Những lời dạy đúng lúc - "Timely Teachings"

  • Lòng Trắc Ẩn

    August 14th 2013, 12:55 am
  • Ngày 15 tháng tám, năm 1973. Chiều thứ tư.

    71. Về Nghiệp Chướng


    Hòa Thượng Tuyên Hóa


    Một vài người trong số quý vị cả ngày không làm gì cả. Thay vì nghe kinh kệ hay nghe thuyết pháp hay là học ngoại ngữ, quý vị chỉ mộng gặp Châu Công. Đây là một cách nói của người Trung Hoa; nếu người ta nói “Tôi mới vừa gặp Châu Công” thì có nghĩa là “Tôi vừa mới nằm mơ”. (*)

    Quý vị không tu hành tinh tấn. Nếu có người đề nghị hành lễ sám Phật, quý vị là người đầu tiên phản đối. Thật ra đó là nghiệp chướng của quý vị ngăn cản. Có thể đây không nhứt thiết là quý vị phản đối việc ấy mà là nghiệp chướng của quý vị ngăn cản sự tu hành. Nó không muốn quý vị đi lạy sám, niệm Phật hay là tu hành gì cả. Cho nên khi có người đề nghị một phương pháp tu hành thì quý vị giận dữ nói: “Tại sao phải làm vậy”. Nếu quý vị không muốn tu hành thì hãy cứ tiếp tục như vậy, không cần làm gì hết. Như vậy cũng tuyệt lắm.

    Thật ra người xuất gia cần phải làm tất cả mọi việc một cách chân thực. Chúng ta không thể “treo đầu cừu bán thịt chó”. Chúng ta không thể tự nhận mình tu hành nhưng lại không thật sự tu hành. Đó không phải là chân thật thực hành. Và nếu quý vị thiếu sự chân thật thực hành, quý vị sẽ không thể đắc được sự giác ngộ vô thượng.

    Chư vị thiện tri thức! Tất cả quý vị đây đều có trí huệ hơn tôi. Tôi chỉ là một kẻ khù khờ. Nếu quý vị muốn nghe pháp của tôi thì hãy tiếp tục, còn không thì thôi. Tôi sẽ không ép buộc kẻ khác nghe tôi thuyết pháp. Tại sao? Vì e rằng những gì tôi nói không phải là pháp. Nếu đây đúng là pháp, thì cho dù loài người không nghe nhưng quỷ thần sẽ nghe. Và nếu ngay cả quỷ thần không đến nghe thì sẽ có các vị Trời, Rồng và các chúng trong Bát Bộ cùng chư Bồ Tát mười phương đến nghe. Nếu một số quý vị không chịu nghe pháp thì cũng không thành vấn đề.

     

    (Dịch từ sách "Timely Teachings" trang 196)

     

    Chú Thích của Ban Phiên Dịch Việt Ngữ VPTT:

    (*) Châu Công còn được gọi là Thần Mộng, quyển sách "Châu Công Giải Mộng" của Châu Công được người Trung Hoa dùng để giải thích các giấc mộng http://en.wikipedia.org/wiki/Duke_of_Zhou.


  • Lòng Trắc Ẩn

    August 14th 2013, 12:57 am
  • Ngày 10 tháng Giêng, năm 1973. Chiều thứ tư.

    44.1 Về Nguyên Nhân Của Dịch Cúm


    Hòa Thượng Tuyên Hóa




    Khi quán tưởng về sự khổ của bệnh, không đau ốm là phước.

    Khi quán tưởng về sự khổ của đói và lạnh, ăn no và mặc ấm là phước.

    Khi quán tưởng về sự khổ của thiên tai, được bình an là phước.

