Những lời dạy đúng lúc - "Timely Teachings"

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 5 tháng trước
  • Tối thứ Sáu, ngày 3 tháng Mười Một năm 1972.

    Về Việc Vô Hiệu Hóa Chất Độc


    Tôi đang trong quá trình tạo ra dòng máu mới cho Phật Giáo. Tôi sẽ
    không cho phép bất kỳ một chất độc nào chảy trong dòng máu mới này.
    Không chỉ có vậy, chúng ta phải vô hiệu hóa chất độc của những người
    khác. Độc ở đây là chỉ cho ba thứ độc tham, sân và si. Vô hiệu hóa chất
    độc của người khác có nghĩa là làm thay đổi tham, sân và si của họ. Một
    chủ bút của một tờ tạp chí Phật giáo có uy tín đến từ Đài Loan đã lấy
    làm ngạc nhiên bởi vì trước đó ông ta chưa từng nghe thấy điều gì tương
    tự như vậy. Ông nói: “Con phải ghi nhớ điều này mới được. Con phải
    đưa lời dạy của Thầy vào đây” và đặt tay lên phía tim mình.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 5 tháng trước
  • Trưa Chủ nhật, ngày 31 tháng Mười Hai năm 1972.

    Về Bản Kinh Không Chữ


    Trong nháy mắt, hai khóa niệm Phật và một khóa thiền đã trôi qua. Bây
    giờ chúng ta sẽ tiếp tục phần giảng kinh, và trong nháy mắt nữa chúng ta
    sẽ giảng xong toàn bộ Kinh Hoa Nghiêm. Sau khi hoàn tất một loạt bài
    giảng này, chúng ta sẽ tiếp tục giảng về “Kinh Không Chữ (18)”



    (18) Vô Tự Kinh hay Vô Tự Chân Kinh: Chân Kinh Vô Tự

    Người biết đọc kinh, chẳng những họ biết đọc kinh có chữ mà cũng biết đọc cả kinh không chữ nữa. Nếu như biết
    đọc kinh không chữ, thì đó mới thật là người chân chánh hiểu rõ Phật Pháp. Quý vị có thể đọc kinh có chữ và cứ
    niệm đi niệm lại, thì đó là người vô sự tìm việc để làm thôi. Nếu quý vị biết đọc chân kinh vô tự (không chữ), thì đó
    là quý vị đã có phương pháp rồi. Nhưng nếu phải đọc “chân kinh vô tự” thì quý vị có đọc được không? Như quả
    quý vị không biết đọc chân kinh vô tự, thì trước là hãy đọc kinh có chữ, rồi sau đó mới có thể hiểu rõ được kinh
    không chữ. Chờ đến lúc đã hiểu rõ kinh không chữ rồi, quý vị sẽ không cần đọc kinh có chữ. Cho nên nói: “Biết thì
    không khó, khó thì không biết.” Học Phật Pháp cũng giống như thế thôi!
    Rốt cuộc thì kinh vô tự là gì? Tức là “một niệm không sanh.” Quý vị mà có thể một niệm không sanh thì tự nhiên sẽ
    trở về với không tịch. Tất cả Phật Pháp là như thế và cũng không có gì khác hơn! Nếu như quý vị không thể “nhất
    niệm bất sanh” thì quý vị hãy còn phải làm nhiều công đức, vun bồi nhiều căn lành Bồ đề và tu nhiều Bồ đề đạo.
    Chờ khi quý vị được lục độ viên mãn, muôn hạnh đều đầy đủ, đến lúc đó tự nhiên quý vị sẽ “nhất niệm bất sanh và
    không tịch hiện tiền.”
    Vì sao nói Phật không có thuyết Pháp? Trong kinh là nói như thế, luận sớ cũng nói như thế. Vậy rốt cuộc thì Phật có
    thuyết Pháp hay không? Nếu nói là Phật không thuyết Pháp, vậy thì kinh Hoa Nghiêm mà chúng ta đang giảng đây
    là từ đâu ra? Nếu như nói Phật có thuyết Pháp, thì tại sao Phật không tự thừa nhận là Ngài đã từng thuyết Pháp? Nếu
    nói Phật đã thuyết Pháp, thế là phỉ báng Phật. Nhưng hễ quý vị rời xa kinh điển dù chỉ một chữ, tức là ma nói. Như
    thế thì làm sao giảng Pháp đây?
    Vì sao Phật không thừa nhận Ngài đã nói Pháp? Bởi phàm có lời nói là làm ngăn trở nghĩa chân thật. Chân Pháp thì
    không có người nào có thể nói ra được. Những Pháp mà Phật đã nói đều là Pháp phương tiện cả. Tuy là tạm khai
    quyền để hiển bày cái thật, nhưng cái thật nầy, nếu hiển bày ra được tức không phải là thật rồi!

