương."



    Sư nói: "Từ nay về sau, ngươi có thể nói là thầy tăng niệm kinh vậy."

    Pháp Ðạt từ khi lãnh hội được ý chỉ diệu huyền của Ðại sư, cũng giữ việc tụng kinh hoài chẳng bỏ.



    Giảng
    :

    Pháp Ðạt sau khi được Lục Tổ Ðại sư khai đạo, vô cùng hoan hỷ vui mừng nhảy nhót, liền dùng kệ xưng tán:

    –Con tụng Kinh Diệu Pháp Liên Hoa đã hơn ba ngàn bộ, mà Tào Khê một câu cũng không nói. Con chưa hiểu rõ tông chỉ xuất thế, thì làm sao có thể trừ bỏ vọng tâm dã tánh bao đời bao kiếp? Xe dê, xe nai, xe trâu đều là quyền pháp, sơ thiện trung thiện hậu thiện đều là một phương pháp truyền dương Phật pháp. Sơ thiện tức là pháp Tiểu thừa giảng ban đầu, trung thiện tức là Trung thừa, hậu thiện tức là giảng thuyết Ðại thừa – tức dụ cho Thanh văn, Duyên giác, Bồ Tát tam thừa. Không ai ngờ rằng, không ai biết rằng, trong nhà lửa tam giới này, có thể tu thành Phật, làm vị đại Pháp vương!

    Lục Tổ Ðại sư biết Pháp Ðạt đã thấu rõ liền nói:

    –Ông từ nay về sau mới xứng đáng xưng là thầy tăng tụng Kinh Pháp Hoa vì lúc trước ông không biết tụng.

    Pháp Ðạt từ đó lãnh ngộ tôn chỉ huyền diệu của Lục Tổ Ðại sư, nay tuy Ngài hiểu rõ Kinh Pháp Hoa, nhưng vẫn không ngừng tụng. Mà không nói rằng: "Tôi niệm mà không niệm, không niệm mà niệm, tôi đã hiểu là được rồi!" Ngài Pháp Ðạt vẫn tụng kinh như cũ. Có vài người đối với chỗ này thường không hiểu rõ, nói niệm mà không niệm, không niệm mà niệm, vậy thì ông ăn mà không ăn, không ăn mà ăn phải không? Cũng không thể lúc ăn trộm đồ nói: Trộm mà không trộm, không trộm mà trộm. Cũng không thể lúc sát sanh nói: Sát mà không sát, không sát mà sát. Cho nên nói hiểu rõ rồi thì không còn chấp trước, không nên nói suông, đàm khẩu đầu thiền. Nếu đã đạt đến trình độ thì có thể niệm Kinh mà không chấp trước niệm kinh, không nên giống như Ngài Pháp Ðạt lúc trước cho rằng niệm Kinh Pháp Hoa ba ngàn bộ, công đức lớn hơn tất cả, cho nên không đảnh lễ người. Ngài Pháp Ðạt lúc thấy Tổ Sư đầu không sát đất cũng có thể gọi là biểu hiện cung kính nhất rồi. Nếu đối với người bình thường, không nói đến việc đảnh lễ, ngay chào hỏi cũng không có, Pháp Ðạt cống cao ngã mạn như thế. Giống như người giàu nhìn người nghèo, nhìn cũng không nhìn, họ không nhìn xuống dưới chỉ nhìn lên trên, xem thường tất cả. Pháp Ðạt nhìn thấy Lục Tổ, biết Ngài là kế truyền y bát của Ngũ Tổ, cho nên không thể không cúi đầu, nhưng trong tâm nhất định nghĩ rằng: "Tôi niệm nhiều bộ Kinh Pháp Hoa như thế phải cao vượt hơn vị Tổ Sư này." Pháp Ðạt chỉ miễn cưỡng cúi đầu, mà Lục Tổ vừa nhìn liền biết Pháp Ðạt tâm cống cao ngã mạn.



    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày August 28th 2018, 2:36 pm với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    November 23rd 2012, 2:48 pm
  • Tăng Trí Thông, người quê ở An Phong thuộc Thọ Châu, ban đầu xem Kinh Lăng Già đến hơn một ngàn lần nhưng không hiểu được tam thân tứ trí. Người đến lễ Ðại sư cầu giải nghĩa này.

    Sư nói: "Ba thân là Thanh Tịnh Pháp Thân, đó là tánh của ngươi, Viên Mãn Báo Thân là trí của ngươi, Thiên Bách Ức Hóa Thân là hạnh của ngươi vậy. Nếu ngươi lìa Bổn tánh mà nói riêng ba thân, tức gọi là có thân mà không trí. Bằng ngộ được ba thân không có tự tánh riêng, tức gọi là tứ trí Bồ đề. Hãy nghe ta kệ:

    Tự tánh đủ ba thân,

    Phát minh thành tứ trí.

    Chẳng lìa duyên thấy nghe,

    Siêu nhiên lên quả Phật.

    Nay tôi vì ông nói,

    Tin chắc hằng không mê.

    Chớ học người tìm cầu,

    Trọn ngày nói Bồ đề."



    Giảng
    :

    Tăng Trí Thông người An Phong, Thọ Châu, xem Kinh Lăng Già hơn ngàn biến, vẫn không lĩnh hội tam thân tứ trí, cho nên đến lễ thỉnh Ðại sư, khẩn cầu giải thích chân nghĩa. Ðại sư khai thị: "Tam thân chính là Pháp thân, Báo thân và Hóa thân. Thanh Tịnh Pháp Thân là bổn tánh của ông, Viên Mãn Báo Thân là trí huệ của ông, Thiên Bách Ức Hóa Thân là bổn hạnh của ông. Nếu ly khai bổn tánh mà thuyết tam thân, đó là có thân mà không có trí huệ. Nếu ông ngộ được tam thân không có tự tánh, thì có thể có tứ trí Bồ đề. Nay nghe tôi nói kệ:

    Lúc ông hiểu rõ tam thân là bổn tánh vốn có, ông sẽ hiểu rõ tứ trí. Nó không rời nghe và thấy, nhưng siêu vượt đặng thấy nghe mà trực chỉ đến pháp giới Phật.

    Ông cần phải nghe bằng lòng tin, thì sẽ không mê hoặc giống như người thế tục, miệng luôn nói "Bồ đề! Bồ đề! Bồ đề!" mà không thực hành Bồ đề. Không nên chỉ học khẩu đầu thiền mà cần phải chân chánh hiểu rõ tam thân mới đúng."

    Lục Tổ Ðại sư lại nói:

    –Ông đã hiểu rõ tam thân, thì nên đồng thời hiểu rõ tứ trí. Nếu ông ly khai tam thân mà giải thích tứ trí, dù ông hiểu rõ danh tướng tứ trí cũng không đắc được chân thực thể dụng, dù có trí huệ cũng giống như không có trí huệ, chỉ nhọc công vô ích.



    Trí Thông lại bạch rằng: "Cái nghĩa tứ trí có thể được nghe chăng?"

    Sư nói: "Ðã hiểu ba thân thì rõ tứ trí, sao lại hỏi nữa? Nếu lìa ba thân mà nói riêng tứ trí, ấy gọi là có trí mà không thân, tức là có trí trở lại thành không trí."

    Sư lại nói kệ rằng:

    Ðại Viên Cảnh Trí, tánh thanh tịnh.

    Bình Ðẳng Tánh Trí, tâm vô bịnh.

    Diệu Quán Sát Trí, kiến phi công,

    Thành Sở Tác Trí, đồng viên cảnh.

    Ngũ Bát quả, Lục Thất nhơn, chuyển,

    Chỉ dùng danh ngôn không thật tánh.

    Nếu ngay chỗ chuyển chẳng lưu tình,

    Ngay nơi ồn náo, Na-già định.



    Giảng
    :

    Phật có tứ trí tức Ðại Viên Cảnh Trí, Bình Ðẳng Tánh Trí, Diệu Quan Sát Trí, Thành Sở Tác Trí. Ðại Viên Cảnh Trí là gì? Là do thức thứ tám chuyển, cho nên nói chuyển thức thành trí. Lúc ông không biết dụng đó là thức, lúc ông phản bổn hoàn nguyên tức chuyển thức thứ tám mà thành Ðại Viên Cảnh Trí, cho nên bổn tánh của nó thanh tịnh không có ô nhiễm, vì thế nói Ðại Viên Cảnh Trí tánh thanh tịnh.

    Bình Ðẳng Tánh Trí là do thức thứ bảy chuyển. Lúc ông chưa hiểu rõ thì gọi là thức thứ bảy, sau khi khai ngộ thì gọi là Bình Ðẳng Tánh Trí. Thức thứ bảy cũng gọi là Mạt na da thức, cũng gọi là truyền tống thức, nó do thức thứ sáu truyền cho thức thức tám, cho nên gọi là truyền tống thức, mà thức thứ tám còn gọi là hàm tàng thức, Phạn ngữ là A lại da thức. Những hột giống thiện ác, đều chứa trong thức thứ tám, cho nên trồng thiện nhân liền kết quả thiện, trồng nhân ác liền kết quả ác, cho nên gọi bát thức điền. Thức này giống như một mảnh ruộng, quý vị trồng cái gì thì nó liền sanh cái đó. Bình Ðẳng Tánh Trí tâm vô bệnh, bình đẳng tức tâm Chư Phật và chúng sanh thì bình đẳng, vô bệnh tức không có chướng ngại, tật đố, tham sân si. Nếu quý vị không có chướng ngại, tật đố, tham sân si thì có thể chuyển thức thứ bảy thành Bình Ðẳng Tánh Trí.



    Diệu Quán Sát Trí kiến phi công: Diệu Quán Sát Trí thì do ý thức thứ sáu chuyển, thức thứ sáu này cái gì cũng đều phân biệt, phân biệt thiện ác, thị phi, nam nữ, cho nên xem ra thì rất thông minh, thực tế đã biến thành ý thức. Nếu đã chuyển thức thành trí, thành Diệu Quán Sát Trí – Nó nhìn thấy mọi cảnh giới mà không cần phân biệt vẫn có thể hiểu rõ. Diệu quán sát và tâm phân biệt không giống nhau, cho nên chứng quả A la hán cần phải tác ý quan sát, tác ý chính là từ trong tịnh quan sát, mà có thể biết được những sự việc trong tám vạn đại kiếp. Chính là sử dụng Diệu Quán Sát Trí này mà có thể biết được, nhưng nếu quý vị không tác ý quan sát, vẫn là dùng ý thức, tức là người thường đều có.



    Thành Sở Tác Trí đồng viên cảnh: Thành Sở Tác Trí là do năm thức đầu: tức mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thành tựu, giống như một cái gương tròn.



    Ngũ Bát, Lục Thất quả nhân chuyển: Ngũ chính là năm thức đầu, Bát chính là thức thứ tám; Ngũ Bát quả chuyển tức là năm thức đầu và thức thứ tám được chuyển ở giai đoạn gặt quả, thành Ðại Viên Cảnh Trí và Thành Sở Tác Trí. Lục Thất nhân chuyển tức là thức thứ sáu và thức thứ bảy được chuyển trước trong thời kỳ gieo nhân, thành Diệu Quán Sát Trí và Bình Ðẳng Tánh Trí. Trong việc chuyển bát thức thành tứ trí, thức thứ sáu và bảy chuyển trước ở giai đoạn gieo nhân, kế sau là chuyển năm thức đầu và thức thứ tám ở thời kỳ gặt quả.



    Ðản dụng danh ngôn vô thực tánh: Tuy nói trên nhân chuyển, trên quả chuyển, thực tế thì không có thực tánh nào, chỉ là một số danh từ mà thôi.



    Nhược ư chuyển xứ bất lưu tình: Nếu ông đang ở chỗ (tình thức) chuyển không ngừng, mà ông không dùng tâm tình phàm phu lại suy tính đo lường.



    Phồn hưng vĩnh xứ Na-già định: Phồn có nghĩa là nhiều, Hưng có nghĩa hưng khởi, tức là thường ở trong Na già định – Na già (Naga) định chính là định của rồng. Tại sao rồng có thể lớn có thể nhỏ? Chính là từ trong định biến hóa, cho nên rồng gọi là Thần Long, vì nó có thể biến hóa vô cùng. Giống như lời tựa đã nói: Lục Tổ Ðại sư dùng bát hàng phục rồng, rồng này chắc có vô minh và tính nóng giận. Nó nghĩ: "Thầy nói tôi không dám vào trong bát của thầy à? Xem nè!" Vì thế bèn nhảy vào trong bát, nhưng khi đã nhảy vào rồi thì không có cách nào nhảy ra. Rồng này sau khi nghe Lục Tổ Ðại sư thuyết pháp liền được vãng sanh. Tuy rồng này thường ở trong định, nhưng chưa phá vô minh, cho nên vẫn còn nổi nóng, muốn hiển thần thông. Nếu nó có định lực, dù có nghe Lục Tổ nói: "Ngươi không thể hóa thành thân nhỏ," thì cũng không bị dao động. Na-già định là thứ định bất khả tư nghì. Do đâu mà trở thành rồng? Do là lúc trước, ở nhân địa, học Phật pháp rất tinh tấn, nhưng lại không giữ giới luật. Nghĩ rằng: "Người thường cần giữ giới luật nhưng tôi có thể không giữ." Cho nên nói: "Tu hành thì siêng năng nhưng giới luật thì buông thả (thừa cấp giới hoãn)," vì thế nên biến thành rồng.

    Lưu Ý (Nguyên chú): phần nói về chuyển thức thành trí: "Chuyển tiền ngũ thức là Thành Sở Tác Trí. Chuyển thức thứ sáu làm Diệu Quán Sát Trí. Chuyển thức thứ bảy làm Bình Ðẳng Tánh Trí. Chuyển thức thứ tám thành Ðại Viên Cảnh Trí. Tuy thức thứ sáu thứ bảy ở trong nhân chuyển, năm thức trước và thức thứ tám ở trên quả chuyển, nhưng chỉ chuyển trên danh tướng mà không chuyển bản thể của nó" theo bản khắc Ðại Tạng Kinh, cùng với bản khắc đời Minh, đều là chữ nhỏ. Chỉ có bản khắc gần đây khắc lầm là chữ lớn, lẫn lộn với nguyên văn của Ðàn Kinh. Như vậy không đúng! Cho nên vẫn làm chữ nhỏ mà viết thêm hai chữ "nguyên chuù" (tức là lưu ý) để phân biệt.



    Trí Thông liền đốn ngộ được tánh trí nên trình kệ rằng:

    Ba thân nguyên thể ta,

    Tứ trí vốn tâm sáng.

    Thân trí dung không ngại,

    Ứng vật mặc tùy hình.

    Khởi tu đều vọng động,

    Giữ trụ trái chơn tinh.

    Diệu chỉ do Tổ rõ,

    Trọn quên tên nhiễm ô.



    Giảng
    :

    Trí Thông sau khi nghe kệ, liền hiểu rõ ý nghĩa tam thân tứ trí, nên nói kệ tụng:

    –Tam thân vốn trong bản thể của con, không phải tìm bên ngoài. Tứ trí – Ðại Viên Cảnh Trí, Bình Ðẳng Tánh Trí, Diệu Quán Sát Trí, Thành Sở Tác Trí, là do chân tâm sau khi khai ngộ thì sanh ra bốn loại trí huệ này. Tam thân và tứ trí thì viên dung vô ngại, cho nên có thể quán cơ thuyết pháp, vì người thuyết pháp, tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên. Nếu sanh tâm nói: Tôi phải tu tam thân tứ trí như thế nào, đó đều là vọng tưởng. Nếu bảo thủ thành kiến có chỗ chấp trước, thì đó không phải là tinh hoa chân chánh. Loại chỉ thú huyền diệu vô cùng này đều học từ Lục Tổ Ðại sư mới hiểu được. Tự tánh thủy chung không bao giờ có nhiễm ô, không bị tình dục thế tục trói buộc. Trừ phi quý vị không có ô nhiễm, mới có thể phản bổn hoàn nguyên, cho nên nói chung vong nhiễm ô danh – tức bổn nguyên thanh tịnh, không có một chút ô nhiễm.

  • Lòng Trắc Ẩn

    November 23rd 2012, 2:50 pm
  • Tăng tên Trí Thường, người ở Quý Khê, Tín Châu, thuở nhỏ xuất gia, chí cầu thấy tánh, một hôm đến tham lễ, Sư hỏi: " Ông từ đâu đến, muốn cầu việc gì?"

    Bạch rằng: "Học nhân gần đây đến núi Bạch Phong ở Hồng Châu lễ Hòa Thượng Ðại Thông nhờ chỉ nghĩa kiến tánh thành Phật, nhưng chưa giải quyết được hồ nghi, nên từ xa đến đây lễ Hòa Thượng, mong Hòa Thượng từ bi chỉ dạy."

    Sư nói: "Ðại Thông Hòa Thượng nói những lời gì, câu gì, ngươi hãy thử kể coi."

    Trí Thường thưa: "Trí Thường đến nơi kia, trải qua ba tháng, chưa được chỉ dạy, vì lòng tha thiết vì pháp nên một hôm riêng vào trượng thất thưa hỏi: Thế nào là Bổn tâm, Bổn tánh của con?"

    Hòa Thượng Ðại Thông nói rằng: "Ngươi thấy hư không chăng?"

    Trí Thường đáp thấy: "Hư không vô hình mà có tướng mạo gì?"

    Ngài Ðại Thông bảo: "Bổn tánh của ngươi ví như hư không, trọn không một vật có thể thấy, ấy gọi là chánh kiến; không một vật có thể biết, ấy gọi là chơn tri. Không có xanh, vàng, dài, ngắn, mà chỉ thấy cái bổn nguyên thanh tịnh, giác thể viên minh, đó tức gọi là kiến tánh thành Phật, cũng gọi là tri kiến Như Lai. Học nhơn tuy nghe thuyết như vậy, nhưng cũng chưa hiểu thấu đáo, cúi xin Hòa Thượng chỉ dạy."



    Giảng
    :

    Tăng Trí Thường là người huyện Quý Khê, Giang Tây, lúc nhỏ xuất gia, tâm của ông ta muốn kiến tánh. Một ngày nọ đến tham bái Lục Tổ Ðại sư, Lục Tổ Ðại sư hỏi:

    –Ông từ đâu đến đây? Ðến đây cầu cái gì?

    Giống như Ngũ Tổ Ðại sư hỏi Lục Tổ Ðại sư:

    –Ông là người ở xứ nào ? Muốn cầu cái gì?

    Lục Tổ Ðại sư trả lời:

    –Con từ Tân Châu đến đây, chỉ cầu làm Phật.

    Ngũ Tổ Ðại sư nói:

    –Ông là dân man di làm sao có thể thành Phật?

    Lục Tổ trả lời:

    –Thân man di cùng với thân Hòa Thượng không giống nhau, nhưng Phật tánh nào có sai khác?

    Nay có người đến, Lục Tổ cũng hỏi như vậy.

    Trí Thường trả lời:

    –Con gần đây đến bái kiến Hòa Thượng Ðại Thông ở núi Bạch Phong, Hồng Châu, nhờ ơn Hòa Thượng Ðại Thông khai thị nghĩa lý kiến tánh thành Phật, nhưng trong tâm vẫn còn rất nhiều nghi vấn, cho nên từ xa xôi đến đây thân cận Ðại đức Thiện tri thức, cúi mong Hòa Thượng từ bi chỉ dạy đạo lý khiến con không còn hồ nghi.

    Lục Tổ Ðại sư hỏi:

    –Hòa Thượng Ðại Thông dạy cho ông lời gì? Ông nói cho tôi nghe.

    Trí Thường trả lời:

    –Con đến chỗ Hòa Thượng Ðại Thông trải qua hơn ba tháng, nhưng chưa được sự giáo hối dạy bảo. Con vì pháp quên mình, vì pháp khẩn thiết, cho nên một đêm nọ, con tự mình đến phòng phương trượng, thỉnh giáo Hòa Thượng Ðại Thông: "Như thế nào mới là bổn tâm và bổn tánh của Trí Thường?"

    Hòa Thượng Trí Thông trả lời:

    –Ông đã nhìn thấy hư không chưa?

    Con trả lời:

    –Con đã thấy hư không.

    Hòa Thượng Ðại Thông trả lời:

    –Ông biết hư không có tướng mạo gì?

    Con lại nói:

    –Hư không không có hình tướng, nếu có hình tướng thì đã không gọi là hư không! Ðã là vô tướng, lại có hình tướng gì ư?

    Hòa Thượng Ðại Thông khai thị:

    –Bổn tánh của ông và hư không thì tương đồng, không có một vật có thể thấy, đó chính là chánh kiến. Không có một vật có thể biết, đó là chân tri. Bổn tánh của ông không có màu sắc xanh vàng và hình tướng dài ngắn, ông thấy bổn nguyên thanh tịnh, giác thể viên minh, đó gọi là kiến tánh thành Phật, cũng gọi là tri kiến Như Lai.

    Học nhân Trí Thường tuy nghe thuyết pháp như thế nhưng vẫn không hiểu rõ, nên thỉnh Hòa Thượng vì con khai thị.



    Sư nói: "Chỗ Sư Ðại Thông nói đó cũng còn sự thấy biết, nên khiến ngươi chưa hiểu thấu. Nay ta chỉ cho ngươi một bài kệ:

    Chẳng thấy một pháp còn "thấy không,"

    Giống như mây nổi che mặt nhật,

    Chẳng biết một pháp giữ "biết không,"

    Lại như hư không sanh điện chớp.

    Tri kiến này bỗng nhiên dấy lên,

    Lầm nhận đâu từng hiểu phương tiện.

    Ông phải một niệm tự biết lỗi,

    Tự kỷ linh quang thường hiển hiện."



    Trí Thường nghe bài kệ rồi tâm ý hoát nhiên, bèn nói kệ rằng:

    Vô cớ khởi tri kiến,

    Chấp tướng cầu Bồ đề.

    Tình còn một niệm ngộ,

    Ðâu vượt mê ngàn xưa.

    Tự tánh giác nguyên thể,

    Tùy chiếu luống đổi dời.

    Chẳng vào thất Tổ Sư,

    Mờ mịt chạy hai đầu.



    Giảng
    :

    Lục Tổ Ðại sư nghe xong liền nói:

    –Hòa Thượng Ðại Thông thuyết pháp vẫn còn tri kiến, cho nên mới khiến cho ông không hiểu rõ. Tôi nay vì ông thuyết một bài kệ tụng: Không thấy một pháp thì vạn pháp đều không, nếu ông vẫn còn cái thấy "không thấy" này, thì vẫn còn một cái "không thấy" tồn tại, đó giống như mây trôi che phủ mặt trời. Một pháp không lập, chính là không biết một pháp, cái gì cũng không tồn tại, nhưng ông vẫn chấp vào tri kiến không biết một pháp, lại có một cái không tri (cái biết không). Ông đối với đạo lý này dường như hiểu rõ, kỳ thực vẫn còn tồn tại tri kiến, đó giống như trong không trung vốn cái gì cũng không có, nhưng lại sanh ra tia chớp. Cái thấy không thấy của ông, và cái biết không biết của ông, ngay trước mắt ông lập tức hiện tiền vì hiểu lầm loại tri kiến này, cho nên không thể hiểu rõ pháp môn phương tiện. Nay ông cần phải ngay niệm trước mặt, giác ngộ rằng bảo thủ cái thấy không thấy này, cái biết không biết này là sai lầm, vậy thì tự nhiên trí huệ vốn có của ông, Phật tánh vốn có, Như Lai Tạng tánh vốn có, thường hay hiện tiền.

    Pháp sư Trí Thường sau khi nghe Lục Tổ Ðại sư thuyết kệ, ngay lúc đó buông bỏ vạn duyên. Lúc buông bỏ, không thể tồn tại cái "tôi đã buông bỏ." Nếu vẫn còn tồn tại cái niệm "tôi buông bỏ," thì vẫn chưa buông bỏ. Nếu quý vị thật không có cái thấy biết, phản bổn hoàn nguyên, thì không nên tồn tại một cái tri kiến. Trí Thường sau khi hiểu rõ cũng làm một bài kệ tụng:



    Vô cớ khởi tri kiến: Không có một lý do, bỗng dưng lại sanh ra một cái thấy không thấy (vô kiến), cái biết không biết (không tri)? Sanh ra vô kiến và không tri, đó đều là chấp vào tướng. Giống như "vô niệm" đã giảng ở trên, nếu trong tâm quý vị thường muốn tìm ngã vô niệm, vô niệm thì vẫn sanh ra một cái niệm, vì niệm của vô niệm vẫn là một cái niệm. Nên phải:"Có niệm giống như không, vô niệm không trì trệ." Lúc có niệm đều không có, thì vô niệm tự nhiên không còn tồn tại. Cho nên tham thiền, tham "niệm Phật là ai?" Quý vị nên đi tìm là ai niệm Phật? Làm thế nào cũng tìm không ra, vì căn bổn không có một cái ai. Vì người khác nhìn không ra, không biết không có một cái ai, nên thường cảm thấy có một cái ngã. Cho nên cần tham niệm Phật là ai? Vì có ngã cho nên đi tìm người, tìm người thì cần hỏi là ai? Nhưng tìm ai, không nên chấp tướng, không nên chấp vào cái "ngã."

    Trong tâm vẫn còn một cái nghi, còn một niệm "ngộ" nói tôi nhìn thấy hư không, cái gì cũng không còn. Nếu vẫn còn có cái biết của một niệm, cái thấy của một niệm, cho rằng đây là ngộ, đây giống với cái mê lúc trước, căn bổn không có ngộ.

    Bổn thể căn nguyên của tự tánh giác ngộ, thì tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên. Tuy nó có chỗ biến dời thay đổi nhưng bổn thể không biến. Nếu Trí Thường tôi không vào đến đường thất của Lục Tổ Ðại sư, nếu không được Lục Tổ Ðại sư khai thị, đến nay vẫn kẹt vào hai bên, rơi vào tri kiến.



    Một ngày kia, Trí Thường hỏi Ðại sư rằng: "Phật nói pháp ba thừa, lại nói pháp tối thượng thừa, đệ tử chưa hiểu, xin Ngài chỉ dạy."

    Sư nói: "Ngươi hãy xem cái Bổn tâm của ngươi, đừng chấp cái tướng của pháp ở ngoài. Pháp vốn không có bốn thừa, chỉ cái tâm của người thế gian tự có nhiều bực khác nhau. Thấy nghe đọc tụng là Tiểu thừa. Ngộ pháp hiểu nghĩa là Trung thừa. Y pháp tu hành là Ðại thừa. Muôn pháp đều thông, muôn pháp gồm đủ, cả thảy chẳng nhiễm, lìa các pháp tướng, một mảy không có chỗ sở đắc là bực Tối thượng thừa. Thừa có nghĩa là tâm thực hành theo Ðạo, chớ chẳng phải là khẩu tranh biện. Ngươi phải tự tu, đừng hỏi ta vậy. Trong cả thảy thời gian tánh mình phải tự như như."

    Trí Thường làm lễ tạ ơn, theo hầu hạ Ðại sư đến trọn đời ngài.



    Giảng
    :

    Một ngày kia Trí Thường hỏi Lục Tổ Ðại sư:

    –Phật thuyết pháp Tam thừa; Thinh văn, Duyên giác, Bồ Tát; lại nói tối thượng nhất thừa, đệ tử con không hiểu rõ, cúi mong Hòa Thượng khai thị.

    Lục Tổ Ðại sư trả lời:

    –Ông cần phải hồi quang phản chiếu xem tự tâm của chính mình, không nên giong ruổi bên ngoài tìm cầu, chấp trước vào pháp tướng bên ngoài. Pháp vốn không có tứ thừa, ngay nhứt thừa cũng không có, chỉ vì tâm người có sai biệt mà thôi. Giả như ông thấy, nghe và đọc tụng kinh điển, thì thuộc về người Tiểu thừa. Nếu ông có thể ngộ pháp giải nghĩa, hiểu biết rõ ràng sáng suốt thì thuộc về người trung thừa. Nếu ông không những hiểu rõ, mà có thể chân thật thực hành, thì thuộc về người đại thừa. Tất cả pháp đều quán thông, cụ bị, trong tâm không có chướng ngại, và ông cũng hiểu rõ đạo lý vạn pháp là tâm, tâm là vạn pháp, và nếu đối với tất cả pháp đều không nhiễm trước, ly chư pháp tướng, không một sở đắc, ông thuộc về người tối thượng thừa. Thừa là tu hành, không phải nơi cửa miệng tranh luận, cho nên ông cần phải tự mình tu hành, tôi không thể thế ông tu hành. Cho nên nói: "Tự mình ăn cơm tự mình no, tự mình sanh tử tự mình liễu." Bất cứ lúc nào cũng cần phải tự tánh tự như như, tự mình thấy biết rõ ràng tâm mình.

    Từ đó trở về sau, Trí Thường trở thành người hầu cận Ðại sư, hầu hạ phụng dưỡng, cho đến Ðại sư viên tịch mới rời khỏi Chùa Nam Hoa.

  • Lòng Trắc Ẩn

    November 23rd 2012, 2:51 pm
  • Tăng Chí Ðạo, người quê ở Nam Hải, Quảng Châu đến cầu chỉ dạy, bạch rằng: "Học nhân từ khi xuất gia xem kinh Niết Bàn hơn mười năm mà chưa rõ đại ý, cúi mong Hòa Thượng thương xót chỉ dạy."

    Sư nói: "Chỗ nào ông chưa rõ?"

    Bạch: "Chư hạnh vô thường là pháp sanh diệt; sanh diệt diệt rồi, vắng lặng (tịch diệt) là vui, nơi đây con nghi ngờ."



    Giảng
    :

    Lại có Tăng Chí Ðạo là người huyện Nam Hải tỉnh Quảng Ðông. Chí Ðạo đến thỉnh giáo Lục Tổ Ðại sư:

    –Con từ khi xuất gia đến nay thường đọc tụng Kinh Niết Bàn, đã hơn mười năm nhưng vẫn không rõ đại ý, cúi mong Hòa Thượng vì con giáo đạo.

    Ðại sư hỏi:

    –Ông không hiểu chỗ nào?

    Chí Ðạo nói:

    –Trong Kinh có một bài kệ: "Chư hành vô thường, thị sinh diệt pháp, sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc." Ðây là chỗ con có điểm nghi hoặc.

    Trước nói nguồn gốc của bài kệ.

    Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni trong thời quá khứ, vì pháp quên mình, vì cầu nửa câu kệ mà bỏ thân mạng, cũng vẫn không tiếc. Có một kiếp Ðức Phật tu hành trên núi Tuyết. Một ngày kia, nghe có người nói: Chư hành vô thường, thị sinh diệt pháp, nói đến đây liền ngừng lại. Vị đạo nhân (tiền thân của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni) ngẩn đầu lên nhìn thì ra là một con quỷ la sát nói, bèn hỏi quỷ la sát: "Bài kệ tụng này vẫn còn hai câu chót, tại sao ngươi không nói?"

    –Tôi đã ba ngày không có cái gì ăn, đói không còn sức lực, nói không ra hơi.

    –Ngươi cố gắng nói ra hai câu chót, ta tình nguyện đem thân tôi bố thí cho ngươi.

    –Ðã nói thì phải giữ lời, ông không được hối hận, nói mà không giữ lời.

