Giải mã truyền thuyết 14 chòm sao trong lá số Tử vi

  • Crying Star

    September 24th 2014, 8:11 am
  • Trong Tử Vi Đẩu Số, có 14 chòm sao tối quan trọng đều là các chính diệu của tinh hệ Bắc Đẩu hoặc tinh hệ Nam Đẩu, cộng thêm hai sao Thái Dương và Thái Âm, cấu tạo thành các “tổ hợp tinh hệ” trong tinh bàn. Do đó gọi là 14 chính diệu (chính tinh).

    Trong Tử vi, 14 chính tinh chi phối rất mạnh mẽ trên toàn lá số. Nắm được bản chất và đặc tính của 14 chính tinh là mấu chốt của việc luận đoán. Thông qua việc nắm bắt được ý nghĩa của 14 chòm sao, mỗi chúng ta có thể đọc được cơ bản ý nghĩa của từng cung mệnh trong lá số tử vi.

    Xưa nay các sách đều viết rất nhiều, tuy nhiên cũng rất cần tham khảo thêm nhiều quan điểm. Với tinh thần gạn đục khơi trong, Xa Lộ Vạn Sự mong muốn được mang đến cho bạn đọc đặc tính cơ bản của 14 chính diệu. Có được những cơ sở này, mới có thể hiểu rõ ý nghĩa của chúng khi vào 12 cung.
    Tên gọi của 14 chính diệu và phân thuộc như sau:

    - TỬ VI – tính Thổ
    - THAM LANG – tính Mộc
    - CỰ MÔN – tính Thổ
    - LIÊM TRINH – tính Hỏa
    - VŨ KHÚC – tính Kim
    - PHÁ QUÂN – tính Thủy
    - THIÊN PHỦ - tính Thổ
    - THIÊN CƠ – tính Mộc
    - THIÊN TƯỚNG – tính Thủy
    - THIÊN LƯƠNG – tính Thổ
    - THIÊN ĐỒNG – tính thủy
    - THẤT SÁT – tính Kim
    - THÁI DƯƠNG – tính Hỏa
    - THÁI ÂM – tính Thủy

    Trước hết, chúng ta cùng tìm hiểu về bộ 4 chính tinh Tử Vi – Thiên Phủ - Vũ Khúc – Thiên Tướng: Bộ sao lãnh đạo.

    1. TỬ VI

    Tử Vi thuộc âm thổ, là Bắc Đẩu chỉ tinh. Trong 14 chính diệu của Đẩu Số, nó là lãnh đạo của các sao, cho nên cổ nhân gọi là “đế diệu”, ví với hoàng đế.



    Do ví với hoàng đế, nên dễ nhớ đặc tính của Tử Vi như sau:

    - Có khí quý phái, có tài lãnh đạo, có phong thái của người ra lệnh. Còn tài năng lãnh đọa có hoàn mĩ hay không, mệnh lệnh có chính xác hay không, thì cần phải xem Tử Vi ở cung vị nào, và hội hợp với các sao ở tam phương tứ chính cát hung ra sao mới định được.

    - Có lực điều giải, tức là giỏi khống chế và làm thay đổi. Cho nên Tử Vi có thể kềm chế các sao hung hãm như Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đã La, Địa Không, ĐỊa Kiếp, Hóa Kị. Nhưng lại không tránh được ảnh hưởng của ám tinh Cự Môn. Bởi vì, hoáng đế tuy có thể nhiếp phục quần thần, nhưng lại dễ thích nghe lời sàm tấu. Cự Môn giống như nịnh thần hay sàm tấu, có thể gây ảnh hưởng đến sự biểu hiện của Tử Vi.

    - Có lực khắc chế, là nói đối với hai sao Thát Sát, Phá Quân. Phá Quân tuy giống như tướng soái ngoài trận địa, không nhận mệnh lệnh của Quân Vương, nhưng không có Thất Sát làm sao tâu báo với Tử Vi. Nhưng “Tử Vi, Phá Quân” đồng chung, cũng có thể biến lực phá hoại của Phá Quân thành lực khai sang.

    - Có lực cạnh tranh, đặc biệt là đối thủ càng mạnh thì đấu chí của Tử Vi càng mạnh. Nếu như hội hợp với các sao có sự trợ giúp cho lực cạnh tranh như Thiên Phủ, Thiên Tướng, Hóa Quyền, HÓa Khoa, thì càng không dễ nhượng bộ, giống như bậc quân vương lấy xã tắc làm trọng.

