Nhân sinh yếu nghĩa - Hòa thượng Tuyên Hóa (Thích Minh Định chuyển dịch)

  • Lòng Trắc Ẩn

    December 9th 2013, 10:54 pm
  • Làm Sao Cứu Vãn Nền Giáo Dục?

    Giảng Tại Chùa Kim Luân ngày 20/9/88


    Hiện nay chứng bệnh lớn nhất trên thế giới không dễ gì mà trị tuyệt chứng. Không phải ái tử bệnh (Aids), không phải bệnh nhọt, mà là nền giáo dục bị phá sản. Ðây là bệnh lớn nhất của thế giới. Thử nghĩ xem, nếu nền giáo dục tốt, thì ai ai cũng giữ quy cụ, giữ pháp luật, giữ giới, không thể phóng ra độc khí nhiều như thế, khiến cho nhân loại toàn thế giới tán tận lương tâm. Nguyên nhân tán tận lương tâm đều vì nền giáo dục bị phá sản. Người đi học không như người đi học, thầy giáo không giống thầy giáo, học sinh không giống học sinh. Trong mỗi trường học đều là "dương thang chỉ phất", chẳng có ai "phũ để trừu tân".

    "Dương thang chỉ phất" là gì? Ví như học sinh nam nữ trong trường học không giữ quy cụ, nghiã là không tiết chế dục niệm của mình. Bèn túng dục tham lam, nhưng lại sợ sinh con cho nên uống thuốc ngừa thai. Ðây gọi là "Dương thang chỉ phất" là biện pháp trị ngọn mà không trị cái gốc.

    Phương pháp "Phũ để trừu tân" là nữ mộ trinh khiết, nam hiệu tài lương, học sinh nam nữ khi chưa thành thục thì không thể quá thân mật với người khác giới tính, không thể lạm giao. Khi thành thục rồi cũng phải nhẫn nại một chút. Ðợi khi chánh thức kết hôn rồi mới có quan hệ vợ chồng. Như thế thì không dùng uống thuốc ngừa thai, cũng không dùng thuốc phá thai, vì đây đều không phải là vấn đề giải quyết cứu kính. Thực ra mỗi trường học đều biết đạo lý nầy, nhưng không muốn "Phũ để trừu tân", mà chỉ dùng phương pháp "dương thang chỉ phất".

    Nam nữ lạm giao trước khi chưa kết hôn, kết hôn rồi lại mau ly dị. Con cái sinh ra cũng không biết ai là cha, ai là mẹ ; khi sinh ra thì biến thành cô nhi, không có mái ấm gia đình, không có luân lý quan niệm xã hội, từ nhỏ đã lưu ly thất sở. Những trẻ em nầy ở với cha ba ngày, hoặc ở bốn ngày với mẹ. Ở với cha thì người cha tưới độc lên em bé:"Tại sao ba lại ly hôn với má? Vì má mầy không giữ quy cụ như thế như thế, không tốt như thế như thế". Khi ở với người mẹ thì người mẹ cũng tưới độc lên em bé: "Ba của mày là người xấu nhất trên thế giới, cho nên má không ở với ba của con". Ðứa trẻ quen tai quen mắt, nổi khí oán hận cừu địch. Thậm chí người cha chơi với bạn gái, mang bạn gái về nhà mà không chiếu cứ con cái. Người mẹ ly dị rồi cũng chơi với bạn trai, mang bạn trai về nhà, cũng không lo cho con cái. Những đứa nhi đồng này chưa trải qua giáo dục tốt của gia đình, bèn trở thành vấn đề nhi đồng. Từ nhỏ đã chứa đầy phiền não oán hận, khi lớn lên không thể tưởng tượng được. Cha mẹ hư hỏng như thế, thì con cái càng thêm tệ hại. Vì trong gia đình không có nề nếp giáo dục và nhà trường không liên lạc với gia đình, cho nên học sinh đến trường thầy giáo cũng không cách chi quản lý được. Học sinh chẳng nghe lời thầy cô, thậm chí có những thầy giáo dạy trẻ con hư hỏng như thế, do đó vấn đề nhi đồng ngày càng nhiều.

    Muốn vãn hồi sự suy đồi của thế giới, trước phải bắt đầu từ gốc rễ mà làm, thanh niên nam nữ trước khi chưa thành thục không thể lạm giao. Thanh thiếu niên như mầm non, chưa trưởng thành đã nhổ lên rồi lại gieo giống xuống đất, hạ liệt một đời nhất định sẽ khẳng kheo thua kém đi. Ðồng lý ấy, thanh thiếu niên chưa thành thục, sớm sinh dục rồi, thì hạt giống hạ liệt một đời không nẩy mầm tráng kiện. Như vậy cứ một đời truyền một đời, mỗi lúc càng hạ lưu, tức là một đời so với một đời ngu si. Ðây là gốc rễ tai họa con đường đưa đến vong quốc diệt chủng.

    Do đó, người thanh niên trước khi chưa trưởng thành, không thể lạm giao, khi trưởng thành rồi mới chính thức kết hôn. Không thể li dị, không thể dùng thuốc phá thai. Nhân khẩu thế giới bành trướng, mỗi cặp vợ chồng chỉ có thể sinh hai đứa, đó là pháp định tiết chế sinh dục. Nếu Mỹ có thể lãnh đạo áp dụng, kêu gọi toàn thế giới thì mỗi quốc gia có thể phụng hành, bằng không đến tương lai nhân khẩu bạo tác thì thế giới đi đến chỗ diệt vong.

    Cha mẹ sinh con cái phải dạy dỗ cho tốt, dạy chúng tự ái hộ thân thể, gia đình, xã hội, quốc gia. Cha mẹ không nên để cho con cái tự ý phát triển, cho rằng đó là tự do. Thực ra đây là hiểu lầm tự do, mà chẳng phải chân chánh tự do. Không nên cho con cái xem truyền hình nhiều, tai hại đến vấn đề học hành. Một số tiết mục đầy dẫy hoằng sắc, bạo lực, che mất trí năng của nhi đồng, dẫn đến tán tận thiên lương. Cha mẹ và thầy giáo phải cùng nhau dạy dỗ thanh thiếu niên, phải quan tâm, quan tâm đến vấn đề xã hội quốc gia, để lợi ích toàn nhân loại. Do đó mới có hy vọng vãn hồi tai kiếp thế gian, nếu không thì nhân loại nhất định đồng quy ư tận.



    Kỷ Niệm Ngày Bố Tát Quán Thế Âm Xuất Gia

    Giảng tại Vạn Phật Thành ngày 20/10/1988


    "Tu giới tu định tu trí huệ,

    Niệm Phật niệm Pháp niệm Tăng già,

    Nhất tâm ủng hộ thường tinh tấn,

    Diệu giác Cực lạc hoa khai thật".

    Từ vô thỉ kiếp đến nay, nhận giặc làm con, nhiễm khổ cho là vui, trôi nổi trong sinh tử luân hồi, không khi nào dừng. Cho đến hôm nay mới phát tâm bồ đề, tu vô thượng đạo, sớm ra khỏi trầm luân, chấm dứt sinh tử. Nếu không giác ngộ thì vĩnh viễn trầm luân trong tam đồ. Nay có cư sĩ Lâm Quả Lạc, xa từ Hương Cảng đến núi, thỉnh mời thượng đường thuyết pháp, sơn Tăng vốn không có pháp gì để nói, chỉ dạy các vị niệm Phật, cầu sinh tịnh độ, hoa khai thấy Phật, ngộ vô sinh nhẫn, trở lại Ta Bà, đồng ra khỏi biển khổ luân hồi, thành vô thượng đạo, quả Phật diệu giác.

    Hôm nay là ngày vía Bồ Tát Quán Thế Âm xuất gia. Thực ra Bồ Tát đã thành Phật trong vô lượng kiếp quá khứ, hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai. Vì lợi ích hết thảy chúng sinh cho nên dùng con thuyền từ bi, thị hiện thân Bồ Tát để cứu hộ chúng sinh, lìa khổ được vui. Người xuất gia tại Vạn Phật Thành phải phản tỉnh xuất gia để làm gì? Là lợi ích chính mình hay lợi ích kẻ khác? Phải chăng vào trong Phật giáo để kiếm cơm ăn, tức không phải là kiếm cơm ăn, thì phải làm những việc người xuất gia làm, tức là không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu, nghiêm trì năm giới. Nếu không giữ giới luật thì làm sao nhìn Phật, nhìn thí chủ, thiên địa quỷ thần, cha mẹ tổ tiên. Tại sao? Vì cha mẹ sinh ra và dưỡng nuôi chúng ta, hy vọng chúng ta có ích với dân. Nếu chỉ biết lợi ích chính mình, thì không mặt mũi nào nhìn cha mẹ, trời đất.

    Tất cả mọi người trên thế giới phải nhận rõ trách nhiệm chính mình, đừng làm cục thịt biết đi, phải tận trách nhiệm, tận thiên chức, phải tự hỏi mình, ta đối với quốc gia có tận trung chăng? Hại người địa phương nhiều? Hay là giúp đỡ người địa phương nhiều? Mỗi vị xuất gia, tại gia đệ tử của Phật phải tự xét hỏi mình, ta đối với quốc gia có tận trung chăng? Có những người đến Vạn Phật Thành, cho rằng không làm việc cũng có cơm ăn, có chỗ ở, đây là sai lầm! Tông chỉ Vạn Phật Thành là lợi ích kẻ khác. Phàm có người mang mặt giả, gạt kẻ khác, lường gạt kẻ khác, thì không dung chứa tồn tại. Tại sao thế giới hư hoại? Vì ai ai cũng mang mặt giả, cho rằng mình rất thông minh, mới làm cho thế giói suy đồi. Hiện tại ai ai cũng phải sửa lỗi làm mới, giữ sáu đại tông chỉ: Không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi, không nói dối, dùng sáu đại tông chỉ nầy thâm nhập vào hành vi tư tưởng của mỗi người. Có sáu đại tông chỉ nầy tức là chủ trì chánh khí, đây tức là chánh khí của thế gian, là linh hồn của vũ trụ, là chân lý của trời đất.

    Người chân chánh chủ trì chánh nghĩa, trên thế giới không có mấy người, ai ai cũng ỷ lời nói mạnh để đoạt lý, cho nên thế giới mới xu hướng diệt vong. Chánh nghĩa hoàn toàn nguy tận thì thế giới sẽ hủy diệt. Do đó chúng ta phải chân chánh hoằng dương Phật pháp, không thuận về nhân tình, không dùng giao tế thủ đoạn, không dụng nhân tâm mà dụng đạo tâm, mới có thể khiến cho Phật pháp phát dương quang đại. Cho nên "Người hoằng dương Phật pháp, chẳng phải Phật pháp hoằng dương người". Bất tất lên tiếng kêu gào, làm được bao nhiêu thì làm bấy nhiêu, trước phải từ sáu đại tông chỉ mà trước thủ.