    Gần đây đã có nhiều người mắc phải bịnh cúm. Hôm qua Quả Ninh (*) có nói với tôi là có nhiều người trong số quý vị đây bị ngộ độc thức ăn và e rằng sẽ mất mạng. Thầy định bảo Quả Tốc là không nên ăn các thức ăn đó, nhưng vì biết Quả Tốc sẽ không chịu nghe nên thầy mới đến báo tôi hay để tôi có thể bảo cho Quả Tốc biết. Cho nên hôm nay chúng ta không có ăn các thực phẩm của ngày hôm qua. Các loại khoai tây nên dùng liền trong ngày sau khi đã được bầm nhỏ, không nên ăn thứ đó qua ngày hôm sau vì lúc đó nó đã đổi màu và có sự thay đổi trong hóa chất. Quả Tiến, con hôm nay thấy thế nào? Nếu con còn bệnh thì hãy nên nghĩ thêm, nên uống nhiều nước hoặc tắm bằng nước nóng, và con sẽ mau được bình phục. Tin từ báo chí cho hay là ở xứ này đã có hơn 50 người thiệt mạng vì dịch cúm, theo tôi thì sự dự đoán vẫn còn thấp. Ở Luân-Đôn bệnh cúm đã khiến hơn 1.000 người thiệt mạng, vì vậy tình hình khá nghiêm trọng, mọi người nên cẩn thận, hãy mặc thêm nhiều áo hơn.

    Theo tôi có hai nguồn gốc có thể đưa đến dịch cúm: Thứ nhất có thể do từ những chất độc được sa thải vào bầu không khí trong những cuộc thí nghiệm hạt nhân. Những độc tố gây ô nhiễm bầu khí quyển này là nguyên nhân ngấm ngầm sâu xa cho dịch cúm này. Một căn nguyên khác nữa có thể do từ các cuộc thí nghiệm trên những vệ tinh được phóng lên không gian. Một số thí nghiệm phóng ra chất độc vào bầu không khí để thử mức độ chịu đựng của nhân loại. Những cuộc thí nghiệm này là một phần của sự phát triển ngành vũ khí sinh hóa học mà có thể được sử dụng vào các cuộc chiến tranh trong tương lai. Hai điều này có thể là những nguyên nhân lường thấy được.

    Chú thích của Ban Phiên Dịch Việt Ngữ:

    (*) Quả Ninh là Thầy Hằng Tĩnh

     

    (Dịch từ sách "Timely Teachings", trang 193)


  • Lòng Trắc Ẩn

    August 14th 2013, 12:59 am
  • Ngày 27 tháng 8 năm 1973, tối thứ hai

    85. Về Nhân Quả


    Hòa Thượng Tuyên Hóa


     

    Sáng nay, một nữ cư sĩ nói rằng chị gái và anh rể cô ta không hòa thuận với nhau. Nguyên do là vì người chồng đã cư xử không đúng đắn và vợ chồng họ không thể nhìn mặt nhau nữa; họ bất đồng quan điểm. Tôi đã nói với cô ấy “ Cô cần nói với chị cô điều này: trong quá khứ chị từng mang thân người nam và chị đã đối xử với những người phụ nữ như vậy. Và bây giờ, người đàn ông này cũng đối xử với chị giống như chị đã làm với những người đó – đây là quả báo của chị”.


    (Dịch từ sách "Timely Teachings" - Chương 1 Phần III, trang 106, đoạn 2 )


  • Lòng Trắc Ẩn

    August 14th 2013, 1:00 am
  • Về những cách xử sự khác nhau với tiền bạc

    (Chiều thứ ba, ngày 30 tháng giêng năm 1973)


    Hòa Thượng Tuyên Hóa




    Một số nguời họ đếm từng đồng, từng xu, từng cắc. Điều này khắc hẳn với một nữ đệ tử xuất gia của tôi, cô ấy chẳng thèm đếm tiền gì cả, đến nổi khi bỏ tiền vào ngân hàng cũng bị sai thiếu.Tôi nghĩ qua về việc làm của cô này, cho rằng cô ta cũng có chút công phu đấy chứ. Nguời này đã đạt đuợc chút ít định lực (tam muội), cho nên tâm cô ấy không bị động bởi bất cứ việc gì, ngay cả tiền bạc. Đó là cảnh giới không tệ lắm. Tuy nhiên, nếu làm việc thế gian thì như vậy cũng không thực tế lắm.

    Theo quan điểm xuất thế gian, cảnh giới của quý vị khá cao. Nếu như quý vị có thể làm sao để không chú ý tới tiền bạc, thì bao nhiêu chuyện khác lại càng ít rắc rối hon. Nguợc lại, những nguời luôn chú trọng từng đồng, từng cắc, từng xu, họ sẽ sớm bị kiệt sức. Họ làm nặng đầu óc với những sự tính toán, tính ngày không đủ, họ lại tiếp tục suy tính ban đêm nhung cũng vẩn không xong. Họ cứ lăn qua lăn lại, trăn trở tới lui cả đêm, và cũng không ngủ gì đuợc cả. Quý vị nói xem, đây là suớng hay là khổ ?