    - Có lòng tự tôn, mà còn có tính cách mạnh mẽ, giống như hoàng đế nhất định phải giữ sự tôn nghiêm của bản thân. Cho nên về tính cách thường có biểu hiện tự cao tự đại, thiện ác tùy tâm. Nếu nó hội chiếu với sát tinh mà không có sao cát, thì dễ kích động theo kiểu thương thì cho sống, ghét thì cho chết. Nhưng khi ở trong nghịch cảnh, Tử Vi lại có thể giấu nỗi khổ trong lòng, không chịu biểu lộ.

    Vì Tử Vi là đế diệu, cho nên rất ưa tram quan đứng chầu (bách quan triều cùng), rất kị quần thần xa lánh (tại dã cô quân). Bách quan và quần thần, là chỉ các sao Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Tam Thai, Bát Tọa, Ân Quang, Thiên Quý, Lộc Tồn, Thiên Mã, Thiên Khôi, Thiên Việt. Tuy Tử Vi cũng ưu Thiên Phủ, Thiên Tướng triều củng, nhưng vẫn không bằng cách cục “Bách quan triều cùng. Cho nên Tử Vi đóng ở cung Mệnh được “bách quan triều củng”, thì có thể đại phú đại quý; còn được “Phủ tướng triều viên” thì chỉ là cách cục không thấp, nếu chỉ mang đặc tính của Tử Vi để phát huy mà thôi thì chưa chắc có thể phú quý.

    Nếu không có “trăm quan đứng chầu” mà là “quần thần xa lánh”, giả dụ như ngay cả “Phủ tướng triều viên” cũng không có, thế thì giống như vị vua cô độc nơi hoang dã. Lúc này Tử Vi sẽ có biểu hiện của sự thiếu hòa hợp. Đây là do sự tôn quý của hoàng đế, vì vậy khác với tư tưởng của người thường.
    “Tại dã cô quân” lại gặp ĐỊa Không, Địa Kiếp và tứ sát, thì chỉ thích hợp phát huy tư tưởng siêu thoát. Cho nên cổ nhân cho rằng trường hợp này thích hợp làm tăng nhân, đạo sĩ. Nhưng ở thời hiện đại, có thể phát triển thành nhân vật có tư tưởng đặc biệt. Nếu gặp được Tham Lang, Thiên Tài hoặc Liêm Trinh, thì có khả năng là nghệ thuật gia hoặc nhà thiết kế.

    Nhưng nếu “tại dã cô quân” gặp các sao Sát, Không, thì trái lại, tư tưởng siêu thoát sẽ không phát huy. Do ảnh hưởng của Thái Âm, sẽ biến thành người hí lộng thủ đoạn, thích giở mánh khóe.
    Ngoại trừ “tam phương tứ chính”, Tử Vi còn chịu ảnh hưởng của hai cung ở bên trái và bên phải. Nó rất ưa Tả Phụ, Hữu Bật giáp cung, kế đến là Văn Khúc, Văn Xương giáp cung.
    Nếu gặp phải Hỏa Tinh, Linh Tinh giáp cung, hoặc Kình Dương, Đà La giúp cung, thì Tử VI có khả năng trở thành bạo chúa, cũng tức là phát huy toàn bộ tính chất xấu của nó.

    2. Thiên Phủ

    Thiên Phủ là chủ tinh của Nam Đẩu, thuộc dương thổ, chủ về hiền năng, là tiền bạc của kho phủ.
    Do là chủ tinh nên Thiên Phủ cũng có năng lực lãnh đạo, nhưng tài lãnh đạo này lại theo khuynh hướng thủ thành, thiếu tính khai sang. Đây giống như người giữ kho bạc, nhiệm vụ của ông ta là “quản lí tài chính” chứ không phải “kiếm tiền”, cho nên phải làm việc cẩn thận, khi làm việc thường có biểu hiện tỉ mỉ; chứ không rộng rãi như Tử Vi, cũng không phóng khoáng như Thái Dương. Cùng là chủ tinh nhưng có sự phân biệt, bạn đọc nên chú ý.