    –Người tu hành không nói láo, nhưng ta có một điều kiện: Sau khi ngươi nói xong hai câu kệ, để ta khắc trên cây, lưu truyền cho người sau, sau đó mới đem thân này cúng cho người.

    –Ðược rồi, tôi sẽ mãn nguyện ông.

    Thế rồi quỷ la sát liền nói ra hai câu kệ chót: Sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc. Vị đạo nhân liền lập tức khắc bài kệ trên cây cổ thụ. Lại nghĩ, khắc trên đá thời gian có thể lâu dài khiến cho người sau y pháp tu hành, bèn yêu cầu quỷ la sát đợi thêm một chút. Quỷ la sát nhìn thấy vị đạo nhân thành tâm như thế, liền đồng ý nói:

    –Ông khắc nhanh lên một chút, tôi thực đói không chịu nổi rồi.

    Ngài liền khắc trên đá mười sáu chữ: "Chư hành vô thường, thị sinh diệt pháp, sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc." Sau khi khắc xong bèn nói với quỷ la sát: "Ta đã hoàn thành tâm nguyện, mời ngươi đến ăn thịt ta đi!" Nói xong nhắm mắt tịnh tọa không một chút sợ sệt, nhất tâm cúng dường. Cho nên nói: Vi thiện tối lạc, vị đạo nhân trong tâm an lạc vô cùng, xem cái chết như sự trở về. Ðợi rất lâu, không thấy quỷ la sát hành động, mở mắt nhìn la sát quỷ đã bay lên hư không. Trên không trung hiện ra thân trời – thì ra thiên nhân đến thử thách lòng thành cầu pháp của Ngài.



    Sư nói: "Bởi cớ nào mà ngươi sanh nghi?"

    Bạch: "Cả thảy chúng sanh đều có hai thân là sắc thân và Pháp thân. Sắc thân không thường tồn có sanh có diệt. Pháp thân là thường tồn, không hay không biết (vô tri vô giác). Kinh nói: ‘Sanh diệt dứt rồi, vắng lặng là vui.’ Chẳng biết thân nào vắng lặng, còn thân nào hưởng sự vui? Nếu là sắc thân, thì lúc sắc thân tiêu diệt, bốn đại rã tan, toàn nhiên là khổ. Mà khổ thì không thể nói vui được. Còn nếu là Pháp thân, thì Pháp thân là vắng lặng, tức là giống như loài cỏ cây ngói gạch. Thế thì cái chi hưởng sự vui? Lại pháp tánh là cái thể của sự sanh diệt, năm uẩn là cái dụng của sự sanh diệt. Một cái thể năm cái dụng, sanh diệt là thường: Sanh là do thể mà khởi ra dụng, diệt thì thâu dụng về thể. Nếu chịu sanh trở lại, tức là loài hữu tình, tâm niệm chẳng dứt chẳng tắt. Còn nếu chẳng chịu sanh trở lại, thì về cảnh giới vắng lặng (tịch diệt) đời đời, đồng với vật không tình (vô tình). Thế thì các pháp đều bị Niết Bàn ngăn chế (cấm phục), còn chẳng đặng sanh, có gì là vui?"



    Giảng
    :

    Lục Tổ Ðại sư hỏi:

    –Bài kệ tụng này rất rõ ràng ông có nghi hoặc gì?

    Chí Ðạo nói:

    –Tất cả chúng sanh, đều có hai loại thân thể, một loại là sắc thân – có hình có sắc, một loại là Pháp thân – vô hình vô tướng. Sắc thân thuộc về vô thường, nó có sanh có diệt, mà Pháp thân thì thường trụ, cũng không có tri giác. Kinh Niết Bàn nói: "Sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc," con không biết thân nào là tịch diệt, thân nào thọ lạc. Là sắc thân tịch diệt, mà Pháp thân thọ lạc? Hay là Pháp thân tịch diệt, sắc thân thọ lạc?

    Nếu sắc thân thọ lạc, sắc thân sau khi diệt, người chết đi thì tứ đại đất nước lửa gió phân tán, đó toàn là cảnh giới khổ, khổ không thể bàn, thì không thể gọi là lạc.

    Nếu Pháp thân tịch diệt, Pháp thân thì giống như cây cối đá gạch, có cái nào thọ lạc? Lại pháp tánh là bổn thể của sanh diệt; ngũ uẩn – sắc, thọ, tưởng, hành, thức – là dụng của sanh diệt. Trong một cái bổn thể của pháp sanh ra năm loại dụng, nếu sanh diệt là thường, nếu từ pháp thể sanh ra năm loại dụng này, đến lúc diệt, thì nhiếp năm dụng này mà quy hoàn pháp thể. Nếu nó lại sanh, đạo lý này chính là tất cả muôn loài hữu tình, không đoạn không diệt tức là thường. Nếu không cho phép nó sanh ra lần nữa, thì vĩnh viễn quy về tịch diệt, giống như những vật vô tình cây cỏ đá gạch. Nếu như vậy, thì tất cả chư pháp đều bị Niết Bàn chế phục cấm chỉ, biến thành đoạn diệt, ngay thác sanh cũng không được tự do, thì có gì an lạc?



    Sư nói: Ông là con nhà Thích (Phật), sao tập theo chỗ tà kiến (đoạn kiến và thường kiến) của ngoại đạo mà bàn qua pháp tối thượng thừa? Cứ theo chỗ ông nói, thì ngoài cái sắc thân riêng có cái Pháp thân, lìa chỗ sanh diệt cầu nơi tịch diệt, lại nghĩ cảnh Niết Bàn là thường vui, nói rằng có cái thân thọ dụng. Ấy là cố chấp — tiếc thương chỗ sống chết, quá nhiễm sự vui sướng ở thế gian.

    Ông nay phải biết Phật thấy cả thảy các người mê muội, nhận năm uẩn hòa hiệp làm các tướng của thân mình, phân biệt cả thảy các pháp là các tướng của thế gian ở ngoài, ưa sống ghét chết, niệm niệm đổi dời, chẳng biết sự mộng huyễn giả dối, luống chịu sanh tử luân hồi, lấy cảnh thường vui Niết Bàn đổi lại làm trạng tướng khổ não và trọn ngày chỉ cầu ở ngoài.

    Vì đó Ngài mới động lòng thương xót mà chỉ cái thiệt vui của Niết Bàn (Niết Bàn chơn lạc), trong một sát na không có tướng sanh, trong một sát na không có tướng diệt, lại cũng không có sự sanh diệt gì mà nên tắt dứt. Ấy là cái tâm vắng lặng (tịch diệt) hiện ra rõ ràng. Ðương lúc cái tâm vắng lặng hiện ra rõ ràng, cũng không nghĩ tới chỗ hiện ra đó. Ấy gọi là thường vui (thường lạc).

    Sự thường vui ấy không có thọ cảm, cũng không có chỗ chẳng thọ cảm, há có cái tên một thể năm dụng sao? Hà huống lại nói Niết Bàn ngăn chế các pháp, khiến cho đời đời chẳng sanh! Ấy là nhạo Phật báng Pháp vậy.



    Giảng
    :

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Ông là đệ tử của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni, lại là một người xuất gia, tại sao lại tu tập tà thuyết của ngoại đạo? Sao lại tu tập tà kiến tà tri chấp thường chấp đoạn của ngoại đạo mà đàm luận Phật pháp tối thượng thừa? Căn cứ đạo lý mà ông nói tức ngoài sắc thân lại có Pháp thân, ly khai sanh diệt lại có một cái tịch diệt, ông đi tìm đạo lý Niết Bàn thường lạc ngã tịnh, nói có thân thọ dụng cái lạc này, phải không?

    Kiến giải của ông là chấp trước sanh tử, trầm trệ vào chỗ này, không muốn xả bỏ khoái lạc thế gian, mà không biết cái an lạc xuất thế. Tôi nay vì ông thuyết giảng, ông cần biết, người mê hiểu lầm ngũ ấm hòa hợp là thể tướng của mình, họ phân biệt tất cả pháp là trần tướng bên ngoài, và muốn sanh sợ chết, niệm niệm sống trong chấp trước, không biết tất cả đều là mộng huyễn bào ảnh, đều là hư giả không thực, cho nên trong lục đạo luân hồi uổng thọ sanh sanh tử tử, mà suy luận đo lường thường lạc ngã tịnh, Niết Bàn diệu đức, ngược lại cho là khổ tướng, nên suốt ngày giong ruổi bên ngoài tìm cầu. Ðức Phật vì thương xót loại chúng sanh này, cho nên chỉ dạy cái vui chân chánh của Niết Bàn. Chính trong sát na – thời gian rất ngắn, không có tướng sanh; trong sát na cũng không có tướng diệt, vốn trong cái sanh diệt cũng không có tướng diệt. Lúc đó trong sanh diệt, liền có cảnh giới không sanh diệt hiện tiền. Lúc tịch diệt hiện tiền cũng không có suy tưởng đo lường hiện tiền – tức không có tướng tịch diệt rộng lớn bao nhiêu, đó chính là thường lạc. Hoàn toàn không có ai thọ lạc, cũng không có một cái không thọ lạc. Tại sao vậy? Ðó chính là bổn lai tự tánh hiện tiền. Sao lại có một cái pháp thể, sao lại có năm cái dụng của ngũ uẩn? Hà huống, như lời ông nói, Niết Bàn cấm chế chư pháp khiến nó vĩnh viễn không sanh? Ðây là tri kiến bất chánh của ông. Nếu ông nói như thế, thì đó là loại kiến giải sai lầm hủy báng Phật pháp.



    Hãy nghe ta kệ:

    Vô thượng Ðại Niết Bàn chí diệu,

    Thanh tịnh thường tịch chiếu viên minh.

    Kẻ phàm phu gọi chết hết sinh,

    Người ngoại đạo chấp tin rằng dứt (đoạn diệt).

    Tìm đạo pháp, Nhị thừa các bực,

    Bỏ mọi điều gọi thật Vô vi.

    Thảy thuộc tình độ lượng mê si,

    Sáu hai (62) giống gốc thì tà kiến.

    Ấy giả lập có tên cùng tiếng,

    Ðâu phải là thật diệu nghĩa chơn.

    Chỉ có hàng trí huệ cao nhơn,

    Mới thông suốt không còn chấp bỏ.

    Cả năm uẩn phép kia biết rõ,

    Ðến cái ta trong đó cũng thông.

    Sắc tượng ngoài ứng hiện muôn trùng,

    Âm thinh tướng khắp cùng động biến.

    Xem bình đẳng lòng không xao xuyến,

    Kể như là mộng huyễn hư không.

    Thấy thánh phàm, chẳng khởi hai lòng,

    Niết Bàn cũng quyết không bàn giải.

    Việc quá khứ, vị lai, hiện tại,

    Hữu vô đồng cả thảy dứt trừ.

    Lục căn thường ứng dụng như như,

    Mà ý chẳng tưởng tư ứng dụng.

    Các pháp tướng, biện phân rõ đúng,

    Mà ý không có tưởng biện phân.

    Lửa kiếp thiêu đáy biển khô khan,

    Gió rung núi chọi tan nát nghiến.

    Ấy tịch diệt chơn thường lạc hiện,

    Thế mới là thật diệu Niết Bàn.

    Vốn ta nay gượng nói rõ ràng,

    Dạy ngươi phải phá tan tà kiến.

    Lời ta nói chớ đem luận biện,

    Mở tánh ngươi tri kiến chút thôi.

    Chí Ðạo nghe kệ rồi, tâm tánh tỏ sáng, không xiết vui mừng, bèn làm lễ lui ra.



    Giảng
    :

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Hãy nghe bài kệ của tôi:

    Ðại Niết Bàn chí cao vô thượng là viên mãn, quang minh, thường hằng bất biến, tịch mà thường chiếu. Kẻ phàm phu ngu muội gọi đó là chết rồi, kẻ ngoại đạo chấp cho là diệt. Nhị thừa Thinh văn Duyên giác cho rằng nó không có tạo tác. Trên đây, bất luận nó là chấp đoạn, hoặc chết, hoặc không sở tác, đều là dùng nghi tình phàm phu đánh giá, phân biệt, đó đều thuộc căn bổn sáu mươi hai kiến.

    Cái gì gọi là sáu mươi hai kiến? Ðó chính là trong ngũ uẩn, mỗi uẩn lại chia thành bốn loại, năm nhân bốn là hai mươi. Hiện tại hai mươi, quá khứ hai mươi, vị lai hai mươi, cộng thành sáu mươi kiến, thêm vào hai kiến thân và thần, mà thành ra sáu mươi hai loại biên kiến đoạn, thường, có, không.

    Mỗi uẩn phân làm bốn loại, tức là:

    1. Uẩn lớn, ngã ở trong.

    2. Ngã lớn, mà uẩn ở trong ngã.

    3. Uẩn tức là ngã.

    4. Ngã ly khai uẩn.

    Sáu mươi hai kiến này đều là giả danh do hư vọng lập ra. Chỉ có người vượt qua tư lượng (suy lường) của phàm phu nhị thừa ngoại đạo, người này mới có thể thông đạt Pháp tướng, không thủ không xả mà có thể chân thực biết pháp ngũ uẩn – sắc, thọ, tưởng, hành, thức và ngã trong ngũ ấm, và mọi sắc tượng hiện bên ngoài ngã, cùng với tất cả tướng âm thanh, đều là bình đẳng như mộng huyễn bào ảnh. Cũng không khởi kiến giải phàm phu, cũng không khởi cái thấy biết của thánh nhân, cũng không đưa ra sự giải thích Niết Bàn an lạc. Người này không lạc vào hai bên cũng không chấp vào không, cũng không chấp vào có. Tam tế là quá khứ tế, hiện tại tế, vị lai tế. Người này cũng không chấp vào quá khứ hiện tại vị lai.

    Tự tánh Chân như thường năng tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên, ứng dụng vô cùng, tức là có thể ứng cái dụng mọi căn mà không cùng tận. Nhưng cũng không sanh ra tôi có cái tướng của dụng. Và cũng không có tâm phân biệt chư pháp. Cũng không khởi cái tưởng tôi không có phân biệt. Nếu ông vẫn còn có cái tưởng không khởi phân biệt, đó vẫn còn có tưởng phân biệt, cần phải ngay tưởng phân biệt cũng không còn.

    Kiếp hỏa, tức tam tai khi khởi có hỏa tai, có thể đốt khô cả đại dương. Lúc phong tai khởi thì có thể làm cho các hòn núi đập vào nhau. Nếu ông có thể đạt đến cái vui chân thường tịch diệt, tướng Niết Bàn giống như trên đã nói, bất luận tam tai khởi lên, cũng không có liên quan gì đến ông. Nay tôi miễn cưỡng thuyết pháp này, khiến cho ông bỏ đi tà tri kiến giải của ông. Ông không nên theo văn tự mà giải thích kinh điển, như thế chỉ có thể lĩnh ngộ một phần nào kinh điển mà thôi.

    Chí Ðạo sau khi nghe Lục Tổ Ðại sư giảng xong bài kệ lập tức đại ngộ, vui mừng nhảy nhót, khấu đầu đảnh lễ mà lui về một bên.

  • Lòng Trắc Ẩn

    November 23rd 2012, 2:52 pm
  • Hành Tư Thiền Sư, con nhà họ Lưu, sanh trưởng tại huyện An Thành, phủ Kiết Châu, nghe pháp tịch Tào Khê khai hóa thạnh hành, bèn đến làm lễ Ðại sư mà hỏi rằng: "Tu hành, phải làm theo pháp nào, mới khỏi lạc vào giai cấp?"

    Sư nói: "Ngươi từng làm theo pháp nào?"

    Bạch: "Pháp Thánh-đế, tôi cũng chẳng làm theo đó."

    Sư nói: "Lạc vào giai cấp nào?"

    Bạch: "Pháp Thánh-đế còn chẳng làm theo, thì đâu có giai cấp!"

    Ðại sư rất trọng người lợi căn, bảo Hành Tư làm đầu đại chúng. Một ngày kia Ðại sư kêu Hành Tư mà dạy rằng: "Ngươi phải tách ra, đi hóa độ một phương, đừng để mối Ðạo đoạn tuyệt."

    Hành Tư đã đắc pháp, bèn trở về núi Thanh Nguyên, phủ Kiết Châu, mà hoằng hóa độ sanh. Sau khi tịch, người được tặng là Hoằng Tế Thiền Sư.



    Giảng
    :

    Ngài Hành Tư vừa đi đường vừa suy tư, suy tư điều gì? Ngài Tư suy tư: Niệm Phật là ai? Ai đang niệm Phật?

    Cho nên gọi Ngài là Thiền sư Hành Tư.

    Ngài là người huyện An Thành, tỉnh Kiết Châu, họ Lưu. Lúc đó đạo phong tại đạo trường Tào Khê, vang rền khắp nơi, ai ai cũng biết, người kế thừa Ngũ Tổ Ðại sư là Lục Tổ Ðại sư đang ở Tào Khê hoằng dương Phật pháp, pháp tịch thạnh hành, mỗi ngày có mấy ngàn người đến độ trai, người thì là như vậy – lưu hư bổng thạnh. Lưu hư tức là chỗ của quý vị không có người, họ liền chạy mất. Giống như chỗ chúng ta ở đây có mấy chục người, nếu chỉ lưu lại năm ba người, thì người người đều bỏ đi mất. Bổng thạnh, chẳng hạn như nghe nói Phật Giáo Giảng Ðường có rất nhiều người, ngay "kẻ Hippy" đến đây cũng cạo bỏ râu tóc, thật không thể nghĩ bàn, mọi người mau chóng đi xem! Mọi người ùn ùn kéo đến càng ngày càng đông. Lúc đó ở chùa Nam Hoa mọi người đều đi bổng thạnh. Pháp tịch thạnh hành cũng có thể gọi bổng thạnh, cũng có thể sửa là bổng thánh (thánh hiền), vì Lục Tổ là bậc thánh, Tổ Sư cho nên mọi người đến đó ủng hộ Ngài. Thiền Sư Hành Tư nghe người ta nói như thế – Lục Tổ Ðại sư thật bất khả tư nghì a! Ngài có ngũ nhãn lục thông, bất luận trong tâm ông nghĩ cái gì, lúc chưa mở miệng Ngài đã hỏi trước rồi. Cho nên Thiền Sư Hành Tư cũng đến khấu đầu đảnh lễ, tiếp theo liền thưa hỏi Ðại sư:

    –Nên tu pháp môn gì, mà không lạc vào giai cấp? Giai cấp chính là tiệm pháp. Cần phải tu pháp gì mới là đốn pháp?

    Lục Tổ Ðại sư hỏi:

    –Lúc trước ông làm gì? Ông đến đây muốn cầu cái gì?

    Ðại sư Hành Tư nói:

    –Con đối với Tứ Thánh Ðế – khổ, tập, diệt, đạo –đều quên hết rồi, không làm nữa.

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Thánh-đế ông cũng không làm, vậy lạc vào giai cấp nào?

    Ðại sư Hành Tư trả lời:

    –Con đối với Thánh-đế còn không làm, vậy thì có giai cấp gì nữa?

    Lục Tổ Ðại sư vừa nghe liền biết Hành Tư nhất định có bản lãnh, có thiện căn không phải người tầm thường, vì thế đối đãi đặc biệt, xem Hành Tư là bậc long tượng pháp môn, là người có thể kế thừa làm Tổ Sư. Lục Tổ Ðại sư liền bảo Ngài làm thủ tọa đại chúng – hướng dẫn đại chúng lên chánh điện tụng kinh, quá đường, tọa hương. Một ngày nọ Lục Tổ Ðại sư nói với Ngài Hành Tư rằng:

    –Ông không nên ở chỗ tôi, cần nên đến chỗ khác làm vị Tổ giáo hóa, không nên để cho Phật pháp đoạn diệt.

    Sau khi Ðại sư Hành Tư được Lục Tổ Ðại sư truyền cho pháp diệu tâm ấn, liền trở về núi Thanh Nguyên, Kiết Châu, hoằng dương Phật pháp, thiệu long Phật chủng. Vua Hỷ Tông thời Ðường truy phong là Hoằng Tế Thiền sư.

  • Lòng Trắc Ẩn

    November 23rd 2012, 2:53 pm
  • Hoài Nhượng Thiền Sư, con nhà họ Ðỗ, ở huyện Kim Châu, ban sơ đến viếng An quốc-sư ở núi Tung Sơn, An quốc-sư gởi Thiền sư qua Tào Khê viếng Huệ Năng Lục Tổ. Hoài Nhượng đến làm lễ.

    Sư hỏi rằng: "Ở xứ nào đến đây?"

    Bạch: "Núi Tung sơn."

    Sư hỏi: "Vật gì? Làm sao đến?"

    Bạch: "Nói giống một vật là không trúng."

    Sư nói: "Còn tu chứng, phải chăng?"

    Bạch: "Tu chứng thì chẳng phải là không có, còn nhiễm trước thì không đặng."

    Sư nói: "Chỉ có sự chẳng nhiễm trước ấy là chỗ hộ niệm của chư Phật vậy. Ngươi đã như thế, ta cũng như thế. Ðức Bát-Nhã Ða-La bên Tây Thiên-trúc có lời sấm rằng: ‘Dưới chơn ngươi sẽ sanh ra một con ngựa tơ mạnh mẽ đạp chết người trong thiên hạ.’ Ðó là điềm ứng tại tâm ngươi, chẳng cầu vội nói."

    Hoài Nhượng Thiền Sư liền suốt thông, hiểu rõ điều ấy, mới theo Ðại sư hầu hạ mười lăm năm, một ngày kia đạt được chỗ huyền áo. Sau Thiền Sư qua núi Nam Nhạc, mở rộng cửa Thiền tông. Sau viên tịch rồi, người được sắc phong là Ðại Huệ Thiền Sư.



    Giảng
    :

    Hoài là hoài niệm, Nhượng là khiêm nhường, vị Thiền sư này đối với ai cũng đều không có tâm cống cao, Ngài rất từ bi hạ mình, khiêm nhường cung kính. Trong tâm Ngài thường hoài niệm niềm cung kính, đối với bất cứ người nào cũng đều lịch sự lễ độ, có dường như không, thực như hư. Thiền sư là người Kim Châu, con nhà họ Ðỗ. Ban đầu yết kiến An Quốc sư ở Tung Sơn học tập Phật pháp, nhưng Quốc sư An phái Ngài đến Tào Khê học Phật pháp, vì đương thời ai cũng biết Tào Khê là Phật pháp chánh tông. Giống như hiện nay người Mỹ muốn học Phật pháp chân chánh, thì phải nghiên cứu kinh điển, lại cần phải không sợ khổ, không sợ khó khăn, không làm biếng học tập Phật pháp. Lúc đó chùa Nam Hoa của Lục Tổ Ðại sư cũng là mỗi ngày tọa thiền, làm công quả. Lúc đó công khóa rất nghiêm mật, sáng sớm ba giờ rưỡi thức dậy, bốn giờ công phu sáng, năm giờ tọa thiền, trời vừa sáng thì ăn cháo, sau đó lại ngồi thiền một giờ đồng hồ. Lúc này là khoảng tám giờ, liền bắt đầu chấp tác cho đến mười giờ. Chấp tác xong trở về nghỉ ngơi một giờ đồng hồ, mười một giờ thì độ ngọ, độ ngọ xong là ngồi thiền, mười hai giờ ngồi đến hai giờ. Hai giờ lại chấp tác đến bốn giờ. Làm xong trở về lại ngồi thiền, tụng kinh bái sám cho đến mười giờ đêm, có người dụng công đến mười hai giờ khuya. Mỗi người tự dụng công của mình, mỗi ngày đều như thế, đạo phong rất nghiêm cẩn, ai cũng phải cần giữ gìn giới luật quy củ, mấy ngàn người đồng tụ tập mà không nghe một tiếng nói chuyện. Tại sao vậy? Vì nói chuyện sẽ có nhiều vọng tưởng không được chuyên tâm dụng công. Lúc đó đạo trường của Lục Tổ Ðại sư nghiêm khắc như thế, cho nên Thiền sư Hoài Nhượng cũng đến nhập chúng tu hành. Sau khi được Thầy Tri khách dẫn đến yết kiến Lục Tổ, Thiền sư liền khấu đầu lễ bái.

    Lục Tổ hỏi:

    –Cái gì đến?

    Thiền tông hay dùng cơ phong, không giảng đạo lý, vốn là người đến Ngài lại hỏi: Cái gì đến? Vốn là thầy Tăng đến, mà Lục Tổ Ðại sư lại hỏi cái gì đến.

    Thiền sư Hoài Nhượng trả lời:

    –Con từ Tung Sơn đến.

    Lục Tổ Ðại sư hỏi:

    –Vật gì? Làm sao đến?

    Ðây là lời của thiền tông. Thiền sư Hoài Nhượng vừa nghe liền hiểu rõ, nói:

    –Nếu nói là một vật thì không trúng.

    Lục Tổ Ðại sư hỏi:

    –Ông nói một vật thì không thể được, vậy vẫn còn sở tu sở chứng chăng?

    Ðáp:

    –Tu thì có sở tu, chứng thì có sở chứng, tu chứng thì có, nhưng nhiễm ô thì không thể được, đó chính là trong tự tánh cần phải quang minh sáng suốt.

    Lục Tổ Ðại sư nghe Thiền sư Hoài Nhượng nói như thế, liền nói:

    –Cái không nhiễm ô, chính là diệu pháp mà Chư Phật hộ niệm. Ông đã được như thế, tôi cũng là như thế, không thể ô nhiễm, tự tánh cần thanh tịnh. Tự tánh ô nhiễm chính là tâm phan duyên, tâm tật đố, tâm chướng ngại, tâm tham, tâm sân, tâm si, vô minh, nếu những thứ này đều không còn, thì không còn ô nhiễm.

    Lục Tổ Ðại sư lại nói:

    –Pháp sư Ấn Ðộ Bát-Nhã Ða-La có lời dự đoán, môn hạ Thiền sư Hoài Nhượng có một con ngựa tơ, Thiền sư Mã Tổ Ðạo Nhất, sẽ đạp chết người trong thiên hạ, đó là dụ cho biện tài cùa Ngài vô ngại, trí huệ rộng lớn, khiến cho các Pháp sư khác đều bị nhiếp phục mà vui mừng thành phục. Dự đoán này ứng vào thân ông, ông không nên gấp nói pháp, nên đợi đúng thời cơ.

    Thiền sư Hoài Nhượng nghe Lục Tổ Ðại sư nói như thế liền khế hiêïp ý của Lục Tổ, vì thế bèn ở bên cạnh Lục Tổ Ðại sư làm thị giả hơn mười lăm năm, sở ngộ đạo lý càng ngày càng sâu. Sau đó liền đến núi Hành Sơn, Nam Nhạc, Hồ Nam, xiển dương yếu nghĩa thiền tông. Ngày mười một tháng tám Thiên Bảo năm thứ ba viên tịch tại Hành Sơn, Nam Nhạc, triều đình truy tặng là Thiền sư Ðại Huệ.

  • Lòng Trắc Ẩn

    November 23rd 2012, 2:55 pm
  • Thiền Sư Huyền Giác ở Vĩnh Gia, họ Ðới, quê ở Ôn Châu, thuở nhỏ tập kinh luận, chuyên về pháp môn Chỉ Quán của tông Thiên Thai, nhân xem kinh Duy Ma Cật phát minh được tâm địa; chợt gặp đệ tử của Tổ là Huyền Sách thăm hỏi, cùng bàn chuyện sôi nổi, mà mỗi lời nói ra đều thầm hợp với chư Tổ. Huyền Sách hỏi: "Nhân giả được pháp nơi Thầy nào?"

    Huyền Sách đáp: "Tôi nghe kinh luận Phương Ðẳng, mỗi chỗ đều có Thầy truyền thừa, sau nơi Kinh Duy Ma Cật ngộ được Phật tâm tông mà chưa có người chứng minh."

    Huyền Sách bảo: "Từ đức Phật Oai Âm Vương về trước tức được, từ Phật Oai Âm Vương về sau, không thầy mà tự ngộ trọn là thiên nhiên ngoại đạo."

    Huyền Giác nói: "Xin nhân giả vì tôi chứng minh."

    Huyền Sách bảo: "Chỗ tôi nói e còn sơ thất. Ở Tào Khê có Lục Tổ Ðại Sư, bốn phương đều quy tụ nơi đó mà thọ pháp với Ngài. Nếu nhơn giả muốn đến, thì tôi cũng đi với."



    Giảng
    :

    Vĩnh Gia là tên đất, vì người tôn kính vị Pháp sư này, cho nên xưng Vĩnh Gia. Kỳ thực Huyền Giác là tên Ngài, Ngài sinh ở huyện Vĩnh Gia, Ôn Châu, họ Ðới. Thời niên thiếu Ngài nghiên cứu kinh Phật và các bài luận do các Tổ Sư thuyết ra, đối với pháp môn Chỉ Quán của tông Thiên Thai rất tinh thông, sau xem Kinh Duy Ma mà hiểu rõ pháp môn tâm địa.

    Một hôm gặp đệ tử của Lục Tổ Ðại sư là Thiền sư Huyền Sách thăm hỏi, liền cùng với Ðại sư Huyền Sách đàm luận Phật pháp, đạo lý đàm luận cùng với những lời các vị Tổ Sư nói đều tương hợp, bèn cho rằng Ngài là người cùng tông phái với mình. Ðại sư Huyền Sách hỏi:

    –Ðại sĩ! Ngài đắc pháp, ai vì Ngài chứng minh? Ở đâu đắc pháp?

    Thiền sư Huyền Giác nói:

    –Tôi lúc trước nghe Kinh Luận Phương Ðẳng, đều là nghe các vị Pháp sư giảng, đều có sự truyền thừa của mỗi vị mà không phải tự tôi học tập, sau đó tôi xem Kinh Duy Ma, liễu ngộ pháp môn tâm ấn của Phật, nhưng chưa có Ðại đức ấn chứng cho tôi.

    Thiền sư Huyền Sách nói:

    –Ngài tự mình xem Kinh Duy Ma mà hiểu rõ, nếu trước thời Oai Âm Vương (vị Phật thứ nhất) thì có thể được, nhưng sau thời Oai Âm Vương, nếu không có Sư phụ truyền pháp môn và ấn chứng cho Ngài, đó đều gọi là thiên nhiên ngoại đạo, không phải là Phật giáo.

    Hiện nay có mấy người tự xưng là mình đã khai ngộ, tự mình ấn chứng cho mình, thì giống như trên đây đã nói, đều là ngoại đạo. Ở nước Mỹ có vài người giảng Lục Tổ Ðàn Kinh, khi giảng đến đoạn này không biết giải thích như thế nào. Oai Âm Vương, ý nói âm thanh của Ngài có thể phát ra rất xa, cũng có thể nói là bổn địa phong quang (Chân tâm, Phật tánh), và đó cũng chính là bổn xứ.

    Huyền Giác nghe nói là thiên nhiên ngoại đạo bèn nói:

    –Nay thỉnh nhơn giả ấn chứng cho tôi.

    Thiền sư Huyền Sách nói:

    –Tôi không thể ấn chứng cho Ngài, tôi không đủ tư cách, lời nói ra không đủ phân lượng. Nói cách khác chính tôi chưa chắc đã khai ngộ làm sao có thể ấn chứng cho Ngài? Ở Chùa Nam Hoa Tào Khê có Lục Tổ Ðại sư, xa gần đều nghe tiếng, cho nên người cầu pháp ở bốn phương tám hướng, đều vân tập ở đó, lại nữa Ngài là vị Tổ Sư kế thừa y bát. Nếu Ngài muốn thỉnh Lục Tổ Ðại sư ấn chứng cho Ngài, tôi có thể cùng Ngài đi đến đó.



