Lược Giảng "KINH PHÁP BẢO ÐÀN" - Hòa Thượng Tuyên Hóa

  • Lòng Trắc Ẩn

    November 24th 2012, 5:22 pm


  • …Huệ Năng này là Tổ thứ ba mươi ba. Từ trên các vị Tổ mỗi vị đều có vâng mạng truyền kế nhau. Ngày sau, các ông phải thay thế nhau mà lưu truyền, đừng làm trái nghịch và sai lầm.

    Giảng
    :

    Tổ thứ hai mươi mốt Bà Tu Bàn Ðầu Tôn giả. Tổ thứ hai mươi hai là Ma Noa La Tôn giả. Tổ thứ hai mươi ba là Hạc Lặc Na Tôn giả. Tổ thứ hai mươi bốn là Sư Tử Tôn giả, Ngài cũng bị người giết. Ngài du hóa đến nước Kế Tân. Quốc vương nước này tin thờ ngoại đạo, có lãnh tụ ngoại đạo phá hoại Phật giáo, cho nên nước này lúc đó không cho phép có Tỳ kheo. Tỳ kheo Sư Tử vì muốn giáo hóa vua nước này, cho nên du hóa đến đó. Quốc vương hỏi:

    –Ông đã liễu sanh tử chưa?

    Tỳ kheo Sư Tử trả lời:

    –Tôi đã liễu rồi.

    Quốc vương nói:

    –Nếu ông đã liễu sanh tử thì nên bố thí đầu ông cho trẫm. Vì Phật giáo khuyên người hành Bồ Tát đạo, cần bố thí đầu mắt não tủy, Trẫm nay muốn đầu của ông, ông có thể bố thí không?

    Tỳ kheo Sư Tử trả lời:

    –Có thể. Tôi sanh tử đã liễu. Cái đầu này có đáng gì đâu. Bệ hạ cứ việc lấy đi.

    Nhà vua nghe Ngài nói như thế, liền lấy bảo kiếm chém đầu Ngài, đầu chém đứt xuống liền tuôn ra dòng nước trắng, không có máu chảy. Quốc vương dùng kiếm chém đầu Tỳ kheo Sư Tử, cánh tay của nhà vua cũng lập tức đứt đoạn! Vì nhà vua đã phạm vào tội giết A-la-hán. Lúc này Quốc vương mới tin vào sự bất khả tư nghì của Phật pháp, liền chém đầu lãnh tụ ngoại đạo, nhưng nhóm người ngoại đạo thì giống như phàm phu bình thường, chém thì chém cũng không có tuôn ra dòng nước trắng hoặc hiện ra những thoại tướng kỳ đặc. Sau đó nhà vua liền thông cáo toàn quốc, không cho phép ngoại đạo lưu truyền, phục hưng Phật giáo, từ đó về sau Phật giáo phát triển rất mạnh.

    Lục Tổ nói:

    –Các vị! Chư Tổ ở trên đều có truyền thừa, dùng tâm ấn tâm, các ông về sau đời đời truyền thọ, không nên để cho Phật pháp đoạn tuyệt.

    Ðại chúng nghe Lục Tổ Ðại sư thuyết về lịch đại Tổ sư đều sanh lòng tín tâm, khấu đầu đảnh lễ lui về một bên.



    Niên hiệu Tiên Thiên thứ hai, nhằm năm Quý Sửu, tháng tám, ngày mùng ba, tại chùa Quốc Ân, sau khi thọ trai rồi, Ðại sư bèn kêu đại chúng mà bảo rằng:

    "Chúng ngươi hãy theo ngôi thứ mà ngồi, ta sắp từ biệt chúng ngươi."

    Pháp Hải bạch rằng: "Hòa Thượng để lại giáo pháp gì, khiến cho những người mê muội đời sau đặng thấy Phật tánh?"

    Giảng
    :

    Lục Tổ Ðại sư vào ngày mùng ba tháng tám năm thứ hai niên hiệu Tiên Thiên, tại chùa Quốc Ân, Tân Châu (quê hương của Ngài), sau khi độ trai xong, nói với đồ chúng:

    –Các ông theo thứ tự mà ngồi (trong Phật giáo người thọ giới trước ngồi trước, người thọ giới sau ngồi sau, lấy giới luật làm thứ tự tôn ty). Tôi nay cùng với các ông từ biệt.

    Pháp Hải là vị trưởng lão dưới tòa Tổ Sư, cao hơn những người khác, nên lúc nào Ngài cũng đều đứng ra thưa chuyện, vì thế Ngài nói với Lục Tổ Ðại sư:

    –Không biết Hòa thượng lưu lại giáo pháp gì, khiến cho kẻ mê đời sau được minh tâm kiến tánh ?