    Vì vậy, người có Thiên Phủ thủ mệnh, chỉ thích hợp phát triển cục diện sẵn có, thiếu cái nhìn bao quát, cũng không có kiến giải riêng, không có lập trường riêng, có biểu hiện là một chủ quản xứng đáng với chức vụ. Do có tính chất “kho phủ”, nên người có Thiên Phủ thủ mệnh khá “thương tiền”, cẩn thận, vững vàng, luôn cố tìm sự ổn định. “Kho phủ” không có năng lực kiếm tiền, chỉ có thể giữ tiền và sử dụng tiền bạc, do đó Thiên Phủ rất ưa gặp Lộc. Bất kể là hội hợp với Lộc Tồn hay Hóa Lộc, đều có thể làm tăng cách cục chiếm lợi, trở thành giàu có.

    Thiên Phủ cũng ưa hội hợp với Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ, Hữu Bật, Văn xương, Văn Khúc, như vậy có thể khiến cho người này có kiến giải riêng, đồng thời cũng làm tăng khí thế lãnh đạo của họ,
    Thiên Phủ cũng ưa Tả Phụ, Hữu Bật giáp cung, Long Trì, Phượng Cát giáp cung, chủ về người hiền hậu, vững vàng, giỏi giang, cẩn thận, giỏi tính toán, đủ sức đảm nhiệm chức vụ cao.

    Người có Thiên Phủ thủ mệnh không ưa gặp Tứ Sát. Nếu không có Lộc mà chỉ gặp tứ sát, thì không thích hợp với tính chất “kho tiền”, khó tránh giở thủ đoạn gian xảo để kiếm tiền.

    Giả dụ Thiên Phủ gặp tứ sát, đồng thời còn hôik hợp với Văn Xương, Văn Khúc, có thể là người giàu có thanh nhẫ, bởi vì Văn Xương và Văn Khúc chủ về giỏi văn bút, kiêm giỏi biện luận, tuy hơi xảo quyệt nhưng cũng không mất phong thái là văn nhân nho sĩ.

    Nhưng nếu Văn Xương Văn Khúc Hóa Kị, thì đây là tinh hệ “Thiên Phủ gặp sát tinh, hội hợp với Văn Xương Văn Khúc”, kết cấu càng lớn càng giảm sắc, người này dễ trở thành hàn nho, bụng đầy lời oán trách, tự cho mình có tài mà không gặp thời.

    Thông thường, Thiên Phủ không nên độc tọa, bởi vì quan giữ kho tiền không nên cô độc, cô độc thì dễ thành người mắt thấy tiền thì lòng mưu mô xảo trá. Cũng không nên gặp sao Không, chủ về sống cô lập, không có cứu viện. Nếu Thiên Phủ độc tọa, gặp sao Không hoặc Thiên Diêu, chủ về người này đầy âm mưu thủ đoạn.
    Nữ mệnh Thiên Phủ, thông thường đều chủ về trung hậu, hiền từ, thông minh, khéo léo, thích giúp người. Nếu hội sao Cát, đặc biệt hội hợp với Tả Phụ, Hữu Bật, sẽ có oai nghi của bậc nam tử, cũng có thể gặp phú quý. Gắp các sao tứ sát hình kiếp, thì chồng con bất toàn, hoặc phải tái hôn.

    3. Vũ Khúc

    Vũ Khúc là sao thứ sáu của Bắc Đẩu, thuộc âm kim, hóa khí làm “tài” (tiền tài).
    Về phương diện tính cách, Vũ Khúc chủ về quyết đoán mau lẹ, khuyết điểm của nó là suy nghĩ nông cạn. Người có ó thủ mệnh có thể phát nhanh mà cũng có thể bại nhanh.

    Vũ Khúc tính cương, vì vậy không nên có thêm Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng bộ. Nếu gặp chúng, ắt dễ vì xung động nhất thời mà xảy ra tai ách, khi hóa giải nạn tai sẽ phải trả giá rất đắc.

    Do tính cương, Vũ Khúc cũng không nên gặp các sao văn (Văn Xương, Văn Khúc, Hóa Khoa), nếu không sẽ chủ về do dự, thiếu quyết đoán, nhưng bề ngoài thì giống như rất có chủ kiến, dẫn đến xử sự tiến thoái không hợp lí, giống như người có văn tài làm công việc quản lí về quân sự, đương nhiên không thích hợp.