    Cả hai đồng đến viếng Lục Tổ. Huyền Giác nhiễu Tổ Sư ba vòng, rồi chống tích trượng mà đứng.

    Ðại sư nói: "Phàm làm thầy Sa-môn thì phải giữ đủ ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh. Ðại Ðức ở phương nào tới đây mà sanh lòng ngã mạn lớn vậy?"

    Huyền Giác bạch: Sanh tử là việc lớn, sự vô thường là mau chóng."

    Sư nói: "Sao không hiểu rõ cái vô sanh và thấu suốt cái không mau chóng?"

    Bạch: "Ðã hiểu rõ tức vô sanh, thấu suốt rồi thì vốn không có mau chóng."

    Sư nói: "Như thế, như thế!"

    Huyền Giác mới dùng đủ oai nghi mà lễ bái, kế một lát xin cáo từ.

    Sư nói: "Sao trở về chóng vậy?"

    Bạch: "Cái tánh bổn lai tự nó chẳng phải động, há có chỗ chóng sao?"

    Sư nói: "Ai biết nó chẳng phải động?"

    Bạch: "Nhơn giả tự sanh lòng phân biệt."

    Sư nói: "Ngươi rất đặng cái ý vô sanh."

    Bạch: "Vô sanh hà có ý sao?"

    Sư nói: "Không có ý thì lấy chi mà phân biệt?"

    Bạch: "Phân biệt cũng chẳng phải là ý."

    Sư nói: "Hay thay! Hãy ở lại đây ít nữa là một đêm."

    Lúc bấy giờ gọi là "Một Ðêm Giác." Sau Vĩnh Gia Huyền Giác Thiền Sư có làm "Bài Ca Chứng Ðạo (Chứng Ðạo Ca)", truyền bá ở thế gian rất thạnh hành. Sau khi tịch, người được sắc tặng là Vô Tướng Ðại Sư. Lúc bấy giờ người ta xưng là Chơn Giác Thiền Sư.)



    Giảng
    :

    Vì thế, Huyền Giác cùng với Huyền Sách đi đến Chùa Nam Hoa tham lễ Lục Tổ. Sau khi đến, Huyền Giác tay cầm tích trượng nhiễu bên phải Lục Tổ Ðại sư ba vòng. Sau đó mới chống tích trượng mà đứng, giống như nổi giận vậy.

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Ông là Sa Môn, là người xuất gia, cần phải đầy đủ ba ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh (tức quá khứ một ngàn, hiện tại một ngàn, vị lai một ngàn. Cái gì gọi là một ngàn? Ði, đứng, nằm, ngồi mỗi mỗi đều có hai trăm năm mươi oai nghi, hợp lại là một ngàn. Tám muôn tế hạnh vốn là tám vạn bốn ngàn tế hạnh). Ðại Ðức ông từ đâu đến? Tại sao sanh ra ngã mạn lớn như thế?

    Ý nói Huyền Giác không có đảnh lễ Lục Tổ, cống cao ngã mạn.

    Huyền Giác ứng đáp:

    –Tại sao con phải như vậy? Vì sanh tử là việc lớn nhất quan trọng nhất mà quỷ vô thường không biết đến lúc nào.

    Ý nói tôi là người dụng công, chỉ biết dụng công liễu thoát sanh tử, làm gì có thời gian hành lễ? Những cái khác đều buông bỏ không để ý đến.

    Lục Tổ Ðại sư hỏi:

    –Tại sao ông không minh bạch cái vô sanh mà liễu ngộ đạo lý vô thường tấn tốc?

    Thiền sư Huyền Giác trả lời:

    –Tôi đã hiểu rõ rồi thì không còn sanh tử nữa! Tôi đã sáng suốt thì cũng không còn sự mau chóng nữa, vậy sao lại sợ quỷ vô thường mà làm gì? Căn bổn vốn là không có!

    Lục Tổ Ðại sư vừa nghe, biết Huyền Giác đã hiểu pháp liền ấn chứng rằng:

    –Như thế! Như thế! Ông dụng công như thế là đúng rồi.

    Thiền sư Huyền Giác sau khi được Lục Tổ Ðại sư ấn chứng, liền chỉnh đốn y phục, cụ túc oai nghi đảnh lễ Lục Tổ Ðại sư, trong chốc lát liền cáo từ ra đi.

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Ông không nên về nhanh quá vậy, ở đây vài ngày.

    Thiền sư Huyền Giác trả lời:

    –Con vốn không có động, vốn không có đến, cũng không có đi thì làm gì có cái "nhanh"?

    Ngài đang cùng với Lục Tổ Ðại sư dụng cơ phong.

    Lục Tổ Ðại sư lại hỏi:

    –Cái gì biết không động? Biết không có đến, không có đi là cái gì? Là ai?

    Thiền sư Huyền Giác trả lời:

    –Ðó là nhân giả sanh ra cái tâm phân biệt.

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Ông rất biết nói, ông nói ra đều hợp ý vô sanh, lời ông nói ra rất diệu, cũng rất thông minh.

    Thiền sư Huyền Giác nói:

    –Ðã là vô sanh, thì từ đâu có cái ý? Ðã vô sanh rồi tại sao lại có cái ý nữa?

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Vô sanh không có ý, vậy thì ai phân biệt?

    Thiền sư Huyền Giác nói:

    –Tuy có phân biệt, nhưng không có "ý" phân biệt. Không phải ý phân biệt, thì là cái gì? Ðó là Diệu Quán Sát Trí sanh ra, cho nên nói: "Phân biệt tức không phải là ý."

    Lục Tổ Ðại sư nghe Thiền sư Huyền Giác nói về đạo lý vô sanh sâu sắc như thế, vui mừng nói:

    –Ông thuyết rất hay!

    Vì thế lưu Huyền Giác lại một đêm. Ðương thời Phật giáo có điển cố "nhất túc giác," chính là nguồn gốc từ đây, tức là ở lại một đêm liền được khai ngộ. Sau đó Huyền Giác Ðại sư trước tác bài "Chứng Ðạo Ca," thạnh hành ở đời. Sau khi viên tịch, triều đình truy tặng là Vô Tướng Ðại sư, đương thời tôn xưng Ngài là Thiền sư Chân Giác.

  • Lòng Trắc Ẩn

    November 23rd 2012, 2:56 pm
  • Thiền giả tên Trí Hoàng ban sơ đến viếng Ngũ Tổ, tự cho mình đã được chánh thọ. Người ngồi trường trong am trọn hai mươi năm.

    Ðệ tử của Ðại sư là Huyền Sách đi du phương đến Hà Sóc, nghe danh Trí Hoàng cất am, bèn tìm mà hỏi rằng: "Thầy làm gì ở đây?"

    Trí Hoàng đáp: "Nhập định."

    Huyền Sách nói: "Thầy nói nhập định, nhưng hữu tâm mà nhập hay vô tâm mà nhập? Nếu vô tâm mà nhập, thì cả thảy loài vô tình như cây cỏ ngói gạch cũng định được. Còn nếu hữu tâm mà nhập, thì các loài hữu tình hàm thức cũng định được."

    Trí Hoàng nói: "Chánh tôi lúc nhập định, không thấy có cái tâm hữu vô."

    Huyền Sách nói: "Không có cái tâm hữu vô tức là thường định, nào có xuất nhập! Nếu có xuất nhập tức chẳng phải là Ðại định."

    Trí Hoàng không trả lời được. Một hồi lâu hỏi rằng: "Thầy của nhơn giả là ai?"

    Huyền Sách đáp: "Thầy tôi là Lục Tổ ở Tào Khê."

    Trí Hoàng hỏi: "Lục Tổ lấy pháp gì làm Thiền định?"

    Huyền Sách nói: "Cứ theo chỗ thầy tôi nói: ‘Thiền định là tánh thật trong sạch, hoàn toàn vắng lặng, thể dụng như như, năm uẩn vốn không, sáu trần chẳng có, không xuất không nhập, không định không loạn. Tánh thiền không trụ (ở một chỗ nào), lìa cái niệm tưởng về chỗ trụ thiền. Tánh thiền không sanh, lìa cái niệm tưởng về chỗ sanh thiền. Tâm như hư không nhưng không có cái lượng của hư không.’"



    Giảng
    :

    Thiền sư Trí Hoàng, ban đầu tham bái Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn. Người tu đạo từ xưa đến nay, tầm sư hỏi đạo, tham bái Thiện tri thức, cần tìm những vị minh nhãn Thiện tri thức mà nương theo học tập. Thiền sư Trí Hoàng tự xưng đã được chánh định, đắc được đạo lý chân chánh. Ngài trú trong một mái am tranh, tạm tránh gió tránh mưa, ngồi không nằm đã có hơn hai mươi năm. Ðệ tử của Lục Tổ Ðại sư là Thiền sư Huyền Sách, Ngài đi khắp nơi thay Lục Tổ Ðại sư truyền đạo. Ngài đi các nơi tham vấn, đến Hà Sóc, Hà Bắc, nghe đến tên của Pháp sư Trí Hoàng, vì Pháp sư ngồi không nằm hai mươi năm, rất nhiều người đều biết Pháp sư là người tu hành. Vì thế Huyền Sách đến am tranh của Pháp sư thăm hỏi:

    –Ngài ở đây làm gì?

    Trí Hoàng đáp:

    –Ông hỏi tôi cái gì? Tôi ngồi đây nhập định.

    Pháp sư Huyền Sách nói:

    –Ông nhập định, thì tâm có niệm muốn nhập định, hay là không có niệm muốn nhập định? Nếu như ông nói: vô tâm nhập định, thì tất cả loài vô tình, không có tri giác, không có khí huyết như cây cỏ đá gạch đều có thể nhập định, nó cũng đều có thể đạt được cảnh giới nhập định. Nếu ông nói hữu tâm nhập định thì tất cả chúng sanh hàm thức hữu tình có khí huyết, có cảm tình đều đã được định.

    Thiền sư Trí Hoàng trả lời:

    –Lúc tôi đang nhập định, tôi không thấy tôi có tâm hữu vô, hoặc là có hữu tâm nhập định, hoặc là vô tâm nhập định, lúc này tôi đều không không.

    Huyền Sách nói:

    –Ông đã không thấy có tâm hữu vô, đó gọi là thường định, vậy ông xuất nhập đi đâu? Làm sao xuất định? Làm sao nhập định? Theo lời của ông thì không thấy có tâm hữu vô, đó chính là thường định! Nó không có xuất nhập thì làm sao lại sanh ra cái xuất nhập? Ông làm cái gì thế? Nếu có xuất nhập đó không phải đại định, không phải định do Phật, do Tổ thuyết.

    Thiền sư Trí Hoàng nghe xong không trả lời được, suy gẫm rất lâu, nghĩ ra lời mình nói không có đạo lý đích xác, đạo lý của người khác nói có trí huệ hơn mình, dù suy nghĩ rất lâu cũng không trả lời được, liền hỏi:

    –Sư phụ của ông là ai? Ai truyền pháp cho ông?

    Thiền sư Trí Hoàng không nói việc khác vì thấy Huyền Sách biện tài vô ngại, vậy thì Sư phụ của ông ta nhất định càng thông minh hơn nữa.

    Huyền Sách trả lời:

    –Sư phụ của tôi là Lục Tổ Ðại sư, Hòa Thượng phương trượng Chùa Nam Hoa ở Tào Khê.

    Trí Hoàng hỏi:

    –Lục Tổ Ðại sư lấy cái gì làm thiền định?

    Pháp sư Huyền Sách nói:

    –Sư phụ tôi thường nói, bổn tánh là diệu trạm viên tịch bất động, dụng và thể của nó cũng như như bất động, liễu liễu thường minh. Ngũ ấm – sắc, thọ, tưởng, hành, thức, vốn là không; lục trần – sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp vốn cũng không có. Ðịnh vốn không có xuất nhập, cũng không có định, cũng không có loạn. Sau khi ông hiểu rõ diệu dụng của bổn thể, thì biết tánh chất của thiền không có trụ, cũng không có rời trụ, nó ly khai chấp trước tịch diệt, nó ly khai loại thiền chết. Tự tánh thiền là vô sanh, cũng ly khai tưởng sanh thiền định. Tâm, tự tánh giống như hư không, nhưng cũng không có tư tưởng hư không.



    Trí Hoàng nghe nói vậy, bèn đi ngay đến viếng Ðại sư.

    Sư hỏi rằng: "Nhơn giả ở đâu lại?"

    Trí Hoàng thuật đủ duyên do đã kể trước.

    Sư nói: "Quả thật như chỗ nói ấy. Tâm ngươi chỉ cần như hư không, nhưng chẳng dính níu chỗ thấy không, ứng dụng thông suốt, không trở ngại, động tịnh đều vô tâm, phàm thánh đều quên dứt, tâm năng tâm sở đều diệt trừ, tánh tướng như như, thì không có lúc nào mà chẳng định?"

    Trí Hoàng ngay lời nầy liền đại ngộ, xem lại chỗ sở đắc của mình trong hai mươi năm đều không có ảnh hưởng chi cả. Ðêm ấy tại Hà Bắc, các quan dân nghe trên không trung có tiếng rằng: "Trí Hoàng Thiền Sư ngày nay đắc đạo!"

    Sau Trí Hoàng làm lễ từ giả Ðại sư, lại trở về Hà Bắc mà khai hóa tứ chúng.



    Giảng
    :

    Trí Hoàng nghe lời Huyền Sách nói, cảm thấy đạo lý Lục Tổ nói ra vô cùng tuyệt diệu liền đi theo Huyền Sách đến bái kiến Lục Tổ Ðại sư.

    Lục Tổ Ðại sư hỏi:

    –Nhân giả! Ông từ đâu đến?

    Pháp sư Trí Hoàng liền kể cuộc vấn đáp giữa mình và Huyền Sách.

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Ðúng như ông nói, ông chỉ cần có tâm như hư không, nhưng cũng không được chấp không kiến, không nên có một cái không kiến trong tâm. Nếu ông được như thế thì ứng dụng vô ngại – việc đến thì ứng, việc đi thì tịnh.

    Ði, đứng, nằm, ngồi đều không có tâm. Cũng không nên nghĩ tôi là phàm phu hoặc là thánh nhân, nên quên đi tư tưởng này. Cũng không có cái năng kiến, cũng không có cái sở kiến, cũng không có cái năng không, cũng không có cái sở không. Ông nên biết lúc thấy sáng, cái thấy không phải là sáng; lúc thấy tối, cái thấy không phải là tối; lúc thấy không, cái thấy không phải là không. Lúc thấy bít, cái thấy không phải là bít; lúc thấy có, cái thấy không phải là có; lúc thấy vô, cái thấy không phải là vô. Cho nên Kinh Lăng Nghiêm nói: "Thấy cũng ly khai thấy, cái thấy mà mình thấy thì không thể thấy." Tánh cũng như như, tướng cũng như như, được như thế thì lúc nào cũng ở trong định.

    Trí Hoàng nghe Lục Tổ Ðại sư thuyết như thế hoát nhiên đại ngộ, công phu hai mươi năm tu hành đều biến mất không để lại dấu vết nào. Vì hơn hai mươi năm, Trí Hoàng đều có cái tâm nhập định, nay cái gì cũng đều không, lại đắc bổn nguyên vạn pháp. Ngay trong đêm đó, tại trú xứ của Trí Hoàng ở Hà Bắc (mà Thiền sư nay ở Quảng Ðông), học giả quan liêu dân chúng tín đồ và đệ tử quy y của Thiền sư Trí Hoàng đều nghe trong không trung có tiếng nói rằng: "Thiền sư Trí Hoàng hôm nay đã đắc đạo!" Ðắc đạo tức là khai ngộ. Thiền sư Trí Hoàng cung kính hướng Lục Tổ Ðại sư đảnh lễ, sau đó trở về Hà Bắc giáo hóa tứ chúng đệ tử tại gia và xuất gia.

  • Lòng Trắc Ẩn

    November 23rd 2012, 2:58 pm
  • Có một vị tăng hỏi Ðại sư rằng: "Người nào đặng cái ý chỉ của đức Hoàng Mai?"

    Sư rằng: "Người nào hiểu Phật pháp đặng."

    Bạch: "Phải Hòa Thượng đặng chăng?"

    Sư nói: "Ta không hiểu Phật pháp."



    Giảng
    :

    Một lần nọ, cóù một vị tăng, vị này thật là người cạt lão, là người thô lỗ không có học thức, ông ta hỏi Lục Tổ Ðại sư một cách thô lỗ:

    –Y bát của Ngũ Tổ Hoàng Mai, người nào được?

    Ông ta đã biết rõ ràng là Lục Tổ đắc mà cố ý hỏi. Vì ông ta hỏi như thế, không cần đặt vào vị trí lúc đó, nhìn thấy người này, án theo kinh văn, quý vị suy đoán liền biết, người này là kẻ nhà quê không có học vấn. Một mặt có thể nói là biết rồi vẫn hỏi, mặt khác có thể nói là có tâm khinh thị đối với Lục Tổ. Tại sao nói có tâm khinh thị? Ý người này muốn nói rằng:

    –Ông là người không biết chữ, làm sao có tư cách kế thừa y bát của Ngũ Tổ.

    Lục Tổ Ðại sư trả lời:

    –Người hiểu rõ Phật pháp được y bát của Ngũ Tổ.

    Vị Tăng này lại hỏi:

    –Hòa Thượng đã được hay là chưa được?

    Ý tức ông ta không tin tưởng Lục Tổ là người kế thừa y bát của Ngũ Tổ cho nên hỏi lại: "Hòa Thượng có được không?"

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Tôi không hiểu Phật pháp.

    Lục Tổ Ðại sư không nói tôi được hay không được, mà nói tôi không hiểu Phật pháp. Các vị nghĩ xem, ở đây Lục Tổ Ðại sư nói thiệt hay giả.



    Một ngày kia Sư muốn giặt cái Pháp y của Ngài đã được truyền thọ, mà không tìm được suối trong. Nhơn đi đến sau chùa ước năm dặm, thấy núi rừng rậm rạm, thoại khí bao giăng. Sư xốc cây tích trượng xuống đất, mạch suối liền ứng theo tay mà chảy ra, chứa đầy thành ao. Sư quỳ gối trên tảng đá mà giặt áo. Bỗng đâu có một thầy tăng đến làm lễ và nói rằng: "Tôi là Phương Biện, người ở Tây Thục, vừa rồi ở Nam Thiên Trúc, thấy đức Ðạt Ma Tổ sư dặn Phương Biện này mau qua nước Ðường, Ngài nói: ‘Cái Chánh pháp Nhãn tàng của Tổ Ðại Ca Diếp mà ta đã truyền, và cái Pháp y, ta đã thấy truyền xuống tới đời Tổ thứ sáu, tại Tào Khê, tỉnh Thiều Châu. Ông hãy đến đó mà chiêm lễ.’ Phương Biện này từ xa đến, xin xem y bát của thầy tôi đã truyền."



    Giảng
    :

    Một ngày nọ Lục Tổ Ðại sư muốn giặt Pháp y của Ngũ Tổ truyền cho, nhưng không có suối sạch, cho nên đi đến vùng đất sau chùa năm dặm (suối Trạc Khê ở sau chùa Nam Hoa, cách chùa một dặm đường, dòng suối hiện nay không nhất định là dòng suối mà Lục Tổ đã giặt y lúc trước), nhìn cây cỏ xanh tốt sum xuê, ráng trời rực rỡ, mây lành bao quanh, xoay chuyển trên đỉnh núi. Người mà đắc ngũ nhãn lục thông, ở chỗ nào có khí sắc gì vị đó vừa nhìn là biết liền. Lúc đó Ðại sư cầm tích trượng chín khoen kêu leng keng, dộïng xuống đất, nước liền tràn ra thành một dòng suối. Lúc nước tràn ra nhiều thì tạo thành một hồ nước. Lục Tổ Ðại sư bèn quỳ trên hòn đá giặt tấm y do Ngũ Tổ truyền trao.

    Lúc đó chợt có một vị tăng đến khấu đầu đảnh lễ Lục Tổ, tự xưng Pháp danh Phương Biện, là người Tây Thục, nói:

    –Con ở Nam Ấn Ðộ có gặp Tổ sư Ðạt Ma, Ngài bảo con hãy mau đến chỗ này. Ngài nói: "Ta truyền Tăng già lê (Tổ y hay Ðại y) và Chánh pháp Nhãn tạng từ Tổ Ma Ha Ca Diếp đời đời tương truyền, nay truyền đến triều đại nhà Ðường Trung Hoa, đời thứ sáu ở Tào Khê, Thiều Châu, Ông mau chóng đi đến đó chiêm ngưỡng lễ bái Tổ Sư đời thứ sáu." Phương Biện con nghe Tổ sư Ðạt Ma nói như thế, cho nên từ đất Ấn Ðộ xa xôi đến đây, chỉ mong có thể nhìn thấy y bát do Ðạt Ma Tổ sư lưu truyền.

    Quý vị nghĩ xem Sơ Tổ Ðạt Ma đã mất ở Trung Hoa, nhưng Phương Biện thời Lục Tổ ở Ấn Ðộ lại gặp Tổ Ðạt Ma. Quý vị nói việc này có kỳ lạ không? Thật không có gì kỳ lạ, cho đến nay người ta cũng không biết Tổ sư Ðạt Ma đi đâu. Giảng đến đây tôi nhớ đến một việc, đây không phải là công án mà là một sự thực. Lúc tôi ở Ðông Bắc, tức nước Mãn Châu, ban đầu tôi phát tâm tu đạo vì có rất nhiều nhân duyên. Ở Ðông Bắc tôi sùng bái nhất Vương Hiếu Tử, lúc ông thủ hiếu thì vào khoảng hai mươi tám tuổi. Trời rất lạnh ông dùng gỗ đóng một cái am nhỏ, trước sau thủ hiếu sáu năm, năm cuối cùng ông không nói chuyện, mỗi ngày đều ở trong am tranh nhỏ tham thiền, tụng Kinh Kim Cang. Khi thủ hiếu viên mãn ông ta có vọng tưởng rằng:

    –Núi Quảng Ninh Thiên Sơn ở Mãn Châu có nhiều vị tỳ kheo mấy ngàn năm ở đó tu đạo, khi ta thủ hiếu viên mãn ta cũng đến núi Quảng Ninh tu đạo.

    Sáng sớm hôm sau lúc ngồi thiền, ông ta nghe hộ pháp nói hôm nay có quý nhân đến thăm. Ông nghe có quý nhân đến liền cho là quan lớn, đợi đến hơn mười giờ thì thấy một vị tăng sĩ mặt áo rách, quảy đôi gánh, vị tăng này bỏ đôi gánh xuống mà cùng ông ta nói chuyện. Vương Hiếu Tử vốn tịnh khẩu cho nên trong tâm ông ta hỏi vị tăng:

    –Thầy từ đâu đến?

    Người này nói:

    –Tôi từ núi Quảng Ninh lại.

    Vương Hiếu Tử lại hỏi:

    –Thầy pháp danhï gì?

    Người này trả lời:

    –Tôi là một vị tướng quân đời Minh, sau đó xuất gia tu đạo. Tôi cùng ông có duyên cho nên hôm nay đến gặp ông, vì tôi biết ông muốn đến núi Quảng Ninh tu đạo. Nhưng nơi đó là người tu "độc thiện kỳ thân" (chỉ tu cho mình), mà ông cần phải "kiêm thiện thiên hạ" (cho hết mọi người). Ông có duyên với người xứ này, không nên đi đến núi Quảng Ninh, nên ở đây tạo chùa hoằng dương Phật pháp.

    Nói xong mấy câu vị tăng sĩ liền bỏ đi. Vị tăng này xưng là người đời Minh. Do đâu có thể chứng minh, vì Vương Hiếu Tử trong tâm hỏi vị tăng sĩ, mà vị tăng sĩ lại biết ông ta hỏi cái gì, thì đủ biết vị tăng này đã đắc tha tâm thông, đắc cảnh giới ngũ nhãn lục thông. Lúc này là thời đại Dân quốc, cách Minh triều ba trăm năm, người này vẫn chưa chết. Do điểm này đã chứng minh rằng có người ở Nam Thiên Trúc thấy được Tổ sư Ðạt Ma, cũng giống với trường hợp Phương Biện nói chuyện thọ y bát thì rất bình thường, chớ không có gì kỳ lạ.



    Sư lấy y bát ra chỉ, rồi hỏi rằng: "Thượng nhơn hay giỏi về nghề gì?"

    Bạch: "Dạ. Có khiếu nắn tượng."

    Sư ra vẻ nghiêm nghị, nói rằng: "Ông hãy nắn thử hình ta xem."

    Phương Biện bối rối, không biết nắn cách thế nào. Trải qua mấy ngày mới nắn xong chơn tướng, bề cao bảy tấc, điểm nào cũng thật khéo.

    Sư cười mà nói rằng: "Ông chỉ hiểu cái tánh nắn hình, mà chẳng hiểu cái tánh Phật."

    Sư thung dung lấy tay xoa nơi đỉnh đầu Phương Biện mà nói rằng: "Ông hãy hằng làm phước điền cho trời người."

    Rồi Sư lấy y đền công cho Phương Biện.

    Phương Biện lấy y chia làm ba đoạn, một đoạn choàng vào hình nắn, một đoạn để lại cho mình, một đoạn dùng lá tòng gói kỹ mà chôn xuống đất, và thề rằng: "Sau tìm được mảnh y này, tức là ta ra đời mà trụ trì nơi đây, và tu sửa lại ngôi chùa vậy."



    Giảng
    :

    Lục Tổ Ðại sư bèn đưa y cho Phương Biện xem, tiếp theo liền hỏi Phương Biện có sở trường gì?

    Phương Biện trả lời:

    –Con giỏi về dùng bùn, tro thơm, gỗ đắp tượng Phật.

    Lục Tổ Ðại sư trang nghiêm nói với ông ta:

    –Ông thử đắp một cái cho tôi xem.

    Phương Biện nghe Lục Tổ Ðại sư nói như thế, lúc đó lúng túng, tay chân không biết để đâu, không trả lời được. Qua mấy ngày, ông ta đắp được một chân tượng Lục Tổ Ðại sư, cao bảy tấc, tượng đắp giống như Lục Tổ Ðại sư. Ngay cả những chỗ vi tế đều đắp rất đẹp đẽ rõ ràng.

    Lục Tổ Ðại sư nhìn thấy Phương Biện đắp tượng của mình liền nói:

    –Ông chỉ hiểu tánh đắp mà không hiểu tánh Phật.

    Vì thế Lục Tổ bèn đưa tay xoa đầu Phương Biện nói:

    –Ông nên xuất gia làm Hòa thượng, đời đời kiếp kiếp làm phúc điền cho trời người.

    Sau đó Lục Tổ tặng Phương Biện cái y, đền công ông đắp tượng. Phương Biện sau khi nhận y, chia y làm ba phần, một phần đắp trên tượng, một phần tự mình lưu làm kỷ niệm, một phần dùng lá tòng gói kỹ chôn xuống đất và phát nguyện rằng:

    –Sau này khi được lá y này, đó là lúc tôi xuất thế, tôi sẽ làm Hòa Thượng phương trượng ở đây và trùng tu kiến thiết ngôi chùa này.



    (Ðời Tống niên hiệu Gia Hựu năm thứ tám, có Tăng tên Duy Tiên, sửa chùa đào đất được mảnh y giống như mới. Tượng thì để ở chùa Cao Tuyền, cầu nguyện lễ bái đều được ứng nguyện.)



    Có một vị tăng đọc bài kệ của Thiền sư Ngọa Luân rằng:

    Ngọa Luân tài rất hay,

    Dứt được cả tư tưởng.

    Ðối cảnh lòng không động,

    Bồ-đề ngày vượng lớn.

    Sư nghe kệ rồi, nói rằng: "Bài kệ ấy chưa tỏ sáng bổn tâm. Nếu y theo đó mà tu hành, thì thêm sự ràng buộc."

    Nhơn đó, Ðại sư nói kệ rằng:

    Huệ Năng tài chẳng hay,

    Không dứt cả tư tưởng.

    Ðối cảnh động lòng hoài,

    Bồ-đề đâu vượng lớn?



    Giảng
    :

    Có một vị tăng, có lẽ vị tăng này là vị tăng vô danh hoặc là vị tăng sĩ không háo danh. Vị tăng này niệm bài kệ của Thiền sư Ngọa Luân:

    –Ngọa Luân có bản lãnh, năng đoạn trăm tư tưởng, không sanh tư tưởng (nhưng có cái năng đoạn trong tư tưởng thì đã lạc vào đệ nhị, đệ tam mà không phải Ðệ nhất Nghĩa đế). Ông ta nói đối với cảnh giới gì cũng không khởi niệm. Cho nên Bồ đề mỗi ngày càng lớn.

    Lục Tổ Ðại sư vừa nghe liền nói:

    –Kệ này vẫn chưa hiểu rõ pháp môn tâm địa. Tại sao vậy? Nếu y theo bài kệ này tu hành cũng giống như tự mình trói buộc mình.

    Vì thế Lục Tổ Ðại sư lại nói ra một bài kệ khác:

    –Huệ Năng tôi bản lãnh gì cũng không có, tôi không cần đoạn trăm tư tưởng, ngay niệm đoạn trăm tư tưởng cũng không có. Ðối với cảnh giới nào cũng vậy sự đến thì ứng, sự đi thì tịnh, cho nên tùy nó đến, tùy nó đi, tôi cũng không màng là Bồ đề lớn hay không, giống như ý nghĩa đạo lý đã nói ở trước: "Bổn lai vô nhất nhật, hà xứ nhạ trần ai?" Tôi vốn thanh tịnh cần gì phải lau chùi.



  • Lòng Trắc Ẩn

    November 24th 2012, 4:56 pm
  • Phẩm Ðốn Tiệm Ðệ Bát




    Ðốn là lập tức hiểu rõ sáng suốt, hiểu rõ một cái lý. Lý tức đốn ngộ, sự cần tiệm tu, tu hành cần ngày này qua ngày kia tu hành, ngộ chỉ là ngộ cái lý, cho đến chứng quả vẫn là tự mình tu hành.



    Lúc Tổ Sư ở chùa Bảo Lâm tại Tào Khê, thì Thần Tú Ðại sư ở Chùa Ngọc Tuyền tại Kinh Nam. Bấy giờ cả hai phái đều diễn hóa rất thạnh hành, người đều gọi là Nam Năng Bắc Tú, cho nên mới có phân hai phái Ðốn và Tiệm ở phương Nam và phương Bắc. Nhưng người học đạo chưa biết được cái tông thú.

    Tổ Sư mới gọi đại chúng mà bảo rằng: "Pháp vốn là một tông, còn người thì có Nam và Bắc. Pháp tức là một thứ, còn chỗ thấy thì có mau chậm. Pháp không có mau chậm. Bởi con người có tánh sáng tối, cho nên mới gọi là mau chậm.