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 5 tháng trước
  • Tối thứ Ba, ngày 16 tháng Một năm 1973.

    Về Việc Không Tin Động Đất Sẽ Không Xảy Ra


    Con người thật kỳ quái. Trước đây, khi có tin đồn rằng nơi này sẽ xảy ra
    động đất, hầu hết mọi người đều tin lời đồn đại đó và nhiều người đã rời
    khỏi San Francisco. Lúc đó có một ông người Trung Hoa rất giàu sống
    ở thành phố Oakland, có lẽ là một triệu phú. Tưởng rằng thành phố
    Oakland sẽ bị thiệt hại bởi cơn động đất, ông ta cùng vợ quyết định rời
    Oakland đến thành phố Reno để tránh cái chết. Tuy nhiên, nửa đường đi
    đến thành phố Reno, cặp vợ chồng đều chết do tai nạn xe cộ. Nếu không
    bỏ chạy thì có thể họ đã không chết. Nếu như họ không chạy trốn, thì có
    thể họ không thiệt mạng vậy. Nhưng vì họ bỏ chạy, họ đã gặp cái chết
    trên xa lộ. Họ đã để lại vài đứa con.
    Mặc dù tôi đã nói rằng sẽ không có động đất, cho đến bây giờ mọi người
    đều không chịu tin vào lời tôi nói. Họ nói: “Ngay từ ban đầu đã không
    có động đất rồi. Đó không phải vì Ngài nói sẽ không có thì động đất sẽ
    không xảy ra.” Họ không tin. Nếu như có người nói động đất sẽ xảy ra
    thì họ lại tin. Nhưng nếu bạn nói rằng động đất sẽ không xảy ra thì họ lại
    không tin điều đó. Mặc dù không có động đất vào ngày 13 hoặc 14 [Ghi
    chú của người biên tập: như đã được dự đoán] họ vẫn không chịu tin
    điều đó. Họ cứ khăng khăng rằng đó chỉ là một sự trùng hợp.
    Người ta cũng đã dự báo trước rằng sẽ có một trận động đất xảy ra tại
    San Francisco vào năm 1968, 1969, 1970, 1971, và 1972. Cho đến ngày
    hôm nay thì không có một cơn động đất nào cả. Nhưng nếu chúng ta nói
    rõ rằng sẽ không có động đất, thì không ai tin. Có người nói: “Được rồi,
    tôi tin.”Nhưng chỉ một người tin thôi thì cũng vô ích.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 5 tháng trước
  • Trưa Chủ nhật, ngày 4 tháng Hai năm 1973.

    Về Việc Dùng Sự Tương Tự Trong Thời Hiện Đại


    [Ghi chú của Chủ Bút: Phần mục sau đây đề cập đến một phần bài giảng trước đó
    của Hòa Thượng, phần bài giảng đó như sau:
    Một nhà thơ xưa [Tô Đông Pha] từng nói:

    Tiếng suối róc rách là lưỡi rộng dài.
    Màu núi không gì ngoài thân thanh tịnh.


    Âm thanh của dòng suối chảy là lưỡi rộng dài của Đức Phật nói Pháp. Và màu sắc
    của ngọn núi là pháp thân thanh tịnh của Đức Phật. Nhà thơ Tô Đông Pha nói
    những câu trên. Không chỉ là âm thanh của suối chảy róc rách là một phần của lưỡi
    rộng dài, mà thật ra, tất cả các âm thanh trên thế gian là một phần của lưỡi rộng dài
    của Đức Phật]
    Khi quý vị tham dự các bài giảng vào buổi tối, tôi có thể nói với quý vị
    bằng lưỡi rộng dài. Lưỡi rộng dài là gì? Đó là điện thoại. Một máy phát
    thanh cũng là một lưỡi rộng dài. Và về việc hiển thị một thân thanh tịnh
    thì như thế nào? Những hình ảnh mà quý vị có thể nhìn thấy trên máy
    truyền hình hoặc trên phim ảnh có thể so sánh với việc hiển thị thân
    thanh tịnh. Một số quý vị đang suy nghĩ: “Hãy hiển thị thân thanh tịnh!”
    À, điều đó có thể làm được. Chào mừng quý vị xuất hiện trên máy
    truyền hình.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 5 tháng trước
  • Tối thứ Sáu, ngày 17 tháng Tám năm 1973.