    Trong Đẩu Số, Vũ Khúc tuy không phải là chiến tướng giống như Thất Sát và Phá Quân going ruổi nơi sa trường, nhưng xét ở góc độ tính cương thì cũng được vào hàng quan võ, cho nên nói chung cũng chút tính cô độc và hình khắc, không nhu hòa như các sao văn. Võ cương văn nhu là đặc tính cơ bản.
    Vũ Khúc ngại Hóa Kị hơn các sao văn, Nếu Hóa Kị sẽ chủ về sự nghiệp thất bại, tiền tài hao tán, gặp sát tinh thì nên bình tĩnh nhẫn nại, nếu không dễ bị sụp đổ. Nhưng Vũ Khúc lại rất ưa Hóa Lộc, chủ về nguồn tiền tài như ngòi suối; nếu lại gặp thêm Lộc Tồn, Thiên Mã thì chủ về phải ở tha hương.
    Do tính cương, cô độc và hình khắc, nên cũng bất lợi về hôn nhân, chủ về kết hôn muộn hoặc sinh li tử biệt. Nhẹ thì vợ chồng gần nhau thì ít mà xa nhau thì nhiều, hoặc vợ chồng không hòa thuận; nặng thì phu thê li tán. Nếu gặp Hóa Kị Hóa Tinh, Cô Thần, Quả Tú, thì phải xem sao hung nhiều ít, và Vũ Khúc ở cung nào, để phán đoán mức độ hôn nhân bất lợi.

    Nữ mệnh Vũ Khúc, chủ về vợ đoạt quyền chồng, nhưng cũng chủ về phụ nữ có khí phái của bậc trượng phu. Nếu có các sao Tả Phụ, Hữu Bật, Tam Thai, Bát Tọa hội chiếu, là người phụ nữ tài giỏi; gặp thêm Khoa, Lộc, Quyền và Thiên Hình, thì quyền hành bổng lộc tiếng tăm đều lơn, ắt là người có địa vị cao trong xã hội, nhưng bất lợi về hôn nhân.
    Nữ mệnh Vũ Khúc mà rơi vào hãm địa, gặp tứ sát, chủ về hình khắc cô độc; gặp thêm Hóa Kị thì có nguy cơ hung vọng.

    Bất kể nam nữ, Vũ Khúc thủ mệnh, có Thiên Khôi, Thiên Việt mà không có Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp xung hội hoặc đồng độ, đều chủ về có thể nắm đại quyền về kinh tế, nên làm việc trong giới làm ăn kinh doanh.
    ---------------------------------------------------------------

    Bài đăng đầu tiên của mình trên Maiyeuem, vẫn còn nữa, mình sẽ up tiếp, mong các bạn ủng hộ mình nha :D Bài mình lấy nguồn từ trang http://hoiquan.xalovansu.com Grin [/img]

  • Crying Star

    September 30th 2014, 2:27 am
  • 4. Thiên Tướng

    Thiên Tướng là sao thứ hai của Nam Đẩu, thuộc dương thủy, hóa khí thành “ấn”.

    Đặc tính của sao “ấn” là công chính, cẩn thận, phần nhiều suốt đời chỉ là một nghề, hiếm khi đứng núi này trông núi nọ, tốt nhất là làm công chức. Bản thân sao “ấn” có thể thiện mà cũng có thể ác, nhưng thiện ác đều do người giữ “ấn”. Tỉ dụ như “ấn” ở trên pháp đường, có thể làm cho người ta phú quý, cốt nhục đoàn tụ, mà cũng có thể khiến người ta bị hình phạt, gia phả người li tán, thiền ác khác nhau là do người giữ “ấn” sử dụng. Cho nên người có Thiên Tưởng thủ mệnh, tuy có lòng chính nghĩa, nhưng cũng có thể trở nên yếu mềm.

    Thiên Tướng ở trên trời có hàm ý giống như tể tướng hoặc quân sự; trung với chủ nhân, vì chủ nhân mà lập mưu tính kế, lấy sự lợi hại của chủ nhân làm sự lợi hại của bản thân.; vì vậy gặp sao cát thì cát, gặp sao hung thì hung. Cho nên ở 12 cung, Thiên Tướng tùy theo các sao hội hợp mà phân biệt cát hung thiện ác.

    Người có Thiên Tướng thủ mệnh, cũng rất dễ bị hoàn cảnh xã hội gây ảnh hưởng. Phàm bối cảnh văn hóa xã hội khác nhau, dù kết cấu mệnh bàn tương đồng, thì sự tao ngộ của mệnh vận cũng khác nhau rất lớn.