    Timely Teachings p. 190


  • Lòng Trắc Ẩn

    August 14th 2013, 1:02 am
  • Tối thứ Sáu, 17 tháng 8, 1973.

    Về Những Khuyết Điểm Nghiêm Trọng


    Hòa Thượng Tuyên Hóa




    Đừng nên nghĩ rằng quý vị có thể nổi giận khi người khác đối xử tệ với quý vị. Đây là một việc làm xấu xa nhất, tệ hại và hèn nhát nhất. Một khi quý vị giận dữ, bao nhiêu công sức tu hành đều tiêu tan hết. Tu hành có nghĩa là phải nhẫn những gì người khác không thể nhẫn, nhường những gì người khác không thể nhường.

    (Ghi chú: Hòa Thượng nói với một người đệ tử): Còn ông, ông đặc biệt rất là nóng tánh và không biết nhường nhịn. Khi ăn thì ông là người đứng đầu tiên, nhưng khi làm là ngưòi áp chót. Nếu có ai đó nói với ông một vài câu, thì ông nổi giận và cau có lên ngay. Ông có những khuyết điểm trầm trọng như thế đó.

    Những người tu hành có đạo hạnh thật sự không khi nào nổi giận cả. Nếu một người có đức hạnh tỏ ra vẻ giận dữ, kẻ khác còn có thể chấp nhận dễ dàng, ngược lại nếu người thiếu đức hạnh nổi giận, thì chuyện này không thể đuợc. Đừng cho rằng “Giờ đây ta có chút công đức, ta có thể nổi giận với người khác”. Cách này không thể được. Mọi biểu lộ của sân hận chính là hình tướng ngu si của quý vị. Quý vị không nên tức giận với bất kỳ người nào, càng không đuợc tức giận với những kẻ dưới quý vị một hai bậc, hay với những người có địa vị thấp hơn, đừng nói chi đến các huynh đệ đồng tu. Không phải chỉ vì quý vị sanh phiền não và si mê mà quý vị có thể công kích người khác

    (Dịch từ sách "Timely Teachings" trang 51 )


  • Lòng Trắc Ẩn

    August 14th 2013, 1:03 am
  • Ngày 28 tháng 8 năm 1973, tối thứ ba.

    87. Về những lời nguyện về khả năng ghi nhớ


    Hòa Thượng Tuyên Hóa




    Chúng ta vừa thảo luận vì lẽ gì mà Quả Dật [Tỳ kheo ni Hằng Âm] lại có trí nhớ tốt như vậy. Cô ta có được trí nhớ tốt như vậy là vì trong một kiếp trước khi tu hành, những huynh đệ và sư phụ cô ta đều có khả năng học thuộc kinh điển, trong khi cô ta lại không thể. Quả Dật quá tối dạ. Sau đó, cô ta phát nguyện sẽ tán thán những hành giả có trí nhớ tốt. Cô cũng nguyện sẽ lạy Phật, cầu chư Phật và chư Bồ tát gia hộ cho những hành giả để họ đều được ban cho trí nhớ đặc biệt ưu việt. Vì những nguyên nhân đó nên giờ đây cô ta có một trí nhớ sắc bén hơn bất cứ ai. Bởi cô ta muốn mọi người có được trí nhớ sắc bén, cho nên chính cô ta cũng có được một trí nhớ tốt. Cô ta đã không đố kỵ. Đây là vấn đề nhân quả.

     

    (Dịch từ sách "Timely Teachings" Chương 1 phần III, trang 108, đoạn 2.)


  • Lòng Trắc Ẩn

    August 16th 2013, 12:12 am
  • Ngày 15 tháng mười một, năm 1973. Chiều thứ năm.

    151.1 Về những suy ngẫm đến việc báo ứng



    Hòa Thượng Tuyên Hóa




    Giảng kinh không có dễ đâu, đừng cho rằng đây là một chuyện làm đơn giản. Một khi quý vị bắt đầu thuyết pháp thì quý vị mới biết là không dễ, nhứt là khi quý vị chưa từng nghe kinh này được giảng qua, cho nên không biết được lối giảng nào là thích hợp. Ngoài ra quý vị có thể không cảnh giác về những lỗi in sai trong kinh văn. Đó là vì sao việc giảng kinh thuyết pháp là không dễ.