    Hoa Sen Mọc Trong Bùn

    Giảng tại Ðài Loan ngày 29/10/1988


    "Pháp giới vi thể hữu hà ngại,

    Hư không thị dụng vô bất dung

    Vạn vật bình đẳng ly phân biệt,

    Nhất niệm không sinh tuyệt ngôn tông".

    Nghĩa rằng:

    "Pháp giới là thể có gì ngại,

    Hư không là dụng dung hết thảy ;

    Vạn vật bình đẳng không phân biệt,

    Một niệm không sinh bặc lời lẽ".

    Tâm lượng của mỗi người là tận hư không khắp pháp giới, bao hết thảy, dung hết thảy. Cho nên "Tâm bao thái hư, lượng chu sa giới". Chẳng phải chỉ riêng Phật mới có, mà mỗi chúng sinh đều có năng lượng, có trí huệ này. Nhưng lâu dần không dùng đến trí huệ này, nên bị trần ai che lấp. Cho nên chúng sinh với Phật là không ngại không khác. Nhưng do "bỏ giác hợp trần", không dùng đến đại trí huệ của chúng ta, chỉ dùng vô minh, tựa như hiểu mà chẳng hiểu, tựa như sáng mà không sáng.

    Chúng ta không làm cho trí huệ vốn có xuất hiện lại, ngày ngày dùng vô minh phiền não, cho rằng năng lực của chúng ta, động một chút thì nổi giận. Ðây là gốc tội nghiệp tiền kiếp. Nếu không có tội nghiệp thì không có lửa vô minh, khi phát lửa vô minh thì tham, sân, si liền đến. Các bạn phải hồi quang phản chiếu, tự nhìn mình có phải như thế chăng? Chẳng phải riêng bạn như thế, có thể nói mỗi người đều phạm chứng bệnh này. Tuy nhiên nói mỗi người chúng ta đang tu hành Phật pháp, nhưng trên thực tế thì không cung hành thực tiễn. Cho nên từ sáng đến tối tranh tranh náo náo, phiền phiền não não, cho đến ngủ cũng không yên, bỏ gốc tìm ngọn, tìm phương pháp để làm cho ngủ yên, như uống thuốc ngủ, nhưng uống quá nhiều thì có thể ngủ không tỉnh lại, bạn nói đáng thương xót chăng!

    Phiền não nầy đều do vô minh mà ra. Vô minh tức là dục niệm: Tài dục, sắc dục, danh dục, thực dục, thùy dục. Tài dục khiến cho người từ sáng tới tối chuyên nghĩ về tiền bạc, vô bổn thủ lợi, giàu như "phú khả địch quốc" còn chưa biết đủ. Sắc dục thì "quát cốt cang đao" làm cốt tủy đều hư hỏng bại hoại thì sinh ra bách bệnh, cho nên sắc dục thì "yểu mạng dục" (muốn chết sớm).

    Phần đông cha mẹ sinh con cái rồi ngày đêm lo lắng. Sinh con trai rồi thì khẩn cấp muốn y hỏi vợ, sinh con gái rồi thì khẩn cấp muốn gả y cho người. Cho rằng hai việc nầy chưa xong thì đại sự chưa hoàn tất. Thực ra sinh con cái thì phải giáo dục chúng cho có học thức, có nghề nghiệp. Cho đến việc kết hôn hay không, bất tất quá bận tâm.

    Nếu nhất định muốn chúng hỏi vợ gả chồng tức là muốn chúng đi vào con đường chết, không hy vọng chúng tu hành thành Phật. Hiện nay trên thế giới có rất nhiều hiện tượng kỳ quái, con cái nếu không kết hôn thì cha mẹ đều phản đối, nhưng nếu con cái hút sách thì không thấy cha mẹ phản đối. Cho nên nói con cái đi lên thì cha mẹ lại sợ ; còn con cái hạ lưu thì ngược lại mà cao hứng, đây là chỗ hồ đồ của bậc làm cha mẹ.

    Tôi có một lối nhìn, Phật giáo thì "tố bổn cầu nguyền" phải gọi là "trí huệ giáo". Vì Phật là tiếng Phạn, nghĩa là "bậc đại trí huệ". Nghĩa bổn thân chữ Phật là "giác ngộ". Vì có người khi dề cập đến Phật giáo thì sinh tâm kiêu mạn. Như người tây phương cho rằng Phật giáo là mê tín, nhưng nếu bạn nói Phật giáo là trí huệ giáo thì bất cứ người nào cũng không dám nói trí huệ là mê tín, không thể bạn tin trí huệ là mê tín. Cho nên bạn học Phật là học trí huệ, bạn học trí huệ là học Phật. Có người hỏi tôi, đến tây phương hoằng pháp như thế nào? Tôi nói với bạn rằng tôi nương cậy vào Quán Thế Âm Bồ Tát, Chú Ðại Bi và Chú Lăng Nghiêm. Chú Ðại Bi là đại Chú Ðại Bi tâm, có thể không thiên triệt địa. Nếu bạn kiền thành tụng Chú Ðại Bi, mỗi ngày 108 biến, liên tục trong ba năm, lúc đó bạn dùng Chú Ðại Bi để vì người mà trị bệnh thì, tay rờ đến bệnh liền tiêu trừ. Tôi đã từng có trăm ngàn vạn ức lần cảm ứng khiến cho kẻ chết sống lại. Cho nên nói Chú Ðại Bi là minh tâm kiến tánh, biến hóa khó lường, diệu dụng vô cùng. Lần nầy tôi đến Ðài Loan, muốn dùng đến tâm thành, dùng Chú Ðại Bi để hộ quốc, dùng Chú Ðại Bi làm tiêu tai, dùng Chú Ðại Bi làm tăng trưởng thiện căn và trí huệ của chúng sinh.

    Chú Ðại Bi và Bồ Tát Quán Âm là hai mà chẳng hai, không hai mà hai, hai mà không thể phân biệt. Tôi hy vọng các vị thiện tri thức đủ tâm thành tụng trì Chú Ðại Bi, tất nhiên sẽ tiêu trừ tai nạn. Tôi đã đắc được chỗ diệu dụng của Chú Ðại Bi, cho nên hôm nay mới bày hết ra.

    Tôi hay nói công hiệu của Chú Ðại Bi, hy vọng mỗi người dùng sức lực Chú Ðại Bi để cứu vãn thế giới, khiến cho nhân loại vĩnh viễn không có tai nạn, khiến cho chánh pháp thường trụ thế gian.



    Ngư Mục Hỗn Châu

    Giảng tại Ðài Loan ngày 30/10/1988


    Năm nay có thể nói là ngư mục hỗn châu (nhận mắt cá làm hạt châu), là một năm rồng rắn hỗn tạp. Tại sao? Vì đương sơ ma vương thấy Ðức Phật sắp thành Phật, liền dùng đủ thứ ma thuật để nhiễu loạn Ðức Phật, nhưng tơ hào chẳng có cách chi làm giao động định lực của Phật, ma vương không còn kế gì nữa, bèn nói: "Nay ta phá không được Ngài, nhưng đến thời đại mạt pháp, ta sẽ kêu ma con ma cháu trà trộn vào trong Phật pháp, ăn cơm Phật giáo, mặc y phục Phật giáo, phá hoại Phật giáo". Phật nghe ma vương Ba Tuần phát nguyện ác độc như thế, Phật tuy nhiên nhẫn chịu được, nhưng Ngài ưu tư thời đại mạt pháp "pháp nhược ma cường", trong nhiều đạo tràng có quyến thuộc của ma vương, trên danh nghĩa là làm Phật sự, nhưng trên thực tế thì nhiễu loạn Phật giáo.

    Hôm nay nhìn người trong Phật giáo, chỉ nói lời Phật pháp mà không hành Phật pháp, khiến rất nhiều tín đồ tín tâm giao động. Nay tôi dạy các bạn một con mắt chọn pháp. Các bạn có thể phân biệt cứu kính ai là đệ tử Phật, ai là đệ tử của ma. Ðệ tử của Phât thì tu giữ giới luật, đệ tử của ma thì phá hoại giới luật. Chế độ của Phật thì dạy người đừng tranh, đừng tham, đừng cầu, đừng ích kỷ, đừng tự lợi, đừng nói dối. Nếu tranh, tham, cầu, ích kỷ, tự lợi, nói dối, thì những người đó là con cháu của ma, hoặc làm không được "chúng thiện phụng hành, chư ác mạc tác" thì những người đó là con cháu của ma. Chúng ta làm sao phân biệt được đệ tử của Phật hoặc là con cháu của ma? Chủ yếu là phải quán sát họ, nhìn họ phải chăng suốt ngày từ sáng đến tối tranh đoạt danh lợi, đấu tranh với người, nhìn họ phải chăng xiểm nịnh người có tiền? Ðối xử không tốt với người nghèo? Hoặc là chuyên môn nghĩ kiếm tiền, cầu danh cầu lợi, hy vọng sinh hoạt mỗi ngày nhiệt náo, phồn hoa hơn.

    Tại sao người cầu danh cầu lợi? Vì ích kỷ. Tại sao ích kỷ? Vì tự lợi. Vì ích kỷ tự lợi, cho nên hành vi trước mặt là Phật giáo, nhưng trên thực tế mục đích sau lưng là phá hoại Phật giáo, cho nên chúng ta phải biết đó là quyến thuộc của ma vương.

    Những con cháu của ma vương mặc y Cà Sa, tuy nhiên là hiện thân đệ tử Phật giáo, nhưng hành vi rất thủ đoạn, do đó có thể biết họ phải chăng là đệ tử của Phật. Bạn muốn làm đệ tử chân chánh của Phật, thì phải có con mắt chọn pháp chân chánh, nhất định phải thận trọng.