    Thiên Tướng ở cung mệnh hoặc cung thân, gặp Hóa Lộc hoặc Thiên Lương giáp cung, là cách “Tài ấm giáp ấn”, chủ về phú quý vinh hoa, hưởng thụ vui vẻ. Thiên Tướng ở cung mệnh hoặc cung Thân, gặp Hóa Kị hoặc Kình Dương giáp cung, là cách “Hình Kị giáp ấn”, chủ về có nạn lao ngục, kèm có hình hại, thương tổn.

    Thiên Tướng chủ mệnh, không có chính diệu chủ về trí lực vây chiếu, gặp Hỏa Tinh Linh Tinh xung phá, dễ bị tàn tật.
    Nữ mệnh, Thiên Tướng, kị hội hợp Văn Xương, Văn Khúc, chủ về tình cảm nổi song.

    5. Liêm Trinh

    Liêm Trinh là sao thứ năm của Bắc Đẩu, ở ngũ hành thì thuộc âm hỏa. Là sao “đào hoa thứ” trong Đẩu Số. Về tính cách, chủ về thông minh mẫn tiệp, bại thì tà ác.

    Về phương diện tính cách, người có Liêm Trinh thủ mệnh phần nhiều trọng tình cảm, thiếu lí trí, cho nên là người có phong độ, nhưng lại phóng túng, tận tình. Đây là tính chất cơ bản của sao “đào hoa thứ”.

    Do tính chất “đào hoa”, nên Liêm Trinh rất ưa Văn Xương, Văn Khúc. Bởi vì lúc sao văn tương hội với đào hoa, tính chất đào hoa lập tức biến thành nhàn nhã, không chìm đắm trong nhục dục, có thể hóa giải thành thú phong lưu thơ rượu. Văn học nghệ thuật phần nhiều mang sắc thái tính yêu, đây là đạo hóa giải. Trên thực tế, phàm là người có Liêm Trinh thủ cung mệnh, phần nhiều cũng yêu thích mĩ thuật, có khuynh hướng về thư họa, nếu không cũng sẽ cảm thụ khá đặc biệt về thưởng ngoạn, nhất là lúc hội hợp với Tham Lang thì càng đúng.

    Nếu không gặp sao văn, mà chỉ hội hợp với các phụ diệu trong Đẩu Số như Thiên Khôi, Tả Phụ, Hữu Bật, trái lại sẽ dễ làm tăng tính hay lúng túng khó xử của Liêm Trinh, dẫn đến tiến thoái bất an.

    Lực đề kháng của Liêm Trinh đối với tứ sát Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La rất yếu. Cho nên hễ Liêm Trinh đóng ở cung mệnh thì phải không gặp tứ sát mới nên chuyện. Nhất là ở hai cung Tị hoặc Hợi, gặp tứ sát thì chủ về bôn ba tứ hải; nếu gặp thêm Thiên HÌnh, Đại Hao, Hóa Kị, càng chủ về sống chết ở tha hương.

    Liêm Trinh là sao có tính chất biến hóa rất phức tạp. tuy có thuyết “đào hoa thứ” nhưng lại không chắc chắn có “mệnh đào hoa”, hoặc có tính cách dâm đãng. Chỉ có một chút tính chất cơ bản có thể khẳng định, đó là người này tất sẽ có chút lẳng lơ và dí dỏm, nhưng nội tâm lại chủ quan cực mạnh, không dễ chiều theo ai.

    Tam Lang là “đào hoa chính”, Liêm Trinh là “đào hoa thứ”, cũng thuộc đào hoa, nhưng người Tham Lang thủ mệnh lại có chút khéo ăn khéo ở, khác với Liêm Trinh hơi có chút trôi nổi. . Chỗ khác nhau này cần phải phân biệt rõ.
    Liêm Trinh tuy dí dỏm nhẹ nhàng, trong giao tế hơi có chút hài hước, nhưng do tính cách chủ quan mạnh, cho nên không thể thấy anh ta dí dỏm nhẹ nhàng rồi lấy đó để bàn công việc. Trên thực tế anh ta rất có thể là người có tính “làm việc theo nguyên tắc”. Lúc hội hợp với Địa Không, ĐỊa Kiếp, tính chất này càng rõ rêt, cho nên thích hợp về việc theo đuổi nghiên cứu khoa học kĩ thuật, bởi vì công việc khoa học kĩ thuật rất cần ngăn nắp thự tự,
    Liêm Trinh đóng ở cung mệnh cũng thích hợp về kiến trúc, bởi vì công trình kiến trúc có mang ý vị nghệ thuật.
    Liêm Trinh rất ngại Hóa Kị, chủ về bệnh tật máu mủ. Nó cư cung mệnh, cung tật ách và cung thiên di, đều có ảnh hưởng đến vận trình của người đó.