    Không những riệng tôi còn lầm lẫn khi thuyết pháp, chỉ có rất ít các vị pháp sư có thể tránh được chuyện ấy. Nếu như lời giảng có sai thì không nên lắng nghe theo sự sai đó. Khi quý vị dịch kinh, đừng phiên dịch trái lý. Đùng cố ý tìm lỗi lầm, cho rằng “Sư phụ chúng ta đã giảng sai khi thuyết pháp” . Nếu quý vị biết thầy quý vị lầm thì hãy nên sửa lại. Ai bắt quý vị phải nghe theo lỗi lầm đó? Ai cấm quý vị không được sửa lỗi trong các bài dịch của mình?

    Vì sao người ta nói tôi lầm lẫn khi thuyết pháp? Đó là quả báo của tôi. Khi xưa tôi vì không sợ rơi xuống điạ ngục nên đã chỉ trích lối giảng của nhiều người khác là sai. Nếu mình đi tìm lỗi thì trong tương lai khi quý vị giảng kinh, đệ tử quý vị và đệ tử của đệ tử quý vị sẽ chỉ trích quý vị. Đây chính là quả báo. Bây giờ quý vị cho đó là thú vị nhưng sau này quý vị sẽ biết, giống như tôi đang tìm ra, là mình đang bị báo ứng.


    Sách “Timely Teachings”, trang 210.




  • Lòng Trắc Ẩn

    August 16th 2013, 12:15 am
  • Tối chủ nhật, ngày 26 tháng 5 năm 1974

    196. Về Nước Tam Muội


    Hòa Thượng Tuyên Hóa


     

    Hỏi: Nước tam muội là gì?

    Hòa Thượng: Nước tam muội là nước được chú nguyện nhờ trì chú vào đó. Thí dụ nếu quý vị trì chú Đại Bi vào một cốc nước thì nước đó được coi là nước tam muội. Nước được trì chú Lăng Nghiêm cũng được coi là nước tam muội. Những loại nước này được trợ giúp bởi sức mạnh của tam muội. “Tam muội” có nghĩa là định, vì vậy đây là “nước định”. Tại sao nước này có đặc tính “định” hay “tam muội” sau khi được trì chú? Đó là vì khi một người trì trú thì người đó đạt được nhất tâm và dứt bặt vọng tưởng. Sự vắng mặt của vọng tưởng chính là tam muội. Do vậy gọi là “nước tam muội.” 

    Timely Teachings




  • Lòng Trắc Ẩn

    August 16th 2013, 12:17 am
  • Ngày 29 tháng mười năm 1973. Chiều thứ sáu.

    Về phần thưởng quý giá hơn quà tặng


    Hòa Thượng Tuyên Hóa




    Những gì chúng ta đang nói đến làm cho tôi nhớ lại một câu chuyện xảy ra trong quá khứ. Những gì xảy ra thật qúa rõ ràng. Nó như mới xảy ra hôm qua, hay năm ngoái hoăc hai, ba, bốn, năm, sáu năm về trước hoặc thậm chí cách đây một trăm năm - phần này thì không được rõ lắm. Vào lúc đó, tôi có vài cuốn tự điển, nhưng không phải là loại đơn ngữ. Chúng gồm có tiếng Anh, Hoa, Phạn, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Đức - có lẽ có bấy nhiêu ngôn ngữ . Những cuốn tự điển đó đối với tôi như là báu vật. Tuy nhiên, một số bạn bè sinh viên của tôi lại không có được những cuốn tự điển kia. Khi họ thấy tôi tra cứu tự điển thì mặt họ lại xịu xuống và thậm chí còn rơi cả nước mắt nữa. Tôi không biết phải chăng đó là vì sự ganh tị, hay thán phục hay vì cái gì khác .