    Trong Phật giáo nói:"Người nam đều là cha ta, người nữ đều là mẹ ta". Chúng ta quán tưởng như thế thì hết thảy người nam người nữ với chúng ta không có phân biệt. Cho nên Bồ Tát Thường Bất Khinh nói:"Tôi không dám khinh các vị, vì chúng sinh đều sẽ thành Phật". Tức nhiên như thế, chúng ta đều phải sinh một thứ tâm vô duyên đại từ, họ đối với ta vô duyên, ta cũng sinh tâm từ bi đối với họ, thống khổ của họ như thống khổ của mình. Do đó con ma cháu ma cũng phải xem như chúng là cha mẹ chúng ta, phải làm các việc thiện để cảm hóa họ. Tôi đối với Thiên Chúa giáo, Cơ Ðốc giáo hoặc các tôn giáo khác đều không khinh thị họ, tôi không làm kẻ địch với họ mà làm bạn hữu. Trong Phật giáo vốn không có kẻ địch, vì người hủy báng chúng ta đều là thiện tri thức của chúng ta. Trước mặt họ hủy báng ta nhưng trên thực tế là họ muốn chúng ta sớm thành đạo, họ dùng mặt trái để dạy dỗ chúng ta, họ sợ chúng ta không tốt, chúng ta phải nghĩ như thế. Vì có người làm nghịch với chúng ta, họ hy vọng chúng ta tốt hơn nữa, lên thêm một từng lầu nữa. Cho nên có câu:

    "Tiến thêm một bước đầu sào trăm trượng,

    Mười phương thế giới hiện toàn thân".

    Ðây là muốn chúng ta đừng được ít cho là đủ, chúng ta phải dũng mãnh tinh tấn đạt đến cảnh giới bất thối chuyển. Ðó là tinh thần "Vô duyên đại từ, đồng thể đại bi", cũng là chân chánh hành Bồ Tát đạo".



    Niệm Phật Có Thể Khiến Cho Thế Giới Hoà Bình

    Giảng tại Kim Sơn Tự, Canada, ngày 05/06/1988


    Chúng ta sinh vào thời đại không có mặt trời, mặt trăng, và sao, cũng không có đèn sáng, tối không có ban ngày. Nhưng chúng ta đều không biết, nói còn có mặt trời, trăng, sao, đèn sáng. Phải biết không có chân lý tức là không có ánh sáng.

    Trên thế giới này giữa người và người hỗ tương lường gạt, giữa nhà này nhà kia hỗ tương lường gạt, quốc gia này với quốc gia kia hỗ tương lường gạt. Người đối với người không có gốc chân thành làm người, không dùng đạo đức nhân nghĩa đối đãi người. Tại sao? Vì ai ai cũng đều hư ngụy, cho nên hỗ tương đấu tranh, lường gạt tạo thành mối bất an cho thế giới.

    Chúng ta học Phật pháp, học niệm Phật, nhất định phải trừ niệm sân. Làm thế nào để trừ niệm sân? Tức là trong tâm của bạn đừng đố kỵ, không nóng giận. Dùng nhẫn nhục, trí huệ thì bạn có thể đạt đến bờ kia. Tại Vạn Phật Thành tôi có nói:"Thế nào là không sát sinh? Tức là trong tâm không có đố kỵ sân hận, nhẫn là Ba La Mật, một thật tất cả đều thật". Chúng ta làm bất cứ việc gì cũng đều phải nhận chân mà làm. Ðừng thiện ác lộn xộn, không nên làm chút thiện lại làm chút ác ; trong thiện lại có hạt giống ác tồn tại, trong nhân thiện lại có mua danh chuộc tiếng khen, hoặc là làm không chân thật, cho nên "không chân thật thì gặp quả quanh co". Hiện tại chúng ta niệm Phật cũng phải niệm chân thật, phải nhiều nhẫn nhục, trong tự tính phải thường sinh trí huệ, đừng ngu si, bạn sát sinh tức là ngu si, không sát sinh tức là có trí huệ. Bạn không niệm Phật là ngu si, bạn thường niệm Phật thì có trí huệ. Ðừng có miệng niệm Phật, mà trong tâm khởi vọng tưởng, như vậy là hoá ra chẳng niệm Phật, khởi vọng tưởng gì? Khởi vọng tưởng ăn ngon, khởi vọng tưởng kiếm tiền. Bạn gái thì khởi vọng tưởng bạn trai, bạn trai thì khởi vọng tưởng bạn gái, khởi vọng tưởng tương lai tôi thành như thế nào, thành công như thế nào, cuộc sống như thế nào?

    Niệm Phật tâm phải chuyên nhất. Niệm "Nam Mô A Di Ðà Phật, Nam Mô A Di Ðà Phật". Niệm được "gió thổi không vào, mưa rơi không lọt", trời mưa gió thổi cũng không biết, bất cứ cảnh giới bên ngoài cũng không thể nhiễu tâm của bạn thì sẽ đắc được niệm Phật Tam Muội, niệm Phật có định lực thì cuối cùng chứng được ba bất thối: Niệm bất thối, hạnh bất thối và vị bất thối. Niệm là thường niệm Phật, tu hành không thối tâm, thường tại địa vị niệm Phật. Chúng ta đối với bất cứ người nào cũng đừng sinh tâm sân hận. Khi sinh tâm sân hận thì bạn niệm gì cũng không có cảm ứng. Cho nên có câu:

    "Nhất niệm sân tâm khởi,

    Bát vạn chướng môn khai".

    Nghĩa là:

    Một niệm sân nổi lên

    Trăm vạn chướng ngại đều xảy ra.

    Phải từ bi hỷ xả, phải có tâm tha thứ, bao dung hết thảy, phải biết trên thế gian không thể hoàn toàn là người tốt, người không tốt không biết là bao nhiêu. Phải học chư Phật Bồ Tát không thấy lỗi của chúng sinh. Chúng ta sinh ra trong thời kỳ mạt pháp là điều bất hạnh, nhưng hiện tại chúng ta có pháp môn niệm Phật, cũng có thể nói là rất may mắn. Chúng ta đang trong thời kỳ không bình an, mà gặp được pháp môn niệm Phật, đều là do trong quá khứ đã trồng căn lành. Hôm nay chúng ta có hơn ba mươi người tham gia Phật thất. Tôi nói đúng thì các bạn chiếu cứ thực hành, nếu tôi nói không đúng thì hãy quên đi, xem như là tôi không nói. Hy vọng các bạn là tướng quân không xuống ngựa, mỗi người tự tiến về trước, nỗ lực tinh tấn đến thế giới Cực Lạc, hoa nở thấy Phật, hẹn gặp lại.

  • Lòng Trắc Ẩn

    December 10th 2013, 2:22 pm
  • Chúng Ta Phải Học Mô Phạm Của Phật

    Giảng tại Kim Sơn Tự, Canada, ngày 03/07/1989


    Người học Phật phải chân chánh nhận thức mục đích của chúng ta là gì? Người học Phật là vì tương lai muốn thành Phật. Nếu không muốn thành Phật thì đừng học Phật. Học Phật phải học nguyện lực của Phật, phải học hành vi của Phật, phải học tư tưởng của Phật. Nguyện lực của Phật là không riêng gì mình thành Phật, mà còn phải phổ độ hết thảy chúng sinh đều thành Phật đạo, vì hết thảy chúng sinh đều có Phật tính, đều có thể thành Phật, nhưng vì vọng tưởng chấp trước, cho nên từ bao nhiêu kiếp đến nay, cũng không thể nào thành Phật. Vọng tưởng là gì? Vọng tưởng là tâm tham. Chúng ta nếu không có tâm tham thì không có vọng tưởng, không có tâm tham thì biết đủ, biết đủ thì khoái lạc, không biết đủ thì thống khổ, người biết đủ thì luôn luôn an lạc, người không biết đủ thì luôn luôn thống khổ. Tại sao không biết đủ? Vì có tâm tham. Tại sao lại biết đủ? Vì không có tâm tham. Nói đơn giản "Biển khổ không bờ, quay đầu là bến". Tâm tham của chúng ta so với trời còn cao hơn, so với đất còn dày hơn, hố không đáy thì không có khi nào lấp đầy được. Tâm tham gọi là gì? Phàm là những gì bạn nghĩ muốn được, không thể đắc được bạn cũng muốn được, những gì có được bạn lại muốn thêm nhiều. Ðây đều là tâm tham. Thứ tâm tham nầy khi sinh ra, thì nào là tâm tham tiền tài, tham sắc đẹp, tham danh vọng, tham ăn ngon, tham ngủ nhiều. Vì có tâm tham cho nên đầu óc suốt ngày không ngừng tạo tội lỗi, luôn luôn đều tính toán quanh co trong đầu não, nhưng tính đi tính lại vẫn cảm thấy không đủ. Cho nên phải nghĩ biện pháp lấp đầy hố tham dục của chính mình, hố tham dục mà không đày, thì thấy cái nầy cũng cho là thật, thấy cái kia cũng cho là thật, thấy cái gì thì tham cái đó, thậm chí rác rến cũng muốn chất thành đống to, cảm thấy như vậy mới có ý nghĩa. Tại sao phải tham rác rến? Vì sinh tâm chấp trước, thì vọng tưởng rác rến không thể nào quét sạch. Vọng tưởng tham tài là rác rến, vọng tưởng tham sắc, tham danh, tham ăn, tham ngủ, cũng đều là rác rến. Những thứ nầy đều là những thứ không trong sạch, cho nên gọi là rác rến, cũng vì thế mới nói "Tài sắc danh thực thùy, địa ngục ngũ điều căn", không thể phát tâm bồ đề. Người phát tâm bồ đề thì đối với năm dục này chẳng vướng bận, không tham tài, không tham sắc, không tham danh, không tham ăn, không tham ngủ, vật gì cũng không tham, cũng không chấp trước vật gì. Nhìn xem những người tham tài vật, xem tài như mạng sống, như cha mẹ của họ, thậm chí còn thân hơn so với cha mẹ, có tiền rồi thì không còn biết tới cha mẹ. Người tham sắc thì điên điên đảo đảo, một không đủ thì tham hai, hai không đủ thì tham ba. Người như thế chết rồi nhất định làm súc sinh, làm rồng. Vì rồng thì tâm dâm dục quá mạnh, cho nên nguời tham sắc thì đoạ làm rồng, tội nặng thì đọa địa ngục. Cho đến tham ăn, tham ăn ngon, ăn ngon lại như thế nào? Bất quá ăn no rồi thì không thể ăn được nữa, hơn nữa ăn đồ ngon khi ăn no rồi thì lại có phiền não. Ngủ thì ngủ nhiều, lại muốn ngủ nhiều, thậm chí ngủ không tỉnh dậy. Người vì chấp trước tài sắc danh thực thùy năm dục, cho nên ngày càng không có trí huệ, tự tính ngày càng không trong sạch, tham lam rác rến với pháp nhiễm ô, cho nên tự tính trí huệ quang minh không linh nghiệm. Nghĩ muốn lộ ra trí huệ quang minh thì đừng có tâm tham, đừng tham tài, đừng tham sắc, đừng tham danh, đừng tham ăn, đừng tham ngủ, có thể đoạn được năm dục này thì là nguyện lực của Phật. Phật tu phước tu huệ, tu ba đại A Tăng kỳ kiếp (một tăng một giảm là một kiếp, tuổi thọ con người cứ một trăm năm thì tăng một tuổi, cao thêm một tấc, từ mười tuổi tăng đến tám vạn bốn ngàn tuổi, và một trăm năm giảm xuống một tuổi, lại từ tám vạn bốn ngàn tuổi giảm xuống đến mười tuổi gọi là một kiếp, một ngàn kiếp gọi là một tiểu kiếp, hai mươi tiểu kiếp hợp thành một trung kiếp, bốn trung kiếp hợp lại thành một đại kiếp). A Tăng Kỳ kiếp là nhiều đại kiếp không có số lượng. Tu phước thì tận sức làm việc thiện, tu huệ thì học văn tự Bát Nhã, cũng có thể nói là làm các việc thiện là tu phước, đừng làm các điều ác là tu huệ, cho nên phải phước huệ viên mãn mới có thể thành Phật. Phật trong ba đại A Tăng kỳ kiếp và trong trăm kiếp tu phước tu huệ, việc thiện nhỏ nhất Ngài cũng làm, còn việc ác nhỏ nhất Ngài cũng không làm, trải qua thời gian lâu dài mới thành Phật. Do đó phàm là người tín ngưỡng Phật, tin pháp của Phật nói, cũng tin đệ tử của Phật và hết thảy chư Tăng. Chúng ta học Phật nhất định phải học nguyện lực của Phật. Nguyện lực của Phật là tự mình thành Phật rồi, lại muốn độ hết thảy chúng sinh đều thành Phật, mình đã đắc được quả bồ đề, đắc được đại trí huệ, đại an lạc. Cho nên cũng muốn hết thảy chúng sinh cùng hưởng đại trí huệ và đại an lạc. Chúng ta là người học Phật phải nhớ đừng tranh, đừng tham, đừng ích kỷ, đừng tự lợi, đừng nói dối, đừng hướng ngoại truy cầu, đây là bước sơ bộ trên đường đạo. Nguyện lực của Phật thì vô lượng vô biên, sâu rộng như biển cả. Nhưng chúng ta không thể nói biển cả quá sâu rộng, chúng ta học không được thì không học. Chúng ta phải học nguyện lực của Phật từng chút, từng chút. Chúng ta phải xả mình vì người, phải học hạnh của Phật Thích Ca, xả thân cứu cọp đói, lóc thịt cứu chim ưng, bị vua Ca Lợi chặt chân tay, trong tâm cũng không sinh tâm sân hận, phải có tinh thần nhẫn nhục, trì giới, tinh tấn, bố thí, thiền định, thì có thể sinh trí huệ Bát Nhã, đây là lục độ vạn hạnh, chỉ cần tiến về trước tu thì đồng thời sẽ đầy đủ.