    6. Thất Sát

    Thất Sát là sao thứ năm của Nam Đẩu, thuộc âm kim, hóa khí làm “quyền”, cũng là tướng tinh bên cạnh hoàng đế, chủ về “túc sát” (nghiêm và có sát khí), cho nên cuộc đời cô độc, phần nhiều không có tri kỉ. Nhưng cũng có thể lợi dụng mà phát triển tính cách độc lập này thành tự sang lập sự nghiệp một cách bất ngờ.
    Tử Vi tương hội với Thất Sát, có thể giúp cho đế tinh cầm cương ra oai, chuyển hóa thành quyền lực, nhờ vậy mà khí “túc sát” cũng trở thành hòa hoãn.

    Do Thất Sát là sao đại tướng, cho nên rất ưa phò tá Tử Vi, Thiên Phủ, chủ về có thể được quý nhân đề bạt mà hoạn lộ thênh thang. Dù gặp sát tinh, cũng có thể theo ngành kinh doanh buôn bán mà trở nên giàu có.
    Nếu theo con đường kinh doanh, chỉ thích hợp với ngành công thương nghiệp, còn có thể làm nhân viên giỏi, nhưng không được đầu cơ, để xảy ra phá tán, thất bại mà không còn cơ hội để đứng lên.

    Phàm người có Thất Sát thủ cung mệnh, trong đòi ắt sẽ có một lần bị gãy đổ rất lớn, cung mệnh mà gặp Địa Không, Địa Kiếp, Đại Hao thì càng nawgj. Nếu theo ngành công thương nghiệp, tuy có trở ngại nhưng vẫn được người ta tín nhiệm, rất dễ khôi phục nguyên khí, vì thế tuyệt đối không nên đầu cơ, làm ăn mạo hiểm.
    “Thất Sát, Liêm Trinh” đồng độ ở cung Mùi, hoặc Thất Sát thủ mệnh ở cung Ngọ, còn Liêm Trinh thủ cung phúc đức, đều gọi là cách “Hùng thú kiền nguyên”, chủ về phách lực hùng hậu. Đây là âm kim của Thất Sát được âm hỏa của Liêm Trinh tôi luyện mà thành hữu dụng. Nếu Thất Sát thủ mệnh ở cung Tí thì tốt kế đó.

    Thất Sát ở cung Sửu, tuy cũng có Liêm Trinh đồng độ, nhưng cách cục bình thường. Nếu hội chiếu tứ sát Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La sẽ chủ về hình khắc, khốn khó, tổn thương, họa hại, nặng thì cuối cùng sinh tàn tật.
    Thất Sát rất ngại lạc hãm, Hóa Kị, cũng không ưa các sao tứ sát, Địa Không, Địa Kiếp, Thiên HƯ, Âm Sát, chủ về cô độc, phúc khí bất toàn. Phần nhiều tìm đến tôn giáo để giải thoát trần thế, chủ về ảo tưởng, nhiều lúc cảm thấy tâm hồn trống rỗng.

    Thất Sát cư hai cung Suwaru hoặc Mùi, cung thiên di ắt là Thiên Phủ, chủ về bề ngoài cứng rắn mà bên trong giàu tình cảm, dễ có tư tưởng xuất thế, phần lớn hay buồn bã không duyên cớ, dễ mũi lòng, còn bất lợi về hôn nhân.
    Thất Sát gặp “Thái Dương, Cự Môn” ở cung Đế Vương, gọi là “Cát xứ tang hung” (trong cát có hung), chủ về ở trong thuận cảnh bỗng sinh biến cố, nên giấu vớt tài năng.
    Thất Sát là tướng tinh, các sao Thiên Khôi, Thiên Việt, Văn Xương, Văn Khúc cho tới Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, đối với nó mà nói, đều quan trọng, có thể làm tăng thanh thế cho nó. Vì vậy không bằng trường hợp các sao cát phân phối đều ở các cung khác, lúc ấy cách phối trí mệnh bàn sẽ bình quân hơn. Nam mệnh Thất Sát, cung phúc đức nên gặp các sao cát; nữ mệnh Thất Sát, cung phu thê nên gặp các sao cát.