    Về Những Khuyết Điểm Nghiêm Trọng


    Đừng nên nghĩ rằng quý vị có thể nổi giận khi người khác đối xử tệ với
    quý vị. Đây là một việc làm xấu xa nhất, tệ hại và hèn nhát nhất. Một khi
    quý vị giận dữ, bao nhiêu công sức tu hành đều tiêu tan hết. Tu hành có
    nghĩa là phải nhẫn những gì người khác không thể nhẫn, nhường những
    gì người khác không thể nhường.
    [Ghi chú: Hòa Thượng nói với một người đệ tử]: Còn ông, ông đặc biệt
    rất là nóng tánh và không biết nhường nhịn. Khi ăn thì ông là người
    đứng đầu tiên, nhưng khi làm là người áp chót. Nếu có ai đó nói với ông
    một vài câu, thì ông nổi giận và cau có lên ngay. Ông có những khuyết
    điểm trầm trọng như thế đó.
    Những người tu hành có đạo hạnh thật sự không khi nào nổi giận cả.
    Nếu một người có đức hạnh tỏ ra vẻ giận dữ, kẻ khác còn có thể chấp
    nhận dễ dàng, ngược lại nếu người thiếu đức hạnh nổi giận, thì chuyện
    này không thể được. Đừng cho rằng: “Giờ đây ta có chút công đức, ta
    có thể nổi giận với người khác.” Cách này không thể được. Mọi biểu lộ
    của sân hận chính là hình tướng ngu si của quý vị. Quý vị không nên tức
    giận với bất kỳ người nào, càng không được tức giận với những kẻ dưới
    quý vị một hai bậc, hay với những người có địa vị thấp hơn, đừng nói
    chi đến các huynh đệ đồng tu. Không phải chỉ vì quý vị sanh phiền não
    và si mê mà quý vị có thể công kích người khác

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 5 tháng trước
  • Tối thứ Sáu, ngày 24 tháng Tám năm 1973.

    Về Việc Từ Ngữ Có Thể Thay Đổi, Nhưng Đạo Lý Thì Không




    Ngày kia có vị Pháp Sư viếng thăm và nói chuyện về “muối dưa cải
    (19)”,
    đó là một thuật ngữ thông dụng cho ngồi thiền. Cơ bản, chúng ta đã thảo
    luận đạo lý về thiền tại đây từ lâu. Nhưng sau buổi pháp thoại, vị Pháp
    Sư đó hỏi một trong những đệ tử của tôi rằng trước đây cô có từng nghe
    những điều ông thảo luận hay không, thì cô trả lời: “Không.”
    Thế thì, nếu cô chưa nghe nói về thiền, như thế cô đã từng tu gì? Tất cả
    chỉ là vì vị Pháp Sư đó sử dụng một từ ngữ khác về thiền, thế thôi. Vị
    Pháp Sư đó gọi là “muối dưa cải” còn cô thì nói chưa từng nghe về
    “muối dưa cải” trước đây? Chúng ta tham khảo về thiền mỗi ngày.
    Nhưng vì cô nói chưa từng nghe về “muối dưa cải,” vị Pháp Sư đó nghĩ
    cô không được chỉ dạy đầy đủ.
    Thật ra, những gì chúng ta nghiên cứu hằng ngày đều liên quan đến hành
    thiền. Làm thế nào quý vị không thể thấy điều đó, chỉ vì vị Pháp Sư đó
    sử dụng từ ngữ “muối dưa cải?” Vị Pháp Sư đó chỉ đơn thuần sử dụng
    cách nói khác. Ví dụ như tên của quý vị. Ban đầu quý vị được biết với
    tên ngoài đời và hiện tại được biết bằng pháp danh. Bây giờ, nếu người
    biết quý vị qua tên ngoài đời rồi nghe pháp danh của quý vị, có lẽ họ sẽ
    hỏi: “Người đó là ai?” Việc đó cũng giống như ở đây. Bởi vì quý vị chỉ
    thấy được một chút, nên dễ dàng bị xoay chuyển bởi cái gì mới lạ. Vì
    vậy, khi một ai dùng từ ngữ “muối dưa cải,” quý vị lại nói “tôi chưa
    từng nghe về điều đó.” Trả lời như thế làm tất cả chúng ta bị mất mặt.
    Quý vị không suy nghĩ trước khi trả lời. Thực sự, “muối dưa cải” là một
    từ ngữ cụ thể về một đạo lý mà quý vị biết rất rõ rồi