    Tuy nhiên nguyện lực của Phật rộng lớn, nhưng nguyện lực của chúng ta cũng không nhỏ. Chỉ cần phát nguyện lực của Phật, thì một ngày nào đó chúng ta cũng sẽ thành công, sẽ đạt được mục đích.

    Hành vi của Phật thì không làm các điều ác, mà chuyên làm các việc thiện, luôn luôn chiếu cứ mình, không bao giờ phá hoại kẻ khác, đó là hành vi lợi người mà không hại người, là cứu người mà không giết người. Ngài khiến cho chúng sinh khai đại trí huệ, không phải dùng chính sách ngu si để lường gạt chúng sinh. Cho nên hành vi của Phật tối cao vô thượng. Tư tưởng của Phật là từ bi hỷ xả. Từ là ban vui cho chúng sinh. Bi là cứu khổ, lợi dụng tâm bi để giải trừ thống khổ của chúng sinh. Hỷ là hoan hỷ đối với hết thảy chúng sinh. Chúng sinh chưởi mắng Ngài cũng hoan hỷ, chúng sinh đánh Ngài cũng hoan hỷ, thậm chí giết Ngài, Ngài cũng hoan hỷ không sinh tâm sân hận. Xả là xả những gì chúng sinh không thể xả. Phần đông xả không đặng nhưng Ngài xả được, phần đông đều tham muốn nhưng Ngài không tham muốn. Cho nên Ngài thì không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi, cũng không nói dối. Vì Ngài không muốn lường gạt người, cho nên Ngài hết thảy đều đầy đủ, không hướng ngoại truy cầu, không làm những việc ngu si. Ðó là nguyện lực, hành vi và tư tưởng của Phật. Chúng ta mỗi ngày tự suy nghĩ xem, nguyện lực của ta và nguyện lực của Phật như thế nào? So sánh hành vi, tư tưởng của ta với Phật như thế nào? Có thể mỗi ngày so sánh như thế, thấy thiện thì bắt chước làm theo, thấy không thiện thì tự cảnh tỉnh ; thấy kẻ tốt, người thiện, người đại trung, đại hiếu, đại tín thì làm theo ; thấy người không thiện thì tự mình hồi quang phản chiếu, mình có làm những việc hợp lý chăng? Những việc ngu si chăng? Suy nghĩ như thế thì có thể những gì mình không muốn thì không thí cho người, nếu được như thế thì là bồi phước bồi huệ bắt đầu phát tâm đại bồ đề.



    Ý Nghĩa Ðạo Ðức Và Thực Tiễn

    Giảng tại Ðàn Hoa Tự Hạ Uy Di ngày 22/07/89


    Luân lý tư tưởng đạo đức Trung Quốc, hoàn toàn bao quát ở trong đạo. Cho nên:

    "Ðạo năng sinh ngã,

    Ðức năng trưởng ngã"

    Nghĩa là:

    "Ðạo sinh ra tôi,

    Ðức nuôi lớn tôi".

    Ðạo đức là chánh khí của trời đất, là cơ sở tính ưu phẩm nhất của nhân loại, đó là đức tính vốn đầy đủ của mỗi người. Chương thứ nhất trong Ðạo Ðức Kinh có nói:

    "Ðạo khả đạo, phi thường đạo,

    Danh khả danh, phi thường danh.

    Vô danh, thiên địa chi thủy,

    Hữu danh vạn vật chi mẫu.

    Cố thường vô dục dĩ quán kỳ diệu,

    Thường hữu dục dĩ quán kỳ triệt.

    Kỳ lưỡng giả, đồng xuất nhi dị danh đồng vị chi huyền. Huyền chi hựu huyền, chúng diệu chi môn".

    Ðây là cái diệu vô danh tức là phỏng chiếu theo đạo. Ðạo chân chánh không thể gọi là hình trạng, cho nên Thái Thượng Lão Quân lại nói:

    "Ðại đạo vô hình, sinh dục thiên địa ;

    Ðại đạo vô tình, vận hành nhật nguyệt ;

    Ðại đạo vô danh, trưởng dưỡng vạn vật,

    Ngô bất tri kỳ danh, cường danh viết đạo".

    Mẹ của vạn vật không có pháp để đặt tên, tuy miễn cưỡng gọi là "Ðạo", nhưng cũng là bản tính của mọi người, nương vào đây thì có thể tu thành Phật. Cho nên Ðức Phật nói:

    "Hết thảy chúng sinh,

    Ðều có phật tính,

    Ðều có thể thành Phật".

    Kết cấu chữ "Ðạo"(道), phía trên có hai điểm (' ') là chữ người biến thành. Hiền nhân tạo tự, thật là áo diệu. Hai điểm này cũng là âm dương, tức là vô cực sinh thái cực, chiếu âm dương trong thái cực đồ. Trên thân người có hai con mắt, trên trời có nhật nguyệt. Cho nên trong Kinh Dịch có nói:

    "Một âm một dương là đạo,

    Lệch âm lệch dương là tật".

    Ðạo thì vô cùng vô tận, ngũ hành bát quái đều do đạo mà diễn biến ra. Gạch kế dưới là chữ nhất (一). Gốc là số 0. Số 0 là gốc của vạn hữu. Nó không có số mục, nhưng nó là bổn thể của tất cả số mục, không lớn không nhỏ không trong ngoài, tuần hoàn vô đoan. Bên cạnh số 0 thêm số 1 thì thành 10. 10 thêm số 0 thì thành 100. 100 thêm số 0 thì thành 1000. 1000 thêm số 0 thì thành 10000. Nếu cứ thêm mãi thì vô cùng vô tận. Cho nên:

    "Một gốc tán làm vạn thù,

    Vạn thù lại quy về một gốc".

    Nếu không thêm nữa thì trở về bổn hữu số 0. Tức là một số mục cũng chẳng có. Số 0 này tức là vô cực, từ vô cực sinh thái cực, từ thái cực tiếp tục sinh trời đất vạn vật.

    Số 0 này nếu triển khai ra thì thành chữ nhất (一). Cho nên:

    "Trời được một là thanh,

    Ðất được một là yên,

    Người được một là Thánh".

    Làm thế nào để được chữ nhất (一)?

    1. Ðầu tiên phải cách vật, từ cách vật mới có thể tu thành nhất (一), lại từ nhất (一) biến trở lại số 0. Số 0 này trong Phật giáo gọi là đại quang minh tạng. Cách vật tức là cách trừ vật dục, như tài sắc danh ăn ngủ năm dục, đều phải cách trừ, mới có thể khôi phục linh minh giác tính vốn có, trở về cội nguồn.

    2. Chí tri: Vật dục hết sạch thì trí huệ hiện tiền ; có thể xúc loại bàng thông, cũng giống như tấm gương, vật đến thì ứng, vật đi thì lặng.

    3. Thành ý: Ðối người tiếp vật phải chí kính tồn thành, khẩn thiết thành thực.

    4. Chánh tâm: Không tồn tại tà niệm. Cho nên:

    "Chánh niệm thì Phật tại nhà,

    Tà niệm thì ma tại đường".

    Người tu đạo không nên nói cười cẩu thả, không nên coi thường cử chỉ hành động, phải giữ ba ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh, không thể đồng lưu hợp ô.