    Giảng
    :

    Lúc đó Lục Tổ Ðại sư ở chùa Nam Hoa trên núi Bảo Lâm Tào Khê, hoằng dương pháp môn đốn giáo. Ðại sư Thần Tú tức là đồ đệ của Ngũ Tổ, đã từng muốn làm Tổ Sư, lòng ham muốn làm Tổ Sư thật làm hại chết người. Người thông minh như thế, lại đoạn không được cái lòng ham muốn làm Tổ Sư. Lúc đó Ðại sư Thần Tú ở Chùa Ngọc Tuyền ở Hình Châu, Hồ Bắc. Lúc đó có sự chia phân giữa Nam tông, Bắc tông. Nam tông giảng đốn pháp, Bắc tông giảng tiệm pháp, hai tông giáo hóa thạnh hành. Môn hạ Lục Tổ Ðại sư có mấy ngàn người, môn hạ Thần Tú có mấy vạn người, vì Thần Tú vốn có mấy trăm người đi theo mình, sau đó càng ngày càng đông, cho nên thạnh hơn Nam tông. Nhưng mọi người đều biết Nam tông là người kế thừa y bát của Ngũ Tổ, Thần Tú tuy có học vấn, nhưng Ngũ Tổ Ðại sư không truyền y bát cho Ngài, cho nên đương thời người ta xưng "Nam Năng Bắc Tú." Nam phương là Huệ Năng Ðại sư, Bắc phương là Thần Tú Ðại sư, cho nên có Nam tông và Bắc tông chia ra đốn và tiệm. Ðệ tử Thần Tú ủng hộ Thần Tú làm Tổ Sư đời thứ sáu, mà thường là danh bất chánh, ngôn bất thuận vì lại có Lục Tổ Huệ Năng ở đó. Vì thế nên thường phái người đến giết Ngài, để sau này độc xưng Tổ Sư đời thứ sáu.

    Những người tham thiền học đạo không biết đâu là đúng. Lục Tổ Ðại sư thì không biết chữ, có lúc giảng đạo lý và kinh văn không tương hợp. Còn Bắc phương Thần Tú Ðại sư ở dưới tòa Ngũ Tổ đã từng làm giáo thọ sư, rất có học vấn, nhưng Ngài không có trực tiếp được y bát, cho nên học nhân không biết phải theo vị nào học mới đúng.

    Vì thế Lục Tổ Ðại sư khai thị đại chúng:

    –Pháp vốn chỉ có một tông chỉ, không có hai, mà người lại có Bắc Nam. Pháp vốn chỉ có một, không có nhiều, đó là pháp môn bất nhị. Mà kiến giải của người có nhanh có chậm. Cái gì gọi là đốn tiệm? Pháp vốn không có đốn tiệm nhưng người lại có thông minh, ngu si, lợi căn, độn căn, cho nên đốn tiệm này vì người mà lập.



    Song các môn đồ của Thần Tú thường chê Tổ Sư phái Nam tông là dốt, không biết một chữ, có chỗ nào hay đâu!

    Sư Thần Tú bảo chúng rằng: "Lục Tổ người đặng cái trí vô sư, thâm ngộ pháp thượng thừa, ta đây chẳng bằng người vậy. Vã thầy ta là Ngũ Tổ đích thân truyền y bát cho người, há phải là việc vô cớ sao? Ta tiếc vì không đi xa được để gần gũi với Người, nên phải đành chịu ân huệ của vua. Các ngươi chớ trì trệ ở đây, khá qua Tào Khê viếng Lục Tổ mà nghe lời khẩu quyết."



    Giảng
    :

    Nhưng mà đệ tử Thần Tú thường chê cười Nam tông Tổ Sư nói:

    –Cái ông Tổ Sư đó một chữ cũng không biết, ông ta mà có năng lực gì? Tổ Sư? Thật là đáng cười vô cùng, làm sao có chuyện này được, buồn cười quá, một chữ cũng không biết thì làm sao có thể làm Tổ Sư được?

    Vô hình trung chính là khinh thị Lục Tổ. Không những không biết Anh, ngay tiếng Tàu cũng không hiểu, ông xem vị Tổ Sư này đáng thương hay không? Những người nói những lời đó là đồ đệ của Thần Tú, thường trước mặt Thần Tú nói như thế.

    Thần Tú nghe xong liền nói:

    –Các ông không nên nói như vậy. Ðại sư Huệ Năng là người khai ngộ, đắc vô sư trí huệ, thông ngộ tối thượng nhất thừa, tôi thật chưa có khai ngộ trí huệ này. Tôi chắc chắn không bằng Huệ Năng. Huống chi ông ta được Tổ Sư đời thứ năm của tôi thân truyền y bát, là người thừa kế pháp môn dùng tâm ấn tâm, đây không phải ngẫu nhiên, mà là việc rất khó khăn. Tôi giận mình không thể tự mình đi đến đó thân cận Lục Tổ Ðại sư, theo Lục Tổ học Phật pháp. Tuy triều đình phong tôi làm Quốc sư (mười đại đệ tử dưới tòa Ngũ Tổ, được Vũ Tắc Thiên thỉnh mời cúng dường). Nhưng các ông không nên trì trệ ở chỗ tôi, mà hãy đến Tào Khê theo Lục Tổ tu học.



    Một ngày kia Sư Thần Tú bảo đồ đệ là Chí Thành: "Ngươi thông minh đa trí, khá vì ta đến Tào Khê mà nghe pháp. Nếu nghe đặng chỗ nào, hãy hết lòng nhớ lấy, rồi trở về nói lại cho ta rõ."

    Chí Thành vâng mạng đến Tào Khê, nhập theo đại chúng đến viếng và cầu dạy, nhưng chẳng nói ở đâu lại. Khi ấy Tổ Sư bảo chúng nhơn rằng: "Nay có kẻ trộm pháp ẩn tại hội này."

    Chí Thành liền bước ra làm lễ, và bày hết các việc của Thần Tú dặn.

    Sư rằng: "Ngươi ở chùa Ngọc Tuyền đến, lẽ ưng là dọ thám?"

    Ðáp: "Chẳng phải vậy."

    Sư nói: "Sao đặng gọi là chẳng phải?"

    Ðáp: "Chưa nói ra thì phải như thế, nhưng nói ra rồi thì chẳng phải vậy."



    Giảng
    :

    Thần Tú Ðại sư cố ý thử thách đồ đệ của mình cho nên mới nói:

    –Lục Tổ có đạo đức hơn tôi.

    Nếu những môn đồ này có lòng tin đối với tôi, thì dù cho Lục Tổ thiệt có đạo đức đi nữa cũng sẽ không bỏ đi; nếu họ không có chân tâm, tôi nói như thế họ sẽ bỏ đi. Vì thế Thần Tú giả ý nói như vầy:

    –Các ông không nên ở đây nữa, hãy đến Tào Khê theo Lục Tổ mà tu học.

    Tuy nhiên, những người đồ đệ này đều biết sư phụ của họ không muốn họ bỏ đi, vì thế không có ai rời bỏ. Nhưng Thần Tú lại muốn biết Lục Tổ Ðại sư giảng pháp môn gì, cho nên ngày kia liền phái một vị gián điệp – là đồ đệ Chí Thành mà ông rất ưa thích, nói với Chí Thành:

    –Con rất thông minh lại có trí huệ, con thay thầy đi đến Tào Khê thính pháp. Vì Lục Tổ Ðại sư biết thầy, nếu thầy đi, Lục Tổ Ðại sư sẽ không giảng Phật pháp. Con đến đó nghe biết đạo lý gì thì ghi chép không bỏ sót một chữ nào để về đọc cho thầy nghe.

    Giống như ba tuần trước có vị Pháp sư kia phái người đến đây cũng giống như vậy. Chí Thành nhận sứ mệnh của Ðại sư Thần Tú liền đến Tào Khê, theo đại chúng khấu đầu đảnh lễ thỉnh Lục Tổ Ðại sư khai thị, nhưng Chí Thành không nói từ đâu đến, không tiết lộ mình từ chỗ Ðại sư Thần Tú đến.

    Ngay lúc đó, Lục Tổ Ðại sư nói với đại chúng:

    –Nay ở đây có một người trộm pháp, mọi người nên để ý một chút, người đó đang núp trong đại chúng!

    Chí Thành nghe vậy liền đi ra đảnh lễ, thẳng thắn bạch rằng:

    –Con chính là người trộm pháp, con từ chỗ Ðại sư Thần Tú đến đây.

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Ông từ chùa Ngọc Tuyền đến, chính là gián điệp.

    Chí Thành trả lời:

    –Con không phải là gián điệp.

    Lục Tổ Ðại sư hỏi:

    –Tại sao ông không phải là gián điệp?

    Chí Thành trả lời:

    –Lúc chưa nói rõ con là ai, con là gián điệp, nay con đã thẳng thắn phát lồ sám hối cho nên không phải.



    Sư nói: "Thầy ngươi dạy chúng môn nhơn như thế nào?"

    Ðáp: "Thường chỉ dạy đại chúng trụ tâm quán tịnh, ngồi mãi không nằm."

    Sư nói: "Trụ tâm quán tịnh, ấy là bịnh, chẳng phải thiền. Thường ngồi là câu thúc cái thân, đối với Ðạo-lý có lợi ích chi đâu?

    Hãy nghe ta kệ:

    Khi sống ngồi không nằm,

    Thác rồi nằm chẳng ngồi.

    Thiệt đồ xương thịt thúi,

    Sao luống lập công phu?"



    Giảng
    :

    Lúc đó Lục Tổ Ðại sư hỏi Chí Thành:

    –Sư phụ ông bình thời dạy đại chúng cái gì?

    Chí Thành ứng đối:

    –Sư phụ con thường chỉ thị đại chúng, cần phải trụ tâm vào một chỗ mà quán tịnh, mọi người thường ngồi không ngủ.

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Chú tâm quán tịnh là bệnh, là bệnh dụng công, không phải thiền. Còn thường ngồi ngược lại câu thúc thân thể mình không được tự do, thì đối với đạo lý có lợi ích gì?

    Người tu đạo lúc ngủ thì ngủ, lúc ăn thì ăn, không nên câu thúc thân này. Thần Tú Ðại sư chỉ dạy người dụng công phu trong cái túi da thúi này, mà không biết dụng công trên tự tánh, cho nên đó là "bệnh"; nếu Thần Tú Ðại sư biết dụng công trên tự tánh thì không có bệnh. Lục Tổ Ðại sư thì dụng công trên tự tánh nên không có bệnh. Lục Tổ Ðại sư dụng công trên tự tánh, dụng công một cách tự nhiên. Cho nên Lục Tổ Ðại sư nói kệ:

    –Lúc sanh, ngồi không nằm, sau khi chết thì nằm một chỗ không thể ngồi được, thân này là một bộ xương thúi, tứ đại giả hợp mà thành, tại sao ông ở trong túi da thúi này mà dụng công phu? Tại sao không ở trên tự tánh mà dụng công phu?

    Cho nên nói: "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm." Mà Thần Tú Ðại sư dạy người trụ tâm quán tịnh, đó là chấp tướng, ngược với tông chỉ Kinh Kim Cang, cho nên Lục Tổ Ðại sư phá trừ khuyết điểm chấp trước của ông ta.

    Ðại sư Thần Tú dạy người trụ tâm quán tịnh mà Lục Tổ Ðại sư nói đây là bệnh. Ngồi không nằm, đây là buộc trói thân không phải đạo lý thiền. Kỳ thực, nếu quý vị có thể trụ tâm quán tịnh, lâu dài cũng có chỗ thành tựu, tuy nói không được tự do, nhưng đối với thân tâm có sự ích lợi. Nhưng Lục Tổ Ðại sư tại sao lại nói đó không đúng? Vì Chí Thành từ chỗ Thần Tú Ðại sư đến đây, Lục Tổ Ðại sư cần phải phá trừ chấp trước của Chí Thành, sau đó mới có thể truyền thọ Phật pháp chân chánh, vì thế Lục Tổ Ðại sư thuyết mọi đạo lý cho Chí Thành nghe. Ðây là dạy người lúc dụng công không nên chấp trước. Ông không nên có tư tưởng ngồi hoài không nằm, nói đây là dụng công tu hành. Cần phải ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm, trụ tâm quán tịnh thì có chỗ chấp trước, chấp trước thì có chướng ngại. Cần phá trừ chấp trước mới có thể khế hợp tự tánh, cho nên Lục Tổ Ðại sư mới giảng như vậy. Chúng ta người thường không nên nói Lục Tổ Ðại sư giảng ngồi hoài không nằm thì không đúng pháp. Chúng ta cần phải ngồi như vậy, song giác ngộ một cách tự nhiên mà không có sự miễn cưỡng, nếu quý vị giác ngộ một cách miễn cưỡng đó không phải là đạo. Dụng công thì cần phải tự do. Có người nói:

    –Vậy thì tốt quá. Tự do dụng công, vậy tôi không cần phải giữ gìn giới luật quy củ!

    Nói vậy cũng không thể được, quý vị không giữ gìn giới luật, đây là hiểu lầm về tự do. Nếu mọi người ngồi, quý vị lại nằm, lúc mọi người nằm, quý vị lại ngồi, đó chính là không đúng pháp, đó gọi là muốn làm khác người. Giống như trước kia có người đến đây ngồi thiền, lúc mọi người đứng lên kinh hành, anh ta vẫn ngồi đó, ý nói: "Quý vị xem tôi nè, tôi ngồi thiền giỏi hông!" Ðó gọi là xuất chúng không giữ quy củ.

    Tóm lại, tu hành dụng công không những phải giữ gìn giới luật thanh quy, mà đối với sự tự do của chính mình, cũng phải giữ gìn giới luật. Ðiểm này mọi người cần phải hiểu rõ.



    Chí Thành lại làm lễ mà bạch rằng: "Kẻ đệ tử theo ở với Tú Ðại sư, học Ðạo chín năm, mà chẳng đặng tỏ sáng. Nay nghe Hòa Thượng nói một lần, liền tỏ sáng Bổn tâm. Việc sống thác là việc lớn, đệ tử xin Hòa Thượng mở lượng từ bi chỉ dạy."

    Sư rằng: "Ta nghe nói thầy ngươi dạy người pháp Giới Ðịnh Huệ, nhưng chưa rõ thầy ngươi nói cái hạnh tướng của Giới Ðịnh Huệ như thế nào, hãy nói cho ta nghe."

    Chí Thành bạch: "Tú Ðại sư nói: ‘Các điều dữ chớ làm, gọi là Giới. Các điều lành vâng làm, gọi là Huệ. Giữ ý mình trong sạch, gọi là Ðịnh.’ Thầy tôi dạy như vậy, chưa rõ Hòa Thượng dùng pháp nào mà dạy người?"

    Sư nói: "Nếu ta nói có pháp dạy người, tức là nói dối với ngươi. Ta chỉ tùy phương tiện mà giải thoát cho người. Phương tiện ấy giả gọi là Tam-muội. Cứ như chỗ thầy ngươi nói về Giới Ðịnh Huệ thiệt không thể nghĩ bàn được. Nhưng chỗ thấy về Giới Ðịnh Huệ của ta lại khác."



    Giảng
    :

    Chí Thành đảnh lễ Lục Tổ một lần nữa và bạch rằng:

    –Ðệ tử ở chỗ Thần Tú Ðại sư học đạo chín năm.

    Các vị ở đây chỉ mới học đạo một năm liền cảm thấy thời gian dài, không xem người xưa đều học mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm, dụng công lâu dài như thế, không phải học vài tháng mà có thể tốt nghiệp.

    Học chín năm mà vẫn chưa khai ngộ. Nay nghe Hòa Thượng giảng dạy đạo lý giống như nước gặp nước, như sữa hòa sữa, tâm của Lục Tổ Ðại sư giống như tâm của con, tâm của chúng ta vốn giống nhau. Con không biết ngày nào sẽ chết đi, vấn đề sanh tử thật là quan trọng, thỉnh Hòa Thượng Tổ Sư phát đại từ bi giáo hối chỉ dạy cho con.

    Lục Tổ Ðại sư nói;

    –Ta nghe Thần Tú Ðại sư, sư phụ của ông, truyền dạy pháp giới định huệ, không biết sư phụ của ông giảng hình tướng giới định huệ như thế nào? Ðạo lý của giới định huệ như thế nào nói cho ta nghe.

    Chí Thành đáp:

    –Chư ác mạc tác gọi là giới. Năng tu nhất thiết thiện pháp đó gọi là huệ. Tự mình thanh tịnh ý niệm đó gọi là định. Thần Tú Ðại sư giảng như thế. Con không biết Hòa Thượng dùng pháp gì chỉ dạy người?

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Ta không có pháp gì hết, nếu nói có một phương pháp giáo hóa người đó là gạt người. Ta chỉ tùy căn cơ người, dùng đủ loại phương tiện cởi mở sự trói buộc của chúng sanh, giải khai chấp trước của chúng sanh, pháp này không có một tên, cho nên tạm đặt cho nó là tam muội – chánh định chánh thọ. Sư phụ ông giảng về giới định huệ thật bất khả tư nghì, nhưng giới định huệ mà ta giảng thì không giống sư phụ ông giảng. Giới định huệ của ta giảng rất đặc biệt.



    Chí Thành bạch: "Giới Ðịnh Huệ chỉ hiệp có một thứ, thế nào lại khác?"

    Sư nói: "Pháp Giới Ðịnh Huệ của thầy ngươi để tiếp độ người đại thừa. Còn pháp Giới Ðịnh Huệ của ta để tiếp độ người tối thượng thừa. Chỗ tỏ hiểu không đồng, chỗ thấy có mau chậm. Ngươi nghe chỗ ta nói với chỗ thầy ngươi nói, có đồng nhau chăng? Chỗ ta nói pháp không lìa tánh mình. Lìa Bổn thể mà nói pháp, là chấp trước tướng mà nói, thế thì tánh mình thường mê. Phải biết muôn pháp đều do tánh mình khởi dụng, thế mới thiệt là pháp Giới Ðịnh Huệ. Hãy nghe ta kệ:

    Tâm địa không quấy, thì tánh mình Giới.

    Tâm địa không si, thì tánh mình Huệ.

    Tâm địa không rối, thì tánh mình Ðịnh.

    Không thêm không bớt, mình thành Kim Cang.

    Thân tới thân lui, vốn là Tam-muội.

    Chí Thành nghe kệ rồi, ăn năn và cảm tạ, và trình một bài kệ rằng:

    Năm uẩn huyễn thân này,

    Huyễn nào mong cứu cánh.

    Xoay lại hướng Chơn-như,

    Pháp còn chưa thiệt tịnh.



    Giảng
    :

    Chí Thành nói:

    –Giới định huệ là giới định huệ, chỉ có thể có một cách giảng, tại sao lại có cách giảng đặc biệt?

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Tam vô lậu học giới định huệ mà sư phụ ông thuyết, sư phụ ông tiếp dẫn người có căn cơ đại thừa, tôi giảng giới định huệ là tiếp dẫn tối thượng thừa, người có căn cơ tối cao, cho nên sự khai ngộ và hiểu biết thì không giống nhau. Khai ngộ là thấu triệt đến nơi đến chốn, hiểu là chỉ biết rõ chút chút cho nên kiến giải có đốn có tiệm, có nhanh, có chậm. Ông nghe đạo lý tôi giảng có giống với sư phụ của ông không? Pháp mà tôi nói không phải pháp bên ngoài, không phải ly tự tánh mà thuyết pháp. Ly khai tự tánh mà thuyết pháp, đó gọi là dính mắc tướng, cũng gọi là tướng thuyết. Dính mắc tướng (chấp trước tướng) thì tự tánh thường mê, ly tướng thì tự tánh thường ngộ. Ông nên biết nhất thiết vạn pháp là đều từ tự tánh sanh khởi mà khởi tất cả dụng, ứng biến không cùng, đó mới là chân chánh giới định huệ. Ta nay thuyết một bài kệ cho ông:



    Tâm địa vô phi (không quấy), tức là không có tham tâm, ác tâm, tật đố tâm, chướng ngại tâm, tổn nhân tâm, lợi kỷ tâm. Tâm địa vô phi chính là tâm địa không có ác. Tâm địa vô phi cũng chính là mọi điều ác không làm, cũng chính là tâm địa không làm những việc sai lầm, đó gọi là giới.



    Tâm địa vô si (không si), cũng chính là chúng thiện phụng hành, nhưng cái chúng thiện phụng hành này, cùng với Thần Tú Ðại sư thuyết giảng không giống, Thần Tú trên danh tự nói huệ, mà không có đưa ra tự tánh, không có giảng đến tâm địa, tâm giống như miếng đất, ông trồng cái gì liền sanh trưởng cái đó, cho nên ông trồng thiện nhân sẽ kết quả thiện, trồng ác nhân sẽ kết quả ác. Tâm địa ông không gieo hột giống ngu si đó chính là trí huệ.



    Tâm địa vô loạn (không rối), cũng chính là tự tịnh kỳ ý, cùng với Thần Tú Ðại sư thuyết giảng vốn không sai khác, nhưng danh xưng không giống nhau. Lục Tổ Ðại sư thuyết pháp, đều từ tâm địa nói ra, từ tự tánh thuyết giảng, từ trong tâm thuyết pháp. Thần Tú Ðại sư thuyết pháp đều là pháp bên ngoài, là pháp chấp trước tướng, là ngoài tâm thuyết pháp.

    Tự tánh quang minh vô chiếu, có diệu trạm tổng trì, thân mình thì luyện thành thân Kim Cang bất hoại. Thân đến thân lui, tức là trong bốn oai nghi — đi đứng nằm ngồi, thì vốn đều ở trong định.

    Chí Thành nghe xong một mặt sám hối, một mặt nói lên lòng tri ân, và trình lên một bài kệ tụng:

    Ngũ ấm – sắc, thọ, tưởng, hành, thức – là hư vọng không thực, thân này cũng hư vọng không thực. Thân này vốn do tứ đại – đất, nước, lửa, gió – giả hợp mà thành, cho nên không cần phải xem trọng nó lắm. Tìm áo quần đẹp cho nó mặc, kiếm thức ăn ngon cho nó ăn, xây nhà cửa nguy nga cho nó ở, tìm một người chồng anh tuấn, hoặc người vợ mỹ miều. Cái gì gọi là địa đại? Tức tánh cứng trong thân – da, thịt, gân, cốt thuộc về địa đại. Thủy đại tức là nước mắt, nước mũi, nước miếng, đàm, đại tiểu tiện đều thuộc về nước. Hỏa đại tức khí nóng, sức nóng của thân. Phong đại tức thân thể dao động, hô hấp. Sau khi người chết, tính cứng trong thân thể trở về địa đại, tính ướt trở về thủy đại, tính ấm trở về hỏa đại, tính hô hấp dao động trở về phong đại, mọi thứ đều có chỗ quy về, nhưng quý vị thì quy về chỗ nào? Quý vị không biết! Nay chúng ta học Phật pháp chính là vì muốn biết.

    Cái huyễn hóa này thì làm sao mà rốt ráo (cứu cánh) được? Như là quý vị có cái tâm hồi hướng Chân như, thế thì tại sao không đắc được Bổn thể của pháp? Vẫn chưa trở về được cái thanh tịnh? Tại sao vậy? Tại quý vị vẫn có một niệm muốn hồi về Chân như, quý vị vẫn còn có một niệm, thì chưa đắc được Bổn thể của pháp. Cho nên Bổn thể pháp thì không có thủ lấy, cũng không có xả bỏ, không nghĩ thế này, cũng không nghĩ thế kia, chính là nhậm vận mà làm. Nhậm vận chính là tự do làm mà không chấp trước.



    Sư khen phải, lại nói với Chí Thành rằng: "Pháp Giới Ðịnh Huệ của thầy ngươi là để khuyên các người căn trí nhỏ, còn pháp Giới Ðịnh Huệ của ta để khuyên người căn trí lớn. Nếu mình tỏ sáng tánh mình, thì chẳng lập Bồ đề Niết bàn, cũng chẳng lập Giải thoát tri kiến. Không một pháp nào tìm được ở trong tánh mình thì mới tạo lập được muôn pháp. Nếu hiểu được cái ý chỉ ấy, thì gọi là Phật thân, cũng gọi là Bồ đề Niết bàn, là Giải thoát tri kiến. Người thấy tánh lập ra (muôn pháp) cũng đặng, chẳng lập ra cũng đặng. Ði lại tự do, không ngừng không ngại, phải chỗ dùng thì tùy cơ mà làm, phải chỗ nói thì tùy cơ mà đáp, hiện khắp hóa thân mà chẳng lìa tánh mình, tức là đặng Tự tại thần thông, Du hý tam muội. Ấy gọi là thấy tánh."



    Giảng
    :

    Lục Tổ Ðại sư ấn chứng cho Chí Thành rằng:

    –Tốt lắm, kiến giải của ông đúng lắm!

    Lại nói với Chí Thành:

    –Sư phụ của ông giảng giới định huệ là khuyên người có tiểu trí tiểu căn. Ta giảng giới định huệ là khuyên người có đại căn đại trí. Nếu ông hiểu rõ tự tánh, ngay Bồ đề Niết bàn cũng không có, cũng không có cái gì gọi là giải thoát, cũng không có cái gì gọi là tri kiến, đều không có, đều không không, một pháp không lập, vạn pháp đều không. Vì một pháp không lập cho nên mới có thể kiến lập vạn pháp. Tuy nói một pháp không có nhưng vạn pháp hiển hiện rõ ràng trước mắt. Tuy vạn pháp rõ ràng tồn tại, nhưng vẫn là một pháp không lập. Ông nên hiểu rõ đạo lý này, đó gọi là Phật thân, ngay đó lập tức thành Phật. Nếu ông hiểu rõ pháp này, cũng có thể gọi là Bồ đề Niết bàn, cũng có thể đặt cho một tên là Giải thoát tri kiến, ông gọi nó tên gì cũng được, nhưng ông cần hiểu rõ, nếu ông không hiểu rõ, thì ông gọi nó tên gì cũng đều không thể được.

    Người chân chánh khai ngộ, minh tâm kiến tánh, dựng lập pháp cũng được, không dựng lập pháp cũng xong, không chướng không ngại, quý vị muốn đến thì đến, muốn đi thì đi, đây chỉ cho sanh tử tự do, cho nên tôi thường nói với quý vị: "Everything is OK!" (Mọi chuyện đều hanh thông, không có vấn đề gì cả!)

    Ðó chính là đến đi như ý, một chút phiền phức cũng không có, không trì trệ, không chướng ngại. Mình muốn đi thì không ai có thể lưu giữ được, không ai có thể ngăn cản được. Sự đến thì ứng, sự đi thì tịnh. Nếu có người hỏi, thì tùy ý trả lời mà không phải suy nghĩ. Nhưng cần phải trả lời đúng đạo lý, không nên nói bậy, không hợp lô-gích. Lúc đó, khắp nơi đều có hóa thân, nhưng tất cả hóa thân đều không rời tự tánh, vậy thì mọi nơi mọi lúc đều đắc được Quán Tự Tại, và Lục thông – thiên nhã thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, túc mệnh thông, thần túc thông, lậu tận thông, được Du hý tam muội, đại chúng thích cái gì, thì làm cái đó, dạo chơi khắp nơi. Mình cũng ca hát, nhưng không giống như người ta ca hát, mình cũng ăn cơm nhưng không giống như những người ta ăn cơm. Cùng mọi người ăn cơm, mình ăn hết sạch cơm và thức ăn, mọi người thấy mình ăn sạch, nhưng cơm canh vẫn còn nguyên trong nhà bếp, còn nguyên chưa động đến. Ðó chính là Du hý tam muội, đó gọi là kiến tánh.



    Chí Thành lại bạch: Cái nghĩa chẳng lập là sao?"

    Sư nói: "Tánh mình không quấy, không si mê, không loạn động, niệm niệm trí huệ thường soi, thường lìa pháp tướng, tự do tự tại, dọc ngang đều ứng đối đặng cả, thì có pháp nào mà đặng lập? Tánh mình tự tỏ sáng, tỏ liền tu liền, cũng không lần lượt theo thứ lớp. Sở dĩ nên chẳng lập cả thảy các pháp. Các pháp đều vắng lặng, thì có gì là thứ lớp?"

    Chí Thành làm lễ, nguyện theo hầu hạ Tổ Sư, sớm tối không bê trể.



    Giảng
    :

    Chí Thành nghe Lục Tổ Ðại sư giảng nghĩa lý huyền diệu như thế, lại bạch Tổ Sư:

    –Cái gì gọi là pháp không lập, ý nghĩa như thế nào?

    Lục Tổ Ðại sư trả lời:

    –Trong tự tánh ông không có một việc sai lầm, không có tất cả ác, không có tất cả chướng ngại, không mê loạn, không điên đảo, niệm niệm đều là trí huệ, thường sanh trí huệ. Cho nên Lục Tổ Ðại sư nói: "Nào dè tự tánh thường sanh trí huệ." Như vậy thì mới có thể xa lìa tất cả các tướng mà không chấp trước, lúc này tự do, tự tại, tung hoành vô ngại. Tung, ông nhảy về phía trước cũng được; hoành, ông muốn đi ngang cũng được. Ông muốn lên trời thì lên trời, xuống đất thì xuống đất, đó chính là tung. Hoành, tức ông muốn đến Thế giới Cực lạc Tây phương, thế giới Lưu Ly Ðông phương, đều tùy theo sở thích của ông. Tuy nhiên, bất cứ ông làm cái gì cũng đều phù hợp Phật pháp. Ðược như thế, thì lại có còn cái gì có thể lập nữa? Cho nên ta nói một pháp cũng không lập.

    Tự tánh của ông cần phải do ông tự ngộ, ông tức khắc ngộ thì có thể lập tức tu, không cần phải từng bước từng bước tiệm thứ tu học. Cho nên ta mới nói không lập tất cả pháp, nhất thiết pháp đều không, chư pháp đều là tịch diệt tướng, lại có thứ tự nào có thể nói ra được? Sao có thể nói ra đệ nhất, đệ nhị được?

    Pháp sư Chí Thành sau khi nghe Lục Tổ Ðại sư khai thị, khấu đầu đảnh lễ. Kẻ gián điệp này đã bỏ tối nương vào chỗ sáng, cải tà quy chánh. Chí Thành nguyện làm thị giả của Lục Tổ Ðại sư, làm mọi việc lao tác tạp dịch; bảo làm gì thì làm cái đó, từ sớm đến tối làm những việc nặng nhọc mà không giải đãi. Vì Chí Thành biết Lục Tổ, ban đầu cũng do làm việc nặng nhọc mà đắc đạo làm Tổ Sư, nay tôi lại hầu hạ Người cũng cần phải siêng năng không được làm biếng.

    Ðoạn trước nói về Ðại sư Thần Tú phái người đặc vụ đi trộm pháp. Ðời Ðường Phật giáo ở Trung Hoa đã phức tạp như thế, có một số người có tâm bất chánh như vậy, muốn trộm Phật pháp. Ðoạn sau đây thì kể về đồ đảng Thần Tú phái một thích khách đi ám sát Lục Tổ.

  • Lòng Trắc Ẩn

    November 24th 2012, 5:12 pm
  • Thầy Tăng pháp danh Chí Triệt, người ở Giang Tây, họ Trương, tên Hành Xương, lúc còn trẻ là một hiệp khách.

    Từ khi Nam Bắc chia rẽ việc hóa độ, hai vị tông chủ tuy không phân nhơn ngã, nhưng các tông đồ cùng tăng tử của hai phái thường cạnh tranh và sanh lòng yêu ghét nhau. Lúc bấy giờ môn nhơn phái Bắc Tông tôn Sư Thần Tú làm Tổ thứ sáu, nhưng còn hiềm Tổ Sư vì đặng truyền y làm cho thiên hạ đều hay, nên sai Hành Xương đến thích khách Ðại sư. Ðại sư tâm thông, biết trước việc ấy, liền lấy mười lượng vàng để sẵn nơi chỗ ngồi. Lúc đêm khuya Hành Xương vào phòng của Tổ và toan muốn làm hại. Ðại sư đưa ngay cổ ra cho chém ba lần, mà không phạm chỗ nào cả.