    Sư nói: "Chúng ngươi hãy chú tâm nghe cho rõ. Những người mê muội đời sau nếu nhận thức được chúng sanh thì nhận thức được Phật tánh. Bằng chẳng nhận biết chúng sanh, thì muôn kiếp tìm Phật ắt khó gặp. Nay ta dạy các ngươi thế nào biết chúng sanh ở tâm mình, thấy Phật tánh ở tâm mình. Muốn cầu thấy Phật thì chỉ cần biết chúng sanh. Chỉ vì chúng sanh mê (không nhận thức được) Phật, chớ chẳng phải Phật mê (không nhận thức được) chúng sanh. Nếu tánh mình giác thì chúng sanh là Phật. Bằng tánh mình mê muội, thì Phật là chúng sanh. Tánh mình bình đẳng, thì chúng sanh là Phật. Tánh mình tà hiểm, thì Phật là chúng sanh. Nếu tâm chúng ngươi hiểm khúc tức là Phật ở trong chúng sanh. Một niệm bình đẳng, ngay thật, tức là chúng sanh thành Phật. Tâm ta tự có Phật, Phật ở tâm mình, mới thiệt là chơn Phật. Nếu tự mình không có tâm Phật, thì tìm chơn Phật ở nơi nào? Cái tự tâm của chúng ngươi là Phật, chớ khá hồ nghi.

    Thiệt sự thì, ngoài cái tâm không có một vật gì tạo được, mà chính cái Bổn tâm sanh ra chủng chủng pháp. Cho nên Kinh nói: Tâm sanh thì chủng chủng pháp đều sanh, tâm diệt thì chủng chủng pháp đều diệt.

    Nay ta để lại một bài kệ đặng từ biệt chúng ngươi. Bài kệ nầy gọi là "Tự Tánh Chơn Phật Kệ" – Bài kệ nói về chơn Phật ở nơi tánh mình. Người đời sau biết được cái ý chỉ của bài kệ nầy, thì tự mình thấy Bổn tâm, tự mình thành Phật đạo.

    Giảng
    :

    Lục Tổ Ðại sư nói:

    –Các ông chú ý nghe, người mê đời sau, nếu nhận biết (recognize) được chúng sanh, thì nhận biết được Phật tánh. Nếu không nhận ra chúng sanh thì cũng không nhận ra Phật tánh. Nếu như các ông không nhận ra được chúng sanh mà đi tìm Phật tánh, thì tìm muôn kiếp cũng tìm không ra. Ông muốn tìm Phật thì nên tìm trong chúng sanh. Bồ Tát Thường Bất Khinh gặp chúng sanh liền khấu đầu lễ bái, bởi vì Ngài cho rằng tất cả chúng sanh đều là Phật, cho nên Ngài mới có thể thành Phật. Nếu Ngài thấy mọi người đều là ma, tự Ngài cũng chính là ma.

    Tôi nay dạy các ông cần nhận ra chúng sanh trong tâm của mình, nên thấy Phật tánh trong tâm của mình, không nên giong ruổi bên ngoài tìm cầu. Ông muốn thấy Phật, trước tiên phải cung kính chúng sanh; nhận thức chúng sanh là Phật, thì ông cũng sẽ minh tâm kiến tánh. Chúng sanh không nhận biết Phật, chớ không phải Phật không nhận biết chúng sanh, nếu ông tự tâm giác ngộ, vậy thì cái chúng sanh của ông là Phật. Nếu ông tự ngu si, không hiểu rõ, không giác ngộ, dù ông vốn là Phật thì nay cũng biến thành chúng sanh. Phật tánh của mình thì bình đẳng, như thế chúng sanh cũng chính là Phật. Nếu tâm ông tà hiểm, chỉ thấy người sai lầm, dù ông là Phật, nay cũng biến thành chúng sanh, cho nên Phật và chúng sanh thì chỉ trong một niệm. Nếu tâm ông không trực, cong cong quẹo quẹo, thì Phật ở trong chúng sanh; nếu ông có thể trực tâm, chúng sanh liền thành Phật. Mỗi người trong tâm đều có Phật, Phật của mình mới là chân Phật, nếu trong tâm ông một Phật cũng không có, thì ông đi đâu tìm chân Phật? Chân Phật chính là trong tâm ông phải có một chân Phật. Phật tức tâm, tâm tức Phật, ông có chánh niệm, chính là Phật, chứa chấp tà niệm chính là ma. Sanh ra một niệm thanh tịnh chính là Phật, sanh ra một niệm ô nhiễm chính là ma. Chỉ cần xem ông sanh niệm gì? Nếu ông có thể tự tịnh kỳ tâm, đó mới là chân Phật! Nếu tâm ông không thanh tịnh, không có một tâm Phật chân chánh, vậy thì ông đi đâu tìm chân Phật? Tìm không ra đâu, cho nên nói: "Phật ngồi trong tâm."

    Tự tâm các ông chính là Phật, không nên giong ruổi bên ngoài tìm cầu, lại không nên sanh lòng hoài nghi. Nếu truy cầu bên ngoài thì không có một vật có thể thành lập. Vạn pháp đều từ tự tâm sanh ra. Cho nên Kinh nói: Vì tâm sanh cho nên vạn pháp sanh, nếu tâm diệt thì vạn pháp diệt. Cho nên: "Phật thuyết nhứt thiết pháp vì độ nhất thiết tâm, nhược không tất cả tâm, đâu dùng nhất thiết pháp?" Tất cả pháp không rời tự tâm, cũng không rời tự tánh. Tôi nay lưu lại một bài kệ tụng cùng các ông giã biệt:

    Quý vị nên chú ý bài kệ tụng này, trong "Ðàn Kinh" quan trọng nhất chính là bài kệ tụng sau cùng này, bài này rất hay! Lục Tổ Ðại sư không những lưu cho những người thời đó mà cũng lưu cho chúng ta những người tu hành hiện nay. Tên bài kệ là: "Tự tánh chân Phật kệ." Chúng ta đều có phần, đều nên y theo bài kệ này tu hành. Nếu hiểu rõ bài kệ này, thì có thể tự kiến bổn tâm, mà tự thành Phật đạo.