    (19) Muối dưa cải: một thuật ngữ tượng hình nói lên tiến trình hành thiền đòi hỏi môi trường thích hơp, thời gian
    hành trì bền bỉ liên tục, đem lại chuyển hóa dần dần giống như tiến trình muối dưa cải, cần có môi trường là nước
    muối và hộp đựng kín, qua một thời gian thì thành dưa cải muối đề lâu được.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 5 tháng trước
  • Tối thứ Hai, ngày 3 tháng Chín năm 1973.

    Về Giấc Mơ Bay Bổng



    [ Sư phụ nói với các đệ tử] Thế là, quý vị đã có một giấc mơ quý vị đang
    bay. Nhưng khi tỉnh dậy, quý vị phát hiện ra rằng mình không thể bay.
    Quý vị có tham vọng làm một phi hành gia không? Quý vị có ra ngoài
    không gian tập luyện cho chuyến du hành lên mặt trăng không? Tôi sẽ
    kể cho quý vị nghe điều này. Thật ra một khi quý vị biết bay như thế
    nào, quý vị sẽ không muốn bay nữa. Chỉ là bây giờ, khi quý vị không
    biết bay thì quý vị muốn mình có thể bay.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 5 tháng trước
  • Tối thứ Ba, ngày 4 tháng Chín năm 1973.

    Về Sự Quan Trọng Của Một Chữ



    Tôi nhớ rằng trước khi Quả Tu Hằng Trì đi thọ Giới Cụ Túc, cô đã viết
    bài thơ bốn câu:

    Quả không thể đắc,
    Tu các phước đức.
    Hằng niệm Định Huệ,
    Trì Giới thành Phật. (20)


    Tôi đã thay đổi một chữ trong bài thơ của cô. Cô ấy nói: “Quả không thể
    đắc”Tôi đã đổi câu đó thành: “Quả cần phải đắc.”Cần phải đắc quả.
    Nếu không thể đắc quả thì xem như thất bại. À, làm thế nào để đắc quả?
    Bằng cách tu phước đức, và luôn luôn niệm định huệ và trì giới. Như thế
    có thể thành Phật. Vào lúc đó, khi cô viết các câu thơ này bằng tiếng
    Trung Hoa, cô hầu như chưa biết chữ Trung Hoa nào và cô không biết
    làm thế nào để dịch. Điều này chứng tỏ cô có nhân duyên sâu đậm với
    ngôn ngữ Trung Hoa.



    (20) Trước khi xuất gia, pháp danh Sư Cô Hằng Trì là Quả Tu (果修), sau khi xuất gia pháp danh Sư Cô là Hằng Trì,
    nên bài thơ này bắt đầu bằng bốn chữ Quả Tu Hằng Trì.
    Nguyên văn bài thơ bằng Hoa ngữ:

    Quả bất năng đắc,
    Tu chư phúc đức;
    Hằng niệm định tuệ,
    Trì giới thành Phật.

    Hòa Thượng đã sửa lại một chữ:

    Quả tất năng đắc,
    Tu chư phúc đức;
    Hằng niệm định tuệ,
    Trì giới thành Phật.

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 5 tháng trước
  • Chiều Chủ nhật, ngày 16 tháng Chín năm 1973.

    Về Mật Tông



    Hôm nay sau buổi giảng kinh sẽ có một lớp học tiếng Trung Hoa về bài
    luận văn do tôi viết, tựa là “Lược Thuyết Về Mật Tông.” Phần lớn
    người ta ai cũng đều xem phái Mật Tông rất tuyệt. Thật tuyệt vời vì đó
    là một pháp môn bí mật! Hầu như những ai tu theo pháp môn Mật Tông
    đều ích kỷ bởi thái độ muốn giấu pháp, không cho người khác biết. Quý
    vị nên biết nguyên tắc này - rằng đa số những kẻ theo Mật Tông đều ích
    kỷ và chỉ có một số ít là có tinh thần vị tha.
    Trước hết, đa số những kẻ theo phái Mật Tông đều ăn thịt và uống rượu.
    Họ nghĩ: “Thế này không tệ, mình có thể kết hôn và cũng có thể thành
    Phật (21).”