    Ngày đầu cũng như ngày hôm sau, tôi không bận tâm đến việc ấy. Song đến ngày thứ ba thì tôi bắt đầu tự hỏi: “Có điêù gì không ổn với họ chăng ?” Và tôi bỗng nhận ra: “À, chính là bởi vì họ không có sách tự điển.” Kể từ dạo đó, tôi không còn ham muốn những cuốn tự điển đó - những vật mà tôi đã từng trân quý - cho riêng mình nữa. Và tôi đã đem tặng những cuốn sách đó để mọi người cùng sử dụng. Sau đó, tôi không còn cần phải tra tự điển để biết ý nghĩa của các chữ. Tôi biết ý nghĩa của nó mà không cần đến tự điển. Cho đến bây giờ, chính tôi vẫn không biết lý do tại sao lại như vậy.



    Sách “Timely Teachings”, trang 209.

  • Lòng Trắc Ẩn

    August 16th 2013, 12:19 am
  • Ngày 02 Tháng Muời Một, năm 1973. Chiều thứ sáu.

    Về Phép Tắc Đối Với Những Câu Hỏi


    Hòa Thượng Tuyên Hóa




    Quý vị không nên trả lời các câu hỏi nêu ra bởi bất kỳ các vị thầy nào đến đây, ngoại trừ trong giờ thuyết pháp hoặc ở trong lớp học. Khi vừa mới trả lời thì quý vị đã sai, không có cách gì đúng đuợc. Tại sao? Phần lớn những câu hỏi của các vị khách tăng là để moi móc yếu điểm quý vị, cho dù có nói đúng nhung họ vẫn khăng-khăng cho là sai, nhờ đó họ mới có thể tỏ ra tài giỏi hơn nguời. Thật ra những ai có học vấn thì tự biết là không nên đến các đạo tràng để chất-vấn bằng những câu hỏi. Họ không nên trắc-nghiệm kẻ khác về trình độ hiểu biết cao hay thấp. Nếu như có nguời đắp giới y, quỳ xuống và chấp tay lại thỉnh cầu quý vị chỉ giáo cho, thì lúc đó quý vị có thể trả lời. Nếu có nguời muốn đuợc khai thị cho một vấn đề nào đó mà không đắp giới y, không trãi tọa cụ, thì quý vị không nên đáp lại, cũng không yêu cầu họ giải thích. Yêu cầu họ giải thích chứng tỏ quý vị không biết gì hết, còn nếu trả lời thì thể hiện sự ngu dốt của mình. Tất cả mọi nguời cần hiểu rõ điều này.

    Nếu có ai đó cho dù là tăng hay tục, muốn hỏi điều gì, quý vị có thể bảo họ biết là thời điểm để hỏi là trong giờ thuyết pháp hay trong các lớp học, ngoài ra thì mọi nguời đều bận vào những lúc khác.

    Tại sao khi vị Thầy đó vừa mới hỏi về vô-ngã thì quý vị đã vội vàng lý luận hàm hồ như vậy? Thật ra, sự không hiện hữu của bản ngã có hàng triệu cách khác nhau để giải thích nhưng trong đó không có cách nào là đúng hay sai. Cái bản ngã chính nó còn không có thì còn gì để mà nói nữa. Làm gì mà có Tiểu ngã, Đại ngã hay Thần ngã. Tất cã những thứ đó đều không có, ngay cả khi nói về nó cũng là sai rồi. Nếu quý vị chưa hiểu rõ chân tuớng và ý nghĩa chân thật của Phật Pháp thì làm sao có thể trả lời ông ta đuợc. Quý vị đã sai lầm khi mới vừa mở miệng. Mỗi nguời đều có lối nhìn và lý luận riêng của họ, làm sao có đúng hay sai. Quý vị giải thích theo cách quý vị, tôi giảng theo cách của tôi, cho dù tôi cho là quý vị sai nhưng tôi cũng không thể dựa vào đâu để chỉ-trích. Cho nên nếu đã không có nền tảng nào để dựa vào thì có cần phải nhất thiết bàn thảo vấn đề chăng?

    Quý vị hồ đồ trả lời ông ấy là vì cho rằng nếu không trả lời sẽ là sai. Trên thật tế, không trả lời mới là phương pháp đúng nhất. Ông ta không có quyền yêu cầu quý vị giải thích về sự không hiện hữu của bản ngã. Sự không hiện hữu của ngã chính là vô ngã, có gì để bàn luận thêm nữa. Tại sao quý vị lại không biết điều này khi mình là nguời thông minh? Thật ra quý vị muốn thân thiện với ông ấy là vì truớc đó tôi có nói vài lời khen ông ta. Đúng ra tôi luôn tránh nói xấu về nguời khác, thậm chí tôi còn nói tốt cho nguời xấu vì tôi xem tất cả chúng sanh là Phật. Tuy vậy tôi không thể đảm bảo là mọi nguời đều đúng như tôi nói.