    Chân như tự tính thị chân Phật.

    Tà kiến tam độc thị ma vương.

    Tà mê chi thời ma tại xá,

    Chính kiến chi thời Phật tại đường.

    Tính trung tà kiến tam độc sinh,

    Tức thị ma vương lai trụ xá.

    Chính kiến tự trừ tam độc tâm,

    Ma biến thành Phật chân vô giả.

    Pháp thân báo thân cập hóa thân,

    Tam thân bổn lai thị nhất thân.

    Nhược hướng tính trung năng tự kiến,

    Tức thị thành Phật Bồ đề nhân.

    Bổn tùng hóa thân sinh tịnh tính.

    Tịnh tính thường tại hóa thân trung.

    Tính sử hóa thân hành chánh đạo.

    Ðương lai viên mãn chân vô cùng.

    Dâm tính bổn thị tịnh tính nhân,

    Trừ dâm tức thị tịnh tính thân.

    Tánh trung các tự ly ngũ dục,

    Kiến tính sát-na tức thị chân.

    Kim sinh nhược ngộ đốn giáo môn,

    Hốt ngộ tự tính kiến Thế Tôn.

    Nhược dục tu hành mích tác Phật,

    Bất tri hà xứ nghĩ cầu chân,

    Nhược năng tâm trung tự kiến chân,

    Hữu chân tức thị thành Phật nhân.

    Bất kiến tự tính ngoại mích Phật,

    Khởi tâm tổng thị đại si nhân.

    Ðốn giáo pháp môn kim dĩ lưu,

    Cứu độ thế nhân tu tự tu.

    Báo nhữ đương lai học đạo giả :

    Bất tác thử kiến đại du du.



    Chân như tự tánh là chân Phật.

    Tà kiến tam độc thật Ma vương.

    Lúc tà mê Ma ở trong nhà,

    Khi chánh kiến Phật ở trong nhà.

    Trong tánh tà kiến tam độc sanh,

    Tức là Ma vương đến trong nhà,

    Chánh kiến tự trừ tâm tam độc,

    Ma biến thành Phật thật không giả.

    Pháp thân, Báo thân và Hóa thân,

    Ba thân xưa nay là một thân.

    Nếu nhằm trong tánh hay tự thấy,

    Tức là nhân Bồ đề thành Phật.

    Vốn từ Hóa thân sanh tánh tịnh,

    Tánh tịnh thường ở trong Hóa thân.

    Tánh khiến Hóa thân hành chánh đạo,

    Khiến sau viên mãn thật không cùng.

    Tánh dâm vốn là nhân tánh tịnh,

    Trừ dâm tức là thân tánh tịnh.

    Trong tánh mỗi tự lìa ngũ dục,

    Thấy tánh sát-na tức là chân.

    Ðời này nếu gặp pháp Ðốn giáo,

    Chợt ngộ tự tánh thấy được Phật.

    Nếu muốn tu hành mong làm Phật,

    Không biết nơi nào nghĩ làm chân,

    Nếu hay trong tâm tự thấy chân,

    Có chân tức là nhân thành Phật.

    Chẳng thấy tự tánh ngoài tìm Phật,

    Khởi tâm thảy là người đại si.

    Pháp môn Ðốn giáo nay lưu truyền,

    Cứu độ người đời phải tự tu.

    Bảo ông, người học đạo đời sau:

    Không khởi thấy này uổng luống tu."

    Giảng
    :

    Chân Phật là gì? Mọi người đều có cái Chân như tự tánh, nó còn gọi là Thực tướng, còn gọi là Như Lai Tàng, lại gọi là Phật tánh. Chân như chính là tự tánh của ông, tự tánh cũng chính là Chân như của ông, tự tánh Chân như cũng chính là chân Phật. Chân Phật ông đã nhận biết thì nên biết ma vương là cái gì, ma vương chính là tà kiến của ông, tam độc của ông. Mà tam độc cũng chính là tà kiến của ông, tà kiến cũng chính là tam độc của ông, có tà kiến, có tam độc, đó là ma vương, tam độc chính là tham sân si – tham tài, tham sắc, tham tất cả đều là tam độc. Giống như sau khi xuất gia, tham trước phan duyên, đi khắp nơi muốn có đệ tử, đây đều là tam độc. Như đạo trường này, ai quy y chính là tự mình phát tâm quy y, nếu không phát tâm cũng không miễn cưỡng. Nếu tôi kêu ông quy y tôi, ông hỏi: "Thầy có đủ tư cách làm thầy không? Thầy có đủ tư cách làm vị Thiện tri thức không?" Thế thì, tôi không có lời nào để nói.

    Lúc có tà mê thì sanh ra vô minh, vừa có vô minh liền sanh ái dục, vừa có ái dục thì ma ở trong nhà ông. Ông có chánh kiến mà không có tâm tham, tâm sân, tâm si, không có tà tri tà kiến, dọn dẹp tâm mình thanh tịnh sạch sẽ, lúc đó Phật ở trong nhà.