    Nhưng nói theo Mạnh Tử, người đời không thể vừa ăn món cá vừa ăn
    món chân gấu, không thể có cả hai22. Những kẻ tu hành Mật Tông sai
    lầm thì thường hay rơi vào con đường của A-tu-la. Điều này rất nguy
    hiểm!

    (21) Ban Phiên Dịch Việt Ngữ dùng bản nguyên văn Hoa ngữ của Hòa Thượng để dịch phần này. Có thể xem thêm
    bài http://www.dharmasite.net/DaoTrangHoaNghiemHoaNghiemHaiHoi.htm

    (22) Bản dịch Anh ngữ nhằm giúp cho độc giả đọc tiếng Anh dễ hiểu thành ngữ Trung Hoa “Vừa ăn món cá vừa ăn
    món chân gấu” nên dùng một thành ngữ tương tự trong tiếng Anh là“they like having their cake and eating it too,”
    hàm ý là điều không thể có. Trong sách
    Mạnh Tử viết: “ngư, ngã sở dục dã, hùng chưởng diệc ngã sở dục dã; nhị giả bất khả đắc kiêm xá ngư nhi thủ hùng
    chưởng giả dã. Sanh diệc ngã sở dục dã,nghị diệc ngã sở dục dã; nhị giả bất khả đắc kiêm,xá sanh nhi thủ nghĩa giả
    dã.Sanh diệc ngã sở dục,sở dục hữu thậm ư sanh giả,cố bất vi cẩu đắc dã; tử diệc ngã sở ác,sở ác hữu thậm ư tử
    giả,cố hoạn hữu sở bất tịch dã.”

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 5 tháng trước
  • Tại đường Washington, tối thứ bảy, ngày 6 tháng Mười năm 1973.

    Về Sự Tìm Hiểu Trí Tuệ Tập Thể


    Chúng ta hãy nhìn vào vấn đề về lời phát nguyện của Quả Du (23) muốn
    thực hiện chuyến hành hương Ba Bước Một Lạy từ 800 đến 1000 dặm.
    Tất cả quý vị nên xem xét coi ông ta có thể thành tựu được lời phát
    nguyện này hay không. Bất cứ ai có ý kiến nên phát biểu. Trí tuệ tập thể
    của nhiều người là tương đương với trí tuệ một vị Thánh. Trí tuệ của
    một cá nhân thì có giới hạn, nhưng trí tuệ của tất cả mọi người hợp lại
    thì vô hạn. Chúng ta hãy xem xét khả năng thực hiện của việc này. [Chú
    thích của biên tập viên: Một vài ý kiến được bày tỏ.]

    [Chú thích của biên tập viên: Hòa Thượng giải đáp ý kiến của một
    người.] Đó là lời phát nguyện của ông ta. Tại sao bạn lại tìm hiểu quá
    nhiều về các vấn đề cá nhân của ông ta. Tôi đang hỏi những người khác
    để đánh giá khả năng thực hiện lời phát nguyện của ông ta, bởi vì họ
    hiểu rõ ông ta, trong khi đó tôi không hiểu ông ta rõ lắm.

    [Chú thích của biên tập viên: Trong phần giải đáp ý kiến của một người khác.] Lời phát
    nguyện của ông ta thì tự nó không bao la như thế, nhưng không có ai
    khác ở đất nước này đã từng làm một điều như vậy. Ông ta muốn là
    người đầu tiên.

    (23) Quả Du là thầy Hằng Cụ, phát nguyện hành hương cầu nguyện Hòa Bình Thế Giới, đã đi Ba Bước Một Lạy hơn
    một ngàn dặm từ Kim Sơn Thánh Tự tại San Francisco đến Marblemount tiểu bang Washington từ tháng Mười năm
    1973 đến tháng Tám năm 1974. Xin xem http://www.dharmasite.net/Three_Steps_One_Bow_v.htm

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 5 tháng trước
  • Tại Tu Viện Kim Sơn Thánh Tự, trưa Chủ nhật, ngày 7 tháng Mười năm 1973.