    Những kẻ thật sự tu đạo thì không nói chuyện. Đây có nghĩa là không những không nói chuyện với phụ nữ mà căn bản là không tham gia nói chuyện, thậm chí trông có vẻ khờ khạo. Khi xưa lúc tôi dụng công và khi đi du hành, cả ngày tôi đều nhắm mắt không nhìn ai cả, cũng không nói chuyện với kẻ khác. Dụng công thì phải như vậy, càng nói nhiều chỉ càng vô ích. Nếu quý vị càng kính trọng một bậc tu hành, thì càng bớt muốn nói chuyện với vị ấy. Cần phải xem ai là nguời nói ít nhất. Khi những nguời hiểu đuợc đạo lý này thấy ngưiời nào luôn nói chuyện thì họ sẽ xem thuờng người đó. Trong quá khứ ở Trung Hoa, tại chùa Kim Sơn và chùa Cao Mân, nhiều nguời sống chung bên nhau nhiều năm mà vẫn không hề biết tên nhau. Họ ăn ở, nằm ngủ kế cạnh nhau, nhưng cho dù nhiều năm tháng trôi qua vẫn không biết tên tuổi nhau, và cũng không hề nói với nhau một câu!



    (Timely Teachings, trang 75).

  • Lòng Trắc Ẩn

    August 16th 2013, 12:22 am
  • Ngày 1 Tháng 11, Năm 1972, tối Thứ Tư.

    16. Về Phương Pháp Dạy Dỗ


    Hòa Thượng Tuyên Hóa




    Hoà Thượng nói với lớp học: Tất cả mọi người đều phải ghi chép. Quý vị có thể đưa bài ghi chép cho giảng viên của lớp này.

    Hoà Thượng nói với giảng viên: Lần tới, nếu như họ ghi chép đầy đủ thì cho họ nhiều điểm hơn. Còn nếu họ không nhớ gì cả thì cho ít điểm một chút.

    Có người suy nghĩ: " Vị Pháp Sư này nhất định đã học môn tâm lý. Nếu không thì bằng cách nào mà ngài biết được tôi đang nghĩ gì ?" Đúng rồi,tôi đã học môn tâm lý học. Nếu bất cứ người nào trong quý vị có những bệnh về tâm lý, các bệnh này sẽ biến mất sau khi quý vị đến đây.


    (Dịch từ sách "Timely Teachings" trang 45)

  • Lòng Trắc Ẩn

    August 16th 2013, 12:25 am
  • Tối thứ Tư ngày 14 tháng 2 năm 1973

    60. Về Quả Báo Bị Đói


    Hòa Thượng Tuyên Hóa


    Thứ hai tuần kia [ghi chú: mồng 5 tháng 2], 7 người chúng tôi, bốn vị tăng và ba vị ni, tới Nữu Ước. Chúng tôi đã chịu đói trên chuyến bay vì không có đủ thức ăn để ăn cho no. Đặc biệt là Guo Hu. Vì ăn chưa đủ no nên anh ta quay ra gây sự với sư huynh, đổ lỗi cho ông ta vì đã không chuẩn bị thức ăn tốt hơn. Thực tế, quý vị nên biết rằng một nghiệp quả, chịu đói chẳng hạn, không nhất thiết là chỉ giới hạn trong một ngày.

    Ngày hôm sau, chúng tôi tới hội nghị. Người cư sĩ là chủ tịch hội nghị đã quá khá tiết kiệm, chuẩn bị rất ít đồ ăn. Ông ta cho rằng vậy là đủ, nhưng hóa ra có nhiều người đến, do vậy đã không có đủ cơm và rau cải cho mọi người. Ngày thứ hai cũng vậy, chúng tôi phải chịu một qủa báo bị đói tương tự. Sau đó tôi bảo Guo Hu “Không sao, đừng kêu ca. Sư phụ hứa vào ngày thứ 3, con sẽ được ăn cho đến khi toại nguyện mới thôi”. Do đó, ngày thứ 3, tôi dẫn anh ta đi Canada.