    5. Tu thân: Phải thương tiếc thân thể của mình, tôn trọng nhân cách, từ vua cho đến dân, phải lấy việc tu thân làm gốc.

    6. Tề gia: Tu thân rồi mới hòa mục gia đình, thuận nghĩa vợ chồng, cha từ con hiếu, huynh hữu đệ kính.

    7. Trị quốc: Gia đình là đơn vị cơ bản của quốc gia, gia đình hòa mục thì tự nhiên quốc thái dân an.

    8. Bình thiên hạ: Từ trị quốc rồi mới đến bình thiên hạ. Ðây là tám điều mục phân minh, là con đường làm người xử thế phải tu. Nhất định phải tại chỗ này mà hạ thủ công phu, cho nên đừng hướng ngoại truy cầu, phải cung hành thực tiễn. Cho nên:

    "Nghĩ muốn thiên hạ tốt,

    Trước phải tự làm gương".

    Tôi là một phần tử của nhân loại, tự mình chưa làm tốt, làm sao khiến cho toàn nhân loại đều tốt? Mọi người đừng giống như máy giặt đồ, chỉ biết giặt đồ cho người khác, trong khi đồ của mình dơ mà chẳng chịu giặt. Cũng đừng giống như máy nhiếp ảnh, ánh sáng chỉ chiếu bên ngoài mà không chiếu được bên trong của chính mình. Ðó là máy móc, nhưng con người là thứ linh trong vạn vật, phải dung thân làm khuôn phép.

    Nhan Hồi hỏi chữ nhân, Khổng Tử đáp: "Khắc kỷ phục lễ là nhân". Khắc kỷ tức là luật kỷ, tức là tâm không còn tà niệm, thân không làm việc tà, miệng không nói lời gạt người. Tất phải luật kỷ, mới có thể phục người. Cho nên "thân chánh trực, không bảo mà làm ; thân bất chánh tuy bảo mà không theo". Phải chánh mình rồi sau mới dạy người, giáo hóa người, giúp người.

    "Nhân, nghĩa, lễ, trí, là gốc nơi tâm, từ đó mới sinh ra sắc tướng, mặt mày sáng sủa, vai nở rộng giúp cho tứ thể, tứ thể không nói mà bảo rõ". Nhân nghĩa lễ trí là gốc tự nhiên, thiên tính của con người, bạn phải phát dương từ trong nội tâm thì tự nhiên sẽ hiển lộ thứ quang trạch, đây mới là đức quang phổ chiếu, có duyên với mọi người, tùy thời tùy lúc, từ hình thái, nghị biểu trong lời nói, tịch mặc động tĩnh đều hiển lộ thứ đức quang này. Cho nên có câu:

    "Hữu đức nhân nhân thân,

    Hữu đạo người người kính ;

    Ðạo cao long hổ phục,

    Ðức trọng quỷ thần khâm".

    Thứ đức tính này hợp với đức của trời đất, hợp với ánh sáng của mặt trời mặt trăng, hợp thuận với bốn mùa, hợp cát hung của quỷ thần. Lại rằng:"Ðầy thật gọi là đẹp". Cái đẹp này chẳng phải là tô son đánh phấn mà là đạo đức tràn đầy mới gọi là thật đẹp của con người. "Ðầy thật mà có quang chiếu gọi là đại, đại mà hóa gọi là Thánh, Thánh mà bất khả tri chi gọi là thần". Tại sao bạn có kẻ địch? Vì đức hạnh của bạn chưa sung mãn, trong Phật giáo không có kẻ địch. Người đánh ta, ta không đánh người ; người mắng ta, ta không mắng người. Cho nên:

    "Không tham, không tranh, phước lộc vô biên ;

    Tranh tham quấy nhiễu, tội nghiệp liên thành".

    Lại xem chữ "Ðạo" (道), phía dưới là chữ "Tự", tức là đạo tại chính mình, chẳng phải hướng ngoại truy cầu, cũng chẳng phải bằng vàng bạc hoặc thủ đoạn làm được, mà phải tự mình hạ công phu. Sai một ly đi ngàn dặm. Hai phẩy (' '), chữ "Nhất" và chữ "Tự" hợp lại là chữ "Thủ", cũng là đầu. Tu đạo là một việc đại sự đầu tiên, nhưng tiếc thay, người đều quên mất bỏ gốc tìm ngọn.

    "Danh lợi việc nhỏ người người ham,

    Sinh tử việc lớn chẳng ai màng ;

    Thanh tịnh là phước chẳng ai hưởng,

    Phiền não là tội ai cũng tham".

    Bên trái chữ "Ðạo" là bộ "Sước" (đi). Ý nghĩa chữ "Ðạo" là tự mình đi.

    "Ðạo thì phải hành, không hành sao có đạo,

    Ðức thì phải làm, không làm sao có đức?"

    Do đó mọi người phải tự mình tạo đức hạnh. Không phải gọi người làm còn mình thì không làm, đây gọi là "xả mình vì người". Lại nữa, không hại người là "Ðạo", giúp người là "Ðức". Nếu tổn người lợi mình thì thiếu đạo khuyết đức.

    Ðạo quý tại cung hành thực tiễn. "Giàu nhuận phòng, đức nhuận thân". Bạn có tu hành thì quang diệu mỹ đại Thánh thần, có thể phát ra bên ngoài. Tôi không hiểu cao đàm khoát luận, chỉ giảng những lời lão lão thực thực này.



    Lão Thực Học Phật, Hưng Thạnh Chánh Pháp

    Giảng tại Chùa Kim Luân ngày 05/9/1989


    Tôi Hy vọng các bạn những người học Phật, đều phải lão lão thực thực học Phật, đừng học những thứ kỳ kỳ quái quái. Tâm bình thường là đạo, trực tâm là đạo tràng ; tâm mà cong thì không phải là đạo tràng, tâm không bình thường cũng không phải đạo tràng. Cho nên đừng học thần thông, đừng tham thần thông. Vì một khi tham thì không tương ưng với thần thông. Thần thông tức là trí huệ, phải nghĩ học trí huệ thì trước phải học lão thực, lão lão thực thực niệm Phật, lão lão thực thực học giáo lý, lão lão thực thực trì Chú, lão lão thực thực nhìn rõ hành vi của mình. Ði, đứng, nằm, ngồi không trái với Phật pháp, giới luật, đó là đệ tử chân chánh của Phật. Nếu khẩu thị tâm phi, miệng thì niệm Phật, trong tâm khởi vọng tưởng:"Phải chi trúng vé số thì hay quá, trúng lô độc đắc thì được mấy triệu". Như thế thì chẳng hiểu Phật pháp.

    Người hiểu Phật pháp, thì không khởi vọng tưởng như thế, khởi vọng tưởng như thế thì mắc bệnh tham cầu. Còn muốn tranh, tại sao muốn tranh? Vì có lợi xí đồ cho nên có tranh đoạt, nói rộng ra thì nước này với nước kia tranh lợi, cho đến chính mình tranh chính mình cũng vì lợi, phải xem nhẹ lợi lộc thì vấn đề gì cũng giải quyết được. Danh lợi vốn là giả, nhưng ai ai cũng tham và lợi ai ai cũng xả chẳng đặng, phải nhìn thủng hai chữ danh lợi, buông đặng thì tự tại, không còn vọng tưởng. Người sở dĩ có vọng tưởng là vì bị danh lợi chi phối, giao động. Tại sao giao động? Vì không có định lực, nhận không rõ ràng hai thứ danh lợi là giả. Ai ai cũng đi làm kiếm tiền, mà không có ai đi học Phật, vì học Phật không kiếm ra tiền, cho nên không ai chú trọng đến. Nếu học Phật mà kiếm ra tiền thì mọi người cũng sẽ đến học.

    Nhưng phải biết, kiếm tiền là thứ hữu hình, có ngày sẽ hết, còn học Phật pháp là thứ giàu có vô hình vô tướng, là tư lương pháp thân huệ mạng, khiến cho bạn có đại trí huệ, vun bồi đại thiện căn của bạn tương lai sẽ thành Phật.

    Lần này, tôi thỉnh các vị trưởng lão các nước thế giới vì những người tân học giới để truyền thọ giới pháp, việc này rất là quan trọng. Vì lúc Phật còn tại thế thì lấy Phật làm thầy. Phật nhập Niết Bàn rồi người xuất gia đều phải lấy giới làm thầy. Cho nên ý nghĩa "tam đàn đại giới" này tương đối thâm viễn.

    Ngoài ra tôi còn có mấy câu quan hệ với Phật giáo nên phải nói, đó là chúng ta phải "dĩ thân tắc tắc", làm mô phạm cho Phật giáo thế giới, làm cho chánh pháp hưng thịnh lại. Các bậc trưởng lão ngoài bảy mươi tuổi đều có thể về hưu, nhưng các vị tu sĩ trẻ phải dũng mãnh tinh tấn hoằng dương Phật pháp. Còn một điểm nữa là Phật giáo đồ phải kính lão tôn hiền. Tu sĩ trẻ đối với những bậc trưởng lão, hoặc những bậc trưởng lão có đức hạnh phải đặc biệt tôn kính, tôi tuy đã già nhưng tôi muốn làm người trẻ để làm những việc quan trọng, ý kiến này không biết mọi người cảm thấy thế nào? Tôi rất quan tâm đối với Phật giáo cho nên nói như thế.





  • Lòng Trắc Ẩn

    December 10th 2013, 2:23 pm
  • Mạng Người Vô Thường Trong Hơi Thở

    Giảng ngày 12/10/89 tại Hoa Liên Thị Ðài Loan


    Các vị Thiện tri thức!

    "Nhân sinh thất thập cổ lai hy

    Tiên trừ thiếu niên hậu trừ lão

    Trung gian quang cảnh bất đa thời

    Hựu hữu nhất bán thùy trước liễu."

    Tạm dịch:

    "Tuổi thọ bảy mươi xưa nay hiếm

    Trước bỏ thiếu niên sau bỏ già

    Thời gian còn lại chẳng là bao

    Lại mất một nửa vì ngủ nghỉ."

    Người bây giờ hiểu rõ thuật sống lâu, thọ mạng tăng thêm rất nhiều. Người xưa sống đến bảy mươi tuổi rất ít. Tôi nghĩ sự nóng giận người xưa đại khái rất lớn, không thể dưỡng sinh đạo. Ðời người, tuổi niên thiếu bỏ đi mười lăm tuổi, vì mười lăm tuổi đầu là lúc học làm người. Tuổi già cũng bỏ đi hết mười lăm tuổi, vì tuổi già đầu óc đần độn, tai điếc mắt mờ, thân thể yếu kém. Khoảng giữa còn lại bốn mươi tuổi. Trong bốn mươi năm thì ngủ nghỉ chiếm hết phân nửa, ngoài ra còn ăn cơm, mặc quần áo, đi nhà cầu cũng mất khá nhiều thời gian. Thời gian còn lại để tu, làm việc thiện chẳng là bao.