    Về Việc Dùng Trẻ Em Để Viện Lý Do Vắng Mặt




    Thần Chủ Đêm không giống như một số cư sĩ cảm thấy bực bội khi thấy
    trẻ em đến tham dự các buổi giảng. Một số cư sĩ này nói rằng họ không
    tham dự các buổi giảng kinh vì những đứa trẻ đó. Không chỉ bản thân họ
    không tham dự các buổi giảng kinh, họ còn nói với những người khác là
    không nên đến. Họ nói rằng họ không thích những đứa trẻ.

    Trên thực tế, ngay cả khi không có trẻ em tham gia, họ cũng không đến
    nghe giảng kinh hay đến để nghiên cứu Phật Pháp. Thay vào đó họ dành
    nhiều thời gian và năng lượng của họ nghiên cứu những thứ khác, như là
    xem phim, đi khiêu vũ, và nghe nhạc. Họ dành thời gian của họ vào
    những việc đó. Họ thích vui chơi giải trí; đó mới thật là những gì họ
    tham gia vào.

    Nhiều đệ tử và cư sĩ chính bản thân họ không đến để nghe giảng kinh
    hay nghiên cứu Phật Pháp lại ganh tị với những người khác tới nghe
    giảng. Vì thế, họ bảo với những người khác cũng không nên tới nghe.
    Một số người nghe họ nói lại không hiểu biết gì hơn là nghe theo lời
    khuyên của họ. Họ nghe những người đó nói: “Những đứa trẻ đến đó
    khóc, la hét và cãi nhau. Cho nên quý vị không thể nghe rõ lời giảng của
    Hòa Thượng được.” Trên thực tế, đó chỉ là một cái cớ. Họ dùng trẻ em
    để viện cớ vắng mặt, một lý do để họ không tham gia. Thực ra, điều đó
    hoàn toàn mâu thuẫn: Họ không muốn học nhưng họ lại ganh tị khi
    những người khác muốn học.

    Họ đang dẫn những người khác vào con đường sai lầm. Vì vậy, tất cả
    quý vị nên cảnh giác với những người tìm cách để làm quý vị thối
    chuyển đạo tâm.

    Nếu họ là những người chân thành cầu Phật pháp, thì họ vẫn nghiên cứu
    Phật pháp dù có những con cọp ăn thịt người ở đây, huống gì là có trẻ
    em. Quý vị thấy đó, mặc dù chúng ta có rất nhiều con cọp ở đây, nhưng
    có rất nhiều người đến; và họ vẫn không bị cọp ăn thịt.





    Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày khoảng 5 tháng trước với 2 lần trong tổng số.
  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 5 tháng trước
  • Tại đường Washington,tối Chủ nhật, ngày 7 tháng Mười năm 1973.

    Về Việc Cho Người Khác Một Cơ Hội



    Khi tôi tới Los Angeles, một người nhìn thấy tôi và đã không cúi chào,
    nhưng khi con chó của người đó thấy tôi thì cứ cúi chào, cúi chào. Ai
    cũng nghĩ điều đó thật buồn cười. Tôi nói: “Con chó này hiểu Phật
    Pháp. Nhưng tất cả quý vị hẳn là phải hiểu những người không biết làm
    thế nào để tôn kính Tam Bảo, vì trước đó họ chưa từng thấy Tam Bảo.”

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 5 tháng trước
  • Tối thứ Bảy, ngày 20 tháng Mười năm 1973.

    Về Việc Làm Những Chuyện Không Nên Làm



    Hai mươi hai năm về trước [Ghi chú của ban biên tập: bài giảng này là
    vào năm 1973], khi tôi còn ở Hồng Kông, lúc đó có một địa điểm tên là
    núi Đạo Phong. Ở đó có một mục sư Tin Lành tên là Ái, tôi không nhớ
    là ông đến từ đâu. Chỗ đó chuyên môn làm cho các nhà sư hoàn tục trở
    lại đời sống tại gia. Ông mục sư đó dụ dỗ họ bằng tiền và sắc dục. Một
    khi một tăng sĩ đến đây là cứ ở mãi hoài. Vị sư đó bị trôi dạt, vướng mắc,
    quên quay về, trở nên hoang dại và cuối cùng đánh mất mình. Thế nào là
    trôi dạt, vướng mắc, quên trở về, thành hoang dại và đánh mất mình?