    Phật và ma đều do tự tánh ông hiển hiện, nếu tự tánh ông sanh tà kiến, thì sanh ra tham sân si tam độc. Nếu không tà kiến, tam độc sẽ không sanh khởi. Nếu sanh tam độc thì ma vương ở trong nhà của ông, nhà của ông cũng chính là thân của ông. Nếu có chánh kiến sẽ trừ đi tam độc. Lúc tâm không có tam độc, ma vương liền biến thành Lục Tổ, cái đạo lý này thì rất chân thực và chân thực nhất mà không hư giả, ông chỉ cần có chánh kiến đó là Phật, nếu ông chứa chấp tà kiến đó là ma. Thanh tịnh Pháp thân, Viên mãn Báo thân và Thiên bách ức Hóa thân, tuy nói là ba thân, nhưng ba thân này là do một thân của ông biến hóa mà ra, đây gọi ba là một, một mà ba, ba thân tức là một thân, một thân tức là ba thân.

    Nếu trong tự tánh thấy được chân Phật của tự tánh, đó là hột giống sẽ thành Phật sau này. Ông có hột giống Bồ đề, tương lai nhất định sẽ trổ quả Bồ đề, trổ quả Bồ đề cũng chính là thành Phật.

    Tự tánh thanh tịnh của ông vốn từ Hóa thân của ông sanh xuất ra. Tự tánh thanh tịnh Pháp thân của ông cũng ở trong Hóa thân của ông. Tự tánh của chính ông có thể khiến Hóa thân ông thành chánh đạo, tương lai viên mãn Bồ đề tự tánh và viên mãn Báo thân cũng sẽ vô cùng vô tận.

    Người có tâm dâm dục, nhưng không cần sợ, ông xem Hỏa Ðầu Kim Cang trong Kinh Lăng Nghiêm, lòng dâm dục của ông ta vốn rất nặng, nhưng sau đó ông có thể dụng công phu biến lửa dâm dục thành lửa trí huệ mà làm Hỏa Ðầu Kim Cang. Cho nên nói dâm dục vốn là nhân của tịnh tánh. Nếu ông có một niệm chánh, đó là nhân của tịnh tánh. Nếu ông chứa chấp một niệm tà thì sẽ không thanh tịnh, cho nên không phải đoạn trừ tánh dâm dục, mà biến dâm dục thành tịnh tánh. Dâm tánh vốn không thanh tịnh, nhưng cần biến nó thành tịnh tánh – chánh tri chánh kiến. Ðấy mới là đúng! Cho nên nói: Tánh dâm tức là tịnh tánh thân, trừ dâm thì được Pháp thân thanh tịnh.

    Ông ở trong tự tánh nên rời bỏ ngũ dục. Ngũ dục tức là sắc, thanh, hương, vị, xúc, có chỗ nói là tài, sắc, danh, thực, thùy. Năm dục này ông nên rời xa, trong tự tánh không khởi lên tà kiến, mọi lúc đều cần có chánh tri chánh kiến. Một khi rời bỏ ngũ dục thì ông sẽ kiến tánh ngay và sẽ đắc được Chân như diệu tánh.

    Chúng ta trong đời này gặp phải pháp môn đốn giáo – pháp môn Thiền tông, hốt nhiên khai ngộ, hiểu rõ Bổn tâm, kiến tự Bổn tánh, lúc này có thể tự mình thấy Thế Tôn và mười phương Chư Phật. Nếu ông muốn tu hành, muốn làm Phật, thì ông không nên truy cầu bên ngoài mà nên ở trong tự tánh dụng công phu. Bằng không, thì ông sẽ không biết đi đâu mà tìm chân Phật.

    Nếu đi tìm Phật tánh chân chánh trong bổn tâm mình, thì có thể minh tâm kiến tánh, thấy được Chân như diệu tánh, đó là hột giống thành Phật. Còn như ông không hồi quang phản chiếu trở về tìm cầu nơi mình, chỉ truy cầu bên ngoài, sanh lên một niệm muốn tìm Phật bên ngoài thì đó là người ngu si nhất.

    Pháp môn đốn giáo thiền tông này nay tôi đã truyền hết cho các ông, người đời gặp pháp môn này cũng nên tự mình tu hành, không thể không tu hành a! Tôi nay vì các ông, là người học đạo mà giảng thuyết, nếu các ông không nghĩ như thế, thì bỏ phí thời gian, để thời giờ luống trôi như vậy, rốt cuộc không có lợi ích gì.



    Ðại sư nói kệ rồi, bảo rằng: "Chúng ngươi hãy ở lại, sau khi ta diệt độ, chẳng nên theo thế tình mà buồn khóc ủ-ê, hoặc thọ sự điếu vấn của người, hoặc mình mặc hiếu phục. Nếu như thế thì chúng ngươi chẳng phải là đệ tử của ta, vì đó chẳng phải là chánh pháp. Chúng ngươi chỉ cần nhận biết Bổn tâm mình, thấy Bổn tánh mình, là không động không tịnh, không sanh không diệt, không đi không lại, không phải không quấy, không trụ không vãng.

    Bởi sợ e chúng ngươi còn mê muội, không hiểu ý ta, nên nay ta dặn lại cho chúng ngươi, đặng cho chúng ngươi thấy tánh. Sau khi ta diệt độ, phải y theo pháp ấy mà tu hành, như lúc ta còn ở tại thế. Nếu làm trái lời ta dạy, dầu ta ở tại thế cũng không ích gì."