    Thời xưa có người lại nói:

    "Nhân tâm bất túc xà thôn tượng".

    Ý nghĩa là nói:

    "Suốt ngày bận rộn chỉ vì đói,

    Hết đói lại nghĩ đến quần áo,

    Cơm áo hai thứ đều đầy đủ,

    Trong phòng lại thiếu cô vợ đẹp,

    Cưới hỏi vợ đẹp và thiếp xinh

    Ra vào không xe và phi cơ,

    Có xe và phi cơ rồi,

    Lại không quan chức bị người khinh,

    Năm phẩm bốn phẩm hiềm quan nhỏ,

    Ba phẩm hai phẩm cũng hiềm thấp,

    Nhất phẩm làm tể tướng đương triều,

    Lại muốn lên ngôi làm hoàng đế,

    Một khi lên ngôi làm hoàng đế,

    Lại muốn đánh cờ với Thần Tiên.

    Mộng đẹp của con người vĩnh viễn không thể mãn túc, cho nên nói "Nhân tâm bất túc xà thôn tượng" (Lòng người không đủ như rắn nuốt voi).

    Thời xưa có ba người già, người trẻ nhất là sáu mươi tuổi, một người bảy mươi tuổi và một người tám mươi tuổi.

    - Người sáu mươi tuổi nói: "Năm nay qua rồi không biết năm tới có còn chăng?"

    - Người bảy mươi tuổi nói: "Tối nay cởi giày ra rồi không biết ngày mai còn hay chăng?"

    - Người tám mươi tuổi nói:"Hiện tại hơi thở thở ra, không biết có hít vào nữa không?" Ðủ thấy mạng người vô thường, ngắn ngủi tại hơi thở.

    Có một bài kệ rằng:

    "Nhân sinh nhất tràng mộng,

    Nhân tử mộng nhất tràng,

    Mộng lý hữu vinh qúy,

    Mộng tỉnh tại cùng hương,

    Triều triều tại tác mộng,

    Bất giác mộng hoàn lương,

    Mộng trung nhược bất tỉnh,

    Uổng tác mộng nhất tràng".

    Nghĩa là:

    "Ðời người một giấc mộng,

    Chết đi một giấc mộng,

    Trong mộng giàu vinh hoa,

    Tỉnh mộng lại bần cùng,

    Sớm tối đều nằm mộng,

    Không giác mộng hoàn lương,

    Trong mộng nếu không tỉnh,

    Uổng thay một giấc mộng."

    Nhân sinh chỉ có nhìn xuyên thủng, buông xả mới là chân chánh khoái lạc tự tại.

    Trong Kinh Kim Cang có nói:

    "Hết thảy pháp hữu vi,

    Như mộng huyễn bọt bóng,

    Như sương cũng như điện,

    Hãy quán chiếu như thế".



    Làm Thế Nào Cứu Vãn Kiếp Vận

    Giảng ngày 23/10/89 tại Ðài Loan Phật giáo Tân Văn


    "Hết thảy pháp hữu vi

    Như mộng huyễn bọt bóng

    Như sương cũng như điện

    Hãy quán chiếu như thế".

    Hết thảy pháp hữu vi tức là hết thảy pháp có sở tác vi, có biểu hiện, có hình tướng, tức cũng là pháp thế gian. Hết thảy pháp thế gian đều gọi là pháp hữu vi. Pháp vô vi không phải như mộng huyễn bọt bóng, cũng chẳng phải như điện như sương. Pháp hữu vi thì không cứu kính, không triệt để, là vô thường nhưng pháp vô vi thì không sinh diệt, không bắt đầu cũng không kết thúc, không hình không tướng, pháp không thể biểu hiện. Pháp vô vi có nhiều loại. Ðây là nói vô vi mà vô bất vi, đại tạo đại hóa, thứ pháp vô vi này không dễ gì tu hành, cũng không dễ thấu hiểu.

    Người phần đông đều chấp trước pháp hữu vi, cho nên từ sáng đến tối truy cầu danh lợi, trôi nổi trong biển nghiệp, một khi không cẩn thận thì bị biển nghiệp, gió nghiệp thổi không để lại hình ảnh dấu vết, mà không biết đọa lạc vào loài nào. Nhân loại trên thế gian rất nhiều, nhưng loại súc sinh cũng không ít, địa ngục ngạ quỷ cũng lắm. Cho nên trong nhân đạo không dễ gì mà đứng vững được. Vì biển nghiệp trôi nổi phiêu bạt, khiến cho chúng ta đầu não hôn mê, không phân biệt được đông tây nam bắc. Hiện tại thời kỳ chúng ta là thời đại mạt pháp. Cho nên "Mạt pháp" tức là pháp sớm không còn nữa, đã đến đoạn cuối mà ai ai cũng quên mất pháp gốc, kết quả càng truy tầm càng không được chân lý, tìm không được chân lý thì nghĩ muốn quơ lấy một thứ đồ, quơ lấy đồ giả đó là pháp hữu vi, mà không biết căn bản pháp vô vi, cho đến danh từ cũng quên luôn, cho nên thành mạt pháp.

    Không chỉ Phật giáo là mạt pháp mà các tôn giáo khác cũng đi trên con đường mạt pháp. Thiên Chúa giáo từ năm 1963 có rất nhiều người truyền giáo đều không giữ quy cụ. Tu nữ thần phụ, Mục sư cũng đều biến thái. Phật giáo cũng như thế, đều chuyển theo thời đại. Một khi chuyển thì chuyển đến thời đại mạt pháp. Cho nên tôi thường nói thế giới đến thời kỳ mạt pháp, hết thảy nhân sĩ các tôn giáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm, mà giáo dục xã hội ngày nay, cũng đi trên con đường đó, không giống như trước, từ người giáo dục vì giáo dục mà giáo dục, muốn tạo thành những người hữu ích cho thế giới. Thời xưa những vị học giả luôn quan tâm lo lắng, vì nghiên cứu học vấn mà bạc đầu, không nghĩ làm sao để nổi danh trong xã hội, làm người học giả hoặc nhà giáo dục có danh vọng, họ hoàn toàn không có nghĩ như thế. Họ nghiên cứu làm thế nào để tạo đống lương nhân tài, di phong dịch tục, cải tạo thế giới. Ðây là tác phong và tinh thần của các vị học giả thời xưa.

    Học giả và thầy giáo bây giờ, dạy học sinh làm thế nào để được danh vọng, lợi ích. Thời xưa học giả là vì minh lý tức là "Cách vật, trí tri, chánh tâm, thành ý, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ". Dùng tám hạng mục này khiến học sinh tài bồi giáo dục tư tưởng chánh đáng, có phẩm đức cao đẹp ; nhưng học giả và thầy giáo bây giờ cổ động người uống thuốc mê huyễn, cổ động học sinh uống thuốc ngừa thai, không hiếu thuận cha mẹ, tạo ra những thành phần xấu xa của xã hội. Xã hội một ngày không như một ngày, cho nên các vị thầy giáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm. Hiện tại trên truyền hình chiếu những tiết mục đều khiến cho người điên đảo, theo chiều hướng hạ lưu, từ đây nhìn lại tâm người không như xưa, quên mất đạo đức luân lý, đó là có nhân duyên. Thanh thiếu niên chân đứng không vững, không có định lực, đây chẳng phải là một nhân tố tạo thành, mà là do nhiều nhân tố tạo thành. Việc này thật là đáng thương xót. Cho nên phàm là tông giáo, giáo dục, nhân sĩ phải sớm thay đổi tư tưởng và hành vi, như thế thì tạo kiếp thế giới cũng có cơ hội vãn hồi, nếu dĩ vãng trường cửu mà không cải thiện thì ngày cuối của thế giới sớm sẽ lai lâm.

    Như vậy có phương pháp cứu vãn chăng? Có. Vì hết thảy đều do tâm con người chuyển. Tâm con người tốt thì thế giới tốt, tâm con người xấu thì thế giới xấu, ngày cuối sẽ đến. Nếu muốn đừng có mạt pháp, ngày cuối lai lâm, thì mọi người phải đả khởi tinh thần từ việc cứu người trong cuồng phong bạo vũ, không phải bảo bạn xả bỏ thân mạng của bạn đi cứu người, mà là làm cho cuồng phong bạo vũ ngừng lại. Các vị nhìn xem, các nơi đều có thiên tai nhân họa, thủy tai, phong tai, hỏa tai, chiến tranh. Vì những tai nạn mà khiến cho vô số người chết. Những tai nạn nhỏ như tai nạn máy bay, xe lửa, xe hơi .v.v., cũng không biết bao nhiêu người chết. Những tai nạn như thế phát sinh, đều từ tâm con người tạo thành, nhưng mỗi người đều chưa giác ngộ, không nhận trách nhiệm mà đẩy lỗi sang người khác, chẳng một ai hồi quang phản chiếu nói:"Thế giới không tốt, là do tôi không tốt", không có ai nghĩ như thế, cho nên thế giới càng ngày càng tồi tệ, một ngày không như một ngày.

    May thay có một biện pháp có thể cải biến, không những không phí sức, lại không tốn tiền, đó là tất cả mọi người trên thế giới đừng ăn thịt, nên ăn chay, không sát sinh mà phóng sinh, như vậy thì các tai nạn trên thế giới sẽ tiêu diệt trong vô hình, cho nên việc ăn chay rất quan trọng. Các tai nạn xảy ra đều do sát sinh mà kết thành oán khí, đầy khắp vũ trụ mới hình thành, đủ thứ tai nạn. Nếu ai ai cũng đừng sát sinh, hãy phóng sinh, không ăn thịt thì tư tưởng bạo lực của con người sẽ tiêu diệt. Tại sao con người lại táo bạo, nóng giận? Ðều vì ăn thịt. Ăn thịt sẽ tăng thêm dục niệm, khiến cho người sân hận, không có tâm từ bi. Cho nên muốn thế giới không có tai nạn thì phải sớm giữ giới sát sinh, hãy phóng sinh, không ăn thịt chúng sinh để vãn hồi tạo kiếp sẽ lai lâm.

    Phật Pháp Không Rời Tâm Của Mỗi Người

    Giảng tại Hoa Liên Ðông Tịnh Tự ngày 10/10/89


    Phật pháp không tách rời tâm của mỗi người, cho nên Phật pháp tức là tâm pháp, trong tâm của bạn không có tư tâm, vọng tưởng, cuồng tâm, dã tính, tập khí, mao bệnh thì là Phật pháp. Nếu tâm bạn có tập khí, mao bệnh, cuồng tâm, dã tính, vọng tưởng thì là ma pháp. Phật thì thuộc về niệm thiện, thanh tịnh. Ma thì thuộc về ác niệm, nhiễm ô, không thanh tịnh.