    Khi chúng tôi tới Hội Phật giáo Canada, một Pháp sư cùng một vài người cư sĩ đã chuẩn bị sẵn rất nhiều cơm và rau, và chúng tôi đã được ăn no. Tuy chúng tôi được ăn no nhưng năm người kia vẫn ở nơi diễn ra hội nghị tại Nữu Ước, và vẫn không được ăn đủ. Do vậy, ngày đầu tiên, rồi ngày thứ hai, thứ ba ở đó, họ đã không được ăn đủ. Vào ngày thứ tư, chúng tôi ăn tạm qua bửa vì lúc đó hội nghị kết thúc. Nhưng thực tế là việc ăn không đủ no đã tạo nên một ấn tượng quá mạnh cho nên không ai có đủ nhiệt tình để họp hội nghị, đưa đến một kết thúc khá lộn xộn.

     

    Timely Teachings

  • Lòng Trắc Ẩn

    August 16th 2013, 12:29 am
  • Giảng vào Chủ nhật, 22 tháng 9, 1974

    Về Quy Định Trong Thời Gian Nhịn Ăn (Tuyệt Thực)


    Hòa Thượng Tuyên Hóa




    Tại đây có bốn người đang nhịn ăn (tuyệt thực). Có thể vì họ biết Chùa Kim Sơn không có nhiều rau gạo nên muốn tiết kiệm thức ăn. Bất luận là lý do gì, khi những người đang nhịn ăn ra ngoài, họ phải đi hai người hoặc theo nhóm 3, 4, 5 người, thậm chí nhiều hơn. Ít nhất cũng phải có một người không tuyệt thực đi cùng họ vì người đó có đủ sức để giúp những người kia.

    Có một vài nguyên nhân lý giải tại sao những người đang nhịn ăn không thể đi một mình. Trước hết, mọi người ở đây có thể nghi ngờ và phỏng đoán quý vị sẽ lén mua bánh táo để ăn. Trong việc tu hành, chúng ta càng chân thật càng tốt và nên tránh nghi ngờ. Hơn nữa, nếu các vị bị xỉu và chóng mặt do nhịn ăn, lại nhìn mọi vật không được rõ thì có thể sẽ bị xe đụng. Người tu hành không sợ chết, song chúng ta không nên cố tình để bị xe cán. Chúng ta phải luôn cẩn thận, không được phép lơ là. Đây là lời khuyên tôi dành cho các vị. Nghe hay không, tin hay không là tùy ở quý vị. Tôi không biết ai trong bốn người quý vị là người sẽ ra quyết định.

    (Dịch từ sách "Timely Teachings" trang 153)

     

    Ghi Chú của Ban Phiên Dịch Việt Ngữ VPTT:

    Nhịn ăn là một pháp môn tu, một hạnh môn tu hành. Pháp tu "nhịn ăn (tuyệt thực)" là uống rất ít nước và chuyên trì Chú. Quý Thầy Cô, đặc biệt là lúc Hòa Thượng còn sống, hay thực hành pháp tu nay, từ khoảng 3 ngày đến 1 tuần, có lúc 18 ngày, 36 ngày ... Trong thời gian nhịn ăn thì quý Thầy Cô uống nước rất ít và chuyên trì Chú, đồng thời vẫn làm việc hay sinh hoạt bình thường như hàng ngày. Hòa Thượng cũng hay nhìn ăn như lúc vụ khủng hoảng chính trị vùng Vịnh Cuba năm 1962 (hỏa tiễn Sô Viết đặt từ Cuba nhằm vào Hoa Kỳ) ngài đã nhìn ăn 35 ngày (xem phụ lục), hoặc lúc Đài Loan bị đe dọa do Trung Quốc chuẩn bị đánh chiếm năm 1989, hoặc lúc đến Á Căn Đình (Argentina) ở Nam Mỹ, ngài nhìn ăn 2 tuần, chuyên trì Chú Lăng Nghiêm và Đại Bi, sau đó về lại Vạn Phật Thánh Thành. Có lẽ đó nhân duyên ấy mà sau này có quý Cô từ Á Căn Đình đến xuất gia cũng như Ban Phiên Dịch BTTS ở Á Căn Đình được ra đời.