    Giảng
    :

    Có một vị Tăng pháp danh Chí Triệt, đây là sau khi xuất gia quy y Lục Tổ Ðại sư, Lục Tổ Ðại sư đặt pháp danh cho. Chí Triệt, người Giang Tây, họ Trương, tên gọi là Hành Xương. Lúc còn trẻ thích làm những việc hành hiệp trượng nghĩa – cướp của nhà giàu cho nhà nghèo, trên đường gặp chuyện bất bình liền rút đao giúp đỡ. Ông biết khinh công và võ nghệ rất giỏi. Ðồ đệ Thần Tú liền thuê Hành Xương đến sát hại Lục Tổ Ðại sư.

    Từ khi có sự phân hóa thành hai tông phái Nam đốn Bắc tiệm, Nam Năng Bắc Tú, hai vị tông chủ tức Lục Tổ Ðại sư và Thần Tú Ðại sư, tuy không có quan niệm nhân tướng ngã tướng, nhưng đồ đệ của các Ngài (ở đây là chỉ đồ đệ của Thần Tú Ðại sư), tranh nhau khởi lòng thương ghét, giống như đoạn trên giảng về việc họ chê cười Lục Tổ Ðại sư không biết chữ sao có thể làm Tổ Sư, phỉ báng Lục Tổ Ðại sư như thế. Dưới tòa Lục Tổ Ðại sư cũng có đệ tử chân thành, nói Lục Tổ Ðại sư đã đắc trí vô sư, các ông không nên hủy báng sư phụ của tôi, vì thế chúng đệ tử cùng nhau công kích. Nhưng đồ chúng của Lục Tổ Ðại sư không có nghĩ thích khách Thần Tú Ðại sư, mà đồ chúng Thần Tú lại ganh ghét Lục Tổ Ðại sư là người kế thừa y bát của Ngũ Tổ. Tôi tin tưởng câu "Tranh nhau khởi lòng thương ghét" ở đây, chỉ cho phái Thần Tú Ðại sư bên kia thì lợi hại hơn một chút. Lục Tổ Ðại sư bên này thì nhẫn nại vượt qua sự ghét bỏ.

    Lúc đó đệ tử Bắc tông có mấy ngàn người, tự đưa Thần Tú lên làm Tổ Sư. Thần Tú tuy không có y bát, nhưng đệ tử của Ngài đưa Ngài làm Tổ Sư đời thứ sáu. Tại sao lại đưa sư phụ của họ làm Tổ Sư đời thứ sáu? Vì trong số họ có người muốn làm Tổ Sư đời thứ bảy. Nếu không có đời thứ sáu, thì đời thứ bảy từ đâu sanh ra? Nhưng lại úy kỵ không dám công khai nói trong chùa. Vì thiên hạ đã biết y bát đã truyền cho Lục Tổ Huệ Năng Ðại sư, cho nên thuê Hành Xương đến ám sát Lục Tổ Ðại sư, muốn đoạt y bát của Tổ. Lúc đó Hành Xương võ nghệ cao cường, người ta đặt cho biệt hiệu "phi miêu," hành tung Hành Xương quỷ dị, không ai biết được. Tin tức này quý vị ở sách nào cũng tìm không ra, trừ phi quý vị ở trong tình cảnh đương thời mới biết Hành Xương có biệt hiệu như thế. Quý vị xem lúc trước họ phái người đi phóng hỏa, nay lại phái một kẻ thích khách. Tại sao họ lại muốn giết Lục Tổ Huệ Năng ? Bởi vì sau khi giết Ngài, thì có thể công nhiên đưa Thần Tú Ðại sư lên làm Lục Tổ. Tại Phật Giáo Giảng Ðường có một người vốn cũng có tha tâm thông, thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, nhưng vì người này lòng tham không nhỏ, thường muốn chứng tứ quả A la hán, muốn phi hành tự tại. Người nầy đã nhiều lần thỉnh cầu tôi dạy cho pháp thuật phi thân. Tôi nói: "Ông học pháp thuật này có ích dụng gì?" Ông ta nói: "Ðể đi Ðài Loan thọ giới mà không cần vé máy bay." Vì ông ta tham chứng quả, tham thần thông cho nên trí huệ chân chánh chưa có hiện tiền.

    Lục Tổ Ðại sư lúc đó cũng có tha tâm thông, đã biết trước âm mưu giết người của họ, Ngài dự bị mười lượng vàng để bên cạnh chỗ ngồi của Ngài. Quý vị nghĩ xem tình hình lúc đó hết sức nguy hiểm, hết sức căng thẳng không? Ðêm đến, vào khoảng giữa khuya, Phi miêu họ Trương đến nơi, tay chân không một tiếng động, đến liêu phòng của Lục Tổ, đến trước chỗ Ngài ngồi. Ngay lúc hươi gươm chém xuống, Lục Tổ Ðại sư liền giơ cổ cho Hành Xương chém vào. Lúc này Hành Xương không kể Ngài là Hòa Thượng, A La Hán, Tổ Sư hay là gì gì đi nữa, Hành Xương đều giết bởi vì Hành Xương chỉ chứa lòng sát, bởi vì muốn hoàn thành sứ mệnh của đồ chúng Thần Tú giao cho. Quý vị nghĩ xem lúc này có căng thẳng không? Căng thẳng giống như lúc bom nguyên tử sắp nổ vậy! Hành Xương tay cầm gươm báu, dùng hết sức mạnh chém vào cổ Lục Tổ Ðại sư ba nhát, nhưng Lục Tổ không một chút trầy trụa!



    Sư nói: "Gươm chánh không dùng vào việc tà, gươm tà không dùng vào việc chánh được. Ta chỉ thiếu ngươi vàng, chớ chẳng nợ ngươi mạng." Hành Xương hoảng kinh ngã ngửa, hồi lâu mới tỉnh lại, bèn cầu khẩn ăn năn tội lỗi và liền nguyện xuất gia.

    Sư lấy vàng cho và nói: "Ngươi hãy đi, sợ e đồ chúng hại ngươi. Một ngày kia ngươi khá đổi hình dạng, rồi đến đây, ta sẽ nhận và độ ngươi." Hành Xương vâng theo ý Ðại sư, đêm ấy trốn đi. Sau Hành Xương xuất gia làm Tăng, thọ Cụ túc giới, và tu hành rất tinh tấn.



    Giảng
    :

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Chánh kiếm tức chánh pháp, không sợ tà pháp, mà tà pháp thì không thể thắng được chánh pháp. Cho nên nói "tà không thể thắng chánh." Ông tuy có gươm báu nhưng cũng không thể làm gì được tôi. Kiếp trước tôi chỉ thiếu ông mười lượng vàng, nhưng tôi không có thiếu ông sanh mạng.

    Phi miêu họ Trương nghe Lục Tổ Ðại sư nói với mình như thế, lại nữa đã chém ba nhát mà chém không đứt cổ Lục Tổ đã sợ hết hồn hết vía, ngất xỉu một hồi lâu mới tỉnh lại. Tỉnh lại, Phi miêu Hành Xương cầu xin sám hối:

    –Bạch Ðại sư con thật có lỗi với Ngài, con thật có tội!

    Lúc đó Lục Tổ Ðại sư nói chuyện với Hành Xương rất lâu, hỏi Hành Xương rằng:

    –Tại sao ông lại đến đây làm những việc như thế?

    Hành Xương trả lời:

    –Không phải con muốn giết Ngài mà là đồ đệ Thần Tú nói Ngài là kẻ xấu xa nhất, lúc trước làm ăn cướp, lại săn bắn, là người nghèo lên núi đốn củi, nay đến chỗ này mạo danh làm Tổ Sư, cho nên con nghe nói có người xấu ác như thế nhất định cần phải giết người đó đi. Nhưng nay gươm báu của con chém không đứt cổ của Ngài con mới biết họ đều sai lầm. Nếu Ðại sư không có đạo đức, bằng vào kiếm pháp của con nhanh như vậy làm sao chém không đứt đầu Ngài? Cho nên Ngài nhất định là vị cao Tăng có đức hạnh, con nay được gặp Thiện tri thức Ðại đức Cao Tăng, lại nữa con nhìn thấy cuộc đời này không có ý nghĩa gì cho nên con muốn theo Ðại sư xuất gia, bái Ngài làm Thầy.

    Lục Tổ Ðại sư đưa mười lượng vàng đã chuẩn bị sẵn cho Hành Xương nói:

    –Con nên nhanh chóng rời khỏi nơi này, đồ đệ của ta đều ái hộ thầy mình. Nếu biết con đến giết ta, họ nhất định sẽ giết con. Qua vài ngày khi con cải trang xong (tức kêu Hành Xương đến chỗ khác xuất gia làm Tăng, dùng thân phận người xuất gia đến gặp Lục Tổ), thầy nhất định sẽ nhiếp thọ và chỉ dạy con.

    Phi miêu họ Trương nghe Lục Tổ Ðại sư nói như thế, liền ngay trong đêm đó chạy trốn, giấu kín tên tuổi. Sau đó Hành Xương theo một vị Hòa Thượng xuất gia, tu học rất tinh tấn không giải đãi.



    Một ngày kia nhớ lời Ðại sư dạy, Hành Xương từ phương xa đến làm lễ ra mắt Ngài.

    Sư nói: "Ta có lòng nhớ ông đã lâu, sao ông tới muộn?"

    Bạch: "Ngày trước nhờ ơn Hòa Thượng tha tội, nay tuy xuất gia khổ hạnh, nhưng sau này ắt khó trả được cái ân đức ấy, chỉ mong Tổ Sư truyền pháp để độ chúng sanh mà thôi.

    Ðệ tử thường xem Kinh Niết Bàn mà chưa hiểu cái nghĩa Thường và Vô thường, xin Hòa Thượng từ bi lược giải cho."



    Giảng
    :

    Một ngày nọ Hành Xương nhớ lại lời Lục Tổ Ðại sư kêu mình thay đổi hình dáng mà đến thì sẽ nhiếp thọ, vì thế từ xa xôi đến Chùa Nam Hoa bái kiến Lục Tổ Ðại sư.

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Tôi mỗi ngày đều nhớ đến ông, sao ông đến trễ thế?

    Hành Xương trả lời:

    –Trước kia mông ơn Hòa Thượng không trách tội. Nay con tuy xuất gia tu khổ hạnh, nhưng vẫn cảm thấy khó báo đáp ân đức của Hòa Thượng, chỉ có một cách là truyền thừa Phật pháp, giáo hóa chúng sanh, chỉ có làm như thế mới có thể báo đáp được đại ân của Hòa Thượng. Ðệ tử thường xem Kinh Niết Bàn, nhưng không hiểu đạo lý thường và vô thường, khẩn cầu Hòa Thượng phát đại từ bi vì con mà giải thuyết.



    Sư nói: "Vô thường tức là Phật tánh. Hữu thường tức là cái tâm phân biệt cả thảy các pháp thiện ác vậy."

    Bạch: "Chỗ Hòa Thượng nói rất trái với kinh văn."

    Sư nói: "Ta truyền cái tâm ấn của Phật, đâu dám nói trái với kinh Phật!"

    Bạch: "Kinh nói Phật tánh là thường, Hòa Thượng nói là vô thường. Các pháp thiện ác cho đến cái tâm Bồ-đề đều là vô thường, Hòa Thượng lại nói thường. Mấy lời ấy trái nghịch nhau, khiến kẻ học (Ðạo) nầy thêm nghi hoặc."

    Sư nói: "Kinh Niết Bàn, xưa kia ta nghe Tỳ-kheo-ni Vô Tận Tạng đọc qua một biến, thì có giảng thuyết cho người nghe. Chỗ ta nói không có một chữ, một nghĩa nào mà chẳng hiệp với kinh văn. Nay ta giảng cho ông nghe, thì cũng nói toàn một nghĩa không hai."

    Bạch: "Kẻ học này, sức hiểu biết còn cạn tối, xin Hòa Thượng chỉ dạy châu đáo."

    Sư nói: "Ngươi biết chăng, nếu Phật tánh là thường, thì nói làm chi các pháp thiện ác, lại sao đến cùng kiếp, không có một người phát Bồ-đề tâm? Cho nên ta nói là vô thường, mà chính Phật nói là đạo Chơn-thường. Lại nếu các pháp là vô thường, tức vật vật đều có tự tánh, gồm chịu sự sống chết, mà cái tánh Chơn-thường có chỗ chẳng biến khắp (phổ biến). Cho nên ta nói là thường, mà đó chính là Phật nói cái nghĩa Chơn vô-thường vậy. Vì các người phàm phu ngoại đạo chấp nơi tà thường, các người trong hàng Nhị thừa đối với thường cho là vô thường, chỗ mê chấp của hai phái cộng thành tám điều trái ngược (điên đảo), cho nên trong giáo lý liễu nghĩa ở kinh Niết Bàn, Phật phá chỗ thiên kiến, mà nói rõ chỗ Chơn thường, Chơn lạc, Chơn ngã, Chơn tịnh.

    Ngươi nay y theo lời nói (của Phật) mà lại hiểu trái nghĩa. Ngươi nhận lấy sự vô thường đoạn diệt và định chắc cái thường cứng ngắt (tử thường) mà lầm hiểu lời nói mầu nhiệm viên diệu tối hậu của Phật. Như thế, dầu xem kinh đến ngàn biến, nào có ích gì?"



    Giảng
    :

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Phật tánh thì vô thường, hữu thường tức là tâm phân biệt tất cả thiện ác.

    Hành Xương cho rằng Lục Tổ Ðại sư giảng sai, cho nên nói:

    –Lời Hòa Thượng nói không phù hợp với kinh văn.

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Ta truyền pháp môn dùng tâm ấn tâm của Phật, ta làm sao dám trái ngược ý nghĩa kinh văn?

    Hành Xương nói:

    –Kinh Niết Bàn nói: Phật tánh là thường, Hòa Thượng lại nói Phật tánh là vô thường. Thiện ác chư pháp cho đến tâm Bồ đề đều là vô thường mà Hòa Thượng lại nói thường, đây hoàn toàn không tương hợp với đạo lý trong Kinh Niết Bàn. Hòa Thượng giảng như thế, khiến cho kẻ học nhân con càng thêm mê hoặc, lúc trước con chỉ có một cái nghi, nay con lại có hai cái nghi.

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Kinh Niết Bàn, ta lúc trước từng nghe Tỳ kheo ni Vô Tận Tạng tụng qua một biến, ta đã vì vị Tỳ kheo ni này giảng giải, không có một chữ, một nghĩa lý nào mà không khế hợp với đạo lý Kinh Niết Bàn. Cho đến hôm nay ta vì ông giảng cũng không có hai cách giảng, vẫn giống như lúc trước.

    Hành Xương nói:

    –Học nhân học thức mê mờ kém cỏi, cúi mong Hòa Thượng khai thị cho con.

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Ông biết không! Phật thuyết Phật tánh là thường là đối với những người chấp trước vô thường mà nói. Phật thuyết hữu thường là vì những người chấp trước vô thường mà nói. Nếu ông nói Phật tánh là thường, thì đâu có các pháp thiện ác gì để có thể nói? Phật tánh nếu thường thì tất cả chúng sanh đã sớm thành Phật, cần gì phải thuyết pháp độ họ? Tại sao cùng tận bao nhiêu đại kiếp, cũng không có ai chân chánh phát Bồ đề tâm? Nếu thường, thì ai cũng nên phát Bồ đề tâm, mọi người đều sớm thành Phật đạo, cho nên tôi mới nói: Phật tánh vô thường. Tại sao vậy? Nếu thường, tất cả chúng sanh đều không cần tu hành mà vẫn có thể thành Phật. Cho nên ta nói vô thường, đúng là phù hợp với đạo lý chân thường bất diệt của Phật thuyết, ông hiểu không?

    Lại nữa, nếu như tất cả vạn pháp đều vô thường, thì tất cả vạn loại đều có tự tánh, chúng nó đã có tự tánh, sao lại thọ sanh tử? Nếu mỗi vật đều có tánh chân thường, nó sẽ không phổ biến tồn tại ở bất cứ chỗ nào. Tôi nói với ông thường, chính là Phật nói cái nghĩa chân vô thường. Muốn giảng thường và vô thường, đây đều không phải là Phật tánh, vì Phật tánh không phải thường, không phải vô thường, đó mới là trung đạo liễu nghĩa. Tại sao nay Lục Tổ Ðại sư nói: "Phật tánh là vô thường, tất cả tâm phân biệt thiện ác chư pháp là hữu thường."? Bởi đây đều là đối trị chấp trước. Phật pháp dùng để đối trị tất cả chấp trước của chúng sanh. Nếu quý vị đem chấp trước này phá đi, thì không cần đến Phật pháp. Phật pháp không phải thường, không phải vô thường. Lục Tổ Ðại sư đối cơ thuyết pháp, đối với Trương Hành Xương cần phải nói pháp này, chớ không phải đối với mọi người đều thuyết như thế. Lục Tổ Ðại sư nói với Hành Xương, phàm phu ngoại đạo chấp trước tà thường, nhị thừa Thinh văn, Duyên giác nơi thường lại cho là vô thường, cộng thành tám loại điên đảo. Vốn là bốn loại điên đảo, chỉ vì tư tưởng con người không giống nhau, thân phận không giống nhau, hai loại căn tánh người cộng thành tám loại điên đảo. Phàm phu lấy khổ làm lạc, không phải thường lại cho là thường, không phải tịnh cho là tịnh, không phải ngã lại cho là ngã. Tất cả đạo lý đều do người mà luận, quý vị nói nó thường cũng được, quý vị nói nó không thường cũng được. Nhưng phàm phu nói không phải thường tức là thường, không phải lạc cho là lạc, không phải ngã họ lại chỉ là ngã, không phải tịnh họ cho là tịnh, đây là bốn loại điên đảo của phàm phu.

    Bốn loại điên đảo của Nhị thừa: lạc, thì họ cho là khổ; thường, nói là không thường; ngã, nói vô ngã; tịnh, nói bất tịnh. Cho nên hợp lại thành ra tám loại điên đảo.

    Cho nên Phật ở trong Kinh Niết Bàn liễu nghĩa giáo, thuộc về vị đề hồ viên diệu. Nó phá biên kiến của phàm phu và nhị thừa và minh hiển nói ra đạo lý cái gì là chân thường, chân lạc, chân ngã, chân tịnh. Ông nay y theo lời Phật nói mà ngược lại giáo nghĩa Phật thuyết. Ông lấy sự vô thường đoạn diệt và cái thường cứng ngắt, dùng tri kiến phàm phu giải thích sai lầm giáo lý tối vi diệu, tối viên mãn do Ðức Phật thuyết ra. Dù ông xem kinh Niết Bàn một ngàn lần có lợi ích gì đâu?



    Hành Xương, hốt nhiên đại ngộ, liền nói kệ rằng:

    Vì giữ tâm vô thường,

    Phật nói có tánh thường.

    Không biết được phương tiện,

    Như ao xuân lượm sỏi.

    Tôi nay công chẳng dụng,

    Mà Phật tánh hiện tiền.

    Không phải Thầy trao cho,

    Tôi cũng không sở đắc.

    Ðại sư lại nói: "Ngươi nay đã suốt thấu, nên đặt tên là Chí Triệt."

    Chí Triệt làm lễ tạ ơn, rồi lui ra.



    Giảng
    :

    Hành Xương nghe Lục Tổ Ðại sư thuyết như thế, hốt nhiên khai ngộ, vì thế cũng nói ra một bài kệ tụng:

    –Vì con chấp thủ tâm vô thường, mà Phật nói đây là tánh hữu thường, con không hiểu lời Phật nói là pháp phương tiện, đó giống như trong hồ nước mùa xuân nhặt lên hòn đá nhỏ, có ích dụng gì đâu! Nhưng nay con không có dụng công phu gì, chỉ phản bổn hoàn nguyên trở về quê hương của mình. Phật tánh viên mãn hiện tiền, lập tức minh tâm kiến tánh khai ngộ. Khai ngộ của con không phải Tổ Sư dạy bảo truyền trao cho con. Con tuy đã khai ngộ, nhưng không có một chút sở đắc, đây là trí huệ vốn có của con, cho nên một pháp cũng không đắc.

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Ông nay đã khai ngộ. (Ðây là Lục Tổ Ðại sư ấn chứng cho Hành Xương). Ta nay đổi tên cho ông là Chí Triệt được không? Ông thích tên này không?

    Chí triệt nói:

    –Tên này thật hay, con tạ ơn Tổ Sư.

    Rồi khấu đầu đảnh lễ lui về một bên.



    Có một gã đồng tử tên là Thần Hội, con nhà họ Cao, ở huyện Tuyên Dương, mười ba tuổi, từ chùa Ngọc Tuyền đến làm lễ Ðại sư.

    Sư hỏi: "Thiện tri thức ở phương xa đến, thật là khó nhọc mà có đem đặng cái gốc đến chăng? Nếu có gốc thì phải biết ông Chủ. Hãy nói thử ta nghe."

    Thần Hội bạch: "Lấy không trụ làm gốc, thấy tức là Chủ."

    Sư nói: "Gã Sa-di này tranh chỗ đối chiếu mà nói bướng."

    Thần Hội bèn hỏi: "Hòa Thượng ngồi thiền, thấy hay chẳng thấy?"

    Sư lấy gậy đánh (Thần Hội) ba gậy mà hỏi rằng: "Ta đánh ngươi đau hay chẳng đau?"

    Ðáp: "Cũng đau mà cũng chẳng đau."

    Sư nói: "Ta cũng thấy mà cũng chẳng thấy."

    Thần Hội hỏi: "Cũng thấy mà cũng chẳng thấy, nghĩa là sao?"

    Sư nói: "Ta thấy là thường thấy tội lỗi của tâm mình, mà chẳng thấy các điều phải quấy, tốt xấu, của người. Bởi vậy cũng thấy mà cũng chẳng thấy. Ngươi nói cũng đau mà cũng chẳng đau, nghĩa là sao? Nếu ngươi chẳng biết đau, thì đồng với loài cây đá, còn biết đau thì đồng với kẻ phàm phu, liền sanh giận hờn. Cứ như chỗ ngươi hỏi trước: Thấy hay chẳng thấy là chấp hai bên. Chỗ ngươi nói: Cũng đau mà cũng chẳng đau, ấy là còn sanh diệt. Cái tự tánh của ngươi mà ngươi chẳng thấy, sao dám đùa cợt người?"

    Thần Hội lạy và ăn năn xin lỗi.



    Giảng
    :

    Có một đồng tử, đồng tử này không phải đứa trẻ tầm thường, là đồng tử vì pháp quên thân, vì pháp không từ nặng nhọc khổ cực, tên là Thần Hội, là con của một người họ Cao tại Tương Dương Hồ Bắc, mười ba tuổi từ chùa Ngọc Tuyền của Thần Tú Ðại sư ở Hà Bắc xa xôi đến tham bái đảnh lễ Lục Tổ Ðại sư. Ðồng tử này tuy nhỏ, nhưng ôm chí lớn, tâm lượng quảng đại. Thần Hội ở chỗ Thần Tú Ðại sư, vừa nhìn liền biết Thần Tú Ðại sư chưa chân chánh hiểu rõ Phật pháp. Cho nên đi đến Quảng Ðông, có hơn một hai ngàn dặm đường. Thần Hội đi đường, hai chân sưng phồng, thậm chí để chân không mà đi, da thịt bị đá gạch đâm chảy máu, cho nên dùng y phục bao chân, rồi tiếp tục đi, đi cả mấy ngàn dặm đường, mà xem như không có việc gì xảy ra; cho nên khi gặp Lục Tổ Ðại sư, Lục Tổ thấy Thần Hội, một đứa bé y phục rách nát, chân sướt máu chảy, cực khổ như thế. Thần Hội khấu đầu đảnh lễ Lục Tổ Ðại sư, Lục Tổ hỏi:

    –Thiện tri thức! (Lục Tổ Ðại sư đối với một đứa bé cũng gọi là Thiện tri thức). Con từ xa xôi đến đây, đi đường quá vất vả, quá gian nan, con đã nhận thức được bổn lai diện mục chưa? Nếu con đã thấy được bổn lai diện mục, minh tâm kiến tánh, thì con nên nhận biết ông chủ – tức Phật tánh, nay con thử nói xem!

    Ðồng tử này rất nghịch ngợm, cho nên chú ta nói:

    –Con lấy vô sở trụ là bổn lai diện mục của con, mà kiến tánh của con chính là ông chủ.

    Lục Tổ Ðại sư nghe Thần Hội nói như thế liền giáo huấn:

    –Chú Sa-di này! Chú chỉ biết học lời nói của người ta, thật là lỗ mãng, không biết mà cho là biết, không rõ mà cho là rõ, không thấy mà cho là thấy, chính là học khẩu đầu thiền của người. Chú chỉ học những lời dư thừa của người, người ta nói xong chú lại nói, mà không phải từ trong tự tánh của chú phát xuất ra, đây gọi là thủ thứ ngữ (giữ chấp lời của người).

    Thần Hội gan không phải nhỏ, chú dám cùng Lục Tổ tranh biện:

    –Bạch Hòa Thượng! Lúc Ngài ngồi thiền thấy hay không thấy?

    Quý vị xem chú dám hỏi ngược lại Lục Tổ Ðại sư, chú đồng tử này thật nghịch ngợm không dễ giáo hóa. Chú hỏi thấy không thấy như thế, Lục Tổ Ðại sư là vị Tổ Sư, đương nhiên không thể chấp vào những lời nói của chú, liền cầm gậy đánh cho ba gậy, hỏi:

    –Ta đánh chú, chú có đau hay không?

    Không biết Thần Hội lúc đó có sợ hay không. Bị Lục Tổ Ðại sư đánh cho ba gậy không biết có khóc hay không nữa?

    Thần Hội trả lời:

    –Con cũng đau cũng không đau.

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Chú hỏi ta ngồi thiền thấy hay không. Ta cũng thấy cũng không thấy.

    Thần Hội lại hỏi:

    –Cái gì gọi là cũng thấy cũng không thấy?

    Lục Tổ trả lời:

    –Cái gì là thấy? Ta thường thấy vọng tưởng trong tâm mình. Lúc có vọng tưởng, liền lập tức đình chỉ nó. Cái gì gọi không thấy? Ta không thấy thị phi tốt xấu của người khác. Quý vị học Phật pháp đều phải chú ý chỗ này, nên cũng thấy cũng không thấy, nên thấy lỗi lầm của mình, không nên thấy lỗi lầm của người khác. Cái gì là: "Nó không tốt, nó không đúng, oan nghiệt của nó, tội của nó." Quý vị không nên canh cửa cho người khác, giống như chó giữ nhà. Mình cái gì cũng không có, mà chỉ canh cửa cho người khác.

    Không nói thị phi xấu tốt của người, cho nên ta nói cũng thấy cũng không thấy. Chú nói cũng đau cũng không đau, giải thích như thế nào? Ta đánh chú nếu chú không đau thì giống như cây cỏ đá gạch. Nếu chú đau thì giống như phàm phu, chưa được khai ngộ. Chú đau thì sanh phiền não sân hận, nổi nóng giống như lửa. Chú hỏi thấy và không thấy, đó là đạo lý hai bên (nhị biên). Ta hỏi chú đau hay không đau là pháp sanh diệt. Chú vẫn chưa nhận biết được kiến tánh của mình! Lại lớn gan dám lại trêu chọc người, cùng người tranh biện.

    Thần Hội nghe xong liền biết đạo lý mình nói ra không cứu cánh, không viên mãn, cho nên khấu đầu đảnh lễ, sám hối nhận tội.



    Sư nói: "Nếu ngươi vì tâm mê, chẳng thấy tánh mình, thì hỏi bực Thiện tri thức mà tìm đường Chánh giác. Còn nếu ngươi tỏ sáng, tự thấy tánh mình, thì y theo pháp mà tu hành. Ngươi tự mê, chẳng thấy tâm mình, trở lại hỏi ta thấy cùng chẳng thấy. Ta thấy, tự ta biết, há thế cái mê của ngươi được sao? Còn nếu ngươi tự thấy cũng chẳng thế cái mê của ta được. Sao chẳng tự biết tự thấy (tâm tánh của mình), lại hỏi ta thấy cùng chẳng thấy?"

    Thần Hội làm lễ một lần nữa, lạy Tổ Sư hơn trăm lạy, xin tha tội lỗi, lại cần mẫn theo hầu hạ Lục Tổ chẳng rời.



    Giảng
    :

    Nếu như tâm chú không hiểu rõ, chưa kiến tánh, chú nên thỉnh giáo nơi Thiện tri thức cách thức tu hành, cách thức dụng công, nếu như đã khai ngộ có thể nhận biết được Bổn tâm, kiến tự Bổn tánh, thì nên y pháp tu hành. Chú nay tự mình mê lầm không biết Bổn tâm của mình, chú lại hỏi ta thấy và không thấy? Ta kiến tánh hay không kiến tánh, tự ta biết, ta làm sao có thể thay thế sự mê lầm của chú. Cái mê của chú, ta thế không được! Nếu chú tự kiến tánh, chú cũng không thay thế được cái mê của ta. Tại sao chú không tự mình hồi quang phản chiếu, tự biết mình thấy hay không thấy? Nay chú giong ruổi bên ngoài tìm cầu, cùng ta đấu cơ phong, hỏi ta thấy hay không thấy, ta thấy hay không thấy có quan hệ gì đến chú?

    Thần Hội nghe xong biết mình thật sai lầm, sao dám lớn gan như thế! Không tự lượng sức mình! Cho nên nói: "Trước cửa thánh nhân bán Bách Tánh," đến trước cửa của Khổng Phu Tử rao bán sách Bách Gia Tánh, nói sách của tôi là có giá trị nhất, các ông có ai mua không? Có câu: "Ban môn lộng phủ," múa búa trước Lỗ Ban. Thần Hội sám hối, đảnh lễ hơn trăm lạy:

    –Kính mong Ðại sư tha thứ cho con, con đã sai lầm. Con là đứa trẻ còn khờ khạo, không biết trời cao đất dầy.

    Sau khi trước mặt Ðại sư nhận tội, Thần Hội bèn ở lại làm công quả. Tất cả những công việc nặng nhẹ gì Thần Hội đều làm hết, ngày ngày theo Lục Tổ Ðại sư nghe kinh thính pháp, làm thị giả cho Lục Tổ. Trong những môn đồ của Lục Tổ Ðại sư, Thần Hội tuổi nhỏ nhất, mà cũng nghịch ngợm nhất.



    Một ngày kia Ðại sư bảo đồ chúng rằng: "Ta có một vật không đầu không đuôi, không tên không chữ, không lưng không mặt, các ông biết chăng?"

    Thần Hội bước ra bạch rằng: "Ấy là cái bổn nguyên của chư Phật, là cái Phật tánh của Thần Hội."

    Sư nói: "Ta đã nói với ngươi, vật không tên không chữ, ngươi lại kêu là Bổn nguyên, là Phật tánh! Hãy đi lấy cỏ tranh che đầu, ngươi chỉ có thể thành một tông đồ tri giải mà thôi."