    Sư lại nói kệ rằng:

    "Ngột ngột bất tu thiện,

    Ðằng đằng bất tạo ác,

    Tịch tịch đoạn kiến văn,

    Ðãng đãng tâm vô trước."



    An nhiên, thiện sự vẫn không tu,

    Siêu thoát, ác duyên hẳn bỏ từ.

    Lẳng lặng, dứt trừ nghe thấy biết,

    Phẳng bằng, tâm địa không níu vương.

    Giảng
    :

    Lục Tổ Ðại sư thuyết xong bài kệ phía trước, lại nói với đại chúng:

    –Các ông nên trụ tâm không nên vọng tưởng, nên buông bỏ, không nên nhìn không thấu, nên nhìn thấu, buông bỏ xuống thì đắc được tự tại. Sau khi tôi viên tịch nhập Niết Bàn, không nên biểu hiện hoặc có cử chỉ giống như người phàm phu tục tử – thọ người tế bái cúng điếu, thân mặc hiếu phục, khóc than, bi ai, nước mắt rơi như nước mưa, khiến hàng trăm mẫu ruộng cũng không bị khô hạn. Nếu các ông làm như thế thì không phải đệ tử của tôi, mà là đệ tử của tôi thì cần phải nghe lời của tôi, nếu các ông không nghe lời, thì không phù hợp chánh pháp, cho nên các ông không nên làm như vậy. Vậy phải làm sao? Các ông chỉ cần nhận thức bổn tâm của chính mình, thấy được bổn tánh của chính mình. Bổn tâm bổn tánh không động không tịnh. Tự tánh không sanh không diệt, tự tánh không đến không đi, tự tánh không đúng không sai, tự tánh không thiện không ác, tự tánh không tốt không xấu, tự tánh không đen không trắng, tự tánh không dài không ngắn, tự tánh không ở không đi – không ở chỗ này cũng không ở chỗ kia, các ông trong tự tánh dụng công phu cần minh tâm kiến tánh, nếu không minh tâm kiến tánh, thì thời gian trôi qua vô ích. Tôi sợ các ông trong tâm vẫn còn mê hoặc không hiểu rõ đạo lý của tôi nói, tôi nay nói lại một lần nữa, phó chúc các ông lần nữa, chính là muốn khiến cho các ông thức tự bổn tâm, kiến tự bổn tánh, có thể minh tâm kiến tánh. Sau khi tôi viên tịch, các ông nên y theo phương pháp này tu hành, thì giống như tôi còn tại thế. Nếu các ông làm ngược lại lời giáo hóa của tôi, thì dù tôi tại thế không nhập Niết Bàn, đối với các ông cũng không có ích lợi gì. Vì thế lại nói một bài kệ tụng:



    Ngột ngột tức như như bất động liễu liễu thường minh, mà không chấp vào tu thiện, ông làm thiện cũng không nên giống như Lương Võ Ðế đi khắp nơi khoe khoang công đức. Ðây không phải kêu ông không tu thiện, mà là không nên chấp vào việc tu thiện.



    Ðằng đằng tức diêu dao tự tại, thung dung thoải mái, suốt ngày đều an lạc. Không tu thiện nghĩa là không chấp chặt vào thiện pháp, không tạo ác tức là không phải tạo ác rồi không chấp vào nó mà là tuyệt đối không thể làm điều ác, tức sát đạo dâm, nhất là dâm, cho nên có câu: Vạn ác dâm đứng đầu, tử lộ chớ đi vào. Có hành vi tà dâm, đó chính là đi về con đường chết.



    Tịch tịch tức là dáng an tịnh, cảnh giới này vừa bình an, vừa thoải mái, vừa an lạc. Ðoạn kiến văn tức không thấy không nghe, tức đoạn trừ kiến văn, không ở nơi cửa lục căn sanh ra tà kiến. Sanh chánh kiến thì có thể, nhưng phải đoạn trừ tà kiến tà văn, tức việc phi lễ không nhìn, điều phi lễ không nghe, lời phi lễ không nói.



    Ðãng đãng là bằng phẳng rộng lớn không có biên tế. Tâm lượng bao gồm vũ trụ, chan hòa trời đất, dáng bằng phẳng rộng rãi, tâm không có chỗ chấp trước.



    Sư nói kệ rồi, ngồi ngay thẳng đến canh ba, thình lình gọi môn nhơn mà bảo rằng: "Ta đi." Hốt nhiên Ngài thiên hóa. Khi ấy mùi thơm xông ướp đầy nhà, móng bạc liên giao giáp đất, rừng cây biến ra màu trắng, thú cầm kêu vọng bi ai.