    Theo http://hoiquan.xalovansu.com

  • Crying Star

    October 2nd 2014, 4:41 am
  • 7. Phá Quân
    Phá Quân là sao thứ bảy của Bắc Đẩu, ngũ hành thuộc âm thủy, hóa khi làm “hao”.
    Trong Đẩu Số, Phá Quân là sao tiên phong, gặp núi thì mở đường, gặp nước thì làm cầu, hơn nữa con xung phong phá trận, cho nên tính chất cơ bản của nó là có thể công ma không thể thủ. Tính chất này khiến cho người có Phá Quân chủ mệnh dễ có tính khí nóng nảy, bộp chộp, nhưng lại chính trực, cứng rắn; ở trong hoàn cảnh khốn khó sẽ biểu hiện tài năng lãnh đạo và phách lực khai sáng cục diện mới.

    Do tính cách sở trường về khai sang mà không giỏi thủ thành, nếu cung phúc đức gặp “Tử Vi, Thiên Phủ”, sẽ biến thành người có năng lực, chịu khó và tính chủ quan rất mạnh, nhưng nếu không nhẫn nại một khi đã thành cục diện phát triển, thậm chí lúc sự nghiệp đã ổn định, có khi còn muốn thay đổi cục diện mới.
    Phá Quân tranh thành đoạt trại, phá hoại trước rồi kiến thiêt sau, cho nên bản thân gặp nguy nan cũng nhiều, dễ thành vượt quá tầm kiểm soát, rơi vào hoàn cảnh nguy khốn mà không thể tự đứng lên được. Khi xử sự, thường dễ biến trở ngại nhỏ thành trắc trở lớn.

    Cho nên Phá Quân rất ưa gặp sao Lộc, tiền tài có nguồn viện trợ phía sau không ngừng bổ sung, gọi là “có gốc rễ”. Phá Quân có Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc đồng cung là tốt nhất, hội hợp với chính diệu Hóa Lộc khác là jees đó, trường hợp hội họp với Lộc Tồn là kế đó nữa.

    Hóa Quyền, Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ, Hữu Bật hội chiếu hoặc đồng bộ với Phá Quân, có thể làm tăng khí thế sáng lập sự nghiệp. Nếu gặp Địa Không Địa Kiếp thì một đời nhiều trở ngại; gặp tứ sát Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, phàm có biến động, đều bất lợi trước; gặp Thiên Khốc, Thiên Hư thì chủ về tâm hồn trống rỗng.
    Do Phá Quân có hàm nghĩa phá hoại trước, kiến thiết sau, nên cuộc đời và sự nghiệp phải gặp biến động lớn. Nhưng hễ có biến động thì đều có tính chất “bỏ cũ mà canh tân”, cho nên trong kinh doanh làm ăn phần nhiều đều từ sự nghiệp cũ mà lập nên cục diện mới, phần lớn cũng chủ về có hai sự nghiệp một lúc; làm công ăn lương thù chủ về kiệm thêm chức vụ khác, hoặc thường gánh vác công việc quá mức. “Người giỏi, làm nhiều” chính là hình ảnh của Phá Quân đóng ở cung mệnh.

    Nữ mệnh Phá Quân, thông thường đều nên kết hôn muộn; gặp Kình Dương, Đà La thì càng như vậy. Nếu Phá Quân Hóa Lộc, thì có khuynh hướng thích sửa sắc đẹp, lúc này cần lưu ý xem tiểu hạn có tương hội sao hình, sát, kị hay không. Nếu đúng thì phải cẩn thận kẻo để lại dấu vết.

    8. Tham Lang

    Tham Lang là sao thứ nhất của Bắc Đầu, thuộc dương mộc, thuộc thủy, hóa khí thành “đào hoa”.
    Trong Đẩu Số, Tham Lang và Liêm Trinh là “sao đôi”, tính chất của hai sao có chỗ tương đồng mà cũng có chỗ tương dị. Vì vậy, cùng là sao đào hoa, nhưng Tham Lang thì có xu hướng dương cương, còn Liêm Trinh thì có khuynh hướng âm nhu. Cũng có thể nói, đào hoa của Tham Lang rõ nét đam mê tửu sắc, còn Liêm Trinh thì ham thích thanh sắc nhưng còn biết tự kiềm chế.