    Sau khi Tổ Sư tịch rồi, Thần Hội vào thành Lạc Dương mở rộng môn Ðốn giáo Tào Khê làm sách Hiển Tông Ký, truyền bá ở thế gian rất thạnh hành. Người đời tôn xưng là Hà Trạch Thiền sư.



    Giảng
    :

    Một ngày nọ Lục Tổ Ðại sư nói với đại chúng:

    –Tôi có một vật, các ông đoán coi là cái gì? Nó không có đầu cũng không có đuôi, không có danh cũng không có tự. (Giống như An Từ là tên của tôi, Ðộ Luân là tự của tôi, Tuyên Hóa là pháp danh). Không có lưng cũng không có mặt, các ông có biết vật này không?

    Mọi người đều im lặng không có lời đáp, bất luận có biết hay không biết, đều không lên tiếng. Mà chú bé Thần Hội này khi thấy mọi người không lên tiếng bèn chạy ra nói:

    –Vật này con biết, đó là bổn nguyên của Chư Phật, Phật tánh của Thần Hội.

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Tôi đã nói với chú rồi! Nó không có danh cũng không có tự. Tại sao chú lại kêu nó là Bổn nguyên, là Phật tánh? Chú đến bên kia lấy cỏ tranh che đầu cho xong. Chú là đứa bé, chỉ có thể trở thành một môn đồ có tri giải thiền tông, chú chưa có chân chánh hiểu rõ.

    Tuy là một trận la rầy, nhưng sự thật đó là ấn chứng. Nói chú là tri giải tông đồ, giai đoạn này cũng đã rất khó làm được.

    Sau khi Lục Tổ Ðại sư viên tịch nhập Niết Bàn, Thần Hội liền đến kinh thành Lạc Dương, phát dương rộng lớn đốn giáo Tào Khê, trước tác Hiển Tông Ký – thuyết minh hai tông Nam Bắc, thuyết minh Nam tông Lục Tổ Ðại sư là Tổ Sư chân chánh, mà Bắc tông Thần Tú Ðại sư là Tổ Sư giả vì không được truyền pháp tâm ấn, cho nên Thần Tú là Tổ Sư ngụy tạo. Sách này lưu thông rộng rãi, thạnh hành ở đời. Nếu không phải Ðại sư Thần Hội trước tác Hiển Tông Ký, sợ rằng đồ đảng của Thần Tú sẽ đoạt đi danh hiệu của Lục Tổ Ðại sư, nhưng vì có "Hiển Tông Ký," nên Thần Tú không dám giả mạo nữa. Pháp sư Thần Hội còn có biệt hiệu là Hà Trạch Thiền Sư, Hà Trạch là nơi Ngài cư trú.



    Ðại sư thấy môn đồ các phái nạn vấn Ngài, đều khởi tâm ác, bọn họ đa số nhóm tập dưới tòa của Sư. Ngài động lòng thương mà bảo rằng: "Người học Ðạo, thì cả thảy niệm thiện niệm ác đều phải bỏ hết. Không tên có thể gọi, ấy là gọi là tự tánh. Cái tánh không hai, ấy gọi là Thực tánh. Do nơi Thực tánh mà lập ra cả thảy giáo môn. Vậy ngay lời này liền phải tự thấy."

    Mọi người nghe nói, cả thảy đều làm lễ, xin thờ Ðại sư làm thầy.



    Giảng
    :

    Lúc đó không chỉ đồ đảng của Thần Tú muốn sát hại Lục Tổ Ðại sư mà các tông phái khác như Duy thức tông, Pháp Hoa tông, trưởng lão của các tông đều phái người đến khảo nghiệm Ngài, người này đưa ra vấn đề khó để hỏi, chỗ kia cũng đưa ra vấn đề khó khăn để thử thách, như có người hỏi:

    –Phật trước Pháp sau hay là Pháp trước Phật sau, Phật pháp từ đâu sanh ra?

    Lục Tổ Ðại sư trả lời:

    –Ông có thể thuyết pháp đó là Phật trước Pháp sau. Nếu ông có thể nghe pháp, đó là Pháp trước Phật sau. Phật pháp từ trong chúng sanh sanh ra.

    Họ vấn nạn nhiều câu, Lục Tổ Ðại sư đều trả lời cho họ, nhưng nhìn thấy tình hình có nhiều phiền phức như thế. Những người đến vấn nạn đều khởi ác tâm đối với Lục Tổ Ðại sư – đều muốn giết Ngài hoặc đầu độc Ngài. Quý vị xem, làm một vị Tổ Sư thì có nhiều người phản đối Ngài như thế. Những kẻ ác này – gián điệp, đều đến đây ở, tụ tập trong môn hạ của Ngài, như thế để dễ ám hại Ngài.

    Lục Tổ Ðại sư nhìn thấy tình hình như thế, liền sanh lòng thương xót, nói với đại chúng:

    –Chúng ta là người tu đạo, không nên có niệm ác niệm thiện, cần nên đoạn trừ đừng để sót, không cho tồn tại, ngay một danh tướng cũng không có, cái này gọi là tự tánh. Tự tánh chính là bất nhị, tánh bất nhị cũng chính là Thực tánh, cũng gọi Thực tướng. Trên Thực tướng mới có thể thành lập tất cả giáo môn, Thực tướng không phải ở miệng nói mà thôi, tôi nay đang nói Thực tướng này, các ông lập tức chứng đắc lý thể của Thực tướng này, như thế mới được.

    Tất cả người xuất gia nghe nói ngay cái niệm thiện ác cũng không còn mà họ đến đây với ý đồ sát hại Lục Tổ hoặc làm đặc vụ tình báo, đây đều là niệm thiện ác. Nghe Lục Tổ Ðại sư giảng như thế, họ được tỏ thấu, cho nên đều khấu đầu đảnh lễ:

    –Chúng con xin sửa đổi lỗi lầm, cải hóa tự tân, từ đây hoàn toàn thành con người mới, chúng con xin kính bái Ðại sư làm Sư phụ chúng con.



  • Lòng Trắc Ẩn

    November 24th 2012, 5:15 pm
  • Phẩm Tuyên Chiếu Ðệ Cửu




    Niên hiệu Thần Long năm đầu, vào ngày rằm Thượng ngươn, Tắc Thiên Hoàng Thái Hậu và Trung Tông Hoàng Ðế ra lời chiếu rằng:

    "Trẫm thỉnh An, Tú nhị vị Ðại sư vào cung đặng cúng dường, mỗi khi rảnh việc thì nghiên cứu về Nhất thừa. Nhưng hai Sư đều nhượng rằng: ‘Ở phương Nam có Huệ Năng Thiền sư được mật thọ y pháp của Hoằng Nhẫn Ðại sư. Ấy là người truyền tâm ấn của Phật. Vậy nên thỉnh người mà hỏi Ðạo.’ Nay sai nội thị là Tiết Giản mang chiếu nghinh thỉnh, xin Tổ Sư từ bi niệm tình mau đến Kinh-đô."



    Giảng
    :

    Thần Long là niên hiệu của Ðường Trung Tông, thượng nguyên nhựt tức là tiết nguyên tiêu ngày mười lăm tháng giêng. Ngày mười lăm tháng bảy gọi là Trung nguyên nhựt. Võõ Tắc Thiên là nữ Hoàng đế đời Ðường, rất sùng tín và ủng hộ Phật giáo, nhưng vị nữ Hoàng đế này không có giữ gìn quy củ, bất cứ việc gì bà cũng dám làm, nhưng bà lại có lòng tin đối với Phật giáo vì thế bà đều thỉnh các Ðại đức Cao Tăng đương thời vào hoàng cung cúng dường.

    Trung Tông là con của Võ Tắc Thiên, lên ngôi không bao năm, Võõ Tắc Thiên liền biếm chức cho làm Lỗ Lăng Vương, và tự mình tức vị, lên làm Hoàng đế. Bà hạ chiếu thư, viết:

    –Trẫm đã cung thỉnh Huệ An Thiền sư ở Tung Nhạc và Bắc Tông Thần Tú Ðại sư vào hoàng cung cúng dường. Sau khi xử lý muôn ngàn việc quốc sự nặng nề, giờ rảnh ra trẫm thường nghiên cứu pháp môn đốn giáo. Nhưng hai vị Pháp sư này đều nhường nói: "Ðạo đức của chúng tôi không bằng Ðại sư Huệ Năng ở Quảng Ðông Nam phương. Huệ Năng Ðại sư là người mật thọ y bát của Ngũ Tổ Ðại sư Hoằng Nhẫn, là người kế thừa chân chánh Pháp môn truyền Phật tâm ấn, vì vậy nên mời Huệ Năng Ðại sư đến học hỏi." Và vì thế mà nay trẫm phái nội thị trong cung (tức Thái giám trong cung), tên gọi Tiết Giản, mang chiếu thư của Hoàng đế đến cung thỉnh Ðại sư. Kính mong Ðại sư thương xót chúng sanh mau chóng đến Kinh đô – Trường An.



    Sư dâng sớ cáo bịnh xin từ, nguyện trọn đời ở chốn rừng non.

    Tiết Giản bạch: "Ở Kinh-thành các vị Thiền đức đều nói rằng: Muốn đặng tâm ngộ Ðại Ðạo tất phải ngồi thiền tập định. Nếu chẳng nhờ thiền định mà đặng giải thoát, thì điều ấy chưa từng có, chẳng biết lời dạy của Tổ Sư như thế nào?"



    Giảng
    :

    Lục Tổ Ðại sư viết một biểu chương, cũng chính là thư trả lời: "Tôi nhiều bệnh." Kỳ thực Lục Tổ Ðại sư không có bệnh, đây chỉ là nói lời phương tiện, không phải nói lời vọng ngữ, tại sao vậy? Vì Lục Tổ Ðại sư không muốn yết kiến Hoàng đế, nhất là không muốn yết kiến nữ Hoàng đế, huống chi bà lại không có chú ý đến việc quy củ, lại không giữ gìn giới luật, cho nên không vui gặp bà. Nhưng Lục Tổ không thể nói: "Bà là nữ Hoàng đế, tôi là Tổ Sư, tôi không cần phải yết kiến nữ Hoàng đế," cho nên cáo bịnh, thoái thác nói: "Tôi đã lớn tuổi, lại có nhiều bệnh, tôi nguyện suốt đời ở nơi rừng núi."

    Ðây là phẩm thứ chín, trong bổn chú thích của Ðinh Phúc Bảo nói: Ðây là Phẩm Hộ Pháp, là điều sai lầm, nên là "Phẩm Tuyên Chiếu." Tuyên tức là Hoàng đế thỉnh Lục Tổ Ðại sư vào hoàng cung cúng dường, Chiếu tức là chiếu thư; tuyên đọc chiếu thư của Hoàng đế thỉnh Lục Tổ Ðại sư đến Kinh đô, không thể gọi là Phẩm Hộ Pháp.

    Tiết Giản nói:

    –Các vị Ðại đức ở Kinh Thành đều nói như thế này, nếu hành giả muốn hiểu rõ đạo pháp cần phải tọa thiền, tu tập định lực. Nếu không phải do thiền định mà được giải thoát, đây là điều không bao giờ có. Con không biết Tổ Sư Ngài thuyết pháp như thế nào?



    Ðại sư nói: "Ðạo do tâm mà ngộ, đâu phải do ngồi. Kinh nói: ‘Nếu nói Như Lai hoặc nằm hoặc ngồi là hành tà đạo. Bởi cớ sao? Không từ chỗ nào mà lại, cũng không từ chỗ nào mà đi.’ Không sanh không diệt là tánh Như Lai thanh tịnh thiền. Các pháp đều vắng lặng trống không là tánh Như Lai thanh tịnh tọa. Thế là cứu cánh không chứng đắc, hà huống là ngồi!"



    Giảng
    :

    Lục Tổ Ðại sư tuy không biết chữ, nhưng những lời Ngài giảng ra, người tầm thường khó có thể ngộ đến. Ngài nói:

    –Ðạo là từ trong tâm ngộ, sao có thể chỉ là ngồi? Chỉ ngồi thì không thể được. Hiểu rõ, khai ngộ đạo lý Phật pháp, gọi là "giải." Ngồi là hành, nếu chỉ hành mà không giải, đó là ngu si. Nếu chỉ giải mà không hành, đó là khẩu đầu thiền. Cho nên hiểu rõ xong, thân cần phải nỗ lực thực hành, chớ không phải suốt ngày ngồi hoài, ngồi mấy chục năm, một chút đạo lý cũng không hiểu, tâm mình cũng không thể khai ngộ.

    Kinh Kim Cang nói: "Nếu có người nói Như Lai, như đến, như đi, như ngồi, như nằm, thì người này không hiểu nghĩa của Ta nói. Tại sao vậy? Như Lai là vô sở tùng lai cũng vô sở khứ, cho nên gọi là Như Lai." Nếu nói Phật là ngồi hoài hoặc nằm hoài, đó là bàng môn ngoại đạo. Tại sao vậy? Vì Phật là vô sở tùng lai, cũng là vô sở khứ, Ngài cũng không sanh cũng không diệt, đó mới là Như Lai thanh tịnh thiền. Tất cả pháp vốn không tịch, đây là Như Lai thanh tịnh tọa. Cứu cánh thì không có chỗ chứng đắc, sao lại muốn ông ngồi hoài? Thường ngồi hoài cũng là một loại chấp trước.



    Tiết Giản bạch: "Ðệ tử về kinh, Chúa-thượng ắt hỏi. Xin Tổ Sư từ bi dạy chỗ yếu chỉ về tâm tánh, đặng truyền tấu lại lưỡng cung (Thái hậu và vua) cùng các vị học Ðạo trong Kinh thành. Tỷ như một ngọn đèn mồi ra trăm ngàn ngọn, các chỗ tối đều sáng, sáng sáng không cùng."

    Sư nói: "Ðạo không sáng tối, sáng tối là cái nghĩa thay thế. Sáng sáng không cùng, cũng là có cùng. Hai cái tối sáng đối đãi nhau mà lập ra cái tên, cho nên kinh Tịnh Danh nói: ‘Pháp không có chi sánh, không có gì tương đối được.’"



    Giảng
    :

    Tiết Giản nói:

    –Khi đệ tử hồi kinh, Hoàng đế nhất định hỏi đệ tử, kính mong Ðại sư phát đại từ bi, chỉ thị đạo lý quan trọng dùng tâm ấn tâm, khiến con trở về bẩm cáo Hoàng đế, và để cho những người học đạo trong Kinh thành đều biết. Giống như một ngọn đèn có thể châm mồi trăm ngàn ngọn đèn, khiến cho chỗ hắc ám cũng được quang minh, khiến cho ánh sáng quang minh không cùng không tận.

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Bổn thể của Ðạo, cũng chính là bổn thể của tánh, không có minh, cũng không có ám, minh ám chỉ là ý nghĩa đối đãi. Minh đến thì ám đi, ám đến thì minh đi, minh thay thế cho cái ám này, ám thay thế cho cái minh này. Ông nghe nói "Minh minh vô tận," đó cũng là hữu tận. Tại sao vậy? Vì nó là pháp đối đãi, minh đối với ám, có đối đãi thì có hữu tận. Cho nên Kinh Duy Ma Cật nói: "Pháp thì không thể so sánh, nó là tuyệt đãi mà không phải tương đãi, là tuyệt đối mà không phải tương đối."



    Tiết Giản bạch: "Sáng tỷ như trí huệ, tối tỷ như phiền não. Người tu hành nếu như không lấy trí huệ mà chiếu phá phiền não, thì nhờ đâu mà ra khỏi chỗ vô thủy sanh tử?"

    Sư nói: "Phiền não tức là Bồ-đề, chẳng phải hai và chẳng phải khác nhau. Lấy trí huệ mà chiếu phá phiền não, là chỗ thấy hiểu của hàng Nhị thừa, là cái căn cơ của xe nai, xe dê. Bực đại trí thượng căn chẳng phải làm như vậy."



    Giảng
    :

    Tiết Giản nói:

    –Minh là ví dụ cho trí huệ, ám ví dụ cho phiền não. Tất cả người học đạo, nếu không dùng trí huệ phá tan tất cả phiền não, thì sanh tử từ vô thủy kiếp cho đến hôm nay nương vào cái gì mà có thể xuất ly?

    Lục Tổ Ðại sư trả lời:

    –Phiền não tức là Bồ đề giác tánh, ông không nên đem phiền não và Bồ đề phân chia làm hai thứ, chúng nó thì không có sai khác. Nếu ông muốn dùng trí huệ chiếu tan phiền não, đây là kiến giải của Nhị thừa – Thinh văn, Duyên giác, không phải là nhứt Phật thừa của Ðại thừa. Thinh văn Duyên giác giống như cơ duyên của xe dê, xe nai, mà trí huệ tối thượng thừa và chúng sanh căn tánh tối thượng, phương pháp tu hành của họ hoàn toàn không phải như thế.



    Tiết Giản bạch: "Chỗ thấy hiểu của bực Ðại thừa như thế nào?"

    Sư nói: "Sáng và không sáng, người phàm thấy có hai, còn người trí rõ thông, thấy cái tánh sáng và không sáng chẳng phải là hai. Cái tánh không hai chính là Thật tánh. Cái Thật tánh ở nơi phàm phu mà chẳng bớt, ở nơi Hiền Thánh mà chẳng thêm, ở nơi phiền não mà chẳng rối, ở nơi cảnh thiền định mà không lặng, chẳng đoạn chẳng thường, chẳng lại chẳng đi, chẳng phải ở giữa, ở trong hay ở ngoài, chẳng sanh chẳng diệt; tánh và tướng đều như như, thường trụ, không dời đổi. Cho nên gọi cái Thật tánh là Ðạo."



    Giảng
    :

    Tiết Giản nói:

    –Cái gì là kiến giải Ðại thừa?

    Lục Tổ Ðại sư trả lời:

    –Minh và vô minh, kẻ phàm phu xem đó là hai loại khác nhau, nhưng người có trí huệ thì hiểu rõ tánh của nó không có hai thứ, là tánh vô nhị, đó là Thực tánh. Cái gì gọi là Thực tánh? Chính là trong chúng sanh ngu muội, nó không giảm; trên địa vị người thánh nhân, nó cũng không tăng. Trong cảnh giới phiền não nó không loạn, lúc thiền định nó cũng không có tịch tĩnh. Nó là cũng động cũng tịnh, cũng tịnh cũng động, không đoạn cũng không thường, không đến cũng không đi, không ở chính giữa, không ở bên trong, không ở bên ngoài, không sanh không diệt, tánh cũng như như, tướng cũng như như, tánh tướng đều là nhứt thể. Nó là thường trụ không động, vì thế đặt tên cho nó là "Ðạo."



    Tiết Giản bạch: "Ðại sư nói cái lý chẳng sanh chẳng diệt, trong đó có chỗ nào khác với cái thuyết của ngoại đạo chăng?"

    Sư nói: "Cái sở thuyết của ngoại đạo nói rằng chẳng sanh chẳng diệt, là đem cái diệt dứt cái sanh, lấy cái sanh mà bày rõ cái diệt, nhưng diệt mà cũng như chẳng diệt, sanh mà nói chẳng sanh. Còn ta nói chẳng sanh chẳng diệt, nghĩa là cái tánh Bổn-lai vốn tự không sanh, nay cũng chẳng diệt, cho nên cái thuyết sanh diệt của ta chẳng giống với cái thuyết sanh diệt của ngoại đạo. Ông muốn biết chỗ yếu chỉ của tâm, thì đừng suy tính đến cả thảy các điều thiện ác. Như thế, tự nhiên đặng vào cái tâm thể trong sạch, phẳng bằng vắng lặng, diệu dụng vô cùng."



    Giảng
    :

    Tiết Giản hỏi:

    –Ðại sư thuyết bất sanh bất diệt, cùng với ngoại đạo nói ra đâu cái gì sai khác?

    Lục Tổ Ðại sư trả lời:

    –Ngoại đạo nói bất sanh bất diệt, diệt rồi thì không sanh, đình chỉ cái sanh, lấy sanh để hiển diệt, cho nên nói sanh diệt là hai thứ. Tuy nói nó diệt, nhưng không phải chân diệt. Tuy tiếp tục sanh, nhưng nói không sanh. Còn tôi nói bất sanh bất diệt, là bổn lai nó không có sanh, cho nên nay nó cũng không có diệt; vì vậy, tôi nói bất sanh bất diệt thì không giống với lời nói của ngoại đạo. Ông muốn biết tánh quan trọng của tâm địa pháp môn, truyền tâm diệu pháp thì không nên suy tính nghĩ tưởng tất cả thiện và tất cả ác, lúc đó ông tự nhiên sẽ hiểu rõ đạo lý này, mà đắc nhập tâm thể thanh tịnh vốn có – nó là vĩnh viễn trạm nhiên thanh tịnh, mà không phải tạm thời thanh tịnh. Tuy nó là trạm nhiên thường tịch, nhưng trong Chân không của nó có Diệu hữu, công dụng vi diệu của nó còn nhiều hơn hằng hà sa số.



    Tiết Giản nhờ Ðại sư chỉ dạy, hoát nhiên đại ngộ, làm lễ từ giả về kinh đô, dâng biểu các lời Ðại sư giảng dạy.

    Ngày mồng ba tháng chín năm ấy, có lời chiếu dụ rằng:

    "Ðại sư đã cáo từ bởi già bịnh, vậy hãy vì trẫm mà hành đạo, để tạo phước điền cho nước nhà. Ðại sư cũng như Ngài Duy Ma Cật, mặc dầu bịnh hoạn cũng ở lại Tỳ-da-ly mà xiển dương môn Ðại thừa, truyền tâm ấn của chư Phật và tuyên bày pháp bất nhị.

    Tiết Giản có truyền lại chỗ Ðại sư chỉ dạy về cái tri kiến Phật. Trẫm nhờ chứa điều lành, có phước dư và kiếp trước đã có trồng cội lành nên nay khiến có Ðại sư ra đời, mà đặng liền hiểu rõ pháp thượng thừa. Trẫm rất cảm đội ơn Ðại sư, chẳng bao giờ quên. Trẫm xin dâng cho Ðại sư một cái áo Cà-sa và một cái bát bằng thủy tinh.

    Trẫm ra lịnh cho quan Thứ sử ở Thiều Châu sửa san miếu tự, và sắc tứ cho chùa cũ của Ðại sư ở, hiệu là Quốc Ân Tự."



    Giảng
    :

    Tiết Giản được Lục Tổ Ðại sư chỉ dạy rồi, hốt nhiên khai ngộ, vì thế hướng Ðại sư đảnh lễ từ biệt trở về Hoàng cung. Ông ta đem tất cả những đạo lý do Ðại sư thuyết ra viết thành tấu chương dâng lên Hoàng đế. Mùng ba tháng chín năm đó, có một chiếu thư tưởng dụ Lục Tổ Ðại sư: "Ðại sư, Ngài cáo bịnh từ tạ chiếu thỉnh, vì Trẫm tu đạo, Ngài thật là phước điền của quốc gia, là vị Cao Tăng tu hành nhứt của quốc gia. Ðại sư giống như cư sĩ Duy Ma trong Kinh Tịnh Danh, giả bệnh ở thành Tỳ Da. Ngài xiển dương Phật pháp Ðại thừa, ở chùa Nam Hoa truyền pháp môn Phật tâm ấn, thuyết giảng pháp môn bất nhị – sanh diệt như như, tánh tướng bất nhị. Tiết Giản sau khi trở về cung truyền đạt những lời dạy của Ngài cho Trẫm, tri kiến của Ngài là tri kiến của Như Lai. Trẫm nhiều kiếp nhiều đời rộng làm việc thiện, cho nên nay có vinh hạnh như thế, cũng vì Trẫm kiếp trước gieo trồng thiện căn Bồ đề, cho nên mới có thể gặp Tổ Sư Ngài xuất thế, khiến cho Trẫm nhanh chóng hiểu rõ diệu lý tối thượng thừa. Trẫm mông ơn Ngài giáo hóa, đối với Ðại sư cảm ân bất tận, ngày ngày Trẫm đều đem những lời dạy của Ngài, khấu đầu đảnh lễ không ngừng, nay Trẫm kính dâng ca sa Ma Nạp do nước Cao Ly triều cống."

    Y ca sa này tôi có thấy qua, do Võõ Tắc Thiên cúng dường Lục Tổ Ðại sư, bên trên có nhiều mảnh, mỗi mảnh có thêu một tượng Phật, nghe nói Võ Tắc Thiên tự tay thêu lấy.

    Chiếu thư của Võõ Tắc Thiên tiếp tục nói: "Lại dâng lên bát thủy tinh..." Bát thủy tinh giống như lưu ly, trong ngoài thấu triệt. "Trẫm sắc lệnh Thứ sử Thiều Châu, trùng tu ngôi chùa do Ngài xây dựng ở Tân Châu, và nơi quê Ngài ra đời, xây dựng một tự viện gọi là Quốc Ân Tự."



  • Lòng Trắc Ẩn

    November 24th 2012, 5:17 pm
  • Phẩm Phó Chúc Ðệ Thập


     

    Một ngày kia Ðại sư gọi các môn nhơn: Pháp Hải, Chí Thành, Pháp Ðạt, Thần Hội, Trí Thường, Trí Thông, Chí Triệt, Chí Ðạo, Pháp Trân, Pháp Như, mà nói rằng: "Chúng ngươi chẳng phải giống như những người khác. Sau khi ta diệt độ rồi, các ngươi mỗi người sẽ ra làm thầy một phương. Nay ta dạy các ông khi ra thuyết pháp, chẳng làm sai lạc bổn tông.

    Giảng
    :

    Phó là phân phó, Chúc là chúc phó, tức là những lời phó chúc của Lục Tổ Ðại sư cho môn đồ, phẩm này là phẩm thứ mười.

    Một ngày nọ Lục Tổ Ðại sư kêu mười đại đệ tử,những đệ tử được Ngài truyền pháp, là Pháp Hải – vị Pháp sư ghi chép lại Lục Tổ Ðàn Kinh, là đại đệ tử của Lục Tổ Ðại sư, cho nên viết tên mình đầu tiên, Pháp sư này nhất định tranh đệ nhứt mới được. Chí Thành – Thần Tú Ðại sư từng phái Chí Thành làm gián điệp trộm pháp không ngờ Ngài không có trộm pháp mà lại bỏ tối theo sáng. Pháp Ðạt – là vị Pháp sư niệm Kinh Pháp Hoa ba ngàn biến, đảnh lễ đầu không sát đất. Thần Hội – là chú bé mười ba tuổi nghịch ngợm dám cùng với Lục Tổ Ðại sư đấu cơ phong. Trí Thường, Trí Thông. Chí Triệt – là Phi miêu họ Trương; lại có Pháp Trân, Pháp Như v.v... mười vị đại đệ tử đều đến trước Lục Tổ, Lục Tổ nói với họ rằng:

    –Các ông, mười vị đây, không giống như những người khác, các ông nên làm pháp chủ, giáo hóa một phương. Sau khi ta viên tịch, các ông đều làm bậc Thầy mô phạm của trời người một phương, là bậc đáng cho trời người cúng dường. Ta nay dạy các ông dạy một phương pháp hoằng dương Phật pháp. Các ông nên thuyết pháp như thế nào? Lúc thuyết pháp không nên làm mất đi tông chỉ của pháp môn đốn giáo.



    Trước hết phải cử ra ba khoa pháp môn, sau dùng ba mươi sáu pháp đối; được vậy, thì dẫu ra vào mà chẳng lìa Bồ đề đạo tràng, ra vào mà chẳng rơi vào nhị nguyên. Khi nói cả thảy các pháp chớ lìa Tự tánh của mình.

    Thoạt có người hỏi chúng ngươi về Phật pháp, thì các lời nói ra phải cặp nhau, đều phải dùng pháp đối, qua lại đối nhau, rốt cùng cả hai pháp đều bỏ hết, lại không chấp chỗ bỏ ấy nữa.

    Giảng
    :

    Các ông giảng pháp nên căn cứ tam khoa, lấy tam khoa làm pháp môn căn bản, lại dùng ba mươi sáu đối đãi (hay cặp) để giảng kinh thuyết pháp. Các ông được như thế thì có thể ở tự tại ra vào trong Bồ đề đạo tràng. Lúc giảng kinh thuyết pháp, điều quan trọng nhất là không rời tự tánh mà thuyết pháp. Có người hỏi các ông Phật pháp, đạo lý mà các ông nói ra nhất định có một loại pháp đối đãi, song quan ngữ (lối chơi chữ) – tức nói như thế nào thì có lý như thế đó. Ðối với người cần phải dùng pháp đối đãi để ứng phó. Ðơn cử như vấn đề đến và đi; đến và đi thì đều giống nhau, theo nhau (tương đồng tương tuần) vì nếu không có đến sẽ không có đi, không có đi sẽ không có đến. Ðến tức là nhân của đi, đi là nhân của đến; đến, đi hai pháp đều trừ, lại cũng không còn chỗ đi được nữa.



    Ba khoa pháp môn ấy là: Ấm, Giới và Nhập.

    Ấm là năm ấm: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

    Nhập là mười hai chỗ vào: Ngoài có sáu trần – sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; trong có sáu cửa (sáu căn) – mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.

    Giới là mười tám giới hạn: Sáu trần, sáu cửa và sáu thức.

    Tánh mình (tự tánh) bao hàm muôn pháp, nên gọi là Hàm-tàng thức. Nếu tánh khởi nghĩ tưởng, tức là tánh chuyển ra thức. Thức này lại sanh ra sáu thức, sáu thức chun ra sáu cửa, rồi gặp sáu trần. Thế thì, mười tám giới đều do tánh mình khởi dụng.

    Giảng
    :

    Cái gì là tam khoa pháp môn? Chính là ấm, giới, nhập. Ấm là ngũ ấm, nhập là mười hai nhập, giới là mười tám giới. Ngũ ấm chính là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nhập là mười hai nhập, cái gì là mười hai nhập? Tức ngoài sáu trần – sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, trong sáu cửa – mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, hợp lại chính là mười hai nhập. Giới là mười tám giới – tức sáu trần, sáu cửa, sáu thức. Trong sáu căn, sáu cửa sanh ra sáu thức – nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Trong tự tánh bao hàm tất cả pháp môn, cho nên đặt tên cho nó là Hàm tàng thức, còn gọi là thức thứ tám, thức này có thể chuyển thành Ðại Viên Cảnh Trí. Nhưng, nếu quý vị khởi một niệm tưởng hay suy nghĩ, tức là tư lượng, (If you give rise to a thought or to thinking and considering), thì Hàm tàng thức sẽ chuyển ra thức thứ bảy. Từ thức thứ bảy lại sanh ra sáu thức. Sáu thức khi ra khỏi sáu cửa sẽ gặp sáu trần. Trên đây là giảng về mười tám giới, chúng nó đều là dụng, tự trong tâm sanh ra.



    Nếu tánh mình tà, thì khởi ra mười tám điều tà. Còn tánh mình chánh thì khởi ra mười tám điều chánh. Tánh mình ứng dụng theo điều dữ, tức là chỗ ứng dụng của chúng sanh. Còn tánh mình ứng dụng theo điều lành, tức là chỗ ứng dụng của Phật. Vậy chỗ khởi dụng do đâu mà có? Do nơi tánh mình vậy.