    Trôi theo dòng quên về là trôi dạt,
    Ngược dòng quên về chính là vướng mắc.
    Theo thú vui không chán là hoang dại,
    Vui rượu không chán là đánh mất mình (24).


    Bài trên đây nói lên những khuyết điểm và lỗi lầm của một số hoàng đế
    trong lịch sử. Cho nên vào lúc đó các nhà sư “hoàng đế” đến đó, trôi dạt,
    vướng mắc, trở thành hoang dại, quên trở về và cuối cùng bị lạc mất. Sự
    việc diễn ra như thế nào. Trước hết chỗ đó cung cấp cho họ tiền, thứ nhì
    là cung cấp phụ nữ. Tôi cũng đã đến nơi đó để xem nơi này ra sao. [Ghi
    chú của ban biên tập: Chỗ này được thành lập vào lúc có rất nhiều tu sĩ
    Phật Giáo đến từ Trung Hoa trong thập niên 1940. Có rất nhiều chư
    tăng ni đến Hồng Kông mà không có chỗ ở và các phương tiện giúp đỡ].
    Nhưng một khi tôi đến đó và nhìn quanh, tôi thấy chỗ này không hợp
    với tôi.

    Thay vào đó, tôi đã tranh luận với mục sư Ái. Tôi nói với ông: “Những
    gì ông đang làm ở đây là ngược lại với ý muốn của Chúa Jê-Su. Ông
    không phải môn đồ của Chúa và ông cũng không đủ tư cách là người
    của Chúa. Chúa Jê-Su thì giúp người ta thành tựu và không phá hoại
    người khác. Nhưng ông thì lại phá hoại người khác và không giúp họ
    thành tựu. Ông khiến các nhà sư đã thọ giới không còn là nhà sư nữa.
    Ông phá hoại nếp sống thanh tịnh của họ.”

    Tôi còn nói nhiều hơn nữa: “Tôi cũng không phải là người Phật tử. Nếu
    tôi là Phật tử, tôi sẽ từ bi như Đức Phật và sẽ độ cho ông. Điều không
    may là tôi không thể cứu độ cho ông được, tôi không đủ sức để cứu ông,
    và vì vậy tôi không phải là người Phật tử.”

    Ông mục sư chỉ có cách mở to mắt nhìn vào tôi, ông không còn điều chi
    để nói cả. Sau đó ông hỏi tôi có thể chụp hình chung với ông, nhưng tôi
    đáp: “Chúng ta không nên chụp hình, Bất cứ tấm hình nào của những
    cặn bã Thiên Chúa Giáo như ông và cặn bã Phật Giáo như tôi chỉ làm
    giảm đi giá trị của đạo Chúa và đạo Phật.” Cuối cùng thì chúng tôi
    không có chụp hình. Đây là nghiên cứu về một vấn đề không nên nghiên
    cứu.

    (24) Đây là bài trong Sách Mạnh Tử phần Lương Huệ Vương, phần hạ. Nguyên văn:

    Tòng lưu hạ nhi vong phản vị chi lưu,
    Tòng lưu thượng nhi vong phản vị chi liên,
    Tòng thú vô yếm vị chi sung,
    Lạc tửu vô yếm vị chi vong.

    Sách Mạnh Tử gồm 7 thiên, chia làm 2 phần: Mạnh Tử thượng và Mạnh Tử hạ. Mạnh Tử thượng gồm 3 thiên:
    Lương Huệ Vương (thượng - hạ); Công Tôn Sửu (thượng - hạ); Đằng Văn Công (thượng - hạ). Mạnh Tử hạ gồm 4
    thiên: Ly Lâu (thượng -hạ); Vạn Chương (thượng - hạ); Cáo tử (thượng - hạ); Tận tâm (thượng - hạ).

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 5 tháng trước
  • Tối thứ Hai, ngày 29 tháng Mười năm 1973.

    Về Sự Không Thể Tin Vào Tâm Ý Của Mình



    Hòa Thượng nói với một người phụ nữ trẻ: Không nên tin vào tâm ý
    của mình. Bởi vì cô chưa phải là Thánh, cô không thể tin vào những ý
    kiến của mình. Đó là lời của Đức Phật. Đức Phật dạy: “Cần thận trọng,
    chớ tin vào tâm ý của các ông. Tâm ý các ông không đáng tin cậy. Chỉ
    sau khi các ông đã chứng được đệ tứ quả A La Hán, các ông mới có thể
    tin vào cái tâm này (25).” Một khi cô đắc được thánh quả này, cũng có
    nghĩa là khi cô đã chấm dứt được vòng sanh tử, lúc đó cô có thể tin
    tưởng vào những ý kiến và sự hiểu biết của mình.