    Tham Lang ở cung mệnh hay thân, chủ về có sở trường giao tế, còn có tài nghệ ở nhiều phương diện, hiếu động, khéo ăn khéo ở. Nhưng lại dễ chùn đắm trong thị hiếu, sở thích.

    Nếu hội hợp với Văn Xương, Văn Khúc thù có sở thích cầm kì thi tửu; xét về phương diện vật dục, là ham mê tửu sắc. Nếu gặp Hoa Cái, thì chủ về ưa thích triết học huyền bí, xét về phương diện vật dục, là ưa thích sự vật thần bí.
    Có điều, nếu Tham Lang hội hợp với các sao Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, Hóa Kị, thì tính chất vật dục rất sâu nặng, dễ thành đam mê tửu sắc, cờ bạc, hút sách.

    Thuyết của cổ nhân là do tâm lí chấp trước vào câu “Tham cư vượng cung”, là dễ phát sinh thành dục vọng chiếm hữu quá sâu, nên có luận đoán “suốt đời trộm cắp như chuột”. Đối với thuyết này cần phải xử lí thật cẩn thận, nhất là đối với người có cung phúc đức hội hợp với sao cát, không được khư khư luận là “suốt đời trộm cắp như chuột”. Nếu cung mệnh của con gái mà gặp cách cục này thì phải quản giáo cho khéo, để giảm bớt dục vọng chiếm hữu của nó.

    Tham Lang hội hợp sao cát, chủ về vinh hoa phú quý, thậm chí có thể nắm quyền trong quân đội hay cảnh sát.
    Tham Lang gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, là “Hòa Tham cách” hoặc “Linh Tham cách”, đều chủ về tài lộc dồi dào, phát triển có tính đột phá. Lấy “Hỏa Tham cách” làm thượng cách, “Linh Tham cách” là kế đó. Nhưng nếu gawoh thêm Kinh Dương hoặc Đà La thì không hợp cách. Hợp cách là gặp Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc, đặc biệt sẽ có nguồn tiền tài bất ngờ, có thể giàu đột ngột.

    Tham Lang rất ghét Kình Dương, Đà La, cũng sỡ Hóa Kị, nhưng gặp Địa Không Địa Kiếp thì trái lại có thể thành người có hành động thiết thực. Cho nên gặp ĐỊa Không Địa Kiếp, phần nhiều chủ về có nghề nghiệp chuyên môn; nếu không gặp HÓa Kị, có thể theo ngành nghiên cứu khoa học kĩ thuật; nếu gặp Hòa Kị, thì nên làm thợ. Tham Lang gặp Kình Dương, Đà La, toàn làm tăng sự trắc trở gập ghềnh, bất đắc chí và vất vả trong đời người.
    Nữ mệnh Tham Lang, đặc điểm lớn nhất là có sở thích riêng, đồng thời thích chuyện thần bí, có khuynh hướng sung bái tôn giáo tín ngưỡng. Thời Đường Tống, phụ nữ có mệnh này dễ làm “nữ đạo sĩ”, tương đương với kĩ nữ cao cấp thời đấy. Cho nên cổ nhân có thuyết “nữ mệnh Tham Lang ắc là xướng kĩ”. Ở thời hiện đại, có thể thành người làm công việc giao tế, quan hệ công cộng; nhất là khi có Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, Thiên Phúc, Thiên Quan, Thiên Quý hội hợp, nữ mệnh cũng có thể sang quý, hoặc có địa vị xã hội. Nếu hội sao lộc, mà còn được Hỏa Tinh, Linh Tinh củng chiếu, đều chủ về giàu có. Mệnh tạo tính tình cương nghị, vương phu ích tuử.

    CUng mệnh hoặc cung Phúc ĐỨc có Tham Lang, Liêm Trinh hội hợp, chủ về nhạy cảm đối với cái đẹp, cũng chủ về yêu thích nghệ thuật, nhất là ưa vận động haowcj khiêu vũ. Nếu Tham Lang độc tọa thì có xu hướng yêu thích vận động.

    http://hoiquan.xalovansu.com


Designed by squallions © 2004 - 2009 maiyeuem.net (MYE). All Rights Reserved.
All posts and comments are owned by the poster. MYE is not responsible or liable for any content its member posted.
Mọi chi tiết, xin liên hệ: contact
Powered by phpBB © 2001, 2002 phpBB Group