    Những pháp đối là:

    –Năm pháp đối của loài vô tình ở ngoại cảnh: Trời đối với đất, mặt nhật đối với mặt nguyệt, sáng đối với tối, âm đối với dương, nước đối với lửa. Ấy là năm pháp đối.

    Giảng
    :

    Tự tánh nếu tà, thì mười tám giới biến thành tà, tự tánh nếu chánh thì mười tám giới chánh. Nếu dụng không đúng thì đó là chúng sanh dụng. Nếu dụng thiện, viên mãn đó chính là Phật dụng. Dụng từ đâu đến? Ðều từ trong tự tánh sanh ra. Ðây là vì tự tánh có pháp đối đãi, mà ngoại cảnh vốn là vô tình.

    Cái gì gọi là ngũ đối? Nếu người hỏi trời thì đem đất đối. Nhật và nguyệt là một đối, minh và ám là một đối, âm và dương là một đối, nước và lửa là một đối, đây là năm đối.



    Diễn bày về pháp tướng thì có mười hai đối: Tiếng nói đối với pháp, có đối với không, có sắc chất đối không sắc chất, có tướng đối với không tướng, hữu lậu đối với vô lậu, sắc đối với không, động đối với tịnh, trong đối với đục, phàm đối với thánh, tăng đối với tục, già đối với trẻ, lớn đối với nhỏ. Ấy là mười hai pháp đối.

    Giảng
    :

    Lại có pháp tướng mười hai đối, tức là ngữ ngôn và pháp là pháp đối đãi, có và không là pháp đối đãi, hữu sắc và vô sắc là pháp đối đãi, hữu tướng và vô tướng đối, pháp hữu lậu và pháp vô lậu đối, sắc và không đối, tịnh và động đối, trong cùng đục đối, phàm phu và thánh nhân đối, người xuất gia và người tại gia đối, già và trẻ đối, lớn và nhỏ đối, đây là mười hai đối của ngôn ngữ pháp tướng.



    Tánh mình (tự tánh) khi khởi dụng sanh ra mười chín pháp đối: Dài đối với ngắn, tà đối với chánh, si đối với huệ, ngu đối với trí, loạn đối với định, từ đối với độc, giới đối với phi, ngay đối với vạy, thật đối với dối, hiểm đối với bình, phiền não đối với Bồ-đề, thường đối với không thường, bi đối với hại, vui đối với giận, bố thí đối với bỏn sẻn, tới đối với lui, sanh đối với diệt, pháp thân đối với sắc thân, hóa thân đối với báo thân. Ấy là mười chín pháp đối.

    Giảng
    :

    Lúc Chân như Tự tánh sanh khởi tác dụng, nó có mười chín đối, tức là dài đối với ngắn, không có dài thì không hiển được cái ngắn, nếu không có ngắn thì không hiển được cái dài, cho nên dài và ngắn là pháp tương đối. Ở giữa dài ngắn là trung đạo. Giữa tà và chánh cũng là nghĩa trung đạo, cho nên tà và chánh đối. Ngu si và trí huệ đối – ngu dốt và thông minh cũng là tương đối. Loạn và định đối, tại sao trong tâm loạn? Tại vì không có định lực. Từ và độc đối, vì từ có thể ban vui. Giới và phi đối, giới tức là chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, cho nên nó cùng với sai quấy đối. Ngay thẳng và cong vạy đối. Thực và hư đối. Nguy hiểm và bình an đối. Phiền não và Bồ-đề đối, thường và vô thường đối. Bi có thể bạt khổ, nó cùng với hại đối. Hoan hỷ và sân nhuế đối. Bố thí và xan tham đối, năng xả thì không có xan tham. Tiến trước và lui sau đối. Sanh và diệt đối. Pháp thân biến mãn khắp nơi, cùng với sắc thân đối. Hóa thân với báo thân đối. Trên đây là do tự tánh sanh ra cái dụng này, có mười chín đối.



    Ba mươi sáu pháp đối ấy, nếu hiểu mà dùng, thì nói suốt tất cả kinh pháp, ra vào đều lìa cả hai bên.

    Giảng
    :

    Lục Tổ Ðại sư nói: Ba mươi sáu đối pháp này, nếu các ông hiểu rõ dụng của nó, thì có thể quán thông tất cả Phật pháp kinh điển, tất cả Phật pháp kinh điển đều từ đạo lý này sanh ra. Ðược như thế thì ra vào sẽ không rơi vào hai bên, đây là trung đạo liễu nghĩa.



    Khi tánh mình (tự tánh) động dụng, nói chuyện với người, thì ngoài đối với tướng mà phải lìa tướng, trong đối với không mà phải lìa không. Nếu toàn trước tướng tức là làm lớn thêm cái tà kiến. Bằng toàn chấp không, tức là làm lớn thêm sự vô minh. Người chấp không thường có ý chê kinh, nói rằng chẳng dùng văn tự. Ðã rằng chẳng dùng văn tự, lẽ thì họ chẳng nên nói ra lời nói mới phải, vì lời nói ra tức là cái tướng của văn tự. Lại nói: ‘Trực tâm là đạo tràng, không lập văn tự’, nhưng hai chữ "không lập" đó cũng là văn tự! Hễ thấy người ta nói thì chê lời nói của người, đấy chính là chấp trước văn tự.

    Các ông phải biết tự mình mê còn dung được, sao dám chê bai kinh Phật? Chẳng nên chê kinh mà phải bị tội chướng vô cùng.

    Giảng
    :

    Lúc tự tánh sanh khởi dụng, lúc cùng người khác nói chuyện bên ngoài nên ở tướng mà ly tướng, bên trong thì nơi "không" mà ly không. Nếu các ông trong ngoài đều trước tướng, thì sẽ sanh ra tà tri tà kiến. Nếu các ông không chấp có, mà lại chấp vào không, thì sẽ tăng trưởng vô minh. Người chấp trước vào không sẽ nói như thế này: "Cái gì cũng không cần, không cần học kinh điển, vì tất cả đều là không, không cần dùng văn tự! Văn tự là chấp tướng." Ðã nói không dùng văn tự vậy thì y cũng không nên nói, vì ngữ ngôn là tướng của văn tự, văn tự chính là ngữ ngôn.

    Lại nói: "Trực tâm là đạo trường, không cần lập văn tự." Cần biết hai chữ ‘không lập’ ở đây vẫn là văn tự, vẫn chưa có rời văn tự. Nếu thấy người liền hủy báng người, nói người chấp vào văn tự, các ông mười người cần biết tự mình mê lầm thì không nói gì, vì tự mình đã mê lầm, đó là việc mê lầm của mình. Nhưng hủy báng Phật kinh nói không công đức, thì tạo nghiệp tội vô cùng vô tận.



    Trước tướng bên ngoài mà lập ra phép tắc để cầu Chơn đạo, hoặc rộng mở đạo tràng, hoặc nói ra những điều lỗi lầm về chỗ "có" chỗ "không," người như thế ấy, dầu tu mấy muôn kiếp, cũng không thể thấy tánh được. Phải nghe và y theo chánh pháp mà tu hành, lại cũng chẳng nên chẳng nghĩ đến mọi việc, mà đối với việc tự tánh tu đạo bị chướng ngại. Nếu nghe pháp mà chẳng tu, ắt khiến người trở lại sanh tà niệm. Phải y theo pháp mà tu hành, còn thí pháp thì đừng trụ vào tướng. Nếu các ông đều rõ, thì y theo đây mà ứng dụng, y theo đây mà hành động, y theo đây mà làm các việc, thì chẳng lạc bổn tông.

    Giảng
    :

    Nếu ông bên ngoài chấp tướng, dùng vọng tâm tác pháp cầu chân, làm muôn việc trước tướng, để cầu chân lý, hoặc kiến lập đạo trường, hoặc nói lỗi lầm có không, loại người này nhiều kiếp nhiều đời cũng không hiểu, không minh tâm kiến tánh được. Ông chỉ nên nghe lời nói của tôi, y theo pháp tu hành là được rồi. Nhưng lại không nên trăm vật không nghĩ vì đây lại biến thành ngoan không, đối với tự tánh tu đạo sẽ sanh ra chướng ngại.

    Nếu ông chỉ nghe mà không y pháp thực hành, sẽ khiến người sanh ra tà niệm. Ông cần nên y theo lời thuyết pháp của tôi tu hành mà không chấp tướng. Nếu ông hiểu rõ đạo lý của tôi nói ra, mà y theo đạo lý của tôi đã dạy mà đi giảng kinh thuyết pháp, y theo đạo lý của tôi nói ra mà sanh ra dụng biến hóa. Y theo lời nói của tôi mà tu hành, y theo đạo lý của tôi nói ra mà thân hành thực tiễn, thì sẽ không mất đi tông chỉ của đốn giáo.



    Nếu có người hỏi các ông về đạo nghĩa: Hỏi có thì đối không, hỏi không thì đối có, hỏi phàm thì đối thánh, hỏi thánh thì đối phàm, hai đường đối nhau thì sanh ra nghĩa trung đạo. Một câu hỏi một câu đáp, đến như các câu hỏi khác, cứ y theo đây mà thi hành thì chẳng sai lý vậy. Giả như có người hỏi sao gọi là tối? Ðáp: "Sáng là nhơn, tối là duyên, sáng dứt thì tối. Lấy cái sáng mà chỉ rõ cái tối, lấy cái tối mà chỉ rõ cái sáng, qua lại đối nhau thì thành cái nghĩa trung đạo." Mấy điều hỏi khác, tất cả đều y theo cách chỉ đó mà trả lời. Ngày sau các ông có đi truyền pháp, cứ y theo pháp ấy mà truyền dạy nhau, chớ làm sai tông chỉ.

    Giảng
    :

    Khi có người hỏi ông pháp nghĩa, họ hỏi ông đạo lý "có" thì ông dùng đạo lý "không" đối, họ hỏi đạo lý "phàm phu" thì ông dùng đạo lý "thánh nhân" đối. Họ hỏi đạo lý "thánh nhân" thì ông dùng đạo lý "phàm phu" đối. Ðây là đạo lý lưỡng trùng. Tương nhân tương tuần, từ trong sanh ra nghĩa lý trung đạo. Như một vấn một đối. Những cái khác đều như vậy thì không mất đi tông chỉ đốn giáo. Ví như có người hỏi ông: "Cái gì là tối?" Ông nên trả lời như thế này: "Sáng là nhân, tối là duyên của quả. Lúc sáng không có đó là tối. Lấy quang minh để hiển cái hắc ám, dùng hắc ám mới có thể hiển ra cái quang minh. Ðến và đi là giống nhau, theo nhau (tương nhân tương tuần) mà thành tựu trung đạo liễu nghĩa." Các vấn đề khác cũng căn cứ theo đạo lý này mà trả lời. Sau này các ông truyền pháp đều y theo đạo lý này mà chuyển đại pháp luân, cùng nhau giáo hóa truyền thọ, không nên làm mất đi tông chỉ chân chánh.



    Thái Cực ngươn niên cải lại là Diên Hòa, nhằm năm Nhâm Tý, tháng bảy, Ðại sư sai môn nhơn qua Tân Châu, nơi chùa Quốc Ân Tự, xây một cái tháp và đốc thúc các người làm công phải xây cho rồi sớm. Cuối mùa hạ năm kế, làm lễ lạc thành.

    Ngày mồng một, tháng bảy, Ðại sư nhóm các đồ chúng mà nói rằng: "Ðến tháng tám, ta muốn lìa bỏ thế gian, các ngươi có điều nào nghi, phải hiệp nhau hỏi cho sớm, ta sẽ phá nghi cho các ngươi hết mê muội. Sau ta tịch rồi, sẽ không có người chỉ dạy các ngươi."

    Ngài Pháp Hải v.v… nghe rồi, cả thảy đều khóc mùi. Duy có Thần Hội, thần tình không động, lại cũng không khóc.

    Giảng
    :

    Lục Tổ Ðại sư vào niên hiệu Chánh Cực nguyên niên Ðường Duệ Tông, Diên Hòa tháng bảy (vì trong tháng năm cải niên hiệu thành Diên Hòa, đến tháng tám lại cải thành Tiên Thiên nguyên niên, trong thời gian một năm đổi ba lần niên hiệu), phân phó dạy môn hạ đệ tử đến chùa Quốc Ân ở Tân Châu. Tân Châu tức quê hương của Lục Tổ Ðại sư, chùa Quốc Ân là nơi cư trú lúc trước của Ngài. Ngài đến chỗ này dự bị xây tháp, và đốc thúc công trình mau hoàn tất. Ðến năm thứ hai tháng bảy cuối mùa hạ khánh thành.

    Ngày một tháng bảy thỉnh chuông gõ trống, chiêu tập tất cả đồ đệ đến Pháp đường, Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Các ông nghe đây, tháng tám năm này tôi sẽ rời khỏi thế gian, các ông nếu còn nghi vấn gì thì sớm hỏi, tôi sẽ vì các ông phá trừ nghi hoặc, khiến nghi hoặc trong tâm các ông trừ sạch. Nếu sau khi tôi vãng sanh viên tịch, thì không có ai giáo hối các ông, các ông có biết không? Cho nên có vấn đề gì thì hỏi mau đi.

    Ðệ tử thứ nhất lại là Pháp Hải, Ngài hướng dẫn tất cả đệ tử, nghe lời nói này liền khóc lớn lên, có người lén khóc, có người không sợ xấu hổ liền òa khóc, đại khái cũng có người giả bộ khóc. Nhìn thấy người bên cạnh khóc, mình không khóc coi không được. Trong đó có thiệt cũng có giả, giống như đóng kịch vậy.

    Chỉ có chú Thần Hội nhỏ nhất lại không khóc, tại sao chú không khóc? Có lẽ chú không hiểu, hoặc là không có tri giác? Không phải vậy! Thần Hội tuy tuổi nhỏ, nhưng định lực không phải nhỏ, chú đã hiểu rõ bất cứ cảnh giới nào đến, đều cần phải không động, như thế mới là chân chánh học được tâm bất động. Như thế nào mới gọi "tâm bất động?" Chính là có người nói quý vị tốt, quý vị cũng không vui vẻ, có người nói quý vị xấu, quý vị cũng không tức giận. Có người nói quý vị dụng công biện đạo, quý vị cũng không vui mừng. Có người nói quý vị làm biếng nhất, quý vị cũng không phiền não. Nhưng nếu quý vị thiệt làm biếng mà có người nói, quý vị không động tâm, lại tự biện hộ nói đây là định lực, đó thiệt sai lầm. Như Thần Hội là một chú bé, thần tình không động, không hoan hỷ cũng không khóc lóc.



    Ðại sư rằng: Thần Hội tiểu sư đã chứng được bậc thiện và chẳng thiện đồng như nhau, chê khen không động, buồn vui chẳng sanh, còn giai dư các đồ đệ khác không đặng như vậy.

    Ở trong núi mấy năm, các ngươi hành đạo gì đâu? Nay các ngươi buồn khóc là lo cho ai? Nếu lo cho ta không biết chỗ đi, thì ta đã tự biết chỗ đi rồi. Nếu ta không biết chỗ đi, thì ta chẳng báo tin cho các ngươi hay trước. Các ngươi buồn khóc vì chẳng biết chỗ ta đi. Nếu biết chỗ ta đi, thì chẳng nên buồn khóc. Pháp tánh vốn không sanh diệt, khứ lai. Các ngươi hết thảy ngồi xuống, ta nói cho các ngươi một bài kệ gọi là "Chơn Giả Ðộng Tĩnh Kệ." Các ngươi hãy tụng bài kệ này, thì được đồng một tâm với ta. Y theo bài kệ ấy mà tu hành, thì chẳng sai tông chỉ.

    Chúng tăng làm lễ, xin Sư làm kệ.

    Giảng
    :

    Thọ giới từ một năm đến mười năm gọi là Tiểu sư, Hạ tọa. Thọ giới mười năm đến hai mươi năm gọi Trung tọa, thọ giới hai mươi năm đến ba mươi năm gọi Thượng tọa. Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Tiểu sư Thần Hội, chú ấy nay không phải là tiểu Sa Di, vì chú đã thọ cụ túc giới, các ông nhìn xem, chú ấy tuy tuổi nhỏ, nhưng tiến bộ hơn các ông nhiều, tại sao vậy? Vì chú đối với thiện, bất thiện, tốt xấu đều có thể bình đẳng đối đãi, mà không có tâm phân biệt. Chú ấy thật đã chuyển thức thành trí, có đại trí huệ.

    Ông xem Lục Tổ Ðại sư tán thán tiểu sư Thần Hội như thế.

    "Chú ấy đối với sự hủy báng tán thán đều không động tâm, cũng không tham luyến, cũng không xả bỏ, thương ghét đều không động. Vị tiểu sư này tuy tuổi nhỏ, nhưng ông nói chú tốt, chú cũng không hoan hỷ, ông nói chú không tốt, chú cũng không nổi nóng. Chú cũng không sanh lòng bi ai, cũng không sanh lòng vui mừng, đây thật là trung đạo liễu nghĩa, thật là khó được! Các ông tuổi già cũng có, tuổi trung niên cũng có, hỏa hầu không đủ, thi không đậu rồi! Nhiều năm như thế ở trong núi, các ông tu đạo gì? Một chút định lực cũng không có, vừa nghe tôi nói vãng sanh viên tịch đều òa khóc lên. Ôi, những người như vậy thật vô tích dụng!" Mỗi người đều bị Tổ Sư la cho một trận: "Các ông tu đạo gì? Chỉ biết ăn ngủ. Các ông nay ưu buồn than khóc, ưu buồn cái gì? Các ông vì ai khóc? Khóc ai? Nếu như các ông lo lắng cho tôi, không biết tôi đi về đâu, tôi nay nói cho các ông biết: Không nên lo lắng, yên tâm đi. Tôi biết mình đi về đâu, việc của tôi, tôi tự sắp đặt, cũng giống như: ‘Không lớn không nhỏ, không trong không ngoài, tự tu tự liễu tự an bài.’ Nếu như tôi không biết tôi đi đâu thì tôi đã không nói trước cho các ông biết tôi tháng tám sẽ ra đi. Các ông bi ai rơi lệ như thế, dường như không biết chỗ đi của tôi, nếu các ông biết chỗ đi của tôi thì không nên buồn bã khóc lóc. Tự tánh pháp, vốn không sanh diệt, nó không sanh không diệt, không có đến cũng không có đi, mọi người không nên lo lắng, không nên buồn rầu. Mọi người cùng ngồi xuống, tôi nay vì các ông thuyết một bài kệ, gọi là "Chân Giả Ðộng Tĩnh Kệ." Bài kệ này giảng về đạo lý chân, cũng giảng về ý nghĩa giả, đạo lý động, đạo lý tịnh. Sau khi các ông niệm tụng bài kệ này, cần phải giữ gìn bảo tồn, thì tương đồng với ý của tôi. Các ông theo bài kệ này tu hành thì không làm mất đi tông chỉ đốn giáo."

    Chúng Tăng sau khi bị Lục Tổ Ðại sư la rầy như thế, liền khấu đầu đảnh lễ, cung thỉnh Lục Tổ thuyết kệ.

    Nhất thiết vô hữu chân,

    Bất dĩ kiến ư chân.

    Nhược kiến ư chân giả,

    Thị kiến tận phi chân.

    Nhược năng tự hữu chân,

    Ly giả tức tâm chân.

    Tự tâm bất ly giả,

    Vô chân hà xứ chân ?

    Hữu tình tức giải động,

    Vô tình tức bất động.

    Nhược tu bất động hạnh,

    Ðồng vô tình bất động.

    Nhược mích chân bất động,

    Ðộng thượng hữu bất động.

    Bất động thị bất động,

    Vô tình vô Phật chủng.

    Năng thiện phân biệt tướng,

    Ðệ nhất nghĩa bất động.

    Ðản tác như thử kiến,

    Tức thị chân như dụng.

    Báo chư học đạo nhân,

    Nỗ lực tu dụng ý.

    Mạc ư đại thừa môn,

    Khước chấp sinh tử trí.

    Nhược ngôn hạ tương ưng,

    Tức công luận Phật nghĩa.

    Nhược thực bất tương ưng,

    Hiệp chưởng linh hoan hỷ.

    Thử tông bổn vô tránh,

    Tránh tức thất đạo ý.

    Chấp nghịch tránh pháp môn,

    Tự tính nhập sanh tử.





    Thế gian muôn vật thảy không chơn,

    Chẳng khá lầm xem nhận thật chơn.

    Nếu thấy nhìn đều chắc thật,

    Chỗ xem thấy ấy quả không chơn.

    Tự tâm rõ thấu nguồn chơn chánh,

    Lìa giả thì tâm vẫn chánh chơn.

    Tự tánh chẳng lìa điều huyễn giả,

    Tâm mình chẳng chánh, chỗ nào chơn?

    Có tình hiểu biết đương nhiên động,

    Không động là loài chẳng có tình.

    Học đạo nếu tu hạnh chẳng động,

    Giống loài chẳng động tức không tình.

    Muốn tìm cảnh thiệt tâm không động,

    Trong lúc động mà tánh chẳng lay.

    Chẳng động, thiệt ròng tâm chẳng động,

    Không tình đâu có giống Như Lai!

    Biệt phân các tướng đều thông suốt,

    Ấy nghĩa tột cao chẳng động tu.

    Hiểu thấu lý mầu như thế ấy,

    Tức là diệu dụng của Chơn-như.

    Hởi người học Phật tìm chơn lý,

    Hành động gắng dùng ý biệt phân.

    Vào cửa Ðại thừa đừng cố chấp,

    Mà theo sanh tử trí phàm trần.

    Nói rồi nếu hiểu đồng tương ứng,

    Hội luận cùng nhau Phật nghĩa chơn.

    Bằng thiệt chẳng đồng tâm hiệp ý,

    Kính nhau vui vẻ chớ sanh hờn.

    Tông này vốn thiệt không tranh luận,

    Tranh luận thì sai đạo ý thâm.

    Cửa pháp cố tranh điều trái lẽ,

    Tự tâm ắt đọa chốn luân trầm.

    Giảng
    :

    Tất cả đều không phải là chân, các ông không nên xem những việc không chân là chân, nếu ở trong không chân mà cho là chân, thì những gì ông thấy không phải là chân. Nếu ông tự mình hồi quang phản chiếu trở lại tìm cầu nơi mình, trong tự tánh, liền biết nó là chân. Nếu ông có thể ly khai tất cả giả hình giả tướng ở thế gian này, đó là chân tâm của ông. Trong tâm ông không rời giả, trong tâm không có chân, thì đi đâu tìm được cái chân? Cho nên chân, không phải rời tự tánh, rời tự tánh thì không tìm được chân.

    Cái tánh tri giác hữu tình của ông có thể hiểu rõ cái động này, nếu ông không có tánh tri giác chính là bất động. Nếu ông muốn tu hành pháp môn bất động này, thì nên giống như vô tình bất động. Nếu ông lại muốn tìm bất động chân chánh, thì không nên rời động mà tìm bất động, vì trên động thì có bất động. Bất động chính là bất động, mà động thì ở hữu tình mới có động. Nếu là hữu tình mà ông lại có thể bất động, đó là chân chánh bất động. Nếu ông không có tánh tri giác, thì ngay chủng tánh Phật ông cũng không có. Trên tánh tri giác hữu tình của ông, không dùng thức tâm phân biệt, mà dùng Thành Sở Tác Trí để phân biệt các pháp tướng, chứng đắc lý thể tự tánh, đạt đến cảnh giới Ðệ nhất nghĩa, đó mới là chân chánh bất động. Nếu ông chỉ có kiến giải này, thì đó là diệu dụng Chân như.

    Tôi nay nói cho các ông, những người học đạo biết! Các ông cần phải nỗ lực thành tâm tu hành. Không nên ở trong pháp môn Ðại thừa Phật pháp, lại chấp trước trí huệ sanh tử của ông, trí huệ chấp tướng. Tôi nay vì các ông mà nói bài kệ này, nghe xong nếu có thể minh tâm kiến tánh, thì tôi có thể cùng các ông thảo luận nghĩa lý Phật pháp, nếu nghe xong mà các ông không thể lập tức tương ưng, minh tâm kiến tánh, thì cũng nên chấp tay khiến cho tất cả chúng sanh hoan hỷ. Tông này của tôi là tu vô sanh pháp nhẫn, không có chỗ tranh luận, không cùng người tranh chấp. Nếu ông cùng người tranh chấp thì mất đi đạo nghĩa, mất đi bổn thể của đạo, cho nên nói: "Tranh là tâm thắng phụ, là tương nghịch với đạo, liền sanh tâm tứ tướng, sao đắc được tam muội?" Nếu ông chấp vào pháp môn tranh luận, thì không thể ra khỏi vòng luân hồi sanh tử.

  • Lòng Trắc Ẩn

    November 24th 2012, 5:20 pm
  • Khi nghe kệ rồi, các đồ chúng đều làm lễ. Cả thảy đều thể theo bổn ý của Ðại sư, mỗi người nhiếp tâm, y pháp tu hành, lại chẳng dám tranh luận nữa.

    Biết rằng Ðại sư chẳng còn ở lâu tại thế, thầy Thượng Tọa Pháp Hải lại làm lễ mà hỏi rằng: "Sau khi Hòa Thượng nhập diệt rồi, y pháp phải truyền cho ai?"

    Giảng
    :

    Lúc đó, đồ đệ của Lục Tổ Ðại sư ở Chùa Nam Hoa, nghe xong bài kệ này, đều kiền thành khấu đầu đảnh lễ, và đều hiểu rõ tâm ý của Ðại sư, tất cả mọi người nay không còn khóc còn la nữa, cũng không cùng nhau biện luận, từ đây y pháp tu hành, không cùng nhau tranh biện. Mọi người đều biết Lục Tổ Ðại sư tại thế chỉ còn hơn một tháng thôi, vì thế Thượng Tọa Pháp Hải (Thượng Tọa lúc nào cũng không quên được mình, lúc nào cũng tranh đứng nhứt), lại lễ bái hỏi Ðại sư:

    –Bạch Hòa thượng! Sau khi Ngài viên tịch, y pháp nên giao phó cho ai?

    Thượng Tọa cũng muốn tiếp thọ y bát này.



    Ðại sư nói: "Các lời ta thuyết pháp từ lúc ở Chùa Ðại Phạm đến ngày nay đều nên biên chép lại mà lưu hành, và để tựa đề là ‘Pháp Bảo Ðàn Kinh.’ Các ngươi hãy giữ gìn, thay thế nhau mà truyền thọ để độ chúng sanh. Hãy y theo lời kinh này mà tu hành, ấy gọi là chánh pháp.

    Nay ta nói pháp cho các ngươi, mà chẳng giao cho cái áo Ca-sa, là bởi tín căn của các ngươi đã thuần thục, chắc chắn không nghi, có thể nhậm kham việc lớn. Lại cứ như ý bài kệ của tiên tổ Ðạt Ma Ðại sư để lại, thì cái áo Ca-sa chẳng nên truyền. Kệ rằng:

    Ta đến cõi này,

    Truyền pháp cứu mê tình.

    Một hoa nở năm cánh,

    Kết quả tự nhiên thành.

    Giảng
    :

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Tôi ở Chùa Ðại Phạm Thiều Châu thuyết pháp, những điều sao chép lưu thông cho đến hôm nay, bộ kinh này gọi là Pháp Bảo Ðàn Kinh, các ông cần phải giữ gìn thủ hộ Pháp bảo này, cần chuyển chuyển lưu thông, cùng nhau sao chép truyền thọ, rộng độ tất cả chúng sanh. Nếu ông y theo phương pháp này tu hành, đó là chánh pháp. Các ông nay đã hiểu rõ những lời thuyết pháp của tôi dạy cho các ông, cho nên không cần phải truyền y này. Vì y là vật biểu tín, mà các ông đều là những người tín căn thuần thục, đối với quyết định của tôi không có hoài nghi, chướng ngại, đều có thể gánh vác gia nghiệp của Như Lai để giáo hóa chúng sanh. Nhưng cần nói thêm, căn cứ tiên đại Tổ Sư, Bồ Ðề Ðạt Ma Tổ sư, bài kệ Ngài truyền thọ, ý nói: Y này bắt đầu từ tôi không nên truyền nữa.

    Bài kệ của Tổ sư Ðạt Ma nói:

    –Tôi đến Trung Hoa, vốn là muốn truyền chánh pháp, cứu độ tất cả chúng sanh mê tình. Một hoa của tôi sau này sẽ nở ra năm lá – tức năm vị Tổ Sư: Nhị Tổ, Tam Tổ, Tứ Tổ, Ngũ Tổ và Lục Tổ. Ðến lúc đó thì không nên truyền y này, chỉ cần truyền pháp là được rồi. Cho nên Ngũ Tổ cũng nói với Lục Tổ rằng: "Y là đầu mối của sự tranh giành, đến đời ông thì không nên truyền nữa."

    Các vị xem, "kết quả tự nhiên thành," quả* ở đây chính là chỉ các vị, cần phải tự nhiên thành thục. Lục Tổ Ðại sư cũng nói: "Bồ đề quả tự nhiên thành," quaû Bồ đề của các vị cần phải nhanh chóng thành tựu, điều quan trọng chính là không nên lười biếng. Các vị xem! Tổ sư Bồ Ðề Ðạt Ma sớm đã thọ ký cho các vị rồi đó. (* Ðệ tử quy y Hòa Thượng, pháp danh bắt đầu bằng chữ "Quả" vì y cứ theo bài kệ truyền thừa của Tông Quy Ngưỡng)



    Sư lại nói rằng: "Chư Thiện tri thức! Các ngươi mỗi người phải tịnh tâm mà nghe ta nói pháp.

    Nếu muốn thành tựu Nhất thiết chủng trí, thì phải đạt đến cảnh: Nhất tướng tam muội, Nhất hạnh tam muội. Ðối với cả thảy các nơi mà tâm chẳng trụ vào các tướng. Trong các tướng ấy chẳng sanh lòng ghét yêu, cũng không chấp bỏ, chẳng tưởng đến việc lợi hại nên hư, một mực an nhàn điềm tịnh, hư dung đạm bạc, ấy gọi là Nhất tướng tam muội.

    Ðối với cả thảy các nơi, đi đứng ngồi nằm, phải ròng giữ một lòng ngay thật, chẳng động đạo tràng, phải thiệt lòng tịnh độ, ấy gọi là Nhất hạnh tam muội.

    Nếu người nào có đủ hai tam muội ấy, thì cũng như đất có hạt giống, ngậm chứa chăm nuôi cho hột giống ấy lớn lên tới kỳ trổ quả chín mọng. Nhất tướng tam muội, Nhất hạnh tam muội cũng giống như thế.

    Giảng
    :

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Quý vị Thiện tri thức, các ông mỗi người đều nên tự tịnh kỳ ý, không nên chứa chấp tâm tham sân si, nghe tôi nói pháp.

    Các ông nếu muốn thành tựu Nhất thiết chủng trí, thì phải thông đạt nhứt tướng tam muội, nhứt hạnh tam muội – là tam muội nhứt tướng mà không tất cả tướng, là tam muội nhứt hạnh mà không tất cả hạnh.