    Giảng
    :

    Lục Tổ Ðại sư nói xong bốn câu kệ này liền kiết già phu tọa ngồi đến canh ba nửa đêm mười hai giờ (Lục Tổ Ðại sư lúc ngồi thiền, thì đồ đệ đều ngồi bên cạnh). Ðại sư nói nói với môn đồ rằng: "Thời gian đã đến, ta sắp đi rồi, ta từ giã các ông!" Nói xong lời này, Ngài lập tức đoạn khí, người không động mà nhập Niết Bàn. "Thiên hóa" tức là dọn về nhà mới. Ai dọn nhà vậy? Tức nhục thân Bồ Tát dọn nhà. Lúc này có một mùi hương lạ tràn ngập Pháp đường, trên trời xuất hiện một móng cầu vòng trắng, ánh sáng trắng chiếu xuống mặt đất. Cây rừng biến thành màu trắng vì ánh sáng trắng chiếu sáng, cho nên cây rừng đều biến thành màu trắng, đây là một cách nói, cách nói khác là cây rừng vì Lục Tổ vãng sanh viên tịch, mà buồn thương bi ai, cho nên cây rừng biến thành sắc trắng giống như mặc hiếu phục. Lúc đó trên núi có rất nhiều phi cầm động vật đều khóc lên, thảo mộc vốn vô tình, nhưng đều biến thành hữu tình, đều mặc hiếu phục. Cầm thú vốn là vô tri, nhưng nay cũng có linh tánh, cũng đều khóc lên.



    Tháng mười một, các quan và chức sắc, ở ba quận: Quảng châu, Thiều châu và Tân châu, cùng các môn nhơn tăng, tục, giành rước chơn thân của Ngài, nhưng chưa quyết đem về đâu, bèn đốt nhang vái rằng: Khói nhang bay về xứ nào, thì Sư sẽ về xứ ấy. Lúc ấy khói nhang bay thẳng về Tào Khê.

    Ngày mười ba, tháng mười một, dời Thần khám của Ðại sư và đồ y bát của Tổ truyền về xứ Tào Khê.

    Qua năm kế ngày hai mươi lăm, tháng bảy, mở Thần khám ra, đệ tử là Phương Biện lấy bột thơm rải lên chơn thân Ngài.

    Giảng
    :

    Tháng mười một, quan liêu, đệ tử quy y và các đệ tử xuất gia ở ba vùng Quảng Châu, Thiều Châu và Tân Châu đều tranh nhau nghinh rước chân thân Lục Tổ. Ðệ tử ở Quảng Châu muốn thỉnh chân thân Lục Tổ đến chùa Quang Hiếu, tức là nơi Lục Tổ Ðại sư thế phát. Người ở đây nói: "Tóc của Lục Tổ Ðại sư chôn ở đất này, vậy thì chân thân của Tổ Sư cũng nên thỉnh đến đất Quảng Châu của chúng tôi để cúng dường."

    Các vị Tăng sĩ và đệ tử quy y tại Tân Châu nói: "Ðại sư là người Tân Châu của chúng tôi nên nghinh rước chân thân của Ngài trở về cố hương để phụng thờ."

    Người Thiều Châu thì nói: "Ðại sư trụ tại chùa Nam Hoa, là Tổ Sư khai sơn ở đó, thì phải thỉnh Ngài về chùa Nam Hoa mới đúng."

    Mọi người cùng nhau tranh luận, mỗi người đều đưa ra lý do của mình mà không thể quyết định, họ dường như sắp đánh nhau. Quý vị chắc biết, người đương thời đều muốn tranh Tổ Sư để cúng dường. Lúc Tổ Sư còn tại thế, họ không tranh vì Tổ Sư có tự do của Tổ Sư. Lúc này Tổ Sư đã viên tịch không còn hơi sức, mọi người đều có quyền cúng dường, cho nên mỗi người mới đưa ra lý do của mình. Lục Tổ Ðại sư vốn là người Tân Châu, thỉnh đến Tân Châu là đúng rồi, vì chính Lục Tổ Ðại sư cũng nói: "diệp lạc quy căn— lá rụng về cội mà." Song, chùa Nam Hoa là do Lục Tổ kiến tạo, thỉnh đến chùa Nam Hoa cũng đúng nữa. Nhưng, chùa Quang Hiếu ở Quảng Châu là nơi Lục Tổ Ðại sư xuống tóc; tóc của Ngài rơi tại đó, cho nên Pháp của Ngài nên rơi về đó, họ muốn thỉnh cũng đúng luôn. Mỗi người đều có lý do chính đáng, vì thế dường như sắp đánh nhau.

    Lúc này có một người thông minh đứng ra nói: "Khi Lục Tổ Ðại sư tại thế, chúng ta vâng theo lời giáo hóa của Ngài, nay Lục Tổ Ðại sư đã viên tịch, chúng ta vẫn nên nghe theo sự giáo hóa của Ngài, nay thỉnh Lục Tổ Ðại sư tự Ngài quyết định." Có người nói: "Lục Tổ Ðại sư đã viên tịch rồi, Ngài làm sao có thể dạy chúng ta nghinh rước đến chỗ nào được?" Người thông minh nói: "Tôi có biện pháp, vì Lục Tổ Ðại sư rất linh ứng, lúc tại thế Ngài có tha tâm thông, sau khi viên tịch Ngài đương nhiên cũng có tha tâm thông a! Chúng ta nay tranh giành cúng dường chân thân của Ngài mà cãi vã với nhau, Ngài nhất định không vui. Nay chúng ta đảnh lễ thắp hương, khói hương chỉ về hướng nào, thì đó là hướng mà Lục Tổ Ðại sư muốn về, chúng ta nghe theo lời dạy của Lục Tổ Ðại sư, được không?" Mọi người nghe xong đều tán thành nói: "Hay lắm! Chúng ta nên nghe theo lời dạy bảo của Lục Tổ Ðại sư." Vì thế bèn đốt hương, khói hương hướng thẳng về chùa Nam Hoa. Người Quảng Châu và Tân Châu vì thế mà tâm phục, vì thế mới đưa chân thân của Lục Tổ Ðại sư về chùa Nam Hoa cúng dường.