    Có thể tham khảo thêm: On Fasting



    Hòa Thượng chụp hình cùng 3 đệ tử đã nhịn ăn 35 ngày vào tháng 11 năm 1975 để cầu nguyện Hòa Bình Thế Giới. Đứng: Thầy Hằng Không (bên trái), Thầy Hằng Quán (bên phài), ngồi phía trước là cư sĩ Quả Hồi, sau đó cư sĩ Quả Hồi xuất gia và thọ giới Tỳ Kheo vào tháng 8 năm 1976 với Pháp hiệu Hằng Lai. (Trích báo Vajra Bodhi Sea số tháng 4, 2010).

  • Lòng Trắc Ẩn

    August 16th 2013, 12:31 am
  • Chiều thứ hai ngày 24 tháng 9 năm 1973

    103 Về Sự An Lạc Nhờ Không Khởi Vọng Tưởng


    Hòa Thượng Tuyên Hóa




    Hãy xem Quả Mẫn (Guo Man) [Ghi chú: một đệ tử Hồng Kông và là một vị hộ Pháp lâu năm], một phụ nữ có tuổi, tuy nhiên vẫn từ bỏ cuộc sống thế tục để trở thành một Tỳ kheo ni như thế nào? Là một Tỳ kheo ni, bà ta luôn thành tâm. Hãy xem bà ta thành tâm thế nào? Chư Phật luôn gia hộ cho bà ta. Ngay cả trong giấc ngủ! Bà ta hài lòng đến nỗi có thể ăn no rồi đi ngủ. Đó là bởi vì bà ta không có bất cứ một vọng tưởng nào. Nếu lúc nào cũng khởi vọng tưởng thì bà ta sẽ không thể ngủ được. Bà ta nói, trên đường từ Hương Cảng tới đây, bà ta đã không thể ngủ trong hai ngày. Bà ta cứ băn khoăn " Khi nào chúng ta tới Mỹ? Chuyến bay thế nào? Khi nào tôi gặp được sư phụ mình?” Bà ta đã khởi những vọng tưởng như thế từ sáng đến tối, khiến bà ta thức mãi. Đến đây sau hai đêm không ngủ, bà ta ngủ ngon lành ngay cả khi đang lạy Phật và bái chào sư phụ của mình. Vọng tưởng ngưng bặt và bà ta ngủ trong an lạc.

    (Dịch từ sách "Timely Teachings" Chương 1 Phần III, trang 228, đoạn 3)

  • Lòng Trắc Ẩn

    August 16th 2013, 12:32 am
  • Tối Chủ nhật, ngày 15 tháng 12 năm 1973

    174. Về Sự Cần Thiết Của Lời Nguyện


    Hòa Thượng Tuyên Hóa




    Những gì chúng ta đang bàn luận nhắc tôi nhớ đến nhóm 5 người đệ tử đầu tiên, 3 vị Tăng và 2 vị Ni, tới Đài Loan để thọ giới; nhóm thứ hai gồm 4 vị Tăng tới Đài Loan để thọ cụ túc giới; và nhóm thứ 3 thọ cụ túc giới ngay tại tu viện Kim Sơn này. Tất cả họ đều lập nguyện. Vậy mà gần đây không có ai trong số những người mới xuất gia và thọ giới sa di lập nguyện.

    Nếu quý vị muốn lập nguyện thì trước tiên hãy nói cho tôi biết. Quý vị đã quyết tâm tu Bồ tát đạo và thành Phật. Điều đó rất tốt, nhưng trước tiên quý vị phải lập nguyện đã. Thực ra , tất cả những ai trong tứ chúng tại Kim Sơn tự đều nên lập nguyện. Sau khi lập nguyên, quý vị hãy tu hành theo lời nguyện đó. Vài ngày tới sẽ là thời điểm thích hợp để lập nguyện, vì vậy chớ nên trì hoãn. Người nào trong quý vị muốn lập nguyện thì phải nộp lời nguyện của mình đã được viết ra giấy. Nếu không biết viết, quý vị hãy nhờ ai đó viết giùm. Lập nguyện là một nguyên tắc vàng tại tu viện Kim Sơn.

     

    (Dịch từ sách "Timely Teachings" Ch. 1 Part IV, page 206, following paragraph 1)


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group