    Nếu ông ở khắp nơi, bất cứ nơi nào – tức không kể chỗ tốt chỗ xấu, hoặc động hoặc tịnh, mà không chấp vào tướng. Gặp phải cảnh giới không sanh tâm oán hận chán ghét hoặc yêu thích ưa mến, gọi là tâm thương ghét bất động, như như bất động. Ðối với cảnh giới mà ông ưa thích cũng không nghĩ việc thủ lấy làm của mình, có lòng yêu mến thì có thủ, giống như Thập Nhị Nhân Duyên – ái duyên thủ, thủ duyên hữu. Tại sao lại muốn thủ? Vì muốn chiếm làm của sở hữu. Xả bỏ vì nhân ghét, lúc ông giận ghét thì xả bỏ nó. Ông không nên nghĩ đến việc lợi ích, thành hoại. Có lợi ích gì cho mình thì mới làm, đó là tâm tham, tâm phan duyên, tâm không thanh tịnh. Cũng không tính toán, như là đối với mình có thành công hoặc tổn hại gì không, chớ nên chứa chấp tâm này. An nhàn tự tại, việc gì cũng không phiền não, giống như nước không có sóng, không có phiền não của thương yêu ghét bỏ, không có phiền não của sự thủ lấy, xả bỏ, không có phiền não của lợi ích, thành hoại. Ông không nghĩ đến việc thành công, thì không biết cái gì là thất bại. Hư dung đạm bạc, như vạn vật từ hư không sanh ra, nhưng hư không vô sở sử sự, không có tạo tác một việc gì, nó cũng không có một nơi làm việc, bảo ông ở đây sanh ra, hoặc đến chỗ khác chết đi. Vì tất cả vạn vật sanh sanh diệt diệt, sanh sanh hóa hóa, đều là một loại hiện tượng thiên nhiên, mà không có thêm vào sự tạo tác. Rất đạm bạc chính là bình thường, thứ gì thì là thứ đó, cho nên đạm bạc để làm sáng cái trí. Không có một chút tham tâm, sân tâm, si tâm, cũng chính là thiểu dục tri túc, không có tâm phan duyên. Cho nên nói: Tri túc thường lạc, năng nhẫn nhịn thì mình tự an vui, xem thường danh lợi, thì có thể ở trong tướng mà rời tướng, ở trong trần mà ra khỏi trần, vì thế gọi là nhứt tướng tam muội.

    Nhứt hạnh tam muội tức là ông có thể ở bất cứ chỗ nào, vô luận là chỗ tốt, chỗ xấu, chỗ thiện, chỗ ác, chỗ thị, chỗ phi, hành trụ tọa ngọa trong bốn đại oai nghi, mọi lúc đều dùng trực tâm. Trực tâm là đạo tràng, chúng ta là người học Phật không nên dùng tâm cong quẹo, quý vị đối với bất cứ người nào cũng cần trực tâm, trực ngôn, trực hạnh; trong tâm không nên có sự cong cong quẹo quẹo. Trực ngôn không phải tâm nghĩ đông miệng nói tây, tâm khẩu bất nhất. Làm việc cũng trực, nói chuyện cũng trực, nếu nhân bất trực thì sau này quả cũng không trực, cho nên đi đứng nằm ngồi cần phải thuần nhứt trực tâm. Thuần nhứt tức là tinh thuần đến trực điểm, chỉ có một cái, không có hai cái. Một cái chính là trực tâm, chúng ta là người tu đạo, bất luận đối với người, đối với mình, đối với sự việc đều nên dùng trực tâm, trong tâm không nên tính toán việc người, ví dụ người đó có tiền, ta mượn ông ta một ít tiêu dùng. Dù nghèo đến cực điểm, ta cũng không nên làm những hành vi không có liêm sỉ. Nếu sau khi mượn mà trả lại thì không mất đi quân tử, nếu chỉ mượn mà không trả thì hành vi này rất đê tiện. Bất động đạo trường, chính là tâm quý vị trực, lúc quý vị có thể trực ngôn trực hạnh, bất động đạo trường đó chính là tịnh độ, đó gọi là nhứt hạnh tam muội.

    Nếu người này đầy đủ nhứt tướng tam muội, nhứt hạnh tam muội, ông có thể y theo đạo lý này tu hành, giống như dưới đất gieo trồng hạt giống, chôn trong lòng đất, thời gian lâu dài liền tự nhiên sanh ra mầm Bồ-đề, thành thục thật quả Bồ-đề. Nhứt tướng tam muội và nhứt hạnh tam muội cũng giống như đạo lý này.



    Nay ta nói pháp cũng giống như trời mưa thấm ướt khắp cả mặt đất, Phật tánh của các ông tỷ như các hạt giống gặp đám mưa pháp này, thì cả thảy đều thấm ướt và phát sanh. Người nào vâng theo tông chỉ của ta, chắc đặng đạo Bồ đề; y theo chỗ làm của ta, ắt chứng Diệu quả. Hãy nghe ta kệ:

    Ðất tâm chứa hạt giống,

    Mưa rưới thảy nảy mầm.

    Hoa tình đốn ngộ rồi,

    Quả Giác tự kết thành.

    Ðại sư nói kệ rồi tiếp rằng: "Pháp vốn không hai, tâm mình cũng vậy. Ðạo là trong lặng không có các tướng. Các ngươi hãy cẩn thận, chớ đắm vào cảnh không và chỉ quán cảnh tĩnh (trầm không quán tĩnh). Tâm vốn trong sạch, chẳng có gì mà chấp hay bỏ được. Mỗi người tự gắng sức và tùy duyên mà hóa độ."

    Khi ấy đồ chúng làm lễ mà lui ra.

    Giảng
    :

    Tôi nay thuyết pháp, giống như kịp thời mưa xuống phổ nhuận đại địa. Ðương lúc nhà nông cần mưa, thì có mưa. Nếu không cần mưa, mà mưa rất lớn thì những vật trồng trọt sẽ bị mưa làm úng. Nếu cần mưa mà không có mưa, cây cối sẽ bị khô héo mà chết.

    Các ông mỗi vị vốn có Phật tánh, thì giống như những hột giống này gặp phải mưa đúng lúc liền trưởng dưỡng tươi tốt, có hy vọng thành thục quả Bồ đề. Các ông là những người hiểu rõ tông chỉ tôi nói ra, nhất định đắc được Bồ đề. Nếu các ông y theo pháp của tôi nói ra mà tu hành, thì nhất định đắc được diệu quả Bồ đề. Các ông nghe tôi nói kệ, cần phải chú ý a! Tôi đã vì các ông nói nhiều pháp như thế, nhưng các ông khi nghe qua tai rồi thì tản mạn rời rạc, cho nên tôi phải dùng kệ tụng để biểu đạt rõ ràng.

    Các ông đều nên tự tịnh kỳ tâm, dùng tâm nghe bài kệ của tôi.

    Tâm địa tức tự tánh, nó chứa đựng tất cả hạt giống. Nay đúng lúc gặp mưa, tưới tẩm nhuần thấm hết thảy, cho nên đều sanh ra mầm Bồ đề. Hữu tình chúng sanh đốn ngộ, kịp thời hiểu rõ, kết quả cần khai hoa, khai hoa cần kết quả. Sau khi khai hoa, diệu quả Bồ đề tự nhiên thành tựu. Ông xem! "Bồ đề quả tự thành."

    Tổ sư Ðạt Ma nói: Kết quả tự nhiên thành, đây nói về các ông. Cái quả này có thể phổ biến khắp thế giới, kết quả tự nhiên thành, tự nhiên quả sẽ đến mọi hang cùng ngõ hẻm trên toàn thế giới, mỗi chỗ sẽ trổ quả Bồ đề. Mỗi người cần tự mình thành tựu quaû của mình, tôi không thể giúp quý vị được, nếu tự mình không thành tựu, chính là tự mình cam chịu kém cỏi, lạc hậu. Quý vị xem! Thật là khéo, pháp tự của quý vị là chữ Quaû, tông phái của chúng ta đối với quả nói ra rất diệu mầu:

    Tư tu thường an quaû,

    Thân truyền vô vi giáo.

    Lục Tổ Ðại sư nói xong phần đầu bài kệ, lại nói với mọi người:

    –Tôi thuyết đốn giáo pháp môn không có hai, chỉ có một, chính là đốn giáo này, tâm cũng nên biến thành một. Ðạo mà mình tu vốn thanh tịnh, và không có tất cả tướng. Tuy nói không có các tướng, nhưng các ông cũng không nên hiểu lầm nói là duy quán cái tĩnh này. Nếu ông chỉ quán tĩnh, đó cũng là chấp trước, đồng thời cũng không nên chấp chặt ngoan không. Tại sao vậy? Vì nhất thiết chúng sanh tâm vốn thanh tịnh, không có nhiễm ô, không có thủ lấy, cũng không có xả bỏ, các ông mỗi người cần nên nỗ lực tinh tấn, không nên làm biếng, tùy theo nhân duyên mà đi khắp nơi, kiến lập đạo trường, nỗ lực dụng công tu hành.

    Lúc này đồ chúng của Lục Tổ Ðại sư có mấy ngàn người, đều khấu đầu đảnh lễ lui về một bên.



    Ngày mồng tám, tháng bảy, thình lình Ðại sư gọi các môn nhơn mà dạy rằng: "Ta muốn về Tân Châu, các ông mau sửa soạn thuyền bè."

    Ðại chúng buồn thảm và gắng sức cầm Ngài ở lại.

    Sư nói: "Chư Phật ra đời, rồi cũng vào Niết Bàn. Có lại ắt có đi, lẽ ấy cũng là thường vậy. Cái hình hài của ta đây đi về, ắt có chỗ."

    Chúng nhơn bạch rằng: "Từ đây Thầy đi, sớm muộn xin Thầy cũng trở về."

    Sư nói: "Lá rụng thì về cội. Lúc ta lại đây cũng đâu có nói gì."

    Chúng nhơn lại hỏi: "Chánh Pháp Nhãn Tàng sẽ truyền trao cho người nào?"

    Sư nói: "Người có Ðạo thì đặng pháp ấy, người vô tâm thì thông hiểu."

    Lại hỏi: "Ngày sau có tai nạn chi chăng?"

    Sư nói: "Sau khi ta tịch diệt, năm sáu năm, sẽ có người đến lấy đầu ta. Hãy nghe lời ta thọ ký.

    Kệ rằng:

    Dốc lòng thờ kính giống cha sanh,

    Vì đói phải toan kế lợi mình.

    Gặp Mãn, gian nhơn lâm khổ nạn,

    Hai quan Dương, Liễu xử phân rành."

    Giảng
    :

    Lục Tổ Ðại sư vào ngày tám tháng bảy năm này, chợt nói với đại chúng rằng:

    –Tôi muốn trở về Tân Châu, các ông mau mau chuẩn bị thuyền bè.

    Lúc đó, trong số đông đồ đệ của Lục Tổ có người òa lên khóc. Trước kia đã khóc rồi, lần này Lục Tổ sắp đi, họ lại khóc nữa, không muốn Lục Tổ ra đi.

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Mười phương ba đời Chư Phật xuất hiện ở đời vẫn thị hiện tướng Niết Bàn, có đến tất có đi, có sanh tất có diệt, đây là đạo lý rất bình thường. Thân này của tôi, nhất định có chỗ quy về.

    Ðại chúng nói:

    –Bạch Tổ Sư, Ngài từ đây ra đi, nhưng chúng con không muốn Ngài viên tịch, nhập Niết Bàn, hy vọng sớm muộn gì Ngài cũng sẽ trở lại.

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Tôi giống như chiếc lá rơi, nên trở về với cội cây, khi tới cũng không lời (vô khẩu).

    Tôi nghĩ chữ "khẩu" ở đây có lẽ viết sai, nên là trở lại "vô nhựt", ý nói lúc tôi tới cũng không có ngày.



    Lai thời vô khẩu, có một cách giảng khác, là khi tôi tới không có thuyết pháp, khi tôi đi cũng không có thuyết pháp, pháp tướng vốn không tăng không diệt. Tôi tuy thuyết pháp lâu năm như thế, sự thực không thuyết một pháp nào cả, cho nên nói: "khi tới không nói." Pháp vô định pháp, chỉ cần hợp lý giảng như thế nào cũng được, nhưng không nên giảng sai lầm, dẫn người đến địa ngục. Pháp này thì bất khả thuyết, không thể dùng ngôn từ diễn bày được.

    Phần đông đệ tử đều lưu luyến Lục Tổ Ðại sư, cho nên đây hỏi cái này, đó hỏi cái kia, thật nhiều lời lôi thôi, tôi tin rằng lúc đó Lục Tổ cảm thấy những người này thật là phiền phức, nghĩ: "Ta phải nhanh chóng ra đi."

    Lại có người hỏi: "Chánh Pháp Nhãn Tạng tức y bát đã truyền cho ai?" Lúc đó nhiều người như thế đều không biết Lục Tổ Ðại sư truyền pháp cho ai. Những người hỏi câu này đại khái đều có lòng tham muốn đắc được Chánh Pháp Nhãn Tạng, nếu không thì họ hỏi việc ấy làm gì? Ðó cũng giống như: "Ký tại giang biên trạm, tựu hữu vọng hải tâm." Ðã đứng bên bờ sông lại muốn nhìn ra biển, nếu không muốn nhìn biển thì đứng bên bờ sông làm chi? Chúng ta có thể thấy người đương thời, đối với y bát, đều rất coi trọng.

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Truyền cho ai? Ai có Ðạo tôi liền truyền cho người ấy, ai không có tâm phan duyên người ấy liền hiểu rõ pháp của tôi. Người chứng đắc nhứt tướng tam muội, nhứt hạnh tam muội thì được pháp của tôi.

    Lục Tổ Ðại sư đắc Pháp gì? Chính là đạo lý trong mấy bài kệ tụng này. Quý vị nếu y theo đạo lý ấy mà tu hành, thì có thể đắc được pháp của Ngài.

    Ðồ chúng lại hỏi: "Sau này trong giáo đoàn có tai nạn, khó khăn, ma nạn hoặc có hoạn nạn gì không?" Ý nói, Lục Tổ Ðại sư trong lúc sanh thời gặp phải nhiều ma nạn như thế – thuê người đến ám sát Ngài, lại phái gián điệp trộm pháp, lại có người phóng hỏa muốn thiêu chết Ngài, vô số tai nạn một lời khó nói hết. Lục Tổ Ðàn Kinh chỉ ghi lại chút ít, nhưng tin rằng lúc đó có rất nhiều tai nạn, chớ không chỉ có vài sự kiện như vậy thôi. Như có người đến trộm y bát sáu lần, đều nhân tiện muốn giết luôn Lục Tổ, nhưng vì không trộm được cho nên kinh không có ghi lại.

    Lục Tổ Ðại sư kêu đệ tử là Lập Khải, năm trước đi xây tháp, năm nay tháp đã xây xong, cho nên Ngài muốn trở về Tân Châu. Ðồ chúng hỏi: "Sau này có còn tai nạn gì nữa không?" Ý tức hy vọng sẽ không còn tai nạn nào nữa? Mang theo khẩu khí hy vọng! Tổ Sư đã viên tịch rồi, vậy có còn ai lại muốn giết chúng con không, vì chúng con là đệ tử của Ngài, giết Ngài không được thì có thể sẽ đến giết chúng con.

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Sau khi Ta viên tịch, năm sáu năm sau có người đến cắt đầu ta.

    Quý vị xem, còn sống có người đến giết Ngài, sau khi viên tịch vẫn còn có người muốn lấy đầu của Ngài. Thời đó làm Tổ Sư thật khó a! Nay thì không có nghiêm trọng như thế nữa, vì thế không nên sợ hãi. Không nên nói làm Tổ Sư khó quá, tôi không muốn làm Tổ Sư, không nên thối tâm!

    Nay tôi nói cho các ông một lời dự ngôn, lúc đó không có ai biết, sau này sẽ chứng minh "đầu thượng dưỡng thân," là một vị tăng người nước Cao Ly, muốn trộm đầu của Lục Tổ về nước cúng dường. "Ðầu" là đầu của Lục Tổ Ðại sư. "Thượng" là chỉ ông ta rất cung kính. "Dưỡng Thân" ý là như cúng dường Cha Mẹ vậy. Vị tăng này tên gọi là Kim Ðại Bi, ông ta ở Hồng Châu thuê một người tên Trương Tịnh Mãn, đến lấy đầu Lục Tổ. Cho nên nói "khẩu lý tu xan." Vì sao ông ta đến trộm đầu Lục Tổ? Vì sinh kế, cần phải ăn cơm, cho nên nhận tiền của người đi chặt lấy đầu một vị Tổ Sư đã viên tịch. Ðại khái vị tăng Cao Ly này rất giàu có, thuê ông ta rất nhiều tiền, vì thế ông ta đồng ý đi trộm lấy đầu Lục Tổ Ðại sư. Người này gọi là Trương Tịnh Mãn, cho nên nói "ngộï Mãn chi nạn." Ngộ Mãn chính là gặp phải Trương Tịnh Mãn, chỉ dùng một tên của ông ta đưa vào trong lời dự ngôn. Vì Tịnh Mãn đến rồi thì sẽ chặt đầu Lục Tổ Ðại sư. Ðây cũng tính là một nạn. "Dương Liễu vi quan": Quan Thứ sử đương thời là Liễu Vô Thiểm, Quan Huyện tên là Dương Khản, vì thế nói Dương Liễu vi quan. Quả nhiên, Lục Tổ viên tịch năm sáu năm sau, vào một đêm nọ có vị Tăng nghe động tịnh trong tháp nhục thân của Ngài. Ðồ đệ của Lục Tổ đã biết dự đoán của Lục Tổ cho nên dùng sắt bao cổ Ngài lại, cho nên lúc Trương Tịnh Mãn đến dùng đao chém cổ Lục Tổ, chém như thế nào chém cũng không đứt. Dùng đao liền gây ra tiếng động khiến vị tăng canh gác giật mình tỉnh dậy, Trương Tịnh Mãn bèn vội vàng từ trong tháp chạy ra – toàn thân mặc hiếu phục. Sau đó vị tăng này vào trong tháp kiểm soát cổ của Lục Tổ Ðại sư, phát hiện có dấu tích bị người dùng đao chém, vì thế liền báo với Thứ sử Thiều Châu và quan huyện, họ phái binh lính nỗ lực đi tìm trong năm ngày liền bắt được Trương Tịnh Mãn.

    Liễu Vô Thiểm liền đem tên trộm này đến chùa Nam Hoa thẩm vấn: "Tại sao ngươi dám chặt đầu Lục Tổ Ðại sư?" Trương Tịnh Mãn nói: "Vì có vị tăng, ông ta muốn trộm đầu Lục Tổ, nhưng ông ta không dám làm, cho nên mướn tôi rất nhiều tiền, mà tôi thì cần tiền để sanh sống, cho nên mới bằng lòng làm việc này." Lúc đó Liễu Vô Thiểm liền hỏi đệ tử của Lục Tổ Ðại sư là Thiền sư Linh Thao: "Án này nên giải quyết như thế nào?" Thiền sư Linh Thao trả lời: "Việc này nếu án theo luật nhà nước xử lý, nhất định phải chém đầu, không có cách nào khác. Nhưng trong Phật giáo, thì oán thân bình đẳng, ý của tôi hay là thả y đi; vã lại Lục Tổ Ðại sư lúc trước có nói, sẽ có việc này xảy ra." Liễu Vô Thiểm nghe xong, nói: "Tôi nay mới biết Phật môn quảng đại, Phật giáo vĩ đại quá!" Vì thế tha cho Trương Tịnh Mãn.



    Sư lại nói: "Ta tịch rồi, bảy mươi năm sau, sẽ có hai vị Bồ Tát từ Ðông phương đến, một vị xuất gia, một vị tại gia, đồng thời hưng hóa, kiến lập tông phái của ta và tạo tu Phật tự. Chánh là hai vị pháp-tự xương minh chánh giáo vậy."

    Giảng
    :

    Lục Tổ Ðại sư lại nói: "Bảy mươi năm sau khi ta viên tịch, có hai vị Bồ Tát từ Ðông phương đến đây, một là Bồ Tát xuất gia, một là Bồ Tát tại gia, đồng thời hưng hóa." Xuất gia Bồ Tát theo truyền thuyết là Giang Tây Mã Tổ Ðạo Nhứt Tổ Sư, tất cả Tùng lâm ở Giang Tây đều do Mã Tổ xây dựng, có câu: "Mã Tổ tạo tùng lâm, Bách Trượng lập thanh quy." Tại gia Bồ Tát theo truyền thuyết là cư sĩ Long Uẩn, cả gia đình Ngài đều khai ngộ, lại cùng một lúc vãng sanh nhập Niết Bàn. Cư sĩ Long Uẩn rất giàu có, ông đem tất cả vàng bạc châu báu trong nhà chất trên một chiếc thuyền, đem tiền quăng hết dưới đáy biển tặng cho Long Vương để trang nghiêm long cung, làm một việc đại bố thí. Sau đó làm nghề đan lồng trúc để sinh nhai, sống đời thanh bần, nhứt tâm tu đạo. Một ngày kia cư sĩ than rằng: "Khó! khó! khó! Như mười gánh mè mà rắc trên cây." Ðây thật là khó, đem mười gánh mè từng hột, từng hột rắc trên cây. Vợ của ông nghe xong liền nói: Ông già này thật không làm nên tích sự gì, có cái gì mà khó, khó cái gì chớ? Ông xem khó, còn tôi cảm thấy đây là việc dễ nhất, cho nên nói: "Dị! Dị! Dị! Bách thảo đầu thượng Tổ Sư ý," tức trên đầu ngọn cỏ đều là ý của Tổ Sư. Con gái của ông là Linh Chiếu nói: "Cũng không khó, cũng không dễ, đói thì ăn cơm, mệt đi ngủ," con không cảm thấy khó, cũng không cảm thấy dễ, đói thì đi ăn cơm, mệt thì đi ngủ. Cư sĩ Long Uẩn tuy có vợ, nhưng hai người giống như bạn bè bình thường, không có quan hệ nam nữ như người đời. Làm cư sĩ thì nên học theo cảnh giới bất khả tư nghì này của cư sĩ Long Uẩn. Lại có người nói hai vị Bồ Tát đó, là Tổ sư Hoàng Bá và Thừa tướng Bùi Hưu. Nói hai vị nào cũng đều được. Hai vị Bồ Tát này kiến lập tông chỉ đốn giáo, trùng tu xây dựng già lam tự viện, phát dương rộng lớn Phật pháp.



    Hỏi rằng: "Chẳng biết từ trên Phật tổ ứng hiện tới nay, đã nay truyền thọ được mấy đời? Xin Tổ Sư chỉ dạy."

    Sư nói: "Cổ Phật ra đời đã vô số, không thể kể hết được. Nay kể bảy vị Phật làm đầu mà thôi.

    Ðời quá khứ Trang Nghiêm kiếp có: Tỳ Bà Thi Phật, Thi Khí Phật, Tỳ Xá Phù Phật.

    Ðời hiện tại Hiền kiếp có: Câu Lưu Tôn Phật, Câu Na Hàm Mâu Ni Phật, Ca Diếp Phật, Thích Ca Văn Phật.

    Ấy là bảy vị Phật.

    Giảng
    :

    Ðại chúng lại khấu đầu đảnh lễ hỏi:

    –Chúng con không biết từ lúc đức Phật đầu tiên ứng hóa cho đến hôm nay thì đã truyền thọ được bao nhiêu đời rồi? Cúi mong Tổ Sư vì chúng con khai thị.

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Từ xưa đến nay Chư Phật ứng hiện giữa đời đã vô số vô lượng, nhiều đến nổi đếm không xiết, huống chi tôi lại không biết chữ, nay chỉ lược nói bảy Ðức Phật quá khứ lúc ban đầu. Kiếp quá khứ Trang Nghiêm có một ngàn Ðức Phật ra đời, Ðức Phật thứ chín trăm chín mươi tám tên là Tỳ Bà Thi Phật, dịch là Thắng Quán, Chủng Chủng Quán, Thắng Kiến hoặc Chủng Chủng Kiến. Vị Ðức Phật thứ hai là Thi Khí Phật, dịch là Ly Hỏa, là vị Phật thứ chín trăm chín mươi chín. Vị Phật thứ ba là Tỳ Xá Phù Phật, là vị Phật cuối cùng trong kiếp Trang Nghiêm. Kiếp tiếp theo tên là Hiền kiếp. Sao gọi là Hiền kiếp? Vì trong kiếp này có rất nhiều bậc Thánh hiền, có ngàn Ðức Phật ra đời. Vị Phật đầu tiên là Câu Lưu Tôn Phật, dịch là Sở Ứng Cúng, là bậc đáng cho trời người cúng dường, còn dịch là Trang Nghiêm. Vị Phật thứ hai là Câu Na Hàm Mâu Ni Phật. Vị thứ ba là Ca Diếp Phật. Vị thứ tư là Thích Ca Mâu Ni Phật, tức Giáo chủ cõi thế giới Ta-bà hiện nay. Trên đây là bảy vị Phật gần nhất.



    Trước hết Thích Ca Văn Phật truyền cho Sơ Tổ Ma Ha Ca Diếp Tôn giả. Ma Ha Ca Diếp Tôn giả truyền cho Nhị Tổ A Nan Tôn giả, A Nan Tôn giả truyền cho…

    Giảng
    :

    Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni truyền cho đệ nhứt Tổ Sư – Tôn giả Ma Ha Ca Diếp. Một lần nọ, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni trong pháp hội, trăm vạn người trời bao quanh, tay cầm hoa Kim Ðàn Mộc do Ðại Phạm Thiên Vương cúng dường, những người khác đều không biết ý gì, chỉ có Tôn giả Ca Diếp mỉm cười. Phật nói: "Ta có Chánh Pháp Nhãn Tàng, Niết Bàn diệu tâm, thực tướng vô tướng, giáo ngoại biệt truyền, pháp môn dùng tâm ấn tâm, đã phó chúc cho Ma Ha Ca Diếp." Sau truyền cho đệ Nhị Tổ – Tôn giả A Nan. Ðệ Tam Tổ là Tôn giả Thương Na Hòa Tu. Tôn giả này lúc mới sanh ra trên mình đã khoát một bộ y phục, Ngài lớn lên bao nhiêu thì y phục cũng lớn theo Ngài bấy nhiêu. Tôn giả A Nan sau khi độ Ngài xuất gia, y phục trên thân Ngài liền biến thành Pháp phục. Sau khi thọ Cụ túc giới, y đó lại biến thành y Tăng-già-hội. Lúc viên tịch, Ngài lưu lại y này nói: "Lúc Phật pháp của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni diệt tận, thì y này mới hoại. Nếu pháp chưa diệt thì y này vẫn còn tồn tại."

    Ðệ Thập Tổ Hiếp Tôn giả, Tôn giả này ở trong thai mẹ hơn sáu mươi năm, sau khi sanh ra râu tóc đều bạc trắng. Sau khi chào đời liền thích tu hành, gặp Ðệ Cửu Tổ Tôn giả Phục Ðà Mật Ða, truyền cho Ngài pháp môn Phật tâm ấn.



    Thập nhất Phú Na Dạ Xa Tôn giả, thập nhị Mã Minh Ðại Sĩ, thập tam Ca Tỳ Ma La Tôn giả, thập tứ Long Thọ Ðại Sĩ, thập ngũ Ca Na Ðề Bà Tôn giả, thập lục La Hầu La Ða Tôn giả, thập thất Tăng Già Nan Ðề Tôn giả, thập bát Già Da Xá Ða Tôn giả, thập cửu Cưu Ma La Ða Tôn giả, nhị thập Xà Da Ða Tôn giả.

    Giảng
    :

    Ðệ Thập Nhất Tổ Phú Na Dạ Xa Tôn giả hỏi Hiếp Tôn giả rằng:

    –Như thế nào mới có thể thành Phật?

    Hiếp Tôn giả trả lời:

    –Nay không có thành, đó chính là Phật.

    Phú Na Dạ Xa Tôn giả nói:

    –Nay chưa thành chính là Phật, vậy thì con làm sao biết được cái chưa thành này là Phật?

    Hiếp Tôn giả nói:

    –Ông làm sao biết cái chưa thành này không phải là Phật?

    Một hỏi một đáp như thế, Phú Na Dạ Xa Tôn giả liền khai ngộ, cho nên Hiếp Tôn giả liền truyền cho Ngài pháp môn Phật tâm ấn.

    Mã Minh Ðại sĩ tuyệt đỉnh thông minh. Vì biết Ngài căn duyên thành thục, nên Phú Na Dạ Xa Tôn giả liền đến độ hóa Mã Minh Tôn giả làm vị Tổ Sư đời thứ mười hai.

    Mã Minh Ðại sĩ hỏi Phú Na Dạ Xa Tôn giả:

    –Con muốn nhận biết Phật, như thế nào mới có thể nhận biết Phật?

    Phú Na Dạ Xa Tôn giả nói:

    –Ông không nhận biết, đó chính là Phật.

    Mã Minh Ðại sĩ nói:

    –Cái không nhận biết chính là Phật. Vậy thì, nếu con đã không nhận biết Phật, thì thế nào biết đó là Phật?

    Phú Na Dạ Xa Tôn giả nói:

    –Ông đã không nhận biết Phật, thì làm sao biết đó không phải là Phật?

    Cuộc đối thoại này cũng giống như cuộc đối thoại giữa Ngài Phú Na Dạ Xa và Hiếp Tôn giả vậy.

    Mã Minh Ðại sĩ nói:

    –Ồ! Ðây có nghĩa như cái cái cưa. Ngài nói thế này, con nói như thế kia – chúng ta phân xẻ đạo lý giống cây cưa, cưa qua cưa lại khúc gỗ vậy.

    Phú Na Dạ Xa Tôn giả:

    –A! Ðó nghĩa là gỗ, còn cưa có nghĩa là gì?

    Mã Minh Ðại sĩ :

    –Là giống như Ngài. Vậy gỗ nghĩa là sao?

    Phú Na Dạ Xa Tôn giả trả lời:

    –Ông bị tôi cưa đứt! Tôi đã giải thoát cho ông rồi đó.

    Ngay lời nói đó của Phú Na Dạ Xa Tôn giả, Mã Minh Ðại sĩ hoát nhiên khai ngộ, bèn theo Ngài Phú Na Dạ Xa Tôn giả xuất gia, và sau được Phú Na Dạ Xa Tôn giả truyền pháp.

    Tại sao gọi là Mã Minh Ðại sĩ? Mỗi khi Ngài thuyết pháp, ngựa liền kêu lên, vì có cảm ứng như thế nên gọi là Mã Minh Ðại sĩ. Ðại sĩ là cách gọi khác của Bồ tát.

    Tổ Sư thứ mười bốn Long Thọ Ðại sĩ, Ngài lấy Kinh Hoa Nghiêm từ Long cung, Tôn giả có trí huệ phi phàm, phát dương giáo nghĩa Ðại thừa, trước tác Trung Quán Luận, Ðại Trí Ðộ Luận v.v...

    Tổ thứ mười bảy Tăng Già Nan Ðề Tôn giả hỏi Tổ thứ mười tám Già Da Xá Ða Tôn giả:

    –Chú bao nhiêu tuổi?

    Chú đồng tử này trả lời:

    –Con một trăm tuổi.

    Tổ thứ mười bảy hỏi:

    –Chú nhỏ tuổi như thế, sao lại là một trăm tuổi?

    Chú đồng tử trả lời:

    –Nếu con một trăm tuổi mà không hiểu Phật pháp, không bằng một ngày mà có thể hiểu Phật pháp.

    Tổ thứ mười bảy thấy chú đồng tử thông minh như thế liền độ cho xuất gia và truyền pháp làm Tổ thứ mười tám.


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group