    Quý vị xem kinh văn: "tranh nghinh chân thân, mạc quyết sở tri," thì biết tình hình lúc đó rất nghiêm trọng, rất gay go, mỗi người đều muốn giành bảo thân Lục Tổ. Vì thế đốt hương khẩn vái: "Bồ Tát Lục Tổ, Ngài phát đại từ bi, hiển đại thần thông, Ngài chỉ khói hương về hướng nào thì chúng con đưa Ngài đến chỗ đó." Lúc đó khói hương trực chỉ Tào Khê. Ngày mười ba tháng mười một, mọi người đưa chân thân của Lục Tổ và y bát do Ðạt Ma Tổ Sư truyền thọ về chùa Nam Hoa. Tháng bảy năm sau thỉnh chân thân Lục Tổ Ðại sư từ trong khám thờ ra, đệ tử Phương Biện, tức là vị có tài đắp tượng Phật, cũng là một trong những vị được Lục Tổ truyền pháp, bèn dùng bột thơm, tro thơm và bùn, đắp vào những chỗ hũng trên thân Lục Tổ.



    Các môn đồ nhớ lại lời thọ ký về sự lấy đầu, mới dùng lá sắt mỏng mà bố dầu bao chặt cổ Ðại sư rồi để vào tháp. Thình lình trong tháp có một luồng bạch quang hiện ra, xông lên trời ba ngày mới tan.

    Giảng
    :

    Môn đồ nhớ lời Lục Tổ Ðại sư tiên đoán: năm sáu năm sau, có người lại lấy đầu của Ngài, cho nên dùng lá sắt vải dầu bao chung quanh cổ Ðại sư, sau đó đưa vào trong tháp. Thình lình trong tháp xuất hiện ánh bạch quang chiếu thẳng lên trời, ba ngày sau mới tan mất.



    Quan huyện Thiều châu làm sớ tâu cho vua hay, và vâng sắc chỉ dựng bia, ghi lại đạo hạnh của Tổ Sư để làm kỷ niệm như vầy:

    Tổ Sư xuân thu bảy mươi lẻ sáu. Hai mươi bốn tuổi đã được truyền y, ba mươi chín tuổi xuống tóc. Sư thuyết pháp độ sanh ba mươi bảy năm. Trong các môn nhơn của Ngài có bốn mươi ba người đặng đạt tông chỉ và nối truyền chánh pháp. Còn những người ngộ đạo siêu phàm, chẳng biết bao nhiêu mà kể!

    Còn cái tín y của Ðạt Ma Tổ Sư truyền, cái áo Ma Nạp và cái bửu bát (do vua Trung Tông hiến cho), cùng cái chơn tượng của Ðại sư do Phương Biện nắn và cả thảy các món đạo cụ, đều giao cho người coi tháp chăm sóc và giữ gìn vĩnh viễn nơi đạo tràng tại Chùa Bảo Lâm. Các bảo vật nầy cất giữ để lưu truyền với quyển Ðàn Kinh, đặng tỏ bày cái tông chỉ của Ðại sư, cùng mở mang Tam Bảo, mà phổ lợi quần sanh.

    Giảng
    :

    Thứ sử Thiều Châu tấu trình lên Hoàng đế những điềm lành linh thiêng: Lục Tổ Ðại sư phóng quang ba ngày. Hoàng đế liền ra lệnh lập bia ghi thuật lại quá trình tu hành đạo đức của Lục Tổ Ðại sư lúc còn tại thế: "Lục Tổ Ðại sư thọ thế bảy mươi sáu tuổi, lúc hai mươi bốn tuổi được truyền pháp, ba mươi chín tuổi mới thế phát, Ngài thuyết pháp lợi sanh ba mươi bảy năm, đệ tử truyền pháp có bốn mươi ba người. Cho đến những người đắc đạo siêu phàm nhập thánh không biết bao nhiêu mà tính. Tổ sư Ðạt Ma truyền thọ tín y ca sa, Trung Tông ban ca sa và bát thủy tinh, cùng với chân tượng Lục Tổ Ðại sư do Pháp sư Phương Biện đắp, cùng với vật dụng tu hành cần dùng như tam y, bát, tọa cụ, tích trượng, đều do vị thị giả hộ trì bảo tháp cất trong tháp, là bảo vật trấn tự vĩnh viễn của Bảo Lâm đạo tràng. Lưu truyền Ðàn Kinh của Lục Tổ, để hiển đạo lý pháp môn thiền tông, đây đều là hưng long Tam bảo, khiến cho Tam bảo phát dương rộng lớn, khắp lợi ích hết thảy chúng sanh."

    Bộ Lục Tổ Ðàn Kinh này đã giảng giải viên mãn, trong thời gian này quý vị đã chịu khổ rất nhiều, nhưng tôi không biết quý vị có cảm thấy cực nhọc không, nếu quý vị biết cực nhọc, thì giống như Lục Tổ Ðại sư đã nói, đó là phàm phu, nếu không biết cực khổ thì đó là khúc cây hòn đá. Vậy quý vị có biết cực khổ hay không biết cực khổ?