    Cho nên cổ nhân có nói:

    "Thiện ác hai con đường,

    Tu thì tu, tạo thì tạo".

    Hai con đường này rất dễ khiến người hồ đồ mê hoặc. Cho nên khi làm việc thiện, lại có ác trong thiện. Khi làm việc ác, lại có thiện trong ác, không thể chuyên nhất, không có con mắt chọn pháp, không thể:

    "Phải đạo thì tiến,

    Trái đạo thì lùi".

    Không thể:

    "Chọn thiện mà theo,

    Không thiện thì đổi".

    Vì chúng ta đều ở trong mê tối, có lúc không đúng nhận là đúng, đúng lại cho là không đúng. Hồ đồ trong hồ đồ qua suốt cuộc đời. Có thể nói suốt đời để thời gian không qua, có thể nói sinh hoạt lãng phí.

    Cổ nhân lại nói:"Trên thế gian chỉ có hai người. Một là cầu danh, một thì cầu lợi". Trừ hai loại người này ra, còn những người khác rất ít. Cho nên nói:

    "Danh lợi là việc nhỏ, ai ai cũng ham".

    Kể cả những người xuất gia cũng thích danh ham lợi. Tôi cử một ít ví dụ, các bạn hãy xem: Pháp Sư Hằng Thật tam bộ nhất bái. Tại sao gọi y là Hằng Thật? Vì y không thật tại lắm, pháp danh gọi là Quả Chân, tức là kêu y nơi nơi đều phải làm chân thật. Nhưng y, trước khi đến không chân thật, tóm lại là phải làm giả giả, giống như viết văn chương, một sự kiện đều phải thêm một chút tài liệu, giống như lúc trước phiên dịch cho tôi, tôi nói:"Gió bão thổi càng mạnh càng tốt". Tôi không có nói:"Ðừng lo lắng", nhưng y phiên dịch nói:"Don't Worry". Y muốn xuất lộ tài hoa của mình ra. Có người nghe tôi giảng đến chỗ này thì sinh hoài nghi.

    Tam bộ nhất bái là việc rất tốt, hiếm có, toàn thế giới đều nghe danh. Vậy sao còn chưa chân thật tu hành? Tôi lão lão thực thực nói với các bạn, vì tôi không thể dạy y, cho nên y không thể minh bạch. Thế nào? Y từ Los Angeles Chùa Kim Luân lạy đến Vạn Phật Thành, nhưng mục đích tam bộ nhất bái không phải vì muốn thành Phật, mà là cầu cho thế giới hòa bình, thật ra trong tâm của y không có hòa bình. Khi y bắt đầu lạy thì trong tâm khởi vọng tưởng:"Tam bộ nhất bái, khi lạy xong rồi tôi là đệ nhất toàn thế giới, tôi sẽ thành danh".

    Các bạn nghĩ xem, thành danh gì? Tức là trên đường tam bộ nhất bái cầu cái danh này, cầu đệ nhất thế giới. Lạy nhiều lạy tới được đệ nhất, tôi một cái lạy cũng không có, vì tôi nhận thấy rằng y dụng tâm sai lầm. Còn nữa, khi y đến mỗi thành thị lớn, thì cầu phóng viên nhà báo đến, biên cho y một bài tin tức mới thì y xuất lộ phóng đầu, ai cũng đều biết y. Vì phóng viên nhà báo biên bài tam bộ nhất bái tuyên truyền. Nếu vì việc nhỏ thì cũng là lạy không. Sau đó y lạy đến Vạn Phật Thành, thì muốn xưng vương xưng bá tại Vạn Phật Thành, làm tiểu hoàng đế. Thế nào? Khi y đến Vạn Phật Thành là lúc làm lễ khai quang. Tôi đến khai quang, trong tâm y chưởi Sư Phụ:"Chao ôi, Ngài là người quê mùa, một chữ tiếng Anh cũng không biết, Ngài làm hỏng việc của tôi rồi".

    Y tam bộ nhất bái, lạy hai năm chín tháng, còn muốn tranh với Sư Phụ, đây là lạy cái gì? Cho nên các bạn cho rằng Vạn Phật Thành có tam bộ nhất bái. Tam bộ nhất bái này giống như cầu danh cầu lợi. Cho nên:

    "Danh lợi việc nhỏ người người ham,

    Sinh tử việc lớn chẳng ai màng".

    Sinh tử là việc lớn, nhưng chẳng ai nghĩ đến, còn muốn truy cầu danh lợi. "Thanh tịnh là phước chẳng ai muốn", việc tốt không bằng vô sự, "Phiền não là tội người người tham". Phiền não là tội nghiệp, bạn tu hành, tu được không còn phiền não đó mới là hiểu sự dụng công.

    Nếu bạn ngày ngày ăn phiền não, dùng phiền não, ngồi cũng phiền não, đi cũng phiền não, đứng cũng phiền não, ngủ cũng phiền não. Ði đứng nằm ngồi chẳng lúc nào không có phiền não, như vậy tu cái gì? Các bạn thử nghĩ xem.

    Vừa mới nói đoạn này, các bạn có chú ý chăng? Phải chăng tôi quái tam bộ nhất bái, cầu danh cầu lợi? Không phải, vậy thì oán ai? Ðây đều quy tội về Sư Phụ của y, lãnh trách nhiệm vì không dạy y minh bạch. Vì Sư Phụ của y là người quê mùa, không dạy đồ đệ cho nên tôi nói quá nhiều lời, điểm quan trọng là tại chỗ này, tôi hy vọng người quê mùa không dạy ra người tiểu quê mùa, hy vọng đệ tử sẽ giỏi hơn thầy. Các bạn xem tôi đây là Sư Phụ, đừng nói không có tam bộ nhất bái, một lạy cũng không lạy, tôi cũng không dám lạy, té nhào xuống dậy không được thì làm sao. Bất quá đây cũng không phải là lỗi lầm của Sư Phụ, đây là lỗi tại quốc gia này, quốc gia này có lỗi gì?

    Lúc ban đầu tôi đến nước Mỹ, tôi rất hâm mộ tự do phát triển của nước này, tôi cũng mặc theo mê tín tự do phát triển, hiểu lầm tự do, không có tự do lý trí, cho nên thu đồ đệ, tôi cũng không muốn quản chúng, tôi thường thường nói như thế, bạn muốn lên trời thì lên trời, bạn muốn xuống địa ngục thì xuống địa ngục, bạn muốn làm gì thì làm, do đó dưỡng thành thứ tư tưởng cầu danh cầu lợi. Ðây không phải tự mình biện hộ, bất quá tuy nhiên tôi nói tôi một bước cũng không lạy, phương pháp tôi lạy không giống y.

    Y thì tam bộ nhất bái, hy vọng người người biết, tôi thì đứng tại một chỗ lạy, từ mười hai tuổi bắt đầu, mỗi ngày sáng sớm tôi lạy hơn tám trăm ba chục lạy, tối cũng lạy hơn tám trăm ba chục lạy, tôi lạy thì không hoan hỉ cho người biết. Sáng sớm trước khi mọi người dậy, tôi ra ngoài trời lạy, buổi tối lúc mọi người ngủ rồi, cũng lạy hết thảy chúng sinh tận hư không biến pháp giới. Hết thảy chúng sinh bao quát hết thảy mười hai loài chúng sinh: Có sắc, không sắc, có tưởng, không tưởng .v.v., đều hướng về hết thảy chúng sinh đó mà lạy, hy vọng họ đều cải ác hướng thiện phát tâm bồ đề, nhưng tôi không muốn chúng sinh biết. Vì không muốn chúng sinh biết cho nên không có cách chi thành danh, bây giờ tôi già rồi, tôi không ngại đem phương pháp này truyền cho các bạn.

    Bạn muốn tam bộ nhất bái thì nên lạy vào buổi tối, không nên lạy ban ngày, nếu không chẳng khác nào mua quảng cáo.

    "Thiện muốn người biết không phải là chân thiện,

    Ác mà sợ người biết là đại ác".

    Những đồ đệ của tôi cũng có thiện trong ác, cũng có ác trong thiện.

    Vừa rồi tôi có sự cảm xúc, mới giảng chân kinh chân điển, hoạt kinh hoạt điển cho các vị nghe, đây không phải là tử kinh tử điển.

    Pháp Sư Hằng Kỳ bế quan được bốn năm ba tuần, năm nay mới xuất quan, xuất quan còn nói, bốn năm không được học tiếng Tàu, lúc y bế quan không xem thư, cũng không biên thư, người khác biên thư y cũng không xem, y cũng không không biên thư cho người khác, y cũng không xem truyền hình, cũng không nghe đài, cũng không nói chuyện với bất cứ ai, bốn năm đọc Kinh Lăng Nghiêm, cho nên y nói tiếng Tàu không thông thạo. Nhưng y có thể ngồi mười bốn mười lăm tiếng.

    Ngoài ra Pháp Sư Hằng Trường nói tiếng Việt, nói tiếng Anh, lại nói tiếng Tàu, y vốn cũng không biết nói tiếng Tàu, sống tại Vạn Phật Thành chín năm, tiếng Tàu học cũng khá, hiện tại ngồi thiền có thể ngồi tám, chín tiếng bất động, đệ tử của tôi đều là rồng rắn hỗn tạp, tu hành tốt thì là long tượng (rồng voi), tu hành không tốt thì là rắn rít. Cho nên tôi làm Sư Phụ đều giảng Kinh điển cho đồ đệ của tôi và các bạn nghe.

    Tại sao chúng có long xà thiết trượng (rồng, rắn, bò cạp, voi) vì tôi không thể dạy, cho nên chúng ngày ngày theo tôi, ngày ngày tận khổ não, thời gian không qua.

    Hoà thượng giảng xong, có người đưa ra vấn đề, thỉnh hoà thượng giải đáp.

    Hỏi: Có sách nói "Ngàn ngày học huệ, không bằng một ngàn ngày học vô văn". Ðây là ý nghĩa gì?

    Ðáp: "Phân biệt danh tướng không biết dừng, vào biển đếm các đồ tự khốn". Ai ngàn ngày học huệ, ai một ngàn ngày học vô văn? Ðừng chuyên giặt đồ cho người.