    (25) Đệ tứ quả A La Hán là quả vị thánh thứ tư. Có bốn quả vị thánh: Sơ quả Tu-đà-hoàn (Sotāpatti) Nhị quả Tư-đà
    -hàm (Sakadāgāmī) Tam quả A-na-hàm (anāgāmī) Tứ quả A-la-hán (Arahanta).
    Nguyên văn Kinh Bốn Mươi Hai Chương http://www.dharmasite.net/Kinh42_Chuong.htm

    Đệ nhị thập bát chương: Ý Mã Mạc Túng Phật ngôn.“Thận vật tín nhữ ý. nhữ ý bất khả tín. Thận vật dữ sắc
    hội.Sắc hội tức họa sanh.Đắc A La Hán dĩ. nãi khả tín nhữ ý.”
    Chương 28
    Ðừng Theo “Con Ngựa” Ý Niệm
    Ðức Phật dạy: “Phải thận trọng, chớ tin ý ông; ý của ông không thể tin được. Phải thận trọng, chớ gần gũi sắc dục;
    gần gũi sắc dục tất sanh họa. Chứng được A-la-hán rồi mới có thể tin được ý ông.”

  • Lòng Trắc Ẩn

    khoảng 5 tháng trước
  • Tối thứ Hai, ngày 29 tháng Mười năm 1973.

    Về Vô Công Dụng Đạo



    Hòa Thượng: Những ai có ý nguyện tu tập (giải thoát môn — phương
    pháp giải thoát — này) (26) đều có thể đạt được khả năng này [của việc hiện
    thân ở khắp các thế giới]. Từ nhỏ thành lớn, từ gần thành xa, từ tự mình
    đến với người khác, mà không cần rời khỏi bổn xứ của mình (27). Để tôi
    đưa ra một ví dụ chứng minh về điều gọi là không rời khỏi bổn xứ của
    mình nghĩa là gì. Đó là như khi quý vị làm rất nhiều việc, nhưng trong
    tâm trí của quý vị không cảm biết là đang lao nhọc khổ sở. Đó không
    phải là trường hợp khi quý vị chỉ làm một vài việc mà cảm thấy tinh
    thần đã mệt mỏi: “À, tôi mệt rồi.” Cảm giác của sự mệt mỏi là sự hư
    hoại của bổn xứ của quý vị. Nếu quý vị không cảm thấy mệt thì quý vị
    sẽ thấy rằng quý vị đang làm mà không làm (hành vô sở sự), biết là rất
    tốt khi làm những việc ấy, đó là vận động thân thể. Ví dụ như hôm nay
    Quả Hộ đi vận chuyển gỗ. Khi Quả Hộ không thể khiêng nổi cây gỗ, anh
    ta muốn khóc than lên: “Ôi! Nó nặng quá!” Có phải con đã thật sự khóc
    không?

    Tỳ kheo Hằng Thọ [Quả Hộ]: Dạ không, nhưng công việc đó quả thật
    là rất khó khăn.

    Hòa Thượng: À! “Vô công dụng Đạo” là làm việc nhưng cảm thấy
    như là không có việc đang được làm. Đó chính là không rời khỏi bổn xứ
    của quý vị. Nếu tâm của quý vị không động tức quý vị không rời khỏi
    bổn xứ của quý vị, đó là tâm của quý vị.




    (26) Kinh Hoa Nhiêm — Phẩm Thế Chủ Diệu NghiêmTrong phần này Hòa Thượng đang giảng Kinh Hoa Nghiêm,
    Phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm, đoạn về vị Quang-Biến-Thập-Phương Chủ Không Thần được giải thoát môn chẳng
    động bổn xứ mà hiện khắp thếgian.
    Kinh văn: Quang-Biến-Thập-Phương Thần được giải-thoát-môn chẳng động bổn xứ mà hiện khắp thế-gian.

    (27) Do tiểu nhi đại, do cận nhi viễn, do tự
    cập tha, bất động bổn xứ


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group