    Cho đến việc tôi giảng kinh, tôi cũng không biết là giảng hay không hay, cũng không biết quý vị nghe hay hay dở. Nhưng chúng ta đều không cần cái hay hoặc cái không hay, nghe chính là nghe, tôi giảng chính là giảng, cũng không có hay, cũng không có không hay. Mọi người ở đây đều có duyên mới tụ tập một nơi, nghe được cuộc đời tu hành của Lục Tổ Ðại sư. Quý vị không nên chứa chấp cái hay hoặc cái không hay, mà nên — là đạo thì tiến, không phải đạo thì lùi, hợp chánh pháp thì y pháp tu hành, không hợp chánh pháp thì không làm. Quý vị nên ghi nhớ nằm lòng bài kệ cuối cùng của Lục Tổ Ðại sư, thường thường tụng niệm ghi nhớ, y theo bài kệ này tu hành thì nhất định sẽ thành Phật. Quý vị không nên phân biệt tôi giảng hay hay không, mà cần xem quý vị có hành hay không? Quý vị hành thì không hay cũng thành hay, nếu quý vị không hành, thì hay đến mấy cũng là không hay!

    Tôi nay hỏi quý vị: "Lục Tổ Ðại sư là vị không biết chữ, người không biết chữ thì không có tri thức gì, nhưng tại sao Ngài lại thuyết được Kinh?"

    –Học sinh: Con nghĩ, Kinh có nói: người không cần có rất nhiều nghiên cứu học thức mới có thể khai ngộ. Chủ yếu của pháp môn đốn giáo là từ trong tâm địa tự tánh dụng công phu, mà chúng con đều nên y theo đây tu hành.

    –Học sinh: Lục Tổ Ðàn Kinh nói: Một pháp đã không lập, cho nên ngay một chữ cũng không nói ra.

    –Học sinh: Nghĩa lý Ðàn Kinh vô cùng rõ ràng, nhưng mỗi lần con muốn thử nói ra, đều không có cách nào lấy ngôn ngữ để miêu tả, diễn đạt.

    –Học sinh: Lúc Lục Tổ Ðại sư nhập Niết Bàn nói: Tạm biệt! Vậy thì nay Ngài ở đâu?



    Ðáp: Ngài nay đã đến ngay nơi ông nói đó.

    Bây giờ, đối với vấn đề Lục Tổ Ðại sư không biết chữ, để nói cho các vị nghe:

    –Vì Trung Hoa đương thời, nền giáo dục không có phổ cập nhiều, muốn học nhất định phải có tiền, mà hoàn cảnh gia đình Lục Tổ lại rất nghèo khó, vì cha của Ngài là một vị thanh quan, cho nên sau khi cha chết gia đình Ngài rất nghèo khổ. Thời niên thiếu của Lục Tổ Ðại sư, sự sinh sống cơm ăn, áo mặc đều là vấn đề khó khăn, nên đương nhiên là không có cách nào đi học. Ðây là hai nguyên nhân, cho nên Lục Tổ Ðại sư không biết chữ.

    Vậy thì tại sao Lục Tổ Ðại sư thị hiện sanh ra trong một gia đình bần cùng? Sanh ra trong gian khổ khó khăn, không biết chữ như thế? Ðây là Lục Tổ Ðại sư lấy mình để làm gương cho mọi người chúng ta thấy, chính là không biết chữ mà cũng có thể thành Phật thành Tổ Sư. Tu thành Tổ Sư không nhất định phải biết chữ hay không biết chữ. Ðây là vì để tăng trưởng chí nguyện của những người không biết chữ. Lục Tổ không biết chữ nhưng Ngài đã tu thành đạo quả, chúng ta cũng có thể tu thành đạo quả. Chúng ta không nên nói: Vì một chữ không biết mà bỏ đi sự tu hành, tự ti nói, "tu hành thì cần nhân tài có học thức mới có thể tu hành, người không có học vấn thì không thể tu hành." Ngài muốn cho tất cả chúng ta không có loại biên kiến này. Ðây là cách nhìn của tôi.

    Quý vị đối với Lục Tổ Ðại sư nên có nhận thức chân chánh, Lục Tổ Ðại sư chính vì không giải đãi, mà nỗ lực hành trì, cho nên Ngài mới có thể giác ngộ. Sau khi khai ngộ Ngài thuyết Lục Tổ Ðàn Kinh. Tuy Ngài không biết chữ, nhưng cái không biết chữ này là trí huệ của thế gian. Mà Ngài nhận thức hiểu rõ tự tánh, minh tâm kiến tánh, cho nên sử dụng đại trí huệ vốn có. Kinh điển mà Ngài thuyết ra, là từ quang minh trí huệ nói ra, cho nên giá trị của bộ kinh này thì không thể so sánh được. Kinh này và kinh Phật nói thì giống nhau, vì thế chúng ta không nên nói vì Ngài không biết chữ, liền sanh tâm khinh mạn. Sau khi giảng xong Lục Tổ Ðàn Kinh, tôi hy vọng các vị đối với điều này cần nên triệt để hiểu rõ.




Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group