    Phải Lạy Phật Trong Nội Tâm

    Giảng tại Hoa Liên Ðông Tịnh Tự ngày 11/10/89


    "Tâm chỉ niệm tuyệt chân phú qúy,

    Tư dục đoạn tận chân phước điền".

    Nghĩa là:

    Tâm dừng niệm bặc giàu sang thật

    Tư dục đoạn sạch ruộng phước thật.

    Chúng ta ngày ngày tu Phật, ngày ngày không biết học chân Phật, đều dụng công phu trên hình tướng bên ngoài, mà không biết tìm cầu Phật trong nguồn gốc tự tính. Nguồn gốc của Phật tức là đoạn sạch hết thảy lòng tư dục, mới hiển lộ trí huệ quang minh vốn có. Có lòng tư dục thì không có trí huệ, có trí huệ thì không có tư dục ; trí huệ không rời khỏi tư dục, tư dục không rời khỏi trí huệ. Phiền não tức là bồ đề, sinh tử tức Niết Bàn. Nếu bạn trên phiền não mà không có phiền não, thì bạn có tâm bồ đề. Bạn muốn dứt sinh tử thì bạn đừng tái tạo sinh tử, đó tức là Niết Bàn. Ai ai cũng có sinh thì có tử. Bạn đoạn sạch tư dục thì sinh tử cũng sẽ chấm dứt. Tư dục không đọan sạch thì sinh tử không thể dứt.

    "Tư" là việc mà chính mình biết, chứ người khác không biết. "Tư dục" là đem cái tốt hiện ra để người khác biết, còn cái xấu thì che dấu, hy vọng người khác có hảo cảm đối với họ, đây gọi là tư dục. Tư dục xui khiến bạn nói dối, điêu xảo thị phi, không phân biệt cong thẳng, hỗn loạn trắng đen, vì tư dục chi phối bạn. Nếu bạn không có tư dục thì trí huệ quang minh vốn có của bạn sẽ hiển hiện, bất tất phải tìm kiếm bên ngoài, tự mình cầu nơi chính mình. Chúng ta sinh ra đời, cử chỉ hành động, lời nói việc làm, đều phải phản tỉnh, phải cầu trở lại nơi chính mình.

    Bạn phải:"Những gì mình không muốn thì đừng thí cho người". Chính bạn không hoan hỉ thì đừng đổ lên thân người khác. Cổ nhân có nói:"Nhân tuy chí ngu, trách nhân tức minh, thứ kỷ tức hôn", nghĩa là nói: Có người tuy nhiên ngu đến cực điểm, nhưng nhìn tật xấu mao bệnh của người khác thì thấy rõ ràng, có ngăn có nắp, nói dài nói ngắn chuyện thị phi của kẻ khác, thao thao bất tuyệt, biện tài vô ngại, nhưng đối với việc của chính mình thì mê mờ, tùy tùy tiện tiện, không biện rõ ràng, sai cũng chẳng quan hệ gì. Thậm chí "Nghe lỗi" thì che đậy tội lỗi, đây là "tư dục" khiến cho bạn làm đủ thứ việc sai, khiến cho bạn tự mình luôn luôn tha thứ cho chính mình.

    "Người thông minh, lấy tâm trách mình để trách người, lấy sự tha thứ chính mình để tha thứ người, sao chẳng đạt được địa vị Thánh Hiền". Nếu như bạn thông minh tài trí "dùng tâm trách người như trách mình" thì phải phản tỉnh, phải cầu nơi chính mình, dùng tâm khoan dung tha thứ người như chính mình, những gì mình không muốn thì đừng thí cho người, thấy nghĩa thì dũng mãnh mà làm, như thế nhất định sẽ đạt được địa vị Thánh Hiền, thậm chí nếu bạn làm việc chân chánh cũng sẽ đạt được quả vị Phật.

    Cho nên các bạn lạy Phật bên ngoài, không bằng lạy Phật của chính mình, bạn phải cung kính đối với chính mình, thời thời khắc khắc giống như Phật, giống như Bồ Tát Quán Thế Âm, như thế thì bạn mới là thật lạy Phật, thật bái sám, thật niệm Phật. Nếu bạn không như thế, chỉ học "khẩu đầu thiền" (thiền ngoài miệng), người sao mình cũng vậy, người lạy Phật, tôi cũng lạy Phật, người niệm Phật, tôi cũng niệm Phật, người ăn cơm, tôi cũngăn cơm, nhưng sinh tử của mình thì không thể dứt.

    Bạn phải "cước đạp thật địa" nhận chân thực hành. Lúc trước tại Ðài Loan có một vị Tỳ Kheo ni Phước Huệ, vị Tỳ Kheo ni này hai mươi tuổi kết hôn, sinh được hai người con, hai mươi lăm tuổi thì chồng chết, cô ta nhìn thấu hồng trần mà đi xuất gia. Cô ta cũng không mặc đẹp, cũng không ăn ngon, cũng không ở nhà tốt, đến các Chùa làm công quả, tên pháp danh gì cũng không để cho người biết, cô ta bố thí nước "đại bi thủy" cho người trị bệnh, cũng không nói, cũng không nhận tiền, cứ tu hành như thế. Các bạn tu hành như thế thì mới là chân tu hành, bằng không Chùa to, tiền nhiều, nhưng sinh tử chẳng dứt được. Cho nên các bạn phải dụng công phu trên bổn phận, nhìn xem tâm tham của mình trừ khử chưa? Tâm sân trừ khử chưa? Tâm si trừ khử chưa?

    Chúng ta người xuất gia phải siêng tu giới định huệ, tức diệt tham sân si, cứu kính bạn làm được chăng? Nếu làm được, mới không phải sống vô ích, không xuất gia vô ích, không phải đệ tử vô ích của đức Phật. Chúng ta phải hồi quang phản chiếu, cầu ngược lại nơi chính mình. Quay ngược lại cầu công phu nơi chính mình thì phải:

    "Thật nhận mình sai,

    Ðừng nói lỗi người,

    Lỗi người tức lỗi mình,

    Ðồng thể mới đại bi".

    Tại sao tôi nói như thế? Vì tôi thấy rất nhiều người đều có tật bệnh, nhất là những tật bệnh kỳ kỳ quái quái. Khi người bệnh thì oán trời trách người, nói ông trời không công đạo, tại sao chỉ tôi có bệnh, tại sao không kêu người khác có bệnh, cho nên phẫn hận bất bình, mà họ không biết đây là tiền nhân hậu quả.

    Trong tiền kiếp sát sinh quá nhiều hoặc là bắt chuột bắt cá, câu cá, giết gà, giết bò, giết dê, giết chó, giết quá nhiều, cho nên loại người này kiếp này có nhiều bệnh tật kỳ kỳ quái quái.

    Lúc tôi tại Hương Cảng có gặp qua một bệnh nhân, bà ta là một đệ tử già của tôi hơn sáu mươi tuổi, không biết chữ, tai lại điếc, nhưng rất thích nghe tôi giảng Kinh, bà ta không nghe được mà vẫn muốn nghe, mỗi lần phải bò lên hơn ba trăm bậc thang cấp để nghe giảng Kinh.

    Một năm nọ, vào ngày mồng 2 tháng 5, tôi mở pháp hội giảng Kinh A Di Ðà, bà ta đột nhiên nghe được "Nam Mô Liên Trì Hải Hội Phật Bồ Tát". Tại sao tai bị điếc? Vì kiếp trước bà ta thích nghe trộm người nói, nên đời nay thọ quả báo, đại khái Bồ Tát cũng thương xót bà ta có tâm thành, tai điếc mà thích nghe Kinh, thì làm cho bà ta nghe được. Nhưng bà ta còn có một thứ nghiệp chướng. Kiếp trước bà ta thấy người khác có quái bệnh bà ta không tin, cho nên đời này chính bà ta phải nếm mùi vị cái bệnh đó. Bệnh đó là bệnh gì? Tức là bà ta một ngày ăn không biết bao nhiêu bữa, cách một giờ thì phải ăn một bữa, không ăn thì đói, bác sĩ đông tây đều trị không hết.

    Lúc đó cứ mỗi ngày thứ bảy, tôi từ Tây Lạc Viên mang ba chục kí lô gạo và dầu đến núi Ðại Tự, cung cấp lương thực cho người trên núi, sáng sớm ngày thứ hai phải xuống núi, năm đó nhằm ngày 14 tháng 2, tôi trở lại pháp hội sớm, thì bà ta nhìn thấy tôi bèn nói với tôi: "Sư phụ! Sư phụ! Trong bụng của con có người nói chuyện". Các bạn thấy kỳ quái chăng? Tôi nói: "Con tuổi đã già, bụng làm gì mà có con? Hơn nữa con chưa sinh ra mà biết nói? Nó nói gì?" Bà ta nói: "Sáng sớm con dùng bột mì, bột gạo làm bánh, không thêm dầu cũng không thêm gì, nướng chín rồi ăn. Khi con ăn vào, trong bụng liền nói:"Tôi không muốn ăn thứ này", con liền nói: "Ngươi không muốn ăn thứ nầy, vậy ngươi muốn ăn gì? Ăn no thì tốt, còn đòi gì nữa". Y không nói gì hết.

    Tôi nói:"Tốt, con đi về nhà! Tối trước khi ngủ nhìn xem có cảnh giới gì chăng?".

    Trước khi ngủ chuyện kỳ quái đã xảy ra, bà ta nhìn thấy Bồ Tát Vi Ðà đến, trong tay cầm một bát mì, đổ mì xuống, bà ta thấy ba đứa con nít đều mập mạp từ trong bụng chạy ra cướp giật bát mì ăn, đương lúc giành giật ăn, thì Bồ Tát Vi Ðà xách tai mấy đứa con nít chạy đi, con nít đi rồi, bụng bà ta trở lại bình thường, cũng không còn đói nữa.

    Tại sao bà ta có chứng quái bệnh như vậy? Vì lúc trước khi chưa mắc chứng bệnh này, có một lần nằm mộng, mộng thấy ba đứa nhỏ chạy vào trong bụng bà ta, từ đó sinh ra chứng quái bệnh nầy, đó là bệnh đói. Ba đứa nhỏ này cũng có thể nói là ngạ quỷ, cũng có thể nói là yêu quái, tại sao bà ta mắc chứng này? Ðó là vì quá khứ bà ta thấy có người mắc chứng bệnh này, sau khi hết bà ta nghe kể lại chuyện này bèn nói: "Tôi không tin, không biết ai biên tạo ra chuyện này". Vì bà ta không tin, cho nên đời này bà ta mắc phải chứng bệnh ấy.

    Hết


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group